Phát trien cong dong

41,367 views
41,088 views

Published on

Bài giảng phát triển cộng đồng

14 Comments
25 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • em đang làm báo cáo môn phát triển cộng đồng ai có tài liệu gì về môn này có thể cho em mượn làm với ạ. em cảm ơn
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • chuẩn
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Cam on anh da chia se nhung tai lieu bo ich
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • hay quá,hi\
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
41,367
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
185
Actions
Shares
0
Downloads
1,424
Comments
14
Likes
25
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Phát trien cong dong

  1. 1. CHƯƠNG I LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG  PTCĐ là một tiến trình tăng trưởng kinh tế cùng với tiến bộ cộng đồng theo hướng hoàn thiện các giá trị chân, thiện, mỹ của cộng đồng.  PTCĐ tự phát và PTCĐ tự giác là hai trình độ khác nhau, với tác động của yếu tố khoa học trong các chiến lược, quy hoạch tổng thể, dự án, có tổ chức thiết chế quản lý sự phát triển.  Các nguyên lý PTCĐ gồm : tính tương đối, tính đa dạng và tính bền vững. Với tổ chức xã hội là đồng thuận, tự quản và tham gia, hành động xã hội của cộng đồng là đồng biến, tự biến và hiệp biến.  Lý thuyết PTCĐ có 6 quan điểm : từ dưới lên; đồng bộ, tham dự; chuyển biến xã hội; phát triển năng lực; chú trọng nghiên cứu và 4 mục tiêu : cải thiện chất lượng sống; tạo sự bình đẳng trong tham gia; củng cố thiết chế, tổ chức; thu hút tối đa.  Triết lý tham dự là cơ sở quan trọng của lý thuyết PTCĐ, trong đó, nghiên cứu tham dự là một dạng tham gia có chất lượng, với nhiều kỹ thuật khác nhau. Lịch sử hình thành và diễn tiến của phát triển cộng đồng I. 1- Lịch sử : PTCĐ (Community Development) xuất hiện vào những năm 1940 tại các cựu thuộc địa đầu tiên của Anh. Ở Ghana, một người Anh tốt bụng nảy ra sáng kiến giúp dân tự cải thiện đời sống bằng các nỗ lực chung của chính quyền và người dân địa phương. Nghèo Trình độ văn hóa kém Sản xuất kém Sức khỏe kém 2- Diễn tiến :  Kinh nghiệm tích cực nầy được lan rộng ở hầu hết các cựu thuộc địa ở châu Á và châu Phi.  Năm 1950 LHQ công nhận khái niệm PTCĐ vàkhuyến khích các quốc gia sử dụng PTCĐ như một công cụ để thực hiện các chương trình phát triển quốc gia.  Thập kỷ 1960-1970 được chọn là thập kỷ phát triển thứ nhất với những chương trình viện trợ quy mô lớn về kỹ thuật, phương pháp, vốn liếng.  Năm 1970 LHQ lượng giá thập kỷ phát triển, rút ra một số phương hướng :  Sự tham gia của quần chúng là yếu tố cơ bản. 1 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  2. 2.  Yếu tố tổ chức là quan trọng : cần hỗ trợ sự hình thành và củng cố tổ chức của chính người dân.  Không đặt nặng chương trình, dự án từ bên trên hoặc bên ngoài đưa vào mà chú trọng các công trình vừa tầm do người dân đề xướng và thực hiện với sự hỗ trợ từ bên ngoài.  Tạo được sự chuyển biến xã hội mới là quan trọng. Đó là sự thay đổi nhận thức, hành vi của người dân nhằm mục đích phát triển. Tạo được sự chuyển biến trong tổ chức, cơ cấu và các mối tương quan lực lượng trong xã hội.  PTCĐ chỉ có hiệu quả khi nằm trong một chiến lược phát triển quốc gia đúng đắn.  Phát triển cấp làng xã phải đặt trong kế hoạch phát triển cấp vùng.  Huấn luyện để trang bị cho dân và những người có trách nhiệm kỹ năng tổ chức, lãnh đạo là một bộ phận không thể thiếu.  Từ thập kỷ 80 cho đến nay, PTCĐ được biết đến một cách rộng rãi qua các chương trình viện trợ phát triển của nước ngoài tại Việt Nam trong đó yếu tố tham gia của người dân là một trong những nhân tố quyết định.  Bộ môn PTCĐ và tổ chức cộng đồng được giảng dạy trong một số trường đại học phía Nam.  Tuy nhiên, PTCĐ vẫn là khoa học mới hình thành ở nước ta, cần có những tổng kết lý thuyết và thực tiễn để hoàn chỉnh nó. Phát triển cộng đồng và tổ chức cộng đồng :  PTCĐ xuất phát từ các nước đang phát triển.  TCCĐ là phương pháp giúp các CĐ dân cư nghèo đô thị (ở các nước công nghiệp phát triển) biến chuyển, đoàn kết và tổ chức tốt hơn để giải quyết các vấn đề và nhu cầu của mình.  Thực chất PTCĐ và TCCĐ rất gần gũi và trùng lắp. Phát triển cộng đồng : một bộ môn khoa học.  PTCĐ là một phương pháp vận động, giáo dục và tổ chức quần chúng nên triết lý và phương pháp của nó được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như : khuyến nông, giáo dục sức khỏe, xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cộng đồng, kế hoạch hóa gia đình, phát triển kinh tế gia đình, tín dụng tiết kiệm, xây dựng nếp sống đô thị, cải tạo khu nhà ổ chuột…  PTCĐ vận dụng nhiều ngành khoa học khác như : tâm lý học, nhân chủng học, xã hội học, CTXH, quản trị học, kinh tế học, chính trị học, tổ chức học… II. Cơ sở lý thuyết phát triển cộng đồng 1- Khái niệm phát triển cộng đồng - thực chất và phạm vi  Phát triển cộng đồng: PTCĐ thực chất là quá trình tăng trưởng kinh tế cộng đồng cùng với tiến bộ cộng đồng theo hướng hoàn thiện các giá trị chân, thiện, mỹ.  Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc (1956) : “ PTCĐ là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng nầy hội nhập đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia”  Theo Murray và Ross : 2 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  3. 3. “ Tổ chức cộng đồng là một diễn tiến qua đó một cộng đồng nhận rõ nhu cầu hay mục tiêu của mình, sắp xếp các nhu cầu và mục tiêu nầy, phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng, tìm kiếm tài nguyên (bên trong và bên ngoài) để giải quyết nhu cầu hay mục tiêu ấy. Thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác với nhau trong cộng đồng”.  “Đó là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng với những nỗ lực của Nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng đồng”1 Phát triển cộng đồng sẽ bao gồm một số hoạt động chủ yếu sau :  Cộng đồng xác định các vấn đề cần giải quyết của cộng đồng (Nhu cầu và mục tiêu).  Chọn lựa các vấn đề ưu tiên bằng các phân tích định lượng và định tính (Nhu cầu và mục tiêu ưu tiên).  Xây dựng các chương trình hành động trên cơ sở phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài.  Triển khai, bao gồm cả điều chỉnh các chương trình hành động.  Lượng giá các chương trình hành động không chỉ trên cơ sở nguyên lý là chúng phải tạo ra những chuyển biến xã hội hơn là một số hiệu quả trước mắt hoặc mang tính hình thức, không căn bản. 2- Lý thuyết phát triển cộng đồng Nguyên lý PTCĐ dựa trên nguyên lý phát triển xã hội, còn nguyên lý phát triển xã hội dựa vào nguyên lý phát triển phổ quát, thực chất đó là các nguyên lý biện chứng. Phép biện chứng là cơ sở chung của lý thuyết phát triển. Biện chứng của sự phát triển coi tồn tại khách quan phải bao gồm 4 nguyên lý tổng quát : (1) Tồn tại (2) Tương đối (3) Biến hóa mâu thuẫn (4) Thống nhất đa dạng. Các nguyên lý nầy khi áp dụng vào xã hội được diễn đạt cũng bằng 4 nguyên lý cơ bản như : (1) Sinh tồn (2) Hình thái kinh tế-xã hội (để tổ chức và thiết chế xã hội) (3) Tiến bộ văn hóa – văn minh (vai trò của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ) (4) Phát triển bền vững (thể hiện mối quan hệ giữa xã hội người với môi trường).  