HÀNH TRÌNH VÀ TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO SĨ ĐẮC LỘ
Cuốn sách tài liệu quí và giá trị về lịch sử, văn hóa và phương cách đem Tin ...
Chƣơng 12 TRỞ LẠI TRUNG QUỐC VÀ CƢ TRÖ MƢỜI NĂM

Chƣơng 14 Ở ĐÀNG TRONG TRONG NĂM ĐẦU

Chƣơng 15 CHA ANTÔN RUBEN TỚI THĂM ...
Chƣơng 36 NHỮNG ĐAU KHỔ TRONG DỊP LỄ GIÁNG SINH

Chƣơng 37 THẦY INHAXU VÀ TÔI BỊ TÙ, NHƢNG CHÖA RA LỆNH THA

Chƣơng 38 INH...
CHƢƠNG 1-10



Phần II: TRUYỀN GIÁO TẠI ĐÀNG NGOÀI VÀ ĐÀNG TRONG

Lời nói đầu
Chúa đã đổi dự định thứ nhất của tôi là bỏ Â...
và chống hết các thứ nọc độc. Ở xứ này giá trầm nhƣ giá vàng. Hai loại khác là “aquila” và
“calambouc” thông thƣờng, không...
mời ngài vào tƣ dinh, giữ ngài ở đó và tiếp đãi thịnh tình trong năm tuần lễ, rồi sửa soạn cho ngài một
nhà khá tƣơm tất, ...
Chúa trong giáo đoàn và cả ở nƣớc Lào, nơi cậu hoạt động trong nhiều năm với thành quả mỹ mãn,
cậu rất mến thƣơng tôi nên ...
Nhƣng chúng tôi phải vất vả và nhiều hơn để hoãn lệnh bắt giáo dân, công dân của chúa, phải bỏ hết
ảnh, ảnh thnáh giá, và ...
cho những ai đã đến ở đây phải phì cƣời. Họ chỉ dựa theo sách vở và tự coi là nhà bác học, thế rồi
ngƣời ta nhai lại những...
tới triều yết. Các bạn sẽ thấy mỗi sáng quần thần trong nƣớc tới sân rồng cùng với binh sĩ để dự buổi
chầu. Họ buộc phải t...
Sau cùng, hôn lễ đƣợc cử hành rất long trọng, trƣớc mặt quan tòa. Còn những đám cƣới lén lút thì bị
tòa lên án. Tội ngoại ...
bị chém đầu. Tôi tin linh hồn anh lên thẳng trời. Tôi vội vàng chạy tới những ngƣời khác, nhƣng không
ai còn sống: đây là ...
chết, xác đã cứng lạnh và bất động từ sáu giờ đồng hồ. Họ đến quỳ gối, Benoit đọc lớn tiếng kinh Lạy
Cha và kinh Kính Mừng...
CHƢƠNG 11-15



Chƣơng 11: TẠI SAO TÔI PHẢI BỎ ĐÀNG NGOÀI MÀ VÀO ĐÀNG TRONG

Những thành quả tốt đẹp ở Đàng Ngoài dĩ nhiên...
đêm tôi tới nhà giáo dân để rửa tội, giảng, giải tội, làm lễ, rồi khi tờ mờ sáng, tôi về nhà tù mà không
ai để ý.

Cứ thế ...
Cha hoặc kinh Kính Mừng cầu cho ngƣời tội lỗi khốn đốn này. Đó là một trong những điều tôi mong
Chúa thứ tha cho tôi.

Chƣ...
Các cha khác cộng tác trực tiếp với vị đại tông đồ là cha Benoit de Mattos, Jean Leria Gaspar, Louis
và nhiều tu sĩ khác c...
mọi dịp để nhờ tôi lo cho đồng bào của ông và cho dân bản xứ Đàng Trong, rồi ông còn đƣa tôi đến
Thuận Hóa có phủ chúa. Tô...
tôi cập bến Hội An, từ khắp các tỉnh trong nƣớc, giáo dân tuốn đến, cả những ngƣời ở rất xa cũng
không bỏ lỡ dịp đến dự vớ...
CHƢƠNG 16-20



Chƣơng 16: NHIỀU CHUYẾN ĐI TRONG TỈNH QUẢNG NAM VÀ NHIỀU ƠN CHÖA BAN CHO
GIÁO DÂN

Tôi sẽ kể dài hơn một c...
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ

2,080 views
2,015 views

Published on

Published in: Education, Sports
1 Comment
0 Likes
Statistics
Notes
  • cac ban co cach nao tai duoc tai lieu hanh trinh va truyen giao cua giao si Đắc Lộ khong? lam on gui cho minh voi duoc khong? minh dang can tai lieu nay. neu duoc xin gui ve dia chi ngochuan1989@yahoo.com.vn minh xin cam on rat nhieu.
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
2,080
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
3
Actions
Shares
0
Downloads
65
Comments
1
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

