• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
HIV/AIDS tại VN
 

HIV/AIDS tại VN

on

  • 5,710 views

Báo cáo về HIV/AIDS tại VN

Báo cáo về HIV/AIDS tại VN

Statistics

Views

Total Views
5,710
Views on SlideShare
5,710
Embed Views
0

Actions

Likes
0
Downloads
216
Comments
3

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel

13 of 3 previous next Post a comment

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    HIV/AIDS tại VN HIV/AIDS tại VN Presentation Transcript

    • HIV/AIDS tại Việt Nam Báo cáo cuối cùng của Nhóm chuyên gia về HIV/AIDS thuộc Trung tâm CSIS trong chuyến công tác tại Việt Nam từ 8-13/1/2006 Nhóm trưởng Tommy G. Thompson Các tác giả chính J. Stephen Morrison Phillip Nieburg Tháng 6 năm 2006 (CSIS final Report) 1
    • Nội dung Phát hiện chính và Khuyến nghị 1 Lây truyền và Tác động của HIV/AIDS tại Việt Nam 9 Ứng phó của các nhà Lãnh đạo Việt Nam 15 Mở rộng sự tham gia của phía Hoa kỳ trong phòng chống HIV/AIDS 23 Ứng phó từ phía các tổ chức quốc tế 32 Phụ lục A: Danh sách các thành viên cúa đoàn đánh giá CSIS 36 Phụ lục B: Chương trình làm việc của đoàn đánh giá 37 Phụ lục C: Nguồn thông tin bổ sung về HIV/AIDS ở Việt Nam 39
    • HIV/AIDS tại Việt Nam Báo cáo cuối cùng của Nhóm chuyên gia về HIV/AIDS thuộc Trung tâm CSIS trong chuyến công tác tại Việt Nam từ 8- 13/1/2006 J.Stephen Morrison và Phillip Nieburg Phát hiện chính và Khuyến nghị Đoàn công tác của Trung tâm CSIS từ Việt Nam trở về với niềm lạc quan về khả năng khống chế thành công sự lây nhiễm HIV (virus làm suy giảm hệ miễn dịch ở người) và AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải). Song, niềm hy vọng này đã giảm đi khi nhìn nhận được rõ hơn về những trở ngại nghiêm trọng và mang tính đặc trưng mà cả Việt Nam lẫn các đối tác quốc tế đang phải đối mặt khi họ đang tập trung tăng cường, mở rộng các nỗ lực cho công cuộc phòng chống HIV/AIDS. Việt Nam có một số điều kiện thuận lợi để có thể tận dụng cho các cơ hội thành công của quốc gia trong cuộc chiến với HIV/AIDS. Để kiểm soát được dịch HIV, Việt Nam cần nhanh chóng tiếp tục huy động các nhà lãnh đạo, từng người dân, và các đối tác quốc tế tham gia vào một chiến lược lấy dự phòng làm trung tâm, nhằm giải quyết một cách sâu sắc và có hiệu quả các hành vi chủ yếu làm dịch gia tăng – đó là tiêm chích ma tuý, mại dâm nữ và tình dục đồng giới nam; cùng đồng thời dồn sức để triển khai trên quy mô lớn các hoạt động dự phòng nhằm vào đối tượng thanh niên cả ở khu vực thành thị lẫn nông thôn. Cho dù sẽ không thể thực hiện được một cách dễ dàng, nhưng cùng lúc, vẫn phải tăng cường mở rộng khả năng tiếp cận điều trị và chăm sóc có hiệu quả cho những người Việt Nam đang sống với HIV. Chiến lược toàn diện, song lấy phòng ngừa làm trung tâm sẽ đòi hỏi phải vượt qua một số trở ngại khá đáng kể, đó là: sự kỳ thị hiện diện khắp mọi nơi; hiện vẫn thiếu một kế hoạch quốc gia toàn diện về điều trị và phòng ngừa tiêm chích ma tuý; thiếu một khung pháp lý quốc gia và chế tài xử phạt nhằm hạn chế tình trạng phân biệt đối xử và đảm bảo bí mật riêng tư; các nhóm có hành vi nguy cơ cao chưa được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị; và tới lúc này, vẫn chưa đưa ra được những liệu pháp giúp người tiêm chích ma tuý chấm dứt tình trạng sử dụng ma tuý và phòng tránh lây nhiễm HIV. Các trở ngại này cùng với nhiều khó khăn khác đang ngăn cản những ứng phó có hiệu quả của chính phủ Việt Nam và các tổ chức quốc tế. Nếu Việt Nam có đủ quyết tâm, ý chí chính trị để vượt qua những trở ngại này, thì một chiến lược có trọng tâm rõ ràng sẽ thành công. Nếu không thì công cuộc phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam có thể rơi vào tình trạng lúng túng và dịch HIV/AIDS sẽ tiếp tục gia tăng một cách nhanh chóng. 1
    • 2 HIV/AIDS tại Việt Nam Tại sao một kết quả đầy hứa hẹn đang trong tầm tay của Việt Nam? Việt nam là một đất nước mang đầy tính năng động, tràn ngập nguồn hy vọng và làm chủ các sức mạnh về cơ cấu thể chế; những điều này tạo cho Việt Nam có được cơ hội rất đặc biệt. Một đất nước đang trên đà phát triển cả về kinh tế, chính trị, xã hội và ngày càng tự tin vào khả năng của chính mình để hoàn thành và duy trì những tiến bộ to lớn. Việt Nam đang có trong tay một hệ thống y tế mạnh hơn rất nhiều so với các quốc gia khác đã bị tác động nặng nề bởi đại dịch HIV/AIDS. Việt Nam đã tỏ rõ khả năng của mình với tòan thế giới bằng việc khống chế được hội chứng viêm đường hô hấp cấp (SARS) vào năm 2003 và khả năng ứng phó với nguy cơ của dịch cúm gia cầm diễn ra đầu năm 2004 và bùng phát trở lại vào năm 2005 và 2006. Để khống chế được đại dịch HIV/AIDS, Việt nam đã huy động sự tham gia của các tổ chức quần chúng (như Hội Phụ nữ; Đoàn Thanh niên) có hệ thống tổ chức gắn liền với các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời có chân rết hoạt động ở các tuyến cơ sở. Hơn nữa, các tổ chức phi chính phủ như Hội Phật giáo hiện đang có những đóng góp rất quan trọng cho các nỗ lực về phòng chống HIV/AIDS. Tập hợp bên nhau, các tổ chức đoàn thể địa phương này nắm giữ những tiềm năng to lớn cho công cuộc phòng chống HIV/AIDS, nếu như các tổ chức này có được đầy đủ các nguồn lực và chỉ đạo, hướng dẫn. Dưới góc độ của y tế công, dịch HIV/AIDS ở Việt Nam hiện vẫn ở giai đoạn tập trung- chưa trở thành dịch lan tràn – tức là tỷ lệ nhiễm vẫn trong vòng kiểm soát được. Với những điều kiện như vậy, các nỗ lực tập trung một cách cao độ vào công tác dự phòng HIV có thể ngăn chặn tình trạng lây truyền của bệnh dịch này. Ba nhóm hành vi nguy cơ cao, đó là những người sử dụng ma tuý, những người hành nghề mại dâm (và khách hàng của họ), và nam quan hệ đồng tính, chiếm tỉ lệ lớn trong số 265,000 người Việt Nam sống với HIV hiện nay. Chính những nhóm này, cùng với các bạn tình của họ, hiện đang trực tiếp có nguy cơ cao nhất làm lây lan HIV. Xét về phương diện chính trị trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội và chính phủ gần đây đã quan tâm một cách rất nghiêm túc tới tình hình dịch, bằng việc đưa ra chiến lược quốc gia phòng chống AIDS vào năm 2004 và mở rộng phạm vi cho các sáng kiến và hoạt động phòng chống HIV, bao gồm việc cho phép thành lập hiệp hội của những người sống với HIV/AIDS. Năm 2006 là thời điểm quyết định đối với Việt Nam. Việc chuyển giao vai trò lãnh đạo giữa các thế hệ đang được diễn ra, điều này có thể sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn ở Đại hội Đảng toàn quốc trong năm 2006. Một đạo luật mới về HIV/AIDS hy vọng sẽ được Quốc hội thông qua. Tháng 11/2006, lần đầu tiên Việt Nam sẽ là nước chủ nhà tổ chức Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (viết tắt là APEC), tại hội nghị này vấn đề các bệnh truyền nhiễm sẽ có thể được coi là một trong những vấn đề quan tâm ưu tiên của khu vực và các nhà lãnh đạo Việt nam sẽ tổ chức một diễn đàn trao đổi. Một bộ phận không thể không bàn tới, đó là những người tiêm chích ma tuý có nhiễm HIV đang tập trung tại các trung tâm điều trị cai nghiện phục hồi và vì thế có thể tiếp cận được (các trung tâm này được gọi là trung tâm 06; Trung tâm có tên gọi 05 dành cho nữ hành nghề mại dâm). Trong số những người hiện đang tập trung trong các trung tâm này, phần đông đã nhiễm HIV- kể cả một số người đang chuyển sang AIDS, dự kiến
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 3 sẽ được trở về cộng đồng trong năm 2006. Chính phủ hiện đang chịu sức ép rất lớn trong việc hướng dẫn làm thế nào để những người này có thể hoà nhập được với cộng đồng khi được trả về, tránh tình trạng tái nghiện và quay trở lại hành nghề mại dâm, đồng thời nhận được đầy đủ các dịch vụ cho người tiêm chích ma túy và HIV/AIDS. Đến nay, mới có được một phần các câu trả lời. Nếu thách thức khẩn cấp này có thể giải quyết được một cách hiệu quả trong năm 2006, thì mới có được các đối tác mới và các mô hình mới để tiếp cận và chăm sóc cho nhóm đối tượng này. Nếu giải quyết không tốt thách thức này, hậu quả thất bại có thể sẽ kéo lùi các nỗ lực của chính phủ Việt nam và cộng đồng quốc tế trong việc làm giảm tốc độ lây truyền HIV/AIDS ở Việt Nam, và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình tượng của Việt Nam trên trường quốc tế. Về lĩnh vực hợp tác quốc tế, các nhà tài trợ hiện đang đẩy mạnh hợp tác, gia tăng các nguồn lực từ 5 triệu USD/năm trong năm 2000 lên tới hơn 50 triệu USD/năm trong năm 2006, và đang xây dựng các quan hệ đối tác mới với chính phủ, các tổ chức quần chúng và các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam. Với tình hình này, không đủ kinh phí sẽ không còn là trở ngại đối với hoạt động dự phòng HIV có hiệu quả. Mặc dù chăm sóc và điều trị AIDS có tương đối đắt hơn, nhưng với nguồn kinh phí tài trợ hiện tại và số dự kiến trong thời gian tới vẫn cho phép đạt được độ bao phủ tương đối cao số người được điều trị AIDS, như vậy dự phòng có hiệu quả có thể sớm làm chậm tốc độ lây truyền của HIV. Vào giữa năm 2004, Hoa kỳ đã đề cử Việt Nam là quốc gia thứ 15, nhận hỗ trợ từ Kế hoạch Cứu trợ Khẩn cấp phòng chống AIDS của Tổng thống Mỹ (PEPFAR). Kể từ đó, Hoa kỳ đã đóng góp vai trò lãnh đạo của mình trong công tác phòng chống HIV/AIDS, khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ hơn nữa của các nhà tài trợ khác, và tạo ra hy vọng mới, bền vững cho Việt nam, cho các tổ chức quốc tế và các đối tác thực hiện. Các đối tác quốc tế đã cải tiến hoạt động điều phối của mình tại Việt Nam, và trong số đó, hiện Hoa kỳ đang đảm nhận tiềm năng to lớn và trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo. Tại sao vẫn tồn tại những điều lo ngại? Hiện vẫn còn khá nhiều việc cần phải được giải quyết cấp bách, nhằm cải thiện những cản trở để đảm bảo sự thành công. Niềm lạc quan của Đoàn chuyên gia đánh giá của Trung tâm CSIS về những tiềm năng của Việt Nam cho sự thành công đã bị giảm đi trước những quan ngại về nhịp độ tiến triển và mức độ tập trung của các ứng phó hiện nay của Việt Nam cho công tác phòng chống HIV/AIDS và các vấn đề liên quan khác. Mặc dù gần đây có thu được những kết quả đầy triển vọng, nhưng các phương pháp giải quyết do chính phủ Việt Nam, Hoa kỳ và các nhà tài trợ khác tiến hành vẫn chưa phải là một cách làm mang tính toàn diện và chiến lược, đúng tầm như nó cần phải có nhằm đạt được và duy trì khả năng kiểm soát mức độ lây lan cùng các tác động của HIV/AIDS. Vai trò của lãnh đạo cấp cao và công việc giám sát của các cấp này không được liên tục. Những rào cản về văn hoá và chính trị đang gây trở ngại cho các hành động có hiệu quả cần phải được khắc phục một cách có hệ thống. Vi trí trung tâm của các nhà lãnh đạo Việt Nam “Chương trình 3 giảm” của Việt Nam coi sử dụng ma tuý và mại dâm là hai trong số “ba tệ nạn” (tội phạm là tệ nạn thứ 3). Trong những năm gần đây, Chiến dịch này đã làm trầm
    • 4 HIV/AIDS tại Việt Nam trọng hơn tình trạng kỳ thị vốn đã vây bọc nặng nề xung quanh những người được xếp vào các nhóm nguy cơ này, kể cả những người sống với HIV và những người bị ảnh hưởng. Trong một bối cảnh như vậy, nhưng các nhà tài trợ vẫn còn do dự và chỉ bước những bước nửa vời trong việc cố gắng tiếp cận các nhóm đối tượng chính này bằng các phương pháp có hiệu quả nhất. Kỳ thị rõ ràng là cản trở to lớn nhất và đòi hỏi phải có sự tham gia của các nhà lãnh đạo cấp cao, cùng với những chuyển đổi cơ bản về thái độ và văn hoá, để sao cho cả những người đã nhiễm HIV và những người chưa nhiễm trong các nhóm có hành vi nguy cơ cao, thay vì bị đối xử như những người bị xã hội bỏ rơi, sẽ nhận được những tấm lòng thương cảm và các can thiệp cần thiết của ngành y tế.1 Ở cấp độ chính trị của quốc gia, Việt Nam đang có một số các cải cách về chính sách và luật pháp, hiện nay hoặc đang bị trì hoãn hoặc chưa được hoàn thiện. Điều đáng kể nhất, là vấn đề quyền tự do của công dân, vẫn còn thiếu một chiến lược về việc chuyển giao các học viên từ các trung tâm cai nghiện phục hồi trở về quê hương bản quán của họ, và sáng tạo ra các chương trình với các phương pháp có hiệu quả nhằm cùng lúc giải quyết tình trạng nghiện ma tuý và HIV/AIDS. Các nỗ lực về dự phòng lây nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma tuý cần phải tiến hành ngay ở trong cả các trung tâm cai nghiện phục hồi. Các chương trình phân phát bơm kim tiêm hiện được triển khai rất hạn chế, chủ yếu thông qua các chương trình hỗ trợ kinh phí của quốc tế. Các chương trình có hiệu quả về điều trị cai nghiện dựa vào cộng đồng (ví dụ: điều trị thay thế bằng Methadone và Buprenorphine) chưa được triển khai, mặc dù dịch HIV ở Việt Nam hiện đang tập trung ở những người tiêm chích herôin. Nhiều người nhiễm HIV cần được điều trị cai nghiện, được chăm sóc và điều trị HIV, được tuyên truyền giáo dục và tiếp cận với bao cao su để tránh lây truyền HIV cho vợ/chồng hoặc bạn tình. Việt Nam hoàn toàn có cơ hội để thể hiện sự ứng trả thực sự mang tính lồng ghép nhằm chống lại nạn dịch kép này (tiêm chích ma túy và nhiễm HIV), ấy vậy mà lại có thông báo về hoãn triển khai thí điểm các chương trình Methadone. Vị trí trung tâm của các lựa chọn của Hoa kỳ Chính bản thân phía Hoa kỳ, ở Việt nam cũng như các nước khác, cũng chưa chấp nhận hoàn toàn và rõ ràng về việc làm thế nào để giảm thiểu một cách tốt nhất nguy cơ lây nhiễm HIV và các nhiễm trùng khác (như viêm gan C) ở những người tiêm chích ma tuý. Xét đoán trên cách phân bổ nguồn lực, thì cách tiếp cận của Hoa kỳ tại các quốc gia châu Phi có tỉ lệ hiện nhiễm cao, dịch ở mức độ phổ biến là đã và vẫn duy trì trọng tâm vào chăm sóc và điều trị tích cực. Các nỗ lực về dự phòng ở các quốc gia này được trải rộng khắp trong toàn xã hội, và phương pháp dự phòng chủ yếu theo phương thức A-B-C (Kiêng sinh hoạt tình dục – Chung thủy - Bao cao su). Việt Nam cần có một cách tiếp cận dự phòng tích cực với trọng tâm khác, nhằm giải quyết thành công các hành vi nằm trong tâm điểm của dịch - đó là các hành vi tiêm chích ma túy, mại dâm nữ, và tình dục đồng giới nam. Những nỗ lực nhằm đáp ứng các đòi hỏi này đã bắt đầu, nhưng còn ở quy mô 1 Thành viên của đoàn đánh giá đã nhiều lần nghe nói về kỳ thị, đôi khi cũng giống như một số nước khác, ở Việt Nam, kỳ thị với người nhiễm HIV thậm chí vẫn tồn tại ngay trong đội ngũ nhân viên y tế.