• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Giáo trình quan tri doanh nghiep
 

Giáo trình quan tri doanh nghiep

on

  • 2,767 views

TRUNG TÂM GIA SƯ NGOẠI THƯƠNG

TRUNG TÂM GIA SƯ NGOẠI THƯƠNG
ĐỊA CHỈ : Số nhà 60 Ngõ 105 Láng Hạ
SỐ ĐIỆN THOẠI : 0165 628 6659 HOẶC 04 66 55 88 90 Website http://giasungoaithuong.net/

Statistics

Views

Total Views
2,767
Views on SlideShare
2,762
Embed Views
5

Actions

Likes
0
Downloads
171
Comments
0

1 Embed 5

http://nhomhonaicuatui.mov.mn 5

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Giáo trình quan tri doanh nghiep Giáo trình quan tri doanh nghiep Document Transcript

    • TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH(Dành cho sinh viên không chuyên kinh tế) GIẢNG VIÊN: TRƯƠNG HÒA BÌNH ĐỖ THỊ TUYẾT THÁNG 12 - 2003
    • MỤC LỤC TrangCHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ KINH DOANH VÀ NHIỆM VỤCHỦ YẾU CỦA NHÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 1 I. ĐỊNH NGHĨA DOANH NGHIỆP 1. Các quan điểm về doanh nghiệp ………………………………………. 1 2. Định nghĩa doanh nghiệp ……………………………………………… 2 II. PHÂN LOẠI DOANH NGHIỆP 1. Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản trong doanh nghiệp ……………… 2 2. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân ………………………………………………………………….. 10 3. Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp ………………………………… 10 III. BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG KINH DOANH 1. Bản chất của kinh doanh ………………………………………………. 10 2. Đặc điểm của hệ thống kinh doanh ……………………………………. 11 3. Các yếu tố sản xuất ……………………………………………………. 12 IV. DOANH NGHIỆP LÀ ĐƠN VỊ SẢN XUẤT VÀ PHÂN PHỐI 1. Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất ………………………………………. 12 2. Doanh nghiệp là đơn vị phân phối …………………………………….. 13 V. MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Quan niệm về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp ……………... 13 2. Các yếu tố của môi trường kinh doanh ………………………………... 14 VI. MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Mục đích của doanh nghiệp …………………………….…………….. 22 2. Mục tiêu của doanh nghiệp ……………………………………………. 23 VII. THÀNH LẬP, GIẢI THỂ VÀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1. Tạo lập doanh nghiệp mới ………………………………………........... 23 2. Mua lại một doanh nghiệp sẵn có ……………………………………... 24 3. Đại lý đặc quyền ……….……………………………………………… 24 4. Phá sản doanh nghiệp ………………………………………………….. 25 CÂU HỎI ÔN TẬP 25CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUẢN TRỊ DOANH 26NGHIỆP I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ 1. Khái niệm và vai trò của quản trị ……………………………………… 26 2. Quản trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật …………………………… 29 3. Các chức năng quản trị ………………………………………………… 29 II. KẾ HOẠCH 1. Khái niệm ……………………………………….……………………... 30 2. Tầm quan trọng của kế hoạch …………………………………………. 30 3. Phân loại kế hoạch …………………………………………………….. 31 4. Các bước lập kế hoạch chiến lược …………………………………….. 32 III. TỔ CHỨC 1. Khái niệm ……………………………………………………………… 33 2. Một số cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp ………………………… 33 3. Phân chia quyền lực trong tổ chức ……………………………………. 36 IV. LÃNH ĐẠO 1. Khái niệm ………………………………………….…………………... 37 2. Vai trò của lãnh đạo …………………………………………………… 37 V. KIỂM TRA 1. Khái niệm ……………………………………………………………… 38 2. Nội dung công tác kiểm tra và các dạng kiểm tra ……………………... 39
    • VI. PHÂN CẤP TRONG QUẢN TRỊ 1. Theo cấp quản trị kinh doanh ………………………………………….. 39 2. Quản trị theo chức năng trong doanh nghiệp ………………………….. 40 VI. CÁC KỸ NĂNG QUẢN TRỊ ……………………………………………… 1. Kỹ năng chuyên môn…………………………………………………... 40 2. Kỹ năng nhân sự ……………………………………………………. 40 3. Kỹ năng tư duy…………………………………………………….. 40 VII. VAI TRÒ NHÀ QUẢN TRỊ 1. Nhóm vai trò quan hệ với con người …………………………………. 41 2. Nhóm vai trò thông tin ………..……………………………………….. 42 3. Nhóm vai trò quyết định ………………………………………………. 42 VIII. CÁC LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ 1. Lý thuyết quản trị cổ điển ……………………………………………... 43 2. Nhóm lý thuyết hành vi - tâm lý xã hội trong quản trị kinh doanh …… 45 3. Lý thuyết định lượng trong quản trị …………………………………… 47 4. Lý thuyết quản trị hiện đại …………………………………………….. 47 IX. QUYẾT ĐỊNH QUẢN TRỊ 1. Khái niệm ……………………………………………………………… 48 2. Các kiểu ra quyết định ………………………………………………… 48 3. Tiến trình ra quyết định ………………………………………………... 49 CÂU HỎI ÔN TẬP 50CHƯƠNG III: QUẢN TRỊ MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP 51 I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦAMARKETING 1. Khái niệm về marketing……………………………………............. 51 2. Vai trò của marketing…………………………………………………. 52 3. Quá trình phát triển của marketing…………………………………. 53 II. MARKETING HỖN HỢP………………………………………………….. 1. Khái niệm…………………………………………………………….. 55 2.Thành phần của marketing hỗn hợp……………………………………. 56 3. Những yếu tố ảnh hưởng đến marketing hỗn hợp……………………… 57 III. HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG…………………………………. 1. Nhu cầu của người tiêu dùng…………………………………………. 58 2. Động cơ thúc đẩy tiêu dùng…………………………………………… 59 3. Hành vi của người tiêu dùng………………………………………. 59 IV. PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG VÀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG MỤCTIÊU 1. Khái niệm…………………………………………………………….. 61 2. Ưu điểm của phân khúc thị trường........................................................ 62 3. Lựa chọn thị trường mục tiêu……………………………………….. 62 V. CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM 1. Định nghĩa về sản phẩm trong marketing…………………………… 63 2. Vai trò, vị trí của chiến lược sản phẩm………………………………. 63 3. Chu kỳ đời sống sản phẩm……………………………………………. 64 4. Nhãn hiệu – dấu hiệu – thương hiệu sản phẩm………………………… 66 VI. CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ 1. Tầm quan trọng của giá cả………………………………………….. 67 2. Những yếu tố ảnh hưởng đến giá cả……………………………….. 67 3. Mục tiêu định giá………………………………………………………. 67 4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá……………………………. 68 5. Phương pháp định giá………………………………………………… 69 VI. CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI 1. Vai trò phân phối…………………………………………………… 70
    • 2. Khái quát về kênh phân phối………………………………………… 70 VII. CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN BÁN HÀNG (CHIÊU THỊ) 1. Khái niệm và bản chất của chiêu thị……………………………….. 73 2. Tầm quan trọng của họat động chiêu thị……………………………. 73 3. Quá trình thông đạt trong chiêu thị………………………………… 74 4. Sự pha trộn trong chiêu thị………………………………………… 74 5. Quảng cáo…………………………………………………………. 74 6. Khuyến mãi………………………………………………….. 76 7. Marketing trực tiếp – Chào hàng cá nhân………………………….. 77 8. Tuyên truyền – Quan hệ với công chúng…………………………… 78 CÂU HỎI ÔN TẬP 79CHƯƠNG IV: QUẢN TRỊ CHI PHÍ KINH DOANH TRONG DOANHNGHIỆP 80 I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM KẾ TOÁN …………………………………………. 1. Các hệ thống kế toán trong doanh nghiệp ……………………………... 80 2. Tài sản trong doanh nghiệp ……………………………………………. 82 II. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ KINH DOANH 1. Khái niệm ………………………………………………..…….. 85 2. Phân loại chi phí kinh doanh …………………………………………... 86 III. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM/DỊCH VỤ 1. Khái niệm ……………………………………………………………… 89 2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ……………. 89 3. Các loại giá thành sản phẩm/dịch vụ ………………………………….. 90 4. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm …….. 91 5. Xác định phương pháp hạch toán chi phí sản xuất phát sinh vào đối tượng hạch toán chi phí sản xuất hoặc đối tượng tính giá thành …………. 91 6. Xác định kỳ tính giá thành và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang 92 7. Phương pháp tính giá thành …………………………………………… 93 IV. ĐỊNH NGHĨA VÀ VAI TRÒ NGÂN SÁCH 1. Định nghĩa ngân sách ………………………………………………….. 96 2. Tầm quan trọng của lập ngân sách …………………………………….. 98 3. Các ứng dụng khác của hoạch định ngân sách ………………………… 98 CÂU HỎI ÔN TẬP 99CHƯƠNG V: QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP 100 I. KHÁI NIỆM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUẢN TRỊ NHÂN SỰ 1. Khái niệm ……………………………………….……………………... 100 2. Tầm quan trọng của vấn đề quản trị nhân sự ………………………….. 101 II. MỤC TIÊU VÀ CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Mục tiêu của quản trị nhân sự …………………………………………. 102 2. Các chức năng của bộ phận / phòng nhân sự ………………………….. 103 III. KHÁI NIỆM Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA PHÂN TÍCH CÔNG VIỆC 1. Khái niệm ……………………………………………………………… 104 2. Ý nghĩa ……………………………………….………………………... 104 3. Tác dụng của phân tích công việc ……………………………………... 104 4. Thông tin cần thu thập, nội dung các bước phân tích công việc ……… 105 5. Các phương pháp thu thập thông tin phân tích công việc ……………... 106 IV. KHAI THÁC CÁC NGUỒN KHẢ NĂNG LAO ĐỘNG 1. Phân tích hiện trạng nguồn lao động trong doanh nghiệp ……………... 108 2. Phân tích các khả năng thu hút nhân sự từ bên ngoài …………………. 108 V. BỐ TRÍ VÀ SỬ DỤNG LAO ÐỘNG
    • 1. Khái niệm……….. ……………………………………………………. 110 2. Hiệp tác lao động và phân công lao động …………………………….. 110 VI. ÐÀO TẠO HUẤN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN VIÊN 1. Nhu cầu đào tạo, huấn luyện và phát triển nhân viên …………………. 112 2.Tiến trình đào tạo và phát triển nhân sự ………………………………... 113 VII. ÐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN 1. Ðịnh nghĩa và mục đích của việc đánh giá ……………………………. 114 2. Tiến trình đánh giá thực hiện công việc ………………………………. 115 3. Phỏng vấn đánh giá ……………………………………………………. 115 4. Phương pháp đánh giá …………………………………………………. 115 5. Một số vấn đề cần quan tâm khi đánh giá ……………………………... 118 VIII. TRẢ CÔNG LAO ĐỘNG 1. Khái niệm ……………………………………….…………………….. 119 2. Cơ cấu lương bổng và đãi ngộ ………………………………………… 119 3. Mục tiêu của hệ thống tiền lương ……………………………………… 121 4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương ……………………………… 121 5. Các hình thức tiền lương ………………………………………………. 124 CÂU HỎI ÔN TẬP 130CHƯƠNG VI: QUẢN TRỊ CUNG ỨNG 131 I. KHÁI NIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH LỰA CHỌN CUNG ỨNG 1. Khái niệm ……………………….……………………………………. 131 2. Phương pháp phân tích lựa chọn cung ứng ……………………………. 131 II. QUẢN LÝ MUA SẮM 1. Dự đoán nhu cầu ………………………………………………………. 134 2. Phân tích nhu cầu ……………………………………….……………... 134 3. Soạn thảo một kế hoạch mua sắm ……………………………………... 134 III QUẢN TRỊ DỰ TRỮ (TỒN KHO) 1. Các quan điểm đối lập về tồn kho ……………………………………... 135 2. Bản chất của tồn kho …………………………………………………... 136 3. Quản trị hiện vật của dự trữ …………………………………………… 136 4. Quản trị kế toán dự trữ ………………………………………………… 137 5. Quản trị kinh tế của dự trữ …………………………………………….. 137 IV. HỆ THỐNG LƯỢNG ĐẶT HÀNG CỐ ĐỊNH 1. Xác định lượng đặt hàng ………………………………………………. 140 2. Xác định điểm đặt hàng ……………………………………………….. 144 CÂU HỎI ÔN TẬP 146CHƯƠNG VI: HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT KINH DOANHTRONG DOANH NGHIỆP 147 I . HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh ... 147 2. Kinh doanh có hiệu quả - Điều kiện sống còn của mọi doanh nghiệp … 148 II. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Mức chuẩn và hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh ……………. 150 2. Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh .. 150 III. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT KINH DOANH 1. Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp 156 2. Lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả ………………... 157 3. Phát triển trình độ đội ngũ lao động và tạo động lực cho tập thể và cá nhân người lao động ……………………………………………………… 157
    • 4. Công tác quán trị và tổ chức sản xuất …………………………………. 158 5. Đối với công nghệ kỹ thuật ……………………………………………. 158 6. Tăng cường mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp với xã hội …. 159 CÂU HỎI ÔN TẬP 159CHƯƠNG VIII: QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG TRONG DOANH NGHIỆP 160 I. KHÁI NIỆM VỀ SẢN PHẨM, CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 1. Khái niệm sản phẩm …………………………………………………… 160 2. Khái niệm chất lượng sản phẩm ……………………………………….. 160 II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUAN NIỆM QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG ……………………………………….……………………………….. 162 III. ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG VÀ CÁC HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 1. Đảm bảo chất lượng …………………………………………………… 163 2. Hệ thống đảm bảo chất lượng …………………………………………. 164 IV. CÔNG CỤ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG 1. Kiểm soát chất lượng bằng thống kê (SQC) …………………………... 172 2. Vòng tròn DEMING …………………………………………………... 173 3. Nhóm chất lượng (Quality circle) ……………………………………... 174 CÂU HỎI ÔN TẬP 175 TÀI LIỆU THAM KHẢO
    • CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ KINH DOANH VÀ NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA NHÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP - Sau khi nghiên cứu chương này người đọc có thể: - Hiểu định nghĩa về doanh nghiệp, nắm được bản chất và đặc điểm của hệ thống kinh doanh. - Vai trò của hệ thống kinh doanh đối với sự phát triển của nền kinh tế. - Các loại hình doanh nghiệp - Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất và phân phối. - Môi trường hoạt động của doanh nghiệp - Mục đích và mục tiêu của doanh nghiệp - Thành lập, giải thể và phá sản doanh nghiệpI. ÂËNH NGHÉA DOANH NGHIÃÛP (DN) 1. Một số quan điểm về doanh nghiệp. Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp,mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định. Điều ấycũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cậndoanh nghiệp để phát biểu. Chẳng hạn: 1.1 Xét theo quan điểm luật pháp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân,có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độclập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệpquản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi 1.2 Xét theo quan điểm chức năng: doanh nghiệp được định nghĩa như sau: "Doanhnghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quantâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thịtrường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bánsản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. (M.Francois Peroux). 1.3 Xét theo quan điểm phát triển thì "doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ranhững của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt quanhững thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phảinhững khó khăn không vượt qua được " (trích từ sách " kinh tế doanh nghiệp của D.Larua.ACaillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992 ) 1.4 Xét theo quan điểm hệ thống thì doanh nghiệp được các tác giả nói trên xem rằng "doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổicùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất,thương mại, tổ chức, nhân sự. Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dướinhững góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chungnhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý làxuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chứcnăng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phảiđược cấu thành bởi những yếu tố sau đây: * Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năngquản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính. 1
    • * Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin. * Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao chocó lợi ở đầu ra. * Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹvà tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được. 2. Định nghĩa doanh nghiệp. Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau: Doanhnghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và conngười nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơsở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thờikết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. -Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân: Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanhnghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định. Việc khẳng định tưcách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nướcbảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với ngườitiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệpphải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phásản hay giải thể. - Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền vớiđịa phương nơi nó tồn tại. - Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnhcủa người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêuvong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụthuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó. - Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhấtđịnh, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó.II. PHÂN LOẠI DOANH NGHIỆP. 1. Căn cứ vào tính chất sở hữu tài sản trong doanh nghiệp Theo tiêu thức này doanh nghiệp được phân thành các loại: DN nhà nước, DN tư nhân,công ty, hợp tác xã (HTX) 1.1 Doanh nghiệp Nhà nước: là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn. Nhà nước -người đại diện toàn dân - tổ chức thực hiện chức năng quản lý trên mọi mặt hoạt động sản xuấtkinh doanh kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách phápnhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. 1.1.1 Khái niệm: Điều1 luật DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20.4.1995 đã nêu:DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinhdoanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội Nhà nước quy định.Doanh nghiệp có tư cách hợp pháp có cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ dân sự, chịutrách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh 1.1.2 Đặc điểm. Với nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và điều tiết vĩ môtrong nền kinh tế thị trường đặt ra nhu cầu khách quan về sự hình thành và tồn tại các DNNN.Quyền sở hữu tư liệu sản xuất thuộc về Nhà nước, đó là đặc điểm thứ nhất phân biệt DNNN vớicác doanh nghiệp khác, đồng thời hoạt động kinh doanh là đặc điểm phân biệt DNNN với các tổ 2
    • chức, cơ quan khác của Chính phủ. DNNN được phân biệt các loại hình doanh nghiệp khác bởicác đặc điểm sau đây: (bảng 1.1) Bảng 1.1: So sánh DNNN với các loại hình DN khác DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CÁC LOẠI HÌNH DN KHÁC -Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, - Cơ quan Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đảm bảo tính định hướng cho phép thành lập XHCN trên cơ sở đăng ký kinh doanh của các chủ thể kinh doanh -Tài sản là một bộ phận của tài sản Nhà nước, thuộc thuộc sở - Chủ thể kinh doanh hữu của Nhà nước (vì DNNN do Nhà nước đầu tư vốn để thành là chủ sở hữu đối với lập). DNNN không có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ là tài sản kinh doanh của người quản lý kinh doanh trên số tài sản của Nhà nước (không họ có quyền sở hữu nhưng có quyền chiếm hữu, định đoạt và sử dụng - DNNN do Nhà nước tổ chức Bộ máy quản lý của doanh nghiệp Nhà nước bổ nhiệm các cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, phê duyệt chiến lược, qui hoạch, kế hoạch... 1.1.3 Thành lập và tổ chức xắp xếp lại DNNN: Để thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinhtế Quyết định 388/HĐBT về thành lập lại các DNNN là biện pháp đầu tiên thực hiện xắp xếp lạicác DNNN. Biện pháp thứ hai, tiến hành cổ phần hóa các DNNN. Mục đích của cổ phần hóa là nâng caohiệu quả họat động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, Đảng và Nhà nước còn chủ trương chuyển doanhnghiệp nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Việc chuyển doanh nghiệp nhà nước kinhdoanh sang họat động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần và bổ sunghình thức công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có một sáng lập viên để áp dụng đối với doanh nghiệpkinh doanh 100% vốn nhà nước thực chất là nội dung chủ yếu của công ty hóa. Công ty hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm xác lập cơ chế phát huy động lực lao động vàquản lý doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở phát huy quyền và trách nhiệm của các doanh nghiệpcó phần vốn nhà nước và tinh thần tích cực của người lao động tại doanh nghiệp nhà nước; bảođảm sự công bằng tương đối giữa người lao động trong doanh nghiệp nhà nước với người laođộng trong các hợp tác xã cổ phần, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa; nâng cao hiệu quả quảnlý của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước. Biện pháp thứ ba, là hình thành các tổ chức kinh tế mạnh đủ sức cạnh tranh, hình thànhnhững ngành kinh tế kỹ thuật, đảm bảo thống nhất cân đối sản xuất, nhập khẩu, tiêu dùng, ngànhhàng trên phạm vi cả nước, đóng vai trò quan trọng trong các cân đối xuất nhập khẩu, bảo đảmvật tư hàng tiêu dùng chủ yếu, góp phần ổn định giá cả thị trường. Các DNNN đang chiếm giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước về sự thamgia đóng góp và vai trò trong quản lý của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Môhình DNNN đang tiếp tục được nghiên cứu cải tiến để hoạt động ngày càng có hiệu quả cao hơn,nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường, giữ được vai trò chủ đạo trongnền kinh tế. 1.2 Doanh nghiệp hùn vốn: là một tổ chức kinh tế mà vốn được đầu tư do các thành viêntham gia góp vào và được gọi là công ty. Họ cùng chia lời và cùng chịu lỗ tương ứng với phầnvốn đóng góp. Trách nhiệm pháp lý của từng hình thức có những đặc trưng khác nhau. Theo 3
    • Luật doanh nghiệp, loại hình công ty có các loại: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty cổ phần. 1.2.1 Khái niệm Công ty. “Công ty được hiểu là sự liên kết của 2 hoặc nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng sự kiện pháplý, nhằm tiến hành để đạt được mục tiêu chung nào đó" (theo KUBLER). 1.2.2 Đặc điểm công ty: - Công ty phải do hai người trở lên góp vốn để thành lập, những người này phải độc lập vớinhau về mặt tài sản. - Những người tham gia công ty phải góp tài sản như tiền, vàng, ngoại tệ, máy móc thiết bị,trụ sở, bản quyền sở hưũ công nghiệp. Tất cả các thứ do các thành viên đóng góp trở thành tàisản chung của công ty nhưng mỗi thành viên vẫn có quyền sở hưũ đối với phần vốn góp. Họ cóquyền bán tặng, cho phần sở hưũ của mình. Mục đích việc thành lập công ty là để kiếm lời chia nhau. Lợi nhuận của công ty được chiacho những người có vốn trong công ty. 1.2.3 Các loại hình công ty ở Việt Nam. 1.2.3.1 Công ty hợp danh. Công ty hợp danh là doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viênhợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyênmôn và uy tín nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụcủa công ty, không được đồng thời là thành viên của công ty hợp danh khác hoặc chủ doanhnghiệp tư nhân. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ cuả công ty trongphạm vi phần vốn góp đã góp vào công ty. Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên hợp danh: là cơ quan quyết định cao nhất củacông ty. Trong quá trình hoạt động, các thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhận các chứctrách quản trị và kiểm soát hoạt động của công ty, trong đó cử một người làm giám đốc công ty Thành viên góp vốn của công ty có quyền tham gia thảo luận và biểu quyết những vấn đềquan trọng trong điều lệ công ty. - Việc tiếp nhận thành viên mới: người được tiếp nhận làm thành viên hợp danh mới hoặcthành viên góp vốn mới khi được tất cả thành viên hợp danh của công ty đồng ý. Thành viên hợpdanh mới chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ cuả công ty phát sinh sau khi đăng ký thành viênđó với cơ quan đăng ký kinh doanh - Việc rút khỏi công ty: thành viên hợp danh được quyền rút khỏi công ty nếu được đa sốthành viên hợp danh còn lại đồng ý, nhưng vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụcủa công ty. Việc chuyển nhượng phần vốn góp cho các thành viên khác được tự do thực hiện - Việc chấm dứt tư cách thành viên: + Nếu do thành viên tự rút vốn ra khỏi công ty hoặc bị khai trừ khỏi công ty thì người đóphải liên đới chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của công ty đã phát sinh trước khi việc đăng ký chấmdứt tư cách thành viên đó với cơ quan đăng ký kinh doanh. + Nếu do thành viên đó chết hoặc bị hạn chế mất năng lực hành vị dân sự thì công ty cóquyền sử dụng tài sản tương ứng với trách nhiệm của người đó để thực hiện các nghĩa vụ củacông ty. 1.2.3.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Là doanh nghiệp, trong đó các thành viên cùng góp vốn cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịulỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạmvi phần vốn của mình góp vào công ty. 4
    • - Đặc điểm: + Công ty TNHH có hai thành viên trở lên (Điều 26), thành viên chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết gópvào doanh nghiệp, nhưng không quá 50 thành viên. + Phần vốn góp của tất cả các thành viên dưới bất kỳ hình thức nào đều phải đóng đủngay khi thành lập công ty. Phần vốn góp của các thành viên không được thể hiện dưới hình thức chứng khoán (như cổphiếu trong công ty cổ phần) và được ghi rõ trong điều lệ của công ty. + Công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu ra ngoài công chúng để huy động vốn.Do đó khả năng tăng vốn của công ty rất hạn chế. + Việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty bị hạn chế gắtgao. Việc chuyển nhượng vốn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của nhóm thành viên đại diệncho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty. Trên mọi giấy tờ giao dịch, ngoài tên công ty, vốn điều lệ của công ty phải ghi rõ các chữ"Trách nhiệm hưũ hạn", viết tắt "TNHH". + Cơ cấu quản lý thường gọn nhẹ phụ thuộc vào số lượng thành viên. Nếu công ty có từ11 thành viên trở xuống cơ cấu tổ chức quản trị gồm có hội đồng thành viên là cơ quan quyếtđịnh cao nhất, Chủ tịch công ty và giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) điều hành. Trường hợp công ty TNHH một thành viên là tổ chức (Điều 46) là doanh nghiệp do một tổchức sở hữu - gọi tắt là chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khỏan nợ và các nghĩa vụ tài sảnkhác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Chủ sở hữu công ty có quyềnchuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Đốivới loại công ty này thì không thành lập hội đồng thành viên. Tùy thuộc quy mô, ngành, nghềkinh doanh cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm: Hội đồng quản trị và giám đốc (Tổng giám đốc)hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc (Tổng giám đốc), trong đó Chủ tịch là chủ sở hữu công ty vàlà người đại diện theo pháp luật của công ty, có toàn quyền quyết định việc quản lý và điều hànhhoạt động kinh doanh của công ty. Đối với công ty có 12 thành viên trở lên phải lập thêm ban kiểm soát. - Thuận lợi và khó khăn của công ty TNHH + Thuận lợi: i Có nhiều chủ sở hữu hơn DNTN nên có thể có nhiều vốn hơn, do vậy có vị thế tàichính tạo khả năng tăng trưởng cho doanh nghiệp. i Khả năng quản lý toàn diện do có nhiều người hơn để tham gia điều hành công việckinh doanh, các thành viên vốn có trình độ kiến thức khác nhau, họ có thể bổ sung cho nhau vềcác kỹ năng quản trị. iTrách nhiệm pháp lý hữu hạn. + Khó khăn: i Khó khăn về kiểm soát: Mỗi thành viên đều phải chịu trách nhiệm đối với các quyếtđịnh của bất cứ thành viên nào trong công ty. Tất cả các hoạt động dưới danh nghĩa công ty củamột thành viên bất kỳ đều có sự ràng buộc với các thành viên khác mặc dù họ không được biếttrước. Do đó, sự hiểu biết và mối quan hệ thân thiện giữa các thành viên là một yếu tố rất quantrọng và cần thiết, bởi sự ủy quyền giữa các thành viên mang tính mặc nhiên và có phạm vi rấtrộng lớn i Thiếu bền vững và ổn định, chỉ cần một thành viên gặp rủi ro hay có suy nghĩ khôngphù hợp là công ty có thể không còn tồn tại nữa; tất cả các hoạt động kinh doanh dễ bị đình chỉ. 5
    • Sau đó nếu muốn thì bắt đầu công việc kinh doanh mới, có thể có hay không cần một công tyTNHH khác. i Công ty TNHH còn có bất lợi hơn so với DNTN về những điểm như phải chia lợinhuận, khó giữ bí mật kinh doanh và có rủi ro chọn phải những thành viên bất tài và không trungthực. 1.2.3.3 Công ty cổ phần. - Khái niệm và đặc điểm:Công ty cổ phần là công ty trong đó: + Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhấtlà ba. + Vốn cuả công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và được thểhiện dưới hình thức chứng khoán là cổ phiếu. Người có cổ phiếu gọi là cổ đông tức là thành viêncông ty. + Khi thành lập các sáng lập viên (những người có sáng kiến thành lập công ty chỉ cầnphải ký 20% số cổ phiếu dự tính phát hành), số còn lại họ có thể công khai gọi vốn từ nhữngngười khác. + Công ty cổ phần được phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra ngoài công chúng, do đó khảnăng tăng vốn của công ty rất lớn. + Khả năng chuyển nhượng vốn của các cổ đông dễ dàng. Họ có thể bán cổ phiếu củamình một cách tự do. + Công ty cổ phần thường có đông thành viên (cổ đông) vì nó được phát hành cổ phiếu,ai mua cổ phiếu sẽ trở thành cổ đông. - Tổ chức quản lý công ty cổ phần: Công ty cổ phần là loại công ty thông thường có rất nhiều thành viên và việc tổ chứcquản lý rất phức tạp, do đó phải có một cơ chế quản lý chặt chẽ. Việc quản lý điều hành công tycổ phần được đặt dưới quyền của 3 cơ quan: - Đại hội đồng cổ đông; - Hội đồng quản trị; - Bankiểm soát . + Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công ty gồm tất cảcác cổ đông. Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia đại hội đồng công ty. Là cơ quantập thể, đại hội đồng không làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và chỉ raquyết định khi đã được các cổ đông thảo luận và biểu quyết tán thành. ĐẠI HỘI ĐỒNG Bầu BAN KIỂM SOÁT CỔ ĐÔNG Bầu HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Bầu (hoặc thuê) TỔNG GIÁM ĐỐC Sơ đồ 1.1: Tổ chức của công ty cổ phần. Đại hội đồng cổ đông: được triệu tập để thành lập công ty. Luật không quy định Đại hội đồngcổ đông phải họp trước hay sau khi có giấy phép thành lập nhưng phải tiến hành trước khi đăngký kinh doanh. Đại hội đồng thành lập hợp lệ phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 3/4 sốvốn điều lệ của công ty và biểu quyết theo đa số phiếu quá bán. 6
    • * Đại hội đồng bất thường: là đại hội chỉ được triệu tập để sửa đổi điều lệ công ty. Tính bấtthường của Đại hội nói lên rằng đại hội sẽ quyết định những vấn đề rất quan trọng. * Đại hội đồng thường niên: được tổ chức hàng năm. Đại hội đồng thường niên quyết địnhnhững vấn đề chủ yếu sau: • Quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch kinh doanh hàng năm. • Thảo luận và thông qua bản tổng kết năm tài chính. • Bầu, bãi miễn thành viên HĐQT và kiểm soát viên. • Quyết định số lợi nhuận trích lập các quỹ của công ty số lợi nhuận chia cho cổ đông, phân chia trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với công ty trong kinh doanh. • Quyết định các giải pháp lớn về tài chính công ty. • Xem xét sai phạm của HĐQT gây thiệt hại cho công ty. + Hội đồng quản trị: (HĐQT) HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có từ 3-12 thành viên, số lượng cụ thể được ghi trong điềulệ công ty. HĐQT có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích,quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng. HĐQT bầu mộtngười làm chủ tịch, chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc công ty) hoặc HĐQTcử một người trong số họ làm Giám đốc hoặc thuê người làm Giám đốc công ty. + Ban kiểm soát : Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có ban kiểm soát từ ba đến năm thành viên. Kiểm soát viên thay mặt các cổ đông kiểm soát các hoạt động của công ty, chủ yếu là các vấnđề tài chính. Vì vậy phải có ít nhất một kiểm soát viên có trình độ chuyên môn về kế toán. Kiểmsoát viên có nhiệm vụ và quyền hạn như sau: - Kiểm soát sổ sách kế toán tài sản, các bảng tổng kế năm tài chính của công ty và triệu tậpĐại hội đồng khi cần thiết; - Trình Đại hội đồng báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chính cuả công ty; - Báo cáo về sự kiện tài chính bất thường xảy ra về những ưu khuyết điểm trong quản lý tàichính cuả HĐQT. Các kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng và không được kiêm nhiệm là thànhviên HĐQT, Giám đốc hoặc là người có liên quan trực hệ ba đời với họ. Như vậy tổ chức công ty có sự phân công các chức năng cụ thể cho từng cơ quan khác nhau,giám sát lẫn nhau trong mọi công việc. - Thuận lợi khó khăn của công ty cổ phần + Thuận lợi: h Trách nhiệm pháp lý có giới hạn: trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn ở số tiếnđầu tư của họ. h Công ty cổ phần có thể tồn tại ổn định và lâu bền h Tính chất ổn định, lâu bền, sự thừa nhận hợp pháp, khả năng chuyển nhượng các cổphần và trách nhiệm hữu hạn, tất cả cộng lại, có nghĩa là nhà đầu tư có thể đầu tư mà không sợgây nguy hiểm cho những tài sản cá nhân khác và có sự đảm bảo trong một chừng mực nào đo 7
    • giá trị vốn đầu tư sẽ tăng lên sau mỗi năm. Điều này đã tạo khả năng cho hầu hết các công ty cổphần tăng vốn tương đối dễ dàng. h Được chuyển nhượng quyền sở hữu. Các cổ phần hay quyền sở hữu công ty có thể được chuyển nhượng dễ dàng, chúng được ghivào danh mục chuyển nhượng tại Sở giao dịch chứng khoán và có thể mua hay bán trong cácphiên mở cửa một cách nhanh chóng. Vì vậy, các cổ đông có thể duy trì tính thanh khoản của cổphiếu và có thể chuyển nhượng các cổ phiếu một cách thuận tiện khi họ cần tiền mặt. + Khó khăn: h Công ty cổ phần phải chấp hành các chế độ kiểm tra và báo cáo chặt chẽ. h Khó giữ bí mật: vì lợi nhuận của các cổ đông và để thu hút các nhà đầu tư tiềm tàng,công ty thường phải tiết lộ những tin tức tài chính quan trọng, những thông tin này có thể bị đốithủ cạnh tranh khai thác. h Phía các cổ đông thường thiếu quan tâm đúng mức, rất nhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đếnlãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đến công việc của công ty. Sự quan tâm đến lãicổ phần này đã làm cho một số ban lãnh đạo chỉ nghĩ đến mục tiêu trước mắt chứ không phảithành đạt lâu dài. Với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo có thể chỉ muốn bảo toàn hay tăng lãi cổphần để nâng cao uy tín của bản thân mình. h Công ty cổ phần bị đánh thuế hai lần. Lần thứ nhất thuế đánh vào công ty. Sau đó, khilợi nhuận được chia, nó lại phải chịu thuế đánh vào thu nhập cá nhân của từng cổ đông. 1.3 Doanh nghiệp tư nhân: theo hình thức này thì vốn đầu tư vào doanh nghiệp do một ngườibỏ ra. Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tư nhân. Người quản lý doanhnghiệp do chủ sở hữu đảm nhận hoặc có thể thuê mướn, tuy nhiên người chủ doanh nghiệp làngười phải hoàn toàn chịu trách nhiệm toàn bộ các khoản nợ cũng như các vi phạm trên các mặthoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trước pháp luật. 1.3.1 Định nghĩa: Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là đơn vị kinh doanh có mức vốnkhông thấp hơn vốn đăng ký, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. 1.3.2 Đặc điểm. - DNTN là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ. Cá nhânvừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lý hoạt độngdoanh nghiệp. Thông thường, chủ doanh nghiệp là giám đốc trực tiếp tiến hành hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, nhưng cũng có trường hợp vì lý do cần thiết, chủ doanh nghiệp khôngtrực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh mà thuê người khác làm giám đốc. Nhưng dù trực tiếphay gián tiếp điều hành hoạt động sản suất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp vẫnphải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động đó. Do tính chất một chủ doanh nghiệp tư nhân quản lývà chịu trách nhiệm không có sự phân chia rủi ro với ai. Đặc điểm này cho phép phân biệt doanh nghiệp tư nhân với công ty cổ phần và công ty tráchnhiệm hữu hạn là những loại hình doanh nghiệp do nhiều người cùng chịu trách nhiệm về mọihoạt động của công ty tương ứng với phần góp vốn của mình. - DNTN phải có mức vốn không thấp hơn mức vốn đăng ký. - Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu tránh nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanhcủa doanh nghiệp. Đây là điểm khác nhau giữa DNTN với công ty TNHH và công ty cổ phần lànhững cơ sở kinh doanh mà những người chủ chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ củacông ty trong phạm vi phần vốn góp của mình. 1.3.3 Thuận lợi và khó khăn của DNTN. 8
    • - Thuận lợi. + Thủ tục thành lập DNTN đơn giản, dễ dàng. + Người chủ sở hữu toàn quyền quyết định kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh, dovậy dễ kiểm soát các hoạt động. + Tính linh hoạt do người chủ có thể thay đổi ngành hàng kinh doanh của mình theo ýmuốn. + Tính bí mật, mọi khoản lợi nhuận do doanh nghiệp đem lại đều thuộc về họ, họ khôngphải chia xẻ bí quyết nghề nghiệp hay kinh doanh với người khác, trừ khi họ muốn làm như vậy. + Giải thể dễ dàng, DNTN có thể bán cơ sở kinh doanh của mình cho bất kỳ người nàohọ muốn với bất cứ lúc nào theo giá họ chấp nhận - Khó khăn + Khó khăn của DNTN liên quan đến số lượng tài sản, vốn có giới hạn mà một người cóthể có, thường họ bị thiếu vốn và bất lợi này có thể gây cản trở cho sự phát triển. + Trách nhiệm pháp lý vô hạn, như đã nêu ở trên chủ sở hữu được hưởng toàn bộ lợinhuận của doanh nghiệp, nhưng nếu thua lỗ thì họ cũng gánh chịu một mình. + Yếu kém năng lực quản lý toàn diện, không phải người chủ doanh nghiệp nào cũng đủtrình độ để xử lý tất cả những vấn đề về tài chính, sản xuất, tiêu thụ. + Giới hạn về sự sinh tồn của doanh nghiệp, nguyên do là tính chất không bền vững củahình thức sở hữu này, mọi sự cố xảy ra đối với chủ doanh nghiệp có thể làm cho doanh nghiệpkhông tồn tại được nữa. 1.4 Hợp tác xã 1.4.1 Khái niệm và đặc điểm: - Khái niệm: HTX là loại hình kinh tế tập thể, do những người lao động và các tổ chức có nhucầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sứcmạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ, và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội - Đặc điểm: HTX vừa là tổ chức kinh tế vừa là tổ chức xã hội: + Là một tổ chức kinh tế , HTX là một doanh nghiệp được thành lập nhằm phát triển sảnxuất, kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm lợi ích của người lao động của tập thể và của xã hội. + Là một tổ chức xã hội, HTX là nơi người lao động nương tựa và gíup đỡ lẫn nhau trong sảnsuất cũng như trong đời sống vật chất và tinh thần. - Hợp tác xã tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc: + Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX. + Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi. + Quản lý dân chủ và bình đẳng. + Phân phối đảm bảo lợi ích xã viên và phát triển của HTX. + Hợp tác và phát triển cộng đồng Vai trò cuả kinh tế hợp tác và HTX. Kinh tế hợp tác (KTHT) và HTX là nhu cầu tất yếu khách quan trong quá trình phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức và phát triển KTHT vàHTX không chỉ giúp những người sản xuất nhỏ có đủ sức cạnh tranh, chống lại sự chèn ép củacác doanh nghiệp lớn, mà về lâu dài Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều 9
    • thành phần, trong đó kinh tế HTX là một bộ phận quan trọng cùng với kinh tế Nhà nước dần trởthành nền tảng của nền kinh tế đó cũng là nền tảng chính trị-xã hội của đất nước để đạt mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.2. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Theo tiêu thức này, doanh nghiệp được phân thành các loại: - Doanh nghiệp nông nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nôngnghiệp, hướng vào việc sản xuất ra những sản phẩm là cây, con. Hoạt động sản xuất kinh doanhcủa những doanh nghiệp này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. - Doanh nghiệp công nghiệp: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực côngnghiệp, nhằm tạo ra những sản phẩm bằng cách sử dụng những thiết bị máy móc để khai tháchoặc chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm. Trong công nghiệp có thể chia ra: công nghiệpxây dựng, công nghiệp chế tạo, công nghiệp điện tử v.v... - Doanh nghiệp thương mại: là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thươngmại, hướng vào việc khai thác các dịch vụ trong khâu phân phối hàng hóa cho người tiêu dùngtức là thực hiện những dịch vụ mua vào và bán ra để kiếm lời.. Doanh nghiệp thương mại có thểtổ chức dưới hình thức buôn bán sỉ hoặc buôn bán lẻ và hoạt động của nó có thể hướng vào xuấtnhập khẩu. - Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực dịchvụ càng được phát triển đa dạng, những doanh nghiệp trong ngành dịch vụ đã không ngừng pháttriển nhanh chóng về mặt số lượng và doanh thu mà còn ở tính đa dạng và phong phú của lĩnhvực này như: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, vận tải, du lịch, khách sạn, ytế v.v... .3. Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp: Theo tiêu thức quy mô, các doanh nghiệp đước phân làm ba loại: * Doanh nghiệp quy mô lớn. * Doanh nghiệp quy mô vừa. * Doanh nghiệp quy mô nhỏ. Để phân biệt các doanh nghiệp theo quy mô như trên, hầu hết ở các nước người ta dựavào những tiêu chuẩn như: - Tổng số vốn đầu tư của doanh nghiệp. - Số lượng lao động trong doanh nghiệp. - Doanh thu của doanh nghiệp. - Lợi nhuận hàng năm. Trong đó tiêu chuẩn tổng số vốn và số lao động được chú trong nhiều hơn, còn doanh thuvà lợi nhuận được dùng kết hợp để phân loại. Tuy nhiên, khi lượng hóa những tiêu chuẩn nóitrên thì tùy thuộc vào trình độ phát triển sản xuất ở mỗi quốc gia, tùy thuộc từng ngành cụ thể, ởcác thời kỳ khác nhau mà số lượng được lượng hóa theo từng tiêu chuẩn giữa các quốc gia khônggiống nhau.III. BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG KINH DOANH 1. Bản chất của kinh doanh. Doanh nghiệp như đã nêu ở trên, nó khác với các tổ chức khác ở chỗ chúng sản xuất hànghóa, hay cung cấp các loại dịch vụ với mục đích thu được lợi nhuận nhằm mở rộng hơn nữa hoạtđộng kinh doanh. 10
    • Kinh doanh là một hệ thống sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu củacon người, của xã hội. Bản thân kinh doanh có thể được coi như một hệ thống tổng thể bao gồmnhững hệ thống cấp dưới nhỏ hơn là các ngành kinh doanh, mỗi ngành kinh doanh được tạothành bởi nhiều doanh nghiệp có quy mô khác nhau, sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau.Mỗi doanh nghiệp lại bao gồm nhiều hệ thống con như sản xuất, tài chính, marketing... Bản chất của kinh doanh: - Doanh nghiệp tiếp nhận các nhập lượng và hoạt động trong những điều kiện đặc thùtùy theo loại hình kinh doanh. Tuy nhiên có điểm chung là các yếu tố nhập lượng chỉ có giới hạnhay được gọi là khan hiếm đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. - Doanh nghiệp sử dụng các nhập lượng theo cách thức hiệu quả nhất. Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp yêu cầu hàng hóa được bán với giá phải chăng và cóchất lượng thích hợp. Một doanh nghiệp thành công phải luôn luôn phát hiện được những nhucầu mới hoặc nhu cầu còn thiếu, chưa được đáp ứng của người tiêu dùng và luôn luôn sẵn sàngthỏa mãn các nhu cầu đó. Dưới áp lực của cạnh tranh và sức mua của người tiêu dùng, các nhà sản xuất sẽ cố gắngsử dụng có hiệu quả hơn thiết bị, nguyên liệu và lao động để tạo ra nhiều hàng hóa hơn, có chấtlượng tốt hơn. Do đó, khi theo đuổi những quyền lợi riêng tất yếu doanh nghiệp sẽ đồng thời tạora lợi ích cho xã hội, bởi các doanh nghiệp sẽ phải thỏa mãn các nhu cầu của xã hội khi cố gắngthỏa mãn những ham muốn của họ. Trong lúc theo đuổi lợi nhuận, nhà kinh doanh cũng phảiphục vụ người tiêu dùng và phục vụ lợi ích xã hội. Quan niệm này là nền tảng của nền kinh tế thịtrường. - Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu và xã hội. Bản chất của hệ thống kinh doanh được biểu hiện qua sơ đồ 1.2: Doanh nghiệp nhận các Doanh nghiệp biến đổi Doanh nghiệp sản xuất ra nhập lượng và hoạt các nhập lượng theo cách hàng hóa và dịch vụ để động trong môi trường có hiệu quả nhất với sự thỏa mãn các nhu cầu, tự nhiên, kinh tế, chính kết hợp các nguồn lực, đồng thời cũng tạo ra các trị, luật pháp, công nghệ khuyến khích người lao lợi ích kinh tế, xã hội, nâng và các áp lực xã hội. động, áp dụng các kỹ cao mức sống của xã hội. thuật thích hợp. Sơ đồ 1.2: Hệ thống kinh doanh 2. Đặc điểm của hệ thống kinh doanh 2.1 Sự phức tạp và tính đa dạng: Hệ thống kinh doanh hiện đại là một cơ cấu rất phức tạp gồm có nhiều khu vực. Mỗi khuvực do nhiều ngành tạo nên. Mỗi ngành lại được tạo thành từ nhiều tổ chức kinh doanh mà các tổchức kinh doanh này thay đổi trong những giới hạn hình thức sở hữu, qui mô kinh doanh, cơ cấuvốn, phong cách quản trị và phạm vi hoạt động. Chẳng hạn: khu vực sản xuất được tạo nên bằngcác nhà máy lắp ráp ôtô, chế tạo đồ điện gia dụng (ấm đun nước, nồi cơm điện, tủ lạnh,...) và cácsản phẩm điện tử (máy ghi âm, cassetle, đầu máy và ti vi, máy tính, máy vi tính,...). Khu vựcdịch vụ bao gồm các loại dịch vụ như vận tải, ngân hàng, các dịch vụ chuyên nghiệp. Ngànhcông ty vận tải được tạo thành bởi các ngành: đường sắt, vận tải biển, vận tải ôtô, hàng không.Ngành công nghiệp dịch vụ bao gồm các đại lý vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, các khu vườnquốc gia. Ngành dịch vụ chuyên nghiệp bao gồm các luật sư, kiến trúc sư, bác sĩ, chuyên viên kếtoán, nhà kinh doanh bất động sản... Trong mỗi ngành công nghiệp này, một số công ty chỉ hoạtđộng có tính chất cục bộ địa phương. Trong khi đó nhiều công ty khác có văn phòng tại nhiềuquốc gia như Morgan Stanley - Dean Wither, Novartis C Sandoz và Ciba - Geigy, Hilton,Holiday Inn... 11
    • 2.2 Sự phụ thuộc lẫn nhau: Các tổ chức kinh doanh hợp tác với nhau trong hoạt động kinh doanh. Một công ty muanguyên liệu thô hay các chi tiết rơi từ nhiều công ty khác, sau đó bán các sản phẩm hoàn thànhcho các nhà bán buôn, bán lẻ và những người này đem bán chúng cho những người sử dụng cuốicùng. Trong tiến trình đó, tất cả các tổ chức kinh doanh này đều phụ thuộc vào sự cung ứng dịchvụ của các công ty vận tải, các ngân hàng và nhiều công ty khác. Vì vậy sự phụ thuộc lẫn nhau làmột hệ thống kinh doanh riêng của hệ thống kinh doanh hiện đại. 2.3 Sự thay đổi và đổi mới: Để đảm bảo thành công, các tổ chức kinh doanh phải đáp ứng kịp thời những thay đổi thịhiếu và nhu cầu của người tiêu dùng. Hệ quả tất yếu của các tiến bộ công nghệ là nhiều sản phẩmnhanh chóng trở nên lỗi thời và bị thay thế. Bởi vậy sự thay đổi và đổi mới là những đặc trưngquan trọng trong hệ thống kinh doanh hiện đại. 3. Các yếu tố sản xuất Hệ thống tổ chức kinh doanh cần đến nhiều yếu tố nhập lượng khác nhau để tạo ra cácxuất lượng cho xã hội. Các nhập lượng này được gọi là các yếu tố sản xuất, các nhập lượng cănbản gồm có lao động, tiền vốn, nguyên vật liệu, đội ngũ các nhà kinh doanh. 3.1 Lao động: Bao gồm tất cả những người làm việc trong doanh nghiệp (còn được gọi lànguồn nhân lực) từ giám đốc đến quản đốc, nhân công đến nhân viên văn phòng, công nhântrong dây chuyền lắp ráp, người bán hàng,... 3.2 Tiền vốn: Là tất cả tiền của cho hoạt động tài chính của một doanh nghiệp. Nhữngtiền của này có thể là vốn đầu tư của chính chủ doanh nghiệp, các cổ đông, của các thành viên, làtiền vay ngân hàng hay lợi nhuận kinh doanh được giữ lại. Chúng được sử dụng để mua nguyênliệu, trả lương công nhân, lắp đặt máy móc, thiết bị mới hay xây dựng nhà xưởng, mở rộng nhàmáy. 3.3 Nguyên liệu: Có thể thuộc dạng tự nhiên như đất đai, nước hay khoáng chất để tuyểnchọn. Trong công nghiệp nguyên liệu bao gồm nguyên liệu thô, linh kiện rời hay bán thànhphẩm, sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất. 3.4 Đội ngũ các nhà kinh doanh: Là những người chấp nhận rủi ro tham gia vào hoạtđộng kinh doanh. Nhà kinh doanh có thể tự quản lý doanh nghiệp của họ hoặc đối với các tổchức kinh doanh lớn giới chủ có thể thuê mướn một đội ngũ các nhà quản trị chuyên nghiệp thaymặt họ điều hành doanh nghiệp. Nhà kinh doanh là những người tạo lập doanh nghiệp, làm chủ sở hữu và quản lý doanhnghiệp. Đó là những người có sáng tạo, linh hoạt, dám chấp nhận những mạo hiểm rủi ro trongkinh doanh, chính họ là những người tạo nên sức sống của doanh nghiệp, tạo nên sự sôi động củacuộc sống cạnh tranh trên thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò kinh doanh biểu hiện trước hết trong việc chuyểndịch các yếu tố kinh doanh: đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật, thông tin... Nhà kinh doanh phải là những người có khả năng hoạt động theo nhiều chức năng khácnhau. Khi bước vào lĩnh vực kinh doanh họ có quyết tâm để theo đuổi những mục tiêu đã xácđịnh: tìm kiếm lợi nhuận, được tự chủ trong hành động, được thỏa mãn trong cuộc sống v.v... . Những nhà doanh nghiệp thành công chỉ chấp nhận những rủi ro được tính toán của việcthu lợi nhuận hoặc lỗ lã trong việc thực hiện những hoạt động kinh doanh trong một thị trườngmà họ đã phát hiện ra một ý niệm về những nhu cầu.IV. DOANH NGHIỆP LÀ ĐƠN VỊ SẢN XUẤT VÀ PHÂN PHỐI 1. Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất. 12
    • Các doanh nghiệp dù họat động ở các lĩnh vực khác nhau đều có điểm giống nhau: - Có phương tiện sản xuất, nguồn nhân lực, tài chính, kỹ thuật, bí quyết. - Mua nguyên vật liệu, nhiên liệu, thiết bị máy móc của người cung ứng. - Sản xuất ra của cải hoặc dịch vụ để bán cho khách hàng hoặc cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp phải kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất để sản xuất ra sản phẩmhoặc dịch vụ. Doanh nghiệp cần xác định giá bán sản phẩm/dịch vụ cho phép bù đắp các chi phísản xuất kinh doanh đã bỏ ra. Các doanh nghiệp đều phải đối đầu với tính toán này. 2. Doanh nghiệp là đơn vị phân phối. Tiền thu được do bán sản phẩm hàng hoá, dịch vụ doanh nghiệp pahỉ chi trả rất nhiềukhoản khác nhau: - Chi trả cho người cung ứng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị; nhiên liệu, năng lượng - Chi trả tiền lương, tiền thưởng cho người lao động; - Chi sửa chữa tài sản cố định; - Chi cho quản lý: thông tin, liên lạc, văn phòng phẩm, hội nghị khách hàng, tiếp khách... - Chi cho bán hàng, đại lý, quảng cáo, khuyến mãi. - Trả lãi vốn vay, - Chi bảo hiểm xã hội; - Chi xây dựng cơ bản; - Nộp thuế và đóng góp cho xã hội - Lập quỹ dự trữ và quỹ phát triển sản xuất – kinh doanh - Lập quỹ phúc lợi Doanh nghiệp cần tính toán cân đối các khoản thu và khoản chi sao cho hoạt động sản xuất kinh doanh không ngừng phát triển.V. MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Quan niệm về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp . Sự phát triển có hiệu quả và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, suy cho cùng phụthuộc vào kết quả của các phần tử cấu thành - các doanh nghiệp. Mức độ đạt được hệ thống mụctiêu kinh tế - xã hội của mỗi doanh nghiệp lại phụ thuộc vào môi trường kinh doanh và khả năngthích ứng của doanh nghiệp với hoàn cảnh của môi trường kinh doanh. Từ quan niệm chung: Môi trường là tập hợp các yếu tố, các điều kiện thiết lập nên khung cảnhsống của một chủ thể, người ta thường cho rằng môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố,các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp. Các yếu tố, các điều kiện cấu thành môi trường kinh doanh luôn luôn có quan hệ tương tácvới nhau và đồng thời tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng mức độ vàchiều hướng tác động của các yếu tố, điều kiện lại khác nhau. Trong cùng một thời điểm, vớicùng một đối tượng có yếu tố tác động thuận, nhưng lại có yếu tố tạo thành lực cản đối với sựphát triển của doanh nghiệp. Các yếu tố, điều kiện tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không cố địnhmột cách tĩnh tại mà thường xuyên vận động, biến đổi. Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động 13
    • của doanh nghiệp, các nhà quản trị phải nhận biết một cách nhạy bén và dự báo đúng được sựthay đổi của môi trường kinh doanh. 2. Các yếu tố của môi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau. Xét theo cấp độ tác độngđến sản xuất và quản trị doanh nghiệp, có cấp độ nền kinh tế quốc dân và cấp độ ngành. Ở cấp độ nền kinh tế quốc dân (còn gọi là môi trường vĩ mô, môi trường tổng quát), các yếutố môi trường bao gồm: - Các yếu tố chính trị - luật pháp. - Các yếu tố kinh tế - Các yếu tố kỹ thuật - công nghệ. - Các yếu tố văn hóa - xã hội - Các yếu tố tự nhiên. Ở cấp độ ngành (còn gọi là môi trường tác nghiệp), các yếu tố môi trường bao gồm: - Sức ép và yêu cầu của khách hàng - Các đối thủ cạnh tranh hiện có và tiềm ẩn. - Mức độ phát triển của thị trường các yếu tố - Các sản phẩm thay thế sản phẩm doanh nghiệp đang sản xuất - Các quan hệ liên kết. Môi trường tác nghiệp được xác định đối với một ngành công nghiệp cụ thể, với tất cả cácdoanh nghiệp trong ngành chịu ảnh hưởng của môi trường tác nghiệp trong ngành đó. Môi trường kinh tế vĩ mô 1.Các yếu tố kinh tế 2.Các yếu tố chính trị và pháp luật Môi trường vĩ mô gồm 3.Các yếu tố xã hội các yếu tố nằm bên 4.Các yếu tố tự nhiên ngoài tổ chức, định hình 5. Các yếu tố công nghệ và có ảnh hưởng đến các môi trường tác Môi tường tác nghiệp nghiệp và môi trường 1.Các đối thủ cạnh tranh nội bộ, và tạo ra các cơ 2.Khách hàng hội và mối nguy cơ đối 3.Người cung ứng nguyên vật với các tổ chức. liệu Môi trường tác nghiệp 4.Các đối thủ tiềm ẩn và môi trường bao hàm 5. Hàng thay thế các yếu tố bên ngoài tổ Hoàn cảnh nội bộ chức, định hướng sự 1.Nguồn nhân lực cạnh tranh trong ngành. 2.Nghiên cứu và phát triển Hoàn cảnh nội bộ bao 3.Sản xuất hàm các nguồn lực nội 4.Tài chính kế toán bộ tổ chức. 5.Marketing 6.Văn hóa của tổ chức Sơ đồ 1.3 : Các yếu tố môi trường 14
    • Xét theo quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, có thể phân chia môi trường kinh doanhthành môi trường bên trong và môi trường bên ngoài. - Môi trường bên trong bao gồm toàn bộ các quan hệ kinh tế, tổ chức kỹ thuật nhằm bảo đảmcho doanh nghiệp kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm đạt hiệu quả cao. Môi trườngbên trong bao gồm các yếu tố nội tại trong một doanh nghiệp nhất định, trong thực tế doanhnghiệp là tổng hợp các yếu tố hoàn cảnh nội bộ của nó. Môi trường bên ngoài là tổng thể các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, quan, tác động đếnhoạt động của doanh nghiệp. Nhiều khi môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp kết hợp với nhau và được gọi là môitrường bên ngoài. Ba mức độ điều kiện môi trường này được định nghĩa và mối tương quan của chúng đượcminh họa trên sơ đồ 1.3 Các doanh nghiệp cần nhận biết hai yếu tố khác khi phân tích các ảnh hưởng của môi trường.Thứ nhất là, tính phức tạp của môi trường được đặc trưng bởi một loạt các yếu tố có ảnh hưởngđến các nổ lực của doanh nghiệp. Môi trường càng phức tạp thì càng khó đưa ra các quyết địnhhữu hiệu. Thứ hai là, tính biến động của môi trường, bao hàm tính năng động hoặc mức độ biếnđổi trong điều kiện môi trường liên quan. Trong một môi trường ổn định mức độ biến đổi có thểtương đối thấp và có thể dự đoán được. Môi trường biến động đặc trưng bởi những vấn đề diễnra nhanh chóng và khó mà dự báo trước được. Tính phức tạp và biến động của môi trường đặcbiệt hệ trọng khi tiến hành phân tích các điều kiện môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp vìcả hai đều là yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp. Mục đích nghiên cứu xác định và hiểu rõ các điều kiện môi trường liên quan là để làm rõ cácyếu tố môi trường nào có nhiều khả năng ảnh hưởng đến các việc ra quyết định của doanhnghiệp, đang tạo ra cơ hội hay đe dọa đối với doanh nghiệp. 2.1 Môi trường vĩ mô Các yếu tố môi trường vĩ mô bao gồm: các yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị và luật pháp, yếu tốxã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ, yếu tố môi trường quốc tế. Mỗi yếu tố môi trường vĩmô nói trên có thể ảnh hưởng đến tổ chức một cách độc lập hoặc trong mối liên kết với các yếutố khác. 2.1.1 Các yếu tố kinh tế. Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế gồm các yếu tố như lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chukỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ. Vì các yếu tố này tương đối rộngnên cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể ảnh hưởng trực tiếp nhất đối với hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp kinh doanh. Chẳng hạnnhư lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởng tới xu thế của tiết kiệm, tiêudùng và đầu tư, do vậy sẽ ảnh hưởng tới họat động của các doanh nghiệp. Lãi suất tăng sẽ hạnchế nhu cầu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng họat động kinh doanh, ảnh hưởng đến lợi nhuận củadoanh nghiệp. Ngoài ra khi lãi suất tăng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàngnhiều hơn, do vậy cũng sẽ làm cho nhu cầu cầu tiêu dùng giảm xuống. Xu hướng của tỷ giá hối đoái: Sự biến động của tỷ giá làm thay đổi những điều kiện kinhdoanh nói chung, tạo ra những cơ hội đe dọa khác nhau đối với các doanh nghiệp, đặc biệt nó cónhững tác động điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu. Mức độ lạm phát: lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế. Khilạm phát quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư của 15
    • các doanh nghiệp, sức mua của xã hội cũng bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Tráilại, thiểu phát cũng làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải cótác dụng khuyến khích đầu tư vào nền kinh tế, kích thích thị trường tăng trưởng. Tuy có nhiều số liệu cụ thể, song việc dự báo kinh tế không phải là một khoa học chính xác.Một số doanh nghiệp thường sử dụng các mô hình dự báo thay vì dựa vào các số liệu dự báo sẵncó. Đối với các doanh nghiệp chưa xây dựng được mô hình đó cũng cần phải xác định các yếu tốkinh tế có ảnh hưởng lớn nhất đối với tổ chức. Các kiến thức kinh tế sẽ giúp các nhà quản trị xác định những ảnh hưởng của một doanhnghiệp đối với nền kinh tế của đất nước, ảnh hưởng của các chính sách kinh tế của chính phủ đốivới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tính ổn định về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổnđịnh nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát. Đây là những vấn đề các doanhnghiệp rất quan tâm và liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của họ. 2.1.2 Yếu tố chính trị và luật pháp Các yếu tố chính trị và luật pháp có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của các doanhnghiệp, bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống luậtpháp hiện hành, các xu hướng ngoại giao của chính phủ, những diễn biến chính trị trong nước,trong khu vực và trên toàn thế giới. Doanh nghiệp phải tuân theo các quy định về thuê mướn,thuế, cho vay, an toàn, vật giá, quảng cáo nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường v.v... . Luật pháp: đưa ra những quy định cho phép hoặc không cho phép, hoặc những ràng buộc đòihỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ. Chính phủ là cơ quan giám sát, duy trì, thực hiện pháp luật và bảo vệ lợi ích quốc gia. Chínhphủ có vai trò to lớn trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, tài chính,tiền tệ, các chương trình chi tiêu của mình. Trong mối quan hệ với các doanh nghiệp, chính phủvừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tài trợ, quy định ngăn cấm, hạn chế, vừađóng vai trò là khách hàng quan trọng đối với các doanh nghiệp (trong các chương trình chi tiêucủa chính phủ), và sau cùng chính phủ cũng đóng vai trò là nhà cung cấp các dịch vụ cho cácdoanh nghiệp: cung cấp các thông tin vĩ mô, các dịch vụ công cộng khác... . Như vậy, hoạt động của chính phủ cũng có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ. Thí dụ, một sốchương trình của chính phủ (như biểu thuế hàng ngoại nhập cạnh tranh, chính sách miễn giảmthuế) tạo cho doanh nghiệp cơ hội tăng trưởng hoặc cơ hội tồn tại. Ngược lại, việc tăng thuếtrong một ngành nhất định nào đó có thể đe dọa đến lợi nhuận của doanh nghiệp . Nhìn chung, các doanh nghiệp hoạt động được là vì điều kiện xã hội cho phép. Chừng nào xãhội không còn chấp nhận các điều kiện và bối cảnh thực tế nhất định, thì xã hội sẽ rút lại sự chophép đó bằng cách đòi hoi chính phủ can thiệp bằng chế độ chính sách hoặc hệ thống pháp luật.Thí dụ, mối quan tâm của xã hội đối với vấn đề ô nhiễm môi trường hoặc tiết kiệm năng lượngđược phản ảnh trong các biện pháp của chính phủ. Xã hội cũng đòi hỏi có các quy định nghiêmngặt đảm bảo các sản phẩm tiêu dùng được sử dụng an toàn. Sự ổn định chính trị tạo ra môi trường thuận lợi đối với các hoạt động kinh doanh. Một chínhphủ mạnh và sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của xã hội sẽ đem lại lòng tin và thuhút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong một xã hội ổn định về chính trị, các nhà kinhdoanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền sở hữu các tài sản khác của họ, như vậy họ sẽ sẵnsàng đầu tư với số vốn nhiều hơn vào các dự án dài hạn. Chính sự can thiệp nhiều hay ít củachính phủ vào nền kinh tế đã tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn và cơ hội kinh doanh khácnhau cho từng doanh nghiệp . Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần sớm phát hiện ra những cơhội hoặc thách thức mới trong kinh doanh, từ đó điều chỉnh thích ứng các hoạt động nhằm tránh 16
    • những đảo lộn lớn trong quá trình vận hành, duy trì và đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong kinhdoanh. Vấn đề then chốt là cần phải tuân thủ các quy định có thể được ban hành. 2.1.3 Yếu tố văn hóa - xã hội. Môi trường văn hóa - xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị được chấp nhận và tôntrọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể. Sự thay đổi của các yếu tố văn hóa - xã hộimột phần là hệ quả của sự tác động lâu dài của các yếu tố vĩ mô khác, do vậy nó thường biến đổichậm hơn so với các yếu tố khác. Một số đặc điểm mà các nhà quản trị cần chú ý là: sự tác độngcủa các yếu tố văn hóa - xã hội thường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác,nhiều lúc khó mà nhận biết được. Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hóa - xã hộithường rất rộng: "nó xác định cách thức người ta sống, làm việc, sản xuất và tiêu thụ các sảnphẩm và dịch vụ". Các khía cạnh hình thành môi trường văn hóa - xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽđến các họat động kinh doanh như: những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ,lối sống, về nghềnghiệp; những phong tục, tập quán, truyền thống; những quan tâm ưu tiên của xã hội; trình độnhận thức, học vấn chung của xã hội... . Tất cả các doanh nghiệp cần phân tích rộng rãi các yếu tố xã hội nhằm nhận biết các cơ hội vànguy cơ có thể xảy ra. Khi một hay nhiều yếu tố thay đổi chúng có thể tác động đến doanhnghiệp, như xu hướng nhân chủng học, sở thích vui chơi giải trí, chuẩn mực đạo đức và quanđiểm về mức sống, cộng đồng kinh doanh và lao động nữ. Các yếu tố xã hội học trên thường biến đổi hoặc tiến triển chậm nên đôi khi thường khó nhậnbiết. Thí dụ, hiện nay có một số lượng lớn lao động là nữ giới. Điều nay do quan điểm của namgiới cũng như nữ giới đã thay đổi. Nhưng rất ít doanh nghiệp nhận ra sự thay đổi quan điểm nàyđể dự báo tác động của nó và đề ra chiến lược tương ứng. Các thay đổi khác diễn ra nhanh hơnnếu chúng gây ra bởi sự gián đoạn bên ngoài nào đó trong hành vi chuẩn mực đạo đức của xãhội. Trong môi trường văn hóa, các nhân tố nổi lên giữ vai trò đặc biệt quan trọng là tập quán, lốisống, tôn giáo. Các nhân tố này được coi là "hàng rào chắn" các hoạt động giao dịch thươngmại. Thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu, vì ngay cảtrong trường hợp hàng hóa thực sự có chất lượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưachuộng thì cũng khó được họ chấp nhận. Chính thị hiếu, tập quán người tiêu dùng mang đặcđiểm riêng của từng vùng, từng dân tộc và phản ánh yếu tố văn hóa, lịch sử, tôn giáo của từngđịa phương, từng quốc gia. Trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, đạo đức xã hội trongđó có đạo đức kinh doanh được coi là một khía cạnh thiết thực và quan trọng của môi trườngkinh doanh. Đạo đức đặt cương lĩnh cho hoạt động hàng ngày trong một xã hội và chi phối mọihành vi và tác phong cá nhân. Đạo đức là giới hạn ngăn cách những hành vi xấu và là động lựcthúc đẩy những hành vi tốt. Đạo đức có thể coi như một nhu cầu xã hội và vì vậy bất kỳ một thểchế kinh tế nào cũng phải xây dựng một khuôn khổ đạo đức để làm một trong những nguyên tắcđiều hành. 2.1.4 Yếu tố tự nhiên Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, đất đai, sông biển,các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển, sự trong sạch của môitrường nước, không khí,... .Tác động của các điều kiệu tự nhiên đối với các quyết sách trong kinhdoanh từ lâu đã được các doanh nghiệp thừa nhận. Trong rất nhiều trường hợp, chính các điềukiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sảnphẩm và dịch vụ. 17