Ba khía cạnh chủ yếu của nguyên lý tổng quát của phát triển cộng đồng :  Tính tương đối : người ta đề cập tới những quan niệm rất khác nhau về PTCĐ, nên không tuyệt đối hóa một sự vật, một hiện tượng nào cả. Tuân Tử 1 Pratt, Brian & Jo Boyden, The Field Director’s Handbook, Oxfam Manual for Development Worker. 3 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  4. 4. đã nhận định : Có cái riêng thấy thì đương nhiên có cái riêng khác bị che. Ví dụ, cái gọi là phát triển và kém phát triển là những quy ước theo một hệ quy chiếu, với một hệ quy chiếu khác, ta lại có cách nhìn khác, không nên tuyệt đối hóa. Phát triển và kém phát triển là trong mối quan hệ tương đối với nhau, bởi vì có thể phát triển cái này thì kém phát triển cái kia và ngược lại. LêNin nói đấy là phát triển không đều của các tổ chức và thiết chế xã hội, của cộng đồng xã hội nói riêng.  Tính đa dạng : cộng đồng là một tính nhưng biểu hiện rất phong phú, rất đa dạng.  Tính bền vững : cộng đồng có tính bền vững, loài người dựa trên tính cộng đồng làm căn bản để tồn tại và phát triển. Tóm lại, cơ sở riêng của lý thuyết phát triển cộng đồng bao gồm 3 nguyên lý, tạo nên tam vị nhất thể như sau : (1) Nguyên lý tương đối của phát triển cộng đồng. (2) Nguyên lý tính đa dạng của phát triển cộng đồng. (3) Nguyên lý tính bền vững của phát triển cộng đồng. Nguyên lý đa dạng Nguyên lý tương đối Nguyên lý bền vững  Lý thuyết phát triển cộng đồng cũng đề cập đến mối quan hệ giữa các thể chế xã hôi, chủ yếu là ba thể chế xã hội cơ bản tham gia vào sự phát triển cộng đồng. - Thứ nhất là tự quản cộng đồng. - Thứ hai là sự quản lý của nhà nước. - Thứ ba là sự can thiệp của thị trường  Triết lý tham dự hay tham gia (participation) là một trong những quan điểm quan trọng của phát triển cộng đồng. Tham dự là tham gia ở mức thấp, còn tham gia là tham dự là ở mức cao. Triết lý này thể hiện như sau : để cho cộng đồng phát triển tốt đẹp, bền vững thì phải có sự hợp tác của tất cả các lực lượng xã hội, của các tổ chức và thíết chế xã hội, mà ta tạm hình dung có 4 lực lượng chủ chốt sau đây tham gia vào phát triển cộng đồng : - Thứ nhất là bản thân cộng đồng. - Thứ hai là Nhà nước. - Thứ ba là thị trường. - Thứ tư là các nhân tố xã hội.  Vấn đề phát triển : 4 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  5. 5. Thế nào là phát triển và kém phát triển ?  Phát triển : Phát triển là quá trình biến đổi về chất và lượng. Về số lượng thì đó là sự tăng trưởng, về phẩm chất thì nhất định phải có sự biến đổi về mặt chất lượng theo hướng tiến bộ.  Phát triển xã hội : phát triển xã hội là sự tăng trưởng, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế cùng với sự biến đổi xã hội theo chiều hướng tiến bộ xã hội, nghĩa là đúng hơn, tốt hơn và đẹp hơn.  Kém phát triển : Kém PT thể hiện ở chỗ các nhu cầu cơ bản không được đáp ứng đầy đủ : thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nước sạch, thiếu điện, nhà ở tồi tàn, thiếu cầu đường, lưu thông khó khăn, thiếu thuốc chữa bệnh,... Các nhu cầu sinh hoạt tinh thần, giải trí yếu kém, mù chữ cao, thiếu trường lớp và giáo viên, thiếu thông tin, lạc hậu về khoa học kỹ thuật. Tâm lý thiếu tự tin, trông chờ, ỷ lại.  Mục đích của phát triển : “ Mục đích và mục tiêu của phát triển là nâng cao chất lượng đời sống của người dân và nhằm cung cấp cho con người những cơ hội để phát triển toàn diện các tiềm năng. Phát triển không thể chỉ định nghĩa như tăng số thu nhập đầu người của một quốc gia, tăng các chỉ số sản phẩm sản xuất của địa phương, của vùng, hoặc tăng tiết kiệm của cá nhân hay nhóm. Phát triển không chỉ hàm ý sự tăng lên về tài nguyên và thêm kỹ năng, mà còn là tạo ra những thay đổi, cải tiến tích cực. Phát triển cần giúp những người dân thiệt thòi trước đây có thể cải thiện các điều kiện sống của họ và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản như việc làm, nhà ở, môi trường an toàn. Phát triển có nghĩa là người dân thiệt thòi trong cộng đồng ngày nay có khả năng trả tiền học phí cho con cái, trả y tế phí và mở mang kiến thức về xã hội hiện đang sống. Phát triển ngụ ý rằng đường sá, cầu cống được xây dựng, lưu thông được cải tiến và mạng lưới thông tin hữu hiệu được thiết lập. Phát triển cũng có nghĩa là người dân trong cộng đồng có thể đạt được nhiều mặt cải thiện nêu trên thông qua những cố gắng của họ, và sẽ tham gia vào những quyết định có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Điều nầy được xem như yếu tố chủ yếu để quyết định xem phát triển cộng đồng đúng nghĩa có xảy ra hay không. Cuối cùng Phát triển tùy vào sáng kiến khởi sự của người dân trong cộng đồng, và Phát triển chỉ có thể xem như đúng nghĩa đích thực nếu nghèo đói và thất nghiệp giảm đi, nhân quyền và công bằng xã hội được củng cố”2 2 Định nghĩa của United Nations Center for Regional Development, 1988 Trung tâm phát triển vùng của Liên Hiệp Quốc. 5 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  6. 6.  Các chỉ báo phát triển :  Các nhà nghiên cứu và các nàh lãnh đạo cho rằng không thể đồng nhất phát triển với tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế không có nghĩa là phát triển xã hội. Tăng trưởng kinh tế là một chỉ số của sự phát triển chứ không phải là tòan bộ các chỉ số của sự phát triển. Phát triển xã hội hiện nay được hiểu theo nghĩa toàn diện gồm có rất nhiều chỉ số. Trong báo cáo phát triển hằng năm của Ngân hàng Thế giới (WB) ta thấy có hơn 200 chỉ số về sự phát triển xã hội để so sánh giữa các nước về sự phát triển, giữa các khu vực, trong đó nếu gom lại thì có các nhóm chỉ số cơ bản :  Nhóm chỉ số tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là chỉ số về bình quân thu nhập đầu người so sánh giữa các cộng đồng và các khu vực.  