Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm tại công ty sơi

1,518
-1

Published on

Dương Thị Hà
Làm báo cáo thực tập kế toán chi phí bán hàng, tiền lương nguyên liệu
Sđt; 0973.887.643
Yahoo: duonghakt68
Mail: duonghakt68@gmail.com
website:baocaoketoan.com hoặc http://baocaothuctapketoan.blogspot.com
Facebook: https://www.facebook.com/dvbaocaothuctapketoan?ref=hl.

Published in: Economy & Finance
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
1,518
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
31
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm tại công ty sơi

  1. 1. Trêng ®¹i häc khoa kÕ to¸n    LuËn v¨n Tèt nghiÖp ®¹i häc §Ò tµi “Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm tại Công ty TNHH môi trường Việt ASIA” Gi¸o viªn híng dÉn : pgs.ts. nguyÔn thÞ t©m Sinh viªn thùc hiÖn : nguyÔn thÞ mai Líp : KEB – K50 Hµ Néi - 2014
  2. 2. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU Viết tắt Diễn giải TP Thành phẩm CPBH Chi phí bán hàng CPQL Chi phí quản lý TSCĐ Tài sản cố định TSLĐ Tài sản lưu động TK Tài khoản HHDV Hàng hoá dịch vụ GTGT Giá trị gia tăng HĐBH Hoá đơn bán hàng CBCNV Cán bộ công nhân viên NVL Nguyên vật liệu PHẦN THỨ NHẤT LỜI MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài 2
  3. 3. Trong cơ chế mới, với sự hoạt động của nhiều thành phần kinh tế thì tính độc lập, tự chủ trong doanh nghiệp ngày càng cao hơn, mỗi doanh nghiệp phải năng động sáng tạo trong kinh doanh, phải chịu trách nhiệm trước kết quả kinh doanh của mình, bảo toàn được vốn vốn kinh doanh và quan trọng hơn là kinh doanh có lãi. Muốn như vậy, các doanh nghiệp phải nhận thức được vị trí của khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa vì nó quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, và là cơ sở để doanh nghiệp bù đắp được những chi phí bỏ ra, thực hiện được nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. Do vậy sản xuất và tiêu thụ là hai mặt luôn luôn gắn liền với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Thực hiện sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường như hiện nay this hạch toán kế toán là một trong những công cụ quan trọng của hệ thống quản lý kinh tế. Kế toán trong mỗi doanh nghiệp được sử dụng như một công cụ có hiệu lực để phản ánh và giám đốc hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó thì kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm là một bộ phận không thể thiếu được của toàn bộ công tác kế toán. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày một tăng cao. Những sản phẩm mang tính chất phục vụ nhu cầu tất yếu của con người như ăn uống, may mặc…và những nhu cầu sử dụng hàng hóa ngày càng nhiều và đòi hỏi những sản phẩm đó phải có chất lượng tốt và phù hợp với người tiêu dùng. Nhận thức được tầm quan trọng của thị trường Sợi vải trong cũng như ngoài nước, Công ty 3
  4. 4. TNHH môi trường Việt ASIA cũng như những doanh nghiệp nằm trong nền kinh tế thị trường, để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, Công ty đã có những biện pháp hoàn thiện công tác kế toán nói chung và kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm nói riêng để ngày càng sản xuất ra nhiều những sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Xuất phát từ thực tế trên và với mong muốn được nghiên cứu, tìm hiểu sâu về công tác kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm trong thực tế, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tai: “Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm tại Công ty TNHH môi trường Việt ASIA ” 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1. Mục tiêu chung Tìm hiểu công tác kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm tại Công ty TNHH môi trường Việt ASIA 1.2.2. Mục tiêu cụ thể - Trình bày cơ sở lý luận về kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm - Phản ánh và phân tích thực trạng công tác kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm tại Công ty - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm tại Công ty. 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
  5. 5. Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm tại Công ty 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Công tác kế toán nhập, xuất kho thành phẩm và tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH môi trường Việt ASIA - Phạm vi về không gian: Công ty TNHH môi trường Việt ASIA Địa chỉ: 402/2 Lê Văn Sỹ - P.14 - Q.3 - TP. HCM. - Phạm vi thời gian: Từ ngày …../………/2014 đến ngày …../ ……/2014. 5
  6. 6. PHẦN THỨ HAI CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN THÀNH PHẨM VÀ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM 2.1 Tầm quan trọng của kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm trong nền kinh tế thị trường Thành phẩm là thành quả lao động sáng tạo của toàn thể cán bộ công nhân viên của một doanh nghiệp, là sản phẩm đã kết thúc quy trình công nghệ sản xuất. Còn tiêu thụ thành phẩm là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, là khâu quyết định đến lợi nhuận, uy tín, đến vị trí không chỉ của thành phẩm đó trong doanh nghiệp mà còn của cả doanh nghiệp đó trên thị trường. Một khi doanh nghiệp thực hiện tốt khâu nhập xuất kho thành phẩm, đẩy mạnh công tác tiêu thụ thành phẩm thì sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển, đó là lẽ đương nhiên. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải hạch toán kinh doanh độc lập, tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp cũng từng nhắc đến nhưng đó chỉ là trên giấy tờ hình thức. Trước yêu cầu đó, vấn để thành phẩm, nhập xuất kho thành phẩm và đưa đi tiêu thụ như thế nào luôn được các doanh nghiệp quan tâm. Bởi kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp khi doanh nghiệp thực hiện tự chủ trong kinh doanh. Với đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng, tài nguyên thì trở nên khan hiếm, đối thủ cạnh tranh ngày càng tăng lên…Vấn đề kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm càng chiếm vị trí quan trọng trong công tác kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Để nhận thức được vấn đề này thì trước hết phải tìm hiểu các khái niệm cơ bản liên quan đến thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm. 6
  7. 7. 2.2 Các khái niệm cơ bản về thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm. 2.2.1 Khái niệm về thành phẩm Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn chế biến cuối cùng của một quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó của doanh nghiệp (ngoài ra còn bao gồm cả những sản phẩm thuê ngoài gia công đã hoàn thành), đã qua kiểm tra kỹ thuật và được xác nhận là phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định được nhập kho hoặc giao trực tiếp cho khách hàng. Bên cạnh thành phẩm, doanh nghiệp còn có bán thành phẩm (nửa thành phẩm). Đây là những sản phẩm mới kết thúc một hay một số công đoạn trong quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng) được nhập kho hay chuyển giao để tiếp tục chế biến thành phẩm hoặc có thể bán ra bên ngoài. Trong phạm vi một doanh nghiệp thì bán thành phẩm còn có thế tiếp tục chế tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh, nhưng trong phạm vi nền kinh tế quốc dân thì nửa thành phẩm còn có thể được bán ra bên ngoài cho doanh nghiệp khác sử dụng. Vì vậy, xác định đúng đắn nửa thành phẩm trong từng doanh nghiệp là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Nó giúp cho doanh nghiệp trong công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm hoàn thành. Từ đó xác định được mức độ hoàn thành kế hoạch của đơn vị cũng như xác đinhk được kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp Thành phẩm được biểu hiện cả về mặt số lượng và mặt chất lượng - Về mặt số lượng: Thành phẩm được xác định bằng các đơn vị đo lường như con, cái, vòng, tấn, kg… - Chất lượng của thành phẩm được xác định bằng tỷ lệ tốt xấu hoặc phẩm cấp (loại 1, loại 2…). Số lượng thành phẩm phản ánh quy mô thành phẩm của doanh nghiệp tạo ra, còn mặt chất lượng phản ánh giá trị sử dụng của thành phẩm. Thành phẩm không chỉ là thành quả lao động sáng tạo của cán bộ CNV toàn doanh nghiệp mà nó còn là vốn mà doanh nghiệp bỏ ra mua nguyên vật liệu 7
  8. 8. đầu vào, máy móc, nhà xưởng…Do đó, doanh nghiệp phải tổ chức tốt khâu quản lý thành phẩm để đảm bảo an toàn, tránh lãng phí, làm cho sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. 2.2.2 Yêu cầu quản lý thành phẩm Để quản lý tốt thành phẩm, Doanh nghiệp cần phải quản lý cả về mặt số lượng và mặt chất lượng của thành phẩm. - Về mặt số lượng thành phẩm đòi hỏi phải phản ánh, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, tình hình nhập - xuất, dự trữ thành phẩm, kịp thời phát hiện những hàng hoá tồn đọng lâu ngày trong kho chưa tiêu thụ được, thành phẩm bị thiếu hụt…Từ đó đề xuất các biện pháp hữu hiệu, tránh tình trạng ứ đọng, góp phần nâng cao chất lượng quản lý. - Về mặt chất lượng thành phẩm, phải kiểm tra nghiêm ngặt. Những sản phẩm nào không đạt tiêu chuẩn thì phải loại bỏ ngay. Vì khi đưa ra tiêu thụ mà hàng hoá kém chất lượng thì sẽ ảnh hưởng lớn đến uy tín của doanh nghiệp cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị giảm nhanh chóng. Tóm lại , để hạn chế thấp nhất những sai sót trong khâu quản lý thành phẩm các doanh nghiệp rất quan tâm và đầu tư thích hợp cho công tác này. Vì một khi doanh nghiệp thực hiện tốt công tác này sẽ không chỉ tạo được uy tín lớn trên thị trường mà còn giúp cho doanh nghiệp đánh giá thành phẩm một cách chính xác hơn. 2.2.3. Đánh giá thành phẩm Đánh giá thành phẩm là phương pháp kế toán dùng thước đo bằng tiền để thực hiện giá trị thành phẩm nhằm ghi sổ kế toán và tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến thành phẩm. Đánh giá thành phẩm còn làm cơ sở để tổ chức, quản lý, hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả sản xuất kinh doanh. Trong doanh nghiệp thành phẩm có thể được đánh giá theo giá thực tế hoặc gián hạch toán. 8