    • Tuy nhiên, cho tới nay các yếu tố về duy trì môi trường tự nhiên rất ít được chú ý tới. Sựquan tâm của các nhà hoạch định chính sách của nhà nước ngày càng tăng vì công chúng quantâm nhiều hơn đến chất lượng môi trường tự nhiên. Các vấn đề ô nhiễm môi trường, sản phẩmkém chất lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với cácnguồn lực có hạn khiến công chúng cũng như các nhà doanh nghiệp phải thay đổi các quyết địnhvà biện pháp hoạt động liên quan. 2.1.5 Yếu tố công nghệ. Đây là một trong những yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và đe dọa đối với cácdoanh nghiệp. Những áp lực và đe dọa từ môi trường công nghệ có thể là: sự ra đời của côngnghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe dọa cácsản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu. Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệhiện tại bị lỗi thời và tạo ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăngcường khả năng cạnh tranh. Sự ra đời của công nghệ mới làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanhnghiệp hiện có trong ngành. Sự bùng nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời công nghệ cóxu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắn thời gian khấu hao sovới trước. Ít có ngành công nghiệp và doanh nghiệp nào mà lại không phụ thuộc vào cơ sở công nghệngày càng hiện đại. Các nhà nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ hàng đầu nói chungđang lao vào công việc tìm tòi các giải pháp kỹ thuật mới nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại vàxác định các công nghệ hiện tại có thể khai thác trên thị trường. Các doanh nghiệp cũng phải cảnh giác đối với các công nghệ mới có thể làm cho sản phẩmcủa họ bị lạc hậu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Bên cạnh đó, các nhà quản trị cần lưu ý thêmkhi đề cập đến môi trường công nghệ: - Áp lực tác động của sự phát triển công nghệ và mức chi tiêu cho sự phát triển công nghệkhác nhau theo ngành. Như vậy, đối với những nhà quản trị trong những ngành bị ảnh hưởng bởisự thay đổi kỹ thuật nhanh thì quá trình đánh giá những cơ hội và đe dọa mang tính công nghệtrở thành vấn đề đặc biệt quan trọng của việc kiểm soát các yếu tố bên ngoài. - Một số ngành nhất định có thể nhận được sự khuyến khích và tài trợ của chính phủ cho việcnghiên cứu và phát triển - khi có sự phù hợp với các phương hướng và ưu tiên của chính phủ.Nếu các doanh nghiệp biết tranh thủ những cơ hội từ sự trợ giúp này sẽ gặp được những thuậnlợi trong quá trình họat động. 2.2 Môi trường tác nghiệp Môi trường tác nghiệp bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối vớidoanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó. Có 5 yếutố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và sảnphẩm thay thế. Mối quan hệ giữa các yếu tố được phản ảnh qua sơ đồ 1.4 Vì ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự miễn cưỡng đối với tất cả các doanhnghiệp, nên chìa khóa để ra được một chiến lược thành công là phải phân tích từng yếu tố chủyếu đó. Sự am hiểu các nguồn sức ép cạnh tranh giúp các doanh nghiệp nhận ra mặt mạnh vàmặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải. 2.2.1 Các đối thủ cạnh tranh. Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp donhiều nguyên nhân. Thứ nhất là các đối thủ cạnh tranh quyết định tính chất và mức độ tranh đuahoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành. 18
    • Các đối thủ mới dạng tiềm ẩn Nguy cơ có các đối thủ mới cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh Khả năng ép trong ngành giá của người Khaí nàng eïp Người cung cung cấp hàng giaï cuía cấp ngæåìi mua Người mua Sự tranh đua giữa các doanh nghiệp hiện có Nguy cơ do các sản phẩm và dịch vụ mới thay thế Hàng thay thế Sơ đồ 1.4: Môi trường tác nghiệp trong ngành. Mức độ cạnh tranh dữ dội phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượngdoanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mứcđộ đa dạng hóa sản phẩm. Sự hiện hữu của các yếu tố này có xu hướng làm tăng nhu cầu hoặcnguyện vọng của doanh nghiệp muốn đạt được và bảo vệ thị phần của mình. Vì vậy chúng làmcho sự cạnh tranh thêm gay gắt. Các doanh nghiệp cần nhận thấy rằng quá trình cạnh tranh không ổn định. Chẳng hạn, trongcác ngành công nghiệp phát triển chín muồi thường sự cạnh tranh mang tính chất dữ dội khimức tăng trưởng và lợi nhuận bị suy giảm (mạch tích hợp IC, máy tính cầm tay). Ngoài ra cácđối thủ cạnh tranh mới và các giải pháp công nghệ mới cũng thường làm thay đổi mức độ và tínhchất cạnh tranh. Các doanh nghiệp cần phân tích từng đối thủ cạnh tranh để nắm và hiểu được các biện phápphản ứng và hành động mà họ có thể thông qua. Mục đích tương lai: Sự hiểu biết mục đích của đối thủ cạnh tranh giúp doanh nghiệp đoán biếtđược: h Mức độ mà đối thủ cạnh tranh bằng lòng với kết quả tài chính và vị trí hiện tại của họ. h Khả năng đối thủ cạnh tranh thay đổi chiến lược. h Sức mạnh phản ứng của đối thủ trước những diễn biến bên ngoài (thí dụ, khi các hãng khácđưa ra những thay đổi về mặt chiến lược, các hoạt động về marketing...). h Tính chất hệ trọng của các sáng kiến mà đối thủ cạnh tranh đề ra. Các yếu tố chủ yếu điều tra liên quan đến các mục đích của đối thủ cạnh tranh là: - Các mục đích về tài chính; - Quan điểm hoặc giá trị về mặt tổ chức; - Cơ cấu tổ chức; - Các hệ thống kiểm soát; 19
    • - Các nhân viên quản trị, nhất là tổng giám đốc điều hành; - Sự nhất trí của lãnh đạo về hướng đi trong tương lai; - Thành phần Hội đồng quản trị; - Các giao ước hợp đồng có thể hạn chế các thay đổi; - Những hạn chế liên quan đến các qui định điều chỉnh, qui định về chống độc quyền và cácquy định khác của chính phủ hoặc xã hội. Nhận định: Một điều rất có lợi cho doanh nghiệp là nắm bắt được những nhận định của đốithủ cạnh tranh về chính họ và các doanh nghiệp khác trong ngành. Nếu như các nhận định nàykhông chính xác thì chúng sẽ tạo ra các "điểm mù", tức là điểm yếu của đối phương. Chẳng hạn,nếu đối thủ cạnh tranh tin tưởng rằng họ được khách hàng tín nhiệm cao, thì họ có thể mắc điểmyếu là không thực hiện biện pháp cạnh tranh như giảm giá và đưa ra các sản phẩm mới. Tươngtự như vậy, doanh nghiệp có thể có những nhận định thiếu chính xác về ngành hàng hoặc môitrường hoạt động của mình. Chẳng hạn, các hãng sản xuất ô tô của Hoa Kỳ đã một thời cho rằngnhu cầu xe còn phụ thuộc căn bản vào điều kiện kinh tế. Điều nhận định sai lầm này là điểm yếucuả họ trước những đối thủ cạnh tranh nước ngoài nào sản xuất các loại xe có các bộ phận xa xỉhơn và được chấp nhận vì chất lượng cao hơn. Cần lưu ý rằng việc phân tích cặn kẽ lịch sử của đối thủ canh tranh và kinh nghiệm của cácnhà lãnh đạo và chuyên gia cố vấn của họ giúp ta hiểu rõ các mục đích và nhận định của họ. Các doanh nghiệp phải xem xét đến tiềm năng chính yếu của đối thủ cạnh tranh, các ưu,nhược, điểm của họ trong các lĩnh vực hoạt động sau đây: - Các loại sản phẩm. - Hệ thống phân phối. - Marketing và bán hàng. - Các hoạt động tác nghiệp/sản xuất. - Nghiên cứu và thiết kế công nghệ. - Giá thành sản phẩm. - Tiềm lực tài chính. - Tổ chức. - Năng lực quản lý chung. - Danh mục đầu tư của công ty. - Nguồn nhân lực. - Quan hệ xã hội (như đối với Chính phủ). Ngoài các yếu tố kể trên cần xem xét đến tính thống nhất của các mục đích và chiến lược củađối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần tìm hiểu khả năng tăng trưởng của các đối thủcạnh tranh và đánh giá xem: - Các năng lực của họ gia tăng tăng hay giảm xuống nếu có sự tăng trưởng; - Khả năng tiềm ẩn để tăng trưởng, cụ thể tiềm năng về con người, tay nghề của người laođộng và công nghệ; - Mức tăng trưởng mà họ có thể giữ vững theo triển vọng tài chính. Một điều hết sức quan trọng là khả năng đối thủ cạnh tranh có thể thích nghi với những thayđổi. Các doanh nghiệp cần xem xét khả năng phản ứng của đối thủ cạnh tranh trước các diễnbiến của các tiến bộ công nghệ, lạm phát và sự can thiệp mạnh của Chính phủ. Ngoài ra, cần xemxét tới khả năng thích nghi của họ đối với các thay đổi liên quan đến từng lĩnh vực hoạt độngmarketing đang mở rộng hoặc họ có quản lý được dây chuyền sản phẩm phức tạp hơn không? 20
    • Khả năng chịu đựng của đối thủ cạnh tranh, tức khả năng đương đầu với các cuộc tranh giànhkéo dài. Điều đó phụ thuộc vào dự trữ tiền vốn, sự nhất trí trong ban lãnh đạo, triển vọng lâu dàitrong các mục đích tài chính của doanh nghiệp và không bị sức ép trên thị trường chứng khoán. Sự am hiểu về các đối thủ cạnh tranh chính có tầm quan trọng đến mức có thể nó cho phép đềra thủ thuật phân tích đối thủ cạnh tranh và duy trì hồ sơ về các đối thủ trong đó có các thông tinthích hợp và các thông tin về từng đối thủ cạnh trạnh chính được thu nhận một cách hợp pháp. 2.2.2 Khách hàng. Vấn đề khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh. Sự tín nhiệmcủa khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của hãng. Sự tín nhiệm đó đạt được do biết thỏamãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với với các đối thủ cạnh tranh. Một vấn đề mấu chốt khác liên quan đến khách hàng là khả năng trả giá của họ. Người muacó ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòi hỏichất lượng cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn. Người mua có tương đối nhiều thế mạnh hơn khi họ có các điều kiện sau: i Lượng hàng người mua chiếm tỷ lệ lớn trong khối lượng hàng bán ra của hãng, như lượngbán hàng mà hãng General Motors mua của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện nhỏ. i Việc chuyển sang mua hàng của người khác không gây nhiều tốn kém; i Người mua đưa ra tín hiệu đe dọa đáng tin cậy sẽ hội nhập ngược với các bạn hàng cungứng, như các hãng sản xuất ô tô thường làm; i Sản phẩm của người bán ít ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của người mua. Nếu sự tương tác của các điều kiện nói trên làm cho doanh nghiệp không đạt được mục tiêucủa mình thì doanh nghiệp phải cố gắng thay đổi vị thế của mình trong việc thương lượng giábằng cách thay đổi một hoặc nhiều điều kiện nói trên hoặc là phải tìm khách hàng ít có ưu thếhơn. Các doanh nghiệp cũng cần lập bảng phân loại các khách hàng hiện tại và tương lai. Cácthông tin thu được từ bảng phân loại này là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định kếhoạch, nhất là các kế hoạch liên quan trực tiếp đến marketing. 2.2.3 Nhà cung ứng. Các doanh nghiệp cần phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau, nhưvật tư, thiết bị, lao động và tài chính. 2.2.3.1 Người bán vật tư, thiết bị. Các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị có ưu thế có thể gây khó khăn bằng cách tăng giá, giảmchất lượng sản phẩm hoặc giảm dịch vụ đi kèm. Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cungứng cũng tương tự như các yếu tố làm tăng thế mạnh của người mua sản phẩm, Cụ thể là các yếutố: số lượng cung cấp ít; không có mặt hàng thay thế khác và không có nhà cung cấp nào chàobán các sản phẩm có tính khác biệt. Nếu người cung cấp có được điều kiện thuận lợi như vậy thìcác doanh nghiệp mua hàng cần kiếm cách cải thiện vị thế của họ bằng cách tác động đến mộthay nhiều yếu tố nói trên. Họ có thể đe dọa hội nhập dọc bằng cách mua lại các cơ sở cung cấphàng cho chính họ, hoặc có thể mua giấy phép độc quyền. Việc lựa chọn người cung cấp dựa trên số liệu phân tích về người bán. Cần phân tích mỗi tổchức cung ứng theo các yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Các hồ sơ vềngười bán trong quá khứ cũng có giá trị, trong các hồ sơ đó ít nhất cũng phải tóm lược đượcnhững sai biệt giữa việc đặt hàng và nhận hàng liên quan đến nội dung, ngày tháng, điều kiệnbán hàng và bất kỳ tình tiết giảm nhẹ nào có tác động đến người cung cấp hàng. 2.2.3.2 Người cung cấp vốn: 21
    • Trong những thời điểm nhất định phần lớn các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp làm ăncó lãi, đều phải vay vốn tạm thời từ người tài trợ. Nguồn tiền vốn này có thể nhận được bằngcách vay ngắn hạn hoặc dài hạn hoặc phát hành cổ phiều. Khi doanh nghiệp tiến hành phân tíchvề các tổ chức tài chính thì trước hết cần chú ý xác dịnh vị thế của mình so với các thành viênkhác trong cộng đồng. Cần đặt ra các câu hỏi cơ bản sau: i Cổ phiếu của doanh nghiệp có được đánh giá đúng không ? i Các điều kiện cho vay hiện tại của chủ nợ có phù hợp với các mục tiêu lợi nhuận củadoanh nghiệp không ? i Người cho vay có khả năng kéo dài ngân khoản và thời gian cho vay khi cần thiết không 2.2.3.3 Nguồn lao động: Nguồn lao động cũng là một phần chính yếu trong môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp.Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có năng lực là tiền đề để dảm bảo thành công chodoanh nghiệp. Các yếu tố chính cần đánh giá là đội ngũ lao động chung bao gồm: trình độ đàotạo và trình độ chuyên môn của họ, mức độ hấp dẫn tương đối của doanh nghiệp với tư cách làngười sử dụng lao động và mức tiền công phổ biến. Các nghiệp đoàn cũng có vai trò đáng kể trong môi trường cạnh tranh. Tính chất đặc thù củamối quan hệ giữa doanh nghiệp và các nghiệp đoàn liên quan, với tư cách là người cung cấp laođộng, có thể tác động mạnh đến khả năng đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. 2.2.4 Đối thủ tiềm ẩn mới: Đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanhnghiệp do họ đưa vào khai thác các năng lực sản xuất mới, với mong muốn giành được thị phầnvà các nguồn lực cần thiết. Cần lưu ý là việc mua lại các cơ sở khác trong ngành với ý định xâydựng phần thị trường thường là biểu hiện của sự xuất hiện đối thủ mới xâm nhập. Mặc dù không phải bao giờ doanh nghiệp cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn mới, songnguy cơ đối thủ mới hội nhập vào ngành vừa chịu ảnh hưởng đồng thời cũng có ảnh hưởng đếnchiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. 2.2.5 Sản phẩm thay thế. Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của ngành do mức giá caonhất bị khống chế. Nếu không chú ý tới các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bịtụt lại với các thị trường nhỏ bé. Thí dụ: như các doanh nghiệp sản xuất máy chơi bóng bànkhông chú ý tới sự bùng nổ của các trò chơi điện tử. Vì vậy, các doanh nghiệp cần không ngừngnghiên cứu và kiểm tra các mặt hàng thay thế tiềm ẩn. Phần lớn sản phẩm thay thế mới là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ. Muốn đạt được thànhcông, các doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực thích hợp để phát triển hay vận dụng côngnghệ mới vào chiến lược của mình.VI. MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP Doanh nghiệp cần tồn tại, phát triển và đảm bảo tính bền vững, điều đơn giản làệp ông cómột doanh nghiệp nào tồn tại vĩnh cửu nếu doanh nghiệp đó không xác định được mục đích vàmục tiêu hoạt động cho chính nó. Hoạt động của doanh nghiệp chỉ có hiệu quả một khi kế hoạchcủa nó gắn bó chặt chẽ với mục tiêu để cho phép đạt được những mục đích. Kế hoạch đó đòi hỏiphải được điều chỉnh kịp thời theo những biến động của môi trường; đồng thời gắn bó với nhữngkhả năng cho phép của doanh nghiệp như: vốn, lao động, công nghệ. Từ những kế hoạch đó đòihỏi doanh nghiệp phải có cơ cấu tổ chức hợp lý, xác định cụ thể nhiệm vụ cho từng bộ phận, cánhân; đồng thời phối hợp hoạt động nhằm đạt được mục đích của doanh nghiệp. 1. Mục đích của doanh nghiệp 22
    • Mục đích của doanh nghiệp là thể hiện khuynh hướng tồn tại và phát triển, doanh nghiệpcó 3 mục đích cơ bản: - Mục đích kinh tế: Thu lợi nhuận, đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanhnghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. - Mục đích xã hội: cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội. Đây là mục đíchquan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động công ích. - Mục đích thoả mãn các nhu cầu cụ thể và đa dạng của mọi người tham gia hạot độngtrong doanh nghiệp. 2. Mục tiêu của doanh nghiệp Mục tiêu là biểu hiện mục đích của doanh nghiệp, là những mốc cụ thể được phát triểntừng bước. Một mục tiêu là một câu hỏi cần có lời giải đáp trong một khoảng thời gian nhất địnhYêu cầu đặt ra với mục tiêu là: Mục tiêu đạt được cần thoả mãn cả về số lượng và chất lượng,đồng thời với việc xác định được các phương tiện thực hiện. Mục tiêu của doanh nghiệp phảiluôn bám sát từng giai đoạn phát triển của nó.VII. THÀNH LẬP, GIẢI THỂ VÀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP. Quan niệm doanh nghiệp như một tổ chức sống cho thấy, doanh nghiệp thành lập khôngphải tồn tại mãi mãi và bất biến. Mỗi doanh nghiệp có lịch sử và bầu văn hoá của nó. Nhữngphương tiện sống cần thiết của doanh nghiệp là phương tiện sản xuất, bao gồm các nguồn nhânlực, tài chính, kỹ thuật. Là cơ thể sống, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vàosức khoẻ, sự thích nghi của nó với môi trường sống. Quan niệm doanh nghiệp là một hệ thống mở, thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa doanhnghiệp và môi trường sống của nó, đây là điều kiện ban đầu và kết thúc của hoạt động doanhnghiệp. Đồng thời phản ánh tổ chức chặt chẽ và quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp. Mục đích hiệu quả kinh tế sẽ nhấn mạnh đến lý do tồn tại chủ yếu của doanh nghiệp. Đâychính là cơ sở để hình thành các chức năng, tổ chức bộ máy hoạt động phù hợp cho doanhnghiệp. Doanh nghiệp được tạo lập thường có 3 dạng: doanh nghiệp mới, doanh nghiệp đượcmua lại, đại lý đặc quyền. 1. Tạo lập doanh nghiệp mới. Thông thường, việc tạo lập một doanh nghiệp mới xuất phát từ ba lý do sau: - Nhà kinh doanh đã xác định được dạng sản phẩm (dịch vụ) có thể thu được lãi. - Nhà kinh doanh có những điều kiện lý tưởng trong việc lựa chọn địa điểm kinh doanh,phương tiện sản xuất kinh doanh, nhân viên, nhà cung ứng, ngân hàng... - Lựa chọn hình thức doanh nghiệp mới có thể tránh được các hạn chế nếu mua lại mộtdoanh nghiệp có sẵn hoặc làm đại lý đặc quyền. Để tạo lập một doanh nghiệp mới, điều vô cùng quan trọng là tìm được một cơ hội, tạo đượcmột ưu điểm kinh doanh có khả năng cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác – đó chính làcơ hội kinh doanh thực sự. Nguồn gốc của ý tưởng dẫn đến việc tạo lập doanh nghiệp thường là: - Từ kinh nghiệm nghề nghiệp tích luỹ được ở doanh nghiệp khác. - Sáng chế hoặc mua được bằng sáng chế để sản xuất san phẩm mới - Từ những ý tưởng bất ngờ xuất hiện trong khi làm việc khác hoặc đang vui chơi giải trí. 23
    • - Từ các tìm tòi nghiên cứu. Sau khi đã có ý tưởng, sáng kiến trên, việc hoàn thiện một ý tưởng kinh doanh sẽ có ýnghĩa quyết định thành công. Việc hoàn thiện một ý tưởng kinh doanh, đó chính là đi đến mộtdự án kinh doanh. 2. Mua lại một doanh nghiệp sẵn có. 2.1 Việc mua lại một doanh nghiệp sẵn có xuất phát từ 3 lý do: - Muốn giảm bớt rủi ro của việc tạo lập một doanh nghiệp mới - Tránh được việc phải xây dựng mới trong mua bán, giao dịch với ngân hàng, đào tạo nhân viên mới - Ít tốn kém hơn so với lập ra một doanh nghiệp mới (đa số trường hợp). 2.2 Các bước tiến hành để mua một doanh nghiệp sẵn có: - Điều tra: Việc điều tra doanh nghiệp định mua này có thể thực hiện bằng cách trực tiếp tìmhiểu và trao đổi với chủ doanh nghiệp đó. Cũng có thể bằng cách qua trao đổi với khách hàng,các nhà cung ứng của doanh nghiệp, ngân hàng, đặc biệt thông qua nhân viên kế toán, luật sư củadoanh nghiệp đó. - Kiểm tra: Việc kiểm tra sổ sách của doanh nghiệp định mua cần giao cho một kiểm toánviên độc lập để đảm bảo tính chính xác. - Đánh giá: Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của donh nghiệp định mua có thể căn cứ vàonhững điều sau: • Căn cứ vào mức lãi tong quá khứ để tính mức lãi trong tương lai • Mức rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh • Sự tín nhiệm của khách hàng • Tình trạng cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp • Doanh nghiệp định mua này có bị ràng buộc nào về cáchợp đòng đã ký kết vàcác vụ tố tụng (đang xử và đã xử) hay không ? - Điều đình và ký kết: Việc điều đình giá cả, điều kiện thanh toán và ký kết văn bản muadoanh nghiệp này nên thực hiện với sự tư vấn của luật sư, theo đúng pháp luật. 3. Đại lý đặc quyền. Đại lý đặc quyền: được quyền kinh doanh như một chủ sở hữu, song phải tuân theo mộtsố phương pháp và điều kiện do người nhượng quyền quy định. Các quyền kinh doanh được ghitrong hợp đồng giữa người nhượng đặc quyền và đại lý đặc quyền. Giá trị của hợp đồng là ở chỗ:người làm đại lý đặc quyền có được nhiều hay ít đặc quyền. Những đặc quyền này có thể là được dùng tên hiệu, hoặc biển hiệu của người nhượng đặcquyền, cũng có thể được sử dụng cả hệ thống tiếp thị của người này... .Tuy nhiên, đại lý đặcquyền cũng vẫn được coi là doanh nghiệp độc lập, trong đó có quyền tự thuê mướn nhân công, tựđiều khiển hoạt động kinh doanh. Thông thường có 3 loại hệ thống đại lý đặc quyền: - Người nhượng quyền là nhà sản xuất - sáng lập trao quyền bán sản phẩm cho người đại lýlà nhà buôn sỉ. - Người nhượng quyền là nhà buôn sỉ và đại lý nhà bán lẻ - Người nhượng quyền là nhà sản xuất – sáng lập và đại lý là nhà bán lẻ, hệ thống này rấtthông dụng hiện nay, như đại lý bán ô tô, trạm xăng, đại lý mỹ phẩm. Đại lý đặc quyền có những lợi thế sau: 24
    • - Được quyền dùng những nhãn hiệu đã nổi tiếng - Được người nhượng quyền huấn luyện kinh doanh - Được người nhượng quyền làm công việc quảng cáo - Được người nhượng quyền bảo đảm cung cấp hàng hoá và có thể cung cấp tài chính Những lợi thế trên đây của đại lý đặc quyền chính là những điều mà việc tạo lập mộtdoanh nghiệp mới hay mua lại một doanh nghiệp có sẵn thường gặp khó khăn. Tuy nhiên, đại lýđặc quyền cũng thường chịu 3 giới hạn như sau: - Để có đặc quyền, người đại lý phải trả cho người nhượng quyền các khoản tiền gồm:lệ phí đại lý và tiền sử dụng đặc quyền. - Chịu giới hạn về sự phát triển doanh nghiệp: các hợp đồng đại lý đặc quyền thườngbuộc đại lý chỉ được kinh doanh trong một khu vực nhất định. - Mất tính tự chủ hoàn toàn trong kinh doanh Trước khi tạo lập một đại lý đặc quyền, nhà kinh doanh phải lượng giá được cơ hội muađại lý đặc quyền. Việc lượng giá này bao gồm: Tìm đúng cơ hội, điều tra, khảo sát và nghiên cứukỹ hợp đồng đặc quyền. 4. Phá sản doanh nghiệp. Phá sản doanh nghiệp được thực hiện theo Luật phá sản doanh nghiệp (30/12/1993).Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn ghoặc bị thua lỗ tronghọat động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năngthanh toán nợ đến hạn. Theo Nghị định 189 CP hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp(23/12/1994), doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản, nếu kinh doanhbị thua lỗ trong 2 năm liên tiếp, đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủlương cho người lao động và hợp đồng lao động trong 3 tháng liên tiếp. Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không được doanh nghiệpthanh toán nợ, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn đếntòa án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanhnghiệp. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Doanh nghiệp là gì ? Các đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp ? 2. Các loại hình doanh nghiệp ? Đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp ? 3. Bản chất và đặc điểm của hệ thống kinh doanh ? 4. Phân tích ý nghĩa doanh nghiệp là đơn vị sản xuất ? Tại sao nói doanh nghiệp vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị phân phối ? 5. Mục đích phân tích môi trường kinh doanh ? Trình bày và liên hệ thực tế các yêu tố môi trường ảnh hưởng đến họat động kinh doanh của doanh nghiệp ? 6. Trình bày mục đích, mục tiêu của doanh nghiệp? Làm thế nào để thành lập doanh nghiệp mới? Mua lại doanh nghiệp sẵn có ? So sánh đại lý độc quyền với thành lập doanh nghiệp mới hoặc mua lại doanh nghiệp sẵn có ? 7. Thế nào là phá sản doanh nghiệp ? Dấu hiệu nào chứng tỏ doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản? 25
    • CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Sau khi đọc chương này người đọc có thể : - Hiểu tổng quát về quản trị + Khái niệm và vai trò của quản trị + Quản trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật + Các chức năng quản trị - Kế hoạch hóa + Khái niệm, vai trò và nội dung công tác kế hoạch hóa + Phân loại kế hoạch, các bước lập kế hoạch - Tổ chức + Khái niệm, nguyên tắc và nội dung của công tác tổ chức + Một số mô hình cơ cấu tổ chức quản lý: trực tuyến, chức năng, trực tuyến – chức năng, ma trận - Lãnh đạo + Khái niệm, vai trò của chức năng lãnh đạo + Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người và quan tâm đến con người - Chức năng kiểm tra + Khái niệm, sự cần thiết của công tác kiểm tra + Nội dung công tác kiểm tra và các dạng kiểm tra. - Các kỹ năng cần thiết của quản trị, vai trò của nhà quản trị, trên cơ sở đó thảo luận vềnhững tiêu chuẩn, đức tính của nhà quản trị ngày nay. - Hiểu và thảo luận về sự phát triển của các lý thuyết quản trị. - Nắm được quá trình giải quyết vấn đề và tiến trình ra quyết định quản trị.I. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ 1. Khái niệm và vai trò của quản trị 1.1 Khái niệm Quản trị là quá trình thực hiện các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý đểphối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Quản trị là quá trình làm việc với người khác và thông qua người khác để thực hiện cácmục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động. Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm người đề thực hiện những mục tiêumà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ, thì quản trị đã trở thành một yếu tố cầnthiết để đảm bảo phối hợp các hoạt động của các cá nhân. Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra họat động của các thànhviên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đến sự thành công trong các mục tiêu đề racủa doanh nghiệp. Từ khái niệm này giúp chúng ta nhận ra rằng, quản trị là một hoạt động liêntục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức. Đó là quá trình nhằm tạo nênsức mạnh gắn liền các vấn đề lại với nhau trong tổ chức và thúc đẩy các vấn đề chuyển động.Mục tiêu của quản trị là tạo ra giá trị thặng dư tức tìm ra phương thức thích hợp để thực hiệncông việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất. Nói chung, quản trị là một hình thức phức tạp mà các nhà quản trị kinh doanh phải quảntrị từ khâu đầu đến khâu cuối của một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực chấtcủa quản trị kinh doanh là quản trị các yếu tố đầu vào, quá trình sản xuất kinh doanh các yếu tốđầu ra theo quá trình hoạt động. 26
    • Kiến thức cơ bản và các kỹ Các chức năng năng quản trị quản trị: Lịch trình Phương pháp - Kế hoạch công việc làm việc và vai - Tổ chức Thực hiện trò trách nhiệm - Lãnh đạo mục tiêu - Kiểm soát Sơ đồ 2.1:Mô hình quản trị của Stephen J.Caroll và Dennis J.Gillen - Theo quá trình quản trị kinh doanh: công tác quản trị trong doanh nghiệp là quá trình lập kếhọach, tổ chức phối hợp và điều chỉnh các hoạt động của các thành viên , các bộ phận và cácchức năng trong doanh nghiệp nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để đạt được các mục tiêu đãđặt ra của tổ chức. - Theo quan điểm hệ thống quản trị: quản trị còn là việc thực hành những hoạt động trong mỗitổ chức một cách có ý thức và liên tục. Quản trị trong một doanh nghiệp tồn tại trong một hệthống bao gồm các khâu, các phần, các bộ phận có mối liên hệ khăng khít với nhau, tác động qualại lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển. 1.2 Nhà quản trị và nhiệm vụ chủ yếu của nhà quản trị trong doanh nghiệp. - Nhà quản trị trong doanh nghiệp. Các nhà quản trị là những người thực hiện các hoạt động để quản trị một doanh nghiệp, mộtbộ phận trong một doanh nghiệp (phòng, ban, phân xưởng, ngành, tổ, đội, nhóm), có trách nhiệmtiến hành các hoạt động, các chức năng quản trị làm cho doanh nghiệp cũng như cho mọi thànhviên trong đó hướng vào việc đạt được các mục tiêu đã đề ra. Các chức danh quản trị được đặt ra tương ứng với các cấp quản trị, thường bao gồm các chứcdanh: tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, các trưởng phó các phòngban, quản đốc, phó quản đốc các phân xưởng, bộ phận trưởng ngành trong các phân xưởng, cácđội trưởng, nhóm trưởng, tổ trưởng... - Nhiệm vụ chủ yếu của nhà quản trị doanh nghiệp. Mục tiêu của quản trị doanh nghiệp là đảm bảo sự bền vững và đạt lợi nhuận cao trong hoạtđộng kinh doanh, như vậy nhiệm vụ then chốt của nhà quản trị trong bất kỳ doanh nghiệp nàocũng phải tập trung thực hiện là : - Xây dựng môi trường làm việc tích cực, tạo hướng chiến lược. - Phân bổ và xắp xếp các nguồn lực, nâng cao chất lượng quản trị, nỗ lực về tổ chức, tạo ra sựhoàn hảo trong các hoạt động và điều hành. Các nhiệm vụ này giúp nhà quản trị xác định phạm vi công việc, đặt ra các thứ tự ưu tiênvà nhận ra các mối quan hệ quan trọng giữa chúng. 1.3 Vai trò của quản trị Trong thế giới ngày nay, chắc không ai phủ nhận vai trò quan trọng và to lớn của quản trịtrong việc bảo đảm sự tồn tại và hoạt động bình thường của đời sống kinh tế xã hội. Đối với sựphát triển của từng đơn vị hay cộng đồng và cao hơn nữa của cả một quốc gia, quản trị càng cóvai trò quan trọng. Sự nhận thức của tuyệt đại đa số trong dân cư về vai trò của quản trị cho tớinay hầu hết đều thông qua cảm nhận từ thực tế. Muốn nâng cao nhận thức về vai trò của quản trị,một mặt cần nâng cao nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vai trò của quản trị, làm cơ sở choviệc hiểu biết về quản trị và thực hành quản trị, và nâng cao trình độ quản trị. 27
    • Qua phân tích về những nguyên nhân thất bại trong hoạt động kinh doanh của cá nhân vàcủa các doanh nghiệp, cũng như thất bại trong hoạt động của các tổ chức kinh tế - chính trị - xãhội nhiều năm qua cho thấy nguyên nhân cơ bản vẫn là do quản trị kém hoặc yếu .Nghiên cứucác công ty kinh doanh của Mỹ trong nhiều năm, đã phát hiện ra rằng các công ty luôn thành đạtchừng nào chúng được quản trị tốt. Ngân hàng châu Mỹ đã nêu trong bản công bố Báo cáo vềkinh doanh nhỏ rằng “Theo kết quả phân tích cuối cùng, hơn 90% các thất bại trong kinh doanhlà do thiếu năng lực và thiếu kinh nghiệm quản trị”. Trong khi nền văn minh của chúng ta được đặc trưng bởi những cải tiến có tính chất cáchmạng trong khoa học vật lý, sinh học, điện tử, viễn thông, tin học, tự động hóa... thì các ngànhkhoa học xã hội tụt hậu rất xa. Vấn đề đặt ra, nếu chúng ta không biết cách khai thác các nguồnnhân lực và phối hợp hoạt động của con người, kém hiểu biết và lãng phí trong áp dụng nhữngphát minh kỹ thuật vẫn sẽ tiếp tục. Sự cần thiết khách quan và vai trò của quản trị xuất phát từnhững nguyên nhân sau đây: - Từ tính chất xã hội hóa của lao động và sản xuất - Từ tiềm năng sáng tạo to lớn của quản trị - Từ những yếu tố làm tăng vai trò của quản trị trong nền sản xuất và kinh tế hiện đại - Từ những yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế và xã hội trong quá trình đổi mớichuyển sang nền kinh tế thị trường và tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở ViệtNam. Tăng cường xã hội hoá lao động và sản xuất – một quá trình mang tính qui luật của sự pháttriển kinh tế và xã hội Ta biết rằng để tạo ra sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của đời sống và phát triển kinh tế, nhấtthiết phải tiến hành phân công lao động và hiệp tác sản xuất. Sự xuất hiện của quản trị như là kếtquả tất nhiên của việc chuyển các quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành cácquá trình lao động phải có sự phối hợp. Sản xuất và tiêu thụ mang tính tự cấp, tự túc do một cánhân thực hiện không đòi hỏi quản trị. Ở một trình độ cao hơn, khi sản xuất và kinh tế mang tínhxã hội rõ nét và ngày càng sâu rộng hơn, khi đó quản trị là điều không thể thiếu. Theo C. Mác, “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quimô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạođó phải làm chức năng chung, tức là chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận độngchung của cơ sở sản xuất với sự vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ sởsản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải cónhạc trưởng”. Do đó, quản trị là thuộc tính tự nhiên, tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xãhội, bất kể trong hình thái kinh tế xã hội nào, nếu không thực hiện các chức năng và nhiệm vụcủa quản trị, không thể thực hiện được các quá trình hợp tác lao động, sản xuất, không khai thácsử dụng được các yếu tố của lao động sản xuất có hiệu quả. Quản trị có khả năng sáng tạo to lớn. Điều đó có nghĩa là cùng với các điều kiện về conngười và về vật chất kỹ thuật như nhau nhưng quản trị lại có thể khai thác khác nhau, đem lạihiệu quả kinh tế khác nhau . Nói cách khác, với những điều kiện về nguồn lực như nhau, quản lýtốt sẽ phát huy có hiệu quả những yếu tố nguồn lực đó, đưa lại những kết quả kinh tế - xã hộimong muốn, còn quản lý tồi sẽ không khai thác được, thậm chí làm tiêu tan một cách vô íchnhững nguồn lực có được, dẫn đến tổn thất. Có thể nói quản trị tốt suy cho cùng là biết sử dụng có hiệu quả những cái đã có để tạonên những cái chưa có trong xã hội. Vì vậy, quản trị chính là yếu tố quyết định nhất cho sự pháttriển của mỗi quốc gia và các tổ chức trong đó. Khi con người người kết hợp với nhau trong một tập thể để cùng nhau làm việc, người tacó thể tự phát làm những việc cần thiết theo cách suy nghĩ riêng của mỗi người. Lối làm việcnhư thế cũng có thể đem lại kết quả, hoặc cũng có thể không đem lại kết quả. Nhưng nếu ngườita biết tổ chức hoạt động và những việc quản trị khác thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắn hơn,đặc biệt quan trọng không phải chỉ là kết quả mà sẽ còn ít tốn kém thời gian, tiền bạc, nguyên vật 28
    • liệu và những phí tổn khác. Khi chúng ta so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí để thực hiệnsẽ có khái niệm là hiệu quả. Hiệu quả = Kết quả - Chi phí Hiệu quả sẽ tăng trong các trường hợp: - Tăng kết quả với chi phí không đổi; giảm chi phí mà vẫn giữ nguyên kết quả. - Tăng kết quả với tốc độ cao hơn tốc độ giảm chi phí. Muốn đạt được như đã nêu ở trên đòi hỏi phải biết cách quản trị, không biết cách quản trịcũng đạt được kết quả nhưng hiệu quả sẽ đạt thấp. Một sự quản trị giỏi không những mang lạinhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng góp phần đưa nền kinh tế đấtnước nhanh chóng phát triển. Trong hoạt động kinh doanh, người nào luôn tìm cách giảm chi phí và tăng kết quả tức làluôn tìm cách tăng hiệu quả. Có thể nói rằng, lý do cần thiết của hoạt động quản trị chính làmuốn có hiệu quả và chỉ khi nào người ta quan tâm đến hiệu quả thì người ta mới quan tâm đếnhoạt động quản trị. 2. Quản trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật 2.1 Quản trị là khoa học: Quản trị là một lĩnh vực hoạt động khoa học kinh tế - xã hội phức tạp và có vai trò hếtsức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Tính khoa học của quản trị dựa trên một sốcác yếu tố: - Dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về quy luật tự nhiên, kỹ thuật và xã hội. Ngoài raquản trị phải dựa trên cơ sở lý luận của triết học, kinh tế học, ứng dụng các thành tựu của khoahọc, toán học, công nghệ… - Tính khoa học đòi hỏi việc quản trị phải dựa trên nguyên tắc quản trị. - Tính khoa học còn đòi hỏi quản trị phải dựa trên sự định hướng cụ thể, đồng thờiđòi hỏi phải nghiên cứu toàn diện. 2.2 Quản trị là nghệ thuật: Việc tiến hành các hoạt động quản trị trong thực tế, trong những điều kiện cụ thể đượcxem vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Trong bối cảnh kinh tế xã hội của thế giới hiện đại ngàynay, công tác quản trị trên hầu hết các lĩnh vực không thể không vận dụng các nguyên tắc,phương pháp quản lý, đòi hỏi cán bộ quản trị phải có được một trình độ đào tạo nhất định. Nghệthuật quản trị các yếu tố nhằm đạt mục tiêu đề ra cho toàn hệ thống hay tổ chức được xem xét.Nghệ thuật quản trị là những “bí quyết” biết làm thế nào đạt mục tiêu mong muốn với hiệu quảcao. Chẳng hạn, nghệ thuật dùng người, nghệ thuật ra quyết định, nghệ thuật giải quyết các vấnđề ách tắc trong sản xuất, nghệ thuật bán hàng, nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn… Với nội dung trình bày như trên, có thể thấy hai yếu tố khoa học và nghệ thuật của quảntrị không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau và cả hai đều cần thiết và có ý nghĩa quan trọng.Khoa học về quản trị ngày càng tiến triển và hoàn thiện sẽ tạo cơ sở tốt hơn cho nâng cao trìnhđộ và hiệu quả của nghệ thuật quản trị. 3. Các chức năng quản trị Việc phân loại các chức năng quản trị doanh nghiệp dựa vào những căn cứ sau: 3.1 Căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động quản trị: - Chức năng marketing - Chức năng hậu cần cho sản xuất (mua sắm vật tư cho sản xuất) - Chức năng sản xuất - Chức năng tài chính, kế toán - Chức năng nhân sự - Chức năng hành chính, bảo vệ 3.2 Căn cứ vào quá trình quản trị: - Chức năng hoạch định (kế hoạch hóa) - Chức năng tổ chức 29
    • - Chức năng lãnh đạo (chỉ huy, phối hợp và điều hành) - Chức năng kiểm tra Các chức năng sản xuất, tổ chức lao động tiền lương, tài chính, kế toán được nghiên cứu trongcác môn học riêng. Ở đây xin trình bày chi tiết các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo vàchức năng kiểm tra kiểm soát. Các chức năng quản trị doanh nghiệp và mối quan hệ giữa chúngcó thể được khái quát qua sơ đồ 2.2 như sau: KẾ HOẠCH Thiết lập các mục tiêu và quyết định cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu KIỂM SOÁT TỔ CHỨC Kiểm tra, đánh giá Xác định và phân bổ các hoạt động nhằm sắp xếp các nguồn lực đạt được mục tiêu LÃNH ĐẠO Gây ảnh hưởng đến người khác cùng làm việc hướng tới mục tiêu của tổ chức Sơ đồ 2.2: Các chức năng quản trịII. KẾ HOẠCH 1. Khái niệm. Kế hoạch là một nội dung và là một chức năng quan trọng nhất của quản lý. Bởi lẽ, kếhoạch gắn liền với việc lựa chọn và tiến hành các chương trình hoạt động trong tương lai củamột tổ chức, của một doanh nghiệp. Kế hoạch hóa cũng là việc lựa chọn phương pháp tiếp cậnhợp lý các mục tiêu định trước. Kế hoạch là xác định mục tiêu và quyết định cách tốt nhất để đạtđược mục tiêu. Kế hoạch bao gồm việc lựa chọn một đường lối hành động mà một công ty hoặc cơ sởnào đó, và mọi bộ phận của nó sẽ tuân theo. Kế hoạch có nghĩa là xác định trước phải làm gì,làm như thế nào, vào khi nào và ai sẽ làm. Việc làm kế hoạch là bắc một nhip cầu từ trạng tháihiện tại của ta tới chỗ mà chúng ta muốn có trong tương lai 2. Tầm quan trọng của kế hoạch. Tầm quan trọng của kế hoạch hóa bắt nguồn từ những căn cứ sau đây: - Kế hoạch hóa là cần thiết để có thể ứng phó với những yếu tố bất định và nhữngthay đổi của môi trường bên ngoài và bên trong của một tổ chức hoặc một doanh nghiệp. Kế hoạch hóa làm cho các sự việc có thể xảy ra theo dự kiến ban đầu và sẽ không xảy rakhác đi. Mặc dù ít khi có thể dự đoán chính xác về tương lai và các sự kiện chưa biết trước cóthể gây trở ngại cho việc thực hiện kế hoạch, nhưng nếu không có kế hoạch thì hành động củacon người đi đến chỗ vô mục đích và phó thác may rủi, trong việc thiết lập một môi trường choviệc thực hiện nhiệm vụ, không có gì quan trọng và cơ bản hơn việc tạo khả năng cho mọi ngườibiết được mục đích và mục tiêu của họ, biết được những nhiệm vụ để thực hiện, và những đườnglối chỉ dẫn để tuân theo trong khi thực hiện các công việc. Những yếu tố bất định và thay đổi khiến cho công tác kế hoạch hóa trở thành tất yếu.Chúng ta biết rằng tương lai thường ít khi chắc chắn, tương lai càng xa, tính bất định càng lớn.Ví dụ, trong tương lai khách hàng có thể hủy bỏ các đơn đặt hàng đã ký kết, có những biến động 30
    • lớn về tài chính và tiền tệ, giá cả thay đổi, thiên tai đến bất ngờ... Nếu không có kế hoạch cũngnhư dự tính trước các giải pháp giải quyết những tình huống bất ngờ, các nhà quản lý khó có thểứng phó được với những tình huống ngẫu nhiên, bất định xảy ra và đơn vị sẽ gặp nhiều khókhăn. Ngay cả khi tương lai có độ chắc chắn và tin cậy cao thì kế hoạch hóa vẫn là cần thiết, bởilẽ kế hoạch hóa là tìm ra những giải pháp tốt nhất để đạt được mục tiêu đề ra. - Kế hoạch hóa sẽ chú trọng vào việc thực hiện các mục tiêu, vì kế hoạch hóa bao gồmxác định công việc, phối hợp hoạt động của các bộ phân trong hệ thống nhằm thực hiện mục tiêuchung của toàn hệ thống. Nếu muốn nỗ lực của tập thể có hiệu quả, mọi người cần biết mìnhphải hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể nào. Kế hoạch hóa sẽ tạo ra hiệu quả kinh tế cao, bởi vì kế hoạch hóa quan tâm đến mục tiêuchung đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Nếu không có kế hoạch hóa, các đơn vị bộphận trong hệ thống sẽ hoạt động tự do, tự phát, trùng lặp, gây ra những rối loạn và tốn kémkhông cần thiết. - Kế hoạch hóa có vai trò to lớn làm cơ sở quan trọng cho công tác kiểm tra và điều chỉnhtoàn bộ hoạt động của cả hệ thống nói chung cũng như các bộ phần trong hệ thống nói riêng. 3. Phân loại kế hoạch Hiện nay người ta chia ra 2 loại kế hoạch: Kế hoạch chiến lược (Strategic plans) và kếhoạch tác nghiệp (Operational plans) 3.1 Kế hoạch chiến lược là các chương trình hành động tổng quát, là kế hoạch triển khaivà phân bố các nguồn lực quan trọng để đạt được các mục tiêu cơ bản toàn diện và lâu dài của tổchức. Kế hoạch chiến lược không vạch ra một cách chính xác làm như thế nào để đạt được mụctiêu, mà nó cho ta một đường lối hành động chung nhất để đạt được mục tiêu. Kế hoạch chiếnlược thể hiện viễn cảnh của doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng thể hiện sự nhận thức và đánhgiá thế giới bên ngoài (môi trường) của doanh nghiệp. Kế hoạch chiến lược vạch ra bởi nhữngnhà quản lý cấp cao của tổ chức. Khi xây dựng kế hoạch chiến lược cần căn cứ vào sứ mệnh củatổ chức (Mission Statement), hoặc nhiệm vụ, chức năng, lĩnh vực hoạt động chung của tổ chức ,căn cứ vào cương lĩnh hoạt động đã đề ra khi thành lập tổ chức hoặc luật pháp cho phép. Kếhoạch dài hạn 15 năm, 10 năm, 5 năm ... thuộc về kế hoạch chiến lược. Bảng 2.1 Các tính chất của kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp TÍNH CHẤT KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC KẾ HOẠCH TÁC NGHIỆP Ảnh hưởng Toàn bộ Cục bộ Thời gian Dài hạn Ngắn hạn Môi trường Biến đổi Xác định Mục tiêu Lớn, tổng quát Cụ thể, rõ ràng Thông tin Tổng hợp, không đầy đủ Đầy đủ, chính xác Kết quả Lâu dài Có thể điều chỉnh Thất bại Nặng nề, có thể làm phá sản Có thể khắc phục doanh nghiệp Rủi ro Lớn Hạn chế Khả năng của người Khái quát vấn đề Phân tích cụ thể, tỷ mỷ ra quyết định Có hai yếu tố chính khi nói đến chiến lược của một doanh nghiệp, đó là: - Chiến lược là sự xác định vị trí của doanh nghiệp (sự thích ứng). - Chiến lược là tương lai của doanh nghiệp 3.2 Kế hoạch tác nghiệp là kế hoạch cụ thể hóa chương trình hoạt động của tổ chức theokhông gian (cho các đơn vị trong tổ chức) và thời gian (kế hoạch hàng năm, kế hoạch hàng quí,kế hoạch tháng, kế hoạch tuần, kế hoạch ngày, đêm, ca, giờ). Kế hoạch tác nghiệp được xâydựng trên cơ sở kế hoạch chiến lược, là kế hoạch cụ thể hóa của kế hoạch chiến lược. Theo cấpquản lý kế hoạch thì có kế hoạch chung của doanh nghiệp, kế hoạch của bộ phận, kế hoạch của 31
    • từng đội sản xuất, kế hoạch của từng nhóm thiết bị... Bảng 2.1 trình bày những đặc điểm chủ yếuphân biệt kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp. 4. Các bước lập kế hoạch chiến lượcBước 1: xác định sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức Sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức được xác định thông qua việc trả lời câu hỏi “chúng talà ai ?”, “Mục tiêu định hướng cho chúng ta là gì?” Những mục tiêu chung này tạo ra nhữngphương hướng rộng lớn cho việc ra quyết định và nó không thay đổi trong nhiều năm.Bước 2: Phân tích những đe dọa và cơ hội, những điểm mạnh và điểm yếu Chúng ta phải phân tích được các yếu tố của môi trường kinh doanh, đánh giá các cơ hộivà đe dọa có thể có trong tương lai. Nhờ xem xét một cách toàn diện và rõ ràng, chúng ta có thểbiết được ta đang đứng ở đâu trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu gì, hiểu rõ tại sao chúng ta phảigiải quyết những điều không chắc chắn, và biết được chúng ta hy vọng thu được những gì.Bước 3: Xác định các tiền đề cho kế hoạchBước 4:Xây dựng các phương án chiến lược Sau khi phân tích, đánh giá doanh nghiệp một cách toàn diện, những người tham giahoạch định cần vạch ra các chiến lược dự thảo để lựa chọn một chiến lược thích hợp nhất đối vớitổ chức. Có thể có các dạng chiến lược sản xuất – kinh doanh sau: • Chiến lược thâm nhập thị trường: tìm kiếm cơ hội phát triển trong các thị trường màdoanh nghiệp đang hoạt động với những hàng hóa hoặc dịch vụ hiện có. Một doanh nghiệp cóthể gia tăng thị phần bằng các biện pháp Marketing như giảm giá, quảng cáo bán hàng cóthưởng, có quà tặng... Từ đó doanh nghiệp có thể biến khách hàng tiềm năng thành khách hànghiện tại của mình. • Chiến lược mở rộng thị trường: tìm kiếm những thị trường mới cho sản phẩm hiệncó. • Chiến lược phát triển sản phẩm: phát triển những sản phẩm mới, cải tiến những sảnphẩm hiện có về tính năng tác dụng, cải tiến bao bì, vải tiến nhãn hiệu, nâng cao chất lượng sảnphẩm... • Chiến lược đa dạng hóa trong kinh doanh: doanh nghiệp có thể mở ra các lĩnh vựcsản xuất – kinh doanh mới, vừa sản xuất ra sản phẩm, vừa mở ra nhiều dịch vụ mới để hấp dẫnkhách hàng, bỏ vốn đầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. • Chiến lược tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ: chiến lược tạo ra sự khác biệt vềsản phẩm hoặc dịch vụ là một chiến lược có sức cạnh tranh rất lớn. Các doanh nghiệp cần tạo ranhững hàng hóa – dịch vụ mà các đối thủ không có. Ví dụ các hiệu ăn có các món ăn đặc biệt, cócách phục vụ đặc biệt, sản phẩm có chất lượng đặc biệt, kiểu dáng đặc biệt có màu sắc riêng màkhông đối thủ nào có. • Chiến lược dẫn đầu về giá thấp: Muốn có hàng hóa – dịch vụ giá thấp, các doanhnghiệp phải tổ chức sản xuất với số lượng lớn, áp dụng công nghệ có năng suất cao, sử dụngnhân công có giá thấp, đưa vào áp dụng các loại vật liệu mới rẻ tiền, tăng cường quản lý để hạthấp chi phí trong sản xuất – kinh doanh.Bước 5: Đánh giá các phương án Sau khi xây dựng được các phương án, tiến hành đánh giá các phương án.Bước 6. Chọn phương án tối ưu Phương án nào cho chúng ta cơ hội tốt nhất để đạt được mục tiêu đã đề ra với chi phí thấpnhất hoặc với lợi nhuận cao nhất là phương án sẽ được chọnBước 7: Xây dựng các kế hoạch phụ trợ để thực hiện kế hoạch chính Một kế hoạch chính cần phải có các kế hoạch phụ trợ. Ví dụ, bên cạnh kế hoạch sản xuấtchính của công ty đã đề ra là sản xuất sản phẩm A, cần có rất nhiều các kế hoạch phụ trợ như kếhoạch cung cấp vật tư, kế hoạch lao động tiền lượng, kế hoạch sửa chữa thiết bị, kế hoạch cungcấp năng lượng, kế hoạch quảng cáo và khuyến mãi...Bước 8: Lượng hóa các kế hoạch bằng việc lập kế hoạch ngân quỹ 32
    • Sau khi quyết định đã được công bố. kế hoạch đã được xây dựng xong, bước cuối cùng làmcho các kế hoạch có ý nghĩa đó là lượng hóa chúng bằng cách chuyển chúng sang dạng các chỉtiêu về tài chính (các khoản thu, chi, lợi nhuận ...) và nguồn vốn để thực hiện kế hoạch đã đề ra.III. TỔ CHỨC 1. Khái niệm Tổ chức có nghĩa là quá trình sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phânphối các nguồn lực của tổ chức sao cho chúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vàomục tiêu chung của doanh nghiệp Công tác tổ chức gồm có 2 nội dung cơ bản: - Tổ chức cơ cấu: tổ chức cơ cấu quản lý (chủ thể quản lý) và tổ chức cơ cấu sản xuất –kinh doanh (đối tượng bị quản lý); - Tổ chức quá trình: tổ chức quá trình quản trị và tổ chức quá trình sản xuất – kinh doanh; Tổ chức có nội dung rất rộng lớn liên quan đến công tác xây dựng một doanh nghiệp nhưxây dựng và tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp (có bao nhiêu cấp quản lý, tổ chức các phòngban chức năng, phân công trách nhiệm và quyền hạn của phòng ban cũng như của mỗi cánhân...), xây dựng hệ thống sản xuất và kinh doanh (có những bộ phận sản xuất kinh doanh nào,phân công chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận ...). Tổ chức về cơ cấu bộ máy là việc phân chia hệ thống quản lý thành các bộ phận và xácđịnh các mối quan hệ giữa chúng với nhau, tức là chúng ta xác định chức năng, quyền hạn,nhiệm vụ của các bộ phận trong bộ máy và lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cương vị phụ tráchcác bộ phận đó. Tổ chức cơ cấu bộ máy gồm có các nội dung sau: + Xác định những hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu chung của tổ chức + Nhóm gộp các hoạt động này thành các phòng ban hoặc các bộ phận + Giao cho một người quản lý một phòng ban hoặc một bộ phận + Giao quyền hạn, trách nhiệm để thực hiện các hoạt động + Qui định các mối quan hệ theo chiều dọc và ngang bên trong tổ chức Công tác tổ chức đòi hỏi đội ngũ cán bộ có đủ trình độ, kinh nghiệm và những phẩm chấtcần thiết để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Một trong những nhiệm vụ của công tác tổ chức là xác định biên chế. Xác định biên chếbao gồm việc bổ nhiệm và duy trì các chức vụ đã bổ nhiệm theo yêu cầu đặt ra bởi cơ cấu tổchức, nó gắn liền với việc đặt ra những yêu cầu cần làm cho một công việc hoặc nghề nghiệp, vànó bao gồm cả việc tuyển chọn những người đảm nhận các chức vụ. Bộ máy quản trị doanh nghiệp được thiết lập ra không phải do mục đích tự thân mà đểthực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi xây dựng cơ cấutổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp, cần tính đến những nhân tố ảnh hưởng sau: - Môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh - Mục đích, chức năng hoạt động của doanh nghiệp - Qui mô của doanh nghiệp - Các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ sản xuất - Trình độ của người quản lý, nhân viên và trang thiết bị quản lý - Một số yếu tố khác: các qui định của pháp luật, phạm vị hoạt động của doanhnghiệp, thị trường của doanh nghiệp... Trong phạm vi giới hạn của chương này chỉ trình bày một số kiểu cơ cấu quản trị chủ yếunhư cơ cấu trực tuyến, cơ cấu chức năng, cơ cấu trực tuyến – chức năng, cơ cấu ma trận. 2. Một số cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp: 2.1 Cơ cấu quản trị trực tuyến Cơ cấu quản lý trực tuyến là một kiểu tổ chức bộ máy mà một cấp quản lý chỉ nhận mệnhlệnh từ một cấp trên trực tiếp. Hệ thống trực tuyến hình thành một đường thẳng rõ ràng về quyền 33
    • ra lệnh, trách nhiệm và lãnh đạo cấp cao đến cấp cuối cùng. Cơ cấu kiểu này đòi hỏi người quảntrị ở mỗi cấp phải có những hiểu biết tương đối toàn diện về các lĩnh vực. Tổng giám đốc Giám đốc Giám đốc Công ty I Công ty II Quản đốc Quản đốc Quản đốc phân xưởng A phân xưởng B phân xưởng C Sơ đồ 2.3: Cơ cấu quản lý theo trực tuyến của một tổng công ty Hệ thống quản trị theo trực tuyến phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ vì một người quảntrị cấp trên có thể hiểu rõ được những hoạt động của cấp dưới và ra những mệnh lệnh trực tiếpmột cách đúng đắn cho cấp dưới không cần thông qua một cơ quan giúp việc theo chức năngnào. Đối với những doanh nghiệp hoặc tổ chức lớn, người đứng đầu tổ chức trước khi ra mệnhlệnh cần tham khảo ý kiến của các bộ phận chức năng. 2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng Trong cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng, các bộ phận quản lý cấp dưới nhận mệnhlệnh từ nhiều phòng ban chức năng khác nhau. Đôi khi các mệnh lệnh này có thể trái ngược nhauhoặc mâu thuẫn với nhau, gây khó khăn cho cấp thừa hành. Có thể phân chia các bộ phận theocác chức năng (sơ đồ 2-4) cơ bản như: - Chức năng sản xuất - Chức năng kỹ thuật - Chức năng marketing - Chức năng tài chính - Chức năng nhân sự Tổng giám đốc Marketing Kỹ thuật Sản xuất Tài chính Nhân sự Phân xưởng A Phân xưởng B Phân xưởng C Sơ đồ 2.4: Cơ cấu quản lý theo chức năng của một tổng công ty 34
    • Ưu điểm của cơ cấu theo chức năng: - Phản ánh lôgic các chức năng - Nhiệm vụ được phân định rõ ràng - Tuân theo nguyên tắc chuyên môn hóa ngành nghề - Phát huy được sức mạnh và khả năng của đội ngũ cán bộ theo từng chức năng - Giảm chi phí và rút ngắn thời gian đào tạo - Tạo ra các biện pháp kiểm tra chặt chẽ của cấp cao nhất Nhược điểm của cơ cấu quản lý theo chức năng: - Chỉ có cấp quản lý cao nhất có trách nhiệm vè hiệu quả cuối cùng của toàn thể công ty - Qua chuyên môn hóa và tạo ra cách nhìn quá hẹp với các cán bộ chủ chốt - Hạn chế sự phát triển của người quản lý chung - Gặp nhiều khó khăn khi cần có sự phối hợp giữa các chức năng 2.3 Cơ cấu tổ chức quản lý theo trực tuyến – chức năng Tổng giám đốcMarketing Kỹ thuật Sản xuất Tài chính Nhân sự Công ty A Công ty B Công ty C Sơ đồ 2.5: Cơ cấu quản lý theo trực tuyến – chức năng của một tổng công ty Do cơ cấu tổ chức quản lý theo trực tuyến và cơ cấu quản lý theo chức năng có những ưunhược điểm riêng nên hiện nay nhiều doanh nghiệp và tổ chức lựa chọn kiểu cơ cấu quản lý theotrực tuyến – chức năng, tức là một cơ cấu quản lý kết hợp. Về nguyên tắc, trong hệ thống trực tuyến – chức năng, quan hệ quản lý trực tuyến từ trênxuống dưới vẫn tồn tại, nhưng để giúp cho người quản lý ra các quyết định đúng đắn, có các bộphận chức năng giúp việc trong các lĩnh vực như xây dựng kế hoạch, quản lý nhân sự,marketing, tài chính – kế toán, quản lý kỹ thuật – công nghệ sản xuất... 2.4 Cơ cấu quản lý ma trận Các doanh nghiệp lớn, có địa bàn hoạt động rộng đều tổ chức bộ máy hoạt động củamình theo kiểu ma trận, Trong cơ cấu quản lý theo ma trận, cấp quản lý cấp dưới vừa chịu sựquản lý theo chiều dọc từ trên xuống dưới, đồng thời chịu sự quản lý theo chiều ngang. Ưu điểm của cơ cấu tổ chức ma trận: - Định hướng theo kết quả cuối cùng rõ ràng - Phát huy được sức mạnh của các chuyên gia ở trong các lĩnh vực chuyên môn - Xác định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích Nhược điểm của cơ cấu tổ chức ma trận: - Có sự mâu thuẫn về quyền hạn trong tổ chức - Có nguy cơ không thống nhất về mệnh lệnh theo chiều dọc và theo chiều ngang. 35
    • Tổng giám đốc Marketing Nhân sự Mua sắm Tài chính Dự án ADự án B Sơ đồ 2.7: Cơ cấu tổ chức kiểu ma trận (theo chức năng và theo dự án) 3. Phân chia quyền lực trong tổ chức 3.1 Khái niệm Quyền lực là phương tiện để tác động lên suy nghĩ và hành động của người khác. Quyền lực trong tổ chức là mức độ độc lập trong hoạt động dành cho một người để tạo ra khả năng sử dựng những quyết đoán của họ thông qua việc trao cho họ quyền ra các quyết định hay đưa ra các chỉ thị. Quyền lực nên tập trung hay phân tán trong một tổ chức? Tập trung hay phân tán ở mức nào? Phân quyền là xu hướng phân tán các quyền ra quyết định trong một tổ chức. Trong mỗi doanh nghiệp đều có một sự phân quyền nào đó . Nhưng cũng không thể có sự phân quyền tuyệt đối, vì nếu những người quản lý phải giao phó hết quyền lực của mình thì cương vị quản lý của họ sẽ mất đi, vị trí của họ phải loại bỏ, và như vậy cũng lại không có cơ cấu tổ chức. Ngược lại cũng có thể có sự tập trung quyền hạn (tập quyền) vào một người trong tổ chức. Mức độ phân quyền càng lớn khi: - Số lượng các quyết định được đề ra ở các cấp tổ chức thấp hơn càng nhiều. - Các quyết định được đề ra ở các cấp càng thấp trong tổ chức, và có những ảnh hưởng quan trọng. - Càng có nhiều chức năng chịu tác động bởi các quyết định được đưa ra ở các cấp thấp hơn trong tổ chức. - Sự phân quyền càng lớn nếu các quyết định của cấp dưới không cần phải tham khảo ý kiến của cấp trên. Càng phải xin ý kiến ít người khi ra quyết định ở cấp bậc quản lí càng thấp thì sự phân quyền càng lớn. 3.2 Uỷ quyền 3.2.1 Khái niệm: Uỷ quyền là giao một phần quyền hành và trách nhiệm cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ. Việc giao quyền hạn có vẻ được thực hiện đơn giản, thế nhưng các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng người quản lý bị thất bại do sự giao quyền quá dở, chứ không phải do bất kỳ nguyên nhân nào khác, Đối với những ai đang sắp bước vào bất kỳ loại hình tổ chức nào, điều rất bổ ích là phải nghiên cứu khoa học và nghệ thuật giao quyền 3.2.2 Những nguyên tắc giao quyền 36
    • - Nguyên tắc giao quyền theo kết quả mong muốn: quyền được giao cho từng ngườiquản lý cần phải tương ứng, nhằm bảo đảm rằng họ có khả năng hoàn thành các kết quả mongmuốn và nhắm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra. - Nguyên tắc xác định theo chức năng: Mỗi đơn vị được trao những quyền hạn trongphạm vi chức năng quản lý của mình. - Nguyên tắc bậc thang: Nguyên tắc bậc thang nói về mỗi chuỗi các quan hệ quyền hạntrực tiếp từ cấp trên xuống cấp dưới xuyên suốt toàn bộ tổ chức. Quyền hạn từ người quản lý caonhất đến mỗi vị trí bên dưới càng rõ ràng, thì các vị trí chịu trách nhiệm về việc ra các quyết địnhsẽ càng rõ ràng và việc thông tin trong tổ chức sẽ càng có hiệu quả. - Nguyên tắc quyền hạn theo cấp bậc: các quyết định trong phạm vị quyền hạn của từngngười phải được đẩy lên trên theo cơ cấu tổ chức. - Nguyên tắc thống nhất trong mệnh lệnh: Thống nhất từ trên xuống dưới nhằm thựchiện mục tiêu chung đã đề ra. - Nguyên tắc về tính tuyệt đối trong trách nhiệm: Do trách nhiệm, nên chẳng có mộtcấp trên nào có thể trốn tránh trách nhiệm về hành động của các cấp dưới bằng cách ủy quyền. - Nguyên tắc tương xứng giữa quyền hạn và trách nhiệm: về các hành động không thểlớn hơn trách nhiệm nằm trong quyền hạn được giao phó, cũng như không thể nhỏ hơn. Quyềnhạn và trách nhiệm phải tương xứng nhau. Nhóm tự quản là một hình thức trao quyền ở cấp độ cao, thay thế cho hệ thống cấp bậctruyền thống, nơi có một chuỗi mệnh lệnh từ cấp cao nhất xuống cấp thấp nhất trong doanhnghiệp. Nhóm được chịu trách nhiệm về các công việc thường ngày của mình.IV. LÃNH ĐẠO 1. Khái niệm Lãnh đạo là sự cố gắng tác động vào người khác để đảm bảo đạt được mục tiêu củadoanh nghiệp. Ðó là quá trình thu hút, lôi cuốn, động viên, thuyết phục, hướng dẫn thúc đẩy cácthành viên trong tổ chức làm việc đáp ứng theo yêu cầu công việc. Chức năng lãnh đạo bao hàmcác công tác chỉ huy, phối hợp và điều hành, biểu hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản trị và đốitượng quản trị, giữa người ra mệnh lệnh và người thực hiện mệnh lệnh. Mục đích của chức năng lãnh đạo là làm cho tất cả mọi người, mọi thành viên nhận thứcđầy đủ vai trò , trách nhiệm và thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, góp phần quan trọng vào việcthực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp. Chức năng lãnh đạo thực chất đó là một loại họat động của chủ thể quản trị, bao gồm: - Hoạt động ra quyết định và mệnh lệnh - Họat động hướng dẫn của người chỉ huy - Họat động phối hợp và điều hành - Họat động đôn đốc, nhắc nhở - Họat động động viên và khuyến khích. 2. Vai trò của lãnh đạo Lãnh đạo là một chức năng cơ bản của quản trị, tất cả các chức năng quản trị sẽ khônghoàn thành tốt nếu các nhà quản trị không hiểu được yếu tố con người trong các họat động củahọ và không biết lãnh đạo con người để đạt được các kết quả như mong muốn. Lãnh đạo là quá trình tác động và quan tâm đến con người. Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ cố gắng một cách tự nguyệnvà nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Người lãnh đạo không đứng đằngsau để thúc đẩy hay thúc giục, họ đặt mình lên trước, động viên mọi người hoàn thành các mụctiêu đã đề ra. Bất kể một người quản lý lập kế hoạch, tổ chức và kiểm tra kết quả có tốt đến đâu,người đó vẫn phải hỗ trợ những họat động đó bằng cách đưa ra những chỉ dẫn cho mọi người,thông tin đầy đủ và lãnh đạo tốt. Việc lãnh đạo phải dựa trên sự hiểu biết về động cơ của conngười là gì và điều gì làm cho họ thỏa mãn khi họ góp sức vào việc hoàn thành các mục tiêu củatổ chức. 37
    • “Thuật lãnh đạo không chỉ đơn thuần là khả năng lôi cuốn người khác, vì đôi khi đó chỉlà sự mị dân. Đó cũng không phải là khả năng gây cảm tình và thuyết phục người khác vì đây chỉlà kỹ năng của người phụ trách bán hàng. Lãnh đạo là nâng tầm nhìn của con người lên mức caohơn, đưa việc thực hiện công việc đạt tới một tiêu chuẩn cao hơn, và phát triển tính cách của conngười vượt qua những giới hạn thông thường. Để có được khả năng lãnh đạo như thế thì khônggì tốt hơn là một môi trường doanh nghiệp được xây dựng trên những quy định chặt chẽ về quyđịnh và trách nhiệm, những tiêu chuẩn cao trong thực hiện công việc, và sự tôn trọng của từng cánhân cũng như công việc của họ” (Peter.F.Drucker, Cách thức quản lý, Butter-heinemann, trang157). Tạo động lực làm việc cho nhân viên là một vai trò quan trọng của người lãnh đạo. Cóthể nói đây là vai trò chính, bởi vì một nhóm nhân viên thiếu động lực thúc đẩy sẽ luôn làm việckém hiệu quả. Ngoài những yếu tố khác, người lành đạo phải là: - Một huấn luyện viên: khơi gợi những tiềm lực tốt đẹp nhất của của nhân viên - Người điều phối và hỗ trợ: giúp phá bỏ những trở ngại để nhóm thực hiện công việc một cách trôi chảy. Người lãnh đạo muốn tạo động lực làm việc của nhân viên phải tìm hiểu nhân viên củamình, xây dựng môi trường làm việc hợp lý. Môi trường làm việc của một doanh nghiệp đượcxác định bởi các chính sách quản trị và thái độ của mỗi nhân viên. Một môi trường cởi mở vàchia sẻ sẽ tạo điều kiện cho nhân viên phát triển kỹ năng và năng lực của mình. Những doanhnghiệp có môi trường làm việc như vậy sẽ quy tụ được nhiều nhân viên đồng lòng với mục tiêucủa doanh nghiệp, thực tế những doanh nghiệp như vậy sẽ dễ thành công hơn.V. KIỂM TRA 1. Khái niệm. Kiểm tra là quá trình so sánh giữa mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch với kết quả thực tế đã đạtđược trong từng khoảng thời gian bảo đảm cho họat động thực tế phù hợp với kế hoạch đã đề ra. Đó là quá trình kiểm tra theo dõi quá trình hoạt động của doanh nghiệp thông qua việcthiết lập hệ thống thông tin quản trị, các tiêu chuẩn đo lường, đánh giá và thu thập các thông tinnhằm xử lý điều chỉnh các hoạt động của tổ chức sao cho quá trình thực hiện phù hợp với mụctiêu của doanh nghiệp. Để có thể thực hiện các điều chỉnh cần thiết, nhà quản trị cần theo dõi cáchoạt động đang diễn ra, so sánh kết quả với tiêu chuẩn. Xáy dæû ng tiãu chuáø n Âo læåì ng thæû c hiãûn Âo læåì ng thæû c hiãûn coï phuì håü p tiãu chuáøn khäng? Tiãú p tuû c nhæî ng Âiãö u chènh thæû c hiãûn hoaû t âäü ng hiãû n taû i. hoàûc tiãu chuáø n. Sơ đồ 2.8: Quá trình kiểm soát 38
    • 2. Nội dung công tác kiểm tra và các dạng kiểm tra. 2.1 Kiểm tra gồm có 4 nội dung chính: - Xây dựng các tiêu chuẩn hoặc các chỉ tiêu họat động - Đo lường các kết quả thực tế đã xảy ra - So sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn hoặc các chỉ tiêu - Điều chỉnh các họat động nếu phát hiện ra những sai lệch. 2.2 Các dạng kiểm tra chủ yếu: - Kiểm tra đầu vào, kiểm tra trong quá trình hoạt động, kiểm tra kết quả đầu ra(kiểm tra kết quả cuối cùng). - Kiểm tra chủ động (kiểm tra có thể ngăn ngừa trước các sai sót, người ta còn gọiđây là dạng kiểm tra phòng ngừa) và kiểm tra bị động (kiểm tra kết quả cuối cùng, nếu có sai sótcó thể sửa chữa được hoặc không sửa chữa được) - Kiểm tra toàn bộ các công việc hoặc toàn bộ lô sản phẩm sản xuất và kiểm tra xácxuất (kiểm tra theo lấy mẫu ngẫu nhiên). - Kiểm tra về tài chính (kiểm tra tình hình thu, chi và tiền tồn quĩ) kiểm tra phi tàichính (các số liệu hoặc chỉ tiêu kiểm tra không thể hiện bằng tiền) - Kiểm tra thường xuyên định kỳ theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất - Kiểm tra phương pháp và kiểm tra kết quả - Kiểm tra trực tiếp (kiểm tra trực tiếp ở đối tượng kiểm tra không qua khâu trunggian) và kiểm tra gián tiếp (tiến hành kiểm tra thông quan khâu trung gian nào đó, ví dụ kiểm trachất lượng phục vụ của một tổ chức thông qua đánh giá của khách hàng).VI. PHÂN CẤP TRONG QUẢN TRỊ 1. Theo cấp quản trị kinh doanh. 1.1 Quản trị cấp cao: Quản trị chung tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,người quản trị ở cấp này gọi là nhà quản trị cấp cao nhất (chủ tịch, tổng giám đốc, giám đốc...)Nội dung quản trị chủ yếu ở cấp cao nhất là: - Hoạch định các mục tiêu, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp, cảm nhận những vấn đề khókhăn lớn và những nguyên nhân của chúng để tìm biện pháp giải quyết. - Xác định kết quả cuối cùng mong muốn, phê duyệt những đường lối, các chính sách lớntrong doanh nghiệp. - Phê duyệt cơ cấu tổ chức, các kế họach chương trình hành động lớn nhằm đạt được nhữngmục tiêu đã đề ra. Mục tiêu theo các cấp quản trị Định hướng dài hạn Quản trị cấp cao Thời gian dài và chung Quản trị cấp giữa Trung hạn và chuyên biệt Ngắn hạn và chuyên biệt hơn Quản trị cấp cơ sở Sản Tài Nhân Nghiên cứu Marketing xuất chính sự và phát triển Sơ đồ 2.9: Các cấp quản trị, mục tiêu và các lĩnh vực trách nhiệm. 39
    • - Xác định các nguồn nhân sự cần thiết và cung cấp kinh phí hoạt động theo yêu cầu côngviệc. - Lựa chọn các quản trị viên chấp hành, giao trách nhiệm, ủy quyền. - Phối hợp mọi hoạt động của ban tham mưu và chức năng điều hành. - Phê duyệt chương trình kế họach nhân sự bao gồm: tuyển dụng, mức lương, thăng cấp, đềbạt, kỷ luật. - Dự liệu các biện pháp kiểm soát như báo cáo, kiểm tra, đánh giá hiệu quả của tổ chức . - Chịu trách nhiệm hoàn toàn về những ảnh hưởng tốt xấu của các quyết định. 1.2 Cấp quản trị trung gian(giữa): Là một khái niệm rộng dùng để chỉ những cấp chỉ huytrung gian, đứng trên những nhà quản trị cấp cơ sở và dưới các nhà quản trị cấp cao. Với cươngvị này, họ vừa quản trị các nhà quản trị cấp cơ sở thuộc quyền vừa đồng thời điều khiển các nhânviên khác. Ở cấp giữa có thể có nhiều cấp, điều này phụ thuộc vào loại hình tổ chức của doanh nghiệp,người làm quản trị ở cấp này là các trưởng, phó phòng; ban; các quản đốc, phó quản đốc cácphân xưởng... Nội dung quản trị: tổ chức quản trị các hoạt động chức năng, nghiệp vụ trong phạm vi nhiệmvụ quyền hạn được phân công nhằm thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp. - Nắm vững những mục tiêu của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa các bộ phận, cảm nhậnnhững khó khăn chính của bộ phận và những nguyên nhân trong phạm vi hoạt động của mình. - Nắm vững trách nhiệm và phạm vi quyền hạn được giao, xác định các hoạt động cần thiếtphải thực hiện để đạt được kết quả, đề nghị những vấn đề liên quan đến bộ phận để hoàn thànhnhiệm vụ. - Đề nghị những chương trình kế hoạch hành động của bộ phận và mô hình tổ chức thích hợpnhất để thực hiện công việc. - Lựa chọn nhân viên, giao công việc theo chức năng cho các thành viên, xây dựng tinh thầnđồng đội và lòng trung thành, phê chuẩn các thủ tục làm việc trong phạm vi bộ phận trên cơ sởđường lối chung của doanh nghiệp. - Thường xuyên xét lại tính hiệu quả trong công tác của bộ phạn để kịp thời uốn nắn nhữngsai sót. - Báo cáo kết quả đạt được của bộ phận lên cấp trên theo đúng sự ủy quyền. 1.3 Cấp quản trị cơ sở (thấp nhất): Là những nhà quản trị ở cấp bậc cuối cùng trong hệthống cấp bậc của quản trị trong cùng tổ chức. Người quản trị cấp này là đốc công, nhóm trưởng,tổ chức trưởng, là những người không còn cấp quản trị nào bên dưới. Nội dung quản trị: quản trị quá trình làm việc, các hoạt động cụ thể hàng ngày của công nhân,nhân viên trong tổ, nhóm. Với tư cách là nhà quản trị nhiệm vụ, họ là những người hướng dẫn,đốc thúc, điều khiển công nhân trong các công việc hàng ngày để đưa đến sự hoàn thành mụctiêu chung trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhà quản trị cấp cơ sở cũng thường là người trực tiếptham gia các công viêc sản xuất kinh doanh cụ thể như các nhân viên khác dưới quyền họ. 2. Quản trị theo chức năng trong doanh nghiệp Khái niệm chức năng: chức năng thường là nhóm các hoạt động có tính chất tương tự nhau,liên quan đến nhau trong một bộ phận nhất định trong một tổ chức. Các chức năng chủ yếu trongquản trị kinh doanh gồm có: - Chức năng quản trị cung ứng. - Chức năng quản trị nhân sự. - Chức năng quản trị tài chính - kế toán. 40
