Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

on

  • 38,117 views

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Statistics

Views

Total Views
38,117
Views on SlideShare
38,117
Embed Views
0

Actions

Likes
13
Downloads
794
Comments
8

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel

15 of 8 Post a comment

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • ai down được rồi gữi cho mình với qua dangvanyen13@gmail.com
    cảm ơn nhiều
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • @hpngocnhi ko dễ đâu em
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • mình ko thể nào down tài liệu đươc, ai biết ko giúp mình với, mình cần đề tài kế toán trách nhiệm, nếu có xin gửi qua mail : hpngocnhi@gmail.com
    Mình xin cảm ơn các bạn
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • thanks so much.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • mình đang thực tập bên công ty gổ, ai có đề tài liên quan đến công ty gổ gửi cho minh nhe, theo địa chỉ mr_phuong@ymail.com mình cám ơn nhiều
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Document Transcript

  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Lời nói đầu Trong xu thế hợp tác và hội nhập không ngừng của nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới hiện nay, Việt Nam đang phấn đấu để có thể đứng vững và phát triển khi hiệp định mậu dịch tự do ASEAN có hiệu lực. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, hội nhập thương mại đang được hầu hết các quốc gia trên thế giới đón nhận như một cơ hội phát triển kinh tế một cách có hiệu quả nhất và nhanh chóng nhất, đồng thời còn không ít những thách thức khó khăn cần phải vượt qua. Hoà chung nỗ lực phấn đấu của cả nước, Viglacera cũng cố gắng có những hoạt động thương mại quốc tế để từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và dần xây dựng uy tín thương hiệu Viglacera nói riêng và thương hiệu các sản phẩm Việt Nam nói chung trên thị trường thế giới. Trong bối cảnh hiện nay một nhà sản xuất lớn như Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng, việc tìm kiếm và xúc tiến các biện pháp đẩy mạnh công tác xuất khẩu là một việc làm hết sức cần thiết và nếu được thực hiện tốt sẽ đem lại lợi ích thiết thực đối với Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng. Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng là đơn vị sản xuất kinh doanh các phẩm thuỷ tinh và gốm xây Sinh viên: Đinh Thị Dung 1Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera dựng hàng đầu ở Việt Nam. Đây là một doanh nghiệp nhà nước không những có quy mô rộng khắp trong và ngoài nước mà còn là đơn vị chủ lực làm đầu mối xuất khẩu các mặt hàng thuỷ tinh và gốm xây dựng. Tổng công ty rất quan tâm đến công tác xuất khẩu, coi đây là một trong những hoạt động chủ đạo liên quan chặt chẽ đến sự thành công của Tổng công ty. Vì những lý do trên tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: "Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng" Đây là một đề tài với phạm vi nghiên cứu rộng về các mặt của hoạt động xuất khẩu như thị trường xuất khẩu, sản phẩm xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu, hiệu quả xuất khẩu…của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng trong giai đoạn (1999-2002). Mục đích chủ yếu của đề tài là nhằm phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu của Viglacera. Từ đó tổng kết đánh giá những mặt thành công và những mặt còn tồn tại cần khắc phục trong hoạt động xuất khẩu. Đồng thời nêu lên một vài giải pháp, đề xuất kiến nghị nhằm góp phần đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Viglacera. Nội dung đề tài gồm 3 chương: Chương I: Cơ sơ lý luận chung về hoạt động xuất khẩu. Sinh viên: Đinh Thị Dung 2Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Chương II: Thực trạng kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng. Chương III: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng Sau đây là nội dung cụ thể của từng chương Chương I Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu I. Hoạt động xuất khẩu và trò của nó trong nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm 1.1. Xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới Sinh viên: Đinh Thị Dung 3Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã xuất hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển. Tuy hình thức đầu tiên chỉ là hàng đổi hàng, song ngày nay hình thức xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi phạm vi rộng cả về không gian lẫn thời gian. Nó có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và cũng có thể diễn ra trong kéo dài hàng năm. Đồng thời nó có thể được tiến hành trên phạm vi toàn lãnh thổ một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. 1.2. Thúc đẩy xuất khẩu Là các biện pháp nhằm đẩy mạnh các hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ cho các quốc gia khác trên thế giới và thu ngoại tệ hoặc trao đổi ngang giá. Ngày nay các quốc gia trên thế giới dù là nước siêu cường hay nước đang phát triển như Việt Nam thì việc thúc đẩy xuất khẩu vẫn là việc làm cần thiết. Sinh viên: Đinh Thị Dung 4Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Bởi một lý do hết sức đơn giản là thúc đẩy xuất khẩu đi đôi với tăng tổng sản phẩm kinh tế quốc dân , tăng tiềm lực kinh tế, quân sự... Bởi vì thế hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động thúc đẩy xuất khẩu nói riêng là một việc làm hết sức có ý nghĩa trước mắt và lâu dài. 1.3. Mục tiêu của hoạt động thúc đẩy xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu đem lại nhiều bước tiến quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của một quốc gia. Hoạt đông thúc đẩy xuất khẩu vì thế rất quan trọng.Và mục tiêu của xuất khẩu là:  Qua công tác xuất khẩu hàng hoá đã đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn và quan trọng cho đất nước đặc biệt có ý nghĩa quan trọng cho một quốc gia đang phát triển như nước ta. Thúc đẩy xuất khẩu góp phần đáng kể vào việc làm cân bằng cán cân ngoại thương và cán cân thanh toán, tăng mức dự trữ hối đoái, tăng cường khả năng nhập khẩu máy móc thiết bị, hiện đại hoá hàng công nghiệp xuất khẩu trên thế giới.  Thúc đẩy xuất khẩu cho chúng ta phát huy được lợi thế so sánh của mình, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên phong phú có sẵn và nguồn lao động, đem lại lợi nhuận cao. Việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên khi đưa chúng vào phân công lao Sinh viên: Đinh Thị Dung 5Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera động xã hội cho phép giảm bớt lãng phí do xuất khẩu nguyên liệu thô và bán sản phẩm.  Cùng với việc thúc đẩy xuất khẩu thì tất yếu dẫn đến nền kinh tế phát triển mạnh tronh lĩnh vục chế tạo và sản xuất hàng xuất khẩu. Điều này dẫn đến việc thu hút được lực lượng lao động tham gia vào hoạt động sản xuất và giảm nhẹ cho xã hội. Mặt khác, do yêu cầu khắt khe của việc làm hàng xuất khẩu để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường quốc tế, chất lượng mẫu mã chủng loại hình thức của hàng hoá, do vậy mà tay nghề người lao động không ngừng được nâng cao tạo ra một đội ngũ lành nghề cho đất nước và sự chuyển biến về chất cho từng công dân.  Xuất khẩu hàng hoá là phải xuất đi từ các sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường quốc tế. Chính vì vậy, buộc các doanh nghiệp tham gia vào làm hàng xuất khẩu phải có tính chủ động trong kinh doanh, liên kết tìm bạn hàng, tạo được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào để đầu tư trang thiết bị hiện đại để xuất khẩu được hàng hoá.  Thúc đẩy xuất khẩu tạo ra vai trò quyết định trong việc tăng cường hợp tác phân công và chuyên môn hoá quốc tế, đưa nền kinh tế của mình hoà nhập vào nền kinh tế thế giơí. Sinh viên: Đinh Thị Dung 6Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 2.1. Đối với nền kinh tế thế giới Xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu tiên trong hoạt động thương mại quốc tế, xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia cũng như toàn thế giới. Do những lý do khác nhau nên mỗi quốc gia đều có thế mạnh về lĩnh vực này nhưng lại yếu ở lĩnh vực khác. Để có thể khai thác được lợi thế, giảm bất lợi, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phát triển phải tiến hành trao đổi với nhau, mua những sản phẩm mà mình sản xuất khó khăn, bán những sản phẩm mà việc sản xuất nó là có lợi thế . Tuy nhiên hoạt đông xuất khẩu nhất thiết phải được diễn ra giữa những nước có lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác. Một quốc gia thua thiệt về tất cả các lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên, nhân công tiềm năng kinh tế... thông qua hoạt động xuất khẩu cũng có điều kiện phát triển kinh tế nội địa. Nói một cách khác, một quốc gia dù trong tình huống bất lợi vẫn tìm ra điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này, các quốc gia tập trung vào sản xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tương đối và nhập khẩu các mặt hàng không có lợi thế tương đối. Sự chuyên môn hoá trong sản xuất này đã làm cho Sinh viên: Đinh Thị Dung 7Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera mỗi quốc gia khai thác được lợi thế tương đối cuả mình một cách tốt nhất để tiết kiệm nguồn nhân lực như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên... trong quá trình sản xuất hàng hoá. Và vì vậy trên quy mô toàn thế giới thì tổng sản phẩm cũng sẽ được gia tăng 2.2. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới. Xuất khẩu là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia: *Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Trong thương mại quốc tế xuất khẩu không chỉ để thu ngoại tệ về mà còn là với mục đích bảo đảm cho nhu cầu nhập khẩu hàng hoá dịch vụ khác nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tăng trưởng nền kinh tế và tiến tới xuất siêu, tích luỹ ngoại tệ. Xuất khẩu với nhập khẩu trong thương mại quốc tế vừa là tiền đề của nhau, xuất khẩu để nhập khẩu và nhập khẩu để phát triển xuất khẩu. Đặc biệt ở các nước kém phát triển , một trong những vật cản chính đối với sự phát triển kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn. Vì vậy nguồn huy động cho nước ngoài được coi là nguồn chủ yếu cho quá trình phát triển. Nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ nước ngoài chỉ tăng lên khi Sinh viên: Đinh Thị Dung 8Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera các chủ đầu tư hoặc người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu của quốc gia đó. Vì đây là nguồn bảo đảm chính cho nước đó có thể trả nợ được. Thực tiễn cho thấy, mỗi một nước đặc biệt là các quốc gia đang phát triển có thể sử dụng các nguồn vốn huy động chính như: -Đầu tư nước ngoài -Vay nợ viện trợ -Thu từ nguồn xuất khẩu Tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận đuợc, song việc huy động nguồn vốn này không phải là một điều dễ dàng. Sử dụng nguồn vốn này thì các nước đi vay phải chịu mất một số thiệt thòi nhất định và dù bằng cách này hay cách khác thì cũng phải hoàn lại vốn cho nước ngoài. Điều này vô cùng khó khăn bởi đang thiếu vốn lại càng thiếu vốn hơn *Hoạt động xuất khẩu phát huy được các lợi thế của đất nước Để xuất khẩu được các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải lựa chọn các mặt hàng có tổng chi phí nhỏ hơn giá trị trung bình trên thị trường thế giới. Họ sẽ phải dựa vào những ngành hàng , những mặt hàng có lợi thế của đất nước cả về tương đối và tuyệt đối. Hoạt động xuất khẩu thúc đẩy khai thác có hiệu quả hơn vì khi xuất khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ có Sinh viên: Đinh Thị Dung 9Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera ngoại tệ để nhập máy móc, thiết bị tiên tiến đưa năng xuất lao động lên cao. *Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất định hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu với sản xuất và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế  Coi thị trường là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu, quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Cụ thể là - Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển - Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản xuất, tạo ra lợi thế nhờ quy mô. - Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia. - Xuất khẩu là một phương diện quan trọng để tạo vốn và thu hút công nghệ từ các nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế nội địa, tạo năng lực cho sản xuất mới. - Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia. Sinh viên: Đinh Thị Dung 10Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì phân công lao động ngày càng sâu sắc. Ngày nay, nhiều sản phẩm mà việc chế tạo từng bộ phận được thực hiện ở các quốc gia khác nhau. Để hoàn thiện được những sản phẩm này, người ta phải tiến hành xuất khẩu linh kiện từ nước này sang nước khác để lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Như vậy, mỗi nước họ có thể tập trung vào sản xuất một vài sản phẩm mà họ có lợi thế, sau đó tiến hành trao đổi lấy hàng hoá mà mình cần.  Cách nhìn nhận khác cho rằng: chỉ xuất khẩu những hàng hoá thừa trong tiêu dùng nội địa, khi nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng. Nên chỉ chủ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi hẹp và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển. *Xuất khẩu có tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Về ngắn hạn, để tập trung phát triển các ngành hàng xuất khẩu thì cần phải thêm lao động, cần để xuất khẩu có hiệu quả thì cần tận dụng lợi thế lao động nhiều, giá rẻ ở nước ta. Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.Tác động của xuất ảnh hưởng rất nhiều đến các lĩnh vực của cuộc sống như tạo ra công việc ổn định, tăng thu nhập... Như vậy có thể nói xuất khẩu tạo ra động lực cần thiết cho việc giải quyết những vấn đề thiết yếu của Sinh viên: Đinh Thị Dung 11Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera nền kinh tế. Điều này nói lên tính khách quan của tăng cường xuất khẩu trong quá trình phát triển kinh tế. 2.3. Đối với doanh nghiệp  Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng. Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu phù hợp với thị trường.  Sản xuất hàng hoá đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh. Đồng thời có ngoại tệ để đầu tư lại quá trình sản xuất không những cả về chiều rộng mà cả về chiều sâu.  Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều việc làm, tạo thu nhập ổn định , tạo ra nhiều ngoại tệ để nhập khẩu vật khẩu tiêu dùng, vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, vừa thu hút được lợi nhuận.  Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở lợi ích của hai bên. Như vậy đứng trên bất kỳ góc độ nào ta cũng thấy sự thúc đẩy xuất khẩu là rất quan trọng. Vì vậy thúc đẩy xuất khẩu là cần thiết và mang tính thực tiễn cao. Sinh viên: Đinh Thị Dung 12Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 3. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu 3.1. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá với các đối tác nước ngoài. Hình thức này không qua một tổ chức trung gian nào, có thể trực tiếp gặp nhau cùng bàn bạc thảo luận để đưa đến một hợp động hoặc không cần gặp nhau trực tiếp mà thông qua thư chào hàng, thư điện tử , fax, điện thoại... cũng có thể tạo thành một hợp đồng mua bán kinh doanh thương mại quốc tế được ký kết. *Ưu điểm của giao dịch trực tiếp Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc Giảm được chi phí trung gian, nhiều khi chi phí này rất lớn, phải chia sẻ lợi nhuận. Giao dịch trực tiếp sẽ có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý kiến của khách hàng, khắc phục thiếu sót. Chủ động trong việc chuẩn bị nguồn hàng, phương tiện vận tải để thực hiện hoạt động xuất khẩu và kịp thời điều chỉnh thị trường tiêu thụ, nhất là trong điều kiện thị trường nhiều biến động. *Hạn chế khó khăn của hoạt động xuất khẩu trực tiếp. Sinh viên: Đinh Thị Dung 13Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Đối với thị trường mới chưa từng giao dịch thường gặp nhiều bỡ ngỡ, dễ gặp sai lầm, bị ép giá trong mua bán. Đòi hỏi cán bộ công nhân viên làm công tác kinh doanh xuất khẩu phải có năng lực hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thương, ngoại ngữ, văn hoá của thị trường nước ngoài, phải có nhiều thời gian tích luỹ. Khối lượng mặt hàng giao dịch phải lớn mới có thể bù đắp được các chi phí trong giao dịch như: giấy tờ, đi lại, nghiên cứu thị trường…. 3.2. Xuất khẩu gián tiếp (uỷ thác) Là một hình thức dịch vụ thương mại, theo đó doanh nghiệp ngoại thương đứng ra với vai trò trung gian thực hiện xuất khẩu hàng hoá cho các đơn vị uỷ thác . Xuất khẩu uỷ thác gồm 3 bên, bên uỷ thác xuất khẩu, bên nhận uỷ thác xuất khẩu và bên nhập khẩu. Bên uỷ thác không được quyền thực hiện các điều kiện về giao dịch mua bán hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán.... mà phải thông qua bên thứ 3 - người nhận uỷ thác. Xuất khẩu uỷ thác được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp không được phép kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp, uỷ thác cho doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu làm đơn vị Sinh viên: Đinh Thị Dung 14Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera xuất khẩu hàng hoá cho mình, bên nhận uỷ thác được nhận một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác. *Ưu điểm của hình thức xuất khẩu gián tiếp Giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tìm nguồn đầu ra cho sản phẩm của mình. Giúp cho hàng hoá của doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào một thị trường mới mà mình chưa biết, tránh được rủi ro khi mình kinh doanh trên thị trường đó. Tận dụng sự am tường hiểu biết của bên nhận uỷ thác trong nghiệp vụ kinh doanh xuất khẩu từ khâu đóng gói, vận chuyển, thuê tàu mua bảo hiểm… sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được tiền của, thời gian đầu tư cho việc thực hiện xuất khẩu. *Nhược điểm của hình thức xuất khẩu gián tiếp Mất mối liên hệ trực tiếp của doanh nghiệp với thị trường (khách hàng). Phải chia sẻ lợi nhuận Nhiều khi đầu ra phụ thuộc vào phía uỷ thác trung gian làm ảnh hưởng đến sản xuất. 3.3. Xuất khẩu gia công uỷ thác Đây là hình thức kinh doanh mà trong đó có một đơn vị đứng ra nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi sản phẩm để xuất khẩu cho nước ngoài. Đơn vị này được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các xí nghiệp sản xuất. Sinh viên: Đinh Thị Dung 15Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 3.4. Buôn bán đối lưu (xuất khẩu hàng đổi hàng) Buôn bán đối lưu là một phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua. Khối lượng hàng hoá được trao đổi có giá trị tương đương. ở đây mục đích của xuất khẩu không phải thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một khối lượng hàng hoá với giá trị tương đương. Tuy tiền tệ không được thanh toán trực tiếp nhưng nó được làm vật ngang giá chung cho giao dịch này. Lợi ích của buôn bán đối lưu là nhằm mục đích tránh được các rủi ro về sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối . Đồng thời có lời khi các bên không đủ ngoại tệ thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình. Thêm vào đó, đối với một quốc gia buôn bán đối lưu có thể làm cân bằng hạn mục thường xuyên trong cán cân thanh toán quốc tế. 3.5. Xuất khẩu theo nghị định thư Đây là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu theo chỉ tiêu của nhà nước giao cho để tiến hành xuất một hoặc một số mặt hàng nhất định cho chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã ký giữa hai Chính phủ. Sinh viên: Đinh Thị Dung 16Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 3.6. Xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức kinh doanh xuất khẩu mới đang có xu hướng phát triển và phổ biến rộng rãi do ưu điểm của nó đem lại. Đặc điểm của loại hàng xuất này là hàng hoá không cần phải vượt qua biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn có thể đàm phán trực tiếp với người mua mà chính người mua lại đến với nhà xuất khẩu. Mặt khác, doanh nghiệp tránh được một số thủ tục rắc rối của hải quan, không phải thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hoá. Do đó, giảm được một lượng chi phí khá lớn. Hình thức xuất khẩu tại chỗ đang được các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có thế mạnh về du lịch và có nhiều đơn vị kinh doanh, các tổ chức nước ngoài đóng tại quốc gia đó khai thác tối đa và đã thu được những kết quả to lớn, không thua kém so với xuất khẩu trực tiếp qua biên giới quốc gia, đồng thời có cơ hội thu hồi vốn nhanh và lợi nhuận cao. 3.7. Gia công quốc tế Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh, trong đó một bên nhập nguồn nguyên liệu, bán thành phẩm (bên nhập gia công) của bên khác (bên đặt gia công) để chế biến thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu được phí gia công. Sinh viên: Đinh Thị Dung 17Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Đây cũng là một hình thức xuất khẩu đang được phát triển mạnh mẽ và được nhiều quốc gia trong đó đặc biệt là quốc gia có nguồn lao động dồi dào, tài nguyên phong phú áp dụng rộng rãi vì thông qua hình thức gia công, ngoài việc tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, họ còn có điều kiện đổi mới và cải tiến máy móc kỹ thuật công nghệ mới nhằm nâng cao năng lực sản xuất. Đối với bên đặt gia công, họ được lợi nhuận từ chỗ lợi dụng được giá nhân công và nguyên phụ liệu tương đối rẻ của nước nhận gia công. Hình thức xuất khẩu này chủ yếu được áp dụng trong các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động và nguyên vật liệu như dệt may, giầy da… 3.8. Tái xuất khẩu Tái xuất là sự tiếp tục xuất khẩu ra nước ngoài những mặt hàng trước đây đã nhập khẩu với điều kiện hàng hoá phải nguyên dạng như lúc đầu nhập khẩu. Hình thức này được áp dụng khi một doanh nghiệp không sản xuất được hay sản xuất được nhưng với khối lượng ít, không đủ để xuất khẩu nên phải nhập vào để sau đó tái xuất. Hoạt động giao dịch tái xuất bao gồm hai hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu với mục đích thu về một khoản ngoại tệ lớn hơn lúc ban đầu bỏ ra. Các bên tham gia gồm có: nước xuất khẩu, nước tái xuất khẩu và nước nhập khẩu. Sinh viên: Đinh Thị Dung 18Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Tạm nhập tái xuất có thể thực hiện theo hai hình thức sau: *Tái xuất theo đúng nghĩa của nó: Trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu tới nước tái xuất khẩu rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất tới nước nhập khẩu. Ngược chiều với sự vận động của hàng hoá là sự vận động của tiền tệ. nước tái xuất trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền về từ nước nhập khẩu. *Chuyển khẩu : Được hiểu là việc mua hàng hoá của một nước (nước xuất khẩu) để bán hàng hoá cho một nước khác (nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục nhập khẩu vào nước tái xuất. Nước tái xuất trả tiền cho nước cho nước xuất khẩu và thu tiền về từ nước nhập khẩu. Ưu điểm của hình thức này là tạo ra một thị trường rộng lớn, quay vòng vốn và đáp ứng nhu cầu bằng những hàng hoá mà trong nước không thể đáp ứng được, tạo ra thu nhập. Nhược điểm của hình thức này là các doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nước xuất khẩu về gía cả, thời gian giao hàng. Ngoài ra nó còn đòi hỏi người làm công tác xuất khẩu phải giỏi về nghiệp vụ kinh doanh tái xuất, phải nhậy bén với tình hình thị trường và giá cả thế giới, sự chính xác chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán. Sinh viên: Đinh Thị Dung 19Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 3.9. Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá Sở giao dịch hàng hoá là một thị trường đặc biệt, tại đó thông qua những người môi giới do sở giao dịch chỉ định, người ta mua bán hàng hoá với khối lượng lớn, có tính chất đồng loại và có phẩm chất có thể thay đổi được với nhau. Sở giao dịch hàng hoá thể hiện tập trung của quan hệ cung cầu về một mặt hàng giao dịch trong một khu vực ở một thời điểm nhất định. Do đó giá cả công bố tại sở giao dịch có thể xem như một tài liệu tham khảo trong việc xác định giá quốc tế II . Nội dung của hoạt động xuất khẩu 1. Nghiên cứu thị trường, sản phẩm xuất khẩu 1.1. Nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trường là một việc làm cần thiết đầu tiên đối với bất kỳ một công ty nào khi tham gia vào thị trường thế giới. Nghiên cứu thị trường tạo khả năng cho các nhà kinh doanh thấy được quy luật vận động của từng loại hàng hoá cụ thể thông qua sự biến đổi nhu cầu, nguồn vốn cung cấp và giá cả hàng hoá đó trên thị trường giúp họ giải quyết được vấn đề của thực tiễn kinh doanh . Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin số liệu về thị trường, so sánh, phân tích những Sinh viên: Đinh Thị Dung 20Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera thông tin số liệu đó để rút ra kết luận về xu hướng vận động của thị trường. Những kết luận này giúp cho nhà quản lý đưa ra được những nhận định đúng đắn để lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch marketing. Nội dung chính của nghiên cứu thị trường là xem xét thị trường và khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường. *Các bước của nghiên cứu thị trường  Nghiên cứu khái quát: Nghiên cứu khái quát thị trường cung cấp những thông tin về quy mô cơ cấu, sự vận động của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường như môi trường kinh doanh, môi trường chính trị- luật pháp…  Nghiên cứu chi tiết: Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết những thông tin về tập quán mua hàng, những thói quen và những ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng. *Các phương pháp nghiên cứu thị trường  Nghiên cứu tại địa bàn: là nghiên cứu bằng cách thu thập thông tin và các nguồn tài liêụ công khai và xử lý các thông tin đó.  