Nhóm chỉ số phát triển xã hội : người ta quan tâm rất nhiều đến nhiều đến chỉ só phát triển xã hội, đặc biệt là chỉ số phát triển dịch vụ xã hội, trong đó có 2 dịch vụ cơ bản nhất là dịch vụ giáo dục và dịch vụ y tế. Chỉ số phát triển con người HDI – Human Development Index là chỉ số tổng hợp kinh tế xã hội của sự phát triển, bao gồm :  Thu nhập bình quân đầu người  Tuổi thọ trung bình  Trình độ học vấn trung bình Ngoài hai chỉ số phát triển kinh tế và xã hội nói trên, người ta quan tâm đến một nhóm chỉ số quan trọng nữa : - Chỉ số phát triển cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) - Chỉ số phát triển bền vững : Đây là một quan niệm hiện đại. Lâu nay chúng ta mới chỉ quan tâm đến những chỉ số phát triển kinh tế, xã hội, con người, văn hóa... nhưng ít đề cập tới quan hệ giữa con người và xã hội với tự nhiên. Đó là những quan niệm mở rộng, có một loạt các chỉ số có liên quan như : chỉ số bảo vệ môi trường, phát triển con người. Phát triển kinh tế-xã hội mà khong bảo vệ môi trường thì có nguy cơ sẽ dẫn tới mặt trái của nó, tức là suy thoái mà thế giới hiện đại đã có quá nhiều bài học. 3- Quan điểm, mục tiêu và quy tắc hành động 3.1 Các quan điểm định hướng 1) Phát triển cộng đồng dựa trên phương pháp luận từ dưới lên (Bottom-up) xuất phát từ nhu cầu của chính người dân. Muốn tự phát triển, chính người dân phải tự ý thức cũng như tự tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình. 2) Phát triển phải đồng bộ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội : kinh tế, xã hội, văn hóa…phải cùng được nâng lên. 3) Sự tham gia của quần chúng là hết sức quan trọng, là yếu tố then chốt. Sự tham gia của chính quyền được coi như là một nhân tố bên trong, nó không phải là một lực lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng mà là một thành phần quan trọng của cộng đồng. 4) Tạo được chuyển biến xã hội mới là quan trọng. Đó là sự thay đổi nhận thức, hành vi của người dân nhằm mục đích phát triển; là tạo được chuyển biến trong cơ cấu tổ chức, các mối tương quan lực lượng trong chính cộng đồng đó. 6 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  7. 7. 5) Phát triển năng lực trên cơ sở không “làm thay”, “làm cho” người dân. Người dân không thể hành động nếu thiếu năng lực. Họ cũng không thể hành động đơn phương, riêng lẻ mà phải kết hợp với các cá nhân, tổ chức cùng một chí hướng và quyền lợi để tạo thành quyền lực chung. Muốn cho người dân tự làm thì tổ chức thông qua huấn luyện là then chốt. 6) Các nghiên cứu làm nền tảng cho việc triển khai các dự án phải đặt ngang tầm với vị trí cần có của nó trong công tác phát triển cộng đồng. Hoạt động đánh giá, lượng giá (Evaluation) là một bước “đo lường” hiệu quả xã hội của các dự án và mở ra những vấn đề mới cho cộng đồng. Chúng tăng tính hiệu quả của các dự án. 3.2 Mục tiêu của phát triển cộng đồng: Mục tiêu bao trùm của Phát triển cộng đồng là góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức và hành động có tính chất hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản cộng đồng. Mục tiêu tổng quát trên đây được thể hiện dưới 4 khía cạnh sau đây : 1) Hướng tới cải thiện chất lượng sống của cộng đồng, với sự cân bằng về vật chất và tinh thần, qua đó, tạo những chuyển biến xã hội trong cộng đồng. 2) Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng, kể cả các nhóm thiệt thòi nhất đều có quyền nêu lên nguyện vọng của mình và được tham gia vào các hoạt động phát triển, qua đó, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội. 3) Củng cố các thiết chế/tổ chức để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển biến xã hội và sự tăng trưởng. 4) Thu hút sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình phát triển. Hai khái niệm then chốt của PTCĐ hiện nay là “xây dựng năng lực” (capability building) và tạo sức mạnh (empowerment). Để tạo được điều nầy, PTCĐ phải là một quá trình luôn luôn tiếp diễn. Mục tiêu cuối cùng của một chương trình PTCĐ là giúp cho cộng đồng đi từ một tình trạng kém phát triển, không tự mình giải quyết các vấn đề của riêng mình tiến tới tự lực.  Tiến trình phát triển cộng đồng  Thức tỉnh : việc làm đầu tiên là phải giúp CĐ hiểu về chính mình thông qua các hoạt động nhận diện (assessment) và chẩn đoán (diagnosis) cộng đồng, gồm các hoạt động trao đổi, thảo luận, điều tra các nhu cầu và vấn đề khó khăn cũng như tiềm năng và thuận lợi, xác lập những vấn đề ưu tiên, xây dựng các dự án để giải quyết các vấn đề của CĐ, lượng giá tính hiệu quả của chúng.  Tăng năng lực : CĐ cần được hỗ trợ bên ngoài (kiến thức chuyên môn, tín dụng, đầu tư, cơ quan viện trợ…) và thông qua quá trình huấn luyện cộng đồng để khác phục những hạn chế và tăng cường kiến thức và kỹ năng để hành động. Các hoạt động tăng độ liên kết, khả năng tổ chức, lãnh đạo và quản lý để hành động tập thể có hiệu quả hơn.  Tự lực : mục đích quan trọng nhất là thông qua thay đổi và tăng trưởng, cộng đồng sẽ trở nên tự lực. Mục đích cuối cùng không phải là mọi khó khăn, khủng 7 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  8. 8. hoảng không còn nữa mà mỗi lần gặp khó khăn, cộng đồng có thể tự huy động nguồn lực bên trong và bên ngoài để giải quyết vấn đề. Điều nầy chỉ có thể có nếu biết xử lý đúng các tình huống trong quá trình phát triển, qua đó, cộng đồng sẽ tăng trưởng và tự lực hơn như con người phải trải qua khủng hoảng mới trưởng thành được. Thông qua các dự án phát triển cộng đồng như là những phương pháp “kích hoạt”, các mục tiêu trên từng bước triển khai trong thực tiễn. Sau đây là một mô hình về quá trình làm PTCĐ4 CĐ còn yếu CĐ thức tỉnh CĐ tăng năng CĐ tự lực kém lực Hình Tăng Tự tìm hiểu Phát huy Huấn thành các cường tiềm và phân tích luyện động lực nhóm liên năng kết tự nguyện Hành động chung có lượng giá (từ thấp đến cao) 3.3 Quy tắc hành động:  Phát triển cộng đồng tin tưởng rằng mọi công dân và các cộng đồng hoàn toàn có khả năng quản lý cuộc sống và các vấn đề của mình ngoại trừ khi họ bị đè nặng bởi mối lo âu để sống còn. Năng lực tự quản (governance) là một năng lực tự có và tiềm ẩn trong các cộng đồng, vấn đề của phát triển cộng đồng là cần đánh thức hoặc củng cố năng lực đó.  Phát triển chỉ có thể thành công trên cơ sở xuất phát từ ý chí và nội lực từ bên trong. “Làm thay”, “nghĩ hộ” là những tư duy và hành động xa lạ với phát triển cộng đồng.  Mọi chương trình hành động phải do cộng đồng tự quyết nhằm bảo đảm tính tự chịu trách nhiệm của cộng đồng.  Dân chủ là một nguyên tắc mà mọi chương trình phát triển cộng đồng phải hướng tới vì chúng đảm bảo rằng lợi ích chung sẽ được tôn trọng. Nhưng dân chủ đòi hỏi một quá trình làm quen và không nên quên rằng tính tổ chức, kỷ luật là hình thức dân chủ nhất. 4 Giáo trình PTCĐ, Nguyễn thị Oanh, 1994 8 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  9. 9.  Không đặt nặng chương trình, dự án (nghĩa là những ý đồ có sẵn của tổ chức nhà nước, cơ quan phát triển, tổ chức xã hội …) từ bên trên hoặc bên ngoài đưa vào mà là hướng tới các công trình vừa tầm do người dân đề xướng và thực hiện với sự hỗ trợ từ bên ngoài.  Các hoạt động phát triển cộng đồng là các hoạt động mang tính nhân-quả, muốn tạo ra hiệu quả mang tính tổng thể phải có một chuỗi các hoạt động liên quan và phụ thuộc lẫn nhau.  Ưu tiên các hoạt động mang tính đột phá khẩu, các mục tiêu ưu tiên nhưng chúng phải được đặt trong một cái nhìn phát triển mang tính tổng thể.  Đối tượng ưu tiên của PTCĐ là người nghèo và người thiệt thòi. Nghèo, dân trí thấp… là các vấn đề của phát triển cộng đồng.  Công bằng xã hội không chỉ là một khẩu hiệu mà phải dẫn tới sự tái phân phối các nguồn lực ở cấp vi mô cũng như vĩ mô. Điều nầy rất quan trọng vì không ít chương trình phát triển đã tạo ra khoảng cách giàu-nghèo.  Các hình thức hợp tác là cơ sở để phát huy tinh thần trách nhiệm và tinh thần cộng đồng. Xây dựng và củng cố khả năng hợp tác là những vấn đề của phát triển cộng đồng.  