An sinh xa hoi

14,959 views

Published on

Tài liệu về An Sunh Xã hội

Published in: Education, Sports
2 Comments
6 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Nick: dvluanvan ( Hãy add nick yahoo để đươc chúng tôi hỗ trợ ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Thank you.Have a goodday
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
14,959
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
44
Actions
Shares
0
Downloads
229
Comments
2
Likes
6
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

An sinh xa hoi

  1. 1. An sinh xã hội chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫng hụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có con nhỏ.[1] Lịch sử ra đời An sinh xã hội là tổng hợp những sự bảo vệ đa dạng vốn đã được thực hiện rãi rác ở nhiều nơi trên thế giới từ lâu trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên, thuật ngữ này được chính thức khai sinh với tư cách là tiêu đề của một đạo luật ở Hoa kỳ (Luật 1935 về An sinh xã hội), chỉ sự bảo vệ trong bốn trường hợp: tuổi già, chết, tàn tật và thất nghiệp. Năm 1938, New Zealand cũng dùng từ này để đặt tiêu đề cho một đạo luật quy định về các chế độ trợ cấp xã hội đang áp dụng thời đó ở quốc gia nầy. Năm 1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước 102 về An sinh xã hội. Các cơ chế thuộc an sinh xã hội Hệ thống an sinh xã hội được xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, có thể thấy những cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từ quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, các quỹ dự phòng, sự bảo vệ do người sử dụng lao động cung cấp, các dịch vụ liên quan đến an sinh xã hội. Chú thích theo Tổ chức Lao động Quốc tế Tham khảo Nguyễn Tiền Hùng (2002), quot;Phác thảo lịch sử hình thành và bức tranh toàn cục hệ thống an sinh xã hội Việt Namquot;, bài tham luận tại Hội thảo quot;Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hộiquot;, Học Viện Tài chính - Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8. Cứu trợ xã hội là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội. Theo nghĩa thông thường, cứu trợ xã hội được hiểu là chế độ đảm bảo xã hội đối với các thành viên trong cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trong đời sống. Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, tiền bạc, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác trong một thời hạn hoặc trong suốt quá trình sống (suốt cuộc đời) của đối tượng. Đối tượng của cứu trợ xã hội có thể là gia đình, có thể là cá nhân. Có những trường hợp cứu trợ xã hội được áp dụng để giải quyết khó khăn cho cả vùng gặp nạn hoặc cả một địa phương.
  2. 2. Cứu trợ xã hội được coi như là quot;lưới đỡ cuối cùngquot; trong hệ thống các lưới đỡ an sinh xã hội. Vì vậy nó được coi là chế đội đảm bảo cộng đồng mang tính nhân đạo, nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt. Tuy nhiên, hoạt động cứu trợ xã hội không chỉ là của cá nhân, tổ chức bất kỳ trong xã hội mà trách nhiệm chính là của nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức các hoạt động cứu trợ xã hội, với tư cách là đại diện của xã hội. Các chính sách, pháp luật về cứu trợ xã hội do nhà nước ban hành, xây dựng là cơ sở quan trọng để các tổ chức, cơ quan, cá nhân tiến hành các hoạt động cứu trợ xã hội, đồng thời là tiêu chuẩn đảm bảo sự công bằng, minh bạch, đúng đắn và tính hợp pháp của cứu trợ xã hội. Thất nghiệp Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới: menu, tìm kiếm Thất nghiệp là từ Hán-Việt (thất: mất mát, nghiệp: việc làm) chỉ tình trạng không có việc làm mang lại thu nhập. Người cần việc mà không có việc sẽ gặp những khó khăn hoặc không thể chi trả các nghĩa vụ tài chính như nuôi dưỡng bản thân và gia đình, trang trải các khoản đóng góp, thuế, nợ nần, v.v.. Đây đồng thời là nguyên nhân của nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, nghiện hút, mại dâm, trộm cướp... Trong kinh tế học, thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm; tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội. Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa. Ở nông thôn, mặc dù có tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp một phần, làm việc ít thời gian ở nông thôn, nhưng thất nghiệp không bị coi là vấn đề nghiêm trọng. Bản đồ tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu - CIA 2005 Mục lục