    • - Chức năng quản trị tác nghiệp. - Chức năng quản trị Marketing... Người quản trị chức năng là người quản trị trực tiếp các hoạt động cụ thể của từng chức năngtrong một tổ chức. Họ có thể là những người quản trị các phòng hay các bộ phận chức năng. Đócũng chính là những người làm các công việc mang tính chuyên môn hóa.VII. CÁC KỸ NĂNG QUẢN TRỊ Dù ở cấp bậc nào (hay lĩnh vực nào), các nhà quản trị cần phải có những kỹ năng cần thiết, đólà : kỹ năng kỹ thuật (chuyên môn); kỹ năng con người (nhân sự); kỹ năng nhận thúc (tư duy) Kỹ năng kỹ thuật Kỹ năng nhân sự Kỹ năng tư duy Cấp cơ sở Cấp giữa Câp cao Sơ đồ 2.10: Các kỹ năng quản trị tương ứng với các cấp quản trị. 1. Kỹ năng kỹ thuật: Là kiến thức khả năng cần thiết để hiểu và thông thạo trong lĩnh vựcchuyên môn. Thí dụ, đối với nhà quản trị cần phải có các kỹ năng trong lĩnh vực kế toán, tàichính; Marketing; sản xuất v.v... Kỹ năng này có được qua việc học ở trường hay các lớp bồidưỡng, kinh nghiệm thực tế. 2. Kỹ năng về nhân sự: Là khả năng cùng làm việc, điều khiển và lôi cuốn những ngườixung quanh, là thành viên của tổ chức và là nhà lãnh đạo điều hành công việc được trôi chảy.Nhờ đó, nhà quản trị có thể thúc đẩy người khác làm việc theo đuổi mục tiêu của tổ chức. Mộtvài kỹ năng nhân sự cần thiết cho nhà quản trị là biết cách thông đạt (viết, nói...) một cách hữuhiệu, có thái độ quan tâm tích cực đến người khác, xây dựng bầu không khí hợp tác giữa mọingười cùng làm việc chung và biết cách động viên nhân viên dưới quyền. 3. Kỹ năng tư duy: Là khả năng theo dõi tổ chức và hiểu được làm thế nào để tổ chức thíchứng được với hoàn cảnh. Nhà quản trị cần nhận ra được những yếu tố khác nhau và hiểu đượcmối quan hệ phức tạp của công việc để có thể đưa ra những cách giải quyết đúng đắn nhất có lợicho tổ chức. Kỹ năng tư duy là cái khó tiếp thu nhất và đặc biệt quan trong đối với các nhà quảntrị. Ba kỹ năng trên đòi hỏi các nhà quản trị đều phải có, tuy nhiên mức độ quan trong của mỗi kỹnăng tùy thuộc vào cấp bậc quản trị trong cấu trúc tổ chứcVIII. VAI TRÒ NHÀ QUẢN TRỊ. Vai trò là toàn bộ những cách ứng xử được thiết lập sao cho phù hợp với chức vụ hoặc bộphận, cơ quan riêng biệt Henry Mintzberg nghiên cứu các họat động của nhà quản trị và cho rằng mỗi nhà quản trị đềuphải thực hiện 10 vai trò khác nhau và được phân thành 3 nhóm như sau: 1. Nhóm vai trò quan hệ với con người Nhóm vai trò quan hệ với con người bao gồm khả năng phát triển và duy trì mối quan hệ vớingười khác một cách hiệu quả. Vai trò đại diện gắn liền với vị trí trong sự phân cấp quản trị, vai trò lãnh đạo đòi hỏi việc xâydựng mối quan hệ với cộng sự, tiếp xúc và thúc đẩy họ làm việc, vai trò liên hệ tập trung vào 41
    • việc duy trì mối quan hệ cả bên trong và bên ngoài tổ chức. Vai trò quan hệ với con người giúpcác nhà quản trị xây dựng mạng lưới làm việc cần thiết để thực hiện các vai trò quan trọng khác. 2. Nhóm vai trò thông tin. Vai trò thông tin gắn liện với việc tiếp nhân thông tin và truền đạt thông tin sao cho nhà quảntrị thể hiện một trung tâm đầu não của tổ chức. Vai trò thu thập thông tin là nắm bắt thông tin cảbên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Vai trò truyền đạt họat động theo hai cách: cách thứ nhất,nhà quản trị truyền đạt những thông tin tiếp nhận được từ bên ngoài đến các thành viên trong nộibộ doanh nghiệp, những người có thể sử dụng những thông tin này; thứ hai, nhà quản trị giúptruyền đạt những thông tin từ cấp dưới này đến cấp thấp hơn hoặc đến các thành viên khác trongtổ chức, những ngời có thể sử dụng thông tin một cách hiệu quả nhất. Trong khi vai trò truyềnđạt cung cấp thông tin cho nội bộ thì vai trò phát ngôn phổ biến thông tin cho bên ngoài vềnhững vấn đề như kế hoạch, chính sách, kết quả họat động của tổ chức. Do đó, nhà quản trị tìmkiếm thông tin trong vai trò giám sát, truyền đạt thông tin với nội bộ và sau đó kết hợp việc cungcấp thông tin quan trọng theo yêu cầu của vai trò quyết định. (Xem bảng 2.2) Bảng 2.2: 10 vai trò quản trị của Minztberg Vai trò Nội dung Quan hệ con người 1.Đại diện Tham gia vào các sự kiện khác nhau: phát biểu, giới thiệu, tượng trưng cho tổ chức 2.Lãnh đạo. Xây dựng mối quan hệ với cấp dưới, động viên, thúc đẩy nhân viên 3.Liên hệ Duy trì mối quan hệ mạng lưới làm việc nội bộvới bên ngoài và giúp cung cấp thông tin Thông tin 4.Thu thập thông Thu thập thông tin bên trong và bên ngoài về những vấn đề có thể tin ảnh hưởng tổ chức 5.Truyền đạt. Truyền đạt những thông tin cả bên trong và bên ngoài cho nội bộ 6.Phát ngôn Truyền đạt những thông tin của tổ chức cho bên ngoài Quyết định 7.Doanh nhân Hành động như người khởi xướng, thiết kế, khuyến khích những cải tiến và đổi mới 8.Giải quyết Có những hành động đúng và kịp thời khi DN đối mặt với những những xáo trộn vấn đề quan trọng những khó khăn bất ngờ. 9.Phân phối Chịu trách nhiệm phân phối các nguồn lực: thời gian, ngân quỹ, phương tiện, nhân sự 10.Đàm phán Đại diện cho tổ chức thương lượng, đàm phán 3. Nhóm vai trò quyết định. Nhóm vai trò quyết định bao gồm việc ra những quyết định quan trong có ảnh hưởng đến tổchức. Có bốn vai trò mô tả nhà quản trị là người quyết định. Vai trò cách tân hay còn gọi là vaitrò doanh nhân, là người luôn ở điểm gốc của mọi thay đổi và cải tiến, khai thác các cơ hội mới.Vai trò thứ 2 trong nhóm này là vai trò xử lý các tình huống: gắn liền với việc đưa ra các hànhđộng kịp thời khi tổ chức phải đối mặt với những biến cố bất ngờ, những khó khăn không lườngtrước được. Vai trò thứ ba là phân phối các nguồn lực của tổ chức. Cuối cùng, vai trò đàm phánthể hiện sự đại diện cho tổ chức thương lượng đàm phán ký kết các hợp đồng, ảnh hưởng tùy 42
    • theo các lĩnh vực trách nhiệm của nhà quản trị. Trong các cuuộc tiếp xúc làm ăn, nhà quản trịphải là một chuyên gia trong lĩnh vực ngoại giao. Làm ăn thời mở cửa đa phần là các cuộc tiếpxúc, muốn thành đạt phải học cách thương lượng. Mềm dẻo kết hợp với cứng rắn và cươngquyết, lý trí cùng với nhân bản là bí quyết thành công trong thương lượng với đối tác.IX. CÁC LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ. Học thuyết hay còn gọi là lý thuyết là những khái quát lý luận về một lĩnh vực nào đó, thôngqua nghiên cứu và khảo nghiệm thực tế, từ đó vận dụng vào các hoạt động thực tiễn trong mỗilĩnh vực. Học thuyết về quản trị kinh doanh là những khái quát lý luận về quản trị các hoạt động kinhdoanh. Các học thuyết về quản trị là cơ sở, là nền tảng dẫn đường cho hoạt động sản xuất kinhdoanh một cách khoa học, có hệ thống. Từ những năm 1800 khi nền công nghiệp và các hoạt động sản xuất phát triển mạnh, thực tiễnđã tổng kết và rút ra thành nhưng lý thuyết với nhiều trường phái hay các nhóm lý thuyết khácnhau. Có thể chia thành ba nhóm lý thuyết quản trị học: 1. Lý thuyết quản trị cổ điển. Trường phái cổ điển bao gồm một số tác giả với những nghiên cứu về quan trị kinh doanh,dưới đây là một số tác giả điển hình và những tư tưởng chủ yếu của họ. 1.1. Lý thuyết quản trị khoa học 1.1.1 Frederich Taylor (1856 - 1915): Taylor xuất thân là một công nhân và trở thành kỹsư trải qua quá trình ban ngày đi làm, ban đêm đi học hàm thụ đại học. Trong quá trình làm việctrong nhà máy luyện cán thép, Taylor đã có nhiều cơ hội quan sát và thực hành quản trị trongnhà máy. Ông là tác giả với những nghiên cứu và lý thuyết khá nổi tiếng về quản trị trong thờigian từ 1890 đến 1930. Những nguyên tắc cơ bản trong lý thuyết của Taylor là: - Xây dựng các phương pháp khoa học để thực hiện công việc, nhiệm vụ của từng công nhân - Lựa chọn công nhân một cách khoa học và huấn luyện họ phương pháp khoa học để thựchiện công việc - Tổ chức giáo dục và giám sát công nhân để đảm bảo họ thực hiện theo đúng phương pháp - Xây dựng và củng cố quan hệ giữa người lao động và nhà quản trị Biện pháp thực hiện: Để thực hiện những nguyên tắc của mình, Taylor đã tiến hành: - Nghiên cứu các loại thời gian làm việc của công nhân theo từng công việc. - Phân chia công việc của từng công nhân thành những công việc bộ phận nhỏ để cải tiến vàtối ưu hóa. - Xây dựng hệ thống khuyến khích người lao động làm việc, thực hiện trả công theo lao động. Những kết quả qua áp dụng lý thuyết của Taylor là năng suất lao động tăng lên rất nhanh vàkhối lượng sản phẩm tăng nhiều. Tuy nhiên, lý thuyết của Taylor nghiêng về "kỹ thuật hóa, máymóc hóa" con người, sức lao động bị khai thác kiệt quệ làm cho công nhân đấu tranh chống lạicác chính sách về quản trị. 1.1.2 Herny L. Gantt: Là kỹ sư chuyên về hệ thống kiểm soát trong nhà máy. Trên cơ sở cáclý thuyết của Taylor, Gantt đã phát triển và đưa ra lý thuyết của mình, trong đó chủ yếu tập trungvào mở rộng hệ thống khuyến khích vật chất cho người lao động với các biện pháp như : - Khuyến khích công nhân sau một ngày làm việc nếu họ làm việc tốt. 43
    • - Khuyến khích cho đốc công, quản đốc dựa vào kết quả làm việc của công nhân dưới sự giámsát trực tiếp của họ nhằm động viên họ trong công việc quản trị. Biện pháp này đã khuyến khích các đốc công quản trị tốt hơn. Cũng trên cơ sở này, cácphương pháp quản trị tiến độ thực hiện mới được đưa vào trong quản trị như phương pháp đườnggăng (CPM -Critical Path Method) và phương pháp sơ đồ mạng lưới (PERT - ProgramEvaluation and Revie Technique). Trong lý thuyết này, khía cạnh lợi ích được chú ý nhiều hơn. 1.1.3 Frank B (1868 - 1924) và Liliant M. Gibreth (1878 -1972). Hai tác giả này đã nghiên cứu rất chi tiết quá trình thực hiện và quan hệ giữa các thao tác,động tác và cử động với một mức độ căng thẳng và mệt mỏi nhất định của công nhân trong quátrình làm việc, từ đó đưa ra phương pháp thực hành tối ưu nhằm tăng năng suất lao động, giảmsự mệt mỏi của công nhân. Các phương pháp thuộc trường phái này đã có những đóng góp có giá trị cho sự phát triển củatư tưởng quản trị, phát triển kỹ năng quản trị qua phân công, chuyên môn hóa quá trình lao động,đồng thời là những người đầu tiên nêu lên tầm quan trọng của việc tuyển chọn và huấn luyệnnhân viên, dùng đãi ngộ để tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, các tác giả đã phát triển mộtphương pháp quản trị mang tính khoa học hóa một cách thuần túy như "máy móc hóa conngười", gắn chặt con người vào một dây chuyền công nghệ để quản trị và tăng năng suất laođộng. 1.2 Lý thuyết quản trị hành chính Trường phái quản trị hành chính đã phát triển những nguyên tắc quản trị chung cho cả tổchức, tiêu biểu cho trường phái này có các tác giả với các công trình nghiên cứu và lý thuyết nhưsau: 1.2.1 Henry Fayol (1841 - 1925): Quan điểm của Fayol là tập trung vào xây dựng một tổ chứctổng thể để quản trị quá trình làm việc. Ông cho rằng, năng suất lao động của con người làm việcchung trong một tập thể tùy thuộc vào sự sắp xếp, tổ chức của nhà quản trị. Để có thể làm tốtviệc sắp xếp, tổ chức doanh nghiệp, Fayol đã đưa ra và yêu cầu các nhà quản trị nên áp dụng 14nguyên tắc trong quản trị: - Phân công lao động trong quá trình làm việc một cách chặt chẽ - Phải xác định rõ mối quan hệ quyền hành và trách nhiệm. - Phải xây dựng và áp dụng chế độ kỷ luật nghiêm ngặt trong quá trình làm việc . - Thống nhất trong các mệnh lệnh điều khiển, chỉ huy - Lãnh đạo tập trung - Lợi ích cá nhân phải gắn liền và phục vụ cho lợi ích của tập thể , lợi ích chung. - Xây dựng chế độ trả công một cách xứng đáng theo kết quả lao động - Quản trị thống nhất - Phân quyền và định rõ cơ cấu quản trị trong tổ chức - Trật tự - Công bằng: tạo quan hệ bình đẳng trong công việc - Công việc của mỗi người phải được ổn định trong tổ chức - Khuyến khích sự sáng tạo trong quá trình làm việc - Khuyến khích phát triển các giá trị chung trong quá trình làm việc của một tổ chức . 1.2.2 Max Weber (1864 - 1920): Nhà xã hội học người Đức, tác giả đã phát triển một tổ chứcquan liêu bàn giấy. Khái niệm quan liêu bàn giấy được định nghĩa: là hệ thổng chức vụ và nhiệm 44
    • vụ được xác định rõ ràng, phân công phân nhiệm chính xác, hệ thống quyền hành có tôn ti trậttự. Theo Weber, hệ thống tổ chức kinh doanh phải được: - Xây dựng một cơ cấu tổ chức chặt chẽ. - Định rõ các quy định, các luật lệ, chính sách trong hoạt động quản trị. - Định rõ quyền lực và thừa hành trong quản trị. 1.2.3 Chester Barnard (1886 - 1961): Tác giả cho rằng một tổ chức là một hệ thống hợppháp của nhiều người với ba yếu tố cơ bản: - Sự sẵn sàng hợp tác. - Có mục tiêu chung. - Có sự thông đạt. Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó tổ chức sẽ tan vỡ. Cũng như Weber, ông nhấn mạnh yếu tốquyền hành trong tổ chức, nhưng ông cho rằng nguồn gốc quyền hành không xuất phát từ ngườira lệnh, mà xuất phát từ sự chấp nhận của cấp dưới. Điều đó chỉ có được khi với bốn điều kiệnnhư sau: + Cấp dưới hiểu rõ mệnh lệnh + Nội dung ra lệnh phải phù hợp với mục tiêu của tổ chức + Nội dung ra lệnh phải phù hợp với lợi ích cá nhân của cấp dưới + Cấp dưới có khả năng thực hiện mệnh lệnh đó. * Trường phái quản trị hành chính chủ trương rằng năng suất lao động sẽ đạt cao trong một tổchức được sắp đặt hợp lý, đóng góp trong lý luận cũng như trong thực hành quản trị: nhữngnguyên tắc quản trị, các hình thức tổ chức, quyền lực và sự ủy quyền.... 2. Nhóm lý thuyết hành vi - tâm lý xã hội trong quản trị kinh doanh. Nhóm lý thuyết này nhấn mạnh vai trò con người trong tổ chức, quan điểm của nhóm này chorằng năng suất lao động không chỉ do yếu tố vật chất quyết định mà còn do nhu cầu tâm lý xã hộicủa con người. "Vấn đề tổ chức là vấn đề con người" và họ chỉ ra rằng trong trường phái cổ điểncó nhiều hạn chế vì đã bỏ qua yếu tố con người trong quá trình làm việc. 2.1 Tác giả của lý thuyết các quan hệ con người trong tổ chức là Mary Parker Pollet (1868 -1933). Nữ tác giả này cho rằng, trong quá trình làm việc, người lao động có các mối quan hệgiữa họ với nhau và giữa họ với một thể chế tổ chức nhất định bao gồm: - Quan hệ giữa công nhân với công nhân - Quan hệ giữa công nhân với các nhà quản trị Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh, hiệu quả của quản trị phụ thuộc vào việc giải quyết cácmối quan hệ này. 2.2 Những quan điểm về hành vi con người: các tác giả trong trường phái này cho rằng hoạtđộng của con người phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tâm lý xã hội. Chính các yếu tố này tạo nêncác quan hệ tốt đẹp trong quá trình lao động, từ đó mà có thể đạt hiệu quả cao trong quá trìnhlàm việc. Điển hình trong quan điểm này là các nghiên cứu về các tác động tâm lý vào quá trình laođộng tại Western Electrics Hawthorne Plant. Công trình nghiên cứu này gọi là những nghiên cứuHawthorne. Trong nghiên cứu đó, các tác giả đã sử dụng các biện pháp tạo cho công nhân cảmgiác tâm lý là họ đang được các nhà quản trị chú ý đến như: - Thay đổi chế độ sáng (tăng và giảm độ sáng). - Thay đổi về tiền lương. - Thay đổi thời gian làm việc. 45
    • Sự thay đổi này đã dẫn đến các tác động tâm lý làm tăng năng suất lao động. Tiếp cận các động cơ về hành vi của con người: các tác giả đã tập trung nghiên cứu vào cácyếu tố tác động vào hành vi của con người trong quá trình làm việc với tư cách là động cơ làmviệc của họ. Nhu cầu tự thể hiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu giao tiếp Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh học Sơ đồ 2.11: Mô hình các cấp độ nhu cầu của Abraham Maslow. 2.2.1 Abraham Maslow (1908 - 1970): nhà tâm lý học, tác giả đã xây dựng lý thuyết vềnhu cầu của con người, bao gồm 5 cấp độ được xếp từ cấp thấp đến cấp cao. Lý thuyết này đượcvận dụng trên nguyên tắc: Một nhu cầu đã tương đối được thỏa mãn thì nó không còn là xungđộng mạnh để thôi thúc nữa, một nhu cầu đã tương đối được thỏa mãn, tác phong con người sẽ bịchi phối bởi nhu cầu khác cao hơn. Như vậy, muốn quản trị hữu hiệu phải chú ý đáp ứng nhu cầucủa con người. 2.2.2 Doughlas Mc Gregor (1906 - 1964) đã phát triển lý thuyết tác phong trong quảntrị, ông cho rằng các nhà quản trị trước đây đã tiến hành cách thức quản trị trên những giả thuyếtsai lầm về tác phong con người. Những giả thuyết đó cho rằng phần đông mọi người đều khôngthích làm việc, thích được chỉ huy hơn là tự chịu trách nhiệm và hầu hết làm việc vì lợi ích vậtchất. Vì vậy các nhà quản trị đã xây dựng những bộ máy tổ chức với quyền hành tập trung đặt ranhiều quy tắc thủ tục, đồng thời với hệ thống kiểm tra giám sát chặt chẽ. Gregor gọi những giảthuyết đó là X và đề nghị một lọat giả thuyết khác mà ông gọi là giả thuyết Y. Thuyết Y cho rằngcon người sẽ thích thú với công việc nếu có được những thuận lợi và họ có thể đóng góp nhiềuhơn cho tổ chức. Mc Gregor cho rằng, thay vì nhấn mạnh đến cơ chế kiểm tra thì nhà quản trịnên quan tâm nhiều hơn đến sự phối hợp hoạt động. 2.2.3 Thuyết hai yếu tố của Herzberg chỉ ra rằng những yếu tố tạo ra sự thỏa mãn trongcông việc không mâu thuẫn trực tiếp với những yếu tố tạo ra sự bất mãn đối với với công việc.Những yếu tố tạo động lực làm việc theo quan điểm của Herzberg là cảm nhận của con người vềbản thân công việc: sự hoàn thành công việc, sự công nhận, bản chất công việc, trách nhiệm, cơhội phát triển. Những yếu tố duy trì liên quan đến môi trường làm việc: điều kiện làm việc, sựquản lý và chính sách của doanh nghiệp, sự giám sát, các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân ,lương, địa vị, công việc ổn định. Những điều Herzberg khám phá rất có ý nghĩa đối với các nhàquản trị. Chúng hướng sự chú ý vào một thực tế là nội dung công việc có ảnh hưởng lớn đếnhành vi của con người tại nơi làm việc, và bản thân những yếu tố như lương bổng và điều kiệnlàm việc không hẳn là động lực làm việc. 2.2.4 Chris Argyris: nghiên cứu tư cách con người và các yếu tố đời sống tổ chức đã chorằng, một sự nhấn mạnh thái quá của nhà quản trị đối với việc kiểm sóat nhân viên sẽ dẫn tớinhân viên có thái độ thụ động, lệ thuộc và né tránh trách nhiệm. Trong trạng thái tâm lý đó họ sẽcảm thấy bất bình và có thái độ tiêu cực đối với việc hoàn thành mục tiêu chung. Argyris chorằng bản chất con người luôn muốn độc lập trong hành động, sự đa dạng trong mối quan tâm và 46
    • khả năng tự chủ. Nhà quản trị hữu hiệu là người biết tạo điều kiện cho nhân viên ứng xử nhưnhững người trưởng thànhvà điều đó chỉ có lợi chho tổ chức. * Tư tưởng của trường phái tác phong nhấn mạnh nhu cầu xã hội, được quý trọng và tự thểhiện mình của người lao động. Lý thuyết này bổ sung cho lý thuyết quản trị cổ điển khi cho rằngnăng suất không chỉ thuần túy là vấn đề kỹ thuật. Nó cũng giúp cải tiến cách thức và tác phongquản trị trong tổ chức, xác nhận mối liên hệ giữa năng suất và tác phong hoạt động. Lý thuyết tác phong có sự đóng góp lớn trong lý thuyết và thực hành quản trị, giúp các nhàquản trị hiểu rõ hơn về sự động viên con người, về ảnh hưởng của tập thể đốivới tác phong cũngnhư các vấn đề tâm lý quản trị. 3. Lý thuyết định lượng trong quản trị. Trường phái này ra đời vào thời kỳ đầu của Đại chiến thế giới II, xuất phát từ nhu cầu giảiquyết các vấn đề phức tạp trong quản trị của thời kỳ chiến tranh. Trường phái này do các nhàtoán học, vật lý học và các nhà khoa học khác đưa ra, họ tập trung vào trong một nhóm cùngnghiên cứu và đề xuất các phương pháp quản trị, dùng các mô hình toán học, các thuật toán kếthợp với sử dụng máy tính vào quản trị và điều hành các hoạt động kinh doanh trong các DN.Trường phái này tiếp cận trên 3 áp dụng cơ bản là quản trị khoa học, quản trị tác nghiệp và quảntrị hệ thống thông tin. 3.1 Quản trị khoa học: Một trong những áp dụng chính của trường phái này là quản trịkhoa học, nhưng khác với quản trị khoa học của Taylor ra đời ở đầu thế kỷ này. Ở đây khoa họcquản trị là đường lối quản trị dùng những phân tích toán học trong quyết định, sử dụng các côngcụ thống kê, các mô hình toán kinh tế để giải quyết các vấn đề trong sản xuất kinh doanh. 3.2 Quản trị tác nghiệp: là áp dụng phương pháp định lượng vào công tác tổ chức vàkiểm soát hoạt động. Quản trị hoạt động sử dụng những kỹ thuật định lượng như dự đoán, kiểmtra hàng tồn kho, lập trình tuyến tính, lý thuyết hệ quả, lý thuyết hệ thống 3.2 Quản trị hệ thống thông tin: là những chương trình tích hợp thu thập và xử lý thôngtin giúp cho việc ra quyết định. Hệ thống thông tin là kết quả hợp lý của việc ngày càng có sựcông nhận sức mạnh và giá trị của thông tin, và thông tin phải sẵn sàng dưới dạng thích hợp,đúng thời điểm cho các nhà quản trị làm quyết định. Trường phái định lượng thâm nhập vào hầu hết trong mọi tổ chức hiện đại với những kỹ thuậtphức tạp. Khoa học quản trị, quản trị tác nghiệp và quản trị hệ thống thông tin rất quan trọng chocác nhà quản trị các tổ chức lớn và hiện đại ngày nay. Các kỹ thuật của trường phái này đã đónggóp rất lớn vào việc nâng cao trình độ hoạch định và kiểm tra hoạt dộng. 4. Lý thuyết quản trị hiện đại. 4.1 Trường phái tiếp cận theo hệ thống. Trường phái lý thuyết này quan niệm rằng một tổ chức được coi như một hệ thống trực tiếpthống nhất của các bộ phận có quan hệ hữu cơ với nhau. Các khái niệm dưới đây được sử dụngđể mô tả các quan hệ của tổ chức trong hoạt động quản trị: Các yếu tố bên ngoài Yếu tố đầu vào Quá trình sử dụng Kết quả tạo ra Phản hồi Sơ đồ 2.12: Quá trình quản trị. 47
    • - Phân hệ trong quản trị: là những bộ phận trong tổ chức liên kết với nhau trong một hệ thống tổchức thống nhất.- Cộng lực hay phát huy lợi thế của hiệp đồng tập thể: là trạng thái trong đó cái chung được coilớn hơn cái riêng. Trong một hệ thống tổ chức, cộng lực có nghĩa là các bộ phận tác động qua lạilẫn nhau trong hoạt động sẽ tạo ra sức mạnh chung được tăng lên gấp bội và mang lại hiệu quảcao hơn nhiều so với trong trường hợp các bộ phận hoạt động độc lập. 4.2 Khảo hướng ngẫu nhiên Theo lý luận này, cách thức để đạt được các mục tiêu của một tổ chức có thể rất khác nhau,điều đó phụ thuộc vào từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Do đó, trong từng môi trường khácnhau các phương pháp và kỹ thuật quản trị khác nhau, không thể có lý thuyết chung áp dụngtrong mọi điều kiện, hoàn cảnh, bởi vì mỗi vấn đề nó là riêng biệt, độc đáo. 4.3 Khảo hướng quá trình. Trong sự biến đổi rất nhanh chóng cả về quy mô, tính chất và tốc độ của môi trường kinhdoanh trong và ngoài DN, các nhà quản trị hiện nay cho rằng cần phải đổi mới tư duy trong quátrình quản trị, trọng tâm trong các quan điểm đó là hoạt động và hiệu quả trong quản trị gắn liềnvới mối quan hệ với con người và thời gian. Vấn đề kết hợp năng động nhiều quan điểm và lý thuyết trong quản trị là tất yếu và cần thiết,vì yếu tố thời gian và quan hệ con người đang gây ra sức ép lớn đối với các nhà quản trị. Trongquản trị cần vận dụng linh hoạt các lý thuyết vào trong từng tình huống cụ thể và quản trị luônluôn gắn với: - Các yếu tố môi trường kinh doanh. - Đạo đức và trách nhiệm xã hội trong kinh doanh. - Vấn đề toàn cầu hóa và quản trị. - Sáng tạo trong kinh doanh. - Sự khác biệt về văn hóa trong quản trị. - Quản trị và trách nhiệm về đồng bộ.IX. QUYẾT ĐỊNH QUẢN TRỊ. 1. Khái niệm. Ra quyết định quản trị là sự lựa chọn một trong số các phương án hành động. Các nhà quản trịxem việc ra quyết định là công việc trung tâm của họ bởi vì họ phải thường xuyên lựa chọn phảilàm cái gì, ai làm, làm khi nào, ở đâu. Không nên nhầm lẫn việc ra quyết định và lập kế hoạch.Trong thực tế đôi khi quyết định được thực hiện một cách nhanh chóng, ít đòi hỏi về thời gianhay sự nỗ lực, hay có khi nó chỉ chi phối hành động trong ít phút. Trong khi đó có những quyếtđịnh quan trọng, có ảnh hưởng lâu dài đối với doanh nghiệp, đòi hỏi nhiều công sức của người raquyết định Quyết định quản trị là hành vi sáng tạo của nhà quản trị nhằm đưa ra chương trình và tínhchất hoạt động của tổ chức để giải quyết một vấn đề trên cơ sở hiểu rõ quy luật vận động kháchquan của đối tượng quản trị và thông tin đầy đủ, chính xác 2. Các kiểu ra quyết định. Trong bất cứ tổ chức nào, tất cả các nhà quản trị đều phải ra các quyết định. Tuy nhiên, cácloai quyết định sẽ thay đổi tùy theo cấp bậc và chức vụ quản trị của mỗi người. Có hai kiểu raquyết định cơ bản: kiểu ra quyết định được lập chương trình và kiểu ra quyết định không đượclập chương trình 2.1 Các quyết định theo chương trình. Là loại quyết định tghường ngày và lặp đi lặp lại, vì loại quyết định này không phải là quyếtđịnh mới, cho nên một tổ chức thường có những nguyên tắc chỉ đạo riêng biệt để xử lý chúng. 48
    • 2.2 Các quyết định không được lập chương trình. Là loại quyết định không có tính lặp lại, ít được làm và không mang tính cấu trúc. Chúngthường được ban lãnh đạo cấp cao của tổ chức soạn thảo và có ảnh hưởng rộng lớn đối với doanhnghiệp. Chẳng hạn, nhà quản trị marketing sẽ quyết định có nên tăng ngân sách quảng cáo đểtăng doanh số bán nhân dịp tết cổ truyền sắp đến hay không. Giám đốc doanh nghiệp sẽ quyếtđịnh có cần phải mở rộng nhà máy để đối phó với sự gia tăng nhu cầu về sản phẩm của doanhnghiệp hay không. Dựa vào các kiểu quyết định và mức độ ảnh hưởng của chúng đối với doanh nghiệp, các nhàquản trị có thể phân biệt được nhiệm vụ của mình trong việc ra quyết định. 3. Tiến trình ra quyết định. Ra quyết định quản trị như trên đã đề cập, có thể được định nghĩa là một sự lựa chọn hợp lýgiữa nhiều cách lựa chọn, điểm trọng tâm là phải nhận thức được nhu cầu, xác định mục tiêu củara quyết định. Tiến trình giải quyết vấn đề và ra quyết định được biểu hiện trong sơ đồ 2.13 Việc ra quyết định có hiệu quả đòi hỏi một sự lựa chọn phương hướng hành động hợp lý, cónghĩa nhằm cố gắng đạt được mục tiêu nào đó và muốn đạt được phải hành động tích cực. Bước thứ nhất: Khi doanh nghiệp có hoặc sẽ có những vấn đề phát sinh trong công việc, thìviệc nhận biết được những vấn đề đó như thế nào là một bước rất quan trọng. Bởi vì nó đảm bảochắc chắn rằng nhà quản trị đã hiểu bản thực chất thực sự của vấn đề chứ không phải chỉ nhậnbiết được những dấu hiệu của vấn đề đó. Trên cơ sở đó, nhà quản trị phải cụ thể hóa, phân tíchvà phát triển những mục tiêu mà doanh nghiệp muốn đạt tới. Khi vấn đề đã được phân tích tỷmỷ, xác định được những điều kiện tiên quyết, những thuận lợi và khó khăn; nhận dạng chođược các ràng buộc... Ví dụ: xác định những vấn đề về tài chính, yêu cầu về môi trường, cácchính sách và chế độ của doanh nghiệp... nhà quản trị sẽ có được những dữ liệu cần thiết choviệc ra đời một quyết định. Các quyết định bao giờ cũng bị hạn chế bởi những ràng buộc - nhữnggiới hạn của nhiều loại đối với quyết định quản trị. Ràng buộc là những khó khăn, hạn chế cácphương án lựa chọn khi nhà quản trị cân nhắc giải pháp cho vấn đề và ra quyết định. Bước thứ hai: Xây dựng phương án. Trên cơ sở những dữ liệu có được, thông qua bước xácđịnh tình hình, nhà quản trị tiến hành xây dựng các tình huống và phương án có thể xảy ra. Cóthể mô tả chúng và trao đổi , tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, tìm kiếm những quan điểm mới,sàng lọc để xây dựng các phương án có tính khả thi cao. Đây là bước đòi hỏi có sự sáng tạo củatập thể cũng như của nhà quản trị. Nhận thức nhu cầu, xác Thu thậpthông định mục tiêu ra quyết tin.Xây dựng Đánh giá các định và phân tích, chuẩn các phương phương án/giải đoán tình hình, nhận pháp án/giải pháp dạng các ràng buộc Đánh giá kết Thực hiện Lựa chọn quả phương án phương án/ giải pháp tốt nhất Sơ đồ 2.13: Quá trình giải quyết vấn đề và ra quyết định quản trị. Bước thứ ba: Từ những phương án đã được xây dựng, tiến hành so sánh những thông tin, biệnpháp xử lý, hiệu quả mong đợi, tính nhạy cảm... để xem xét kết quả của các phương án thể hiệnnhư thế nào. Dự tính các xác suất, rủi ro có thể xảy ra..., tiến hành lập danh sách để so sánhnhững thuận lợi, khó khăn của từng phương án. Ở bước này cần phải xác định một số phương án 49
    • cần thiết có thể áp dụng được một cách hiệu quả, phù hợp với những đặc điểm của công việc,con người và tập thể đó. Nếu thấy rằng, các phương án đặt ra còn chưa đủ hay nhà quản trị thấycần phải có thêm một số phương án khác nữa thì tùy theo sự cần thiết của công việc, khả năngcủa nhà quản trị có thể có để bắt đầu từ bước một hoặc hai. Bước thứ tư: Chọn phương án tối ưu. Đây là bước cốt yếu và quan trọng nhất,bởi vì tại đâynhà quản trị phải từ bỏ "quyền tự do lựa chọn" của mình. Nhà quản trị chỉ được phép chọn mộtphương án và phải bảo vệ quyết định đó. Đồng thời đảm bảo sự cam kết của tất cả mọi ngườitham gia và có được sự hỗ trợ cần thiết. Phần lớn công việc này cần được làm thông qua sự thamgia của các bên hữu quan trong giai đoạn trước. Bước thứ năm: Thực hiện phương án. Đó là hành động chấp hành hay thực hiện phương án đãchọn. Để hoạt động này có hiệu quả thì phải căn cứ theo kế hoạch hành động đã được lập kèmtheo các phương án. Kế hoạch càng chi tiết, cụ thể thì khả năng hoạt động có hiệu quả càng tăng. Bước thứ sáu: Đánh giá kết quả. Nhà quản trị mong muốn kết quả đạt được như thế nào haynói một cách khác đó là mục tiêu đặt ra cho quyết định quản trị. Để có thể thực hiện tốt bướcnày, nhà quản trị cần phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và phương ánđã lựa chọn. Nắm bắt những thông tin được sử dụng có chính xác không? Kế hoạch được thựchiện như thế nào? Kết quả đạt được của kế hoạch đã đặt ra? Trong quá trình thực hiện quyết định sẽ nảy sinh nhiều vấn đề mà bản thân nhà quản trị và cáccộng sự chưa thể lường trước được. Do đó, việc theo dõi, kiểm tra sẽ giúp nhà quản trị nắm đượcnhững vướng mắc phát sinh cần giải quyết trong khi thực hiện quyết định. Trên cơ sở đó, tiếnhành chỉnh lý, bổ sung, sửa đổi để quyết định quản trị đưa ra phù hợp với thực tế của công việcđòi hỏi và như vậy kết quả thu được sẽ tốt hơn.CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Khái niệm quản trị? Tại sao nói quản trị vừa mang tính khoa học vừa có tính nghệ thuật ? 2. Phân tích vai trò của quản trị trong họat động kinh doanh của các doanh nghiệp trong điềukiện hiện nay ? 3. Trình bày các chức năng quản trị ? 4. Tầm quan trọng của chức năng kế hoạch ? Nội dung của chức năng kế hoạch ? Các loạikế hoạch ? Các bước lập kế hoạch ? 5. Đặc điểm của các cơ cấu tổ chức quản lý ? 6. Phân chia quyền hạn trong tổ chức ? Khái niệm ủy quyền ? Các nguyên tắc thực hiện ủyquyền ? 7. Trình bày nội dung và vai trò của chức năng lãnh đạo ? 8. Trình bày vai trò của chức năng kiểm tra ? 9. Tại sao nói lãnh đạo là quá trình tác động đến con người và cần phải quan tâm đến conngười ? 10. Vai trò của nhà quản trị ngày nay ? Yêu cầu lựa chọn nhà quản trị ? 11. Nội dung cơ bản của các lý thuyết quản trị : quản trị khoa học, quản trị hành chính, lýthuyết tâm lý – hành vi – tác phong; lý thuyết định lượng trong quản trị ? 12. Nội dung cơ bản của lý thuyết quản trị hiện đại ? 13. Khái niệm quyết định quản trị ? Các kiểu quyết định ? Tiến trình ra quyết định quản trị ? 50
    • CHƯƠNG III. MARKETING TRONG DOANH NGHIỆPChương này đề cập đến những vấn đề sau: - Định nghĩa, vai trò và quá trình phát triển của marketing - Marketing hỗn hợp và quá trình marketing - Hành vi của người tiêu dùng - Phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu - Chính sách sản phẩm - Giá và chính sách giá - Chính sách phân phối hàng hoá - Xúc tiến bán hàngI. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦAMARKETING 1. Một số khái niệm về marketing Thuật ngữ marketing được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1902 trên giảngđường trường Đại học Michigan ở Mỹ, đến năm 1910, tất cả các trường Đại họctổng hợp ở Mỹ bắt đầu giảng dạy môn học này. Suốt trong gần nửa thế kỷ,marketing chỉ được giảng dạy trong phạm vi các nước nói tiếng Anh. Mãi đếnsau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vào những năm 50 và 60 của thế kỷ XX, nómới được truyền bá sang Tây Âu và Nhật Bản. Quá trình quốc tế hoá củamarketing đã phát triển rất nhanh. Ngày nay, các doanh nghiệp muốn kinhdoanh đạt hiệu quả kinh tế cao đều cần phải có sự hiểu biết và vận dụngmarketing hiện đại. - Định nghĩa tổng quát về marketing của Philip Kotler1: Marketing làmột dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mongmuốn của họ thông qua trao đổi. Định nghĩa này bao trùm cả marketing trong sản xuất và marketing xã hội.Để hiểu rõ hơn về định nghĩa trên, chúng ta nghiên cứu một số khái niệm: Nhu cầu (Needs): là một cảm giác về sự thiếu hụt một cái gì đó mà conngười cảm nhận được. Ví dụ: nhu cầu ăn, uống, đi lại, học hành, giải trí... Nhucầu này không phải do xã hội hay người làm marketing tạo ra, Chúng tồn tạinhư một bộ phận cấu thành của con người. Mong muốn (Wants) là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thoả mãnnhững nhu cầu sâu xa. Mong muốn của con người không ngừng phát triển vàđược định hình bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội... như trường học; nhàthờ, chùa chiền; gia đình, tập thể và các doanh nghiệp kinh doanh. Mong muốnđa dạng hơn nhu cầu rất nhiều. Một nhu cầu có thể có nhiều mong muốn. Các1 Philip Kotler- Marketing căn bản, Nhà xuất bản Thống kê, 1994, PTS Phan Thăng,PTS Vũ Thị Phượng, Giang Văn Chiến lược dịch Philip Kotler - Những nguyên lý tiếp thị (Principles of Marketing , Prentice – Hall, Nhàxuất bản TP HCM, 1994, người dịch: Huỳnh văn Thanh 51
    • doanh nghiệp thông qua hoạt động marketing có thể đáp ứng các mong muốncủa khách hàng để thực hiện mục tiêu của mình. Trao đổi là hành vi nhận từ một người hoặc một tổ chức nào đó thứ màmình muốn và đưa lại cho người hoặc tổ chức một thứ gì đó. Trao đổi là quá trình, chỉ xảy ra khi có các điều kiện: - Ít nhất phải có hai bên, mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị với bên kia - Mỗi bên đều có khả năng giao dịch và chuyển giao hàng hoá, dịch vụ hoặc một thứ gì đó của mình - Mỗi bên đều mong muốn trao đổi và có quyền tự do chấp nhận hay khước từ đề nghị của bên kia, hai bên thoả thuận được những điều kiện trao đổi. "Marketing là quá trình xác định tham gia và sáng tạo ra nhu cầu mongmuốn tiêu thụ sản phẩm và tổ chức tất cả nguồn lực của công ty nhằm làm hàilòng người tiêu dùng để đạt được lợi nhuận hiệu quả cho cả công ty và ngườitiêu dùng" (G. F. Goodrich ). Nói chung có rất nhiều quan niệm về Marketing tuy nhiên chúng ta có thểchia làm hai quan niệm đại diện, đó là quan niệm truyền thống và quan niệmhiện đại. Quan niệm truyền thống: Bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh,liên quan đến việc hướng dòng sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu thụ mộtcách tối ưu. Quan niệm Marketing hiện đại: Là chức năng quản lý công ty về mặt tổchức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ việc phát hiện ravà biến sức mua của người tiêu thụ thành nhu cầu thật sự về một sản phẩm cụthể, đến việc chuyển sản phẩm đó tới người tiêu thụ một cách tối ưu Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cánhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra,chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác. Khái niệm marketing nên được biểu hiện rõ sự chỉ dẫn hướng đến conđường lập kế hoạch, giúp doanh nghiệp phân tích, cực đại hoá lợi nhuận và làmthoả mãn nhu cầu tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp cũng cần quan tâm đếnnhững điểm mạnh và những điểm yếu của nó trong các lĩnh vực chức năng hoạtđộng khác như:sản xuất, tài chính, kỹ thuật và nhân sự. Các kế hoạch marketingcần phải tạo cân bằng các mục tiêu, nhu cầu tiêu thụ và khả năng nguồn lực củadoanh nghiệp 2. Vai trò của marketing Muốn thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp và các nhà kinhdoanh cần hiểu biết cặn kẽ về thị trường, về những nhu cầu và mong muốn củakhách hàng, về nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh. Ngày nay, các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường cạnhtranh quyết liệt và có những thay đổi nhanh chóng về khoa học – công nghệ,những đạo luật mới, những chính sách quản lý thương mại mới và sự trungthành của khách hàng ngày càng giảm sút. “Các công ty đang phải chạy đua với 52
    • nhau trên một tuyến đường với những biển báo và luật lệ luôn thay đổi, khôngcó tuyến đích, không có chiến thắng vĩnh cửu. Họ buộc phải không ngừng chạyđua và hy vọng là mình đang chạy theo đúng hướng mà công chúng mongmuốn”2. Marketing là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các hoạt động kinhdoanh có liên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận của hàng hoá - dịch vụ từ nơisản xuất tới người tiêu dùng, nhằm tìm ra các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ,duy trì và phát triển thị trường. Marketing còn áp dụng trong nhiều lĩnh vực xãhội. Philip Kotler đã viết: “ Trong thế giới phức tạp ngày nay, tất cả chúng ta đềuphải am hiểu marketing. Khi bán một chiếc máy bay, tìm kiếm việc làm, quyêngóp tiền cho mục đích từ thiện, hay tuyên truyền một ý tưởng, chúng ta đã làmmarketing... Kiến thức về marketing cho phép xử trí khôn ngoan hơn ở cương vịngười tiêu dùng, dù là mua kem đánh răng, một con gà đông lạnh, một chiếcmáy vi tính hay một chiếc ô tô... Marketing đụng chạm đến lợi ích của mỗingười chúng ta trong suốt cả cuộc đời”3. Marketing áp đặt rất mạnh mẽ đối với lòng tin và kiểu cách sống củangười tiêu dùng. Vì thế, hững người kinh doanh tìm cách để làm thoả mãn nhucầu mong muốn của người tiêu dùng, tạo ra những sản phẩm và dịch vụ với mứcgiá cả mà người tiêu dùng có thể thanh toán được. Phạm vi sử dụng marketing rất rộng rãi, marketing liên quan đến nhiềulĩnh vực như: hình thành giá cả, dự trữ, bao bì đóng gói, xây dựng nhãn hiệu,hoạt động và quản lý bán hàng, tín dụng, vận chuyển, trách nhiệm xã hội, lựachọn nơi bán lẻ, phân tích người tiêu dùng, hoạt động bán sỉ, bán lẻ, đánh giá vàlựa chọn người mua hàng công nghiệp, quảng cáo, mối quan hệ xã hội, nghiêncứu marketing, hoạch định và bảo hành sản phẩm. 3. Quá trình phát triển của marketing 3.1 Các thời kỳ phát triển của marketing Nguồn gốc của Marketing được lần theo việc sử dụng ngay từ ban đầucủa con người đối với quá trình trao đổi hàng hoá. - Năm 1650, lần đầu tiên trên thế giới, ông Mitsui-một thương gia ởTokyo (Nhật Bản) đã có những sáng kiến liên quan đến hoạt động của marketingnhư sau: Ông đã thiết kế và sản xuất ra những mặt hàng bền, đẹp cho kháchhàng. Ông đã đề ra những nguyên tắc làm vui lòng khách hàng, không để họthắc mắc, họ có quyền lựa chọn khi mua hàng, khi đã giao tiền lấy hàng rồi màvẫn không thích thì được trả lại hàng. Ông thường xuyên theo dõi và ghi chépcẩn thận để biết mặt hàng nào bán nhanh và hàng nào ứ đọng, từ đó ông đổi mớihàng hoá để phù hợp với nhu cầu người mua. - Cyrus H.M.C Lormick (1809 - 1884) là người đầu tiên ở phương Tâynghiên cứu marketing rất kỹ lưỡng. Ông cho rằng marketing là một chức năng2 Philip Kotler , Quản trị marketing , Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội , 19973 Sách đã dẫn như trên. 53
    • tập trung và thống nhất của các công ty thương mại là một công việc đặc biệtcủa quản lý nhằm tìm ra và thu hút khách hàng. Ông đã sáng tạo ra những côngcụ cơ bản của marketing hiện đại như: nghiên cứu và phân biệt thị trường, nộidung và cơ cấu của thị trường, chính sách giá cả, chính sách bán hàng, xúc tiếnbán hàng, tín dụng,... - Năm 1905, W.E.Krensi đã dạy một khoá marketing các sản phẩm ởtrường Đại học Tổng hợp Pennsylvania (Mỹ). - Năm 1910, Ralph Star Butler đã dạy một khoá " Phương phápMarketing" ở trường đại học tổng hợp Wisconsin (Mỹ). - Năm 1916, Công ty cao su Mỹ đã thành lập phòng nghiên cứuMarketing. Nhiệm vụ của phòng này là cung cấp thông tin để phòng giao dịchbán hàng được dễ dàng. Sau đó phòng Marketing được giao thêm nhiều nhiệmvụ như: Xúc tiến bán hàng, quảng cáo, xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm,chính sách giá cả, nghiên cứu nhu cầu khách hàng, bao bì... - Marketing đúng theo ý nghĩa của nó xuất hiện từ những năm đầu của thếkỷ 20 ở Mỹ, phát triển từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1932, đặcbiệt sau chiến tranh thế giới thứ hai. Trong những năm 30 và 40 của thế kỷ 20, marketing và những vấn đề củanó đã xuất hiện ở châu Âu. Nhiều cơ sở marketing được hình thành ở Anh, Đứcvà nhiều nước khác. Mục đích chính của Marketing trong giai đoạn này là hoànthiện những phương pháp, kỹ thuật lưu thông hàng hoá. Chính vì vậy mà có mộtthời thương mại và marketing được sử dụng như những từ đồng nghĩa. Sự phức tạp của sản xuất tiêu thụ sản phẩm trong những năm 50 và 60,cũng như sự cạnh tranh gay gắt của thị trường tư bản chủ nghĩa càng làm tăngvai trò, ý nghĩa của marketing trong quản trị kinh doanh. Hàng loạt viện khoahọc, cơ sở marketing, văn phòng tư vấn được thành lập trong các công ty. Thời kỳ hoạt Thời kỳ Thời kỳ đầu Thời kỳ tổ động sản hoạt động của Marketing chức xuất bán hàng Marketing Cầu vượt Cung vượt Cung vượt cầu cung cầu Cung vượt cầu Đầu ra được Quá trình Marketing là Sự hiểu biết mở rộng bán hàng chức năng trợ Marketing quan trọng giúp được đúc kết Sơ đồ 3 .1 Các thời kỳ phát triển của marketing Vào những năm 70, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiệmvụ của marketing ngày càng phức tạp, lĩnh vực áp dụng marketing ngày đượcmở rộng. Nó không chỉ được sử dụng trong các xí nghiệp, công ty, mà còn đượcsử dụng trong quản lý toàn bộ xã hội tư bản. Nhiệm vụ chủ yếu của marketingtrong giai đoạn này là đảm bảo đến mức cao nhất lợi nhuận độc quyền nhà nước, 54
    • thông qua việc sử dụng hoạt động kinh doanh năng động và cụ thể của các xínghiệp, công ty, tập đoàn. Khái quát lại, sự phát triển của marketing đã phải trải qua nhiều giaiđoạn để cuối cùng đưa đến hệ thống marketing được hình thành vững chắc hơntrong thị trường cạnh tranh và được tóm tắt qua sơ dồ 3.1 3.2 Hoạt động bán hàng và những triết lý marketing Sơ đồ 3.2 mô tả sự khác nhau giữa hoạt động bán hàng và triết lýmarketing. Marketing tập trung vào sự phân tích người tiêu dùng và làm thoảmãn họ, tác động trực tiếp trong kinh doanh sử dụng nguồn tài nguyên để sảnxuất ra những sản phẩm và dịch vụ mà khách hàng đòi hỏi, kích thích đến sựthay đổi của những đặc điểm và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của người tiêu dùng.Dưới góc độ triết lý marketing, thì hoạt động bán hàng được sử dụng để nhằmtiếp cận người tiêu dùng và hiểu biết họ thêm. Thực vậy, vấn đề không hài lòngcủa người tiêu dùng sẽ đưa đến sự thay đổi trong chính sách của công ty từ đómang lại doanh số bán hiệu quả hơn sau khi điều chỉnh. Marketing tìm kiếm những sự khác nhau một cách rõ ràng trong thị hiếungười tiêu dùng và từ đó phát triển hoạt động làm thoả mãn họ. Marketing đượcđịnh hướng cho thời gian dài, và mục tiêu được định ra nhằm làm tác động đếnmục tiêu tổng thể của công ty. Sau cùng, Marketing xem xét nhu cầu người tiêudùng ở phạm vi rộng hơn là phạm vi nhỏ hẹp.Hoạt động bán hàng Sản xuất Bán hàng Tiêu thụMarketing Đánh giá Sự nỗ lực Mục tiêu Sự thỏa nhu cầu Marketing của công ty mãn của của người h ợp thành được thành người tiêu tiêu dùng sản phẩm công dùng Hậu cảm nhận (đánh giá lại) Sơ đồ 3.2 Hoạt động bán hàng và MarketingII. MARKETING HỖN HỢP 1. Khái niệm Marketing hỗn hợp (marketing – mix) là sự phối hợp hay sắp xếp cácthành phần của marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh doanh thực tế 55
    • của mỗi doanh nghiệp nhằm củng cố vững chắc vị trí của doanh nghiệp trênthương trường. Nếu sự phối hợp hoạt động những thành phần marketing đượcnhịp nhàng và đồng bộ thích ứng với tình huống của thị trường đang diễn tiếnthì công cuộc kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trôi chảy, hạn chế sự xuất hiệnnhững khả năng rủi ro và do đó mục tiêu sẽ đạt được là lợi nhuận tối đa. Nhàquản trị tài năng là nhà tổ chức, điều hành phối hợp các thành phần marketingtrong một chiến lược chung đảm bảo thế chủ động với mọi tình huống diễn biếnphức tạp của thị trường. 2. Thành phần của Marketing hỗn hợp (4P) 2.1 Sản phẩm (product): Sản phẩm bao gồm sản phẩm hữu hình và dịch vụ (mang tính chất vôhình). Nội dung nghiên cứu về chính sách sản phẩm trong marketing gồm: - Xác định chủng loại kiểu dáng , tính năng tác dụng của sản phẩm - Các chỉ tiêu chất lượng - Màu sắc sản phẩm, thành phần - Nhãn hiệu sản phẩm - Bao bì sản phẩm - Chu kỳ sống sản phẩm - Sản phẩm mới Thiết kế sản phẩm phải dựa trên cơ sở của những kết luận nghiên cứu thịtrường nhằm bảo đảm cung cấp sản phẩm thoả mãn nhu cầu, thị hiếu và các yêucầu khác xuất hiện trong quá trình lựa chọn sản phẩm cho người tiêu dùng. 2.2 Giá cả (price): Số tiền mà khách hàng phải trả khi mua hang hóahoặc dịch vụ. Nội dung nghiên cứu của chính sách giá trong họat độngmarketing gồm: - Lựa chọn chính sách giá và định giá - Nghiên cứu chi phí sản xuất kinh doanh làm cơ sở cho việc định giá - Nghiên cứu giá cả hang hóa cùng loại trên thị trường - Nghiên cứu cung cầu và thị hiếu khách hang để có quyết định về giá hợplý - Chính sách bù lỗ - Điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trường 2.3 Phân phối (place): Là quá trình đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơitiêu dùng qua hai dạng: Các kênh phân phối và phân phối trực tiếp. Nội dungnghiên cứu về chính sách phân phối trong marketing bao gồm: - Thiết kế và lựa chọn kênh phân phối hàng hóa - Mạng lưới phân phối - Vận chuyển và dự trữ hàng hóa - Tổ chức họat động bán hàng - Các dịch vụ sau khi bán hàng (lắp đặt, bảo hành, cung cấp phụ tùng…) - Trả lương cho nhân viên bán hang - Trưng bày và giới thiệu hàng hóa 56
    • 2.4 Yểm trợ bán hàng (promotion): Là tập hợp những hoạt động mang tính chất thông tin nhằm gây ấn tượng đối với người mua và tạo uy tín đối với doanh nghiệp. Nó được thực hiện thông qua những hình thức như quảng cáo, chào hàng, tổ chức hội chợ, triển lãm, các hình thức khuyến mãi, tuyên truyền, cổ động và mở rộng quan hệ với công chúng.... Những hoạt động yểm trợ phải thích hợp với từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể nhằm hướng vào phục vụ tối đa những mong muốn của khách hàng. Vì vậy, biết chọn lựa những hình thức phương tiện thích hợp cho từng hoạt động yểm trợ, tính toán ngân sách yểm trợ đối với từng mặt hàng có tầm quan trọng đặc biệt trong kinh doanh. Chiến lược 4P được tóm tắt theo sơ đồ 3.3 Marketing hỗn hợp Thị trường mục tiêu Chiến lược sản phẩm Chiến lược phân-Sản phẩm đa dạng phối-Chất lượng -Tạo ra kênh-Thiết kế Chiến lược giá Chiến lược xúc -Bao trùm thị-Đặc điểm cả tiến trợ bán trường-Tên nhãn hiệu -Bảng giá hàng -Phân loại thị-Bao bì đóng gói -Các chiết khấu -Xúc tiến bán trường-Kích cỡ sản phẩm - Mức lương hàng -Xác định vị trí thị-Dịch vụ sản phẩm -Thời kỳ thanh -Quảng cáo trường-Doanh số toán -Nguồn lực bán -Kiểm tra thị trường -Những hình hàng -Vận chuyển hàng thức tín dụng -Hoạt động quan hóa (giao thông) hệ xã hội -Marketing trực tiếp Sơ đồ 3.3 Chiến lược Marketing hỗn hợp 3. Những yếu tố ảnh hưởng đến Marketing hỗn hợp Hoạt động Marketing hỗn hợp trong kinh doanh được biểu hiện khá uyển chuyển và linh hoạt. Thực vậy, trong quá trình vận dụng, cơ cấu của marketing hỗn hợp chịu tác động bởi nhiều nhân tố chi phối mang tính quyết định, những nhân tố ấy bao gồm: 3.1 Uy tín và vị trí của doanh nghiệp trên thị trường: Tâm lý mua hàng của khách hàng thường theo sự tín nhiệm về nhãn hiệu sản phẩm mà họ quen sử dụng. Sự tín nhiệm của khách hàng đối với doanh nghiệp thông qua sản phẩm càng lớn thì uy tín và vị trí của doanh nghiệp trên thị trường càng cao. 57
    • Chẳng hạn, cùng một loại sản phẩm do hai công ty sản xuất ra; sản phẩmcủa công ty A có thể trội hơn, giá cả có phần rẻ hơn so với sản phẩm của công tyB song lại khó bán, vì lẽ từ lâu khách hàng đã quen dùng sản phẩm của công tyB nên sản phẩm của công ty này sản xuất ra dễ dàng chiếm lĩnh thị trường mạnhhơn sản phẩm của công ty A. 3.2 Tình huống của thị trường: Sự hình thành và chuyển hoá từ hình tháithị trường này sang hình thái thị trường khác trong nền kinh tế thị trường đối vớimột loại hàng hoá nào đó sẽ tạo nên những tình huống kinh doanh khác nhau vớinhững ứng phó không giống nhau giữa các nhà kinh doanh. Chẳng hạn, đối vớimột loại sản phẩm ở giai đoạn này nằm trong hình thái thị trường độc quyền,song ở thời kỳ khác có thể nằm trong hình thái thị trường cạnh tranh. Vì vậy ứngvới từng tình huống cụ thể của thị trường, đòi hỏi nhà kinh doanh phải có nhữngđối sách thích hợp để cho sản phẩm của mình tham gia vào thị trường vừa đạtđược lợi nhuận vừa thoả mãn được nhu cầu. 3.3 Vòng đời sản phẩm: Một sản phẩm từ khi xuất hiện trên thị trườngcho đến khi rút khỏi thị trường đều phải trải qua những giai đoạn nhất định. Nộidung hoạt động kinh doanh ở mỗi giai đoạn khác nhau đều không giống nhau.Sự nhận định sai về giai đoạn của vòng đời sản phẩm tất yếu dẫn đến việc xâydựng nội dung hoạt động kinh doanh không đúng và do đó sự thất bại là khôngthể tránh khỏi. 3.4 Tính chất hàng hoá: Căn cứ vào tính chất của mỗi loại hàng hoá mànhà kinh doanh có cách tổ chức những hoạt động kinh doanh thích hợp. Thậtvậy, nếu tổ chức kinh doanh mặt hàng thực phẩm, nhân viên bán hàng khôngcần thiết phải am hiểu kỹ thuật chế biến và mặt hàng được bày bán trong các cửahàng tổng hợp. Ngược lại, nếu kinh doanh mặt hàng điện máy đòi hỏi phải cócửa hàng chuyên dụng và nhân viên giới thiệu mặt hàng phải am hiểu kỹ thuậtvà công nghệ của sản phẩmIII. HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 1. Nhu cầu của người tiêu dùng Người tiêu dùng được đặt ở vị trí trung tâm của họat động marketing. Mộttrong những nguyên tắc quan trọng của sản xuất kinh doanh là phải đáp ứng nhucầu người tiêu dung. Vì vậy, nghiên cứu người tiêu dùng sẽ góp phần thànhcông trong kinh doanh của doanh nghiệp. Nhu cầu tự thể hiện Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu giao tiếp Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh học Sơ đồ 3-4. Tháp nhu cầu của A. Maslow 58
    • Như đã nêu ở trên: Nhu cầu là một cảm giác về sự thiếu hụt một cái gìđó mà con người cảm nhận được. Theo A. Maslow: nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ bậc, từcấp thiết nhất đến ít cấp thiết, tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào cũngđúng như vậy. 2. Động cơ thúc đẩy tiêu dùng Động cơ là trạng thái căng thẳng thúc đẩy cá nhân làm một cái gì đó đểgiảm bớt cảm giác thiếu thốn, tức là có thể làm thỏa mãn một nhu cầu. Lý thuyết động cơ của Freud: những lực lượng tâm lý thực tế định hìnhhành vi của con người phần lớn là vô thức. Theo Freud, con người đã phải kìmnén biết bao nhiêu ham muốn trong quá trình lớn lên và chấp nhận những quytắc xã hội. Những ham muốn này không bao giờ biến mất hoặc bị kiểm soáthoàn toàn. Chúng xuất hiện trong giấc mơ, khi lỡ lời, trong hành vi bộc phát. Lý thuyết động cơ của Herzberg: ông đã xây dựng một lý thuyết "hai yếutố" để phân biệt những nhân tố không hài lòng và nhân tố hài lòng. Động cơ thúc đẩy tiêu dùng chung nhất là do người tiêu dùng có nhu cầucần được thỏa mãn. Động cơ tích cực sẽ thúc đẩy tiêu dùng, còn động cơ tiêucực sẽ là một phanh hãm. 2.1 Động cơ tích cực: H. Joannis phân chia 3 loại động cơ tích cực thúcđẩy tiêu dùng: 2.1.1 Động cơ hưởng thụ: Đó là những thúc đẩy mua hàng để có đượcnhững thú vui, hưởng thụ và tận hưởng. Ví dụ: ăn uống, giải trí, du lịch, vuichơi… 2.1.2 Động cơ vì người khác: Đó là những thúc đẩy mua nhằm làm việctốt, việc thiện hoặc tặng một cái gì đó cho người khác 2.1.3 Động cơ tự thể hiện: Đó là những thúc đẩy mua hàng nhằm muốnthể hiện cho mọi người biết rõ mình là ai. Ví dụ: một số trẻ em hút thuốc lá hoặcuống rượu bia muốn tỏ ra mình cũng là người lớn rồi… 2.2 Phanh hãm Động cơ tiêu cực là những phanh hãm làm cho người tiêu dùng khôngmua hàng tự kìm chế không mua hàng mặc dù có nhu cầu vì nhiều lý do: - Chất lượng sản phẩm dịch vụ kém - Sản phẩm không đẹp, lạc hậu về mốt - Không rõ về chất lượng sản phẩm, dịch vụ - Giá cao là một phanh hãm lớn đối với người tiêu dùng - Phanh hãm vì lý do bệnh lý, sản phẩm, dịch vụ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe - Phanh hãm vì lý do tôn giáo. 3. Hành vi của người tiêu dùng Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng là nhằm giải thích quá trình muahay không mua một loại hàng hóa nào đó. Trên cơ sở nghiên cứu này, doanhnghiệp có thể đề ra chính sách marketing hợp lý trong sản xuất kinh doanh củamình. 3.1 Các yếu tố ảnh hưởng hành vi người tiêu dùng 59
    • Thực tế chỉ ra rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng quyết định của conngười liên quan đến việc mua hàng. Hành vi của người mua hàng không bao giờđơn giản; tuy nhiên việc am hiểu hành vi của người mua hàng lại là một nhiệmvụ vô cùng quan trọng đối với những người làm marketing. Nhiệm vụ của ngườilàm Marketing là hiểu được điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa lúccác tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua. Ta sẽ tập trungvào những đặc điểm của người mua: văn hoá, xã hội, cá nhân và tâm lý ảnhhưởng đến hành vi mua sắm . Hành vi mua sắm của người tiêu dùng được mô tảqua bảng 3.1: Bảng 3.1 Mô hình hành vi của người tiêu dùng Các tác Các tác Đặc Quá trình quyết Quyết định của nhân nhân điểm định của người người mua marketing khác người mua mua- Sản - Kinh tế - Văn - Nhận thức vấn - Lựa chọn sảnphẩm - Công hoá đề phẩm- Giá nghệ - Xã hội - Tìm kiếm thông - Lựa chọn nhãn hiệu- Địa điểm - Chính - Cá tính tin - Lựa chọn đại lý- Cổ động trị -Tâm lý - Đánh giá - Định thời gian mua - Văn hoá - Quyết định - Định số lượng mua - Hành vi mua sắm 3.1.1 Các yếu tố văn hoá Các yếu tố văn hoá có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với hành vi củangười tiêu dùng. Vai trò của nền văn hoá, nhánh văn hoá và giai tầng xã hội nơingười tiêu dùng cần được nghiên cứu vì các yếu tố này là một bộ phận khôngtách rời của môi trường văn hoá. Văn hoá là nguyên nhân căn bản dẫn đến nhucầu và hành vi của một người. Bảng 3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm Văn hoá Nền văn hoá Xã hội Nhóm Cá nhân tham khảo Tuổi và giai đoạn của Tâm lý Nhánh văn chu kỳ sống Động cơ Người hoá Gia đình Nghề nghiệp Nhận thức mua Tầng lớp xã Vai trò và Hoàn cảnh kinh tế Hiểu biết Lối sống Niềm tin và hội địa vị Nhân cách và tự ý thái độ thức . Mỗi nền văn hoá bao gồm các nhóm nhỏ hơn, hay các nhánh văn hoátạo ra sự xã hội hoá và đặc điểm cá nhân rõ nét hơn của các thành viên trong 60
    • nhóm. Có bốn loại nhánh văn hoá lớn nhất là: dân tộc, tôn giáo, chủng tộc vàcác nhóm có xuất xứ từ từ các vùng địa lý nhất định. Tầng lớp xã hội: bao gồmnhững thành viên có chung những giá trị, mối quan tâm và hành vi. 3.1.2 Những yếu tố xã hội Hành vi của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hộinhư các nhóm liên quan, gia đình, vai trò và địa vị xã hội. Những nhóm có ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thái độ và hành vi của một người nào đóđược gọi là nhóm liên quan (nhóm tham khảo). Các thành viên trong gia đình người mua có ảnh hưởng mạnh mẽ đếnhành vi mua sắm của người đó. 3.1.3 Quyết định của người mua còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố đặcđiểm cá nhân bao gồm tuổi tác và giai đoạn của chu trình đời sống, nghề nghiệp,hoàn cảnh kinh tế, phong cách sống, nhân cách và lẽ sống của con người 3.1.3 Những yếu tố tâm lý Sự lựa chọn của người tiêu dùng khi mua sắm còn chịu ảnh hưởng củanhững yếu tố tâm lý. 3.2 Nghiên cứu quá trình quyết định mua sắm Hoạt động marketing cần chú ý đến toàn bộ quá trình mua sắm của kháchhàng chứ không phải chỉ riêng khâu quyết định mua của họ. Những giai đoạncủa quá trình quyết định mua sắm được biểu hiện sơ đồ 3.6Ý thức Tìm kiếm Đánh giá các phương án/giải Quyết định Hành vinhu cầu thông tin pháp mua sắm hậu mãi Sơ đồ 3.6 Mô hình 5 giai đoạn của quá trình mua sắm Sự hiểu biết về nhu cầu của khách hàng và quá trình mua hàng của họ là cơsở đảm bảo cho các hoạt động marketing đạt được thành công. Qua việc phântích quá trình tâm lý của khách hàng từ lúc ý thức nhu cầu, khảo sát thông tin,đánh giá phương án lựa chọn đến khi đi đến quyết định mua sắm và được biếtđến mặt hàng nhà tiếp thị có thể thu lượm được nhiều thông tin để xác địnhchương trình marketing hữu hiệu đáp ứng nhu cầu khách hàng đối với thị trườngmục tiêu của doanh nghiệp.IV. PHÂN KHÚC THỊ TRƯỜNG VÀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG MỤCTIÊU 1. Khái niệm “Thị trường là tập hợp các cá nhân và tổ chức hiện đang có nhu cầu muavà có nhu cầu đòi hỏi cần được thỏa mãn” ( Philip Kotler) Phân khúc thị trường hoặc cắt lát thị trường : là tiến hành phân chia thịtrường thành nhữg bộ phận người tiêu dung theo một số tiêu chuẩn nào đó trêncơ sở những quan điểm khác biệt về nhu cầu, ví dụ phân chia theo lứa tuổi, theogiới tính, theo thu nhập, theo nghề nghiệp, theo nơi cư trú… 61
    • Khúc thị trường là một nhóm người tiêu dùng có phản ứng như nhau đốivới cùng một tập hợp những kích thích của marketing. Thực chất của phân khúc thị trường là tiến hành phân chia thị trườngthành một số đơn vị nhỏ (đoạn hay khúc) khác biệt nhau. Mỗi đoạn thị trường cótính chất đồng nhất. Qua phân khúc thị trường, các doanh nghiệp mới có thể xâydựng chiến lược marketing một cách phù hợp. Phân khúc thị trường là vấn đềsống còn của các doanh nghiệp có sản phẩm cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn tồntại và phát triển cần đa dạng hóa các loại sản phẩm, dịch vụ của mình, đáp ứngcác nhu cầu muôn vẻ của các nhóm khách hàng khác nhau. Thị trường rất đa dạng, có thị trường đơn đoạn, có thị trường đa đoạn.Doanh nghiệp có thể không cần phân khúc thị trường khi các chính sáchmarketing không cần phân biệt đối với các nhóm khách hàng, khi sản phẩm,dịch vụ của doanh nghiệp đáp ứng mọi nhu cầu cho mọi người tiêu dung. Đó lànhững sản phẩm ít có sự phân biệt của các nhóm khách hàng như : bột mỳ,đường, muối, cát và sắt thép xây dựng.. Doanh nghiệp có thể chỉ đưa ra một loại sản phẩm cho một đoạn thịtrường, như sản xuất một loại sữa cho một lứa tuổi; hãng RollsRoyce chỉ sảnxuất loại ô tô cao cấp, sang trọng; hãng Porsche chỉ sản xuất ô tô thể thao… Không phải tất cả các phân đoạn thị trường đều hữu ích như nhau, chẳnghạn như không cần thiết phải phân biệt nam hay nữ khi dùng thuốc kháng sinhhay thuốc trị nhức đầu, nếu cả hai nhóm người tiêu dùng này phản ứng như nhauđối với những kích thích của marketing. Tuy nhiên, những người tiêu dùng lựachọn thuốc tác dụng mạnh nhất không phân biệt giá cả tạo thành một đoạn thịtrường. Đoạn thị trường khác gồm những người quan tâm trướchết đến giá cả.Cần phải vạch rõ ranh giới của tất cả những đoạn thị trường mục tiêu bằng cáchmô tả chúng trên cơ sở những đặc điểm khác nhau vốn có của chúng để đánh giámức độ hấp dẫn của từng đoạn thị trường và đề ra chiến lược marketing phù hợpvới mỗi phân khúc 2. Ưu điểm của phân khúc thị trường - Doanh nghiệp nào tiến hành phân khúc thị trường và nghiên cứu tỷ mỉcác đoạn thị trường sẽ có một vị trí mạnh hơn so với các đối thủ cạnh tranh - Nghiên cứu tỷ mỉ các đoạn thị trường doanh nghiệp sẽ đề ra chiến lượcmarketing đúng đắn. - Các họat động marketing có hiệu quả hơn ở mỗi đoạn thị trường đãđược nghiên cứu sâu sắc. Các doanh nghiệp có thể đồng thời kết hợp nhiều tiêu chuẩn để tiến hànhphân khúc thị trường. 3. Lựa chọn thị trường mục tiêu Thị trường mục tiêu bao gồm một nhóm khách hàng (cá nhân và tổ chức)mà chương trình marketing của người bán hàng hóa nhằm vào. Một doanhnghiệp có thể có một hay nhiều thị trường mục tiêu. Việc lựa chọn các đoạn thị trường mục tiêu cần tính đến các yếu tố sauđây: 62
    • 3.1 Khả năng tài chính của doanh nghiệp: nếu khả năng tài chínhcó hạnthì hợp lý nhất là tập trung vào một đoạn thị trường nào đó (chiến lượcmarketing tập trung). 3.2 Đặc điểm về sản phẩm: doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh tất cả đoạn thịtrường (chiến lược marketing không phân biệt) với những sản phẩm đơn điệunhư trái bưởi hay thép. Đối với mặt hàng có thể khác nhau về kết cấu như: máyảnh, ô tô, xe máy… thì chiến lược marketing tập trung hay còn gọi là chiếnlược marketing có phân biệt là phù hợp hơn. 3.3 Chu kỳ sống sản phẩm Khi doanh nghiệp đưa một sản phẩm mới ra thị trường thì chỉ nên chàobán theo phương án sản phẩm mới, có thể sử dụng chiến lược marketing khôngphân biệt hay marketing tập trung. 3.4 Mức độ đồng nhất của thị trường Nếu người mua đều có thị hiếu như nhau thì họ sẽ mua cùng số lượnghàng hóa trong cùng một khỏang thời gian và phản ứng như nhau đối với nhữngkích thích về marketing thì nên sử dụng chiến lược marketing không phân biệt. 3.5 Những chiến lược marketing của đối thủ cạnh tranh: nếu các đối thủcạnh tranh tiến hành phân đoạn thị trường và có chiến lược marketing phân biệtcho mỗi đoạn thị trường thì việc sử dụng chiến lược marketing không phân biệtcó thể sẽ thất bại. Ngược lại, nếu các đối thủ cạnh tranh sử dụng chiến lượcmarketing không phân biệt thì doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lượcmarketing phân biệt hay chiến lược marketing tập trung.V. CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM 1. Định nghĩa về sản phẩm trong marketing Sản phẩm là tất cả những cái gì có thể đưa ra thị trường để tạo ra sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thoả mãn một chu cầu hay mong muốn. Sản phẩm có thể là những vật thể hữu hình, những dịch vụ mang tính vôhình , những địa điểm (cho thuê địa điểm, thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh),phát minh, sáng chế... Khi tạo ra sản phẩm, các doanh nghiệp cần nhận thức đầy đủ về 3 mức độcủa nó nhằm thoả mãn những mong đợi của người tiêu dùng . 2. Vai trò, vị trí của chiến lược sản phẩm Chiến lược sản phẩm có vị trí cực kỳ quan trọng, là nền tảng, xương sốngcủa 4P, giúp doanh nghiệp xác định phương hướng đầu tư, thiết kế sản phẩmphù hợp thị hiếu, hạn chế rủi ro, thất bại; chỉ đạo thực hiện hiệu quả các P cònlại trong marketing hỗn hợp. 63
    • Sản phẩm hoàn chỉnh Lắp đặt Sản phẩm cụ thể Bao bì Giao Dịch Nhãn Thuộc hàng Lợi ích cơ tính vụ Hiệu bản của sản Sau phẩm khi Kiểu bán dáng Chất lượng Sản phẩm cốt lõi Bảo hành Sơ đồ 3.5 Ba mức độ của sản phẩm 3. Chu kỳ đời sống sản phẩmChu kỳ đời sống (vòng đời) sản phẩm ( trãi qua 4 giai đoạn chủ yếu) Doanh thu Lợi nhuận Thời gian Giới thiệu Phát triển Trưởng thành Suy thoái Sơ đồ 3.6 Sơ đồ chu kỳ đời sống sản phẩm - Giai đoạn 1: Ra đời, Bắt đầu xuất hiện sản phẩm mới trên thị trường,mức tiêu thụ sản phẩm còn thấp, trong khi đó chi phí sản xuất kinh doanh lớn,do vậy lợi nhận có giá trị âm. - Giai đoạn 2: Phát triển, sản phẩm/dịch vụ có mức tiêu thụ tăng nhanh,sản xuất kinh doanh bắt đầu có lãi. - Giai đoạn 3: Trưởng thành, sản lượng tiêu thụ đạt tối đa, lợi nhuận cũngđạt tối đa và bắt đầu giảm dần. - Giai đoạn 4: Suy thoái, mức tiêu thụ giảm nhanh, lợi nhuận giảm. 64
    • Đặc điểm và các chiến lược marketing tương ứng với từng giai đoạn của chu kỳsống sản phẩm được tóm tắt trong bảng 3.3 Bảng 3.3 Đặc điểm và các chiến lược marketingGiai đoạn ĐẶC ĐIỂM CÁC CHIẾN LƯỢC VÀ NỔ LỰC + Doanh thu tăng chậm, + Chuẩn bị vốn cho giai đoạn sau khách hàng chưa biết nhiều + Cũng cố chất lượng sản phẩm đến SP + Có thể dùng chiến lược giá + Lợi nhuận là số âm, thấp thâm nhập hay giá lướt qua thị GIỚI + Sản phẩm mới, tỉ lệ thất trường THIỆU bại khá lớn + Hệ thống phân phối vừa đủ để + Cần có chi phí để hoàn phân phối và giới thiệu sản phẩm thiện sản phẩm và nghiên + Quảng cáo mang tính thông tin, cứu thị trường có trọng điểm: người tiêu dùng, thương lái trung gian + Doanh thu tăng mạnh, lợi + Nhanh chóng xâm nhập mở nhuận tăng khá rộng thị trường + Chi phí và giá thành giảm + Duy trì công dụng chất lượng PHÁT + Thuận lợi để tấn công vào sản phẩm TRIỂN thị trường mới nhằm tăng + Giữ giá hay giảm nhẹ giá thị phần + Mở rộng kênh phân phối mới + Cần chi phí nghiên cứu, + Chú ý các biện pháp kích thích cải tiến tiêu thụ: quảng cáo chiều sâu, tặng phẩm, thưởng, hội chợ triển “CẦN TRANH THỦ KÉO lãm DÀI” + Doanh thu tăng chậm, lợi + Định hình qui mô kinh doanh nhuận giảm dần + Cải tiến biến đổi SP, chủng loại, + Hàng hóa bị ứ đọng ở một bao bì, tăng uy tín, chất lượng sản số kênh phân phối phẩmTRƯỞNG + Cạnh tranh với đối thủ trở + Cố gắng giảm giá thành để cóï THÀNH nên gay gắt thể giảm giá mà không bị lỗ + Cũng cố hệ thống phân phối, “CẦN TRANH THỦ KÉO chuyển vùng tìm thị trường mới DÀI” + Tăng cường quảng cáo nhắc nhở và các biện pháp khuyến mãi để giữ chân khách hàng 65