Nghiên cứu tại hiện trường: là việc thu thập thông tin chủ yếu thông qua tiếp xúc trực tiếp, sau đó tiến hành phân tích các thông tin thu thập được . *Nội dung của nghiên cứu thị trường  Phân tích cung : đầu tiên cần nắm được tình hình cung , là toàn bộ khối lượng hàng hoá đã, đang và Sinh viên: Đinh Thị Dung 21Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera có khả năng bán ra trên thị trường. Cần xem xét giá cả trung bình, sự phân bố hàng hoá và tình hình sản phẩm của công ty đang ở giai đoạn nào .  Phân tích cầu : Từ thông tin về hàng hoá đang bán trên thị trường mà cần xác định xem những sản phẩm nào có thể thương mại hoá được. Cần xem xét : - Đối tượng tiêu dùng: giới tính, nghề nghịêp, giai cấp… - Lý do mua hàng. - Nhịp điệu mua hàng. - Khách hàng tương lai. 1.2. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu Đây là một trong những nội dung cơ bản nhưng rất quan trọng và cần thiết để có thể tiến hành được hoạt động xuất khẩu. Khi doanh nghiệp có ý định tham gia vào hoạt động xuất khẩu thì doanh nghiệp cần phải xác định các mặt hàng mà mình khẳng định kinh doanh. Để lựa chọn được đúng các mặt hàng mà thị trường cần đòi hỏi doanh nghiệp phải có một quá trình nghiên cứu tỉ mỉ, phân tích một cách có hệ thống về nhu cầu thị trường cũng như khả năng doanh nghiệp. Qua hoạt động này doanh nghiệp cần phải xác định, dự đoán được xu hướng biến động của thị trường cũng như khả năng doanh nghiệp. Qua hoạt động này doanh nghiệp cần phải Sinh viên: Đinh Thị Dung 22Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera xác định, dự đoán được xu hướng biến động của thị trường cũng như các cơ hội và thách thức doanh nghiệp gặp phải trên thị trường thế giới. Hoạt động này không những đòi hỏi một thời gian dài mà còn phải tốn nhiều chi phí, song bù lại doanh nghiệp có thể xâm nhập vào thị trường tiềm tàng có khả năng tăng doanh số lợi nhuận kinh doanh. 2. Lựa chọn đối tác giao dịch Sau khi lựa chọn được mặt hàng và thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp muốn xâm nhập vào từng giai đoạn thị trường đó thì doanh nghiệp phải lựa chọn được đối tác đang hoạt động trên thị trường có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh cho mình. Việc lựa chọn đúng đối tác để giao dịch tránh cho doanh nghiệp những phiền toái, những mất mát rủi ro gặp phải trong quá trình kinh doanh trên thị trường quốc tế, đồng thời có điều kiện để thực hiện thành công các kế hoạch kinh doanh của mình. Cách tốt nhất để lựa chọn đúng đối tác là lựa chọn đối tác có đặc điểm sau:  Là người xuất khẩu trực tiếp. Vì với mặt hàng kinh doanh đó, doanh nghiệp không phải chia sẻ lợi nhuận kinh doanh do đó thu được lơị nhuận lớn nhất. Tuy nhiên, trong trương hợp sản phẩm và thị trường hoàn toàn mới thì lại rất cần thông qua các đại lý hoặc các công ty uỷ thác xuất khẩu để Sinh viên: Đinh Thị Dung 23Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera giảm chi phí chi việc thâm nhập thị trường nước ngoài.  Quen biết, có uy tín kinh doanh .  Có thực lực tài chính .  Có thiện trí trong quan hệ làm ăn với doanh nghiệp không có biểu hiện hành vi lừa đảo . Trong quá trình lựa chọn đối tác giao dịch, công ty có thể thông qua các bạn hàng đã có quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp trước đó, thông qua các tin tức thu nhập và điều tra được, các phòng thương mại và công nghiệp, các ngân hàng, các tổ chức tài chính để họ giúp đỡ . 3. Lập phương án kinh doanh xuất khẩu Trên cơ sở kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường, các đơn vị xuất khẩu phải lập phương án kinh doanh cho mình bao gồm:  Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân, phác hoạ bức tranh tổng quát về hoạt động kinh doanh, những thuận lợi và khó khăn.  Lựa chọn mặt hàng thời cơ điều kiện và phương thức kinh doanh, sự lựa chọn này phải mang tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có liên quan.  Đề ra mục tiêu cụ thể như sẽ bán được bao nhiêu hàng, giá bán lẻ bao nhiêu, thâm nhập vào thị trường nào. Sinh viên: Đinh Thị Dung 24Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Đề ra biện pháp và công cụ thực hiện nhằm đạt được mục tiêu.  Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu cơ bản: - Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ . - Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi xuất khẩu . - Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn cho xuất khẩu . - Điểm hoà vốn trong xuất khẩu hàng hoá . 4. Lựa chọn phương thức giao dịch Phương thức giao dịch là các doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường thế giới. Những phương thức này quy định những thủ tục cần tiến hành, các điều kiện giao dịch, các thao tác và chứng từ cần thiết trong quan hệ kinh doanh. Có rất nhiều phương thức giao dịch khác nhau như giao dịch thông thường, giao dịch qua khâu trung gian, giao dịch tại hội trợ, triển lãm, giao dịch hàng hoá, gia công quốc tế. Tuy nhiên, phổ biến và được sử dụng nhiều nhất là giao dịch thông thường. *Giao dịch thông thường Sinh viên: Đinh Thị Dung 25Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Đây là sự giao dịch mà người mua và người bán thảo luận trực tiếp với nhau thông qua thư từ, điện tín… để bàn về các điều khoản sẽ ghi trong hợp đồng. Các bước tiến hành giao dịch thông thường bao gồm: Hỏi giá - báo giá- chào hàng- chấp nhận, xác nhận. *Giao dịch qua trung gian Là việc người mua và người bán quy định những điều kiện trong giao dịch mua bán hàng hoá nhờ tới sự giúp đỡ của người thứ 3 để đàm phán và đi đến ký kết hợp đồng. *Buôn bán đối lưu Là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hoá trao đổi có giá trị tương đương. *Đấu giá quốc tế Đây là phường thức bán hàng đặc biệt được tổ chức công khai ở một nơi nhất định, tại đó sau khi xem xét hết hàng hoá, những người mua hàng để người bán đưa ra giá mình muốn bán Ngoài ra, còn một số loại giao dịch khác như: - Giao dịch ở sở giao dịch hàng hoá . - Giao dịch tại hội trợ triển lãm. - Gia công - Đấu thầu quốc tế Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể mà doanh nghiệp lựa chọn từng phương thức giao dịch mua bán thích hợp. Sinh viên: Đinh Thị Dung 26Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Nói chung, với các loại hàng hoá khác nhau thì phụ thuộc vào đặc điểm của thị trường và khả nằng của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương thức giao dịch khác nhau. Chẳng hạn khách hàng mua hàng với số lượng lớn, mua thường xuyên thì phương thức giao dịch thông thường được áp dụng. Với những hàng hoá có tính chất chuyên ngành thì tham gia hội trợ và triển lãm lại có tác dụng tích cực . 5. Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu là một trong những khâu quan trọng trong hoạt động xuất khẩu. Nó quyết định đến khả năng, điều kiện thực hiện những công đoạn mà doanh nghiệp thực hiện trước đó. Đồng thời nó quyết định đến tính khả thi hay không khả thi của kế hoạch kinh doanh của doanh nghịêp. Việc đàm phán phải căn cứ vào nhu cầu trên thị trường vào đối thủ cạnh tranh, khả năng, điều kiện và mục tiêu của doanh nghiệp cũng như môí quan hệ của doanh nghiệp và đối tác. Nếu đàm phán diễn ra tốt đẹp, thì kết quả của nó là hợp đồng được ký kết. Một cam kết hợp đồng sẽ là những pháp lý quan trọng, vững chắc và đáng tin cậy để các bên thực hiện lời cam kết của mình. Đàm phán có thể thực hiện thông qua thư từ , điện tín và đàm phán trực tiếp. Sinh viên: Đinh Thị Dung 27Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Tiếp sau công việc đàm phán, các bên tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá. Hợp đồng mua bán hàng hoá là một văn bản có tính chất pháp lý được hình thành trên cơ sở thảo luận một cách bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể nhằm xác lập thực hiện và chấm dứt các mối quan hệ trao đổi hàng hoá . Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng mua bán đặc biệt trong đó quy định người bán có nghĩa vụ chuyển quyền (cho người ) sở hữu hàng hoá cho người mua, còn người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán theo giá thoả thuận bằng phương thức quốc tế. Khác với hợp đồng mua bán nội địa, hợp đồng xuất khẩu thông thường hình thành giữa các doanh nghiệp có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, hàng hoá thường được dịch chuyển qua biên giới quốc gia và đồng tiền thanh toán là một ngoại tệ đối với một trong hai quốc gia hoặc cả hai. 6. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu Sau khi ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hoá với khách hàng. Doanh nghiệp cần xác định rõ trách nhiệm, nội dung và trình tự công việc phải làm. Thông thường trình tự thực hiện hợp đồng gồm các bước: Sinh viên: Đinh Thị Dung 28Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Hình 1: Sơ đồ tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu Ký hợp Kiểm tra Xin giấy Chuẩn bị đồng L/C phép XK hàng hoá xuất XK Kiểm tra Thuê Mua bảo Làm thủ hàng hoá phương hiểm hàng tục XK tiện vận hoá hải quan Giao hàng Thanh toán Giải quyết lên tàu khiếu nại Đây là sơ đồ chung để tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu, thực tế thì có một số bước buộc phải theo đúng thứ tự nhưng một số bước thì không cần theo đúng thứ tự trên. 6.1. Kiểm tra thư tín dụng Trong hoạt động mua bán quốc tế ngày nay, việc sử dụng thư tín dụng ngày càng trở nên phổ biến hơn cả nhờ những lợi ích mà nó mang lại. Sau khi nhà nhập khẩu mở thư tín dụng(L/C), nhà xuất khẩu phải kiểm tra lại cẩn thận, tỷ mỉ và chi tiết trong L/C có phù hợp với các điều kiện trong hợp đồng không. Nếu không phù hợp hoặc sai sót thì thông báo cho nhà nhập khẩu để sửa chữa kịp thời. Bởi vì khi người mua (nhà nhập khẩu) đã mở L/C thì nó đã trở thành một trái vụ và Sinh viên: Đinh Thị Dung 29Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera các bên sẽ thực hiện theo các điều kiện ghi trong L/C. 6.2. Xin giấy phép xuất khẩu Muốn thực hiện hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp phải có giấy phép xuất khẩu hàng hoá. Giấy phép xuất khẩu hàng hoá là một công cụ quản lý của Nhà nước về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Trước đây khi muốn xuất khẩu một lô hàng, các doanh nghiệp phải có giấy phép kinh doanh XNK và xin giấy phép xuất khẩu từng chuyến để giảm gánh nặng về thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu. Thủ Tướng Chính phủ ban hành nghị định 57/NĐ-CP, theo đó tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được quyền xuất nhập khẩu ra bên ngoài phù hợp với nội dung đăng ký kinh doanh, không cần xin giấy phép kinh doanh XNK tại bộ thương mại 6.3. Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu Đối với các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu trực tiếp, việc chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu là tương đối đơn giản. Sau khi tiến hành sản xuất ra sản phẩm, doanh nghiệp chỉ còn lựa chọn, đóng gói, kẻ ký mã hiệu và vận chuyển đến nơi quy định. Sinh viên: Đinh Thị Dung 30Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 6.4. Kiểm tra hàng hoá Trước khi xuất khẩu, các nhà xuất khẩu có nghĩa vụ kiểm tra số lượng, chất lượng, phẩm chất, trọng lượng của hàng hoá đó. Nếu hàng hoá đó là động thực vật thì phải qua kiểm tra vệ sinh, an toàn thực phẩm và khả năng gây bệnh. 6.5. Thuê phương tiện vận chuyển Việc lựa chọn phương tiện vận chuyển, phương thức vận chuyển ra sao là căn cứ vào 3 yếu tố sau:  Điều khoản của hợp đồng xuất khẩu .  Đặc điểm của hàng hoá .  Điều kiện vận tải. 6.6. Mua bảo hiểm hàng hoá Hàng hoá trong mua bán quốc tế thông thường phải vận chuyển bằng đường biển vì vận chuyển đường biển rủi ro khá cao do đó rất cần thiết bảo hiểm hàng hoá. Việc mua bảo hiểm hàng hoá được thông qua hợp đồng bảo hiểm. Có 2 loại hợp đồng bảo hiểm là bảo hiểm hợp đồng bao và bảo hiểm hợp đồng cả chuyến. Sinh viên: Đinh Thị Dung 31Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 6.7. Làm thủ tục hải quan Hàng hoá khi vượt qua biên giới quốc gia để xuất khẩu đều phải làm thủ tục Hải quan. Việc làm thủ tục hải quan gồm 3 bước:  Khai báo hải quan . Doanh nghiệp khai báo tất cả các đặc điểm của hàng hoá xuất khẩu : số lượng, chất lượng, giá trị, tên, phương tịên vận chuyển, nước nhập khẩu. Các chứng từ kèm theo : như giấy phép xuất khẩu, bảng chi tiết..  Xuất trình hàng hoá để kiểm tra và tính thuế.  Thực hiện các quyết định của hải quan. 6.8. Giao hàng lên tàu Trong khâu này doanh nghiệp phải đăng ký với người vận tải và nhận hồ sơ xếp hàng, sau đó gặp gỡ các cơ quan điều động của cảng để nhận lịch xếp hàng, bố trí các phương tiện vận tải đưa hàng hoá vào cảng, xếp hàng lên tàu và sau đó lấy vận đơn. 6.9. Thanh toán Thanh toán là bước cuối cùng thực hiện một hợp đồng xuất khẩu nếu như không có sự tranh chấp và khiếu nại. Đó là thước đo, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong xuất khẩu hàng hoá, bên nhập khẩu có thể thanh toán cho bên bán bằng nhiều phương thức khác nhau. Ví dụ Sinh viên: Đinh Thị Dung 32Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera như phương thức chuyển tiền; phương thức nhờ thu; phương thức tín dụng chứng từ. 6. 10. Giải quyết khiếu nại ( nếu có ) Trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu có thể xảy ra những vấn đề phức tạp làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện hợp đồng trong những trường hợp đó, hai bên cần thiện trí trao đổi, thảo luận để giải quyết. Nếu giải quyết không thành thì tiến hành các thủ tục kiện đối tác lên trọng tài. Việc khiếu nại phải tiến hành một cách kịp thời tỷ mỉ dựa trên những căn cứ của chứng từ kèm theo. 7. Đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu Việc đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp là quan trọng và rất cần thiết. Nó cho phép doanh nghiệp xác định hiệu quả của mỗi hợp đồng xuất khẩu cũng như mỗi giai đoạn hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Nhờ các đánh giá đó doanh nghiệp sẽ có những biện pháp ứng xử phù hợp đối với việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu tiếp theo cũng như thời gian hoạt động xuất khẩu tiếp theo. Để đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp có thể sử dụng hai loại chỉ tiêu sau: Sinh viên: Đinh Thị Dung 33Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 7.1. Các chỉ tiêu định tính *Khả năng xâm nhập, mở rộng và phát triển thị trường : kết quả này có được sau một thời gian nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu của mình, kết quả này biểu hiện ở thị trường xuất khẩu có của doanh nghiệp, khả năng mở rộng sang các thị trường khác, mối quan hệ với khách hàng nước ngoài , khả năng khai thác, nguồn hàng cho xuất khẩu… Các kết quả này chính là những thuận lợi quá trình mà doanh nghiệp có thể khai thác để phục vụ cho quá trình xuất khẩu tới độ thu được lợi nhuận cao, khả năng về thị trường lớn hơn. *Kết quả về mặt xã hội : những lợi ích mà doanh nghiệp có thể mang lại khi thực hiện các hoạt động xuất khẩu nào đó thì cũng phải đem lại lợi ích cho đất nước. Do vậy, doanh nghiệp phải quan tâm đến lợi ích xã hội khi thực hiện các hợp đồng xuất khẩu, kinh doanh những mặt hàng Nhà nước khuyến khích xuất khẩu và không xuất khẩu những mặt hàng mà Nhà nước cấm. 7.2. Các chỉ tiêu định lượng *Lợi nhuận xuất khẩu Đây là chỉ tiêu có tính chất tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động xuất khẩu. Lợi nhuận thực tế càng lớn thì hoạt động của công ty càng cao. Sinh viên: Đinh Thị Dung 34Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera P = TR - TC P : Lợi nhuận thu được từ hoạt động xuất khẩu TR : Tổng doanh thu thu được từ hoạt động xuất khẩu TC: Tổng chi phí bỏ ra cho hoạt động xuất khẩu Từ công thức trên ta thấy để tăng lợi nhuận xuất khẩu thì có phương pháp: tăng doanh thu hoặc giảm chi phí xuất khẩu . *Tỷ suất ngoại tệ (hiệu quả kinh tế của xuất khẩu) Tỷ xuất ngoại tệ = TR/TC nếu tỷ xuất ngoại tệ > 1 có hiệu quả và < 1 thì chưa có hiệu quả *Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu Là chỉ tiêu hiệu quả tương đối. Nó có thể tính theo 2 cách  Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu P p = x 100% TR  Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí P p = x100% TC p: Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu P: Lợi nhuận xuất khẩu TR: Tổng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu TC: Tổng chi phí từ hoạt động xuất khẩu Sinh viên: Đinh Thị Dung 35Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Nếu p > 0 thì doanh nghiệp đạt hiệu quả trong xuất khẩu hàng hoá còn nếu p < 0 doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả trong III. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 1. Các nhân tố quốc tế Đây là các nhân tố nằm ngoài phạm vi điều khiển của quốc gia. Có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động xuất khâư của doanh nghiệp. Có thể kể đến các nhân tố: * Môi trường kinh tế Tình hình phát triển kinh tế của thị trưòng xuất khẩu có ảnh hưởng tới nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng , do đó có ảnh hưởng đến hoạt đông xuất khẩu của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thu nhập của dân cư, tình hình lạm phát , tình hình lãi xuất. *Môi trường luật pháp Tình hình chính trị hợp tác quốc tế được biểu hiện ở xu thế hợp tác giữa các quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến sự hình thành các khối kinh tế, chính trị của một nhóm các quốc gia do đó sẽ ảnh hưởng đến tình hình thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp. *Môi trường văn hoá xã hội Đặc điểm và sự thay đổi của văn hoá - xã hội của thị trường xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu của Sinh viên: Đinh Thị Dung 36Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera khách hàng, do đó ảnh hưởng đến các quyết định mua hàng của khách hàng và ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghệp. *Môi trường cạnh tranh Mức độ cạnh tranh quốc tế biểu hiện ở sức ép từ phía các doanh nghiệp, các công ty quốc tế đối với doanh nghiệp, khi cùng tham gia vào một thị trường xuất khẩu nhất định. Sức ép ngày càng lớn thì ngày càng khó khăn cho doanh nghiệp muốn thâm nhập, duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu cho mình. 2. Các nhân tố quốc gia Đây là các nhân tố ảnh hưởng bên trong đất nước nhưng ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp. Các nhân tố đó bao gồm: *Nguồn lực trong nước Một nước có nguồn lực dồi dào là điều kện thuận lợi để doanh nghiệp trong nước có điều kiện phát triển xúc tiến các mặt hàng có sử dụng sức lao động. Về mặt ngắn hạn, nguồn lực đuợc xem là không biến đổi vì vậy chúng ít tác động đến sự biến động của xuất khẩu. Nước ta nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động như hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc giầy dép... *Nhân tố công nghệ Ngày nay khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội, và mang lại nhiều lợi Sinh viên: Đinh Thị Dung 37Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera ích , trong xuất khẩu cũng mang lại nhiều kết quả cao. Nhờ sự phát triển của bưu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại thương có thể đàm phán với các bạn hàng qua điện thoại , fax.. giảm bớt chi phí, rút ngắn thời gian. Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt các thông tin chính xác,kịp thời .Yếu tố công nghệ cũng tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng hoá xuất khẩu. Khoa học công nghệ còn tác động tới lĩnh vực vận tải hàng hoá xuất khẩu, kỹ thuật nghiệp vụ trong ngân hàng... *Cơ sở hạ tầng Đây là yếu tố không thể thiếu nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Cơ sở hạ tầng gồm : đường xá, bến bãi hệ thống vận tải , hệ thống thông tin,hệ thống ngân hàng... có ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu nó thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động xuất khẩu. *Hệ thống chính trị pháp luật của nhà nước Nhân tố này không chỉ tác động đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp ở hiện tại mà cón ảnh hưởng trong tương lai. Vì vậy doanh nghiệp phải tuân theo và hưởng ứng nó ở hiện tại, mặt khác doanh nghệp phải có kế hoạch trong tương lai cho phù hợp. Các doanh ngiệp ngoại thương khi tham gia hoạt động xuất khẩu cần nhận biết và tuân theo các quy định của pháp luật về hoạt động xuất khẩu nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung. Do vậy doanh nghiệp cần lợi dụng các chính sách của nhà nước về Sinh viên: Đinh Thị Dung 38Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera hoạt động xuất khẩu cũng như không tham gia vào các hoạt động xuất khẩu mà nhà nước không cho phép. *Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh giữa giá đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Tỷ gía hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu. Do vậy doanh nghiệp cần quan tâm đến yếu tố tỷ giá vì nó liên quan đến việc thu đổi ngoại tệ sang nội tệ, từ đó ảnh hướng đến hiệu quả xuất của doanh nghiệp.Để biết được tỷ giá hối đoái, doanh nghiệp phải hiểu được cơ chế điều hành tỷ giá hiện hành của nhà nước , theo dõi biến động của nó từng ngày. Doanh nghiệp phải lưu ý tỷ giá hối đoái được điều chỉnh là tỷ giá tỷ giá chính thức được điều chỉnh theo quá trình lạm phát. *Mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước Cạnh tranh một mặt có tác động thúc đẩy sự vươn lên của các doanh nghiệp, mặt khác nó cũng dìm chết các doanh nghiệp yếu kém. Mức độ cạnh tranh ở đây biểu hiện ở số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cùng ngành hoặc các mặt hàng khác có thể thay thế được. Hiện nay, nhà nước Việt Nam có chủ trương khuyến khích mọi doanh nghiệp mới tham gia xuất khẩu đã dẫn đến sự bùng nổ số lượng các doanh nghiệp tham Sinh viên: Đinh Thị Dung 39Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera gia xuất khẩu do đó đôi khi có sự cạnh tranh không lành mạnh. 3. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp Là các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể tác động làm thay đổi nó để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của mình. Bao gồm các nhân tố sau: *Bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính của doanh nghiệp Là sự tác đông trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống các cán bộ, công nhân viên đến hoạt động tổ chức sản xuất và xuất khẩu hàng hoá. Việc thiết lập cơ cấu tổ chức của bộ máy điều hành cũng như cách thức điều hành của các cấp lãnh đạo là nhân tố quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Một doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức hợp lý cách điều hành hoạt động kinh doanh sẽ quyết định tới hiệu quả kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. *Yếu tố lao động Con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh đến yếu tố con người bởi vì nó là chủ thể sáng tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động. Trình độ và năng lực trong hoạt động xuất khẩu của các bên kinh doanh sẽ quyết định tới tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. *Khả năng tài chính của doanh nghiệp Sinh viên: Đinh Thị Dung 40Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Một trong những yếu tố quan trọng tác động tới hoạt động xuất của doanh nghiệp là vốn . Bên cạnh yếu tố về con người, tổ chức quản lý thì doanh nghiệp phải có vốn để thực hiên các mục tiêu về xuất khẩu mà doanh nghiệp đã đề ra. Năng lực tài chính có thể làm hạn chế hoặc mở rộng các khả năng của doanh nghiệp vì vốn là tiền đề cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu theo chiều hướng khác nhau, tốc độ và thời gian khác nhau...tạo nên một môi trường xuất khẩu phức tạp đối với doanh nghiệp, các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt, những thay đổi này để có những phản ứng kịp thời, tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra khi tiến hành hoạt động xuất khẩu IV. Đặc điểm của mặt hàng thuỷ tinh và gốm xây dựng, tình hình thị trường thuỷ tinh và gốm xây dựng trong thời gian qua 1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật cuả ngành thuỷ tinh và gốm xây dựng 1.1. Khái niệm về mặt hàng thuỷ tinh và gốm xây dựng Theo quan điểm hiện nay, tất cả các sản phẩm thuỷ tinh và gốm sứ nào được sản xuất phục vụ mục đích xây dựng đều thuộc phạm vi hàng thuỷ tinh gốm xây dựng. Do vậy, sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng bao gồm rất nhiều chủng loại khác nhau. Sinh viên: Đinh Thị Dung 41Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Từ mục đích sử dụng của nó là cơ sở để phân biệt sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng với các sản phẩm thuỷ tinh và gốm sứ khác như gốm dân dụng, gốm sứ mỹ nghệ... 1.