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 5 hạn chế, thiếu tính mạnh mẽ, thiếu tính mềm dẻo và cần được tăng cường mở rộng. Vẫn tồn tại một tình trạng quá dè dặt và rất e ngại khi trực tiếp khắc phục – thậm chí ngay cả khi vận động để Việt nam giải quyết - những thách thức xã hội khó khăn và rất phức tạp này. Phương pháp Hoa kỳ hiện đang tiến hành ở Việt Nam về phòng chống HIV/AIDS có đặc tính là nhiều chương trình. Tuy nhiên, có thể từng chương trình này vẫn đạt được những hiệu quả đơn lẻ, nhưng vẫn cần có một chiến lược tổng thể để giải quyết một cách có hiệu quả các cấu trúc hình thành nên dịch HIV/AIDS. Việc xác định các vấn đề ưu tiên vẫn chưa được điều phối rõ ràng giữa Cơ quan Điều phối về Phòng chống AIDS Toàn cầu của Mỹ tại Washington với Phái đoàn Mỹ tại Việt Nam. Việc lựa chọn các chương trình trong nước càng bị hạn chế do những quy định của Washington. Ví dụ: có quy định hạn chế mỗi tổ chức không được nhận tài trợ vuợt quá 10% tổng kinh phí của Hoa kỳ dành cho nước đó, dẫn đến tổng chi phí hành chính cao và vượt quá yêu cầu về điều phối nội bộ. Dẫn ra một ví dụ khác, đó là điều khoản về việc các tổ chức phi chính phủ đã ký hợp đồng thực hiện nguồn kinh phí hỗ trợ của Hoa kỳ, phải công khai tuyên bố rằng họ phản đối các hoạt động mại dâm. Điều này đã tạo ra những phản ứng ở Việt Nam, vì cho rằng làm như vậy sẽ giảm khả năng hỗ trợ của Hoa kỳ trong việc giải quyết một thực tế là HIV lây truyền qua các hoạt động mại dâm nữ. Cần có một nỗ lực được điều phối thống nhất nhằm mở rộng hơn nữa hoạt động điều trị với giá cả hợp lý cho người dân, bao gồm cả các thuốc điều trị kháng virus (ARV). Một sự chậm chễ lớn xảy ra trong việc cung ứng các thuốc điều trị chính và các sản phẩm quan trọng khác có ảnh hưởng đến uy tín của phía Mỹ. Tính đến thời điểm tháng 1/2006 khi Đoàn công tác đến Việt nam, các cơ sở sản xuất dược phẩm ở Việt nam vẫn chưa xin được giấy phép sản xuất thuốc ARV do Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa kỳ (FDA) cấp. Trong khi một hệ thống mới về quản lý dây chuyền cung cấp thuốc có thể làm gia tăng khả năng tiếp cận với sản phẩm thuốc với giá rẻ được FDA cho phép, nhưng các chương trình hiện tại của Mỹ vẫn chỉ dựa vào các sản phẩm chính hiệu với giá thành rất cao. Dưới goc độ tính bền vững của nguồn kinh phí, các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện lo ngại về việc liệu Hoa kỳ có cam kết tiếp tục hỗ trợ lâu dài cho các nỗ lực phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam hay không, khi ở giai đoạn đầu của PEPFAR, phía Mỹ cam kết hỗ trợ tới tháng 9/2008. Chừng nào còn phải chờ đợi Quốc hội Mỹ thông qua luật điều chỉnh chương trình PEPFAR, thì chưa có gì đảm bảo cho những cam kết đó, trong khi đó Chính phủ Việt Nam lại không nắm được quá trình này. Về vấn đề này, phía Mỹ cần phải có cách làm thống nhất và rõ ràng hơn. Vai trò quan trọng của Liên hợp quốc UNAIDS đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc điều phối các nhà tài trợ và các tổ chức quốc tế cho các hoạt động vận động chính sách và hỗ trợ kỹ thuật cho các ban của Đảng, Chính phủ và các cơ quan khác. Đại diện các cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam đã có những cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng, lãnh đạo của các bộ ngành, và Chính phủ Việt Nam chủ động tìm kiếm những ý kiến đóng góp, tư vấn về chính sách, những văn bản hướng dẫn và các nghị định thư về HIV/AIDS từ phía các tổ chức LHQ. Thông qua chương trình PEPFAR, Hoa kỳ đã bắt đầu tài trợ cho một số
    • 6 HIV/AIDS tại Việt Nam chương trình của LHQ, và kết quả cho thấy sự hứa hẹn đáng kể. Cần xem xét nghiêm túc để mở rộng các nỗ lực này trong tương lai. Hiện tại, vẫn chưa có đủ sự nhất trí chung về các vấn đề ưu tiên mang tính chiến lược và trách nhiệm của các nhà tài trợ, và Việt nam cũng chưa có một kế hoạch chiến lược riêng của quốc gia cho việc điều phối và phân bổ các nguồn lực. Đây là hai lĩnh vực quan trọng mà mối quan hệ đối tác giữa các tổ chức LHQ và Hoa kỳ tới đây cần tập trung. Tóm lại, mặc dù kinh phí phòng chống HIV/AIDS đã tăng gấp 10 lần so với năm 2000 do việc phối kết hợp giữa nguồn lực trong nước và quốc tế, nhưng hiện tại vẫn chưa có một kế hoạch hành động với các mục tiêu được xác định rõ ràng nhằm thống nhất vai trò lãnh đạo và các chương trình của Việt Nam, Hoa kỳ, các tổ chức LHQ và các nhà tài trợ khác. Do đó, vẫn còn những khoảng trống quan trọng về hàng loạt vấn đề như: vai trò lãnh đạo, tầm nhìn, việc sửa đổi, và điều phối; nhận thức không đầy đủ về tính cấp bách của dịch, và chưa có trọng tâm rõ ràng, mang tính chiến lược về những can thiệp cốt yếu về dự phòng, điều trị và chăm sóc để có thể giải quyết một cách toàn diện vấn đề về hành vi nguy cơ cao do tiêm chích ma túy, mại dâm và tình dục đồng giới nam. Cần có những thay đổi cơ bản nào để đạt được thành công? Đối với Việt Nam, điều quan trọng là các nhà lãnh đạo chính trị cấp cao và quan chức các bộ ngành cần trực tiếp tham gia nhiều hơn nữa vào việc xác định một tầm nhìn cho tương lai để kiểm sóat được HIV/AIDS; tham gia hơn nữa vào việc giải quyết những vấn đề khó khăn về mặt chính sách, và chỉ đạo một phương thức phối hợp đa ngành thực sự về phòng chống HIV/AIDS. Chỉ các nhà lãnh đạo quốc gia ở cấp cao mới có thể đương đầu một cách có hiệu quả với tình trạng kỳ thị nặng nề đang vây quanh HIV/AIDS và các hành vi nguy cơ cao hiện đang ở trung tâm của đại dịch, đó là tiêm chích ma tuý, mại dâm nữ và tình dục đồng giới nam. Giải quyết được thành công tình trạng tiêm chích ma tuý sẽ đòi hỏi giải quyết hài hòa giữa các mục tiêu về an ninh xã hội với các dịch vụ mang tính nhân đạo về cai nghiện phục hồi, áp dụng các liệu pháp điều trị thay thế, và đưa các dịch vụ trực tuyến về dự phòng HIV và chăm sóc bệnh nhân AIDS và người sử dụng ma tuý đã được minh chứng ở một số nơi nhằm giảm thiểu tình trạng lây truyền HIV. Giải quyết một cách thành công vấn đề mại dâm nữ sẽ đòi hỏi xây dựng một chương trình toàn diện nhằm giảm số phụ nữ mại dâm mới và tăng khả năng tiếp cận có hiệu quả với bao cao su, và để những người phụ nữ có đủ sức mạnh trong việc kiên quyết sử dụng bao cao su cần có các hoạt động tăng quyền lực cho phụ nữ để họ từ bỏ mại dâm, và cuối cùng là phải giảm cầu với các dịch vụ mại dâm. Những chuyển đổi này đòi hỏi các hoạt động tuyên truyền, truyền thông rõ ràng từ phía các nhà lãnh đạo đến người dân Việt Nam, cùng với các cải cách về chính sách và luật pháp, nhằm tăng cường các quyền của cả cá nhân và các nhóm của những người sống chung với HIV đang được thành lập ngày càng nhiều. Những chuyển đổi này cần phải có những bước đi cụ thể, bắt đầu bằng việc giải quyết vấn đề chưa được nhất quán giữa mục đích của y tế công cộng và an ninh xã hội.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 7 Những chuyển đổi này cũng đòi hỏi phải có những bước đi cụ thể, nhằm làm rõ cách quản lý của các trung tâm giáo dục phục hồi cho những người tiêm chích ma tuý và hành nghề mại dâm như thế nào để vẫn đảm bảo được các quyền cả về tính nhạy cảm và hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề y tế công cộng liên quan đến tiêm chích ma tuý và HIV/AIDS. Các giải pháp cần phải được nêu rõ trong một kế hoạch đáng tin cậy về dự phòng lây nhiễm HIV trong các trung tâm này, điều trị những học viên đã nhiễm HIV khi họ vào trung tâm, và cuối cùng là đưa những học viên mãn hạn trở về với cuộc sống mới ít nguy cơ hơn ở bên ngoài trung tâm. Đối với Hoa kỳ, điều quan trọng là cần nhanh chóng phát huy những kết quả ban đầu bằng việc đi tiên phong với một cách làm mạnh mẽ hơn và toàn diện hơn. Một cách làm rộng mở hơn ấy sẽ đòi hỏi phía Mỹ phải khẳng định rõ với đối tác Việt nam và các đối tác quốc tế về các cam kết lâu dài cho việc duy trì sự tham gia của Hoa kỳ vào việc khống chế sự lây truyền HIV ở Việt nam bằng các nỗ lực dự phòng có hiệu quả, đồng thời chú trọng vào các chương trình điều trị và chăm sóc, nhưng không sao nhãng tầm quan trong của các hoạt động dự phòng. Tuy nhiên, để có hiệu quả, cốt yếu là phải nhằm vào các hành vi nguy cơ cao, đó là tiêm chích ma tuý, mại dâm nữ và tình dục đồng giới nam, với các can thiệp được mở rộng và có mục tiêu rõ ràng về dự phòng, chăm sóc và điều trị là trọng tâm chiến lược của Mỹ. Thực hiện trọng tâm này sẽ đòi hỏi phải vượt qua được tình trạng quá câu nệ, đắn đo và mất quá nhiều thời gian thảo luận để đạt được thỏa thuận về cách làm đối với các đối tác quốc tế cũng như với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Thành công đòi hỏi phải có cam kết rõ ràng về việc giúp đỡ Việt nam tiếp cận với nhóm có hành vi nguy cơ cao, trong đó có việc đáp ứng nhu cầu về tính nhân đạo của những học viên ở trong các trung tâm giáo dục, cai nghiện phục hồi, và tạo ra dịch vụ mang tính xã hội và cộng đồng có hiệu quả, cùng các chiến lược tái hoà nhập cộng đồng nhằm giúp những học viên này khi trở về có được cơ hội cuộc sống tốt hơn trong khi vẫn đảm bảo cho họ tiếp cận đầy đủ các dịch vụ chăm sóc, điều trị và dự phòng. Thành công còn đòi hỏi phải tăng cường việc cung ứng đầy đủ lượng thuốc ARV cơ bản với giá cả phù hợp với người dân cùng các loại thuốc điều trị thiết yếu khác. Việc này sẽ yêu cầu phải làm việc với các nhà sản xuất thuốc của Việt Nam về cơ chế phê duyệt nhanh do FDA mới đưa ra. Ví dụ như chính phủ Mỹ nên cử một nhóm FDA đến Việt Nam để giải thích và hỗ trợ cho quá trình này, tương tự như nhóm của FDA đã được cử đến Ấn độ và Nam Phi khi các nước đó bắt tay vào quá trình này. Thành công cũng đòi hỏi làm việc một cách có hiệu quả và chính thức để điều phối các hoạt động của phía Mỹ cho các hoạt động với các cơ quan, tổ chức của Việt nam và các tổ chức khác về chủ trương “Ba một” – có một cơ quan quốc gia điều phối các hoạt động phòng chống HIV/AIDS; có một kế hoạch chiến lược quốc gia, và có một hệ thống giám sát/đánh giá. Thành công ở lĩnh vực này sẽ còn phụ thuộc vào sự tham gia mạnh mẽ với hệ thống LHQ ở Việt Nam, hiện đang đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động này. Và cuối cùng, thành công còn đòi hỏi việc xây dựng một cơ chế ra quyết định có hiệu quả hơn nữa từ phía Mỹ, đặt trọng tâm vào các nhu cầu tại Việt Nam. Điểm cuối cùng này có thể thực hiện được bằng việc lập kế hoạch dài hạn hơn của phía Hoa kỳ và tạo ra sự linh hoạt hơn từ phía Mỹ để thích ứng với tình hình thực tiễn
    • 8 HIV/AIDS tại Việt Nam của địa phương. Một số yêu cầu hiện nay, rõ ràng đã đặt đối với các quốc gia có tỉ lệ hiện nhiễm cao và chịu tác động nặng nề của HIV, đang là các trở ngại đối với khả năng giúp đỡ của Mỹ để Việt Nam có thể xây dựng các chương trình phòng chống HIV có hiệu quả hoặc giảm mức độ lây truyền của HIV. Những cản trở đối với các khả năng thành công này sẽ tăng lên, nếu quyền ra quyết định được trao cho điều phối viên cấp cao đóng tại Phái đoàn ngoại giao Hoa kỳ tại Việt Nam,2 và nếu giải quyết được tình trạng bế tắc xung quanh vấn đề phân phát bao cao su, vốn nảy sinh do việc tin rằng những lời tuyên bố chống lại mại dâm sẽ ngăn cản việc phân phát bao cao su cho những người bán dâm và khách hàng mua dâm. 2 Bước này đã được nhất trí kể từ tháng 1/2006 khi đoàn CSIS thăm Việt Nam.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 9 Lây truyền và Tác động của HIV/AIDS tại Việt Nam Lây truyền của HIV/AIDS Dịch HIV ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tập trung, chủ yếu trong các nhóm hành vi nguy cơ cao, nhưng rõ ràng dịch đang bước sang giai đoạn gia tăng nhanh chóng. Do còn đang ở giai đoạn đầu của dịch, hàng năm số người nhiễm nhiều hơn số người tử vong, nên tỷ lệ hiện nhiễm vẫn tiếp tục gia tăng. Song, Việt Nam hiện đang có một cơ hội đặc biệt để có thể nhanh chóng áp dụng và mở rộng các hoạt động can thiệp về dự phòng có hiệu quả nhằm hạn chế và giảm mức độ lây lan của HIV. Nếu các chương trình dự phòng có hiệu quả không được nhanh chóng triển khai, có thể sẽ xuất hiện vụ dịch lớn hơn. Trong số các nước đang phát triển, hệ thống giám sát dịch của Việt Nam được coi là một trong những hệ thống giám sát mạnh nhất và đáng tin cậy nhất. Tuy nhiên, còn tồn tại những ẩn số chưa xác định được, đã làm cho việc đánh giá mức độ lây lan và tác động của HIV/AIDS thêm phần khó khăn, và gây cản trở cho việc xây dựng các chương trình dự phòng có hiệu quả. Năm 1990, Bộ Y tế báo cáo ca nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam. Từ đó đến nay, con số người Việt Nam được báo cáo nhiễm HIV đã tăng lên đến hơn 102.0003 người. Tuy nhiên, các ca nhiễm được báo cáo mới chỉ thể hiện được chưa tới một phần hai con số những người sống với HIV/AIDS tại Việt Nam. Bộ Y tế ước tính năm 2003, cả nước có vào khoảng 215.000 người nhiễm HIV, theo đó tỷ lệ hiện nhiễm ở người lớn (15-49 tuổi) là 0,44%.4 Báo cáo này cũng ước tính rằng mỗi năm Việt Nam có 39.000 ca nhiễm mới, con số này cũng xấp xỉ với số ước tính 40.000 ca nhiễm mới hàng năm của Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ.5 Căn cứ vào các số liệu ước tính này, hiện tại, Việt Nam có hơn 300,000 người đang sống với HIV. Mức độ nghiêm trọng của dịch tại Việt Nam có sự khác nhau rất lớn giữa các tỉnh, thành phố. Tỷ lệ hiện nhiễm ở thành phố Hồ Chí Minh (1,2%), Hà Nội (0,7%), Hải Phòng (1,1%), và một số khu vực thành thị khác là tương đối cao, trong khi tỷ lệ này ở các tỉnh miền Trung vẫn còn ở mức độ thấp. Riêng thành phố Hồ Chí Minh đã báo cáo số nhiễm chiếm tới 1/4 tổng số người nhiễm HIV tại Việt Nam hiện nay. Nạn dịch sử dụng ma túy đang tiếp tục gia tăng một cách đáng lo ngại và hiện tại số lượng người sử dụng ma túy ước tính khỏang từ 128.000 đến 183.000, đang tiếp tục gia tăng. Mặc dù không có nhiều số liệu, nhưng tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma túy hiện đang 3 Báo cáo Quốc gia lần thứ hai về Thực hiện Tuyên bố Cam kết về Phòng Chống HIV/AIDS, được thông qua tại kỳ họp lần thứ 26 tại Phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (UNGASS) ( Hà nội, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tháng 1/2006) trang 4. 4 Theo tài liệu của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tháng 12/2005, được công bố trên mạng vào tháng 3/2006, ước tính tỷ lệ hiện nhiễm trong năm 2005 là 0,5% dựa vào quot;các ước tính của quốc giaquot;. Xem thêm quot; Tóm tắt của Quốc gia về việc Tăng cường, Mở rộng công tác Điều trị HIV/AIDSquot;, WHO, Geneva http://www.who.int/hiv/countries/ en/index1.html. 5 Một báo cáo trong năm 2005 của Bộ Y tế về tình hình dich HIV tại Việt Nam trong thời gian tới đã ước tính rằng nếu không có các chương trình dự phòng HIV mạnh mẽ hơn nữa, thì hàng năm sẽ có khoảng 40.000 bị nhiễm HIV (mắc mới) đưa đến ước tính số ca nhiễm HIV tại Việt Nam tính đến cuối 2006 sẽ là 319.000 người. Báo cáo này cũng đã cảnh báo rằng các số lượng người bị mắc các bệnh liên quan đến AIDS và số ca tử vong do AIDS sẽ tăng lên rất nhanh trong những năm tới, và HIV sẽ lây lan nhanh hơn qua con đường mại dâm và từ chồng truyền sang cho vợ (hoặc các quan hệ tình dục khác giới).