Sự hỗ trợ bên ngoài từ chuyên môn (xã hội và kỹ thuật) đến các nguồn lực vật chất- tài chính là rất cần thiết nhưng chỉ là chất xúc tác. Tiền của cũng quan trọng nhưng quan trọng hơn là “cách nghĩ”, “cách làm”.  Đây là các hoạt động xúc tiến (promotion) của bên ngoài với sự nỗ lực và quyết tâm của bản thân cộng đồng.  Các hoạt động phát triển cộng đồng có trình tự về mặt phương pháp, cần có sự huấn luyện cho các tác viên phát triển cộng đồng và người dân tại chỗ. III. Cơ sở thực tiễn phát triển cộng đồng 1- Từ sáng kiến của cộng đồng, gia tăng tính năng động xã hội vi mô và giảm trừ độc quyền Nhà nước vĩ mô. Nhu cầu phát triển của các cộng đồng nhỏ ở nông thôn đòi hỏi phải có những cách đặt vấn đề mới xuất phát từ những nhu cầu được thức tỉnh từ chính họ. Tính bền vững của các hoạt động phát triển cần phải có những nguyên tắc làm việc mới, những phương pháp mới đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống. Quá trình xác định nhu cầu, lập kế hoạch can thiệp đã dựa trên một tư duy mới là : thay vì bên ngoài làm hộ, người dân ở mỗi cộng đồng phải tự mình đứng ra giải quyết những vấn đề riêng của mình, sự giúp đỡ của bên ngoài chỉ có tính chất hỗ trợ, không mang tính quyết định. Thiếu hụt sự hưởng ứng, ý chí và nỗ lực của người dân là một trong những nguyên nhân cho sự thất bại của nhiều chương trình phát triển cộng đồng. Ngoài nguyên nhân chú trọng đến biện pháp hỗ trợ mang tính cấp cứu, từ thiện là cách đặt vấn đề mang tính áp đặt từ trên xuống (Top-down) thay vì cần có một kế hoạch từ dưới lên (Bottom-up). Cho dù thể chế đã cởi mở rất nhiều nhưng xã hội ta chưa biết nhiều đến các tổ chức tự nguyện từ sáng kiến của người dân, của các tổ chức phi chính phủ. Hệ thống 9 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  10. 10. giáo dục chưa tạo cho con người Việt Nam khả năng tự chủ, sáng tạo, biết thích ứng trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Tinh thần làm việc theo nhóm còn xa lạ với chúng ta. Phát triển cộng đồng khuyến khích sáng kiến từ dưới lên, với sự kết hợp với chính người dân để giải quyết vấn đề của cộng đồng. Sự tin tưởng tuyệt đối, vô điều kiện vào khả năng vươn lên của người nghèo, của những thành phần xã hội thấp kém nhất là một giá trị nhân bản, là một cách đặt vấn đề mới. Thói quen áp đặt, bao biện và làm thay dân là sản phẩm của cách giáo dục và quản lý không thích hợp với tư duy phát triển cộng đồng. Triết lý phát triển cộng đồng có sự tham gia tích cực của người dân đòi hỏi một sự đổi mới về nhận thức và tư duy hành động. Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt. Nhiều hình thức hợp tác tự nguyện mới, nhiều mô hình do người dân địa phương tự liên kết để giải quyết nhu cầu của mình hay tham gia vào các chương trình từ bên ngoài đưa vào, một số mô hình đã chứng minh tính hiệu quả của nó. Trong công cuộc Đổi mới, chúng ta có thể lấy các tư tưởng của Bác Hồ “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” cũng như các tư tưởng “lấy dân làm gốc”, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” làm cơ sở tư tưởng cho phát triển cộng đồng. Truyền thống tình làng nghĩa xóm, tương thân tương trợ, lá lành đùm lá rách cũng là những cơ sở xã hội-lịch sử quan trọng cho hoạt động nầy. 2- Quá trình chuyên môn hóa phát triển cộng đồng  Ơ cấp Nhà nước cần có sự công nhận phát triển cộng đồng như là một phương thức tạo điều kiện cho cho phát triển kinh tế, xã hội toàn diện, và phải được áp dụng trong các chương trình quốc gia như phát triên nông thôn, xóa đói giảm nghèo, dân số và sức khỏe…  Cán bộ các chương trình kể trên cần được tập huấn về phương pháp phát triển cộng đồng.  Cần xây dựng phát triển cộng đồng như một bộ môn khoa học ứng dụng tại các trường đại học. IV. Triết lý tham dự phát triển cộng đồng Cộng đồng là một nhóm người sống trong cùng một địa vực hay có những lợi ích và mối quan tâm chung mà không bị quy định bởi các giới hạn địa lý. Họ xây dựng các tổ chức và thiết chế nhằm đáp ứng một số nhu cầu chung của cộng đồng. Tham dự là một quá trình của quần chúng cùng tham gia các hoạt động có mục đích chăm sóc cộng đồng. Oakley trích dẫn các thí dụ về cách biểu thị khái niệm tham dự cộng đồng :   Quá trình tham dự, theo nghĩa rộng, là quá trình tạo ra khả năng nhậy cảm của quần chúng và do vậy làm tăng khả năng tiếp thu và năng lực của quần chúng 10 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  11. 11. nông thôn nhằm đáp ứng các chương trình phát triển cũng như khích lệ các sáng kiến của địa phương.  Liên quan đến vấn đề phát triển, tham dự bao hàm việc thu hút quần chúng vào quá trình ra quyết định, thực hiện sự phân chia lợi ích trong các chương trình phát triển và lôi cuốn họ vào quá trình đánh giá chương trình.  Quá trình tham dự hướng tới những nỗ lực có tổ chức nhằm tăng cường kiểm soát các nguồn lực và các tổ chức điều hành trong những hoàn cảnh xã hội nhất định, kiểm soát các nhóm, các phong trào mà từ trước đến giờ vẫn nằm ngoài sự kiểm soát như vậy.  Susan Rifkin cho rằng để hiểu sự tham dự cộng đồng phải đặt các câu hỏi sau : Tại sao lại tham dự ? Ai tham dự ? Quần chúng tham dự như thế nào ? Để đo sự tham dự, Rifkin đưa ra một khung đánh giá quá trình tham gia gồm 5 yếu tố : Đánh giá nhu cầu, sự lãnh đạo, hoạt động quản lý, tổ chức và huy động nguồn lực. Mọi sự tham dự tốt phải thể hiện trên 5 chiều cạnh nầy.  Mc. Call phân biệt ba mức độ tham dự :  Tham dự như là một phương tiện để tạo ra các điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện các can thiệp từ bên ngoài vào.  Tham dự như là một phương tiện để dung hòa trong quá trình ra quyết định và tạo lập chính sách cho các can thiệp từ bên ngoài vào.  Tham dự như là mục đích tự thân – trao quyền cho các nhóm xã hội và kiểm soát nguồn lực và ra quyết định. 1- Các hình thức tham gia cộng đồng  Trong xã hội hiện đại, tầm ảnh hưởng của Nhà nước trong xã hội đã được mở rộng một cách to lớn. Nhà nước ngày nay là người cung cấp chính yếu các dịch vụ phát triển xã hội. Nhà nước là người hợp tác, một lực lượng quan trọng trong phát triển cộng đồng. Vai trò của Nhà nước trong phát triển cộng đồng bao hàm cả hai tư cách : là cơ quan có thẩm quyền cho phép các hoạt động phát triển tại cộng đồng và là một trong các lực lượng có tiềm lực tham gia vào quá trình này. Không thể coi nhẹ vị trí của Nhà nước đóng góp có hiệu quả vào việc xúc tiến tham gia cộng đồng, thể hiện trên một số phương diện sau :  Tạo hành lang pháp lý/hệ thống chính sách cho các hoạt động hướng vào các chương trình phúc lợi công cộng chung, các chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp, các nhóm xã hội trong cộng đồng tham gia các dự án phát triển cộng đồng.  Cung cấp/điều chỉnh các nguồn lực của chính phủ cho các chương trình phát triển cộng đồng, kêu gọi hoặc tạo điều kiện cho c ác dự án do các NGO nước ngoài vào cộng đồng.  Là lực lượng điều chỉnh các mâu thuẫn trong cộng đồng, giữa các cộng đồng với nhau với tư cách là người đại diện cao nhất lợi ích chung của cộng đồng quốc gia.  