  9. 9. 2.2.3.1 Đánh giá thực tế * Đối với thành phẩm nhập kho - Thành phẩm do các phân xưởng sản xuất chính và phụ của doanh nghiệp sản xuất ra, khi nhập kho được tính theo giá thành thực tế. Thành phẩm hoàn thành trong kỳ bao gồm: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. - Thành phẩm thuê ngoài gia công hoàn thành, khi nhập kho được tính theo giá thực tế gia công bao gồm: Chi phí NVL trực tiếp, phí thuê gia công và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình gia công như chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong quá trình thuê gia công. - Trường hợp hàng hóa mua từ nước ngoài: Ở Việt Nam thường áp dụng hai loại giá là giá FOB và CIF + Với giá FOB: Giá giao tại cảng người bán: Người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình khi hàng đã qua lan can tàu tại cảng bốc quy định, thì người mua hoàn toàn phải chịu mọi phí tổn rủi ro, mất mát và hàng hóa bị hư hỏng. Điều kiện giá FOB chỉ áp dụng với vận tải loại đường biển hoặc đường sông. Giá này không bao hàm cước phí vận chuyển và cước phí bảo hiểm từ cảng bốc xếp tới cảng đích. + Với giá CIF - Giá giao tại cảng người mua: Người bán phải trả các phí tổn, cước phí cần thiết và mua bảo hiểm hàng hóa để đưa hàng tới cảng nơi quy định, lúc này người bán hoàn thành nghĩa vụ khi hàng qua lan can tàu nơi đã quy định và người mua đến lượt phải chịu các phí tổn rủi ro, mất mát hư hại hàng hóa kể từ lúc đó. * Đối với thành phẩm xuất kho Giá xuất kho thành phẩm xuất kho phụ thuộc nhiều vào giá cả biến động các mặt hàng trên thị trường, do đó việc tính toán xác định giá thực tế thành phẩm xuất kho có thể được áp dụng một trong các phương pháp sau: 9
  10. 10. - Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO): Theo phương pháp này giả thiết số hàng nào nhập trước this được xuất trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo tuần tự. Như vậy giá thực tế của hàng mua trước sữ được dùng để tính giá thực tế cho hàng xuất trước.  Ưu điểm: Phản ánh đúng giá trị thực tế của mỗi loại hàng hóa mua vào, thích hợp với những loại hàng cần tiêu thụ nhanh như đồ tươi sống, hoa quả.  Nhược điểm: Tính toán phức tạp, đòi hỏi thủ kho phải phân loại thành phẩm dẫn đến việc tổ chức kho phức tạp, không có tính cập nhật cao. - Phương pháp mua sau - xuất trước (LIFO): Theo phương pháp này, trị giá hàng mua sau cùng được lấy giá để tính cho hàng xuất lần đầu tiên. Phương pháp này việc lấy giá để tính cho hàng xuất ngược với phương pháp FIFO  Ưu điểm: Đảm bảo được tính chính xác về giá trị hàng hóa xuất kho và cập nhật với giá thị trường.  Nhược điểm: Khó khăn trong việc hạch toán chi tiết hàng tồn kho - Phương pháp thực tế đích dạnh (specific identification) : Giá thực tế thành phẩm xuất kho được căn cứ vào giá thực tế thành phẩm nhập kho theo từng lô, từng lần nhập. Phương pháp này thường được áp dụng với những hàng hoá như: vàng, bạc, đá quý… Ưu điểm của phương pháp này là phản ánh một cách chính xác giá thực tế của từng lô hàng của từng lần nhập. Nhược điểm của nó là đòi hỏi thủ kho, kế toán phải theo dõi chi tiết từng loại giá của thành phẩm.  Ưu điểm: Phản ánh chính xác giá thực tế của tưng lô hàng, từng lần nhập và xuất 10
  11. 11.  Nhược điểm: Thủ kho phải nắm bắt được chi tiết các lô hàng, kế toán phải theo dõi chi tiết từng loại giá của mỗi thành phẩm để có thể có được giá xuất một cách chính xác. - Phương pháp giá thực tế bình quân gia quyền: Phương pháp này cũng căn cứ vào số lượng xuất kho trong kỳ và đơn giá bình quân gia quyền để tính. Nhưng trong tháng xuất kho chưa được ghi sổ mà đến cuối tháng sau khi tính giá bình quân mới tiến hành ghi sổ. Phương pháp này thường áp dụng đối với những doanh nghiệp có nhiều mặt hàng. Giá thực tế TP xuất kho = Số lượng TP xuất kho * Đơn giá BQ gia quyền Đơn giá Bình quân gia quyền = Giá thực tế TP tồn kho trước đợt nhập đó + Giá thực tế TP nhập của đợt nhập đó Số lượng TP tồn kho trước đợt nhập đó + Số lượng TP củađợt nhập đó  Ưu điểm: Tính chính xác được giá thành xuất kho và giảm bớt được công việc ghi chép tính toán.  Nhược điểm: Không phù hợp với điều kiệ giá cả thường xuyên biến động với biên độ lớn và không theo quyluậ nhất định và giá thành sản phẩm xuất kho ít khi biến động 11
  12. 12. 2.2.3.2 Đánh giá theo giá hạch toán Giá hạch toán là loại giá do doanh nghiệp quy định có tính chất ổn định lâu dài. Giá này thường là giá kế hoạch hoặc giá thành phẩm bình quân năm trước hay giá nhập kho thống nhất quy định. Cuối kỳ (hoặc cuối tháng) sau khi tính được giá thành thực tế thành phẩm nhập kho, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế bằng công thức: Giá thực tế TP xuất trong kỳ = Hệ số giá * Giá hạch toán TP xuất trong kỳ Trong đó: Hệ số giá của thành phẩm = Giá thực tế của thành phẩm tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ Giá hạch toán của thành phẩm tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ Giá hạch toán có tác dụng phản ánh kịp thời các nghiệp vụ phát sinh hàng ngày về nhập - xuất kho TP. Thường áp dụng đối với những doanh nghiệp có chủng loại thành phẩm phong phú, giá thành thực tế thường xuyên biến động, tần số nhập - xuất thành phẩm trong kỳ lớn. Trên đây là những phương pháp đánh giá thành phẩm nhập - xuất kho. Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng. Vì vậy, DN phải căn cứ vào tình hình hoạt động kinh doanh thực tế để lựa chọn ra phương pháp nào phù hợp nhất. Nếu lựa chọn sai, không chỉ phản ánh thiếu trung thực kết quả kinh doanh của DN, làm cho nhà quản lý ra những quyết định thiếu chính xác mà để lâu liên quan đến lợi nhuận thu được và khâu đầu tiên bị ảnh hưởng là giá vốn và giá bán trong tiêu thụ thành phẩm. 12
  13. 13. 2.2.4. Tiêu thụ thành phẩm 2.2.4.1. Khái nệm về tiêu thụ thành phẩm Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất. Đó là việc cung cấp cho khách hàng các sản phẩm, lao vụ dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra, đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Đây chính là quá trình thực hiện quan hệ trao đổi hàng - tiền giữa DN với người mua và lúc này tính hữu ích của sản phẩm sản xuất ra mới chính thức được xã hôih thừa nhận, lao dộng của người sản xuất nói riêng và của toàn DN nói chung mới được công nhận. Khâu tiêu thụ được coi là khâu quan trọng không kém gì khâu sản xuất. Vì thông qua quá trình tiêu thụ thành phẩm. DN thu được một khoản doanh thu bán hàng. Chỉ lúc này DN mới xác định được kết quả sản xuất kinh doanh có lãi hay không. Quá trình tiêu thụ thành phẩm có thể chia thành 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm giao cho khách hàng, bên bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết để giao hàng cho người mua. Giai đoạn này phản ánh một mặt của quá trình vận động của sản phẩm nhưng chưa đảm bảo kết quả của quá trình tiêu thụ vì chưa có cơ sở đảm bảo quá trình tiêu thụ hoàn thành tốt. - Giai đoạn 2: Khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng, đây là giai đoạn hoàn tất quá trình tiêu thụ. 2.2.4.2. Sự cần thiết phải đẩy mạnh tiêu thụ thành phẩm Lợi nhuận luôn là mục tiêu phấn đấu hàng đầu của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Đây là chỉ tiêu phản ánh trung thực kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Vì vậy, làm thế nào để đạt được lợi nhuận tối đa luôn là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý. Đẩy mạnh tiêu thụ thành phẩm là một trong những phương án được DN lựa chọn để thu được lợi nhuận tối đa. 13
  14. 14. Như ta đã biết, tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng kết thúc một chu kỳ sản xuất mà mở đầu một chu kỳ sản xuất tiếp theo. Qua tiêu thụ, đồng vốn của DN mới trở về trạng thái ban đầu của nó. Với số doanh thu bán hàng này, DN trang trải các chi phí về NVL, máy móc thiết bị, nhà xưởng, lương cho công nhân viên…Có như vậy quá trình sản xuất thành phẩm mới tiếp tục được thực hiện một cách thường xuyên liên tục. Nếu tiêu thụ thành phẩm gặp khó khăn DN không những không có lợi nhuận mà có khi không đủ nguồn vốn để phục vụ cho quá trình tái sản xuất, tất yếu sản xuất sẽ bị ngừng trệ. Không chỉ có vậy, đẩy mạnh tiêu thụ thành phẩm, có lãi DN bù đắp được chi phí bỏ ra và nâng cao lợi nhuận. Với lợi nhuận này không chỉ giúp cho DN tái sản xuất giản đơn mà còn có khoản vốn để mở rộng sản xuất, tăng cường đầu tư không ngừng hoàn thiện quy trình sản xuất…Có như vậy thì vị trí của doanh nghiệp trê thương trường ngày càng được khẳng định. Với đặc điểm nổi bật của cơ chế thị trường là cạnh tranh gay gắt, nên công tac tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng kịp thời góp phần thúc đẩy tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí bán hàng, chi phí kho tàng…làm hạ giá thành. Đây là một trong những chiến lược để DN cạnh tranh với các DN khác. Nếu công tác tiêu thụ chậm chạp, yếu kém làm ứ đọng sản phẩm, chu kỳ sản xuất kinh doanh kéo dài sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho DN. Thông qua tiêu thụ thành phẩm, có được doanh thu, DN mới có thể thực hiện các khoản thu, nộp nghĩa vụ cho Nhà nước như thuế, phí, lệ phí…Đây là nguồn thu quan trọng của Ngân sách để từ đó Nhà nước có thể triển khai kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, làm cho đất nước ngày càng chuyển giao mạnh mẽ. Như vậy phát triển doanh nghiệp mình tức là DN đã góp phần vào sự phát triển phồn thịnh của đất nước. Tiêu thụ càng nhiều thành phẩm, càng khẳng định được niềm tin của người tiêu dùng vào sản phẩm của DN. DN càng phát triển thì bạn hàng đặc biệt là ngân 14
  15. 15. hàng, tổ chức tín dụng, đối tượng khác tin vào cách làm ăn của DN. Đây là cơ hội tốt để doanh nghiệp vay vốn đầu tư cho sản xuất. Mối quan hệ này rất cần thiết nhất là trong điều kiện nước ta hiện nay hầu hết các DN đều thiếu vốn để phát triển sản xuất. Cũng qua công tác tiêu thụ thành phẩm DN có thể nắm bắt được thị hiếu khách hàng, tình hình cạnh tranh trên thị trường, thị trường nào là mục tiêu…Từ đó mà hoạch định lên những kế hoạch đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh cho phù hợp. Chẳng hạn như: Đầu tư mở rộng mặt hàng nào, thu hẹp hay thay đổi quy cách mẫu mã sản phẩm theo hướng nào…và tiêu thụ là căn cứ để đánh giá, kiểm tra về khối lượng, chất lượng thành phẩm một cách chính xác nhất. Ngoài ra trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế mở, xu hướng hội nhập quốc tế, thì tiêu thụ sản phẩm sẽ là chiếc cầu nối quan trọng thắt chạt thêm mối quan hệ giữa các quốc gia, thúc đẩy thương mại quốc thành phẩm ế ngày càng phát triển. Như vậy, thực hiện tốt công tác tiêu thụ thành phẩm sẽ đưa lại kết quả vô cùng to lớn. Tuy nhiên, tieu thụ thành phẩm nhanh hay chậm, nhiều hay ít không do ý muốn chủ quan của DN được. Việc tiêu thụ thành phẩm diễn ra như thế nào còn chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau. 2.2.5 Một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ thành phẩm 2.2.5.1 Người tiêu dùng Đây là nhân tố quyết định đến công tác tiêu thụ thành phẩm của DN. Những DN nào có sản phẩm phù hợp với tập quán, trình độ văn hoá, thi hiếu, thu nhập, mục đích sử dụng…đương nhiên sẽ được chấp nhận và ngược lại. Vì người tiêu dùng là đối tượng trực tiếp sử dụng sản phẩm của Công ty. Do đó, muốn tiêu thụ được thành phẩm thì phải được khách hàng chấp nhận và như vậy DN mới có doanh thu để tiếp tục thực hiện sản xuất. 2.2.5.2 Giá cả thành phẩm 15