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành Ngành sản xuất thuỷ tinh và gốm xây dựng là một ngành thuộc nhóm ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng . Các sản phẩm mà ngành sản xuất ra phục vụ cho ngành công nghiệp nói chung và nhu cầu của đại bộ phận dân chúng nói riêng. Hiện nay các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng được phân loại như sau: * Sản phẩm thuỷ tinh xây dựng Bao gồm các sản phẩm như: Các loại kính xây dựng( kính trắng, kính mờ, kính an toàn, kính phản quang...), thuỷ tinh lỏng, sợi thuỷ tinh...Các sản phẩm thuỷ tinh này chủ yếu nhằm phục vụ cho hoạt động xây dựng do đó qui trình sản xuất, tính sử dụng của chúng hoàn toàn khác các sản phẩm thuỷ tinh khác như thuỷ tinh mỹ nghệ thuỷ tinh y tế * Sản phẩm gốm xây dựng Bao gồm nhiều loại khác nhau. Ta có thể phân loại như sau:  Nhóm các sản phẩm gốm cao cấp: Bao gồm các sản phẩm như: sứ vệ sinh gạch ngói trang trí, các loại Sinh viên: Đinh Thị Dung 42Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera gạch ốp lát, các loại gạch tráng men cao cấp khác.  Nhóm các sản phẩm gốm thô: Bao gồm các loại gạch ngói xây dựng thông dụng như: gạch xây, gạch chống nóng, gạch mem rỗng, gạch chẻ, ngói lợp...  Nhóm các sản phẩm chuyên dụng: Bao gồm gạch chịu lửa chammot, gạch cách nhiệt, gạch chịu lửa kiềm tính, bi nghiền và các loại bột vữa xây dựng tương ứng. Cũng như các loại vật liệu xây dựng khác, các sản phẩm thuỷ tinh và gốm sứ xây dựng có một đặc điểm chung là trọng lượng nặng, thể tích lớn, khó đóng gói bảo quản và vận chuyển trong khi giá trị sản phẩm lại không cao. Chính do đặc điểm đó mà việc sản xuất kinh doanh các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng gặp nhiều khó khăn vì chi phí vận chuyển thường chiếm một tỷ lệ khá cao trong giá thánh các sản phẩm. Mặt khác , để có được các sản phẩm tốt đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì việc sản xuất các loại vật liệu xây dựng này không những đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật hiện đại mà còn có nhiều nguyên liệu như cát trắng cho sản xuất thuỷ tinh, đất sét, kaolin, cho sản xuất gốm sứ và nhiều nguyên vật liệu khác. Do có nhiều đặc điểm riêng nên ngành sản xuất thuỷ tinh và gốm xây dựng phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu. Vì vậy, hiện nay công tác phát triển lĩnh vực khai thác và chế biến nguyên liệu phục vụ Sinh viên: Đinh Thị Dung 43Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera cho ngành rất được coi trọng. Thông thường, để giảm giá thành các sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển các thành phẩm, tránh các rủi ro, vỡ hỏng trong khi vận chuyển nên các nhà máy sản xuất các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng thường được bố trí một cách hợp lý gần nơi tiêu thụ. Đây cũng là cách phân bổ thường thấy trong các ngành sản xuất các sản phẩm có đặc trưng tương tự. 2. Thị trường thuỷ tinh và gốm xây dựng thời gian qua 2.1. Thị trường thuỷ tinh và gốm xây dựng Việt Nam Theo số liệu báo cáo mới nhất của Vụ kế hoạch và thống kê Bộ xây dựng, vào thời điểm đầu năm 2002 ở Việt Nam có 20 nhà máy sản xuất gạch ốp lát, 8 nhà máy sản xuất sứ vệ sinh cao cấp và hàng trăm nhà máy và các cơ sở sản xuất gạch ngói thông dụng khác. Về lĩnh vực thuỷ tinh thì có 8 nhà máy trong đó có 2 nhà máy phục vụ ngành xây dựng là nhà máy kính Đáp Cầu và liên doanh kính nổi Việt Nam. *Thị trường thuỷ tinh xây dựng Trong giai đoạn này khi việc xây dựng nhà máy kính nổi đã được hoàn thành và đi vào sản xuất đồng thời công tác đại tu sửa chữa nhà máy kính Đáp Cầu cũng đã tiến hành xong nên sản lượng kính do trong nước đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của thị trường. Giai đoạn 2000-2002, sản lượng sản xuất trong nước tăng và giữ ở mức ổn định đáp ứng 90% nhu cầu sử dụng trong Sinh viên: Đinh Thị Dung 44Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera nước. Tuy nhiên lượng kính nhập khẩu và nhập lậu qua đường tiểu ngạch vẫn ở mức cao và chủ yếu là các mặt hàng kính xây dựng Trung Quốc. Các mặt hàng này chiếm ưu thế bởi giá rẻ. Kính xây dựng Trung Quốc hiện đang chiếm từ 65%-70% thị phần với mức giá từ 45000 - 52000 đồng/m2 (bao gồm cả thuế nhập khẩu) chỉ bằng 60% so với giá kính sản xuất trong nước. Năm 2002 năng lực sản xuất kính trong nước đạt 34 triệu m2 nhập khẩu 4 triệu m2 trong khi nhu cầu là 40-45 triệu m2 nhưng do lượng kính nhập lậu quá lớn dẫn đến kính nội Việt Nam bị ép đến vỡ thị trường.Tính từ năm 1999 đến tháng 8/2002 Công ty liên doanh kính nổi đạt mức tồn 2 kho kỷ lục 8 triệu m , giá trị trên 170 tỷ đồng, 2 . Công ty kính Đáp Cầu tồn kho 0,8 triệu m . Tồn kho đồng nghĩa với việc mất thị trường. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2002 Việt Nam đã đánh mất 23% thị phần ở khu vực Miền Bắc *Thị trường gốm xây dựng Trong giai đoạn hiện nay, sản lượng gốm xây dựng sản xuất trong nước về cơ bản đáp ứng được 90% nhu cầu trong cả nước. Theo báo cáo của bộ Xây Dựng năm 2000 trong cả nước( kể cả liên doanh) đã sản xuất được 22,588 triệu m2 gạch ốp lát, 2 triệu bộ sản phẩm sứ vệ sinh, tăng 60,2% so với năm 1999. Trong năm 2001 sản lượng gạch ốp lát cả nước đạt 30 triệu m2, tăng 32,75% so với năm 2000. Trong khi nhu cầu xây dựng cơ bản là tăng ít nhưng tình hình cung ứng lại Sinh viên: Đinh Thị Dung 45Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera tăng lên gấp đôi. Do đó, mặt hàng gốm xây dựng không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất hiện tình trạng cung vượt quá cầu. Bên cạnh đó các sản phẩm gốm xây dựng của Trung Quốc lại tràn vào thị trường Việt Nam. Các sản phẩm này tuy chất lượng kém hơn chút ít nhưng mẫu mã lại phong phú, kiểu dáng hoa văn đẹp, giá cả hấp dẫn, giá gạch ốp lát của Trung Quốc chỉ 45000- 54.000đ/m2 bằng 60% giá gạch nội địa. Nhìn chung, việc cung ứng các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng tại Việt Nam đã quá đủ để đáp ứng nhu cầu. Có thể nói thị này trường này đang ở giai đoạn ”khủng hoảng thừa”. Điều này chứng tỏ việc cần thiết phải tìm cho các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng một lối đi mở là hoàn toàn hợp lý. 2.2. Thị trường thuỷ tinh và gốm xây dựng thế giới Nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng rất phát triển. Các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng đã được đầu tư xây dựng với thiết bị tiên tiến, dây truyền sản xuất hiện đại. Chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, đa dạng phong phú về chủng loại có thể đáp ứng đủ các nhu cầu về vật liệu xây dựng trên thế giới. Điều này thể hiện thông qua bảng số liệu sau: Bảng 1: Tình hình sản xuất thuỷ tinh và gốm xây dựng trên thế giới năm 2002 Tên nước Gạch ceramic Sứ vệ sinh Kính xâydựng Sinh viên: Đinh Thị Dung 46Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera (triệu sản (triệu m2) (dây truyền) phẩm) Toàn thế 2800 400 250 giới Trung Quốc 1800 109 126 Thái Lan 120 20 10 Malaysia 90 16 6 Hàn Quốc 92 19 6 Đài Loan 108 10 8 Ân Độ 124 17 12 Nhật Bản 146 11 5 Inđonesia 126 30 18 Nguồn: Nghiên cứu thị trường của Viglacera Qua bảng số liệu trên ta thấy các nước có năng sản xuất các loại vật liệu xây dựng chủ yếu ở Châu á. Đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ.. Đây cũng là các đối thủ cạnh tranh đáng gườm của Viglacera không chỉ tịa thị trường nội địa mà còn cả trên các thị trường xuất khẩu của Việt Nam Trung Quốc là một quốc gia có sản lượng sản xuất các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng lớn nhất thế giới. Các sản phẩm gốm xây dựng của Trung Quốc tuy chất lượng chưa cao nhưng mẫu mã lại phong phú, màu sắc đa dạng, giá thành rẻ. Trong đó các loại gạch ngói trang trí của Trung Quốc rất phong phú về kiểu dáng (từ bề mặt phẳng cho đến mặt trang trí nổi), phong phú về màu sắc cũng như có rất nhiều chủ đề in hình ảnh trên gạch từ phong cảnh, cây kiểng, tượng đại, nhà cửa, các biểu tượng của tôn giáo cho đến hình ảnh sống động kể cả những chủ đề cho thiếu nhi. Gạch ngói Sinh viên: Đinh Thị Dung 47Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Trung Quốc còn hiện diện trên thị trường thế giới bằng vật liệu sứ, gọi là gạch sứ mà một số quốc gia vẫn chưa sản xuất được trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều dây chuyền kính nổi để sản xuất kính xây dựng vì thế Trung Quốc đạt được lợi thế cạnh tranh về giá rẻ so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Đối với một số quốc gia trong khu vực ASEAN như Malaisia, Thái Lan, Indonexia là những nước có sản lượng sản xuất lớn hơn rất nhiều so với Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gốm xây dựng của Việt Nam bằng 16% so với Malaisia, 7,4% so với Thái Lan, càng nhỏ hơn so với Indonexia. Thêm vào đó các nước này có khá nhiều lợi thế cạnh tranh so với Việt Nam như quan hệ bạn hàng rộng, kinh nghiệm nhiều, sản phẩm có chất lượng tốt, nhiều mẫu mã đẹp, giá rẻ hơn so với Việt Nam. Nếu chỉ xét gạch sản phẩm ốp lát của Việt Nam giá cao hơn khoảng 20% - 25% so với Thái Lan và khoảng 25%-27% so với sản phẩm cùng loại của Indonexia. Giá xuất khẩu sứ vệ sinh của Việt Nam hiện nay bình quân là 35-37 USD /bộ, trong khi đó xuất khẩu sản phẩm cùng loại của Thái Lan bình quân chỉ là 25-28 USD/bộ, của Indonexia là 30-32 USD/bộ, của Trung Quốc là 22 - 26 USD/bộ. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh với các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng của Việt Nam tại thị trường nước ngoài. Sinh viên: Đinh Thị Dung 48Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Tuy nhiên các sản phẩm của Việt Nam có phần kém lợi thế cạnh tranh về mẫu mã, giá cả, chất lượng…. so với các nước này. Nhưng Việt Nam lại có lợi thế cạnh tranh so với nhiều quốc gia khác trên thế giới do Việt Nam có nguồn nhân công rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú vì thế giá thành các sản phẩm vật liệu xây dựng của Việt Nam rẻ hơn so với một số nước như Mỹ, Đông Âu, Đài Loan, Hàn Quốc… Đồng thời chất lượng hàng VLXD của Việt Nam cũng đã đạt tiêu chuẩn của Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản về một số lĩnh vực nhất định như sản phẩm sứ vệ sinh của Công ty Sứ Thanh Trì Hà Nội, sản phẩm gạch Granit của Công ty gạch Thạch Bàn… Sinh viên: Đinh Thị Dung 49Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Chương II Thực trạng kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty Viglacera thời gian qua I. Tổng quan về Tổng công ty Viglacera 1. Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Sau cuộc chiến tranh chống Mỹ thắng lợi, trước yêu cầu cấp thiết về vật liệu xây dựng để phục hồi, xây dựng lại đất nước. Ngày 25/7/1974 theo Quyết định 366/BXD của Bộ trưởng Bộ xây dựng, Công ty gạch ngói sành sứ xây dựng chính thức được thành lập. Ban đầu chỉ có 18 xí nghiệp miền Bắc, phần lớn chuyên sản xuất gạch ngói. Năm 1979, được đổi tên là liên hiệp các xí nghiệp thuỷ tinh và gốm xây dựng. Theo Quyết định số 991/BXD- TCLĐ ngày 20/11/1995, Bộ trưởng Bộ xây dựng quyết định thành lập Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng trên cơ sở sắp xếp và cơ cấu lại các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trực thuộc Bộ xây dựng. Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng với tên giao dịch quốc tế là Viglacera (Việt Nam glass and ceramic for contruction corporation) là một doanh nghiệp Nhà nước được đặt tại địa điểm số 628- đường Hoàng Hoa Thám- Tây Hồ- Hà Nội. Tổng công ty chịu sự quản lý của Nhà nước, của Bộ xây dựng và các cơ quan quản lý Nhà nước khác theo qui định của pháp luật. Tổng công ty bao gồm 40 nhà máy, xí nghiệp thành viên Sinh viên: Đinh Thị Dung 50Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera với trên 15.000 cán bộ công nhân viên. Đến nay, do có sự sáp nhập của nhiều Nhà máy nên Tổng công ty còn 26 đơn vị thành viên trong đó có 20 đơn vị hạch toán độc lập, 6 đơn vị hạch toán phụ thuộc. Bên cạnh đó còn có 5 Công ty có vốn góp của Viglacera, các chi nhánh trong và ngoài nước và một đơn vị sự nghiệp chuyên đào tạo công nhân và bồi duỡng cán bộ vật liệu xây dựng. Từ khi mới thành lập cho đến năm 1990, Viglacera chủ yếu sản xuất gạch xây, ngói lợp và gạch lát nền xi măng. Hầu hết các nhà máy có công nghệ và thiết bị lạc hậu, chất lượng sản phẩm không cao, tiêu hao nhiều nguyên liệu. Nhưng từ năm 1990 đến nay Viglacera không ngừng phát triển, đi đầu đột phá trong việc đầu tư chiều sâu vào sản xuất ở Việt Nam. Đây là doanh nghiệp có uy tín với đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu về thiết kết thi công các công trình sản xuất thuỷ tinh và gốm xây dựng với công nghệ hiện đại. Hiện nay Viglacera đã thiết lập được mối quan hệ về kinh tế, kỹ thuật với nhiều đối tác trên 22 quốc gia trên thế giới. Trải qua gần 30 năm hoạt động, với bề dày kinh nghiệm Tổng công ty đã và đang đi vào ổn định, củng cố và ngày càng phát triển lớn mạnh xứng đáng là một trong những Tổng công ty hàng đầu sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu lớn nhất ở Việt Nam. Sinh viên: Đinh Thị Dung 51Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Tổng công ty 2.1. Chức năng, nhiệm vụ Trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng và một số Công ty thuộc Bộ xây dựng, trong điều 2 Quyết định số 991/ BXD- TCLĐ có nêu rõ chức năng và nhiệm vụ chính như sau:  Thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng theo qui hoạch, kế hoạch phát triển ngành xây dựng của Nhà nước và theo yêu cầu của thị trường bao gồm các lĩnh vực sản xuất kinh doanh các chủng loại vật liệu phục vụ xây dựng. - Thi công các công trình dân dụng, công nghiệp, công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp. Kinh doanh phát triển nhà, tư vấn đầu tư và xây dựng. - Xuất nhập khẩu vật tư, phụ tùng, thiết bị, vật liệu xây dựng và công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành kinh doanh khác theo qui định của pháp luật. - Liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác trong và ngoài nước phù hợp với luật pháp và các chính sách của Nhà nước.  Nhận và sử dụng vốn có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn do Nhà nước giao. Sinh viên: Đinh Thị Dung 52Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty. Ngoài ra Tổng công ty còn được Bộ xây dựng và Bộ thương mại giao thêm một số nhiệm vụ khác theo từng giai đoạn cụ thể như: xuất khẩu các loại sản phẩm của Tổng công ty, nhập khẩu các mặt hàng vật tư thiết bị thuộc phạm vi sản xuất kinh doanh của ngành như kính xây dựng, gốm xây dựng … nhằm điều tiết thị trường kính xây dựng và các sản phẩm đi từ thuỷ tinh, xuất nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị khác trong Tổng công ty. 2. 2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Viglacera Để đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhằm đáp ứng sự phát triển của các đơn vị thành viên phù hợp với chức năng và nhiệm vụ được giao và yêu cầu thị trường trong giai đoạn mới. Tổng công ty đã thực hiện công tác quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh của bộ máy mới với trên 15000 cán bộ công nhân viên được bố trí theo mô hình trực tuyến chức năng kết hợp . Đây là mô hình quản lý kết hợp được giữa tập trung thống với phát huy quyền chủ động sáng tạo của các cấp. Trong đó, lãnh đạo mỗi cấp đều có sử dụng các bộ phận chức năng để tham mưu cho mình trong việc ra quyết định. Các quyết định quản lí được truyền từ trên xuống dưới theo chiều Sinh viên: Đinh Thị Dung 53Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera dọc. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới là quan hệ phục tùng. Cấp dưới có trách nhiệm phục tùng cấp trên, đồng thời còn có trách nhiệm tham gia góp ý những quyết định có liên quan đến hoạt động của Tổng công ty. Cấp trên có trách nhiệm tiếp thu ý kiến đóng góp của cấp dưới để đưa ra những quyết định có lợi nhất cho sự phát triển của Tổng công ty (xem hình 2). Trong đó: *Ban điều hành Bao gồm Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, các phó Tổng giám đốc, ban kiểm soát có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động của Tổng công ty thông qua các phòng ban nghiệp vụ.  Hội đồng quản trị: là cơ quan quyền lực cao nhất của Tổng công ty. Hội đồng quản trị thành lập ra ban kiểm soát nhằm kiểm tra tình hình hoạt động của ban giám đốc và các đơn vị phòng ban. Hình 2: Sơ đồ tổ chức của Viglacera Hội đồng quản trị Ban kiểm soát Tổng giám đốc và các phó Tổng giám đốc Phòn Phòn Phòn Phòn Phòn Phòng Phòn Phòn 41 A Sinh viên: Đinh Thị Dung 54Lớp: QTKDQT Phòn Văn g g g tổ g kế g kỹ Marketi g g g phòn tài đối chức hoạc thuậ ng công kiểm ban g Chú thích: Quan hệ chín ngoạ vịlao h t trực đơn Các tuyến Các Các đơnnghệ toán vị sự vị Đơn than h kế i thành viên :hoá công động chi nhánh liênthôn nộinghiệp h Quan hệ chức năng
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Tổng giám đốc: là đại diện pháp nhân của Tổng công ty và chịu trách nhiệm trước Nhà nước và các hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty.  Phó tổng giám đốc: là người giúp việc của Tổng giám đốc, có nhiệm vụ tham mưu cho Tổng giám đốc, Sinh viên: Đinh Thị Dung 55Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ tổng giám đốc phân công thực hiện. * Các phòng ban nghiệp vụ  Văn phòng: là nơi diễn ra các cuộc họp của Tổng công ty, có nhiệm vụ giúp Tổng giám đốc trong công tác hành chính đối ngoại, tiếp xúc khách hàng và các đối tác kinh doanh.  Phòng tổ chức lao động: có nhiệm vụ tham mưu cho Tổng giám đốc trong việc sắp xếp bộ máy quản lý lao động và thực hiện các chính sách về lao động, tiền lương.  Phòng kế hoạch đầu tư: có nhiệm vụ thu thập, phân loại xử lý các thông tin, thực hiện các qui định của Tổng công ty, lập kế hoạch theo dõi tình hình về công tác quản lý kinh doanh, tổng hợp tình hình báo cáo Tổng công ty và các cơ quan quản lý.  Phòng kế toán: có nhiệm vụ tổ chức tài chính, hạch toán kinh tế, đánh giá kết quả, hoạt động của Tổng công ty theo kế hoạch, theo dõi và quyết toán các hoạt động kinh tế, quyết toán với cơ quan cấp trên (Bộ) và các cơ quan hữu quan, các tổ chức tài chính ngân hàng hàng năm.  Phòng đối ngoại: có nhiệm vụ tiếp xúc, đàm phán và ký kết hợp tác sản xuất kinh doanh, dịch thuật các tài liệu giúp đỡ chuyên ngành giúp đỡ các đơn vị thành viên khác trực thuộc Tổng công ty trong lĩnh vực đối ngoại. Sinh viên: Đinh Thị Dung 56Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Phòng Marketing: có nhiệm vụ làm công tác xúc tiến thị trường, nghiên cứu và tìm hiểu đối tác trong và ngoài nước nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ. Tìm hiểu thị hiếu khách hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của họ. Đàm phán và ký kết các đối tác kinh doanh trong và ngoài nước. * Các đơn vị thành viên Các đơn vị thành viên của Viglacera được bố trí ở 3 miền đất nước. Trong các đơn vị thành viên thì không thể không nói đến Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Công ty này là một đơn vị hạch toán phụ thuộc được thành lập theo Quyết định số217/QB- BXD ngày 7/5/1998 của Bộ xây dựng. Đây là một bộ phận gồm các chuyên viên giỏi có năng lực, thực hiện công tác xúc tiến tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu uỷ thác cho các đơn vị thành viên có nhu cầu, nhập khẩu cho toàn Tổng công ty. * Các cơ sở liên doanh liên kết Tổng công ty đã thực hiện liên doanh liên kết sản xuất kinh doanh với nhiều đối tác trong phạm vi ngành nghề kinh doanh của mình, một vài liên doanh của Viglacera đã và đang đi vào hoạt động ổn định: kính nổi Việt Nam (liên doanh giữa Viglacera với tập đoàn Nippon-Nhật Bản), kính ôtô Đáp Cầu (liên kết sản xuất với tập đoàn Huyndai-Hàn Quốc)…Các liên doanh này không chỉ là các đối tác trong nước mà còn cả các đối tác nước ngoài có kinh nghiệm, uy tín trên thế giới. Sinh viên: Đinh Thị Dung 57Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera * Các chi nhánh chính, văn phòng đại diện Tổng công ty có hai chi nhánh trực thuộc do Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu quản lý tại thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang. Các chi nhánh đóng vai trò là đại diện đầu mối phân phối các sản phẩm của Tổng công ty tại khu vực miền nam và miền trung. Bên cạnh đó Tổng công ty còn có 2 chi nhánh ở nước ngoài: Liên Bang Nga và Hoa Kỳ trong đó dự án Hoa kỳ chưa đi vào hoạt động còn dự án ở Liên Bang Nga đã đi vào hoạt động có hiệu quả với các sản phẩm chính như: sứ vệ sinh, gạch ốp lát… với tổng số vốn lên tới 15 triệuUSD và được đánh giá là dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có số vốn lớn nhất trong các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam từ trước tới nay. 3. Tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty 3.1. Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh Qua hơn 20 năm hình thành và phát triển để phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao và nhu cầu thị trường. Hiện nay, Viglacera đang tập trung sản xuất kinh doanh rất nhiều chủng loại sản phẩm và dịch vụ nhưng được chia làm hơn 30 nhóm sản phẩm và được phân thành các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính như sau:  Sản xuất các vật liệu xây dựng bao gồm: -Gạch ốp lát ceramic, granit Sinh viên: Đinh Thị Dung 58Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera -Kính tấm xây dựng các loại: kính trắng, kính mờ, kính an toàn, kính phản quang, kính màu... -Các sản phẩm từ thuỷ tinh: bông sợi thuỷ tinh cách nhiệt, thuỷ tinh lỏng... -Sứ vệ sinh, bồn tắm, gạch lát nền và gạch ốp tường tráng men... -Tấm lợp và các sản phẩm phục vụ cho trang trí nội thất -Vật liệu chịu lửa: gạch chammôt, kiềm tính và các loại bột vữa tương ứng -Gạch ngói thông dụng: gạch xây các loại có độ rỗng từ 30-70%, ngói thường ngói tráng men và các sản phẩm khác được làm từ đất sét nung  Tư vấn đầu tư, xây dựng và chuyển giao công nghệ sản xuất VLXD.  Thi công lắp đặt máy móc thiết bị phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng.  Thi công xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, công trình kỹ thuật, hạ tầng đô thị và khu công nghiệp.  Trực tiếp xuất nhập khẩu vật tư, phụ tùng thiết bị, vật liệu xây dựng và công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng. Ngoài các lĩnh vực trên Viglacera còn sản xuất kinh doanh: -Khai thác và chế biến nguyên liệu Sinh viên: Đinh Thị Dung 59Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera -Sản xuất má phanh ô tô -Sản xuất bao bì carton -May quần áo bảo hộ Bảng 2: Giá trị tổng sản lượng của Viglacera trong thời gian qua Đơn vị: triệu đồng Các chỉ 1998 1999 2000 2001 2002 tiêu Giá trị 475.800 648.876, 781.027, 1.200588 1.884023 SXCN ,6 8 3 ,5 Giá trị 24.877 24.157,7 50.212,1 87.426,0 223.418,9 xây lắp Giá trị 116.362, 306.337, 67.999 81.719,8 277.994 khác 3 3 Tổng giá 568.676 754.754, 947.601, 1.594.35 2.395.435 trị ,6 3 7 1,8 ,9 Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh (1998-2002) Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trên đã làm đa dạng hoá thêm sản phẩm và góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của Viglacera 3.2. Tình hình tài chính của Tổng công ty Viglacera * Vốn Tính đến cuối năm 2002 Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng có tổng số vốn sản xuất kinh doanh là 1350,839 tỷ đồng. Sinh viên: Đinh Thị Dung 60Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Xét về mặt nguồn vốn thì tổng số vốn hiện có của Viglacera được cấu thành trên các nguồn chủ yếu như sau: ♦ Vốn ngân sách Nhà nước cấp: 372,164 tỷ đồng chiếm 28,5% ♦ Vốn tự huy động: 330,900 tỷ đồng chiếm 25,34% ♦ Vốn vay ngân hàng:489,690 tỷ đồng chiếm 37,5% ♦ Vốn liên doanh liên kết: 113,086 tỷ đồng chiếm 8,66% Dự tính trong năm 2005, tổng số vốn sẽ tăng lên 1297 tỷ đồng (không kể vốn ngân sách). Bảng 3: Cơ cấu vốn kinh doanh của Tổng công ty Viglacera Đơn vị: triệu đồng Năm TT 1999 2000 2001 2002 Chỉ tiêu Giá trị % Giá trị % Giá trị % Giá trị % Vốn kinh 976.282 100 1.171.13 100 1.164.40 100 1.305.83 100 doanh 6 6 9 1 Vốn cố định 629.701, 64,5 762.409, 65,1 777.823, 66,8 859.242, 65,8 89 54 21 06 2 Vốn lưu 346.580, 35,5 408.726, 34,9 386.582, 33,2 446.596, 34,2 động 11 46 79 94 Nguồn: Phòng Kế toán Tổng Công ty Viglacera * Doanh thu Nhìn chung tình hình doanh thu của Viglacera liên tục tăng qua các năm với tốc độ tăng bình quân là 24,5%. Năm 1998 doanh thu mới chỉ ở mức 637.200 triệu đồng. Đến năm 2002 đạt tới 2.168.706,5 triệu đồng. Sinh viên: Đinh Thị Dung 61Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Trong đó, chủ yếu là doanh thu về sản xuất vật kiệu xây dựng. Bên cạnh đó, hai nguồn doanh thu xây lắp và doanh thu khác cũng góp phần đánh kể trong tổng doanh thu của Vigkacera. Điều này được thể hiện qua bảng sau. Bảng 4: Tình hình doanh thu của Viglacera Đơn vị: triệu đồng Năm 1998 1999 2000 2001 2002 Chỉ tiêu Doanh thu 680.280, 787.933, 1.106.39 1.536.25 542.449 VLXD 6 2 5,9 0,3 Doanh thu 26.752 24.662,4 39.168,5 75.601,6 218.078 xây lắp Doanh thu 119.390, 263.002, 414.378, 67.999 81.719,8 khác 5 8 2 Tổng doanh 786.662, 946.492, 1.445.00 2.168.70 637.200 thu 8 2 0,3 6,5 Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty (1998-2002) * Lợi nhuận: Trong điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay, số các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả còn ở mức khá khiêm tốn. Trong khi đó, Viglacera làm ăn rất có hiệu quả, đóng góp vào ngân sách một khoản khá lớn. Lợi nhuận của Tổng công ty liên tục tăng qua các năm. Năm 1999 mới chỉ đạt ở mức 20,2 tỷ đồng cho đến năm 2002 đạt 46,39 tỷ. Đây là con số đáng khích lệ với bước đi đột phá về lợi nhuận của Tổng công ty. Sinh viên: Đinh Thị Dung 62Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Bảng 5: Tình hình lợi nhuận của Viglacera Đơn vị: tỷ đồng Năm 1999 2000 2001 2002 Chỉ tiêu Lợi nhuận 20,2 22 23,61 46,39 Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh- phòng kế toán(1999-2002) 3.3. Tình hình lao động và công tác đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực của Tổng công ty Viglacera Hiện nay, với trên 15.000 lao động Tổng công ty đang giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho một lực lượng lao động khá là đông. Điều này đã góp phần không nhỏ việc giải quyết thất nghiệp cho lực lượng lao động ở Việt Nam. Thu nhập của người lao động cũng được xếp vào loại khá so với các doanh nghiệp nhà nước khác ở nước ta hiện nay. Bảng 6: Tình hình lao động của Viglacera Đơn vị : người Năm 1998 1999 2000 2001 2002 Chỉ tiêu Tổng số cán bộ CNV 1522 8912 8856 10238 12395 6 Nam 1017 5373 5339 6346 8659 9 Nữ 3539 3517 3892 3736 5014 1. Cán bộ lãnh đạo 409 401 521 653 803 quản lý 1.1 Trên đại học 1 1 3 4 6 1.2 Đại học 408 400 518 649 797 1.3 Giỏi ngoại 24 26 39 45 55 Sinh viên: Đinh Thị Dung 63Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera ngữ 2. Cán bộ khoa học 238 226 308 375 478 kỹ thuật 2.1 Trên đại học 1 1 3 3 4 2.2 Đại học 237 225 305 372 474 2.3 Giỏi ngoại 15 17 30 34 36 ngữ 3. Công nhân kỹ 1394 8265 8229 9412 11367 thuật 5 3.1 Bậc 2 4515 3912 4412 5630 3955 3.2 Bậc 3 1556 1837 2090 2574 3134 3.3 Bậc 4 1123 1327 1526 1713 2085 3.4 Bậc 5 815 892 1001 1096 1335 3.5 Trên bậc 5 256 261 300 354 436 4. Thu nhập bình quân đầu người 699 798,7 894,4 1096 1220 (1000 đ) Nguồn: Báo cáo lao động, phòng tổ chức lao động của Viglacera (1998- 2002) Viglacera có một đội ngũ nguồn lao động có kinh nghiệm và uy tín nghề nghiệp đã tạo được thế mạnh cho Viglacera về các lĩnh vực sản xuất kinh doanh nói chung và về nhân sự nói riêng . Viglacera không ngừng quan tâm đến công tác đào tạo tuyển dụng nguồn nhân lực. Ngoài việc đào tạo từ các trường đại học và cao đẳng chính quy thì Viglacera còn đào tạo theo hai hướng là đào tạo tại chỗ và qua các khoá học ngắn ngày gửi họ ở các trường kỹ thuật. Năm 98 Viglacera đã thành lập trường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ vật liệu xây dựng. Năm 2005 sẽ phấn đấu trường thành một trung tâm đào tạo đạt tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng nhu cầu trong nước và nhu Sinh viên: Đinh Thị Dung 64Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera cầu xuất nhập khẩu lao động. Bên cạnh đó Viglacera còn hợp tác với một số các nước khác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ vật liệu xây dựng như hiệp hội gốm sứ Anh quốc, Nhật , Mỹ.... 3.4. Công nghệ kỹ thuật sản xuất và chất lượng sản phẩm của Tổng công ty Viglacera Nhìn chung công nghệ sản xuất của Viglacera đều được xếp vào loại tiên tiến. Công nghệ sản xuất thường được nhập từ các nước tiên tiến trên thế giới như Nga, Đức, Italya, Nhật… Trừ một số lĩnh vực sản xuất dây truyền công nghệ còn lạc hậu như lĩnh vực sản xuất vật liệu chịu lưả… Nhìn chung Viglacera với các tiềm lực kinh tế mạnh, với đội ngũ lao động có trình độ và cơ sở vật chất kỹ thuật khá hiện đại, dây truyền công nghệ tiên tiến. Viglacera đã cho ra đời những sản phẩm chất lượng cao đạt tiêu chuẩn châu Âu và một số nước trên thế giới. Hiện nay, Tổng công ty giữ một vai trò chủ đạo trong những ngành sản xuất thuỷ tinh và gốm xây dựng ở Việt Nam. Với những thế mạnh đó trong những năm qua Tổng công ty đã đạt những thành công đáng kể và hoàn thành xuất sắc các kế hoạch được giao. Sinh viên: Đinh Thị Dung 65Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera II . Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Viglacera. 1. Vai trò của thúc đẩy xuất khẩu đối Tổng công ty Viglacera Trong bối cảnh hiện nay một nhà sản xuất lớn như Tổng công ty Viglacera, việc tìm kiếm và xúc tiến các biện pháp đẩy mạnh công tác xuất khẩu là một việc hết sức cần thiết và nếu được thực hiện tốt sẽ đem lại nhiều lợi ích trực tiếp, lâu dài và thiết thực như sau: Thứ nhất: So với thị trường nội địa, thị trường thế giới có dung lượng tiêu thụ lớn hơn rất nhiều lần, kể cả về số lượng và chủng loại hàng hóa. Trong thời điểm diễn ra cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nhà sản xuất vật liệu nội địa như hiện nay, việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu là giải pháp khả thi nhất để giải quyết những khó khăn về tiêu thụ. Đặc biệt đối với các sản phẩm gạch ceramic, granite và sứ vệ sinh, công tác xuất khẩu càng trở nên vô cùng cần thiết khi mà thị trường nội địa đang bước vào giai đoạn cung lớn hơn cầu. Thứ hai: Hiện nay đồng thời với việc hiệp định AFTA đang được thực thi, chính sách này ngày càng mở rộng của Nhà nước về việc tự do hoá thương mại với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới sẽ cho phép các sản phẩm nhập ngoại với giá rẻ, chất lượng Sinh viên: Đinh Thị Dung 66Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera cao và mẫu mã phong phú được cạnh tranh một cách tự do với các sản phẩm sản xuất trong nước. Trong bối cảnh đó, các nhà sản xuất trong nước một mặt cần tìm mọi biện pháp nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản xuất để có thể cạnh tranh và đứng vững tại thị trường nội địa, mặt khác cần tập trung khai thác nguồn thị trường xuất khẩu để có thể tránh tình trạng dư thừa sản phẩm tồn kho, suy giảm sản lượng và doanh thu bán hàng cũng như duy trì sự ổn định và tăng trưởng sản xuất. Thứ ba: Nếu được thực hiện tốt, hoạt động sản xuất phục vụ xuất khẩu sẽ kéo theo nhiều chuyển biến tích cực với mỗi đơn vị sản xuất như: nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm, khuyến khích nghiên cứu, giảm thiểu chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tính chủ động trong công tác Maketting và tiêu thụ sản phẩm ở thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài. Thứ tư: Qua hoạt động thực tiễn sẽ dần hình thành một bộ máy chuyên làm công tác xuất khẩu, đội ngũ cán bộ nhân viên ngày càng được trưởng thành, trau dồi kiến thức ngoại ngữ và thương mại quốc tế, tự tin trong các mối quan hệ đối ngoại. Thứ năm: Thông qua công tác mở rộng thị trường tăng cường xuất khẩu sẽ xây dựng được thương hiệu và uy tín của Viglacera trên thị trường thế giới. Sinh viên: Đinh Thị Dung 67Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Thứ sáu: Xuất khẩu là biện pháp trực tiếp mang lại nguồn ngoại tệ để tự trang trải cho các nhu cầu nhập khẩu của doanh nghiệp và tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước. Từ những lợi ích thiết thực mà xuất khẩu đem lại có thể thấy rằng xuất khẩu là hoạt động rất cần thiết với Viglacera nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung. 2. Kim ngạch xuất khẩu của Viglacera Đầu năm 1990 khi Nhà nước ban hành nhiều chủ trương chính sách đẩy mạnh công tác xuất nhập khẩu trong đó có việc mở rộng xuất nhập khẩu cho các ngành, các địa phương thì công tác xuất nhập khẩu diễn ra rất mạnh mẽ. Một vấn đề đặt ra với Chính phủ và Bộ thương mại là khuyến khích công tác xuất khẩu từ đó giúp cho các doanh nghiệp có thể đầu tư đổi mới dây truyền công nghệ hiện đại sản xuất ra những hàng hoá có chất lượng cao gía cả hợp lý nhằm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chính vì vậy, Chính phủ đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển hoạt động xuất khẩu hàng hoá vật liệu xây dựng của Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng giúp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong vấn đề thủ tục xuất khẩu. Trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty cũng liên tục tăng qua các năm. Điều đó cho thấy cùng với các biện pháp thúc đẩy hoạt động Sinh viên: Đinh Thị Dung 68Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera xuất khẩu các sản phẩm của Viglacera ra thi trường nước ngoài nhằm tăng thu ngoại tệ và giảm chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu, cũng đã cải thiện được kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty. Điều này được chứng tỏ qua bảng số liệu sau: Bảng 7: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Viglacera Kim ngạch XNK Kim ngạch xuất khẩu Tốc độ Tốc độ Tỷ trọng Năm Giá trị Giá trị tăng tăng trong KN XNK (USD) (USD) (%) (%) (%) 199 17.257.0 - 279.000 - 1,62 8 00 199 20.377.2 18,08 1672.97 500 8,21 9 47 2 200 24.424.1 19,86 2.293.4 37,09 9,39 0 64 29 200 29.352.9 20,18 3.487.1 52,05 11,88 1 63 32 200 35.852.2 22,14 5.681.8 62,94 15,85 2 86 90 Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh (1999- 2002) Trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Tổng công ty Viglacera kim ngạch xuất khẩu mới chỉ chiếm một tỷ trọng khiêm tốn. Mặc dù, tỷ trọng này đã dần được cải thiện trong thời gian gần đây khi hoạt động sản xuất được thị trường trong và ngoài nước tín nhiệm. Ngay từ khi tái thành lập Tổng công ty đã xúc tiến xuất khẩu các sản phẩm của mình. Năm 1999 thực chất là năm đầu tiên Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Sinh viên: Đinh Thị Dung 69Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera đi vào hoạt động với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh các sản phẩm mũi nhọn của Tổng công ty tại thị trường phía nam và kinh doanh xuất nhập khẩu sản phẩm, nguyên vật liệu, vật tư phục vụ sản xuất của các đơn vị trong Tổng công ty. Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu đã hình thành nên đầu mối kinh doanh của Tổng công ty và hoạt động xuất nhập khẩu có hiệu quả, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho Tổng công ty, đồng thời tạo nguồn cân đối tài chính trong việc hỗ trợ vay trả đối với các đơn vị thành viên. Kết quả là sang năm 1999, kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty Viglacera tăng lên đáng kể là 1.672.972 USD chiếm 8,21% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, tăng 500% so với năm 1998 Hầu hết công tác quản lý xuất nhập khẩu của Tổng công ty trong thời gian này đều do Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu cùng với phòng đối ngoại, phòng Maketing của Tổng công ty, kết hợp với các đơn vị thành viên thành lập bộ phận chuyên nghiên cứu thông tin xuất khẩu thông qua việc tuyển chọn các cán bộ có chuyên môn và nghiệp vụ để nắm bắt thông tin, đẩy mạnh xuất khẩu. Công ty chính là đại diện cho các đơn vị thành viên tiếp xúc với khách hàng, thực hiện công tác nghiên cứu thị trường, đánh giá các đối thủ cạnh tranh và đẩy mạnh công tác xuất khẩu hàng hóa. Việc tổ chức xuất nhập khẩu của Tổng công ty thông qua một đơn vị chuyên trách là một biện pháp tốt để quản lý Sinh viên: Đinh Thị Dung 70Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera vốn và thực hiện hạn ngạch được giao. Với một đơn vị chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm đảm nhận công việc này đã mang lại hiệu quả cao hơn, tránh được tình trạng nhập khẩu tràn lan, không có qui hoạch và xuất khẩu nhỏ lẻ của các đơn vị thành viên. Việc hoạt động có hiệu quả của Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu trong thời gian qua đã giúp Tổng công ty tìm kiếm được nhiều bạn hàng tin cậy và các thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng. Từ đó làm kim ngạch xuất khẩu của Viglacera tăng lên một cách nhanh chóng. Hình 3: Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu của Viglacera USD 5681890 6000000 5000000 4000000 3487132 3000000 2293429 2000000 1672972 1000000 279000 Năm 0 1998 1999 2000 2001 2002 Nguồn: Từ bảng 7 Nếu xét về tỷ trọng trong tổng doanh thu ta có bảng số liệu sau: Bảng 8: Tỷ trọng doanh thu xuất khẩu trong tổng doanh thu Năm 1999 2000 2001 2002 Chỉ tiêu Doanh thu XK(USD) 1.672.97 2.293.42 3.487.1 5.681.8 Sinh viên: Đinh Thị Dung 71Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 2 9 32 90 Tỷ trọng trong tổng 3,19 3,635 3,62 3,93 doanh thu (%) Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Tổng công ty (1999- 2002) Nhìn vào bảng trên ta thấy mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Viglacera tăng nhanh nhưng so với tổng doanh thu của Viglacera thì doanh thu xuất khẩu vẫn còn ở mức rất thấp. Điều này chứng tỏ mặc dù đã quan tâm tới công tác xuất khẩu nhưng hiệu quả xuất khẩu vẫn chưa cao so với tầm vóc lớn mạnh của Viglacera. Để đạt được những kết quả như vậy, trong thời gian qua Tổng công ty đã phối hợp và liên kết với các đơn vị trong ngành như Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (VINACONEX) trúng thầu các công trình lớn ở Nga, Ucraina, Lào và Trung đông. Ngoài ra, Tổng công ty còn thực hiện xuất khẩu uỷ thác cho các đơn vị ngoài Tổng công ty có các sản phẩm phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của mình. Có thể nói cho đến nay hầu hết các đơn vị sản xuất của Tổng công ty đều đã và đang giành nhiều sự quan tâm và ưu tiên đối với công tác giới thiệu và tìm kiếm thị trường mới cho các sản phẩm của mình. Kết quả là một số sản phẩm như: kính xây dựng, gạch ốp lát, gạch Granite, sứ vệ sinh, gạch đỏ, gạch Chamôt đã được xuất khẩu ra các thị trường nước ngoài. Các đơn vị đã thực hiện xuất khẩu bao gồm:  Công ty Thạch Bàn Sinh viên: Đinh Thị Dung 72Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Công ty sứ Thanh Trì  Công ty gạch ốp lát Hà nội  Công ty gốm xây dựng Hạ Long  Công ty kính Đáp Cầu  Công ty gạch men Thăng Long  Công ty gốm xây dựng Hữu Hưng  Công ty gốm sứ Việt Trì  Công ty vật liệu chịu lửa kiềm tính Việt Nam  Công ty vật liệu chịu lửa Cầu Đuống Đó là các doanh nghiệp đã tíên hành xuất khẩu ra thị trường nước ngoài nhằm tìm kiếm đối tác mở rộng thị trường và làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu. 3. Mặt hàng xuất khẩu của Viglacera Trong những năm trước 1990, Tổng công ty chưa có uy tín trên thị trường, các mặt hàng chưa được nhiều người biết đến nên hoạt động ngoại thương gặp nhiều khó khăn. Tổng công ty nhận thấy cần phải đổi mới và hiện đại hoá công nghệ cũng như các thiết bị dây chuyền sản xuất thì mới đảm bảo được hiệu quả chất lượng sản phẩm cũng như tiến hành tốt được công tác xuất khẩu. Tổng công ty đã tiến hành nhập khẩu các hệ thống dây chuyền chế biến tạo hình trong sản xuất gạch từ Ucraina, Italya, Đức… dây chuyền thiết bị đồng bộ sản xuất gạch ốp lát Ceramic, sứ vệ sinh, gạch Granite. Sinh viên: Đinh Thị Dung 73Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Trong những năm gần đây, các mặt hàng được Tổng công ty xuất khẩu ngày càng phong phú về kiểu dáng, mẫu mã, tăng về số lượng, chất lượng. Một số mặt hàng xuất khẩu của chủ yếu của Tổng công ty như sứ vệ sinh, gạch đỏ xây dựng, gạch granite, gạch ceramic, kính xây dựng, gạch men màu các loại, vật liệu chịu lửa và một số các sản phẩm khác như gạch ngói xây dựng, mây tre đan… đã được xuất ra nước ngoài. Năm 1995, Tổng công ty mới chỉ xuất khẩu một số sản phẩm là sứ vệ sinh với giá tri là 24.450 USD do Công ty sứ Thanh Trì thực hiện. Nhưng cho đến năm 2002 thì số sản phẩm đã lên tới con số là gần 10 nhóm sản phẩm chính và một số sản phẩm khác. Điều này chứng tỏ sự phát triển không ngừng của Viglacera trong thời gian qua. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, Tổng công ty được phép xuất khẩu các sản phẩm do các đơn vị thành viên sản xuất theo đúng các qui định mà pháp luật qui định. Trong những năm gần đây, trong khi các nhà máy các đơn vị thành viên đã đi vào sản xuất ổn định thì lại gặp không ít những khó khăn ở thị trường nội địa. Hơn thế nữa, công tác xuất khẩu sẽ đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Do đó công tác xuất khẩu được Tổng công ty đặc biệt quan tâm và coi đây là giải pháp chính nhằm xúc tiến việc tiêu thụ hàng hoá. Tổng công ty đã thực hiện xuất khẩu các sản phẩm của mình sang Sinh viên: Đinh Thị Dung 74Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera nhiều thị trường khác nhau trên thế giới với giá trị xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu như sau (xem bảng 9): Qua bảng số 9 ta thấy số lượng và giá trị các mặt hàng xuất khẩu của Viglacera liên tục tăng qua các năm. Trong các sản nhóm sản phẩm chính của Viglacera đã tiến hành xuất khẩu thì sản phẩm sứ vệ sinh chiếm một tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 1999 sản phẩm sứ vệ sinh chiếm 92,086% nhưng đến năm 2002 chỉ còn 47,417%. Nhìn vào cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Viglacera ta thấy mặc dù các mặt hàng xuất khẩu tăng dần và cơ cấu cân đối hơn nhưng tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu vẫn còn mất cân đối. Sản phẩm sứ vệ sinh chiếm tới 60,703% trong khi đó các sản phẩm như kính gương, gạch ceramic, granite còn quá nhỏ bé so với kim ngạch xuất khẩu của Viglacera. Sinh viên: Đinh Thị Dung 75Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Bên cạnh các sản phẩm xuất khẩu chính thì một bộ phận sản phẩm khác tuy không phải là mặt hàng xuất khẩu chủ đạo nhưng cũng góp phần làm đa dạng hoá các sản phẩm của Viglacera và đem lại một khoản thu ngoại tệ không nhỏ hàng năm trong kim ngạch xuất khẩu chiếm 20,146% (1999-2002). Điều này chứng tỏ khả năng xuất khẩu của Viglacera về việc đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu nhằm nâng cao uy tín thương hiệu của Viglacera trên thị trường thế giới. Tính đến cuối năm 2002 thì tổng kim ngạch xuất khẩu của Viglacera từ năm 1999 đến năm 2002 là 13.135.423 USD. Con số này còn nhỏ so với tổng doanh thu của Viglacera nhưng nhờ chiến lược đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu của Tổng công ty nên số lượng, giá trị các mặt hàng xuất khẩu tăng lên khá nhiều làm cho kim ngạch xuất khẩu của Viglacera tăng lên đáng kể. Đồng thời làm giảm lượng chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của Viglacera trong tổng kim ngạch xuất khẩu những năm gần đây. 4. Thị trường xuất khẩu của Viglacera  Do đặc điểm hàng vật liệu xây dựng là dễ vỡ, phụ thuộc vào thị hiếu của người tiêu dùng, hàng vật liệu xây dựng, khó vận chuyển đi quá xa vì như vậy cước phí vận tải sẽ chiếm một tỷ lệ lớn trong gía thành sản phẩm, mà đa số sản phẩm của Tổng công ty lại có giá trị thương mại không cao nên hoạt động kinh doanh ngoại thương chỉ có hiệu quả khi xuất Sinh viên: Đinh Thị Dung 76Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera nhập khẩu một lượng hàng lớn. Điều này ảnh hưởng đến các thị trường và bạn hàng xuất khẩu hàng vật liệu xây dựng của Tổng công ty. Các bạn hàng chủ yếu của Viglacera gồm: Thị trường Singapo: Công ty SPPTE Ldt, Công ty offshore onshore PTE Ldt, ICT Singapore.  Thị trường Lào: Tổng công ty Lao Building Materials, Công ty Luxe company Ld.  Thị trường Italy: Tập đoàn Bongioani SRLGronp, Siti SPA, hãng Uncer, Cerdec, Cover, Lam beti  Thị trường Nga: Công ty Albus Joint Stock Company, Vitalex Company, Dunka cossium  Thị trường Malaysia: Công ty commercial MiterlInc  Thị trường Đài Loan: Công ty China GlaZe Inc. Ngoài những bạn hàng chủ yếu trên Viglacera còn có những bạn hàng không kém phần quan trọng khác ở các thị trường khác nhau trong khu vực và trên thế giới Tổng công ty tích cực tìm kiếm đối tác không chỉ trên những thị trường đã có mà còn trên những thị trường mới với nhiều hình thức khác nhau. Ngay từ năm 1995, Viglacera đã mở rộng thị trường sang nhiều nước khác nhau với phương châm đa dạng hoá các thị trường, song vẫn cần xây dựng thị trường trọng điểm và bạn hàng chủ yếu. Năm 1995 Tổng công ty đã xuất khẩu một số sản phẩm sứ vệ sinh sang thị trường Mianma do Công ty sứ Thanh Trì thực hiện với Sinh viên: Đinh Thị Dung 77Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera giá trị 24,450 USD. Để đánh giá về thị trường xuất khẩu của Viglacera ta có thể thông qua bảng số liệu sau: Bảng 10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Viglacera Đơn vị: % TT Khu vực Tỷ trọng 1 Đông Âu 45 2 Eu, Bắc Mỹ, Nhật 15 Trung Đông, Tây á, 20 3 Nam á 4 ASEAN 20 Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Viglacera (1999-2002) Hình 4: Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của Viglacera §«ng ¢u 20 45 EU, B c M NhË ¾ ü, t B¶n Trung §«ng T© ¸ , , y 20 Na ¸ m 15 ASEAN Nguồn: Từ bảng 10 Do ban đầu thực hiện xuất khẩu nên Tổng công ty mới chỉ thực hiện ở thị trường khu vực Đông Nam á. Nhưng do nhu cầu xuất khẩu ngày càng tăng lên. Việc tìm kiếm các thị trường mới là rất cần thiết, Viglacera đã mở rộng thị trường xuất khẩu của mình Sinh viên: Đinh Thị Dung 78Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera không chỉ những thị trường trong khu vực mà là những thị trừờng có vị trí địa lý xa Việt Nam như Nga, Ucraina, Italya, Mỹ… Tính đến năm 2002 số lượng các thị trường xuất khẩu của Viglacera đã lên tới gần 20 thị trường trên thế giới. Đồng thời các thị trường này cũng được Tổng công ty xác định là những thị trường trọng điểm trong chiến lược xâm nhập thị trường nước ngoài của Viglacera trong thời gian tới. Ngoài khu vực Đông Âu, Nga là thị trường chủ yếu, ngay từ năm 1998 Viglacera đã mở rộng thị trường sang nhiều nước khác nhau. Hiện nay, kim ngạch buôn bán giữa Viglacera với một số doanh nghiệp của Lào, Hàn Quốc, Nhật Bản,…. đã được thiết lập và có nhiều triển vọng. Tổng công ty vẫn tiếp tục thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ về kinh tế và kỹ thuật với nhiều nước trên thế giới, xây dựng các thị trường trọng điểm và bạn hàng chủ yếu để việc xuất khẩu đạt hiệu quả cao hơn. Viglacera xác định các thị trường xuất khẩu có tiềm năng cho việc tiêu thụ sản phẩm là: * Thị trường Nga và Đông Âu Đây được coi là thị trường truyền thống có nhiều tiềm năng cho việc tiêu thụ sản phẩm. Mặc dù hiện nay, các sản phẩm sứ vệ sinh và gạch ốp lát đang tiêu thụ tốt ở đây, trung bình trị giá xuất khẩu của Viglacera sang khu vực này thường chiếm 45% kim ngạch xuất khẩu. Sinh viên: Đinh Thị Dung 79Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Để đẩy mạnh hơn nữa việc tiêu thụ sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường này, Viglacera đã và đang tiến hành khảo sát, tìm hiểu thị hiếu tiêu dùng và các đặc tính, về thời tiết, khí hậu để tiến hành nghiên cứu sản xuất các sản phẩm cho phù hợp. Đồng thời để đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu trong tương lai gần. Tổng công ty thực hiện việc chào hàng các sản phẩm mới của mình thông qua phòng thương mại của các nước này tại Việt Nam, chi nhánh của Viglacera tại Nga và một số đối tác có quan hệ làm ăn tốt với Tổng công ty Albus, Joint stock Co, Vilatex Co, Danka Consortium. Đồng thời cũng kiến nghị với Nhà nước dùng sản phẩm gốm sứ Viglacera xuất khẩu sang để thanh toán nợ với các nước này từ trước. * Thị trường EU, Bắc Mĩ, Nhật Bản Đây là các thị trường mà Tổng công ty Viglacera mới chỉ thực hiện xuất khẩu một vài lô hàng sứ vệ sinh và gạch Granite, chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu, thông qua các đối tác trung gian chủ yếu để thăm dò thị trường và giới thiệu các sản phẩm. Các thị trường này là các thị trường có thu nhập cao nên đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng, kiểu dáng sản phẩm, do đó đây thực sự là những thị trường lý tưởng mà Tổng công ty cần chú trọng trong thời gian tới. Tuy nhiên, để có thể thâm nhập và có được một thị phần vững chắc tại thị trường này đòi hỏi Tổng công ty phải có kế hoạch thật cụ thể. Cạnh tranh với các hãng nổi tiếng, có nhiều kinh nghiệm. Trong kinh Sinh viên: Đinh Thị Dung 80Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera doanh tại đây là rất khó khăn nhưng không phải là không có lợi cho Viglacera với những lợi thế sẵn có về nhân công, về nguyên vật liệu, nhiên liệu, nếu tổ chức tốt việc sản xuất của mình thì Tổng công ty vẫn có thể xuất khẩu hàng sang các nước này nhờ lợi thế giá rẻ. Riêng đối với thị trường Hoa Kỳ, Chính phủ ta đã ký hiệp định thương mại song phương qua đó được hưởng chế độ tối huệ quốc (MFN). Điều này sẽ giúp cho Viglacera có thêm lợi thế để cạnh tranh bình đẳng hơn vì trước đây hàng hoá của Việt Nam nói chung thường gặp khó khăn lớn về thuế quan khi xuất khẩu hàng của mình sang Hoa Kỳ. Để tận dụng cơ hội do Hiệp định thương Việt Mỹ mang lại Viglacera đã ký quyết định thành lập chi nhánh tại Mỹ vào năm 2002 nhưng cho đến nay chi nhánh này vẫn chưa đi vào hoạt động chính thức. Trong thời gian tới chi nhánh này sẽ là đầu mối phân phối chính các sản phẩm tại thị trường Mỹ và các quốc gia lân cận * Thị trường Trung Đông, Tây á và Nam á Đây là khu vực có thu nhập khá có khí hậu khô, nóng nên các mặt hàng như sứ vệ sinh và gạch ốp lát rất có tiềm năng tiêu thụ. Hiện nay, Viglacera đang thông qua một số các đối tác trung gian Loc Hoang Inc, Mklton Ldt…để tiêu thụ các sản phẩm của mình, trong đó chủ yếu là các loại sứ vệ sinh, gạch ốp lát và các loại gạch ngói trang trí cao cấp. Kế hoạch của Tổng công ty là tiến tới thiết lập các đại lý và văn Sinh viên: Đinh Thị Dung 81Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera phòng đại diện tại thị trường này trong thời gian tới. Hiện nay giá trị xuất khẩu của Viglacera sang thị trường này chiếm khoảng 20% kim ngạch xuất khẩu. * Thị trường ASEAN Đây là các thị trường có quan hệ gần gũi và lâu năm, có vị trí địa lý gần với Việt Nam, do đó hàng hoá xuất khẩu sang thị trường này có nhiều thuận lợi như chi phí vận chuyển thấp, ít rủi ro… Việt Nam đã chính thức gia nhập khối ASEAN vào ngày 24/7/1995 điều này cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho Viglacera trong mối quan hệ với bạn hàng và các cơ quan chính quyền của các nước khu vực này. Đối với khu vực này Viglacera đặc biệt coi trọng thị trường các nước Đông Dương vì đây là các thị trường mà các đặc tính tiêu dùng tương đồng với thị trường Việt Nam và đang trong giai đoạn tái thiết đất nước