    • 10 HIV/AIDS tại Việt Nam tập trung trong các trung tâm cai nghiện phục hồi được ước tính khỏang từ 50% đến 70%, và một số đã chuyển sang AIDS. Những con số này làm tăng thêm việc khẩn thiết phải giải quyết một cách toàn diện tình trạng nhiễm HIV/AIDS và tiêm chích ma túy. Một nhóm khác cũng rất cần phải quan tâm, đó là những phụ nữ hành nghề mại dâm. Mặc dù, mại dâm nữ chỉ chiếm 3% tổng số các ca nhiễm đã được báo cáo trong các số liệu giám sát gần đây, nhưng tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm này gia tăng đột ngột từ cuối những năm 90 lên đến 6,5% trên tòan quốc, và ở một số tỉnh thành con số còn cao hơn. Hơn nữa, tỷ lệ phụ nữ thừa nhận có tham gia vào hành nghề mại dâm đã tăng lên 10 lần từ 1994 - 2001, đồng thời gia tăng số lượng nữ mại dâm có tiêm chích ma túy. Các số liệu gần đây cho thấy con số nhiễm HIV đang gia tăng ở những phụ nữ không thuộc các nhóm có hành vi nguy cơ cao. Điều này cũng không ngạc nhiên khi số trẻ bị nhiễm HIV do mẹ truyền sang cũng đã bắt đầu gia tăng. Sự gia tăng này có thể được giải thích là nhiều phụ nữ trong số mới bị nhiễm này là bạn tình (hoặc vợ) của những nam giới tiêm chích ma túy, hoặc những người đàn ông là khách mua dâm, hay là những người có quan hệ tình dục đồng giới nam (nam tình dục đồng giới, có nhiều người quan hệ tình dục với cả hai giới). Mặc dù xu hướng lây truyền này và một số các xu hướng khác đã thể hiện rất rõ, nhưng vẫn còn một số thiếu hụt quan trọng trong việc đánh giá mức độ nghiêm trọng và tình trạng lây lan của HIV. Ví dụ: hơn 1/3 số người nhiễm được báo cáo trong hệ thống giám sát, bao gồm giám sát về nguồn máu, bệnh nhân lao, và quot;nghi bị AIDSquot;, đều không chỉ rõ nguồn lây. Không có phân loại giám sát về: nam tình dục đồng giới, khách hàng nam giới mua dâm từ gái mại dâm, hoặc phụ nữ là bạn tình của những người tiêm chích ma túy.6 Những thiếu hụt này đã làm hạn chế việc sử dụng một cách hữu ích các số liệu giám sát này trong quá trình lập kế hoạch cho chương trình dự phòng HIV, hoặc đánh giá chương trình. Với sự giúp đỡ của chính phủ Hoa Kỳ, trong những năm gần Việt Nam đã tạo ra được những bước tiến quan trọng về việc xây dựng các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV; tính đến đầu năm 2006, có tới 60 cơ sở đã đi vào hoạt động. Nhiều cơ sở tư vấn xét nghiệm này đã liên kết với các chương trình giáo dục đồng đẳng và có khả năng tập trung cung cấp dịch vụ cho các nhóm có nguy cơ cao như: những người tiêm chích ma túy (IDU), phụ nữ mại dâm (FSW) và nam tình dục đồng giới (MSM). Việc triển khai mở rộng các dịch vụ này thật đáng biểu dương, tuy vậy, các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV vẫn chưa tiếp cận được đại bộ phận dân chúng của Việt Nam. Các nhân tố liên quan đến các hành vi nguy cơ khác Một số hành vi nguy cơ chủ yếu làm lây truyền HIV (ví dụ như: tiêm chích ma túy, mại dâm nữ, tình dục đồng giới nam) đã không được đánh giá một cách hệ thống và xác thực; một phần là do những hành vi này bị coi là tội phạm và/ hoặc bị kỳ thị nặng nề. Tuy vậy, vẫn có một vài số liệu hạn chế về vấn đề này. Ví dụ cuộc Điều 6 Ngày càng tăng số lượng các quốc gia đưa việc phân loại các nhóm nam tình dục đồng giới, nữ mại dâm , bạn tình của người tiêm chích ma túy là các hành vi nguy cơ.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 11 tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam7 gần đây đã báo cáo rằng phần lớn thanh niên Việt Nam đã nhận biết được về các nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS. Tuy nhiên, cuộc điều tra cũng đã cho thấy tính chính xác của những hiểu biết về cách làm thế nào để phòng lây nhiễm HIV trong thanh niên vẫn còn ở mức độ thấp. Hơn nữa, trên 21% nam thanh niên được phỏng vấn đã thừa nhận có ít nhất một lần quan hệ tình dục với gái mại dâm. Nhìn chung, ngòai một số ít các chương trình thí điểm, thì việc đưa HIV/AIDS vào các chương trình giáo dục ở nhà trường mới chỉ đến được rất ít học sinh phổ thông, còn tính hiệu quả của công tác này vẫn còn là một ẩn số tại Việt Nam. Nhóm những người tiêm chích ma túy, phần lớn là hêrôin, có số nhiễm HIV cao nhất tại Việt Nam (53% các ca nhiễm được báo cáo là từ những người tiêm chích ma túy). Giống như Thái lan và Trung Quốc, tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma túy bắt đầu tăng lên một cách đột ngột ở Việt Nam vào cuối những năm 90 và hiện nay đã vượt quá 70% tại một số nơi. Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đang tiến hành cuộc điều tra lồng ghép giữa giám sát dịch tễ và giám sát hành vi (viết tắt tiếng Anh là IBBS) nhằm đưa ra được thông tin đầy đủ hơn về các chiều hướng có liên quan đến các kiến thức, hiểu biết về HIV/AIDS và các hành vi nguy cơ. Hơn thế nữa, IBBS có nhiều khả năng sẽ trở thành một phần quan trọng, bổ sung cho hệ thống giám sát huyết thanh về HIV/AIDS. Tác động của HIV/AIDS HIV đã thực sự gây ra các tác động đáng kể cho Việt Nam. Tính đến 2003, ước tính đã có khoảng 30.000 ca tử vong có liên quan đến AIDS; theo số liệu được công bố của năm trước, số người tử vong vì căn bệnh này tăng lên nhiều hơn kể từ 2003. Số bệnh nhân AIDS đến điều trị tại bệnh viện ở hầu hết các vùng đô thị của Việt Nam đang tăng lên một cách đáng lưu tâm. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có số liệu thực tế hoặc tỷ lệ các gường bệnh tại bệnh viện hoặc cơ sở y tế dành cho điều trị AIDS- số liệu này có thể giúp ước tính được mức độ nghiêm trọng của HIV/AIDS hiện đang gây ra gánh nặng cho hệ thống y tế như thế nào. Ước tính số người được điều trị liệu pháp kháng virut tích cực bằng việc phối hợp của nhiều loại thuốc (HAART) vẫn còn thấp, trong thời gian Đoàn CSIS tới thăm, con số này vào khoảng 1.000 người.8 Tuy nhiên, số lượng các chương trình HAART và số bệnh nhân được điều trị tại các chương trình này triển vọng sẽ được tăng lên nhanh chóng trong 2006, do các chương trình hỗ trợ của chính phủ Hoa kỳ và các nhà tài trợ khác đang dần được triển khai. Do có nhiều điều chưa biết về dịch HIV/AIDS của Việt Nam, nên vẫn chưa nắm được số lượng người nhiễm HIV có thể được điều trị trong các chương trình HAART. Vào cuối 2005, ước tính khỏang từ 25.000 (theo WHO/UNAIDS) đến 39.500 người (Bộ Y tế). Tuy vậy, một Trung tâm Tư vấn và Xét nghiệm tự nguyện 7 Tham khảo, UNICEF Việt Nam và các cộng sự, Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (Hà Nội: UNICEF Việt Nam, Tháng 8/ 2005), http://www.unicef.org/vietnam/media_2383.html. 8 Theo như ấn phẩm của Tổ chức Y tế Thế giới đã được nhắc tới ở chú thích số 3, ước tính rằng trong năm 2005, có đầy đủ các loại thuốc điều trị kháng vi rút được phân phát cho các tỉnh thành để điều trị cho 3.000 đến 3.500 bệnh nhân. Số lượng thực sự các bệnh nhân hiện đang điều trị không được cung cấp.
    • 12 HIV/AIDS tại Việt Nam (VCT) tại thành phố Hồ Chính Minh ghi nhận tỷ lệ là 45% nhiễm HIV trong số các khách hàng mới tới xét nghiệm, trong số này phần đông đã chuyển sang AIDS. Phát hiện đáng lưu ý này đưa ra giả thuyết rằng số người nhiễm HIV cần được điều trị HAART có thể còn lớn hơn hầu hết số ước tính đến thời điểm này. Nếu điều này được chứng minh là sự thật, khả năng về điều trị sớm HAART có thể nhanh chóng bị áp đảo bởi số bệnh nhân đau ốm đang cần được chăm sóc điều trị, như đã từng xảy ra ở các quốc gia khác. Còn những gì chúng ta chưa biết về HIV/AIDS ở Việt Nam? Một số câu hỏi được lặp đi lặp lại nhiều lần, liên quan đến bản chất của tình trạng lây lan HIV/AIDS tại Việt Nam. Liệu dịch ở Việt Nam sẽ tiến triển theo kiểu dịch của Thái Lan, Cămpuchia, hay My an ma? Liệu cuối cùng thì HIV/AIDS ở Việt Nam có thể trở thành đại dịch phổ biến như quot; kiểu Châu Phiquot; hay không? HIV/AIDS sẽ dồn thêm gánh nặng cho hệ thống y tế của quốc gia đến mức độ nào? HIV/AIDS có thể ngấm ngầm phá hoại các tiến bộ ngoạn mục của công cuộc phát triển kinh tế đất nước như thế nào? Trong khi vẫn chưa có được câu trả lời cho câu hỏi này và một số câu hỏi quan trọng khác tại thời điểm này, thì việc tiếp tục mở rộng các hoạt động giám sát HIV/AIDS và giám sát hành vi có thể làm sáng tỏ được bản chất và mức độ nghiêm trọng của những mối đe dọa trong tương lai này. Lao và HIV, cùng song hành tồn tại bên nhau khiến cho việc điều trị thành công đối với các bệnh nhiễm trùng khác càng thêm khó khăn. Ở nhiều quốc gia khác, tình trạng lây lan của HIV đã gây tác động có tính chất hủy hoại các nỗ lực của quốc gia trong việc kiểm soát bệnh Lao. Trong khi tại Việt Nam, mới chỉ có các thông tin hạn chế diễn tả một cách hệ thống về tỷ lệ bệnh nhân đang điều trị bệnh lao, có nhiễm HIV, thì những thỏa thuận gần đây giữa chương trình phòng chống Lao và HIV/AIDS là lý do để có thể lạc quan về những hợp tác trong tương lai. Lác đác một vài số liệu chỉ ra rằng nhiều người tiêm chích ma túy vừa nhiễm HIV và viêm gan C; bản thân viêm gan C đã là một vấn đề nghiêm trọng rồi - và điều này còn nghiêm trọng hơn - có thể làm giảm tác dụng của điều trị ARV ở những người bị bội nhiễm cả hai loại vi rút này. Tuy vậy, Đoàn thăm quan của CSIS không được nghe trình bày về các số liệu liên quan đến các nhóm bị bội nhiễm HIV và viêm gan C. Mặc dù, có những nam giới hành nghề mại dâm ở Việt Nam, nhưng số lượng và nguy cơ lây nhiễm HIV của nhóm này không được biết tới. Dù thế nào thì nguy cơ lây nhiễm HIV ở nhóm này có thể đang tồn tại và cần phải được khảo sát. Mặc dù Đoàn thăm quan được cho biết là những người buôn bán chất ma túy bị đưa vào các nhà tù, chứ không phải các trung tâm phục hồi, nhưng Đoàn cũng không thể tìm được thông tin về các chương trình HIV/AIDS trong nhóm tù nhân. Vấn đề này có thể cũng quan trọng vì ở các quốc gia khác, nhà tù đã đóng vai trò như những bộ khuếch đại cho tình trạng lây truyền HIV/AIDS, Lao và các bệnh tật khác. Sau cùng, trong khi đang có một vài bàn luận về việc các nguy cơ lây nhiễm HIV có liên quan đến tình trạng dùng lại bơm kim tiêm để tiêm các thuốc kháng sinh, hoặc các loại thuốc điều trị khác tại các cơ sở dược hoặc lâm sàng, thì Đoàn thăm quan không thể xác định được thông tin, nhằm làm sáng tỏ sự thực hoặc mức độ nghiêm trọng của các vấn đề này.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 13 Tóm lại, ngay bản thân việc nắm được các thông tin chính xác về tình trạng lây lan và tác động của HIV/AIDS vẫn không đủ để đảm bảo có một ứng phó có hiệu quả, bên cạnh đó vẫn còn đang thiếu một phương pháp tiếp cận toàn diện với các vấn đề xã hội phức tạp, nảy sinh do việc lây lan của HIV. Tuy vậy, vẫn có đôi chút do dự rằng chính những thông tin này có thể giúp làm động cơ thúc đẩy sự hưởng ứng của các nhà hoạch định chính sách và xã hội để có những đóng góp to lớn vào công cuộc phòng chống HIV, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể, khi quyết định về việc tăng cường , mở rộng các ứng phó này được đưa ra. Trong khi Việt Nam vẫn thiếu một số thông tin quan trọng, cần thiết để xây dựng một ứng phó toàn diện và có hiệu quả về phòng, chống HIV/AIDS, thì những thiếu hụt về thông tin này cũng nên được coi là một trở ngại để ngay lúc này phải bắt tay vào việc tăng cường, mở rộng các chương trình dự phòng và chăm sóc có hiệu quả cho nhân dân, cho các nhóm đã được xác định đang đứng trước nguy cơ lây nhiễm, hoặc những người đã nhiễm HIV. Tuy nhiên, tăng cường năng lực cho các hoạt động giám sát, bao gồm thu thập thông tin về số tử vong có liên quan đến HIV/AIDS, và mở rộng giám sát dịch đến tất cả các tỉnh thành của Việt Nam sẽ làm một phần quan trọng của công cuộc phòng chống HIV/AIDS và sẽ tạo ra rất nhiều khả năng để Việt Nam và những người đang họat động giúp đỡ Việt Nam hành động một cách toàn diện trong thời gian lâu dài hơn.
    • 14 HIV/AIDS tại Việt Nam Tình dục giữa những người nam giới và HIV/AIDS ở Việt Nam Mặc dù tình dục giữa những người nam giới không bị coi là hành vi phạm pháp ở Việt Nam, nhưng lại bị kỳ thị nặng nề. Sự khó chịu nói chung khi đề cập đến chủ đề nam tình dục đồng giới, ít nhất cũng là một phần nguyên nhân của việc hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cụ thể này đã không nhận được nhiều sự quan tâm chính thức tại Việt Nam. Con số thực tế những người nam tình dục đồng giới vẫn là một ẩn số, vì hệ thống giám sát quốc gia hiện tại không có mục phân loại nam tình dục đồng giới (MSM); gánh nặng về HIV/AIDS trong nhóm này cũng vẫn còn là điều chưa biết. Cho dù còn thiếu sự quan tâm, nhưng thông tin và số liệu từ một số cuộc nghiên cứu nhỏ đã chỉ ra rằng nguy cơ lây truyền HIV trong nhóm MSM, bao gồm cả những nam hành nghề mại dâm, là đáng kể: Một điều tra tiến hành năm 2001 tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết gần 1/3 số MSM được phỏng vấn đã biết rằng MSM có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn so với nam có tình dục khác giới. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV 8% đã được phát hiện trong nghiên cứu với 600 MSM tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2004. 22 % MSM ở Việt Nam cho biết đã mua dâm từ những người đàn ông khác, trong khi đó tỷ lệ bán dâm của MSM là 31%. Trong một nghiên cứu khác, một nhóm nam mại dâm ở Hà Nội đã cho biết rằng phần đông các khách hàng của họ là người Việt Nam. Tình dục với cả hai giới lại là một vấn đề phức tạp khác đối với nhóm MSM và các bạn tình của họ. Trong một nghiên cứu mới đây cho thấy, 22% những người MSM tại TPHCM cho biết họ cũng có quan hệ tình dục với phụ nữ. Xu hướng này đã được phần nào khẳng định khi các thành viên của Đoàn thăm quan nghe được từ các giáo dục viên đồng đẳng tại câu lạc bộ Bầu Trời Xanh của TPHCM, một cơ sở trong số rất ít các cơ sở hỗ trợ cho MSM trên cả nước, đã cho biết có một số MSM mà họ biết đã lập gia đình với những người phụ nữ. Do vậy, những người vợ không biết chồng là MSM có thể cũng là nguy cơ làm gia tăng lây nhiễm HIV. Khi những thay đổi về thái độ của xã hội trên quy mô lớn sẽ không diễn ra một cách nhanh chóng, thì một vài biện pháp có thể tiến hành ngay để bắt đầu giải quyết vấn đề này. Ví dụ: MSM có thể được đưa thành một nhóm trong hệ thống giám sát HIV/AIDS của quốc gia. Các nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu có thể được học về MSM và các nhu cầu sức khỏe đặc trưng của họ. Số lượng và độ bao phủ của các chương trình chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ xã hội và đội ngũ nhân viên y tế được đào tạo cung cấp các dịch vụ cho các nhóm MSM có thể được mở rộng, vì các thông tin mới thu thập được cho thấy đây là một nhu cầu. Các dịch vụ trong trường hợp này bao gồm không chỉ có tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện (VCT), mà còn có cả chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây qua quan hệ tình dục, cùng đồng thời với tư vấn về giảm thiểu nguy cơ, phân phát bao cao su và các loại chất bôi trơn hòa tan trong nước. Cuối cùng, những người lãnh đạo đất nước phải đảm bảo rằng không có người cung cấp dịch vụ nào, cũng như không có khách hàng MSM nào bị đẩy vào nguy cơ lây nhiễm bởi các cơ quan thi hành pháp luật.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 15 Ứng phó của các nhà Lãnh đạo Việt Nam Các nhà lãnh đạo Việt Nam đang đứng trước một thời điểm chuyển đổi rất quan trọng để tăng cường các nỗ lực khống chế HIV/AIDS. Một số quyết định quan trọng sắp sửa được ban hành. Theo nhìn nhận của Đoàn CSIS, 2006 sẽ là năm đưa tới bước mở đầu đặc biệt để Hoa kỳ và các nhà tài trợ khác thông báo về các cuộc đàm phán và giúp đỡ Việt Nam có được lựa chọn tốt nhất nhằm ngăn chặn một vụ dịch lớn hơn, thậm chí có nhiều nguy cơ đang trở thành đại dịch trên toàn quốc. Ngay từ đầu thập kỷ này, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã chủ động tiến hành nhiều sáng kiến tích cực, khả quan nhằm tăng cường năng lực và mở rộng các dịch vụ, khuyến khích các cuộc thảo luận trao đổi cởi mở về những khó khăn, thách thức trong công cuộc phòng chống HIV/AIDS; và bắt đầu nhắm tới việc giải quyết tình trạng kỳ thị nặng nề đang vây quanh các hành vi có nguy cơ cao lây nhiễm HIV, đó là: tiêm chích ma túy, mại dâm nữ, và tình dục đồng tính nam. Các nhà lãnh đạo ngày càng thể hiện việc sẵn sàng có các cuộc đối thoại mở rộng và công khai về các vấn đề nhạy cảm, như về vai trò của các Trung tâm cai nghiện phục hồi và các chiến lược được lựa chọn cho hoạt động của các Trung tâm này, chẳng hạn như giới thiệu về các chương trình thí điểm điều trị thay thế. Hai năm trở lại đây, Việt Nam có nhiều mối quan hệ đối tác mới với các nhà tài trợ như: các tổ chức Liên Hợp Quốc (UN) , Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Chương trình viện trợ của chính phủ Úc- AusAID, Cơ quan Phát triển Quốc tế của Chính phủ Anh -DFID và của Chính phủ Hoa kỳ, tất cả hỗ trợ này đều tập trung vào việc mở rộng các chương trình phòng chống HIV/AIDS. Chính phủ đã bắt đầu chú trọng việc mở rộng cơ sở hạ tầng của hệ thống y tế công bằng cách khuyến khích hoạt động của các nhóm phi chính phủ, kể cả các nhóm của những người sống với HIV/AIDS, coi đó là một thành phần quan trọng của chiến lược mở rộng các hoạt động phòng chống HIV/AIDS. Việt Nam có một số nhân tố rất đặc biệt để tạo ra cho mình những thuận lợi to lớn cho hệ thống y tế công, và đồng thời đóng góp một cách rất tích cực cho các nỗ lực phòng chống HIV/AIDS của quốc gia. Cảm nhận về một không khí lạc quan và phát triển đang lan tỏa khắp Việt Nam ngày hôm nay. Đất nước đang làm chủ những khả năng đầy ấn tượng và bền vững trong hệ thống y tế của mình. Với số lượng người dân biết chữ đạt mức độ cao (hơn 90%), cùng với các chỉ số rất đáng tự hào về sức khỏe đã đưa Việt Nam có thể so sánh với nhiều nước có mức thu nhập trung bình. Tiến bước đi lên trên nền tảng những thành công đã có, Chính phủ Việt Nam tiếp tục thu hút được hơn 200 triệu Mỹ kim mỗi năm từ nhà tài trợ quốc tế hỗ trợ cho các chương trình sức khỏe. Trong các năm 2003-2004, Việt Nam chứng minh khả năng của mình bằng việc đã khống chế được dịch SARS, và rất gần đây 2005- 2006, khi phải đối mặt với dịch cúm gia cầm, tương tự như vậy, Việt Nam lại tiếp tục tiến hành những cách làm đầy ấn tượng. Uốn ván sơ sinh đã thực sự được thanh toán khỏi danh mục các vấn đề sức khỏe công cộng. Đến 11/2006, lần đầu tiên, Việt Nam sẽ làm chủ tịch hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC). Với Hội nghị thượng đỉnh này, các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ có một cơ hội mang ý nghĩa lịch sử để xúc tiến các hành động phối kết hợp giữa các quốc gia nhằm phòng chống những bệnh nhiễm trùng đang đe dọa cả khu vực.