  16. 16. Giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người mua và người bán. Do vậy, những nhà quản lý sử dụng giá như một công cụ sắc bén để đẩy mạnh tiêu thụ thành phẩm. Khi DN đưa ra mức giá phù hợp khả năng thanh toán với chất lượng và hợp lý về không gian và thời gian thì chắc chắn sản phẩm sẽ chiếm được tình cảm của người mua. Thành phẩm sẽ được tiêu thụ nhanh đó là điều tất yếu. Ngoài ra, giá cả còn dùng để cạnh tranh với các đối thủ khác, với cùng một sản phẩm tương tự nhau, nếu DN đưa ra mức giá thấp hơn thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến. 2.2.5.3 Chất lượng thành phẩm Cùng với giá cả, chấp lượng thành phẩm là yếu tố vô cùng quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN. Một khi chất lượng thành phẩm tốt không chỉ thu hút khách hàng, mà còn được người mua tin tưởng vào thành phẩm của DN, biến những khách hàng không thường xuyên trở thành khách hàng thường xuyên mua sản phẩm của DN. Điều này sẽ làm tăng khối lượng thành phẩm tiêu thụ từ đó tạo điều kiện thu nhiều lợi nhuận 2.2.5.4 Khối lượng thành phẩm sản xuất và tiêu thụ Khối lượng thành phẩm sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượng thành phẩm tiêu thụ. Khối lượng sản xuất ra nhiều thì lượng bán sẽ tăng lên. Tuy nhiên khối lượng thành phẩm tiêu thụ lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố không chỉ mỗi sản xuất. Do vậy, để đặt ra khối lượng sản xuất phù hợp thì phải xem xét nhu cầu của thị trường. Nếu lượng thành phẩm tiêu thụ quá lớn thì người tiêu dùng không mua hết sẽ không chỉ gây ra lãng phí vốn, có khi doanh nghiệp phải giảm giá bán cho hết dẫn đến thu được ít lợi nhuận hoặc có khi lỗ. Ngược lại, nếu quá ít vừa mất lượng thu nhập, lại mất một số khách hàng chuyển sang mua doanh nghiệp khác. Do vậy, sản xuất bao nhiêu để đưa ra lưu thông dự trữ sẵn sàng tung ra khi cần thiết đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường 2.2.5.5 Công tác tổ chức bán hàng 16
  17. 17. Trong quá trình tiêu thụ thành phẩm công tác bán hàng cũng là một nhân tố quan trọng dể DN thúc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Một DN áp dụng tổng hợp các hình thức bán hàng như bán buôn, bán lẻ, bán tại kho, bán qua đại lý, ký gửi…Thì đương nhiên sẽ tiêu thụ nhiều hơn là áp dụng đơn thuần một hình thức bán hàng. Ngoài ra, có những DN còn kèm theo những dịch vụ vận chuyển miễn thuế, giảm phí, bảo hành sản phẩm…mục đích làm cho khách hàng thoải mái khi sử dụng sản phẩm của DN và như thế sẽ thu hút được nhiều người mua hàng hơn. 2.2.5.6 Kênh phân phối Kênh phân phối là một tập hợp các tổ chức mà qua đó người bán thực hiện bán sản phẩm cho người sử dụng và người tiêu dùng cuối cùng. Các kênh phân phối cung cấp cho người tiêu dùng các lợi ích về thời gian, địa điểm và sở hữu. bán hàng được gọi là có hiệu quả khi lựa chọn kênh đưa sản phẩm đến đúng nơi, đúng chỗ với tổng chi phí nhỏ nhất. Kênh phân phối điển hình cho hàng hoá tiêu dùng Nhà sản xuất Nhà sản xuất Người tiêu dùng người bán lẻ Người bán buôn Đại lýNhà sản xuất Đại lý Nhà sản xuất Người bán lẻ Người tiêu dùng Người bán buôn Người bán lẻ Người tiêu dùng Người tiêu dùng 17
  18. 18. 2.2.5.7 Quảng cáo và giới thiệu sản phẩm Quảng cáo là một công tác không thể thiếu trong quá trình tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp. Trước đây, người ta xem nhẹ quảng cáo nhưng trong môi trường kinh doanh như hiện nay thì nếu không có quảng cáo hoặc quảng cáo không tốt thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tiêu thụ. Quảng cáo là cách tốt nhất để cho người tiêu dùng biết đến sản phẩm của Doanh nghiệp. Dựa vào lượng thông tin cô đọng, đặc trưng về sản phẩm thì khách hàng so sánh với các sản phẩm của những doanh nghiệp khác trước khi quyết định mua hàng. Nó còn giúp cho khách hàng nhận thấy được những ưu điểm của sản phẩm, cũng từ đó khơi dậy những nhu cầu mới để khách hàng tìm đến doanh nghiệp. Quảng cáo là người bán hàng đắc lực giúp cho khách hàng và doanh nghiệp tìm đến nhau. Nó còn giúp đẩy nhanh công tác tiêu thụ sản phẩm đặc biệt là trong giai đoạn sản phẩm tiêu thụ bắt đầu bị ngừng lại. Tuy nhiên nếu quảng cáo sai sự thật thì uy tín của doanh nghiệp sẽ nhanh chóng bị giảm, sản phẩm sẽ bị ngưòi tiêu dùng tẩy chay và doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến phá sản. 2.2.5.7 Hình thức thanh toán tiền hàng Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình tiêu thụ thành phẩm, chỉ khi nào thu được tiền hàng thì khi đó thành phẩm mới thực sự thưc hiện được giá trị của mình, qua đó mới đánh giá được tình hình tiêu thụ một cách chính nhất. Nhưng lựa chọn hình thức thanh toán như thế nào đấy không phải là điều đơn giản, nhất là trong cuộc cạnh tranh gay gắt hiện nay. + Bán hàng thu tiền ngay: Đây là hình thức luôn được các DN mong muốn. Bởi vì hình thức này không chỉ an toàn mà còn giúp cho DN thu hồi vốn một cách nhanh chóng. Nhưng đối với khách hàng lại không thuận tiện khi mua hàng với số lượng lớn. + Bán hàng trả chậm: Là hình thức thanh toán mà sau khi giao hàng cho khách hàng một thời gian sa doanh nghiệp mới nhận được khoản doanh thu của số hàng 18
  19. 19. đó. Hình thức này tương ứng với bán chịu. Hầu hết doanh nghiệp áp dụng hình thức này để kích thích mua hàng vì nó thuận tiện với khách hàng. Nhưng đối với doanh nghiệp nó lại mang lại nhiều rủi ro (vì có khi không đòi được tiền hàng) và bị chiếm dụng vốn lớn. Nếu doanh nghiệp không có tài chính khá vững thì sẽ dễ dẫn đến trì trệ sản xuất. Do đó, các doanh nghiệp thường phải lập quỹ dự phòng phải thu khó đòi. + Bán hàng trả góp: Là hình thức thanh toán được áp dụng ở các doanh nghiệp mà sản phẩm là hàng tiêu dùng với số lượng lớn như xe máy,tivi, tủ lạnh, máy giặt…hay khách hàng là người tiêu dùng trực tiếp. Doanh nghiệp giao sản phẩm cho khách hàng và nhận doanh thu tiêu thụ làm nhiều lần. Hình thức này hiện nay rất thu hút được khách hàng nhưng lại gây khó khăn cho doanh nghiệp, vì doanh nghiệp phải theo dõi khách hàng và lựa chọn khách hàng có khả năng thanh toán cao nên mất nhiều chi phí đồng thời rủi ro cao hơn hai hình thức trên. Ngoài ra còn một số hình thức khác như hàng đổi hàng, doanh thu trả trước… 2.2.5.8 Thị trường tiêu thụ thành phẩm Trong nền sản xuất hàng hoá thì thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và quan hệ tiền tệ. Đó là nơi tiêu thụ sản phẩm và cũng là nơi cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin quan trọng để hoạch định đầu tư sản xuất. Qua đây, doanh nghiệp xác định được lợi thế để phát huy nó. Vì vậy công tác nghiên cứu thị trường rất quan trọng trong tiêu thụ thành phẩm. Ngoài những nhân tố trên thì chính sách, đường lối của Nhà nước cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất cũng như tiêu thụ thành phẩm của Doanh nghiệp. Tóm lại ta thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ thành phẩm của doanh nghiệp ( trên đây là một số nhân tố chủ yếu). Như vậy đẩy mạnh công tác này là một điều vô cùng khó khăn với các doanh nghiệp, nên khâu quản lý tiêu thụ thành phẩm cũng đòi hỏi khắt khe, chặt chẽ. 19
  20. 20. 2.3 Nhiệm vụ của kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm Thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm có quan hệ mật thiết với nhau. Thành phẩm qua kiểm nghiệm có đáp ứng được những tiêu chuẩn, thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng thì thành phẩm đưa ra thị trường mới tiêu thụ được. Do đó chất lượng, mẫu mã, bai bì của thành phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng tiêu thụ. Nếu sản xuất thành phẩm mà không hoàn thành thì kéo theo kế hoạch tiêu thụ thành phẩm bị phá vỡ. Còn tiêu thụ thành phẩm lại quyết định đến sự mở rộng, thu hẹp, sản xuất sản phẩm. Vì vậy, nhiệm vụ đề ra cho kế toán thành phẩm và kế toán tiêu thụ thành phẩm luôn gắn liền với nhau. Để phát huy vai trò của kế toán đối với công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất kinh doanh, kế toán thành phẩm và kế toán tiêu thụ thành phẩm cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau: - Tổ chức theo dõi, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời và giám đốc chặt chẽ tình hình hiện có và sự biến động (nhập, xuất và tồn kho) của từng loại thành phẩm. Tiến hành đối chiếu sổ sách với số tồn tại thực tế tại kho nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các sai sót trong việc quản lý thành phẩm. - Giám sát chặt chẽ quá trình tiêu thụ, phản ánh đầy đủ doanh thu, xác định chính xác giá vốn hàng bán, ghi chép đầy đủ, kịp thời các khoản chi phí bán hàng, các khoản giảm trừ doanh thu. - Xác định chính xác kết quả của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp cũng như toàn doanh nghiệp, phản ánh và giám sát tình hình phân phối kết quả, đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước. - Theo dõi các khoản hàng gửi bán nhằm đánh giá hiệu quả của các cửa hàng, đại lý, phản ánh chính xác các khoản nợ của khách hàng nhằm có biện pháp giảm bớt lượng vốn bị chiếm dụng bởi các doanh nghiệp khác. 20