trong một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá. Trị giá xuất khẩu của Viglacera sang các nước ASEAN đã chiếm tới 20% kim ngạch xuất khẩu của mình. 5. Chất lượng, giá bán sản phẩm xuất khẩu Một trong những nhân tố làm tăng cường khả năng xuất khẩu của các doanh nghiệp nói chung và của Viglacera nói riêng là chất lượng, giá bán sản phẩm. Bên cạnh kiểu dáng mẫu mã sản phẩm thì yếu tố chất lượng, giá bán đóng vai trò rất quan trọng như chất lượng tốt, giá bán hợp lý thì sản phẩm mới có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Viglacera coi giá Sinh viên: Đinh Thị Dung 82Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera bán là điểm mấu chốt trong chiến lược xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài. Bảng 11: Chất lượng sản phẩm của Viglacera Chất lượng sản phẩm xuất STT Mặt hàng khẩu Gạch granite, Tiêu chuẩn Châu Âu 1 ceramic Kính và gương Tiêu chuẩn Hàn Quốc, Nhật 2 các loại Bản 3 Sứ vệ sinh Tiêu chuẩn Châu Âu Gạch ngói xây Tiêu chuẩn Việt Nam 4 dựng 5 Gạch chịu lửa Tiêu chuẩn Việt Nam Nguồn: Đánh giá năng lực sản xuất của Tổng công ty Thuỷ tinh và gốm xây dựng năm 2002 Nhìn chung, chất lượng sản phẩm xuất khẩu còn thiếu tính cạnh tranh. Tuy nhiên, một số lĩnh vực sản xuất của Tổng công ty đã đạt tiêu chuẩn Việt Nam và một số các quốc gia trên thế giới. Một số sản phẩm của công ty được bạn bè quốc tế đánh giá cao về chất lượng. Ví dụ: mới đây, sản phẩm của Công ty gạch men Thăng Long tham gia hội chợ triển lãm Cevisama 2003 được tổ chức tại Tây Ban Nha và đã được báo chí Tây Ban Nha đánh giá rất cao về chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Tổng công ty đã đạt được nhiều giải thưởng quốc tế như: Giải thưởng xây dựng quốc tế lần thứ 11 do tổ chức quốc tế Editorial office cấp tại Madrid- Tây Ban Nha năm 1999. Sinh viên: Đinh Thị Dung 83Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Giải sao vàng quốc tế về chất lượng do tổ chức quốc tế BTD chứng nhận năm 2000. Giải thưởng vàng Châu Âu về chất lượng lần thứ 15 do tổ chức Editoral office cấp tại Paris- Pháp năm 2001. Ngoài ra, việc Tổng công ty và hầu hết các đơn vị thành viên được cấp chứng chỉ ISO về hệ thống chất lượng cũng là một yếu tố thuận lợi cho công tác xuất khẩu. Mặc dù chất lượng sản phẩm xuất khẩu đạt tiêu chuẩn như trên nhưng vẫn chưa cạnh tranh được với nhiều hãng sản xuất vật liệu xây dựng trên thế giới.Ví dụ: trong khi hầu hết các sản phẩm gạch giả granit đang đựợc ưu chuộng tại các nước Châu á phát triển, Châu âu và Bắc Mỹ là các sản phẩm có thiết kế vân mây giả đá tự nhiên, bề mặt gồ ghề hoặc bằng thì gạch granit của Tổng công ty hiện nay vẫn chủ yếu là các sản phẩm muối tiêu men mờ hoặc mài bóng, thiết kế mẫu mã còn tương đối đơn giản. Bên cạnh việc quan tâm cải thiện công nghệ sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm thì giá cả cũng là một vấn đề đã được Tổng công ty chú ý tới. Nếu so với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc thì giá bán của các nước này rẻ hơn rất nhiều so với Viglacera. Tuy nhiên, nếu so với một số các quốc gia như Mỹ. Nhật, Italya.. thì Viglacera có lợi thế giá rẻ hơn. Chính vì những lý do đó mà các Sinh viên: Đinh Thị Dung 84Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera sản phẩm của Viglacera còn yếu sức cạnh tranh về giá cả trên thị trường thế giới. Bảng 12: Giá bán bình quân các mặt hàng xuất khẩu năm 2002. STT Mặt hàng Đơn vị tính Giá trị 1 Kính xây dựng USD/m2 4,1 2 Sứ vệ sinh USD/SP 35 3 Gạch ốp lát cermic USD/m2 5,1 4 Gạch ốp lát granite USD/m2 10,78 5 Vật liệu chịu lửa USD/tấn 365 6 Gạch xây dựng qui USD/m2 0,125 tiêu chuẩn 7 Ngói lợp các loại USD/m2 4,62 8 Gạch lát đất sét USD/m2 4,8 nung 9 Gạch Cotto USD/m2 11,4 Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Viglacera năm 2002 Chỉ xét riêng có mặt hàng sứ vệ sinh là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì giá bán sản phẩm này của Thái Lan chỉ bằng 80%, của Trung Quốc là 68% và Inđônexia là 88% giá bán các sản phẩm của Viglacera. 6. Những biện pháp tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu của Viglacera 6.1. Nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối tác Tổng công ty tiến hành khai thác thông tin và tìm kiếm khách hàng dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là các hình thức sau: Sinh viên: Đinh Thị Dung 85Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera *Thông qua hội chợ thương mại quốc tế Việc tìm kiếm thông tin thị trường qua các hội chợ thương mại quốc tế cũng là một hình thức khá phổ biến của Viglacera. Tổng công ty đã tổ chức tham gia được các hội chợ thương mại quốc tế lớn như hội chợ Cevisama tại Tây Ban Nha vào năm 2000 và 2002, hội chợ TIGER of asia năm 2001 và Coverings vào năm 2002 tại Hoa Kỳ, và các hội chợ tại các nước khác như: CHLB Đức, Nhật, Hàn Quốc, Iraq, Nga, Trung Quốc, Lào…. Thông qua hội trợ triển lãm tiếp xúc giao dịch với khách hàng, tìm hiểu giới thiệu sản phẩm, thường xuyên bám sát khách hàng, chủ động giới thiệu và chào hàng các sản phẩm mới. Tổ chức quảng cáo các sản phẩm tại hội chợ để tìm kiếm khách hàng bằng hình thức phát Cataloge để giới thiệu sản phẩm. Theo báo cáo thường niên của phòng kinh doanh, gần 30% tổng số hợp đồng xuất khẩu được ký kết hàng năm với khoảng 40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu được thực hiện thông qua các hội chợ triển lãm trong và ngoài nước. *Thông qua các chuyến công tác khảo sát thị trường Từ năm 1995 đến nay Tổng công ty đã cử hàng trăm đoàn đi công tác tới trên 20 nước trên thế giới nhằm khảo sát thị trường * Thông qua các nguồn thông tin từ các thương vụ Việt Nam tại nước ngoài, các Đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam, các trung tâm xúc tiến thương mại Sinh viên: Đinh Thị Dung 86Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera của các nước, các cơ quan xúc tiến thương mại của Việt Nam hoặc thông qua Bộ thương mại, phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam Hàng năm, Bộ thương mại, Bộ kế hoạch đầu tư cũng như các tổ chức kinh tế khác thường tổ chức các cuộc hội thảo nhằm nghiên cứu, đánh gía nhu cầu thị trường trên thế giới, giới thiệu những doanh nghiệp Việt Nam với nước ngoài, phân tích tình hình diễn biến thị trường…Đây cũng được coi là cơ hội cho các doanh nghiệp tìm kiếm và mở rộng thị trường. * Thông qua các trang Web thương mại điện tử trên Internet Đây cũng là một phương pháp tìm kiếm và mở rộng thị trường mà Tổng công ty thường sử dụng và khai thác trong những năm gần đây. Ưu điểm của phương pháp này chi phí thấp, có thể trực tiếp trao đổi với khách hàng về các điều mua bán như chất lượng, giá cả …. * Thông qua việc quảng cáo giới thiệu sản phẩm trên WEB của Tổng công ty Tổng công ty đã thực hiện quảng cáo, đưa thông tin về các sản phẩm, dịch vụ của Tổng công ty lên trên mạng, chủ yếu tập trung vào các trang, thư mục mua bán vật liệu xây dựng. Mặc dù hiện nay Tổng công ty đã có trang Web. Nhưng theo phản ánh của khách hàng nước ngoài thì việc truy cập vào trang Web của Viglacera rất khó khăn và mất nhiều thời gian, do đó Sinh viên: Đinh Thị Dung 87Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera hiệu quả chưa cao. Hiện nay, Tổng công ty đã có trang Web riêng của mình tại địa chỉ www. Viglacera.com.vn. *Thông qua các loại ấn phẩm trong và ngoài nước Qua các ấn phẩm như tạp chí, chuyên đề được xuất bản trong và ngoài nước, Tổng công ty có thể tìm kiếm được những khách hàng đang có nhu cầu với mặt hàng mà Tổng công ty đang kinh doanh. Trên cơ sở đó, Tổng công ty tiến hành những hoạt động giao dịch nhằm ký kết hợp đồng với khách hàng Bên cạnh đó Tổng công ty còn sử dụng kết hợp với một số phương pháp tìm kiếm và mở rộng thị trường khác nhằm bảo đảm mục tiêu đề ra. Từ các hình thức đó Tổng công ty tiến hành lựa chọn đối tác để đàm phán và thực hiện hợp đồng. 6.2. Thiết lập mạng lưới kênh phân phối Bên cạnh việc nghiên cứu thị trường thì Tổng công ty còn tiến hành xây dựng hệ thống đại lý văn phòng đại diện tại nước ngoài. Tổng công ty tìm kiếm khách hàng có tiềm năng tại các thị trường để tổ chức mạng lưới đại lý bán hàng. Tiến hành hợp tác bán hàng dưới nhiều hình thức như ký biên bản thoả thuận, hợp đồng đại lý bán hàng, môi giới ăn hoa hồng. Cụ thể, Viglacera đang triển khai lập văn phòng liên lạc, đại diện, đại lý tại các thị trường Hoa Kỳ, thiết lập đại diện và cử cán bộ sang thường trực ở Iraq, thành lập đại diện tại Rumani và một số nước Đông Âu, đại lý Sinh viên: Đinh Thị Dung 88Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera tiêu thụ tại Bruney. Trong thời gian tới Viglacera sẽ tiếp tục, thường xuyên liên lạc với các đối tác này chào hàng và trao đổi các thông tin về hàng hoá, triển khai xuất khẩu những lô hàng thử nghiệm đầu qua các đối tác này. Hiện nay, Viglacera đang tiến hành đàm phán thảo luận với một số đối tác và đối tác đã gửi cam kết về khả năng tiêu thụ các sản phẩm như sau:  Hãng Alglass Co là hãng của Hoa Kỳ có 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh đã gửi thư xác nhận có khả năng tiêu thụ 10.565 kiện kính trắng và 3.590 kiện kính màu.  Hãng Onehunga glass là hãng kinh doanh kính tại New Dilan và úc gửi thư xác nhận khả năng tiêu thụ 3.600 tấn kính tráng/1 tháng.  Tập đoàn UPI Singapo: Viglacera đang đàm phán thoả thuận hợp tác dưới hình thức đại lý tiêu thụ các sản phẩm gạch ceramic, granite với số lượng mỗi loại khoảng 50.000m2/1 năm thông qua hệ thống bán hàng của UPI tại các nước trên thế giới.  Công ty ASEUTRDE – Rumani, Viglacera đang đàm phán với hãng này dưới hình thức đại lý tiêu thụ các sản phẩm gạch ốp lát, sứ vệ sinh của Tổng công ty. Hãng ASEU Trade hiện đang đề nghị Tổng công ty gửi một vài Container hàng sang bán thăm dò thị trường dưới hình thức trả chậm sau bán hàng. Sinh viên: Đinh Thị Dung 89Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 6.3. Hình thức xuất khẩu (phương thức giao dịch xuất khẩu) Việc phân chia hình thức xuất khẩu chỉ mang tính tương đối, bởi lẽ trước đây chưa hình thành Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu thì mọi hoạt động liên quan đến xuất khẩu do phòng kinh doanh và xuất nhập khẩu Tổng công ty kết hợp với các đơn vị thành viên và một vài phòng ban khác của Tổng công ty thực hiện. Nhưng từ khi thành lập Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu thì việc tổ chức xuất khẩu đã thay đổi. Công ty này được giao cho nhiệm vụ kinh doanh và xuất nhập khẩu cho Tổng công ty. Năm 1999 khi Công ty đã đi vào hoạt động ổn định và làm ăn có hiệu quả. Công ty này đã thực hiện xuất khẩu uỷ thác cho một số đơn vị trong Tổng công ty về một số loại sản phẩm. Bên cạnh đó, Công ty còn thực hiện xuất khẩu các sản phẩm ngoài ngành. Riêng chỉ có Công ty gốm xây dựng Hữu Hưng là uỷ thác toàn bộ cho Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Một số các đơn vị còn lại thực hiện xuất khẩu trực tiếp và có kết hợp với Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu để đàm phán, ký kết thực hiện hợp đồng.... Bảng 13: Cơ cấu hình thức xuất khẩu của các đơn vị thành viên trong Tổng công ty Đơn vị: % Hình thức xuất TT 1999 2000 2001 2002 khẩu Sinh viên: Đinh Thị Dung 90Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 1 Trực tiếp 90,75 71,77 67,64 66,88 2 Uỷ thác 9,25 28,23 32,36 33,12 Tổng 100 100 100 100 Nguồn: Báo cáo xuất nhập khẩu của Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera Hình 5: Biểu đồ cơ cấu hình thức xuất khẩu của các đơn vị thành viên trong Tổng công ty 100 80 60 Uû th¸ c 40 TrùctiÕ p 20 0 1999 2000 2001 2002 Nguồn : Từ bảng 13 Cho đến nay, các đơn vị trong Tổng công ty đều đã ý thức được tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu và tiến hành thực hiện xuất khẩu các sản phẩm cuả mình ra thị trường nước ngoài nhằm giải quyết những khó khăn tại thị trường nội địa. Đồng thời tận dụng các cơ hội mà thị trường thế giới mang lại. Do có sự thay đôỉ trong hình thức xuất khẩu đối với các đơn vị thành viên, điều này góp phần cải thiện được kim ngạch xuất khẩu của Viglacera trong thời gian vừa qua. Việc giao cho một đơn vi chuyên trách với đội ngũ người lao động có chuyên môn nghiệp Sinh viên: Đinh Thị Dung 91Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera vụ đồng thời tận dụng được lợi thế về quy mô đã giúp cho kim ngạch xuất khẩu của Viglacera tăng lên đáng kể. Tuy còn non trẻ nhưng sự ra đời của Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu đã đánh dấu bước phát triển của Công ty trong công tác đối ngoại, mở rộng thị trường và tổ chức xuất khẩu. Mặc dù hình thức xuất khẩu có sự thay đổi đối với một số đơn vị thành viên trong Tổng công ty Viglacera. Nhưng đối với toàn Tổng công ty thì hình thức xuất khẩu vẫn là hình thức xuất khẩu trực tiếp ( xem bảng13). Năm 1999 là năm đầu tiên công ty kinh doanh xuất nhập khẩu đi vào hoạt động. Do vẫn còn gặp phải những khó khăn về nhân lực, vốn, vật chất...cho nên Công ty mới chỉ cùng các đơn vị thành viên trong Tổng công ty tìm hiểu khách hàng, đàm phán ký kết hợp đồng còn việc uỷ thác xuất khẩu cho các đơn vị khác còn ở mức thấp so với khả năng của Công ty 6.4. Đàm phán, ký kết hợp đồng Bên cạnh khâu nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối tác thì khâu đàm phán và thực hiện hợp đồng là khâu rất quan trọng trong nội dung hợp đồng xuất khẩu của Viglacera. Viglacera tiến hành đàm phán dưới nhiều hình thức.Với những đối tác có quan hệ làm ăn thân thiết có thể tin tưởng lẫn nhau thường tiến hành dưới Sinh viên: Đinh Thị Dung 92Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera hình thức thư tín, điện thoại. Nhưng có những đối tác thì trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu Sau quá trình giao dịch chào hàng, một vài yêu cầu mua hàng có khả năng đáp ứng sẽ được hai bên triển khai đàm phán và thoả thuận các điều khoản của hợp đồng ngoaị thương. Nội dung chính của hợp đồng (bằng tiếng Anh) và bao gồm các điều khoản chính thức như sau: 1.Mô tả đối tượng của hợp đồng 2.Quy cách chất lượng áp dụng của hàng hoá 3.Thời gian giao hàng. 4.Địa điểm giao hàng 5.Điều kiện đóng gói hàng 6.Điều kiện phạt thực hiện hợp đồng 7.Điều kiện trọng tài Sau khi kết thúc đàm phán và hợp đồng ngoại thương đã được soạn thảo kết quả phải được lập thành văn bản, đính kèm với bản thảo hợp đồng ngoại thương. Trường hợp kết quả và nội dung được lãnh đạo chấp nhận, việc đàm phán sẽ kết thúc và hợp đồng sẽ được hai bên ký qua Fax hoặc ký bản gốc để làm căn cứ cho việc thực hiện hợp đồng của hai bên. 6.5. Tổ chức thực hiện hợp đồng Khâu tổ chức thực hiện hợp đồng là khâu rất quan trọng trong nội dung của hoạt động xuất khẩu. Đây là Sinh viên: Đinh Thị Dung 93Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera quá trình nhằm xem xét quá trình thực hiện nghĩa vụ ràng buộc của hai bên trong hợp đồng ngoại thương. Như ở phần lý luận đã nêu khâu thực hiện hợp đồng bao gồm 10 bước nhưng ở đây ta chỉ phân tích các bước sau: * Tạo nguồn hàng xuất khẩu (chuẩn bị hàng xuất khẩu) Trong hoạt động xuất khẩu thì bảo đảm nguồn hàng xuất khẩu là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh sau này. Chuẩn bị hàng hoá ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hàng hoá xuất khẩu, tiến độ giao hàng, đến việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu, đến uy tín và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.  Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu Đây là việc quan trọng đầu tiên trong viêc tạo nguồn hàng xuất khẩu. Đối với Viglacera thì nguồn hàng là các đơn vị sản xuất trực thuộc vì vậy rất dồi dào, không bị chèn ép gía ở khâu này. Nhưng việc nghiên cứu nguồn hàng không chỉ đơn thuần là nghiên cứu số lượng hàng hóa, mà còn chủng loại, mẫu mã, chất lượng là rất quan trọng. Cũng phải xác định giá cả trong nước so với giá cả quốc tế, chi phí vận chuyển bảo quản.  Tổ chức thu gom hàng xuất khẩu Dựa vào các đơn đặt hàng của khách hàng, các đơn vị xuất khẩu sẽ căn cứ vào khả năng cung ứng hàng của mình từ đó mới quyết định việc chấp nhận đơn đặt Sinh viên: Đinh Thị Dung 94Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera hàng. Riêng đối với Công ty kinh doanh và xuất khẩu trực tiếp mua hàng của các đơn vị sản xuất thông qua hợp đồng mua bán. Hoặc ký hợp đồng uỷ thác xuất khẩu cho các đơn vị thành viên trong Tổng công ty Viglacera.  Bảo quản và xuất kho Hàng hoá sẽ được cất tại kho của đơn vị sản xuất thành viên hoặc tại kho của Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera. Xuất kho: khi đến hạn giao hàng xuất khẩu, Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu và các đơn vị thành viên của Viglacera tiến hành các công việc để xuất kho hàng hoá. Việc xuất kho giao hàng đòi hỏi phải đúng với thủ tục qui định phải đầy đủ các giấy tờ hợp lệ, các hoá đơn theo yêu cầu. Trước khi giao hàng các đơn vị tiến hành các công việc: - Đối chiếu lệnh xuất kho với hàng thực có trong kho. - Chuẩn bị các phương tiện, công cụ, nhân lực bốc xếp hàng. - Xác định địa điểm giao hàng. - Khi giao hàng Viglacera yêu cầu người xuất kho và người mua phải ký vào phiếu xuất kho hay giao hàng để xác nhận. * Nghiệp vụ giao hàng xuất khẩu Sau khi chuẩn bị hàng hoá đầy đủ. Các đơn vị tiến hành vận chuyển hàng hoá ra cảng và tiến hành bốc dỡ Sinh viên: Đinh Thị Dung 95Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera xuống cảng để hải quan kiểm định. Nhìn chung các đơn vị thường sử dụng điều kiện cơ sở giao hàng FOB nên chỉ chịu trách nhiệm đối với hàng hoá khi hàng hoá vượt qua lan can tàu tại cảng bốc qui định. Hoàn thành các thủ tục theo qui định. Sau đó tổ chức khai báo và giám định Hải quan. Giao hàng lên tàu và lấy vận đơn đường biển. * Nghiệp vụ thanh toán Trong thanh toán, các đơn vị của Viglacera thường áp dụng hình thức thanh toán bằng L/C. Đây là hình thức phổ biến trong kinh doanh xuất khẩu đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của người mua trong qúa trình thực hiện hợp đồng. 6.6. Đánh giá hiệu quả xuất khẩu của Viglacera Trong các phần trước đã tập trung phân tích hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty trên các phương diện như kim ngạch mặt hàng, thị trường… thì ở đây để đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả do hoạt động xuất khẩu đem lại. Dựa trên các số liệu thống kê của phòng kế toán của Tổng công ty cung cấp. Ta có bảng số liệu sau: Bảng 14: Các chỉ tiêu hiệu quả xuất khẩu của Viglacera Sinh viên: Đinh Thị Dung 96Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002 Doanh thu XK(USD) 1672972 2293972 3487132 5681890 Chi phí xuất khẩu(USD) 1605638 2195971 3317981 5392621 Lợi nhuận xuất 67334 98001 169151 289269 khẩu(USD) Tỷ suất ngoại tệ(lần) 1,042 1,045 1,051 1,054 Tỷ suất lợi nhuận 4,025 4,272 4,851 5,091 doanh thu(%) Tỷ suất lợi nhuận chi 4,194 4,463 5,098 5,364 phí(%) Nguồn: Phòng kế toán tổng công ty * Về lợi nhuận xuất khẩu Lợi nhuận xuất khẩu = Doanh thu xuất khẩu – Chi phí xuất khẩu Qua bảng số liệu trên ta thấy lợi nhuận xuất khẩu của Tổng công ty liên tục tăng qua các năm. Năm 1999 thu được 67334 USD đến năm 2002 đã thu đựợc 289269 USD lợi nhuận và gấp 4 lần so với năm 1999. Tốc độ tăng của lợi nhuận xuất khẩu lớn hơn tốc độ tăng lợi nhuận sản xuất kinh doanh nói chung. Điều này càng chứng minh được tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu đối với Tổng công ty Viglacera.Năm 1998, lợi nhuận xuất khẩu mới chỉ đạt ở mức 11038 USD. Trong năm 1999 đặc biệt trong giai đoạn đầu năm do ký kết được các hợp đồng cung cấp gach ngói xây dựng và sứ vệ sinh cho các công trình do VINACONEX xây dựng ở Nga, Ucraina, Trung Đông nên mức lợi nhuận tăng 510% so với năm 1998. Bên cạnh đó , năm 1999 là năm đầu tiên Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu đi vào hoạt động có hiệu quảcho nên Viglacera đã mở rộng được Sinh viên: Đinh Thị Dung 97Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera nhiều thị trường hơn, tiết kiệm chi phí xuất khẩu, tăng doanh số xuất khẩu từ đó làm cho lợi nhuận tăng lên đáng kể. *Về tỷ suất ngoại tệ: (hiệu quả kinh tế của xuất khẩu) Doanh thu xuất Tỷ suất khẩu = ngoại tệ Chi phí xuất khẩu Theo bảng trên ta thấy năm 1999, cứ 1 USD chi phí xuất khẩu của Viglacera đem lại 1,042 USD doanh thu. Năm 2000 đạt 1,045 USD và năm 2002 con số này đã lên tới 1,054 USD . Điều này phản ánh được hiệu quả xuất khẩu của Viglacera ngày càng tăng qua các năm. Tuy nhiên mức độ tăng vẫn còn ở tốc độ chậm so với khả năng củaTổng công ty *Về tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu  Tỷ suất sinh lợi doanh thu xuất khẩu Lợi nhuận xuất Tỷ suất sinh khẩu x lợi doanh thu = Doanh thu xuất 100% xuất khẩu khẩu Chỉ tiêu này cũng thay đổi tương ứng qua các năm. Năm 1999 cứ 100USD doanh thu xuất khẩu thì sẽ có lợi nhuận là 4,025 USD. Năm 2000 cứ 100 USD doanh thu xuất khẩu thì sẽ có lợi nhuận là 4,272 USD. Năm 2002 Sinh viên: Đinh Thị Dung 98Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera cứ 100 USD doanh thu xuất khẩu thì sẽ thu được 5,091USD lợi nhuận.  Tỷ suất sinh lợi chi phí xuất khẩu Lợi nhuận xuất Tỷ suất sinh khẩu x lợi chi phí = Chi phí xuất 100% xuất khẩu khẩu Chỉ tiêu này cũng thay đổi tương ứng với thay đổi của tỷ suất ngoại tệ. Năm 1999, cứ bỏ ra 100 USD xuất khẩu thì sẽ thu được 4,194USD lợi nhuận. Con số này tới năm 2002 cứ bỏ ra 100 USD sẽ thu được 5,364USD lợi nhuận. Qua các chỉ tiêu hiệu quả xuất khẩu của Viglacera ta thấy mặc dù lĩnh vực xuất khẩu đã đạt hiệu quả nhưng vẫn còn ở mức thấp. Điều này sự cần thiết phải đưa ra các giải pháp nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí xuất khẩu nhằm nâng cao quả xuất khẩu của Viglacera là hoàn toàn hợp lý. III. Đánh giá về hoạt động xuất khẩu của Viglacera 1. Những kết quả đạt được trong hoạt động xuất khẩu của Viglacera Với sự nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên và ban lãnh đạo Tổng công ty, qua thời gian hoạt động mặc dù gặp nhiều khó khăn song Tổng công ty đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tổng công ty Sinh viên: Đinh Thị Dung 99Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Viglacera đã xác định con đường để phát triển lâu dài là nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh công tác xuất khẩu nhằm tận dụng những cơ hội mà thị trường thế giới mang lại. * Kim ngạch xuất khẩu Tuy kinh ngạch xuất khẩu của Tổng công ty còn hạn chế về số lượng nhưng những năm vừa qua đã có bước tăng trưởng khá. Cụ thể từ 1,673 triệu USD năm 1999 đến năm 2002 đạt 5,682 triệu USD. Để có được kết quả như vậy ngoài việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã sản phẩm, Tổng công ty rất coi trọng việc theo dõi cũng như đánh giá các đặc điểm tự nhiên, đặc điểm kinh tế của các thị trường nước ngoài. * Mặt hàng xuất khẩu Trước đây, Tổng công ty mới chỉ thực hiện xuất khẩu một mặt hàng chính là sứ vệ sinh. Năm 1999 sản phẩm này chiếm 92,08% tổng kim ngạch xuất khẩu. Cho đến nay số lượng các mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng và tăng lên rất nhiều cả về số lượng các mặt hàng và doanh thu tiêu thụ, chất lượng các mặt hàng xuất khẩu. * Thị trường xuất khẩu Viglacera ngày càng mở rộng nhiều thị trường kinh doanh xuất khẩu với phương châm đa dạng hoá các thị trường. Hiện nay, Tổng công ty đang tiến hành chính sách marketing chủ động, không chờ đợi đơn đặt hàng Sinh viên: Đinh Thị Dung 100Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera từ khách hàng mà tự mình tìm kiếm khách hàng và thị trường để tiến hành tổ chức giới thiệu, đưa sản phẩm của mình tiếp cận với các thị trường đó. Kết quả của những cố gắng đó đã phần nào cải thiện được tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu nói chung. *Tổ chức xuất khẩu Việc Tổng công ty tách phòng kinh doanh xuất nhập khẩu của Tổng công ty thành Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu là hoàn toàn hợp lý do nó phù hợp với nhu cầu thị trường và tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Sau khi ra đời thì công ty đã cùng với các đơn vị thành viên, phòng marketing tìm hiểu nghiên cứu thị trường, đàm phán ký kết với các đối tác nước ngoài, lập các chương trình xuất nhập khẩu có hiệu quả. Từ đó, hoạt động xuất nhập khẩu có hiệu quả hơn do việc giao cho một đơn vị chuyên trách có chuyên môn nghiệp vụ sẽ tiết kiệm được chi phí, tăng doanh thu xuất khẩu, thị trường và mặt hàng xuất khẩu của Tổng công ty. Ngoài những kết quả về doanh số và doanh thu kể trên, thời gian vừa qua Viglacera còn đạt một số thành tích đáng kể như: Đầu năm 2002, Viglacera đã thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu với ngân quỹ 3 tỷ đồng nhằm huy động sức mạnh toàn Tổng công ty đẩy mạnh công tác xuất khẩu. Tổng công ty đã thành lập 2 chi nhánh tại Nga, Mỹ, hai chi nhánh này sắp tới sẽ là những đầu mối phân Sinh viên: Đinh Thị Dung 101Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera phối quan trọng trong chiến lược xuất khẩu của Tổng công ty. Đồng thời lập được một số kênh phân phối thông qua các đối tác và văn phòng đại diện của Viglacera nhằm nâng cao thương hiệu tạo lập uy tín với khách hàng trên thị trường thế giới. 2. Những mặt tồn tại và nguyên nhân 2.1 Những mặt tồn tại Bên cạnh những kết quả đạt được về xuất khẩu thì vẫn còn những tồn tại những mặt hạn chế như sau: Thứ nhất: Mặc dù có sự tăng trưởng trong xuất khẩu hàng năm nhưng số lượng sản phẩm và doanh thu xuất khẩu vẫn còn ở mức thấp, sản phẩm chủ yếu xuất khẩu là sứ vệ sinh chiếm 60,703% trong khi những sản phẩm mũi nhọn khác của Viglacera như gạch ceramic, gạch granit...mới chỉ được quan tâm xuất khẩu trong một vài năm gần đây nên số lượng còn ít. Tổng công ty vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của các đơn vị thành viên. Theo đánh giá hiện nay, sản xuất của các đơn vị trực thuộc đặc biệt là các nhà máy sản xuất vẫn chưa đạt công suất thiết kế. Cho đến cuối năm 2002 trừ các sản phẩm sứ Thanh trì vừa được xuất với một lượng lớn sang thị trường Irắc, các sản phẩm còn lại chỉ được xuất với một lượng nhỏ cho một số khách hàng. Do đó chưa phản ánh được tiềm lực xuất khẩu của Viglacera và hiện tại chưa được coi là lối đi mở cho sản xuất và tiêu thụ trong nước. Sinh viên: Đinh Thị Dung 102Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Thứ hai: Mạng lưới tiêu thụ trên thị trường quốc tế chưa ổn định và bền vững. Viglacera mới chỉ có rất ít thị trường truyền thống cũng như việc mở rộng thị trường xuất khẩu còn yếu. Thứ ba: Mặc dù hoạt động thúc đẩy xuất khẩu đã được Tổng công ty quan tâm chú ý nhưng vẫn chưa đúng mức và chưa đồng bộ đối với các đơn vị thành viên trong Tổng công ty. Viglacera hoàn toàn có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu nếu công tác thúc đẩy xuất khẩu được chú trọng hơn nữa. Ví dụ Vigacera mới kinh doanh sản phẩm khác từ năm 2000 trở lại đây nhưng tỷ trọng cũng chiếm 20,146% trong toàn bộ doanh thu xuất khẩu của toàn Tổng công ty. Đây không phải là các sản phẩm do các đơn vị thành viên sản xuất mà là các sản phẩm thương mại do Công ty Kinh doanh xuất nhập khẩu mua trên thị trường nội địa sau đó bán cho các bạn hàng nước ngoài nhằm mục tiêu thu lợi nhuận. Thứ tư: Theo phản ánh của khách hàng nước ngoài trong thời gian vừa qua, các sản phẩm của Viglacera nhìn chung còn thiếu tính cạnh tranh cả về mẫu mã và chất lượng. Tuy chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn Châu Âu, nhưng các mặt hàng sứ vệ sinh và gạch ốp lát còn chậm trong khâu đổi mới mẫu mã, hoa văn, màu sắc cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Giá bán sản phẩm của Viglacera hiện nay nhìn chung còn cao hơn các nước khác trong khu vực. Sinh viên: Đinh Thị Dung 103Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Thứ năm: Thời gian vừa qua việc triển khai xuất khẩu của các đơn vị còn rất manh mún, cục bộ và mang tính bị động. Đồng thời việc thực hiện các hợp đồng bán hàng còn nhiều bất cập như việc xử lý và phản hồi thông tin còn chậm, một số trường hợp giao hàng chưa đúng tiến độ, đóng gói bảo quản hàng trước khi giao còn chưa đáp ứng được yêu cầu. Thứ 6: Mặc dù hoạt động kinh doanh xuất khẩu đã có hiệu quả nhưng vẫn còn ở mức thấp. Các chỉ tiêu hiệu quả xuất khẩu như: lợi nhuận xuất khẩu, hiệu quả kinh tế của xuất khẩu…có xu hướng tăng dần qua các năm nhưng mức độ tăng còn yếu. Lợi nhuận xuất khẩu năm 2002 là 289269 USD chỉ chiếm 5,091% doanh thu xuất khẩu. Điều này chứng tỏ chi phí dành cho xuất khẩu của Viglacera là rất cao và làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. 