Các tổ chức phi chính phủ cung cấp các cơ hội có hiệu quả hơn cho việc thực hiện các ý tưởng tham gia cộng đồng, và hình thức tham gia thường là thiết thực hơn 11 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  12. 12. là Nhà nước do hoạt động của NGO thường nhỏ, ngừơi dân dễ thấy ngay tính hiệu quả của nó. Tính quan liêu của hệ thống Nhà nước cũng không phải lúc nào cũng thích hợp với vai trò là lực lượng tham gia trực tiếp vào phát triển cộng đồng. NGO linh hoạt hơn vì họ không bị hạn chế trong hoạt động của mình ở lĩnh vực công tác chuyên biệt như các cơ quan chính phủ. Các mối quan hệ tốt với cơ quan công cộng sẽ là điều kiện và nguyên tắc để các NGO có thể thực hiện được tốt chức năng của mình.  Là người trực tiếp xây dựng , triển khai và đánh giá các chương trình phát triển cộng đồng bởi nhu cầu của các hoạt động phát triển là rất đa dạng, do đó mỗi một NGO với tôn chỉ và mục tiêu của mình thường bó gọn vào một số lĩnh vực, với một số hoạt động có tính truyền thống.  Tính gọn nhẹ của một tổ chức là một lợi thế trong việc nắm bắt nhu cầu, xây dựng kế hoạch, triển khai các hoạt động phát triển cộng đồng. Tính quan liêu ít được biết đến trong các hoạt động phát triển của NGO.  Do ngay từ đầu nhiều tổ chức NGO xây dựng tôn chỉ, mục tiêu của minh theo triết lý tham dự nên những mâu thuẫn của quá trình phát triển cộng đồng vốn là sự hợp lực của các lực lượng bên ngoài và bên trong ít xảy ra hoặc có thì cũng dễ có thể điều hòa được.  Các NGO đã đóng góp vai trò chính trong việc thúc đẩy tham gia cộng đồng, song không thể không nói tới một số vấn đề về khả năng hợp tác với hệ thống chính quyền, trong đó có chính quyền cơ sở, nhiều khi gây ra những phản ứng tại cộng đồng. Vấn đề thứ hai dễ găp phải là các NGO thường quá chú trọng đến một số lĩnh vực hoặc hoạt động nào đó, thường ít có những hoạt động mang tính hệ thống nên có khi trùng lặp tại một thời điểm hoặc một khu vực, hoặc ít có hiệu quả hệ thống.  Vai trò của các tổ chức xã hội tại cộng đồng trong sự tham gia cộng đồng là một vấn đề nội bộ của quá trình tham gia cộng đồng. Các tổ chức xã hội tại cộng đồng thường có những vai trò nhất định bởi đó là các tổ chức do người dân tự nguyện lập nên nhằm đáp ứng các nhu cầu đã xác định cụ thể nào đó, nó thường bền vững do có cơ sở tại chỗ. Trong mỗi cộng đồng nông thôn, các tổ chức, nhóm lập ra bởi rất nhiều nhu cầu, từ các vấn đề kinh tế, tín dụng, các dịch vụ xã hội cơ bản như nước sạch, học hành, y tế và chăm sóc sức khỏe, cho đến các nhu cầu văn hóa tinh thần như thờ cúng, cố kết cộng đồng… Điểm chung của các tổ chức nầy là chỉ lập ra khi người dân thấy cần thiết, người lãnh đạo hay các thành viên đều là những người tự nguyện, hào hứng tham gia các hoạt động của địa phương. Trong các cộng đồng đô thị, vốn là người tứ xứ nên các tổ chức ở đây thường không có cơ sở thân tộc hay láng giềng thân thiết mà lấy mục đích công việc làm hạt nhân tập hợp, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức xã hội, những cá nhân là các nhà hoạt động xã hội, các doanh nghiệp, các nhà từ thiện. Tính tại chỗ của các tổ chức tại chỗ ở các cộng đồng tham gia vào các chương trình phát triển cộng đồng vừa là điểm thuận lợi vừa là điểm bất lợi. Sự hợp tác chặt chẽ giữa ba bộ phận : chính quyền cơ sở, các NGO và các tổ chức xã hội tại chỗ là cách tốt nhất để khắc phục những điểm mạnh và yếu của từng bộ phận. Trong thực 12 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  13. 13. tiễn, sự thành công hay thất bại của các chương trình phát triển cộng đồng phụ thuộc vào việc có xác lập được cơ chế phối hợp giữa ba lực lượng này hay không. 2- Nghiên cứu tham dự như một cách tham gia Nghiên cứu (Research) có thể được hiểu như một quá trình phân tích những vấn đề, những mâu thuẫn, xung đột của đối tượng, có liên hệ với hoàn cảnh, môi trường xung quanh, nhằm tìm ra những giải pháp hiệu quả cho phát triển. Các chương trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế tại cộng đồng thường áp dụng phương pháp luận tham dự với niềm tin rằng bằng triết lý tham dự, các chương trình phát triển cộng đồng có thể thu hút được sự tham gia của mọi lực lượng xã hội, mọi nguồn lực vào quá trình phát triển, phần nào khắc phục những hạn chế của các phương pháp nghiên cứu không tham dự. Phương pháp luận tham dự dựa trên triết lý như sau : Tham dự là từ người dân và trả lại cho người dân, đấy là thực chất của phương pháp luận tham dự. Nhiều tổ chức quốc tế hiện nay cho rằng phương pháp luận tham dự là phương pháp luận đi từ dưới lên, chứ không phải là phương pháp nghiên cứu không tham dự là đi từ trên xuống. Đi từ người dân trở thành khoa học, chứ không phải đi từ tháp ngà khoa học rồi áp đặt cho người dân những khái niệm, những phạm trù mà tự mình đặt ra. Nói một cách lý tưởng, nghiên cứu tham dự là cùng người dân, vì người dân và không phải là đứng trên dân. Điều nầy có nghĩa là các đại diện của quần chúng phải có đủ năng lực để tham gia như là các nhóm hướng dẫn trong nghiên cứu tham dự, tham gia ở mọi thời điểm của quá trình nghiên cứu cho đến khi các kết quả được công bố và thông tin được đưa trở lại tới quần chúng theo đường khác nhau. Có sự khác biệt rõ nét giữa nghiên cứu thông thường (không tham dự) và nghiên cứu tham dự. Sự khác biệt quan trọng nhất trong nghiên cứu tham dự là các câu hỏi nghiên cứu và các vấn đề ưu tiên được dựa trên cơ sở các nhu cầu của cộng đồng và được hình thành bởi chính cộng đồng.  Giai đoạn 1: xác lập các ưu tiên và ấn định các mục tiêu  Giai đoạn 2 : Triển khai đề cương nghiên cứu tại cộng đồng. Trong nghiên cứu tham dự muốn đạt được sự tham dự tối đa của cộng đồng trong việc chẩn đoán vấn đề, nâng cao nhận thức và tự tin để cải thiện hoàn cảnh thì các phương pháp được lựa chọn cần :  Tương đối đơn giản  Ngăn ngừa được sự nản lòng và thờ ơ của người tham dự  Chỉ hướng vào sự hiểu biết những gì thực sự cần thiết  Tổ chức những cuộc họp để nâng cao nhận thức và trách nhiệm chung.  Việc thu thập số liệu thực tế cũng có thể được thực hiện theo phương pháp tham dự. Trong trường hợp này, thực chất là các thành viên cộng đồng tự mình thực hiện nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu cần phải thích hợp để trả lời các câu hỏi nghiên cứu của họ. 13 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  14. 14.  Quá trình tìm ra các kết quả nghiên cứu theo phương pháp thông thường (không tham dự) vẫn cần phải chuyển giao cho cộng đồng, trong khi đó, kết quả do chính các thành viên cộng đồng tìm ra (có sự tham dự) thì không cần phải chuyển giao.  Phương pháp làm báo cáo cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa nghiên cứu thông thường và nghiên cứu tham dự :  Các nhà nghiên cứu thông thường có thể báo cáo ngay đến đồng nghiệp và các nhà tài trợ nghiên cứu của họ. Đôi khi họ không được đào tạo viết báo cáo một cách toàn diện. Những báo cáo của họ thường khó đọc, dùng các thuật ngữ chuyên môn.  