    • + Doanh thu và lợi nhuận + Chuẩn bị tung SP mới thay thế giảm mạnh, nếu không có + Theo dõi và kiểm tra thường biện pháp tích cực dễ dẫn xuyên hệ thống phân phối, ngừng SUY đến phá sản sản xuất kịp thời, đổi mới “gối THOÁI + Hàng hóa bị tẩy chay, đầu lên nhau” không bán được + Có thể giẫy chết bằng: cải tiến + Đối thủ rút khỏi thị trường SP mô phỏng, hạ giá, tìm thị trường mới để thu hồi vốn 4. Nhãn hiệu – dấu hiệu – thương hiệu sản phẩm 4.1 Nhãn hiệu là tên gọi, ngôn ngữ, chữ viết, biểu tượng, hình ảnh hoặckiểu mẫu đặc biệt hay là sự phối hợp giữa chữ và hình vẽ được ghi nhoặc gắnlên sản phẩm của cá nhân hoặc của một doanh nghiệp giúp phân biệt giữa cácsản phẩm với nhau, phân biệt sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Tên nhãn hiệu (Brand name): là phần đọc lên được của nhãn hiệu như từ,chữ cái, con số, ví dụ: OMO, HALIDA, IBM, … Dấu hiệu (Brand mark): biểu hiện bằng hình tượng, biểu trưng đặc biệt, là bộphận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biết được, nhưng không thể đọc được, vídụ: hình con voi là của bia HALIDA, hình chiếc vôlăng là của hãng ô tôMercedes… Dấu hiệu hàng hóa (Trade mark): gồm 2 phần trên, nhưng được đăng ký độcquyền, bảo vệ quyền riêng của người bán trong việc sử dụng tên nhãn hiệu hoặcbiểu tượng.. Ngoài nhãn hiệu hàng hóa ra, bất cứ một tổ chức kinh tế, một quốc gia nàomuốn tham gia vào thị trường thương mại quốc tế đều phải có mã số, mã vạch. Mã số hàng hóa là một dãy các con số được ghi ở dưới mã vạch dùng đểphân định sản phẩm hàng hóa. Mỗi dãy số như vậy sẽ đặc trưng cho một loạihàng hóa của cơ sở sản xuất và của quốc gia sản xuất loại hàng hóa đó. Mã số sẽtạo thuận lợi cho quản lý trong quá trình vận chuyển, lưu kho, mua, bán. Baogiờ mã số và mã vạch được in trên bao bì thì sản phẩm đó mới được coi là đủtiêu chuẩn để nhập khẩu vào một nước nào đó. Mã vạch là một dãy các vạch đen trắng dùng để thể hiện mã số dưới dạng kýhiệu mà máy quét có thể đọc được, để lưu vào bộ nhớ của hệ thống máy tínhtính hay máy tính tiền một cách nhanh chóng và chính xác. 4.2 Tầm quan trọng của việc dán nhãn - Đối với khách hàng: phân biệt để lựa chọn, tìm hàng chất lượng - Đối với người bán: kiểm soát được thị trường của mình (cơ cấu hàng) - Đối với nhà SX: tăng danh tiếng, chống lại hàng giả kém chất lượng 4.3 Căn cứ để lựa chọn tên nhãn hiệu - Nêu lên được đặc tính, lợi ích, công dụng, tính năng hoạt động. - Theo thuộc tính nổi bật của SP, âm thanh đặc trưng của sản phẩm - Dễ đọc, dễ nhớ, dễ phát âm - Đặc biệt, khác lạ, ấn tượng, dí dỏm 66
    • - Hợp pháp, có khả năng được đăng ký và bảo vệ của pháp luật 4.4 Sản phẩm và thương hiệu Thương hiệu của sản phẩm là nhân tố quyết định để khách hàng quyếtđịnh mua hàng. Một thương hiệu tốt tượng trưng cho một doanh nghiệp hạngnhất, một sản phẩm thượng hạng. Việc định vị thương hiệu trở thành chủ đềchính trong chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thểkinh doanh thương hiệu, chuyển nhượng thương hiệu, xuất khẩu thương hiệu (vídụ: Cà phê Trung nguyên, AQ Silk…). Điều các doanh nghiệp cần lưu ý: “Sảnphẩm là thứ sản xuất ở nhà máy, còn thương hiệu là cái mà khách hàng mua về.Sản phẩm có thể bị đối thủ cạnh tranh làm nhái; thương hiệu thì độc nhất vônhị. Sản phẩm thì nhanh chóng lỗi thời, còn một thương hiệu thành công sẽtồn tại vĩnh viễn”.VI. CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ 1. Tầm quan trọng của giá cả 1.1 Đối với khách hàng : là cơ sở để quyết định mua sản phẩm này haysản phẩm khác, giá cả là đòn bẩy kích thích tiêu dùng. 1.2 Đối với doanh nghiệp: giá cả là vũ khí cạnh tranh trên thị trường,quyết định doanh số và lợi nhuận; gián tiếp thể hiện chất lượng sản phẩm và ảnhhưởng đến chương trình marketing chung. 1.3 Tầm vĩ mô: giá cả là người chỉ đạo hệ thống kinh tế, có ảnh hưởngđến sự phân phối các yếu tố sản xuất; lạm phát, lãi suất ngân hàng 2. Những yếu tố ảnh hưởng đến giá cả Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cả có thể chia thành hai nhóm: yếu tố kiểmsoát được (chủ quan), yếu tố không kiểm soát được (khách quan) Yếu tố chủ quan: - Chi phí liên quan đến sản phẩm: sản xuất, bao bì đóng gói - Chi phí bán hàng, phân phối - Chi phí yểm trợ, xúc tiến bán hàng Yếu tố khách quan - Quan hệ cung cầu trên thị trường - Áp lực cạnh tranh - Chính sách giá can thiệp của chính phủ 3. Mục tiêu định giá Các doanh nghiệp khi định giá đều phải hướng đến việc đạt được mụctiêu nào đó,tùy theo các giai đoạn trong chu kỳ sống sản phẩm, các nguồn lực của doanhnghiệp, vị thế của doanh nghiệp, tính chất cạnh tranh trên thị trường để đưa racác mục tiêu định giá phù hợp. 67
    • Gia tăng khối lượng bán Tăng doanh Thâm nhập thị trường mới số Mục Tối đa hóa lợi nhuận Tăng tiêu lợi định giá nhuận Đạt lợi nhuận mục tiêu Chấp nhận giá cạnh tranh Giữ thế ổn định Cạnh tranh không qua giá cả Sơ đồ 3. 7: Các mục tiêu định giá 4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá 4.1 Nhu cầu về sản phẩm của khách hàng Một sản phẩm được ưa chuộng, hữu ích, trong tình trạng khan hiếmthường các doanh nghiệp có thể đẩy giá lên cao. Khi định giá theo nhu cầu củakhách hàng doanh nghiệp có thể: 4.1.1 Khảo sát giá mong đợi Mức giá mà khách hàng vui lòng chi trả để đổi lấy một sản phẩm hay dịchvụ tương xứng với chi phí họ bỏ ra, thông thường là một khoảng biến động giácó cận trên và dưới và được xác định bằng cách: - Ý kiến thăm dò trực tiếp khách hàng - Quan sát và so sánh với giá của sản phẩm cạnh tranh - Kinh nghiệm thẩm định và ý kiến đánh giá của đại lý phân phối - Đưa sản phẩm đi trực tiếp thử nghiệm để đánh giá 4.1.2 Ước lượng doanh thu ở các mức giá khác nhau Thực chất là tính toán hệ số co giãn cầu theo giá cả, trường hợp: - Cầu co giãn nhiều nên định giá thấp - Co giãn ít nên định giá cao 4.2 Thị phần mục tiêu - Đối với những sản phẩm thông dụng áp dụng giá thấp để thâm nhập,gia tăng thị phần - Đối với những sản phẩm đặc biệt, độc quyền và thị phần hẹp, dễ chiphối: dùng giá cao (giá hớt kem) chắt lọc thị trường, lướt qua thị trường. 4.3 Những phản ứng cạnh tranh 68
    • Doanh nghiệp không chủ động cạnh tranh về giá nhưng sớm muộn gìtrên thị trường cũng xảy ra do sức ép của đối thủ cạnh tranh: xu hướng giảm giáđể tiêu thụ được lượng hàng nhiều hơn, cạnh tranh giành thị phần, lợi nhuận. 4.4 Những yếu tố ảnh hưởng của Marketing hỗn hợp: - Chính sách giá của doanh nghiệp phái luôn được kết hợp với sảnphẩm: “tiền nào của nấy” - Phân phối: cung cấp sản phẩm ở kênh khác nhau: giá bán khác nhau - Chiêu thị: nhiệm vụ và hình thức chiêu thị sẽ quyết định giá bán 5. Phương pháp định giá. Có nhiều phương pháp định giá, trong phạm vi phần này chỉ nêu một sốphương pháp định giá cơ bản: 5.1 Định giá dựa vào chi phí 5.1.1 Định giá cộng thêm vào chi phí (cost plus pricing) G=Z+m Trong đó: G giá bán; Z : chi phí (giá thành) sản phẩm; m có thể tính theo phần trăm của chi phí 5.1.2 Định giá theo phí tổn và lợi nhuận mục tiêu Doanh nghiệp sẽ xác định giá trên cơ sở đảm bảo tỉ suất lợi nhuận mụctiêu trên vốn đầu tư (ROI). Giả sử rằng nhà sản xuất sản phẩm A đã đầu tư 1.000.000 $ vào việc kinhdoanh và muốn định giá sao cho đảm bảo kiếm được ROI bằng 20% tức là200.000 $. Giá theo lợi = Chi phí + Lợi nhuận mong muốn trên vốn ĐT (ROI)nhuận mục tiêu đơn vị Số lượng tiêu thụ ước tính = 16 + (20% x 1.000.000)/ 50.000 = 16 + 4 = 20 Tuy nhiên kết quả này còn tùy thuộc vào số lượng tiêu thụ có đạt đượcnhư mong ước là 50.000 sản phẩm không. Doanh nghiệp căn cứ vào khối lượnghòa vốn để xác định số lượng tiêu thụ ước tính (xem công thức tính điểm hòavốn chương III). Tuy nhiên, cách xác định giá này chưa căn cứ vào yếu tố cạnhtranh và thị hiếu của khách hàng 5.2 Định giá dựa vào nhu cầu người mua Áp dụng phương pháp này doanh nghiệp phải quan tâm đến thị hiếu củakhách hàng, nghiên cứu hành vi tiêu dùng qua khảo sát ý kiến khách hàng vềgiá mong đợi, kết hợp tăng 5.3 Định giá dựa vào cạnh tranh 5.3.1 Định giá đối phó với cạnh tranh 69
    • Phương pháp định giá này chú ý đến giá của đối thủ hiện tại và thời giá để quyết định mức giá cao, bằng hay thấp hơn đối thủ (dẫn đầu, tuân theo, phá giá). Tuy nhiên, phương pháp này chú trọng đến phí tổn hay sức cầu của khách hàng 5.3.2 Định giá đấu thầu ( Cạnh tranh để giành hợp đồng) Ví dụ: Giá bỏ thầu của Lợi nhuận của công Xác suất trúng Lợi nhuận dự công ty ($) ty ($) thầu (%) kiến ($) 9.500 100 81 81 10.000 600 36 216 10.500 1.100 9 99 11.000 1.600 1 16 Bằng phương pháp này, doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận dự kiến như một tiêu chuẩn để định giá trong việc đấu thầu để có được những hợp đồng. VII. CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI 1. Vai trò của phân phối Phân phối là toàn bộ công việc để đưa một sản phẩm/dịch vụ từ nơi sản xuất đến tận tay người tiêu dùng có nhu cầu, bảo đảm về thời gian, số lượng, chủng loại, kiểu dáng, màu sắc, chất lượng… mà người tiêu dùng mong muốn. Phân phối là cầu nối giúp nhà sản xuất cung cấp sản phẩm cho khách hàng: đúng sản phẩm, thời điểm, địa điểm, đúng kênh, luồng hàng. Doanh nghiệp tập trung sản phẩm, tổ chức điều hành vận chuyển tiết kiệm chi phí, hạn chế rủi ro thiệt hại 2. Khái quát về kênh phân phối, hệ thống phân phối của doanh nghiệp Kênh phân phối hàng hóa là tập hợp các tổ chức có trách nhiệm đảm bảo giúp nhà sản xuất đưa sản phẩm của họ đến tay người tiêu dùng hay người sử dụng công nghiệp. Xử lý đơn hàng, thu Tiếp cận người thập chứng từ và lậpmua, thông tin bán hóa đơn Vận chuyển hàng và giao Tồn trữ, lưu kho Chức năng của phân phốiPhân chia và tạo ra các phân cấp mặt Cung cấp tài chính hàng Bán hàng và và thu hồi tiền hàng giúp đỡ bán Sơ đồ 3. 8 Các chức năng của hệ thống kênh phân phối - Một kênh phân phối đầy đủ bao gồm: 70
    • + Nhà sản xuất + Thành viên trung gian tham gia phân phối + Người tiêu dùng - Hệ thống kênh phân phối gồm có: + Người cung cấp và người tiêu dùng cuối cùng + Hệ thống các thành viên trung gian phân phối + Cơ sở vật chất, phương tiện vận chuyển và tồn trữ + Hệ thống thông tin thị trường và các dịch vụ của hoạt động mua bán Các dạng kênh phân phối thông dụng Nhà sản xuất Người tiêu dùng Người tiêu Nhà sản xuất Nhà buôn lẻ dùng Nhà buôn sỉ Người Nhà sản xuất Bán lẻ tiêu dùng Đại lý Sơ đồ 3.9: Sơ đồ kênh phân phối hàng hoá 2.1 Thiết lập hệ thống phân phối Việc xác định mục tiêu phân phối của doanh nghiệp phải được gắn liềnvới mục tiêu kinh doanh. Thiết lập hệ thống phân phối cần căn cứ trên: - Khối lượng và thời gian tiêu thụ hàng hóa cần đạt - Lợi nhuận cho nhà sản xuất và nhà trung gian - Phần thị trường cần chiếm giữ - Chi phí của doanh nghiệp và chiết khấu cho nhà trung gian - Khả năng khai thác kênh sẵn có, kênh khả thi, xây dựng kênh tối ưu. 2.1.1 Phân tích và lựa chọn kênh phân phối 2.1.1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn - Yếu tố thị trường: + Số khách hàng tiềm năng + Mức độ tập trung của thị trường + Qui mô đặt hàng trong từng đợt - Đặc tính của sản phẩm: + Sản phẩm có giá trị lớn hay nhỏ + Sản phẩm lâu bền hay mau hỏng, mau lỗi thời + Sản phẩm cồng kềnh hay gọn nhẹ + Sản phẩm kỹ thuật cao hay đơn giản 71
    • - Ảnh hưởng của nhà trung gian: + Khả năng cung cấp dịch vụ, phương tiện + Lợi ích mang lại từ họ (chia sẽ rủi ro, đương đầu cạnh tranh) + Mức độ cộng tác, quan điểm hợp tác (đồng tình hay không) - Bản thân doanh nghiệp: + Nguồn tài chánh + Kinh nghiệm quản lý + Mức độ kiểm soát, theo dõi và bao quát kênh phân phối + Khả năng cung cấp các dịch vụ sau bán hàng 2.1.1.2 Các tiêu chuẩn để lựa chọn - Tiêu chuẩn kinh tế căn cứ: mức tiêu thụ, chi phí, hao hụt rủi ro - Tiêu chuẩn kiểm soát: dễ theo dõi, kiểm tra chặt chẽ chiến lược chung - Tiêu chuẩn thích nghi: linh hoạt, thay đổi để thích nghi với điều kiệnmới 2.1.2 Chọn lựa nhà trung gian phân phốiCác trung gian phân phối thường bao gồm: buôn sỉ, buôn lẻ, đại lý, môi giới 2.1.2.1 Tuyển chọn các thành viên của kênh Doanh nghiệp cần thu hút các thành viên có khả năng kinh doanh tốt, thểhiện: - Thâm niên, kinh nghiệm, khả năng am hiểu khách hàng - Nguồn vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật - Thành tích tăng trưởng về doanh số và lợi nhuận - Khả năng tổ chức kinh doanh và nghệ thuật bán hàng - Khả năng trả nợ - Danh tiếng và uy tín trong kinh doanh - Pháp nhân kinh doanh và mối quan hệ với công chúng 2.1.2.2 Đánh giá các thành viên của kênh Nhà sản xuất phải định kỳ đánh giá kết quả hoạt động của người trunggian theo một số tiêu chuẩn như: - Mức doanh số đạt được - Mức độ lưu kho trung bình - Thời gian giao hàng cho khách - Cách xử lý hàng hóa thất thoát hoặc hư hỏng - Mức hợp tác trong các chương trình quảng cáo - Các dịch vụ họ phải làm cho khách hàng 2.2 Lựa chọn kênh phân phối hiệu quả Kênh phân phối có hiệu quả phải đảm bảo : - Kênh chuyển tải được đa số lượng hàng hóa - Có tương đối ít thành viên trung gian - Tiết kiệm chi phí marketing - Tỷ lệ thiệt hại rủi ro thấp. 72
    • VIII. CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN BÁN HÀNG (CHIÊU THỊ) 1. Khái niệm và bản chất của chiêu thị 1.1 Chiêu thị : có nghĩa rộng hơn bán hàng, đó là các biện pháp nhằmđẩy mạnh và xúc tiến : - Làm cho hàng hóa tiêu thụ nhanh hơn - Khách hàng thỏa mãn hơn Chiêu thị bao gồm các họat động: quảng cáo, khuyến mãi, chào hàngtrực tiếp cá nhân, tuyên truyền – quan hệ với công chúng. 1.2 Bản chất của chiêu thị: Họat động chiêu thị nhằm truyền nhận thôngtin từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng, tìm các cách phù hợp để thông đạt vàthuyết phục thu hút khách hàng đến với doanh nghiệp thông qua các họat độngquảng cáo, khuyến mãi, tuyên truyền, chào hàng trực tiếp cá nhân. Chiêu thịvừa là khoa học, vừa là nghệ thuật đòi hỏi phái có sáng tạo khéo léo nhằm đạtđược mục tiêu bán hàng với chi phí thấp nhất 2. Tầm quan trọng của hoạt động chiêu thị Họat động chiêu thị giúp tạo điều kiện tốt cho cung cầu gặp nhau qua thôngtin hai chiều: từ doanh nghiệp đến người tiêu dùng và ngược lại từ người tiêudùng đến doanh nghiệp. Trên cơ sở xử lý thông tin về khách hàng, doanh nghiệpcó các họat động nhằm làm cho hàng hóa bán được nhanh hơn, nhiều hơn giúpcủng cố, tạo uy tín và phát triển doanh nghiệp trên thị trường. Trong điều kiện cạnh tranh, thị hiếu người tiêu dùng không ngừng thay đổithay đổi, họat động chiêu thị càng trở nên bức thiết và khó khăn hơn. Chiêu thịcó hiệu quả làm thay đổi vị trí và hình dạng của đường cầu Mã hóa Lực lượng bán hàng Giải mã và các phương tiệnQuảng cáo quảng cáo Sự diễn dịchtrưng bày nhận thức củaSản phẩm Kênh phân phối khách hàng Nguồn Người nhận Nhiễu + Quảng cáo của đối thủ + Sự lầm lẫn của khách Điều hành hàng Phản ứng,marketing với các ứng xử, hànhý tưởng cần thông động của đạt Phản hồi khách hàng Nghiên cứu quảng cáo và báo cáo của lực lượng bán hàng Sơ đồ 3.10 Sơ đồ quá trình thông đạt 73
    • 3. Quá trình thông đạt trong chiêu thị Chiêu thị là một hình thức thông đạt các vấn đề có liên quan đến: sản phẩm,các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông đạt đòi hỏi thểhiện bốn yếu tố chính: - Nội dung thông đạt - Nguồn phát đi thông đạt - Kênh phân phối thông đạt - Người nhận thông đạtNgoài ra quá trình thông đạt phải có hai yếu tố phụ: - Tránh thông tin bị nhiễu - Sự phản hồi thông tin 4. Sự pha trộn trong chiêu thị Sự pha trộn trong chiêu thị là phối hợp bốn thành phần của chiêu thị đểtạo ra thế mạnh tổng hợp và một chương trình chiêu thị hiệu quả. Những nhân tốảnh hưởng đến sự pha trộn chiêu thị: - Nguồn ngân quỹ dành cho chiêu thị: - Bản chất thị trường: + Phạm vi địa lý của thị trường rộng hay hẹp + Loại khách hàng: cá nhân, gia đình hay nhà trung gian + Mức độ tập trung của thị trường: tập trung, phân tán - Bản chất, đặc tính, tính chất của sản phẩm + Hàng tiêu dùng hay hàng kỹ thuật cao + Sản phẩm thuận tiện hay bất tiện khi chào hàng - Giai đoạn khác nhau của chu kỳ đời sống sản phẩm + Giới thiệu: chào hàng, quảng cáo thông tin, trưng bày, triển lãm + Phát triển: quảng cáo thuyết phục mua, khuyến mãi nhà trung gian + Trưởng thành: quảng cáo thúc đẩy nhắc nhở, khuyến mãi mạnh + Suy thoái: cắt giảm dần 5. Quảng cáo 5.1 Khái niệm quảng cáo Quảng cáo là sử dụng không gian và thời gian để truyền tin định trướcvề sản phẩm hay doanh nghiệp cho khách hàng, có thể truyền đạt qua hình ảnh(thị giác), lời nói (thính giác). Quảng cáo là công cụ cạnh tranh đắc lực, rất cầnthiết cho sản phẩm mới gia nhập thị trường. 5.2 Các chức năng cơ bản của quảng cáo - Thu hút sự chú ý của khách hàng - Thuyết phục khách hàng về lợi ích và sự hấp dẫn của sản phẩm - Hướng dẫn tiêu dùng 5.3 Những mục tiêu quảng cáo 74
    • - Giới thiệu sản phẩm, tạo sự chú ý - Gia tăng doanh số của sản phẩm hiện có, mở rộng thêm thị trường mớihay lôi cuốn nhóm khách hàng mới - Củng cố uy tín nhãn hiệu, tạo lòng tin đối với khách hàng, chống lạicạnh tranh Việc quyết định lựa chọn mục tiêu quảng cáo tùy thuộc vào các giai đoạncủa chu kỳ đời sống sản phẩm THÔNG TIN+ Thông báo cho khách hàng biết về một + Mô tả những dịch vụ hiện cósản phẩm mới + Uốn nắn lại những ấn tượng xấu+ Nêu ra những công dụng mới của sản + Giảm bớt nỗi lo sợ của ngườiphẩm mua+ Thông báo cho khách hàng biết sự thay + Tạo dựng hình ảnh của công tyđổi giá+ Giải thích nguyên tắc hoạt động của sảnphẩm THUYẾT PHỤC+ Hình thành sự ưa thích nhãn hiệu + Thuyết phục khách hàng mua+ Khuyến khích chuyển nhãn hiệu mới ngay+ Thay đổi nhận thức của khách hàng về + Thuyết phục người mua tiếpchất lượng của sản phẩm đón người chào hàng NHẮC NHỞ+ Nhắc nhở người mua là sắp tới họ sẽ cần + Lưu giữ trong trí người mua sảnsản phẩm đó phẩm trong thời kỳ trái mùa vụ+ Nhắc nhở người mua nơi có thể mua nó +Giữ mức độ biết đến nó ở mức cao 5.4 Ưu điểm và hạn chế của một số phương tiện quảng cáo: được tóm tắttrong bảng 3.4 Loại Ưu điểm Nhược điểm Tivi - Số người thu nhận đông - Thời gian truyền hình ngắn: - Kết hợp âm thanh, hình ảnh 30s màu sắc, tiểu xảo - Chi phí cao - Tạo cảm giác gây sự chú ý - Khó khăn khi truyền thông tin phức tạp, có nhiều chi tiếtRadio - Chi phí thấp, rất thông dụng - Hạn chế hình ảnh sống động - Lan truyền nhanh, nhiều - Thời gian ngắn, thông đạt người sử dụng, không bị giới đơn giản, thông tin sớm bị hạn về không gian diệt vong - Sử dụng âm thanh, tiết mục - Dễ chán: lưu ý thời điểm 75
    • hài hước thân mật đưa tin, số lần lặp lại, thời gian của một lần quảng cáo không nên quá dài Báo tạp - Số lượng người đọc rộng - Khó chọn đối tượng độc giả chí - Khai thác chữ, hình, màu sắc - Hạn chế âm thanh, hình ảnh - Nội dung được duy trì lâu - Khó chọn vị trí trên trang - Chi phí thấp, dễ thực hiện báo để gây sự chú ý - Được đăng tải và thay đổi - Dễ bị cạnh tranh của quảng nhanh cáo khácThư trực - Đến đúng khách hàng mục - Chi phí khá cao tiếp tiêu - Khách hàng đôi lúc xem đó - Rất linh động, có thể được lưu là sự quấy rầy họ giữ và đo lường hiệu quả - Tác động chậm - Đầy đủ các chi tiết Pano áp - Khai thác tối đa kích cỡ, hình - Chỉ tác động đối với người phích ảnh, màu sắc, vị trí không qua đường, cạnh tranh với gian quảng cáo khác - Tập trung, đập vào mắt khách - Chi phí cao hàng - Bị chỉ trích làm cản trở giao - Quan trọng ở nơi bán hàng thông trật tự hay hội chợ triển lãmPhim ảnh - Quan trọng đối với sản phẩm - Chuẩn bị và tổ chức quảngquảng cáo đặc biệt mang tính chuyên cáo phức tạpchuyên đề dùng cần quảng cáo dài, chi - Số người nhận không lớn tiết - Tốn kém chi phí và công - Sử dụng ở hội chợ, giới thiệu sức doanh nghiệp, sản phẩm mới, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm cồng kềnhQuảng cáo - Quảng cáo bên trong phương - Chi phí khá cao qua tiện: có sức thu hút cao, lập - Dễ bị cạnh tranh của quảng phương lại tốt cáo khác tiện giao - Quảng cáo bên ngoài phương - Dễ nhàm chán thông tiện: tác động rộng rãi đối với mọi người - Thích hợp với các thành phố lớn 6. Khuyến mãi – chiêu hàng – đẩy mạnh tiêu thụ 6.1 Bản chất và chức năng của khuyến mãi Khuyến mãi là hoạt động nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng và kích thích tiêu thụ nhằm làm tăng số lượng hàng bán ra bằng các kính thích, thưởng thêm 6.2 Những quyết định chủ yếu trong khuyến mãi 76
    • - Xác định mục tiêu - Lựa chọn công cụ - Xây dựng chương trình - Thử nghiệm chương trình - Thực hiện và kiểm tra chương trình - Đánh giá kết quả 6.3 Các hình thức khuyến mãi thông dụng - Mẫu hàng - Phiếu mua hàng có giá ưu đãi - Hoàn trả tiền mặt, bớt tiền sau khi mua hàng - Bao gói chung sản phẩm có giá rẻ, bán kèm - Tặng thưởng hàng hóa hay vật phẩm kèm theo gói hàng - Xổ số trúng thưởng, phần thưởng cho khách hàng thường xuyên (theo giátrị mua: thẻ tín dụng mua hàng) - Dùng thử miễn phí, thao diễn - Bảo hành sản phẩm, lắp đặt hướng dẫn sử dụng, dịch vụ hậu mãi - Liên kết khuyến mãi và khuyến mãi chéo (nhiều nhãn hiệu trong công tycùng hợp tác khuyến mãi, trưng bày hàng đẹp hơn; hay dùng một nhãn hiệu đểquảng cáo nhãn hiệu khác không cạnh tranh) - Trưng bày triển lãm và trình diễn tại địa điểm mua để giới thiệu sản phẩm + Công cụ khuyến khích mậu dịch: • Chiết khấu • Cung cấp phương tiện quảng cáo • Thêm hàng hóa, phần thưởng + Công cụ khuyến khích kinh doanh: • Triễn lãm thương mại và hội thảo • Thi bán hàng • Quảng cáo bằng quà tặng 7. Marketing trực tiếp – Chào hàng cá nhân 7.1 Bản chất và tầm quan trọng của chào hàng cá nhân 7.1.1 Bản chất : Chào hàng trực tiếp cá nhân là sự thông đạt riêng lẻ.Hình thức này đòi hỏi tốn nhân lực, nhân viên cần phải có kỹ năng chuyênnghiệp, chi phí và thời gian nhiều. Tuy nhiên, cháo hàng trực tiếp cá nhân rấtthuận lợi và linh hoạt, thuyết phục trực tiếp và hiệu quả 7.2 2. Tầm quan trọng - Tiếp cận đúng đối tượng để thuyết phục, không lãng phí thời gian - Dễ dẫn đến kết quả bán hàng thật sự (tận mắt, kích thích tr.tiếp) - Nắm bắt thông tin, thái độ người tiêu dùng 7.2 Qui trình chào hàng cá nhân - Tìm kiếm, xác định khách hàng mục tiêu - Chuẩn bị: phân công nhân sự, phương tiện, kế hoạch tiến hành 77
    • - Tiếp cận khách hàng: nắm bắt bắt nguyện vọng, ý kiến khách hàng, bánhàng và dịch vụ hỗ trợ 7.3 Các yêu cầu cơ bản của chào hàng cá nhân - Nhân viên bán hàng phải được tập huấn cẩn thận: + Đặc tính sản phẩm + Lợi ích cơ bản của sản phẩm + Cách sử dụng, vận hành - Tập dợt kỹ năng chào hàng + Cách giao tiếp + Cách đặt vấn đề + Cách trả lời, giải quyết tình huống - Cách trình bày món hàng (theo 8 thuộc tính của sản phẩm) 7.4 Những công cụ chào hàng chủ yếu 7.4.1 Marketing bằng Catalog qua bưu điện tiếp cận khách hàng triểnvọng. 7.4.2 Marketing bằng thư trực tiếp: thư chào hàng, tờ bướm quảng cáo,băng ghi âm, ghi hình và cả đĩa mềm quảng cáo, hướng dẫn sử dụng ( thỏa mãncó chọn lọc thị trường mục tiêu 7.4.3 Marketing qua điện thoại: có hệ thống máy quay số tự động, phátthông điệp đã ghi hay chuyển cho tổng đài để giải đáp (có số điện thoại miễn phícho khách hàng đặt mua hàng, làm giảm bớt số nhân viên bán hàng, lập danhsách người mua để theo dõi, phục vụ các khách hàng ở xa) 7.4.4 Marketing đáp ứng trực tiếp trên TV, radio, tạp chí báo chí: có kênhtruyền hình riêng để giới thiệu sản phẩm, bán hàng và dịch vụ cho tất cả các loạisản phẩm. 7.4.5 Mua hàng qua hệ thống điện tử: Videotex mạng máy thu hình có bànphím của khách hàng và ngân hàng dữ liệu của người bán qua cable haycomputer có modem. 7.4.6 Mua hàng bằng máy tự động: “máy đặt hàng cho khách” đặt ở các địađiểm tập trung thuận lợi. (Khách hàng xem giới thiệu trên màn hình, sờ vào mànhình để chọn lựa và cho địa chỉ nơi nhận để giao hàng) 8. Tuyên truyền – Quan hệ với công chúng 8.1 Bản chất của tuyên truyền Công chúng là các nhóm người có quan tâm ảnh hưởng thực tại hay tiềmẩn đến khả năng doanh nghiệp đạt được những mục tiêu của mình. Doanhnghiệp cần làm tốt công tác tuyên truyền và quan hệ để thông đạt và thu phụckhách hàng. Tuyên truyền là các hoạt động để thông tin cho công chúng biết vềnhững ưu điểm của sản phẩm và doanh nghiệp, có tính chất thuyết phục cao vìcác mẫu tin thời sự mang tính khách quan hơn đối với kh 8.2 Các mục tiêu tuyên truyền 78
    • - Tạo ra sự hiểu biết của khách hàng đến sản phẩm và công ty - Tạo dựng sự tín nhiệm - Kích thích lực lượng bán hàng và đại lý - Giảm bớt chi phí chào hàng khuyến mãi 8.3 Các công cụ tuyên truyền chủ yếu: doanh nghiệp có thể sử dụng cáccông cụ tuyền truyền: - Xuất bản phẩm hay các tư liệu truyền thông: báo cáo năm, bài báo, phimtư liệu, bản tin và các tạp chí đăng tải các thông đạt từ công ty - Các sự kiện: hội nghị, họp báo, hội thảo chuyên đề, triển lãm, lễ kỹ niệm,bảo trợ cho các hoạt động văn hóa xã hội - Tin tức mang tính chất tuyên truyền cho công ty một cách khách quan(giám đốc giỏi, công nhân trình độ tay nghề cao, được công nhận tiêu chuẩn chấtlượng trong sản xuất) - Bài nói chuyện trước đám đông, hội nghị khách hàng, nhà phân phối - Hoạt động công ích: ủng hộ giúp đỡ, cứu tế, xây dựng công trình phúc lợicông cộng - Phương tiện nhận dạng để thu hút sự chú ý: logo in trên sách, văn phòngphẩm, bảng hiệu, quần áo đồng phục.CÂU HỎI ÔN TẬP. 1. Khái niệm, vai trò và quá trình phát triển của marketing ? Liên hệ thực tếhọat động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam ? 2. Trình bày nội dung của marketing hỗn hợp (marketing – mix) ? 3. Trình bày nhu cầu và động cơ thúc đẩy tiêu dùng ? 4. Phân tích những hành vi mua sắm của người tiêu dùng ? 5. Trình bày khái niệm, các tiêu chuẩn có thể lựa chọn khi phân khúc thịtrường ? Lựa chọn thị trường mục tiêu? 6. Khái niệm sản phẩm? Chu kỳ sống sản phẩm? Các chiến lược marketingtrong từng giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm ? 7. Những hiểu biết của anh (chị) về vai trò bao bì, nhãn hiệu sản phẩm ? 8. Hãy nêu khái niệm về giá, mục tiêu, các phương pháp định giá? 9. Hãy nêu vai trò và chức năng phân phối hàng hóa? Các kênh phân phốivà lựa chọn kênh phân phối hiệu quả ? 10. Nêu mục tiêu của quảng cáo, đặc điểm chủ yếu của các phương tiệnquảng cáo? Các hình thức khuyến mãi ? Các công cụ tuyên truyền ? 11. Hãy nêu nội dung và đặc điểm của hoạt động mở rộng quan hệ với côngchúng, bán hàng trực tiếp cá nhân ? 79
    • CHƯƠNG IV: QUẢN TRỊ CHI PHÍ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆPNội dung chương này đề cập đến các vấn đề sau: - Các khái niệm kế toán cơ bản, tầm quan trọng của công tác kế toán đối với quản trị doanh nghiệp. - Khái niệm và phân loại chi phí kinh doanh. - Khái niệm, phương pháp tính giá thành sản phẩm - Các phương pháp tính kết quả theo phương pháp quản trị chi phí kinh doanh - Khái niệm và tầm quan trọng của ngân sách, ứng dụng hoạch định ngân sách trong doanh nghiệp.I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM KẾ TOÁN 1. Các hệ thống kế toán trong doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động cũng phải có một lượng vốn nhất định để mua sắm hoặc thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà xưởng, kho tàng, mua sắm và lắp đặt máy móc thiết bị, mua sắm vật tư, hàng hoá... .Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh, các doanh doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn của mình và mong muốn phấn đấu sao cho một đồng vốn bỏ ra, sau một thời gian nhất định sinh lợi được nhiều nhất. Để đạt được mục đích này, một biện pháp không thể thiếu được là doanh nghiệp phải tổ chức ghi chép, theo dõi tình hình sử dụng tiền vốn một cách liên tục tại mọi thời điểm của quá trình kinh doanh và tại tất cả các địa điểm, các bộ phận sản xuất kinh doanh có liên quan, hay nói cách khác, phải tổ chức công tác kế toán. Kế toán doanh nghiệp là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị,hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị nhằm phản ánh và kiểm tra tìnhhình hiện có, tình hình biến động của các loại tài sản, tình hình và kết quả kinh doanh, sử dụngvốn và kinh phí trong doanh nghiệp. Mục đích cơ bản của kế toán là phân tích và giải thích các sự kiện kinh tế phát sinh trongdoanh nghiệp bằng cách quan sát, thu thập và sử lý các thông tin ban đầu để tạo ra thông tin mớicó tính hệ thống, tổng hợp, phản ánh được một các toàn diện tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp. Hoạt động kế toán có chức năng thông tin và kiểm tra. Sử dụng cácthông tin do kế toán cung cấp, các nhà quản trị có căn cứ để nhận thức đúng đắn, khách quan, kịpthời và có hệ thống các hoạt động sản xuất – kinh doanh, đảm bảo lựa chọn được các quyết địnhhợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp. Kế toán không chỉ giới hạn ở việc ghi chéptính toán thuần tuý hay cung cấp thông tin kinh tế, mà còn thể hiện ở sự kiểm tra , kiểm soát đốivới các hoạt động sản xuất – kinh doanh, sử dụng và bảo vệ tài sản trong doanh nghiệp, đảm bảocho các hoạt động trong doanh nghiệp có hiệu quả thiết thực, đúng hướng và đúng pháp luật. Như vậy, qua khái niệm của kế toán ta thấy kế toán là một công việc cần thiết tất yếukhách quan của bất kỳ một đơn vị, tổ chức cơ quan nào có sử dụng vốn, kinh phí độc lập. Kếtoán không chỉ thể hiện vai trò của mình như một công cụ quan trọng, phục vụ cho công tác quảntrị tài chính trong đơn vị kinh tế, mà còn trực tiếp tham gia vào một khâu quan trọng của quátrình quản trị, đó là kiểm tra, giám sát. Thực chất hoạt động quản trị doanh nghiệp là quá trìnhchuẩn bị và ra các quyết định quản trị. Muốn vậy bộ máy quản trị cần có các thông tin kinh tếbên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Chất lượng của các quyết định quản trị doanh nghiệp phụthuộc rất lớn vào số lượng và chất lượng của các thông tin kinh tế mà bộ máy quản trị doanhnghiệp có, lưu trữ cũng như đưa vào sử dụng. Chi phí hoạt động của doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị của nguồn lực mà doanh nghiệpđã tiêu hao trong một thời kỳ nhất định cho các hoạt động của doanh nghiệp trong thời kỳ đó. tuỳtheo mục đích quản trị mà thời kỳ xem xét sẽ thay đổi, nhưng thông lệ chung thì chi phí hoạtđộng của doanh nghiệp thường được đánh giá hàng năm. 80
    • Đối với những người quản lý thì chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi nhuận thuđược nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra. Do đó vấn đề được đặt ralà làm sao kiểm soát được các khoản chi phí. Nhận diện, phân tích các hoạt động sinh ra chi phílà điều mấu chốt để có thể quản lý chi phí, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, thông thường có hai hệ thống kế toán được sử dụng là : kế toántài chính và kế toán quản trị. Hai hệ thống này được thiết lập để đáp ứng những nhu cầu thôngtin cho các đối tượng khác nhau, nhưng có quan hệ với nhau trong hoạt động quản trị doanhnghiệp. Cả hai hệ thống kế toán này đều là nguồn thông tin phục vụ cho quản trị tài chính vàthực hiện các thủ tục theo chế độ quy định. Trong mỗi thời kỳ xem xét, chi phí phát sinh tươngứng với hoạt động của doanh nghiệp là một giá trị cụ thể. Song có những quan điểm tiếp cậnkhác nhau trong việc nhận dạng các chi phí phát sinh. Các quan điểm tiếp cận này hoàn toàn phụthuộc vào mục tiêu của đối tượng tiếp cận mà dẫn tới cách nhìn nhận chi phí không hoàn toàngiống nhau. 1.1 Kế toán tài chính: có tính chất bắt buộc đối với các doanh nghiệp do Nhà nước quyđịnh với những chuẩn mực chung cho mọi doanh nghiệp. Hệ thống này thường được thể hiện bởihệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách và báo cáo do nhà nước ban hành. Đó là lý do để coi hệthống kế toán tài chính là hệ thống “cứng” đối với doanh nghiệp. Đặc điểm cơ bản của hệ thôngkế toán tài chính là chỉ ghi chép các số liệu bằng đơn vị tiền tệ phát sinh vào trong khoảng thờigian đã định . Hệ thống kế toán tài chính,với đặc điểm này, nhằm đáp ứng các nhu cầu thông tin choviệc phân tích, đánh giá trạng thái hiện tại của doanh nghiệp. Khi so sánh thông tin kế toán tàichính giữa các thời kỳ từ hiện tại về trước có thể thấy được những nét lớn trong sự phát triển củadoanh nghiệp thông qua những gì đã đạt được khi sử dụng các nguồn lực đã huy động. Rõ ràng, thông tin kế toán tài chính thiên về phục vụ cho nhu cầu thông tin của cácchủ thể có liên quan ở bên ngoài doanh nghiệp (Nhà nước, ngân hàng, nhà đầu tư, nhà cungcấp...). Còn với nhà quản trị bên trong doanh nghiệp thì thông tin kế toán tài chính chỉ là cần chứchưa đủ, vì đối với họ, “sẽ tiếp tục làm như thế nào” là quan trọng hơn so với “đã làm được gì”,họ cần phải có kế toán quản trị. 1.2 Kế toán quản trị, khác với kế toán tài chính, hệ thống kế toán này là do doanhnghiệp xây dựng theo mục tiêu quản trị của mình. Như vậy, hệ thống kế toán quản trị hình thành do nhu cầu tự nhiên của doanh nghiệpchứ không có tính bắt buộc về mặt pháp luật. Mặt khác, hệ thống kế toán này không hoàn toànđồng nhất giữa các doanh nghiệp vì nó được thiết lập tuỳ thuộc đặc điểm hoạt động và yêu cầuquản lý của doanh nghiệp. Thậm chí, trong một doanh nghiệp, ở những thời kỳ khác nhau cũngcó thể có sự điều chỉnh trong hệ thống kế toán quản trị để đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu quảntrị cũng như đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp ở thời kỳ xem xét. Đó là lý do để coi hệ thốngkế toán quản trị là hệ thống “mềm” đối với doanh nghiệp. Hệ thống kế toán quản trị ghi chép các số liệu bằng cả đơn vị tiền tệ và hiện vật (m,kg, giờ) một cách chi tiết theo quá trình chuyển hoá nguồn lực thành kết quả theo cấu trúchoạt động của doanh nghiệp. Do đặc điểm này mà hệ thống kế toán quản trị cho phép nhà quảntrị trong doanh nghiệp thấy rõ hơn mối quan hệ nhân - quả tương ứng với quyết định đưa ra. Cũng như kế toán tài chính, kế toán quản trị ghi nhận các thông tin về các hoạt độngđã diễn ra. Song , điều quan trọng là từ các thông tin đó, có thể thiết lập các mô hình dự báo vàmô phỏng về hậu quả của các quyết định chuẩn bị đưa ra nhờ cấu trúc nhân - quả được ghi chéprõ ràng bằng hệ thống kế toán quản trị. Khả năng này làm cho thông tin kế toán quản trị trở nêncần thiết cho công tác dự báo và hoạch định tài chính, một trong các nhiệm vụ quản trị tài chính. 81
    • 2.Tài sản trong doanh nghiệp. 2.1 Tài sản cố định (TSCĐ). 2.1.1 Định nghĩa và đặc điểm TSCĐ Định nghĩa: Tài sản cố định là tất cả những tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn, cóthời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên 1 năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh (nếu chu kỳkinh doanh ≥ 1 năm) Trên thực tế, khái niệm TSCĐ bao gồm những tài sản đang sử dụng, chưa được sử dụnghoặc không còn được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh do chúng đang trong quá trìnhhoàn thành (máy móc thiết bị đã mua nhưng chưa hoặc đang lắp đặt, nhà xưởng đang xây dựngchưa hoàn thành...) hoặc do chúng chưa hết giá trị sử dụng nhưng không được sử dụng. Nhữngtài sản thuê tài chính mà doanh nghiệp sẽ sở hữu cũng thuộc về TSCĐ. Đặc điểm của TSCĐ : tuổi thọ có thời gian sử dụng trên năm, tức là TSCĐ sẽ tham giavào nhiều niên độ kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dần vào gíá trị sản phẩm làm rathông qua khoản chi phí khấu hao. Điều này làm giá trị của TSCĐ giảm dần hàng năm. Tuynhiên, không phải mọi tài sản có thời gian sử dụng trên một năm đều được gọi là TSCĐ, thực tếcó những tài sản có tuổi thọ trên một năm nhưng vì giá trị nhỏ nên chúng không được coi làTSCĐ mà được xếp vào tài sản lưu động. Theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính, một tài sảnđược gọi là TSCĐ khi có đặc điểm như đã nêu đồng thời phải có giá trị trên 5 triệu đồng. 2.1.2 Phân loại TSCĐ Tài sản cố định của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản cố định hữu hình: là những TSCĐ có hình thái vật chất, đó là những tư liệu laođộng chủ yếu có doanh nghiệp, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu năm như: nhà xưởng, khotàng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải. Tài sản cố định vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất và thường liênquan đến các khoản chi phí phải phân bổ qua nhiều niên độ kinh doanh (tương tự như khấu hao)đó là: chi phí về đất sử dụng; chi phí thành lập doanh nghiệp; chi phí nghiên cứu phát triển; chiphí mua hoặc thực hiện sáng chế phát minh, bản quyền... . Tài sản cố định thuê tài chính: Là toàn bộ các TSCĐ, thường là hữu hình mà cácdoanh nghiệp sẽ sở hữu khi hết hạn thuê. Đầu tư tài chính dài hạn: Đầu tư tài chính là tiền vốn của doanh nghiệp đầu tư vàokinh doanh ở bên ngoài hoạt động của doanh nghiệp mục đích hưởng lãi hoặc chia sẻ lợi ích vớidoanh nghiệp khác. Đầu tư tài chính có thể là: cổ phiếu; trái phiếu các loại; vốn góp liên doanh;tài sản, đất đai cho thuê ngoài; tiền vốn cho vay v.v... Tài sản cố định dở dang: là các TSCĐ hữu hình hoặc vô hình đang trong quá trìnhhình thành, hiện chưa sử dụng và được xếp vào mục chi phí xây dựng cơ bản dở dang. Ngoài ra, những khoản ký quỹ, ký cược dài hạn mà doanh nghiệp thực hiện cũng đượcxếp vào TSCĐ . 2.1.3 Khấu hao TSCĐ: Khấu hao TSCĐ là một thủ tục kế toán nhằm trích một phần giá trị của TSCĐ để chuyểnvào giá trị sản phẩm làm ra trong một thời kỳ. Phần giá trị của TSCĐ được trích ra gọi là chi phíkhấu hao. Tổng chi phí khấu hao trích ra trong suốt thời gian sống của TSCĐ bằng chính giá trịban đầu (nguyên giá) của TSCĐ. Chi phí khấu hao hàng năm của TSCĐ sẽ được đưa vào quỹkhấu hao TSCĐ. Quỹ này là một thành phần trong tích luỹ của doanh nghiệp và được dùng để táiđầu tư. Do nguyên tắc không bắt buộc của kế toán quản trị nên trong tính khấu hao kinh doanhkhông có sự bắt buộc phải thực hiện khấu hao theo một phương pháp nhất định nào đó như kếtoán tài chính. Tuỳ theo tình hình thực tế từng doanh nghiệp (tình hình sử dụng thiết bị, chiến lược pháttriển kinh doanh từng thời kỳ, sự phát triển của kế toán quản trị trong doanh nghiệp,...), tuỳ theođặc điểm của từng loại máy móc thiết bị khác nhau mà doanh nghiệp có thể lựa chọn và áp dụngcác phương pháp khấu hao thích hợp. 82
    • 2.1.3.1 Phương pháp khấu hao theo dường thẳng Nguyên tắc: Theo phương pháp này số tiền khấu hao hàng năm đồng đều nhauVí dụ: Một hệ thống máy móc thiết bị mua 110 triệu đồng Thời gian sử dụng: 10 năm Giá trị phế thải 10 triệu đồng Nguyên giá – giá trị phế thải 110 - 10Mức khấu hao = = = 10 triệu đồng/năm Thời gian sử dụng 10 Mức khấu hao 10Tỷ lệ khấu hao = x 100 = x 100 = 10% Nguyên giá TSCĐ – Giá trị phế thải 110 - 10 2.1.3.2 Phương pháp tồn số giảm nhân 2: là phương pháp khấu hao gia tốc được tínhtheo tỷ lệ khấu hao cố định trên giá trị thuần của TSCĐ vào cuối năm trước. Theo phương pháp trên, tỷ lệ khấu hao là 10%; theo phương pháp này là 20%. Tỷ lệ nàyđược tính trên tồn số giảm dần của giá trị TSCĐ không trừ giá trị phế thải : Năm 1: Mức khấu hao = 110 triệu x 20% = 22 triệu đồng Năm 2: Mức khấu hao = (110 - 22) x 20% = 17,6 triệu đồng Năm 3: Mức khấu hao = (110 – 22 - 17,6) x 20% = 14,1 triệu đồng. ... 2.1.3.3 Phương pháp bách phân niên số nghịch: Bước 1: Xác định tổng niên số khấu hao : N n: Số năm sử dụng TSCĐ n(n + 1) 10(10 + 1) N = = = 55 2 2 Bước 2: Tính mức khấu hao các năm bằng cách chia các niên số theo chiều nghịch chotổng niên số: 10 Năm thứ 1 : Mức khấu hao = (110 - 10) = 18,2 triệu đồng 55 9 Năm thứ 2: Mức khấu hao = (110 − 10) = 16,4 triệu đồng 55 8 Năm thứ 3 : Mức khấu hao = (110 − 10) = 14,5 triệu đồng 55 ... . 2.1.3.4 Phương pháp khấu hao theo đơn vị sản xuất ( giờ, khối lượng ...). Như vậy, nếu muốn khấu hao nhanh để tránh hao mòn vô hình, các doanh nghiệp có thểtăng giá trị khấu hao trung bình hàng năm sau khi xác định thời gian sử dụng. 2.2 Tài sản lưu động (TSLĐ) 2.2.1 Định nghĩa và đặc điểm Tài sản lưu động của doanh nghiệp là tất cả những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp , có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong 1 năm (nếu chu kỳ kinh doanh ≤1 năm ) hoặc trong vòng một chu kỳ kinh doanh, (nếu chu kỳ kinh doanh > 1 năm) Chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốnvào kinh doanh dưới hình thái tiền tệ lại thu được vốn đó dưới hình thái tiền tệ. Tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh mà chu kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp khác nhau.Đối với doanh nghiệp sản xuất, đó là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ tiền 83
    • mua vật tư, chế biến vật liệu đó thành sản phẩm và bán được sản phẩm đó. Đối với doanh nghiệp thương mại, chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian kể từ khi bỏ tiền mua hàng hoá và đem bán được hàng hoá đó. Tài sản lưu động thay đổi hình thái của nó trong phạm vi một chu kỳ kinh doanh. Như vậy, giá trị của nó sẽ được chuyển toàn bộ, một lần vào sản phẩm làm ra. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ có sự thay đổi hình thái thường xuyên theo một chu kỳ khép kín : Tiền Nguyên vật liệu Bán thành phẩm Sản phẩm Tiền (T – H – T’) TSLĐ của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền tệ, hiện vật (vật tư, hàng hoá),dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu ngắn hạn. 2.2.2 Các thành phần của TSLĐ. Tài sản lưu động của một doanh nghiệp gồm có: - Vốn bằng tiền: Là tài sản biểu hiện trực tiếp dưới hình thức giá trị (tiền đồng Việt Nam,ngân phiếu, ngoại tệ , vàng bạc, đá quý). Phần lớn vốn bằng tiền của doanh nghiệp được gửi ởngân hàng, ngoài ra có một phần tồn tại dưới dạng tiền mặt tại doanh nghiệp, dùng chi trả cáckhoản thường xuyên. Tài sản lưu động TSLĐ trong sản xuất TSLĐ trong lưu thông Tồn kho Tồn kho công Tồn kho Các khoản Tiền và nguyên vật cụ, dụng cụ và thành phẩm, phải thu là các liệu gồm giá trị các sản hàng hoá giá trị khhoản phần đang đi phẩm dở dang gồm phần hàng hoá đầu tư tài trên đường trong quá gửi bán và đã bán chính và phần trình chế tạo phần trong chưa thu ngắn hạn trong kho kho tiền Sơ đồ 4.1:. Các hình thái của TSLĐ - Các khoản phải thu: Là những khoản tiền vốn của doanh nghiệp nhưng do quan hệthanh toán, các đơn vị, cá nhân khác còn giữ chưa trả cho doanh nghiệp (ví dụ: tiền hàng ngườimua còn chịu, tiền tạm ứng chưa thanh toán....) . - Hàng tồn kho: Là loại tài sản được dự trữ cho họat động sãnuất kinh doanh của doanhnghiệp nhằm bảo đảm cho họat động này được thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn, baogồm: nguyên vật liệu, dụng cụ , sản phẩm dở dang tồn kho, thành phẩm. Đối với doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho gồm nguyên liệu dự trữ trong kho chuẩn bịsản xuất, sản phẩm dở dangtrong các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, thnàh phẩm dựtrữ trong kho để chờ bán và cả các tài sản tham gia vào nhiều niên độ kinh doanh nhưng có giátrị nhỏ (công cụ, dụng cụ). Đối với doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho chỉ bao gồm hàng hóa dự trữ trong khonhằm đảm bảo cho khâu bán hàng thường xuyên có đủ số lượng hàng, chủng loại hàng đáp ứngkịp thời nhu cầu khách hàng. - Đầu tư tài chính ngắn hạn: Đầu tư tài chính là sự bỏ vốn vào kinh doanh dưới hìnhthức mua bán chứng khoán, góp vốn liên doanh, cho thuê tài sản, cho vay lấy lãi, mua bán bấtđộng sản… . Đầu tư tài chính ngắn hạn phản ánh giá trị các khoản tiền đầu tư có thời hạn thu hồivốn từ 1 năm trở lại. 84
    • Như đã nêu ở trên, tài sản của doanh nghiệp có nhiều loại, tồn tại ở nhiều dạng cụ thểkhác nhau như: nguyên vật liệu, tiền mặt, sản phẩm dở dang, thành phẩm, các khoản tiền phảithu, nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải v.v… Trên góc độ quản trị tài chính,người ta quan tâm đến thời gian thu hồi vốn đã đầu tư vào các tài sản đang dùng vào sản xuấtkinh doanh, việc chia tài sản của doanh nghiệp làm 2 loại lớn là TSCĐ và TSLĐ để có biện phápquản lý, sử dụng, theo dõi sự biến động tương ứng với từng loại sao cho có hiệu quả. Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Căn cứ vào quyềnsở hữu (hoặc quyền tự chủ) về vốn, người ta phân biệt 2 nguồn chính: Nợ phải trả: là những khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp cótrách nhiệm thanh toán cho các chủ nợ. Nợ phải trả của doanh nghiệp lại chia thành: Nợ ngắn hạn: là những khoản nợ phải trả trong vòng 1 năm (ví dụ như vay ngắn hạn,thuế phải nộp ngân sách, lương phải trả cho công nhân viên…) Nợ dài hạn: là các khoản nợ có thời hạn thanh toán trên 1 năm (ví dụ: vay dài hạn,nhận ký quỹ, ký cược dài hạn…) Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn do các chủ sở hữu đầu tư đóng góp và bổ sung từkết quả kinh doanh. Nguồn vốn này được sử dụng lâu dài trong suốt thời gian hoạt động màdoanh nghiệp không phải cam kết thanh toán cho các chủ sở hữu. Do yêu cầu của quản trị tài chính, cần nắm được tình hình tài sản vừa theo thời gian sửdụng, thu hồi, vừa theo nguồn hình thành của tài sản nên kế toán ghi chép tình hình tài sản củadoanh nghiệp đồng thời theo 2 cách thể hiện trên. Từ đó tồn tại các phương trình sau: Tổng giá trị tài sản = Tổng nguồn hình thành tài sản (1) Tổng giá trị tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu (2) Nguồn vốn chủ sở hữu = Tổng giá trị tài sản - Nợ phải trả (3) Trong đó (1) là phương trình tiền đề, (2) được gọi là phương trình kế toán cơ bản, (3)được gọi là phương trình tài chính. Có thể nói, phương trình kế toán cơ bản quyết định phươngpháp ghi chép của kế toán. Kế toán ghi chép tình hình hiện có, tình hình biến động tài sản củadoanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh sao cho bao giờ cũng bảo đảm phương trình kếtoán cơ bản.I. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ KINH DOANH 1. Khái niệm Quản trị chi phí kinh doanh là công cụ chủ yếu cung cấp các thông tin bên trong cho bộmáy quản trị doanh nghiệp, làm cơ sở cho việc ra quyết định quản trị. Để phân biệt quản trị chiphí kinh doanh doanh nghiệp (Kế toán quản trị) với kế toán tài chính, Haberstockk đã địnhnghĩa: “ Quản trị chi phí kinh doanh là tính toán hướng nội, nó mô tả - về nguyên tắc được thựchiện hàng tháng - đường vận động các nhân tố sản xuất trong quá trình kết hợp chúng và giớihạn ở việc tính toán mọi hao phí nhằm tạo ra và thực hiện các kết quả của doanh nghiệp, đóchính là chi phí kinh doanh.”. Như vậy, về nguyên tắc, quản trị chi phí kinh doanh phục vụ choviệc tập hợp và tính toán các chi phí của kết quả được tạo ra trong kinh doanh. Là một lĩnh vực tính toán độc lập, quản trị chi phí kinh doanh sử dụng các khái niệm,phạm trù riêng của nó. Tuy nhiên, kế toán tài chính và quản trị chi phí kinh doanh lại là 2 bộphận của cùng một lĩnh vực tính toán trong doanh nghiệp; trong đó quản trị chi phí kinh doanhsử dụng tài liệu cơ sở của kế toán tài chính nên việc phân biệt các khái niệm giữa chúng là hoàntoàn cần thiết: Thứ nhất: Khái niệm chi phí. Trong từ điển kinh tế, người ta đã định nghĩa: “mọi sự tiêu phítính bằng tiền của một doanh nghiệp được gọi là chi phí”1 hay còn có thể khái niệm rõ ràng hơn,chẳng hạn như: “ chi phí là một khái niệm của kế toán, có chi phí giới hạn trong xí nghiệp, gắnvới các mục tiêu của xí nghiệp và chi phí ngoài xí nghiệp, có cơ sở ở các hoạt động khác hoặc1 Kuhn,M: Từ điển kinh tế phổ thông, Hamburg 1990, cột 56 85
    • các nguyên nhân khác”2. Như thế, chi phí là một khái niệm mang tính khái quát cao trong quátrình phát triển của kế toán doanh nghiệp, khái niệm chi phí đã được phát triển thành các kháiniệm cụ thể là chi phí kinh doanh và chi phí tài chính. Thứ hai: khái niệm chi phí kinh doanh, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, có thể địnhnghĩa chi phí kinh doanh như sau: “chi phí kinh doanh là sự tiêu phí giá trị cần thiết có tính chấtxí nghiệp về vật phẩm và dịch vụ để sản xuất ra sản phẩm của xí nghiệp”3 . Khái niệm chi phí kinh doanh chỉ ra 3 đặc trưng có tính chất bắt buộc sau đây: • Chi phí kinh doanh phải là sự hao phí vật phẩm và dịch vụ • Sự hao phí vật phẩm và dịch vụ phải liên quan đến kết quả, điều này có nghĩa làkhông phải mọi sự hao phí vật phẩm đều là đối tượng của tính chi phí kinh doanh, mà chỉ nhữnghao phí nào liên quan đến mục tiêu tạo ra và thực hiện kết quả hoặc duy trì năng lực sản xuất cầnthiết của doanh nghiệp mới nằm trong khái niệm chi phí kinh doanh. • Những hao phí vật phẩm liên quan đến kết quả của doanh nghiệp phải được đánhgiá, nghĩa là phải được đo bằng đơn vị tiền tệ. Thứ ba: Phân biệt chi phí kinh doanh với các khái niệm chi ra và chi phí tài chính, vì quản trịchi phí kinh doanh được xây dựng trên cơ sở sử dụng số liệu của kế toán tài chính nên chi phíkinh doanh có quan hệ chặt chẽ với hai khái niệm khác của cùng một phạm trù chi phí là chi ra(chi trả) và chi phí tài chính. Chi ra là “mọi khoản tiền đã trả của xí nghiệp”4. Theo khái niệm này, chi ra là sự giảm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tăng tổn thất dưới các dạng nợ, vay ngắn hạn, giảm nợ của người khác. Chi ra là một khái niệm hoàn toàn mang bản chất tài chính, nó mô tả hành động “phải bỏ tiền ra” dưới mọi hình thức nhằm một mục đích nào đó. Chi phí tài chính bao gồm những hao phí vật phẩm theo thực tế và quy định liên quan đến việc tạo ra kết qủa của một thời kỳ, nói cách khác “chi phí tài chính của một thời kỳ xác định là sự chi ra gắn với kết quả của thòi kỳ đó. Nó là sự hao phí hoặc tiêu phí giá trị của một thời kỳ tính toán nhất định được tập hợp ở kế toán tài chính và có mặt trong tính lãi lỗ cuối năm. 2. Phân loại chi phí kinh doanh Tính chi phí kinh doanh theo loại là bước đầu tiên của quản trị chi phí kinh doanh, ở bước này người ta tập hợp và phân loại các chi phí kinh doanh đã được chi ra trong kỳ tính toán. Tính chi phí kinh doanh theo loại trả lời câu hỏi: chi phí kinh doanh nào đã được chi ra và được chi ra bao nhiêu ? Tính chi phí kinh doanh theo loại có nhiệm vụ tập hợp và phản ánh một cách thườngxuyên và rõ ràng toàn bộ chi phí kinh doanh (được phân theo loại chi phí) đã được chi ra để sảnxuất và thực hiện các kết quả trong một thời kỳ ở doanh nghiệp. Tính chi phí kinh doanh theoloại không phải chỉ cung cấp số liệu chi phí kinh doanh cho các bước tính chi phí kinh doanh tiếptheo, mà bản thân nó cũng hoàn thành các mục tiêu tính toán riêng của mình, đặc biệt là đối vớikhông ít các doanh nghiệp nhỏ và vừa, khi ở đó người ta chỉ có thể tính và cung cấp thông tin vềtính chi phí kinh doanh theo loại mà thôi. Chi phí kinh doanh theo loại là tập hợp mọi chi phí kinh doanh có chung một đặc tínhnhất định: “một loại chi phí kinh doanh cá biệt mô tả và tập hợp lượng hao phí giá trị xuất hiệnxác định cho một dạng yếu tố sản xuất nhất định (cho loại dịch vụ và vật phẩm nhất định) 5 Sự phân chia loại chi phí kinh doanh luôn phụ thuộc vào hình thức và mục tiêu của cảhệ thống tính toán của doanh nghiệp. Đương nhiên, sự phân chia này không thể không chú ýđến tính thống nhất giữa quản trị chi phí kinh doanh và kế toán tài chính.2 . Những lời khuyên về tính chi phí kinh doanh và kết quả , xuất bản lần thứ 2. Koln Bergisch Gladbach 988,trang 25.3 . Chi phí kinh doanh và tính chi phí kinh doanh. Tập 1. Wanter de Gruyter – Berlin – New York , 1973, trang 64 Mellerowicz.K. Chi phí kinh doanh. Tập 1, sách đã dẫn, trang 65 Tính chi phí kinh doanh. Hummel. S. và Mannel. W. Wiesbaden 1993, trang 392. 86
    • Toàn bộ chi phí kinh doanh của một thời kỳ được phân loại theo các tiêu thức khácnhau. 2.1 Theo yếu tố chi phí ( nội dung kinh tế của chi phí ) bao gồm: - Chi phí nguyên vật liệu là toàn bộ các chi phí phát sinh để mua sắm các đối tượng laođộng cần thiết cho họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ xem xét. - Chi phí nhân công là các chi phí liên quan đến nguồn lực lao động mà doanh nghiệpsử dụng trong kỳ xem xét bao gồm lương và các khoản kèm theo lương (thưởng, bảo hiểm…) - Chi phí khấu hao TSCĐ là khoản chi phí liên quan đến việc sử dụng các TSCĐ củadoanh nghiệp trong kỳ xem xét. Khoản này được khấu trừ khỏi thu nhập của doanh nghiệp trướckhi tính thuế thu nhập, nhưng là khỏan chi phí “ảo”. Lý do là khoản này không phải là khoảnthực chi của doanh nghiệp và được xem như một thành phần tạo ra tích lũy cho doanh nghiệp. - Chi phí dịch vụ mua ngoài bao gồm các khoản thnah toán cho các yếu tố mua ngoàimà doanh nghiệp thực hiện như : chi phí nhiên liệu, năng lượng, thuê ngoài sửa chữa, kiểmtoán… - Chi phí bằng tiền khác bao gồm các khoản thuế, lệ phí phải nộp, chi phí họat động tàichính, họat động bất thường… Chi phí kinh doanh không trùng với chi phí tài chính bao gồm: Chi phí khấu hao kinh doanh hay khấu hao quản trị . Khấu hao quản trị hoàntoàn khác về bản chất với khấu hao tài chính (như đã nêu trong phần phương pháp khấu hao) Tiền trả lãi vốn kinh doanh bao gồm cả tiền trả lãi cho vốn tự có và vốn đi vay Chi phí rủi ro, tổn thất trong kinh doanh Tiền thuê mượn tài sản Tiền công của chủ doanh nghiệp nhỏ - Chi phí dịch vụ thuê ngoài và các khoản phải nộp. Việc phân loại chi phí kinh doanh theo tiêu thức này làm cơ sở cho việc theo dõi và tậphợp các chi phí và hình thành bước tính chi phí kinh doanh theo loại. 2.2 Theo khoản mục (công dụng kinh tế và địa điểm) bao gồm: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm những loại nguyên liệu, vật liệu chính tạo rathực thể của sản phẩm: sắt thép, gỗ, vải...được xác định thông qua phiếu xuất kho nguyên liệu.Chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp được tính thẳng vào chi phí sản xuất sản phẩm, ngoài ratrong quá trình sản xuất còn phát sinh những loại nguyên liệu có tác dụng phụ thuộc, nó kết hợpnguyên vật liệu chính để sản xuất ra sản phẩm hoặc làm tăng chất lượng của sản phẩm, hoặc tạora màu sắc, mùi vị hoặc rút ngắn chu kỳ sản xuất của sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các chi phí cho lao động trực tiếp tham gia vàoquá trình tạo ra sản phẩm như chi phí về tiền lương, các khoản tính theo lương được tính thẳngvào sản phẩm sản xuất ra. - Chi phí sản xuất chung là tất cả những khoản mục chi phí phát sinh tại nơi sản xuất hayphân xưởng mà không phải là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí tiền lương trực tiếpđược xem là chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí nguyên liệu gián tiếp, khấu hao tài sản cốđịnh (TSCĐ), sửa chữa, bảo trì, quản lý tại phân xưởng...Trên giác độ toàn doanh nghiệp cũngphát sinh những khoản chi phí tương tự gắn liền với quá trình quản lý và tiêu thụ, nhưng khôngđược kể là một phần của chi phí sản xuất chung. Chi phí sản xuất chung (CPSXC) có ba đặcđiểm sau: Bao gồm nhiều khoản mục chi phí khác nhau nên chúng được nhiều bộphận khác nhau quản lý, và rất khó kiểm soát. Có tính chất gián tiếp với từng đơn vị sản phẩm nên không thể tínhthẳng vào sản phẩm hay dịch vụ cung cấp. 87
    • Cơ cấu CPSXC bao gồm cả định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp, trongđó định phí thường chiếm tỷ trọng cao nhất. Chi phí sản xuất (Chi phí sản phẩm ) Chi phí tiền lương Chi phí sản xuất Chi phí nguyên liệu trực tiếp chung trực tiếp Chi phí ban đầu Chi phí biến đổi Chi phí ngoài sản xuất (Chi phí thời kỳ) Chi phí bán hàng Chi phí quản lý Sơ đồ 4.2 Sơ đồ tổng quan phân loại chi phí trong quá trình sản xuất Chi phí bán hàng gồm lương của nhân viên bán hàng, chi phí marketing, khấu haoTSCĐ dùng trong bán hàng (cửa hàng, phương tiện vận tải…) và các yếu tố mua ngoài liênquan. Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm lương của cán bộ, nhân viên quản lý doanh nghiệp,khấu hao TSCĐ dùng trong quản lý (văn phòng, máy tính… )và các yếu tố mua ngoài liên quan,v.v… Tổng các khoản mục từ ℵ đến ℜ ứng với số sản phẩm đã hoàn thành và nhập kho (tiêuthụ) được gọi là giá thành sản xuất. Giá thành sản xuất của số sản phẩm đã bán đựoc gọi là giávốn hàng bán. Còn các khoản mục ℘ và ⊗ được gọi là chi phí thời kỳ hay chi phí giai đoạn, sựphân biệt này liên quan dến quá trình hạch toán chi phí và xác định kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp trong thời kỳ xem xét. 2.3 Phân theo nguồn chi phí phát sinh : Chi phí ban đầu, chi phí chuyển đổi - Chi phí nguyên liệu trực tiếp kết hợp với chi phí tiền lương trực tiếp được gọi là chi phíban đầu. Chi phí này có tác dụng phản ánh mức chi phí đầu tiên, chủ yếu của sản phẩm, đồngthời phản ánh mức chi phí riêng biệt, cụ thể từng đơn vị sản phẩm mà ta nhận diện ngay trongtiến trình sản xuất, và là cơ sở lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu cần thiết nếu muốn sản xuấtsản phẩm đó. - Chi phí tiền lương trực tiếp kết hợp với chi phí sản xuất chung được gọi là chi phíchuyển đổi. Chi phí này có tác dụng phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu từdạng thô sang dạng thành phẩm, và là cơ sở để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết để chếbiến một lượng nguyên liệu nhất định thành thành phẩm. 2.4 Ngoài ra , người ta có thể phân loại : chi phí kinh doanh trực tiếp, chi phí kinhdoanh gián tiếp dựa theo hình thức tính chi phí vào kết quả. 88
    • Chi phí trực tiếp là chi phí tự bản thân nó được chuyển vào một bộ phận do có mối quan hệ thực sự chặt chẽ giữa chi phí đó và bộ phận làm phát sinh ra nó hay nói cách khác, chi phí trực tiếp là những chi phí phát sinh một cách riêng biệt cho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp (một sản phẩm, một dịch vụ) : chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp...Khi bộ phận bị mất đi thì chi phí trực tiếp không tồn tại và ngược lại. Các chi phí này có thể tính thẳng vào giá thành một cách trực tiếp mà không ảnh hưởng đến việc sản xuất các sản phẩm khác. Chi phí gián tiếp: là chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặcdịch vụ, phải qua quá trình phân bổ mới trở thành chi phí của một bộ phận: phí sản xuất chung.Mối quan hệ giữa một yếu tố chi phí gián tiếp và bộ phận sử dụng nó được hình thành thông quamột mối quan hệ trung gian khác. Các chi phí gián tiếp không phát sinh và mất đi cùng với sựphát sinh và mất đi của một hoạt động sản xuất – kinh doanh cụ thể (ví dụ: chi phí khấu hao tàisản cố định, chi phí quản trị doanh nghiệp...).. 2.5 Với mục đích chú ý đến sự thay đổi của chi phí kinh doanh trong mối liênquan đến sự thay đổi của sản lượng, người ta chia toàn bộ chi phí kinh doanh thành chi phíkinh doanh cố định (bất biến), chi phí kinh doanh biến đổi (khả biến). Các chi phí không thay đổi theo sản lượng sản xuất và tiêu thụ doanh của doanh nghiệpgọi là chi phí cố định (định phí) Các chi phí thay đổi theo sản lượng sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp gọi là chi phíbiến đổi ( biến phí) Điều cần nhớ là chi phí phát sinh trong một thời kỳ hoạt động của doanh nghiệp là mộtgiá trị duy nhất. Các cách tiếp cận khác nhau sẽ cho các loại chi phí khác nhau, nhưng tổng sốcác loại chi phí theo mỗi cách phân loại thì như nhau và bằng với chi phí phát sinh trong thời kỳ.III. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM/DỊCH VỤ 1. Khái niệm Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản hao phí vật chất được tính bằng tiền mà doanhnghiệp đã bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, có đặc điểm là luôn vận động mangtính đa đạng và phức tạp gắn liền với tính đa dạng, phức tạp của ngành nghề sản xuất, qui trìnhsản xuất. Giá thành sản phẩm/dịch vụ là toàn bộ những chi phí tính bằng tiền để sản xuất và tiêuthụ một khối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Hay nói cách khác, giá thành sản phẩmdịch vụ là hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cho một đơn vị khối lượng sản phẩmhoặc lao vụ nhất định biểu hiện bằng tiền. Có thể nói giá thành là một chỉ tiêu phản ánh toàn diện chất lượng họat động của doanhnghiệp bao gồm các mặt: trình độ công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản trị v. v… 2. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt có những mặt khác nhau: Thứ nhất: Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ đã phát sinh ra chúng, còn giáthành sản phẩm lại gắn liền với một khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Thứ hai: Chi phí phát sinh trong doanh nghiệp được phân thành các yếu tố chi phí, cócùng một nội dung kinh tế, chúng không nói rõ địa điểm và mục đích bỏ ra chi phí. Còn nhữngchi phí nào phát sinh nói rõ địa điểm và mục đích bỏ ra chi phí đó thì chúng được tập hợp lạithành các khoản mục để tính toán giá thành sản phẩm, dịch vụ. Thứ ba: Chi phí sản xuất trong kỳ bao gồm cả những chi phí đã trả trước của kỳ nhưngchưa phân bổ cho kỳ này và những chi phí phải trả kỳ trước, nhưng kỳ này mới phát sinh thựctế, nhưng không bao gồm chi phí phải trả kỳ này nhưng thcj tế chưa phát sinh. Ngược lại giáthành sản phẩm lại chỉ liên quan đến chi phí phải trả trong kỳ và chi phí trả trước được phân bổtrong kỳ. Thứ tư: Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoànthành mà còn liên quan đến cả sản phẩm còn đang dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Còn giá 89
    • thành sản phẩm không liên quan đến chí phí sản xuất sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩmhỏng, nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang. Tuy nhiên, giữa hai khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệrất mật thiết với nhau, vì nội dung cơ bản của chúng đều biểu hiện những chi phí doanh nghiệpđã bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thànhsản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành. Sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất kinh doanh có ảnhhưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm/dịch vụ. Vì vậy, quản trị giá thành phải gắn liền vớiquản trị chi phí sản xuất kinh doanh. 3. Các loại giá thành sản phẩm/dịch vụ Để phục vụ công tác quản trị, đáp ứng các yêu cầu về công tác kế hoạch và xây dựng giá cảsản phẩm và hạch toán kinh tế, trong các doanh nghiệp đã hình thành các loại giá thành sảnphẩm khác nhau 3.1 Giá thành sản xuất: bao gồm : h Chi phí nguyên liệu trực tiếp h Chi phí nhân công trực tiếp h Chi phí sản xuất chung, tính cho những sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản xuất được sử dụng ghi sổ cho sản phẩm đã hoàn thành, nhập kho hoặc giaocho khách hàng. Giá thành sản xuất của sản phẩm cũng là căn cứ để tính toán giá trị hàng tồnkho, giá vốn hàng bán và lãi gộp ở doanh nghiệp sản xuất. 3.2 Giá thành phân xưởng, giá thành công xưởng và giá thành toàn bộ Giá thành phân xưởng là tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp vàchi phí sản xuất chung. Đó cũng chính là giá thành sản xuất. Giá thành công xưởng là giá thành phân xưởng cộng với chi phí quản lý doanh nghiệp. Giá thành toàn bộ bao gồm giá thành công xưởng và chi phí tiêu thụ sản phẩm. 3.3 Giá thành kế hoạch và giá thành thực tế Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch vàsản lượng kế hoạch. Việc tính toán giá thành kế hoạch được doanh nghiệp tiến hành xác địnhtrước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành sản phẩm kế hoạch là mục tiêuphấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh , phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kếhoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của sản phẩm so sánh được. Giá thành thực tế là giá sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đãphát sinh và tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất ra trong kỳ. Giáthành sản phẩm thực tế chỉ có thể tính toán được sau khi đã kết thúc quá trình sản xuất, chế tạosản phẩm. 3.4 Giá thành định mức Giá thành định mức là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiệnhành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm. Việc tính toán giá thành định mức cũng được thựchiện trước khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo ra sản phẩm. Hệ thống tính giá thành theo định mức là hệ thống sử dụng các định mức cho chi phí vàhệ thống này sẽ cho phép chúng ta kiểm soát chi tiết các biến động. Sử dụng các chi phí định mức sẽ cho chúng ta biết kết quả hoạt động sẽ đạt được như thếnào trong những hoàn cảnh nhất định. Từ đó, ta có thể xác định được những biến động và kiểmsoát được hiệu quả hoạt động thực tế. Giá thành định mức là công cụ quản lý các định mức của doanh nghiệp, là thước đo chínhxác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất, giúp đánh giá đúng đắncác giải pháp kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình họat động nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tính giá thành theo định mức : - Giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế thực sự do đã suy tính từ trước các loạinguyên vật liệu hoặc phương pháp sản xuất tối ưu. 90
    • - Giúp doanh nghiệp chỉ tập trung vào những các biến động nào vượt quá một phạm vinào đó thay vì phải tập trung vào nghiên cứu tất cả các biến động, dù là nhỏ. 3.5 Giá thành đơn vị và tổng giá thành sản lượng hàng hóa. Giá thành đơn vị là giá thành tính cho một loại sản phẩm nhất định, theo một đơn vị nhấtđịnh. Giá thành đơn vị sản phẩm dùng để so sánh đối chiếu giữa giá thành của doanh nghiệp vớigiá thành sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác, hoặc đối chiếu giữa kỳ kế hoạch với kỳbáo cáo. Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc hạ giáthành sản phẩm. Tổng giá thành sản lượng hàng hóa là toàn bộ những chi phí bỏ ra để tiến hành sản xuất,tiêu thụ sản phẩm tính cho toàn bộ sản lượng hàng hóa sản xuất kinh doanh trong kỳ. Giá thànhtoàn bộ sản lượng hàng hóa cho biết toàn bộ chi phí bỏ ra trong kỳ và tỷ trọng của từng loại chiphí, có căn cứ để phân tích, tìm ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm. 4. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là xác định giới hạn về mặt phạm vi mà chiphí cần được tập hợp để phục vụ cho việc kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm. Tùytheo đặc điểm về tổ chức sản xuất, về quy trình sản xuất cũng như đặc điểm sản xuất sản phẩmmà đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là: - Loại sản phẩm - Nhóm sản phẩm - Đơn đặt hàng - Giai đoạn sản xuất - Phân xưởng sản xuất Xác định đối tượng tính giá thành là xác định đối tượng mà hao phí vật chất được doanhnghiệp bỏ ra để sản xuất đã được kết tinh trong đó nhằm định lượng hao phí cần được bù đắpcũng như tính toán được kết quả kinh doanh. Tùy theo địa điểm sản xuất sản phẩm mà đối tượngtính giá thành có thể là: - Chi tiết sản phẩm - Bán thành phẩm - Sản phẩm hoàn thành - Đơn đặt hàng - Hạng mục công trình. 5. Xác định phương pháp hạch toán chi phí sản xuất phát sinh vào đối tượng hạchtoán chi phí sản xuất hoặc đối tượng tính giá thành. 5.1 Đối với chi phí nguyên vât liệu Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm tất cả chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệuphụ, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm. Nguyên vật liệu chính sửdụng để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm nhưng không thể xác định trực tiếp mức tiêu hao thực tếcho từng loại sản phẩm ( hoặc đối tượng chịu chi phí ) thì kế toán phải tiến hành phân bổ theotiêu thức phù hợp. Các tiêu thức có thể sử dụng :định mức tiêu hao cho từng loại sản phẩm, hệ sốphân bổ được quy định, tỉ lệ với trọng lượng sản phẩm được sản xuất. . . Mức phân bổ chi phí về nguyên vật liệu chính dùng cho từng loại sản phẩm được xácđịnh theo công thức tổng quát sau: Tổng trị giá nguyên vật liệu Mức phân bổ chi chính thực tế xuất sử dụng phí nguyên vật Khối lượng của các đối liệu chính cho = * tượng được xác định theo từng đối tượng một tiêu thức nhất định Tổng số khối lượng của các đối tượng được xác định theo một tiêu thức nhất định 91