  21. 21. - Cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết cho các bộ phận có liên quan, cho nhà quản lý. Đồng thời định kỳ tiến hành phân tích kinh tế đối vcới những hoạt động bán hàng và thu nhập. 2.4. Phương pháp kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm 2.4.1. Nguyên tắc hạch toán thành phẩm Thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra không chỉ là một loại mà bao gồm nhiều loại, mỗi loại lại có thứ hạng phẩm cấp khác nhau. Nên để quản lý hạch toán chặt chẽ thành phẩm đòi hỏi công tác kế toán thành phẩm cần tuân thủ các nguyên tắc sau: - Tổ chức kế toán thành phẩm theo từng loại: Theo dõi từng thứ, loại cả chất lượng và số lượng thành phẩm. - Phải có sự phân công và kết hợp trong việc theo dõi, ghi chép giữa phòng kế toán với nhân viên hạch toán phân xưởng với thủ kho để nắm chắc và theo dõi quản lý thành phẩm. - Thành phẩm trong doanh nghiệp sản xuất được đánh giá theo giá thành thực tế. Trường hợp thành phẩm thuê ngoài gia công, giá thành thực tế bao gồm toàn các chi phí liên quan đến việc gia công ( chi phí NVL, chi phí thuê gia công…) Nhưng do đặc điểm thành phẩm xuất - nhập kho hàng ngày nên thành phẩm còn được phản ánh theo giá hạch toán cho thuận tiện, cuối kỳ điều chỉnh lại cho phù hợp với giá thực tế của thành phẩm. Thành phẩm trong kho luôn thay đổi, biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhập - xuất - tồn…để theo dõi sự biến động của nó mỗi khi có các nghiệp vụ phát sinh, kế toán lập chứng từ. Dựa vào chứng từ này, kế toán dễ dàng theo dõi, kiểm tra về nguyên nhân của sự thay đổi thành phẩm. 2.4.2. Hạch toán chi tiết thành phẩm 2.4.2.1 Chứng từ sử dụng trong kế toán thành phẩm 21
  22. 22. Chứng từ là bằng chứng bằng giấy tờ để chứng minh việc phát sinh một nghiệp vụ kinh tế và thực sự hoàn thành. Chứng từ còn là cơ sở pháp lý cho mọi số liệu trên tài khoản, sổ kế toán, báo cáo kế toán. Mọi nghiệp vụ biến động của thành phẩm đều được phản ánh và ghi chép vào chứng từ. Do chức năng quan trọng của chứng từ, nên để dễ kiểm tra, quản lý tình hình tài chính của Bộ Tài Chính quyết định các chứng từ sử dụng trong kế toán thành phẩm là: Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, hoá đơn kiêm vận chuyển nội bộ, thẻ kho, biên bản kiểm kê, hoá đơn bán hàng, hoá đơn GTGT… 2.4.2.2 Kế toán chi tiết thành phẩm Kế toán chi tiết thành phẩm là việc ghi số liệu, luân chuyển chứng từ giữa các kho và phòng kế toán bằng các chỉ tiêu số lượng, giá trị thành phẩm theo từng loại, từng kho. Có 3 phương pháp hạch toán chi tiết thành phẩm: * Phương pháp ghi thẻ song song - Ở kho: Hàng này căn cứ vào chứng từ nhập - xuất thủ kho ghi số lượng thành phẩm. Vào cuối ngày tính ra số tồn kho của từng loại thành phẩm trên thẻ kho. - Ở phòng kế toán: Hàng ngày hoặc định kỳ, khi nhận được các chứng từ nhập - xuất thành phẩm được thủ kho chuyển lên, kế toán phải kiểm tra, ghi giá và phản ánh vào các số chi tiết. Cuối tháng căn cứ vào các sổ chi tiết để lập bảng tổng hợp chi tiết nhập - xuất - tồn thành phẩm. Phương pháp ghi thẻ song song đơn giản, dễ thực hiện và tiện lợi. Nhưng việc kiểm tra đối chiếu thường tiến hành vào cuối tháng nên làm hạn chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế toán. * Phương pháp đối chiếu luân chuyển - Ở kho: Thủ kho vẫn dùng các thẻ kho để ghi chép tình hình nhập - xuất - tồn của từng thành phẩm về mặt số lượng (giống phương pháp ghi thẻ song song). 22
  23. 23. - Ở phòng kế toán: Để theo dõi tình hình nhập - xuất thành phẩm về số lượng và giá trị kế toán dùng sổ luân chuyển. Nhưng có đặc điểm là chỉ ghi chép một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp nhập - xuất trong tháng, điều này cũng làm hạn chế tính kịp thời của kế toán. * Phương pháp ghi sổ số dư Phương pháp này được sử dụng cho nhiều doanh nghiệp dùng giá hạch toán để hạch toán giá trị thành phẩm nhập - xuất - tồn kho. - Ở kho: Thủ kho dùng thẻ kho để ghi chép nhập - xuất - tồn kho thành phẩmvề mặt số lượng. Cuối tháng, ghi số tồn kho đã tính trên thẻ kho vào sổ số dư cột số lượng. - Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư theo dõi từng kho dùng cả năm để ghi chép tình hình nhập - xuất. Từ các bảng kê nhập - xuất kế toán lập bảng luỹ kế nhập, xuất từ bảng luỹ kế này lập bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn theo từng nhóm, loại thành phẩm theo chỉ tiêu giá trị. Cuối tháng thủ kho gửi số dư lên, kế toán căn cứ vào số tồn kho cuối tháng này và đơn giá hạch toán tính ra giá trị tồn kho để ghi vào cột số tiền trên sổ số dư, bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn và số liệu kế toán tổng hợp. Phương pháp này khắc phục việc ghi chép trùng lặp, công việc diễn ra đều trong tháng nhưng kế toán lại chỉ theo dõi mặt giá trị. Do vậy, muốn biết số lượng hiện có phải thông qua thẻ kho. Vì thế để kiểm tra phát hiện sai sót, nhầm lẫn giữa kế toán và thủ kho gặp khó khăn. Tuỳ thuộc vào đặc điểm, chủng loại tình hình trang bị máy móc mà lựa chọn các phương pháp kế toán chi tiết thành phẩm. Để làm sao cho sự phối hợp ghi chép tình hình nhập - xuất hàng ngày và định kỳ giữa thủ kho và kế toán ăn ý, giảm lượng công việc và phản ánh chính xác số lượng, giá trị thành phẩm. 2.4.2 Kế toán tổng hợp thành phẩm. 23
  24. 24. Kế toán tổng hợp thành phẩm là việc sử dụng thước đo giá trị để phản ánh, ghi chép, tổng hợp, tài khoản kế toán và báo cáo tài chính. Tài khoản thường được sử dụng là: + TK 155 - Thành phẩm: Dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động các loại thành phẩm trong doanh nghiệp. + TK 157 - Hàng gửi bán: Dùng để phản ánh giá trị của thành phẩm đã gửi hoặc đã chuyển cho khách hàng hoặc nhờ bán đại lý, ký gửi. + TK 632 - Giá vốn hàng bán: Dùng để phản ánh giá vốn của thành phẩm xuất bán trong kỳ (đối với phương pháp kê khai thường xuyên), phản ánh giá thành phẩm sản xuất của thành phẩm hoàn thành nhập kho(đối với phương pháp kiểm kê định kỳ). Có 2 phương pháp hạch toán: * Phương pháp kê khai thường xuyên: Là phương pháp hạch toán mà mỗi nghiệp vụ nhập - xuất kho thành phẩm được thể hiện trên các TK kế toán một cách thường xuyên theo từng chứng từ nhập - xuất. * Phương pháp kiểm kê định kỳ: Là phương pháp hạch toán mà mỗi nghiệp vụ nhập - xuất kho thành phẩm không được ghi ngay vào TK, mà đến cuối kỳ mới tiến hành kiểm kê số thành phẩm tồn kho để tính ra số đã xuất kho trong kỳ và ghi sổ một lần. Phương pháp này ít được áp dụng trong các doanh nghiệp. 24
  25. 25. Sơ đồ1: kế toán thành phẩm theo phương pháp kê khai thường xuyên TK 155 TK 154 TK 632, 157 2. SP gửi bán, ký gửi đại lý hoặc hàng bị trả lại 1. Nhập kho TP từ sản xuất hoặc thuê ngoài gia công chế biến TK 338.1 3. Phát hiện thừa khi kiểm kê chưa rõ nguyên nhân TK 142 4. Tăng do đánh giá lại thành phẩm TK 632 5a. Giá thành của SP đã bán TK 157 5b. Giá thành SP gửi bán 5c. Giá thành SP gửi bán đã bán được TK338.1 6. Phát hiện thiếu khi kiểm kê chưa rõ nguyên nhân TK 128, 222 7. Góp vốn tham gia liên doanh bằng sản phẩm TK412 8. Giảm do đánh giá lại SP 25
  26. 26. Sơ đồ2: kế toán thành phẩm theo phương pháp kê khai định kỳ Dù doanh nghiệp hạch toán theo trường hợp nào cuối kỳ, kế toán xác định và kết chuyển trị giá vốn của thành phẩm xuất kho đã được xác định là tiêu thụ, để xác định kết quả kinh doanh theo định khoản. Nợ TK 911: Xác định kết quả kinh doanh Có TK 632: Giá vốn hàng bán. 2.4.3 Các phương thức tiêu thụ thành phẩm Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều muốn sản phẩm của doanh nghiệp mình sản xất đến được tay người tiêu dùng. Tuy nhiên để làm được điều đó thì không phải dễ dàng vì tuỳ thuộc vào đặc điểm của thành phẩm, vào vị trí, tình hình tài chính của doanh nghiệp…mà có nhiều phương thức tiêu thụ khác nhau: * Phương thức tiêu thụ trực tiếp: Là phương thức giao hàng cho người tiêu thụ hoặc khách hàng ngay tại kho 2(hoặc trực tiếp tại phân xưởng) của doanh nghiệp. Số hàng khi được coi là tiêu thụ khi người bán mất quyền sở hữu và khách hàng TK 155 TK 155, 157 TK 631 2. Giá thành SP hoàn thành có thể bán ra trong kỳ 1. Kết chuyển giá trị TP chưa bán được lúc đầu kỳ TK 155, 157 3. Kết chuyển giá trị TP chưa bán được lúc cuối kỳ TK 911 4. Kết chuyển giá vấn của những SP đã bán được trong kỳ TK 138 5. Kết chuyển giá trị của những SP xuất không phải bán trong kỳ 26
  27. 27. nhận được hàng, đồng thời khách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng (có thể thanh toán ngay hoặc trả chậm) * Phương pháp giao hàng theo hợp đồng Theo phương pháp này doanh nghiệp giao hàng cho khách hàng tại thời điểm đã ký kết trên hợp đồng. Và số hàng được coi là tiêu thụ khi khách hàng chấp nhận thanh toán. * Phương thức bán hàng qua đại lý, ký gửi: Là phương pháp mà bên chủ hàng (gọi là bên giao đại lý) xuất hàng cho bên nhận đại lý, ký gửi (gọi là bên đại lý) để bán. Khi đó, sản phẩm vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ khi nào doanh nghiệp nhận được thông báo của đại lý là đã tiêu thụ số hàng đó thì mới được coi là đã tiêu thụ thành phẩm, lúc này doanh nghiệp tiến hành trả tiền hoa hồng cho đại lý theo thoả thuận ban đầu. Toàn bộ số thuế VAT doanh nghiệp phải chịu, còn đại lý bán hàng không phải chịu thuế VAT trên khoản hoa hồng được hưởng. Ngoài ra còn có nhiều hình thức khác như bán hàng trả góp, bán buôn, bán hàng thu tiền ngay, bán chịu,… Dù bán hàng theo phương thức nào đi chăng nữa thì cũng có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh về tiêu thụ và thanh toán tiền hàng, vì thế kế toán phải ghi vào chứng từ. Vì phương pháp chứng từ kế toán phản ánh chính xác, kịp thời, đầy đủ các hoạt động kinh tế tài chính xảy ra trong tiêu thụ. Và người ta sử dụng phương pháp tài khoản kế toán để theo dõi tình hình tiêu thụ thành phẩm của doanh nghiệp. * Các TK sử dụng trong kế toán tiêu thụ thành phẩm a, TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ TK này phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực hiện trong một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh. 27
  28. 28. Doanh thu thực tế là doanh thu của sản phẩm, hàng hoá dịch vụ đã được xác định là tiêu thụ bao gồm trường hợp thu tiền ngay và chưa thu tiền nhưng khách hàng đã chấp nhận thanh toán. TK này không có số dư. Kết cấu:  Bên nợ: - Số thuế phải nộp tính trên doanh thu bán hàng thực tế và được xác định là tiêu thụ. - Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu - Kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911  Bến có: Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ. b, TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ Dùng để phản ánh doanh thu của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trong nội bộ giữa các ngành đơn vị trực thuộc trong cùng một doanh nghiệp TK này không có số dư Kết cấu:  Bên nợ: Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu, doanh thu thuần bán hàng nội bộ  Bên có: Doanh thu bán hàng nội bộ. Không phải bán được hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán thì doanh thu đó là của doanh nghiệp hoàn toàn mà doanh thu đó còn chịu nhiều yếu tố làm giảm như TK 521, TK 531, TK 532 c, TK 521 - Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền doanh nghiệp giảm trừ hoặc đã thanh toán cho khách hàng do việc khách hàng thanh toán do mua một lần đạt 28