2.2. Nguyên nhân Mặc dù đạt được một số kết quả nhất định, nhưng những thành tích, kết quả những thuận lợi như trên còn rất nhỏ so với quy mô và tầm vóc lớn mạnh của Viglacera. Còn rất nhiều những nguyên nhân khách quan cũng như những mặt hạn chế chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả và sản lượng xuất khẩu của Viglacera trong thời gian qua, có thể kể đến như sau: *Nguyên nhân chủ quan  Do phải chấp nhận nhập khẩu nhiều nguyên liệu để phục vụ sản xuất, cộng thêm việc tăng cường khấu Sinh viên: Đinh Thị Dung 104Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera hao máy móc thiết bị nên giá cả sản phẩm của Viglacera còn cao, kém sức cạnh tranh so với các hãng trong và ngoài nước.  So với các nhà sản xuất trong khu vực và trên thế giới, các đơn vị sản xuất của Viglacera còn tương đối non trẻ cả về thâm niên hoạt động cũng như kinh nghiệm sản xuất và xuất khẩu. Vì những lý do này, một mặt sản phẩm của Viglacera có nhiều hạn chế về chất lượng, hình thức đặc biệt giá cả. Mặt khác công tác thực hiện xuất khẩu còn chưa hiệu quả và thiếu tính chuyên nghiệp, đội ngũ làm công tác xuất khẩu còn mỏng và ít tiếp xúc với hoạt động thực tiễn.  Do mỗi đơn vị chỉ quan tâm xuất khẩu mặt hàng của mình, do vậy hoạt động marketing xuất khẩu đến nay còn rất thiếu tính đồng bộ. Đặc biệt sự phối hợp giữa các bộ phận, các đơn vị thành viên trong Tổng công ty chưa chặt chẽ, chưa tạo nên một sức mạnh tập thể để có thể phát huy tối đa khả năng và các cơ hội phát triển thị trường thế giới.  Do Viglacera chưa có một chiến lược cụ thể nhằm quảng cáo, giới thiệu và nâng cao uy tín, thương hiệu Viglacera trên thị trường thế giới cũng như chưa có một chiến lược tổng thể dài hạn cho hoạt động xuất khẩu các sản phẩm Viglacera.  Do công tác nghiên cứu thị trường xuất khẩu của Tổng công ty mới được chú trọng nên bước đầu đạt Sinh viên: Đinh Thị Dung 105Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera được hiệu quả chưa cao. Tuy tiến hành từ năm 1995 đến nay nhưng do kinh nghiệm còn yếu nên chưa đạt hiệu quả cao.  Do Viglacera gặp phải những khó khăn về vận tải trong xuất khẩu. Các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia đã phát triển ngành sản xuất VLXD, từ những năm 1980 trong khi Việt Nam mới chỉ phát triển ngành này trong vòng 7-8 năm trở lại đây. Đặc trưng chung của ngành sản xuất VLXD là giá cước vận tải xuất khẩu thường từ 40 –60% giá xuất khẩu. Nếu xét về lợi thế so sánh khi cùng xuất khẩu sản phẩm sang một nước thứ 3. Ngoài giá bán (FOB) của các nước này thấp thì chi phí cho vận tải tới nước nhập khẩu cũng thấp hơn rất nhiều do đó càng có lợi thế cạnh tranh cao về giá. Có thể đưa ra một ví dụ cụ thể, hiện nay nếu muốn xuất khẩu gạch ốp lát sang Hoa Kỳ thì cước vận tải cho 1 Container 20’ khoảng 1800USD/cho 1200m2 gạch ceramic hoặc granite trong khi đó giá cước vận tải từ các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia chỉ ở mức 1200-1400 USD/con/20’. Như vậy, tổng giá trị sản phẩm của các nước này thấp hơn nhiều so với Việt Nam. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm của Viglacera trên thị trường thế giới. *Nguyên nhân khách quan Sinh viên: Đinh Thị Dung 106Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Do Nhà nước còn hạn chế trong việc ưu đãi hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc quảng bá, giới thiệu sản phẩm ở thị trường nước ngoài. Hiện nay việc quảng bá giới thiệu sản phẩm của Việt Nam ra thị trường nước ngoài còn nhiều hạn chế, hầu hết các doanh nghiệp tự chủ động tiến hành thông qua các kỳ hội chợ triển lãm nước ngoài, qua mạng thông tin, Internet với qui mô nhỏ, manh mún, chưa có chiến lược lâu dài và ổn định.  Do Vigalcera vẫn phải chịu một khoản chi phí khá lớn như các chi phí quảng bá, giới thiệu sản phẩm, các chi phí nội địa liên quan đến lô hàng xuất khẩu như: Vận chuyển, thủ tục hải quan, nâng hạ tại cảng, phí cầu đường… còn rất cao và chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sản phẩm xuất khẩu. Đồng thời Nhà nước chưa có một cơ chế lâu dài và ổn định về hỗ trợ giá xuất khẩu cho một số ngành hàng trong đó có hàng VLXD.  Do các doanh nghiệp gặp phải những khó khăn như thủ tục vay vốn phức tạp, lãi suất tín dụng còn cao. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến giá thành xuất khẩu của Tổng Công ty.  Một trong những vấn đề còn hạn chế hiện nay là mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các cơ quan chức năng của chính phủ như Cục xúc tiến thương mại và các tham tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài còn chưa thông suốt, đôi khi thông tin chưa kịp thời, Sinh viên: Đinh Thị Dung 107Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera chậm chễ và chưa hiệu quả. Điều này rất khó cho các doanh nghiệp khi sử dụng các thông tin về thị trường nước ngoài. Nhìn chung, tuy đã đạt được những kết quả khá khả quan trong hoạt động xuất khẩu, nhưng do những nguyên nhân khách quan và chủ quan nên vẫn còn khá nhiều tồn tại cần khắc phục. Qua những phân tích trên chúng ta thấy cần phải có định hướng một chiến lược tập trung để tạo nên một phong trào chung đẩy mạnh công tác xuất khẩu của toàn Tổng công ty một cách đồng bộ và có trọng điểm. Qua đó có thể giảm thiểu những khả năng bất cập trong quá trình thực hiện. Đồng thời phát huy sức mạnh tiềm năng trong Tổng công ty Viglacera. Như vậy việc thống nhất từ đường lối tư tưởng chỉ đạo, phương hướng và phương pháp tiến hành từ lãnh đạo Tổng công ty tới các bộ phận chức năng của các đơn vị thành viên để đạt được các mục tiêu cụ thể là hết sức cần thiết. Điều này cũng phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước và phù hợp với xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường trong tiến trình hội nhập. Sinh viên: Đinh Thị Dung 108Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Chương III Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Viglacera I. Phương hướng hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Viglacera trong thời gian tới 1. Phương hướng chung của Tổng công ty trong thời gian tới Trong những năm qua, Tổng công ty đã đạt được những thành tựu to lớn, các sản phẩm của Tổng công ty đa dạng, phong phú được thị trường chấp nhận. Một số năm gần đây do thị trường vật liệu của Việt Nam có biến đổi và cạnh tranh dữ dội, nhiều mặt hàng cung vượt quá cầu, hàng ngoại nhiều với chất lượng cao và giá thành hợp lý, nên nhiều sản phẩm của Viglacera tiêu thụ chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Viglacera. Trong thời gian tới những tồn tại và khó khăn sẽ vẫn còn tiếp tục có những ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Lập chương trình phát triển của Tổng công ty từ năm 2003 đến 2010 là nhiệm vụ cấp bách để phát triển của Tổng công ty phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và để phát triển Tổng công ty thành một tập đoàn kinh tế mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường vật liệu xây dựng tương lai. Để hoàn thành kế hoạch của mình và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Tổng công ty Sinh viên: Đinh Thị Dung 109Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera đã chủ động xác định những tồn tại khó khăn cần được khắc phục, các thách thức cần phải vượt qua đồng thời vạch ra phương hướng cụ thể cho mình trong thời gian tới như sau: Thứ nhất: Tiếp tục duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng ở trong nước đặc biệt là thị trường nông thôn, đối với các mặt hàng chính, Tổng công ty quyết tâm thực hiện các chỉ tiêu sau: ♦ Sứ vệ sinh: 40% thị phần nội địa ♦ Gạch granite : 100% thị phần nội địa ♦ Gạch ceramic: 20 % thị phần nội địa ♦ Kính gương các loại: 80% thị phần nội địa ♦ Vật liệu chịu lửa: 100% thị phần nội địa ♦ Gạch gói thông dụng: 60% thị phần nội địa Tốc độ tăng trưởng tổng giá trị sản lượng toàn Viglacera trung bình hàng năm giai đoạn 2001 đến 2005 là 28%, giai đoạn 2006 đến 2010 là 14% với số lượng cụ thể như sau: ♦ Gạch ốp lát ceramic: 20- 22 triệu m2/năm ♦ Gạch ốp lát granite: 8-11 triệu m2/năm ♦ Sứ vệ sinh: 1- 1,3 triệu sp/năm ♦ Kính xây dựng: 25 triệu m2/ năm ♦ Vật liệu chịu lửa: 33.000 tấn/ năm Sinh viên: Đinh Thị Dung 110Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera ♦ Sản phẩm từ đất sét nung: 700.000- 800.000 tấn/ năm Thứ hai: Tăng cường đầu tư công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm để có thể chủ động tiêu thụ sản phẩm, thu hồi và quay vòng vốn nhanh, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn. Đồng thời tranh thủ mọi thời cơ để có thể đi tắt vào các công nghệ và sản phẩm tiên tiến nhất. Thứ ba: Tăng cường công tác quản lý tài chính, tiết kiệm trong sản xuất, sử dụng vốn có hiệu quả. Tiếp tục tăng cường công tác cổ phần hóa doanh nghiệp. áp dụng chế độ ký kết hợp đồng lao động và động viên người lao động làm tốt công tác và nhiệm vụ được giao. Củng cố và nâng cao hiệu qủa kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, thực hiện tích tụ và tập trung vốn, chuyên môn hoá sâu và rộng, đi đầu trong công cuộc hiện đại hoá và công nghiệp hoá trong sản xuất vật liệu thuỷ tinh và gốm xây dựng. Thứ tư: Phát triển đa dạng hoá các sản phẩm vật liệu thuỷ tinh và gốm xây dựng nhưng mũi nhọn tập trung là các sản phẩm có chất lượng cao, giá trị lớn, các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu một cách có hiệu qủa, các sản phẩm làm nguyên liệu để phát triển các loại vật liệu mới trong tương lai, đồng thời sản xuất các mặt hàng có khả năng xuất khẩu cao ra thị trường nước ngoài. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị Sinh viên: Đinh Thị Dung 111Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera trường xuất khẩu, thiết lập mối quan hệ làm ăn lâu dài với các thị trường có tiềm năng tiêu thụ lớn như Bắc Mỹ, EU.. Thứ năm: Tăng cường công tác đánh giá lựa chọn và thẩm định dự án đầu tư thực sự có thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra với hiệu quả kinh tế cao, không dàn trải việc đầu tư, gây căng thẳng cho công tác trả nợ, dần chuyển hướng đầu tư sang lĩnh vực xây dựng dân dụng, nhà ở, cơ sở hạ tầng và khu công nghiệp. Thứ sáu: Nâng cao hiệu quả liên doanh, liên kết, đa dạng hoá các quan hệ hợp tác kinh tế và kỹ thuật, tạo công ăn việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho người lao động. Phát triển sản xuất phải đảm bảo bền vững, lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu phấn đấu đồng thời phải gắn liền với hiệu quả xã hội, bảo vệ tốt tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái và đảm bảo an ninh quốc phòng. Thứ bảy: Phát triển Viglacera trên cơ sở nền tảng là phát huy nội lực và lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bền vững. Đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài tận dụng để các nguồn lực chất xám của các viện nghiên cứu và các trường đại học. 2. Phương hướng hoạt động xuất khẩu của Viglacera trong thời gian tới Đối với lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, Tổng công ty đặt ra những mục tiêu riêng phù hợp với các mục tiêu Sinh viên: Đinh Thị Dung 112Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera chung trong phương hướng phát triển của mình, cụ thể là: Thứ nhất: Phát triển và mở rộng hơn nữa thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu bằng cách tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, cụ thể kết hợp và đa dạng hóa các hình thức quảng cá, khuyến mại, bên cạnh đó mở rộng hệ thống tiêu thụ sản phẩm tại các thị trường nước ngoài. Thứ hai: Tăng cường đầu tư vào nghiên cứu, cải tiến mẫu mã sản phẩm, chủ động thực hiện chào hàng sang những thị trường mới thông qua những đại diện trực tiếp hay các đối tượng trung gian. Cơ cấu lại mặt hàng xuất nhập khẩu với tỷ trọng thích hợp, chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực có lợi nhuận cao. Đồng thời, giảm bớt việc nhập ngoại các trang thiết bị, vật tư và nguyên liệu sản xuất mà trong nước có thể đáp ứng nhằm giảm giá thành sản phẩm xuất khẩu. Thứ ba: Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác marketing và tiếp cận các đối tượng khách hàng khác nhau thông qua các cuộc triển lãm ở nước ngoài, thông qua các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài và một số văn phòng xúc tiến thương mại tại Việt Nam. Đầu tư hỗ trợ các công cụ cần thiết trong nghiên cứu thị trường và giao dịch như kết nối mạng internet, lập văn phòng đại diện và đại lý tại một số thị trường trọng điểm. Cần chú ý nghiên cứu sâu sát hơn các thông tin về sản Sinh viên: Đinh Thị Dung 113Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera phẩm hàng hoá, đảm bảo trả lời cho phía khách hàng một cách nhanh chóng và chính xác. Căn cứ vào tốc độ đầu tư và phát triển sản xuất của Tổng công ty và các đơn vị thành viên, sẽ xác định được tổng doanh thu và doanh thu xuất khẩu của Viglacera từ năm 2002- 2005 như sau: Bảng 15: Doanh thu xuất khẩu tới năm 2005 Đơn vị: tỷ VNĐ TT Sản phẩm 2003 2004 2005 1 Kính xây dựng 32,5 82,81 91,68 2 Sứ vệ sinh 23,1 35,1 42,24 3 Gạch ốp lát 14,9 27,36 45 ceramic 4 Gạch ốp lát 7,7 15 25,83 granite 5 Vật liệu chịu lửa 0,2 0,42 0,45 6 Ngói lợp các loại 1,4 0,68 1,28 7 Gạch lát đất sét 1,2 1,2 1,04 nung 8 Gạch xây quy tiêu 0,3 0,35 0,8 chuẩn 9 Gạch cotto 2 7,04 14 10 Sản phẩm khác 35 40 50 Tổng 118,3 210 272,3 Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Viglacere năm 2005 Tóm lại, mục tiêu của Viglacere về chỉ tiêu kế hoạch doanh thu xuất khẩu qua các năm như sau: ♦ Năm 2003: 118,3 tỷ đồng tương đương 7,63 triệu USD bằng 4,2% tổng doanh thu. Sinh viên: Đinh Thị Dung 114Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera ♦ Năm 2004: 210 tỷ đồng tương đương 13,5 triệu USD bằng 5,3% tổng doanh thu ♦ Năm 2005: 272,3 tỷ đồng tương đương 17,54 triệu USD bằng 7,1% tổng doanh thu. Ghi chú: Dự tính tỷ giá trung bình 1 USD = 15.500 VNĐ. Thứ tư: Trong thời gian tới Viglacera sẽ lập ra một bảng giá chuẩn và thống nhất giữa tất cả các đơn vị trong Tổng công ty cho tất cả các loại sản phẩm, tránh hiện tượng lộn xộn về giá cả hoặc những cạnh tranh nội bộ có thể phát sinh giữa các đơn vị thành viên. Đồng thời có các giải pháp khuyến khích xuất khẩu một cách đồng bộ và toàn diện đối với mọi đơn vị trong Tổng công ty. Thứ năm: Phải xây dựng tên tuổi thương hiệu và uy tín của Viglacera và các sản phẩm của Viglacera trên thị trường thế giới. Đồng thời, xây dựng một bộ máy chuyên làm công tác xuất khẩu có kiến thức giỏi ngoại ngữ, có năng lực tự tin trong các mối quan hệ đối ngoại. Muốn đạt được các mục tiêu lớn nêu trên, Viglacere cần có những giải pháp cụ thể để cho hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu của Tổng công ty. Sinh viên: Đinh Thị Dung 115Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera II. Giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Tổng công ty Viglacere 1. Xây dựng giá bán Nhân tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong cạnh tranh trên thị trường là giá bán sản phẩm. Bên cạnh yếu tố chất lượng tốt thì giá bán phải hợp lý thì sản phẩm mới có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới. Giá cả là một vấn đề mang tính mấu chốt trong bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, dù là tiêu thụ nội địa hay xuất khẩu. Do điều kiện giá xuất khẩu của Viglacera còn cao hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực nên việc xây dựng giá bán cho các đơn vị thành viên trong Tổng công ty là hoàn toàn hợp lý. Việc định giá xuất khẩu phải được tính toán dựa trên giá bán trên thị trường thế giới. Trong khi mức giá này nhìn chung thường thấp hơn mức giá nội địa, tuỳ từng thị trường mà mức độ chênh lệch khác nhau. Việc nghiên cứu đưa ra một bảng giá xuất khẩu hợp lý và công khai đối với mỗi sản phẩm trên cơ sở mức giá sàn được Tổng công ty phê duyệt là hết sức cần thiết. Đồng thời áp dụng biện pháp nhằm giảm chi phí sản xuất, qua đó giảm giá bán sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong một số trường hợp, cần tính đến khả năng giảm giá bán xuống bằng hoặc thấp hơn chi phí sản xuất để chiếm lĩnh một số thị trường trọng điểm. Do điều kiện giá chào của Viglacera hiện nay còn quá cao so với giá bán các sản phẩm cùng Sinh viên: Đinh Thị Dung 116Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera loại trên thế giới. Trên cơ sở biểu giá này, phòng Marketing công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu cũng như mỗi đơn vị sản xuất sẽ có thể chủ động và linh hoạt chào hàng cho các đối tượng khách hàng khác nhau, tuỳ từng thị trường và điều kiện thương mại cụ thể. Để giải quyết vấn đề trên cần thực hiện một số giải pháp như sau:  Các đơn vị có trách nhiệm xây dựng giá sàn xuất khẩu của đơn vị mình dựa trên các yếu tố sau: - Giá bán các sản phẩm cùng loại trên thế giới - Hạch toán trên nguyên tắc cân bằng tài chính của doanh nghiệp dựa trên tỷ trọng của sản lượng xuất khẩu trong toàn bộ sản lượng của đơn vị theo phương châm lấy số đông bù số ít, lấy nội địa bù cho xuất khẩu. - Căn cứ vào từng khu vực thị trường cụ thể, thậm chí vào từng khách hàng cụ thể, kết hợp giữa mục tiêu ngắn hạn và dài hạn để có những quyết định về giá mạnh bạo, quyết đoán nhằm thâm nhập cho bằng được thị trường mục tiêu đã định.  Căn cứ vào đề xuất của các đơn vị thành viên, Tổng công ty sẽ phê duyệt một bảng giá sàn thống nhất theo giá FOB. Các đơn vị khi tiến hành chào hàng xuất khẩu cơ bản sẽ dựa vào bảng giá sàn do Tổng công ty ban hành. Trong các trường hợp cần Sinh viên: Đinh Thị Dung 117Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera thiết đã nêu ở trên, đơn vị nào cần thiết bán dưới giá sàn thì phải có giải trình cụ thể.  Bên cạnh việc hỗ trợ lãi suất xuất khẩu và các chính sách khác của nhà nước, Tổng công ty cần tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hơn nữa việc huy động quỹ hỗ trợ xuất khẩu để hỗ trợ thời gian đầu cho các mặt hàng chủ lực của Tổng công ty. Việc xây dựng giá sàn xuất khẩu nhằm mục hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời tránh được sự cạnh tranh giữa các đơn vị thành viên của Tổng công ty tại thị trường nước ngoài. Nếu vệc thực hiện tốt giải pháp này sẽ giúp cho Tổng công ty có một bảng giá sàn thống nhất, hợp lý hơn từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của Viglcera trên thị trường thế giới . 2. Xây dựng cơ cấu tổ chức Một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt động kinh doanh xuất khẩu nói riêng là mô hình tổ chức của công ty đó có phù hợp với môi trường kinh doanh hay không. Theo đánh giá của Tổng công ty thì sự phối hợp giữa các bộ phận, đơn vị thành viên trong Tổng công ty chưa chặt chẽ, chưa tạo lên một sức mạnh tập thể để có thể phát huy tối đa những khả năng và các cơ hội phát triển thị trường thế giới. Do đó Viglacera Sinh viên: Đinh Thị Dung 118Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera cần phải xây dựng cho mình một mô hình tổ chức thích hợp như sau: 2.1. Phòng Marketing Tổng công ty  Phòng Marketing là một bộ phận theo dõi chung toàn bộ hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Viglacere, thường xuyên cập nhật và nghiên cứu thông tin nhằm tham mưu cho Tổng giám đốc và Ban lãnh đạo Tổng công ty về việc xây dựng điều chỉnh và triển khai chiến lược xuất khẩu của toàn bộ các đơn vị, thành viên trong Tổng công ty.  Có nhiệm vụ tập hợp và báo giá sàn xuất khẩu của các đơn vị và trình lãnh đạo Tổng công ty phê duyệt một biểu giá sàn thống nhất cho tất cả các sản phẩm của Tổng công ty. Hàng tháng tập hợp một số thông tin cơ bản về hoạt động xuất khẩu của các đơn vị thành viên như: sản phẩm và thị trường, số lượng sản phẩm, giá bán, tổng giá trị xuất khẩu báo cáo lên lãnh đạo Tổng công ty.  Có nhiệm vụ khai thác thông tin thị trường từ mạng Internet, tạp chí và các nguồn thông tin khác. Có nhiệm vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại các quốc gia có tiềm năng xuất khẩu, thu thập thông tin về giá cước vận tải của các hãng tới các khu vực trên thế giới và thông tin xuất khẩu cần thiết khác cung cấp cho các đơn vị khi cần. Sinh viên: Đinh Thị Dung 119Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo các hoạt động của các chi nhánh văn phòng đại diện của Tổng công ty tại nước ngoài.  Chủ trì và phối hợp với các đơn vị thành viên, các chi nhánh thực hiện công tác quảng cáo thương hiệu và sản phẩm của Viglacere tại thị trường nước ngoài: hội chợ, trên mạng, tạp chí, bảng biểu...  Thực hiện các nhiệm vụ được giao khác về công tác xuất khẩu. 2.2. Các đơn vị thành viên:  Các đơn vị thành viên có sản phẩm có khả năng xuất khẩu phải thành lập phòng ban, tổ xuất khẩu, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc công ty. Các công ty cần phải có bộ phận xuất khẩu gồm:  Công ty Thạch Bàn (đã có)  Công ty sứ Thanh Trì (đã có)  Công ty gạch ốp lát Hà Nội (đã có)  Công ty gốm xây dựng Hạ long  Công ty kính Đáp Cầu  Công ty gạch granite Tiên Sơn  Công ty gạch men Thăng Long (đã có)  Công ty gốm xây dựng Hữu Hưng  Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu (đã có) Sinh viên: Đinh Thị Dung 120Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Công ty sứ Việt Trì  Công ty gốm xây dựng Xuân Hoà  Xây dựng bảng giá sàn của đơn vị từ đầu năm cùng với kế hoạch sản xuất kinh doanh và được nằm trong cân đối tài chính chung của doanh nghiệp. Báo cáo tổng công ty khi cần thay đổi bảng giá sàn trong quá trình thực hiện.  Chủ động tìm kiếm giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu với các đối tác.  Phối hợp với các phòng Marketing và các đơn vị thành viên khác thực hiện các công việc khai thác thông tin như: khai thác thông tin thị trường từ mạng internet, tạp chí và nguồn thông tin khác.  Có nhiệm vụ phối hợp với phòng Marketing đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá tại các quốc gia có tiềm năng xuất khẩu.  Phối hợp với phòng Marketing và các đơn vị thành viên khác, các chi nhánh thực hiện công tác quảng cáo thương hiệu và sản phẩm của Các đơn vị thành viên tại thị trường nước ngoài. 