Nghiên cứu tham dự là dạng nghiên cứu trong đó các kết quả được trình bày theo cách những người không có chuyên môn khoa học có thể tham dự vào các buổi thảo luận. Điều này có thể có ít uy tín về mặt khoa học nhưng lại thỏa mãn nhu cầu và đó là phương pháp kiểm tra tốt nhất về giá trị và tính thỏa đáng của kết quả.  Trong nghiên cứu tham dự, nhiều phương pháp và thủ tục được kết hợp với nhau để hệ thống hóa tri thức mới theo trình độ nhận thức và khả năng hiểu được các dạng văn bản có lời hoặc hình ảnh.  Cho đến nay có một số loại hình nghiên cứu tham dự chủ yếu như sau : Chẩn đoán nông thôn có sự tham gia 1 DRP Diagnosis with rural participation 2 FPR Nghiên cứu có sự tham gia của trang Farmer participation research chủ Phương pháp nghiên cứu được tăng 3 MARP Method of accelerated research with tốc có sự tham dự participation 4 PALM Phân tích tham dự và giáo học pháp Participatory Analysis and learning methods Chẩn đoán và quyết định có sự tham Diagnosis and Decision with 5 DDP dự participation Nghiên cứu hành động tham dự 6 PAR Participatory Action Research Lập kế hoạch và đánh giá nông thôn PRA and planning 7 PRAP tham dự Đánh giá nhanh tham dự 8 PRA Participatory Rapid Appraisal Đánh giá nhanh dân tộc học tham dự Rapid Ethnic Appraisal with 9 REAP participation Phương pháp đánh giá nông thôn nhanh (Rapid Rural Appraisal – RRA) được đưa ra vào những năm cuối thập niên 1970 và đã được sử dụng để đưa ra các thông tin nhanh và chính xác cho việc nhận dạng và đánh giá các chương trình phát triển nông thôn. Gần đây, dựa trên kinh nghiệm có được ở An độ, RRA đã nhanh chóng trở thành phương pháp tham dự và dẫn đến một khái niệm mới là đánh giá nhanh tham dự (Participatory Rapid Appraisal- PRA). Khái niệm nầy mô tả các cách tiếp cận và phương pháp tạo ra khả năng cho dân chúng địa phương được chia sẻ và nâng cao kiến 14 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  15. 15. thức của họ về cuộc sống và phân tích các điều kiện nhằm tạo cho họ khả năng lập kế hoạch và hành động. Một ưu thế lớn nhất của PRA là khả năng trong việc huy động các thiết chế cộng đồng giải quyết các vấn đề nhằm tăng khả năng bảo đảm đời sống. PRA cũng làm nâng cao nhận thức của nhóm dân cư địa phương, kể cả các nhóm phụ nữ về các công việc cần làm, phương pháp và khả năng thực hiện chúng. Như vậy, triết lý tham dự phát triển cộng đồng được quán triệt vào hai quan điểm và phương pháp tham dự cơ bản : (1) Phát triển cộng đồng có sự tham dự tích cực của người dân và (2) Phát triển cộng đồng dựa trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu tham dự. Nhìn chung, hai hình thức tham gia này thực chất là một vì đều dựa trên yêu cầu thu hút tối đa các thành viên cộng đồng vào quá trình phát triển cộng đồng. V. Tìm hiểu cộng đồng 1. Các phương pháp tìm hiểu cộng đồng a. Điều tra xã hội học b. Tìm hiểu cộng đồng qua thông tin tư liệu c. Phỏng vấn các lãnh đạo địa phương và những người am hiểu vấn đề d. Lân la với người dân e. Tổ chức thảo luận trong dân f. Điều tra từng mảng vấn đề với sự tham gia chủ động của người dân 2. Tìm hiểu những gì ở cộng đồng a. Tổng quan về cộng đồng, bao gồm :  Địa lý : vị trí, đất đai, tài nguyên thiên nhiên  Dân số : tổng số dân, giới tính, độ tuổi, độ tuổi lao động, số trẻ em, người già, thanh niên...  Kinh tế : cơ cấu ngành nghề (công – nông – thương mại dịch vụ), khoa học kỹ thuật phục vụ kinh tế, tiềm năng phát triển...  Văn hóa xã hội, y tế (trình độ dân trí, vấn đề mù chữ, bỏ học, lớp phổ cập, cơ sở trường học, bệnh viện, đời sống giáo viên, sức khỏe , môi trường, phong tục tập quán, tín ngưỡng....) b. Nhu cầu và các vấn đề của cộng đồng  Nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, việc làm, thu nhập....  Các vấn đề nổi cộm khác : trẻ thiếu chăm sóc, bị lạm dụng, gia đình rạn nứt, tệ nạn xã hội... c. Tiềm năng và hạn chế của cộng đồng d. Các mối quan hệ trong cộng đồng VI. Phát hiện, phát huy và tổ chức tiềm năng của cộng đồng 1. Phát hiện tiềm năng của cộng đồng như thế nào ? a. Tiềm năng cộng đồng là gì ?  Khả năng, năng lực, tài nguyên còn tiềm ẩn, bị bỏ quên hay bị gạt ra ngoài  Đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, cơ xưởng, trình độ văn hóa tay nghề, khả năng tổ chức, kinh nhgiệm, sức khỏe, tuổi trẻ, hay các tổ chức phi chính thức tích cực; là sức mạnh tinh thần như nền văn hóa, ước vọng, tấm lòng, sự nhiệt tình, tinh thần hợp tác, ý chí vươn lên của một cộng đồng. 15 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  16. 16.  Tiềm năng quan trọng nhất là con người. b. Phát hiện tài nguyên như thế nào ?  Thông qua quá trình “tìm hiểu cộng đồng”, cuộc điều tra tổng hợp ban đầu.  Qua lân la thăm dò, tác viên sẽ phát hiện những người có uy tín, những lãnh tụ tự nhiên, các nhóm phi chính thức...  Qua các buổi thảo luận nhóm phát hiện người có ý kiến tốt, sáng tạo... 2. Phát huy tiềm năng của cộng đồng  Đào tạo, huấn luyện là hoạt động cơ bản để xây dựng năng lực cho cộng đồng.  Kỹ năng tổ chức, quản lý VII. Mâu thuẫn trong cộng đồng 1. Mâu thuẫn là bình thường  Giữa bất cứ cá nhân, nhóm hay cộng đồng nào cũng có những điểm tương đồng hay bất đồng về mục đích, quyền lợi, sở thích...  Không có sự tăng trưởng nào mà không trải qua khủng hoảng.  Nền văn hóa VN có xu hướng tránh né sự va chạm, che giấu mâu thuẫn.  Cần đưa ra ánh sáng những ý kiến chưa tương đồng để đạt chân lý cao hơn. 2. Những khó khăn gặp phải trong phát triển cộng đồng trong bối cảnh hiện nay.  Không tổ chức xã hội nào là hoàn hảo, không cá nhân nào là hoàn thiện. Có người đặt nặng tư lợi trên lợi ích chung.  PTCĐ là phương pháp còn mới mẽ ở nước ta. 3. Phải có thái độ nào và làm gì đối với khó khăn, mâu thuẫn.  Trước tiên phải xem đó là chuyện bình thường, có mâu thuẫn và xử lý mâu thuẩn mới có tăng trưởng.  Phải làm cho mâu thuẫn tự bộc lộ để có cách xử lý. 4. Nguyên nhân của mâu thuẫn :  Tranh giành quyền lợi với ý muốn thống trị, kiểm soát người khác.  Tranh giành quyền lợi, tài nguyên với mục đích đạt đến sự thỏa mãn nhu cầu nhiều hơn.  Do quan điểm, nhận thức, nhân cách, cá tính khác nhau. Mâu thuẫn torng trường hợp nầy nhằm đạt đến cái tôi. 5. Các cách và cấp độ giải quyết mâu thuẫn và vai trò của tác viên. Các cách và cấp độ giải quyết mâu thuẫn và vai trò của tác viên PTCĐ Tùy tính chất của mâu Cách làm Hình thức can thiệp của tác thuẫn mà hai bên có thể viên và kết quả Tương tác tạo sự thay đổi Tham vấn cung cấp thêm thông tin xoa dịu, giáo dục, Hợp tác tác động. Từ đó tạo điều kiện cho hai bên thương lượng. Các bên cùng tham gia bàn Đề ra giải pháp tốt nhất để bạc tìm giải pháp cùng hợp tác. 16 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  17. 