    • 16 HIV/AIDS tại Việt Nam Những Động lực tích cực đang được hình thành Những tiến bộ gần của Việt Nam về phòng chống HIV/AIDS được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh. Chiến lược Quốc gia: Chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS được xây dựng thông qua một quá trình tích cực, có sự tham gia của nhiều bộ ngành, cùng với những đóng góp thầm lặng từ phía các chuyên gia quốc tế. Chiến lược đã được phê chuẩn và đưa vào thực hiện từ 2004. Một Phó thủ tướng đảm nhận trách nhiệm chỉ đạo và điều phối toàn bộ công tác phòng chống HIV của quốc gia. Mới đây, Chỉ thị của Ban chấp hành Trung ương Đảng (chỉ thị số 54, ban hành ngày 30/11/2005) đã nêu rõ mối đe dọa về sự lây lan của HIV/AIDS ngày càng gia tăng đối với xã hội Việt Nam. Chỉ thị cũng nhấn mạnh đến một số những đòi hỏi cấp bách cần phải hành động ngay, đó là tăng cường các nỗ lực của quốc gia về phòng và chống dịch trong các tổ chức của Đảng, các cơ quan Nhà nước và các tổ chức quần chúng, tập trung vào công tác dự phòng trong thanh niên, vị thành niên và các nhóm có nguy cơ cao (tiêm chích ma túy, mại dâm nữ và nam tình dục đồng giới); và tích cực quot;chống lại kỳ thị và phân biệt đối với người nhiễm HIV/AIDSquot;. Chủ trương về phân cấp quản lý được ban hành cùng trong thời gian đó, đã tạo cơ hội cho các cán bộ lãnh đạo ngành y tế thành phố Hồ Chí Minh, nơi chiếm 25% số người nhiễm HIV được báo cáo, đưa các kế hoạch mới đổi với công tác dự phòng, điều trị và chăm sóc. Một cách lặng lẽ, một số viên chức đã thể hiện việc thừa nhận rằng ỷ lại quá nhiều vào các Trung tâm cai nghiện phục hồi 05/06 sẽ không đưa lại thành công. Những người quản lý trong lĩnh vực này bắt đầu tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế nhằm ngăn chặn nguy cơ liên kết giữa nạn dịch tiêm chích ma túy và HIV/AIDS đang tiếp tục gia tăng, bởi chính tình trạng này có thể đẩy hệ thống y tế công đứng trước tình trạng khẩn cấp, và cũng có thể dễ dàng trở thành tai họa cho các mối quan hệ xã hội. Tăng cường công tác giám sát: hệ thống giám sát HIV/AIDS ở Việt Nam đã mở rộng thêm tới một số tỉnh thành và địa bàn. Tuy vẫn còn hạn chế về độ bao phủ và độ tin cậy, nhưng hệ thống giám sát dịch của Việt Nam tốt hơn nhiều so với nhiều quốc gia phát triển khác; và hệ thống giám sát dịch của Việt Nam hoàn toàn có đủ năng lực để dự đoán được các xu hướng chính của dịch HIV/AIDS. Nếu được mở rộng hơn nữa và có sự điều chỉnh tốt hơn nữa, thì hệ thống giám dịch của Việt Nam còn có thể phát huy được hiệu quả nhiều hơn cho công tác phòng chống HIV/AIDS. Tăng cường số lượng nhân lực được đào tạo: đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc trong các chương trình phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi trong vòng 5 năm qua. Chỉ so sánh với 5 năm trước, thì đội ngũ cán bộ, nhân viên Việt Nam công tác tại các cơ quan Nhà nước ở tuyến trung ương, các cơ quan lãnh đạo của thành phố Hồ Chí Minh, và nhóm các tổ chức phi chính phủ có hoạt động về PC HIV đã có nhiều kinh nghiệm hơn, hiểu biết và nhận thức tốt hơn, được đào tạo tốt hơn về cách tiến hành các chương trình dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV. Hơn nữa, Học viện Chính trị Hồ Chí Minh cũng đã bắt đầu xây dựng chương trình đào tạo cho các nhà lãnh đạo tương lai về các vấn đề chính sách có liên quan HIV/AIDS. Mở rộng dịch vụ Tư vấn và Xét nghiệm HIV Tự nguyện (VCT): Năm 2001 ở Việt Nam, chỉ có một số cơ hội ít ỏi cho ai muốn được xét nghiệm để biết về tình trạng HIV của bản thân ; chủ yếu lúc đó chưa có có đội ngũ được đào tạo làm công tác tư vấn. Nhưng tính đến đầu năm 2006, các lãnh đạo trung ương và địa phương đã hỗ trợ để có được hơn 50 cơ
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 17 sở VCT cùng đội ngũ cán bộ tư vấn được đào tạo và đã cung cấp dịch vụ cho hàng nghìn lượt khách hàng. So với nhiều quốc gia khác, chương trình VCT ở Việt Nam cung cấp các dịch vụ toàn diện hơn và ngày càng nhắm được tới các nhóm có nguy cơ cao. Các cơ sở VCT luôn kết hợp chặt chẽ với các chương trình giáo dục đồng đẳng tại cộng đồng, và có thể còn hoạt động có hiệu quả trong việc tiếp cận với các nhóm còn quot;giấu mặtquot;, chẳng hạn như nhóm nam tình dục đồng giới. Không giống với các quốc gia khác, tại một số tỉnh thành của Việt Nam, chương trình VCT còn bao gồm cả các hoạt động tiếp cận, tư vấn và xét nghiệm có bảo đảm bí mật riêng tư cho bạn tình của những người được xác định đã nhiễm HIV. Kinh nghiệm thu được từ cách làm đầy sáng tạo ở các cơ sở VCT này có thể được sử dụng để mở rộng các dịch vụ quan trọng này ra toàn quốc. Mở rộng hoạt động Chăm sóc và Điều trị: năm 2001, ngoài các dịch vụ của một số ít ỏi các bác sĩ tư nhân và một số các chương trình nhỏ tại các bệnh viện nhiệt đới, chương trình chăm sóc và điều trị HIV ở Việt Nam có độ bao phủ rất thấp, và chưa có điều trị kháng vi rút. Đến 2006, cơ sở hạ tầng của các chương trình chăm sóc và điều trị về cơ bản đã có nhiều tiến triển. Hiện tại ở Việt Nam, các chương trình này đang trong tư thế sẵn sàng tiếp cận với hàng nghìn người, nhưng lại phải đợi chờ để có đầy đủ các loại thuốc trong phác đồ điều trị kháng vi-rút. Nếu việc tiếp cận với các thuốc giá rẻ được thu xếp ổn thỏa, thì số lượng người được được điều trị sẽ lớn hơn rất nhiều; nhưng ngay cả khi số người được điều trị có lớn hơn thì vẫn có thể chưa thấm tháp vào đâu so với số người cần hoặc được chẩn đoán phải điều trị. Vả lại, nhiều cán bộ quản lý của Việt Nam và những người tham gia vào các chương trình chăm sóc và điều trị đã bày tỏ mối lo ngại rằng sau 2008, sẽ không có hỗ trợ của chương trình PEPFAR nữa, thì những bệnh nhân điều trị phác đồ HAART trong một vài năm tới đây sẽ không được tiếp tục duy trì phương án điều trị ARV suốt đời. Các cố gắng trên quy mô nhỏ nhằm tiếp cận các nhóm có nguy cơ: vào năm 2001, Chính phủ Việt Nam vẫn còn miễn cưỡng để thừa nhận rằng trên toàn quốc có hàng nghìn người hành nghề mại dâm và nam có quan hệ tình dục đồng giới. Hôm nay, rõ ràng các nhà chức trách đã cởi mở hơn rất nhiều khi bàn luận về sự hiện hữu của các nhóm này, và sự cần thiết phải tiếp cận được các nhóm có nguy cơ bằng các biện pháp can thiệp dự phòng áp dụng những bài học thành công của quốc tế, được điều chỉnh phù hợp với điều kiện của địa phương. Các can thiệp tại cộng đồng trong chương trình do Trung tâm Dự phòng và Kiểm sóat dịch bệnh Hoa kỳ (CDC) và USAID hỗ trợ đã chứng minh khả năng làm việc với các nhóm nguy cơ này. Các chương trình do USAID hỗ trợ chỉ riêng ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tiếp cận được hơn 4.500 MSM cùng với nhiều người chấp nhận tư vấn và xét nghiệm. Tuy nhiên, nhìn chung các chương trình VCT ở Việt Nam vẫn dừng lại ở mức độ bao phủ thấp và hiện cũng chỉ tiếp cận được một số ít những người có nhu cầu về các dịch vụ này. Sự tham gia của quân đội Việt Nam: cho dù sự tham gia này mới chỉ bắt đầu và trên quy mô nhỏ, nhưng chương trình phòng chống HIV/AIDS của quân đội dường như đặt ra nhiều tham vọng nhưng đồng thời cũng được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, với mục tiêu đề ra vào cuối năm tài chính này, phải tiếp cận được 40.000 quân nhân và 160.000 thân nhân. Những khó khăn thách thức ở phía trước Mặc dù đã thu được những thành tựu như đề cập ở trên, nhưng bảng thành tích về
    • 18 HIV/AIDS tại Việt Nam vai trò của những người lãnh đạo trong phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn còn chưa rõ, và môi trường chính sách về vấn đề có thể vẫn chưa dứt khoát. Thiếu vắng một phương pháp tiếp cận toàn diện: thể hiện vai trò lãnh đạo trong phòng chống HIV/AIDS vẫn chỉ dừng trong phạm vi của Bộ Y tế, hiện đang thiếu cách tiếp cận mang tính chất đa ngành hơn, được hậu thuẫn bằng việc liên tục duy trì sự lãnh đạo từ các cơ quan cấp cao của Đảng. Hiện tại, vẫn chưa xây dựng được một kế hoạch chiến lược với các mục tiêu được xác định rõ ràng, chỉ đạo việc phân bổ các nguồn lực, và điều hòa được các căng thẳng sẽ đề cập dưới đây giữa vấn đề an ninh xã hội và y tế công. Dự thảo luật của quốc gia về phòng chống HIV/AIDS vẫn còn đang chờ được thông qua để có những điều luật mới bảo vệ người nhiễm HIV, đó là đảm bảo tính bí mật riêng tư về các kết quả xét nghiệm; đưa ra khung pháp lý về các vấn bảo hiểm xã hội có liên quan. Kỳ thị vẫn là điều đáng lo ngại hơn cả: những người sống với HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn còn bị nhiều kỳ thị, bất chấp việc họ bị lây nhiễm như thế nào, hậu quả dẫn đến tình trạng không tự nguyện đi tìm kiếm các dịch vụ về dự phòng, xét nghiệm và điều trị. Những người được xác định HIV dương tính từng phải đối mặt với tình trạng từ bị đuổi việc ở nơi công sở, đến sự xa lánh của gia đình, dẫn đến phải sống trong các hòan cảnh bất ổn, bắt buộc họ lại phải tiếp tục các hành vi nguy cơ, và thế là dịch lại càng lan rộng. Các chủ trương chính sách và pháp luật của Nhà nước, được hậu thuẫn bằng công tác tuyên truyền giáo dục và thực hiện nghiêm túc, đang rất cần thiết để bảo vệ người dân tránh khỏi tình trạng bị phân biệt đối xử. Vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa các chính sách cần được quan tâm: Chính phủ Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn nhất, gây ra do sự bất đồng về các lợi ích trái ngược nhau giữa hai chủ trương: một bên là phải cấp bách kiểm soát được tình hình tội phạm đang gia tăng, đặc biệt các tội phạm về ma túy và mại dâm, trong đó HIV/AIDS được coi như hiện tượng phát sinh đi kèm với ma túy và mại dâm; với một bên là đòi hỏi đặt ra cho ngành y tế phải khống chế được tốc độ lây lan của dịch HIV/AIDS, hiện đang tập trung diễn ra trong nhóm người tiêm chích ma túy, gái mại dâm và nam tình dục đồng giới. Để tăng cường các nỗ lực của quốc gia cho công cuộc phòng chống HIV/AIDS, một thách thức to lớn nhất đặt ra cho Việt Nam là làm thế nào giảm bớt được tình trạng căng thẳng về các lợi ích của hai quốc sách này. Nếu không có hành động từ phía các cơ quan lãnh đạo cấp cao nhằm hài hòa một cách tốt hơn cho các mâu thuẫn về lợi ích này bằng một phương pháp tiếp cận mang tầm cỡ chiến lược và toàn diện, được đồng bộ thực hiện ở tất cả các cấp của cơ quan nhà nước và xã hội, thì chính sách và môi trường thực hiện chính sách của Việt Nam sẽ hạn chế một cách nghiêm trọng đối với việc xác định mức độ nào và cần bao nhiêu nguồn lực để các nhà tài trợ, các cơ quan và các tổ chức của Việt Nam có thể hoàn tất được việc mở rộng quy mô của các chương trình có hiệu quả về dự phòng, chăm sóc và điều trị ở mức độ phù hợp nhất với tình hình thực tiễn của Việt Nam. Trông cậy quá nhiều vào các trung tâm cai nghiện phục hồi nhằm giải quyết vấn đề tiêm chích ma túy và gái mại dâm, nhưng không có kết quả: kiên quyết chống tội phạm được thể hiện cao độ ở việc thực hiện quot;Chương trình Ba Giảmquot;, trong đó tệ nạn ma túy, mại dâm (thứ ba là các tội phạm chung) được coi là hai trong số quot;Ba Tệ nạnquot; của chương trình này. Cách làm này làm xấu thêm tình trạng kỳ thị, và cũng
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 19 phần nào giải thích cho việc vẫn còn một số ý kiến phản đối việc thử nghiệm các chương trình thí điểm điều trị cai nghiện thay thế (hiện đang thảo luận để được thí điểm tại Hải Phòng). Chương trình này đồng thời cũng củng cố cho sự trông cậy cao độ vào tác dụng của các trung tâm cai nghiện phục hồi cho người tiêm chích ma túy và gái mại dâm (thường gọi các trung tâm 05 và 06). Trong những năm gần đây, số lượng học viên trong các trung tâm này (có khỏang 80 trung tâm cho người tiêm chích ma túy) dao động từ 40.000 đến 80.000. Học viên của các trung tâm, phần lớn là thanh niên, do công an, các cơ quan pháp luật, gia đình và địa phương đưa tới. Mặc dù Đoàn công tác chỉ có thể tới thăm một trung tâm, nhưng các thành viên trong Đoàn đều được nghe nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng các điều kiện sinh hoạt và chất lượng của các trung tâm này rất khác nhau ở mỗi địa phương. Một số trung tâm có tổ chức dạy nghề và có bố trí các phương tiện chăm sóc y tế phù hợp. Song, Đoàn thăm quan rất lo ngại khi được nghe thấy rằng phần lớn các Trung tâm này chỉ có các dịch vụ hạn chế, và những học viên xét nghiệm HIV thường không nhận được kết quả xét nghiệm. Ngày càng gia tăng các áp lực về việc cần làm rõ liệu có hay không và bằng cách nào Việt Nam sẽ thay đổi cách làm tại các Trung tâm cai nghiện phục hồi này, để có thể cung cấp các dịch vụ về dự phòng HIV, chăm sóc và điều trị cho học viên trong các Trung Tâm, những người từng tiêm chích ma túy và hành nghề mại dâm, trước khi họ được mãn hạn trở về địa phương. Hơn nữa, chính phủ cũng sẽ cần sắp đặt các kế hoạch có tính khả thi cho vấn đề hồi gia, để đưa được khoảng 15.000 đến 18.000 học viên như đã được ghi trong kế hoạch 2006, sẽ trở về với cuộc sống mới ở ngoài Trung tâm. Những người này rồi đây sẽ được chăm sóc, chữa trị thế nào khi hiện tại, họ không biết về tình trạng nhiễm HIV của bản thân. Phần lớn (khoảng 30% hoặc hơn) những người này có nhiễm HIV, và nhiều người trong số họ chắc chắn đã chuyển sang AIDS. Nhà nước cũng sẽ cần xác định rõ: quyết tâm chính trị (chủ trương) hiện tại liệu có thể sẽ được giảm đi, hoặc cuối cùng sẽ tiến tới giảm dần việc quá trông cậy vào mô hình này để kiểm soát tình trạng ma túy và mại dâm. Mô hình này đã được chứng minh là không hiệu quả về phòng chống tệ nạn, khi mà tỷ lệ tái nghiện lên tới 80% hoặc cao hơn, và như ý kiến thống nhất chung, mô hình này đang trở thành nhân tố làm gia tăng tốc độ lây truyền HIV và các bệnh nhiễm trùng khác. Theo như những điều đã được báo cáo, thì các nhân viên làm việc trong các Trung tâm, một số cán bộ quản lý và các chuyên gia quốc tế đã có cùng một cảm nhận rằng công việc đang làm tại các Trung tâm nhằm giảm ma túy và mại dâm là không có hiệu quả. Tuy nhiên, Đoàn đã được thông báo rằng các Trung tâm mới đang được xây dựng thêm. Hiện tại, tiêm chích ma túy vẫn là động lực chính làm lây lan HIV/AIDS ở Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều tiến triển được ghi nhận rõ ràng trong việc phòng ngừa tiêm chích ma túy, giảm các nguy cơ lây nhiễm do tiêm chích ma túy, hoặc điều trị lạm dụng ma túy có hiệu quả. Nỗ lực toàn cầu tập trung vào dự phòng lây nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma túy đã được chứng minh rất rõ ràng và được lặp đi lặp lại nhiều lần rằng mở rộng khả năng tiếp cận của các chương trình trao đổi bơm kim tiêm là việc làm có hiệu quả nhằm giảm mức độ gia tăng số ca nhiễm HIV mới và các bệnh nhiễm trùng khác.