3. Phân công quản lý thị trường và sản phẩm Bên cạnh việc nghiên cứu thị trường thì phân công quản lý thị trường là việc làm hết sức cần thiết. Viglacera cần phải xác định được đâu là thị trường trọng điểm mà Viglacera nên thâm nhập trong thời gian tới và sản phẩm nào sẽ là sản phẩm trọng điểm đem Sinh viên: Đinh Thị Dung 121Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera thâm nhập vào các thị trường thế giới. Trên thực tế, mạng lưới tiêu thụ các sản phẩm xuất khẩu của Viglacera chưa ổn định và thiếu tính bền vững. Số lượng các thị trường truyền thống còn rất ít cũng như việc mở rộng thị trường còn yếu. Để việc phân công quản lý thị trường và sản phẩm được cụ thể và đạt hiệu quả, cần phải xác định được các yếu tố cụ thể sau: 3.1. Xác định thị trường trọng điểm Căn cứ vào tình hình thực tế kinh doanh của Viglacera có thể chia thị trường thế giới thành các khu vực như sau: *Khu vực Nam á và Đông Nam á Bao gồm Campuchia, Lào, Malaysia, Mianma, Bangladesh, Philipin... Đây là thị trường gần với Việt Nam nên có rất nhiều nét tương đồng về thị hiếu tiêu dùng cũng như lợi thế trong việc giảm chi phí vận chuyển hàng. Với những thị trường này, triển vọng xuất khẩu các sản phẩm VLXD của Viglacera như gạch granite, ceramic, sứ vệ sinh, kinh xây dựng là rất khả quan và có thể coi là một trong những khu vực thị trường trọng điểm nhất trong thời gian tới. Do vậy, Tổng công ty nên thành lập văn phòng đại diện bán hàng hoặc một số đại lý tại các nước ở khu vực này. *Khu vực Bắc và Trung cận Đông Sinh viên: Đinh Thị Dung 122Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Bao gồm Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Iran, Irắc, Pakistan... Cho đến thời điểm hiện nay, những sản phẩm có triển vọng và đã được xuất khẩu sang thị trường Bắc và Trung cận Đông là kính xây dựng, sứ vệ sinh, gạch đỏ, gạch samot trang trí... Đặc biệt đối với một số thị trường Trung Đông như: Irắc, Iran, Pakistan, Afganistan.. các sản phẩm sứ vệ sinh, gạch ốp lát ceramic, gạch chịu lửa cũng có khả năng thâm nhập bởi đây là những thị trường có nhiều lợi thế trong bán hàng: chi phí bán hàng, thuế nhập khẩu ở mức tương đối, tỷ trọng sản phẩm nhập khẩu lớn.. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực thiếu tính ổn định về tài chính, thương mại do ảnh hưởng của nhiều biến động về chính trị, xã hội như cấm vận, chiến tranh, khủng bố... nên việc nghiên cứu tiếp cận thị trường cần hết sức thận trọng. Đặc biệt Hàn Quốc là thị trường nhiều tiềm năng thực tế với tiềm lực kinh tế phát triển và nhu cầu xây dựng rất lớn. Thời gian gần đây số lượng khách hàng quan tâm tới sản phẩm gạch ceramic, gạch granite, kính xây dựng của Viglacera từ Hàn Quốc tăng khá nhanh. Đồng thời thị trường Đài Loan cũng được đánh giá là một thị trường nhiều triển vọng đối với việc tiêu thụ và xuất khẩu các sản phẩm gốm sứ xây dựng như: gạch đỏ, gạch ceramic, gạch chịu lửa... của Viglacera. Ngoài ra, so với một số thị trường trong Sinh viên: Đinh Thị Dung 123Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera khu vực đây là thị trường có nhiều lợi thế tiềm năng như nhu cầu lớn, giá vận chuyển rẻ, thuế nhập khẩu thấp... * Khu vực Đông Âu Bao gồm Nga, Ucraina, Ba lan, Rumani, Nam tư... Để có thể xuất khẩu vào những thị trường này, các sản phẩmVLXD Viglacera đang và sẽ phải đối mặt bởi một số khó khăn như: phải chịu chi phí vận chuyển lớn, thuế nhập khẩu cao, phí Hải quan cao, đồng thời phải cạnh tranh với các sản phẩm chất lượng cao, giá cả cạnh tranh của các nhà sản xuất Italia, Tây Ban Nha, những nhà xuất khẩu được hưởng chính sách ưu đãi miễn thuế nhập khẩu áp dụng giữa các nước Châu Âu...Tuy vậy, so với các khu vực khác như Tây Âu, Bắc Âu, đây vẫn được coi là khu vực đầy triển vọng hơn cả và có thể tận dụng khai thác một số mối quan hệ với các nước bạn hàng truyền thống trong khối xã hội chủ nghĩa trước đây như: Nga, Bungari, Rumani... Hiện nay, Viglacera đã có chi nhánh tại thị trường Nga, tiếp đó sẽ nghiên cứu lập thêm một văn phòng đại diện tại thị trường Rumani hoặc giao việc khai thác thị trường này cho chi nhánh Viglacera tại Nga. Hướng trước mắt sẽ đầu tư một số nhà máy sản xuất gạch ceramic, granit, gạch xây tại CHLB Nga để tận dụng tài nguyên sẵn có tại thị trường này và giảm chi phí vận chuyển. Sinh viên: Đinh Thị Dung 124Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera * Khu vực Hoa Kỳ, Canađa, và các nước Trung, Nam Mỹ Trong thời gian tới, Hoa Kỳ và Châu Mỹ La Tinh sẽ được coi là khu vực thị trường quan trọng nhất trong chiến lược mở rộng thị trường Viglacera. Đối với thị trường Hoa Kỳ, việc Hiệp định Thương mại Việt Mỹ đang đi vào thực thi sẽ tạo cơ hội cho các sản phẩm VLXD Viglacera được cạnh tranh một cách tương đối bình đẳng với các nhà xuất khẩu Châu á khác trong một phạm vi thị trường rất lớn với dung lượng tiêu thụ hàng nhập khẩu vào loại hàng đầu trên thế giới. Để nhanh chóng tiếp cận thị trường này, Tổng công ty đã triển khai thành lập chi nhánh tại Mỹ nhằm xúc tiến hoạt động xuất khẩu sang thị trường này trong thời gian tới. Bên cạnh đó Châu Mỹ La Tinh cũng là khu vực thị trường rất nhiều tiềm năng do phần lớn các sản phẩm VLXD như gạch ốp lát ceramic, granite, sứ vệ sinh đều được nhập khẩu từ nước ngoài. Tuy vậy, cũng tồn tại một số khó khăn khách quan như chi phí vận chuyển cao, thời gian vận chuyển tương đối dài, thông tin thị trường còn hạn chế . * Khu vực Trung và Tây Phi Châu Phi được đánh giá là khu vực thị trường nhiều tiềm năng trở thành khu vực tiêu thụ và sản xuất VLXD rất tốt. Vì hiện nay nền công nghiệp sản xuất VLXD tại đây hầu như chưa phát triển. Mặc dù còn một số trở ngại như: thuế nhập khẩu và thuế thương mại cao, Sinh viên: Đinh Thị Dung 125Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera chi phí vận chuyển lớn, nhưng với một cơ chế giá bán hợp lý thì đây cũng là một thị trường rất khả quan cho công tác xuất khẩu sản phẩm Viglacera về lâu dài. * Khu vực Châu úc Nước úc rộng lớn hiện nay đang được coi là thị trường hấp dẫn đối với hầu hết các nhà xuất khẩu VLXD trên thế giới. Do vậy, trong thời gian tới việc tìm hiểu và tiếp cận thị trường này sẽ được chú trọng hơn nữa nhằm khai thác các nguồn tiêu thụ sản phẩm cũng như các đối tác tiềm năng trong lĩnh vực linh doanh và phân phối VLXD. Tóm lại, qua những phân tích ở trên Viglacera nên tập trung vào các thị trường trọng điểm bao gồm:  Mỹ và Canađa  Nam á, Đông Nam á và Trung cận Đông  Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan 3.2. Xác định sản phẩm mũi nhọn phục vụ xuất khẩu Căn cứ vào đặc tính sử dụng, khả năng của Tổng công ty và nhu cầu thị trường thế giới thì việc xác định sản phẩm mũi nhọn phục vụ cho xuất khẩu là rất quan trọng. Nếu trước khi thâm nhập vào một thị trường nào đó, đặc biệt là các thị trường khó tính, hay do các quy định pháp luật thì việc nghiên cứu lựa chọn sản phẩm là việc làm không thể thiếu. Khi không nghiên cứu lựa chọn sản phẩm có thể sẽ đưa vào thị trường cái mà mình có chứ không phải là cái mà thị trường cần. Sinh viên: Đinh Thị Dung 126Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Một việc làm tương đối quan trọng đối với Tổng công ty là phải xác định được đâu là sản phẩm mũi nhọn phục vụ xuất khẩu và ai sẽ là người sản xuất ra nó Viglacera nên chia ra các nhóm sản phẩm như sau: Nhóm 1: gạch Granite + ceramic Các đơn vị sản xuất:  Công ty gạch ốp lát Hà Nội  Công ty gạch men Thăng Long  Công ty Thạch Bàn  Công ty granit Tiên Sơn Nhóm 2: Kính xây dựng và gương Các đơn vị sản xuất:  Công ty Đáp Cầu  Nhà máy kính nổi VIFG Bình Dương Nhóm 3: Sứ vệ sinh Các đơn vị sản xuất:  Công ty sứ Thanh Trì  Công ty sứ Việt Trì  Nhà máy sứ Bình Dương Nhóm4:Gạch cotto, gạch xây, ngói lợp Các đơn vị sản xuất:  Công ty gốm xây dựng Hạ Long  Công ty gốm xây dựng Xuân Hoà  Công ty Thạch Bàn  Công ty Gốm xây dựng Hữu Hưng Nhóm 5: gạch chịu lửa và các sản phẩm thương mại Sinh viên: Đinh Thị Dung 127Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Các đơn vị sản xuất:  Công ty VLCL kiềm tính Việt Nam  Công ty VLCL Cầu Đuống Các sản phẩm kinh doanh: mây tre đen, da trâu bò muối Việc lựa chọn sản phẩm như trên là căn cứ vào thực tế các sản phẩm mà Viglacera đã tiến hành xuất khẩu, và khả năng của các đơn vị thành viên Tổng công ty Nhìn chung, đây là các sản phẩm có thế mạnh trong xuất khẩu của Tổng công ty. Trong đó sản phẩm gạch ốp lát ceramic, granite, sứ vệ sinh là các sản phẩm cần quan tâm hàng đầu. Vì đây là các sản phẩm mà thị trường trong nước đang dư thừa nhưng ở một số quốc gia lại có nhu cầu lớn như các nước Đông âu. Viglacera cần tập trung sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có thế mạnh này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty trên thị trường thế giới. 3.3. Phân công quản lý Sau khi xác định được thị trường và sản phẩm trọng điểm thì phải tiến hành phân công quản lý. Việc phân cấp quản lý cụ thể về sản phẩm, thị trường sẽ giúp cho các đơn vị chú trọng hơn nữa vào công tác xuất khẩu nhằm đạt được các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Để tăng tính chủ động trong công tác xuất khẩu của các Sinh viên: Đinh Thị Dung 128Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera đơn vị thành viên, cần phải quản lý đối với các đơn vị như sau: * Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu -Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu chịu trách nhiệm tiêu thụ và các sản phẩm khác ngoài Tổng công ty. Đây là một hướng mà Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu cần đặc biệt chú trọng khai thác. -Xuất khẩu uỷ thác cho các đơn vị có yêu cầu -Đối với các sản phẩm khác trong Tổng công ty, Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu có trách nhiệm khai thác khách hàng và cùng với các đơn vị có sản phẩm xuất khẩu đàm phán ký kết hợp đồng. * Các đơn vị thành viên khác - Chủ động tìm kiếm, giao dịch đàm phán, kí kết hợp đồng xuất khẩu với các đối tác. - Tích cực chào hàng giới thiệu các sản phẩm khác của Tổng công ty. * Các chi nhánh ở nước ngoài - Khai thác khách hàng trong khu vực được phụ trách và cùng với các đơn vị có sản phẩm xuất khẩu đàm phán và kí kết hợp đồng. Việc phân công quản lý thị trường và sản phẩm sẽ giúp Viglacera tìm ra những thị trường tiềm năng cho việc tiêu thụ sản phẩm và tìm kiếm những bạn hàng tin cậy. Đồng thời xác định được đâu là sản phẩm mũi nhọn phục vụ xuất khẩu và việc quy định chức năng Sinh viên: Đinh Thị Dung 129Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera nhiện vụ cho các đơn vị thành viên nhằm mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu. 4. Nâng cao chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm Trong thời đại ngày nay người ta nói nhiều đến thị trường, nền kinh tế hướng về thị trường. Tuy nhiên chất lượng vẫn là yếu tố cực kì quan trọng trong chiến lược của mọi doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm cũng phải hướng theo thị trường, theo người tiêu dùng. Một sản phẩm được coi là chất lượng cao khi người tiêu dùng đánh giá nó chất lượng cao. Chất lượng phụ thuộc vào khả năng cảm nhận của người tiêu dùng. Một sản phẩm dù các thông số kĩ thuật là rất tốt nhưng người tiêu dùng không cho nó là tốt thì sản phẩm đó vẫn bị coi là sản phẩm kém chất lượng . Chiến lược quảng cáo, xúc tiến bán hàng, giá cả sẽ chỉ tăng được lượng bán sản phẩm trong nhất thời nếu như nó không dựa trên cơ sở chất lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm là sợi dây chặt nhất để trói khách hàng với sản phẩm. Đối với các sản phẩm thuỷ tinh và gốm xây dựng thì chất lượng sản phẩm rất quan trọng. Lý do là sản phẩm luôn gắn với các công trình xây dựng thì yếu tố chất lượng cực kì quan trọng, nó đảm bảo cho các công trình xây dựng tồn tại lâu dài vững chắc, chống chọi lại tác động của tự nhiên. Hiện nay, chất lượng sản phẩm được Tổng công ty quan tâm hàng đầu, Sinh viên: Đinh Thị Dung 130Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Viglacera được người tiêu dùng trong nước đánh giá rất cao về chất lượng sản phẩm. Đặc biệt là sản phẩm sứ vệ sinh được bảo hành 10 năm cho thấy chất lượng là rất tốt. Tuy nhiên đó chỉ là thị trường trong nước. ở thị trường nước ngoài tuy Viglacera đã có một số sản phẩm đạt tiêu chuẩn Châu Âu nhưng vẫn chưa cạnh tranh được với một số các hãng khác về chất lượng cho nên sức cạnh tranh còn hạn chế. Chất lượng sản phẩm là vấn đề không dễ có thể thay đổi hoặc cải thiện trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, để phát triển thị trường ra nước ngoài, công tác nghiên cứu nhằm cải thiện nâng cao chất lượng cần được chú trọng hơn bao giờ hết, nếu không khả năng xuất khẩu sẽ trở nên hết sức hạn chế và ngay cả đối với một số sản phẩm đã bán được thì triển vọng trong tương lai cũng rất nhỏ bé bởi thị trường dù ở đâu cũng rất khó tính và đa dạng. Đối với thị trường nước ngoài, do thị hiếu và yêu cầu của khách hàng nhiều khi khác xa so với thị hiếu của khách hàng trong nước nên việc đa dạng hoá mẫu mã, thiết kế và màu sắc sản phẩm là một công việc hết sức cần thiết và không thể bỏ qua. Bởi vậy, khi nhận được thư của khách hàng về một mẫu mã sản phẩm mới, các đơn vị sản xuất nên khẩn trương nghiên cứu để có thể trả lời khách hàng một cách chính xác trong thời gian ngắn nhất về khả năng sản xuất loại sản phẩm đó, Sinh viên: Đinh Thị Dung 131Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera trong một số trường hợp cần nhanh chóng triển khai sản xuất mẫu đó theo yêu cầu của khách hàng. Cùng với những khả năng cung cấp sản phẩm với giá cả hấp dẫn và cạnh tranh, thì chất lượng và mẫu mã sản phẩm là những yếu tố rất được khách hàng quan tâm trước khi ra quyết định mua hàng. Một sản phẩm đánh giá là chất lượng tốt không chỉ sản phẩm đơn thuần đảm bảo các tính năng kỹ thuật mà còn phải phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ và mục tiêu sử dụng của các đối tượng khách hàng. Qua nghiên cứu thị hiếu khách hàng tại các khu vực thị trường thế giới, đồng thời qua các hội chợ triển lãm ở nước ngoài mà Tổng công ty Viglacera đã tham dự trong thời gian qua, có thể nhận thấy các sản phẩm do các nhà sản xuất nước ngoài có chất lượng và mẫu mã vô cùng phong phú và hấp dẫn với trình độ phát triển mẫu mã có khoảng cách khá lớn so với các nhà sản xuất Việt Nam. Để có thể thâm nhập một cách thành công và hiệu quả vào thị trường thế giới, mỗi đơn vị thành viên trong Tổng công ty cần phải từng bước thay đổi và cải thiện hơn nữa chất lượng quản lí và sản xuất cuả mình, cụ thể cần thực hiện một cách thường xuyên và nghiêm túc một số công tác sau: Thứ nhất: Khâu kiểm tra chất lượng cần được thực hiện và duy trì một cách nghiêm ngặt và thường xuyên trong toàn bộ quá trình sản xuất, từ Giám đốc đến mỗi Sinh viên: Đinh Thị Dung 132Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera công nhân tại các vị trí trong phân xưởng, từ khâu kiểm tra phân loại sản phẩm trước khi đóng gói… Thứ hai: Phòng kỹ thuật của mỗi nhà máy cũng cần ưu tiên vào đầu tư nhiều hơn nữa, tăng cường khuyến khích các giải pháp sáng tạo nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời có kế hoạch đào tạo định kì cho một số cán bộ kỹ thuật nòng cốt ở nước ngoài nhằm cập nhật các công nghệ, kỹ thuật sản phẩm tiên tiến, từng bước khắc phục các tính năng sản phẩm còn yếu kém của đơn vị mình. Thứ ba: Công tác nghiên cứu phát triển mẫu mã mới cần được đặc biệt chú trọng. Trên cơ sở nghiên cứu các mẫu sản phẩm thình hành và được ưa chuộng ở một số thị trường trọng điểm. Để đảm bảo tính hiệu quả, các nhà máy cần xem xét trang bị một cách tương đối và đồng bộ và hiện đại các thiết bị phòng thí nghiệm cũng như bảo đảm cho việc sản xuất mẫu thử . Thứ tư: Tăng cường công tác quản lí chất lượng theo hệ thống quản lí chất lượng ISO và các yêu cầu kỹ thuật của nước sở tại nhằm giữ vững và ổn định chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu luật pháp của từng quốc gia, nơi có thể tiêu thụ được sản phẩm của mình, đặc biệt cần chú trọng thương hiệu sản phẩm tránh vi phạm bản quyền. Thứ năm: Tăng cường công tác quản lí, tìm mọi biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí, nhằm hạ giá thành sản Sinh viên: Đinh Thị Dung 133Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Từng bước ổn định công tác xuất khẩu. Việc thực hiện giải pháp này tốt sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm của Viglacera trên thị trường thế giới. Từ đó có thể làm cho hiệu quả xuất khẩu của Viglacera tăng lên. 5. Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả Vốn là yêu cầu cấp thiết của tất cả các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu. Trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp, việc huy dộng vốn là bài toán đặt ra cho mọi doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Về mặt cơ cấu nguồn vốn thì có nhiều nguồn như: nguồn tự có, vốn vay ngân hàng, vốn liên doanh liên kết.. Hiện nay vốn của Viglacera được huy động từ nhiều nguồn: Nhà nước cấp, vốn tự có, vốn vay ngân hàng, vốn liên doanh liên kết. Tuy vậy, chủ yếu là vốn nhà nước cấp và vốn vay ngân hàng, vốn tự huy động. Với một doanh nghiệp còn non trẻ như Viglacera thì việc sử dụng vốn từ ngân hàng và cơ quan chủ quản là điều dễ hiểu. Trong thời gian tới Viglacera cần sử dụng vốn đa dạng hơn tăng tỷ trọng vốn liên doanh liên kết. Việc sử dụng vốn cho xuất khẩu đã được Tổng công ty quan tâm và đã lập một quĩ hỗ trợ xuất khẩu với ngân quĩ là 3 tỷ VND nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Nhưng con số này vẫn còn khiêm tốn so với khả năng của Tổng công ty. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ Sinh viên: Đinh Thị Dung 134Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Tổng công ty. Nguồn vốn liên doanh liên kết đang được Chính phủ ủng hộ mạnh mẽ, bởi lẽ thông qua liên doanh liên kết với nước ngoài các doanh nghiệp Việt Nam có thể nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm., thúc đẩy xuất khẩu. Đứng trước tình hình đó, Tổng công ty cần nhận định rõ liên doanh là việc làm đúng, đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong giai đoạn hiện nay, Tổng công ty chú trọng tới các nhà máy đang liên doanh liên kết với nước ngoài như: Nhà máy kính nổi Việt Nam, Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính, liên doanh Tomen-Viglacera… khuyến khích các nhà máy nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cường năng lực sản xuất để đáp ứng các nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu ra nước ngoài. Mặt khác, Tổng công ty đang tìm kiếm thêm các đối tác để liên doanh liên kết. Cụ thể trong thời gian tới Tổng công ty sẽ lập một số dự án tiền khả thi cho việc một số đơn vị trong và ngoài nước tham gia liên doanh liên kết vào khu công nghiệp Bình Dương do Tổng công ty đầu tư và phát triển. Tuy nhiên, việc quản lí được tốt các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn là một vấn đề nan giải. Bởi vì, tỷ lệ góp vốn liên doanh của bên Việt Nam thường thấp hơn bên nước ngoài dẫn đến quyền hạn cũng bị hạn chế. Bên nước Sinh viên: Đinh Thị Dung 135Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera ngoài thường giữ các vị trí quan trọng trong Hội đồng quản trị nên bên Việt Nam thường bị động trong kế hoạch cũng như chương trình hoạt động của liên doanh, dẫn đến tình trạng bên nước ngoài dần dần thâu tóm toàn bộ hoạt động liên doanh đưa bên Việt Nam vào thế phụ thuộc. Qua hoạt động thực tế của Viglacera ta thấy Viglacera đã quan tâm đến việc huy động vốn cho xuất khẩu. Tuy nhiên hoạt động này cần được đẩy mạnh hơn nữa. Đối với hoạt động xuất khẩu nói riêng thì một nguồn vốn nữa cũng rất quan trọng là nguồn vốn tín dụng xuất khẩu. Nguồn vốn tín dụng xuất khẩu thể hiện dưới hai hình thức: Nhà nước cấp tín dụng xuất khẩu và người mua cấp tín dụng xuất khẩu. Nhà nước cấp tín dụng xuất khẩu bằng cách trợ giá cho xuất khẩu, cắt giảm thuế xuất khẩu. Người mua cấp tín dụng xuất khẩu thông qua hình thức họ tiến hành trả tiền trước một phần hoặc toàn bộ tiền hàng xuất khẩu. Nhưng trên thực tế Viglacera hầu như chỉ nhận được tiền sau khi đã giao hàng. Như vậy Tổng công ty không có được nguồn vốn tín dụng xuất khẩu. Trong thời gian tới, Tổng công ty nên chú trọng vào việc huy động các nguồn vốn sau:  Nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng. Việc huy động nguồn vốn này có ý nghĩa rất lớn. Nguồn vốn ngân hàng có ưu điểm là có thể huy động được một lượng lớn vào mọi thơì điểm. Nó giúp Tổng công ty có Sinh viên: Đinh Thị Dung 136Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera được một lượng vốn lớn trong thời gian ngắn để trang trải cho các chi phí xuất khẩu.  Nguồn vốn từ các đối tác liên doanh liên kết trong và ngoài nước.  Nguồn vốn tín dụng xuất khẩu của khách hàng nước ngoài. Huy động được nguồn này đòi hỏi Tổng công ty phải có mối quan hệ làm ăn lâu dài, có uy tín.  Cổ phần hoá các doanh nghiệp để thu hút thêm vốn bằng cách phát hành cổ phiếu. Vấn đề huy động vốn đã rất khó khăn thì việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả càng khó khăn hơn. Để sử dụng vốn có hiệu quả thì vấn đề đặt ra là phải biết tiết kiệm chi phí. Tổng công ty đang thực hiện phương châm tiết kiệm trong mọi hoạt động của quá trình kinh doanh. Thực tế cho thấy, rất nhiều khâu trong hoạt động xuất khẩu các đơn vị phải thuê các công ty khác làm. Điều này làm tăng chi phí xuất khẩu và làm cho hiệu qủa xuất khẩu bị ảnh hưởng. Như vậy ngoài việc xác định phương thức sử dụng vốn phải tiết kiệm thì cũng phải xác định được sử dụng vốn vào vấn đề gì sao cho có hiệu quả. Nguồn vốn huy động được nên dành cho việc đầu tư công nghệ sản xuất nhằm mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu. Đồng thời có thể sử dụng vốn cho các chi phí liên quan đến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu như :đào tạo đội ngũ cán bộ xuất khẩu, tăng cường quảng Sinh viên: Đinh Thị Dung 137Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera cáo xúc tiến sản phẩm tại các thị trường nước ngoài.... 6. Hoàn thiện qui trình xuất khẩu 6.1. Nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối tác Cần tăng cường công tác nghiên cứu thị trường. Đây là phương thức quan trọng để Tổng công ty có thể tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh. Việc nghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên đối với bất kì công ty nào muốn tham gia kinh doanh xuất khẩu. Để đạt hiệu quả nhất Tổng công ty cần tiến hành các biện pháp sau:  Bên cạnh việc thành lập bộ phận chuyên nghiên cứu thị trường thì Tổng công ty cần phải đầu tư, mua mới các trang thiết bị xử lí, lưu trữ thông tin hiện đại. Đây là việc làm cần thiết ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả làm việc của cán bộ nghiên cứu thị trường, tạo điều kiện cho việc thu thập xử lí thông tin diễn ra nhanh hơn.  Tiến hành mở các lớp bồi dưỡng và nâng cao trình độ cho nhân viên hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường. Tạo điều kiện cho nhân viên được tiếp xúc thực tế với môi trường bên ngoài nhằm nâng cao khả năng tư duy lẫn kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu thị trường. Sinh viên: Đinh Thị Dung 138Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 6.2. Công tác đàm phán và kí kết hợp đồng Khi đàm phán về giá cả sản phẩm xuất khẩu cần chủ động đưa ra các mức giá cả phù hợp và có tính cạnh tranh so với các sản phẩm khác đang có trên thị trường đó, chấp nhận lãi ít hoặc hoà vốn để thăm dò thị trường cũng như kiểm chứng khả năng tiêu thụ sản phẩm của Tổng công ty tại các thị trường là bạn hàng quen thuộc mà các sản phẩm của Viglacera đã khẳng định được vị trí của mình thì khi có các đột biến xảy ra trong thời gian thực hiện hợp đồng như hàng đến chậm hay bên mua thanh toán chậm ngoài ý muốn của hai bên thì chủ động đàm phán để giữ được quan hệ làm ăn lâu dài. 6.3. Điều kiện cơ sở giao hàng Căn cứ vào đặc tính sản phẩm của Viglacera cũng như tình hình buôn bán quốc tế hiện nay, Tổng công ty nên xuất khẩu sản phẩm của mình với giá CIF để chủ động trong việc bốc xếp và vận chuyển. Xuất khẩu được các sản phẩm theo giá CIF, một mặt có được giá thành cao, mặt khác lại tạo được công ăn việc làm cho các hãng tàu và hãng bảo hiểm trong nước. 6.4. Về thanh toán trong xuất khẩu Tổng công ty thường tiến hành theo phương thức tín dụng chứng từ (L/C- Letter of Credit ). Đây là phương Sinh viên: Đinh Thị Dung 139Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera thức bảo đảm cho việc thanh toán diễn ra an toàn cho cả bên mua và bên bán. Vì vậy Tổng công ty cần chú trọng hơn nữa việc mở L/C của đối tác, công tác đối chiếu chứng từ. Đồng thời cần tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng trong và ngoài nước để giảm khoản tiền ký quĩ để tận dụng quay vòng vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. 7. Các giải pháp khác 7.1. Xây dựng công tác tiêu thụ cho công tác xuất khẩu Một cơ chế chặt chẽ và phù hợp là một hành lang pháp lí không những giúp cho các doanh nghiệp có được định hướng đúng đắn, hạn chế tối đa rủi ro, mà còn định hướng tạo ra tính chủ động tích cực hơn trong công tác xuất khẩu của đơn vị mình. Qui chế tiêu thụ cho công tác xuất khẩu phải xây dựng hoàn chỉnh dựa vào các căn cứ:  Các chế độ chính sách của Nhà nước hiện hành  Tình hình sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp, thời hạn áp dụng của qui chế phải phù hợp trong từng giai đoạn cụ thể.  