    • Vật liệu phụ và nhiên liệu sử dụng cũng có thể liên quan đến nhiều đối tượng chịu chiphí và không thể xác định trực tiếp mức sử dụng cho từng đối tượng. Để phân bổ chi phí vật liệuphụ và nhiên liệu cho từng đối tượng cũng có thể sử dụng các tiêu thức: định mức tiêu hao, tỷ lệhoặc tỷ trọng vật liêu chính sử dụng, tỷ lệ với giờ máy hoạt động. Mức phân bổ cũng tính theocông thức tổng quát trên. 5.2 Đối với chi phí nhân công trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tất cả các khoản chi phí liên quan đến bộ phận laođộng trực tiếp sản xuất sản phẩm như: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản tríchvề bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) tính vào chi phí theo quy định. Chi phí nhân công trực tiếp, chủ yếu là tiền lương công nhân trực tiếp, được hạch toántrực tiếp vào từng đối tượng chịu chi phí. Tuy nhiên, nếu tiền lương công nhân trực tiếp liênquan đến nhiều đối tượng chịu chi phí và không xác định một cách trực tiếp cho từng đối tượngthì phải tiến hành phân bổ theo những tiêu thức phù hợp. Các tiêu thức phân bổ bao gồm : địnhmức tiền lương của các đối tượng , hệ số phân bổ được quy định, số giờ hoặc ngày công tiêuchuẩn. . .Trên cơ sở tiền lương được phân bổ sẽ tiến hành trích bảo hiểm xã hội (BHXH), bảohiểm y tế (BHYT) theo tỷ lệ quy định để tính vào chi phí. 5.3 Đối với chi phí sản xuất chung Chi phí sản xuất chung được tập hợp theo từng phân xưởng sản xuất hoặc bộ phận sản xuấtkinh doanh. Việc tập hợp được thực hiện hàng tháng và cuối mỗi tháng mà tiến hành phân bổ vàkết chuyển vào đối tượng hạch toán chi phí. - Nếu phân xưởng chỉ sản xuất ra một loại sản phẩm duy nhất thì toàn bộ chi phí chungphát sinh ở phân xưởng được kết chuyển toàn bộ vào chi phí sản xuất sản phẩm. - Nếu phân xưởng sản xuất ra hai loại sản phẩm trở lên và tổ chức theo dõi riêng chi phísản xuất cho từng loại sản phẩm ( đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là từng loại sản phẩm )thì chi phí sản xuất chung phải được phân bổ cho từng loại sản phẩm để kết chuyển vào chi phísản xuất sản phẩm. Để tiến hành phân bổ, có thể sử dụng các tiêu thức: tỷ lệ tiền lương côngnhân sản xuất, tỷ lệ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, tỷ lệ với chi phí trực tiếp (chi phí nguyênvật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp), tỷ lệ với số giờ chạy máy, tỷ lệ với đơn vị nhiênliệu tiêu hao . . .Để xác định mức phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí ( từng loại sản phẩm )sử dụng công thức: Chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong tháng tính theo Mức phân bổ chi phí ú Số đơn vị của từng đối tiêu thức được lựa chọn sản xuất chung cho = * tượng tính theo tiêu từng đối tượng thức được lựa chọn Tổng số đơn vị của các đối tượng được phân bổ lựa chọn 6. Xác định kỳ tính giá thành và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang. Kỳ tính giá thành dựa vào khả năng xác định chính xác về số lượng cũng như việc xác định lượng chi phí sản xuất có liên quan đến kết quả đó. Tùy theo chu kỳ sản xuất dài hay ngắn cũng như địa điểm sản xuất sản phẩm mà xác định kỳ tính giá thành cho phù hợp. Như vậy kỳ tính giá thành có thể là cuối mỗi tháng, cuối mỗi năm hoặc khi đã thực hiện hoàn thành đơn dặt hàng, hoàn thành hạn mục công trình. . . Đánh giá sản phẩm dở dang là công việc phải thực hiện trước khi xác định giá thành sảnphẩm. Đánh giá sản phẩm dở dang sử dụng các phương pháp khác nhau tùy vào loại hình sảnxuất và đặc điểm sản xuất sản phẩm. Doanh nghiệp thường áp dụng các phương pháp 92
    • - Theo trị giá thực tế của nguyên vật liệu sử dụng (kể cả bán thành phẩm) áp dụng chocác xí nghiệp mà trong cơ cấu giá thành sản phẩm thì trị giá nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng rấtlớn. - Theo trị giá nguyên vật liệu kết hợp với các loại chi phí chế biến khác theo mức độhoàn thành của sản phẩm dở dang áp dụng cho các doanh nghiệp mà trong cơ cấu giá thành sảnphẩm , ngoài trị giá nguyên vật liệu thì các loại chi phí chế biến cũng chiếm tỷ trọng đáng kể. - Theo chi phí định mức (kế hoạch ), dựa vào mức độ hoàn thành và các định mức kinhtế - kỹ thuật về sử dụng các loại chi phí áp dụng cho các xí nghiệp sản xuất hàng loạt lớn. 7. Phương pháp tính giá thành 7.1 Phương pháp trực tiếp: chủ yếu áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình sản xuấtgỉan đơn, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp nhau. Ngoàira phương pháp này còn được áp dụng cho doanh nghiệp có quy trình sản xuất phức tạp nhưngsản xuất khối lượng lớn và ít loại sản phẩm hoặc để tính toán giá thành của những công việc, kếtquả trong từng giai đoạn sản xuất nhất định. 7.2 Phương pháp phân bước: chủ yếu áp dụng cho những xí nghiệp sản xuất phức tạpkiểu chế biến liên tục, quy trình công nghệ chia ra nhiều giai đoạn ( bước) nối tiếp nhau theomột trình tự nhất định, mỗi bước chế biến ra một loại bán thành phẩm và bán thành phẩm củabước này là đối tượng chế biến của bước sau. 7.3 Phương pháp đơn đặt hàng : chủ yếu áp dụng cho những xí nghiệp sản xuất đơnchiếc hoặc sản xuất hàng loại nhỏ, công việc sản xuất thường được tiến hành căn cứ vào đơnđặt hàng của người mua. Đơn đặt hàng có thể chỉ là một sản phẩm riêng biệt hoặc một số sảnphẩm cùng loại. 7.4 Phương pháp định mức: dựa vào các định mức tiêu hao về vật tư, lao động các dựtoán về chi phí phục vụ sản xuất và quản lý, khoản chênh lệch do những thay đổi định mức cũngnhư những chênh lệch trong quá trình thực hiện so với định mức. Theo phương pháp này thì giáthành thực tế của sản phẩm được xác định như sau: Giá thành Chênh lệch Chênh lệch do Giá thành thực tế sản = ± do thay đổi ± thực hiện so với định mức phẩm định mức định mức Ngoài ra để thích ứng với những điều kiện cụ thể của quá trình sản xuất sản phẩm có thểsử dụng một số phương pháp như: - Phương pháp loại trừ - Phương pháp hệ số - Phương pháp tỷ lệ - Phương pháp liên hợp Quá trình ra quyết định của doanh nghiệp là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau,trong đó mỗi phương án được xem xét bao gồm rất nhiều thông tin của kế toán nhất là thông tinvề chi phí đầu tư nhằm đạt được lợi ích kinh tế cao nhất. Các nhà quản trị thường phải đứngtrước sự lựa chọn từ nhiều phương án kinh doanh khác nhau với số loại, số lượng, khoản mục chiphí và thu nhập khác nhau, nhưng chúng có một đặc điểm là đều gắn nhiều với thông tin kế toán,do đó đòi hỏi các nhà quản trị phải xem xét, cân nhắc để ra quyết định đúng đắn nhất. Để làmviệc đó, nhà quản trị cần sử dụng công cụ thích hợp giúp cho họ phân biệt những thông tin thíchhợp với thông tin không thích hợp trong các quyết định kinh doanh. + Chi phí hợp lệ và vấn đề tính giá bán tối thiểu Giá bán tối thiểu = Chi phí hợp lệ + Lợi nhuận kế hoạch (định mức) Chi phí hợp lệ (chi phí chênh lệch, chi phí tăng thêm, chi phí thất thoát, ...) Tất cả chi phíđều có thể là chi phí hợp lệ ngoại trừ chi phí lặn (chìm) và các chi phí phát sinh trong tương lainhưng không có sự khác nhau giữa các phương án. 93
    • Nhận dạng các chi phí hoặc doanh thu hợp lệ: Để nhận dạng các chi phí (doanh thu) hợp lệ trong tiến trình phân tích ra quyết định lựachọn các phương án, nhà quản trị có thể thực hiện các bước công việc sau đây: • Nhận dạng tất cả các chi phí và doanh thu có liên quan đến từng phương án • Loại bỏ những chi phí lặn • Loại bỏ những chi phí và doanh thu bằng nhau giữa các phương án • Ra quyết định dựa trên những chi phí và doanh thu còn lại Ở đây cần ghi nhận một điều là những thông tin thích hợp trong tình huống quyết địnhnày không nhất thiết thích hợp trong tình huống quyết định khác. Nhận định này xuất phát từquan điểm những mục đích khác nhau cần có những thông tin khác nhau (quan điểm cơ bản củakế toán quản trị và được vận dụng thường xuyên trong các quyết định kinh doanh). Đối với mụcđích này thì nhóm thông tin này thích hợp, nhưng đối với mục đích khác thì lại cần những thôngtin khác. Ví dụ 1: DN đang nghiên cứu mua một thiết bị sản xuất mới, để thay thế thiết bị cũ vớimục tiêu làm giảm chi phí nhân công trực tiếp. Nguyên giá của thiết bị mới là 100 triệu, giá trịcòn lại của thiết bị cũ là 20 triệu, doanh thu và chi phí hàng năm được trình bày như sau: Bảng 1: Doanh thu – chi phí Chỉ tiêu Đ.v.tính Thiết bị cũ hiện tại Thiết bị mới ước tính Khối lượng sản phẩm chiếc 10.000 10.000 Đơn giá bán sản phẩm 1000 đ 60 60 Nguyên vật liệu trực tiếp 1000 đ 20 20 Nhân công trực tiếp 1000 đ 15 10 Chi phí biến đổi chung 1 s.phẩm 1000 đ 5 5 Chi phí cố định họat động năm 1000 đ 100.000 100.000 Chi phí khấu hao máy móc mới 1000 đ - 10.000 * Chi phí chìm: Giá trị còn lại của máy móc cũ * Loại bỏ khoản thu, chi như nhau: doanh thu, nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí biến đổichung, chi phí cố định hoạt động hàng năm. Sử dụng thiết bị mới: Chi phí nhân công trực tiếp tiết kiệm được = 10.000sp x 5000 = 50.000.000 đ, nhưng chiphí khấu hao thiết bị mới tăng lên = - 10.000.000 đ; chi phí doanh nghiệp tiết kiệm hàng nămdo sử dụng thiết bị mới = 40.000.000 đ. Do vậy, nên mua thiết bị mới Trong kinh doanh, thông tin có sẵn thường rất ít để có thể lập một báo cáo thu nhập, vìvậy nhà quản tri phải biết cách nhận những thông tin nào là thích hợp, không thích hợp trongđiều kiện thông tin giới hạn đó để ra quyết định. Có như vậy việc đề ra quyết định mới nhanhchóng và đáp ứng nhu cầu kịp thời. Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, khi mà yếu tố tốc độ là một yếu tố quan trọng đốivới sự thành bại của doanh nghiệp thì việc đề ra những quyết định kinh doanh nhanh chóng vàchính xác có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh lợi của doanh nghiệp.Phân tích dựa trên nhữngthông tin thích hợp, kết hợp với việc xem xét trực tiếp báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, đóchính là công cụ tốt nhất nhằm hướng dẫn các nhà quản trị thực hiện chức năng quyết định cóhiệu quả trong các tình huống không thường xuyên và đặc biệt này. + Ứng dụng của kỹ thuật phân tích chi phí hợp lệ * Quyết định nên mua ngoài hay tự sản xuất Quyết định này thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất, hầu hết sảnphẩm được sản xuất từ những chi tiết rời sau đó sẽ được lắp ráp lại tạo thành thành phẩm. Nhữngchi tiết rời này có thể được mua sẵn từ bên ngoài hoặc do một bộ phận của doanh nghiệp tự sảnxuất. Những chi tiết rời đó các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ phải đứng trước quyết định nên muangoài hay tự sản xuất, quyết định nào có lợi hơn? Về cơ bản cần xem xét trên cả hai mặt chấtlượng và số lượng. Ở đây, giả sử mặt chất lượng đã đảm bảo theo đúng yêu cầu về kỹ thuật nên 94
    • chỉ cần đi sâu nghiên cứu về mặt số lượng. Mặt số lượng của quyết định được thể hiện qua chiphí cần để sản xuất hoặc để mua vào loại chi tiết rời cá biệt nào đó. Cũng như mọi quá trình phântích đề ra quyết định, các yếu tố phải xem xét ở đây là các chi phí chênh lệch giữa chi phí sảnxuất và chi phí mua vào. Quá trình xem xét các quyết định nên tự sản xuất hay mua ngoài cần phải kết hợp vớiviệc xem xét các cơ hội kinh doanh khác thì mới có thể đi đến quyết định đúng đắn. Ví dụ 2: DN đang sản xuất phụ tùng A với mức nhu cầu hàng năm 10.000 chi tiết, cáckhoản mục chi phí tính cho 1 chi tiết (đơn vị) và tính chung toàn bộ được cho trong bảng dướiđây: Bảng 2: Các khoản mục chi phí Khoản mục Đơn vị (1000 đ) Tổng số (1000 đ) Nguyên liệu trực tiếp 12 120.000 Nhân công trực tiếp 11 110.000 Biến phí sản xuất chung 3 30.000 Lương nhân viên và phục vụ phân xưởng 7 70.000 Khấu hao TSCĐ phân xưởng 6 60.000 Chi phí chung phân bổ 9 90.000 Cộng 48 480.000 Nhà cung cấp bán phụ tùng này với giá 42.000 đ/ đ.v, đúng theo chất lượng và số lượngyêu cầu. Quyết định nên mua ngoài hay tự sản xuất ? Vì số lượng thành phẩm tiêu thụ không đổi cho nên mua ngoài hay tự sản xuất khôngảnh hưởng đến doanh thu , quyết định phụ thuộc chi phí. Chi phí khấu hao TSCĐ và chi phí chung phân bổ (60.000 + 90.000 = 150.000) là CPkhông thay đổi dù sản xuất hay mua ngoài nên không thích hợp cho việc ra quyết định. - Chi phí tự sản xuất = 480.000 - 150.000 = 330.000 ngàn đồng - Chi phí mua ngoài = 42 x 10.000 = 420.000 ngàn đồng Như vậy, doanh nghiệp tự sản xuất sẽ tiết kiệm được 90.000 ngàn đồng Tuy nhiên, trong trường hợp các nguồn lực và phương tiện sử dụng để sản xuất phụ tùng này có thể sử dụng cho các mục đích khác (sản xuất sản phẩm, cho thuê) mang lại khoản lợi nhuận hàng năm lớn hơn 90.000 ngàn đồng thì lúc này doanh nghiệp nên mua ngoài sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. * Quyết định nên bán ngay hay nên tiếp tục sản xuất Quyết định này thường gặp ở các DN sản xuất có quy mô sản xuất khởi đầu từ một loạinguyên liệu chung, qua giai đoạn sản xuất chế biến sẽ tạo ra nhiều bán thành phẩm khác nhau.Các bán thành phẩm này có thể tiêu thụ được ngay hoặc được tiếp tục sản xuất theo những quytrình riêng cho từng loại để tạo thành những sản phẩm khác nhau rồi đem tiêu thụ. Ví dụ : xínghiệp lọc dầu có thể bán ngay sản phẩm dầu thô hoặc tiếp tục chế biến thành xăng, nhớt...rồimới bán; xí nghiệp súc sản, có thể bán ngay thịt heo hoặc tiếp tục chế biến. * Quyết định giữ lại hay loại bỏ một bộ phận Những quyết định về việc khi nào thì loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh là một trongnhững quyết định phức tạp nhất mà nhà quản trị phải thực hiện, vì đó là quyết định phải chịu tácđộng của nhiều nhân tố. Quyết định cuối cùng là việc đánh giá ảnh hưởng đến lợi nhuận củadoanh nghiệp. Ví dụ 3: Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp A được thể hiện qua bảng số liệu ở bảng 3.Doanh nghiệp có nên kinh doanh hàng gia dụng nữa không ? - Chi phí cố định trực tiếp (CPCĐ bộ phận) là những khoản CPCĐ phát sinh ở từng bộphận sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: tiền lương của bộ phận quản lý từng bộ phận, khấuhao TSCĐ sử dụng riêng từng bộ phận, chi phí quảng cáo từng bộ phận... 95
    • Bảng 3: Doanh thu – chi phí của 3 nhóm mặt hàng của doanh nghiệp A Đ.v tính: 1.000.000đ Chỉ tiêu Tổng cộng Hàng may mặc Thiết bị Hàng gia dụng Doanh thu 400 180 160 60 Chi phí biến đổi 212 100 72 40 Số dư đảm phí 188 80 88 20 Chi phí cố định 143 61 54 28 Trong đó:CPCĐ trực tiếp 43 16 14 13 CPCĐ gián tiếp 100 45 40 15 Lãi/ Lỗ 45 19 34 -8 - Chi phí cố định gián tiếp (CPCĐ chung) là những khoản CPCĐ phát sinh chung phụcvụ cho hoạt động của toàn doanh nghiệp, được phân bổ theo các tiêu thức thích hợp. Ví dụ trênphân bổ theo doanh thu tiêu thụ từng ngành hàng. Các CPCĐ gián tiếp như: tiền lương của nhânviên quản lý và hội đồng quản trị doanh nghiệp, chi phí quảng cáo cho lợi ích toàn doanh nghiệp,chi phí khấu hao TSCĐ của văn phòng làm việc của doanh nghiệp. - Doanh thu sau khi trừ chi phí biến đổi được gọi là đóng góp biên hay còn gọi là số dưđảm phí Giả sử doanh nghiệp ngưng kinh doanh hàng gia dụng, kết quả kinh doanh được biểu hiệnqua số liệu bảng 4 như sau: Đ.vị tính: 1.000.000 đ Chỉ tiêu Tổng cộng Hàng may mặc Thiết bị Doanh thu 320 180 160 Chi phí biến đổi 172 100 72 Số dư đảm phí 168 80 88 Chi phí cố định 130 Trong đó:CPCĐ trực tiếp 30 16 14 CPCĐ gián tiếp 100 Lãi/ Lỗ 38 19 34 Kết quả lãi của doanh nghiệp chỉ còn là 38 triệu đồng, như vậy một khi chưa có phươngán kinh doanh nào hay hơn việc loại bỏ nhóm hàng gia dụng thì vẫn nên tiếp tục kinh doanh mặthàng này, nếu không doanh nghiệp sẽ bị mất phần lãi do mặt hàng này tạo ra là 7 triệu, để bù đắpvào định phí chung. Việc xem xét một quyết định có nên loại bỏ một bộ phận kinh doanh thường có nhiềuphương án khác nữa. Giả sử doanh nghiệp có thể tận dụng tài nguyên của hàng gia dụng, nếungưng kinh doanh để cho thuê, thì số tiền cho thuê là một khoản thu, hoặc có thể thay thế để kinhdoanh mặt hàng khác có lợi nhuận cao hơn. Ví dụ 4:Giả sử doanh nghiệp thay hàng giày dép cho hàng gia dụng và đã dự kiến cáckhoản thu và chi như sau: Bảng 4: Doanh thu – chi phí Chỉ tiêu Tổng cộng Hàng may mặc Thiết bị Hàng giày dép Doanh thu 430 180 160 90 Chi phí biến đổi 222 100 72 50 Số dư đảm phí 208 80 88 40 Chi phí cố định 153 61 54 38 Trong đó:CPCĐ trực tiếp 47 16 14 17 CPCĐ gián tiếp 106 45 40 21 Lãi/ Lỗ 55 19 34 2 Kinh doanh hàng giày dép lợi nhuận tăng 10 triệu đã bù đắp cho khoản lỗ 8 triệu củahàng gia dụng mà vẫn còn lãi 2 triệu. Như vậy, DN đã có cơ sở để có thể quyết định loại bỏ hànggia dụng và thay thế bằng kinh doanh mặt hàng giày dép. 96
    • IV. ĐỊNH NGHĨA VÀ VAI TRÒ NGÂN SÁCH 1. Định nghĩa ngân sách. Đế đảm bảo có đủ tiền chi trả lương đúng kỳ hạn, mỗi doanh nghiệp cần phải lập kếhoạch và kiểm soát việc thu chi, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp cần phải lập một bản kế hoạchdự báo dòng tiền thu và chi cho mục tiêu cụ thể. Bản kế hoạch này được gọi là ngân sách. Ở tầm vĩ mô, mỗi quốc gia đều có ngân sách nhà nước, hàng năm Bộ trưởng Bộ tài chínhtrình Quốc hội xem xét Ngân sách nhà nước. Mục tiêu của ngân sách này thể hiện một phầntrong chính sách điều hành đất nước của Chính phủ. Ở tầm vi mô, mỗi doanh nghiệp lập ngânsách để theo dõi và điều hành các hoạt động kinh doanh. Trong các doanh nghiệp, người ta có thể dùng từ kế hoạch hay dự toán, ví dụ như kếhoạch bán hàng, kế hoạch sản xuất, kế hoạch thu chi tiền mặt... . Tuy nhiên, trong phần nàychúng ta thống nhất dùng chung một từ là ngân sách (ví dụ như ngân sách bán hàng, ngân sáchsản xuất, ngân sách tiền mặt,...). Thuật ngữ này dùng để chỉ một bản kế hoạch/ dự toán đã đượclượng hoá thành đơn vị sản phẩm và tiền cho tương lai. Ngân sách có thể được định nghĩa như sau: Ngân sách là một kế hoạch hành động được lượng hoá và được chuẩn bị cho một thờigian cụ thể nhằm để đạt được các mục tiêu đã đề ra . Từ định nghĩa ngân sách cần xem xét cácđặc điểm: - Ngân sách phải được lượng hoá: điều này có nghĩa là ngân sách phải được biểu thị bằng các con số, thực tế thường là một số tiền - Ngân sách phải được chuẩn bị từ trước: Bảng ngân sách phải được lập trước thời gian dự định thực hiện ngân sách đó. Các số liệu trong hoặc sau thời gian thực hiện ngân sách có thể cũng quan trọng, nhưng không phải là một phần trong bảng ngân sách. - Ngân sách phải được áp dụng cho một khoảng thời gian cụ thể. Một kế hoạch tài chính mở cho tương lai (không có điểm kết thúc), không được coi là bảng ngân sách. - Ngân sách phải là một bảng kế hoạch hành động: đây là điểm quan trọng nhất, ngân sách không phải là một bảng bao gồm các số liệu thực tế vì nó liên quan đến những sự việc chưa hề xảy ra. Tình hình có thể thay đổi trong khoảng thời gian thực hiện ngân sách, có nghĩa là khi đó, ngân sách sẽ không còn chính xác. Giống như các kế hoạch khác, ngân sách rất ít khi dự báo hoàn toàn chính xác về tương lai. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp như vậy, nó vẫn đóng vai trò định hướng cho những người thực hiện và vai trò này rất quan trọng. Những loại ngân sách : được liệt kê dưới đây là khá phổ biến trong doanh nghiệp: - Ngân sách bán hàng (doanh thu) - Ngân sách nguồn lực - Ngân sách tiếp thị - Ngân sách đầu tư - Ngân sách chi phí cho các phòng ban chức năng - Ngân sách tiền mặt Ngân sách bán hàng: dự báo lượng hàng hoá bán được trong một thời kỳ tương ứng.Ngân sách này có thể phân ra cho từng bộ phận hoặc từng phòng ban. Dự báo được lượng bán sẽrất quan trọng vì trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới quyết định được lượng nguyên vật liệu cầnmua, số lượng lao động cần phải có và nhiều vấn đề khác. Ngân sách nguồn lực: bao gồm một loạt các ngân sách nhỏ như: ngân sách nguyên vậtliệu, ngân sách sử dụng máy móc, ngân sách chi phí lao động. Các ngân sách này dự báo chi tiếtkế hoạch sử dụng máy móc, lượng nguyên nhiên vật liệu cần thiết, nhân công ... để đạt được mứcsản lượng sản xuất đáp ứng cho bán hàng. Ngân sách nguồn lực có tầm quan trọng đặc biệt vớidoanh nghiệp sản xuất. Ngân sách tiếp thị: Để đưa sản phẩm đến khách hàng, các doanh nghiệp cần phải tiếnhành các hoạt động tiếp thị . Chi phí cho các hoạt động tiếp thị dự kiến của doanh nghiệp trongmột thời kỳ tương ứng được tập hợp lại trong ngân sách tiếp thị. 97
    • Ngân sách đầu tư: Là một bảng trình bày các kế hoạch gia tăng (hay cắt giảm) máy mócthiết bị hoặc các dạng tài sản cố định khác của doanh nghiệp. Những kế hoạch này sẽ quyết địnhtiềm năng sản xuất của doanh nghiệp.. Ngân sách chi phí cho các phòng ban chức năng: Cùng lúc với việc lập ngân sáchchung cho cả doanh nghiệp, nhà quản trị ở tất cả các phòng ban, bộ phận cũng phải dự trù kinhphí hoạt động cho giai đoạn sắp tới. Dự trù chi phí này được gọi là ngân sách chi phí cho cácphòng ban chức năng. Tất cả các ngân sách đều quan trọng mặc dù có thể lập luận rằng ngân sách tiền mặt làquan trọng nhất, bởi nếu không có tiền thì doanh nghiệp sẽ gặp rắc rối. Ngân sách tiền mặt: Một bảng ngân sách tiền mặt thường đưa ra dự báo về: • lượng tiền mặt thu và chi trong kỳ kế hoạch • thời điểm thu và chi • số tiền mặt có đầu kỳ Ngân sách tiền mặt rất quan trọng đối với các doanh nghiệp nhỏ hặc mới thành lập. 2. Tầm quan trọng của lập ngân sách. - Phối hợp hoạt động và đề cao tinh thần tập thể trong doanh nghiệp. Quá trình hoạch định và kiểm soát ngân sách có nghĩa là nhà quản trị ở mọi cấp độ và ởcác bộ phận khác nhau có dịp gặp gỡ, trao đổi, thảo luận và liên kết các mục tiêu của họ lại vớinhau. Doanh nghiệp sẽ đạt được những thành công to lớn nếu như tất cả mọi thành viên đều hợpsức lại cho mục đích chung . Sự phối hợp này giúp cho các trưởng bộ phận hiểu được mỗi hoạtđộng của đơn vị mình tác động tới tổng thể ra sao, điều này rất cần thiết cho chính họ cũng nhưcho tất cả doanh nghiệp - Trao đổi thông tin Để có thể thực hiện một ngân sách, các thành viên cần phải biết việc gì có thể và khôngthể thực hiện được đối với bộ phận của mình. Hoạch định ngân sách sẽ thúc đẩy các cấp quản trịtrao đổi với nhau về các chính sách và mục tiêu của doanh nghiệp. Điều này giúp củng cố tínhtập thể, mọi người làm việc vì nhau và vì doanh nghiệp. - Thống nhất mục tiêu Sử dụng kế hoạch ngân sách đòi hỏi các nhà quản trị phải đề ra mục tiêu phấn đấu trongtương lai nhất quán, thay vì thay đổi mỗi ngày. Nó cũng có nghĩa là các bộ phận khác nhau trongdoanh nghiệp phải cùng nghĩ đến một mục tiêu thống nhất khi hoạch định ngân sách. - Kiểm soát thực hiện kế hoạch. Kiểm soát thông qua ngân sách là một dạng uỷ thác trách nhiệm. Nhìn tổng thể mà nói,ngân sách sẽ gây ảnh hưởng đến chiến lược của doanh nghiệp. Để phát huy hết tác dụng củangân sách, những kết quả thực tế phải luôn được so sánh với kết quả dự toán. Nêu như hai kếtquả này kông khớp với nhau cần phải có sự can thiệp để đưa ra những biện pháp phù hợp. Nếukhông có kế hoạch thì không có tiêu chuẩn nào để đánh giá những gì đang xảy ra và vì vậy, bấtkỳ sự quản trị nào cũng chỉ mang tính ngẫu nhiên và tuỳ tiện. Ý đồ xây dựng kế hoạch ngân sách là để có được bức tranh toàn cảnh rõ nét hơn vềnhững sự việc sẽ xảy ra và làm cho các bộ phận cũng như từng cá nhân có trách nhiệm trong việcquản lý chi tiêu trong đơn vị mình. Chính vì thế, sức mạnh của mỗi phòng ban, mỗi bộ phận cóthể được cụ thể hoá và cả tập thể sẽ biết cách vượt qua bất cứ khó khăn nào. - Động viên mọi nguồn lực. Một khi các thành viên ở mọi cấp độ trong doanh nghiệp tham gia càng nhiều vào việchoạch định và kiểm soát ngân sách , họ càng hiểu rõ và ủng hộ các mục tiêu hoạt động của doanhnghiệp. Đó chính là một sự động viên quan trọng đối với các thành viên trong doanh nghiệp. Tất cả các nhân tố vừa được đề cập ở trên đều quan trọng , nhưng mục đích chủ yếu củangân sách là thống nhất mục tiêu và kiểm soát thực hiện kế hoạch. Quá trình lập kế hoạch tốtsẽ giúp kiểm soát được doanh nghiệp 3. Các ứng dụng khác của hoạch định ngân sách 3.1 Có một phương pháp rất đơn giản mà các doanh nghiệp thường áp dụng, đó là phântích điểm hòa vốn. 98
    • Phương pháp này xác định qui mô sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cần thiết để có thể hòa vốn,nghĩa là không lời nhưng cũng không lỗ. Nế Mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất Mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất và u và tiêu thụ dưới mức hoà vốn sẽ tạo tiêu thụ trên mức hòa vốn sẽ tạo ra lợi mu ra khoản lỗ. nhuận ốn dùn g phân tích điểm hòa vốn để hoạch định lợi nhuận, chúng ta cần tách chi phí thành chi phí cố định và chi phí biến đổi (những thuật ngữ ngày đã được giới thiệu phần trên). Điểm hòa vốn sẽ được tính theo công thức sau: Tổng chi phí cố định Điểm hòa vốn (đvsp) = Giá bán đơn vị - chi phí biến đổi đơn vị 3.2 Hạch toán chi phí chuẩn và theo dõi thực hiện ngân sách Hệ thống tính giá thành theo định mức là một bước tiếp theo của việc kiểm soát thực hiệnngân sách. Ở phần trên đã trình bày tính giá thành theo định mức, ở đây chúng ta xem xét mốiliên hệ của nó với kiểm soát chi phí như thế nào Sử dụng các chi phí định mức sẽ cho chúng ta biết kết quả hoạt động sẽ đạt được ra saotrong những hoàn cảnh nhất định. Từ đó, ta có thể xác định được những biến động và kiểm soátđược hiệu quả hoạt động thực tế. Tính giá thành theo định mức và hoạch định ngân sách đều: • Hướng tới việc xây dựng các tiêu chuẩn về hiệu quả hoạt động cho tương lai; • Là những công cụ giúp theo dõi, kiểm soát. Tuy nhiên, tính giá thành theo định mức và hoạch định ngân sách không phải là một, mà cósự khác biệt quan trọng: • Ngân sách liên quan tới những con số tổng, ví dụ chi phí của toàn bộ phận. • Chi phí định mức lại gắn liền với từng khoản mục cá thể, ví dụ như từng đơn vị sản phẩm sẽ có chi phí định mức riêng Tính giá thành theo định mức sẽ phân quyền “xuống cho cơ sở” do vậy nhiều người phảicó trách nhiệm đạt định mức chuẩn trong phạm vi công việc của mình. Nhiều người tham gia sẽcó cái lợi là: - Nếu chi phí đơn vị được áp dụng rộng rãi và nhiều người cùng theo dõi thực hiện thì tacó thể xác định biến động cho nhiều khoản mục, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý. Việc đặt ra chuẩn sẽ tạo cho mọi người một cái đích để phấn đấu và giúp họ luôn có ýthức tiết kiệm chi phí và qua đó giúp họat động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả caohơn.CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Khái niệm kế toán? Chức năng của công tác kế toán? 2. Nêu định nghĩa , đặc điểm, phân loại và khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp ? 3. Nêu định nghĩa, đặc điểm, phân loại TSLĐ trong doanh nghiệp ? 4. Nêu khái niệm chi phí kinh doanh, các cách phân loại chi phí kinh doanh ? 5. Nêu khái niệm giá thành sản phẩm/dịch vụ, mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành ,các loại giá thành. 6. Nêu khái niệm và phân tích vai trò ngân sách trong doanh nghiệp ? 7. Khái niệm điểm hòa vốn? Ý nghĩa phân tích điểm hòa vốn ? 99
    • CHƯƠNG V . QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP Qua chương này, người đọc sẽ hiểu được những vấn đề cơ bản của quản trị nhân sựtrong doanh nghiệp, cụ thể như sau: - Hiểu quản trị nguồn nhân sự, chức năng vai trò của bộ phận nhân sự trong doanh nghiệp. - Các phương pháp tuyển chọn nhân sự, bố trí và sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp . - Sự cần thiết đào tạo, huấn luyện và phát triển nghề nghiệp của nhân viên. Giải thích nhữngtổ chức có thể phát triển những kỹ năng của nhân viên - Xác định mục tiêu và tiến trình, các phương pháp đánh giá nhân viên, những vấn đề cầnquan tâm khi thực hiện đánh giá nhân viên - Trả công lao động, các hình thức trả công lao độngI. KHÁI NIỆM VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA QUẢN TRỊ NHÂN SỰ. 1. Khái niệm: Ngày nay người ta bắt đầu nói nhiều về quản trị nhân sự. Khi người ta nói đến một doanhnghiệp, một giám đốc làm ăn thua lỗ, không phải do thiếu vốn, thiếu trang thiết bị, thiếu mặtbằng, v.v... mà người ta chỉ ngay đến người đó không đủ năng lực điều hành công việc và thiếusự trang bị về kiến thức quản trị nhân sự hoặc thiếu kinh nghiệm trong chiến lược con người. Sự phân tích về những thành công của nền kinh tế Nhật Bản qua nhiều năm đã cho thấy rằng,sở dĩ đưa lại sự thần kỳ kinh tế Nhật Bản, nguyên nhân thì có nhiều nhưng nổi bật nhất là chiếnlược con người và chính sách nhân sự của họ. Nhưng quản trị nhân sự là gì? Hiểu thế nào về quản trị nhân sự ? Một vị giám đốc từng nói: Học vấn kinh doanh cơ bản của tôi không ngoài điều: đó là về conngười, tiền bạc và công việc xem ra mới thấy rằng ngày nay muốn làm được việc vĩ đại haythành đạt trong kinh doanh thì cần phải biết sử dụng nhân tài, phải biết khai thác nguồn nhân lựcvà phối hợp sự hoạt động của con người trong hoạt động sản xuất - kinh doanh. Yếu tố hạn chế trong hầu hết mọi trường hợp làm ăn kém hiệu quả chính là sự thiếu thốn vềchất lượng và sức mạnh của nhà quản trị, không biết cách khai thác nguồn nhân sự và sự lãng phíkhông thể tưởng tượng được về các nguồn nhân lực và vật lực. Vì thế, có thể nói quản trị nhân sự là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp, bởi vì nóđộng chạm đến những con người cụ thể với những hoàn cảnh và nguyện vọng, sở thích, cảm xúcvà văn hóa riêng biệt. Giáo sư người Mỹ Dinock cho rằng: "Quản trị nhân sự bao gồm toàn bộnhững biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả nhữngtrường hợp xảy ra có liên quan đến một loại công việc nào đó; còn Giáo sư Felix Migro thì chorằng: Quản trị nhân sự là nghệ thuật chọn lựa những nhân viên mới và sử dụng những nhân viêncũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt tới mức tối đa có thể được. Chức năng quản trị nguồn nhân sự liên quan đến các công việc hoạch định nhân sự, tuyển mộ,chọn lựa, hướng dẫn, đào tạo, huấn luyện và phát triển nghề nghiệp của nhân viên. Nhân sự phải gắn liền với tổ chức, với việc sắp xếp con người vào những vị trí nhất địnhtrong bộ máy tổ chức để đảm bảo khả năng quản trị, điều hành được doanh nghiệp cả hiện tại lẫntương lai. Quản trị nhân sự phải được xem xét theo quan điểm hệ thống. Việc xác định nguồnnhân sự, vấn đề tuyển chọn, sắp xếp đề bạt, đào tạo và phát triển, đánh giá nhân viên v.v... cầnphải được đặt trên cơ sở khoa học, trong mối liên hệ tương quan với nhiều vấn đề và chức năngkhác của quản trị. Chúng được xem xét xuất phát từ các chiến lược, kế hoạch kinh doanh, từ các 100
    • chính sách nhân sự, kế hoạch và các điều kiện của môi trường, mối quan hệ này được biểu hiệnqua sơ đồ 5.1 dưới đây: MÔI TRƯỜNG KẾ HOẠCH CỦA DOANH NGHIỆP CÁC KẾ HOẠCH TỔ CHỨC ĐÀO TẠO, PHÁT SỐ LƯỢNG PHÂN NGUỒN TRIỂN, NHÂN VIÊN TUYỂN TÍCH TỪ BÊN CẦN THIẾT CHỌN NHU NGOÀI ĐỀ BẠT CẦU XẮP CHỈ ĐẠO VỀ XẾP VÀ KIỂM NGUỒN NHÂN LỰA TRA NHÂN VIÊN VIÊN CHỌN NGUỒN NỘI BỘ ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG, CHÍNH SÁCH NHÂN LỰC HỆ THỐNG KHEN THƯỞNG Sơ đồ 5.1: Phương pháp tiếp cận hệ thống trong quản trị nguồn nhân sự. Quản trị nhân sự là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị, bởi con ngườibao giờ cũng là yếu tố quan trọng nhất của một doanh nghiệp. Do đó, việc lựa chọn, sắp xếp conngười có năng lực, phẩm chất phù hợp với các vị trí trong bộ máy tổ chức là nhiệm vụ hàng đầucủa nhà quản trị. Ðiều đáng lưu ý, mối quan tâm cơ bản của tất cả các nhà quản trị là thực hiện 2 nguyên tắcmối liên hệ công việc và con người - công việc phải phù hợp. - Mối quan hệ công việc: nền tảng của quản trị có hiệu quả nguồn nhân lực yêu cầu rằng tất cảcác quyết định nhân sự phải được dựa trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ: đó là tiêu chuẩn sử dụngtrong thuê mướn, đánh giá, thăng thưởng nhân viên phải ràng buộc chặt chẽ với thực hiện côngviệc. - Cốt lõi của mối quan hệ công việc là con người -công việc phải phù hợp: đó là quá trình bốtrí nhân viên phù hợp, đáp ứng với yêu cầu công việc. Những nhà quản trị nhân sự giỏi là ngườiphát hiện ra những kỹ năng của nhân viên, hiểu biết về tính khí của nhân viên để bố trí phù hợpvới yêu cầu tiêu chuẩn công việc. Một khi con người được sắp xếp, bố trí tương xứng với côngviệc sẽ giúp cho doanh nghiệp thực hiện với hiệu quả cao và đạt được sự thỏa mãn của nhânviên, duy trì được những nhân viên có hiệu quả ở mức cao và hạ thấp sự vắng mặt. 2. Tầm quan trọng của vấn đề quản trị nhân sự. Quản trị nhân sự giữ vai trò đặc biệt quan trọng và ngày càng được các nhà quản trị quan tâmnghiên cứu và phân tích, xem đây là một chức năng cốt lõi (Essential management function) vàquan trọng nhất của tiến trình quản trị. Việc nghiên cứu quản trị là hết sức cần thiết: 101
    • - Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, do đóđặc trưng nổi bật là tính cạnh tranh. Các tổ chức nói chung và doanh nghiệp nói riêng buộc phảicải thiện tổ chức, trong đó yếu tố con người là quyết định. Việc tìm đúng người phù hợp để giaođúng việc, hay đúng cương vị đang là vấn đề đáng quan tâm đối với mọi hình thức tổ chức hiệnnay. - Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại cùng với sự phát triển của nền kinh tế “mở” buộccác nhà quản trị phải biết thích ứng, do đó việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo, điều động nhân sựtrong bộ máy tổ chức nhằm đạt hiệu quả tốt nhất đang được mọi giới quan tâm. - Nghiên cứu quản trị nhân sự giúp cho các nhà quản trị học được cách giao dịch với ngườikhác, biết cách đặt câu hỏi, biết lắng nghe, biết tìm ra ngôn ngữ chung với nhân viên, biết cáchnhạy cảm với nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên một cách tốt nhất, biết cách lôi kéo nhânviên say mê với công việc và tránh được các sai lầm trong việc tuyển chọn và sử dụng lao động,nâng cao chất lượng công việc, nâng cao hiệu quả tổ chức. Giáo sư tiến sĩ Letter C.Thurow - nhà kinh tế và nhà quản trị học thuộc viện công nghệ kỹthuật Matsachuset (MIT) cho rằng: Ðiều quyết định cho sự tồn tại và phát triển của công ty lànhững con người có học vấn cao, được đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hóa và biết cách làm việccó hiệu quả.... Giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1992 được trao cho Giáo sư tiến sĩ Gary Backer do nhữngthành tích của ông thể hiện ở những công trình khoa học mang tính lý thuyết về “vốn con người”(the Human Capital). Ông cho rằng nếu đầu tư chi tiền lâu dài một cá nhân, hay một nhóm thì cóthể nâng cao được năng lực hoạt động của đối tượng và ông đề nghị: Các công ty nên tính toán,phân chia hợp lý cho chăm sóc sức khỏe, huấn luyện, nâng cao trình độ người lao động để đạtnăng suất cao nhất. Chi phí cho giáo dục, đào tạo, chăm lo sức khỏe nhân viên phải được xemnhư một hình thức đầu tư....II. MỤC TIÊU VÀ CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG DOANHNGHIỆP. 1. Mục tiêu của quản trị nhân sự. Mục tiêu của quản trị nhân sự là nhằm cung cấp cho doanh nghiệp một lực lượng lao động cóhiệu qủa (effective). Ðể đạt được mục tiêu này, các nhà quản trị phải biết cách tuyển dụng, pháttriển, đánh giá, và duy trì nhân viên của mình. Ðể có được nguồn nhân sự đáp ứng cho chiến lược phát triển, quản trị nhân sự phải nhằm vàothực hiện bốn mục tiêu cơ bản sau đây: 1.1 Mục tiêu xã hội. Doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu và thách đố của xã hội, doanh nghiệp hoạt động vì lợi íchcủa xã hội chứ không phải chỉ của riêng mình. 1.2 Mục tiêu thuộc về tổ chức. Quản trị nhân sự là tìm cách thích hợp để các bộ phận cũng như toàn bộ doanh nghiệp cóđược những người làm việc có hiệu quả. Quản trị nhân sự tự nó không phải là cứu cánh; nó chỉ làmột phương tiện giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu. 1.3 Mục tiêu chức năng và nhiệm vụ. Mỗi bộ phận phòng ban đều có chức năng nhiệm vụ riêng, vì thế mỗi bộ phận phòng ban phảiđóng góp phục vụ cho mục tiêu chung của doanh nghiệp. 1.4 Mục tiêu cá nhân. Nhà quản trị phải giúp nhân viên mình đạt được các mục tiêu cá nhân của họ. Nhà quản trịphải nhận thức rằng nếu lãng quên mục tiêu cá nhân của nhân viên, năng suất lao động sẽ giảm,và nhân viên có thể sẽ rời bỏ doanh nghiệp . 102
    • Ðể đạt được các mục tiêu trên, cần phải có các hoạt động quản trị nhân sự cụ thể. Bảng 5.1dưới đây cho ta thấy các hoạt động cụ thể. Bảng 5.1. Mục tiêu và các hoạt động hỗ trợ quản trị nhân sự CÁC MỤC TIÊU QTNS CÁC HOẠT ÐỘNG HỖ TRỢ 1. Mục tiêu xã hội a. Tuân theo pháp luật b. Các dịch vụ theo yêu cầu c. Mối tương quan giữa công đoàn và cấp quản trị 2. Mục tiêu thuộc về tổ chức a. Hoạch định TNNS b. Tuyển mộ c. Tuyển chọn d. Ðào tạo và phát triển e. Ðánh giá f. Sắp xếp g. Các hoạt động kiểm tra 3. Mục tiêu chức năng nhiệm a. Ðánh giá vụ b. Sắp xếp c. Các hoạt động kiểm tra 4. Mục tiêu cá nhân a. Ðào tạo và phát triển b. Ðánh giá c. Sắp xếp d. Lương bổng e. Các hoạt động kiểm tra 2. Các chức năng của bộ phận / phòng nhân sự. Chức năng của bộ phận nhân sự được biểu hiện qua sơ đồ 5.2 sẽ cho chúng ta một cái nhìntổng quát. Các chức năng nhiệm vụ nêu dưới đây là các chức năng chủ yếu của bộ phận / phòngnhân viên phổ biến trên thế giới. Một số cơ quan tổ chức thêm chức năng nghiên cứu tài nguyênnhân sự vào sơ đồ này. Chức năng nhiệm vụ chủ yếu của bộ phận nhân sự bao gồm tám chứcnăng nêu dưới đây và có tính bao quát trong toàn doanh nghiệp - nghĩa là giám đốc nhân sự(Human Resource Manager) có chức năng nhiệm vụ nghiên cứu, hoạch định tài nguyên nhân sự,tuyển dụng, đào tạo và phát triển, quản trị lương bổng, tương quan lao động, dịch vụ và quỹ phúclợi, y tế và an toàn lao động trong toàn doanh nghiệp. TRƯỞNG BỘ PHẬN HAY PHÒNG NHÂN SỰ Nghiên Hoạch Tuyển Đào tạo Quản Tương Dịch vụ Y tế và cứu tài định tài dụng và phát trị tiền quan lao phúc lợi an toàn nguyên nguyên triển lương động Lao nhân sự nhân sự động Sơ đồ 5.2: Chức năng của bộ phận / phòng nhân sự. Giám đốc nhân sự (Human Resource Manger) hay trưởng bộ phận nhân sự (head of humanResource department) cũng giống như các giám đốc hay trưởng các bộ phận khác, ngoài việclàm đầy đủ chức năng nhiệm vụ hoạch định - tổ chức - điều hành - và kiểm soát trong phạm vituyến quyền hạn của mình, còn phải làm tròn nhiệm vụ chức năng chuyên môn của mình làphục vụ các bộ phận khác một cách có hiệu quả liên quan đến tám lãnh vực nêu trên, và đượcbiểu hiện qua sơ đồ (5.3). 103
    • BỘ PHẬN NHÂN SỰ GIÁM ĐỐC NHÂN SỰ Hoạch định Tổ chức Điều khiển Kiểm tra Thuộc bộ phận của mình Phục vụ các bộ phận khác có hiệu quả Sơ đồ 5.3 Quản trị của bộ phận nhân sự.III. KHÁI NIỆM Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA PHÂN TÍCH CÔNG VIỆC 1. Khái niệm: Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiệntiến hành, các nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹnăng nhân viên cần thiết phải có để thực hiện công việc. Phân tích công việc là một quá trình xác định và ghi chép lại các thông tin liên quan đếnbản chất của từng công việc cụ thể Đây là quá trình xác định trách nhiệm, nhiệm vụ liên quan đến công việc và các kỹ năngkiến thức cần có để thực hiện tốt công việc. Đây cũng là quá trình xác định sự khác biệt của mộtcông việc này với công việc khác Việc chuẩn bị mô tả chức trách, nhiệm vụ, trách nhiệm công việc, yêu cầu về trình độ kỹnăng công việc và các định mức hoàn thành công việc sẽ dựa trên các dữ liệu thu thập đượctrong quá trình phân tích công việc. 2. Ý nghĩa: Phân tích công việc cung cấp các thông tin về những yêu cầu, đặc điểm của công việc,như các hành động nào cần được tiến hành thực hiện, thực hiện như thế nào và tại sao; các loạimáy máy móc trang bị, dụng cụ nào cần thiết khi thực hiện công việc, các mối quan hệ với cấptrên và với đồng nghiệp trong thực hiện công việc. Không biết phân tích công việc, nhà quản trịsẽ không thể tạo ra sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận cơ cấu trong doanh nghiệp, không thểđánh giá chính xác yêu cầu của các công việc, do đó không thể tuyển dụng đúng nhân viên chocông việc, không thể đánh giá đúng năng lực thực hiện công việc của nhân viên và do đó, khôngthể trả lương, kích thích họ kịp thời, chính xác. Ðặc biệt, phân tích công việc là công cụ rất hữuhiệu giúp các tổ chức, doanh nghiệp mới thành lập hoặc đang cần có sự cải tổ hoặc thay đổi vềcơ cấu tổ chức, tinh giản biên chế nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. 3. Tác dụng của phân tích công việc - Bảo đảm thành công hơn trong việc sắp xếp, thuyên chuyển và thăng thưởng cho nhânviên. - Loại bỏ những bất bình đẳng về mức lương qua việc xác định rõ nhiệm vụ và tráchnhiệm của công việc. - Tạo kích thích lao động nhiều hơn qua việc sắp xếp các mức thăng thưởng. - Tiết kiệm thời gian và sức lực qua việc tiêu chuẩn hóa công việc và từ đó giúp nhàquản trị có cơ sở để làm kế hoạch và phân chia thời biểu công tác. - Giảm bớt số người cần phải thay thế do thiếu hiểu biết về công việc hoặc trình độ củahọ. - Tạo cơ sở để cấp quản trị và nhân viên hiểu nhau nhiều hơn. 104
    • 4. Thông tin cần thu thập, nội dung, các bước phân tích công việc Trong doanh nghiệp cần phải thực hiện phân tích công việc khi: - Doanh nghiệp mới được thành lập và chương trình phân tích được thực hiện đầu tiên - Có thêm một số công việc mới - Công việc thay đổi do tác động của khoa học – kỹ thuật 4.1 Những thông tin cần thu thập trong phân tích công việc 4.1.1 Thông tin về các yếu tố của điều kiện làm việc như điều kiện tổ chức hoạt động củadoanh nghiệp, chế độ lương bổng, khen thưởng, tầm quan trọng của công việc trong doanhnghiệp, các yếu tố của điều kiện vệ sinh lao động, sự cố gắng về thể lực, những rủi ro khó tránh,sự tiêu hao năng lượng trong quá trình làm việc..... 4.1.2 Thông tin về các hoạt động thực tế của nhân viên tiến hành tại nơi làm việc nhưcác phương pháp làm việc, các mối quan hệ trong thực hiện công việc, cách thức làm việc vớikhách hàng, cách thức phối hợp hoạt động với các nhân viên khác, cách thức thu thập xử lý cácloại số liệu và cách thức làm việc với các loại máy móc, trang bị kỹ thuật. 4.1.3 Thông tin về những phẩm chất mà nhân viên thực hiện công việc cần có như trìnhđộ học vấn, kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng thực hiện công việc, tuổi đời, ngoại hình, sở thích,sức khỏe, quan điểm, tham vọng, các đặc điểm cá nhân cần có khi thực hiện công việc..... 4.1.4 Thông tin về các loại máy móc, thiết bị kỹ thuật tại nơi làm việc như số lượng,chủng loại, quy trình kỹ thuật và các tính năng tác dụng của các trang bị kỹ thuật, cách thức sửdụng, bảo quản tại nơi làm việc. 4.1.5 Thông tin về các tiêu chuẩn mẩu trong thực hiện công việc đối với nhân viên, baogồm cả các quy định về tiêu chuẩn hành vi và tiêu chuẩn kết quả thực hiện công việc 4.2 Nội dung, trình tự thực hiện phân tích công việc - Chính sách của công ty - Phiếu câu hỏi - Phỏng vấn - Quan sát - Viết nháp bản mô tả công việc, yêu cầu, trình độ, định mức công việc. - Trình cấp quản lý cho ý kiến - Thảo luận nhóm - Hoàn thiện cuối cùng Nội dung, trình tự thực hiện phân tích công việc thường không giống nhau trong cácdoanh nghiệp, quá trình thực hiện phân tích công việc bao gồm các bước sau đây: Bước 1: Xác định chính sách của công ty, mục đích của phân tích công việc, từ đó xácđịnh các hình thức thu thập thông tin phân tích công việc hợp lý nhất. Chính sách của công ty • Nguyên tắc, chính sách và các ưu tiên nguồn nhân lực được xác định rõ ràng vàcập nhật có thể giúp doanh nghiệp trong việc thiết lập các thủ tục, các định mức công việc, thiếtlập công việc và đặc biệt là trong việc xác định chức trách nhiệm vụ và yêu cầu về trình độ và kỹnăng của công việc • Các chính sách và các ưu tiên nguồn nhân lực chỉ cho doanh nghiệp thấy nhữngđiều doanh nghiệp đang quan tâm có thể chấp nhận hay không. Nó đảm bảo rằng kết quả thựchiện công việc của nhân viên đạt định mức tiêu chuẩn tối thiểu. Nó cũng giúp doanh nghiệp trởnên nhất quán trong việc ra quyết định. • Doanh nghiệp có thể không thường xuyên có thời gian để giải quyết tất cả các vấnđề và các câu hỏi một cách trực tiếp. Các chính sách viết ra là công cụ truyền thông tốt, và là cơsở cho các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. 105
    • • Các chính sách, quy định và các ưu tiên nguồn nhân lực của doanh nghiệp sẽ lànhững la bàn định hướng cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không có chúng, doanh nghiệpcó thể lạc đường hay phải đi theo đường dài hơn Bước 2: Thông qua bản câu hỏi thu thập các thông tin cơ bản Bước 3: Áp dụng các phương pháp khác nhau để thu thập thông tin phân tích công việc.Tùy theo yêu cầu về mức độ chính xác và chi tiết của thông tin cần thu thập, tùy theo loại hìnhcông việc và khả năng về tài chính của doanh nghiệp có thể sử dụng một hoặc kết hợp cácphương pháp thu thập thông tin phân tích công việc sau đây: phỏng vấn, bản câu hỏi và quan sát Bước 4: Viết nháp bản mô tả công việc, kiểm tra lại về độ chính xác và đầy đủ thông tinqua chính các nhân viên thực hiện công việc hoặc các vị lãnh đạo, có trách nhiệm giám sát thựchiện công việc đó. Bước 5: Hoàn thiện cuối cùng 5. Các phương pháp thu thập thông tin phân tích công việc 5.1 Phỏng vấn Phỏng vấn thu thập thông tin phân tích công việc có thể thực hiện trực tiếp với từng cánhân, với nhóm nhân viên thực hiện cùng một công việc hoặc với cán bộ phụ trách nhân viênthực hiện công việc đó. 5.1.1 Ưu điểm: Phương pháp này được sử dụng rất hữu hiệu khi mục đích của phân tíchcông việc là xây dựng tiêu chuẩn mẫu đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên, xácđịnh nhu cầu đào tạo và xác định giá trị của công việc. Phỏng vấn cho phép phát hiện ra nhiềuthông tin về các hoạt động và các mối quan hệ quan trọng trong phân tích công việc mà cácphương pháp khác không thể tìm ra. Ðồng thời phỏng vấn cũng cho ta cơ hội để giải thích cácyêu cầu và chức năng của công việc. 5.1.2 Nhược điểm: chủ yếu của phỏng vấn phân tích công việc là người bị phỏng vấn cóthể cung cấp các thông tin sai lệch hoặc không muốn trả lời đầy đủ các câu hỏi của người phỏngvấn. Nhân viên thường cảm thấy rằng việc phân tích các công việc được sử dụng như màn mởđầu để thay đổi cơ cấu tổ chức, tinh giản biên chế, nâng cao định mức, v.v... do đó họ thường cóxu hướng muốn đề cao trách nhiệm và những khó khăn trong công việc của mình; ngược lại,giảm thấp mức độ và tầm quan trọng trong công việc của người khác. Thêm vào đó, phỏng vấnđòi hỏi cán bộ thu thập thông tin phải tốn nhiều thời gian làm việc với từng nhân viên. Ðể nâng cao chất lượng của phỏng vấn phân tích công việc, nên chú ý: • Nghiên cứu công việc trước khi thực hiện phỏng vấn sao cho có thể đưa ra đúng cáccâu hỏi cần thiết. • Chọn người thực hiện công việc giỏi nhất và chọn người có khả năng mô tả quyềnhạn, trách nhiệm, cách thức thực hiện công việc giỏi nhất. • Nhanh chóng thiết lập mối quan hệ tốt đối với người bị phỏng vấn và giải thích chohọ rõ ràng về mục đích của phóng vấn. • Ðặt những câu hỏi rõ ràng và gợi ý sao cho người bị phỏng vấn dễ trả lời • Cơ cấu của các thông tin cần thu thập phải hợp lý sao cho khi phỏng vấn không bị bỏsót những thông tin quan trọng. • Kiểm tra lại tính chính xác của các thông tin với người bị phỏng vấn. 5.2 Bản câu hỏi Bản câu hỏi được đánh giá là phương pháp hữu hiệu nhất để thu thập thông tin phân tíchcông việc. Bản câu hỏi liệt kê những câu hỏi chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước và phân phát cho nhânviên điền vào các câu trả lời. Tổng kết các câu trả lời của nhân viên, cán bộ phân tích sẽ có đượcnhững thông tin cơ bản, đặc trưng về các công việc thực hiện trong doanh nghiệp. Khi cảm thấythông tin thu thập qua bản câu hỏi không được đầy đủ, cán bộ phân tích nên thảo luận lại với cácnhân viên thực hiện công việc. Nhìn chung, bản câu hỏi cung cấp các thông tin nhanh hơn và dễthực hiện hơn so với hình thức phỏng vấn. Ðể nâng cao chất lượng thông tin thu thập qua bảncâu hỏi, cần lưu ý các vấn đề sau: 5.2.1 Cấu trúc của các câu hỏi. 106
    • Ngoài các câu hỏi về các chức năng, nhiệm vụ chính, trong bản câu hỏi cần thiết kế phảicó những câu hỏi về các nhiệm vụ phụ nhân viên phải thực hiện thêm tại nơi làm việc. Tuy nhiêncác câu hỏi cần xoay quanh trọng tâm các vấn đề phải nghiên cứu và bản câu hỏi nên ngắn gọn.Thông thường, không ai thích phải trả lời một bản câu hỏi dài. Một bản câu hỏi càng dài thìngười trả lời càng ít chú ý đến nội dung của các câu hỏi. 5.2.2 Cách thức đặt câu hỏi Các câu hỏi cần thiết kế sao cho thật đơn giản, dễ hiểu, dễ trả lời và có thể trả lời ngắngọn. Ở những nơi nào có thể, nên thiết kế các câu hỏi đóng mở, ví dụ, " Theo anh (chị), cườngđộ làm việc có cao quá không?" hoặc các câu hỏi chọn lựa phương án trả lời. Ví dụ với câu hỏi "Theo anh (chị), một nhân viên cần tối thiểu bao nhiêu thời gian để có thể làm quen với công việcvà thực hiện công việc được tốt?", có thể sẽ có các câu trả lời sau đây đối với công nhân viêntrên dây chuyền lắp ráp điện tử:- dưới 1 tháng - 3 tháng - 6 tháng- 1 năm - 3 năm hoặc hơn nữa; 5.2.3 Nơi thực hiện Nên để cho nhân viên thực hiện bản câu hỏi tại nơi làm việc. Những bản câu hỏi thựchiện ở nhà thường được trả lời kém trung thực và ít chính xác. Phân tích công việc có ý nghĩaquan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp; do đó, việc trả lời bản câu hỏi nên được thựchiện trong giờ làm việc sao cho nhân viên không cảm thấy khó chịu vì phải mất thêm thời giancá nhân của họ. 5.3 Quan sát tại nơi làm việc Quan sát tại nơi làm việc cho phép các nhà phân tích chỉ ra đầy đủ và chi tiết thời gian,mức độ thường xuyên, tính phức tạp của các nhiệm vụ, trách nhiệm khi thực hiện các công việckhác nhau, các thông tin về điều kiện làm việc, các máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu sử dụngtrong quá trình làm việc và hiệu quả thực hiện công việc. Phương pháp quan sát được sử dụnghữu hiệu đối với những công việc có thể đo lường, dễ quan sát, thấy những công việc khôngmang tính chất tình huống như công việc của người y tá trực hoặc không phải tính toán suốt ngàynhư công việc của các nhân viên phòng kế toán. Tuy nhiên, phương pháp quan sát có thể cungcấp thông tin thiếu chính xác do hội chứng Hawthone ( khi biết mình được quan sát, nhân viêncó thể làm việc với phương pháp, tốc độ, cách thức, kết quả khác với khi thực hiện công việctrong những lúc bình thường), điều này phản ánh rõ rệt nhất khi cán bộ phân tích vừa quan sát,vừa phỏng vấn nhân viên thực hiện công việc. Ðể nâng cao chất lượng thu thập thông tin, nên áp dụng: - Quan sát kết hợp với các phương tiện kỹ thuật như quay phim, video, đèn chiếu hoặcđồng hồ bấm giây nhằm ghi lại các hao phí thời gian trong thực hiện công việc. - Quan sát theo chu kỳ của công việc hoàn thành. (lưu ý chu kỳ của công việc là thờigian cần thiết để hoàn thành trọn vẹn một công việc). - Nói chuyện trực tiếp với các nhân viên thực hiện công việc để tìm hiểu những điềuchưa rõ hoặc bổ sung những điều bỏ sót trong quá trình quan sát. 5.4 Ghi chép lại trong nhật ký Trong một số trường hợp, nhà phân tích thu thập thông tin bằng cách yêu cầu công nhânghi lại, mô tả lại các hoạt động hàng ngày trong một cuốn sổ. Nhờ phương pháp này mà côngnhân viên phóng đại tầm quan trọng của công việc trong các phương pháp trước không còn làvấn đề không giải quyết được. 5.5 Bảng danh sách kiểm tra Ðây là danh sách các mục liên quan tới công việc. Thường là cá nhân người đảm nhậncông việc hoặc cấp quản trị trực tiếp của đương sự được yêu cầu kiểm tra xem mỗi mục có ápdụng cho công việc đang cần kiểm tra không. Danh sách kiểm tra rất hữu dụng bởi vì các cánhân dễ trả lời. 5.6 Phối hợp các phương pháp Thông thường thì các nhà phân tích không dùng một phương pháp đơn thuần nữa. Họthường phối hợp các phương pháp khác nhau. Chẳng hạn như muốn phân tích công việc củanhân viên hành chánh văn phòng, họ có thể sử dụng bảng câu hỏi, phối hợp với phỏng vấn và 107
    • quan sát thêm. Khi nghiên cứu các công việc sản xuất, họ dùng phương pháp phỏng vấn phốihợp với phương pháp quan sát.IV. KHAI THÁC CÁC NGUỒN KHẢ NĂNG LAO ĐỘNG 1. Phân tích hiện trạng nguồn lao động trong doanh nghiệp Việc phân tích nguồn lao động nội tại của doanh nghiệp sẽ giúp nhà quản trị kinh doanh pháthiện được điểm mạnh, điểm yếu của mình trên cơ sở đó đề ra các giải pháp hữu hiệu cho quátrình quản trị nhân sự. Các bước thực hiện quá trình phân tích nguồn lao động nội tại bao gồm: Bước 1: Thu thập thông tin, bao gồm các thông tin sau: - Phân tích cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý trong doanh nghiệp: loại hình tổ chức, phân côngchức năng quyền hạn giữa các bộ phận cơ cấu trong doanh nghiệp, mối quan hệ giữa các bộ phậnnhằm phát hiện ra những bất hợp lý của cơ cấu lao động trong một tổ chức. - Phân tích khả năng làm việc của nhân viên căn cứ vào hồ sơ nhân viên. Loại thông tin này sẽgiúp nhà quản trị biết rõ cơ cấu lao động về lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kỹnăng, sở thích về nghề nghiệp, sở thích muốn được đào tạo phát triển của người lao động. - Dùng bản câu hỏi, phỏng vấn để đánh giá nhân viên và các vấn đề khác có liên quan như sựthỏa mãn đối với công việc, môi trường văn hóa của tổ chức... Bước 2: Ðánh giá hiệu quả hoạt động của nhân viên thông qua các chỉ tiêu: năng suất laođộng, chi phí lao động, mức độ sử dụng quỹ thời gian, hiệu quả công suất máy móc thiết bị... Bước 3: Tổng hợp các nguồn thông tin đã thu thập được để xác định điểm mạnh, điểm yếu vềnguồn lao động của doanh nghiệp. Bước 4: Ðề ra các giải pháp, cơ sở của giải pháp là so sánh nhu cầu với khả năng thực tế củadoanh nghiệp. - Trường hợp nhu cầu nhỏ hơn khả năng của doanh nghiệp nhà quản trị áp dụng các biệnpháp sau: + Hạn chế việc tuyển dụng. + Giảm bớt giờ lao động. + Giãn thợ cho nghỉ tạm thời. + Cho nghỉ hưu sớm, sa thải bớt lao động theo quy định của pháp luật. - Trường hợp khả năng phù hợp với nhu cầu nhà quản trị cần áp dụng các biện pháp hoànthiện như sau: + Thuyên chuyển nhân viên nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất. + Thăng chức căn cứ vào thâm niên, thành tích và khả năng làm việc của nhân viên. + Giáng chức đối với những nhân viên thiếu khả năng, không chịu học hỏi thêm, làm biếng... Tuy nhiên đây là vấn đề tế nhị, phức tạp và khó khăn do đó đòi hỏi nhà quản trị phải hết sứcthận trọng khi thực hiện quyết định. Trường hợp nhu cầu lớn hơn khả năng: sau khi sắp xếp lại mà doanh nghiệp vẫn không cânđối được nguồn nhân lực, doanh nghiệp phải tiến hành tuyển mộ và tuyển chọn qua việc khaithác nguồn nhân lực từ bên ngoài. 2. Phân tích các khả năng thu hút nhân sự từ bên ngoài: 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút lao động từ bên ngoài: 2.1.1 Các yếu tố bên ngoài: 108
    • - Khung cảnh kinh tế: chu kỳ kinh tế ảnh hưởng lớn đến nguồn lao động trong giai đoạnkinh tế suy thoái hoặc kinh tế bất ổn có chiều hướng đi xuống doanh nghiệp vẫn phải duy trì lựclượng lao động có tay nghề và một mặt phải giảm chi phí lao động. Ngược lại, khi kinh tế pháttriển và có chiều hướng ổn định thường nhu cầu lao động tăng lên do đó sẽ ảnh hưởng đến thịtrường lao động nói chung. - Luật pháp: thường thường luật lao động ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tuyển dụnglao động của doanh nghiệp, vì muốn sử dụng lao động các doanh nghiệp bắt buộc phải trả lươngcho người lao động lớn hơn mức lương tối thiểu nhà nước quy định đảm bảo điều kiện làm việccho người lao động và các vấn đề khác có liên quan đến quyền lợi người lao động. - Văn hóa - Xã hội: nề nếp văn hóa - xã hội ảnh hưởng lớn đến hoạt động của con người,sự thay đổi về thái độ làm việc và nghỉ ngơi, sự thay đổi về lối sống xã hội, sự thay đổi về cáchnhìn nhận đối với lao động nữ....Tất cả các yếu tố đó đều ảnh hưởng đến thị trường lao động. - Ðối thủ cạnh tranh: để tồn tại và phát triển nhất thiết doanh nghiệp phải dựa vào nguồnlao động của mình, do đó để thu hút lao động các doanh nghiệp thường có các chính sách lươngbổng sao cho khuyến khích và giữ nhân viên làm việc với mình.... Do đó, để duy trì phải biết đềra các chính sách để thu hút lao động một cách có hiệu quả. - Chính quyền và đoàn thể: chính quyền và cơ quan đoàn thể tác động đến doanh nghiệpnhằm đảm bảo các quyền lợi của người lao động. Do đó, ảnh hưởng của các tổ chức này đối vớicác doanh nghiệp thường liên quan đến chế độ, chính sách tuyển dụng, sa thải... lao động. 2.1.2 Các yếu tố nội tại của doanh nghiệp: - Chính sách cán bộ của doanh nghiệp: những doanh nghiệp theo đuổi chính sách đề bạtnội bộ sẽ tự làm hạn chế số lượng ứng viên từ bên ngoài, đặc biệt là chức vụ quan trọng vàthường khó có những ứng viên tốt nhất cho công việc. - Uy tín của doanh nghiệp: nói lên sức hấp dẫn của doanh nghiệp, mặc dù công việc chưađược thích thú lắm nhưng tên gọi, quy mô tổ chức, tuyển dụng...của doanh nghiệp làm tăng thêmkhả năng thu hút được những ứng viên giỏi. - Sức hấp dẫn của công việc: những công việc có nhiều cơ hội thăng tiến, vị trí xã hội tốtkhông đòi hỏi khắt khe đối với ứng viên... sẽ dễ thu hút được ứng viên hơn. - Khả năng tài chính của doanh nghiệp: tiền lương luôn luôn là một động lực rất quantrọng đến quá trình thúc đẩy mức độ đóng góp của người lao động trong doanh nghiệp, Trảlương cao sẽ có khả năng thu hút được nhiều người lao động giỏi và kích thích nhân viên làmviệc hăng say, nhiệt tình, tích cực, sáng tạo do đó mang lại lợi ích cho doanh nghiệp cao hơn.Ngược lại, nếu doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, không có khả năng trả lương cao sẽ gặpkhó khăn trong việc thu hút lao động giỏi trên thị trường. 2.2 Các hình thức thu hút lao động từ bên ngoài: 2.2.1 Thu hút lao động từ bên ngoài thông qua quảng cáo: 2.2.1.1 Nhật báo: để tuyển nhân viên hành chính kế toán, công nhân sản xuất bìnhthường. - Ưu điểm: * Thông tin rất nhanh. * Chi phí rẻ * Thông tin việc làm được đăng ở một khu riêng biệt, người có nhu cầudễ phát hiện. - Nhược điểm: * In ấn kém, không hấp dẫn. * Chu kỳ sống ngắn. * Phải trả tiền cho số độc giả đông hơn nhiều so với số người có nhu cầu. 2.2.1.2 Tạp chí chuyên ngành: áp dụng trong trường hợp cần tuyển chuyên gia chuyênngành, quản trị gia. 109
    • - Ưu điểm: * Chu kỳ sống dài hơn. * Hình thức in hấp dẫn linh hoạt hơn * Môi trường xuất bản, nhà xuất bản làm tăng giá trị của thông tin. - Nhược điểm: * Thông tin đăng chậm hơn. * Chi phí cao hơn. 2.2.1.3 Ðài truyền hình, phát thanh: - Ưu điểm: * Thông tin được phổ biến rộng rãi. * Hấp dẫn - Nhược điểm: * Chi phí rất cao. * Ðăng được thông tin ngắn. 2.2.1.4 Gửi thư trực tiếp: - Ưu điểm: * Ðúng đối tượng. * Ðối tượng nhận tin thấy rõ tầm quan trọng của của thông tin, thườngmau chóng liên hệ với cơ quan. * Rẻ thông tin đầy đủ - Nhược điểm: * Khó phát hiện ra người có nhu cầu 2.2.2 Thu hút lao động thông qua các cơ quan giới thiệu việc làm: 2.2.2.1 Các cơ quan giới thiệu việc làm của nhà nước hay các cơ quan giới thiệu việclàm không vì mục đích lợi nhuận như: phòng lao động và thương binh xã hội, các tổ chức nghiệpđoàn, các tổ chức từ thiện... - Ưu điểm: * Thông tin rất đầy đủ. * Xử lý thông tin nhanh, giới thiệu đúng người đúng việc. - Nhược điểm: * Thủ tục phức tạp. 2.2.2.2 Các tổ chức tư nhân. - Ưu điểm: * Thực hiện sơ tuyển. * Linh hoạt, thủ tục nhanh. - Nhược điểm: * Hạn chế về thông tin. 2.2.2.3 Tuyển trực tiếp từ các trường lớp đào tạo chuyên môn. Ðể tuyển chọn được lao động có chất lượng tốt phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp thườngchọn các trường đào tạo chuyên môn. Các doanh nghiệp thường thực hiện thông qua các hìnhthức: Quà tặng, tài trợ cho một số dự án, chương trình nghiên cứu khoa học, thể thao... các hợpđồng này có tác dụng làm cho uy tín của doanh nghiệp trở nên quen thuộc với sinh viên. Ðồngthời doanh nghiệp cũng cung cấp các thông tin về nhu cầu cần tuyển nhân viên mới, yêu cầu đòihỏi về công việc giúp cho việc tuyển chọn những sinh viên tốt nghiệp được kết quả tốt.V. BỐ TRÍ VÀ SỬ DỤNG LAO ÐỘNG. 1. Khái niệm: Bố trí và sử dụng lao động là sự sắp xếp, bố trí và phân công lao động,quản trị lao động nhằm giải quyết 3 mối quan hệ cơ bản sau: - Người lao động và đối tượng lao động. - Người lao động và máy móc thiết bị. - Người lao động với người lao động trong quá trình lao động 2. Nội dung phân công và hiệp tác lao động. 2. 1 Phân công lao động. 2.1.1 Khái niệm 110
    • Phân công lao động là sự phân công thành những phần việc khác nhau theo số lượng và tỷ lệnhất định phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó bố trí côngnhân cho từng công việc phù hợp với khả năng và sở trường của họ. Phân công lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: cơ cấu sản xuất, loại hình sản xuất,trình độ tổ chức quản lý, trình độ kỹ thuật... Do đó, khi phân công lao động phải chú ý các nhântố trên để phân công lao động hợp lý. 2. 1.2 Các hình thức phân công lao động: 2.1.2.1 Phân công lao động theo công nghệ: là phân công loại công việc theo tính chất quytrình công nghệ, ví dụ: ngành dệt, may cơ khí. Hình thức này cho phép xác định nhu cầu côngnhân theo nghề tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn của công nhân. 2.1.2.2 Phân công lao động theo trình độ: là phân công lao động theo mức độ phức tạp củacông việc, hình thức này phân công thành công việc giản đơn và phức tạp (chia theo bậc). Hìnhthức này tạo điều kiện kèm cặp giữa các loại công nhân trong quá trình sản xuất nâng cao chấtlượng sản phẩm, trình độ lành nghề của công nhân. 2.1.2.3 Phân công lao động theo chức năng: là phân chia công việc cho mỗi công nhân viêncủa doanh nghiệp trong mối quan hệ với chức năng mà họ đảm nhận. Ví dụ: Công nhân chính, công nhân phụ, công nhân viên quản lý kinh tế, kỹ thuật, hànhchánh... Hình thức này xác định mối quan hệ giữa lao động gián tiếp và lao động trực tiếp và tạo điềukiện cho công nhân chính được chuyên môn hóa cao hơn nhờ không làm công việc phụ. 2. 2 Hiệp tác lao động. 2. 2.1 Khái niệm Hiệp tác lao động là sự phối hợp công tác giữa những người lao động, giữa các bộ phận làmviệc thành những nhóm để đạt được mục đích cuối cùng là chế tạo sản phẩm hoàn chỉnh, hayhoàn thành một khối lượng công việc nào đó. Như vậy hiệp tác lao động là kết quả của phâncông lao động. Phân công lao động càng sâu, hiệp tác lao động càng rộng, càng có nhiều ngườilao động và nhiều dạng lao động thì càng cần thiết phải có hiệp tác lao động 2.2.2 Quá trình xây dựng nhóm làm việc được thực hiện qua các bước sau: Bước 1: Xác định các vấn đề mà nhóm cần giải quyết. Các thành viên trong nhóm sẽ thamgia vào thảo luận các vấn đề nhóm cần giải quyết để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm hayhoàn thành một khối lượng công việc nào. Ðây chính là quá trình nhóm xác định mục tiêu hànhđộng cho nhóm. Bước 2: Phân tích và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề đang giải quyết. Trên cơ sởthu thập các thông tin cần thiết liên quan đến việc giải quyết đề, cả nhóm cùng tham gia và thảoluận phân tích vấn đề, xác định rõ các yếu tố của vấn đề. Ðồng thời phân định rõ vai trò tác độngqua lại giữa các cá nhân trong nhóm, giữa người quản lý với nhân viên, giữa những người cótrình độ, có chuyên môn khác nhau. Bước 3: Lựa chọn giải pháp và thực hiện. Trên cơ sở các yếu tố của vấn đề đã được xácđịnh, cả nhóm bàn bạc thảo luận để lựa chọn ra giải pháp tốt nhất và thực hiện giải pháp đó. 2. 2.3 Các hình thức hiệp tác lao động. 2.2.3.1 Tổ chức sản xuất: là một tập thể làm việc kết hợp những công nhân có cùng một hoặcnhiều nghề cùng nhau thực hiện một công việc nhất định. 2. 2.3.1.1 Căn cứ vào nghề: - Tổ sản xuất theo nghề: gồm những công nhân làm một nghề giống nhau. Hình thức nàytạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn hóa, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, thi đua, kèm cặpgiúp đỡ nhau trong sản xuất. 111
    • - Tổ sản xuất tổng hợp: gồm những công nhân có nhiều nghề khác nhau. Tổ sản xuấttổng hợp có thể tổ chức dưới hai dạng: + Tổ sản xuất gồm những công nhân chính và công nhân phụ có liên quan chặt chẽ vớinhau trong công việc sản xuất và phục vụ sản xuất. Ví dụ: công nhân may và công nhân sửa chữamáy may, hình thức này giúp kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất và phục vụ sản xuất, tạo điều kiệngiảm sự lãng phí không cần thiết và nâng cao năng suất lao động . + Tổ sản xuất gồm những công nhân có nghề khác nhau cùng thực hiện một giai đoạncông nghệ hoặc toàn bộ quá trình sản xuất. Hình thức này giúp phối hợp chặt chẽ các bước côngviệc nhằm hoàn thành toàn bộ công việc chế tạo sản phẩm, giảm thời gian sản xuất trong ngày. 2.2.3.1.2 Căn cứ vào thời gian sản xuất trong ngày. - Tổ sản xuất theo ca: gồm công nhân trong một ca làm việc. Ưu: sinh hoạt thuận lợi, theo dõi và thống kê năng suất lao động từng người nhanh... Nhược: chế độ bàn giao ca phức tạp, đối với sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài xác địnhkết quả công việc khó khăn. - Tổ sản xuất thông ca: gồm công nhân ở các ca khác nhau cùng làm việc ở những chỗnhất định hoặc cùng sử dụng chung máy móc thiết bị. Ưu: đảm bảo máy móc hoạt động liên tục, giảm thời gian chuẩn bị và kết thúc ca. Nhược: sinh hoạt tổ khó khăn, quản lý phức tạp nên áp dụng đối với những sản phẩm cóchu kỳ sản xuất dài. 2.3.2 Tổ chức ca làm việc: là hình thức hợp tác lao động về mặt thời gian, việc tổ chứcsố ca phụ thuộc các yếu tố sau: - Ðặc điểm kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải hoạt động liên tục nếungừng gây thiệt hại về kinh tế như: điện, nước, luyện kim... phải sản xuất 3 ca. - Ðộ dài ca làm việc ( 8 giờ): 2 hoặc 3 ca. - Hiệu quả kinh tế của tổ chức ca làm việc: chú ý đặc điểm sinh lý người lao động. Do đóchú ý ít sử dụng ca đêm (tránh 3 ca). Kết quả của hiệp tác lao động là giúp cho toàn bộ nhân viên của nhóm trong quá trình thựchiện công việc có điều kiện quan tâm đến công việc nhiều hơn thông qua sự trao đổi thông tinvới nhau. Qua đó cấp trên có điều kiện lắng nghe cấp dưới khuyến khích họ làm việc, cấp dướighi nhận được sự quan tâm sẽ được khuyến khích nhiều hơn. Quá trình này giúp cho khả nănglàm việc của mọi thành viên trong nhóm tăng lên, mọi người làm việc tốt hơn, họ ghi nhận rằngdoanh nghiệp muốn họ thành đạt nên muốn đóng góp nhiều hơn cho doanh nghiệp, nhờ vậy mànăng suất lao động được cải thiện.VI. ÐÀO TẠO HUẤN LUYỆN VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN VIÊN. 1. Nhu cầu đào tạo, huấn luyện và phát triển nhân viên. Loài người đang sống trong một thời đại mà nhịp độ công nghệ thay đổi diễn ra với tốc độ vũbão - đó là thời đại bùng nổ công nghệ, bùng nổ thông tin. Những thay đổi này đã tác động mạnhđến kỹ thuật sản xuất, cung cách quản lý, đến nếp sống và suy nghĩ của tất cả mọi người, và cũngchính sự bùng nổ này mà các nhà quản trị thấy cần phải trang bị cho nhân viên các kiến thức mớiđể theo kịp với sự thay đổi. Nhu cầu đào tạo và phát triển trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Công tác đào tạo và huấn luyện phải giúp ích cho việc thực hiện các mục tiêu của doanhnghiệp. Nói cách khác, mục tiêu đào tạo và huấn luyện nhân viên là nhằm thực hiện mục tiêu củadoanh nghiệp. Ðào tạo và phát triển nhân viên là một tiến trình liên tục không bao giờ ngừng.Các bước tiến hành thông thường là: 112