  29. 29. được doanh số thoả thuận chiết khấu hoặc mua nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định đạt được doanh số chiết khấu ( do 2 bên thoả thuận) Riêng chiết khấu thanh toán - là số tiền người bán giảm trừ cho người mua đối với số tiền phải trả, do người mua than toán tiền mua sản phẩm của doanh nghiệp trước thời hạn thanh toán đã thoả thuận thì không hạch toán vào TK 521 nữa mà khi doanh nghiệp thưởng lại cho khách hàng sẽ ghi vào chi phí hoạt động tài chính - TK 635. TK 521 không có số dư. Kết cấu:  Bên nợ: Số tiền chiết khấu đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng.  Bên có: Kết chuyển toàn bộ chiết khấu thương mại sang TK 511 để xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán. d, TK 531 - Hàng bán bị trả lại: Là doanh số sản phẩm hàng hóa đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng như hàng không đủ quy cách, kém chất lượng… TK 531 không có số dư Kết cấu:  Bên nợ: Doanh số của hàng bán bị trả lại mà khách hàng đã trả lại cho doanh nghiệp hay doanh nghiệp đã trừ vào khoản nợ phải thu của khách hàng.  Bên có: Kết chuyển doanh số của hàng bán bị trả lại vào TK 511 hoặc 512 để xác định doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ hạch toán. TK 532 không có số dư. e, TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước: phản ánh tình hình thanh toán với Nhà nước, trong đó có 2 loại thuế 29
  30. 30. - Thuế GTGT (VAT): Là phần nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện đối với Nhà nước về hoạt động tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa dịch vụ. Đây là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của sản phẩm hàng hoá dịch vụ từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam. Luật thuế GTGT quy định có 4 mức thuế suất là: 0%, 5%, 10%, 20% và được Bộ Tài Chính quy định cụ thể trong Thông tư hướng dẫn. Có 2 phương pháp tính thuế: + Phương pháp khấu trừ thuế: Xác định số thuế GTGT phải nộp như sau: Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGTđầu ra - Thuế GTGT đầu vào Trong đó: Thuế GTGT = Giá tính thuế * thuế suất thuế GTGT + Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Thuế GTGT phải nộp = Giá thanh toán của HHDV bán ra - Giá thanh toán của HHDV mua vào * thuế suất thuế GTGT - Thuế Tiêu thụ đặc biệt: Là một loại thuế gián thu, thu vào một số hàng hoá diịchvụ đặc biệt được Nhà nước quy định TK 333 số dư bên có: Thuế, phí, lệ phí… Kết cấu:  Bên nợ: Thuế và các khoản đã nộp cho Nhà nước  Bên có: Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước. Để đánh giá xem khâu thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm của doanh nghiệp đã tốt hay chưa thì ta phải xác định được doanh thu thuần, xác định được giá vốn hàng bán để từ đó xác định lãi gộp. Đó cũng là cơ sở để xác định kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp: 30
  31. 31. Lãi gộp = Doanh thu thuần - Giá vốn PHẦN THỨ BA ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của Công ty TNHH môi trường Việt ASIA 3.1.1 Giới thiệu sơ lược về Công ty 3.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT SỢI ĐAM SAN Địa chỉ: 402/2 Lê Văn Sỹ - P.14 - Q.3 - TP. HCM ĐT: 036.3643.808 Fax: 036.3642.312 email: damsanjsc.vnn.vn Mã số thuế: 1000389852 Ngành nghề kinh doanh: - Sản xuất: Sợi, vải, khăn. - Tẩy nhuộm: Sợi, vải, khăn - Mua, bán, XNK: Bông, sợi, vải, khăn, hàng dệt may. Vốn điều lệ: 33.668.000.000 đồng Tháng 3/2006, Công ty cổ phần TMĐT Thái Bình và Công ty cổ phần NXK Thủ công mỹ nghệ Hà Nội (Artexport) đã đàm phán và hợp tác đầu tư thực hiện dự án nhà máy kéo sợi dệt may hoàn tất công suất 3.500 tấn/ năm tại Thái Bình. 31
  32. 32. Tháng 4/ 2006, UBND tỉnh Thái Bình ra quyết định phê duyệt dự án và cho Công ty cổ phần TMĐT Thái Bình thuê đất để xây dựng Nhà máy sợi tại KCN Nguyễn Đức Cảnh - TP Thái Bình. Tháng 5/2006, Công ty cổ phần TMĐT Thái Bình quyết định thay đổi chủ đầu tư sang Công ty TNHH môi trường Việt ASIAđể tiếp tục thực hiện dự án. Tháng 6/2006, Sở Kế hoạch đầu Tư Thái Bình cấp giấy phép số 0803000284 chính thức công nhận sự ra đời của Công ty TNHH môi trường Việt ASIA. 3.1.1.2 Tình hình thực hiện đầu tư và sản xuất của Công ty Khi bắt đầu lập dự án, công suất dự kiến của Nhà máy là 3.500 tấn/ năm, tổng nguồn vốn đầu tư là 93 tỷ đồng. Tuy nhiên sau khi hoàn thiện và đi vào sản xuất giai đoạn 1, với những kết quả đã đạt được, cùng những tín hiệu khả quan trên thị trường sợi vải trong và ngoài nước, sự đồng thuận của các Cổ Đông, HĐQT quyết định đầu tư mở rộng dự án nâng công suất lên 5.500 tấn/năm với tổng số vốn đầu tư là 139 tỷ đồng, trong đó có 114 tỷ đồng vốn cố định và 25 tỷ đồng vốn lưu động. 3.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý của Công ty 3.1.2.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất Công ty TNHH môi trường Việt ASIA được bố trí tập trung từ nhà điều hành đến các phòng ban, phân xưởng sản xuất…nằm trong KCN Nguyễn Đức Cảnh trên khu vực diện tích vào khoảng 14.500m2 , trong đó: + Nhà điều hành: 1.500m2 + Phân xưởng sản xuất, nhà kho, các công trình phụ: 10.000m2 + Nhà kho bông, sợi và nhà xử lý bông phế liệu: 3.000m2 Do có sự bố trí tập trung như vậy nên công tác tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty diễn ra khá thuận lợi và nhanh gọn ngay từ khâu đưa nguyên vật liệu đầu vào cho đến khâu tao ra thành phẩm hoàn chỉnh. 32
  33. 33. Nắm bắt được nhu cầu của thị trường ngày càng cao và để giảm thiểu rủi ro do sự biến động của thị trường nên Công ty đã đầu tư sản xuất ra nhiều loại thành phẩm, mỗi loại thành phẩm đều có những quy trình công nghệ sản xuất riêng và hiện đại. Hiện nay Công ty đang sản xuất các loại thành phẩm như Sợi, Khăn tẩy nhuộm và khăn thành phẩm. Tuy nhiên do điều kiện nên Công ty chưa xây dựng được phân xưởng gia công khăn mộc do đó công đoạn gia công khăn mộc Công ty phải thuê từ bên ngoài. Tuy nhiên, Sợi là thành phẩm mang lại doanh thu cao nhất cho Công ty. Do điều kiện và thời gian hạn chế nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu 2 loại thành phẩm chính của Công ty, đó là Sợi cọc và Sợi OE. Dưới đây là quy trình công nghệ sản xuất 2 loại sợi Sơ đồ 3: Quy trình công nghệ sản xuất Sợi Cọc Bông(NVL) Máy Bông Máy chải Máy ghép 1Máy ghép 2Máy sợi thô Sợi cọc (TP)Máy đánh ốngMáy sợi con 33
  34. 34. Sơ đồ 4: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất Sợi OE 3.1.2 .2 Giới thiệu về sản phẩm và nơi tiêu thụ thành phẩm của Công ty Sản phẩm của Công ty TNHH môi trường Việt ASIA hiện nay đã tạo được uy tín cho khách hàng không chỉ thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài. Do được đầu tư thiết bị máy móc đồng bộ và hiện đại nên công ty tập trung vào sản xuất mặt hàng sợi chất lượng cao phục vụ chủ yếu cho thị trường dệt vải (chiếm 70% sản lượng), và thị trường dệt khăn chiếm 30%. Bông(NVL) Máy Bông Máy chải Máy ghépMáy OESợi OE(TP) 34
  35. 35. Đối với mặt hàng khăn xuất khẩu: Công ty chú trọng các mặt hàng chủ đạo của Công ty như sau: Khăn ăn, khắn tắm, khăn thể thao, cung cấp cho thị trường Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Về thị trường tiêu thụ: Công ty luôn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng nhằm ổn định và giữ vững với các khách hàng truyền thống, đồng thời luôn luôn tìm kiếm và mở rộng thị trường mới. - Thị trường trong tỉnh: Công ty CP Bitexco Nam Long, Công ty Dệt may Minh Tâm, Công ty TNHH Thanh Chất, Công ty TNHH Tân Phương, Công ty TNHH Phúc Cường, Công ty TNHH Dệt may Hoàn Hợp, Công ty TNHH Dệt may Phúc Anh, Công ty TNHH Dệt may Nam Thành… - Thị trường miền Bắc: Công ty Dệt Hà Nam, Công ty Dệt may Châu Giang (Lý Nhân - Hà Nam), Tổng Công ty Dệt may Nam Định, Công ty TNHH Tuyết Thành (KCN An Xá - Nam Định), Công ty Dệt 8-3 Hà Nội, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19-5 Hà Nội, Công ty TNHH Trí Hường (KCN Đồng Văn - Hà Nam), Công ty CP Sản xuất Dệt May 20 - Lĩnh Nam - Hà Nội… - Thị trường miền Trung: Công ty TNHH Dệt An Phú (Duy Xuyên - Quảng Nam), Xí nghiệp Dệt làng nghề Mã Châu (Nghi Xuyên - Quảng Nam), Công ty Dệt Sơn Trà (KCN Hoà Khánh - Đà Nẵng)… - Thị trường miền Nam: Công ty TNHH Duy Dũng (Q. Bình Thạnh - TP Hồ Chí Minh), Công ty TNHH Tường Long (P. Phú Thạnh - Q.Tân Phú - TP HCM), Công ty TNHH H.A.B (Q. Gò Vấp) - Thị trường nước ngoài: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc là những thị trường chủ yếu, hiện nay Công ty đang có kế hoạch mở rộng thị trường ra nhiều nước khác trên thế giới để khẳng định được sản phẩm của Công ty ngày càng có uy tín đối với khách hàng, đồng thời càng khẳng định được vị thế của Công ty. 3.1.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty 35
  36. 36. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA có bộ máy quản lý được tổ chức tập trung từ trên, cao nhất là HĐQT (Ban Giám đốc), sau đó là các phòng ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất. Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty được thể hiện rõ qua sơ đồ sau: Sơ đồ 5: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty: Phó Giám đốc phụ trách XDPhó Giám đốc phụ trách SX Giám đốc Tổng giám đốc(HĐQT) Phòng Kế toán Phòng kinh doanh Phòng chuyên gia Phòng KCS Phòng cơ điện Phòng bảo vệ Phân xưởng sản xuất Phòng tổ chức hành chính 36