  3. 3. 1 Ảnh hưởng của thất nghiệp tới xã hội và nền kinh tế • o 1.1 Thiệt thòi cá nhân o 1.2 Chi phí cho doanh nghiệp và giảm tăng trưởng kinh tế 2 Lợi ích của thất nghiệp • 3 Nguyên nhân của thất nghiệp • 4 Các loại thất nghiệp • 5 Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp • ] Ảnh hưởng của thất nghiệp tới xã hội và nền kinh tế Thiệt thòi cá nhân Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, áp lực tâm lý và tất nhiên là không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu dùng. Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh. Những nghiên cứu cụ thể [1]chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ tội phạm, tỷ lệ tự tử, và suy giảm chất lượng sức khỏe. Theo một số quan điểm, rằng người lao động nhiều khi phải chọn công việc thu nhập thấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảo hiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó. Về phía người sử dụng lao động thì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công cho mình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao, trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến, v.v..). Cái giá khác của thất nghiệp còn là, khi thiếu các nguồn tài chính và phúc lợi xã hội, cá nhân buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực. Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng. Với ý nghĩa này, thì trợ cấp thất nghiệp là cần thiết. Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uất, suy yếu ảnh hưởng của công đoàn, công nhân lao động vất vả hơn, chấp nhận thù lao ít ỏi hơn và sau cùng là chủ nghĩa bảo hộ việc làm. Chủ nghĩa này đặt ra những rào cản với người muốn gia nhập công việc, hạn chế di dân, và hạn chế cạnh tranh quốc tế. Cuối cùng, tình trạng thất nghiệp sẽ khiến cán cân đàm phán điều kiện lao động nghiêng về giới chủ, tăng chi phí khi rời công việc và giảm các lợi ích của việc tìm cơ hội thu nhập khác. Chi phí cho doanh nghiệp và giảm tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ. Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn. Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô. Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm. Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm. Hơn nữa, tình trạng thất
  4. 4. nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn. Lợi ích của thất nghiệp Tình trạng thất nghiệp gia tăng tương quan với áp lực giảm lạm phát. Điều này được minh họa bằng đường cong Phillips trong kinh tế học. Một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải sẽ giúp cả người lao động và chủ sử dụng lao động. Người lao động có thể tìm những cơ hội việc khác phù hợp với khả năng, mong muốn và điều kiện cư trú. Về phía giới chủ, tình trạng thất nghiệp giúp họ tìm được người lao động phù hợp, tăng sự trung thành của người lao động. Do đó, ở một chừng mực nào đó, thất nghiệp đưa đến tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuận. Nguyên nhân của thất nghiệp Trong lịch sử loài người, thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản. Ở xã hội cộng đồng nguyên thủy, việc phải duy trì trật tự trong bầy đàn buộc mọi thành viên phải đóng góp lao động và được làm việc. Trong xã hội phong kiến châu Âu, truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn có việc làm. Ngay cả trong xã hội nô lệ, chủ nô cũng không bao giờ để tài sản của họ (nô lệ) rỗi rãi trong thời gian dài. Các nền kinh tế theo học thuyết Mác-Lênin cố gắng tạo việc làm cho mọi cá nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết (thực tế này có thể gọi là thất nghiệp một phần hay thất nghiệp ẩn nhưng đảm bảo cá nhân vẫn có thu nhập từ lao động). Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là lợi nhuận, mặt khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó họ vui lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp. Người lao động không có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động phải chấp nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp. Các học thuyết kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau. Kinh tế học Keynes nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ). Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu ảnh hưởng thị trường lao động (thất nghiệp cơ cấu). Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển có xu hướng lý giải áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức lương tối thiểu, thuế, các quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường). Có ý kiến lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là sự lựa chọn tự nguyện. Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản. Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần đưa ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp. Việc áp dụng nguyên lý cung - cầu vào thị trường lao động giúp lý giải tỷ lệ thất nghiệp cũng như giá cả của lao động. Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới ở Châu Phi, Trung Đông và Châu Mỹ Latinh chỉ ra, ở các nước đang phát triển, tình trạng thất nghiệp cao trong phụ nữ và thanh niên còn là hậu quả của những quy định về trách nhiệm chủ lao động. Các loại thất nghiệp
  5. 5. Thất nghiệp tự nhiên: tỷ lệ thất nghiệp đương nhiên bởi luôn có một số người trong • giai đoạn chuyển từ chỗ làm này sang chỗ khác. Thất nghiệp cơ cấu: do sự không tương thích của phân bố lao động và phân bố chỗ • làm việc (khác biệt địa lý hoặc khác biệt kỹ năng). Người thất nghiệp không muốn hoặc không thể thay đổi nơi ở hoặc chuyển đổi kỹ năng. Thất nghiệp chu kỳ: khi tổng cầu lao động thấp hơn tổng cung lao động ở giai đoạn • suy thoái của chu kỳ kinh tế. Thất nghiệp kỹ thuật: do việc thay thế công nhân bằng máy móc hoặc công nghệ • tiên tiến hơn. Thất nghiệp thông thường: khi thu nhập thực tế xuống dưới mức chấp nhận được. • Thất nghiệp theo học thuyết Mark: là mức cần thiết để thúc đẩy công nhân làm việc • và giữ mức lương thấp Thất nghiệp theo mùa: khi công việc phụ thuộc vào nhu cầu theo thời tiết. Ví dụ: • công nhân xây dựng trong mùa mưa, giáo viên dạy trượt tuyết trong mùa hè. Công thức tính tỷ lệ thất nghiệp Số người không có việc làm Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x Tổng số lao động xã hội Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội. Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng nhất. Lịch sử Các chế độ của bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu truớc khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội. Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Bismarck (1850) và sau đó được hoàn thiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động; người sử dụng lao động và Nhà nước. Kinh nghiệm về bảo hiểm xã hội ở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 ...), tiếp đến là các nước châu Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước châu Phi, châu Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2). Các chế độ đảm bảo Theo tổng kết của ILO (công ước 102 năm 1952), bảo hiểm xã hội bao gồm chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất. Công ước cũng nói rõ là những nước phê chuẩn công ước này có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất. Việc áp dụng bảo hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả
  6. 6. năng quản lí có thể đáp ứng. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế - xã hội, bảo hiểm xã hội sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ. Theo thống kê của ILO, đến năm 1981, có 139 nước có thực hiện hệ thống an sinh xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội nói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản, 136 nước có chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 37 nước có chế độ trợ cấp thất nghiệp. Theo vi.wikipedia.org/wiki/An_sinh_xã_hội – Vào WTO: Nông dân VN sẽ được hưởng an sinh xã hội 22:30' 30/11/2006 (GMT+7) (VietNamNet)- Viện trưởng Viện Xã hội học, Viện KHXH Việt Nam Trịnh Duy Luân ví hệ thống an sinh xã hội Việt Nam với hình ảnh một người cố gắng chống giữ ngôi nhà tranh của mình trước và trong khi