HàNh TrìNh Và TruyềN GiáO CủA GiáO Sĩ đắC Lộ

  1. 1. HÀNH TRÌNH VÀ TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO SĨ ĐẮC LỘ Cuốn sách tài liệu quí và giá trị về lịch sử, văn hóa và phương cách đem Tin Mừng đến Việt Nam trong những bước khởi đầu rất quan trọng. Lời nói đầu Chúa đã đổi dự định thứ nhất của tôi là bỏ Âu Châu đi Nhật, nay lại muốn cho tôi hoạt động nhiều năm ở hai nƣớc lân cận với Trung Quốc, nơi Ngƣời đã cho thành lập hai giáo đoàn thịnh vƣợng mà dòng chúng tôi đƣợc thấy ở những nơi xa lạ này, nơi đã có nhiều ngƣời nổi tiếng nhiệt tâm làm việc. Tôi sẽ vắn tắt, trong phần thứ hai này, nói về những điều Chúa đã cho tôi chứng kiến. Thú thật rằng lòng tôi còn tƣởng nhớ đến những nơi đó, đêm ngày tôi vẫn mong sao trở lại và gặp lại biết bao giáo dân tôi đã bỏ lại, họ còn thƣơng tôi, nhắc nhở đến tôi với những cảm tình đằm thắm mà tôi không xứng đáng, nhƣng về phần tôi, tôi xin đáp lại bằng những nỗi niềm thƣơng mến của tôi. Mục Lục Truyền giáo tại Đàng ngoài và Đàng trong Chƣơng 1-10 Chƣơng 1 TÌNH HÌNH Ở ĐÀNG TRONG Chƣơng 2 NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN TỚI ĐÀNG TRONG GIẢNG PHÖC ÂM Chƣơng 3 LẦN THỨ NHẤT TÔI ĐƢỢC PHÁI TỚI ĐÀNG TRONG Chƣơng 4 MẤY VIỆC TRỞ LẠI ĐẶC BIỆT VÀ HAI SẮC LỆNH BẮT GIÁO DÂN Chƣơng 5 TÔI ĐƢỢC PHÁI RA ĐÀNG NGOÀI ĐỂ RAO GIẢNG ĐẠO CHÖA KITÔ TỚI NAY NGƢỜI TA CHƢA BIẾT Chƣơng 6 TÌNH HÌNH ĐÀNG NGOÀI Chƣơng 7 MẤY PHONG TỤC RIÊNG Ở ĐÀNG NGOÀI Chƣơng 8 LẦN ĐẦU TIÊN TÔI TỚI ĐÀNG NGOÀI VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẦU TIÊN CỦA PHÖC ÂM Chƣơng 9 NHỮNG TIẾN TRIỂN LỚN LAO CỦA ĐỨC TIN Ở ĐÀNG NGOÀI Chƣơng 10 LÕNG SỐT SẮNG CỦA GIÁO DÂN TÂN TÕNG TRONG GIÁO ĐOÀN ĐÀNG TRONG Chƣơng 11-20 Chƣơng 11 TẠI SAO TÔI PHẢI BỎ ĐÀNG NGOÀI MÀ VÀO ĐÀNG TRONG Gioan_hung@yahoo.de Trang 1
  2. 2. Chƣơng 12 TRỞ LẠI TRUNG QUỐC VÀ CƢ TRÖ MƢỜI NĂM Chƣơng 14 Ở ĐÀNG TRONG TRONG NĂM ĐẦU Chƣơng 15 CHA ANTÔN RUBEN TỚI THĂM CHÖNG TÔI Ở ĐÀNG TRONG VÀ BUỒN PHIỀN VÌ THẤY ẢNH THÁNH BỊ THIÊU HUỶ Chƣơng 16 NHIỀU CHUYẾN ĐI TRONG TỈNH QUẢNG NAM VÀ NHIỀU ƠN CHÖA BAN CHO GIÁO DÂN Chƣơng 17 NHỮNG VIỆC XẢY RA TRONG BA TỈNH MIỀN NAM VÀ XẢY ĐẾN CHO TÔI Chƣơng 18 NHỮNG SỰ KỲ DIỆU XẢY RA NƠI GIÁO DÂN TỈNH PHÖ YÊN Chƣơng 19 HÀNH TRÌNH BẤT ĐẮC DĨ ĐI PHI LUẬT TÂN VÀ MẤY SẮC THÁI RIÊNG Ở QUẦN ĐẢO NÀY Chƣơng 20 CƢ TRÖ Ở PHI VÀ KHỞI HÀNH ĐI TRUNG QUỐC Chƣơng 21-30 Chƣơng 21 TRỞ LẠI ĐÀNG TRONG VÀ ĐI THĂM VIẾNG TRONG HAI NĂM Chƣơng 22 MẤY PHÉP LẠ CHÖA LÀM QUA HAI GIÁO DÂN NHÂN ĐỨC Chƣơng 23 KẾT QUẢ MƢỜI THẦY GIẢNG THU LƢỢM ĐƢỢC TRONG KHI TÔI ĐI VẮNG Chƣơng 24 HÀNH TRÌNH THỨ NĂM VÀ CUỐI CÙNG CỦA TÔI Ở ĐÀNG TRONG VÀ NHỮNG CUỘC TRỞ LẠI TRONG PHỦ CHÖA Chƣơng 25 LÕNG MỘ ĐẠO CỦA BÀ MARIA Chƣơng 26 LÕNG SỐT SẮNG CỦA GIÁO DÂN TRONG TUẦN THÁNH VÀ TỪ KHẮP NƠI GIÁO DÂN TUỐN ĐẾN Chƣơng 27 CUỘC TRỞ LẠI CỦA MẤY NGƢỜI LỖI LẠC Chƣơng 28 BỔN ĐẠO CŨ Ở ĐÀNG NGOÀI ĐẾN MỜI TÔI TỚI THĂM HỌ Chƣơng 29 BA VỊ QUAN KHÂM PHỤC ĐẠO NHƢNG CHƢA DÁM TIN THEO Chƣơng 30 NHIỆT THÀNH CỦA MỘT GIÁO DÂN TÊN LÀ GIOAN TRONG VIỆC CHINH PHỤC LƢƠNG DÂN Chƣơng 31-40 Chƣơng 31 MỘT LƢƠNG Y DANH TIẾNG Chƣơng 32 NHỮNG THÀNH CÔNG VẺ VANG CỦA GIÁO ĐOÀN MỚI VÀ THẦY GIẢNG ANRÊ TỬ ĐẠO Chƣơng 33 KIÊN TRÌ CỦA MỘT GIÁO DÂN CŨNG TÊN LÀ ANRÊ VÀ MẤY NGƢỜI KHÁC Chƣơng 34 BA MƢƠI NHĂM GIÁO DÂN XƢNG ĐỨC TIN TRONG VỤ BẮT BỚ Chƣơng 35 LẦN TRÁNH TRONG THUYỀN, TÔI ĐI THĂM LẦN CUỐI CÙNG MẤY TỈNH MIỀN NAM Gioan_hung@yahoo.de Trang 2
  3. 3. Chƣơng 36 NHỮNG ĐAU KHỔ TRONG DỊP LỄ GIÁNG SINH Chƣơng 37 THẦY INHAXU VÀ TÔI BỊ TÙ, NHƢNG CHÖA RA LỆNH THA Chƣơng 38 INHAXU BỊ TÙ CÙNG MẤY GIÁO DÂN, LÕNG KIÊN TRUNG CỦA HỌ Chƣơng 39 LÕNG KIÊN TRÌ ĐẶC BIỆT CỦA BỐN BÀ CÓ ĐẠO Chƣơng 40 CAN TRÀNG CỦA BẢY GIÁO DÂN MẠNH BẠO Chƣơng 41-51 Chƣơng 41 MẤY NỮ TU NGƢỜI TÂY BAN NHA ĐI PHI LUẬT TÂN GHÉ QUA ĐÀNG TRONG Chƣơng 42 NHỮNG ĐÓN TIẾP ĐẶC BIỆT CHÖA ĐÀNG TRONG DÀNH CHO CÁC NỮ TU Chƣơng 43 NHỮNG CUỘC THAO DIỄN CHO NGƢỜI TÂY COI, RỒI HỌ TRỞ VỀ TÀU CỦA HỌ Chƣơng 44 TÔI BỊ BẮT GIAM VỚI BỐN ĐỒNG SỰ Chƣơng 45 BỊ ĐIỆU TỚI CHÖA VÀ BỊ TỐNG NGỤC Chƣơng 46 BỊ ÁN TỬ RỒI ĐƢỢC THA Chƣơng 47 CHÍN THẦY GIẢNG BỊ GÔNG CÙM VÀ CHÖNG TÔI ĐAU KHỔ TRONG NGỤC Chƣơng 48 CHÖA RA LỆNH TRỤC XUẤT TÔI KHỎI ĐÀNG TRONG Chƣơng 49 BỊ GIAM Ở HỘI AN HAI MƢƠI HAI NGÀY Chƣơng 50 BỊ TRỤC XUẤT KHỎI ĐÀNG TRONG VÀ ĐƢỢC PHÉP LẠ NHỜ LỜI CẦU XIN THẦY ANRÊ Chƣơng 51 SAU KHI TÔI VỀ MACAO, CHÍN BẠN ĐỒNG SỰ LÀM CHỨNG VÌ ĐẠO Tác giả Alexandre de Rhodes (Nguyễn Khắc Xuyên dịch) Gioan_hung@yahoo.de Trang 3
  4. 4. CHƢƠNG 1-10 Phần II: TRUYỀN GIÁO TẠI ĐÀNG NGOÀI VÀ ĐÀNG TRONG Lời nói đầu Chúa đã đổi dự định thứ nhất của tôi là bỏ Âu Châu đi Nhật, nay lại muốn cho tôi hoạt động nhiều năm ở hai nƣớc lân cận với Trung Quốc, nơi Ngƣời đã cho thành lập hai giáo đoàn thịnh vƣợng mà dòng chúng tôi đƣợc thấy ở những nơi xa lạ này, nơi đã có nhiều ngƣời nổi tiếng nhiệt tâm làm việc. Tôi sẽ vắn tắt, trong phần thứ hai này, nói về những điều Chúa đã cho tôi chứng kiến. Thú thật rằng lòng tôi còn tƣởng nhớ đến những nơi đó, đêm ngày tôi vẫn mong sao trở lại và gặp lại biết bao giáo dân tôi đã bỏ lại, họ còn thƣơng tôi, nhắc nhở đến tôi với những cảm tình đằm thắm mà tôi không xứng đáng, nhƣng về phần tôi, tôi xin đáp lại bằng những nỗi niềm thƣơng mến của tôi. Chƣơng 1: TÌNH HÌNH Ở ĐÀNG TRONG Đàng Trong mới tách ra khỏi Đàng Ngoài chƣa đƣợc năm mƣơi năm 1, còn thì trong bảy trăm năm 2, Đàng Trong chỉ là một tỉnh của Đàng Ngoài. Ngƣời tiên khởi rũ cái ách đó là vị thủy tổ của chúa đƣơng thời. Là quan cai trị, do vua Đàng Ngoài phái vào, ông cũng là em rể. Sau khi cƣ trú ít lâu, ông thấy cái danh hiệu làm chúa đẹp hơn danh hiệu quan trấn thủ, và tƣ thế một ông hoàng có giá hơn tƣ thế một chƣ hầu, ông liền khởi loạn và tự xƣng làm chủ đất nƣớc này. Từ đó ông chuẩn bị đầy đủ võ trang và lối lại cho các con một gia sản mấy lần bị tranh giành. Dân Đàng Ngoài mấy phen xông đánh nhƣng chẳng thành công và hiện nay chắc là quyền thống trị nằm trong tay ngƣời có quyền. Đàng Trong ở vào miền nhiệt đới, về phía nam Trung Quốc; bắt đầu từ vĩ tuyến mƣời hai cho tới vĩ tuyến mƣời tám. Tôi ƣớc lƣợng dài chừng một trăm ngàn bƣớc, nhƣng bề rộng thì ngắn hơn nhiều. Có tất cả sáu tỉnh, mỗi tỉnh đều có quan cai trị và quan tòa riêng 3. Thành phố chúa ở gọi là Kẻ Huế, triều đình rất đẹp và có rất nhiều quan chức. Họ ăn vận rất lộng lẫy, nhƣng điện đài không đồ sộ, vì họ chỉ xây cất bằng gỗ, tuy nhiên cũng rất tiện lợi và rất đẹp, vì có cột chạm trồ tinh vi. Số dân cũng rất đông, tính tình hòa nhã. Tuy vậy họ là những binh sĩ rất thiện nghệ. Họ có lòng sùng kính nhà vua. Còn thuyền chiến thì có một trăm rƣỡi cỗ, đậu ở ba cửa biển. Ngƣời Hòa Lan nghiệm thấy đoàn thuyền chiến ấy có thể thắng nổi đoàn tàu lớn của mình, tuy vẫn tự coi là chúa biển 4. Tôn giáo của họ cũng giống tôn giáo ở Trung Quốc. Họ rất sùng đạo cũng nhƣ ở Đàng Ngoài. Cả hai đều cùng một hiến pháp và gần nhƣ cùng một phong tục. Họ cũng có những tiến sĩ nhƣ ngƣời Tàu và đối với họ, hàng quan lại rất có thế giá. Tuy nhiên, tôi thấy họ không kiêu căng nhƣ ngƣời Tàu, dễ giao thiệp và là những binh sĩ rất lành nghề. Họ cũng rất giàu vì có đất đai phì nhiêu với hai mƣơi bốn con sông cung cấp nƣớc, cũng nhờ đó mà rất tiện việc đi lại bằng đƣờng sông ngòi, tiện việc thông thƣơng và hành trình. Mỗi năm thƣờng có lụt lội, vào tháng một và tháng chạp, thỉnh thoảng có tới ba mùa lụt thêm màu mỡ cho đồng ruộng. Vào thời gian này, chỉ đi lại bằng thuyền. Nhà cửa thì làm trống về phía dƣới để cho nƣớc lƣu thông và vì thế thƣờng đặt trên những cột lớn 5. Có nhiều mỏ vàng ở Đàng Trong, nhiều hồ tiêu mà ngƣời Tàu tớ mua, nhiều tơ lụa đến nỗi còn dùng để đan lƣới và bện dây thuyền. Đƣờng cũng rất nhiều, giá nửa ký chỉ vào khoảng hai xu 6. Ho xuất cảng qua Nhật Bản; tuy rất tốt, nhƣng tôi thấy họ không biết cách lọc nhƣ chúng ta. Mía cũng rất ngon và ngƣời ta thƣờng ăn nhƣ chúng ta ăn táo, giá chẳng là bao. Nhƣng không có lúa mì, không có rƣợu nho, không có dầu, nhƣng đừng tƣởng nhƣ vậy là sống khổ sống sở đâu. Họ có những sản phẩm mà ta không có, thế nên bữa ăn của họ chẳng kém thịnh soạn nhƣ ở Au Châu. Thật ra họ không dùng nhiều nƣớc “xốt” 7 nhƣ ta, nên họ khoẻ mạnh hơn và không mắc những bệnh ta thƣờng mắc, nhƣ tôi đã nói về Trung Quốc. Ở khắp thế giới, chỉ có ở Đàng Trong là có thứ cây danh tiếng gọi là trầm hƣơng, gỗ rất thơm, dùng làm vị thuốc. Có tất cả ba loại: loại quý nhất gọi là “Calamba” hƣơng thơm tuyệt diệu, dùng để bổ tim Gioan_hung@yahoo.de Trang 4
  5. 5. và chống hết các thứ nọc độc. Ở xứ này giá trầm nhƣ giá vàng. Hai loại khác là “aquila” và “calambouc” thông thƣờng, không tốt bằng loại thứ nhất, nhƣng cũng rất có hiệu lực tốt 8. Cũng chỉ ở Đàng Trong mới có thứ tổ yến, ngƣời ta cho vào cháo và thịt. Có một hƣơng vị đặc biệt, thƣờng là món ăn cao sang các ông hoàng bà chúa. Nó trắng nhƣ tuyết. Ngƣời ta tìm thấy trong mấy núi đá ven biển, đối diện với đất liền có trầm hƣơng, ngoài ra không đâu có. Tôi nghĩ chim yến đã hút mủ cây trầm và từ mủ đó trộn với bọt biển, vì thế tổ yến vừa trắng vừa có vị ngon. Ngƣời ta không ăn riêng nhƣng nấu chung với cá hoặc với thịt 9. Cũng ở đất này, có rất nhiều mít có trái, nhƣ trái bí lớn đầy hạt nhƣ hạt dẻ của ta. Chỉ một trái cũng đủ cho một ngƣời vác. Vì thế Chúa quan phòng muốn chúng không sinh trên cành vì không mang nổi, nhƣng ở ngay thân cây. Cái bị là một vỏ dầy, khi cắt ra thì thấy ở trong có tới năm trăm hạt, nhƣng lớn hơn hạt dẻ của ta. Hƣơng vị thơm ngon là ở cái vỏ, vừa trắng vừa thơm, ngƣời ta ăn vỏ còn hạt thì nấu chín. Dứa mà ở Pháp ngƣời ta rất thích cũng là thổ sản rất thông thƣờng. Đó là những trái to hơn dƣa bở của ta, nhƣng vô địch về thơm ngon khi còn tƣơi. Trái mọc từ dƣới đất nhƣ atisô của ta, là cũng tƣơng tự. Vỏ bên ngoài đỏ và vàng, đầy những mắt nhỏ và chấm, bên trong rất ngọt. Một ngƣời khó mà ăn hết một trái. Dứa thuộc loại nhiệt chứ không giải nhiệt. Tôi không nói tới nhiều trái khác ở xứ này, nhƣ dƣa hấu, giống nhƣ dƣa hấu tôi đã thấy ở Ý. Có ba thứ cam, thứ cam của ta không tài nào so đo nổi, khi ăn cứ tƣởng nhƣ ăn trái nho “musca” 10 của ta. Nào ai còn nói đất nƣớc này chẳng thẩ sánh với đất nƣớc ta. Chƣơng 2: NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN TỚI ĐÀNG TRONG GIẢNG PHÖC ÂM Tôi không chú ý tới đất đai phì nhiêu, nhƣng tới kết quả lớn lao trong việc truyền bá Phúc âm trong thời gian ngắn. Tôi là chứng nhân và tôi có thể nói: đƣợc phái đến đất tất cả năm lần, tôi hằng chứng kiến phép lành Chúa ban cho đất màu mỡ này, đúng nhƣ lời thánh vƣơng Đavít đã ca: Trời đổ sƣơng xuống và toàn trái đất sinh hoa kết trái 11. Những ngƣời đầu tiên đƣợc sai tới giảng cho xứ này biết Chúa Kitô, trƣớc kia chƣa bao giờ nghe tới, đó là cha Francois Buzomi, ngƣời thành Napoli, vị tông đồ đích thực của Đàng Trong, ngƣời đã tận tuỵ lo việc truyền giáo, hoạt động trong hơn hai mƣơi năm với một sức kiên trì đáng đƣợc khen lao ca tụng; ngƣời bạn đồng hành của ngài là cha Diego Carvaillo, ngƣời