    • 20 HIV/AIDS tại Việt Nam Hỗ trợ của Quân đội Hoa kỳ cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam Sự tham gia của Quân đội Hoa kỳ vào các họat động phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam bắt đầu từ tháng 2 năm 2003, vào thời điểm Cục Quân Y thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam (MOD) đồng ý đưa dự phòng lây nhiễm HIV vào các chủ đề được trình bày tại một hội nghị chung về công tác quân y tại Hà Nội. Trung tâm Quản lý Thảm họa và Hỗ trợ Nhân đạo của Hoa kỳ (COE), Trung tâm Tripler Army Medical, và Chương trình Nghiên cứu Lâm sàng về AIDS Hawaii, thuộc trường Đại học Hawaii (HACRP) trong cùng năm đó đã nhận được 330.000 USD từ Chương trình Dự phòng HIV/AIDS của Bộ Quốc phòng Mỹ nhằm hỗ trợ các hoạt động hợp tác về dự phòng HIV trong lực lượng quân đội . Đến giữa 2004, Việt Nam có tên trong danh sách quốc gia thứ 15 của chương trình PEPFAR, và các hoạt động chung giữa Ban Chỉ huy quân sự Thái Bình Dương của Mỹ (PACOM) với Quân đội Nhân dân Việt Nam (PAVN) về dự phòng HIV đã được thông qua bằng văn bản trong Kế Hoạch Quốc gia Thực hiện PEPFAR năm tài chính 2004- 2006. Các họat động Phòng chống HIV/AIDS giữa hai quân đội: PACOM hỗ trợ kinh phí để 15 bác sĩ quân y của Việt Nam đi dự tập huấn tại Trung tâm Đào tạo Khu vực tại Bangkok của Viện Nghiên Cứu Khoa học Y học của PACOM/Quân đội Hòang gia Thái Lan/ Không lực Hoa kỳ. Khóa tập huấn bao gồm tư vấn HIV, chẩn đoán phòng thí nghiệm về HIV, xây dựng chính sách, chăm sóc và điều trị HIV. Các bác sĩ tham dự các khóa tập huấn này hiện đang làm công tác chăm sóc người nhiễm HIV tại bệnh viện Quân đội 175 thành phố Hồ Chí Minh. Theo yêu cầu của PAVN, tháng 4/2004 một hội thảo về tuyên truyền vận động chính sách đã được tổ chức tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Quân đội (MIHE), tại Hà nội cho khoảng 80 cán bộ lãnh đạo cao cấp ngành quân y tham dự, và một hội thảo về tư vấn được tiến hành cho 80 cán bộ quân y tại quân y viện 175 thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 9/2005. Kinh phí PEPFAR đã được sử dụng để nâng cấp và trang bị một phần cho phòng xét nghiệm HIV tại MIHE vào tháng 4/2005. Mua sắm trang thiết bị bổ sung hiện chưa chuyển giao. Nhóm các cán bộ quân y đầu tiên đã tham dự khóa học một tháng về đào tạo giảng viên lâm sàng HIV tại HACRP, Tripler Army Medical Center và AFRIMS vào tháng 1/2006. Tổng số có 6 nhóm đã được đào tạo về chăm sóc và điều trị HIV. Thêm nữa, hai nhóm được đào tạo về phòng thí nghiệm tại AFRIMS về chẩn đoán HIV, đếm tế bào CD4/CD8, các loại miễn dịch, đo đạc nồng độ vi rút và đảm bảo chất lượng, với 6 nhóm bổ sung lên chương trình để được đào tạo. Mua mới 5 máy đếm tế bào CD4 cho Bộ Y tế bằng kinh phí PEPFAR. Tiến hành khảo sát ngân hàng máu tại quân y viện 103 và khả năng chẩn đoán của Trung tâm Y tế Dự phòng Cần thơ, và đang tiến hành sửa chữa nâng cấp tại quân y viện 103 về tăng cường ngân hàng máu và xây dựng mới một trung tâm VCT. Tháng 12/2005, PAVN tổ chức một cuộc hội thảo đầu tiên về HIV/AIDS cho các sĩ quan cấp cao, có khỏang 400 cán bộ sĩ quan tham dự. Một chỉ thị mới và đầy tham vọng đã được ban hành: (1) 100% đơn vị quân đội có chương trình phòng chống HIV/AIDS; (2) 100% quân nhân nắm được các phương pháp và tầm quan trọng về dự phòng HIV; (3) 100% tân binh sẽ được kiểm tra HIV trước khi nhập ngũ; (4) 100% các đơn vị máu truyền sẽ được kiểm tra HIV; và (5) 100% số quân nhân bị nhiễm HIV và thân nhân của họ sẽ được điều trị các thuốc kháng vi rút theo các tiêu chuẩn của quốc tế. Chính sách này đã đưa công tác phòng chống HIV/AIDS Bộ quốc phòng lên ngang tầm yêu cầu của chiến lược phòng chống HIV/AIDS quốc gia do Chính phủ ban hành. Tiến bộ và những trở ngại trong chương trình Hợp tác giữa hai quân đội: Lồng ghép theo ngành dọc của Cục Quân y trực thuộc Bộ Quốc phòng cùng với yêu cầu là các hoạt động từ phía quân đội Hoa kỳ được phê duyệt theo cơ chế của Bộ Quốc phòng có nghĩa là việc điều phối tất cả các hoạt động giữa hai quân đội sẽ được đơn giản đi rất nhiều. Điều này cũng có nghĩa là các hoạt động khác nhau có thể được điều phối và nhân ra cho tất cả các cơ quan, tổ chức của Bộ quốc phòng. Tuy nhiên, một số khía cạnh khác về tổ chức của Bộ Quốc phòng có thể gây ra các vấn đề khó khăn cho việc tham gia một cách có hiệu quả vào các hoạt động dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV. Cùng với các chương trình do Hoa kỳ hỗ trợ, Bộ Y tế cũng có các chương trình HIV/AIDS nhận được sự hỗ trợ từ Cơ quan Phát triển Quốc tế của Vương quốc Anh (DFID), Quỹ Toàn
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 21 cầu (Global Fund) và AusAID. Mỗi cơ quan tài trợ đều có đóng góp vào các họat động chăm sóc, điều trị và dự phòng HIV/AIDS. Tuy nhiên, có một điều chưa rõ ở đây là các chương trình được tài trợ khác nhau này được điều phối ở mức độ nào. Hơn nữa, cộng tác hoặc hợp tác chính thức ở cấp bộ giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế có rất ít, mặc dù đôi khi cũng có thể thấy một số quan hệ công tác không chính thức. Bộ Quốc phòng, có vẻ là Bộ có nhiều quot;quyền lực” hơn Bộ Y tế, có tham gia vào các cuộc thảo luận của PEPFAR cùng với Bộ Y tế, nhưng lại không coi các vấn đề ưu tiên của Bộ Y tế là của Bộ mình. Bộ Quốc phòng không muốn lồng ghép hoặc phối kết hợp các chương trình và họat động của bên quân đội với các hoạt động của Bộ Y tế hoặc Bộ Lao động Thương binh Xã hội, kết quả tạo ra vùng quot;trốngquot; trong quá trình tác nghiệp. Cuối cùng, mối quan tâm lớn hiện này là phải tập trung vào những vấn đề quan trọng về chẩn đoán HIV và tiếp cận các chương trình điều trị kháng vi rút có hiệu quả. Hiện tại, các hoạt động này đang có tiến triển, tuy nhiên, điều quan trọng là cần duy trì liên tục các thông điệp của phía Hoa kỳ với quân đội Việt Nam về tầm quan trọng to lớn của mọi nỗ lực nhằm đem lại thành công cho các hoạt động dự phòng HIV. Sự cởi mở của các cán bộ lãnh đạo ngành quân y của Việt Nam đối với việc tham gia của quân đội Mỹ vào các họat động phòng chống HIV/AIDS đã tạo ra một cơ hội quan trọng nhằm tạo dựng sự tin tưởng hơn giữa Hoa kỳ và Việt Nam. Hơn nữa, việc tiếp tục hỗ trợ mối quan hệ hợp tác hiện có giữa hai quân đội về phòng chống HIV/AIDS là đặc biệt quan trọng, vì các chương trình được lập kế hoạch một cách chi tiết này của Bộ Quốc phòng có thể được coi là các mô hình cho các bộ ngành khác.
    • 22 HIV/AIDS tại Việt Nam Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam với mô hình Câu lạc bộ Đồng cảm của những người sống vói HIV và bị ảnh hưởng của HIV/AIDS Hội LHPN Việt Nam với số hội viên chiếm ít nhất khoảng 50% tổng số phụ nữ Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, đã tham gia vào các hoạt động phòng ngừa HIV/AIDS và chăm sóc từ năm 1999. Trọng tâm chiến lược của Hội là nâng cao vị thế của phụ nữ thông qua giáo dục, đào tạo và các chương trình vay vốn. Hội LHPN Việt Nam, luôn lên tiếng rằng vấn đề bất bình giới tồn tại dai dẳng là thách thức lớn cả xã hội đang phải đối mặt, và để tham gia giải quyết tình trạng này, Hội đã cho ra đời Trung tâm Hỗ trợ Phụ nữ phòng chống AIDS và chăm sóc Sức khỏe Sinh sản vào năm 2005. Các tổ, nhóm phụ nữ đã và đang tham gia vào các họat động chống lại kỳ thị, phân biệt đối xử, ngăn ngừa buôn bán người, phân pháp bao cao su và bơm kim tiêm sạch. Một trong những hoạt động chính đang được Hội xúc tiến và cổ vũ đó là mô hình Câu lạc bộ Đồng cảm. Hơn 300 Câu lạc bộ Đồng cảm bao gồm các tổ, nhóm phụ nữ tại cộng đồng, tổ chức sinh hoạt với những người sống với HIV và AIDS, cùng với thân nhân gia đình nhằm giúp họ chống lại tình trạng kỳ thị, xây dựng khả năng tự lực của địa phương, và hướng dẫn các họat động về chăm sóc và hỗ trợ. Câu lạc bộ Đồng cảm đang hoạt động tại 10 tỉnh thành, vào đầu năm 2006 có kế hoạch mở rộng địa bàn, thành viên câu lạc bộ bao gồm người sống với HIV/AIDS, vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình, và những người tình nguyện có quan tâm. Mỗi Câu lạc bộ có riêng một ban quản lý. Căn cứ vào các nguồn lực sẵn có tại địa phương, hoạt động của các Câu lạc bộ Đồng cảm của người sống với HIV/AIDS và các gia đình bị ảnh hưởng có thể bao gồm: hỗ trợ trực tiếp lương thực và tiền học phí; tổ chức các cuộc họp nhóm và cá nhân để hỗ trợ về tinh thần; đại diện cho những người sống với HIV/AIDS và các gia đình tiến hành tuyên truyền vận động cho chính quyền địa phương về hỗ trợ việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc và điều trị; hướng dẫn về dinh dưỡng, chăm sóc giảm đau và sử dụng thuốc đông y; và cuối cùng là giúp đỡ tổ chức đám tang. Sau cuộc đánh giá mới đây, Hội quyết định bắt đầu lồng ghép các hoạt động của Câu lạc bộ Đồng cảm với các chương trình khác của Hội LHPN (ví dụ: xóa đói giảm nghèo, kế hoạch hóa gia đình, vay vốn tín dụng vv...) như một cách tạo điều kiện để các Câu lạc bộ Đồng cảm tiếp cận được nhiều nguồn lực hơn nữa. Trong cuộc đến thăm vào tháng 1/2006 tại Hà nội, các thành viên của Đoàn thăm quan đã gặp gỡ với Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam - Bà Hà Thị Khiết và các cán bộ lãnh đạo của Hội. Tiếp theo, Đòan đã gặp các thành viên của Câu lạc bộ đồng cảm gồm Vợ và các Mẹ tại thành phố Hải Phòng để được tìm hiểu thêm về kinh nghiệm của từng cá nhân và gia đình họ khi tham gia Câu lạc bộ. Các thành viên của Đòan đã có rất nhiều ấn tượng về các tình cảnh nghiêm trọng mà các gia đình của người sống với HIV/AIDS đang phải đối mặt và rất cảm phục về sự tận tụy của các thành viên Câu lạc bộ Đồng cảm đối với mục tiêu hỗ trợ và các hoạt động của họ.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 23 Mợ rộng sự tham gia của phía Hoa kỳ trong phòng chống HIV/AIDS Tháng 6/2004, Việt Nam được chọn là quốc gia thứ 15 trong Chương trình Hỗ trợ Khẩn Cấp về Phòng chống AIDS của Tổng thổng Mỹ (PEPFAR), đây được coi là một bước khởi đầu đầy hứa hẹn đối với Việt Nam. Từ đầu năm 1999, CDC của Hoa kỳ đã tiến hành một chương trình trên quy mô nhỏ, nhưng quan trọng của Hoa kỳ về HIV/AIDS. Chương trình này đã chú trọng vào những các mặt kỹ thuật và chính sách liên quan đến giám sát HIV/AIDS, tư vấn và xét nghiệm, và nghiên cứu tác nghiệp về HIV/AIDS. Chương trình này được thực hiện trong Bộ Y tế, nên đã tạo sự tự nguyện to lớn và những mối quan hệ chuyên môn quan trọng. Quyết định tiếp theo là đưa Việt Nam vào danh sách các nước nhận hỗ trợ của PEPFAR được xây dựng trên nền tảng của các hoạt động với CDC, bổ sung phần của USAID và quân đội Hoa kỳ; và rất quan trọng là vị thế của Hoa kỳ trong công tác này được nâng cao. Thật bất ngờ để có thể hình dung được rằng mối quan hệ đối tác đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa kỳ trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS có thể được mở rộng trên phạm vi toàn quốc. Ngay sau khi PEPFAR chính thức tuyên bố lần đầu tiên, lúc đó còn lại 4 tháng của năm tài chính 2004 (FY04), Việt Nam đã nhận được 17,3 triệu USD hỗ trợ của phía Mỹ, tiếp đến là hơn 27 triệu USD cho năm tài chính 2005 (FY05). Dự kiến kinh phí hỗ trợ cho năm tài chính 2006 (FY06) vào khoảng 34 triệu USD, mặc dù tới 1/3/2006, vẫn còn hơn 21 triệu USD chưa được phân bổ, đang đợi thông qua lần cuối ở Washington cho Kế hoạch Hoạt động của Quốc gia cho FY06. Trong gần 2 năm qua, chương trình PEPFAR đã tiến triển ở Việt Nam, phía Hoa kỳ đã giữ vị trí chủ trì lãnh đạo cho các hoạt động của PEPFAR, đồng thời kêu gọi các nhà tài trợ quốc tế khác tăng cường tham gia, và PEPFAR cũng đã tạo ra niềm hy vọng mới thực sự có giá trị lớn lao cho phía các đối tác Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và các đối tác thực hiện tại Việt Nam. Một nhóm làm việc giỏi về chuyên môn, nhiệt tình và tận tụy của Hoa kỳ đã làm việc không quản ngày đêm để thiết kế các chương trình, và ở những thời điểm khác nhau, còn có sự hợp lực của các nhóm chuyên gia được cử đến từ Washington và Atlanta. Trong giai đoạn này, các đối tác quốc tế đã có những cải tiến về công tác điều phối, một phần do có vai trò lãnh đạo của phía Hoa kỳ, do giữ quan hệ thường xuyên với các tổ chức LHQ. Tuy nhiên, cũng trong thời gian 2 năm này, phía Hoa kỳ đã phải cố gắng rất nhiều để vượt qua những khó khăn trở ngại, nhưng cũng chỉ thu được một phần thắng lợi. Một số do những trở ngại thuộc về chính trị và chính sách của chính Việt Nam. Các khó khăn khác bắt nguồn từ những cân nhắc, tính toán về thể chế và chính trị từ phía Mỹ. Hậu quả là, Hoa kỳ đã không giữ được vị trí tiên phong cho các nỗ lực mạnh mẽ nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma tuý và những phụ nữ hành nghề mại dâm. Thay vào đó, cách làm của Hoa kỳ là đưa ra một loạt các chương trình gồm nhiều loại khác nhau. Các chương trình đa dạng này có thể tạo ra hiệu quả ở từng chương trình đơn lẻ, nhưng khi được tổng hợp lại với nhau lại không trở thành một đường hướng mang tầm vóc chiến lược, mà Việt Nam đang cần để đưa công cuộc phòng chống HIV/AIDS tới thành công. Đường hướng chiến lược đó là: dự phòng tích cực và có trọng tâm nhằm giải quyết một cách toàn diện các hành vi nguy cơ được coi là tâm điểm của dịch -- đó là: tiêm chích ma tuý không an toàn và tình dục không bảo vệ giữa những