  37. 37. * Ban Giám đốc bao gồm: + 01 Giám đốc kiêm chủ tịch HĐQT: Là người lãnh đạo trực tiếp quản lý công ty, là đại diện pháp nhân của Công ty. Là người quyết định những công việc quan trọng và có quyền phê duyệt những quyết định trọng yếu. + 01 Phó Giám đốc phụ trách sản xuất: Là người thực hiện dưới quyền Giám đốc, có trách nhiệm phụ trách điều hành toàn bộ công việc sản xuất của Công ty. + 01 Phó Giám đốc phụ trách xây dựng: Là người thực hiện dưới quyền Giám đốc, có trách nhiệm phụ trách điều hành toàn bộ công việc xây dựng cơ bản của Công ty. - Các phòng ban khác thì chịu sự quản lý điều hành của ban Giám đốc và có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ chức năng của mình: 3.1.2.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty Công tác kế toán được thực hiện theo phương thức trực tiếp, kế toán trưởng trực tiếp điều hành các kế toán viên Việc tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ, nội dung công tác kế toán trong doanh nghiệp là do bộ máy kế toán đảm nhiệm. Việc tổ chức cơ cấu bộ máy kế toán sao cho hợp lý, gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả là điều quan trọng để cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác và đầy đủ, hữu ích cho đối tượng sử dụng thông tin, đồng thời phát huy và nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên kế toán. Hiện nay việc tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH môi trường Việt ASIA tiến hành theo hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung. Theo hình thức này thì toàn bộ công việc kế toán được thực hiện tập trung tạo phòng kế toán của Công ty, không tổ chức bộ phận kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ hướng dẫn, thực hiện hạch toán ban đầu, thu thập kiểm tra chứng từ về phòng tài chính kế toán của công ty. Bộ máy kế toán của công ty được thể hiện trên sơ đồ sau: 37
  38. 38. - Kế toán trưởng: Phụ trách chung công tác kế toán toàn công ty, giúp Giám đốc Công ty tổ chức chỉ đạo công tác tài chính, tổ chức hạch toán kế toán. sắp xếp tổ chức bộ máy kế toán công ty đảm bảo phù hợp. - Kế toán tổng hợp: Kế toán nhật ký chung; kế toán bán hàng; kế toán thanh toán công nợ với khách hàng trong và ngoài công ty; kế toán thuế và các khoản phải nộp Nhà nước; kế toán tăng, giảm TSCĐ; - Kế toán Ngân hàng: Làm nhiệm vụ hạch toán kế toán các khoản vay vốn ngắn hạn thanh toán và thu vốn kịp thời khi có đủ điều kiện thanh toán. - Kế toán nguyên vật liệu và CCDC: Kế toán nhập xuất kho NVL, CCDC; kế toán tăng giảm NVL và CCDC. - Thủ kho công ty: Là thủ kho hàng hoá của Công ty, có trách nhiệm nhập, xuất hàng hoá tại kho nhà máy, hàng ngày nhập kho sợi từ tổ đóng gói chuyển sang. - Thủ quỹ tiền mặt: Theo dõi hợp đồng kinh tế; lập và chuyển hoá đơn cho khách hàng đảm bảo chính xác, kịp thời; Kiểm tra theo dõi các phiếu thu, chi liên quan đến tiền mặt và có trách nhiệm xuất nhập quỹ tiền mặt của Công ty. * Hình thức tổ chức kế toán: Công ty TNHH môi trường Việt ASIAáp dụng chế độ kế toán Doanh nghiệp theo quyết định 15 QĐ15/2006 QĐ - BTC; áp dụng hình thức kế toán theo phương pháp Nhật Ký Chung và sử dụng phần mềm kế toán Misa phục vụ cho công tác kế toán. Đặc điểm của hình thức này là: Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh sau khi được các bộ phận liên quan chuyển đến phòng kế toán, kế toán các phần hành liên quan đến chứng từ này kiểm tra tính chính xác của chứng từ, sau đó nhập số liệu vào máy theo từng phần hành, sau đó thì phần mềm sẽ tự động ghi sổ vào: Sổ Nhật ký chung, sổ cái Tài khoản, sổ chi tiết có liên quan. 38
  39. 39. Sơ đồ 6: Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty Sơ đồ 7: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung: Kế toán trưởng Kế toán tổng hợp Kế toán Ngân hàng Kế toán NVL và CCDC Thủ kho công ty Thủ quỹ tiền mặt 39
  40. 40. Ghichú: Ghi hàng ngày Ghi định kỳ Quan hệ đối chiếu 3.1.3 Tình hình lao động của Công ty Đối với Công ty cổ phần Dệt Sợi Đam San, việc bố trí lao động đúng người, đúng việc làm sao phát huy được tối đa khả năng của người lao động luôn được các nhà lãnh đạo quan tâm và đề cao. Đây là một trong những yếu tố không chỉ quyết định đến số lượng thành phẩm mà còn ảnh hưởng đến chiến lược giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, để làm được điều này, Công ty TNHH môi trường Việt ASIAluôn tìm cách sắp xếp, quản lý chặt chẽ từng phân xưởng, từng phòng ban để tận dụng phát huy nguồn nhân lực. Số lượng lao động của Công ty cũng tăng lên nhanh chóng. Hiện nay, tổng số lao đông của Công ty là 300 người so với năm 2007 là 112 người; Do Công ty có dây chuyền sản xuất với công nghệ hiện đại nên công ty có số lượng lao động công nhân viên không nhiều. - Về chất lượng lao động: Nhìn chung đội ngũ lao động của Công ty có trình độ chưa cao. Số lượng cán bộ có trình độ Đại học và cao đẳng mới chiếm khoảng Sổ NKC Sổ cái NKC Bảng CĐTK Bảng đối chiếu chi tiết Sổ, thẻ chi tiết Báo cáo tài chính Chứng từ gốc 40
  41. 41. 18%; 52% là trung học chuyên nghiệp; phần còn lại là lao động phổ thông có đào tạo tay nghề. Nhìn chung đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty tương đối trẻ, năng động và linh hoạt nhanh nắm bắt được tình hình biến đổi của thị trường nên đạt được nhiều kết quả trong công việc, giúp cho công ty nhận định được tình hình và xác định được khá tốt những bước đi trong sản xuất kinh doanh. Dự định bước sang những năm tiếp theo Công ty sẽ tuyển dụng thêm nhiều công nhân phục vụ cho việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty. Tóm lại tình hình lao động của Công ty đang thay đổi với chiều hướng tốt, phát huy lợi thế của mình trong sản xuất kinh doanh của Công ty. Bảng 1: Tình hình lao động của Công ty Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2013 So sánh Số lượng (người) CC (%) Số lượng (người) CC (%) + - % I. Tổng lao động 112 300 1. Phân theo giới tính 112 100,00 300 100,00 188 - Lao động Nam 60 53,57 180 60 120 103,0 - Lao động Nữ 52 46,43 120 40 68 102,3 2. Phân theo tính chất công việc 112 300 - Lao động trực tiếp 35 31,25 85 28,33 50 102,4 - Lao động gián tiếp 77 68,75 215 71,67 138 102,8 41
  42. 42. 3. Phân theo trình độ 112 100 300 100 188 - Đại học, Cao Đẳng 11 9,82 54 18,00 43 104,9 - Trung cấp 38 33,92 156 52,00 118 104,1 Công nhân kỹ thuật 63 56,26 90 30,00 33 101,4 3.1.4. Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty Là một Công ty mới thành lập nên Công ty TNHH môi trường Việt ASIAhiện nay đang có giá trị TSCĐ khá lớn. Tuy nhiên, công ty vẫn chú trọng đến việc tăng giá trị của TSCĐ lên để phù hợp với việc mở rộng quy mô sản xuất như xây thêm nhà xưởng, trạng bị thêm máy móc thiết bị… 42
  43. 43. Bảng 2: Giá trị TSCĐ của Công ty Chỉ tiêu Năm 2007 ( đồng) Năm 2013 ( đồng) So sánh + - % 1. Nhà cửa, vật kiến trúc 8.139.845.176 13.731.535.463 5.591.690.287 168,7 2. Máy móc, thiết bị 49.415.248.519 99.081.959.004 49.666.710.485 200,5 3. Phương tiện vận tải 408.047.000 408.047.000 0 100,0 4.Thiết bị dụng cụ quản lý 17.227.000 17.227.000 0 100,0 Tổng 57.572.361.499 113.238.768.467 Nhìn vào bảng trên ta thấy TSCĐ của Công ty tăng lên nhanh chóng, nhất là máy móc thiết bị, sau đó đến nhà cửa - vật kiến trúc. Máy móc thiết bị tăng lên 49.666.710.485 đồng tương đương với 100,5%, nhà cửa vật kiến trúc tăng lên 5.591.690.287 đồng. Riêng phương tiện vận tải và thiết bị dụng cụ quản lý không tăng qua 2 năm. Nhìn chung qua số liệu trong bảng phân tích trên ta có thể thấy Công ty luôn chú trọng đến đầu tư sản xuất. Không ngừng mua sắm máy móc thiết bị mới vừa để tăng chất lượng sản phẩm chiếm lĩnh thị trường, vừa tìm ra sản phẩm mang lại hiệu quả cao hơn. Công ty cũng không ngừng xây dựng các nhà xưởng cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ cho mở rộng quy mô sản xuất. Tuy nhiên lượng hàng hoá nhập xuất trong Công ty vẫn chưa thay đổi nhiều qua 2 năm nên việc trang bị mua sắm thêm phương tiện vận tải đối với Công ty là chưa thực sự cần thiết. Còn đối với thiết bị dụng cụ quản lý của Công ty cũng không thay đổi do 43
  44. 44. ngay từ khi thành lập Công ty TNHH môi trường Việt ASIAđã trang bị khá đầy đủ trang thiết bị phục vụ tốt cho công tác quản lý. 3.1.5 Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty Bảng 3: Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty TÁI SẢN NĂM 2007 NĂM 2013 A. TSLĐ và ĐTNH I. Tiền III. Các khoản phải thu 3.1.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Qua hơn 2 năm đi vào sản xuất kinh doanh Công ty TNHH môi trường Việt ASIAvới những nỗ lực cố gắng của mình và đã gặt hái được nhiều kết quả khả quan. Để thấy rõ được điều này chúng ta tìm hiểu về kết quả kinh doanh của Công ty qua 2 năm 2007 và 2013. Qua bảng 4 ta thấy doanh thu của công ty tăng từ 101.811.853.662 đồng lên 201.093.488.193 đồng, tăng 97.5%. Điều này chứng tỏ khối lượng sản xuất và 44
  45. 45. tiêu thụ của công ty ngày càng tăng mà tăng rất nhanh. Một trong những điều tác động trực tiếp đến việc tăng doanh thu là Công ty đã có những chính sách tiêu thụ hợp lý và nỗ lực cạnh tranh trên thị trường. Công ty không chỉ tiêu thụ thành phẩm sợi, khăn của Công ty sản xuất ra mà còn mở rộng kinh doanh buôn bán các sản phẩm như bông Ấn Độ, Bông Mỹ…Đây cũng là những mặt hàng đem lại khoản doanh thu lớn cho Công ty. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý tăng lên nhiều, nhất là chi phí bán hàng. Tuy nhiên, khoản chi phí bán hàng tăng lên nhiều hơn, năm 2013 tăng lên 162.7% so với năm 2007, điều này cũng là hợp lý vì chi phí tăng lên theo khối lượng tiêu thụ tăng. Tuy hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty vẫn có lãi nhưng lợi nhuận sau thuế của Công ty lại giảm đi so với năm 2007 mặc dù không đáng kể (chỉ 0.3%). Nguyên nhân là do lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh giảm 304.067.960 đồng, còn lợi nhuận từ hoạt động bất thường thì sang năm 2013 không những không thu được mà còn bị lỗ 18.015.392 đồng. Do đó ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận sau thuế của Công ty. Qua những chỉ tiêu trên cho thấy Công ty cũng đã nỗ lực cố gắng để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả, tuy có giảm so với năm 2007 vì nhiều nguyên nhân nhưng cũng đã chứng tỏ Công ty không ngừng vượt qua khó khăn để hoạt động. Tuy kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất trong năm 2013 chưa thực hiện được nhưng năm 2014 Công ty đã đặt ra mục tiêu phấn đấu để đạt doanh thu cao hơn. Bảng 4: Kết quả sản xuất kinh doanh qua 2 năm 2007 - 2013 45