Bồ, từ đó đã đi Nhật và chịu tử đạo. Cơ hội tiên khởi để bắt đầu việc truyền giáo này là Ferdinand de Costa đức ông ngƣời Bồ, đã về Macao sau khi tới Đàng Trong. Ông tới tìm các cha và kể những sự ông đã thấy cùng nói tới triển vọng tốt đẹp về việc truyền giáo cho đất nƣớc này. Cha Buzomi, sau khi nghe biết, liền đến quỳ dƣới chân bề trên, xin cho phép đi tới đất nƣớc mà Chúa kêu gọi ngài. Lời xin liền đƣợc chấp nhận. Thế là ngài trẩy đi ngay đầu năm 1615 và tới nơi vào ngày lễ thánh Phêrô lập tòa ở thành Rôma 18 tháng giêng. Ngài nghĩ ngay đến việc cất một nhà nguyện ở cửa Hội An, nơi tàu đƣa ngài tới chính ngày lễ Phục sinh. Ngài long trọng dâng thánh lễ đầu tiên và rửa tội cho mƣời ngƣời tân tòng. Từ bến này ngài đi hoạt động ở khắp miền lân cận, năm thứ nhất, đƣợc ba trăm giáo dân tân tòng. Ngài cất thêm một nhà nguyện thứ hai cho đủ chỗ thờ phƣợng. Vì có một mình nên lúc thì ngài ở nhà nguyện trên, khi thì ở nhà nguyện dƣới. Nhƣng rồi ngài nhận đƣợc trợ lực từ Macao, đó là cha Francois Barret và Francois de Pina 12, cả hai đều là những thợ làm việc không bao giờ biết mệt mỏi. Sau ít lâu đã thu đƣợc kết quả rất đặc biệt nơi các dân ở đây. Đƣợc thành công mỹ mãn, dĩ nhiên thù địch chính là ma quỷ phản kháng. Một cơn hạn hán đã xảy đến làm cho mất hy vọng gặt hái. Lƣơng dân liền đổ tội cho các thầy phù thuỷ mới, lấy cớ dạy đƣờng lên trời, nhƣng đã phá phách cõi đất. Thế là tin theo lời vu oan, dân chúng tới gây gỗ, đuổi các cha ra khỏi nhà nguyện và bắt phải trốn vào rừng thiếu thốn đủ mọi thứ, trừ niềm tin vào Chúa. Vì thế Chúa không bỏ. Cha Buzomi đƣợc lòng quan trấn tỉnh Quy Nhơn, ông này đƣợc chúa tin cậy, và vì thế ngài đƣợc toàn cõi vị nể. Đƣợc tin ngƣời ta đã xử tệ với bạn thân của mình, ông liền cho Gioan_hung@yahoo.de Trang 5
  6. 6. mời ngài vào tƣ dinh, giữ ngài ở đó và tiếp đãi thịnh tình trong năm tuần lễ, rồi sửa soạn cho ngài một nhà khá tƣơm tất, cho voi long trọng rƣớc ngài tới ở. Tuy đƣợc tiếp đãi nồng hậu nhƣ thế, ngài đã ngã bệnh sau thời gian bị đày ải và chịu nhiều cực khổ. Bề trên ở Macao sợ mất ngài nên gọi ngài về để săn sóc và bồi dƣỡng. Ngài vâng lệnh không dám sai, nhƣng Chúa đã cho ngài hồi phục trƣớc ngày ngài bắt đầu trẩy đi. Thế là ngài chỉ còn nghĩ tới hoạt động ngay mà thôi. Năm 1618 ngài đảm nhận trụ sở ở tỉnh Quy Nhơn cùng với cha Francois de Pina. Cả hai khởi công thành lập một giáo đoàn mới, nhƣng hòa bình chẳng đƣợc bao lâu. Ma quỷ lại bày mƣu tìm kế, số là lƣơng dân tự ý bẻ tay đánh gẫy chân mấy tƣợng thần rồi đem ra chiềng dân chúng nơi công, tố cáo giáo dân đã phạm tội ác. Dân chúng cả tin và nổi giận chống đối các cha, dùng võ lực đối với mấy ngƣời giúp việc và bắt giam tù. Cha Buzomi liền kín đáo vào tƣ dinh, phân bua minh oan, rồi trở về đem lệnh chúa truyền để cho các cha và giáo dân sống yên hàn. Trong mấy năm sau, 1620, 1621 và 1622, dòng đã phái liên tiếp những thợ mới đến làm vƣờn nho đẹp đẽ này, vƣờn nho bắt đầu lan ra khắp đất nƣớc. Cha Emmanuel Porgez cũng tới. Tôi sẽ không kể tên các cha khác, sợ quá dài dòng. Nhƣ vậy cũng đủ nói lên rằng đã có mấy ngƣời kiên trì hoạt động và trong ít lâu đã thành lập đƣợc mấy giáo đoàn. Chƣơng 3: LẦN THỨ NHẤT TÔI ĐƢỢC PHÁI TỚI ĐÀNG TRONG Các tông đồ kiên trì giảng Phúc âm đƣa vào lƣới rất nhiều cá đến nỗi không thể kéo lên đƣợc, nên đã kêu gào trong thƣ gủi về bề trên ở Macao để xin phái các cha đến viện trợ, dù có gửi tới hai chục thì vẫn còn những mẻ cá lớn lao và tốt đẹp để săn sóc. Vì Nhật Bản vẫn thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, nên bề trên tin rằng Chúa cho phép sự ác đó để mở cửa cho Đàng Trong nhận Phúc âm. Thế là năm 1624, bề trên phái cha Mathêu Mattos, trƣớc kia ở Rôma làm quản thủ các tỉnh dòng, đến thăm việc truyền giáo ở Đàng Trong, cùng với năm bạn đồng sự ngƣời Au, trong số đó tôi hân hạnh là ngƣời thứ năm và một ngƣời Nhật thông thạo chữ Hán. Chúng tôi khởi hành từ Macao vào tháng 10 năm 1624 và sau mƣời chính ngày thì tới Đàng Trong, tất cả đều hồ hởi bởi hoạt động tốt. Ở đó chúng tôi gặp cha Pina, ngài rất thông tạo tiếng xứ này, một thứ tiếng khác hẳn tiếng Tàu. Tiếng mới này còn thông dụng ở Đàng Ngoài, ở Cao Bằng, ở Đàng Trong và ngƣời ta còn nghe và hiểu ở ba xứ lân bang khác. Đối với tôi, thú thật vừa tới Đàng Trong và nghe dân xứ này nói, nhất là phụ nữ, tôi tƣởng nhƣ nghe chim hót và tôi không bao giờ mong có thể học đƣợc. Hết các tiếng đều độc vận và chỉ phân biệt ý do nhiều giọng nói khác nhau. Một chữ nhƣ “đại” chẳng hạn, có tới hai mƣơi ba nghĩa hoàn toàn khác nhau, do cách đọc khác nhau, vì thế khi nói thì nhƣ ca nhƣ hát. Tôi đã đề cập tới nhiều hơn trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Căn cứ vào đó thì thấy học thứ ngôn ngữ này không phải là dễ. Vì thế mà tôi thấy cha Fernandez và cha Buzomi phải dùng thông ngôn để giảng, chỉ có cha Francois de Pina không cần thông ngôn vì nói rất thạo. Tôi nhận thấy bài ngài giảng có ích nhiều hơn bài các vị khác. Điều này khiến tôi tận tuỵ học hỏi, tuy vất vả, thế nhƣng khó ít mà lợi nhiều. Tôi liền chuyên chú vào việc. Mỗi ngày tôi học một bài và siêng năng nhƣ khi xƣa vùi đầu vào khoa thần học ở Rôma. Chúa đã cho tôi trong bốn tháng tôi đủ khả năng để ngồi tòa giải tội và trong sáu tháng tôi đã giảng đƣợc bằng ngôn ngữ Đàng Trong và cứ thế tôi tiếp tục trong nhiều năm. Tôi khuyên tất cả các vị nhiệt tâm muốn tới những tỉnh dòng chúng tôi để chinh phục các linh hồn, thì nên chuyên cần ngay từ buổi đầu. Tôi cả quyết rằng hiệu quả của việc trình bày các mầu nhiệm trong ngôn ngữ của họ thì vô cùng lớn lao hơn khi giảng bằng thông ngôn: thông ngôn chỉ nói điều mình dịch chứ không sao nói với hiệu lực của lời từ miệng nhà truyền đạo có Thánh Thần ban sinh khí. Ngƣời giúp tôi đắc lực là một cậu bé ngƣời xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chƣa biết tiếng cậu, thế nhƣng, cậu có trí thông minh biết những điều tôi muốn nói. Và thực thế, cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa. Tôi sửng sốt thấy trí thông minh của cậu bé và trí nhớ chắc chắn của cậu. Từ đó cậu đã làm thầy giảng giúp các cha. Cậu đã là một dụng cụ rất tốt để tôn thờ Gioan_hung@yahoo.de Trang 6
  7. 7. Chúa trong giáo đoàn và cả ở nƣớc Lào, nơi cậu hoạt động trong nhiều năm với thành quả mỹ mãn, cậu rất mến thƣơng tôi nên đã muốn lấy tên tôi. Từ ngày tôi trở về Au Châu, tôi đã cho in ở Rôma, nhờ các vị ở bộ Truyền giáo, một tự vị tiếng Đàng Trong, Latinh và tiếng Bồ, một cuốn ngữ pháp và một cuốn giáo lý, trong đó tôi bàn giải về phƣơng pháp chúng tôi dùng để trình bày mầu nhiệm đạo thánh cho lƣơng dân. Việc này sẽ có ích cho những ngƣời ao ƣớc tới giúp việc giảng Chúa Kitô bằng ngôn ngữ tới nay chỉ dùng để sùng bái quỷ ma 13. Chƣơng 4: MẤY VIỆC TRỞ LẠI ĐẶC BIỆT VÀ HAI SẮC LỆNH BẮT GIÁO DÂN Năm 1625, đạo Kitô đƣợc truyền bá trong khắp các nơi ở Đàng Trong. Chúng tôi có mƣời tu sĩ chuyên cần hoạt động và công việc không gặp cản trở. Bởi vì Thầy chúng tôi phụng sự cho chúng tôi thấy nhãn tiền rằng ơn thánh cùng làm với chúng tôi, với những thành công quá sức chúng tôi và quá sự chúng tôi mong mỏi. Có vị làm việc ở Quy Nhơn với cha Buzomi, một ngƣời nóng nhƣ lửa, lòng nhiệt thành của ngài nung nấu mọi tâm hồn. Tôi làm việc với cha Francois de Pina ở tỉnh Quảng Nam, nơi có một số rất đông lƣơng dân chịu phép rửa tội. Từ đó chúng tôi vào trong phủ và khi đi qua chúng tôi ở lại ít bữa ở Huế nơi có một bà hoàng, họ gần với chúa và rất sùng thần ngoại, nhƣng khi nghe cha Pina giảng thì đƣợc ơn Thiên Chúa soi sáng, bà liền bỏ sai lầm và xin chịu phép rửa tội, lấy tên là Maria Madalêna. Từ đó bà là điểm tự cho giáo đoàn này. Gƣơng của bà và thế giá của bà đã giúp rất đắc lực cho việc chinh phục lƣơng dân và duy trì lòng nhiệt thành nơi những kẻ chịu phép rửa. 14 Tôi vẫn thƣờng gặp bà trong suốt thời kỳ tôi ở xứ này và tin rằng bà vẫn kiên trì từ hai mƣơi tám năm trong việc thi hành các nhân đức đạo Chúa Kitô. Trong tƣ dinh của bà có một nhà nguyện rất đẹp. Trong những vụ bắt bớ gắt gao nhất, nhà nguyện đó vẫn không lay chuyển, hằng ngày bà tới đó cầu nguyện và thƣờng mở cửa để chứa chấp các đạo hữu trong tỉnh. Bà vẫn điều khiển giáo đoàn mà không ai dám phản đối. Bà còn dùng lời lẽ khôn ngoan khiển trách để chinh phục mấy ngƣời lƣơng dân có thế giá, trong số đó có mấy ngƣời thuộc họ nhà chúa. Ngày nay bà vẫn là nơi trú ẩn cho hết các cha và không có giáo dân nào mà bà không giúp đỡ về hết những gì có thể làm đƣợc. Trong tất cả những thành công Chúa ban cho chúng tôi, Chúa lại cho chúng tôi hai việc rất đau đớn, may mà có sức mạnh hơn sức loài ngƣời đã nâng đỡ chúng tôi. Thứ nhất, cha Pina qua đời. Cha là một trong những kiện tƣớng đạo binh nhỏ của chúng tôi. Tai nạn bất thần đến với chúng tôi năm 1625. Cha đi thăm ngƣời Bồ mới đến bến Hội An. Tàu của họ bỏ neo ở xa. Thăm họ xong, cha đi một chiếc xuồng để vào bờ gặp lại đoàn chiên nhƣng có cơn bão lớn nổi lên làm lật chiếc xuồng. Bị vƣớng trong chiếc áo dài, cha không bơi vào bờ đƣợc nhƣ những ngƣời khác. Cha đã chìm dƣới biển và trong nƣớc mắt của biết bao giáo dân trong toàn cõi. Thứ hai là cơn bão táp đã tới từ phía phủ chúa 15. Vì thấy ngƣời Bồ không trở lại năm đó với đoàn tàu chở hàng hóa nhƣ thƣờng lệ, chúa cả nghe bên phía địch thù của giáo dân. Những ngƣời này không bỏ lỡ dịp vu cáo và làm cho chúaa không tin giáo dân nữa. Trong những tội vu khống, có tội này: giáo dân không thờ kính tổ tiên, lại theo đạo man di, vứt bỏ tâm tình biết ơn đối với tổ tiên, những tâm tình trời đặt trong lòng mọi ngƣời. Sở dĩ có những lời vu khống này là vì có ngƣời quá nhiệt thành, không kín đáo, không khôn khéo. Họ muốn bãi bỏ hết các nghi lễ thƣờng làm ở xứ này để cầu siêu đối với vong linh ngƣời quá cố. Tôi đã tƣờng thuật nhiều trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Thực ra nếu có một vài nghi lễ giáo dân không nên làm vì sợ tội, thì đa số kể nhƣ vô thƣởng vô phạt và chúng tôi cho là có thể đƣợc duy trì mà không phạm tới sự thánh thiện của đạo ta 16. Nghe theo những luận điệu vu cáo đó, trứơc hết chúa ra lệnh cấm chúng tôi sau đó trừng trị giáo dân. Chúa truyền cho hết các cha dòng phải rời bỏ các giáo đoàn đã thành lập và rút lui về Hội An, viện cớ để bảo vệ tính mạng cho chúng tôi và sự tự do thi hành chức vụ. Chúng tôi đã tìm cách xoay trở vấn đề, cậy nhờ ngƣời con trƣởng của chúa có thịnh tình với chúng tôi 17, xin cho chúng tôi đƣợc phép ở lại một trăm ngày để lo đám tang cho cha Pina, Trong khi đó, chúng tôi có thời giờ trình bày với chúa để chúa thay đổi ý định. Gioan_hung@yahoo.de Trang 7