    • 24 HIV/AIDS tại Việt Nam người bán dâm và khách mua dâm, và giữa những đàn ông có quan hệ tình dục đồng giới. Cách làm hiện tại của phía Mỹ vừa không có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi bắt buộc về tính nhân đạo lẫn các yêu cầu của ngành y tế công cộng , liên quan đến việc đưa các can thiệp có hiệu quả về dự phòng lây nhiễm HIV, chăm sóc và điều trị AIDS tới học viên trong các Trung tâm giáo dục, cai nghiện phục hồi. Đến thời điểm này, Nhóm làm việc của Mỹ ở Washington và Hà Nội đang gặp khó khăn về việc phải tiến hành cùng đồng thời hai bước đi quan trọng- một là dành ưu tiên hoạt động cho các nhóm tiêm chích ma túy (IDUs) , phụ nữ mại dâm (FSWs), và nam tình dục đồng giới (MSM), và hai là: đưa được các can thiệp có hiệu quả về dự phòng lây nhiễm HIV và chăm sóc HIV/AIDS tới những người nhiễm HIV trong các Trung tâm 05 và 06. Để làm được công việc này, đòi hỏi những người có liên quan của phía Hoa kỳ phải giải quyết một cách thật tinh tế và nhạy bén trước một sự mạo hiểm chính trị nảy sinh do những vấn đề về nhân quyền đầy rắc rối liên quan tới các Trung tâm 05/06. Làm được điều này đòi hỏi phải có một kế hoạch hành động toàn diện; cùng với những hiểu biết rất rõ ràng và đầy tính thuyết phục về những khó khăn, xét về tính nhân đạo và yêu cầu của ngành y tế công cộng, để có thể tiếp cận được, hoặc không, với các nhóm dễ có nguy cơ lây nhiễm HIV trong các Trung tâm này và giúp họ trong thời gian hồi gia; và trong cùng lúc phải có được sự đồng thuận của giữa những người quản lý ở Washington và sứ quán Hoa kỳ tại Việt Nam. Vào thời điểm Đoàn đánh giá CSIS đến Việt Nam chưa có việc làm này, nhưng từng mảng hoạt động vẫn đang tiến triển, và hy vọng giải pháp toàn diện này sẽ được thực hiện trong thời gian tới. Với đầy đủ quyết tâm từ phía lãnh đạo và có trọng tâm, cách làm của phía Mỹ có thể sẽ thành công ở Việt Nam. Đó là một cách làm mang tính bảo vệ, toàn diện và trên quy mô lớn về dự phòng HIV, được thực hiện trong các Trung tâm giáo dục, cai nghiện phục hồi cho thanh niên nhiễm và chưa bị nhiễm HIV. Tiến hành được cách làm này, cũng sẽ cần phải xác định một lần nữa với các đối tác Việt Nam về thực chất các cam kết lâu dài của phía Mỹ đối với công tác dự phòng, điều trị và chăm sóc; tăng cường các hoạt động dự phòng trọng tâm là thanh niên; đảm bảo cung ứng đầy đủ và đáng tin cậy lượng thuốc điều trị với giá cả phù hợp với người dân; cấp bách thực hiện chăm sóc toàn diện và khả năng tiếp cận với các điều trị có hiệu quả cho những người tiêm chích herôin; và thành lập cơ chế ra quyết định của lãnh đạo cấp cao tại sứ quán Hoa Kỳ ở Việt Nam. Tóm lại, có nhiều lý do cấp bách về chính sách công và nhân đạo để hỗ trợ các hoạt động dự phòng HIV tòan diện và các hoạt động chăm sóc sức khỏe khác- bao gồm điều trị cai nghiện cho những người tiêm chích ma tuý hiện cả ở trong và ngoài các Trung tâm 05 và 06. Có những lo ngại về vấn đề nhân quyền rất phức tạp, và có thực, đòi hỏi phải có sự quan tâm cẩn trọng một cách bình đẳng. Song, một cách làm toàn diện với người tiêm chích ma tuý và hành nghề mại dâm trong và ngoài các Trung tâm đang là vấn đề rất cấp bách và mang tính bảo vệ rất rõ ràng. Thực sự vấn đề còn lại ở đây là thực hiện đúng những yêu cầu về nhân đạo và quan điểm y tế công cộng ; đồng thời có cam kết chính trị lâu dài để thực hiện các hoạt động này. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở mức độ cao trong các học viên trong các Trung tâm 05 và 06 có nghĩa là nhiều người trong số họ hiện đã cần được chăm sóc về HIV/AIDS. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao cũng đặt ra một mục tiêu quan trọng cho các hoạt động dự phòng HIV - đó là làm sao để giảm thiểu đến mức thấp nhất tình trạng tiếp tục lây truyền HIV sang vợ/chồng hay bạn tình, sau khi trở về từ các Trung tâm. Những người tiêm chích ma tuý
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 25 có nhiễm HIV, nhưng họ đã không được điều trị cai nghiện một cách toàn diện (cả trước và sau khi ra khỏi Trung tâm) bao gồm điều trị thay thế, tư vấn cai nghiện và hỗ trợ của gia đình và cộng đồng, nên chắc chắn tỷ lệ tái nghiện sẽ cao; do đó kéo theo tỉ lệ lây truyền HIV cao, làm giảm việc tuân thủ về chăm sóc và điều trị HIV/AIDS. Việc phải đợi đến khi các học viên được hồi gia thì mới chăm sóc HIV/AIDS, điều trị cai nghiện, và các can thiệp dự phòng khác sẽ làm mất đi cơ hội quan trọng để chủ động thu hút học viên bắt đầu sớm có các quyết định liên quan đến HIV và tiêm chích ma tuý, mà họ sẽ phải làm sau khi dời các Trung tâm. Việc trì hoãn cung cấp các can thiệp này cũng làm mất cơ hội để gắn kết học viên với các nguồn lực của cộng đồng, điều này rất cần để việc hồi gia của họ được thành công. Đối với thành viên của Đoàn CSIS và nhiều cán bộ quản lý của Việt Nam mà Đòan từng trao đổi, thì viễn cảnh để có thể tìm thấy số đông các học viên này ngay sau khi được trả về cộng đồng xem ra khó có thể thực hiện được. Theo bản Báo cáo Thường niên lần thứ hai của Văn phòng Điều phối AIDS Toàn cầu (OGAC) trình Quốc hội Hoa Kỳ tháng 2/2006, ở Việt Nam, các hoạt động cộng đồng về dự phòng HIV/AIDS theo hai nội dung kiêng quan hệ tình dục và chung thủy đã tiếp cận được 265,500 người; trong khi đó, các hoạt động dự phòng khác, bao gồm tuyên truyền hướng dẫn sử dụng bao cao su, đã tiếp cận được 165,200 người. Hoa kỳ đã góp phần vào việc cung cấp điều trị ARV cho 700 người, chiếm 3% trong tổng số 22,000 bệnh nhân được xác định cần được điều trị trong năm đầu tiên của chương trình 5 năm. Khỏang 13,000 đã nhận được các hình thức chăm sóc khác, với mục tiêu đặt ra cho 5 năm là chăm sóc 110,000 người. Những thách thức kép Thách thức về thành công của PEPFAR trước các đòi hỏi về ứng phó của Việt Nam Hoa kỳ và các nhà tài trợ khác đã và vẫn duy trì tình trạng do dự và bước đi rất cầm chừng trong việc nỗ lực tiếp cận với các nhóm có nguy cơ cao và bị kỳ thị nặng nề bằng các phương pháp hiệu quả nhất. Xét về mức độ trực tiếp, thì tình trạng do dự này có liên quan đến môi trường chính sách của Việt Nam. Phần trước của báo cáo này đã mô tả những tiến bộ đạt được trong các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam. Phần này cũng sẽ phác họa một vấn đề đáng lo ngại nhất đối với Việt Nam - và cũng là một thách thức lớn nhất đối với sự thành công của chương trình PEPFAR ở Việt Nam - đó là tình trạng không rõ ràng xung quanh cách làm của Việt Nam đối với việc dự phòng, hay ít nhất là làm chậm tốc độ ngày càng tăng tình trạng lây lan HIV từ các hoạt động bất hợp pháp và/hoặc các họat động bị xã hội kỳ thị nặng nề, như: tiêm chích ma tuý, mại dâm nữ và tình dục đồng giới nam. Cho tới nay, Chính phủ Việt Nam vẫn còn thiếu một phương pháp tiếp cận có tầm vóc chiến lược và thực sự đa ngành: không có sự giám sát liên tục và mang tính chất lồng ghép ở cấp cao; xác định rõ các vấn đề cần ưu tiên, và chưa có đủ quyết tâm ở cấp cao nhằm chống lại kỳ thị, đưa ra những quy định pháp luật mới về bảo vệ, xúc tiến vấn đề hiểm y tế, và áp dụng liệu pháp thay thế và điều trị và chăm sóc cho người tiêm chích ma túy, trong khi các liệu pháp này đã được chứng minh là có hiệu quả. Hiện vẫn còn xung đột về lợi ích giữa các chính sách- giữa sự cần thiết phải khống chế tội phạm và nạn sử dụng ma tuý đang ngày gia tăng, và nhu cầu cấp thiết của ngành y
    • 26 HIV/AIDS tại Việt Nam tế công cộng là khống chế dịch HIV/AIDS đang trong giai đoạn khởi đầu, nhưng đang ngày càng gia tăng – với việc trông cậy quá nhiều vào hoạt động của các Trung tâm 05, 06, vì coi đây là phương pháp “chữa chạy ” và giảm thiểu tình trạng tiêm chích ma tuý tràn lan. “Chương trình 3 giảm” của Chính phủ đã làm trầm trọng hơn tình trạng kỳ thị, đặc biệt nặng nề đối với người tiêm chích ma tuý, và phụ nữ hành nghề mại dâm, và đến nay chưa có nỗ lực cụ thể nào nhằm làm giảm tình trạng kỳ thị đối với nhóm MSM, thậm chí ngay cả khi các quan chức chính phủ trong ngành y tế đã nhận ra tầm quan trọng của việc phải tiếp cận các nhóm này bằng các biện pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV. Những thách thức về thể chế, chính trị và chính sách ngay trong nội tại nước Mỹ Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam khác về cơ bản so với 14 quốc gia còn lại thuộc trọng điểm của chương trình PEPFAR. Tỷ lệ hiện nhiễm chung của Việt Nam là còn tương đối thấp, số ca chuyển sang AIDS là tương đối ít, và dịch đang trong giai đoạn tập trung ở nhóm có hành vi nguy cơ, bất hợp pháp và/hoặc các hành vi bị xã hội kỳ thị. Bức phác họa cơ bản về HIV/AIDS này đòi hỏi phải có các hoạt động dự phòng có hiệu quả, được tiến hành trên quy mô lớn và chú trọng vào các hành vi nguy cơ đang là tâm điểm của dịch – đó là tiêm chích ma tuý, mại dâm nữ và tình dục đồng giới nam. Trước khi lựa chọn Việt Nam là một trong những quốc gia trọng điểm của chương trình PEPFAR, chính phủ Mỹ chưa từng gặp phải thách thức nào khi lập kế hoạch cho một mô hình ứng phó quốc gia với tình hình HIV/AIDS như ở Việt Nam. Ở nơi có mô hình dịch như vậy, tiến hành các hoạt động dự phòng cho số lượng lớn các hành vi làm lây truyền HIV sẽ tạo ra tiềm năng to lớn để thực sự khống chế tình trạng lây lan của HIV trước khi phải gia tăng các nguồn nhân lực và tài lực để thiết kế các hoạt động và tuyển dụng nhân viên, và duy trì các chương trình điều trị ARV ở diện rộng. Hơn nữa, yêu cầu của Quốc hội Mỹ là dành một phần ngân sách nhất định cho hai biện pháp dự phòng A và B trong chính sách ABC (A: Kiêng không quan hệ tình dục; B: chung thuỷ; C: bao cao su). Điều này thực sự là có vấn đề, khi mà ở một quốc gia, nạn tiêm chích ma tuý và mại dâm nữ đang chiếm đa số trong các trường hợp nhiễm HIV. Trong hòan cảnh như thế, thì bất cứ một chiến lược dự phòng nào cũng phải có độ linh hoạt, mềm dẻo và thẩm quyền để đưa ra những điểm nhấn quan trọng nhất của công tác dự phòng bảo vệ để ngăn chặn tình trạng lây truyền HIV/AIDS trong các nhóm hành vi nguy cơ. Thêm một yêu cầu nữa là các tổ chức NGO hiện đang thực hiện các chương trình do chính phủ Mỹ tài trợ phải tuyên bố phản đối tình trạng mại dâm cũng đã gây ra những vấn đề bức xúc không kém. Một đối tác thực hiện đã có rất nhiều năm họat động trong các chương trình dự phòng lây nhiễm HIV ở Việt Nam, lại là một tổ chức dầy dạn kinh nghiệm nhất trong lĩnh vực tiếp thị xã hội bao cao su tại Việt Nam đã không chấp nhận yêu cầu này và mất đi cơ hội nhận được kinh phí tài trợ. Hậu quả là tốc độ, số lượng và năng lực tiếp thị xã hội và phân phối bao cao su bị kéo lùi lại. Văn phòng Cơ quan Điều phối AIDS Toàn cầu của Hoa kỳ đã nhận ra những nhu cầu rất đặc thù của Việt Nam và miễn trừ cho Việt Nam không phải thực hiện yêu cầu A- B-C trong chiến lược dự phòng, như hiện đang làm tại 14 quốc gia nhận tài trợ PEPFAR. Song, thay vào đó là một chiến lược mới và toàn diện lấy trọng tâm là dự phòng ở Việt Nam hiện vẫn đang trong quá trình xây dựng. Khoảng trống này, một phần phản ánh tình trạng phía Mỹ không có hướng dẫn mặt chính sách về vấn đề tiêm chích ma tuý sử dụng cho các chương trình PEPFAR từ giữa tháng 8/2004 và tháng 3/2006, thời gian để huớng
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 27 dẫn lần đầu tiên được công bố. 9. Điều này đồng thời cũng cho thấy những lo ngại không được nói ra của các nhà lập kế hoạch của Mỹ về những nguy cơ chính trị trong nước liên quan đến việc đưa ra các cam kết thực sự nghiêm túc đối với các chương trình dự phòng, mà ở đây, chủ yếu tập trung vào tiêm chích ma tuý, mại dâm nữ và nam tình dục đồng giới; và còn bao gồm vấn đề làm việc với các nhóm có hành vi nguy cơ cao ở những nơi họ đang có mặt - kể cả ngay trong các Trung tâm giáo dục, cai nghiện phục hồi (05/06). Một cam kết như vậy có thể, thậm chí lại càng thể hiện rõ ràng hơn, việc tách Việt Nam ra khỏi các nước đang nhận tài trợ của PEPFAR, và như thế, sẽ thu hút sự chỉ trích nặng nề trong giới cầm quyền hoặc từ quốc hội Mỹ. Tuy nhiên, để phía Mỹ có được một chiến lược dự phòng HIV thành công và có hiệu quả cho Việt Nam, thì điều quan trọng là cần phải có sự thúc đẩy sáng suốt từ phía lãnh đạo cấp cao của Mỹ nhằm đảm bảo đội ngũ những người tham gia vào quản lý các chương trình này đi đúng hướng và được hứa hẹn chắc chắn rằng họ sẽ nhận được sự ủng hộ đầy đủ về chính trị từ chính phủ Mỹ. Một loạt các yếu tố về thể chế nội tại trong nước đã gây khó khăn cho những nỗ lực ban đầu của phía Mỹ nhằm thiết kế một chương trình PEPFAR hoạt động trôi chảy ở Việt Nam. Khi chương trình PEPFAR bắt đầu triển khai ở Việt Nam vào cuối năm 2004, Văn phòng Điều phối Phòng chống AIDS Toàn cầu của Mỹ ở Washington đã gánh vác trách nhiệm vô cùng to lớn, nặng nề trong việc đưa ra các chương trình phòng chống HIV/AIDS phức hợp và đầy tham vọng được thực hiện đồng thời ở 15 quốc gia trọng điểm của PEPFAR. Vào thời điểm đó, USAID chưa có Phái đoàn ở Việt Nam và đại sứ quán Mỹ đang giai đoạn chuyển giao – từ đại sứ cũ cho đại sứ mới, tùy viên y tế mới, giám đốc CDC mới. Hiện tại, nhân viên của văn phòng USAID vẫn chủ yếu là các nhân viên hợp đồng và do chịu sự quản lý hành chính của văn phòng USAID Băngkok. Cấu phần liên quan đến quân đội Mỹ trong dự án PEPFAR do Viện AFRIMS (Viện nghiên cứu về khoa học y tế của Lực lượng vũ trang ) ở Băng KoK quản lý, mặc dù cũng có kế hoạch cử một sĩ quan quân y của Hoa kỳ đến Hà Nội quản lý trực tiếp phần chương trình này của PEPFAR. Nhóm làm việc về HIV/AIDS của Mỹ tại Việt Nam bao gồm nhân lực từ USAID, Bộ y tế và nguồn lực (DHHS), và Quân đội Mỹ. Các thành viên của Nhóm đều là những người có trình độ kỹ thuật cao và tích cực tận tụy để công việc được thành công. Song, họ lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề chính sách chiến lược ở cấp độ quốc gia và quốc tế, và dàn xếp các mối quan với Washington. Nhóm thực sự cần một điều phối viên cao cấp. Đại sứ quán Hoa kỳ tại Hà Nội có một tuỳ viên y tế và một Cố vấn cao cấp của DHHS. Từ năm 2005 trở lại đây, nguy cơ về dịch cúm gia cầm đã chiếm phần lớn thời gian làm việc của Cố vấn này. Trong giai đoạn này, chưa có ai được bổ nhiệm vào vị trí điều phối cấp cao cấp trong nội bộ chương trình PEPFAR tại Việt Nam, đồng thời điều phối các mối quan hệ với các lãnh đạo cấp cao của chính phủ Việt Nam và với Washington. Tuy nhiên, phía Mỹ cũng đã nhận ra chỗ trống này. Vào tháng 2/2006, sau khi từ Việt Nam trở về, các thành viên của Đoàn CSIS đã được thông báo rằng đã đạt được thoả thuận giữa đại sứ quán Mỹ và Văn phòng Điều phối Phòng chống HIV/AIDS 9 Được Quốc hội công bố vào tháng 2/2006.