  46. 46. Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2013 So sánh +- % 1. Tổng doanh thu 101.811.853.662 201.093.488.193 99.281.634.531s 197.5 2. Các khoản giảm trừ 47.594.439 109.695.845 62.101.406 230.5 3. Doanh thu thuần 101.764.259.223 200.893.792.348 99.129.533.125 197.4 4. Giá vốn hàng bán 91.285.006.181 184.041.278.002 92.756.271.821 201.6 5. Lợi nhuận gộp 10.479.253.042 16.942.514.346 6.463.261.304 161.7 6. Chi phí bán hàng 610.100.212 2.213.184.221 2.213.184.217 362.7 7. Chi phí quản lý 1.434.550.502 2.312.171.516 877.621.014 161.2 8. Lợi nhuận từ hoạt động SXKD 5.764.563.773 5.460.495.813 (304.067.960) 94.7 9.Lợi nhuận từ hoạt động tài chính 41.956.358 314.776.090 272.819.732 750.2 10.Lợi nhuận từ hoạt động bất thường 169.188.790 (18.015.392) 11. Tổng lợi nhuận trước thuế 5.933.752.563 5.442.480.421 (491.272.142) 91.7 12. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 13. Lợi nhuận sau thuế 5.933.752.563 5.442.480.421 (491.272.142) 91.7 14. Lãi cơ bản trên cổ phiếu(*) (Nguồn: Phòng kế toán) 46
  47. 47. 3.2. Phương pháp nghiên cứu 3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu Số liệu trong đề tài được thu thập chủ yếu qua 2 năm 2007, 2013. Số liệu được lấy từ phòng tổ chức, phòng Kế toán tài vụ của Công ty TNHH môi trường Việt ASIA 3.2.2 Phương pháp chuyên môn kế toán - Phương pháp chứng từ: Chứng từ là sự chứng minh bằng giấy tờ các nghiệp vụ xuất - nhập thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm. - Phương pháp TK kế toán: Được sử dụng để phân loại đối tượng chung của kế toán thành các đối tượng kế toán cụ thể để ghi chép, phản ánh và kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình và sự vận động của từng đối tượng kế toán. Cụ thể nhằm cung cấp thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính ở các đơn vị và để lập các báo cáo kế toán định kỳ. - Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán: Là phương pháp kế toán được sử dụng để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo mối quan hệ cân đối vốn có của đối tượng kế toán nhằm cung cấp các chỉ tiêu kinh tế, tài chính của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý các hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị. Phương pháp này có hình thức biểu hiện là hệ thống các bảng tổng hợp - cân đối kế toán còn gọi là báo cáo tài chính. - Phương pháp ghi sổ kép: Phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào các tài khoản kế toán theo đúng nội dung kinh tế của nghiệp vụ trong mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán. - Phương pháp phân tích và so sánh: Phân tích các chỉ tiêu trong các báo cáo của Công ty để thấy được sự biến động của các chỉ tiêu. 47
  48. 48. PHẦNTHỨ TƯ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1. Kế toán thành phẩm tại Công ty TNHH môi trường Việt ASIA 4.1.1 Đặc điểm thành phẩm của Công ty. Thành phẩm của Công ty TNHH môi trường Việt ASIA gồm nhiều loại có kích cỡ, chất lượng khác nhau, và số lượng của từng loại được sản xuất và tiêu thụ cũng khác nhau. Trong công tác quản lý thành phẩm, ngoài việc quản lý chung còn phải quản lý chặt chẽ về số lượng và giá cả của từng loại thành phẩm xuất dùng, tiêu thụ hoặc còn lại trong kho. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành Sợi Việt Nam. Sản phẩm của Công ty không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu nước ngoài. Do Cty mới thành lập nên vấn đề đi vào ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh là một điều khó khăn. Tuy nhiên với khả năng và những nỗ lực của mình Công ty đã khắc phục được những biến động lớn của thị trường phức tạp. Từ quý IV năm 2007 và cả 6 tháng đầu năm 2013 là thời gian có giá nguyên liệu đầu vào diễn biến hết sức phức tạp theo chiều hướng bất lợi cho nhà sản xuất (giá bông nguyên liệu tăng cao, giá cước vận tải đường biển và đường bộ đều tăng). Trước những bất ổn của nền kinh tế, Ban Giám đốc Công ty đã sớm đưa ra phương án nhằm giảm bớt những tác động xấu từ thị trường bên ngoài đối với doanh nghiệp. Giai đoạn đầu khi mới thành lập Công ty TNHH môi trường Việt ASIA mới có 112 lao động nhưng cho đến nay đã tăng lên 300 lao động. Vì vậy doanh thu của Công ty từ năm 2007 là 101.811.853.662 đồng đến năm 2013 tăng lên 201.093.488.193 đồng, thu nhập bình quân đầu người là 1400.000đ/người/tháng. 48
  49. 49. Điều này khẳng định Công ty ngày càng phát triển và đặc điểm thành phẩm mà công ty sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA sản xuất ra không chỉ 1 loại thành phẩm là Sợi, mà còn có xưởng tẩy nhuộm khăn mộc sau khi thuê ngoài gia công, có xưởng sản xuất khăn thành phẩm. Tuy nhiên Sợi là thành phẩm chủ yếu và mang lại doanh thu lớn nhất cho Công ty. Thành phẩm Sợi của Công ty thì đa dạng, phong phú nhiều chủng loại với nhiều những chỉ số khác nhau, điều đó được thể hiện rõ qua bảng sau: Bảng 5: Bảng giới thiệu thành phẩm của Công ty Loại thành phẩm Số lượng sản xuất (Kg) Mã số TP Tên TP Năm 2007 Năm 2013 I. Sợi cọc 1. 20cọc Sợi cọc 20 0 752.243,98 2. 26cọc Sợi cọc CD26 0 96.439,50 3. 28cọc Sợi cọc CD28 0 54.568,60 4. 30cọc Sợi cọc 30 0 175.277,40 5. 32cọc Sợi cọc 32 0 310.679,00 6. 36 cọc Sợi cọc 36 0 72.437,40 II. Sợi OE 7. Soi10 Sợi cotton Ne10 7.060,90 39.249,50 8. Soi16 Sợi cotton Ne16 650.733,40 115.203,90 9. Soi18 Sợi cotton Ne18 37.351,00 99.960,50 10. Soi20 Sợi cotton Ne20 1.503.801,90 2.735.281,00 11. Soi26 Sợi cotton Ne26 58,10 1,90 Nhìn vào bảng trên ta thấy được sự đa dạng phong phú các loại TP mà công ty sản xuất ra cùng với số lượng sản xuất được qua hai năm 2007 và 2013. Trong năm 2007, loại TP sản xuất nhiều nhất là Sợi cotton Ne20, sau đó đến Sợi cotton Ne16, nhưng trong 2007 thì Công ty chưa sản xuất được Sợi cọc. Bước sang năm 2013 thì Công ty đã sản xuất không chỉ Sợi OE mà còn sản xuất thêm nhiều sợi cọc. Trong số đó thì Sợi cottonNe20 vẫn là loại TP chiểm tỷ lệ cao nhất 49
  50. 50. (61.45%), sau đó đến sợi cọc 20 (16.7%), còn lại các loại TP khác cũng sản xuất được với số lượng khá lớn. Thành phẩm mà Công ty sản xuất ra nhiều hay ít phụ thuộc vào nhu cầu sợi của thị trường. Tuy nhiên, đối với Công ty TNHH môi trường Việt ASIA thì hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Sợi được diễn ra liên tục trong năm. Do đó doanh thu của Công ty biến đổi không nhiều Về chất lượng thành phẩm: Hiện nay Công ty đang có uy tín trên thị trường Sợi trong và ngoài tỉnh, sản phẩm Sợi của Công ty đang dần có uy tín trên thị trường Sợi vải một số nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản. 4.1.2. Quy định về quản lý thành phẩm Sản phẩm của Công ty được nhập kho hoặc giao ngay cho khách hàng ở bước công nghệ cuối cùng. Sản phẩm của Công ty luôn được bộ phận KCS kiểm tra chặt chẽ, chất lượng sản phẩm luôn được đảm bảo và ngày càng được nâng cao. Phòng kế hoạch kinh doanh chịu trách nhiệm giám sát tình hình nhập - xuất - tồn kho, dự trữ thành phẩm về mặt giá trị và hiện vật. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA là một doanh nghiệp sản xuất Sợi với số lượng lớn, công tác quản lý thành phẩm của Công ty được tiến hành về cả mặt số lượng và mặt giá trị. 4.1.3. Kế toán chi tiết thành phẩm Công tác kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp ở Công ty TNHH môi trường Việt ASIA được tiến hành theo giá thực tế Kế toán chi tiết thành phẩm là việc ghi chép số liệu giữa kho và phòng kế toán trên các chỉ tiêu số lượng và giá trị của thành phẩm. Để đáp ứng yêu cầu quản lý thành phẩm thì việc tổ chức theo dõi tình hình tăng giảm thành phẩm tại Công ty được thực hiện đồng thời giữa kho và phòng kế toán. 50
  51. 51. Việc hạch toán chi tiết thành phẩm tại Công ty được thực hiện theo phương pháp ghi thẻ song song. Ở kho chỉ theo dõi về mặt số lượng còn ở phòng kế toán theo dõi cả 2 mặt giá trị lẫn số lượng. Trình tự hạch toán được thể hiện như sau: + Tại kho: Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ nhập, xuất, nhận được thủ kho sử dụng thẻ kho để phản ánh hàng ngày tình hình nhập - xuất - tồn kho thành phẩm. Thẻ kho được lập căn cứ vào: Phiếu nhập kho, hoá đơn GTGT. Theo phương pháp này thủ kho căn cứ vào các chứng từ trên để ghi thẻ kho. + Tại phòng kế toán: Căn cứ vào các chứng từ nhập - xuất thành phẩm mà thủ kho gửi lên kế toán xác định giá thực tế thành phẩm nhập kho (theo giá thành công xưởng thực tế), còn giá xuất kho phải chờ đến cuối th¸ng (TÝnh theo gi¸ nhËp kho thµnh phÈm 01 th¸ng). Kế toán nhập các chứng từ nhập - xuất này trên máy theo các thứ tự thời gian phát sinh nghiệp vụ. Trên phần mềm kế toán Misa đã cài đặt sẵn sổ chi tiết và các mã thành phẩm. Khi nhập chứng từ kế toán kho, mã hàng hoá cho máy. Kế toán nhập chứng từ theo các yếu tố: Số chứng từ, ngày tháng, nội dung, số lượng, (đơn giá). Mãy sẽ tự động gắn cho các mã hàng hoá có sẵn, tự động tính ra thành tiền và số tiền sau mỗi nghiệp vụ. Cuối ngày, tổng số nhập, xuất, tồn này được lưu trên máy và in bảng kê bảng nhập - xuất - tồn kho thành phẩm phục vụ cho công tác quản lý. Sổ chi tiết thành phẩm theo dõi tình hình nhập - xuất - tồn từng loại thành phẩm theo hai chỉ tiêu đó là số lượng và giá trị. Đơn giá trên sổ chi tiết thành phẩm kế toán sử dụng là đơn giá thực tế. Mỗi loại thành phẩm được phần mềm theo dõi trên một sổ chi tiết. Việc đối chiếu giữa kho và phòng kế toán vào ngày cuối cùng của tháng, thủ kho và kế toán in thẻ kho và sổ chi tiết theo dõi trên máy đối chiếu số liệu giữa thẻ kho do thủ kho lập. 51
  52. 52. Từ sổ chi tiết, sổ tổng hợp các tài khoản và căn cứ với các chứng từ liên quan số liệu được ghi vào các sổ cái tương ứng 52
  53. 53. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA 402/2 Lê Văn Sỹ - P.14 - Q.3 - TP. HCM Mẫu số: S12 - DN (Ban hành theo QĐ số: 15/2006/QĐ - BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC THẺ KHO Từ ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2013 Tờ số: Tên, nhãn hiệu, quy cách vật tư: Sợi cotton Ne26 Đơn vị tính: Kg Mã kho: 155 Tên kho: Kho thành phẩm STT Ngày tháng Số hiệu chứng từ Diễn giải Ngày nhập - xuất Số lượng Ký xác nhận của Kế toán Nhập Xuất Nhập Xuất Tồn A B C D E F 1 2 3 G 1165 31/12/2007 (Số tồn đầu kỳ) 31/12/2007 58.10 1166 16/04/2013 NS77 Nguyễn Bá Tuấn 16/04/2013 1.90 60.00 1167 17/04/2013 500034 Công ty TNHH Dệt Kim Đông Xuân 17/04/2013 60.00 Cộng cuối kỳ: 1.90 60.00 Ngày…tháng…năm 2013 Thủ kho Kế toán trưởng Giám đốc (Ký, Ht) (Ký, HT) (Ký, HT, đóng dấu) Nguồn: Phòng kế toán 53