    • - Ðịnh rõ nhu cầu đào tạo và phát triển: Nhu cầu thay đổi không chỉ đối với từng vị trí ở cáccấp quản trị hay trong cơ cấu tổ chức mà còn đối với từng người, do kiến thức cơ bản, tiềm năngcủa mỗi người là không giống nhau. - Ấn định mục tiêu đào tạo cụ thể. - Lựa chọn các phương pháp đào tạo thích hợp. Nhu cầu đào tạo và phát triển quy định phương pháp đào tạo. Không có bất kỳ chương trìnhhay phương pháp nào hợp với mọi nhu cầu. Chương trình và phương pháp cần được chọn lựatrên cơ sở chúng thỏa mãn những nhu cầu cá nhân và hoàn thành các mục tiêu phát triển nhân sựvà mục tiêu của doanh nghiệp một cách có kết quả và hữu hiệu đến mức nào. Vấn đề quan trongsao cho việc đào tạo phải gắn liền với thực tiễn. Vấn đề cốt lõi là cấp quản trị cao nhất phải tích cực ủng hộ và tạo điều kiện cho chương trìnhphát triển. Sự hỗ trợ của những người quản trị cao nhất không được chỉ dừng ở mức ra nhữngquyết định, chính sách mà cần chú trọng đến đào tạo, can thiệp và tham gia tích cực của họ vàoquá trình đào tạo và phát triển. 2.Tiến trình đào tạo và phát triển nhân sự . Sau khi đã nghiên cứu nhu cầu đào tạo và phát triển nhân sự, doanh nghiệp phải tiếp tụcnghiên cứu tiến trình đào tạo và phát triển nhân sự. Tiến trình này được biểu hiện qua sơ đồ 5.4dưới đây: Công việc Công việc Công việc hiện tại sắp tới tương lai Kết quả Kết quả Năng lực Năng lực Năng lực mới cần thực thực hiện hiện nay cần có có do công nghệ hiện thực dự định và phương pháp tế thay đổi Chênh lệch nhu cầu Chênh lệch nhu cầu xác Nhu cầu bổ sung xác định bằng kiểm định bằng kiểm tra việc xác định bởi ban tra việc thực hiện thực hiện quản trị cấp cao. Nhu cầu đào tạo từng người Nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp Đào tạo tại Đào tạo trong và Phát triển chỗ ngoài doanh nghiệp tổ chức Sơ đồ 5.4: Quá trình đào tạo và phát triển nhân sự trong doanh nghiệp . Những người được chọn làm việc cho doanh nghiệp có thể đã có những kỹ năng cần thiết,nhưng cũng có những người có rất ít hoặc không có khả năng thích hợp. Do vậy, doanh nghiệpthường phải đào tạo và huấn luyện những người này. Các hoạt động đào tạo, huấn luyện và phát triển nhân viên rất quan trọng đối với doanhnghiệp và cả cá nhân. Ðối với doanh nghiệp, đào tạo, huấn luyện truyền đạt những kỹ năng vàkiến thức cần thiết để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả hoạt động. 113
    • Những tiến bộ về công nghệ dẫn đến sự thay đổi về những nhu cầu đối với nguồn nhân lực.Do đó, để khỏi bị lạc hậu cần phải cập nhật các kỹ năng và kiến thức. Việc đào tạo, huấn luyệnnhân viên có thể được thực hiện theo 3 giai đoạn: lúc mới đầu nhận việc, trong thời gian làm việcvà để chuẩn bị cho những công việc mới. Nội dung đào tạo, huấn luyện có thể liên quan đến các khía cạnh nghiệp vụ công việc, hoặc đểnâng cao trình độ nhận thức và xử lý vấn đề.Các doanh nghiệp thường tổ chức nhiều hình thức đào tạo khác nhau, một trong những hình thứcđó là các khóa huấn luyện làm quen với nghề nghiệp dành cho những nhân viên mới. Các khóahọc này cung cấp thông tin, định hướng cho những nhân viên mới những hiểu biết và các chínhsách của doanh nghiệp. 2.1 Huấn luyện tại nơi làm việc. Hầu hết mọi nhân viên đều có thể tiếp thu được kinh nghiệm nghề nghiệp khi làm việc. Họ cóthể học hỏi thông qua quan sát và sự chỉ dẫn của cấp trên của họ. Ðể mở rộng tầm hiểu biết, nhânviên có thể dược luân phiên làm việc giữa các bộ phận khác nhau trong một khoảng thời gian đểnhằm hiểu biết tổng quát về các công việc có liên quan. Học bằng thực hành là phương pháp đàotạo trực tiếp qua việc làm cụ thể dưới sự hướng dẫn của một người có trình độ và kinh nghiệm. 2.2 Huấn luyện ngoài nơi làm việc. Nhân viên có thể tạm ngưng công việc để đi học và được thực hiện bên ngoài nơi làm việc vàthực tế có rất nhiều phương pháp để áp dụng. Các doanh nghiệp hoặc gửi người theo học ở cáctrường lớp đào tạo bên ngoài doanh nghiệp, hoặc tổ chức các lớp ngay tại doanh nghiệp. Ở cácnước tiên tiến, các công ty tổ chức các phương pháp đào tạo phức tạp và tốn kém hơn như đàotạo ngoài hành lang (vestribule training), trong đó nhân viên được tập làm việc, thao tác trênnhững máy móc, thiết bị như trong phòng làm việc thật sự, nhưng ở trong phòng được dànhriêng để đào tạo. Ngày nay đã có sự thay đổi rất sâu, rộng về phương pháp được sử dụng để truyền đạt nhữngkỹ năng và kiến thức tùy theo từng công việc khác nhau như thông qua các buổi thảo luận, cáccuộc trao đổi kiến thức kinh nghiệm, phương pháp hội nghị, trò chơi kinh doanh, nghiên cứu tìnhhuống v.v... .VII. ÐÁNH GIÁ NĂNG LỰC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN. 1. Ðịnh nghĩa và mục đích của việc đánh giá. 1.1 Ðịnh nghĩa. Ðánh giá năng lực thực hiện công việc hay còn gọi là đánh giá thành tích công tác(performance appraisal) là một hệ thống chính thức được duyệt xét và đánh giá sự hoàn thànhcông tác của một cá nhân theo định kỳ. Qua định nghĩa cho ta thấy đây là một hệ thống chính thức, như vậy phải hiểu rằng nó baogồm cả một tiến trình đánh giá khoa học, có tính hệ thống và phải được thực hiện theo định kỳtùy theo tính chất công việc, quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2 Mục đích của đánh giá . Ðánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên là một hoạt động quan trọng của quản trịnhân sự, giúp doanh nghiệp có cơ sở để hoạch định, tuyển chọn, đào tạo và phát triển nhân sự.Ðể đánh giá đúng năng lực thực hiện công việc của nhân viên, nhà quản trị cần phải hiểu đượcmục đích của việc đánh giá: - Nâng cao khả năng thực hiện công việc và cung cấp những thông tin phản hồi cho nhân viênbiết được mức độ thực hiện công việc, từ đó có biện pháp nâng cao và hoàn thiện hiệu năng côngtác. 114
    • - Ðánh giá năng lực thực hiện công việc giúp doanh nghiệp có những dữ liệu cho biết khảnăng thăng tiến của nhân viên. Nhờ sự đánh giá này doanh nghiệp có thể có cơ sở để hoạch địnhtài nguyên nhân sự. - Giúp nhân viên điều chỉnh, sửa chữa các sai lầm trong quá trình làm việc, đồng thời làm cơsở để khuyến khích động viên họ. - Ðánh giá năng lực thực hiện công việc giúp cho doanh nghiệp có cơ sở dự báo về nhân sựtrong tương lai, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân sự. - Thông qua đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên, nhà quản trị có thể điềuchỉnh việc bố trí sử dụng nhân viên cho phù hợp với công việc, phát hiện những tiềm năng cònẩn giấu trong nhân viên giúp họ phát triển. 2. Tiến trình đánh giá thực hiện công việc. Tiến trình đánh giá khả năng thực hiện công việc của nhân viên được biểu hiện qua sơ đồ 55như sau: Xác định mục Ấn định kỳ vọng công việc Xem xét công việc tiêu đánh giá (phân tích công việc) thực hiện Thảo luận đánh giá Đánh giá sự hoàn với nhân viên thành công việc Sơ đồ 55: Tiến trình đánh giá. Tiến trình đánh giá chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài: Luật lao động, công đoàn.hẳng hạn, như công đoàn có thể gây áp lực với các cấp quản trị đòi tăng lương, tăng ngạch chonhững người có thâm niên hơn là dựa vào thành tích công tác. Tiến trình đánh giá bắt đầu bằngviệc xác định mục tiêu của đánh giá, sau đó ấn định các kỳ vọng hoàn thành công tác của nhânviên, nghĩa là phân tích lại công việc hay duyệt xét lại bản phân tích công việc. Trên cơ sở đóxem xét mức độ nhân viên hoàn thành công việc, tiến hành đánh giá qua việc đối chiếu so sánhgiữa công việc đã thực hiện được với bản phân tích công việc. bước cuối cùng, sau khi đánh giálà thảo luận việc đánh giá này với nhân viên. Ðây là vấn đề quan trọng nhất trong quá trình đánhgiá năng lực thực hiện công việc của nhân viên, bởi vì qua đó nhân viên biết được lãnh đạo đánhgiá họ như thế nào và họ cần làm gì để thực hiện công việc tốt hơn thông qua phỏng vấn đánhgiá. 3. Phỏng vấn đánh giá. Thông thường nhân viên rất thận trọng với những điểm nhận xét đánh giá, thái độ, hành vicủa nhà lãnh đạo. Do đó, các cấp quản trị cần phải chuẩn bị kỹ cũng như tiến hành một cách cẩnthận, nếu không tiến trình này sẽ thất bại. Tùy theo mục đích phỏng vấn và đối tượng nhân viên, nhà quản trị có thể lựa chọn các hìnhthức đánh giá phù hợp. Trong thực tế, các nhà quản trị có thể gặp những khó khăn khi thảo luậnvới nhân viên về đánh giá thực hiện công việc. Nhiều nhà quản trị cảm thấy rất khó khăn khiphải phê bình nhân viên, ngược lại, nhân viên cảm thấy khó chấp nhận những phê bình của cấptrên. Vấn đề quan trọng là phải xây dựng cho được hệ thống đánh giá khoa học, nhà quản trị phảicó năng lực, có nghệ thuật trong việc thực hiện tiến trình này. 4. Phương pháp đánh giá. Việc áp dụng phương pháp đánh giá thực hiện công việc của nhân viên là tùy thuộc vào xácđịnh mục tiêu đánh giá. Chẳng hạn, mục tiêu chủ yếu là thăng chức, tăng lương thường áp dụngphương pháp thang điểm hay bảng điểm (rating scale method) có thể là thích hợp nhất. Ngược 115
    • lại, mục tiêu đánh giá giúp nhân viên làm việc có hiệu quả và phát triển thì phương pháp đánhgiá bằng cách quản trị theo mục tiêu (Management By Objective - MBO) là thích hợp v.v... . 4.1 Phương pháp mức thang điểm. Phương pháp mức thang điểm hay còn gọi là phương pháp bảng điểm được đánh giá thôngqua một đồ thị, bảng 4.3 sẽ cho ta thấy khái niệm đó. Bảng 5.3: Phương pháp mức thang điểm. Tên nhân viên ................................... Chức danh công việc ........................ Bộ quản đốc ..................................... Giai đoạn đánh giá: .......................... Từ ............. đến ............. CÁC YẾU TỐ ÐÁNH Kém Dưới trung bình Trung bình(3đ) Giỏi Xuất sắc GIÁ (1đ) (2đ) (4đ) (5đ) Khối lượng công việc Chất lượng công việc Ðáng tin cậy Sáng kiến Tính thích nghi Sự phối hợp TIỀM NĂNG TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI. Hiện tại đang ở mức tối đa hoàn thành công việc hoàn thành công việc Hiện tại đang ở mức gần tối đa hoàn thành công việc, nhưng có tiềm năng cải tiến đối với công tác khác như:......................................................................................... Có khả năng tiến bộ sau khi được đào tạo và có kinh nghiệm Không thấy có những hạn chế. Theo phương pháp này, đánh giá thực hiện công việc của nhân viên qua một bảng điểm mẫu.Trong đó liệt kê những yêu cầu chủ yếu đối với nhân viên khi thực hiện công việc như số lượng,chất lượng, hành vi, tác phong, sáng kiến và triển vọng của nhân viên . Các yếu tố được đánh giá gồm có hai loại:các đặc tính liên quan đến công việc và các đặc tínhliên quan đến cá nhân đương sự. Các yếu tố liên quan đến công việc thường bao gồm: khốilượng, chất lượng công việc. Các yếu tố liên quan đến cá nhân gồm có các đặc tính như: độ tincậy, sáng kiến, khả năng thích nghi, khả năng phối hợp.... Người đánh giá điền vào một mẫu insẵn bằng cách ghi ký hiệu vào mức độ của mỗi yếu tố. trong bảng có thể để một khoảng trống đểngười đánh giá ghi lời nhận xét. 4.2 Phương pháp xếp hạng. Phương pháp đơn giản nhất có lẽ là phương pháp hay kỹ thuật xếp hạng (rankingmethod/technique), theo đó người được đánh giá được xếp hạng theo thứ tự mỗi đặc tính hay yếutố. Chẳng hạn, như xét theo yếu tố lãnh đạo, có thể là anh Hùng hạng 1, anh Dương hạng 2 vàanh Tiến hạng 3; nhưng xét về mặt phán đoán thì anh Dương hạng 1, anh Hùng hạng 2 và anhTiến hạng 3. Người ta ứng dụng phương pháp này thành 2 phương pháp cụ thể sau đây: 4.2.1 Phương pháp xếp hạng luân phiên. Theo phương pháp xếp hạng luân phiên, điểm đánh giá dựa trên từng đặc tính hay yếu tố theomột thứ tự. Ðầu tiên cần phải làm một bảng danh sách những người được đánh giá. Chẳng hạnđánh giá trình độ thông minh trong danh sách 22 người. Người đánh giá thấy có 2 nhân viênkhông thể đánh giá xét trên yếu tố thông minh, nghĩa là 2 người này không có yếu tố biểu hiệnsự thông minh, người đánh giá gạch chéo 2 nhân viên này. Như vậy, còn lại 20 nhân viên đểđánh giá mức độ thông minh. (xem bảng 5.4). 116
    • Bảng 5.4 : Mẫu xếp hạng luân phiên BẢNG XẾP HẠNG ÐÁNH GIÁ Cột 1 Cột 2 1. Nguyễn văn Mân 11 2. 12 3. 13 ... ... 10 20. Ðoàn ngọc Lâm 4.2.2 Phương pháp so sánh cặp. Phương pháp so sánh cặp cũng tương tự như phương pháp xếp hạng luân phiên. Cáchtiến hành như sau: Viết họ tên của tất cả những người được đánh giá trên một phiếu. Từng cặpnhân viên lần lượt được đem so sánh về những yêu cầu chính (xem bảng 5.5). Người được đánhgiá tốt hơn hẳn sẽ được cho điểm cao hơn và ngược lại, người được đánh giá yếu hơn sẽ đượcđiểm thấp hơn người kia. Sau đó, tổng hợp lại sẽ có kết quả đánh giá chung về thực hiện củanhân viên đó. Bảng 5.5: Bảng xếp hạng so sánh cặp. CHẤT LƯỢNG CÔNG VIỆC So sánh Tên nhân viên được đánh giá Tổng hợp Mân Hùng Toàn Thanh Mân 3 4 3 10 Hùng 1 3 1 5 Toàn 0 1 0 1 Thanh 1 1 4 6 Theo kết quả so sánh ở bảng trên, nhân viên Mân được đánh giá tốt nhất về chất lượng côngcông việc, còn nhân viên Toàn bị đánh giá kém nhất. 4.3 Phương pháp ghi chép lưu trữ. Nhà quản trị ghi lại những vụ việc được đánh giá rất tốt, hoặc rất xấu trong quá trình thựchiện của nhân viên, những vụ việc bình thường sẽ không ghi lại. Do vậy, những nhân viên thựchiện công việc rất tốt hoặc rất yếu sẽ được đánh giá riêng. Ðối với những vụ việc có sai sót lớncần lưu ý kiểm tra lại xem nhân viên đó đã khắc phục được chưa để giúp họ sửa chữa, tránhnhững sai lầm trong quá trình thực hiện công việc (xem bảng 5.6). Bảng 5.6: Mẫu ghi chép vụ việc quan trọng. VỤ VIỆC TÍCH CỰC VỤ VIỆC TIÊU CỰC Ngày tháng Nội dung Ngày tháng Nội dung 15 tháng 3 Làm nhiệm vụ thay thế một nhân 10 tháng 5 Khách hàng phàn nàn viên có người thân bị bệnh về thái độ phục vụ 4.4 Phương pháp đánh giá quan sát hành vi. Phương pháp đánh giá quan sát hành vi được thực hiện trên cơ sở quan sát các hành vi thựchiện công việc của nhân viên. Phương pháp này căn cứ vào hai yếu tố: - Số lần quan sát. - Tần số nhắc lại của hành vi. Thông qua đó nhà quản trị sẽ đánh giá được tình hình thực hiện công việc của nhân viên.Theo phương pháp này, các hành vi đối với công việc được mô tả khách quan và được thực tríchra từ bản ghi chép những vụ việc quan trọng. Ví dụ: khi quan sát hành vi của một nhân viên phục vụ trong nhà hàng cần quan sát những vấnđề sau: 117
    • * Không để khách hàng phàn nàn về sự phục vụ chậm trễ. * Không để khách hàng phàn nàn về vệ sinh thực phẩm. * Trình bày các món ăn tạo cảm giác. - Không để khách hàng phàn nàn về thái độ phục vụ v.v... Ðây là phương pháp khắc phục được nhiều nhược điểm của một số phương pháp khác. Tuynhiên, nó cũng có hạn chế như các hành vi được sử dụng hướng về hoạt động hơn là hướng vềkết quả và phụ thuộc vào trình độ người đánh giá. 4.5 Phương pháp quản trị theo mục tiêu (Management by Objectives-BMO). Theo phương pháp quản trị theo mục tiêu, trọng tâm của việc đánh giá: - Các đặc tính cá nhân qua sự hoàn thành công việc. - Vai trò của nhà quản trị chuyển từ vai trò của người trọng tài phân xử qua vai trò của ngườitư vấn, cố vấn. - Nhân viên từ thụ động chuyển sang tham dự mang tính tích cực Chương trình đánh giá thực hiện công việc theo các vấn đề như sau.: - Sự phối hợp của lãnh đạo và nhân viên trong việc xếp đặt các mục tiêu cho nhân viên trongmột khoảng thời gian nhất định. Trên cơ sở đã thảo luận bản mô tả công việc, nội dung côngviệc, trách nhiệm báo cáo về các việc đó. - Ðịnh kỳ xem xét các kết quả đã đạt được. - Cấp trên và cấp dưới gặp nhau cuối giai đoạn đánh giá để thảo luận kết quả của cấp dưới cóđạt được mục tiêu đã đề ra trước đây hay không. Ðể thực hiện phương pháp này đạt kết quả, nhà quản trị phải cởi mở, đảm bảo thông tin haichiều trong suốt giai đoạn đánh giá. Hai bên cùng nhau thảo luận để giải quyết vấn đề trong cuộcphỏng vấn đánh giá nhằm giúp cho nhân viên công tác tốt hơn. 4.6 Phương pháp theo tiêu chuẩn công việc. Ðánh giá theo phương pháp này là đối chiếu so sánh việc hoàn thành công việc của mỗi nhânviên với tiêu chuẩn đã đề ra hoặc với mức xuất lượng theo yêu cầu. Các tiêu chuẩn phản ánh ở mức bình thường mà một nhân viên bình thường đạt được ở điềukiện bình thường. Các tiêu chuẩn công việc thường được sử dụng đối với sản xuất. Có rất nhiềuphương pháp được sử dụng để xác định các tiêu chuẩn như: nghiên cứu thời gian, nghiên cứu cửđộng hoặc lấy mẫu công việc. Ưu điểm của phương pháp này là tính khách quan của nó, Tuy nhiên đòi hỏi các tiêu chuẩnphải được xây dựng một cách khoa học, chính xác và nhân viên phải giải thích khi thay đổi tiêuchuẩn và cơ sở của việc thay đổi đó. Ngoài các phương pháp trên, các công ty lớn tại các nước phát triển trên thế giới còn áp dụngcác phương pháp khác như: phương pháp đánh giá phân bổ theo chỉ tiêu, phương pháp tườngtrình thực hiện công việc theo trọng số. Các phương pháp này phức tạp nên ít công ty áp dụng,trong phạm vi chương này chỉ nêu tên mà không trình bày cụ thể, bạn đọc có thể nghiên cứu sâuhơn trong các sách quản trị nhân sự. 5. Một số vấn đề cần quan tâm khi đánh giá. Khi đánh giá khả năng thực hiện công việc của nhân viên, nhà quản trị thường vấp phải mộtsố sai lầm cần phải chú ý khắc phục như sau: - Tiêu chuẩn không rõ ràng. - Lỗi thiên kiến: chỉ dựa vào một yếu tố đặc điểm nào đó nổi trội của nhân viên. 118
    • - Xu hướng thái quá: Một số nhà quản trị có xu hướng đánh giá tất cả nhân viên theo xuhướng quá cao hoặc quá thấp. Cách đánh giá này khiến cho nhân viên hoặc tự mãn, hoặc bi quankhông muốn cố gắng phấn đấu để thực hiện công việc. - Xu hướng trung bình chủ nghĩa: đánh giá chung chung hướng về mức trung bình. - Ðịnh kiến cá nhân. Nhà quản trị phải làm cho nhân viên tin tưởng vào sự công bằng. Trong đánh giá cần phảidân chủ , cho nhân viên được tham dự trong tiến trình này. Hệ thống đánh giá phải được thựchiện xây dựng một cách kỹ lưỡng, người phụ trách đánh giá phải được huấn luyện toàn diện.Trên cơ sở đánh giá đúng đắn khách quan để thực hiện chính sách lương thưởng, kỷ luật kịp thời,nghiêm minh nhằm khuyến khích, động viên nhân viên, chú ý đào tạo phát triển họ đảm bảo chodoanh nghiệp có được nguồn nhân lực đáp ứng chiến lược kinh doanh trong tương lai.VIII. TRẢ CÔNG LAO ĐỘNG 1. Khái niệm Khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng ở các nước trên thế giới. Ở Pháp, sự trả côngđược hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng có bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích,các khoản phụ khác được trả trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền hay hiện vật, mà người sử dụnglao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động Đài Loan: Tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc;bất luận là dùng tiền lương, lương bổng, phụ cấp có tính chất lương, tiền thưởng hoặc dùng mọidanh nghĩa khác để trả cho họ theo giờ, ngày tháng, theo sản phẩm Nhật Bản: Tiền lương, bất luận được gọi là tiền lương, lương bổng, tiền được chia lãihoặc những tên gọi khác là chỉ thù lao cho lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho côngnhân Tổ chức lao động quốc tế (ILO):Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận têngọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữangười sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp qui quốc gia, do người sửdụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằngmiệng, cho một công nhân đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làmhay sẽ phải làm. Bản chất tiền lương cũng thay đổi tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nhận thứccủa con người. Với việc áp dụng quản trị nguồn nhân lực vào trong doanh nghiệp, tiền lươngkhông phải đơn thuần chỉ là giá cả sức lao động, quan hệ giữa người sử dụng lao động và ngườilao động đã có những thay đổi căn bản, quan hệ này có thể chuyển từ hình thức bóc lột, mua bánhàng hóa sang hình thức quan hệ hợp tác song phương, đôi bên cùng có lợi hay không và bảnchất tiền lương là gì, hiện vẫn còn là những vấn đề đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, pháttriển. * Theo quan điểm cải cách tiền lương Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụnglao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh thịtrường Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao đồng và đượctrả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Ngoài ra "các chế độ phụ cấp, tiền thưởng, nâng bậc lương, các chế độ khuyến khíchkhác có thể được thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể hoặc quy định trongdoanh nghiệp" 2. Cơ cấu lương bổng và đãi ngộ Cơ cấu lương bổng và đãi ngộ theo R. Wayne Mondy và Robert M.Noe bao gồm có haiphần: phần thu nhập tài chính và phần thu nhập phi tài chính, được biểu hiện qua sơ đồ 4.6 2.1 Phần tài chính Phần tài chính gồm hai mặt: Trực tiếp và gián tiếp. Tài chính trực tiếp bao gồm: lương côngnhật, lương tháng, tiền hoa hồng, tiền thưởng. Tài chính gián tiếp bao gồm: chế độ bảo hiểm, các 119
    • loại phúc lợi, tiền lương khi vắng mặt. 2.1.1 Tiền lương cơ bản: là tiền lương được xác định trên cơ sở tính đủ các nhu cầu về: sinhhọc, xã hội học, mức độ phức tạp, mức tiêu hao sức lao động trong điều kiện lao động trungbình của từng ngành nghề, công việc. Khu vực hành chính sự nghiệp: được xác định qua hệ thống thang, bảng lương Nhà Nước, đểxếp vào một bậc lương nhất định: đòi hỏi cần phải có: - Trình độ lành nghề - Kiến thức - Kinh nghiệm làm việc nhất định Trong thực tế, người lao động trong khu vực nhà nước thường coi lương cơ bản là thước đochủ yếu về trình độ lành nghề và thâm niên nghề nghiệp. LƯƠNG BỔNG VÀ ĐÃI NGỘ TÀI CHÍNH PHI TÀI CHÍNH Trực tiếp Gián tiếp Công việc Môi trường công việc - Lương - Bảo hiếm - Nhiệm vụ thích - Chính sách hợp lý công nhật - Trợ cấp xã hội thú - Kiểm tra khéo kéo - Lương - Phúc lợi - Phấn đấu - Đồng nghiệp hợp tháng * Về hưu - Trách nhiệm tính - Hoa hồng * An ninh XH - Cơ hội được - Biểu tượng địa vị - Tiền * Đền bù cấp trên nhận phù hợp thưởng * Trợ cấp giáo dục biết - Điều kiện làm việc * Dịch vụ - Cảm giác hoàn thoải mái - Vắng mặt được trả thành công tác - Giờ giấc uyển lương - Cơ hội thăng chuyển * Nghỉ hè, nghỉ lễ, tiến -Chia xẻ công việc ốm đau … Sơ đồ 5.6 Cơ cấu lương bổng và đãi ngộ 2.1.2 Phụ cấp lương: là tiền trả công lao động ngoài tiền lương cơ bản, bổ sung và bùđắp thêm khi người lao động làm việc trong điều kiện không ổn định hoặc không thuận lợi màchưa được tính đến khi xác định lương cơ bản. Ngoài ra, trong thực tế có một loại phụ cấp khác,không phải là phụ cấp lương, cách tính không phụ thuộc vào mức lương người lao động như:phụ cấp di chuyển, phụ cấp đi đường.,v.v… Phần lớn các khoản tiền phụ cấp đều được tính trêncơ sở đánh giá ảnh hưởng của môi trường làm việc.. Tiền phụ cấp có ý nghĩa kích thích ngườilao động thực hiện tốt công việc trong những điều kiện khó khăn, phức tạp hơn bình thường. 2.1.3 Tiền thưởng: là hình thức kích thích vật chất có tác dụng rất tích cực đối vớingười lao động trong việc phấn đấu thực hiện công việc tốt hơn. Trong thực tế, các doanh nghiệpcó thể áp dụng một số hoặc tất cả các loại thưởng: thưởng tiết kiệm nguyên vật liệu, thưởng tăngnăng suất, thưởng sáng kiến, thưởng hoàn thành vượt kế hoạch, thưởng tìm được nơi cung ứng,tiêu thụ , ký kết hợp đồng mới; thưởng về lòng trung thành, tận tâm với doanh nghiệp. Cách tính tiền thưởng rất đa dạng, thông thường các loại tiền thưởng năng suất; thưởngtiết kiệm; thưởng sáng kiến, thưởng cho nhân viên tìm được các khách hàng mới được xác địnhbằng tỷ lệ phần trăm so với phần lợi ích mà nhân viên đem lại cho doanh nghiệp. 2.1.4 Các loại phúc lợi: các loại phúc lợi mà người lao động được hưởng rất đa dạng vàphụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như quy định của chính phủ, tập quán trong nhân dân, 120
    • mức độ phát triển kinh tế và khả năng tài chính, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp. Phúc lợi thểhiện sự quan tâm của doanh nghiệp đến đời sống người lao động, có tác dụng kích thích nhânviên trung thành, gắn bó với doanh nghiệp. Phúc lợi của doanh nghiệp gồm có: bảo hiểm xã hộivà bảo hiểm y tế, hưu trí, nghỉ phép, nghỉ lễ, ăn trưa, trợ cấp cho các nhân viên khi gặp khó khăn,tăng quà cho nhân viên nhân ngày sinh nhật, cưới hỏi, mừng thọ cha mẹ nhân viên… Ngày nay, khi cuộc sống của người lao động đã được cải thiện rõ rệt, trình độ văn hóa,chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động được nâng cao, người lao động mongmuốn không chỉ có các yếu tố vật chất mà còn muốn được có những cơ hội thăng tiến trong nghềnghiệp, được thực hiện những công việc có tính thách thức, thú vị… . Để khuyến khích tạo độngcơ làm việc cho nhân viên, nhà quản trị cần chú ý các yếu tố phi tài chính trong cơ cấu thu nhậpcủa người lao động, xây dựng bầu không khí làm việc thích hợp. 2.2 Thù lao phi vật chất: được xem xét dựa trên các yếu tố: 2.2.1 Bản thân công việc - Nhiệm vụ hứng thú - Trách nhiệm - Công việc đòi hỏi mức phấn đấu - Có cơ hội được cấp trên nhận biết thành tích - Cảm giác hoàn thành công việc - Có cơ hội được thăng tiến 2.2.2 Khung cảnh công việc - Chính sách hợp lý - Đồng nghiệp hợp tính - Biểu tượng địa vị phù hợp - Điều kiện làm việc thoải mái - Giờ làm việc uyển chuyển: chọn giờ phù hợp với hoàn cảnh - Tuần lễ làm việc dồn lại - Chia sẻ công việc: hai nhân viên có thể chia sẻ công việc bán thời gian - Làm việc ở nhà truyền qua computer 3. Mục tiêu của hệ thống tiền lương Hệ thống tiền lương được xây dựng trong doanh nghiệp phải nhằm đạt được bốn mục tiêu cơbản: - Thu hút nhân viên - Duy trì những nhân viên giỏi - Kích thích, động viên nhân viên - Đáp ứng các yêu cầu của pháp luật 3.1 Thu hút nhân viên: Ứng viên đi tìm việc thường không biết mức lương chính xác cho những công việc tương tự,họ thường khó so sánh về mức phúc lợi, khen thưởng, cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp, haytính thách thức, thú vị của công việc. Với mức lương đề nghị khi tuyển dụng đó là yếu tố cơ bảnđể ứng viên quyết định có làm ở doanh nghiệp hay không, lương càng cao càng có khả năng thuhút nhân viên giỏi. 3.2 Duy trì những nhân viên giỏi Để duy trì nhân viên giỏi ngoài mức lương cao còn phải thực hiện công bằng trong nộibộ doanh nghiệp. Khi không công bằng, nhân viên sẽ cảm thấy : khó chịu, bị ức chế, chán nảnvà dễ rời bỏ doanh nghiệp. Tính công bằng thể hiện: - Phân công công việc, đánh giá mức độ thực hiện công việc - Không phân biệt giới tính, dân tộc - Màu da, nguồn gốc gia đình 4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lươngCác yếu tố ảnh hưởng đến việc trả tiền lương rất đa dạng, phong phú, và có thể phân thành cácnhóm và được biểu hiện qua sơ đồ 5.7: 121
    • Bản thân công việc Bản thân nhân viên Thị trường lao động Ấn định mức lương - Mức hoàn thành công việc - Lương trên thị - Thâm niên trường lao động Lương bổng và đãi - Kinh nghiệm - Chi phí sinh họat - Thành viên trung thành ngộ cho từng cá - Xã hội - Tiềm năng của nhân viên - Nền kinh tế nhân - Luật pháp Môi trường công ty -Chính sách - Bầu văn hóa -Cơ cấu tổ chức - Khả năng chi trả Sơ đồ 5.7: Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương 4.1 Căn cứ vào bản thân doanh nghiệp Công việc là yếu tố chính quyết định và ảnh hưởng đến lương bổng. Hầu hết các doanhnghiệp chú trọng đến giá trị thực sự của từng công việc cụ thể. Có rất nhiều phương pháp đánhgiá công việc: 4.1.1 Phân tích công việc và mô tả công việc Để đánh giá được công việc một cách khách quan, cần phải dựa trên các phương phápphân tích khoa học, từ những dữ kiện này sẽ phác họa lên bản mô tả chi tiết công việc quy địnhcác kỹ năng, quy định các hoạt động hàng ngày, trách nhiệm, cố gắng, điều kiện làm việc và cáctiêu chuẩn khác. 4.1.2 Đánh giá công việc Để đánh giá được công việc, cần phải lựa chọn những yếu tố căn bản để có thể đo lườnggiá trị và tầm quan trọng của công việc. Việc đánh giá công việc dựa vào những mục tiêu sauđây: - Xác định cấu trúc công việc trong tổ chức. - Mang đến sự bình đẳng trong công việc. - Triển khai những thứ bậc công việc làm căn cứ cứ trả lương. - Đạt được sự nhất trí giữa cấp quản trị và nhân viên + Các yếu tố thuộc về bản thân công việc cần đánh giá: * Kỹ năng • Yêu cầu lao động trí óc. • Mức độ phức tạp của công việc. • Các phẩm chất cá nhân cần thiết. • Khả năng ra quyết định, đánh giá. • Kỹ năng quản trị. • Các kiến thức về giáo dục, đào tạo cần thiết cho công việc. • Các kỹ năng xã hội. • Khả năng hòa đồng với người khác. • Khả năng thực hiện những công việc chi tiết. • Khả năng thực hiện. • Sự khéo léo tay chân • Khả năng bẩm sinh. • Tính linh hoạt, tháo vát, kinh nghiệm . * Trách nhiệm: 122
    • • Tiền bạc, khen thưởng tài chính, sự cam kết trung thành. • Ra quyết định. • Kiểm soát, lãnh đạo người khác. • Kết quả tài chính. • Quan hệ với cộng động, khách hàng. • Tính chất phụ thuộc, chu đáo - chất lượng công việc. • Vật liệu, dụng cụ, tài sản. • Chính sách của doanh nghiệp. • Đầy đủ thông tin. * Cố gắng: • Yêu cầu thể lực. • Yêu cầu về trí óc. • Quan tâm đến những điều chi tiết. • Áp lực của công việc. • Những yêu cầu cần quan tâm khác * Điều kiện làm việc: Điều kiện công việc, các rủi ro khó tránh Bảng 5.7: Mức độ phức tạp của các yếu tố công việc YẾU TỐ CÔNG VIỆC Trí óc Kỹ Thể Trách Điều kiện làm năng lực nhiệm việc Chuyên viên phân tích hệ thống 4 4 2 1 3 Thư ký nhập liệu 1 1 1 4 1 Chuyên viên lập chương trình 2 3 3 2 4 Điều hành viên 3 2 4 3 2 Bảng trên, trình bày cụ thể việc xếp hạng này đối với các công việc của những người sửdụng máy computer, trước hết nhà quản trị cần phân tích và đánh giá về các yêu cầu trí óc. Đốivới việc sử dụng trí óc thì chuyên viên phân tích hệ thống sử dụng nhiều nhất, kế đến là nhânviên thảo chương trình, sau đó đến điều hành viên và cuối cùng là nhân viên nhập dữ liệu 4.2 Căn cứ vào bản thân nhân viên - Thực hiện công việc, năng suất. - Kinh nghiệm - Thâm niên. - Khả năng thăng tiến. - Sự ưa thích cá nhân. - Thích thú vị trí xã hội, điều kiện yêu cầu. - Mức độ an toàn trong trả lương. - Thời gian làm việc. - Mức độ làm việc (đều đều, đơn điệu). - Các yếu tố khác - nhiều doanh nghiệp còn xét cả về mặt ảnh hưởng của chính trị, v.v... 4.3 Môi trường công ty Chính sách và bầu không khí văn hóa của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến chế độlương bổng. - Một số doanh nghiệp muốn thu hút nhân tài thường trả lương cao hơn các công ty khác.Trả lương cao cũng thúc đẩy nhân viên làm việc có hiệu quả. - Một số doanh nghiệp khác lại áp dụng mức lương hiện hành nghĩa là mức lương mà đạiđa số công ty đang áp dụng. - Có doanh nghiệp lại áp dụng trả lương thấp hơn mức lương hiện hành. Đó là vì tại côngty này đang lâm vào tình trạng tài chính khó khăn, công việc đơn giản không đòi hỏi nhiều vềkỹ năng .v.v... Cơ cấu tổ chức của công ty cũng ảnh hưởng đến cơ cấu tiền lương. Trong một cơ cấu mànhiều tầng nấc trung gian trong bộ máy tổ chức quản trị thì thường chi phí quản lý rất lớn do đócơ cấu tiền lương sẽ bị giảm đối với những nhân viên thừa hành. 123
    • 4.4 Thị trường lao độngVới tư cách là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập thì mọi doanh nghiệp đều phải quan tâm đếnlợi nhuận. Nhưng với tư cách là một tế bào kinh tế của xã hội, mọi doanh nghiệp đều phải quantâm đến những vấn đề của xã hội đang xảy ra bên ngoài doanh nghiệp. Do đó, khi nghiên cứu vềđịnh mức tiền lương, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến các vấn đề lương bổng trên thị trường,chi phí sinh hoạt, các tổ chức công đoàn, xã hội, nền kinh tế và cả đến hệ thống pháp luật v.v...Chỉ riêng về yếu tố luật pháp, chính sách lương bổng cũng phải tuân theo luật lệ của nhà nước. 5. Các hình thức tiền lương 5.1 Những nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương Dưới chế độ XHCN dù thực hiện bất kỳ hình thức tiền lương nào, muốn phát huy đầy đủtác dụng đòn bẩy kinh tế của nó đối với sản xuất và đời sống phải thực hiện đầy đủ nhữngnguyên tắc sau: - Trả lương bằng nhau cho lao động như nhau Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động. Trả lương bằng nhaucho lao động như nhau có nghĩa là khi quy định tiền lương, tiền thưởng cho công nhân viên chứcnhất thiết không được phân biệt giới tính tuổi tác, dân tộc mà phải trả cho mọi người đồng đều sốlượng, chất lượng mà họ cống hiến cho xã hội. - Bảo đảm tốc độ tăng năng suất lao động bình quân phải nhanh hơn tốc độ tăng tiềnlương trung bình trong toàn doanh nghiệp và trong kỳ kế hoạch. Tiền lương bình quân tăng chủyếu phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản do nâng cao năng suất lao động như nâng cao trình độ lànhnghề, giảm bớt thời gian tổn thất cho lao động. Còn năng suất lao động tăng không phải chỉ donhững nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan như: áp dụng kỹ thuậtmới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức tốt lao động và các quá trình sản xuất. Nhưvậy tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có điều kiện khách quan để lớn hơn tốc độ tăng tiềnlương bình quân. Đây là nguyên tắc quan trọng khi tổ chức tiền lương. Có như vậy mới tạo cơ sởgiảm giá thành, hạ giá cả, tăng tích lũy để tái sản xuất mở rộng. - Bảo đảm thu nhập tiền lương hợp lý giữa các ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế. Khi trả lương cho công nhân cần chú ý đến các vấn đề sau: + Mỗi ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân có tính chất phức tạp về kỹ thuật khácnhau. Do đó đối với những người lao động lành nghề làm việc trong các ngành có yêu cầu kỹthuật phức tạp phải trả lương cao hơn những những người lao động làm việc trong những ngànhkhông có yêu cầu kỹ thuật cao. + Tiền lương bình quân giữa các ngành có điều kiện lao động khác nhau cần có sự chênhlệch khác nhau. Công nhân làm việc trong điều kiện nặng nhọc có hại đến sự khỏe phải được trảlương cao hơn những người làm việc trong điều kiện bình thường. Đối với những cơ sở sản xuất ở những vùng xa xôi hẻo lánh, điều kiện khí hậu, giá cảsinh hoạt đắt đỏ, đời sống khó khăn nhân lực thiếu... cần phải dược đãi ngộ tiền lương cao hơnhoặc thêm những khoản phụ cấp thì mới thu hút được công nhân đến làm việc. + Khuyến khích bằng lợi ích vật chất kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng cho người laođộng 5.2 Trả lương theo sản phẩm Hiện nay phần lớn các nhà máy, xí nghiệp ở nước ta đều áp dụng hình thức trả lương theosản phẩm là hình thức tiền lương căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm để trả lương cho cánbộ công nhân viên chức. Sở dĩ như vậy là vì chế độ lương cấp bậc, các khoản phụ cấp chưa kiểm tra giám sát đượcchặt chẽ về sức lao động của mỗi người để đãi ngộ về tiền lương một cách đúng đắn. Hình thứctiền lương trả theo sản phẩm là hình thức căn bản để thực hiện quy luật phân phối theo lao động.Để quán triệt đầy đủ hơn nữa nguyên tắc phân phối theo số lượng và chất lượng lao động nghĩalà căn cứ trực tiếp vào kết quả lao động của mỗi người sản xuất: ai làm nhiều, chất lượng sảnphẩm tốt, được hưởng nhiều lương; ai làm ít, chất lượng sản phẩm xấu thì hưởng ít lương.Những người làm việc như nhau thì phải được hưởng lương bằng nhau. Mặt khác chế độ trả 124
    • lương theo sản phẩm còn phải căn cứ vào số lượng lao động, chất lượng lao động kết tinh trongtừng sản phẩm của mỗi công nhân làm ra để trả lương cho họ, làm cho quan hệ giữa tiền lươngvà năng suất lao động, giữa lao động và hưởng thụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. 5.2.1 Tác dụng của trả lương theo sản phẩm: Thực hiện chế độ trả lương theo sản phẩm có những tác dụng như sau: - Làm cho mỗi người lao động vì lợi ích vật chất mà quan tâm đến việc nâng cao năngsuất lao động, hạ giá thành sản phẩm, bảo đảm hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch đượcgiao. Vì hình thức lương sản phẩm căn cứ trực tiếp vào số lượng, chất lượng sản phẩm của mỗingười sản xuất ra để tính lương nên nó có tác dụng khuyến khích người công nhân tích cực sảnxuất, tận dụng thời gian làm việc tăng năng suất. Hơn nữa chỉ những sản phẩm tốt mới được trảlương cao nên người công nhân nào cũng cố gắng đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt. Như vậynăng suất lao động tăng, chất lượng sản phẩm bảo đảm thì giá thành sản phẩm sẽ hạ.- Khuyến khích người công nhân quan tâm đến việc nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyênmôn, khoa học kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và lao động, tích cực sáng tạo và áp dụng cácphương pháp sản xuất tiên tiến. Khi thực hiện trả lương theo sản phẩm, công nhân phải phấn đấuđể thường xuyên đạt và vượt mức các định mức lao động đề ra, do đó họ không đơn thuần dựavào sự lao động hết sức mình, tận dụng thời gian làm việc mà phải cố gắng học tập để khôngngừng nâng cao trình độ văn hóa khoa học kỹ thuật thì mới có thể dễ dàng tiếp thu nắm vững vàáp dụng các phương pháp sản xuất tiên tiến. Hơn nữa còn phải biết tìm tòi suy nghĩ để phát huysáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. Có như vậy thì sản phẩm làm ra sẽ tăng và sứclao động sẽ giảm xuống. - Đẩy mạnh việc cải tiến, tổ chức quá trình sản xuất, thúc đẩy việc thực hiện tốt chế độhạch toán kinh tế. Khi áp dụng chế độ tiền lương tính theo sản phẩm đòi hỏi phải có sự chuẩn bịsản xuất nhất định. Phải củng cố kiện toàn tổ chức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, tổ chức lao độngđảm bảo cho quá trình sản xuất được cân đối hợp lý. Trong quá trình thực hiện do năng suất laođộng của công nhân tăng, nhiều vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết như cung cấp nguyên vậtliệu đúng quy cách chất lượng, kịp thời gian. Kiểm tra nghiệm thu được chính xác chất lượng sảnphẩm. Điều chỉnh lại lao động trong dây chuyền sản xuất. Thống kê thanh toán tiền lương nhanhchóng chính xác, đúng kỳ hạn v.v... Các vấn đề đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động,tiền lương của công nhân nên họ rất quan tâm phát hiện và yêu cầu giải quyết. Bất kỳ một hiệntượng nào vi phạm đến kỹ thuật công nghệ và chế độ phục vụ công tác, người công nhân khôngnhững tìm cách khắc phục kịp thời mà còn tích cực đề phòng những khuyết điểm có thể xảy ra.Đồng thời đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, làm việc thiếu trách nhiệm trong cán bộquản lý và công nhân sản xuất. - Củng cố và phát triển mạnh mẽ phong trào thi đua XHCN, xây dựng tác phong thái độlao động XHCN. Phong trào thi đua phát triển là do ý thức giác ngộ XHCN và trình độ văn hóakỹ thuật của công nhân, do năng suất lao động mà có. Muốn thi đua được duy trì thường xuyênliên tục thì phải bồi dưỡng bằng vật chất mới có tác dụng. Trả lương theo sản phẩm là phươngtiện tốt để thực hiện yêu cầu đó. Động viên thi đua liên tục và mạnh mẽ đồng thời áp dụng mộtcách đúng đắn chế độ tiền lương tính theo sản phẩm sẽ kết hợp chặt chẽ được hai mặt khuyếnkhích bằng lợi ích vật chất và động viên tinh thần để thúc đẩy và phát triển sản xuất. Qua những tác dụng kể trên ta thấy chế độ trả lương theo sản phẩm có ý nghĩa kinh tế,chính trị quan trọng. Nó động viên mạnh mẽ mọi người tích cực sản xuất với chất lượng tốt vànăng suất cao. Vừa tăng thu nhập cho cá nhân người lao động vừa làm tăng sản phẩm cho xã hộigóp phần thay đổi nền kinh tế đất nước. 5.2.2 Điều kiện và hình thức trả lương theo sản phẩm Muốn tổ chức trả lương theo sản phẩm doanh nghiệp phải chuẩn bị các điều kiện sau đây: - Công tác chuẩn bị sản xuất + Chuẩn bị về nhân lực: Khi tổ chức trả lương theo sản phẩm, việc chuẩn bị về nhân lựclà vấn đề cần thiết vì con người là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất. Con người có quántriệt chế độ lương sản phẩm thì mới nâng cao tinh thần trách nhiệm tích cực và quyết tâm tạođiều kiện cần thiết cho việc thực hiện chế độ lương sản phẩm. Để chuẩn bị tốt yếu tố con ngườicần phê phán các tư tưởng rụt rè, cầu toàn, khuynh hướng làm bừa làm ẩu. Thiếu chuẩn bị điều 125
    • kiện cần thiết, thiếu chỉ đạo chặt chẽ gây hoang mang dao động cho công nhân. Phải giải thíchgiáo dục cho công nhân hiểu rõ mục đích ý nghĩa của chế độ lương sản phẩm và cho họ thấymục tiêu phấn đấu của họ về sản lượng và năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, chi phí sảnxuất. Ngoài ra còn phải bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ lao động tiền lương, cán bộ kỹthuật, kiểm tra chất lượng sản phẩm v.v... + Chuẩn bị về kế hoạch sản xuất: Kế hoạch sản xuất phải rõ ràng cụ thể, phải tổ chứccung cấp đầy đủ thường xuyên nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và phương tiện phòng hộ laođộng để công nhân có thể sản xuất được liên tục. + Xác định đơn giá lương sản phẩm: Để thực hiện chế độ lương sản phẩm cần xác định đơn giá lương sản phẩm cho chính xáctrên cơ sở xác định cấp bậc công việc và định mức lao động chính xác. * Xác định cấp bậc công việc: Như ta đã biết đơn giá lương sản phẩm được tính như sau: Mức lương CBCNV + phụ cấpĐơn giá sản phẩm = Mức sản lượng Như vậy muốn có đơn giá hợp lý, chính xác định đúng đắn cấp bậc công việc. Nếu cấpbậc công việc được đánh giá xác định cao hơn yêu cầu kỹ thuật thì đơn giá sẽ cao hơn hoặcngược lại - do đó nếu xí nghiệp chưa có cấp bậc công việc thì phải xây dựng cấp bậc công việc,nếu có rồi thì phải rà soát lại để kịp thời sửa đổi những cấp bậc công việc đã lạc hậu. * Định mức lao động: Định mức lao động là thước đo tiêu chuẩn về lao động, đánh giákết quả lao động và tính đơn giá lượng. Nếu định mức lao động không phù hợp thì đơn giá lươngsẽ sai và tiền lương của công nhân sẽ tăng hoặc giảm không hợp lý. Do đó sẽ không khuyếnkhích công nhân tăng năng suất lao động. Định mức lao động để trả lương sản phẩm là mức lao động trung bình tiến tiến - do đóphải xây dựng định mức từ tình hình thực tế sản xuất ở doanh nghiệp đã được chấn chỉnh. Cácmức lao động đang áp dụng [nếu có] phải kiểm tra lại để kịp thời sửa đổi những mức bất hợp lýkhông sát thực tế sản xuất. * Công tác kiểm tra nghiệm thu sản phẩm Yêu cầu của chế độ lương sản phẩm là đảm bảo thu nhập tiền lương theo đúng số lượngvà chất lượng sản phẩm đã hoàn thành theo xác nhận của K.C.S, do đó cần phải kiểm tra nghiệmthu sản phẩm chặt chẽ nhằm đảm bảo sản xuất những sản phẩm có chất lượng tốt, tránh khuynhhướng chạy theo sản lượng để tăng thu nhập, làm ra những sản phẩm sai, hỏng, không đúng quycách và yêu cầu kỹ thuật đồng thời đảm bảo việc trả lương cho công nhân đúng đắn kịp thời. * Công tác tổ chức đời sống Cần phải tổ chức tốt công tác đời sống làm cho công nhân yên tâm phấn khởi sản xuất vàphục vụ sản xuất. Đời sống của công nhân trước hết là vấn đề thu nhập tiền lương trong laođộng, sinh hoạt đời sống của công nhân như: ăn, ở, đi lại... đều phải có kế hoạch giải quyết tốtnhững vấn đề này sẽ tạo điều kiện cho công nhân yên tâm sản xuất đạt năng suất cao nhất, chấtlượng tốt. Đó chính là tính ưu việt của hình thức trả lương theo sản phẩm làm cho công nhân tintưởng sâu sắc vào đời sống của họ có liên quan mật thiết với sự lao động trung thành của họ đốivới xí nghiệp. 5.2.3 Hình thức trả lương theo sản phẩm : 5.2.3.1 Chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp không hạn chế. Chế độ tiền lương này được trả theo từng đơn vị sản phẩm hoặc chi tiết sản phẩm và theođơn giá nhất định. Tiền lương của công nhân căn cứ vào số lượng sản phẩm hoặc chi tiết sảnphẩm do họ trực tiếp sản xuất được để trả lương. Bất kỳ trường hợp nào công nhân sản xuất thấphơn, đạt hoặc vượt định mức sản phẩm đều được trả theo đơn giá nhất định. Như vậy, tiền lươngcủa công nhân sẽ tăng theo số sản phẩm sản xuất được. Nếu sản xuất được nhiều sản phẩm thìđược trả nhiều lương và ngược lại sản xuất được ít sản phẩm thì được trả ít lương. Đơn giá sản phẩm là cơ sở của hình thức tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp khônghạn chế. Khi xác định đơn giá sản phẩm người ta căn cứ vào 2 nhân tố: định mức lao động vàmức lương cấp bậc công việc. 126
    • Định mức lao động: là những đại lượng thời gian lao động cần thiết được quy định đểhoàn thành một công việc, một khối lượng công việc, một sản phẩm, hay một chức năng nào đóđúng theo chất lượng đã được quy định trong những điều kiện tổ chức kỹ thuật, tâm sinh lý, kinhtế xã hội nhất định. Định mức lao động có các loại như: mức sản lượng, mức thời gian, mứcphục vụ, mức quản lý. Công thức tính đơn giá sản phẩm như sau: - Nếu công việc tính có định mức sản lượng: Mức lương cấp bậc công việc + phụ cấp Đơn giá = Mức sản lượng - Nếu công việc được định mức thời gian: Đơn giá = Mức lương cấp bậc công việc x mức thời gian Khi tính đơn giá sản phẩm ta phải lấy mức lương cấp bậc công việc để tính chứ khônglấy mức lương cấp bậc công nhân được giao làm công việc đó, vì có những trường hợp lươngcấp bậc công nhân cao hoặc thấp hơn cấp bậc công việc được giao làm cho đơn giá sản phẩmthay đổi, sẽ phá vỡ tính thống nhất của chế độ tiền lương trả theo sản phẩm và tính hợp lý củaquy luật phân phối theo lao động. Về định mức lao động, khi tính đơn giá ta phải xác định mứccủa công việc đó là mức thời gian hay mức sản lượng để tính cho chính xác. Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế thích hợp với những loạicông việc có thể tiến hành định mức lao động, giao việc và nghiệm thu từng đơn vị sản phẩmhoặc chi tiết sản phẩm riêng rẽ được. Tùy theo đặc điểm về tổ chức kỹ thuật sản xuất, nếu nhữngcông việc người công nhân có thể tiến hành thống kê nghiệm thu sản phẩm riêng cho từng chocông nhân và trả lương trực tiếp cho từng công nhân. Nếu công nhân việc cần nhiều công nhânphối hợp, cộng tác với nhau mới sản xuất ra một sản phẩm thì có thể tiến hành trả lương trực tiếpcho nhóm hoặc tổ sản xuất đó. 5.2.3.2 Chế độ tiền lương theo sản phẩm gián tiếp Chế độ lương này không áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất mà chỉ áp dụngcho công nhân phục vụ sản xuất. Công việc của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đạt và vượtmức của công nhân chính hưởng lương theo sản phẩm. Nhiệm vụ và thành tích của họ gắn liềnvới lương của công nhân đứng máy. Tiền lương của công nhân phục vụ được tính căn cứ vào sốlượng sản phẩm của công nhân đứng máy sản xuất ra. Những công nhân sửa chữa máy nếu ápdụng chế độ lương sản phẩm gián tiếp cần phải quy định và kiểm tra chặt chẽ việc nghiệm thutrong định kỳ sửa chữa máy, đề phòng hiện tượng tiêu cực đồng tình với công nhân đứng máychạy theo sản lượng, cho máy chạy quá mức làm cho máy hỏng. Đơn giá sản phẩm gián tiếp được tính bằng cách lấy mức lương tháng của công nhânphục vụ chia cho định mức sản xuất chung của những công nhân đứng máy do công nhân đóphục vụ. Như vậy nếu những công nhân đứng máy trực tiếp sản xuất sản phẩm càng nhiều, tiềnlương của số công nhân phục vụ càng nhiều và ngược lại. Nếu như những công nhân đứng máysản xuất được ít sản phẩm thì tiền lương của công nhân phục vụ càng ít. Khi thực hiện chế độ tiền lương này thường xảy ra hai trường hợp và cách giải quyết nhưsau: • Nếu bản thân công nhân phục vụ có sai lầm làm cho công nhân chính sản xuất ra sảnphẩm hỏng, chất lượng xấu thì tiền lương của công nhân phục vụ hưởng theo chế độ trả lươngkhi làm ra sản phẩm hỏng, không đảm bảo chất lượng song vẫn đảm bảo ít nhất bằng mức lươngcấp bậc của người đó. • Nếu công nhân đứng máy không hoàn thành định mức sản lượng của công nhânphục vụ sẽ không tính theo đơn giá sản phẩm gián tiếp mà theo lương cấp bậc của họ. Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp có tác dụng làm cho công nhân phục vụquan tâm hơn đến việc nâng cao năng suất lao động của công nhân chính mà họ phục vụ. 5.2.3.3 Chế độ tiền lương sản phẩm lũy tiến: Chế độ tiền lương này được tính như sau: 127
    • Đối với số sản phẩm được sản xuất ra trong phạm vi định mức khởi điểm lũy tiến thìđược trả theo đơn giá bình thường, còn số sản phẩm được sản xuất ra vượt mức khởi điểm lũytiến được trả theo đơn giá lũy tiến, nghĩa là có nhiều đơn giá cho những sản phẩm vượt mức khởiđiếm lũy tiến. Nếu vượt mức với tỉ lệ cao thì được tính những sản phẩm vượt mức bằng nhữngđơn giá cao hơn. Chế độ lương này áp dụng cho công nhân sản xuất ở những khâu quan trọng, lúc sản xuấtkhẩn trương để bảo đảm tính đồng bộ, ở những khâu mà năng suất tăng có tính chất quyết địnhđối việc hoàn thành chung kế hoạch của xí nghiệp. Tiền lương của công nhân làm theo chế độ sản phẩm lũy tiến được tính theo công thức: L = [ Q1 x P ] + [ Q1 – Q0 ].PKTrong đó: L: Tổng tiền lương công nhân được lĩnh. Q1: Sản lượng thực tế của công nhân sản xuất ra. Q0: Định mức sản lượng P: Đơn giá lương sản phẩm K: Hệ số tăng đơn giá sản phẩm Muốn thực hiện chế độ lương này phải chuẩn bị những điều kiện sau: - Định mức lao động có căn cứ kỹ thuật, đây là vấn đề quan trọng vì đơn giá sản phẩm sẽtăng lũy tiến theo tỷ lệ vượt mức sản lượng. - Phải thống kê xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm tiền lương của công nhân,mức lũy tiến, mức hạ giá thấp giá thành và giá trị tiết kiệm được. - Phải dự kiến được kết quả kinh tế của chế độ lương tính theo sản phẩm lũy tiến nhằmxác định mức lũy tiến cao nhất của đơn giá sản phẩm. Vì khi thực hiện chế độ tiền lương nàylương của công nhân sẽ tăng nhanh hơn sản phẩm làm cho phần tiền lương trong đơn vị sảnphẩm cũng tăng lên. Do đó giá thành sản phẩm cũng tăng theo, bởi vậy khi áp dụng chế độ lươngnày phải tính toán kết quả kinh tế, nâng cao năng suất lao động làm hạ giá thành sản phẩm. 5.2.3.4 Hình thức lương khoán sản phẩm Chế độ lương khoán là chế độ lương sản phẩm khi giao công việc đã qui định rõ ràng sốtiền để hoàn thành một khối lượng công việc trong một đơn vị thời gian nhất định. Chế độ lươngnày áp dụng cho những công việc mà xét thấy giao từng việc chi tiết không có lợi về mặt kinh tế,bởi vì trong sản xuất có nhiều công việc mang tính chất tổng hợp không thể giao việc mà thốngkê kinh nghiệm thu kết quả lao động theo từng đơn vị sản phẩm từng phần riêng biệt của từngcông nhân hoặc từng tổ sản xuất. Như vậy, ngay từ khi nhận việc, công nhân đã biết ngay đượctoàn bộ số tiền mà mình được lãnh sau khi hoàn thành khối lượng công việc giao khoán. Do đó,nếu đơn vị công tác nhận khoán giảm bớt được số người hoặc rút ngắn được thời gian hoànthành khối lượng giao khoán thì tiền lương tính theo ngày làm việc của mỗi người trong đơn vịsẽ được tăng lên. Ngược lại nếu kéo dài thời gian hoàn thành thì tiền lương tính theo mỗi ngườisẽ ít đi. Do đó chế độ lương khoán có tác dụng khuyến khích công nhân nâng cao năng suất laođộng,phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn hoặc giảm bớt số người không cần thiết. Khi xây áp dụng chế độ lương khoán cần phải làm tốt công việc thống kê và định mứclao động cho từng phần việc, tính đơn giá từng phần việc rồi tổng hợp lại thành khối lượng côngviệc, thành đơn giá cho toàn bộ công việc. Cần phải xây dựng chế độ kiểm tra chất lượng trongquá trình sản xuất, vì trong thực tế khi áp dụng lương khoán công nhân không chấp hành nghiêmchỉnh chế độ lao động để xay ra hiện tượng công nhân tự ý làm thêm giờ để mau chóng hoànthành công việc chung nhưng không ghi vào phiếu giao khoán làm cho công việc thống kê phântích năng suất lao động của công nhân không chính xác, làm ảnh hưởng đến chất lượng côngviệc, ảnh hưởng đến sức khỏe và các mặt sinh hoạt của công nhân. 5.2.3.5 Hình thức tiền lương theo sản phẩm có thưởng và hình thức lương khoán cóthưởng. Hình thức lương khoán sản phẩm có thưởng là hình thức tiền lương sản phẩm trực tiếpkhông hạn chế hoặc hình thức lương khoán kết hợp với khen thưởng khi công nhân đạt nhữngchỉ tiêu về số lượng, chất lượng hay thời gian đã quy định. Nhưng nếu vượt quá các chỉ tiêu đãqui định về chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được nguyên liệu bảo đảm an toàn hoặc nâng cao 128
    • công suất máy móc, thiết bị... thì được thêm tiền thưởng. Khoản tiền thưởng này chi trả khi côngnhân hoàn thành định mức sản lượng. Thực hiện hình thức tiền lương này phải xác định rõ những chỉ tiêu và điều kiện thưởng.Tỉ lệ tiền thưởng cũng phải xác định đúng đắn. Chế độ tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng sẽ quán triệt đầy đủ hơn nữa nguyên tắcphân phối lao động, khuyến khích công nhân chú trọng hơn nữa tới việc cải tiến chất lượng sảnphẩm, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ qui định củađơn vị giao cho. 5.3 Hình thức trả lương theo thời gian Tiền lương theo thời gian là tiền lương thanh toán cho người công nhân căn cứ vào trìnhđộ kỹ thuật và thời gian công tác của họ. Nhược điểm chính của hình thức tiền lương này là không gắn liền giữa chất lượng và sốlượng lao động mà người công nhân đã tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm. Nói cáchkhác, phần tiền lương mà người lao động được hưởng không gắn liền với kết quả lao động mà họtạo ra. Chính vì lẽ đó, nên hình thức tiền lương theo thời gian đã không mang lại cho người côngnhân sự quan tâm đầy đủ đối với thành quả lao động của mình, không tạo điều kiện thuận lợi đểuốn nắn kịp thời những thái độ sai lệch và không khuyến khích họ nghiêm chỉnh thực hiện chếđộ tiết kiệm thời gian trong quá trình công tác. Thông thường ở doanh nghiệp, người ta sử dụng hình thức tiền lương theo thời gian chonhững bộ phận mà quá trình sản xuất đã được tự động hóa, những công việc chưa xây dựng đượcđịnh mức lao động, những công việc mà khối lượng hoàn thành không xác định được hoặcnhững loại công việc cần thiết phải trả lương thời gian nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm nhưcông việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, công việc sửa chữa thiết bị máy móc. Hình thức trả lương theo thời gian gồm có hai loại: tiền lương thời gian giản đơn và tiềnlương thời gian có thưởng. 5.4 Trả lương khoán theo nhóm Trả lương khoán theo nhóm thường được áp dụng đối với những công việc có tính chấttổng hợp, gồm nhiều khâu liên kết, nếu chia thành các chi tiết, bộ phận sẽ không có lợi cho việcbảo đảm chất lượng thực hiện. Toàn bộ khối lượng công việc sẽ được giao khoán cho nhóm hoặcđội nhân viên thực hiện. Tiền lương sẽ được trả cho cho nhóm, đội dựa vào kết quả cuối cùngcủa cả nhóm, đội. Hình thức này kích thích tất cả các nhân viên quan tâm đến kết quả sản phẩmcuối cùng của cả nhóm. Trong thực tế, hình thức trả lương này thường được áp dụng trong cácdây chuyền lắp ráp, trong ngành xây dựng, sửa chữa cơ khí, trong nông nghiệp, v.v... Để kíchthích các nhân viên trong nhóm làm việc tích cực, việc phân phối tiền công giữa các thành viêntrong nhóm căn cứ vào các yếu tố sau: - Trình độ nhân viên (thông qua hệ số mức lương: Hsi của nhân viên). - Thời gian thực tế làm việc của mỗi người (Tti). - Mức độ tham gia tích cực, nhiệt tình của mỗi người vào kết quả thực hiện của nhóm. Như vậy, thời gian làm việc quy chuẩn của công nhân sẽ được tính theo công thức: Tci = Hsi x Tti x Ki Tổng thời gian làm việc quy chuẩn của tất cả công nhân trong nhóm sẽ được tính theocông thức: n Tổng thời gian chuẩn bị = ∑ Tci i =1Trong đó: n là số công nhân trong nhóm.Tiền lương của mỗi công nhân sẽ được xác định trên cơ sở số tiền khoán chung cho cả nhóm vàthời gian làm việc chuẩn của mỗi người , theo công thức: Số tiền khoán cho cả nhóm xTci Wi = Tổng thời gian chuẩn bị 129
    • Ví dụ, sau khi giám định mức độ hư hỏng của một chiếc máy tiện, phân xưởng khoán choba công nhân thực hiện với tổng số tiền thù lao là 60.000 đồng. Ba người thợ sửa chữa trongnhóm sẽ được trả lương tương ứng với các hệ số lương, thời gian làm việc thực tế và mức độ tíchcực của mỗi người như trong trong bảng 5.8 dưới đây. Bảng 5.8 Trả lương khoán cho nhóm người lao động Công Hệ số Tổng thời gian Mức độ tích cực Thời gian quy Tiền công nhân lương thực tế làm việc của mỗi người (Ki) chuẩn (giờ) (1000đ) (Hs) (giờ) 1 2 3 4 5 6 A 1,78 5 1,2 10,68 25,5 B 1,62 4 1,1 7,13 17 C 1,47 5 1 7,35 17,5 Tổng 14 25,16 60.000 5.5 Hình thức kích thích theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Kích thích theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được áp dụng với tất cả mọi nhânviên trong doanh nghiệp. Hình thức này được áp dụng do những người sử dụng lao động muốnnhân viên hiểu được mối quan hệ giữa phần thù lao cho các cá nhân, cho nhóm của họ với kếtquả sản xuất cuối cùng của doanh nghiệp. Hệ thống kích thích theo doanh nghiệp gồm hai loại:thưởng theo năng suất, hiệu quả nhằm gắn chặt tiền công cho nhân viên với các yếu tố năng suất,hiệu quả cụ thể như: tiết kiệm thời gian, vật liệu, giảm chi phí, v.v... và chia lãi (nhằm gắn chặtphần trả công cho nhân viên với lợi nhuận của doanh nghiệp).CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Hãy nêu khái niệm, mục tiêu, tầm quan trọng của quản trị nhân sự trong doanh nghiệp ? 2. Phân tích các thách thức đối với quản trị nhân sự ? 3. Nêu khái niệm, nội dung và tác dụng của phân tích công việc ? 4. Khái niệm các phương pháp tuyển dụng nhân sự? 5. Tầm quan trọng của việc đánh giá nhân viên? Các phương pháp đánh giá nhân viên? 6. Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của tiền lương trong doanh nghiệp? 7. Phân biệt các hình thức tiền lương? 8. Các hình thức phân công , hiệp tác lao động? 9. Các yếu tố ảnh hưởng trả lưởng cho người lao động trong doanh nghiệp ? Liên hệ thực tế các doanh nghiệp hiện nay ? 130
    • CHƯƠNG VI: QUẢN TRỊ CUNG ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP Sau khi đọc chương này, người đọc có thể - Nắm được khái niệm về cung ứng, các nguyên tắc lựa chọn cung ứng. - Xây dựng chính sách mua, các yếu tố ảnh hưởng đến việc mua, quy trình mua. - Sự cần thiết và bản chất của dự trữ. - Quản trị về hiện vật, kế toán và quản trị về mặt kinh tế của dự trữ, - Các mô hình quản trị cung ứng cho nhu cầu độc lập về vật tư, hàng hóa trong doanhnghiệp.I. KHÁI NIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH LỰA CHỌN CUNG ỨNG. 1. Khái niệm. Cung ứng bao gồm hai chức năng bộ phận: mua và quản lý dự trữ (tồn kho): 1.1 Mua: tức là hành động thương mại xuất phát từ biểu hiện của một nhu cầu và đượcthể hiện qua việc đặt hàng với nhà cung ứng đã lựa chọn. Để hoạt động, mọi doanh nghiệp sử dụng những tư liệu sản xuất (máy móc, vật tư và cácthiết bị khác), hơn nữa: - Doanh nghiệp công nghiệp phải được cung cấp năng lượng, nguyên vật liệu mà chúngđược biến đổi thành sản phẩm cuối cùng. - Doanh nghiệp thương mại phải mua hàng hóa và nó sẽ bán lại. 1.2 Quản lý dự trữ (tồn kho): Mua chưa đủ, mà sản xuất hoặc bán hàng cũng không được ngưng trệ (không thực hiệnđược do không có hoặc thiếu dự trữ). Dự trữ là toàn bộ hàng hóa hoặc những mặt hàng được tíchlũy lại chờ đợi để sử dụng về sau, và nó cho phép cung cấp cho người sử dụng dần dần theonhững nhu cầu của họ, không áp đặt cho họ những thời hạn và sự trục trặc. Khái niệm dự trữ có liên quan đến khái niệm dự phòng và cũng như dự đoán. Có thể nóirằng, một doanh nghiệp đứt chân hàng khi nó không có nguyên liệu, thành phẩm hoặc là hànghóa với số lượng cần thiết vào lúc thích hợp. 1.2.1 Chức năng của tồn kho: 1.2.1.1 Chức năng liên kết: Là chức năng chủ yếu nhất, nó liên kết giữa quá trình sản xuất và cung ứng. Tồn kho làhết sức cần thiết nhằm đảm bảo sản xuất liên tục vào những lúc cao điểm, nhất là khi cung vàcầu của một loại hàng nào đó không ổn định. 1.2.1.2 Chức năng ngăn ngừa tác động của lạm phát: Tồn kho giúp doanh nghiệp tiết kiệm một lượng chi phí đáng kể khi nguyên vật liệu hayhàng hóa tăng giá dưới tác động của lạm phát. Trong trường hợp này tồn kho sẽ là một hoạt độngđầu tư tốt nhưng cần phải tính toán kỹ lưỡng các chi phí và rủi ro có thể xảy ra. 1.2.1.3 Chức năng khấu trừ theo số lượng: Nhiều nhà cung ứng sẵn sàng chiết khấu cho những đơn hàng có khối lượng lớn. Điềunày có thể làm giảm giá mua hàng hóa, nguyên vật liệu nhưng sẽ dẫn đến làm tăng chi phí tồnkho. Nhà quản trị cần phải xác định lượng hàng tối ưu để có thể hưởng được chiết khấu, đồngthời chi phí tồn trữ tăng không đáng kể. 1.2.2 Vai trò của chức năng cung ứng là cung cấp cho khách hàng : - Vào thời điểm mong muốn (hàng hóa cần phải sẵn sàng khi người ta có nhu cầu) - Với số lượng mong muốn (là không quá nhiều, cũng không qúa ít). - Với chất lượng mong muốn (có khả năng đáp ứng đúng nhu cầu). - Với chi phí ít nhất (giá mua là một phần chủ yếu của giá cả mà khách hàng phải chịu). Bằng việc quản lý tốt cung ứng đã tạo ra khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. 2. Phương pháp phân tích lựa chọn cung ứng. Tất cả các nguyên liệu, hàng hóa doanh nghiệp mua được không phải đều có cùng mộttầm quan trong như nhau: thiếu một số loại này thì làm tê liệt doanh nghiệp; một số khác lại quá 131
    • đắt; một số khác lại khó mà có được (thời hạn chế tạo, giao hàng, số lượng người cung ứng hạnchế). Từ đó việc quản trị cung ứng cần phải được lựa chọn. Doanh nghiệp cần phải chú ý nhiềuvào những sản phẩm quan trọng, do vậy cần phải sắp xếp các mặt hàng dự trữ để xác định nhữngphương pháp quản trị có hiệu quả nhất. 2.1 Phân tích 20/80: Nguyên tắc: Phần lớn các trường hợp, một doanh nghiệp thực hiện khoảng 80% doanh số chỉ với 20%lượng khách hàng của mình và ngược lại 80% số lượng khách hàng chỉ góp phần vào 20% doanhsố. Trong vấn đề dự trữ, người ta kiểm tra và nhận thấy rằng 20% số lượng các mặt hàng tạo ra80% giá trị đầu tư cho dự trữ, hoặc là 80% tiêu dùng về giá trị hoặc còn là 80% giá trị mua. Tấtnhiên, những số liệu này là số trung bình, số liệu tỷ lệ này có thể là 15/85 hoặc là 25/75. 2.2 Phương pháp A.B.C. Nguyên tắc Phân tích A.B.C là thể loại nhuần nhuyễn của phương pháp phân tích 20/80, chia các loạivật tư hàng hóa thành 3 nhóm: - Nhóm A: Bao gồm những hàng hóa có giá trị hàng năm chiếm từ 60-70% so với tổnggiá trị tồn kho, khi đó số lượng chỉ chiếm khoảng 10%- 20% lượng hàng tồn kho. - Nhóm B: Bao gồm những loại hàng tồn kho có giá trị hàng năm ở mức trung bình từ20-30% ứng với số lượng khoảng 25- 30% tổng số hàng tồn kho. - Nhóm C: Gồm những loại hàng có giá trị hàng năm nhỏ chiếm 5-15% nhưng số lượngchiếm khoảng 50-60% tổng số lượng hàng tồn kho. 80 A 60 % giá trị 40 B 20 C 0 20 % số lượng 40 60 Sơ đồ 6-1: Phân loại hàng hóa tồn kho. Ví dụ 6-1: Phân loại vật liệu tồn kho theo ABC. Loại vật liệu Nhu cầu hàng năm Giá đơn vị Tổng giá trị hàng năm Loại 1 1.000 4.300 4.300.000 A 2 5.000 720 3.600.000 A 3 1.900 500 950.000 B 4 1.000 710 710.000 B 5 2.500 250 625.000 B 6 2.500 192 480.000 B 7 400 200 80.000 C 8 500 100 50.000 C 9 200 210 42.000 C 10 1.000 35 35.000 C 11 3.000 10 30.000 C 12 9.000 3 27.000 CPhương pháp phân tích A.B.C cho phép ra những quyết định quan trọng: + Có liên quan đến dự trữ: Những sản phẩm nhóm A sẽ là đối tượng được đầu tư lập kế hoạch thận trọng, nghiêmtúc hơn về nhu cầu; sản phẩm nhóm B có thể quản lý bằng kiểm kê liên tục, còn các sản phẩm 132
    • nhóm C chỉ là đối tượng kiểm kê định kỳ. Tất cả mọi sự can thiệp nhằm hạn chế dự trữ trước tiênnhằm vào mặt hàng nhóm A. + Có liên quan đến việc mua hàng: Phân tích A.B.C về doanh số mua theo chủng loại hàng hóa: * Các sản phẩm nhóm A là đối tượng lùng kiếm và để đánh giá kỹ càng những ngườicung ứng và phải được phân tích về mặt giá trị hàng hóa. * Các sản phẩm nhóm A phải giao cho những người có kinh nghiệm, còn mặt hàng nhómC giao cho những người mới vào nghề. * Trong một số trường hợp, các sản phẩm nhóm A là đối tượng mua tập trung, mua cácloại khác là phi tập trung. * Các sản phẩm nhóm A trong trường hợp có thể là đối tượng của toàn bộ thị trường vớiviệc giao nhận thường xuyên để hạn chế dự trữ. + Có liên quan đến nhà cung ứng: Phân tích A.B.C về doanh số nhà cung ứng: * Những nhà cung ứng lọai A là đối tượng theo dõi đặc biệt: phân tích tình hình tài chính,sự thuyên chuyển các chức vụ chủ chốt, đổi mới kỹ thuật * Sự so sánh phân tích A.B.C về các khách hàng và người cung ứng cho phép DN có cácthông tin có ích về mối quan hệ tương tác. Các yêu cầu trong ghi chép tồn kho: Các quyết định về chính sách tồn kho cũng như việc thực hiện chúng đều phải dựa trêncác dữ liệu tồn kho. Các dữ liệu này càng chính xác bao nhiêu thì càng đảm bảo việc ra quyếtđịnh và thực thi quyết định tốt bấy nhiêu. Chỉ khi nào xác định những gì thực sự đang có trongtay, nhà quản trị mới có được những quyết định chính xác về đơn hàng, lịch tiến độ sản xuất vàvận chuyển. Để kiểm tra tốt việc tồn kho, các báo cáo tồn kho phải được thẩm tra chính xác trongtừng chu kỳ tính toán đối với từng nhóm hàng A,B,C. Chu kỳ này thay đổi tùy theo nhóm hàng:nhóm hàng A: 1 lần/tháng; nhóm hàng B: 1 lần/quí; nhóm hàng C: 1 lần/năm. Kiểm tra tồn khothường xuyên còn giúp cho doanh nghiệp giảm bớt thời gian ngừng và gián đoạn sản xuất, pháthiện những thiếu sót và nguyên nhân gây ra để có những hoạt động điều chỉnh kịp thời. 2.3 Cung ứng đúng thời điểm (just in time: J.I.T) Để thỏa mãn yêu cầu với chi phí thấp nhất, một số DN đã thành công trong việc sử dụngphương pháp J.I.T. Theo phương pháp này mức dữ trữ có xu hướng giảm đến không. Hệ thống đúng thời điểm bao trùm chức năng mua, quản trị dự trữ và quản trị sản xuất.Quan điểm này được thể hiện như sau: * Sản xuất và cung cấp các thành phần cuối cùng đúng thời điểm và chúng được đem bánđúng thời điểm trên thị trường. * Ở mỗi giai đoạn của qui trình sản xuất, các chi tiết hoặc cụm chi tiết đều phải cung cấpđến vị trí cần thiết đúng lúc cần phải có: - Các cụm phụ tùng chi tiết: đúng lúc chúng được ráp thành những sản phẩm hoàn chỉnh. - Các chi tiết riêng lẽ: đúng thời điểm lắp ghép chúng thành các cụm chi tiết. - Vật liệu thô: đúng thời điểm chế tạo chi tiết. Trong hệ thống sản xuất "đúng thời điểm" hay còn gọi là "hệ thống sản xuất không dựtrữ", lượng tồn kho được kiểm soát để luôn ở mức tối thiểu và có xu hướng tiến sát đến mức đơnvị. Điều này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, nhất là giảm đáng kể chi phí sản xuất vàcải thiện chất lượng sản phẩm cũng như tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Những ưu điểm của J.I.T: + Nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm được giao thường xuyên với khối lượngnhỏ, nên giảm chi phí tồn trữ. + Lập quan hệ dài hạn với nhà cung ứng nên không cần thiết phải đi tìm nhà cung ứngmới. Để thực hiện được phương pháp cung ứng đúng thời điểm, các nhà quản trị sản xuất phảitìm cách giảm những sự biến đổi gây ra những yếu tố bên trong và bên ngoài quá trình điều hànhsản xuất. 133