    • 28 HIV/AIDS tại Việt Nam HIV/AIDS ở Lạng Sơn, một tỉnh biên giới Một số thành viên của Đoàn đánh giá CSIS đã đến Lạng Sơn, một tỉnh nằm ở Tây- Bắc Việt Nam, có biên giới với tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc. Đầu năm những năm 90, Lạng Sơn phải đối mặt với dịch kép: tiêm chích ma tuý và HIV/AIDS. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma tuý hiện chiếm khoảng 35%, và số liệu về tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong phụ nữ hành nghề mại dâm, phụ nữ mang thai và người lớn ở miền bắc Việt Nam cho thấy dịch bắt đầu bước sang giai đoạn phổ biến. Tỷ lệ phụ nữ trong số các ca nhiễm mới, được báo cáo đã lên tới 17% năm 2004. Giám sát dịch tễ học trong nhóm phụ nữ có thai tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm trung bình khoảng 0,6% giữa các năm 1998 và 2004, so sánh với tỷ lệ 0,3% của cả nước được báo cáo trong năm 2004. Số liệu từ các cơ sở VCT của tỉnh trong thời gian 9/2003-2/2004 cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm ở nam giới là 25% và phụ nữ là 10%, trong đó gồm phụ nữ tiêm chích ma tuý, phụ nữ bán dâm và bạn tình của những người tiêm chích ma tuý. Ở Bắc Ninh, một tỉnh láng giềng phía Bắc, tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma tuý cũng tương tự như Lạng Sơn; bạn tình nữ của những người tiêm chích ma tuý cũng được phát hiện đang có nguy cơ nhiễm HIV, do một phần vì tỉ lệ sử dụng bao cao su thấp. Hiện tại, có 14 cơ sở công và 22 cơ sở y tế tư nhân ở Lạng Sơn tiến hành xét nghiệm HIV và có khoảng 2,200 người nhiễm, 100 trong số đó đã chuyển sang AIDS. Vào thời điểm đoàn đánh giá đến Lạng Sơn, chưa có bệnh nhân nào được điều trị ARV, mặc dù Quỹ toàn cầu đã cam kết hỗ trợ ART cho 36 bệnh nhân của tỉnh vào năm 2006. Như các khu vực biên giới giữa các nước, hoạt động phòng chống HIV/AIDS trong khu vực đang gặp nhiều thách thức, một phần vì tỉ lệ dân di biến động cao. Những dòng người di chuyền qua biên giới đang ngày càng mạnh bởi vì chính sách mở cửa đi lại và thông thương trong khu vực do các nhà lãnh đạo khu vực xây dựng và bởi vì khu vực biên giới này nằm ở tuyến trung chuyển heroin. Người ta cũng cho rằng có sự di cư của người Việt Nam vào khu vực này để tìm kiếm cơ hội việc làm ở khu vực biên giới. Gia tăng thương mại và kinh doanh trong khu vực biên giới trong những năm gần đây đã tạo ra nhu cầu ngày càng tăng về “dịch vụ giải trí” trong đó có các loại hình kinh doanh đi liền với mại dâm ở khu vực hai bên biên giới. Theo các đồng đẳng viên mà đoàn đánh giá đã gặp ở cửa khẩu Tân Thanh, ngay sát với biên giới của Trung Quốc ở khu vực thương mại Phú Bài, nhiều phụ nữ đã bị gia đình hoặc những kẻ kinh doanh bán. Cùng với “nữ nhân viên phục vụ” làm việc trong dịch vụ giải trí hoặc trong các tiệm làm đẹp ở khu vực biên giới, rõ ràng có một nhóm “phụ nữ đường phố” đang chịu sự điều hành và quản lý của “các ông chủ”. Các thành viên của đoàn đánh giá đã trò chuyện với một nhóm các cô gái đường phố và người quản lý họ, là một giáo dục viên đồng đẳng phân phát bao cao su cho những người thuộc sự giám sát của chị Những rào cản về ngôn ngữ, văn hoá, sự kiểm soát và sự điều phối qua biên giới rõ ràng là có thể vượt qua được nếu có các dịch vụ dự phòng được và được cung cấp một cách hiệu quả, và kết quả là sẽ khống chế được sự lây truyền HIV/AIDS qua biên giới. Tỉnh Lạng Sơn là nơi triển khai dự án Qua Biên giới, chương trình dự phòng lây nhiễm HIV cho người sử dụng ma tuý. Với sự hỗ trợ của Quỹ Ford, năm 2002 các hoạt động can thiệp đã được triển khai thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn và qua vùng biên giới ở huyện Nam Ninh của tỉnh Quảng Châu. Các hoạt động can thiệp này đưa ra mô hình giáo dục đồng đẳng, những đồng đẳng viên được nhận lương của chương trình có nhiệm vụ tiếp cận người sử dụng ma tuý ở cộng đồng, cung cấp các thông tin về giảm nguy cơ lây nhiễm HIV, tờ rơi, bao cao su, bơm kim tiêm mới và những thẻ có thể sử dụng ở các nhà thuốc để đổi lấy bơm kim tiêm mới. Đồng đẳng viên cũng thu thập và huỷ một cách an toàn các dụng cụ tiêm chích mà những người tiêm chích ma tuý đã sử dụng. Một đánh giá gần đây về Dự án “Qua biên giới” cho thấy đã có chuyển biến tích cực kể từ năm 2002. Các hoạt động can thiệp đã tiếp cận với 60-70% người tiêm chích ma tuý tại các địa bàn dự án. Số liệu về giảm về các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV liên quan đến sử dụng ma tuý và quan hệ tình dục mà dự án báo cáo đã được ghi nhận. Tỷ lệ nhiễm HIV và số ca nhiễm HIV ở
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 29 những người sử dụng ma tuý đã giảm ở tỉnh Lạng Sơn, mặc dù lây nhiễm HIV chưa hoàn toàn được chặn đứng. Quỹ Ford hiện đang hỗ trợ giai đoạn tiếp theo của dự án trong đó sẽ sử dụng các nữ giáo dục viên đồng đẳng tiếp cận với những cô gái hành nghề mại dâm và những bạn tình của người tiêm chích ma tuý để giúp họ học cách thương lượng sử dụng bao cao su với khách hàng và bạn tình của mình. Một dự án mới của Bộ phát triển quốc tế Anh (DFID), tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y tế Việt Nam đã bắt đầu sử dụng các đồng đẳng viên để tiếp cận với những người sử dụng ma tuý và những người hành nghề mại dâm và khách hàng của họ ở một số địa bàn trong tỉnh. Đoàn chuyên gia CSIS cũng được cho biết là điều trị cai nghiện ma tuý ở Lạng Sơn chủ yếu là tại gia đình và cộng đồng, nhóm người muốn cai tập trung tại một căn phòng, và sử dụng phác đồ điều trị cai nghiện đã được Bộ y tế thông qua (thuốc an thần hoặc đông y), dưới sự giám sát của các cán bộ y tế tại địa phương. Trung tâm 06 điều trị cai nghiện ma túy gần đây mới được mở ở tỉnh Lạng Sơn nhằm giúp cai nghiện, công việc lao động chân tay, và giáo dục về cắt cơn. Toàn cầu của Mỹ ở Washington trong việc cử một vị trí điều phối của chương trình PEPFAR làm tại văn phòng của Đại sứ quán Mỹ. Về lĩnh vực điều trị HIV/AIDS, việc thực hiện chương trình điều trị tích cực ARV đã có sự chậm trễ hơn dự kiến do có một số trở ngại về mặt chính sách Trong năm đầu tiên của PEPFAR tại Việt Nam, một đối tác thực hiện chương trình của Mỹ đã nhập khẩu các thuốc HAART vào Việt Nam mà không có giấy phép nhập khẩu phù hợp. Khi nhân ra sai sót này, thì thủ tục cần thiết để xin giấy phép nhập khẩu mới được tiến hành, nhưng việc nhập khẩu đã bị ngừng lại trong vòng 6 tháng. Bên cạnh đó, việc cho phép sử dụng kinh phí của PEPFAR để mua thuốc ARV giá rẻ cũng bị chậm chễ, do đó giá thuốc đã tăng lên gấp nhiều lần và làm giảm số người có thể cần phải nhanh chóng điều trị. Việc quản lý cung ứng thuốc cũng là một vấn đề bức xúc, một số bệnh viện báo cáo phải mất hơn 9 tháng so với kế hoạch dự kiến để có được thuốc ART chính hãng. Những sự chậm trễ này đã gây ra những khó khăn trong mối quan hệ với chính phủ Việt Nam và ảnh hưởng chung tới uy tín của các chương trình do Mỹ tài trợ, đối với các bệnh viện hiện đang lo lắng phục vụ bệnh nhân: những vấn đề này diễn ra khi Mỹ đang hỗ trợ việc tăng cường mở rộng các cơ sở VCT để xác định ai cần phải đưa vào điều trị. Khả năng tiếp cận điều trị hiện tại đã được giải quyết tốt hơn, sau khi nguồn thuốc sản xuất theo công thức của chính hãng được FDA phê duyệt, gần đây sẵn có hơn và bắt đầu có những bố trí mới về mạng lưới cung cấp thuốc. Ngoài ra, các cuộc thảo luận với chính phủ Việt Nam trong việc xin giấy phép của FDA phê duyệt việc sản xuất thuốc ARV đã được xúc tiến. Kế hoạch hoạt động của năm tài chính 2006 cho Việt Nam, mặc dù đến đầu tháng 3/2006 mới được hoàn tất, nhưng có tin rằng đã nguồn kinh phí sẽ được tăng lên để phục vụ công tác chăm sóc và điều trị, bao gồm cả việc xây dựng hệ thống mua và cung cấp thuốc hiệu quả. Một hệ thống tổ chức hợp lý như vậy có thể sẽ là yếu tố quan trọng để các đáp ứng của Việt Nam về phòng chống HIV/AIDS sẽ toàn diện hơn và có hiệu quả hơn. Tiếp tục có những tiến triển trước những thách thức Cho dù có những khó khăn trở ngại, nhưng đã xuất hiện những tiến triển rất đáng chú ý trong chương trình PEPFAR ở Việt Nam. Đoàn đánh giá của CSIS rất cảm kích trước sự
    • 30 HIV/AIDS tại Việt Nam tận tâm của những người Việt Nam, người Mỹ và rất nhiều những người khác trong cuộc chiến với HIV/AIDS ở Việt Nam. Đoàn cũng có những ấn tượng tốt đẹp trước những thay đổi về chính sách trong việc tạo điều kiện mở rộng các hoạt động dự phòng, chăm sóc, và điều trị; Đoàn cũng tin chắc rằng Việt Nam đang có trong tay cơ hội to lớn để đạt được thành công trong việc ngăn chặn HIV/AIDS trong tương lai. Các chương trình do Mỹ hỗ trợ đã thể hiện rõ ràng sức mạnh sự cam kết nhằm thực hiện được các nỗ lực này, và, tạo ra triển vọng xây dựng mối quan hệ đối tác và các chương trình hợp tác hiệu quả hơn bao giờ hết tại Việt Nam. Mặc dù các chi tiết của kế hoạch chưa được công bố, dù rằng Quốc hội chưa thông qua, và cho dù việc triển khai chưa được bắt đầu, nhưng Văn phòng Điều phối Phòng chống HIV/AIDS Toàn cầu của Mỹ và Nhóm chuyên gia của chương trình PEPFAR tại Việt Nam đã nhất trí trong nội bộ với nhau về một kế hoạch hỗ trợ các hoạt động dự phòng HIV/AIDS và các dịch vụ chăm sóc cho các học viên trong các Trung tâm 05, 06. Xây dựng và triển khai nhanh chóng một kế hoạch thiết thực cho các Trung tâm này- bao gồm kế hoạch hồi gia cho các học viên từ các Trung tâm trở về cộng đồng nhằm giảm thiểu tình trạng tái nghiện, như vậy sẽ có thể loại bỏ được trở ngại chính cho các nỗ lực dự phòng HIV/AIDS có hiệu quả trên toàn quốc. Nói chung, phía Mỹ hiện đang lập kế hoạch tiếp tục hỗ trợ cho chiến lược toàn diện của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề lớn hơn của tình trạng tiêm chích ma tuý cả ở trong và ngoài các Trung tâm 06. Trong Báo cáo Thường niên lần thứ hai cho Quốc hội của Văn phòng Điều phối Phòng chống HIV/AIDS Toàn cầu của Mỹ vào tháng 2/2006, phần về Việt nam có nêu rằng “…Kế hoạch hỗ trợ khẩn cấp đã tăng cường mở rộng các hoạt động nhằm giải quyết các nhu cầu của người tiêm chích ma tuý…và đã hoàn thiện những hướng dẫn về mặt chính sách nhằm hỗ trợ xây dựng chương trình cho nhóm đối tượng quan trọng này.”10 Các bước tiếp theo là cần phải làm ngay đó là: xác định rõ các nội dung dự phòng HIV trong bản hướng dẫn về chính sách này và cần thực hiện công tác điều phối với các đối tác Việt nam và các nhà tài trợ khác. 10 Văn phòng điều phối các hoạt động phòng chống HIV/AIDS toàn cầu của Mỹ, Hành động ngay, cơ sở cho ngày mai, trang 30.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 31 Những người sử dụng ma tuý và HIV: Những lựa chọn về mặt chính sách nhằm đạt được thành công lâu dài Nhằm khống chế thành công hai vấn nạn có tương tác qua lại lẫn nhau - tiêm chích ma tuý và HIV/AIDS, Việt Nam sẽ cần phải có những hoạt động can thiệp có hiệu quả, để cùng lúc vừa dự phòng hoặc làm chậm lại tốc độ lây lan của từng vụ dịch sang những nạn nhân mới, vừa phải giảm thiểu các tác động của từng vấn nạn này đối với mỗi cá nhân đã từng chịu ảnh hưởng, gia đình và cộng đồng. Việt Nam cũng cần phải xử lý hài hoà các vấn đề của ngành y tế công cộng nhằm đạt được việc tiếp cận có hiệu quả với nhóm đối tượng bị ảnh hưởng với vấn đề nổi cộm hiện nay là phòng chống tội phạm. Để đối phó với HIV/AIDS, một số lượng lớn những người sử dụng ma tuý hiện nay hiện đang trong các trung tâm giáo dục xã hội và ở ngoài các trung tâm sẽ cần phải được xét nghiệm và tư vấn HIV. Những người sử dụng ma tuý đã có HIV cần phải được giám sát và chăm sóc HIV/AIDS và các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Điều không kém quan trọng là cần phải có những biện pháp hiệu quả nhằm giảm nguy cơ lây truyền HIV từ họ sang người khác qua quan hệ tình dục, và giảm sử dụng chung các dụng cụ tiêm chích cho tới khi hành vi tiêm chích ma tuý của họ có thể khống chế được. Ở một số nước, thành công trước mắt và lâu dài thường đạt được thông qua giảm sử dụng chung các dụng cụ tiêm chích và cung cấp dụng cụ tiêm chích mới. Để giải quyết vấn đề nghiện ma tuý, những người sử dụng ma tuý sẽ cần các dịch vụ điều trị mới và trên quy mô lớn. Phụ thuộc vào ma tuý là một căn bệnh mãn tính. Ở các nước khác, các cách tiếp cận dựa vào việc điều trị cắt cơn ngắn hạn không đạt được thành công lâu dài. Giải giáp lâu dài thành công nhất đến nay trong việc giúp những người tiêm chích ngừng sử dụng ma tuý là cần phải có các chương trình tổng thể bao gồm liệu pháp thuốc hỗ trợ và hỗ trợ của cộng đồng. Khi có các yếu tố này, có thể giảm được tỉ lệ tái nghiện. Ngoài ra việc điều trị cai nghiện ma tuý có lợi ích giúp giảm lây truyền HIV. Ở Việt Nam, chiến lược quốc gia ghi nhận vai trò của các chương trình giảm hại, và các chương trình thí điểm đã hứa hẹn việc giảm lây truyền HIV ở một số cơ sở. Tuy nhiên, hiện tại chưa có chính sách rõ ràng của nhà nước và chưa có tiếp cận rộng rãi trong các chương trình giảm hại. Các chương trình quốc gia hiệu quả nhằm đạt được những mục tiêu này về lâu dài sẽ cần phải đối mặt với những thực tế khó khăn: (1) kỳ thị với người được biết là sử dụng ma tuý và với những người được nghĩ là có AIDS hoặc bị nhiễm HIV; (2) thiếu khung pháp lý hiệu quả trong việc hạn chế sự phân biệt đối xử và dung hoà những bất đồng giữa nhu cầu tiếp cận y tế công cộng và phòng chống tội phạm. (3) nhóm đối tượng nguy cơ cao chưa được tiếp cận đầy đủ với các chương trình phòng chống HIV/AIDS hiệu quả; (4) chưa có kế hoạch quốc gia tổng thể trong việc điều trị hiệu quả tiêm chích ma tuý đồng thời phòng ngừa lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền khác và (5) cơ chế hiện nay ở các trung tâm giáo dục xã hội hạn chế Mỹ và các nhà đầu tư khác hỗ trợ các hoạt động phòng chống HIV/AIDS cho các đối tượng tiêm chích ma tuý.