  8. 8. Nhƣng chúng tôi phải vất vả và nhiều hơn để hoãn lệnh bắt giáo dân, công dân của chúa, phải bỏ hết ảnh, ảnh thnáh giá, và tràng hạt giáo dân tân tòng đeo ở cổ nó. Chúng tôi không thể ngăn cản đƣợc việc thi hành sắc lệnh, nếu Thiên Chúa không sắp đặt cho chúng tôi một vị quan cái tỉnh có thịnh tình với chúng tôi. Ông đã giúp đỡ chúng tôi nhƣ một giáo dân tốt chúng tôi có thể mong đƣợc. Thế là chùa định chỉ thi hành sắc lệnh và chúng tôi có đủ thời giờ loan báo cho giáo dân tân tòng giấu hết ảnh và đừng đeo tràng hạt trên cổ nữa. Có nhiều ngƣời lấy làm hổ thẹn vì bỏ cơ hội tỏ lòng kiên trung trong đức tin và coi việc cất giấu ảnh tƣợng niềm tin và vinh quang Chúa Kitô nhƣ một thái độ hèn nhát bất xứng với danh nghĩa ngừơi đeo đạo Kitô. Nhƣng khi chúng tôi cho họ biết rằng đạo Kitô không ngăn cấm lòng can đảm, thế nhƣng không nên quá táo bạo, thì họ nghe theo. Rồi khi sắc lệnh ban hành thì không ai bỡ ngỡ và lƣơng dân không còn lý do hung bạo gây hại cho giáo dân. Chƣơng 5: TÔI ĐƢỢC PHÁI RA ĐÀNG NGOÀI ĐỂ RAO GIẢNG ĐẠO CHÖA KITÔ TỚI NAY NGƢỜI TA CHƢA BIẾT Ở đây xin hết lòng tôn thờ Chúa thƣơng yêu và quan phòng đã muốn dùng đầy tớ hèn mọn nhất và bất xứng nhất để khởi sự một công trình đẹp đẽ đã thực hiện từ mấy thế kỷ nay. Phần tôi, tôi tự nhận không xứng đáng với công việc lớn lao Chúa trao phó cho tôi, chứng tỏ chỉ mình Ngƣời làm cho hoàn thành. Tôi thú thật chẳng làm đƣợc gì, chỉ ngăn cản việc Thiên Chúa mà thôi. Tôi ở Đàng Trong chừng mƣời tám tháng và rất hài lòng thấy số con Thiên Chúa tăng lên. Khi cha Baldinotti, tu sĩ Dòng Tên, đƣợc phái từ Macao đến một lãnh thổ mới, tới nay chƣa có ngƣời nào thuộc dòng chúng tôi đến, bởi vì dòng chúng tôi nhằm tất cả vào Nhật Bản, thì tháng ba năm 1626 ngài đã tới Đàng Ngoài trong một chiếc tàu buôn 18. Cha rất nhiệt thành, nhƣng đau khổ cho cha biết bao, vì trong cơ hội có một không hai này cha đành nhƣ ngƣời câm, vì không hiểu biết ngôn ngữ xứ này. Cha đã vào yết kiến chúa, dâng tặng phẩm và đƣợc tiếp đón trong phủ chúa. Cha nhận thấy đất nƣớc này vừa lớn vừa đẹp, nhân dân hiền hòa, tự nhiên, tính tình dễ thƣơng. Thế là cha hết sức tiếc vì đã không học tiếng để có thể vun trồng đức tin trong một mảnh đất coi nhƣ đã đƣợc sửa soạn trƣớc. Cha đành chỉ rửa tội đƣợc bốn trẻ nhỏ hấp hối, đó là đóa hoa đầu mùa của giáo đoàn và nhƣ bốn trạng sƣ về bênh vực trƣớc tòa Chúa cho toàn dân. Thấy mình vô ích cho công trình lớn lao, chỉ vì không hiểu biết ngôn ngữ, cha liền viết thƣ thúc giục các cha ở Đàng Trong, nài xin và khẩn khoản các cha thƣơng đến cả một dân tộc lớn đang không có ai đến đƣa họ vào đƣờng ngay nẻo chính. Đồng thời cha cũng viết về Macao và khi trở về thì đến trình bề trên sớm phái ngƣời biết nói tiếng đến Đàng Ngoài. Lòng nhân lành vô tận của Chúa đã muốn trao phó nhiệm vụ này cho tôi, bởi vì ở Đàng Trong lúc này không cần đến tôi. Và ngôn ngữ tôi đã học đƣợc chính là cớ để bề trên đƣa mắt tới tôi, phái tôi đi truyền giáo ở Đàng Ngoài. Trọng trách này, đối với tôi, là một vinh dự lớn, nên tôi liền sửa soạn trẩy đi. Trong việc này có một nguy hiểm phải tránh. Đó là nếu tôi bỏ Đàng Trong mà ra thẳng Đàng Ngoài, vì hai nƣớc đang có chiến tranh với nhau, chúa Đàng Ngoài nghi cho tôi đã từ đất thù địch mà tới. Vì thế tôi đành phải trở về Macao. Để tránh không cho ngƣời Đàng Ngoài nghi ngơ, tôi đã bỏ Đàng Trong vào tháng 7 năm 1626, để nhiều cha can đảm ở lại nơi tôi sẽ trở lại mƣời bốn năm sau. Tôi sẽ nói vắn tắt về những thành quả kỳ diệu của đức tin ở Đàng Ngoài, những sự việc tôi đã trình bày đầy đủ hơn trong cuốn Lịch sử viết cách đây ba năm 19. Chƣơng 6: TÌNH HÌNH ĐÀNG NGOÀI Tôi sẽ không nói hết những điều tôi thấy ở miền truyền giáo này, bởi vì tôi đã trình bày đầy đủ trong một cuốn sách. Tuy nhiên ngƣời ta đã khuyên tôi tóm lƣợc ở đây nhân dịp tôi kể về hành trình của tôi, nhƣ vậy những ai chƣa đọc sách Lịch sử Đàng Ngoài của tôi, sẽ thích thú vì đƣợc biết ít ra một cách sơ lƣợc. Tôi biết bởi đâu đất nƣớc rất đẹp này lại không đƣợc biết tới, bởi đâu các nhà địa lý Châu Au không biết tới tên gọi và gần nhƣ không ghi trong bản đồ nào cả, tuy họ chép đầy đủ tên các nƣớc trên thế giới 20. Là vì họ lẫn với một nơi trùng với tên xứ này. Về xứ này họ chỉ đƣa ra những lời dối trá làm Gioan_hung@yahoo.de Trang 8
  9. 9. cho những ai đã đến ở đây phải phì cƣời. Họ chỉ dựa theo sách vở và tự coi là nhà bác học, thế rồi ngƣời ta nhai lại những sai lầm của ngƣời viết sách. Đàng Ngoài là một nƣớc lân bang với Trung Quốc, trƣớc đây tám trăm năm là một tỉnh tuỳ thuộc Trung Quốc, cũng nhƣ Bắc Kinh và Nam Kinh. Rồi họ đã đứng lên phản công tách ra khỏi do một viên tƣớng lãnh tự xƣng vƣơng quốc củng cố ngôi vị. Ngƣời Tàu đành phải giảng hòa, chỉ đòi phải triều cống qua loa ba năm một lần 21. Đàng Ngoài lớn hơn Đàng Trong gấp bốn lần và theo tôi, thì rộng bằng nƣớc Pháp, bắt đầu ở vĩ tuyến mƣời tám cho tới vĩ tuyến hai mƣơi tƣ, hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt đới. Thế nhƣng rất đẹp và rất trù phú, có hơn năm muơi sông ngòi và biển ở hai phía. Về khí hậu, về đồng ruộng lụt ngập, về trái cây, về hiến pháp, phong tục và tình thế thì cũng chung nhau nhƣ tôi đã nói ở chƣơng nhất phần hai này. Tôi cũng đã nói rằng chƣa đƣợc một thế kỷ Đàng Trong vẫn thuộc về cùng một nƣớc với Đàng Ngoài 22. Nƣớc này thật là một nƣớc quân chủ, tuy có hai quốc vƣơng, một thì gọi là vua, chỉ có danh tánh, và một là chúa ngƣời có mọi quyền hành và tuyệt đối cắt đặt việc cai trị các tỉnh, trừ chức tiến sĩ thì dành cho vua, để chính vua ban vào thời thi tuyển đã định trƣớc. Cũng dành cho vua một nghi thức cử hành vào đầu năm mới. Ngoài ra, vua không ra mắt, chỉ ở cấm cung trong điện đài cổ kính, cuộc đời trôi qua nhàn rỗi, trong khi đó chúa nắm hết quyền hành, chiến tranh cũng nhƣ hỏa binh 23. Vị này mới là vua thật, kể từ khi những vị trƣớc cƣớp quyền, nay thực thụ nắm hết không ai có thể tranh giành đƣợc. Tôi phấn khởi thấy toàn dân tỏ lòng trọng kính và nhanh nhẩu vâng mệnh lệnh. Lúc nào cũng có năm mƣơi ngàn lính hộ vệ, mỗi ngày mƣời hai ngàn thay phiên canh gác, chỉnh tề nghiêm khắc. Tất cả đều vận nhung phục chúa ban cho vào đầu mỗi năm. Khi tuyên thệ trung thành thì họ mặc nhung phục màu tím, cũng là màu dành cho các bậc tiến sĩ và không ai vào chầu chúa với áo màu đỏ. Vũ khí binh sĩ thì gồm có súng tay, giáo mác và mã tấu. Họ chỉ mang một thứ vũ khí và xủ dụng rất khéo, nhất là hỏa vũ khí. Súng đại bác của họ không bằng gang, cũng không rộng lòng nhƣ súng của ta. Điều tôi biết chắc là mặc dầu sống chung với nhau và khi có giặc họ chiến đầu rất anh dũng không tiếc mạng sống, thế nhƣng họ thƣơng nhau nhƣ anh em và không bao giờ tôi nghe nói có binh sĩ nào dùng vũ khí ám hại đồng sự. Tôi phải xấu hổ cho giáo dân ta, có một ngƣời Pháp tới Đàng Ngoài, ngƣời đó gặp một ngƣời Bồ là bạn thân, thế nhƣng không ở với nhau lâu mà không xích mích. Binh sĩ lƣơng dân khi thấy hai ngƣời cầm súng hăm he thì đều sửng sốt về sự hung hãn đó. Họ bực tức nói với tôi rằng chƣa bao giờ thấy một việc man rợ nhƣ thế. Tôi để cho độc giả nghĩ họ sẽ phê phán gì nếu họ thấy những cách ăn ở của ta ở Au Châu 24. Từ khi tôi trở về Au Châu, nhiều ngƣời tƣởng tôi kể lại cho vui, khi tôi nói hay khi họ đọc trong các sách của tôi rằng chúa Đàng Ngoài có tới năm trăm thuyền chiến, hoặc họ tƣởng tôi coi thuyền chiến là thứ thuyền nhỏ, bởi vì các tƣớng lãnh ở Au Châu giàu gấp mƣời lần chúa Đàng Ngoài cũng chỉ bảo dƣỡng đƣợc bốn trăm với đầy đủ trang bị 25. Vậy thì tự do ai muốn tin thì tin, còn tôi, nhờ ơn Chúa, tôi không ƣa phóng đại và ghét gian dối đến ghê tởm, thế nhƣng tôi không hối khi nói lên những gì tôi thấy. Tôi đã một lần đếm đủ bốn trăm thuyền chiến trong đạo binh chúa Đàng Ngoài, tất cả đều đầy đủ trang bị, có thể không rộng bằng, nhƣng dài hơn những thuyền chiến tôi đã thấy, không lâu đây, khi từ Roma trở về, ở cửa biển thành Gênes và thành Macxây. Thực ra những thuyền chiến ấy không có tù để chèo, hay ngƣời khổ sai nhƣ chúng ta, cũng không có tội nhân bị án phạt chèo thuyền nhƣ chúng ta, nhƣng là binh sĩ nhận danh dự đƣợc chèo. Vì thế tiêu khiển thông thƣờng nhất của chúa là dự các buổi thao diễn thuyền chiến ở bến, binh sĩ nào chèo giỏi thì đƣợc chúa thƣởng hậu hĩ. Thƣờng thƣờng chúa ra khỏi đền bốn hay năm lần một năm để du ngoạn, lần nào cũng có ít ra mƣời hay mƣời hai ngàn ngƣời hộ vệ với ba trăm voi, trên lƣng có mƣời hai ngàn ngƣời hộ vệ với ba trăm voi, trên lƣng có chòi sơn son hoặc thiếp vàng: đó là những cỗ xe chở các bà hoàng đi rất khoan thai, mỗi voi có thể chở ít ra mƣời hay mƣơi hai ngƣời. Thỉnh thoảng tôi thấy chúa cƣỡi voi và điều khiển rất khéo. Ngoài những tiêu khiển đó, chúa chăm chỉ lo việc nƣớc và không ngày nào không cho dân Gioan_hung@yahoo.de Trang 9
  10. 10. tới triều yết. Các bạn sẽ thấy mỗi sáng quần thần trong nƣớc tới sân rồng cùng với binh sĩ để dự buổi chầu. Họ buộc phải tới tuy họ còn nhiều phụ tá dƣới quyền mình ở các tỉnh và ở cả mỗi xã. Chƣơng 7: MẤY PHONG TỤC RIÊNG Ở ĐÀNG NGOÀI Tôi có thể kể nhiều sự kỳ lạ về tôn giáo, về pháp luật, về thƣơng mại, về cỗ bàn và về hôn nhân nơi ngƣời Đàng Ngoài, nếu tôi muốn lặp lại những gì tôi đã viết ở chỗ khác. Ở đây tôi chỉ đề cập sơ qua không theo thứ tự tới một ít phong tục coi nhƣ có hệ tới xu hƣớng tốt của dân tộc này để nhận đức tin đạo ta. Tôi quan sát nơi họ có một tập quán có thể cho chúng ta tƣởng đạo ta từ xa xƣa đã có giảng ở đất nƣớc này mà ngày nay không ai còn nhớ tới. Trẻ vừa sinh ra, tôi thấy cha mẹ liền bôi trên trán một dấu chữ thập bằng than hay mực. Nhƣng tại sao họ lại bôi trên trán nhƣ thế. Tôi hỏi thì họ nói là để trừ tà ma và ngăn không cho chúng làm hại tới trẻ. Tôi lại thêm: nhƣng tại sao lại làm cho tà ma sợ vì chúng là thần linh? Họ thú nhận chẳng biết chẳng hiểu gì hơn. Còn tôi, tôi không bỏ lỡ cơ hội cho họ biết bí quyết và dạy cho họ công nhận thế lực của thánh giá. Điều đó nhiều lần trở thành phƣơng thế để chinh phục họ trở lại đạo. Nơi họ cũng có ba thứ tôn giáo nhƣ ở Trung Quốc. Nhƣng việc sùng bái vong linh tiên tổ vƣợt hết những gì có thể nghĩ đƣợc ở Au Châu. Họ vất vả rất nhiều để tìm đất đặt mồ mả. Họ cho rằng, hạnh phúc toàn gia tộc đều phụ thuộc vào sự để mả này. Họ không tiếc tiền của, công lao để bày cỗ bàn tiếc tùng mấy ngày liền sau đám tang, rồi mỗi năm, vào ngày kỵ, không bao giờ họ bỏ không làm giỗ tổ tiên tới tám đời hoặc có khi tới mƣời đời. Tôi không nói gì thêm về các việc khác họ làm trong dịp này, tôi đã nói trong cuốn Lịch sử Đàng Ngoài. Khi tôi bắt đầu giảng và ngay trƣớc khi chúa cho tôi một nhà thờ đầu tiên, thì có một bà còn trẻ trong họ hàng nhà chúa, chồng mới mất. Vì rất yêu chồng, nên khi nghe nói tôi cầu nguyện cho các vong linh thì bà mời tôi và xin tôi cho bà biết có liều thuốc nào hiệu nghiệm để chữa chồng bà mới qua đời đƣợc mấy tháng nay. Bà sẽ không tiếc gì, tôi muốn đòi hỏi gì thì bà bằng lòng dâng cúng. Tôi cho bà biết là vì đạo tôi giảng, tôi buộc mình không đƣợc nói dối, trong bất cứ trƣờng hợp nào. Và điều bà xin, tôi không thể nói sự thật chẳng đẹp lòng bà. Tôi đến đất nƣớc này để đem liều thuốc có đảm bảo cho ngƣời còn sống, miễn là họ muốn dùng, còn về các vong linh ngƣời đã chết trong sai lầm, thì tôi