    • Nhược điểm: + Lịch tiếp nhận và phân phối nguyên liệu, thành phẩm rất phức tạp. + Hệ thống kiểm soát và điều hành hoạt động khó khăn.II. QUẢN LÝ MUA SẮM. Hiệu quả của các hoạt động mua sắm tùy thuộc vào các nguyên tắc quản trị cơ bản tronglĩnh vực: dự báo - tổ chức - điều phối - thực hiện - giám sát. 1. Dự đoán nhu cầu 1.1 Các yếu tố xác định nhu cầu của một doanh nghiệp. - Các nhu cầu của thị trường tiêu thụ đã được thiết lập và chọn lọc (dự báo bán hàng). - Các mục tiêu marketing thường bị khống chế bởi các vấn đề về phân phối và quản lýbán hàng. - Các đòi hỏi về giá cả có thể chấp nhận được có tính chất xã hội đi cùng với sức muagiới hạn của người tiêu dùng. Điều này bó hẹp phạm vi của những người cung cấp và hạn chếchất lượng được xem xét. - Việc phân phối trên phạm vi rất rộng cần phải tính đến các phương tiện hậu cần (khovận) như vận chuyển và bốc dỡ. - Các khả năng của doanh nghiệp về sản xuất theo lý thuyết và thực tế, năng lực về kỹthuật, thương mại và quản trị của cán bộ, tình trạng tài chính, khả năng vay vốn. 1.2 Các yếu tố ngẫu nhiên. Trong việc xác định nhu cầu của một doanh nghiệp cần phải đưa ra ảnh hưởng của cácyếu tố bên ngoài không liên quan trực tiếp đến hoạt động nhưng có thể tác động đến việc chỉ đạovà quản trị thông thường như: các yếu tố kinh tế quốc gia và hành chính; các yếu tố kỹ thuật; cácyếu tố xã hội, các yếu tố địa lý; các yếu tố kinh tế quốc tế. (Xem lại các yếu tố môi trường –chương I) 2. Phân tích nhu cầu. 2.1 Giải thích sơ bộ: Các nghiên cứu về yêu cầu và tính khả thi phải được thực hiệntrước khi bắt đầu bất kỳ một hoạt động đầu tư hoặc mua sắm nào. 2.2 Phân tích về giá trị chức năng. - Đánh giá ảnh hưởng dài hạn của việc mua sắm thiết bị hoặc hàng tiêu dùng về phươngdiện kinh tế, môi trường và xã hội, thay đổi lối sống và kiểu cách tiêu dùng mà tạo ra sự phụthuộc mới. - Phân tích có phê phán về hiệu quả chi phí - Mặt hàng cần nên mua hay tự sản xuất, khả năng về tài chính và kỹ thuật đã sẵn sànghay chưa? Điểm hòa vốn của một nhà máy như vậy đã được tính toán chưa? - Đánh giá các chi phí có liên quan. - Phương pháp chế tạo, trình độ kỹ thuật chế tạo, các hạn chế kinh tế - kỹ thuật trong sửdụng. - Uy tín về chất lượng và độ tin cậy dài hạn. - Chi phí và sự dễ dàng trong bảo dưỡng. - Khả năng thay thế bằng mặt hàng khác. - Đánh giá thông tin về các nguồn cung cấp cạnh tranh, những nguồn cung cấp thay thếđã được khai thác hết hay chưa. 3. Soạn thảo một kế hoạch mua sắm. Kế hoạch mua sắm thường dựa trên cơ sở các nhu cầu đã được xác định và chọn lựatrước như: - Thiết lập các mục tiêu cung cấp từ các nguồn trong nước và ngoài nước. - Lập lịch biểu cho các đơn hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng, lưu ý thờigian cần thiết để thu thập các số liệu quá khứ và các dự tính về đầu vào sản xuất và lượng bán. - Xác định nguồn vốn hiện có và ước tính nguồn vốn cần có. - Tổ chức hợp lý việc tiếp nhận và quản lý hàng khi nhận hàng. 134
    • Chìa khóa của công việc này là sự khôn ngoan của nhà quản trị, một kế hoạch mua sắmthông thường là kế hoạch hàng năm, nó đưa ra các chi tiết của mục tiêu mua sắm hiện tại như giácả, thời hạn giao hàng, điều kiện thanh toán, bảo hiểm và dịch vụ sau khi bán.III QUẢN TRỊ DỰ TRỮ (TỒN KHO) 1. Các quan điểm đối lập về tồn kho Chính sách tồn kho rất quan trọng khiến cho các nhà quản lý sản xuất, quản lý marketingvà quản lý tài chính phải làm việc cùng nhau để đạt được sự thống nhất. Có nhiều quan điểmkhác nhau về chính sách tồn kho, để có sự cân bằng các mục tiêu khác nhau như: giảm chi phísản xuất, giảm chi phí tồn kho và tăng khả năng đáp ứng nhu cầu cho khách hàng. Mục này sẽgiải quyết các quan điểm đối chọi nhau để thiết lập chính sách tồn kho. Chúng ta khảo sát về bảnchất của tồn kho và các công việc bên trong hệ thống tồn kho, xây dựng những vấn đề cơ bảntrong hoạch định tồn kho và kỹ thuật phân tích một số vấn đề tồn kho. Có nhiều lý do để giải thích tại sao muốn tồn kho và tại sao lại không muốn tồn kho? 1.1 Tại sao chúng ta giữ hàng tồn kho? Tồn kho là cần thiết nhưng vấn đề quan trọng là khối lượng hàng tồn kho được giữ là baonhiêu cho phù hợp với điều kiện hoạt động sản xuất - kinh doanh của đơn vị. Chúng ta giữ hàng tồn kho vì một vài chi phí sau đây thấp: Chi phí chất lượng khởi động: Khi chúng ta bắt đầu sản xuất một lô hàng thì sẽ có nhiềunhược điểm trong giai đoạn đầu, như công nhân có thể đang học cách thức sản xuất, vật liệukhông đạt đặc tính, máy móc lắp đặt cần có sự điều chỉnh. Kích thước lô hàng càng lớn thì có ítthay đổi trong năm và ít phế liệu hơn. Tồn kho có thể cần thiết cho hiệu quả vận hành của hệ thống sản xuất nhưng cũng cónhiều lý do đối với việc tại sao ta không giữ hàng tồn kho. Bảng 6 -2: Bảng tóm tắt lý do tồn kho. Thành phẩm - Chuẩn bị lượng hàng trước khi giao hàng. - Năng lực sản xuất có hạn. - Sản phẩm có thể để trưng bày cho khách hàng. Bán thành phẩm - Vì khâu quản lý, không thể kết hợp 2 giai đoạn sản xuất lại - Sản xuất và vận chuyển các lô hàng lớn khiến cho tồn kho nhiều hơn nhưng có thể giảm chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển nguyên vật liệu. Vật liệu thô - Do một số nhà cung cấp sản xuất và vận chuyển một vài vật liệu thô theo lô. - Lượng đặt mua lớn làm tồn kho nhiều hơn nhưng có thể được khấu trừ theo số lượng mua, giảm được chi phí mua hàng. 1.2 Tại sao chúng ta không giữ hàng tồn kho? Một số lý do sau đây làm cho chi phí gia tăng khi lượng tồn kho cao. 1.2.1 Chi phí tồn trữ: Là những chi phí phát sinh có liên quan đến việc tồn trữ như trongbảng 6-2 dưới đây. 1.2.2 Chi phí cho việc đáp ứng khách hàng: Nếu lượng bán thành phẩm tồn kho quá lớnthì nó làm cản trở hệ thống sản xuất. Thời gian cần để sản xuất, phân phối các đơn hàng củakhách hàng gia tăng thì khả năng đáp ứng những thay đổi các đơn hàng của khách hàng yếu đi. 1.2.3 Chi phí cho sự phối hợp sản xuất: Do lượng tồn kho quá lớn làm cản trở qui trìnhsản xuất nên nhiều lao động được cần đến để giải tỏa sự tắc nghẽn, giải quyết những vấn đề tắcnghẽn liên quan đến sản xuất và lịch trình phối hợp. 1.2.4 Chi phí về chất lượng của lô hàng lớn: Khi sản xuất những lô hàng có kích thướclớn sẽ tạo nên tồn kho lớn. Trong vài trường hợp, một số sẽ bị hỏng và một số lượng chi tiết củalô sản xuất sẽ có nhược điểm. Nếu kích thước lô hàng nhỏ hơn có thể giảm được lượng kémphẩm chất. 135
    • Bảng 6-: Những chi phí phát sinh trong quá trình tồn trữ. Chi phí về nhà cửa hoặc kho hàng: - Tiền thuê hoặc khấu hao. - Thuế nhà đất. - Bảo hiểm nhà kho. Chi phí sử dụng thiết bị, phương tiện: - Tiền thuê hoặc khấu hao thiết bị, phương tiện. - Chi phí nhiên liệu cho thiết bị, phương tiện hoạt động. - Chi phí vận hành thiết bị. Chi phí nhân lực cho hoạt động giám sát quản lý: - Chi phí lương cho nhân viên bảo quản. - Chi phí quản lý điều hành kho hàng. Phí tổn cho việc đầu tư vào hàng tồn kho: - Phí tổn do việc vay mượn để mua hàng và chi phí trả lãi vay. - Phí bảo hiểm hàng hóa trong kho. Chi phí khác phát sinh: - Chi phí do hao hụt, mất mát vật liệu. - Chi phí do không sử dụng được nguyên vật liệu đó. - Chi phí đảo kho để hạn chế sự giảm sút về chất lượng. 2. Bản chất của tồn kho: Hai vấn đề quan trọng trong mọi hoạch định tồn kho là: - Cần đặt hàng là bao nhiêu cho từng loại nguyên vật liệu ? - Khi nào thì tiến hành đặt hàng lại ? Hàng hóa tồn kho có thể bao gồm cả nhu cầu nguyên vật liệu phụ thuộc lẫn nhu cầunguyên vật liệu độc lập. Trong tồn kho nhu cầu độc lập, nhu cầu tồn kho của một loại hàng tồnkho độc lập với nhu cầu tồn kho của bất kỳ loại hàng nào khác. Ví dụ như hàng hóa là thànhphẩm vận chuyển cho khách hàng. Nhu cầu của các loại hàng này được ước lượng thông qua dựbáo hoặc những đơn hàng của khách hàng. Mục đích của chương này là đề cập đến quyết định vềlượng đặt hàng và điểm đặt hàng của những hàng hóa có nhu cầu độc lập. Tồn kho có nhu cầuphụ thuộc bao gồm các loại hàng mà nhu cầu của nó phụ thuộc vào nhu cầu của hàng hóa kháctrong tồn kho. Ví dụ: để lắp ráp được một xe đạp chúng ta cần 2 lốp xe, 1 sườn xe, 1 gi-đông,...Nói chung, nhu cầu về vật liệu và các phần tử có thể tính toán nếu chúng ta có thể ước lượngđược nhu cầu của các loại thành phẩm cần sử dụng chúng. Các quyết định về lượng đặt hàng vàđiểm đặt hàng lại cho hàng hóa tồn kho phụ thuộc rất khác biệt với tồn kho độc lập Những nguyên vật liệu, hàng hóa mua về đã được kiểm tra trước khi đưa vào các kho dựtrữ. Đến lượt cần phải quản lý chúng, việc quản trị dự trữ bao quát trên ba phương diện: Quảntrị hiện vật của dự trữ, quản trị kế toán và quản trị kinh tế của dự trữ . 3. Quản trị hiện vật của dự trữ. Quản trị về mặt vật chất của dự trữ dựa vào việc tối ưu hóa sự lưu kho của sản phẩm:diện tích và số lượng cần thiết là bao nhiêu? kho tàng có những phương tiện nào, trong số đó cónhững phương tiện vận chuyển nào?, cần phải mua chúng như thế nào?. Đáp án cho câu trả lời này cho phép thấy khả năng sinh lợi của các khỏan đầu tư đã chấpnhận. Quản trị tốt về mặt vật chất của dự trữ bảo đảm cho khách hàng của doanh nghiệp một"mức độ dịch vụ tốt" và có thể tạo ra một lợi thế so với các đối thủ. 3.1 Những nguyên tắc cơ bản của kho tàng. Trong các doanh nghiệp công nghiệp, người ta chia thành kho thành phẩm, kho nguyênvật liệu, kho các bộ phận linh kiện, kho dụng cụ đồ nghề.v.v. Trong các doanh nghiệp thươngnghiệp bán buôn hoặc bán lẻ, hàng hóa được dự trữ ở các kho tạm giữ hoặc là các kho dự trữ,nhưng cũng cả ở diện tích bán. Những kho này là cần thiết, bởi vì các dự trữ phải được bảo vệchống ăn trộm, chống thời tiết xấu, chống nóng, ẩm và chống những biến dạng v.v. Những cơ sởdự trữ cần phải kín và phù hợp với từng loại sản phẩm, hàng hóa, vật tư cần được bảo vệ. Địa 136
    • điểm kho dự trữ cần phải được bố trí sao cho việc vận chuyển tối thiểu và dễ dàng cho việc nhập,xuất các hàng hóa. 3.2 Mã hóa và phương pháp xếp đặt các sản phẩm dự trữ Để thuận lợi cho công tác dự trữ và tăng tốc độ giải phóng kho, cần thiết phải nhận dạngsản phẩm một cách nhanh chóng. Giải pháp đơn giản nhất là sử dụng tên gọi của chúng, nhưngcách gọi tên này thường ít được sử dụng, đặc biệt khi chúng gồm những chỉ dẫn kỹ thuật hoặckích cỡ, do đó doanh nghiệp thường sử dụng một bộ mã số (chẳng hạn như: 1234) hoặc cả chữcái và số cho mỗi mặt hàng dự trữ. - Những phương pháp xếp đặt các sản phẩm dự trữ. Có nhiều phương pháp để sắp xếp sản phẩm, chúng có thể được kết hợp với nhau. + Phương pháp: "Mỗi chỗ một vật, mỗi vật ở chỗ của mình" là dành cho mỗi một loạisản phẩm một chỗ quy định. Ưu điểm là dễ dàng định vị sản phẩm, vật tư trong kho; xác định lượng dự trữ thừa haythiếu một cách nhanh chóng. Nhưng măc nhược điểm là không tận dụng được diện tích kho tàng. + Phương pháp phổ quát vị trí: "bất kỳ vật gì, bất kỳ chỗ nào" là sử dụng vị trí nào còntrống lúc đưa hàng vào kho, một sản phẩm có nhiều điạ chỉ.Ưu điểm của nó là tận dụng được diện tích kho tàng, nhưng khó về mặt thông tin để định vị đượcchỗ trống khi nhập kho và tìm địa chỉ sản phẩm khi xuất kho. + Phương pháp tần suất quay vòng: Loại hàng nào ra vào nhiều nhất được xếp ở chỗthuận tiện nhất. + Phương pháp hai kho: Kho được chia làm hai bộ phận: Kho dự trữ được cung ứng donhập kho và cung cấp số lượng nhỏ cho kho phân phối từ đó xác lập các đơn đặt hàng. + Phương pháp vào trước ra trước (first in, first out FI FO) 4. Quản trị kế toán dự trữ. 4.1 Nắm số lượng dự trữ: - Doanh nghiệp sử dụng các phiếu kho để ghi chép sự vận động của hàng hóa (nhập vàxuất) và tính toán số lượng tồn kho (dự trữ cuối cùng = dự trữ ban đầu + nhập - xuất) - Kiểm kê: Phiếu kho cho phép nắm được hàng tồn trong kho về mặt giấy tờ, nhưng nókhông thể tính được những mất mát hoặc hư hỏng ở tất cả các dạng. Để khắc phục điều này, quyđịnh các doanh nghiệp thực hiện kiểm kê một cách thường xuyên (kế toán), hoặc gián đoạn(ngoài kế toán). Việc kiểm kê này là cơ sở để đánh giá dự trữ được biểu thị ở bảng cân đối, cho phép nhàquản trị biết được bất cứ lúc nào về tình hình dự trữ của họ. Việc kế toán này của dự trữ là khádễ dàng về số lượng hiện vật, nhưng có nhiều khó khăn về giá trị. 4.2 Nắm giá trị dự trữ. Việc nắm các dự trữ về mặt giá trị là khó khăn, vì thông thường các mặt hàng nhập vàocó những giá mua khác nhau. Vấn đề cần phải định giá cho chúng khi xuất kho theo giá nào? Vềphương pháp có thể sử dụng (xem thêm trong kế toán dự trữ): - Phương pháp nhận diện. - Phương pháp giá bình quân gia quyền. - Phương pháp FIFO. - Phương pháp LIFO. Cả bốn phương pháp trên đều là phương pháp kế toán được thừa nhận. Tuy nhiên, lựachọn phương pháp để áp dụng cần chú trọng tới ảnh hưởng của từng phương pháp đối với bảngtổng kết tài sản và bảng kê lời lỗ của doanh nghiệp. 5. Quản trị kinh tế của dự trữ.Chức năng dự trữ phải thực hiện hai mục tiêu có vẻ trái ngược nhau: - Mục tiêu an toàn: có dự trữ để tránh mọi gián đoạn. - Mục tiêu tài chính: giảm đến mức thấp nhất có thể được về mức dự trữ để giảm nhữngchi phí kho tàng. Để giải quyết điều đó, quản trị dự trữ cần trả lời hai câu hỏi: - Đặt hàng khi nào? - Số lượng mỗi lần đặt hàng là bao nhiêu? 137
    • 5.1 Những khái niệm cơ bản. 5.1.1 Dự trữ trung bình: là dự trữ đã được lưu lại bình quân trong doanh nghiệp trongthời gian nhất định, dự trữ trung bình giảm khi số tái dự trữ tăng lên. Số lượng Tối đa Q Trung bình Q/2 Tối thiểu 0 Sơ đồ 6.2: Dự trữ trung bình 5.1.2 Dự trữ gắn với thời hạn cung ứng: dự trữ tối thiểu. Nếu như doanh nghiệp chờ lượng dự trữ xuống bằng 0 mới đưa đơn hàng cho nhà cungứng, nó sẽ rới vào tình trạng gián đoạn dự trữ trong quãng thời gian được gọi là thời gian tái dựtrữ. Do vậy, vào lúc thực hiện việc đặt hàng cần phải có dự trữ một khối lượng hàng đủ để đápứng nhu cầu trong thời gian từ khi đặt hàng đến khi nhận hàng. Dự trữ tối thiểu đáp ứng nhu cầunày. 5.1.3 Dự trữ an toàn hoặc dự trữ bảo hiểm Q Q Tiêu dùng Tiêu dùng dự kiến Thời điểm Thời điểm nhận hàng giao hàng thực tế thực tế Thời gian Thời gian Thời điểm Gián đoạn dự trữ. Thời gian Gián đoạn nhận hàng cung ứng dự trữ. dæû kiãún Tiêu dùng gia tăng Thời gian giao hàng trễ Sơ đồ 6.3 Dự trữ bảo hiểm 5.2 Những chi phí liên quan đến dự trữ Khi thực hiện dự trữ, doanh nghiệp cần phải tính toán ba loại chi phí: 5.2.1 Chi phí tồn trữ: là những chi phí có liên quan đến hoạt động thực hiện tồn kho, baogồm: 5.2.1.1 Chi phí kho: Chi phí này nhằm bảo đảm hàng hóa dự trữ, chi phí cho kho tàng(thuê hoặc khấu hao hàng năm nhà kho), chi phí khai thác kho (tiền lương và bảo hiểm xã hộicho nhân viên kho, tiền thuê hoặc khấu hao hàng năm máy móc thiết bị, ánh sáng...), chi phí bảodưỡng thiết bị, chi phí bảo hiểm, chi phí quản lý 5.2.1.2 Chi phí sụt giá hàng trong quá trình dự trữ trong kho: phải phân biệt hai nguyênnhân sụt giá: - Sụt giá do lỗi thời liên quan đến những mặt hàng theo mốt hoặc công nghệ tiếntriển nhanh - Sụt giá do hư hỏng, chẳng hạn do những tai nạn khi chuyên chở, bay hơi, trộmcắp, hoặc bị phá bởi những loại gặm nhấm... 5.2.2 Chí phí đặt hàng: Đó là những chi phí cho mỗi lần DN bắt đầu quá trình mua đểtái dự trữ. Loại chi phí này bao gồm những chi phí có liên quan đến đơn hàng như: chi phí cácmẫu đơn sử dụng và chi phí xử lý các đơn đặt hàng, thư tín, điện thoại, đi lại, tiền lương và bảo 138
    • hiểm xã hội của nhân viên mua (tìm người cung ứng, thương lượng, thảo đơn đặt hàng, thúcdục, nhắc nhở...), của nhân viên kế toán (ghi chép, thanh toán hóa đơn v.v), chi phí bố trí thiết bị,chi phí cho công tác kiểm tra về số và chất lượng hàng hóa. Khi chúng ta sản xuất một lô hàng sẽphát sinh một chi phí cho việc chuyển đổi qui trình do sự thay đổi sản phẩm từ giai đoạn trướcsang giai đoạn tiếp theo. Kích thước lô hàng càng lớn thì tồn kho vật tư càng lớn, nhưng chúng tađặt hàng ít lần trong năm thì chi phí đặt hàng hàng năm thấp hơn. 5.2.3 Chi phí mua hàng: Loại chi phí này phụ thuộc vào nhu cầu hàng năm của DN vàgiá mua. Khi mua nguyên vật liệu với kích thước lô hàng lớn sẽ làm tăng chi phí tồn trữ nhưngchi phí mua hàng thấp hơn do chiết khấu theo số lượng và cước phí vận chuyển cũng giảm. 5.2.4 Chi phí thiếu hàng: là những khoản bị thiệt hại do không đủ hàng trong kho, mỗikhi chúng ta thiếu hàng tồn kho nguyên vật liệu cho sản xuất hoặc thành phẩm cho khách hàng,có thể chịu một khoản chi phí như là sự giảm sút về doanh số bán hàng, và gây mất lòng tin đốivới khách hàng. Nếu thiếu hụt nguyên vật liệu cho sản xuất có thể bao gồm những chi phí của sựphá vỡ qui trình sản xuất này và đôi khi dẫn đến mất doanh thu, mất lòng tin khách hàng. Loạichi phí này gồm: - Doanh thu bị mất do thiếu hàng doanh nghiệp không có thể thỏa mãn được nhu cầu vềvật tư, hàng hóa. - Thiệt hại do gián đoạn sản xuất vì thiếu nguyên vật liệu. Chi phí gián đoạn được tínhbằng số mất đi do ngưng sản xuất, hoặc số tiền mất do bõ lỡ cơ hội kiếm được cộng thêm phầnmất đi hình ảnh, nhãn hiệu của doanh nghiệp (chẳng hạn: sự mất lòng tin của khách hàng). Loạichi phí này rất khó ước lượng, dể khắc phục tình trạng này, người ta phải có dự trữ bổ sung haygọi là dự trữ an toàn. Các loại chi phí này có mối quan hệ qua lại với nhau, nếu lượng đặt hàng nhiều thì chiphí đặt hàng sẽ thấp nhưng chi phí lưu hàng lại tăng vì hàng trong kho nhiều. Mặt khác, đặt hàngnhiều khả năng bị mật doanh thu thấp, chi phí thiếu hàng thấp. Mục tiêu của quản lý kinh tế dựtrữ là làm tối thiểu chi phí toàn bộ của dự trữ. Các nhà quản trị doanh nghiệp muốn kiểm soáthàng cung ứng phải quan tâm đến hai vấn đề sau: Một là: Xác định mức mà hàng tồn kho cần được bổ sung thêm, nghĩa là xác định khi nàophải đặt hàng. Hai là: Xác định số lượng mỗi lần đặt hàng. Nếu chỉ đặt hàng đủ nhu cầu và đúng lúc thìsẽ làm giảm tối đa chi phí tồn kho. 5.3 Xác định mức tái đặt hàng. Hàng tồn kho còn đến mức nào thì doanh nghiệp cần phải đặt để bổ sung? Trả lời câu hỏinày là xác định mức tái đặt hàng có thể là số lượng hoặc giá trị. Mục tiêu của việc xác định điểmtái đặt hàng là nhằm hạn chế tối đa chi phí lưu kho và thiệt hại do thiếu hàng. Mức tái đặt hàngphụ thuộc vào ba yếu tố: thời gian chờ đợi, mức dự trữ an toàn và mức sử dụng dự kiến hàngngày. - Thời gian chờ đợi là số ngày tính từ ngày đặt hàng cho đến khi nhận được hàng đặt. - Mức dự trữ an toàn là số lượng (hoặc giá trị) hàng tồn kho dự phòng cho các trường hợphàng đặt đến trễ hoặc sử dụng nhiều hơn dự kiến. - Mức sử dụng dự kiến hàng ngày là mức sử dụng bình quân của một trong kỳ 1 năm. Mức tái đặt hàng được xác định như sau: Mức dự trữ an Mức dự trữ dự Mức tái đặt hàng = + x Thời gian chờ toàn kiến hàng ngày đợi Ví dụ 5-1:Một doanh nghiệp đang xác định mức tái đặt hàng cho mặt hàng A, có các tàiliệu như sau: - Thời gian chờ đợi: 20 ngày - Mức sử dụng dự kiến hàng ngày: 50 đơn vị - Mức dự trữ an toàn: 400 đơn vị Mức tái đặt hàng của mặt hàng A là: 400 + (50 x 20) = 1.400 đơn vị. Kết quả này có nghĩa là khi trong kho còn 400 đơn vị mặt hàng A thì doanh nghiệp đặtmua bổ sung là hợp lý nhất. Nếu hàng đặt không bị chậm trễ và mức sử dụng hàng ngày đúng 139
    • như dự kiến thì trong lần đặt sau không cần có mức dự trữ an toàn. Mức tái đặt hàng trongtrường hợp này là 50 x 20 = 1.000 đơn vị.IV. HỆ THỐNG LƯỢNG ĐẶT HÀNG CỐ ĐỊNH: Hệ thống lượng đặt hàng cố định thiết lập các đơn hàng với cùng số lượng cho một loạivật liệu khi vật liệu đó được đặt hàng. Lượng tồn kho giảm cho đến mức giới hạn nào đó sẽ đượctiến hành đặt hàng, tại thời điểm đó lượng hàng còn lại được tính bằng cách ước lượng số lượngvật liệu mong đợi được sử dụng giữa thời gian chúng ta đặt hàng đến khi nhận được lô hàng kháccủa loại vật liệu này. Quyết định chủ yếu của hệ thống lượng đặt hàng cố định là xác định số lượng hàng cầnđặt cho mỗi đơn hàng và điểm đặt hàng lại là bao nhiêu? 1. Xác định lượng đặt hàng: Khi các nhà quản trị tác nghiệp phải quyết định số lượng của một vật liệu để đặt hàngtrong hệ thống đặt hàng cố định, không có công thức đơn giản nào áp dụng cho mọi tình huống.Chúng ta khảo sát ở đây ước lượng tối ưu đơn hàng theo 3 kiểu tồn kho. 1.1 Mô hình: Lượng đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ) CÁC GIẢ THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG MÔ HÌNH: - Nhu cầu hàng năm (D), chi phí tồn trữ (H) và chi phí đặt hàng (S) có thể tính được. - Tồn kho trung bình là kích cỡ của đơn hàng chia 2 (Q/2). Điều này hàm ý là không cóhàng tồn kho an toàn, đơn hàng được nhận đủ ngay lập tức, vật liệu được sử dụng theo tỷ lệ đồngnhất và hoàn toàn sử dụng hết khi nhận đơn hàng mới. - Các chi phí do hết hàng và những chi phí khác không đáng kể. Mức tồn kho Thời điểm nhận hàng dự trữ Điểm đặt hàng lại Mức dự trữ (OP) trung bình Q/2 Thời gian Thời gian thực hiện đơn hàng (LT) Sơ đồ 6-4: Mô hình EOQ Ví dụ 6-2: Công ty C tồn kho hàng ngàn vale ống nước bán cho những thợ ống nước, nhàthầu và các nhà bán lẻ. Tổng giám đốc doanh nghiệp lưu tâm đến việc có bao nhiêu tiền có thểtiết kiệm được hàng năm nếu EOQ được dùng thay vì sử dụng chính sách như hiện nay của xínghiệp. Ông ta yêu cầu nhân viên phân tích tồn kho, lập bảng phân tích của loại vật liệu này đểthấy việc tiết kiệm (nếu có) do việc dùng EOQ. Nhân viên phân tích lập các ước lượng sau đâytừ những thông tin kế toán: D = 10.000 vale/năm, Q = 400 vale/đơn hàng (lượng đặt hàng hiệnnay), H = 0,4 triệu đồng/vale/năm và S = 5,5 triệu đồng/đơn hàng. Giải pháp: - Nhân viên kế toán tính tổng chi phí cho hàng tồn kho hiện tại trong năm: TC1 = Cđh + Ctt D Q 10.000 400 TC1 = S+ H = 5,5 + 0,4 = 217,5 triệu đồng Q 2 400 2 - Khi áp dụng mô hình EOQ: Lượng hàng tối ưu cho một đơn hàng: 140
    • 2 DS 2 x10.000 x5,5 Q* = = = 524,4 vale/đơn hàng H 0,4 Tổng chi phí cho lượng hàng tồn kho hàng năm nếu áp dụng EOQ: 10.000 524,4 TC2 = 5,5 + 0,4 = 209,6 triệu đồng 524,4 2 - Ước tính khoản tiết kiệm hàng năm: TK = TC1 – TC2 = 217,5 - 209,76 = 7,74 triệu đồng 1.2 Mô hình: EOQ cho các lô sản xuất (POQ): Giả thiết của mô hình: - Nhu cầu hàng năm, chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng của một loại vật liệu có thể ướclượng được. - Không sử dụng tồn kho an toàn, vật liệu được cung cấp theo mức đồng nhất (p), vật liệuđược sử dụng ở mức đồng nhất (d) và tất cả vật liệu được dùng hết toàn bộ khi đơn hàng kế tiếpvề đến. - Nếu hết tồn kho thì sự đáp ứng khách hàng và các chi phí khác không đáng kể. - Không có chiết khấu theo số lượng. - Mức cung cấp (p) lớn hơn mức sử dụng (d) (d ≤ p) Công thức tính chi phí: Tồn kho tối đa = Mức tăng tồn kho x Thời gian giao hàng Qma x = (p - d) (Q/p) Tồn kho tối thiểu = 0 (Qmin) Tồn kho trung bình = 1/2(Tồn kho tối đa +Tồn kho tối thiểu) Chi phí tồn trữ hàng năm = Tồn kho trung bình x Phí tồn trữ đơn vị hàng năm Q( p − d ) Ctt = H 2p Chi phí đặt hàng hàng năm = Số đơn hàng/năm x Chi phí một đơn đặt hàng C đh = (D/Q).S Tổng chi phí việc TK = Chi phí tồn trữ hàng năm + Chi phí đặt hàng hàng năm Q( p − d ) D TC = H+ S 2p Q Mô hình EOQ cho lô sản xuất (POQ), hữu dụng cho việc xác định kích thước đơn hàngnếu một vật liệu được sản xuất ở một giai đoạn của qui trình sản xuất, tồn trữ trong kho và sauđó gửi qua giai đoạn khác trong sản xuất hay vận chuyển đến khách hàng. Mô hình này cho tathấy các đơn hàng được sản xuất ở mức đồng nhất (p) trong giai đoạn đầu của chu kỳ tồn kho vàđược dùng ở mức đồng nhất (d) suốt chu kỳ. Mức gia tăng tồn kho là (p - d) trong sản xuất vàkhông bao giờ đạt mức Q như trong mô hình EOQ. 141
    • Mức tồn kho (p-d)(Q/p) Q Điểm đặt hàng lại (OP) Thời gian Thời điểm kết thúc Thời gian thực hiện nhận hàng đơn hàng (LT) Mức tăng tồn kho Thời điểm bắt đầu (p-d) nhận hàng Sơ đồ 6-5: Mô hình POQ Ví dụ 6-3: Công ty C có bộ phận sản xuất bên cạnh có thể sản xuất vale # 3925. Nếu valenày sản xuất tại chỗ theo lô sản xuất, họ muốn nhập kho một cách từ từ vào nhà kho chính đểdùng. Ông giám đốc quan tâm đến việc này có ảnh hưởng thế nào đến lượng đặt hàng và chi phíhàng tồn kho hàng năm, ông yêu cầu nhân viên phân tích tồn kho để thấy khoản tiết kiệm khidùng mô hình này. Số liệu được ước lượng như sau: D = 10.000 vale/năm, H = 0,4 triệuđồng/vale/năm, S = 5,5 triệu đồng/đơn hàng, p = 120 vale/ngày, d = 40 vale/ngày. Giải pháp: - Xác định lượng hàng tối ưu khi áp dụng mô hình này: 2.D.S. p 2 x10.000 x5 ,5 x120 Q* = = = 642 ,26 vale/đơn hàng H .( p − d ) 0 ,4( 120 − 40 ) - Tổng chi phí cho trường hợp này: 10.000 642 ,26 ( 120 − 40 ) TC3 = 5 ,5 + 0 ,4 ≈ 171,26 triệu đồng 642 ,26 2 x120 - Nếu so với trường hợp trước (mô hình 1), thì tiết kiệm được: TK2 = TC2 – TC3 = 209,76 - 171,26 = 38,5 triệu đồng 1.3 Mô hình: EOQ với chiết khấu số lượng: Các nhà cung cấp có thể bán hàng hóa của họ với giá đơn vị thấp hơn nếu lượng hàngđược đặt mua lớn hơn. Thực tế này gọi là chiết khấu theo số lượng bởi vì những đơn hàng sốlượng lớn có thể rẻ hơn khi sản xuất và vận chuyển. Vấn đề quan tâm trong hầu hết các quyếtđịnh số lượng của đơn hàng là đặt đủ vật liệu cho từng đơn hàng để đạt được giá tốt nhất, nhưngcũng không nên mua nhiều quá thì chi phí tồn trữ làm hỏng khoản tiết kiệm do mua hàng đemlại. Giả thiết của mô hình: - Nhu cầu hàng năm, chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng cho một loại vật liệu có thể ướclượng được. - Mức tồn kho trung bình hàng năm có thể ước lượng theo 2 cách: Q : Nếu giả thiết của mô hình EOQ phổ biến: không có tồn kho an toàn, đơn 2hàng được nhận tất cả một lần, vật liệu được dùng ở mức đồng nhất và vật liệu được dùng hếtkhi đơn hàng mới về đến. 142
    • Q( p − d ) : Nếu các giả thiết mô hình POQ phổ biến: không có tồn kho an toàn, 2pvật liệu được cung cấp theo mức đồng nhất (p) , sử dụng ở mức đồng nhất (d) và vật liệu đượcdùng hết toàn bộ khi đơn hàng mới về đến. - Sự thiết hụt tồn kho, sự đáp ứng khách hàng và chi phí khác có thể tính được. - Có chiết khấu số lượng, khi lượng đặt hàng lớn giá sẽ giảm. Công thức tính chi phí: Chi phí mua vật liệu hàng năm = Nhu cầu hàng năm x Giá đơn vị vật liệu Cvl = Dxg Tổng chi phí vật liệu = Tổng chi phí việc + Chi phí vật liệu TK hàng năm tồn kho hàng năm hàng năm TMC = TC + Cvl. Theo mô hình EOQ Theo mô hình POQ 2.D.S 2.D.S . p Q* = Q* = H H .( p − d ) TMC = Ctt + C đh + Cvl Q D TCM = Ctt + C đh + Cvl = H + S + D.g Q( p − d ) D 2 Q = H + S + D.g 2. p Q Các bước thực hiện: - Tính lượng hàng tối ưu ở từng mức khấu trừ. Chú ý rằng chi phí tồn trữ một đơn vịhàng năm (H) có thể được xác định là tỉ lệ phần trăm (I) của giá mua vật liệu hay chi phí sảnxuất. - Xác định xem Q* ở từng mức có khả thi không, nếu không thì điều chỉnh cho phù hợpvới từng mức khấu trừ đó. - Tính tổng chi phí hàng tồn kho ở từng mức khấu trừ và chọn mức có tổng chi phí nhỏnhất để quyết định thực hiện. Ví dụ 6-4: EOQ với chiết khấu theo số lượng ở công ty C của ví dụ 5-2. Nhà cung cấploại vale #3925 đề nghị công ty C mua số lượng nhiều hơn so với hiện nay sẽ được giảm giá nhưsau: Mức khấu trừ Đơn giá (Triệu đồng) 1 - 399 2,2 400 - 699 2,0 Trên 700 1,8 Ông giám đốc yêu cầu nhân viên phân tích tồn kho, nghiên cứu giá mới với 2 giả thiết:đơn hàng được nhận ngay cùng một lúc và đơn hàng được nhận từ từ. Giả sử chi phí tồn trữđược ước tính là 20% giá mua. Giải pháp: Trường hợp đơn hàng được nhận ngay cùng một lúc: - Tính lượng hàng tối ưu cho từng mức khấu trừ: 2 x10.000 x5.5 Q*11 = 2.D.S = = 500 vale I .g 20% x 2.2 Q*12 = 2.D.S = 2 x10.000 x5.5 2 x10.000 x5.5 = 524,4 vale; Q*13 = = 553 vale I .g 20% x 2.0 20% x1.8 - Điều chỉnh Q* cho phù hợp với giá ở từng mức khấu trừ: Q*11 = loại (vượt mức khấu trừ ) ; Q*12 = 524 vale ; Q*13 = 700 vale 143
    • - Xác định chi phí tồn kho ở từng mức khấu trừ: 524 10.000TMC2 = x 20% x 2,0 + x5,5 + 10.000 x 2,0 = 20.209,76 ngàn đồng 2 524 700 10.000TMC3 = x1,8 + x5,5 + 10.000 x1,8 = 18.204,57 ngàn đồng 2 700 Trường hợp đơn hàng được giao từ từ: - Tính lượng hàng tối ưu cho từng mức khấu trừ: Q*21= 2.D.S . p = 2 x10.000 x5.5 x120 = 612vale I .g ( p − d ) 20% x 2.2 x (120 − 40) Q*22= 2 x10.000 x5.5 x120 * 2 x10.000 x5.5 x120 = 642vale ; Q 13= = 677vale 20% x 2.0 x (120 − 40) 20% x1.8 x (120 − 40) - Điều chỉnh lượng hàng Q* cho phù hợp với từng mức khấu trừ: Q*11 = loại (vượt mức khấu trừ ) ; Q*12 = 642 vale ; Q*13 = 700 vale - Xác định chi phí tồn kho ở từng mức khấu trừ: 642(120 − 40) 10.000TMC’2 = x 20% x 2,0 + x5,5 + 10.000 x 2,0 = 20.171,86 ngàn đồng 2 x120 642 700(120 − 40) 10.000TMC’3 = x1,8 + x5,5 + 10.000 x1,8 = 18.162,57 ngàn đồng 2 x120 700 - So sánh chi phí ở từng mức khấu trừ, ta thấy mức chi phí ở mức khấu trừ 3 là nhỏ nhấtnên quyết định đặt mua hàng là 700 vale/đơn hàng. 2. Xác định điểm đặt hàng: Khi thiết lập điểm đặt hàng trong hệ thống tồn kho với lượng đặt hàng cố định, các nhàquản trị chạm trán với một vài nhu cầu xảy ra trong tiến trình bổ sung nhập kho. Gọi (OP) làlượng vật liệu sẽ được dùng đến trong khi chờ đợi một đơn hàng vật liệu mới. Sự thay đổi trong(OP) xảy ra từ 2 nguồn: Đầu tiên, thời gian nhập hàng cần để nhận một đơn hàng là nguyênnhân của thay đổi. Ví dụ như nhà cung cấp có thể gặp khó khăn trong tiến trình đặt hàng và cáccông ty vận chuyển có thể hỏng phương tiện làm chậm trễ việc giao hàng. Thứ hai, nhu cầu vậtliệu hàng ngày cũng là nguyên nhân của thay đổi. Ví dụ như nhu cầu của khách hàng đối vớithành phẩm thay đổi lớn từng ngày và nhu cầu của các bộ phận sản xuất đối với vật liệu thô cũngkhác nhau do sự thay đổi trong lịch trình sản xuất. f(D DLT) Nhu cầu mong đợi trong thời gian thực hiện đơn hàng Điểm đặt hàng lại Khả năng xảy TK an toàn ra hết hàng (SS) Sơ đồ 5-5 Điểm đặt hàng lại=EDDLT+SS Nhu cầu trong thời gian thực hiện đơn hàng Sơ đồ 6 - 6 Nếu đơn hàng đến trễ hay nhu cầu vật liệu lớn hơn mong đợi trong khi chúng ta đang chờhàng về, việc hết tồn kho có thể xảy ra, có nghĩa là tồn kho không hữu hiệu. Để đáp ứng nhu cầucủa vật liệu trong thời gian nhập kho, các nhà quản trị tác nghiệp sử dụng lượng tồn kho an toàn,như vậy chi phí thiếu hụt ít xảy ra. Nếu chúng ta dùng tồn kho an toàn quá lớn, chi phí tồn khocủa những vật liệu này sẽ trở nên quá sức, nhưng dùng tồn kho an toàn quá nhỏ thì chi phí thiếuhụt trở nên quá lớn. Các nhà quản trị muốn cân bằng 2 loại chi phí này khi họ xác định điểm đặt 144
    • hàng. Sơ đồ 6-5 cho thấy mối quan hệ giữa nhu cầu trong thời gian thực hiện đơn hàng, tồn khoan toàn, điểm đặt hàng và khả năng xảy ra hết hàng trong từng chu kỳ đặt hàng lại. Việc cố gắng cân bằng chi phí tồn kho của tồn kho an toàn quá nhiều hay quá ít của từngloại vật liệu, các nhà phân tích phải tìm kiếm giải pháp tối ưu cho vấn đề này. Trở ngại chính đểxác định mức tồn kho an toàn tối ưu là ước lượng chi phí do hụt kho, chi phí đó là bao nhiêu ?Lợi nhuận chúng ta bị mất là bao nhiêu hay là mất lòng tin của khách hàng. Do những trở ngạitrong việc xác định chính xác chi phí thiếu hụt, các nhà phân tích phải dùng cách tiếp cận khácđể lập tồn kho an toàn; lập điểm đặt hàng lại ở mức độ phục vụ xác định bởi chính sách quản lý. BÀI TẬP TỰ GIẢI: 1: Một siêu thị có nhu cầu hàng năm về sản phẩm A là 40.000 sản phẩm. Chi phí đặthàng là 250.000 đồng/đơn hàng, không kể số lượng đặt hàng là bao nhiêu; chi phí tồn trữ là 20%đơn giá sản phẩm. Sản phẩm A được cung cấp với giá 100.000 đồng/sản phẩm. Hỏi người ta đặthàng mỗi lần à bao nhiêu sản phẩm để tối thiểu hóa tổng chi phí tồn kho? Giả sử thời gian để thực hiện đơn hàng là 2 ngày, thời gian làm việc trong năm là 250ngày. Xác định điểm đặt hàng lại của sản phẩm trên? 2: Một công ty có nhu cầu sản xuất về sản phẩm C hàng năm là 5.000 sản phẩm. Đơn giácủa sản phẩm này là 100.000 đồng/sản phẩm và chi phí tồn trữ là 20% đơn giá của nó. Chi phíchuyển đổi sản xuất là 200.000 đồng cho mỗi lần chuyển đổi lô sản xuất. Mức sản xuất hiện tạilà 20.000 sản phẩm/năm. Hỏi, nên sản xuất theo lô cở nào để tối thiểu hóa chi phí (mỗi năm làmviệc 250 ngày). 3: Nhà cung cấp dầu hỏa X gởi đến công ty Lửa Đỏ chuyên kinh doanh dầu hỏa bảng giáchiết khấu như sau: Lượng mua (thùng) Đơn giá (ngàn đồng/thùng) 1-999 200 1.000-2.999 180 trên 3.000 175 Nếu chi phí tồn trữ là 25% đơn giá và phải tốn 1 triệu đồng cho mỗi lần đặt hàng, khôngkể số lượng đặt hàng mỗi lần là bao nhiêu. Theo bạn, công ty nên đặt hàng mỗi lần bao nhiêuthùng để hưởng lợi ích do mức chiết khấu trên, nếu biết nhu cầu hàng năm là 10.000 thùng. 4: Công ty G sản xuất phân, một loại nguyên liệu thô cần được sử dụng với số lượng lớncho sản xuất ở năm tới theo dự báo là 2,5 triệu tấn. Nếu giá của nguyên liệu này là 1,225 triệuđồng/tấn, chi phí tồn trữ là là 35% chi phí đơn vị nguyên liệu và chi phí đặt hàng là 15,95 triệuđồng/đơn hàng. Yêu cầu: a. Công ty nên mua với số lượng nào? Chi phí tồn kho hàng năm là bao nhiêu ? b. Thời cách quãng giữa hai lần đặt hàng ? (biết doanh nghiệp làm việc 300 ngày trongnăm) 5: Đơn vị A có nhu cầu về tiền mặt cho kho quỹ của họ để giao dịch hằng ngày. Nếu đơnvị ước lượng 250 tỉ đồng được cần đến vào năm tới, chi phí cho từng lần rút tiền từ ngân hàngvề tiền mặt là 2,65 triệu đồng (bao gồm cả chi phí cho việc văn phòng, áp tải vận chuyển) và chiphí cho việc bảo quản tiền mặt nhàn rổi không dùng đến là 0,8% (đồng/năm). Yêu cầu: a) Lượng tiền mặt của đơn vị A cần cho từng lần rút là bao nhiêu ? b) Tổng chi phí việc tồn kho hàng năm là bao nhiêu cho kết quả phần a ? c) Thời gian cách quảng giữa 2 lần đặt hàng, biết thời gian làm việc trong năm là 260ngày và tiền mặt đặt ở mức Q*. 6: Doanh nghiệp tư nhân X bán lẻ hóa chất diệt côn trùng. Sản phẩm này được đặt từ nhàbuôn sỉ với giá 120.000 đồng/kg, nhu cầu cho năm tới ước lượng là 50 tấn. Nếu doanh nghiệp đặthàng dưới 7,5 tấn/đơn hàng, thì chi phí tồn trữ là 35% đơn giá mua/năm và chi phí đặt hàng là15,05 triệu đồng/đơn hàng. Nếu doanh nghiệp đặt nhiều hơn 7,5 tấn thì chi phí tồn trữ giảmxuống còn 25% đơn giá mua/năm, nhưng chi phí đặt hàng tăng thành 25,75 triệu đồng/đơn hàngdo chi phí vận chuyển phụ trội. Vậy doanh nghiệp nên đặt bao nhiêu hàng cho một đơn hàng ? 7: Mức sản xuất của dây chuyền lắp ráp thành phẩm là 800 đĩa CD/ngày. Sau khi lắpráp xong, các đĩa này đi thẳng vào kho thành phẩm. Biết nhu cầu của khách hàng trung bình là 145
    • 400 đĩa CD/ngày và khoảng 50.000 đĩa CD/năm, nếu việc vận hành dây chuyền lắp ráp tốn 5triệu đồng và chi phí cho việc tồn trữ là 10.000đồng/đĩa CD/năm. a) Nên sản xuất đĩa CD theo lô lớn cở bao nhiêu ở dây chuyền lắp ráp thành phẩm? b) Tính tổng chi phí ở mức sản xuất tối ưu? 8: Một công ty tinh chế dầu mua dầu thô theo hợp đồng cung cấp dài hạn với giá 225.000đồng/thùng. Việc vận chuyển dầu thô đến nhà máy được thực hiện với số lượng 10.000thùng/ngày, nhà máy chỉ sử dụng ở mức 5.000 thùng/ngày và định mua 500.000 thùng dầu thôvào năm tới. Nếu chi phí cho việc tồn trữ hàng là 25% đơn giá mua/năm và chi phí đặt hàng chomột đơn hàng là 75 triệu đồng. Tính lượng hàng tối ưu cho đơn hàng và tổng chi phí đơn hàng này là bao nhiêu? 9: Một nhà buôn sỉ cung cấp vật liệu xây dựng bán các loại cửa nhôm. Loại cửa thôngdụng hiện nay được ước lượng có nhu cầu ở năm tới là 50.000 cửa. Chi phí đặt và nhận hàng chomột đơn hàng là 2 triệu đồng, chi phí cho việc tồn trữ là 30% đơn giá mua. Nhà cung cấp đưa rabảng giá chiết khấu loại cửa này như sau: Lượng đặt hàng (đơn vị) Giá chiết khấu (đồng) 1 - 999 450.000 1.000 - 1.999 390.000 Trên 2000 350.000 a. Tính lượng hàng tối ưu và tổng chi phí là bao nhiêu ? b. Thời gian cách quảng giữa 2 lần đặt hàng, nếu biết thời gian làm việc trong năm là 300ngày. 10: Nhu cầu hàng năm về loại sản phẩm A là 150.000 sản phẩm, chi phí đặt hàng chomỗi đơn hàng là 1 triệu đồng, chi phí cho việc tồn trữ hàng năm là 15% đơn giá, mức sản xuấtsản phẩm A là 600 sản phẩm/ngày và mức tiêu thụ là 300 sản phẩm/ngày. Nếu đơn vị nhận hàngtừ 1-5.999 sản phẩm/đơn hàng thì bán giá 150.000 đồng/sản phẩm, nếu nhận từ 6.000-9.999 sảnphẩm thì bán với giá 130.000 đồng/ sản phẩm, nếu nhận trên 10.000 sản phẩm thì bán với giá100.000 đồng/ sản phẩm . Xác định lượng đặt hàng tối ưu và tính tổng chi phí là bao nhiêu.CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Nêu khái niệm và phân tích vai trò cung ứng ? 2. Nêu các phương pháp lựa chọn cung ứng, tác dụng của các phương pháp lựa chọn cung ứng ? 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mua sắm? Hãy lập kế hoạch mua sắm ? 4. Sự cần thiết của dự trữ ? Các mức dự trữ ? Các loại chi phí dự trữ? 5. Các mô hình quản trị dữ trữ? Phân biệt mô hình EOQ và mô hình POQ ? Mô hình chiết khấu ? 146
    • CHƯƠNG VII. HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP Qua chương này, người đọc nắm được những nội dung cụ thể sau: - Khái niệm hiệu quả kinh tế trong kinh doanh - Bản chất và vai trò của nâng cao hiệu quả kinh tế - Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - Phương pháp tính hiệu quả kinh tế. - Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệpI . HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾTRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. 1. Khái niệm, bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh. 1.1 Khái niệm “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tếphản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mụctiêu xác định”. Từ khái niệm khái quát này, có thể hình thành công thức biễu diễn khái quátphạm trù hiệu quả kinh tế như sau: H = K/C (1) Với H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó; K là kết quả thuđược từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó. Và nhưthế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế vàđược xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện“động” của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm như thế hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quảkinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộcvào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng. Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quảkinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu màdoanh nghiệp đã xác định. 1.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sảnxuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuấtkinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụngcác nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mụctiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợinhuận. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinhdoanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sảnxuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì màdoanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng làmục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanhnghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại,doanh thu, lợi nhuận, thị phần, ... và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượnghoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm, ... Nhưthế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp. Trong khi đó, công thức (1) lại cho thấytrong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả(đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lý 147
    • thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác địnhbằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quảkinh tế sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lườngcòn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đolường – tiền tệ. Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói dung và hiệu quả kinh tế của sản xuấtkinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúcngười ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khácngười ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kếtquả. 1.3 Phân biệt các loại hiệu quả. Thực tế cho thấy các loại hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả cáclĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Ở chương này chúng ta chỉ giới hạn thuật ngữ hiệu quả ở giácđộ kinh tế - xã hội. Xét trên phương diện này, có thể phân biệt giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả xãhội và hiệu quả kinh tế xã hội. Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xãhội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường thấy là : giải quyết công ăn việc làm trong phạm vitoàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế ; giảm số người thất nghiệp; nâng cao trình độ và đời sốngvăn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng caomức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ trong phân phối, đảmbảo và nâng cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môi trường;... Nếu xem xét hiệu quả xã hội, người taxem xét mức tương quan giữa các kết quả (mục tiêu) đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiệnlao động, nâng cao đời sống văn hóa và tinh thần, giải quyết công ăn việc làm...) và chi phí bỏ rađể đạt được kết quả đó. Thông thường các mục tiêu kinh tế- xã hội phải được chú ý giải quyếttrên giác độ vĩ mô nên hiệu quả xã hội cũng thường được quan tâm nghiên cứu ở phạm vi quảnlý vĩ mô. Hiệu quả kinh tế như đã được khái niệm ở phần trên; với bản chất của nó, hiệu quả kinhtế là phạm trù phải được quan tâm nghiên cứu ở các hai giác độ vĩ mô và vi mô. Cũng vì vậy,nếu xét ở phạm vi nghiên cứu, chúng ta có hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân,hiệu quả kinh tế ngành, hiệu quả kinh tế vùng lãnh thổ và hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuấtkinh doanh. Muốn đạt được hiệu quả kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế ngành cũng như hiệu quảkinh tế vùng lãnh thổ cao, vai trò điều tiết vĩ mô là cực kỳ quan trọng. Trong phạm vi nghiên cứuở chương này, chúng ta chỉ quan tâm tới hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh . 2. Kinh doanh có hiệu quả - Điều kiện sống còn của mọi doanh nghiệp 2.1 Hiệu quả kinh doanh là công cụ quản trị kinh doanh Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng đều phải tập hợp cácphương tiện vật chất cũng như con người và thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tốvật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của doanh nghiệp và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận.Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trêncơ sở những nguồn lực sản xuất sẵn có. Để đạt được mục tiêu này, quản trị doanh nghiệp phảisử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Hiệu quả kinh doanh là một trong các công cụ để các nhàquản trị thực hiện chức năng quản trị của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanhkhông những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trịphân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kếtquả và giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả. Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉrõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất: trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao,doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độtăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào. Đây là điều kiệntiên quyết để doanh nghiệp đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa. Do đó xét trên phương diện lý luận vàthực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng việc đánh giá, sosánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhấtđể đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa. Với tư cách một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trùhiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợpcác nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn doanh nghiệp, mà còn được sử dụng để 148
    • đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp. Và như đã lưu ý, dophạm trù hiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt nên trong nhiều trường hợp người ta coi nó khôngphải chỉ như phương tiện để đạt kết quả cao mà còn như chính mục tiêu cần đạt. 2.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không thành vấn đề bàn cãi nếunguồn tài nguyên không hạn chế. Người ta có thể sản xuất vô tận hàng hóa, sử dụng thiết bịmáy móc, nguyên vật liệu, lao động một cách không khôn ngoan cũng chẳng sao nếu nguồn tàinguyên là vô tận. Nhưng thực tế, mọi nguồn tài nguyên trên trái đất như đất đai, khoáng sản, hảisản, lâm sản, ... là một phạm trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm và cạn kiệt do con người khaithác và sử dụng chúng. Trong khi đó một mặt, dân cử ở từng vùng, từng quốc gia và toàn thếgiới ngày càng tăng và tốc độ tăng dân số cao làm cho sự tăng dân số rất lớn và mặt khác, nhucầu tiêu dùng vật phẩm của con người lại là phạm trù không có giới hạn: không có giới hạn ở sựphát triển các loại cầu và ở từng loại cầu thì cũng không có giới hạn – càng nhiều, càng phongphú, càng có chất lượng cao càng tốt. Do vậy, của cải đã khan hiếm lại càng khan hiếm và ngàycàng khan hiếm theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó. Khan hiếm đòi hỏi và bắt buộc conngười phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm tăng lên dẫn đến vấn đề lựa chọn kinh tếtối ưu ngày càng phải đặt ra nghiêm túc, gay gắt. Thực ra, khan hiếm mới chỉ là điều kiện cầncủa sự lựa chọn kinh tế, nó buộc con người “phải” lựa chọn kinh tế vì lúc đó dân cư còn ít màcủa cải trên trái đất lại rất phong phú, chưa bị cạn kiệt vì khai thác, sử dụng. Khi đó, loài ngườichỉ chú ý phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng kết quả sản xuất trên cơ sở gia tăng cácyếu tố sản xuất: tư liệu sản xuất, đất đai,... Điều kiện đủ cho sự lựa cho kinh tế là cùng với sự phát triển của kỹ thuật sản xuất thìcàng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm. Kỹ thuật sảnxuất phát triển cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra rấtnhiều loại sản phẩm khác nhau. Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinhtế: lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu. Sự lựa chọn đúng đắn sẽmạng lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất. Giai đoạnphát triển kinh tế theo chiều rộng kết thúc và nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiềusâu: sự tăng trưởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản xuấtvề mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quảntrị và cơ cấu kinh tế..., nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế. Nói một cách khái quát là nhờvào sự nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhự vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồnlực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lựcsản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳhoạt động sản xuất kinh doanh nào. Tuy nhiên sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong các cơ chế kinh tế khác nhau làkhông giống nhau. Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, việc lựa chọn kinh tế thường không đặtra cho cấp doanh nghiệp. Mọi quyết định kinh tế: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sảnxuất cho ai? đều được giải quyết từ một trung tâm duy nhất. Doanh nghiệp tiến hành các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình theo sự chỉ đạo từ trung tâm đó và vì thế mục tiêu cao nhấtcủa doanh nghiệp là hoàn thành kế hoạch nhà nước giao. Do những hạn chế nhất định của cơ chếkế hoạch hóa tập trung mà không phải chỉ là vấn đề các doanh nghiệp ít quan tâm tới hiệu quảhoạt động kinh tế của mình mà trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạchbằng mọi giá. Hoạt động kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt,nâng cao hiệu quả kinh doanh của hoạt động sản xuất là điều kiện tồn tại và phát triển của cácdoanh nghiệp. Trong cơ chế kinh tế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì,sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai dựa trên quan hệ cung cầu, giá cả thị trường, cạnh tranh vàhợp tác. Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hạch toán lỗ lãi, lãinhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít, không có lại sẽ đi đến phá sản. Lúc này, mục tiêu lợi nhuận 149
    • trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất, mang tính chất sống còn của sản xuất kinhdoanh. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại vàphát triển. Môi trường cạnh tranh này ngày càng gay gắt, trong cuộc cạnh tranh đó có nhiềudoanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất, nhưng không ít doanh nghiệp đã thua lỗ, giải thể, phásản. Để có thể trụ lại trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượnghàng hóa, giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín... nhằm tới mục tiêu tối đa lợi nhuận. Các doanhnghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng cao càng tốt. Do vậy, đạt hiệu quảkinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp vàtrở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thịtrường.II. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁNHIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Mức chuẩn và hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh Đã từ lâu, khi bàn tới hiệu quá kinh doanh, nhiều nhà khoa học kinh tế đã đề cập đến mứcchuẩn hiệu quả (hay còn gọi lại tiêu chuẩn hiệu quả). Từ công thức định nghĩa về hiệu quả kinhtế; chúng ta thấy khi thiết lập mối quan hệ tỉ lệ giữa “đầu ra” và “đầu vào” sẽ có thể cho một dãycác giá trị khác nhau. Vấn đề được đặt ra là trong các giá trị đạt được thì các giá trị nào phản ánhtính có hiệu quả (nằm trong miền có hiệu quả), các giá trị nào sẽ phản ánh tính hiệu quả cao cũngnhư những giá trị nào nằm trong miền không đạt hiệu quả (phi hiệu quả). Chúng ta có thể hiểumức chuẩn hiệu quả là giới hạn, là thước đo, là căn cứ, là một cái “mốc” xác định ranh giới cóhiệu quả hay không có hiệu quả về một chỉ tiêu hiệu quả đang xem xét. Xét trên phương diện lý thuyết, mặc dù các tác giả đều thừa nhận về bản chất khái niệmhiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất, song công thức khái niệm hiệuquả kinh tế cũng chưa phải là công thức mà các nhà kinh tế thống nhất thừa nhận. Vì vậy, cũngkhông có tiêu chuẩn chung cho mọi công thức hiệu quả kinh tế, mà tiêu chuẩn hiệu quả kinh tếcòn phụ thuộc vào mỗi công thức xác định hiệu quả cụ thể. Ở các doanh nghiệp, tiêu chuẩn hiệuquả phụ thuộc vào từng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cụ thể. Chẳng hạn, với các chỉ tiêu hiệu quả liênquan đến các quyết định lựa chọn kinh tế sử dụng phương pháp cận biên người ta hay so sánhcác chỉ tiêu như doanh thu biên và chi phí biên với nhau và tiêu chuẩn hiệu quả là doanh thu biênbằng với chi phí biên (tổng hợp cũng như cho từng yếu tố sản xuất). Trong phân tích kinh tế vớiviệc sử dụng các chỉ tiêu tính toán trung bình có khi lấy mức trung bình của ngành hoặc của kỳtrước làm mức hiệu quả so sánh và kết luận tính hiệu quả của doanh nghiệp. 2. Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh 2.1 Các khái niệm. - Doanh số bán: Tiền thu được về bán hàng hóa và dịch vụ - Vốn sản xuất: Vốn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: đất đai, nhà xưởng, bí quyết kỹthuật, sáng kiến phát hiện nhu cầu, thiết bị, vật tư, hàng hóa v.v… bao gồm giá trị của tài sản hữuhình và tài sản vô hình, tài sản cố định, tài sản lưu động và tiền mặt dùng cho sản xuất. Theo tính chất luân chuyển, vốn sản xuất chia ra vốn cố định và vốn lưu động. - Tổng chi phí sản xuất gồm chi phí cố định, chi phí biến đổi. - Lãi gộp: là phần còn lại của doanh số bán sau khi trừ đi chi phí biến đổi - Lợi nhuận trước thuế bằng lãi gộp trừ đi chi phí cố định - Lợi nhuận sau thuế hay còn gọi là lợi nhuận thuần túy (lãi ròng) bằng lợi nhuận trướcthuế trừ đi các khoản thuế. Mối quan hệ giữa doanh số bán với các chỉ tiêu chi phí, lãi gộp và lợi nhuận được trìnhbày trong bảng sau: 150
    • Doanh số bán Chi phí biến đổi Lãi gộp Chi phí biến đổi Chi phí cố định Lợi nhuận trước thuế Tổng chi phí sản xuất Thuế Lợi nhuận thuần túy (lãi ròng) 2.2 Các chỉ tiêu hiệu quá kinh tế tổng hợp 2.2.1 Các chỉ tiêu doanh lợi: Xét trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn quản trị kinh doanh, các nhà kinh tế cũng nhưcác nhà quản trị hoạt động kinh doanh thực tế ở các doanh nghiệp và các nhà tài trợ khi xem xéthiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đều quan tâm trước hết đến việc tính toán đánh giá chỉtiêu chung phản ánh doanh lợi của doanh nghiệp. Vì chỉ tiêu doanh lợi được đánh giá cho hailoại vốn kinh doanh của doanh nghiệp: toàn bộ vốn kinh doanh bao gồm cả vốn tự có và vốn đivay và chỉ tính cho vốn tự có của doanh nghiệp, nên sẽ có hai chỉ tiêu phản ánh doanh lợi củadoanh nghiệp. Các chỉ tiêu này được coi là các chỉ tiêu phản ánh sức sinh lời của số vốn kinhdoanh, khẳng định mức độ đạt hiệu quả kinh doanh của toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp sử dụngnói chung cũng như hiệu quả sử dụng số vốn tự có của doanh nghiệp nói riêng. Nhiều tác giả coicác chỉ tiêu này là thước đo mang tính quyết định đánh giá hiệu quả kinh doanh: 2.2.1.1 Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh: (пR + пvv) DVKD = x 100 (2) KD V VKD Với D là doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh, п là lãi ròng ; пVV là lãi trả vốn vay R VKD là tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. 2.2.1.2 Doanh lợi của vốn tự có: пR x 100 DVTC = (3) TC V VTC Với D là doanh lợi vốn tự có của một thời kỳ nhất định. TC V là tổng vốn tự có. - Ngoài ra, cũng thuộc chỉ tiêu doanh lợi còn có thể sử dụng chỉ tiêu doanh lợi của doanh thubán hàng, chỉ tiêu này được xác định như sau: пR x 100 TR D = (4) TR TR Với D là doanh lợi của doanh thu trong một thời kỳ nhất định. TR là doanh thu trong thời kỳ đó. 2.2.2 Các chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế Do có nhiều quan niệm khác nhau về công thức tính định nghĩa hiệu quả kinh tế nên ởphương diện lý thuyết cũng như thực tế cũng có thể có nhiều cách biểu hiện cụ thể khác nhau, cóthể sử dụng hai công thức đánh giá hiệu quả phản ánh tính hiệu quả xét trên phương diện giá trịdưới đây: 2.2.2.1 Tính hiệu quả kinh tế (H) (theo chi phí tài chính) QG x 100 H = (5) TC C Với QG là sản lượng tính bằng giá trị và CTC là chi phí tài chính. 151
    • 2.2.2.2 Tính hiệu quả kinh tế (H) (theo chi phí kinh doanh ) CTT x 100 H = (6) PD C Với C là chi phí kinh doanh thực tế và CPĐ là chi phí kinh doanh “phải đạt”. TT Ở công thức trên cần phải hiểu chi phí kinh doanh( xem lại chương III) là chi phí xác địnhtrong quản trị chi phí kinh doanh (kế toán quản trị) của doanh nghiệp. Chi phí kinh doanh khôngphải là chi phí tài chính (chi phí được xác định trong kế toán tài chính). Chi phí kinh doanh phảiđạt là chi phí kinh doanh chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất. Công thức này được sử dụng rất nhiều trong phân tích, đánh giá tính hiệu quả của toàn bộhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và từng bộ phận kinh doanh nói riêng. 2.3 Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận 2.3.1 Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp và hiệu quả kinh tế bộ phận. Bên cạnh các chỉ tiêu hiệu quả tổng quát phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệuquả kinh tế của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng tất cả các yếutố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tư liệu sản xuất,nguyên, nhiên vật liệu, lao động, ... và tất nhiên bao hàm cả tác động của yếu tố quản trị đến việcsử dụng có hiệu quả các yếu tố trên) thì người ta còn dùng các chỉ tiêu bộ phận để phân tích hiệuquả kinh tế của từng mặt hoạt động, từng yếu tố sản xuất cụ thể. Các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận đảm nhiệm hai chức năng cơ bản sau: - Phân tích có tính chất bổ sung cho chỉ tiêu tổng hợp để trong một số trường hợp kiểmtra và khẳng định rõ hơn kết luận được rút ra từ các chỉ tiêu tổng hợp. - Phân tích hiệu quả từng mặt hoạt động, hiệu quả sử dụng từng yếu tố sản xuất nhằmtìm biện pháp làm tối đa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp. Đây là chức năng chủ yếu của hệthống chỉ tiêu này. Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bộ phậnkhông phải là mối quan hệ cùng chiều, trong lúc chỉ tiêu tổng hợp tăng lên thì có thể có nhữngchỉ tiêu bộ phận tăng lên và cũng có thể có chỉ tiêu bộ phận không đổi hoặc giảm. Vì vậy, cầnchú ý là: + Chỉ có chỉ tiêu tổng hợp đánh giá được hiệu quả toàn diện và đại diện cho hiệu quảkinh doanh, còn các chỉ tiêu bộ phận không đảm nhiệm được chức năng đó. + Các chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả kinh tế của từng mặt hoạt động (bộ phận) nênthường được sử dụng trong thống kê, phân tích cụ thể chính xác mức độ ảnh hưởng của từngnhân tố, từng mặt hoạt động, từng bộ phận công tác đến hiệu quả kinh tế tổng hợp. 2.3.2 Các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận 2.3.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn Thực ra, muốn có các yếu tố đầu vào doanh nghiệp cần có vốn kinh doanh, nếu thiếu vốnmọi hoạt động của doanh nghiệp hoặc đình trệ hoặc kém hiệu quả. Do đó các nhà kinh tế chorằng chỉ tiêu sử dụng vốn là một chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp. Chỉ tiêu này đã được xácđịnh thông qua công thức (2) và (3). Ở đây có thể đưa ra một số công thức được coi là để đánhgiá hiệu quả sử dụng đồng vốn và từng bộ phận vốn của doanh nghiệp: • Số vòng quay toàn bộ vốn (SVV): SVV = TR/VKD (7) Với SVV là số vòng quay của vốn. Số vòng quay vốn càng lớn hiệu suất sử dụng vốn càng lớn. • Hiệu quả sử dụng vốn cố định (HTSCĐ): HTSCĐ = ПR/TSCĐG (8) 152
    • Với HTSCĐ là hiệu suất sử dụng vốn (tài sản) cố định và TSCĐG là tổng giá trị tài sản cốđịnh sau khi đã trừ đi phần hao mòn tài sản cố định tích lũy đến thời điểm lập báo cáo. Ngoài ra,trong những điều kiện nhất định còn có thể được cộng thêm những chi phí xây dựng dở dang.Chỉ tiêu hiệu suất tài sản cố định biểu hiện một đồng tài sản cố định trong kỳ sản xuất ra bìnhquân bao nhiều đồng lãi, thể hiện trình độ sử dụng tài sản cố định trong sản xuất kinh doanh, khảnăng sinh lợi của tài sản cố định. Ngoài ra hiệu quả sử dụng tài sản cố định còn có thể được đánh giá theo phương phápngược lại, tức là lấy nghịch đảo công thức trên và gọi là suất tài sản cố định. Chỉ tiêu nghịch đảocông thức trên và gọi là suất tài sản cố định. Chỉ tiêu nghịch đảo này cho biết để tạo ra một đồnglãi, doanh nghiệp cần phải sử dụng bao nhiêu đồng vốn cố định. Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn cố định có thể thấy các nguyên nhân của việc sử dụngvốn cố định không có hiệu quả thường là đầu tư tài sản cố định quá mức cần thiết, tài sản cố địnhkhông sử dụng chiếm tỉ trọng lớn, sử dụng tài sản cố định với công suất thấp hơn mức chophép... • Hiệu quả sử dụng vốn lưu động: HVLĐ = ПR/VLĐ (9) VLĐ Với H là hiệu quả sử dụng vốn lưu động và VLĐ là vốn lưu động bình quân trongnăm. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tao ra bao nhiêu lợi nhuận trong kỳ. Ngoài ra, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn được phản ánh gián tiếp qua số vòngluân chuyển vốn lưu động trong năm (SVVLĐ) hoặc số ngày bình quân một vòng luân chuyển vốnlưu động trong năm (SNLC): SVVLĐ = TR/VLĐ (10) 365 365 x VLĐ SNLC = = (11) SVVLĐ TR Có thể thấy rằng, chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động tính theo lợi nhuận sẽ bằng tíchcủa tỷ suất lợi nhuận trong tổng giá trị kinh doanh nhân với số vòng luân chuyển lưu động: ПR TR VLĐ H = x (12) LĐ TR V Như vậy, nếu cố định chỉ tiêu tỷ trọng lợi nhuận trong vốn kinh doanh thì hiệu quả sửdụng vốn lưu động tỷ lệ thuận với số vòng quay vốn lưu động. Số vòng quay vốn lưu động caosẽ có thể đưa tới hiệu quả sử dụng vốn cao. Trong các công thức trên, vốn lưu động bình quân là số trung bình của giá trị vốn lưuđộng ở thời điểm đầu kỳ và ở thời điểm cuối kỳ • Hiệu quả vốn góp trong công ty cổ phần được xác định bởi tỉ suất lợi nhuận củavốn cổ phần (DVCP): DVCP(%) = ПR/VCP (13) Với DVCP là tỷ suất lợi nhuận của vốn cổ phần và VCP là vốn cổ phần bình quân trong kỳtính toán. Chỉ tiêu này cho biết bỏ ra một đồng vốn cổ phần bình quân trong một thời kỳ thu vềđược bao nhiêu đồng lợi nhuận. Vốn cổ phần bình quân trong kỳ được xác định theo công thức: VCP = SCP x CP Với SCP là số lượng bình quân cổ phiếu đang lưu thông và CP là giá trị mỗi cổ phiếu. Sốlượng bình quân cổ phiếu đang lưu thông bằng số lượng cổ phiếu thường đang lưu thông tại mộtthời điểm bất kì trong năm, nếu năm không có cổ phiếu nào được phát hành thêm hoặc thu hồi(mua lại) trong năm. Nếu có cổ phiếu được phát hành hay mua lại thì số lượng bình quân cổphiếu phải được xác định lại: SCP = SCPDN + S 153
    • Với SCPDN là số cổ phiếu tại thời đầu năm và S là số lượng cổ phiếu bình quân tăng giảmtrong năm: k ∑ SiNi i=1 S= 365với Si là số lượng cổ phiếu phát sinh lần thứ i (nếu thu hồi thì Si âm), Ni là số ngày lưu hành củacổ phiếu trong năm. Nếu S mang giá trị âm thì số lượng cổ phiếu giảm đi trong năm. • Chỉ tiêu thu nhập cổ phiếu (lợi nhuận được chia trong năm của mỗi cổ phiếu): Nếu cấu trúc vốn cổ phần chỉ bao gồm cổ phiếu thường thì: ПCP = ПR/SCP (14) CP Với П là thu nhập cổ phiếu. Nếu có cả cổ phiếu ưu tiên thì: ПR - ПCPUT CP П = (15) SCP Với ПCPUT là lãi trả cổ phiếu ưu tiên. • Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu (DCP): DCP(%) = ПCP.100/CP (16) CP Với D là tỉ suất lợi nhuận cổ phiếu. 2.3.2.2 Hiệu quả sử dụng lao động Số lượng và chất lượng lao động là yếu tố cơ bản trong sản xuất, góp phần quan trọngtrong năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng lao động biểu hiện ở năng suất laođộng, mức sinh lời của lao động và hiệu suất tiền lương. • Năng suất lao động Trước hết có năng suất lao động bình quân năm (NSLĐN) xác định theo công thức: QHV N NSLĐ = (17) AL Với AP là năng suất lao động bình quân năm tính bằng đơn vị hiện vật hoặc giá trị, QHV Nlà sản lượng tính bằng đơn vị hiện vật hoặc giá trị và AL là số lượng lao động bình quân trongnăm. Năng suất lao động tính theo năm chịu ảnh hưởng rất lớn của việc sử dụng thời gian laođộng trong năm: số ngày bình quân làm việc trong năm, số giờ bình quân làm việc mỗi ngày củalao động trong doanh nghiệp và năng suất lao động bình quân mỗi giờ. Năng suất lao động theo giờ (NSLĐG) được xác định từ chỉ tiêu năng suất lao động năm: NSLĐG = NSLĐN/N.C.G (18) Trong đó N là số ngày làm việc bình quân trong năm; C là số ca làm việc trong ngày; Glà số giờ làm việc bình quân mỗi ca lao động và NSLĐG là năng suất lao động bình quân mỗi giờlàm việc của một lao động. Chỉ tiêu này còn có thể được xác định bằng nhiều cách khác nữa,chẳng hạn xác định trực tiếp từ sản lượng tạo ra trong một ca lao động hoặc một ngày làm việc,...tương tự như công thức (17) Về bản chất, chỉ tiêu năng suất lao động được xác định phù hợp với công thức khái niệmhiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh và do đó biểu hiện tính hiệu quả trong việc sử dụng lựclượng lao động trong doanh nghiệp. 154
    • • Chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của lao động Bên cạnh chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tiêu mức sinh lời bình quân của một lao độngcũng thường được sử dụng. Mức sinh lời bình quân của một lao động cho biết mỗi lao độngđược sử dụng trong doanh nghiệp tao ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định.Chỉ tiêu này có thể được xác định theo công thức: ПR ПBQ = (19) L BQ П là lợi nhuận bình quân do một lao động tạo ra và L là số lao động tham gia • Chỉ tiêu hiệu suất tiền lương (HW) HW = ПR/TL (20) W Với H là hiệu suất tiền lương và TL là tổng quỹ tiền lương và các khoản tiền thưởng cótính chất lương trong kỳ. Hiệu suất tiền lương cho biết chỉ ra một đồng tiền lương đem lại baonhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hiệu suất tiền lương tăng lên khi năng suất lao độngtăng với nhịp độ cao hơn nhịp độ tăng tiền lương. 2.3.2.3 Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu • Vòng luân chuyển nguyên vật liệu (SVNVL): NVLSD SVNVL = NVLDT Với SVNVL là số vòng luân chuyển nguyên vật liệu, NVLSD là giá vốn nguyên vật liệu đãdùng và NVLDT là giá trị lượng nguyên vật liệu dự trữ. • Vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dở dang (SVSPDD): ZHHCB SVSPDD = VTDT Với SVSPDD là số vòng luân chuyển vật tư trong sản phẩm dở dang, ZHHCB là tổng giá thành hàng hóa đã chế biến VTDT là giá trị vật tư dự trữ đưa vào chế biến. Hai chỉ tiêu trên cho biết khả năng khai thác các nguồn nguyên liệu vật tư của doanhnghiệp, đánh giá chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hai chỉ tiêu trên mà cao chobiết doanh nghiệp giảm được chi phí cho nguyên vật liệu dự trữ, rút ngắn chu kỳ hoạt động vềchuyển đổi nguyên vật liệu thành thành phẩm, giảm bớt sự ứ đọng của nguyên vật liệu tồn khovà tăng vòng quay vốn lưu động. Nhược điểm là có thể doanh nghiệp thiếu nguyên vật liệu dựtrữ, cạn kho, không đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nhu cầu. Ngoài ra, để sử dụng nguyên vật liệu có hiệu quả người ta còn đánh giá mức thiệt hại,mất mát nguyên vật liệu trong quá trình dự trữ, sử dụng chúng. Chỉ tiêu này được đo bằng tỉ sốgiữa giá trị nguyên vật liệu hao hụt, mất mát trên tổng giá trị nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ.Người ta so sánh chỉ tiêu này với các định mức kinh tế - kỹ thuật hiện hành hoặc đối chiếu vớimức hao hụt kỳ trước, ... để dưa ra quyết định thích hợp nhằm sử dụng vật tư tiết kiệm, đúngmục đích, phù hợp thực tế sản xuất và có hiệu quả. 2.3.2.4 Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh ở từng bộ phận bên trong doanh nghiệp Các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động ở từng bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp phản ánhtính hiệu quả của hoạt động chung cũng như từng mặt hoạt động kinh tế diễn ra ở từng bộ phậnkinh doanh của doanh nghiệp. Đó có thể là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư đổi mới côngnghệ hoặc trang thiết bị lại ở phạm vi toàn doanh nghiệp hoặc từng bộ phận bên trong doanhnghiệp; hiệu quả ở từng bộ phận quản trị và thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp; hiệu quả của từng quyết định sản xuất kinh doanh và thực hiện chức năng quản trị doanhnghiệp;... Tùy theo từng hoạt động cụ thể có thể xây dựng hệ thống chỉ tiêu và tiến hành đánh giá 155