    • 32 HIV/AIDS tại Việt Nam Ứng phó từ phía các tổ chức quốc tế Nhiều nhà tài trợ và các tổ chức chính sách khác hiện đang tham gia tích cực vào việc hỗ trợ các nỗ lực nhằm kìm hãm tốc độ gia tăng và tác động của HIV/AIDS ở Việt Nam. Các hỗ trợ bao gồm từ tài trợ kinh phí đến xây dựng chính sách (bao gồm cả điều phối) đến việc mua sắm hàng hóa. Với một số các tổ chức được đề cập dưới đây, Đoàn đánh giá không có ý định liệt kê tất cả các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế và các nhóm các tổ chức thực hiện và các dự án, thay vào đó là việc đưa ra một một số ví dụ tiêu biểu về các tổ chức đã gây được sự chú ý của các thành viên CSIS trước và trong quá trình làm việc tại Việt Nam vào tháng 1/2006. Các tổ chức LHQ: hiện đang hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau về phòng chống HIV/AIDS, gồm cả chương trình riêng và chương trình phối hợp. Một phần danh sách của các dự án là: Hỗ trợ phát triển giám sát; giảm hại; và giảm kỳ thị và phân biệt đối xử (WHO); Hỗ trợ xây dựng chiến lược phòng chống HIV/AIDS (UNAIDS, WHO, UNDP); xây dựng các chính sách có liên quan đến luật pháp và thể chế nhằm giải quyết tình trạng phân biệt đối xử (UNDP & UNAIDS); lồng ghép HIV/AIDS vào lập kế hoạch phát triển (UNDP), hỗ trợ chăm sóc tại cộng đồng cho những người bị ảnh hưởng của HIV (UNICEF), hỗ trợ các nhóm tình nguyện phòng chống HIV/AIDS ở địa phương (UNV); dự phòng lây nhiễm HIV ở những người tiêm chích ma tuý (UNOCD), thiết lập và hỗ trợ Cộng đồng các Đối tác Quan tâm về HIV/AIDS tại Việt Nam (UNAIDS và các tổ chức khác). Cùng với UNAIDS đóng vai trò thư ký, các cơ quan LHQ hiện đang cùng hỗ trợ nhóm hoạt động kỹ thuật về HIV/AIDS (TWG) nhằm tăng cường công tác điều phối và cộng tác giữa các tổ chức NGO quốc tế tại ViệtNam. Chủ tịch của Nhóm Chủ đề LHQ (UN Theme Group) và điều phối viên quốc gia của UNAIDS hiện đang tích cực đối thoại với các nhà lãnh đạo Việt Nam về một số vấn đề như điều phối, lập kế hoạch và chính sách. Các thành viên của Đòan đánh giá ghi nhận rằng các cơ quan LHQ tại Việt Nam hiện đang phối kết hợp với nhau trong công tác phòng chống HIV/AIDS, ở một cấp độ không phải quốc gia nào cũng có được. Các tổ chức LHQ đã làm trọn nhiệm vụ của mình là được các nhà xây dựng chính sách của Việt Nam lắng nghe và tin tưởng. Quỹ Toàn cầu phòng chống HIV/AIDS, Lao và Sốt rét (GFATM) có ba mảng tài trợ cho Việt Nam, về HIV/AIDS, lao và sốt rét, với tổng kinh phí khoảng 35 triệu USD. GFATM đã dành cho Việt Nam khoản kinh phí 7,5 triệu USD cho hoạt động phòng chống HIV/AIDS trong vòng 1 từ đầu năm 2004; Kinh phí tài trợ đã được mở rộng ở giai đoạn 2 với kinh phí khoảng 4,5 triệu USD cho đến cuối năm 2008. Trọng tâm của các khoản hỗ trợ này, thông qua Bộ y tế, hiện đang được tăng cường mở rộng dự án từ các hoạt động thí điểm tại 3 tỉnh – gần đây mới được đánh giá, ra 17 tỉnh về chăm sóc dựa vào cộng đồng, hỗ trợ và tư vấn. Cụ thể các hoạt động được hỗ trợ đến nay bao gồm đào tạo, tập huấn cán bộ y tế, xây dựng năng lực xét nghiệm HIV, phát triển hoặc củng cố cơ sở VCT, chăm sóc và hỗ trợ người sống với HIV/AIDS, cung cấp thuốc chữa các bệnh nhiễm trùng cơ hội, và tư vấn và xét nghiệm thai sản. Phân phát thuốc ARV đã được lên kế hoạch, nhưng bị trì hoãn cho đến gần đây mới tiến hành được, do có khó khăn trong việc mua thuốc. Hiện nay, các khó khăn này phần nào đã được giải quyết thông qua việc
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 33 lựa chọn UNICEF là tổ chức đứng ra mua thuốc. Vào tháng 12/2005, những bệnh nhân đầu tiên đã nhận được HAART. Để giúp giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong điều phối chương trình, cơ chế điều phối quốc gia về GFTAM tại Việt Nam giờ đây đã có sự tham gia của một số nhà tài trợ (kể cả đại sứ quán Hoa kỳ) và các NGO. Những người quản lý điều hành Quỹ Tòan cầu và các nhân viên của PEPFAR hiện đang rất lạc quan về việc điều phối các hoạt động của GFATM và PEPFAR (cùng các đối tác khác), đặc biệt các hoạt động liên quan đến điều trị ARV, sẽ đem lại lợi ích cho các chương trình và những người hưởng lợi của tất cả nhóm đang thực hiện. Ngân hàng thế giới đã thông qua và từ cuối năm 2005 bắt đầu thực hiện dự án phòng chống HIV/AIDS trị giá 35 triệu USD trong vòng 6 năm cho Việt Nam; chương trình có mục tiêu rõ ràng là hỗ trợ các mục tiêu cụ thể của Chiến lược Quốc gia Phòng chống HIV/AIDS của Việt Nam, cụ thể là giảm và duy trì tỷ lệ hiện nhiễm HIV trên toàn quốc xuống dưới 0,3%. Dự án này hiện đang triển khai ở 18 tỉnh (bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng) thông qua hỗ trợ việc xây dựng và thực hiện các Kế hoạch Hành động hàng năm của tỉnh. Các hoạt động trọng tâm ở tuyến tỉnh bao gồm xây dựng cách làm mới về dự phòng và điều trị có hiệu quả cho các nhóm dễ bị tổn thương, trong đó có những địa bàn trình diễn các mô hình điều trị dựa vào cộng đồng, giáo dục đồng đẳng, và nâng cao năng lực lãnh đạo địa phương. Ngoài ra còn có các nghiên cứu chính sách dựa vào hoạt động (dựa một phần vào đánh giá chương trình) và chia sẻ thông tin. Ngân hàng phát triển Châu Á hiện có dự án 5 năm trị giá 20 triệu USD nhằm truyền thông thay đổi hành vi trong giới trẻ trên phạm vi quốc gia, tập trung ở 15 tỉnh. Mục tiêu dự án là làm giảm lây truyền HIV trong nhóm đối tượng 15-24 tuổi bằng các dự phòng ban đầu, sử dụng các phương tiện truyền thông của Quốc gia và địa phương, phát triển các can thiệp dự phòng HIV dựa vào cộng đồng, giáo dục đồng đẳng và tăng cường sự lãnh đạo của địa phương trong phòng chống HIV/AIDS. Dự án này còn tập nâng cao nhận thức về giới, bao gồm giáo dục về các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV và phòng chống lây nhiễm khác nhau giữa nam và nữ. Dự án trú trọng vào sự tham gia của những người hưởng lợi trong quá trình thiết kế và xây dựng chương trình, và bao gồm cả giám sát và đánh giá dự án. Những người thiết kế dự án hy vọng rằng dự án sẽ đem lại những lợi ích về xã hội, y tế và kinh tế. Dự án ESTHER hay mạng lưới liên kết liệu pháp trong bệnh viện là dự án hợp tác “sinh đôi” giữa các nước EU và một số nước phát triển. Nói chung, các chương trình này được xây dựng quanh các cơ chế và điều kiện hiện có và cố gắng tăng cường tiếp cận với chăm sóc có chất lượng bệnh nhân ở địa bàn. Dự án 3 năm được hỗ trợ của chính phủ Pháp trong mạng lưới ÉTHER và đang thực hiện theo hướng dẫn của UN nhằm xây dựng hệ thống cung cấp điều trị ARV và chăm sóc đi kèm ở bệnh viện Đống Đa (thành viên của đoàn CSIS đã thăm bệnh viện). Cơ quan phát triển quốc tế của Vương quốc Anh (DFIF) cùng với chính phủ Na Uy đã bắt đầu một dự án 17 triệu đô là về phòng chống HIV tại 21 tỉnh. Mục tiêu chính của dự án là giảm các hành vi nguy cơ cao ở những người hành nghề mại dâm, người tiêm chích ma tuý và bạn tình của họ, và phân phát bao cao su.
    • 34 HIV/AIDS tại Việt Nam Cơ quan Viện trợ của chính phủ Úc (AusAID) hiện đang hỗ trợ 7 triệu đô la trong một dự án thông qua ACIL (một tổ chức phi chính phủ của ÚC) và Viện MarFarlane Burnet nhằm tăng cường năng lực sử dụng và thúc đẩy các tiếp cận dựa vào bằng chứng nhằm giảm tác hại liên quan đến HIV trong việc sử dụng tiêm chích ma tuý. AusAID gần đây cũng đã cấp khoảng 510 ngàn đô la Mỹ cho Trung ương Đoàn thanh niên Việt Nam trong việc thử nghiệm tập huấn huấn luyện viên chủ chốt, sau đó họ sẽ tiến hành tập huấn đào tạo các thành viên của Đoàn Thanh niên ở 4 tỉnh về các mô hình thay đổi hành vi liên quan đến HIV. Mục tiêu của chương trình là tạo ra một đội ngũ cán bộ thành niên có thể tiến hành tập huấn và giáo dục về nguy cơ HIV và phòng chống lây truyền HIV ở những người trẻ tuổi ở cấp xã và huyện. Dự án này hiện đang được Trung ương Đoàn thanh niên hỗ trợ trực tiếp . Các tổ chức song phương và phi chính phủ khác hiện đang hoạt động ở Việt Nam bao gồm (nhưng không chỉ dừng lại) các tổ chức sau: Viện phát triển giáo dục, Dự án SMART, ActionAID, Chữ thập đỏ ÚC, Care International, Hợp tác quốc tế vì phát triển và đoàn kết (Pháp), DKT, FHI, Ford Foundation, Futures Group International (Policy Project), Marie Stopes International, Thầy thuốc thế giới (Canada, Pháp), Path (Canada, Mỹ), Pathfinder International, Plan International, Population and Development International, Population Council, Cứu trợ trẻ em (Anh, Mỹ), Quỹ Dân số thế giới, Tầm nhìn thế giới, Chương trình đào tạo và điều trị HIV/AIDS của Việt Nam, Cơ quan nghiên cứu về HIV/AIDS (Pháp), Liên minh Na Uy, Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch, Trung tâm nghiên cứu phòng chống AIDS ở San Francisco, Hội đồng Anh, Cơ quan phát triển quốc tế Thuỵ Điển và KPMG.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 35 Vai trò và sự tham gia của khu vực tư nhân trong phòng chống HIV/AIDS Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở những nước bị tác động mạnh của đại dịch HIV/AIDS, cộng đồng doanh nghiệp đã có vai trò tiên phong quan trọng trong các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của quốc gia. Sự tham gia của thành phần này bao gồm từ việc xây dựng và thực hiện các chính sách về phòng chống HIV ở nơi làm việc, giáo dục, các chương trình phòng chống HIV cho nhân viên, người lao động nhằm hỗ trợ các chương trình cộng đồng và tuyên truyền vận động các nhà lãnh đạo chính phủ đến việc huy động nguồn lực trong cuộc đấu tranh phòng chống HIV/AIDS. Đoàn chuyên gia CSIS chưa thấy sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp ở Việt Nam trong bất cứ hoạt động nào kể trên. Một số công ty dược đa quốc gia như Bristol-Myers Squibb, Merk, và Pfizer, là các công ty truyền thống và thường nằm trong số các công ty tư nhân đầu tiên hỗ trợ các hoạt động phòng chống HIV/AIDS đã tài trợ kinh phí đào tạo cho các cán bộ y tế và các chương trình HIV/AIDS của các tổ chức NGOs trong nước. Với hỗ trợ của chính phủ Đan Mạch, năm 1999, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam đã đưa ra chương trình giáo dục các công ty ở Việt Nam về HIV/AIDS ở nơi làm việc và tác động tiềm ẩn của nó với kinh doanh và hiện đang triển khai các chương trình đào tạo về chính sách tại nơi làm việc ở 4 tỉnh. Chừng nào mà dịch HIV/AIDS hiện tại ở Việt Nam được xem là có tỉ lệ lây nhiễm thấp và chủ yếu liên quan đến những người sử dụng ma tuý và hành nghề mại dâm, thì cộng đồng doanh nghiệp có thể kết luận đại dịch sẽ chẳng mấy tác động đến năng suất, lợi nhuận hoặc nguồn nhân lực. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo của các doanh nghiệp có cơ hội lớn khi trở thành một đối tác với chính phủ, các tổ chức NGO, và các đối tượng khác nữa trong việc giảm sự lây truyền HIV và tránh không để dịch lan rộng ra cộng đồng. Qua các chương trình giáo dục tại nơi làm việc bao gồm cả tư vấn xét nghiệm tự nguyện và các chính sách dự phòng lây nhiễm, các công ty có thể góp phần nâng cao nhận thức về HIV/AIDS cho cán bộ nhân viên, mà trong số họ có nhiều người là lao động di cư đang cơ nguy cơ lây nhiễm HIV. Các chương trình như vậy không chỉ đóng vai trò giáo dục mà còn thúc đẩy đạo đức của người lao động và các công ty thừa nhận họ là các công dân tốt của công ty. Chủ tịch và các lãnh đạo công ty khác cũng nên thừa nhận những tác động tiềm ẩn của dịch HIV đối với ổn định chính trị, thị trường lao động, và môi trường đầu tư kinh doanh tổng thể. Chủ tịch có thể là các người tuyên truyền có uy tín và ảnh hưởng nhằm vận động các nhà lãnh đạo quốc gia và phân bổ đủ nguồn lực cho hoạt động phòng chống HIV/AIDS ở các cộng đồng bất ổn định, nền kinh tế, và môi trường thị trường ở Việt Nam cho các công ty trong và ngoài nước.
    • 36 HIV/AIDS tại Việt Nam Phụ lục A: Danh sách các thành viên cúa đoàn đánh giá CSIS Tommy G.Thompson, Trưởng đoàn đánh giá Partner, Akin, Gump Strauss, Hauer và Feld. LLP Nguyên Bộ trưởng Bộ y tế và dịch vụ con người J.Stephen Morrison Giám đốc, Chương trình Châu Phi của CSIS, kiêm Giám đốc điều hành Nhóm đặc nhiệm về HIV/AIDS của CSIS Robert Cogorno Giám đốc Floor của Đảng Dân chủ, Hạ nghị viện Hoa Kỳ Jason Denby Trợ lý đặc biệt của Tommy G.Thompson, Akin, Gump, Strauss, Hauer và Feld, LLP Linda Distlerath Phó Chủ tịch, Chính sách Y tế toàn cầu, Merk và công ty (Hồng Kông) Kelley Hampton Trợ lý nghiên cứu, Chương trình châu Phi của CSIS và Nhóm đặc nhiệm về HIV/AIDS LTC Jerome Kim Giám đốc, Ban ARV, Bộ phận y tế của Quân đội Mỹ, Viện nghiên cứu khoa học y tế Lực lượng vũ trang (Bangkok) David Metzger Giám đốc, Phòng nghiên cứu dự phòng HIV/AIDS, Trung tâm nghiên cứu nghiện, Trường Đại học Pennsylvania Phillip Nieburg Chuyên viên trợ lý cao cấp, Nhóm đặc nhiệm về HIV/AIDS của trung tâm CSIS Todd Summers Chuyên viên cao cấp về chính sách cho tổ chức Sức khoẻ toàn cầu, Quỹ Bill và Merinda Gates Gary West Phó Chủ tịch cao cấp, Tổ chức sức khoẻ gia đình Quốc tế (FHI)
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 37 Phụ lục B: Chương trình làm việc của đoàn đánh giá Chủ nhật, ngày 8 tháng 1: Hà Nội Nhóm dự án PEPFAR tại đại sứ quán Mỹ trình bày đôi nét về HIV/AIDS cho nhóm đánh giá Đón tiếp và ăn tối với Đại sứ Mỹ Michael Marine, Phó đại sứ John Boardman, nhóm PEPFAR và một số khách Việt Nam Thứ hai, ngày 9 tháng 1: Hà Nội Làm việc với Bà Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ y tế Làm việc với đại diện của Cục phòng chống TNXH, Bộ LĐTBXH Làm việc với bà Hà Thị Khiết, Chủ tịch Hội LHPNVN Làm việc với ông Đoàn Văn Thái, Giám đốc Trung tâm phát triển hợp tác quốc tế thanh niên, Bí thư Đoàn Thanh niên Làm việc và ăn trưa với đại diện thường trú của một số tổ chức LHQ Làm việc với Hội phật giáo Làm việc với thành viên và giáo dục đồng đẳng của nhóm Vì ngày mai tươi sáng để thảo luận về sự hỗ trợ với người có HIV Chủ trì buổi họp về “Vai trò của các nhà lãnh đạo trong kiểm soát HIV/AIDS” . Phát biểu chính : Hon. Tommy G.Thompson Thứ ba, ngày 10 tháng 1: Hải Phòng Sáng sớm đi ô tô xuống Hải Phòng Làm việc với lãnh đạo Sở y tế Hải Phòng Thăm trung tâm Tư vấn và Xét nghiệm tự nguyện và phòng khám ngoại trú LIFE GAP Thăm Câu lạc bộ Sức khoẻ phụ nữ tham gia chăm sóc và tư vấn cho phụ nữ mại dâm Làm việc và ăn trưa với các thành viên và giáo dục đồng đẳng của Nhóm Hoa Phượng Đỏ , một nhóm hỗ trợ của người có HIV, và với thành viên của CLB mẹ và vợ, một tổ chức phi chính phủ bao gồm các thành viên của người có HIV do Hội LHPNVN hỗ trợ. Làm việc với nhóm tuyên truyền viên ở Câu lạc bộ Hải Âu, một trung tâm của những người tiêm chích ma tuý. Trở về Hà Nội ăn tối với đại diện của Ngân hàng phát triển châu Á, tổ chức dịch vụ nhà thờ, Cơ quan phát triển quốc tế của Australia, Tổ chức Sức khoẻ gia đình quốc tế, và các tổ chức phi chính phủ trong nước. Thứ tư, ngày 11 tháng 1: Hà Nội
    • 38 HIV/AIDS tại Việt Nam Thăm bệnh viện Đống Đa : các hoạt động chăm sóc và điều trị ARV do dự án ESTHER tài trợ Làm việc với Giám đốc Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tiến sĩ Cao Đức Thái Làm việc với cán bộ của DKT quốc tế để thảo luận vấn đề tiếp thị xã hội bao cao su Làm việc với Chuẩn tướng Cường, bác sĩ phẫu thuật quân y, Quân đội Việt Nam và Đại tá Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Viện vệ sinh dịch tễ quân đội. Buổi tối bay vào thành phố Hồ Chí Minh Thứ năm, ngày 12 tháng 1: Thành phố Hồ Chí Minh Làm việc với Ts. Lê Trường Giang, Phó Chủ tịch, Uỷ ban phòng chống AIDS thành phố Hồ Chí Minh Thăm trung tâm giáo dục xã hội Nhị Xuân cùng với đại diện của Đoàn Thanh niên Thăm Khu khám bệnh ngoại trú ở quận 6 của tổ chức Thầy thuốc thế giới (Pháp) Thăm trại trẻ mồ côi Tam Bình nuôi dưỡng những trẻ sơ sinh nhiễm HIV Trưởng đoàn chuyên gia Toomy G.Thompson, J.Stephen Morrison, và Ts. Trường Giang chủ trì buổi họp với một số phóng viên báo chí. Tổng lãnh sự Seth Winnick chủ trì ăn tối với đại diện của các tổ chức phi chính phủ trong nước và phi chính phủ Mỹ và các cơ quan của chính phủ Mỹ Thứ sáu, ngày 13 tháng 1: Thành phố Hồ Chí Minh Thăm khu khám bệnh ngoại trú ở quận 4, chương trình tư vấn, xét nghiệm và giáo dục đồng đẳng Thăm phòng khám ngoại trú Bình Thạnh Thăm Câu lạc bộ Bầu trời xanh, trụ sở dự án can thiệp nhóm nam đồng tính Cuộc họp của nhóm đánh giá cuối cùng trước khi về nước.
    • J. Stephen Morrison và Phillip Nieburg 39 Phụ lục C: Nguồn thông tin bổ sung về HIV/AIDS ở Việt Nam Chính phủ Mỹ: Cơ quan điều phối phòng chống HIV/AIDS của Mỹ http://www.state.gov/s/gac/countries/fc/Vietnam Hướng dẫn chương trình tiêm chích ma tuý của PEPFAR http://www.state.gov/s/gac/partners/guide/prevent/64035.htm Các tổ chức quốc tế UNAIDS Việt Nam http://www.unaids.org.vn Tổ chức y tế thế giới http://www.who.int/hiv/countries/en/index1.htm Các cơ quan lãnh đạo Việt Nam Đảng cộng sản Việt Nam http://www.cpv.org.vn/content_e.asp?topic=65 Phòng Thương mại Việt Nam http:///www.vibforum.vcci.com.vn/news_detail.asp?news_id=5438 Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Báo cáo quốc gia lần thứ hai về theo dõi thực hiện Tuyên bố cam kết về HIV/AIDS được phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua (UNGASS), Hà Nội, tháng 1/2006 Các tổ chức phi chính phủ Tổ chức sức khoẻ gia đình quốc tế http://www.fhi.org/en/HIVAIDS/country/Vietnam/index.htm Giám sát dịch AIDS (MAP), “Nam quan hệ đồng giới ở châu Á, trong đó có Việt Nam” http://www.eldes.org/static/DOC19058.htm