chẳng chữa chạy đƣợc gì, mà chỉ còn khóc lóc thƣơng ngƣời xấu số. Bà này chỉ đáp lại tôi bằng đôi mắt và thở dài, không nghĩ đến việc trở lại, nhƣng Chúa đã cho một bà sang trọng khác đã dự vào câu chuyện, bà này lý luận, nếu ông này muốn đƣa lời dối trá trong lời giảng thì ông chỉ cần bảo bà kia rằng ông có thể chữa chạy cho chồng bà kia đƣợc và bà kia sẽ dâng cho ông một phần gia tài, và chẳng ai có thể vạch sự gian dối đó đƣợc. Nhƣng vì trong cơ hội tốt để làm giàu, ông đã kiên trì nói sự thật, thì phải tin rằng ông không lừa gạt trong đạo ông giảng và lời ông nói là sự thật, vì thế tôi xin theo và xin vào con đƣờng cứu rỗi ông giảng dạy. Sau đó ít lâu, bà này tới gặp tôi, kể lại câu chuyện và cho tôi biết ý định của bà. Tôi liền bắt đầu dạy giáo lý cho bà, và sau đó rửa tội cho bà. Và tôi thầm phục thế lực của ơn thánh và tình thần của dân tộc này. Về pháp luật thì theo tôi, cũng đƣợc thi hành tốt nhƣ trong bất cứ nƣớc nào trong thế giới. Chính nhà chúa trả lƣơng cho các quan tòa và cấm không đƣợc bênh bên nào, trong bất cứ vụ kiện nào, để cho không ai phải tốn kém trong việc bênh vực quyền lợi. Vì thế không có nhiều thủ tục, nhiều giấy tờ, làm hao tốn cho cả đôi bên về kinh phí, về tranh cãi; những việc này lƣơng dân ở đây không biết tới, dân mà ta thƣờng gọi là man di. Tôi để các bạn nghĩ họ sẽ nói gì về chúng ta nếu họ biết luật lệ tòa án và hết những thủ tục cãi vã của ta.26 Tôi còn thấy có một luật bất khả xâm phạm nơi họ và tôi cho là rất tốt đẹp, đó là ngƣời trong họ với nhau không bao giờ đƣợc kiện cáo nhau, họ hòa giải với nhau trong nội bộ, quan tòa chỉ là ngƣời ngoài, không đƣợc biết tới. Nếu điều này đƣợc thi hành ở chúng ta, thì ba phần tƣ những vụ kiện cáo không còn nữa. Lại còn một luật lệ nữa là không một quan tòa nào đƣợc trị nhậm nơi mình sinh trƣởng, không một hoàng tộc nào đƣợc quyền cai trị trong nƣớc vì sợ ngƣời đó có tham vọng cƣớp quyền trị dân 27. Gioan_hung@yahoo.de Trang 10
  11. 11. Sau cùng, hôn lễ đƣợc cử hành rất long trọng, trƣớc mặt quan tòa. Còn những đám cƣới lén lút thì bị tòa lên án. Tội ngoại tình bị trừng phạt hết sức nghiêm khắc, có thể bị xử tử. Hình phạt phải chịu là bị đƣa ra một thửa ruộng, bị trói chân tay và đặt nằm dƣới đất, thế rồi ngƣời ta cho voi lấy vòi hất lên, lúc rơi xuống thì ngà voi đỡ lấy, sau cùng cho voi giày. Chƣơng 8: LẦN ĐẦU TIÊN TÔI TỚI ĐÀNG NGOÀI VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẦU TIÊN CỦA PHÖC ÂM Thế là ngày 12 tháng 3 năm 1627, tôi rời Macao và sau tám ngày trên biển với một cơn bão lớn tƣởng nguy tới tính mạng, chúng tôi may mắn cập bến cửa Bạng ở tỉnh Thanh Hóa, ngày 19 tháng 3, lễ thánh Giuse 28, Đấng tôi nhận là quan thầy trong công trình lớn lao này. Chúng tôi liền đặt tên cho cửa biển này và từ đó gọi là cửa thánh Giuse. Tàu chúng tôi chƣa vào tới bờ thì đã thấy rất đông ngƣời tụ tập để xem hàng hóa trong tàu. Tôi liền bắt đầu giở hàng hóa của tôi ra và cho họ biết tôi có một thứ hàng quý hơn và rẻ hơn tất cả những hàng khác, tôi sẽ biếu không nếu ai muốn, đó là đạo thật, đƣờng thật ban hạnh phúc. Tôi giảng giải một bài ngắn, bởi vì đạo trong ngôn ngữ của họ có nghĩa là đàng, đƣờng. Chúa cho trong mẻ thứ nhất này, ngay trƣớc khi đặt chân lên đất, có hai ngƣời rất thông minh sa lƣới và nhất quyết xin chịu phép rửa tội. Tôi đã rửa tội cho họ sau đó ít lâu cùng tất cả gia đình. Chúng tôi ở bên này không lâu và mỗi ngày đều có ngƣời đến nghe giảng và tin theo sự thật Chúa cho hiểu biết. Ngƣời ta dẫn chúng tôi tới phủ chúa, lúc đó chỉ nghĩ tới chiến tranh 29. Chúa cầm đầu một đạo quân lớn gồm có một trăm hai mƣơi ngàn ngƣời và bốn trăm thuyền chiến. Ngƣời Bồ đến lạy chúa và dâng phẩm vật. Tôi cũng đi với họ. Ngoài những phẩm vật khác, tôi dâng chúa một đồng hồ có bánh xe và một đồng hồ cát 30, nhƣng chúa không ngó tới vì còn mải sửa soạn cộc hành quân chống chúa Đàng Trong. Chúa truyền cho chúng tôi đợi chúa trong tỉnh thành này, nơi chúa để lại hết các hành trang và cung phi. Chúa cũng cho một toán binh hộ vệ chúng tôi. Trong hai tháng trời, chúng tôi đƣợc thong dong thu lúa đầy kho Thiên Chúa, rửa tội cho hai trăm ngƣời. Thật là đƣợc mùa dƣ dật. Khi chúa bại trận nặng nề trở về thì chúng tôi ra mắt. Lúc này trí óc thảnh thơi, chúa tiếp đón chúng tôi rất niềm nở. Tôi dâng chúa một cuốn sách về toán học, bì nạm chữ vàng, in bằng chữ hán 31. Nhân dịp tôi cũng cắt nghĩa cho chúa biết sự xoay vần trời đất cùng các tinh tú, từ đó tôi đề cập tới Đức Chúa Trời. Chúa để ý nghe suốt hai tiếng đồng hồ, ấy là đã mệt nhọc vì đƣờng trƣờng. Chúa tỏ ra hài lòng đƣợc nghe nói về đạo thánh của ta, chúa cũng mời tôi năng lui tới phủ chúa. Bài giảng thứ nhất này không vô ích, có một quan sang trọng, sau khi nghe, đã thấy đƣợc ơn Thiên Chúa và đến xin chịu phép rửa tội. Tôi đƣợc hân hạnh chúa vời tới thuyền chúa nhiều lần và còn mời tôi ngồi bàn tiệc với chúa, theo kiểu dân xứ này, mỗi ngƣời một bàn riêng. Chúa để tôi ngồi cạnh chúa và có nhã ý cho tôi dùng những món thịt ngon nhất tốt nhất mà chúa có. Tôi phải vận động để đƣợc ở lại trong đất nƣớc này, khi tàu ngƣời Bồ lên buồm trẩy đi. Tôi liền kiếm khắp nơi một ngƣời bạn nói dùm cho tôi một tiếng. Nhƣng ai cũng chối từ, chỉ có Thiên Chúa nói cho tôi và cho tôi thành công không ai dự phần vào. Chúa với tôi vào thuyền để chỉ dẫn cho chúa biết đồng hồ dùng vào việc gì và đồng hồ cát sử dụng thế nào, hai phẩm vật tôi đã dâng. Sau khi bái chào chúa, tôi lên dây đồng hồ và cho đánh giờ, và đồng thời tôi lất đồng hồ cát, cho chúa biết, khi tất cả cát rơi xuống đáy thì đồng hồ lại đánh giờ. Chúa thấy rất lạ và hỏi xem tôi có nói thật hay không. Tôi liền ngồi xa chiếc đồng hồ, vì sợ chúa tƣởng tôi xờ mó vào đồng hồ. Tôi cũng bắt đầu giảng về nguyệt thực nhật thực, trong khi chờ đợi. Chúa vẫn đăm đăm vào đồng hồ cát và khi cát đã rơi xuống đáy thì chúa cầm trong tay nói: hỏng rồi, đồng hồ của khanh không đánh. Chúa vừa nói thì đồng hồ liền đánh giờ nhƣ tôi đã báo trƣớc. Chúa lấy làm thích thú và chúa bảo tôi nếu tôi muôn ở đây hai năm với chúa, chúa vui lòng tiếp tôi nhiều lần nữa. Tôi thƣa, không phải hai năm, mà suốt đời tôi, tôi rất hân hạnh đƣợc phụng sự một vị chúa cao sang 32. Thế là chúa cho chuẩn bị một thuyền chiến để đƣa tôi đi đƣa ngoạn với chúa, và tôi đã đi với chúa, đƣợc chúa ân cần quý mến. Trên hành trình, chúng tôi có dịp chiến đấu với Satan. Trong số năm mƣơi tên nguỵ giặc 33 bị kết án tử hình, tôi theo đuổi một ngƣời tôi khuyên anh chịu phép rửa tội trƣớc khi bị tử hình. Khi đã sẵn sàng rồi thì tôi thấy không sao thi hành đƣợc, vì không có nƣớc. Tôi đang băn khoăn giữa thửa ruộng chúng tôi đứng, thì tôi khám phá hầu nhƣ ngay chỗ chân tôi có một vũng đầy nƣớc mƣa từ đêm hôm qua, tôi liền lấy hai tay vốc nƣớc rửa tội cho anh. Ngay sau đó, anh Gioan_hung@yahoo.de Trang 11
  12. 12. bị chém đầu. Tôi tin linh hồn anh lên thẳng trời. Tôi vội vàng chạy tới những ngƣời khác, nhƣng không ai còn sống: đây là bí nhiệm không đo lƣờng đƣợc của Chúa quan phòng. Chƣơng 9: NHỮNG TIẾN TRIỂN LỚN LAO CỦA ĐỨC TIN Ở ĐÀNG NGOÀI Vì vinh quang Cha muôn ngàn ánh sáng mà tôi sẽ kể những chiến thắng ơn thánh đã lƣợm đƣợc trong một thời gian ngắn đối với sai lầm, trong một lãnh thổ mà mỗi ngày ma quỷ hằng thành công không ai tranh giành với chúng đƣợc. Khi chúng tôi tới kinh đô Đàng Ngoài tên là Kẻ Chợ, một kinh thành rất lớn và rất đẹp, phố phƣờng rộng rãi, dân cƣ đông đúc, lũy thành dài tới hơn sáu dặm, tức thì chúa dựng cho chúng tôi một nhà ở và một nhà thờ xinh đẹp. Thế là tiếng đồn đi khắp nƣớc và ngƣời ta tuốn đến rất đông, đến nỗi tôi phải giảng mỗi ngày ít ra bốn lần và nhiều khi sáu lần. 34 Nhìn thấy kết quả, tôi khó lòng tin cho nổi. Một bà em gái của chúa 35 và mƣời ngƣời họ hàng gần đã đƣợc rửa tội, có mấy tƣớng lãnh nổi tiếng cũng xin theo đạo và nhiều binh sĩ nữa. Năm thứ nhất, số ngƣời chịu phép rửa tội là một ngàn hai trăm ngƣời, năm sau, hai ngƣời và năm thứ ba ba ngàn năm trăm. Không gì làm tôi bỡ ngỡ nữa, tôi thấy dễ dàng chinh phục các vị sƣ sãi 36, (…) tôi đã rửa tội đƣợc hai trăm, những ngƣời này rất đắc lực giúp tôi chinh phục kẻ khác. Một trong số này đã dẫn đến tôi năm trăm ngƣời xƣa kia dạy điều dối trá, nay họ giảng chân lý đức tin và từ đó chính họ là những thầy giảng nhiệt thành nhất của chúng tôi. Họ rất hài lòng khi tôi trình bày đạo ta hợp với lẽ phải và nhất là họ phục mƣời điều răn Chúa, cho rằng không có gì hợp lý hơn và đáng đƣợc công bố bởi đấng thƣợng đế muôn dân muôn nƣớc. Phƣơng pháp tôi dùng là luận về linh hồn bất tử và sự sống đời sau, từ đó chứng minh về tính Thiên Chúa, về quan phòng của Ngƣời và dần dần mới đề cập tới mầu nhiệm khó hơn. Theo kinh nghiệm chúng tôi thấy, cách giảng dạy lƣơng dân nhƣ thế rất có ích: tôi đã cắt nghĩa dài hơn trong cuốn Phép giảng tám ngày trong đó tôi cố trình bày hết các chân lý căn bản phải giảng dạy lƣơng dân. Ngoài ơn bên trong giúp cho công việc thu phục muôn dân, còn có nhiều phép lạ thƣờng xuyên xảy ra trong lúc khai sinh giáo đoàn, làm cho công cuộc đƣợc thành đạt vẻ vang. Tôi nói thƣờng xuyên bởi vì có rất nhiều đến nỗi các thầy giảng của tôi không còn đếm xuể. Tôi cho là tội lớn những kẻ giả dối hoặc kể lại những phép lạ giả tạo và xin Chúa đừng để tôi phạm. Tôi có thể nói hết sự thực về phép lạ tôi đã thấy và nghe ngƣời đáng tin kể lại. 37 Với thánh giá Chúa, với nƣớc phép, giáo dân tốt lành đã thông thƣờng đuổi ma quỷ, chữa các thứ bệnh tật. Chỉ cho uống bốn năm giọt nƣớc thánh mà chữa đƣợc nguời mù và cho hai ngƣời chết sống lại. Một viên quan lƣơng dân có vợ theo Kitô giáo, đã đến xin tôi phái mấy ngƣời giáo dân tới một xã thuộc quyền ông, nơi đây có nhiều thuộc hạ của ông đang đau bệnh, mỗi ngày có ngƣời qua đời. Tôi liền sai sáu thầy giảng và căn dặn chớ nhận của ngƣời ta cho để tạ ơn vì đã khỏi bệnh. Họ ra đi mang theo vũ khí để đối phó với ma quỷ mà ngƣời ta cho là căn nguyên của bệnh tật tai ƣơng. Vũ khí đó là cây thánh giá, nƣớc phép, cành lá phép, nến phép 38 và ảnh Đức Trinh Nữ mà tôi đã trao cho họ ngày chịu phép rửa tội. Họ ra đi, cầm thánh giá ở đầu, ở giữa và ở cuối xóm. Họ đến thăm bệnh nhân đọc kinh và cho bệnh nhân uống vài giọt nƣớc phép 39. Không đầy năm ngày đã chữa khỏi hai trăm bày mƣơi hai ngƣời. Tiếng đồn khắp nƣớc. Quan cai đã tới cảm ơn tôi, mắt đẫm lệ. Việc này làm cho giáo dân rất phấn khởi và nhiều lƣơng dân nhận sai lạc của mình. Nhƣng đã xảy ra một tai nạn buồn thảm vừa làm cho chúng tôi đau khổ vừa để lại một bài học. Số là một trong đám giáo dân tới xã đó, ngƣời đứng đầu trong bọn, sau khi trở về đƣợc mấy ngày thì tắt thở. Tôi đƣợc biết ông đã không giữ lời tôi căn dặn, không đƣợc nhận gì vì ơn Chúa làm qua lời cầu nguyện. Thế mà ông đã nhận một áo nhung hoa vi quan đó tặng. Khi tôi biết điều này, tôi sợ Chúa phạt, nhƣ Giêzi đã không vâng lời Elisê 40. Đây là sự việc nhắn nhủ ngƣời khác phải coi chừng và chớ bao giờ để mình tham của cải đời này. Có một nữ giáo dân rất đạo đức tên là Benoite, mẹ cậu thanh niên mới đƣợc rửa tội đƣợc ít lâu nay tên là Benoit, bà này chết khi tôi đi vắng, vì thế không đƣợc xƣng tội. Ngƣời con hết sức đau khổ vì mất mẹ mà nhất là mẹ chƣa đƣợc xƣng tội trƣớc khi chết. Cậu khóc lóc thảm thiệt, thật là sầu khổ đôi đƣờng. Do ơn Chúa thúc đẩy, cậu xin giáo dân tới chia buồn đọc kinh cầu nguyện bên giƣờng ngƣời Gioan_hung@yahoo.de Trang 12