    • hiệu quả hoạt động thích hợp.Về nguyên tắc, đối với hiệu quả của từng bộ phận công tác bêntrong doanh nghiệp (từng phân xưởng, từng ngành, từng tổ sản xuất, ...) có thể xây dựng hệthống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tương tự như hệ thống chỉ tiêu đã xác định cho phạmvi toàn doanh nghiệp. Riêng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư, do tính đặc thủ của hoạtđộng này đòi hỏi phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp.III. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT KINHDOANH Muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh, bản thân các doanh nghiệp phải chủ động sáng tạo,hạn chế những khó khăn, phát triển những thuận lợi để tạo ra môi trường hoạt động có lợi chomình. Bản thân doanh nghiệp có vai trò quyết định trong sự tồn tại, phát triển hay suy vong củahoạt động kinh doanh của mình. Vai trò quyết định của doanh nghiệp thế hiện trên 2 mặt: thứnhất, biết khai thác và tận dụng những điều kiện và yếu tố thuận lợi của môi trường bên ngoài vàthứ hai, doanh nghiệp phải chủ động tạo ra những điều kiện, yếu tố cho chính bản thân mình đểphát triển. Cả hai mặt này cần phải được phối hợp đồng bộ thì mới tận dụng được tối đa cácnguồn lực, kinh doanh mới đạt được hiệu quả tối ưu. Hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuấtkinh doanh là phạm trù tổng hợp. Muốn nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinhdoanh, doanh nghiệp phải sử dụng tổng hợp các biện pháp từ nâng cao năng lực quản trị, điềuhành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến việc tăng cường và cải thiện mọi hoạtđộng bên trong doanh nghiệp, biết làm cho doanh nghiệp luôn luôn thích ứng với những biếnđộng của thị trường, ... Tuy nhiên, dưới đây có thể đề cập đến một số biện pháp chủ yếu: 1. Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Kinh tế thị trường luôn biến động, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phảithích ứng với sự biến động đó. Quản trị kinh doanh hiện đại cho rằng không thể chống đỡ đượcvới những thay đổi thị trường nếu doanh nghiệp không có một chiến lược kinh doanh và pháttriển thể hiện tính chất động và tấn công. Chỉ có trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới phát hiện đượcnhững thời cơ cần tận dụng hoặc những đe dọa có thể xảy ra để có đối sách thích hợp. Toàn bộtư tưởng chiến lược và quản trị chiến lược sẽ được trình bày sâu ở môn chiến lược kinh doanh vàphát triển doanh nghiệp. Phần này chỉ lưu ý rằng thiếu một chiến lược kinh doanh đúng đắn thểhiện tính chủ động và tấn công, thiếu sự chăm lo xây dựng và phát triển chiến lược doanh nghiệpkhông thể hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế được và thậm chí trong nhiềutrường hợp còn dẫn đến sự phá sản. Trong xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải chú ý các điểm sau: - Chiến lược kinh doanh phải gắn với thị trường: + Các doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở điều tra, nghiên cứu nhucầu trị trường và khai thác tối đa các thời cơ, các thuận lợi, các nguồn lực để sản xuất ra các sảnphẩm với số lượng, chất lượng, chủng loại và thời hạn thích hợp. Có thể coi “chiến lược phải thểhiện tính làm chủ thị trường của doanh nghiệp” là phương châm, là nguyên tắc quản trị chiếnlược của doanh nghiệp. + Việc xây dựng chiến lược kinh doanh phải làm tăng được thế mạnh của doanh nghiệp,giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường. + Chiến lược phải thể hiện tính linh hoạt cao và vì thế xây dựng chiến lược chỉ đề cậpnhững vấn đề khái quát, không cụ thể. - Khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến vùng an toàn trong kinh doanh, hạnchế rủi ro tới mức tối thiểu - Trong chiến lược kinh doanh cần xác định mục tiêu then chốt, vùng kinh doanh chiếnlược và những điều kiện cơ bản để đạt được mục tiêu đó. - Chiến lược kinh doanh phải thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hai loại chiến lược: chiếnlược kinh doanh chung (những vấn đề tổng quát bao trùm, có tính chất quyết định nhất) và chiếnlược kinh doanh bộ phận (những vấn đề mang tính chất bộ phận như chiến lược sản phẩm, chiếnlược giá cả, chiến lược tiếp thị, chiến lược giao tiếp khuyếch trương,...). 156
    • - Chiến lược kinh doanh không phải là bản thuyết trình chung chung mà phải thể hiện bằngnhững mục tiêu cụ thể, có tính khả thi với mục đích đạt hiệu quả tối đa trong sản xuất kinhdoanh. Một vấn đề hết sức quan trọng là nếu doanh nghiệp chỉ xây dựng chiến lược thì chưa đủ, vìdù cho chiến lược xây dựng có hoàn hảo đến đâu nếu không triển khai tốt, không biến nó thànhcác chương trình, chính sách kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển cũng sẽ trở thànhvô ích, hoàn toàn không có giá trị làm tăng hiệu quả kinh doanh mà vẫn phải chịu chi phí kinhdoanh cho công tác này. 2. Lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả. 2.1 Quyết định sản lượng sản xuất và sự tham gia của các yếu tố đầu vào tối ưu Đối với bất kì một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào (trừ các doanh nghiệp nhà nướchoạt động công ích), khi tiến hành một quyết định sản xuất kinh doanh đều quan tâm đến lợinhuận mà họ có thể đạt được từ hoạt động đó và đều quyết định tiến hành sản xuất theo mục tiêutối đa hóa lợi nhuận. Quy tắc chung tối đa hóa lợi nhuận là doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng chotới chừng nào doanh thu cận biên (MR) còn vượt quá chi phí cận biên (MC). Trong đó, chi phícận biên (MC) là chi phí tăng thêm khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm. Doanh thu biên(MR) là doanh thu tăng thêm chi bán thêm một đơn vị sản phẩm. Doanh nghiệp sẽ đạt mức lợi nhuận tối đa ở mức sản lượng mà ở đó doanh thu biên bằngchi phí cận biên (MR = MC). Tại điểm này mức sản lượng Q* đạt được đảm bảo cho hiệu quả tốiđa. Mặt khác, để giảm thiểu chi phí kinh doanh nguyên tắc sử dụng các yếu tố đầu vào làdoanh thu biên do một yếu tố đầu vào bất kỳ tạo ra (MRP) bằng với chi phí biên sử dụng yếu tốđầu vào đó (MC), tức là MRP = MC. Nguyên tắc này có nghĩa là doanh nghiệp còn có thể sửdụng tăng thêm các yếu tố đầu vào khi MRP > MC và hiệu quả sẽ đạt tối ta khi MRP = MC. 2.2 Xác định điểm hòa vốn của sản xuất Kinh doanh trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp đều rất chú ý đến hiệu quả của chiphí lao động, vật tư, tiền vốn. Để sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp phải tínhtoán, xây dựng mối quan hệ tối ưu giữa chi phí và thu nhập. Sản xuất bao nhiêu sản phẩm và bánvới giá nào thì đảm bảo hòa vốn bỏ ra, và bao nhiêu sản phẩm tiêu thụ trên mức đó để mang lạilợi nhuận. Điều đó đặt ra yêu cầu việc nghiên cứu điểm hòa vốn và phân tích hòa vốn. Phân tích điểm hòa vốn là xác lập và phân tích mối quan hệ tối ưu giữa chi phí doanh thu,sản lượng và giá bán. Điểm mấu chốt để xác định chính xác điểm hòa vốn là phải phân biệt cácloại chi phí kinh doanh thành chi phí biến đổi và chi phí cố định. Cần chú ý là điểm hòa vốnđược xác định cho một khoảng thời gian nào đó. 3 Phát triển trình độ đội ngũ lao động và tạo động lực cho tập thể và cá nhân ngườilao động Lao động sáng tạo của con người là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.Các doanh nghiệp cần đầu tư thỏa đáng để phát triển quy mô bồi dưỡng lại và đào tạo mới lựclượng lao động, đội ngũ trí thức có chất lượng cao trong các doanh nghiệp. Nâng cao nghiệp vụkinh doanh, trình độ tay nghề của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư, công nhân kỹ thuật để khaithác tối ưu nguyên vật liệu, năng suất máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến,... Đặc biệt là cán bộ quản trị, giám đốc phải được tuyển chọn kỹ càng, có trình độ hiểu biếtcao. Giám đốc là nhà lãnh đạo kinh doanh, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả nêngiám đốc phải có kiến thức về công nghệ, khoa học, về giao tiếp xã hội, về tâm lý, kinh tế,... tổnghợp những tri thức của cuộc sống và phải biết vận dụng kiến thức vào tổ chức, ra quyết địnhnhững công việc trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Về công tác quản trị nhân sự, doanh nghiệp phải hình thành nên cơ cấu lao động tối ưu, phảibảo đảm đủ việc làm trên cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lý, sao cho phù hợp với nănglực, sở trường và nguyện vọng của mỗi người. Trước khi phân công bố trí hoặc đề bạt cán bộ đềuphải qua kiểm tra tay nghề. Khi giao việc cần xác định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tráchnhiệm. Đặc biệt công tác trả lương, thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao độngluôn là vấn đề hết sức quan trọng. 157
    • Động lực tập thể và cá nhân người lao động là yếu tố quyết định tới hiệu quả kinh tế. Độnglực cũng là yếu tố để tập hợp, cố kết người lao động lại. Trong doanh nghiệp, động lực cho tậpthể và cá nhân người lao động chính là lợi ích, là lợi nhuận thu được từ sản xuất có hiệu quả hơn.Các doanh nghiệp cần phân phối lợi nhuận thỏa đáng, đảm bảo công bằng, hợp lý, thưởng phạtnghiêm minh. Đặc biệt cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với những nhân viên giỏi, trình độ taynghề cao hoặc có thành tích, có sáng kiến,... Đồng thời cũng cần nghiêm khắc xử lý nhữngtrường hợp vi phạm. Trong kinh doanh hiện đại, ở nhiều doanh nghiệp hình thức bán cổ phầncho người lao động và người lao động sẽ nhận được ngoài tiền lương và thưởng là số lãi chiatheo cổ phần cũng là một trong những giải pháp gắn người lao động với doanh nghiệp bởi lẽcùng với việc mua cổ phần người lao động không chỉ có thêm nguồn thu nhập từ doanh nghiệpmà còn có quyền nhiều hơn trong việc tham gia vào các công việc của doanh nghiệp. 4. Công tác quản trị và tổ chức sản xuất Tổ chức sao cho doanh nghiệp có bộ máy gọn, nhẹ, năng động, linh hoạt trước thay đổi củathị trường. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinhdoanh. Những nội dung này đã được trình bày ở chương tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp.Một điều cần chú ý là cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải được xây dựng phù hợp với các đặcđiểm của doanh nghiệp (qui mô, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm quá trình tạo ra kết quả,...) thìmới đảm bảo cho việc quản trị doanh nghiệp có hiệu quả được. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ trách nhiệm, quan hệ giữa các bộ phậnvới nhau, đưa hoạt động của doanh nghiệp đi vào nề nếp, tránh sự chồng chéo giữa chức năng vànhiệm vụ của các bộ phận. Doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì và đảm bảo sự cân đối tăngcường quan hệ giữa các khâu, các bộ phận trong quá trình sản xuất,... mới có thể nâng cao tinhthần trách nhiệm của mỗi người, nâng cao tính chủ động sáng tạo trong sản xuất. Hệ thống thông tin bao gồm những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lạivới nhau trong việc thu nhập, xử lý, bảo quản và phân phối thông tin nhằm hỗ trợ cho các hoạtđộng phân tích và đánh giá kiểm tra thực trạng và ra quyết định về các vấn đề có liên quan đếnhoạt động của một tổ chức. Việc thiết lập hệ thống thông tin phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Hệ thống thông tin phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng, được thiết lập với đầy đủ các nộidung, các vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm. - Hệ thống thông tin phải là hệ thống thông tin thường xuyên được cập nhật bổ sung; - Hệ thống cần phải được bố trí phù hợp với khả năng sử dụng, khai thác của doanh nghiệp; - Đảm bảo việc khai thác được thực hiện với chi phí thấp nhất. 5. Đối với kỹ thuật- công nghệ Một trong những lý do làm hiệu quả kinh tế ở các doanh nghiệp thấp là do thiếu kỹ thuật,công nghệ hiện đại. Do vậy vấn đề nâng cao kỹ thuật, đổi mới công nghệ là vấn đề luôn đượcquan tâm ở các doanh nghiệp. Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh, đặc điểm ngành kinh doanh,mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp có chính sách đầu tư công nghệ thích đáng. Tuy nhiên,việc phát triển kỹ thuật công nghệ đòi hỏi phải có đầu tư lớn, phải có thời gian dài và phải đượcxem xét kỹ lưỡng 3 vấn đề: - Dự đoán đúng cầu của thị trường và cầu của doanh nghiệp về loại sản phẩm doanhnghiệp có ý định đầu tư phát triển. Dựa trên cầu dự đoán này doanh nghiệp mới có những mụctiêu cụ thể trong đổi mới công nghệ - Lựa chọn công nghệ phù hợp. Các doanh nghiệp trên cơ sở mục tiêu của sản xuất đã đề racó những biện pháp đổi mới công nghệ phù hợp. Cần tránh việc nhập công nghệ lạc hậu, lỗi thời,tân trang lại, gây ô nhiễm môi trường,... . - Có giải pháp đúng về huy động và sử dụng vốn hiện nay, đặc biệt là vốn cho đổi mớicông nghệ, các doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả thì cần sử dụng vốn có hiệu quả, đúngmục tiêu nguồn vốn đầu tư công nghệ. Rút ngắn thời gian xây dựng để nhanh chóng đưa dự án đầu tư vào hoạt động luôn lànhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế của đầu tư kỹ thuật công nghệ. 158
    • Trong đổi mới công nghệ không thể không quan tâm đến nghiên cứu sử dụng vật liệumới và vật liệu thay thế vì giá trị nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng cao trong giá thành củanhiều loại sản phẩm, dịch vụ. Hơn nữa, việc sử dụng nguyên vật liệu mới thay thế trong nhiềutrường hợp còn có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Máy móc thiết bị luôn là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trongcông tác quản trị kỹ thuật công nghệ, việc thường xuyên nghiên cứu, phát triển kỹ thuật đóng vaitrò quyết định. Bên cạnh đó, công tác bảo quản máy móc thiết bị, đảm bảo cho máy móc luônhoạt động đúng kế hoạch và tận dụng công suất của thiết bị máy móc cũng đóng vai trò khôngnhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung. Để đảm bảo đánh giá chính xácchất lượng hoạt động của máy móc thiết bị, trong tính chi phí kinh doanh và phân tích kinh tếcần sử dụng khái niệm chi phí kinh doanh “không tải” để chỉ chi phí kinh doanh về sử dụng máymóc thiết bị bị mất đi mà không được sử dụng vào mục đích gì. Đổi mới công nghệ phải đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt côngtác kiểm tra kỹ thuật và nghiệm thu sản phẩm, tránh để cho những sản phẩm chất lượng kém ratiêu thụ trên thị trường. 6. Tăng cường mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp với xã hội Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sản xuất của các doanh nghiệp mở rộngtheo hướng sản xuất lớn, xã hội hóa và mở cửa làm cho mối quan hệ lẫn nhau trong xã hội ngàycàng chặt chẽ. Doanh nghiệp nào biết sử dụng mối quan hệ sẽ khai thác được nhiều đơn hàng,tiêu thụ tốt. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả cao cần tranh thủ tậndụng các lợi thế, hạn chế khó khăn của môi trường kinh doanh bên ngoài. Đó là: - Giải quyết tốt mối quan hệ với khách hàng: là mục đích ý đồ chủ yếu trong kinh doanh,vì khách hàng là người tiếp nhận sản phẩm, người tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Kháchhàng có được thỏa mãn thì sản phẩm mới được tiêu thụ. - Tạo ra sự tín nhiệm, uy tín trên thị trường đối với doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm,tác phong kinh doanh, tinh thần phục vụ,... bất cứ doanh nghiệp nào muốn có chỗ đứng trên thịtrường đều phải gây dựng sự tín nhiệm. Đó là quy luật bất di bất dịch để tồn tại trong cạnh tranhtrên thương trường. - Giải quyết tốt mối quan hệ với các đơn vị tiêu thụ, đơn vị cung ứng. - Giải quyết tốt mối quan hệ với các tổ chức quảng cáo, các cơ quan lãnh đạo doanhnghiệp,... thông qua các tổ chức này để mở rộng ảnh hưởng của doanh nghiệp, tạo cho kháchhàng, người tiêu dùng biết đến sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn, đồng thời bảo vệ uy tín vàsự tín nhiệm đối với doanh nghiệp. - Phát triển thông tin liên lạc với các tổ chức, khác với thị trường. - Hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật. - Có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên sinh thái: bảo vệ rừng đầu nguồn, chống sự ônhiễm của bầu không khí, nguồn nước, sự bạc mầu của đất đai trong phát triển sản xuất kinhdoanh ...CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Khái niệm hiệu quả kinh tế? Vai trò nâng cao hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp? 2. Nêu hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp trong doanh nghiệp? Ý nghĩa của từng chỉ tiêu ? 3. Nêu hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh bộ phận ? Ý nghĩa của từng chỉ tiêu? Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp và bộ phận? 4. Nêu biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp? 159
    • CHƯƠNG VIII. QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG TRONG DOANH NGHIỆP Chương này đề cập đến các vấn đề sau: - Sản phẩm và chất lượng sản phẩm - Lịch sử phát triển của các quan niệm quản trị chất lượng - Hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp - Giới thiệu tóm tắt về bộ tiêu chuẩn I SO-9000 - Hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam Ngày 28 tháng 7 năm 1995, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, tổchức này đang gấp rút hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN, gọi tắt là AFTA. Điều này cónghĩa, các mặt hàng phải có thuế suất từ 0% đến 5% giá trị xuất cũng như nhập khẩu. Trình độkhoa học kỹ thuật của nhiều nước trong khu vực hơn chúng ta một khoảng xa, nhất là Sigappore.Làm thế nào để trong vòng vài năm tới các sản phẩm của ta sản xuất ra đủ cạnh tranh với cácnước trong khối khi mà 2 trong 3 hàng rào bảo hộ mậu dịch không còn xa nữa: quota và thuếsuất. Còn chiếc rào cuối cùng là gì? Đó là chất lượng. Vậy chất lượng là gì?I. KHÁI NIỆM VỀ SẢN PHẨM, CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM. 1. Khái niệm sản phẩm. Theo C.Mác: Sản phẩm là kết quả của quá trình lao động dùng để phục vụ cho việc làmthỏa mãn nhu cầu của con người. Trong nền kinh tế thị trường, người ta quan niệm sản phẩm làbất cứ cái gì đó có thể đáp ứng nhu cầu thị trường và đem lại lợi nhuận. Theo TCVN 5814: sản phẩm là “kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình” (Quản lýchất lượng và đảm bảo chất lượng- Thuật ngữ và định nghĩa- TCVN 6814-1994). Có nhiều cách phân loại sản phẩm theo những quan điểm khác nhau. Một trong cách phânloại phổ biến là người ta chia sản phẩm thành 2 nhóm lớn: - Nhóm sản phẩm thuần vật chất: là những vật phẩm mang đặc tính lý hóa nhất định - Nhóm sản phẩm phi vật phẩm: đó là các dịch vụ. Dịch vụ là “kết quả tạo ra do các hoạtđộng tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứngđể đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. (Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng- Thuật ngữ vàđịnh nghĩa- TCVN5814-1994). Hoạt động dịch vụ phát triển theo trình độ phát triển kinh tế vàxã hội. Ở các nước phát triển thu nhập qua dịch vụ có thể đạt tới 60-70% tổng thu nhập xã hội. 2. Khái niệm chất lượng sản phẩm 2.1 Một số quan điểm: - Chất lượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp, một khái niệm mang tính chất tổng hợpvề các mặt kinh tế - kỹ thuật, xã hội. - Chất lượng sản phẩm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, triển khai và chuẩn bịsản xuất, được đảm bảo trong quá trình tiến hành sản xuất và được duy trì trong quá trình sửdụng. Thông thường người ta cho rằng sản phẩm có chất lượng là những sản phẩm hay dịch vụhảo hạng, đạt được trình độ của khu vực hay thế giới và đáp ứng được mong đợi của khách hàngvới chí phí có thể chấp nhận được. Nếu quá trình sản xuất có chi phí không phù hợp với giá bánthì khách hàng sẽ không chấp nhận giá trị của nó, có nghĩa là giá bán cao hơn giá mà khách hàngchịu bỏ ra để đổi lấy các đặc tính của sản phẩm. 160
    • Như vậy ta thấy cách nhìn về chất lượng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng khác nhaunhưng không mâu thuẫn nhau. Ý nghĩa chất lượng Cách nhìn của nhà sản xuất Cách nhìn của khách hàng Chất lượng của phù hợp Chất lượng của thiết kế Sản - Phù hợp với đặc tính kỹ thuật - Đặc tính của chất lượng - Chi phí - Giá bán Marketing xuất Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Sơ đồ 8.1: Các cách nhìn khác nhau về chất lượng. Xuất phát từ những quan điểm khác nhau, hiện có hàng trăm định nghĩa khác nhau về chấtlượng sản phẩm. 2.2 TCVN 5814-1994 trên cơ sở tiêu chuẩn ISO-9000 đã đưa ra định nghĩa: Chất lượng làtập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng )tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãnnhững yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn. (Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng- Thuật ngữvà định nghĩa-TCVN5814-1994). Như vậy, “khả năng thỏa mãn nhu cầu” là chỉ tiêu cơ bản nhấtđể đánh giá chất lượng sản phẩm. Thông thường, người ta rất dễ chấp nhận ý tưởng cho rằng cải tiến và nâng cao chất lượngsản phẩm là phải tập trung cải tiến và nâng cao đặc tính kỹ thuật, sự hoàn thiện của sản phẩm.Quan niệm này sẽ dẫn đến xu hướng đồng hóa việc đầu tư vào đổi mới dây chuyền sản xuất,công nghệ sản xuất là nâng cao chất lượng sản phẩm. Trong nhiều trường hợp, quan niệm này tỏra đúng đắn, nhất là khi sản phẩm đang được sản xuất ra với công nghệ quá lạc hậu. Tuy nhiên,chất lượng đã vượt ra khỏi phạm vi của sản phẩm. Doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm cóchất lượng và nhờ những sản phẩm tốt mà được khách hàng tín nhiệm. Song muốn thật sự đượcngười tiêu dùng tín nhiệm, thì cùng với sản phẩm tốt, doanh nghiệp còn phải thực hiện một loạtdịch vụ cần thiết khác như: bảo hành, hướng dẫn sử dụng, bảo dưỡng kỹ thuật định kỳ và cácdịch vụ phụ trợ khác. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp không chỉ bán sản phẩm tốt mà còn phải giúp khách hànggiải quyết các vấn đề nẩy sinh trong khi sử dụng. Ví dụ khi những sản phẩm đầu tiên của NhậtBản bán ra thị trường nước ngoài, khách hàng không thể đọc được các bản hướng dẫn sử dụng vìnó viết bằng tiếng Nhật, nhưng sau đó họ đã rút kinh nghiệm và hàng hóa của Nhật ngày càngđược chấp nhận nhiều hơn ở nước ngoài. Chất lượng sản phẩm phải thể hiện thông qua các yếu tố sau: - Sự hoàn thiện của sản phẩm: đây là yếu tố để giúp chúng ta phân biệt sản phẩm nầy với sảnphẩm khác. thường thể hiện thông qua các tiêu chuẩn mà nó đạt được. Đây cũng chính là điều tốithiểu mà mọi doanh nghiệp phải cung cấp cho khách hàng thông qua sản phẩm của mình. - Giá cả: thể hiện chi phí để sản xuất (mua) sản phẩm và chi phí để khai thác và sử dụng nó.Người ta thường gọi đây là giá để thỏa mãn nhu cầu. - Sự kịp thời, thể hiện cả về chất lượng và thời gian. 161
    • - Phù hợp với các điều kiện tiêu dùng cụ thể: sản phẩm chỉ có thể được coi là chất lượng khiphù hợp với điều kiện tiêu dùng cụ thể. Doanh nghiệp phải đặc biệt chú ý điều nầy khi tung sảnphẩm vào các thị trường khác nhau để đảm bảo thành công trong kinh doanh. Trong thực tế sản xuất kinh doanh, nếu không chú ý đầy đủ đến các yếu tố trên sẽ dẫn đếnthiệt hại không nhỏ.II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUAN NIỆM QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG. 1. Trong giai đoạn đầu của cách mạng khoa học kỹ thuật, khi sản phẩm hàng hóa chưa pháttriển, sản xuất chủ yếu theo kiểu thủ công. Người sản xuất biết rõ khách hàng của mình là ai, nhucầu của họ là gì và sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của họ, và xem đây là điều đươngnhiên, không gì đáng bàn cải. 2. Khi công nghiệp phát triển, lượng hàng hóa sản xuất ra ngày càng nhiều và sản xuấtđược tổ chức theo nhiều công đoạn khác nhau theo kiểu dây chuyền, người trực tiếp sản xuấtkhông biết được người tiêu dùng sản phẩm của họ là ai và nên rất dễ xảy ra tư tưởng làm dối.Lúc này, vai trò của các cán bộ chuyên trách về kiểm soát chất lượng trở nên quan trọng và lựclượng này ngày càng phát triển với mục tiêu là kiểm soát chặt chẽ sản phẩm làm ra để đảm bảokhông cho lọt ra thị trường những sản phẩm kém chất lượng. Tuy nhiên, nhiều thực nghiệm đã chứng minh rằng không thể nào kiểm tra hết được cáckhuyết tật của sản phẩm. Dù cho có áp dụng công cụ kiểm tra gì mà ý thức con người khôngquyết tâm thì vẫn không thể ngăn chặn từ đầu sai lỗi phát sinh và lọt qua kiểm tra. Giải phápKCS xem ra không đạt hiệu quả như mong đợi và tạo nên một sự lãng phí khá lớn. Mặt khác,không thể nào có được sản phẩm tốt ở khâu sản xuất nếu người ta không có được các thiết kế sảnphẩm có chất lượng. Điều này đòi hỏi việc quản trị chất lượng phải mở rộng ra và bao gồm cảkhâu thiết kế. 3. Đây là một bước tiến rất đáng kể, song vẫn chưa đầy đủ. Trong thực tế thị trường, có 2yếu tố mà người mua hàng cân nhắc trước khi mua: - Giá cả: gồm cả giá khi mua và giá sử dụng. - Chất lượng: muốn biết được mức chất lượng của sản phẩm bày bán, người mua thường sosánh với sản phẩm cùng loại đã biết, và thường hay hỏi người bán về mẫu mã, tính năng. Ở đâycần sự tín nhiệm của người mua đối với hãng sản xuất ra sản phẩm. Sự tín nhiệm này, nhiều khingười mua đặt vào các nhà phân phối, người bán hàng... vì họ chưa biết người sản xuất là ai. Mộtnhà phân phối làm ăn ổn định, buôn bán ngay thẳng và phục vụ tốt dễ gây tín nghiệm cho kháchhàng, nhất là đối với những sản phẩm dịch vụ mới. Thực tế này đòi hỏi việc quản trị chất lượngphải một lần nữa mở rộng ra và bao gồm cả nhà phân phối. 4. Muốn làm chất lượng, nếu chỉ có các biện pháp trong doanh nghiệp thôi thì chưa đủ.Người ta thấy, nếu không giải quyết vấn đề đảm bảo chất lượng nguyên liệu nhập vào, khôngquan tâm đến mạng lưới phân phối bán ra thì không thể nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuấtra. Do vậy, trong quản lý chất lượng người ta tìm cách tạo được quan hệ tin cậy, lâu dài vớingười cung ứng nguyên vật liệu và cả người phân phối bán ra. Như vậy, từ chỗ quản trị chất lượng trong doanh nghiệp đồng nghĩa với KCS đã mở rộng raquản trị chất lượng cả đời sống sản phẩm từ khâu thiết kế đến cả quá trình sản xuất và quá trìnhphân phối sản phẩm. Nếu trong chuỗi trên xảy ra trục trặc một khâu nào đó sẽ ảnh hưởng ngayđến chất lượng sản phẩm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nhà sản xuất muốn tạo được sự tín nhiệm đối với khách hàng không phải chỉ thông qua lờigiới thiệu của người bán, những câu chuyện, lời lẽ quảng cáo trên tivi hay pano, áp phích màphải được chứng minh bằng một hệ thống quản lý chất lượng trong doanh nghiệp. Vì thế, các hệthống quản lý chất lượng khác nhau ra đời, tạo cơ sở cho việc đảm bảo chất lượng, giúp chodoanh nghiệp làm ăn, có lãi và phát triển một cách bền vững. 162
    • Bắt đầu Ý tưởng mô hình nguyên mẫu Chu kỳ đời sống của một sản phẩm Giai đoạn thiết kế Bản vẽ Giai đoạn sản xuất Thành phẩm Giai đoạn sử dụng Người tiêu dùng loại bỏ Kết thúc Sơ đồ 8.2: Đời sống của sản phẩm. Tóm lại, nhận thức chất lượng là một quá trình phát triển từ thấp đến cao từ kiểm soát chấtlượng (Quality control) đến quản trị chất lượng (Quality Management), kiểm soát chất lượngtoàn diện (Total quality control) và quản trị chất lượng toàn diện (Total quality management).III. ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG VÀ CÁC HỆ THỐNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG. 1. Đảm bảo chất lượng. Đảm bảo chất lượng là cốt lõi của quản trị chất lượng , bao gồm một đảm bảo sao cho ngườimua hàng có thể mua một sản phẩm, dịch vụ với lòng tin và sự thoải mái là có thể sử dụng mộtthời gian dài. Đảm bảo chất lượng giống như một lời hứa hoặc hợp đồng với khách hàng về chấtlượng. Bất kỳ công ty nào cũng cần áp dụng chính sách đảm bảo chất lượng nhằm đoán chắc vớikhách hàng rằng trước khi mua, trong khi mua và giai đoạn nào đó sau khi mua, sản phẩm, dịchvụ phải có đủ độ tin cậy làm thỏa mãn khách hàng và chiếm được lòng tin của họ. Các doanhnghiệp cần xây dựng chính sách đảm bảo chất lượng sao cho khách hàng tin vào hàng hóa củacông ty mình hoặc xa hơn nữa là tin tưởng vào chất lượng của chính bản thân công ty, như vậykhách hàng sẽ yên tâm khi mua sản phẩm, dịch vụ mới. Theo ISO9000, "Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiếnhành trong hệ thống chất lượng được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo tin tưởng thỏa đángrằng thực thể (đối tượng) sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng. Đảm bảo chất lượng baogồm cả đảm bảo chất lượng trong nội bộ lẫn đảm bảo chất lượng với bên ngoài". Đảm bảo chất lượng bao gồm mọi việc từ lập kế hoạch sản phẩm cho đến khi làm ra nó, bảodưỡng, sửa chữa và tiêu dùng. Vì thế các hoạt động đảm bảo chất lượng cần được xác định rõràng, điều gì cần làm ở mỗi giai đoạn để đảm bảo được chất lượng trong suốt đời sống của sảnphẩm. 163
    • Đảm bảo chất lượng không những bao gồm mọi hoạt động về kiểm tra chất lượng bên trongcác phòng ban, mà còn giữa các phòng ban với nhau. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổimới cơ cấu tổ chức từ quản trị theo chức năng sang quản trị theo chức năng chéo nhằm hướngmọi nỗ lực của các thành viên vào việc thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp là thỏa mãntốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng và thu được lợi nhuận. BG Đ BGĐ Khách hàng Khách hàng R&D SX KD R&D SX KD Sơ đồ 8.3: Hai kênh quản trị, chức năng và chức năng chéo 2. Hệ thống đảm bảo chất lượng. 2.1 Hệ thống ISO 9000 Tiêu chuẩn ISO9000 do ủy ban ISO/TC176 soạn thảo trong 5 năm ấn hành đầu tiên vào năm1987, chỉnh lý lần 1 vào năm 1994, lần 2 vào tháng 12 năm 2000. Hệ thống này ra đời xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tiễn kinh doanh trên thế giới.Đảm bảo chất lượng phải thể hiện được những hệ thống quản lý chất lượng đó và chứng tỏ rằngcác chứng cứ cụ thể chất lượng đã đạt được của sản phẩm. Mặt khác, khái niệm đảm bảo chấtlượng không giống nhau ở các nước, vì vậy ISO ban hành tiêu chuẩn ISO9000 để đưa ra yêu cầuchung nhất cho các nước. Các tiêu chuẩn trong bộ ISO9000 mô tả là các yếu tố mà một hệ thống chất lượng nên cónhưng không mô tả cách thức mà một tổ chức cụ thể thực hiện các yếu tố này, ISO9000 khôngnhằm mục tiêu đồng nhất hóa các hệ thống chất lượng, vì mỗi hệ thống quản lý của một tổ chứcbị chi phối bởi mục đích, sản phẩm và thực tiễn cụ thể của tổ chức đó. Do vậy, hệ thống chấtlượng cũng rất khác nhau giữa tổ chức này với tổ chức kia. ISO9000 đề cập đến các lĩnh vực chủ yếu trong quản lý chất lượng: chính sách và chỉ đạo vềchất lượng, nhu cầu thị trường, thiết kế và triển khai sản phẩm, cung ứng, kiểm soát thị trường,bao gói, phân phối , dịch vụ sau khi bán, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài liệu, đào tạo...ISO9000 là tập hợp các kinh nghiệm quản lý chất lượng tốt nhất đã được thực hiện trong nhiềuquốc gia. Trong môi trường kinh doanh ngày nay, giấy chứng nhận ISO9000 được xem như là giấythông hành để xâm nhập vào thị trường thế giới. Tuy rằng việc chấp nhận và áp dụng tiêu chuẩnISO9000 là tự nguyện song dưới áp lực của thị trường, các doanh nghiệp nhận thức được rằngviệc áp dụng tiêu chuẩn này là lẽ sống còn của mỗi doanh nghiệp. Có 3 lý do chính mà các doanh nghiệp đưa ra khi chấp nhận tiêu chuẩn ISO9000 như sau: Thứ nhất: Do yêu cầu khách hàng hay yêu cầu cạnh tranh của thị trường, cần phải thiết lậphệ thống đảm bảo chất lượng theo ISO9000. Tuy nhiên, ISO9000 không phải là vũ khí dễ dàngtrang bị để chiến đấu trên thị trường, cũng không phải là sổ tay các qui định kỹ thuật có thể muađược ở hiệu sách. Đó phải là tài liệu mô tả rõ rệt chính doanh nghiệp đang làm ăn ra sao, có đángtín nhiệm không, mà lại do chính doanh nghiệp viết ra và được người thứ ba xác nhận. Nó phảinêu lên được cách làm, cách kiểm tra, cách giải quyết các vấn đề chất lượng sản phẩm làm ra,những ai cung cấp nguyên vật liệu cho doanh nghiệp, họ làm ăn ra sao, có đáng tin cậy không.Tất cả các điều trên phải được chuyên gia đánh giá kiểm tra xem thực tế có đúng như vậy không,đúng như thế nào? 164
    • Thứ hai: Chính doanh nghiệp thấy cần phải làm theo chiến lược chất lượng của mình, vìrằng không thể kiểm tra hết được mà phải có sự tin cậy, đảm bảo có cơ sở ngay từ đầu bằng cáchệ thống. Và chính qua việc đảm bảo đó, người quản lý mới tin chắc vào các nhân viên của mìnhở các hệ thống. Đảm bảo chất lượng bằng ISO9000 làm nhẹ công việc quản lý chất lượng để tậptrung vào nâng cao chất lượng. Đánh giá hệ thống chất lượng ISO10011-1:Thủ tục đánh giá ISO10011-2:Chuyên gia đánh giá ISO10011-3:Quản lý đánh giá Hướng dẫn về QL chất lượng ISO9004-1:Hướng dẫn chungHướng dẫn về ĐBCL ISO9004-2:Dịch vụISO9000-1:Lựa chọn Các yêu cầu của hệ thống đảm bảo ISO9004-3:Vật liệu chế biếnISO9000-2:Áp dụng chất lượng ISO9004-4:Cải tiến chất lượngISO9000-3:Phần mềm ISO9001; ISO9002; ISO9003 ISO9004-5:Kế hoạch chất lượngISO9000-4:Độ tin cậy ISO9004-6:Quản lý dự án ISO9004-7:Quản lý cấu hình Caïc yãu cáöu häù tråü ISO8402: Thuáût ngæî ISO10012-1: ÂB âo læåìng ISO10012-2: KS quaï trçnh âo ISO10013: Säø tay cháút læåüng Bộ ISO9000 ISO10014:Kinh tãú QL cháút læåüng ISO10015:Âaìo taûo ISO10016: Taìi liãûu cháút læåüng Sơ đồ 8.4: Các tiêu chuẩn của bộ ISO9000:1994 Thứ ba: Theo sự bắt buộc của luật lệ mỗi nước, ví dụ luật về an toàn điện, luật an toàn thựcphẩm, luật về xây dựng... nếu không theo luật thì không được, mà cách theo tốt nhất là xây dựnghệ thống quản lý chất lượng để đảm bảo chất lượng theo các luật lệ đó. Bộ tiêu chuẩn ISO9000:1994 gồm 24 tiêu chuẩn khác nhau được chia thành 5 nhóm lớnnhư sau: - Các yêu cầu của hệ thống chất lượng: gồm các tiêu chuẩn ISO9001, ISO9002 và ISO9003. - Các tiêu chuẩn hướng dẫn về đảm bảo chất lượng ISO9000-1, ISO9000-2, ISO9000-3,ISO9000-4. - Các tiêu chuẩn hướng dẫn về quản lý chất lượng ISO9004-1,ISO9004-2 ISO9004 -3,ISO9004 -4, ISO9004 -5, ISO9004 -6, ISO9004 -7. - Các tiêu chuẩn đánh giá hệ thống chất lượng ISO10011-1, ISO10011-2, ISO10011-3 Các tiêu chuẩn hỗ trợ ISO8402, ISO10012-1, ISO10012-2, ISO010013, ISO10014,ISO10015, ISO10016. Quá trình toàn cầu hóa với những thay đổi nhanh chóng về công nghệ vàthị trường, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh quốc tế, ngay cả khi mục tiêuthị trường của họ là nội địa. Sự ra đời của phiên bản 2000 của tiêu chuẩn ISO 9000 không phải làchuyện đặc biệt, bởi lẽ, trên thực tế, tất cả các tiêu chuẩn của ISO đều được xem xét lại sau 5năm áp dụng để đảm bảo rằng chúng vẫn còn thích hợp với trình độ phát triển hiện tại. Thực tếcho thấy việc đầu tư cho hệ thống quản lý chất lượng đã mang lại hiệu quả thực sự về mặt tổchức, điều hành, thương mại cũng như nâng cao chất lượng của sản phẩm , dịch vụ. Trong quátrình áp dụng, người ta cũng nhận ra rằng cấu trúc và yêu cầu cụ thể của các tiêu chuẩn ISO9001, ISO 9002, ISO 9003:1994 chỉ thuận lợi cho việc quản lý chất lượng của các đơn vị sảnxuất , khó áp dụng cho các tổ chức dịch vụ , khó gắn nó với hệ thống quản lý chung, với hệthống quản lý môi trường, nếu có. 165
    • Việc soát xét và ban hành phiên bản ISO 9000:2000 sẽ đem lại nhiều lợi ích, đồng thời lànhững thách thức mới cho các doanh nghiệp , tổ chức, các chuyên gia, nhà quản lý..... Xúc tiến ban đầu Cơ sở trả lời phiếu hỏi Khảo sát sơ bộ cơ sở Cơ sở nộp hồ sơ xin giấy chứng nhận (đơn xin, sổ tay chất lượng, tài liệu, phí ...) Thẩm xét hồ sơ Đánh giá sơ bộ Đánh giá chính thức Chưa đạt Báo cáo kết quả đánh giá, kiểm tra xác nhận hành động khắc phục Đạt Cấp giấy chứng nhận Giám sát hàng năm Âaïnh giaï laûi sau 3 nàm Sơ đồ 8.5: Qui trình cấp giấy chứng nhận ISO9000 Tiêu chuẩn ISO 9000:2000 bàn về những khái niệm và định nghĩa cơ bản thay thế cho tiêuchuẩn các thuật ngữ và định nghĩa (ISO 8402) và tất cả các tiêu chuẩn ISO hướng dẫn cho từngngành cụ thể. Tiêu chuẩn ISO 9001:2000 sẽ thay thế cho các tiêu chuẩn ISO 9001. ISO 9002. và ISO9003:1994 đưa ra các yêu cầu trong hệ thống quản lý chất lượng. là tiêu chí cho việc xây dựng,áp dụng và đánh giá hệ thống quản lý chất lượng. Vai trò của ISO 9001:2000 trong các bộ tiêu chuẩn không hề thay đổi nhưng một số nội dungđược đưa thêm và đặc biệt cấu trúc của tiêu chuẩn đã thay đổi hoàn toàn. Tiêu chuẩn cũ gồm 20điều khoản riêng biệt không thể hiện rõ và dễ hiểu cho người sử dụng chúng. Tiêu chuẩn mớigồm 8 điều khoản với nội dung dễ hiểu và logic hơn. Trong đó 4 điều khoản cuối đưa ra cácyêu cầu của hệ thống quản lý chất lượng cần được xây dựng. áp dụng và đánh giá. Tiêu chuẩn ISO 9004:2000 là một công cụ hướng dẫn cho các doanh nghiệp muốn cải tiến vàhoàn thiện hơn nữa hệ thống chất lượng của mình sau khi đã thực hiện ISO 9001:2000. Tiêu 166
    • chuẩn này không phải là các yêu cầu kỹ thuật; do đó, không thể áp dụng để được đăng ký hayđánh giá chứng nhận và đặc biệt không phải là tiêu chuẩn diễn giải ISO 9001:2000. Tiêu chuẩn ISO 19011:2000 nhằm hướng dẫn đánh giá cho hệ thống quản lý chất lượng cũngnhư hệ thống quản lý môi trường và sẽ thay thế tiêu chuẩn cũ ISO 10011:1994. Trước đây. doanh nghiệp có thể lựa chọn giữa ISO 9001; ISO 9002; ISO 9003 tùy thuộc vàođặc điểm sản xuất kinh doanh và nhu cầu quản lý của họ. Nhưng đối với phiên bản mới, doanhnghiệp chỉ có một lựa chọn ISO 9001:2000; trong đó doanh nghiệp có thể loại trừ bớt một sốđiều khoản không áp dụng cho hoạt động của họ. Việc miễn trừ đó phải đảm bảo không ảnhhưởng đến năng lực, trách nhiệm và khả năng cung cấp sản phẩm /dịch vụ thỏa mãn nhu cầukhách hàng cũng như các yêu cầu khác về luật định. Các điểm miễn trừ chỉ được phép nằm trongđiều khoản 7 liên quan đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp. So với phiên bản cũ, phiên bản mới có những thay đổi chính sau đây: - Khái niệm sản phẩm và/hay dịch vụ được định nghĩa rõ ràng. Trong phiên bản cũ kháiniệm này chỉ được hiểu ngầm. - Đưa vào khái niệm tiếp cận quá trình và được coi là một trong những nguyên tắc cơ bảncủa quản lý chất lượng. Tất cả hoạt động chuyển đổi yếu tố đầu vào thành yếu tố đầu ra được coilà một quá trình. Để hoạt động có hiệu quả. doanh nghiệp phải biết nhận dạng và điều hành nhiềuquá trình liên kết nhau. - Số lượng qui trình yêu cầu giảm còn 6. bao gồm: + Nắm vững công tác tài liệu + Nắm vững việc lưu trữ hồ sơ, văn thư. + Công tác đánh giá nội bộ. + Nắm vững những điểm không phù hợp. + Hoạt động khắc phục + Hoạt động phòng ngừa. - Chú trọng đến khách hàng. Tiêu chuẩn nầy hướng hoàn toàn vào khách hàng. Mục tiêucủa nó là định hướng hoạt động của doanh nghiệp vào khách hàng và nhắm tới việc thỏa mãnkhách hàng. - Thích ứng tốt hơn với những dịch vụ. Tiêu chuẩn được viết lại để phù hợp hơn với việcáp dụng trong lĩnh vực dịch vụ. - Thay thế hoàn toàn cho ISO 9001. ISO 9002 và ISO 9003:1994. Tương thích với ISO 14000. ISO 9001:2000 đã được dự kiến để tương thích với nhữnghệ thống quản lý chất lượng khác được công nhận trên bình diện quốc tế. Nó cũng phối hợp vớiISO 14001 nhằm cải thiện sự tương thích giữa 2 tiêu chuẩn này tạo dễ dàng cho các doanhnghiệp. - Tính dễ đọc: nội dung của tiêu chuẩn đã được đơn giản hóa, dễ đọc nhằm tạo sự dễ dàngcho người sử dụng. - Cuối cùng. tiêu chuẩn này nhấn mạnh đến việc không ngừng hoàn thiện. Tổ chức UNIDO có làm một cuộc điều tra đối với các doanh nghiệp ở châu Âu, Á Phi và MỹLa Tinh thì thấy các lý do mà doanh nghiệp đưa ra để áp dụng hệ thống ISO9000 theo thứ tự nhưsau: * Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng ngoài nước. * Xóa bỏ các rào cản trong thương mại. * Gia tăng thị phần. 167
    • * Cải thiện hiệu năng nội bộ. * Nhiều đối thủ cạnh tranh đã áp dụng. * Kết hợp được với TQM (quản lý chất lượng toàn bộ) * Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong nước. * Nâng cao tinh thần làm việc và tình cảm của nhân viên đối với công ty. * Củng cố uy tín lãnh đạo. * Chứng tỏ sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào được bên thứ 3 công nhận đạt tiêu chuẩn ISO9000 sẽ thu được những lợiích sau: - Bên mua hàng hóa dịch vụ hoặc bỏ thầu miễn giảm việc thử nghiệm lại sản phẩm. - Xuất khẩu và trúng thầu dễ dàng đối với đối tác nước ngoài. - Có một hệ thống tin cậy trong việc bán hàng giữa các doanh nghiệp cũng như giữa các quốcgia. - Dễ được các thị trường khó tính chấp nhận, đặc biệt cho các sản phấm có liên quan đến sứckhỏe, an ninh và môi trường. Tóm lại muốn hội nhập vào thị trường thế giới, các doanh nghiệp phải có ngôn ngữ tươngđồng với nhau và ISO9000 là một trong những ngôn ngữ đó. Hiện nay, vẫn còn không ít ngườingộ nhận ISO9000 là một loại tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm. Không phải thế, ISO9000 làmột hệ thống quản lý chất lượng áp dụng cho đơn vị để cải tiến công tác quản trị cho phù hợp,trên cơ sở đó đảm bảo việc thực hiện cam kết chất lượng sản phẩm, dịch vụ đối với khách hàng. Một ngộ nhận khác, cũng không nhỏ, là cho rằng áp dụng ISO 9000 doanh nghiệp cần phảiđổi mới máy móc thiết bị và công nghệ, thật ra đôi khi cũng cần thiết nhưng không phải tất cả.ISO9000 tác động vào hệ thống quản trị, có nghĩa là tác động đến con người và thông qua conngười. Và như thế, một lần nữa cho thấy rằng ISO9000 không phải là vật bảo chứng cho sảnphẩm chất lượng cao - mà nó chỉ bảo đảm sản phẩm được sản xuất ra đúng với mức chất lượngđã xác định trong mọi lô hàng. Một nguyên tắc ngắn gọn của ISO 9000 là "viết ra những công việc mình làm và chỉ làmnhững gì đã viết", các doanh nghiệp có trình độ công nghệ, máy móc thiết bị khác nhau để có thểáp dụng hệ thống ISO9000, mỗi doanh nghiệp phải rà soát, thiết lập các văn bản ghi rõ chínhsách chất lượng, qui trình sản xuất, hướng dẫn công việc... và đảm bảo mọi người thực hiện đúngnhững điều đã được qui định không được làm tùy tiện, cảm tính, tùy hứng hoặc theo trí nhớ mỗingười. Việt Nam biết đến ISO 9000 từ những năm 90 song thời gian đầu ít người quan tâm về nộidung ra sao, áp dụng thế nào. kể cả người làm công tác quản lý lẫn các doanh nhân. Dần dần,dưới tác động của quá trình đổi mới kinh tế, sức ép của thị trường đang mở cửa, sự năng độngcủa doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh và nỗ lực của cơ quan quản lý đã thúc đẩy quá trìnhxây dựng và áp dụng ISO 9000 trong doanh nghiệp. Thời gian đầu, do lợi thế về nhiều mặt, cácdoanh nghiệp có vốn nước ngoài đã đi đầu trong hoạt động nầy. Về sau, các doanh nghiệp khác,do chịu sức ép của thị trường, đồng thời nhận thức được sự cần thiết và lợi ích của ISO 9000 nênđã tích cực vào cuộc. Việc xây dựng và áp dụng ISO 9000 đã được triển khai ở 12 lĩnh vực sảnxuất (thực phẩm đồ uống, dệt sợi may, giấy, than và hóa dầu, hóa chất, dược phẩm, cao su-nhựa,vật liệu xây dựng, kim loại, máy và thiết bị, thiết bị điện và quang học, các sản phẩm chưa đượcxếp loại khác); 6 lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ( xây dựng, thương mại, vận tải, thông tin, dịch vụkỹ thuật và các dịch vụ khác chưa xếp loại)và gần đây đã phát triển sang lĩnh vực quản lý hànhchính như là biện pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu cải cách hành chính. Tuy nhiên. cần lưu ý rằng. ISO 9000 không phải là cây đũa thần giải quyết được mọi vấnđề trong sản xuất kinh doanh. Tạo được nề nếp tổ chức hoạt động theo các tiêu chí của ISO 9000là hết sức cần thiết, song duy trì và phát triển nó mới thực sự quan trọng. Một trong những yêucầu cơ bản của ISO 9000:2000 chính là đòi hỏi có sự cải tiến liên tục hệ thống chất lượng củamỗi doanh nghiệp. 168
    • Với xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. các doanh nghiệp đứng trướcnhững cơ hội to lớn và những thách thức gay gắt. Để cạnh tranh thắng lợi. doanh nghiệp khôngcòn cách nào khác là phải nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Năng suất và chất lượnglà hai mặt của vấn đề cạnh tranh.Cải tiến chất lượng chính là con đương ngắn nhất và bền vữngnhất dẫn đến việc nâng cao năng suất. Cùng với việc đầu tư chiều sâu về kỹ thuật, công nghệ;mở rộng sản xuất ; việc áp dụng thành công các thành tựu tiên tiến của khoa học quản lý trên cơsở các tiêu chí của ISO 9000 sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam rút ngắn dần khoảng cách vớikhu vực và thế giới. 2.2 Hệ thống TQM. Hệ thống TQM là một hệ thống quản lý chất lượng toàn diện. Xuất phát từ kinh nghiệm thựctiễn, người ta đúc kết thành một kỹ thuật hướng dẫn cách thức làm sao để cải tiến trong côngviệc hàng ngày và cả trong việc thực hiện kế hoạch trung và dài hạn. Theo Histoshi Kume: "TQM là một dụng pháp quản trị đưa đến thành công, tạo thuận lợi chosự tăng trưởng bền vững của một tổ chức (một doanh nghiệp) thông qua việc huy động hết tất cảtâm trí của tất cả các thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu kháchhàng. Theo ISO 9000: "TQM là cách quản trị một tổ chức (một doanh nghiệp) tập trung vào chấtlượng, dựa vào sự tham gia của các thành viên của nó nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờvào việc thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức đó và cho xãhội" Mục tiêu chính của TQM là làm sao cho sản phẩm và dịch vụ được thực hiện với chất lượngtốt đồng thời phải giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động rút ngắn thời gian giao hàng,giao hàng đúng lúc... Điều này cũng có nghĩa là TQM hướng tới đảm bảo 3 chữ P của chất lượngmột cách tốt nhất thông qua nỗ lực của tất cả mọi thành viên trong tổ chức. Nói chung, TQM trình bày một tập hợp các nguyên tắc nhằm nâng cao chất lượng bằng cáchđộng viên toàn bộ các thành viên không phân biệt trực tiếp hay gián tiếp sản xuất, công nhân,cán bộ hay lãnh đạo các cấp trong doanh nghiệp. Các nguyên tắc này có thể tóm lược như sau: - Chính khách hàng mới là người định ra chất lượng và nhu cầu của khách hàng là tối thượng - Lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp phải làm người lãnh đạo thực hiện chất lượng - Chất lượng là vấn đề chiến lược phải được đặt ưu tiên trên hàng đầu khi lập kế hoạch - Chất lượng là trách nhiệm của mọi thành viên ở mọi cấp bậc trong doanh nghiệp mọi ngườiphải đồng tâm hiệp lực để giải quyết vấn đề chất lượng. - Các chức năng trong doanh nghiệp phải tập trung vào việc cải thiện liên tục chất lượng đểhoàn thành mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Việc giải quyết các trục trặc và nâng cao liên tục chất lượng phải dựa vào việc sử dụngphương pháp kiểm soát chất lượng bằng thống kê (SQC) vào áp dụng vòng tròn Deming ″ Giáo dục đào tạo là nền tảng cho việc cải tiến chất lượng liên tục... 2.3 Hệ thống chất lượng Q.Base. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của việc áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO9000, một vấn đề nảysinh là các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khá nhiều khó khăn trong việc áp dụng tiêu chuẩn này,đặc biệt là về mặt chi phí. Telare - tổ chức chứng nhận chất lượng hàng đầu của New Zealand, sau khi nghiên cứu thịtrường đã đưa ra hệ thống quản lý chất lượng vẫn sử dụng các nguyên tắc cơ bản của tiêu chuẩnISO9000 (chủ yếu là ISO9002 và ISO9003) nhưng đơn giản và dễ áp dụng hơn. Hệ thống này,bao gồm những yêu cầu cơ bản mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có để đảm bảo giữđược lòng tin đối với khách hàng về chất lượng sản phẩm hoặc về dịch vụ, gọi tắt là Q.Base. 169
    • Trong một số vấn đề, hệ thống Q.Base không đi sâu như ISO9000, mà đòi hỏi những yêu cầutối thiểu cần có, từng doanh nghiệp có thể phát triển từ hệ thống Q.Base lên cho phù hợp với yêucầu của ISO9000. Hệ thống Q.Base rất linh hoạt, từng doanh nghiệp có thể vận dụng theo điềukiện cụ thể của mình và là công cụ rất cần thiết cho lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừakhông chỉ trong công tác quản lý chất lượng. Hệ thống Q.Base là tập hợp các kinh nghiệm quản lý chất lượng đã được thực thi tại NewZealand và một số quốc gia khác như Đanmạch, Australia, Canada, Thụy Điển. Q.Base đề cậpđến các lĩnh vực chủ yếu trong quản trị chất lượng, chính sách chỉ đạo về chất lượng, xem xéthợp đồng với khách hàng, quá trình cung ứng, kiểm soát nguyên vật liệu, kiểm soát quá trình,kiểm soát thành phẩm, xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài liệu, đào tạo, cải tiến chất lượng. Việt Nam đã được Telare cho phép sử dụng hệ thống Q.Base từ tháng 11/95 và ngày 7/6/96,ban lãnh đạo 2 cơ quan Telara New Zealand và Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng ViệtNam đã chính thức ký văn bản về việc này. Ngoài ra, Telare cũng đang xem xét cho phépPhilippines, Inđonesia và Bruney sử dụng tiêu chuẩn Q.Base. Hệ thống Q.Base tuy chưa phải là tiêu chuẩn quốc tế như ISO9000, nhưng đang được thừanhận rộng rãi làm chuẩn mực để chứng nhận các hệ thống đảm bảo chất lượng. Q.Base sử dụngchính các nguyên tắc của ISO9000 nhưng đơn giản và dễ áp dụng hơn, đặc biệt phù hợp với cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa đang bước đầu hình thành hệ thống quản lý chất lượng. Q.Base có đầy đủ những yếu tố cơ bản của một hệ thống chất lượng, giúp doanh nghiệp kiểmsoát được các lĩnh vực chủ chốt trong hoạt động của mình. Nó tập trung vào việc phân côngtrách nhiệm và giao quyền hạn, khiến cho mọi thành viên chịu trách nhiệm về hành động củamình. Sau khi đã thực hiện các yêu cầu của hệ thống Q.Base, doanh nghiệp có thể thêm các qui địnhmà doanh nghiệp cần thiết và có thể mở rộng dần dần đến thỏa mãn mọi yêu cầu của ISO9000.Hệ thống Q.Base rất linh hoạt và không mâu thuẫn với các hệ thống quản trị chất lượng khác nhưISO9000 hay TQM và rất có ích cho những doanh nghiệp cung ứng cho các công ty lớn hơn đãcó giấy công nhận ISO9000. Một cách tổng quát, hệ thống Q.Base được áp dụng trong các trường hợp: • Hướng dẫn để quản lý chất lượng trong công ty, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, thực hiện các yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm một cách tiết kiệm nhất. • Theo hợp đồng giữa công ty và khách hàng (bên thứ nhất và bên thứ hai) khi khách hàng đòi hỏi. Doanh nghiệp phải áp dụng mô hình đảm bảo chất lượng theo Q.Base để có thể cung cấp sản phẩm đáp ứng. • Chứng nhận của bên thứ 3: Hệ thống đảm bảo chất lượng của công ty được tổ chức chứng nhận đánh giá và cấp chính thức. 2.4 Giải thưởng chất lượng của Việt Nam. Để khuyến khích các tổ chức sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức nghiên cứu triển khaikhoa học công nghệ nâng cao chất lượng hoạt động, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, bộkhoa học công nghệ và môi trường đã quyết định đặt "giải thưởng chất lượng" để xét tặng hàngnăm cho các đơn vị có nhiều thành tích về chất lượng. Giải thưởng chất lượng Việt Nam được thành lập nhằm thúc đẩy mọi tổ chức nâng cao tínhcạnh tranh bằng cách so sánh với những tiêu chuẩn được công nhận trên phạm vi quốc tế. Giải thưởng chất lượng Việt Nam bao gồm 7 tiêu chuẩn được tham khảo từ các hệ thống chấtlượng quốc tế nhằm khuyến khích các tổ chức tăng cường việc áp dụng TQM và tiên đến đượccấp giấy chứng nhận ISO9000. Bảy tiêu chuẩn về chất lượng Việt Nam gồm: 170
    • 1. Vai trò của lãnh đạo 90 điểm 2. Thông tin và phân tích dữ liệu 75 điểm 3. Định hướng chiến lược 55 điểm 4. Phát triển và quản lý nguồn nhân lực 140 điểm 5. Quản lý chất lượng quá trình 140 điểm 6. Các kết quả về chất lượng và kinh doanh 250 điểm 7. Thỏa mãn yêu cầu của khách hàng 250 điểm Tổng cộng: 1.000 điểm Giải thưởng gồm 2 loại : Giải vàng: xét trong phạm vi cả nước Giải bạc: xét trong tỉnh, thành phố. 2.5 Một số hệ thống khác. 2.5.1 HACCP (Hazard Analysis Critical Control Points). Đây là tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm tra thực phẩm do Viện Hàn Lâm khoa học thực phẩm Mỹnghiên cứu, cho ra đời năm 1971 và sau 16 năm kiểm nghiệm đã đưa vào sử dụng tại Mỹ. Hiệnnay nó đã được nhiều nước và các tổ chức trên thế giới công nhận và áp dụng. Liên Hiệp Quốcchọn HACCP làm tiêu chuẩn thanh tra quốc tế về thực phẩm, EU công nhận HACCP làm tiêuchuẩn thực phẩm của mình. Nội dung của HACCP thực chất là hệ thống kiểm tra chất lượng sảnphẩm chặt chẽ, hiệu quả. Gồm 12 đối tượng được coi là điểm nóng để liên tục được kiểm tratheo dõi thường xuyên: nguyên liệu, thành phẩm, phụ liệu, vật liệu bao gói, nhãn mác, các chấttẩy rửa diệt trùng, bôi trơn, nhà xưởng và các trang thiết bị vận hành, vệ sinh công nhân...để pháthiện và ngăn ngừa những điều kiện xấu xảy ra cho sản phẩm, tránh lây lan qua khâu khác. Khi áp dụng hệ thống HACCP, doanh nghiệp phải xây dựng biểu đồ quá trình, xác lập cácđiểm kiểm soát tới hạn và những hành động khắc phục. Tất cả phải thể hiện bằng các tài liệutương ứng và phải được thẩm tra xác nhận. Hệ thống nầy có thể áp dụng xuyên suốt dây chuyền sản xuất thực phẩm; đem lại lòng tin chongười tiêu dùng về an toàn thực phẩm. Tiêu chuẩn HACCP đặc biệt có ý nghĩa đối với các doanhnghiệp kinh doanh hàng thủy sản, nhất là khi các doanh nghiệp này muốn bán hàng sang NhậtBản, Châu Âu và Châu Mỹ. 2.5.2 GMP (Good Manufacturing Practice) Hướng dẫn thực hành tốt sản xuất thuốc thuộc khối ASEAN (GMP) được triển khai lần đầunăm 1984 và được cuộc họp lần thứ 5 về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực dược phẩm tổ chức tạiBangkok thông qua, và được sửa chữa lại năm 1988. Tại cuộc hợp lần thứ 13 của nhóm công tác về hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực dược phẩm củakhối ASEAN, Inđonesia với tư cách là nước điều hành GMP- ASEAN đã thành lập ban sửa đổicho bản công bố lần 2. Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực dược phẩm, bansửa đổi đã dự thảo sửa chữa và bổ sung cho lần xuất bản mới, bao gồm cả việc chấp nhận qui chếvà hướng dẫn sử dụng dược phẩm của MCA 1993, qui chế liên bang FDA, GMP của Australiacho các sản phẩm trị liệu, có tham khảo hệ thống chứng nhận của WHO đối với các dược phẩmtrong thị trường quốc tế, cũng như GMP quốc tế và các quốc gia khác. Nhằm góp phần thúc đẩy việc thực hiện chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam, ngày9/9/96, Bộ y tế đã quyết định chính thức áp dụng GMP - ASEAN tại Việt Nam. Mục đích của GMP là để đảm bảo một cách chắc chắn rằng sản phẩm được sản xuất ra mộtcách ổn định, đạt chất lượng qui định, hợp với mục đích sử dụng đã đề ra. GMP đề cập đến mọikhía cạnh của việc sản xuất và kiểm tra chất lượng thuốc mà doanh nghiệp phải tuân theo. 171
    • Các yêu cầu này tương đồng, dù mức độ có khác nhau, với các yêu cầu trong lĩnh vực sảnxuất của tiêu chuẩn ISO9000 vì thế doanh nghiệp có thể mở rộng để chuyển từ việc áp dụngGMP sang ISO9000 một cách nhanh chóng. Tiêu chuẩn GMP gồm 10 chương: qui định chung, nhân sự, nhà xưởng, thiết bị, hệ thống vệsinh, sản xuất, kiểm tra chất lượng, tự thanh tra, xử lý sản phẩm thu hồi, khiếu nại của các dượcphẩm bị trả lại và tài liệu. Ngoài ra còn có các phụ lục về sản xuất sản phẩm sinh học, sản xuấtsản xuất gas, sản xuất bình xịt phân liều áp suất, sản xuất các chế phẩm y học từ máu người hoặcthành phẩm của máu. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dược phẩm của Việt Nam đã áp dụng đượctiêu chuẩn này và nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất, dịch vụ của họ. Trong số đó, xí nghiệpliên hiệp dược Hậu Giang đã tiến lên đạt được giấy chứng nhận ISO9002 2.5.3 ISO14000 Các tiêu chuẩn ISO14000 được xây dựng dựa trên nguyên tắc đơn giản: việc quản lý môitrường càng được hoàn thiện thì tác động đối với môi trường cũng ngày càng được hoàn thiện,hiệu quả càng cao và thu hồi vốn đầu tư càng nhanh. Các tiêu chuẩn ISO14000 miêu tả được những yêu cầu cơ bản của hệ thống quản lý môitrường hữu hiệu, bao gồm việc xây dựng một chính sách về môi trường, xác định các mục đíchvà mục tiêu chương trình thực hiện để đạt mục tiêu, giám sát và đánh giá tính hiệu quả của nó,kiểm tra và điều chỉnh hệ thống và cải thiện tác động đối với môi trường. Việc áp dụng ISO14000 đối với doanh nghiệp ngày càng bức bách hơn khi môi trường đangtrở thành vấn đề toàn cầu và mọi người ngày càng quan tâm nhiều hơn đối với vấn đề môitrường. Ngày nay, nhiều doanh nghiệp có xu hướng áp dụng cùng một lúc ISO9000 và ISO14000 đểtận dụng các lợi thế về chi phí cho việc xin cấp giấy chứng nhận.IV. CÔNG CỤ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG. Muốn thực hiện việc quản trị chất lượng một cách hiệu quả trong doanh nghiệp, đòi hỏi mọithành viên của tổ chức phải am hiểu, sử dụng một cách thành thục và hiệu quả các công cụ quảntrị chất lượng, tạo tiền đề cho việc cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm. Có rất nhiều côngcụ và kỹ thuật hỗ trợ khác nhau để quản trị chất lượng, trong chương này, chúng ta đã xem xétmột số công cụ cơ bản như sau: - Kiểm soát chất lượng bằng thống kê (SQC- Statistical Quality Control). - Vòng tròn DEMING. - Nhóm chất lượng. 1. Kiểm soát chất lượng bằng thống kê (SQC). SQC là việc áp dụng các phương pháp thống kê để thu thập, trình bày, phân tích dữ liệu mộtcách đúng đắn, chính xác và kịp thời nhằm theo dõi, kiểm soát, cải tiến quá trình hoạt động củatổ chức bằng cách giảm tính biến động của nó. Chừng nào sản xuất còn phụ thuộc vào nguyên vật liệu đầu vào, máy móc thiết bị và conngười thì chắc chắn sẽ còn xảy ra biến động giữa thực tế và kế hoạch, các biến động này có thểlà tự nhiên vốn có của quá trình và không cần điều chỉnh. Các biến động cũng có thể là bấtthường, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thì nhất thiết phải kiểm soát và điều chỉnh kịp thời. 172
    • Bảng 7.1 Các công cụ của SQC theo ISO9000 gồm: Công cụ và kỹ thuật Ứng dụng1. Mẫu thu thập dữ liệu Thu thập dữ liệu một cách hệ thống để có bức tranh rõ ràng và thực tế. Công cụ và kỹ thuật cho các dữ liệu không bằng số2. Biểu đồ quan hệ Ghép thành nhóm có một số lớn ý kiến, quan điểm hay vấn đề có liên quan về một chủ đề cụ thể.3. So sánh theo chuẩn So sánh một quá trình với các quá trình đã được thừa nhận để xácmức định cơ hội cải tiến chất lượng.4.Tấn công não Xác định các giải pháp có thể cho các vấn đề và các cơ hội tiềm tàng cho việc cải tiến chất lượng.5. Biểu đồ nhân quả Phân tích và thông báo các mối quan hệ nhân quả. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề từ triệu chứng, nguyên nhân đến giải pháp.6.Biểu đồ tiến trình Mô tả quá trình hiện có7. Biểu đồ cây Biểu thị mối quan hệ giữa chủ đề và các yếu tố hợp thành. Công cụ và kỹ thuật cho các dữ liệu bằng số.8. Biểu đồ kiểm soát Phân tích : đánh giá sự ổn định của quá trình. Kiểm soát : xác định khi một quá trình cần điều chỉnh và khi nào cần để nguyên hiện trạng. Xác nhận : xác nhận sự cải tiến của quá trình.9. Biểu đồ cột Trình bày kiểu biến thiên của dữ liệu. Thông tin dưới dạng hình ảnh về kiểu cách của quá trình. Quyết định nơi tập trung nỗ lực cải tiến.10.Biểu đồ Patero Trình bày theo thứ tự quan trọng sự đóng góp của từng cá thể cho hiệu quả chung. Xếp hạng các cơ hội cải tiến.11.Biểu đồ tán xạ Phát hiện và xác nhận mối quan hệ giữa hai tập số liệu có liên hệ với nhau. Xác nhận mối quan hệ dự tính giữa hai bộ số liệu có quan hệ với nhau. Việc áp dụng SQC giúp ta: - Tập hợp số liệu dễ dàng. - Xác định được vấn đề. - Phỏng đoán và nhận biết nguyên nhân. - Ngăn ngừa sai lỗi. - Xác định được hiệu quả cải tiến. 2. Vòng tròn DEMING. Do DEMING giới thiệu năm 1950, gồm 4 giai đoạn viết tắt là P-D-C-A. Với: P (Plan): Lập kế hoạch, định lịch và phương pháp đạt mục tiêu. 173
    • D (Do): Đưa kế hoạch vào thực hiện. C (Cheek): Dựa theo kế hoạch để kiểm tra thực hiện. A (Act) : Thông qua kết quả đạt được để đề ra những tác động điều chỉnh thích hợp,nhằm bắt đầu lại chu trình với những thông tin đầu vào mới. Mỗi một giai đoạn của vòng tròn Deming thường sử dụng các kỹ thuật hỗ trợ riêng biệt. Vídụ, ở giai đoạn lập kế hoạch các công cụ được sử dụng là: biểu đồ kiểm soát, biểu đồ Pareto,biểu đồ cột... Vòng tròn Deming được áp dụng một cách liên tục trong việc quản lý chất lượng nhằm từngbước cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng công việc. Bước khởi đầu (P) củavòng tròn mới được dựa trên kết quả của vòng tròn trước nhằm giải quyết tiếp các vấn đề còn tồntại... và như thế sau nhiều lần áp dụng vòng tròn Deming chất lượng sản phẩm sẽ nâng cao dầnvà liên tục. 3. Nhóm chất lượng (Quality circle). Nhóm chất lượng là một nhóm nhỏ từ 3 - 10 người được lập ra để thực hiện các hoạt độngquản lý chất lượng (kể cả những vấn đề khác liên quan đến nơi làm việc), dựa trên tinh thần tựnguyện, tự ý và tự quản trên cùng một chỗ làm việc. Trưởng nhóm do các thành viên trong nhóm tự bầu ra, không nhất thiết phải là tổ trưởng sảnxuất hay đốc công. Nhóm thường họp mỗi tuần một lần trong hoặc ngoài giờ làm việc để thảo luận các vấn đề donhóm lựa chọn liên quan đến các lĩnh vực chất lượng, năng suất, chi phí, an toàn và các vấn đềkhác có liên quan đến công việc của mình. Nhóm chất lượng theo dõi quá trình sản xuất hay các thủ tục tác nghiệp để nhận diện, phântích và giải quyết các vấn đề chất lượng. Tổ chức Từ 3-10 thành viên cùng nơi làm việc. Đào tạo Trình bày Thu thập dữ liệu Phân tích vấn đề. Giải quyết Nhận dạng vấn đề vấn đề. Phân tích vấn đề Sơ đồ 8.5: Hoạt động của nhóm chất lượng. Nhóm chất lượng là một phần của hoạt động chất lượng ở phạm vi công ty 3.1 Cơ sở để hình thành nhóm chất lượng là: - Khai thác tối đa khả năng con người, thông qua hoạt động nhóm, nghiên cứu cách thức cảitiến công việc, từng thành viên đều nâng cao hiểu biết về công nghệ và kỹ thuật quản lý nhờ đódễ dàng thích nghi với thay đổi. - Tôn trọng con người và tạo không khí vui tươi phấn khởi ở nơi làm việc. 174
    • - Cống hiến các cải tiến giúp phát triển doanh nghiệp. 3.2 Các nguyên tắc của nhóm chất lượng. - Tự mình phát triển: các thành viên tìm tòi học hỏi để năm vững kỹ thuật và kỹ năng cầnthiết. Tự phát triển và hỗ tương phát triển gắn bó nhau. - Hoạt động tự nguyện: không áp đặt sai bảo. - Hoạt động nhóm, tập thể: Thông qua việc chia sẻ thông tin và kiến thức cho nhau, nhóm cósức mạnh trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn trong sản xuất kinh doanh và các thành viênsẽ trưởng thành lên. - Mọi người đều tham gia: Làm sao cho mọi người phát huy hết năng lực đến tạo sự phấnkhởi tự tin hơn là chỉ có một số người làm. - Áp dụng những kỹ thuật quản trị chất lượng. - Hoạt động cơ bản là nơi làm việc: vì nó nhằm chỉ cải tiến công việc tại nơi mình làm, cácnhà quản trị cần động viên khuyến khích hoạt động nhóm. - Duy trì hoạt động của nhóm chất lượng: cấp quản trị cần có những biện pháp duy trì hoạtđộng của nhóm từ phía sau, tạo sự hứng thú cho nhóm hoạt động (gợi ý những việc cần làm...)- Cùng nhau phát triển: tạo thói quen hội ý, thảo luận, hội thảo, trao đổi kinh nghiệm. - Tính sáng tạo: mục tiêu của nhóm là sáng tạo của các nhóm viên để cải tiến chất lượng, cácnhóm viên tự giác cải tiến và sáng tạo trong công việc. - Ý thức về chất lượng: ý thức về khó khăn và ý thức về cải tiến. Mục tiêu chủ yếu là kiến tạochất lượng ngay trong công việc của mình phụ trách.CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Khái niệm sản phẩm? Khái niệm chất lượng sản phẩm 2. Những tính chất đặc trưng của chất lượng sản phẩm ? 3. Khái niệm quản lý chất lượng ? Quản lý chất lượng toàn bộ? 4. Tầm quan trọng của trị chất lượng ? 5. Nêu khái niệm đảm bảo chất lượng? Hệ thống đảm bảo chất lượng ? 6. Nêu những nội dung cơ bản của hệ thống ISO 9000? 7. Nội dung cơ bản của hệ thống TQM? Hệ thống chất lượng Q.Base 8. Những nội dung chủ yếu của họat động quản lý chất lượng trong doanh nghiệp ? 175
    • TÀI LIỆU THAM KHẢO1. “QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP” Bộ môn Quản trị doanh nghiệp – Nhà xuất bản giáo dục , 19962. “CONTEMPORARY MANAGEMENT” David Vanfleet Tim O.Peterson3. “BUSINESS” Ricky.W.Griffin,Ronald J.Ebert Prentice Hall.INC,19964. “KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP” Dr.William B Werther, Jr-Nhà xuất bản TP.HCM, 19935. “QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP” Nguyễn Hải Sản – Nhà xuất bản Thống Kê, 19966. “QUẢN TRỊ NHÂN SỰ” Th.s Nguyễn Hữu Thân – Nhà xuất bản Thống Kê , 19967. “QUẢN TRỊ NHÂN SỰ” T.S Nguyễn Thành Hội – Nhà xuất bản Thống Kê, 19998. “CHIẾN LƯỢC VÀ SÁCH LƯỢC KINH DOANH” Garry D.Smith, Danny R. Arnokd, Bobby G Bizzell- Nhà xuất bản Thống Kê, 19979. “NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT YẾU CỦA QUẢN LÝ” Harold Koontz, Cyril O’Donell, Heinz Weihrich Người dịch: Vũ Thiếu, Nguyễn Mạnh Quân, Nguyến Đăng Dậu Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật, 199810. “CẨM NANG TRỞ THÀNH CHỦ DOANH NGHIỆP” James W. Halloran Người dịch: Cao Xuân Đỗ- Nhà xuất bản Thống Kê, 199611. “TỔ CHỨC VÀ QUẢN TRỊ CÔNG TY” Biên soạn :TS Vũ Trọng Khải (chủ biên), Lâm Ngọc Diệp. Nhà xuất bản Thống Kê, 199612. “QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC VÀ PHÁT TRIỂN VỊ THẾ CẠNH TRANH” Nguyễn Hữu Lam (chủ biên), Đinh Thái Hoàng, Phạm Xuân Lan- Nhà xuất bản Giáo Dục, 199813. KINH TẾ LAO ĐỘNG PHẦN TIỀN LƯƠNG” Bộ Lao động - Thương Binh Và Xã Hội, Hà Nội 199614. “KINH TẾ DOANH NGHIỆP” DLause- S Caillat Người dịch: Trương Đức Lực, Ngô Đăng Tính- Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật, Hà Nội 199215. “36 BÍ QUYẾT ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI LÃNH ĐẠO GIỎI” Biên dịch: Đậu Văn Quyền, Nhà xuất bản Thông Tấn, 200116. “QUẢN TRỊ KINH DOANH TỔNG HỢP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP” Chủ biên: GSTS. Ngô Đình Giao – Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật,199717. “KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP” Tủ sách KHKTĐH Bách khoa Hà Nội- Nhà xuất bản Thông Kê.200018. “QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG” Trương Chí Tiến - Tủ sách Đại học Cần Thơ, 199919. “QUẢN TRỊ SẢN XUẤT” Nguyến Văn Duyệt và Trương Chí Tiến, Tủ sách Đại Học Cần Thơ, 2000