Các đơn vị thành viên sẽ phải căn cứ vào qui chế của Tổng công ty và những đặc thù của doanh nghiệp để xây dựng qui chế riêng cho đơn vị mình. Sinh viên: Đinh Thị Dung 140Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 7.2. Đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác xuất khẩu Bên cạnh giải pháp về thị trường, sản phẩm …thì giải pháp này cần được quan tâm chú ý hơn nữa. Do đội ngũ cán bộ làm công tác xuất khẩu của Viglacera còn non trẻ cả về thâm niên hoạt động cũng như kinh nghiệm thực tiễn. Bởi thế, Tổng công ty cần phải đào tạo một đội ngũ cán bộ làm công tác xuất khẩu nhằm nâng cao trình độ cho họ. Để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ xuất khẩu thì Tổng công ty cần có kế hoạch đào tạo, tuyển dụng đội ngũ cán bộ xuất khẩu. Tổng công ty cần mở các lớp bồi dưỡng cán bộ xuất khẩu về các nghiệp vụ kinh doanh quốc tế. Đồng thời có thể gửi họ đi học thông qua các khoá học ngắn hạn, dài hạn ở trong và ngoài nước sao cho có hiệu quả. 7.3. Quảng cáo, đăng kí bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá Trên thực tế, Viglacera chưa có một chiến lược cụ thể nhằm đăng ký quảng cáo các sản phẩm của mình trên thị trường thế giới. Do đó các sản phẩm của Viglacera được khách hàng biết đến còn ít. Để nâng cao uy tín và thương hiệu của mình trên thị trường thế giới Viglacera cần có một chiến lược quảng cáo các sản phẩm của mình trên thị trường thế giới. Giới thiệu quảng cáo thông qua các phương tiện như: hội chợ triển lãm, mạng internet, tạp chí quốc tế…nhằm nâng cao thương hiệu của Viglacera trên thị trường thế Sinh viên: Đinh Thị Dung 141Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera giới. Đồng thời tiến hành đăng kí bảo hộ hàng hoá trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó Tổng công ty cần chú ý trong công tác tổ chức kết nối các đơn vị thành viên. Đặc biệt cần nâng cao hơn nữa vai trò của Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu để hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao hơn. III. Một số kiến nghị đối với Chính phủ và Bộ tài chính Xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài là chiến lược mũi nhọn của nhà nước ta đối với tất cả các ngành nghề sản xuất và các doanh nghiệp trong cả nước nhằm thu ngoại tệ đẩy mạnh nền kinh tế quốc dân. Đối với một nhà sản xuất lớn như Tổng công ty Viglacera, việc tìm kiếm và xúc tiến các biện pháp đẩy mạnh công tác xuất khẩu là một việc hết sức cần thiết và nếu được thực hiện tốt sẽ đem lại nhiều lợi ích trực tiếp và thiết thực. Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm cũng là một công việc hết sức khó khăn đòi hỏi sự nỗ lực toàn diện của mỗi doanh nghiệp cũng như sự giúp đỡ và hỗ trợ của Chính phủ và các bộ ngành trong cơ chế điều hành cũng như những hỗ trợ tài chính khác. Qua một thời gian thực tập và nghiên cứu tại Tổng công ty, tôi xin phép được đưa ra một số kiến nghị như sau: * Quảng bá, giới thiệu sản phẩm Sinh viên: Đinh Thị Dung 142Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Để các sản phẩm của Việt Nam sản xuất ra có thể quảng bá và giới thiệu ra thị trường nước ngoài có qui mô lớn và chiến lược lâu dài thì Chính phủ, Bộ tài chính cần có những chính sách sau:  Chính phủ cần tính toán xây dựng một số trung tâm giới thiệu sản phẩm và thông tin doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu của Việt Nam tại một số khu vực trọng điểm trên thế giới như: Hoa Kỳ, Trung Đông, Châu âu, Châu phi, Châu úc...  Đề nghị Chính phủ và các Cơ quan chức năng của Nhà nước cần tính toán xem xét lựa chọn những doanh nghiệp có tiềm lực lớn về tài chính, nhân lực, có sản phẩm sản xuất cạnh tranh và có kinh nghiệm trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trong những năm qua đứng ra làm đầu mối thu thập xử lý các thông tin liên quan đến xuất khẩu tại các trung tâm giới thiệu sản phẩm này.  Cần có cơ chế chính sách rõ ràng trong việc xúc tiến xuất khẩu của các trung tâm giới thiệu sản phẩm này và các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài như sau: trích hoa hồng từ quỹ hỗ trợ xuất khẩu, hoặc cho phép doanh nghiệp được chủ động trích hoa hồng từ hợp đồng xuất khẩu để thưởng cho các cá nhân, tổ chức có công trong việc tìm kiếm thông tin khách hàng mở rộng thị truờng cho doanh nghiệp. *Chi phí xuất khẩu Sinh viên: Đinh Thị Dung 143Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Để các sản phẩm của Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới  Đề nghị Chính phủ và Bộ Tài chính xem xét mở rộng danh mục mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu và thưởng xuất khẩu trong đó có sản phẩm VLXD để doanh nghiệp có thể bù đắp phần chi phí xuất khẩu từ khoản thưởng này.  Đề nghị chính phủ tiếp tục bãi bỏ thu phí và lệ phí liên quan đến lô hàng xuất khẩu và giảm phí cảng vụ , lệ phí nâng hạ tại cảng, cầu đường , vận chuyển.  Cần có một cơ chế lâu dài ổn định về hỗ trợ giá xuất khẩu cho một số ngành hàng trong đó có sản phẩm VLXD để sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh thị trường nước ngoài tốt hơn và cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực đặc biệt là Trung quốc, các nước ASEAN.  Thủ tục Hải quan cần tạo điều kiện và thông thoáng hơn nữa đối với các lô hàng xuất khẩu và nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu. * Tín dụng xuất khẩu  Bộ tài chính nên giảm lãi xuất tín dụng cho vay đối với các lô hàng nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu và đối với các hợp đồng vay tín dụng để thu mua hàng xuất khẩu. Sinh viên: Đinh Thị Dung 144Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Thủ tục vay vốn và xin hỗ trợ vay vốn từ quỹ hỗ trợ xuất khẩu cần thông thoáng hơn nữa, thời hạn cho vay được ưu đãi hơn. * Quan hệ giữa doanh nghiệp và các cơ quan chức năng chính phủ.  Chính phủ cần xây dựng một nhịp cầu thông tin thường xuyên giữa doanh nghiệp và các cơ quan xúc tiến thương mại của Chính phủ. Phát hành rộng rãi danh sách và địa chỉ liên hệ của thương vụ Việt Nam tại nước ngoài và các văn phòng xúc tiến thương mại này cần có bản giới thiệu tóm tắt khả năng thâm nhập sản phẩm của Việt Nam sản xuất ra vào từng thị trường cụ thể.  Thường xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ tiếp xúc với doanh nghiệp để doanh nghiệp thu thập thông tin về xuất khẩu, thị trường xuất khẩu.  Thường xuyên tư vấn tổ chức cho doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm ở nước ngoài, nhằm tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường. Hướng dẫn cho doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu sản phẩm độc quyền tại thị trường nước ngoài, mở showroom giới thiệu sản phẩm tại nước ngoài.  Cho phép doanh nghiệp được tham gia vào các chương trình trả nợ nước ngoài bằng hàng hoá của chính phủ và tham gia vào các dự án đầu tư của chính phủ ra thị trường nước ngoài, các dự án viện trợ của chính phủ cho nước ngoài bằng hàng hoá. Sinh viên: Đinh Thị Dung 145Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera  Một trong những nguồn khác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm thông tin về thị trường xuất khẩu là qua mạng Internet. Tuy nhiên, hiện nay chưa có tổ chức nhà nước nào có thể giúp tư vấn cho doanh nghiệp một cách bài bản về cách tiến hành Thương mại điện tử, đồng thời đường truyền Internet còn quá chậm, nhiều khi bị tắc nghẽn, phí dịch vụ Internet còn quá cao..., đề nghị Chính phủ có biện pháp cải thiện để hiện đại hoá và hiệu quả hoá hơn nữa mạng Internet của Việt Nam. Kết luận Đẩy mạnh công tác xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài nhằm tăng cao uy tín và đem lại những lợi ích thiết thực là điều mà các doanh nghiệp trong nước đều mong muốn và đang cố gắng thực hiện. Điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước và là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường tiến trình hội nhập. Có thể nói những thành tựu mà Tổng Công ty đạt được trong những năm qua về sản xuất kinh doanh nói chung và xuất khẩu nói riêng là đáng khích lệ, bởi đó là sự cố gắng đồng bộ trên các mặt công tác của cán bộ công nhân viên toàn Tổng Công ty để thực hiện mục tiêu “Đột phá về tổ chức sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển ” được HĐQT Tổng Công ty đề ra. Khẳng định sự quan tâm giúp đỡ của bộ xây dựng, sự chỉ đạo điều hành nhạy bén, cương quyết có hiệu quả các lãnh Sinh viên: Đinh Thị Dung 146Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera đạo Tổng Công ty trong việc điều hành sản xuất, tổ chức quản lý công nghệ, chất lượng sản phẩm và các công tác thị trường. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn như : doanh số xuất khẩu còn ít, hiệu quả xuất khẩu chưa cao, chất lượng mẫu mã sản phẩm chưa phong phú, giá cả còn kém sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đây là do các nguyên nhân chủ quan cũng như những mặt hạn chế khách quan tác động đến hạt động xuất khẩu của Viglacera. Điều này cho thấy Viglacera cần phải tìm cho mình một hướng đi đúng đắn nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của toàn Tổng công ty sao cho có hiệu quả. Trong những năm tới là thời cơ để tăng cường công tác xuất khẩu với phía trước còn không ít khó khăn, thách thức và sự ảnh hưởng chung của nền kinh tế xã hội. Nhưng với khả năng nỗ lực, vào sự đoàn kết nhất trí, tập trung ý chí, giữa vững kỷ cương trên dưới và truyền thống của Viglacera. Nhất định trong những năm tới Tổng Công ty sẽ hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Sinh viên: Đinh Thị Dung 147Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Mục lục Trang danh mục các bảng........................................1 danh mục các hình........................................2 danh mục các từ viết tắt.................................3 Lời nói đầu..............................................1 Chương I.................................................3 Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu..............3 I. Hoạt động xuất khẩu và trò của nó trong nền kinh tế quốc dân 3 1. Khái niệm ................................3 1.1. Xuất khẩu ...............................3 1.2. Thúc đẩy xuất khẩu.......................4 1.3. Mục tiêu của hoạt động thúc đẩy xuất khẩu ...............................................5 2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu............7 2.1. Đối với nền kinh tế thế giới.............7 2.2. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia.........8 2.3. Đối với doanh nghiệp...................12 3. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu...........13 3.1. Xuất khẩu trực tiếp......................13 3.2. Xuất khẩu gián tiếp (uỷ thác)...........14 3.3. Xuất khẩu gia công uỷ thác...............15 3.4. Buôn bán đối lưu (xuất khẩu hàng đổi hàng) ..............................................16 3.5. Xuất khẩu theo nghị định thư............16 3.6. Xuất khẩu tại chỗ.......................17 3.7. Gia công quốc tế........................17 3.8. Tái xuất khẩu............................18 3.9. Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá . . . .20 II . Nội dung của hoạt động xuất khẩu .....................20 1. Nghiên cứu thị trường, sản phẩm xuất khẩu 20 1.1. Nghiên cứu thị trường ..................20 1.2. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu ............22 2. Lựa chọn đối tác giao dịch ..............23 Sinh viên: Đinh Thị Dung 148Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 3. Lập phương án kinh doanh xuất khẩu .....24 4. Lựa chọn phương thức giao dịch...........25 5. Đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu .....27 6. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu ...28 6.1. Kiểm tra thư tín dụng...................29 6.2. Xin giấy phép xuất khẩu ................30 6.3. Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu ............30 6.4. Kiểm tra hàng hoá ......................31 6.5. Thuê phương tiện vận chuyển.............31 6.6. Mua bảo hiểm hàng hoá...................31 6.7. Làm thủ tục hải quan...................32 6.8. Giao hàng lên tàu.......................32 6.9. Thanh toán...............................32 6. 10. Giải quyết khiếu nại ( nếu có ). . . . .33 7. Đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu . 33 7.1. Các chỉ tiêu định tính..................34 7.2. Các chỉ tiêu định lượng.................34 III. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu.........36 1. Các nhân tố quốc tế......................36 2. Các nhân tố quốc gia.....................37 3. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.......40 IV. Đặc điểm của mặt hàng thuỷ tinh và gốm xây dựng, tình hình thị trường thuỷ tinh và gốm xây dựng trong thời gian qua 41 1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật cuả ngành thuỷ tinh và gốm xây dựng.................................41 1.1. Khái niệm về mặt hàng thuỷ tinh và gốm xây dựng..........................................41 1.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành. . . . . .42 2. Thị trường thuỷ tinh và gốm xây dựng thời gian qua 44 2.1. Thị trường thuỷ tinh và gốm xây dựng Việt Nam...........................................44 Sinh viên: Đinh Thị Dung 149Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 2.2. Thị trường thuỷ tinh và gốm xây dựng thế giới..........................................46 Chương II...............................................50 Thực trạng kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty Viglacera thời gian qua...........................................50 I. Tổng quan về Tổng công ty Viglacera.....................50 1. Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty.........................................50 2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Tổng công ty ........................................52 2.1. Chức năng, nhiệm vụ.....................52 2. 2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Viglacera.....................................53 3. Tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty 58 3.1. Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh .......58 3.2. Tình hình tài chính của Tổng công ty Viglacera ....................................60 3.3. Tình hình lao động và công tác đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực của Tổng công ty Viglacera.....................................63 3.4. Công nghệ kỹ thuật sản xuất và chất lượng sản phẩm của Tổng công ty Viglacera...........65 II . Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Viglacera...................................................66 1. Vai trò của thúc đẩy xuất khẩu đối Tổng công ty Viglacera ...................................66 2. Kim ngạch xuất khẩu của Viglacera........68 3. Mặt hàng xuất khẩu của Viglacera ........73 4. Thị trường xuất khẩu của Viglacera ......76 5. Chất lượng, giá bán sản phẩm xuất khẩu . .82 6. Những biện pháp tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu của Viglacera.........................85 Sinh viên: Đinh Thị Dung 150Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 6.1. Nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối tác. 85 6.2. Thiết lập mạng lưới kênh phân phối. . . . .88 6.3. Hình thức xuất khẩu (phương thức giao dịch xuất khẩu) ...................................90 6.4. Đàm phán, ký kết hợp đồng...............92 6.5. Tổ chức thực hiện hợp đồng..............93 6.6. Đánh giá hiệu quả xuất khẩu của Viglacera ..............................................96 III. Đánh giá về hoạt động xuất khẩu của Viglacera.........99 1. Những kết quả đạt được trong hoạt động xuất khẩu của Viglacera..............................99 2. Những mặt tồn tại và nguyên nhân........102 2.1 Những mặt tồn tại.......................102 2.2. Nguyên nhân............................104 Chương III.............................................109 Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Viglacera..............................................109 I. Phương hướng hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Viglacera trong thời gian tới........................................109 1. Phương hướng chung của Tổng công ty trong thời gian tới.......................................109 2. Phương hướng hoạt động xuất khẩu của Viglacera trong thời gian tới............................112 II. Giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Tổng công ty Viglacere ................................................116 1. Xây dựng giá bán........................116 2. Xây dựng cơ cấu tổ chức.................118 2.1. Phòng Marketing Tổng công ty...........119 2.2. Các đơn vị thành viên:.................120 3. Phân công quản lý thị trường và sản phẩm 121 3.1. Xác định thị trường trọng điểm.........122 3.2. Xác định sản phẩm mũi nhọn phục vụ xuất khẩu.........................................126 3.3. Phân công quản lý......................128 Sinh viên: Đinh Thị Dung 151Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 4. Nâng cao chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã sản phẩm 130 5. Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.....134 6. Hoàn thiện qui trình xuất khẩu..........138 6.1. Nghiên cứu thị trường, tìm hiểu đối tác 138 6.2. Công tác đàm phán và kí kết hợp đồng. . .139 6.3. Điều kiện cơ sở giao hàng..............139 6.4. Về thanh toán trong xuất khẩu..........139 7. Các giải pháp khác......................140 7.1. Xây dựng công tác tiêu thụ cho công tác xuất khẩu....................................140 7.2. Đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác xuất khẩu ........................................141 7.3.Quảng cáo, đăng kí bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá .............................................141 III. Một số kiến nghị đối với Chính phủ và Bộ tài chính . .142 Kết luận...............................................146 Mục lục................................................148 DAnh mục tài liệu tham khảo............................153 Danh mục các bảng......................................154 danh mục các từ viết tắt..............................160 Lời cam đoan...........................................162 Sinh viên: Đinh Thị Dung 152Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera DAnh mục tài liệu tham khảo 1. Trần Văn Chu, Giáo trình Nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu NXB Đại học Quốc gia Hà Nội - Năm 1999. 2. Đỗ Đức Bình - Bùi Anh Tuấn, Giáo trình Kinh doanh quốc tế NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội - Năm 2001. 3. Trần Chí Thành, Giáo trình Quản trị kinh doanh XNK NXB Thống kê - Năm 2000. 4. Đỗ Đức Bình -Nguyễn Thường Lạng, Giáo trình Kinh tế Quốc tế. NXB Lao động xã hội - Năm 2002. 5. Vũ Hữu Tửu, Giáo trình Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương NXB Giáo dục - Năm 1998. 6. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Viglacera (1998 - 2002) 7. Báo cáo XNK của Viglacera (1998 - 2002) 8. Báo cáo lao động của Viglacera (1998 - 2002) 9. Quyết định thành lập Tổng Công ty Viglacera của Bộ Xây dựng 10. Những căn cứ chiến lược phát triển của Viglacera từ năm 2000 - 2010 Sinh viên: Đinh Thị Dung 153Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 11. Đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh của Viglacera năm 2002 12. Chiến lược xuất khẩu của Viglacera đến năm 2005 13. Báo cáo XNK của Công ty kinh doanh và XNK - Viglacera 14. Báo “Thị trường” - Ngày 21/8/2002 15. Báo “Lao động”- Ngày 24/6/2002, 06/4/2002, 16/9/2002 16. báo “Đầu tư”- Số 98 ngày 16/8/2002 17. Thời báo kinh tế Việt Nam -Số 107 ngày 6/9/2002 Danh mục các bảng Bảng 1: ........................................... Tình hình sản xuất thuỷ tinh và gốm xây dựng trên thế giới ........................................... 33 Bảng 2: ........................................... Giá trị tổng sản lượng của Viglacera trong thời gian qua ........................................... 42 Bảng 3: Cơ cấu vốn kinh doanh của Viglacera Sinh viên: Đinh Thị Dung 154Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera ........................................... 43 Bảng 4: ........................................... Tình hình doanh thu của Viglacera ........................................... 44 Bảng 5: ........................................... Tình hình lợi nhuận của Viglacera ........................................... 44 Bảng 6: ........................................... Tình hình lao động của Viglacera ........................................... 45 Bảng 7: ........................................... Kim ngạch xuất nhập khẩu của Viglacera ........................................... 48 Bảng 8: ........................................... Tỷ trọng doanh thu xuất khẩu trong tổng doanh thu ........................................... 50 Bảng 9: ........................................... Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Sinh viên: Đinh Thị Dung 155Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Viglacera ........................................... 53 Bảng 10: ........................................... Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Viglacera ........................................... 55 Bảng 11: ........................................... Chất lượng sản phẩm của Viglacera ........................................... 58 Bảng 12: ........................................... Giá bán bình quân các mặt hàng xuất khẩu năm 2002 ........................................... 60 Bảng 13: ........................................... Cơ cấu hình thức xuất khẩu của các đơn vị thành viên trong Tổng Công ty Viglacera ........................................... 63 Bảng 14: ........................................... Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động xuất khẩu ........................................... 67 Bảng 15: Sinh viên: Đinh Thị Dung 156Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera ........................................... Tổng doanh thu xuất khẩu tới năm 2005 ........................................... 79 Sinh viên: Đinh Thị Dung 157Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Danh mục các hình Hình 1: ........................................... Sơ đồ tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu ........................................... 22 Hình 2: ........................................... Sơ đồ tổ chức của Viglacera ........................................... 39 Hình 3: ........................................... Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu của Viglacera ........................................... 50 Hình 4: ........................................... Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu của Viglacera ........................................... 55 Hình 5: Biểu đồ cơ cấu hình thức xuất khẩu của các đơn vị thành viên trong Tổng công ty ........................................... 64 Sinh viên: Đinh Thị Dung 158Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Sinh viên: Đinh Thị Dung 159Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera danh mục các từ viết tắt 1. Viglacera : Việt Nam glass and ceramic for contruction Corporation Tổng Công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng 2. VLXD : Vật liệu xây dựng 3. XNK : Xuất nhập khẩu 4. KN : Kim ngạch 5. GTGT : Giá trị gia tăng 6. XK : Xuất khẩu 7. NK : Nhập khẩu 8. HĐQT : Hội đồng quản trị 9. XD : Xây dựng Sinh viên: Đinh Thị Dung 160Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Lời cảm ơn Để hoàn thành bài viết này, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị cán bộ tại Công ty Kinh doanh và xuất nhập khẩu - Tổng Công ty Thuỷ tinh và gốm xây dựng , các thầy cô giáo giảng dạy tại Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Đặc biệt là sự giúp đỡ trực tiếp của thầy giáo hướng dẫn Ths. Nguyễn Anh Minh đã giúp em hoàn thành bài viết này. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên: Đinh Thị Dung Sinh viên: Đinh Thị Dung 161Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Lời cam đoan Thực hiện nội dung đề tài "Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu của Tổng Công ty Thuỷ tinh và gốm xây dựng", tôi đã sử dụng quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh… để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra. Tôi xin cam đoan bài viết của tôi hoàn toàn sự thật, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hay luận văn của người khác. Nếu vi phạm tôi xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường. Sinh viên: Đinh Thị Dung Sinh viên: Đinh Thị Dung 162Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Luận văn này đã được bảo vệ tại hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế - trường đại học kinh tế quốc dân ngày.….. tháng.….. năm 2003 Điểm của luận văn : Bằng số : Bằng chữ : TM Hội đồng Sinh viên: Đinh Thị Dung 163Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera Bảng 9: Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Viglacera. 1999 2000 2001 2002 1999-2002 TT Mặt hàng Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ Giá trị Giá trị Giá trị Giá trị Giá trị trọng trọng trọng trọng trọng (USD) (USD) (USD) (USD) (USD) (%) (%) (%) (%) (%) 1 Sứ vệ sinh 1.540.5 92,086 1.641.8 71,588 2.097.02 60,13 2.694.1 47,417 7.973.59 60,703 73 20 1 6 82 6 2 Gạch ngói 104.059 6,22 100.108 4,365 80.030 2,295 77.103 1,357 361.300 2,750 XD 3 Gạch 28.340 1,694 32.681 1,425 53.876 1,545 95.967 1,689 210.864 1,605 Gramite 4 Kính và - - 81.555 3,556 142.555 4,088 268.185 4,720 492.295 3,750 gương Sinh viên: Đinh Thị Dung 164 Lớp: QTKDQT 41 A
  • Luận văn tốt nghiệp Tổng Công ty Viglacera 5 Gạch - - 13.095 0,571 49.866 1,430 741.032 13,042 803.993 6,120 Ceramic 6 Gạch chịu - - - - 226.768 6,503 420.289 7,397 647.057 4,926 lửa 7 Sản phẩm - - 424.170 18,495 837.016 24,00 1.385.1 24,378 2.646.31 20,146 khác 3 32 8 Tổng 1.672.9 100 2.293.9 100 3.487.13 100 5.681.8 100 13.135.4 100 72 72 2 90 23 Nguồn: Báo cáo xuất khẩu của Tổng Công ty Viglacera Sinh viên: Đinh Thị Dung 165 Lớp: QTKDQT 41 A