  13. 13. chết, xác đã cứng lạnh và bất động từ sáu giờ đồng hồ. Họ đến quỳ gối, Benoit đọc lớn tiếng kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng, rồi rảy nƣớc thánh trên mặt mẹ, tức thì bà mở mắt, không những bà sống lại mà còn hoàn toàn khỏi bệnh. Bà chỗi dậy rồi cũng quỳ xuống với mọi ngƣời khác đồng thanh ngợi khenh Chúa đã ban cho phép lạ rất hiển nhiên. Mấy ngày sau khi tôi tới thôn đó thì cả mẹ cả co đều kể cho tôi nghe về ơn họ đã nhân đƣợc. Tôi không kể những chuyện khác vì sợ quá dài, nhƣng nếu ai nhàn rỗi và đọc những điều tôi viết trong cuôn Lịch sử Đàng Ngoài thì sẽ biết ngợi khen Chúa đã cho giáo đoàn mới này những ơn Ngƣời đã ban cho giáo dân mấy thế kỷ đầu. Chƣơng 10: LÕNG SỐT SẮNG CỦA GIÁO DÂN TÂN TÕNG TRONG GIÁO ĐOÀN ĐÀNG TRONG Đời sống trong sạch và lòng sốt sắng của giáo dân tân tòng ở giáo đoàn này còn là chứng cứ rõ ràng có tay Chúa hơn là các phép lạ. Tôi nói thật, không gì làm cho tôi xúc động bằng thấy trong đất nƣớc này có bao nhiêu giáo dân là bấy nhiêu thiên thần và ơn phép rửa đã tạo nên nơi mọi ngƣời một tinh thần đã phát sinh nơi các tông đồ và các vị tử đạo thời Giáo hội sơ khai. Họ có một đức tin vững chắc đến nỗi không ai có thể nhổ ra khỏi lòng họ đƣợc. Có một bà còn trẻ tên là Darie đã thà chết chẳng thà theo ý một vị quan muốn làm mất danh giá bà. Bà sẵn sàng chết để khỏi bị ô uế mất ơn phép rửa. Một giáo dân khác tên là Phanchicô làm việc khiêng cáng cho ngƣời em của chúa, theo phong tục những kẻ cả trong nƣớc. Ông này đành chịu chết hơn là bỏ việc bác ái thƣờng làm ngoài giờ hầu hạ chủ. Ông nhiệt tâm đi chôn xác những giáo dân nghèo và việc bác ái này đã đƣa ông tới cái chết và cái chết là phần thƣởng lớn nhất ông mong mỏi 41. Vì quý trọng đức tin mà họ rất chuộng các nghi lễ rất nhỏ có hệ đến đức tin. Họ coi các cha giảng đức tin nhƣ các thiên thần và hân hạnh đƣợc vâng lời trong hết mọi việc rất nhỏ mọn. Không bao giờ tôi giơ thánh giá lên mà không thấy họ sụt sùi chảy nƣớc mắt. Cứ mƣời lăm ngày, họ lại đến xƣng tội hoặc xem lễ. Mặc dầu xa nhà thờ chừng từ năm sáu dặm đàng, họ không bao giờ quên những ngày lễ. Họ tới vào ngày áp lễ để rồi trở về ngày hôm sau, sau các nghi lễ, nghĩa là rất muộn. Họ ở nhà thờ từ sáng sớm cho tới chiều tà. Họ thƣờng quỳ, rất mực khiêm tốn. Thấy họ tôi không cầm đƣợc nƣớc mắt. Mỗi ngƣời đeo hai ảnh thánh giá, một ở cổ và một ở cổ tay. Họ nói ảnh thứ nhất làm thuẫn, ảnh thứ hai làm gƣơm đao. Không bao giờ họ đi hoạt động mà không đem theo một bàn thờ nhỏ, gấp lại khi tới nhà trọ. Mỗi sáng họ không bao giờ quên nguyện ngắm một nửa giờ. Đa số suy niệm về mầu nhiệm đạo thánh và họ đƣợc hƣởng những êm ái Chúa ban cho những linh hồn trong sạch. Họ rất quý trọng nƣớc phép, cứ năm sáu ngày họ lại đến lấy, họ đeo một lọ ở cẳng tay có dân buộc. Họ cho bệnh nhân uống với những thành quả lạ lùng. Mỗi chủ nhật, tôi buộc lòng phải làm phép với năm vại lớn, để thỏa mãn lòng sốt sắng của họ. Tôi rất phấn khởi thấy họ thận trọng dọn mình xƣng tội và rƣớc lễ. Họ có lòng quý mến và trọng kính các bí tích một ngàn lần hơn tôi. Ngày hôm trƣớc, bao giờ họ cũng giữ chay và đánh tội 42. Nếu tôi không ngăn cản thì họ sẽ rƣớc lễ nhiều lần chứ không phải chỉ một tuần một lần. Họ xƣng tội mà khóc lóc nhƣ thể họ phạm tội tày đình và thực ra tôi có thể nói, thƣờng thƣờng khi ngồi tòa, tôi khó thấy gì là tội để làm phép giải, không phải ở một số ít mà thƣờng là cả một làng một xã. Tôi cũng nhận thấy không phải là họ không biết, nhƣng vì họ kính sợ Chúa. Gioan_hung@yahoo.de Trang 13
  14. 14. CHƢƠNG 11-15 Chƣơng 11: TẠI SAO TÔI PHẢI BỎ ĐÀNG NGOÀI MÀ VÀO ĐÀNG TRONG Những thành quả tốt đẹp ở Đàng Ngoài dĩ nhiên làm cho thù địch không đội trời chung là ma quỷ phản kháng. Tôi đƣợc bình yên chừng một năm rƣỡi để vui sƣớng thấy thuyền thánh Phêrô chứa đầy cá dâng tiến Chúa Kitô. Cơn bão táp thứ nhất bắt đầu do cùng một nguyên cơ gây nên xáo trộn đầu tiên trên thế giới. Giáo dân tân tòng đa thê, khi theo đạo thì thải các bà vợ bé đi, vì thế các bà này phản ứng gây xúc động cho cả nƣớc. Chính chúa tới nay rất thiện cảm với chúng tôi, cũng bắt đầu nghi ngờ về đạo chúng tôi rao giảng. Ngƣời ta đã nã vào tai chúa rằng đạo có hại cho tiền đồ đất nƣớc vì đạo cấm lấy nhiều vợ và do đó hạn chế dân số, bớt số tráng đinh làm việc cho chúa. Lại có điều làm phật ý chúa: các hoạn quan hầu hạ thƣờng xuyên các cung phi lại đổ dầu vào lửa. Họ sợ nếu chúa khen đạo chỉ cho có một vợ một chồng, một chồng một vợ thì chúa sẽ thải hết cung phi, có tới một trăm, nhƣ vậy họ không còn đƣợc làm việc trong phủ chúa nữa. Thế là họ nổi lên chống chúng tôi và tìm muôn nghìn mƣu kế để chúa không tỏ thịnh tình với chúng tôi. Đối với họ thật không khó gì. Họ ở luôn bên cạnh chúa và tha hồ nói xấu đạo ta. Kết cục, chúa ra sắc lệnh cấm tất cả thần dân không đƣợc nghe đạo mới đƣa từ trời Au tới, bởi vì đạo có hại cho tiền đồ Nhà nƣớc và thuần phong mỹ tục toàn dân. Chúng tôi rất bỡ ngỡ và tất cả giáo dân đều mạnh bạo tuyên bố vâng phục chúa trong tất cả những điều lƣơng tâm cho phép, nhƣng cƣơng quyết quý trọng đức tin hơn mạng sống. Nhƣng rồi nhờ ơn Thiên Chúa, cơn sấm sét này chỉ làm cho chúng tôi sửng sốt, ánh lửa chỉ le lói thoảng qua mà không gây hại. Bởi vì chúa chƣa hết tín nhiệm chúng tôi. Sau khi những chấn động đầu tiên không còn ở trong tâm trí chúa nữa, thì chúa không theo dõi làm hại chúng tôi. Thế là chúng tôi âm thầm làm việc nhƣ trƣớc. Từ đây số giáo dân tân tòng càng đông. Thật là rõ ràng, chỉ có Thiên Chúa ban ơn dồi dào trong cơn thử thách. Thế nhƣng sau thời bình an này thì tiếp đến cơn bão táp mới, cũng do những ngƣời đó gây nên với những nguyên cớ khác. Số là ngƣời ta tố cáo giáo dân đập nhà tƣợng thần, rồi đến thƣa với chúa rằng tôi là thầy phù thuỷ, hơi thở của tôi có phù có phép vặn đầu ngƣời tôi đối thoại, không ai chống lại đƣợc. Thế là từ đó không những chúa bắt đầu chống đối đạo tôi rao giảng, mà còn chống đối bản thân tôi. Chúa ngại không muốn gặp tôi và đàm đạo với tôi, đến nỗi khi tôi muốn vào yết kiến chúa để thanh minh thì các ngả đƣờng ra vào đều đóng hết. Thảng hoặc có các bạn đƣợc lòng chúa tìm cách đƣa tôi vào phủ chúa, thì chúa nhƣ muốn tránh tôi và chỉ cho tôi một phiên hầu rất ngắn ngủi và vội vã, vì chúa sợ hơi thở tôi gieo phù gieo pháp. Tuy thế tôi không bỏ công việc mọi ngày cho tới khi chúa công khai chống tôi, vào đầu năm 1630. Chúa cấm tôi không đƣợc giảng đạo mới trong đất nƣớc của chúa, ra lệnh cho tôi phải rút về Macao hoặc về Đàng Trong: sắc lệnh đƣợc long trọng công bố bằng mọi cách thức và niêm yết trên bảng lớn ở cửa nhà chúng tôi. Tôi để các bạn nghĩ biết bao áy náy nơi giáo dân khi biết tin dữ này. Phần tôi, mặc dầu tôi phiền muộn vì một bất hạnh không tại lỗi tôi, nhƣng không phải vì thế mà tôi không cố gắng làm cho họ can đảm. Tôi lẩn trốn trong nhà họ. Không giảng dạy công khai, nhƣng không phải vì thế mà tôi không đi đến những nơi tôi có thể giúp đỡ. Khi ở nhà này lúc tới nhà kia, giáo dân đƣợc báo tin và từ các ngả họ khôn khéo tuốn đến hội họp đông đúc mà không làm cho lƣơng dân để ý. Một thời gian ngƣời ta đã giam tôi trong một nhà nọ và đặt lính canh gác thế nhƣng tôi đã đƣợc lòng chủ cách dễ dàng, mỗi đêm đƣa tôi lọt qua cửa sổ, trong khi lính vẫn canh gác cửa. Nhƣ vậy đêm Gioan_hung@yahoo.de Trang 14
  15. 15. đêm tôi tới nhà giáo dân để rửa tội, giảng, giải tội, làm lễ, rồi khi tờ mờ sáng, tôi về nhà tù mà không ai để ý. Cứ thế trong hai tháng, sau đó đƣợc lệnh chúa bắt tôi trở vào Đàng Trong chờ cho khi có tàu ngƣời Bồ chở tôi đi Trung Quốc. Ngƣời ta đƣa tôi xuống một chiếc thuyền với một toán lính ba mƣơi sáu ngƣời và một thuyền trƣởng để canh gác tôi. Họ đƣợc lệnh không rời tôi cho tới khi trục xuất tôi ra khỏi xứ Đàng Ngoài này. thế là trong khi không còn trợ lực của loài ngƣời và tôi bị mọi ngƣời sa thải thì Thiên Chúa cho tôi nhận thấy Ngƣời vẫn săn sóc và gìn giữ tôi. Tôi đã kể cuộc hành trình đầy mạo hiểm trong cuốn Lịch sử. Tôi ở ba tuần trong thuyền chiến, thời gian đủ cho hai mƣơi bốn lính gác xin theo đạo, còn thuyền trƣởng thì sau mƣời lăm ngày cũng xin theo, bởi vì thấy một phép lạ hiển nhiên. Số là có trận bão lớn làm nguy tới tính mạng, chúng tôi liền rảy một chút nƣớc phép xuống biển, đọc kinh Lạy Cha, tức thì sóng yên biển lặng. Thuyền trƣởng rất xúc động và xin chịu phép rửa tội. Sau đó tôi đã rửa tội cho ông và đặt tên là Augustin. Từ đó tôi nhƣ làm cha làm mẹ họ và làm chủ tàu nữa. Tôi muốn gì thì họ làm nấy và lẽ ra phải dẫn tôi đến Đàng Trong thì họ lại để tôi ở tỉnh Bố Chính 44 là tỉnh xa phủ chúa nhất. Ở đây tôi trốn ở nhà mấy giáo dân. Rồi họ để tôi trong một chiếc thuyền trong bốn tháng trời, chúng tôi lúc thì theo mấy giòng sông, khi thì ven theo bờ biển. Ban ngày chúng tôi ở xa bến, ban đêm lên đất liền, vào nhà giáo dân để đem hết sức giúp đỡ họ. Trong thời gian này chúng tôi bị dồn vào thế thiếu thốn mọi sự, đành phải cậy nhờ giáo dân. Họ đã rất rộng rãi cung cấp cho chúng tôi mọi thức cần dùng. Đồng thời đƣợc tin có tàu ngƣời Bồ đã đợi sẵn ở cửa chúa có hai cha dòng đến đón vì đƣợc tin ở Macao cho biết chúng tôi bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài. Chúng tôi quá đỗi vui sƣớng khi đƣợc gặp và đƣợc ôm các ngài, vui mừng biết kể sao hết. Chúng tôi tƣởng nhƣ đang ở trên thiên quốc, khi bốn anh em dòng gặp nhau ở đất nứơc này, nơi Thiên Chúa ban cho biết bao công dân mới. Chúng tôi liền mạnh bạo cùng đi với ngƣời Bồ vào phủ chúa. Chúa không đến nỗi bạc đãi chúng tôi, thế là chúng tôi can đảm tiếp tục công khai giảng và làm những việc chúng tôi vẫn làm trƣớc khi đƣợc lệnh trục xuất. Chúng tôi nghĩ là ngƣời ta chẳng nỡ làm khó dễ cho chúng tôi, bao lâu ngƣời Bồ còn chuyển hàng hóa để rồi trẩy về Macao. Chúng tôi không nghĩ tới việc ngƣời ta đến đƣa sắc lệnh tuyệt đối của chúa đƣa chúng tôi xuống tàu, nếu không tuân thì bị liệt là nguỵ giặc. Chúng tôi hết sức vận động để bãi lệnh đó, nhƣng tất cả công chúng tôi, cả công các bạn hữu đều vô ích. Cả bốn chúng tôi đành phải trẩy đi. Tôi cũng chẳng muốn nói tới những quyến luyến giáo dân tỏ ra lúc chia tay vì mỗi lần nghĩ tới, tôi lại thƣơng lại nhớ. Đối với chúng tôi, họ tỏ ra nhƣ ngƣời cha ngƣời mẹ thƣơng nhớ vì mất con xa con. Ngày đêm họ kéo đến nhà chúng tôi khi đƣợc tin đó. Họ khóc, họ than, họ gào và nhất là khi vĩnh biệt họ ở nhà thờ thì họ kêu gào lớn tiếng làm cho tôi hãi sợ. Tôi không còn lời để nói, chỉ còn nhiều nƣớc mắt mà thôi. hai cha mới đến đều sửng sốt và lƣơng dân cũng động lòng trắc ẩn 45. Trong mấy ngày, ngƣời ngƣời lũ lƣợt đến xƣng tội. Tôi phải lo cho hết mọi ngƣời và hầu nhƣ không làm hết, mặc dầu ngày đêm tôi không ngủ vì chỉ có một mình tôi biết tiếng. Ngày cuối cùng đã tới, từ nửa đêm, nhà đông nghịt giáo dân. Họ theo chúng tôi và hôn chúng tôi, nƣớc mắt ƣớt đẫm áo, mà chúng tôi chẳng biết làm gì, chỉ khóc nhƣ họ mà thôi. Khi đã nhiều nƣớc mắt hơn lời nói, để khuyên họ kiên trì trong niềm tin yêu Chúa Kitô. Họ vẫn quỳ trên bờ, xin phép lành, nhiều ngƣời lội ngập tới thắt lƣng không ai là không sụt sùi. Tôi thấy một vị lão thành ngoại thất tuần, một trong những ngƣời trí thức ở đây, ông cũng đến vĩnh biệt chúng tôi. Ông thắng bộ y phục đại trào, bộ áo ma ông chỉ mặc mấy ngày trong một năm để xử kiện. Ông đứng trên bờ, hơi xa đám đông, khóc nức nở. Tôi thấy ông phục xuống đất long trọng bái nhƣ bái vua bái chúa, quỳ xuống đất bốn lần, trán chạm đất, rồi ông ra về khóc dƣng dức. Sau này ngƣời ta kể lại ông buồn phiến đến nỗi không ăn uống đƣợc nữa và ngày thứ mƣời một thì ông mất. Các bạn thử nghĩ xem ở đâu có tình có nghĩa nhƣ thế? Sau cùng khi chúng tôi bắt đầu kéo buồm thì từ hai bên lại òa lên khóc. Chúng tôi dán mắt nhìn theo hết sức có thể, lòng chúng tôi không bao giờ xa họ. Vì thực ra, tất cả các bạn tôi đều ở Đàng Ngoài và họ còn tỏ ra nhớ đến tôi, vì sau này họ viết thƣ cho tôi, họ vẫn lui tới nhà thờ công khai cầu nguyện cho tôi trong những ngày lễ, cả những ngày trong tuần; sáng tối trong nhà tƣ, họ vẫn đọc kinh Lạy Gioan_hung@yahoo.de Trang 15