17. Dù có nhiều bất đồng nhưng Cả hai bên cùng thấy mình cố gắng tìm giải pháp tốt nhất thắng lợi. để hợp tác. Có vài mục tiêu tương đồng Tham vấn, cải tiến mối quan hệ, hòa giải hay thương lượng để bàn bạc các quyền lợi. Thương lượng Có sự đấu tranh đòi lợi ích, Hình thành sức mạnh mỗi bên ngấm ngầm xuyên tạc nhau, để đưa ra người đại diện che dấu ý đồ đè bẹp bên kia. chung của tổ chức, mỗi bên đều cảm thấy thắng lợi một ít. - Hai bên phân định rõ bên Tác viên làm trung gian phân đối đầu, không thể thỏa xử, hòa giải, phân tích mâu hiệp. thuẫn, ngăn chặn bạo lực. - Xuyên tạc nhau mạnnh và Đối đầu âm mưu phá nhau. Có biểu hiện mất bình tĩnh, Một bên thắng thế, nắm thiếu sự tự chủ. quyền – một bên xuống nước nhượng bộ – cuối cùng có kẻ thua người thắng. Mỗi người đều có ý quyết thắng, không còn quan tâm đến giải pháp tốt. VIII. Giáo dục cộng đồng Giáo dục cộng đồng không chỉ đơn thuần là giáo dục công dân hay không chỉ gây ý thức cho những cá nhân riêng lẻ. GDCĐ là giúp cho một cộng đồng được trang bị đầy đủ để hành động chung, hành động như một cộng đồng, để giải quyết những vấn đề của mình. Hai khái niệm chủ yếu trong GDCĐ là xây dựng năng lực (capacity building) và tạo sức mạnh (empowerment) cho người dân. GDCĐ là để biến đổi CĐ, biến đổi xã hội. 1. Trong giáo dục tráng niên, GDCĐ, học không chỉ để biết, để nâng cao kiến thức suông, mà để giải quyết một vấn đề của cuộc sống. Do đó nội dung xuất phát từ nhu cầu cụ thể của một địa phương, của một nhóm đối tượng cụ thể. 2. Đối tượng học là bất cứ ai tham gia vào chương trình phát triển, nhưng học viên cần được chọn lọc và triệu tập đúng với yêu cầu của chương trình. Có những lớp cho thanh niên, cho các bà mẹ, phụ lão, các lãnh tụ cộng đồng... 3. Mấy thập kỷ giáo dục phi chính quy đã rút ra các kết luận quan trọng về tâm lý học tập. 17 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  18. 18. Chúng ta nhớ Những gì chúng ta Đọc 10% 20% Nghe 30% Thấy 50% Nghe và thấy 80% Nói 90% Nói và làm 4. Học là hành, học bằng hành CHƯƠNG II THIẾT KẾ DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG IX.  Dự án PTCĐ là một kế hoạch hành động có sự phối hợp của nhiều lực lượng xã hội nhằm huy động các nguồn lực, phân bổ chúng một cách hợp lý để tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ xã hội, từ đó, tạo ra những chuyển biến xã hội tại cộng đồng.  Quy trình thiết kế được đi theo một lôgích gồm 5 bước : Nhận diện cộng đồng, xác định nhu cầu, xác định nguồn lực và trở ngại, xây dựng kế hoạch hoạt động.  Với sư tham gia của người dân trong quá trình thiết kế, không những dự án có được những căn cứ thực tiễn màcòn là cơ hội để người dân có thể sở hữu ngay từ đầu dự án. Cộng đồng phải là tác giả tập thể của bản dự án. DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG LÀ MỘT LOẠI DỰ ÁN ĐẶC BIỆT 1- Các vấn đề chung a) Các dự án PTCĐ được ra đời sau thế chiến thứ hai trong các cộng đồng dân định cư ở đô thị châu Au. Vào thập kỷ 50, 60 , tại đây thường xảy ra xung đột nên các dự án PTCĐ được xây dựng hướng vào các khu dân cư thiệt thòi, huy động người dân, sự tham gia của giới nghiên cứu nhằm tìm hiểu và hỗ trợ các hoạt động tập thể tại chính các nhóm thiệt thòi đó. b) Dự án là một danh từ được dùng tương đối rộng rãi ở nuớc ta trong những năm gần đây. Có nhiều loại dự án và cấp làm dự án (dự án cấp xã, huyện, tỉnh, quốc gia; dự án do cá nhân, tổ chức xã hội, chính phủ, chính quyền các cấp…thực hiện). c) Nhìn chung, dự án được hiểu như một kế hoạch can thiệp để giúp một cộng đồng dân cư hoặc cá nhân cải thiện điều kiện sống trên một địa bàn nhất định. d) Dự án PTCĐ là một loại dự án hướng vào đối tượng là các cộng đồng với mục đích cuối cùng là tạo ra những chuyển biến xã hội tại cộng đồng. Đây là một kế hoạch hành động có sự phối hợp của nhiều lực lượng xã hội bên trong và bên ngoài vì mục tiêu phát triển. Mục tiêu của dự án không phải là mang tiền bạc vật chất đến cho cộng đồng mà nhằm phát huy sự tham gia của người dân trong cộng đồng, giúp cho cộng đồng xác định những nhu cầu đích thực của họ cần giải quyết, giúp họ tự lực, gây ý thức, nghĩa là mang lại cho họ quyền lực để tự giải quyết những vấn đề của cộng đồng. 18 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  19. 19. Phải làm cho cộng đồng “sở hữu dự án ngay từ đầu đến cuối”, bởi vì khi dự án kết e) thúc, chính cộng đồng sẽ duy trì và phát huy hơn nữa những thành quả dự án. Tính bền vững của dự án được đo bằng kết quả là khi kết thúc dự án, năng lực tổ chức và duy trì các hoạt động tiếp theo bằng nguồn lực tại chỗ. Mang lại sự biến đổi xã hội theo hướng tích cực là mục tiêu f) Dự án PTCĐ được hình thành nhằm tạo ra những điều kiện về kinh tế và xã hội cho cộng đồng, chú trọng đến tầm quan trọng của việc tham gia của quần chúng, biết định hướng nhu cầu, tự lực nâng cao ý thức. Loại dự án này xuất phát từ nhu cầu của cơ sở, qua đó, tăng quyền lực cho cộng đồng. Trọng tâm của các dự án PTCĐ làm tăng tính hội nhập và bền vững. Một cách lý tưởng, dự án là nơi các thành viên trong cộng đồng tự tổ chức lại một cách dân chủ để xác định nhu cầu, các khó khăn và vấn đề, xây dựng kế hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu này, với sự tham gia tối đa của cộng đồng. g) Dự án PTCĐ có mục tiêu nhằm giải quyết một hay một vài vấn đề hay đáp ứng các nhu cầu có thực của cộng đồng. Nếu bên ngoài (Chính phủ, tổ chức xã hội, cá nhân trong và ngoài nước) có ý định đầu tư và bên trong có nhu cầu nhưng lại không có khả năng về nguồn lực tài chính, nhân lực, vật lực thì không thể xây dựng được một dự án. Do đó dự án PTCĐ phải là điểm hội tụ giữa ý định, nhu cầu và khả năng. Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa dự án PTCĐ và các loại dự án khác, đặc biệt là so với các dự án mang tính cứu trợ, giải quyết tình huống khẩn cấp. Sự gặp nhau vì mục tiêu phát triển, sự thống nhất về triết lý và phương pháp hành động, đó là cơ sở quan trọng để cho các dự án PTCĐ có thể triển khai tại cộng đồng. Sơ đồ sau đây minh họa cho các vấn đề nói trên. Nhu cầu Y định của của người chúng ta dân DỰ ÁN Khả năng của chúng ta Ở hầu hết các cộng đồng tại các nước đang phát triển, PTCĐ là một trong những chiến lược cơ bản để cải thiện điều kiện sống của người dân, nhất là những nhóm bị thiệt thòi. Nỗ lực PTCĐ ở những nước nầy thường do các tổ chức có mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau khởi xướng, đỡ đầu hay khuyến khích, thuộc 4 nhóm chủ yếu sau : 19 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  20. 20.  Các cơ quan thuộc Trung ương, tỉnh, thành phố hoặc địa phương.  Các tổ chức phát triển quốc tế hay các tổ chức tài trợ ở các nước phát triển.  Các tổ chức từ thiện tư nhân bản xứ hoặc các tổ chức phi chính phủ.  Các tổ chức cộng đồng hoặc các nhóm cộng đồng địa phương. Hoạt động PTCĐ rất đa dạng về hình thức :  Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng chủ yếu là hệ thống giao thông nông thôn, điện, thủy lợi, chuyển giao công nghệ thích hợp.  Phát triển hệ thống thiết chế xã hội cơ bản như giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe (chăm sóc sức khỏe ban đầu, dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi trường, sức khỏe sinh sản… là những vấn đề ưu tiên).  Phát triển năng lực quản lý.  Xây dựng hệ thống tín dụng nông thôn.  Xóa đói giảm nghèo.  Bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa, phát triển các loại hình nghệ thuật. Hạ tầng cơ Tín dụng & xoá Chăm sóc sức Phát triển khoẻ ban đầu đói giảm nghèo sở năng lực quản (PHC) lý Dinh dưỡng Bảo vệ nguồn tài nguyên DỰ Giáo dục CD ÁN và xóa mù An sinh xã hội PHÁT chữ TRIỂN Bảo tồn di sản Tạo việc làm văn hóa Nước sạch vệ Chuyển giao sinh môi công nghệ trường Mục tiêu của các can thiệp do dự án đem lại là tạo ra sự thay đổi trong nhận thức và hành động tập thể của cộng đồng, nhờ đó, các lực lượng xã hội bên trong và bên ngoài cộng đồng quyết tâm thực hiện các kế hoạch hành động nhằm nag lại sự thay đổi về điều kiện/môi trường sống. Từ đó, nhận thức, năng lực và kỹ năng tổ chức các hoạt động được nâng cao, tạo cơ sở cho việc hình thành những dự án mới, nhờ vậy tình trạng xã hội của CĐ lại được cải thiện ở mức cao hơn. Hệ quả có tính liên tục của dự án phát triển cộng đồng. 20 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  21. 21. Bên ngoài Nhận thức về các hành động Tình Tình Tình tập thể được trạng trạng trạng xã xã nâng cao hơn xã DỰ DỰ hội hội hội ÁN ÁN được được chậm MỚ Năng lực và kỹ phát cải cải I năng tổ chức thiện triển thiện các hoạt động hơn tập thể được Bên nữa DỰ nâng lên trong ÁN MỚ I CAN CÁC HỆ QUẢ CỦA DỰ ÁN THIỆP PTCĐ 2- Định nghĩa : Dự án là gì ? 2.1 Từ điển Xã hội học của David Jary và Julia Jary đưa ra định nghĩa như sau : Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng. 2.2 Theo Nguyễn thị Oanh :  Dự án là sự can thiệp một cách có kế hoạch nhằm đạt một hay một số mục tiêu cùng hoàn thành những chỉ báo thực hiện đã định trước tại một địa bàn và trong một khoảng thời gian nhất định, có huy động sự tham gia thực sự của những tác nhân và tổ chức cụ thể.  Dự án là một tổng thể có kế hoạch những hoạt động (công việc) nhằm đạt một số mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian và trong khuôn khổ chi phí nhất định.  Dự án nhánh (sub-project) là những dự án nhỏ nằm trong một dự án, và thường được thực hiện trên một địa bàn hay với một cộng đồng.  Chương trình (program) là tổ hợp các dự án có cùng một mục đích hay chủ đề. Chương trình là một loạt những dự án làm cùng một việc tại một nơi và trong một khoảng thời gian nhất định. Chương trình cũng có thể chỉ ra một số mục tiêu và tiêu chuẩn chung, con các dự án được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau (trong phạm vi một vùng, một nước hay cả thế giới) vào những thời điểm khác nhau. Chương trình có thể bao gồm nhiều dự án có liên quan với nhau và lồng ghép trong một tổng thể. 21 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  22. 22. Ví dụ : tổ chức X lo về an sinh trẻ em có chương trình “Hỗ trợ trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn”, chương trình này có một số dự án như dự án “trẻ đường phố”, dự án “trẻ mại dâm”, dự án “phòng chống trẻ bị lạm dụng tình dục”, dự án “hỗ trợ thu nhập cho gia đình của một hoặc cả ba nhóm trẻ nói trên”, v.v… 2.3 Định nghĩa : Dự án PTCĐ là một loại dự án phát triển nhằm giải quyết một hay một số các vấn đề của cộng đồng với sự tham gia tích cực của nhiều lực lượng xã hội (bên trong và bên ngoài, chính thức và phi chính thức), thể hiện bằng một kế hoạch can thiệp hay một chương trình hành động được xác định bởi một khung thời gian, nhân lực, tài chính và các vấn đề quản lý khác. THIẾT KẾ DỰ ÁN Xây dựng dự án PTCĐ có nhiều mô hình khác nhau. Mô hình sau đây hỗ trợ những người làm công tác phát triển, những người lãnh đạo cộng đồng và những người tham gia có thể dựa vào đây để xây dựng kế hoạch thực hiện hoặc lượng giá những dự án quy mô nhỏ trong các lĩnh vực khác nhau. Trình tự có thể thay đổi hay điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Có ba giai đoạn chủ yếu của một chu trình dự án :  Giai đoạn 1 : Thiết kế dự án - Nhận diện cộng đồng - Xác định nhu cầu - Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể - Đánh giá nguồn lực và các cản trở - Hoạch định các hoạt động  Giai đoạn 2 : Thực hiện  Giai đoạn 3 : Đánh giá (lượng giá) 1- Giai đoạn 1 : 1.1. Nhận diện cộng đồng : Nhận diện cộng đồng là bước khởi động đầu tiên. Hiểu biết có hệ thống tình trạng hiện nay của CĐ sẽ giúp xác định và làm cơ sở cho quá trình xây dựng một dự án phản ánh đúng tình hình thực tiễn, có tính khả thi. Quá trình tìm hiểu cộng đồng có thể có nhiều tên gọi như chẩn đoán cộng đồng, nhận diện cộng đồng, phân tích cộng đồng…. Nhưng nhìn chung đều phải bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng. Đó là :  Các hoạt động kinh tế  Kết cấu cơ sở hạ tầng  Cơ cấu chính trị hiện hành  Đặc điểm dân số – lao động  Sự phân tầng xã hội và các mối tương quan quyền lực  Các tổ chức trong cộng đồng, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động  Phương thức lãnh đạo và ảnh hưởng của phương thức này  Những khía cạnh văn hóa hay truyền thống 22 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com
  23. 23.  Tình trạng sức khoẻ, vệ sinh và dinh dưỡng  Các vấn đề về giáo dục, các vấn đề xã hội, tệ nạn xã hội  Những vấn đề cấp thiết và những vấn đề cần phải xử lý, giải quyết. Đây là các thông tin chung mà mỗi dự án cần phải thu thập. Tùy vào mục tiêu, nội dung và phạm vi can thiệp mà mỗi dự án sẽ chọn một hướng thu thập thông tin riêng, ví dụ, một dự án văn hóa cộng đồng ngoài việc phải thu thập một số thông tin chung ở trên, có thể cần phải thu thập thêm các thông tin sau :  Các sinh hoạt văn hóa cộng đồng  Các sinhhoạt văn hóa tại gia đình : cưới, tang ma, các lễ kỷ niệm, các hình thức thờ tự…  Các thiết chế văn hóa cổ truyền : đình, chùa, miếu…  Phong tục tập quán cổ truyền, hệ giá trị, chuẩn mực hiện đại…  Các chuyển đổi văn hóa  Quan hệ trong gia đình  Quan hệ họ tộc  Quan hệ láng giềng  Quan hệ với cộng đồng khác  Hệ thống thiết chế truyền tải văn hóa  Hệ thống tổ chức và quản lý văn hóa  Các hình thức sáng tạo văn hóa nghệ thuật  Các nhóm sáng tạo văn hóa nghệ thuật  Nguồn văn hóa được hưởng thụ  Các hình thức hưởng thụ nghệ thuật : thời gian, địa điểm, loại hình …  Các nguồn lực tại chỗ  Các nhóm xã hội liên quan tới công việc của dự án  Các mạnh thường quân. Việc phân tích tình hình có thể là một công việc phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian. Các dự án lớn thường tiến hành một cuộc nghiên cứu, có thể là điều tra định lượng, có thể là nghiên cứu định tính. Việc phân tích tình hình ở giai đoạn này có một ý nghĩa :  Phân tích tình hình giúp xác định bối cảnh hoạt động của dự án, hiểu biết về điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa, chính trị của CĐ.  Giúp CĐ nhận diện được những vấn đề ảnh hưởng tới người dân và thấy được nhu cầu cần phải được hành động để đem lại những thay đổi như mong muốn.  Tạo cơ hội ban đầu huy động người dân trong CĐ tham gia xác định những khó khăn và những vấn đề cần phải giải quyết, là cơ hội thúc đẩy sự hướng tới các hoạt động tập thể bên trong CĐ.  Cung cấp cơ sở dữ liệu xây dựng nội dung cũng như hoạt động giám sát, lượng giá tác động cuối cùng của dự án. 23 PDF created with pdfFactory trial version www.pdffactory.com

×