  54. 54. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA 402/2 Lê Văn Sỹ - P.14 - Q.3 - TP. HCM Mẫu số: S10 - DN (Ban hành theo QĐ 15/2006/QĐ - BTC của Bộ Trưởng BTC) SỔ CHI TIẾT VẬT LIỆU, DỤNG CỤ, SẢN PHẨM HÀNG HOÁ Từ ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2013 Mã kho: 155 Tên kho: Kho thành phẩm Ngày Số Loại Diễn giải Nhập kho Xuất kho Điều chỉnh Lắp ráp Tồn kho Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Mã hàng: Soi26 Tên hàng: Sợi Cotton Ne 26 31/12/2007 Số tồn đầu kỳ 58,10 1.481.027 16/04/2013 NS77 Nhập kho Nguyễn Bá Tuấn 1,90 48.433 60,00 1.529.460 17/04/2013 5003 4 HĐ bán hàng Công ty TNHH Một thành viên Dệt Kim Đông Xuân 60,00 1.529.460 Cộng 1,90 48.333 60,00 1.529.460 Tổng cộng 1,90 48.333 60,00 1.529.460 (Nguồn: Phòng kế toán) 54
  55. 55. 4.1.4 . Xác định giá thành phẩm nhập kho và xuất kho 4.1.4.1 Nhập kho thành phẩm * Cách tính: Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành căn cứ vào các khoản chi phí sản xuất bao gồm: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung phát sinh trong tháng tập hợp lại và tính ra giá thành sản xuất thực tế của từng loại thành phẩm hoàn thành nhập kho. Do TP của công ty là loại TP tự sản xuất nên việc tính giá thành của từng loại thành phẩm được kế toán tiến hành vào cuối tháng sau đó chuyển sang kế toán thành phẩm. Thành phẩm là một bộ phận quan trọng của TSLĐ, do vậy để có thể giám đốc được tình hình luân chuyển vốn nói chung và thành phẩm nói riêng thì cần thiết phải định giá của thành phẩm bằng cách đánh giá thành phẩm. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA áp dụng phương pháp tính giá thành phẩm theo giá thực tế. Giá thực tế là giá công xưởng của thành phẩm nhập kho và được tính theo công thức: Giá thành công xưởng thực tế = CPNVLTT + CPNCTT + CPSXC Số lượng thực tế của TP nhập kho Do thành phẩm Sợi của Công ty rất phong phú và đa dạng, mỗi loại có một chỉ số khác nhau như Sợi cọc CD 26, Sợi cọc CD 28, Sợi cotton Ne 16, Sợi cotton Ne 18…Vì vậy đặt ra yêu cầu gắt gao cho việc quản lý thành phẩm ở Công ty. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA đặt công tác quản lý thành phẩm trên cả 2 phương diện hiện vật và giá trị. Công ty áp dụng phương pháp đánh giá thành phẩm theo giá thực tế để phục vụ cho công tác hạch toán các nghiệp vụ nhập - xuất kho thành phẩm. Giá thực tế là giá thành phân xưởng của thành phẩm nhập kho 55
  56. 56. BẢNG 6: GIÁ NHẬP KHO THÀNH PHẨM THÁNG 12 NĂM 2013 TT Mã sản phẩm Tên sản phẩm ĐV T Số lượng nhập Đơn Giá nhập Tổng giá thành nhập I. Sợi cọc 1 20coc Sợi cọc 20 Kg 6.616,0 30.295,5 200.435.314 2 26coc Sợi cọc CD26 Kg 28.246,6 32000 903.891.200 3 28coc Sợi cọc CD28 Kg 16.516,8 18.213,9 331746153 4 30coc Sợi cọc 30 Kg 55.084 32500 1.790.230.000 5 32coc Sợi cọc 32 Kg 30.303,8 32800 993.964.640 6 36coc Sợi cọc 36 Kg 18.174,6 37100 674.277.660 I Sợi OE Kg 7 Soi 10 Sợi cotton Ne10 Kg 5.539,1 24000 132.938.400 8 Soi16 Sợi cotton Ne16 Kg 16.977,5 25000 424.437.500 9 Soi18 Sợi cotton Ne18 Kg 10 Soi20 Sợi cotton Ne20 Kg 217.502,6 27237.198 5.924.161.279 11 Soi26 Sợi cotton Ne26 Kg (Nguồn: Phòng kế toán) 56
  57. 57. Do Công ty tiến hành tính giá thành phẩm nhập kho theo tháng nên ta không tính được giá bình quân thành phẩm nhập kho mà căn cứ vào các chứng từ kế toán để biết được đơn giá thành phẩm nhập kho của từng TP qua từng tháng như sau: BẢNG 7: Loại TP Tháng Sợi cọc 20 Sợi cọc30 Sợi cotton Ne20 ... SL (Kg) Đơn giá SL (Kg) Đơn giá SL (Kg) Đơn giá SL ĐG Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 (Nguồn: Phòng kế toán) * Chứng từ và quá trình luân chuyển chứng từ trong nhập kho thành phẩm: Trong quá trình nhập kho thành phẩm, kế toán Công ty TNHH môi trường Việt ASIA sử dụng biên bản kiểm nghiệm thành phẩm nhập kho và phiếu xuất kho. 57
  58. 58. - Phiếu nhập kho: Phản ánh tình hình nhập kho thành phẩm. Những sản phẩm sau khi kết thúc quá trình sản xuất ở phân xưởng được bộ phận KCS kiểm tra chất lượng thành phẩm. Thành phẩm sau khi hoàn thành được phòng KCS kiểm tra, đạt yêu cầu mới được nhập kho để tiến hành theo dõi, quản lý trong sổ sách kế toán. Nhân viên phân xưởng sẽ viết phiếu nhập kho (chỉ ghi số lượng) và chuyển cho thủ kho làm thủ tục nhập kho thành phẩm. Thủ kho nhận phiếu nhập kho, kiểm tra hàng nhập kho rồi sau đó cùng người nhập kho ký vào phiếu. Thủ kho giữ lại một liên để ghi thẻ kho sau đó chuyển cho phòng kế toán ghi đơn giá, tính thành tiền vào sổ. Phiếu nhập kho do nhân viên phòng kinh doanh lập thành 3 liên: - Liên 1: Nhân viên phòng kinh doanh tổng hợp lưu giữ. - Liên 2: Thủ kho giữ. - Liên 3: Phòng kinh doanh giữ. Thành phẩm trước khi nhập kho phải được bộ phận KCS kiểm tra và lập biên bản kiểm nghiệm thành phẩm. Mẫu của BBKN của Công ty được lập theo mẫu sau: Mẫu 01: BIÊN BẢN KIỂM NGHIỆM THÀNH PHẨM 58
  59. 59. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA 402/2 Lê Văn Sỹ - P.14 - Q.3 - TP. HCM BIÊN BẢN KIỂM NGHIỆM THÀNH PHẨM NHẬP KHO Ban kiểm nghiệm gồm: Cán bộ sản xuất: Nguyễn Văn Tuấn Thủ kho: Phùng Anh Tú Cán bộ kế toán: Nguyễn Thị Thơ STT Tên nhãn hiệu quy cách TP Phương thức kiểm nghiệm ĐVT Số lượng TP sản xuất Kết quả kiểm nghiệm Số lượng đúng quy cách Số lượng không đúng quy cách 1/ Sợi cotton Ne12 Kg 200 200 0 2/ Sợi cotton Ne16 Kg 100 100 0 3/ Sợi cotton Ne18 Kg 200 200 0 4/ Sợi cotton Ne20 Kg 500 500 0 Ý kiển của ban kiểm nghiệm: Sau khi kiểm nghiệm TP nhập kho thấy số lượng TP đúng quy cách phẩm chất Ngày 10 tháng 08 năm 2013 Cán bộ kế toán Thủ kho Kỹ thuật phân xưởng (ký, ghi rõ HT) (ký, ghi rõ HT) (ký, ghi rõ HT) (Nguồn: Phòng kế toán) MẪU 02: PHIẾU NHẬP KHO 59
  60. 60. Công ty TNHH môi trường Việt ASIA 402/2 Lê Văn Sỹ - P.14 - Q.3 - TP. HCM PHIẾU NHẬP KHO Ngày 23 tháng 12 năm 2013 Số: NS 230 Nợ : 155 Có: 154 Mẫu 01-VT Ban hành theo QĐ 15/2006/QĐ/BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Trưởng BTC Họ và tên người giao hàng: Nguyễn Bá Tuấn Địa chỉ: Tổ đóng gói - Công ty TNHH môi trường Việt ASIA Diễn giải: Nhập kho sợi thành phẩm Theo số NS 230 ngày 23 tháng 12 năm 2013 Nhập tại kho: Thành phẩm - Công ty TNHH môi trường Việt ASIA ST T Tên, nhãn hiệu quy cách TP Mã số ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền 1 Sợi cotton Ne 20 155 Kg 12.256,70 27.000 330.930.900 2 Sợi cotton Ne 16 155 Kg 5.103,50 25.000 127.587.500 Cộng 458.518.400 Ngày 23 tháng 12 năm 2013 Số chứng từ gốc kèm theo: Thủ kho Người lập phiếu Người giao hàng Kế toán trưởng (Ký, ghi rõ HT) (Ký, ghi rõ HT) (Ký, ghi rõ HT) (ký, ghi rõ HT) (Nguồn: Phòng kế toán) 60
  61. 61. 4.1.4.2. Xuất kho thành phẩm * Cách tính giá: Cũng giống như khi nhập kho thành phẩm thì có giá nhập kho và khi xuất kho có giá xuất kho thành phẩm cũng có giá xuất. Để tính được giá thực tế xuất kho thì Công ty TNHH môi trường Việt ASIA áp dụng phương pháp bình quân gia quyền: Cụ thể: Giá thực tế TP xuất kho = Đơn giá BQ gia quyền * Số lượng TP xuất kho trong kỳ Trong đó: Đơn giá bình quân gia quyền = Giá trị TP tồn đầu kỳ + Giá trị TP nhập trong kỳ Số lượng TP tồn đầu kỳ + Số lượng TP nhập trong kỳ Việc xác định giá thành phẩm xuất kho là cơ sở để Công ty xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong tháng, cũng là căn cứ để xác định giá bán sao cho phù hợp. Đảm bảo bù đắp được chi phí bỏ ra và có lãi lại phù hợp với nhu cầu của thị trường. 61
  62. 62. Bảng 8: Bảng tính giá thành xuất kho tháng 12 năm 2013 Tên sản phẩm Tồn đầu kỳ Nhập trong kỳ Xuất trong kỳ Số lượng Thành tiền Số lượng Thành tiền Số lượng Đơn giá Thành tiền I. Sợi cọc Sợi cọc 20 138.513,40 950.522.168 6.616,0 200.435.314 137.068,90 7.924,6 1.086.220.455 Sợicọc CD26 54.904,6 1.834.052.916 28.246,6 903.891.200 16.200,8 32.958,1 533.947.791 Sợicọc CD28 7.079,3 104.246.607 16.516,8 300.835.344 12.843,7 4.417,9 56.742.942 Sợi cọc 30 17.774,4 647.680.407 55.084,0 1.790.230.000 24.178,8 33.460,9 809.045.329 Sợi cọc 32 3.209,2 118.447.270 30.303,8 993.964.640 5.334,7 33.202,9 177.127.711 Sợi cọc 36 15.908,8 591.956.965 18.174,6 674.277.660 2.678,3 37.209,4 99.657.947 II. Sợi OE Sợicotton Ne10 1.286,7 34.097.588 5.539,1 132.938.400 319,1 24.471,2 7.808.782 Sợicotton Ne16 0,4 10.720 16.977,5 424.437.500 12.685,7 25.000,05 317.143.208 Sợicotton Ne18 56.049,8 1.615.478.250 5.879,8 28.822,1 169.468.741 Sợicotton Ne20 40.315,2 1.061.269.460 217.502,6 5.924.161.279 241.814,9 27.087,5 6.550.165.973 Sợicotton Ne26 1.362,6 34.218.974 (Nguồn: Phòng kế toán) 62
  63. 63. Bảng 9: Báo cáo tổng hợp tồn kho năm 2013 63
  64. 64. * Chứng từ và quá trình luân chuyển chứng từ trong xuất kho thành phẩm Thành phẩm Sợi của Công ty không chỉ sản xuất để bán ra ngoài cho các doanh nghiệp khác sử dụng mà còn dùng một phẩn để sản xuất thành phẩm khăn của Công ty. Thành phẩm Sợi của Công ty còn đóng vai trò là nguyên vật liệu dùng cho phân xưởng sản xuất khăn gia công. Căn cứ vào số lượng vật tư theo yêu cầu tính toán, theo định mức sử dụng của cán bộ kỹ thuật, phòng kinh tế, phòng kế hoạch, phòng vật tư lập lệnh xuất kho và viết phiếu xuất kho thành 3 liên, mỗi loại thành phẩm xuất kho phải được ghi vào một dòng và các cột tương ứng. Khi lập phiếu xuất kho phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, ngày tháng, số phiếu và lý do sử dụng khi xuất kho. Sau đó chuyển cho thủ trưởng ký duyệt. Tên TP ĐV T Đầu kỳ Nhập kho Xuất kho C Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng Giá trị Số lượng I. Sợi cọc Kg Sợi cọc 20 Kg 0 0 752.243,98 22.450.134.605 744.183,48 22.385.397.578 8.060,5 Sợi cọc CD26 Kg 0 0 96.439,50 3.182.266.670 29.489,1 978.270.345 66.950,4 Sợi cọc CD28 Kg 0 0 54.568,6 993.911.816 43.816,2 946.408.151 48.679,6 Sợi cọc 30 Kg 0 0 175.277,4 6.163.576.947 126.597,8 4.634.711.869 28.178,3 Sợi cọc 32 Kg 0 0 310.679 11.461.553.072 282.500,7 10.526.286.873 13.230,5 Sợi cọc 36 Kg 0 0 72.437,4 2.707.969.820 59.206,9 2.215.670.802 6.506,7 II.Sợi OE Sợi cotton Ne10 Kg 7.060,9 168.065.174 39.249,5 1.050.159.944 39.803,7 1.058.977.912 4.292,2 Sợi cotton Ne16 Kg 5.077,4 121.780.141 115.203,9 3.054.399.500 115.989,1 3.068.874.629 50.170 Sợi cotton Ne18 Kg 170,3 3.972.418 99.960,5 2.907.954.340 49.960,8 1.465.917.249 16.038,92 Sợi cotton Ne20 Kg 3.221 73.418.936 2.735.281 73.882.071.028 2.722.463,08 73.520.225.198 1.362,6 Sợi cotton Ne26 Kg 1.362,6 34.218.974 1,9 48.433 60 1.529.460 1.304,5 (Nguồn 64

×