  16. 16. Cha hoặc kinh Kính Mừng cầu cho ngƣời tội lỗi khốn đốn này. Đó là một trong những điều tôi mong Chúa thứ tha cho tôi. Chƣơng 12: TRỞ LẠI TRUNG QUỐC VÀ CƢ TRÖ MƢỜI NĂM Sau khi ở Đàng Ngoài ba năm và hai tháng, nghĩa là từ ngày 19 tháng 3 năm 1627 tới tháng 5 năm 1630, tôi chán nản trở về Macao và liền thỉnh cầu bề trên chớ để đàn chiên không chủ. Cả ba cha đã chứng kiến những khả năng lớn lao đang có để giảng đạo cho tất cả đất nƣớc thịnh vƣợng này đều cùng kêu nài nhƣ tôi. Các cha cũng cho cả viện chúng tôi có những cảm tƣởng tốt về những điều đã thấy, và tất cả toán sinh viên trẻ trung và sốt sắng, cả các cha nghiêm nghị đều mỗi ngày đến quỳ dƣới chân bề trên xin tự nguyện đi truyền giáo ở xứ này. Có mấy vị đã theo đuổi và sắp sửa đƣợc phái đi Nhật thì nay đổi ý xin tới Đàng Ngoài, nhất là cha Gaspar d’Amaral 46, một trong hai vị đã tới cứu tôi khi tôi gặp cơn nguy khốn tù đày, ngài chỉ muốn trở lại, tuy đã học tiếng Nhật và đã làm hết thủ tục cần thiết để tới hòn đảo đẹp đẽ ấy. Bề trên bằng lòng phái ngài đi Đàng Ngoài cùng với hai cha khác. Tháng 3 năm 1628 các ngài đã trẩy đi và làm nảy nở gấp trăm hạt giống đã gieo trong đồng ruộng Giáo hội. Còn mấy thợ lành nghề khác vẫn tiếp tục hoạt động với những thành quả rất tốt đẹp. Tôi đƣợc biết qua thơ cha Jêrôme Maiorica 47, ngƣời thợ khả kính khả ái và không biết mệt, ngài viết cho tôi biết bây giờ có ba trăm ngàn giáo dân, hai trăm nhà thờ công khai, mỗi năm rửa tội cho ít là mƣời lăm ngàn lƣơng dân. Cha tốt lành đó cũng viết cho tôi biết năm đó, về phần ngài, đã rửa tội đƣợc sáu ngàn và coi sóc bốn mƣơi ngàn giáo dân và bảy mƣơi nhà thờ. Nhƣ vậy, độc giả coi xem, một vị truyền giáo ở xứ đó chẳng làm đƣợc bằng năm mƣơi vị nhiệt thành nhất ở Au Châu ƣ? Sau khi đã tới giúp xứ Đàng Ngoài, thì tôi bắt đầu dốc hết tâm lực chinh phục ngƣời Tàu, nhƣng phải nói thực, tôi không tìm thấy sự dễ dàng nhƣ tôi đã có kinh nghiệm ở đất nƣớc có phúc tôi vừa rời bỏ. Theo tôi thì trƣớc hết tại tôi, bởi vì tuy hiểu biết tiếng Tàu, nhƣng chƣa đủ để giảng bài liên tục, do đó tôi vẫn phải nhờ thông dịch viên, nên không có sức mạnh thông thƣờng để thuyết phục ngƣời ta quyết định thay đổi tôn giáo và đời sống. Lý do thứ hai, ngƣời Tàu kiêu căng, họ tự coi nhƣ tài giỏi nhất trên trái đất. Tôi thấy họ đến nghe giảng khi họ có điều gì để phản đối, nhƣng khi đã đuối lý, thì không trở lại nữa. Dẫu sao, Thiên Chúa còn dùng chúng tôi để chinh phục một số khá đông lƣơng dân và tôi cũng rửa tội đƣợc ít ra một ngàn ngƣời tự tay tôi. Chúng tôi thƣờng tới mấy thành phố Tàu, nhất là Hƣơng Cảng. Thỉnh thoảng tới kinh đô là một thành phố lớn và rất đẹp tôi chƣa từng thấy ở đâu và nhờ ơn Chúa, không bao giờ chúng tôi về tay không 48. Tôi rất hài lòng giữ một nhiệm vụ ở Macao và tôi rất chuyên chú. Ngƣời ta thƣờng gọi là cha giáo dân, tu sĩ nào giúp ngƣời Tàu mới trở lại giáo huấn họ, săn sóc họ và dạy họ những điều cần thiết để sống đạo. Việc này làm tôi bận suốt ngày, còn nếu tôi muốn học hỏi thêm để dọn bài giảng hay bài dạy thần học tôi đảm nhận ở Viện chúng tôi, thì tôi phải làm việc ban đêm. Mới tảng sáng là tôi đã bận với giáo dân ngƣời Tàu hoặc lƣơng dân đang sửa soạn chịu phép rửa tội. Chƣơng 13: LẦN THỨ HAI TÔI ĐƢỢC PHÁI TỚI ĐÀNG TRONG Từ ngày tôi rời bỏ Đàng Trong cho tới năm 1639, thì vẫn có nhiều nhân vật danh tiếng của dòng chúng tôi tiếp tục làm việc thành công mỹ mãn và nhiều lần bị khốn đốn vì phong ba bão táp làm cho mất phƣơng tiện nhƣng không mất can đảm làm tiến triển vinh quang Chúa trong công cuộc giảng Phúc âm. Ngƣời làm việc nhiều hơn tất cả và thu đƣợc nhiều thành quả tuyệt vời ở đất nƣớc này là cha Phanchicô Buzomi, ngƣời thành Napoli. Nhƣ tôi đã nói, ngài đã khởi sự truyền giáo năm 1615 và đã hoạt động trong hai mƣơi bốn năm, chuyên chú một cách lạ thƣờng. Thật là một đấng thánh, không mệt nhọc vì công việc, can tràng trong nguy khốn, kiên trì trong quyết định. Ngài hoàn toàn hy sinh để thiết lập và mở mang giáo đoàn này. Ngài đã may mắn thành công, bởi vì khi mới đến lần thứ nhất ở Đàng Trong, chỉ có rất ít giáo dân, thế mà ngài đã để lại mƣời hai ngàn khi ngài trở về lãnh một số triều thiên nhiều nhƣ số giáo dân tân tòng ngài để lại. Gioan_hung@yahoo.de Trang 16
  17. 17. Các cha khác cộng tác trực tiếp với vị đại tông đồ là cha Benoit de Mattos, Jean Leria Gaspar, Louis và nhiều tu sĩ khác của dòng. Những vị này, trong những dịp khác nhau, đã đƣợc sai tới và ở nhiều nằm trong xứ Đàng Ngoài. Trong những năm đó, các ngài đã bị bắt bớ bằng nhiều cách do thù địch của Chúa Kitô và thù địch của tôn giáo các ngài rao giảng. Ba lần chúa ra lệnh trục xuất. Ngƣời ta tố cáo về tội nhƣ tội để cho giáo dân mấy thế kỷ đầu: ngăn cản cơn mƣa và cho đất cằn cỗi. Vu khống này làm cho lƣơng dân bực tức đến nỗi họ định giết các ngài. Phần các ngài không có ý định nào khác bằng ý định mở cửa trời cho mọi ngƣời và xin mƣa xuống dồi dào ơn phúc. Các tông đồ này không bỡ ngỡ vì những tin đồn và không vì thế mà dễ dàng bỏ công việc. Có vị tạm rút lui và trốn tránh ở nhà giáo dân, các vị khác tạm trẩy về Macao ít lâu, để rồi trở lại đem theo phẩm vật để xoa dịu cơn giận chúa. Nhờ phƣơng kế này, các ngài đã dễ dàng làm cho chúa rút lệnh trục xuất. Cứ thăng trầm tốt xấu nhƣ thế cho tới đầu năm 1639 là năm xảy ra tai họa lớn cho giáo đoàn quẫn bách. Số là có một vị quan cai trị tỉnh Quảng Nam rất ghét giáo dân. Ông đƣợc lòng chúa nên xúi chúa chống lại các cha, bởi vì các cha cho giáo dân tôn thờ ảnh thánh giá, chứ không sùng bái chƣ thần trong đất nƣớc. Ngƣời ta liền đến cƣớp một ảnh thánh giá rất đẹp các cha vẫn giữ để thờ. Họ đem tới trình chúa và bịa đặt trăm mƣu nghìn chƣớc để làm cho chúa hoảng sở. Chúa liền truyền cho đốt ảnh đi và ngƣời nào còn đƣa vào đất nƣớc này những vật khả ố đó thì hãy coi chừng mạng sống. Bởi có thế giá nên ngƣời Bồ đã ngăn cản không cho thi hành vụ vi phạm tới thánh giá. Họ bỏ tiền ra để chuộc lại từ tay kẻ vô đạo. Nhƣng họ không thể xin cho các cha đƣợc ở lại Đàng Trong. Tất cả bị đƣa xuống tàu và bỏ lại đàn chiên bé mọn. Tin đoàn các cha bị tan vỡ đã làm cho cha Buzomi quá xúc động, khi cha về Macao để thƣơng lƣợng mấy việc cho chúa Đàng Trong. Thế là ngài ngã bệnh và sau mấy ngày, ngài đã qua đời. Thật là một tổn thất nặng nề cho Đàng Trong, một vết thƣơng lớn hơn việc trúc xuất các cha. Nhƣng ý Thiên chúa là vực sâu thẳm, chỉ nên âm thầm thờ lại và khiêm nhƣờng tuân theo lệnh Ngƣời. Đồng thời cha Anton Ruben, tia sáng lớn bị giập tắt trong cuộc bắt đạo ở Nhật Bản để rồi trở thành tinh tú nói trên thiên đàng, ngài vừa đƣợc cử làm khâm sai tỉnh dòng Trung Quốc và Nhật Bản. Trứơc khi chịu hành hình và nhận triều thiên toàn thắng, ngài muốn cho anh xứ lân bang với Trung Quốc, có đủ thợ cần thiết để gầy dựng đức tin. Ngài cho rằng một ngƣời ở một chỗ thì không thể làm việc đầy đủ đƣợc, nên quyết định sai nhiều ngƣời tới nhiều nơi để thay thế ngài rao giảng Phúc âm. Ngài liền sai tới Trung Quốc các cha Gabriel de Mađalena, Giuse de Almedia cả hai đều là ngƣời Bồ, Phanchicô Ferraio, ngƣời Ý; tới Đàng Ngoài chỉ có ca Thoma Rodriguez, ngƣời Bồ, nhƣng thực ra một mình bằng bốn cha khác, và cuối cùng ngài ban cho tôi ơn đƣợc tới Đàng Trong để khôi phục giáo đoàn tan vỡ vì các cha đã bị trục xuất hết. Tôi rất hớn hở trẩy đi, vào đầu thằng 6 năm 1640, hy vọng đƣợc lòng chúa và tái lập nƣớc Chúa Kitô, trong lãnh thổ này. Dƣợc thuận buồm xuôi gió, chỉ sau bốn ngay tôi đã tới nơi. Chỉ có một mình tôi là linh mục và thuộc dòng Tên, nhƣng bề trên đã hứa là sau đó sẽ có cha Phêro Albert ngƣời Bồ đến cộng tác với tôi, ngài vừa nhiệt hành vừa khôn ngoan. Đó là hai đức tính có thừa nơi nhân vật ƣu tú này. và thật vậy, sau ít lâu ngài đã tới và chúng tôi nhất tâm phụng sự Thầy chung của chúng tôi. Chƣơng 14: Ở ĐÀNG TRONG TRONG NĂM ĐẦU Tuy đƣợc may mắn trở lại Đàng Trong, tôi nghĩ lúc này không nên vội công khai ra mắt. Tôi lẩn trách và sửa soạn đƣờng trƣớc khi tiến tới dự định chính. Tôi liền lẩn trốn ở một tỉnh gọi là Hội An, nơi ngƣời Nhật đến buôn bán rất sầm uất. Họ ở đây để trao đổi hàng hóa. Tôi vẫn chƣa công khai ra mắt và việc làm đầu tiên là lấy lòng viên bang trƣởng là một ngƣời Nhật, vừa là lƣơng dân vừa là kẻ ghét đạo. Để thực hiện dự định, chỉ còn cách tặng cho ông món quà ông ƣa thích, tuy chẳng đáng giá là bao, nhƣng đổi đƣợc lòng ngƣời, từ một thù địch nguy hại, ông trở thành ngƣời bảo vệ chắc chắn. Ông tìm Gioan_hung@yahoo.de Trang 17
  18. 18. mọi dịp để nhờ tôi lo cho đồng bào của ông và cho dân bản xứ Đàng Trong, rồi ông còn đƣa tôi đến Thuận Hóa có phủ chúa. Tôi rất ngại tới đó, vì sợ chúa cho là tôi khinh thƣờng lệnh trục xuất chúng tôi. Vì ngƣời Nhật này rất khôn khéo dẫn đƣa tôi và nhờ các bạn của ông giúp, nên tôi đƣợc tiếp đón niềm nở. Tôi để cha Phêrô Albert ở lại với đám ngƣời Nhật, cha đƣợc lòng họ và thu đƣợc thành quả tốt đẹp. Còn tôi, tôi vào yết kiến chúa, mang theo phẩm vật quý nhất tôi có thể sắm đƣợc. Thực ra đó là tất cả tiền bạc tôi mang theo từ Macao để sinh sống trọn một năm. Nhƣng Thiên Chúa đã lo liệu hết cho tôi, vì có một giáo dân tên là Anrê và vợ đã gửi cho tôi số tiền cần thiết để nhƣ bù lại cho tôi, họ muốn đƣợc dâng những phẩm vật này để làm vui lòng chúa. Nói cho cùng Thiên Chúa đã thay đổi lòng dạ nhà chúa cũng nhƣ những ngƣời khác đã làm thay đổi bang trƣởng ở Hội An. Nhà chúa niềm nở tiếp đãi tôi, niềm nở săn sóc tôi. Thế là đến lúc tôi phải nắm cơ hội thuận lợi Thiên Chúa ban cho để làm việc vì lòng kính mến Ngƣời. Bà sang trọng và rất đạo đức, cha Phanchicô de Pina đã rửa tội, nhƣ tôi đã nói ở trên, tên là Maria, bà đã một mực mời tôi ở lại nhà bà, có một nhà thờ đẹp dùng làm nơi trú ẩn cho các giáo dân trong thành 49. Ngày đêm tôi bắt đầu chuyên chú đón giáo dân đến nhận các phép bí tích một cách hăm hở lạ thƣờng. Hằng ngày tôi làm lễ, vì quá đông ngƣời nên trong dịp đại lễ, tôi phải làm tới mấy lễ. Suốt tuần thánh tôi ở lại đây. Tôi thành thật nhận rằng, không phải ở Au Châu ngƣời ta xúc động khi nghe đọc sự thƣơng khó Chúa Kitô 50. Tôi ở lại ba mƣơi lăm ngày trong thành phố này, rửa tội đƣợc chín mƣơi bốn lƣơng dân và ngoài ra còn ba bà họ rất gần với chúa, tôi đã rửa tội trọng thể ngày lễ Phục sinh. Cũng có một vị sƣ có tiếng bà Maria đã khuyên bỏ sai lạc. Vị này rất nhiệt tâm đến nỗi từ ngày đó, giúp chúng tôi rất đắc lực để làm cho ngƣời khác trở lại đạo ta. Sau khi đã đi khắp thành phố, tôi trở về Hội An gặp bạn đồng sự. Ở đây chúng tôi lẩn trốn một ít lâu, để cho ngƣời Bồ trẩy đi Macao sau khi đã mua bán hàng hóa xong. Nhƣ vậy khi thấy không còn thuyền để chở chúng tôi về Trung Quốc, thì các quan đành để chúng tôi ở lại xứ này. Nhƣng có ông Nghè Bộ 51, quan cai trị tỉnh Quảng Nam, thấy chúng tôi còn ở lại, thì nhất quyết trục xuất chúng tôi. Ông ra lệnh nghiêm ngặt bắt chúng tôi phải sớm trẩy đi, bằng bất cứ cách nào, cho dù phải đi bộ trên mặt nƣớc. Chúng tôi đành buông tay chịu thua võ lực. Tôi liền sắm một chiếc thuyền, cha Albert và tôi thuyền trƣởng. Vì nhu cầu cấp bách, chúng tôi học cái nghề mới này, tuy cả hai chỉ là những thợ mới bắt đầu học nghề. Ngay lần đầu tiên, chúng tôi đã có thể trở nên thầy nên chủ đƣợc rồi: chƣa bao giờ chúng tôi vững chắc lƣớt trên biển đầy bão táp sóng gió nhƣ thế, nơi biết bao tàu phải khó khăn nhiều mới thoát khỏi. Tôi để các bạn tƣởng tƣợng xem hai tu sĩ dòng Tên và ba giáo dân trẻ tuổi đã có thể vƣợt qua vịnh Hải Nam và biển đại dƣơng này bằng yên, nếu Thiên Chúa không cho thấy chính Ngƣời chèo lái con thuyền bé nhỏ để may mắn cập bến Macao ngày 21 tháng 9 năm 1640. Tôi tƣởng nên kể ở đây một bí quyết tuyệt diệu giáo dân Đàng Trong dạy tôi để không bị đau dạ dày khi đi biển. Thực ra không bao giờ tôi đi biển mà không bị chứng đỏ hoành hành trong năm sáu ngày đầu. Thấy tôi quặn đau, ngƣời ta mách tôi một liều thuốc rất hiệu nghiệm. Bệnh này là do thuyền tàu chòng chành hoặc hơi khí biển bốc lên. Đây là liều thuốc: mổ bụng con cá lớn lấy mấy con cá con trong đó, đem rán lên, rắc chút hồ tiêu và ăn trƣớc khi bƣớc xuống thuyền. Thế là tức khắc dạ dày cứng cát khỏe mạnh, đi biển mà không núng. Tôi thấy bí quyết này kỳ diệu, nhƣng còn kỳ diệu hơn khi dùng, từ đó tôi vẫn đem ra thực hành và không bao giờ đau bệnh này nữa, tuy cho tới nay tôi rất khổ sở. Tôi mong cho độc giả xử dụng và nhất là những ai muốn tới làm việc với chúng tôi ở bên kia đại dƣơng, họ sẽ vƣợt qua mà không bị đau. Chƣơng 15: CHA ANTÔN RUBEN TỚI THĂM CHÖNG TÔI Ở ĐÀNG TRONG VÀ BUỒN PHIỀN VÌ THẤY ẢNH THÁNH BỊ THIÊU HUỶ Tuy thân xác tôi ở Macao nhƣng lòng tôi không ra khỏi Đàng Trong, tôi vẫn nhƣ ở với giáo dân của tôi, vì thế chẳng bao lâu tôi lại đi thăm họ. Dòng cho chúng tôi một bạn đồng sự là cha Benoit de Mattos, ngƣời Bồ, thợ rất lành nghề. Chúng tôi xuống thuyền ngày 17 tháng 12 năm 1640 và may mắn vào ngày áp lễ Giáng sinh, chúng tôi tới nơi, vừa đúng lúc để mừng lễ trọng đại. Đƣợc tin chúng Gioan_hung@yahoo.de Trang 18
  19. 19. tôi cập bến Hội An, từ khắp các tỉnh trong nƣớc, giáo dân tuốn đến, cả những ngƣời ở rất xa cũng không bỏ lỡ dịp đến dự với những ngƣời đã tới sớm hơn. Đồng thời có trận bão lớn nổi lên để giúp cho công cuộc truyền giáo của chúng tôi ở Đàng Trong. Cha Ruben, khâm sai tỉnh dòng chúng tôi, đang ở chiếc tàu đƣa ngài đi Phi luật tân để rồi từ đó tới Nhật hiển hách nhận ơn tử đạo. Gió mạnh đến nỗi đã bắt ngƣời đầy tớ trung tín của Chúa cùng hai đồng sự phải trôi dạt vào bến Đà Nẵng ở Đàng Trong. Thế là chúng tôi đƣợc hân hạnh giữ ngài lại trong bốn tháng rƣỡi. Giáo dân rất mực sung sƣớng. Những giòng nƣớc mắt vị đại thánh này liên tục chảy ra khi dâng thánh lễ đã tƣới vƣờn nho và chúng tôi đƣợc mùa hái quả rực rỡ. Trong thời gian ngắn, Thiên Chúa ban ơn cho cha de Mattos và cho tôi, rửa tội đƣợc một trăm chín mƣơi ba lƣơng dân. Chúng tôi công nhận là đã đƣợc một vị quan thầy thần thế nơi Thiên Chúa đắc lực giúp chúng tôi. Thế nhƣng ma quỷ không nghỉ yên, nó dùng mƣu mô xảo quyệt để phá công trình của Thiên Chúa. Địch thù nguy hiểm đó là Ông Nghè Bộ tôi đã nói ở trên. Một hôm, lúc không ai ngờ, ông đã dám sai thuộc hạ vào nhà mấy giáo dân đàn anh tịch thu ảnh tƣợng, thánh giá và đồ thờ. Chúng đùng đùng vào một nhà bổn đạo cũ tên là Anrê có một nhà nguyện để làm nơi hội họp của giáo dân. Chúng lấy hết ảnh tƣợng, bắt trói Anrê cùng hai con ông là Louis và Emmanuel. Chúng cũng vào nhà một quan tòa có thế giá trong tỉnh tên là Antôn, ở đây chúng tịch thu một tƣợng thánh giá bằng sừng. Vì không thấy chủ nhà, chúng bắt bà vợ, một bà rất đáng kính nể tên là Eulalia, thay thế chồng. Lính trói bà và điệu thẳng tới quan trấn kèm theo những đồ thánh chúng cƣớp đƣợc. Tên vô đạo này vênh vang coi nhƣ đã giật đƣợc nhiều của cải ở một thành nguỵ giặc nào. Hắn tập hợp một số lớn binh sĩ và huênh hoang phái tới bên Đà Nẵng, nơi có các cha dòng chúng tôi, để thiêu huỷ trƣớc mặt các ngài. Hắn dẫn đầu đoàn quân hung dữ. Khi tới nhà chúng tôi có cha khâm sai cùng mấy cha khác, hắn muốn cho ngài chứng kiến vụ thiêu huỷ. Hắn truyền đƣa các đồ thánh ra, truyền lệnh đánh đòn Anrê và hai con ông, cả bà Eulalia và mẹ chồng, rồi chúng nhóm lửa ném hết các ảnh và thánh giá vào. Thấy tai họa này, cha Ruben vô cùng đau đớn vì ngài xót thƣơng Chúa, nhƣ ngƣời bề tôi trung thành thấy chủ bị tàn sát. Ngài khẩn khoản tên man di đó, khóc lóc thảm thiết, xoay trở tứ bề, lúc nhƣ đe dọa, khi muốn dùng võ lực, thế nhƣng đều vô hiệu, ngài liền rút lui vào trong nhà tuyệt vọng, lòng tràn ngập đau khổ. Ngài tới phục trƣớc bàn thờ, để đền tạ vì sự phạm thánh của phƣờng vô đạo. Chính ngày hôm đó ngài viết cho tôi là thƣ tôi có ghi trong sách viết về cái chết vinh quang của ngài 52. Có thể kể nhƣ chính sự đau thƣơng đã viết vậy. Khi ở phía nam nơi ngài phái tôi đến, tôi nhận đƣợc, tôi cũng rất đau đớn. Thế là tôi trở về Cửa Hàn nơi xảy ra vụ Ông Nghè Bộ hành hung. Nhƣng tôi chẳng đƣợc gặp cha Ruben, ngài đã trẩy đi, vì ngài không thể ở đƣợc lâu hơn một ngày nào nữa. Chịu tù đày gian khổ nhất trên đất này còn đƣợc, nhƣng tội ác này, ngài không thể chịu nổi. Gioan_hung@yahoo.de Trang 19
  20. 20. CHƢƠNG 16-20 Chƣơng 16: NHIỀU CHUYẾN ĐI TRONG TỈNH QUẢNG NAM VÀ NHIỀU ƠN CHÖA BAN CHO GIÁO DÂN Tôi sẽ kể dài hơn một chút, nhƣng không làm cho những kẻ lòng ngay trí chính chán nản, bởi vì đặc biệt tôi nói nhiều về những ơn Thiên Chúa ban cho giáo đoàn mới mẻ này, suốt chừng năm năm tôi sung sƣớng ngụ ở đây. Thế nhƣng tôi sợ nhắc đi nhắc lại cùng một sự việc bởi vì Chúa hằng ban cho rất nhiều ơn lành, nên tôi chỉ chọn những việc đặc biệt còn thì nói sơ qua về những việc khác. Sau khi đã làm khá đầy đủ những việc ở bến Đà Nẵng thì vào đầu năm 1641 tôi đi một vòng tỉnh Quảng Nam, tỉnh này không phải tỉnh lớn nhất Đàng Trong, nhƣng rất giàu có và rất thích thú. Đây là nơi buôn bán sầm uất của ngƣời Bồ, ngƣời Trung Hoa và ngƣời Nhật Bản. Họ đƣa mọi thứ hàng hóa tới đây, vì có bến thuận tiện, tỉnh nằm gần giữa đất nƣớc, mua bán rất tiện. Tôi đƣợc tự do rảo khắp các thành phố và thị xã lớn trong tỉnh. Tôi gặp giáo dân đã nhận đức tin và kiên trì lạ lùng, còn lƣơng dân thì sẵn sàng tin theo. Trong tỉnh Hà Lâm 53, tôi gặp một giáo dân đạo đức tên là Emmanuel, ma quỷ thù ghét ông, đã xúi giục rất nhiều thù địch, ngay cả ngƣời họ hàng, làm cho ông không đƣợc yên, nhƣng Thiên Chúa đứng về phía ông, Ngƣời mạnh hơn mọi kẻ hành hạ ông. Một trong những ngƣời hàng xóm cứ luôn luôn xỉ vả ông; sau khi đã hành hạ ông suốt một ngày, thì cuối cùng vào chiều tối ngày hôm đó, hắn bị Chúa phạt chết bất thần. Không ai cho ông biết mà chính hắn đã cho ông hay. Số là sau khi chết hắn hiện về và cho ông biết tình trạng khốn đốn hắn chịu hiện nay, bởi vì chính hắn đã hành hạ ông. Bà mẹ của Emmanuel và đứa em út cũng dằn vặt ông, cả hai đều bị quỷ ám rất dữ dằn. Sau khi ma quỷ xúi giục làm sự tội thì lại trở nên tên đao phủ. Nhƣng rồi cả hai đều nhận tội vì bắt bớ đầy tớ Chúa, cả hai đều quyết định tin theo đạo, tin theo những gì đã lên án nơi Emmanuel và xin chịu phép rửa tội. Tôi đặt tên cho bà là Têrêsa và đứa em là Inhaxu và tôi tin rằng hai đấng quan thầy phù hộ cho hai giáo dân tân tòng này tránh khỏi tà ma hành hạ. Niềm tin của tôi không vô ích, bởi vì từ ngày đó, không còn thấy ma quỷ tấn công; ơn phép rửa tội đem Thánh Thần tới nơi họ. Để chứng tỏ dân ở miền nhiệt đới không kém thông minh nhƣ ta tƣởng, thì tôi kể chuyện đã xảy ra trong khi tôi dạy giáo lý cho dân tân tòng. Hôm đó tôi cắt nghĩa linh hồn bởi đâu mà có và tôi nói chỉ có Thiên Chúa là đấng tạo thành, còn cha mẹ không dự gì vào công cuộc này. Hôm sau, tôi đề cập tới tổ tông và tội ngƣời truyền cho con cháu, nghĩa là truyền cái vết nhơ ngƣời đã vƣơng vấy. Vừa giảng xong thì có một lƣơng dân rất hiểu biết lý lẽ đứng lên và nói: thƣa cha, làm thế nào để cho hợp điều cha vừa giảng hôm nay với điều cha nói hôm qua? nhƣ cha khẳng định, hồn không bởi đâu mà ra, chỉ bởi tay Thiên Chúa, còn cha mẹ chẳng đóng góp gì vào để cho hồn sống. Vậy thì sao hồn lại bị nhơ nhớp bởi tội một ngƣời không sinh ra mình? Thỉnh thoảng chúng ta thấy, con cái bị khinh miệt bởi vì cha mẹ chúng là những ngƣời làm tội ác, nhƣng ở đây theo cha nói, thì hồn chỉ nhận có Thiên Chúa là đấng sinh thành ra mình, thế mà Adong đối với hồn thì chẳng là gì, sao lại truyền tội mình đƣợc? Tôi thích thú đƣợc nghe từ miệng một ngƣời Đàng Trong nói lên sự nghi ngờ phân vân xƣa kia đã làm cho thánh Autinh vất vả suy tƣ, vị thánh tiến sĩ vĩ đại nhất của ta. Tôi không dùng những lý luận sâu sắc kinh viện để trả lời, sợ làm rối trí thêm, tôi chỉ đƣa ra một thí dụ nhỏ để cho ông hài lòng. Tôi nói: nếu ông cầm một viên ngọc rất trắng rất trong, bất ngờ hòn ngọc đó rơi xuống bùn và lấm bẩn hết cả, thực ra tay ông không bị nhơ bẩn gì hết. Nhƣng nếu ông đem rửa thì nó lại đƣợc trong trắng nhƣ trƣớc. Hồn chúng ta cũng nhƣ hạt ngọc rất quý, từ tay Thiên Chua nó phát xuất trong sáng, nhƣng nó đã rơi vào một xác làm cho nó nhơ bẩn, vì không phải chỉ một mình linh hồn, nhƣng là một ngƣời bởi Adong mà ra. Hồn bị nhơ bẩn ở đó, thế nhƣng khi đƣợc nƣớc rửa tội tắm cho sạch thì nó không còn nhơ bẩn nữa, nó trở nên trong sáng và đẹp đẽ nhƣ mặt trời. Thí dụ này làm thỏa mãn cả đoàn thể nghe tôi giảng. Gioan_hung@yahoo.de Trang 20

×