cơn bão tấn công bằng cách dùng tạm những vật liệu sẵn có, loay hoay chống đỡ từng góc nhà tuỳ theo hướng tấn công của bão... Quá trình tham vấn quốc tế về xây dựng hệ thống an sinh xã hội VN đã bắt đầu bằng một hội thảo quốc tế do Liên hợp quốc, Viện KHXH và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội VN tổ chức hôm nay, 30/11. An sinh xã hội bao gồm trợ cấp giáo dục, phúc lợi xã hội, lương hưu và trợ cấp y tế... Đã đến lúc phải cải cách hệ thống an sinh xã hội Vốn đã làm về an sinh xã hội từ rất lâu, khi mà vấn đề này chưa trở thành trào lưu trên thế giới, nhưng giờ đây, khi VN đã gia nhập WTO và hướng tới địa vị một nước có thu nhập bậc trung thì việc phải tu duy lại phương pháp tiếp cận an sinh xã hội là điều cần thiết. Là thành viên WTO, đời sống người dân sẽ chịu những tác động đáng kể, do vậy, quot;chính sách xã hội cần thay đổi theo xu thế tăng trưởng kinh tế và hiện đại hoá. Khi hội nhập làm nảy sinh những rủi ro về kinh tế thì Chính phủ An sinh xã hội thời gian tới sẽ đi vào thực cần đánh giá kỹ tác động của hệ thống an sinh xã hội hiện tại chất hơn. Ảnh minh hoạ. và nghiên cứu những cơ hội mới cho việc cải tiến những chính sách nàyquot;, ông John Hendra, Điều phối viên Liên Hợp quốc tại Việt Nam nhận xét. quot;Đã đến lúc Việt Nam cần đầu tư vào một hệ thống an sinh xã hội (ASXH) hiện đại và có tính chất lồng ghép, cấp tiến. Về trung hạn, Việt Nam cần áp dụng một cơ chế an sinh xã hội mang tính hiện đại và toàn diện để giúp người dân đối phó với rủi ro và tránh bị tái nghèoquot;, ông John Hendra nói. Minh chứng về mô hình ASXH hiện tại ở Việt Nam, GS. Trịnh Duy Luân, Viện trưởng Viện Xã hội học, Viện KHXH Việt Nam ví hệ thống ASXH Việt Nam với hình ảnh một người cố gắng chống giữ ngôi nhà tranh của mình trước và trong khi cơn bão tấn công bằng cách dùng tạm những vật liệu sẵn có, loay hoay chống đỡ từng góc nhà tuỳ theo hướng tấn công của bão... Còn mô hình hiện đại, theo ông, là ngôi nhà vững chãi, được thiết kế sẵn những hệ thống chống bão hiện đại và người ở được trang bị kỹ năng để vận hành các trang bị này. Hệ thống ASXH Việt Nam cần được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản: Một là, giải quyết được những vấn đề trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam, mang tính kế thừa và phát triển. Hai là, phải mang tính xã hội. Ba là, đảm bảo độ an toàn và có yếu tố bền vững.
  7. 7. quot;Hệ thống phải thúc đẩy có hiệu quả nền kinh tế thị trường, giảm tối đa rủi ro trong quá trình phát triển kinh tế thị trường do những khuyết tất, biến dạng, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo và gắn với từng bước phát triển của Việt Namquot;, GS. Đỗ Hoài Nam, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam nói. Những cải cách chính sách bước đầu Thể hiện quyết tâm của phía Việt Nam trong nỗ lực cải cách, Bộ trưởng LĐTB& XH Nguyễn Thị Hằng nói Quốc hội đã giao Chính phủ phê chuẩn các mục tiêu phát triển của Việt Nam, theo đó, nâng tỷ lệ giảm nghèo hàng năm từ 2% hiện nay lên 3%. Năm 2007, Quốc hội cũng sẽ thông qua Luật Bảo hiểm xã hội mới được trình cuối năm nay. Bà cũng nói cơ hội tất nhiên sẽ lớn với người lao động khi Việt Nam hội nhập nhưng để giảm tối đa những thách thức, bảo vệ quyền lợi người lao động thì cần đẩy mạnh thực thi các chính sách tạo việc làm thông qua khuyến khích doanh nghiệp phát triển, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Điều này sẽ giúp cho người lao động có thêm cơ hội. Ngoài ra, cần tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nhất là về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, đường sá, cầu cống, giống cây con... quot;Đây là nội dung trọng tâm trong thời gian tớiquot;, bà nhấn mạnh.. Cần tạo khung pháp lý hoàn chỉnh ở Luật và Bộ Luật liên quan đến vấn đề an sinh xã hội, không dừng ở mức pháp lệnh như hiện nay. Về vấn đề này, bà cho biết Bộ vừa được Quốc hội cho phép thông qua Luật BHXH vào năm 2007, trong đó, quy định ba hình thức bảo hiểm là bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Sẽ có an sinh xã hội cho người nông dân Hội nhập, đối tượng chịu tác động lớn nhất sẽ là nông dân, trong khi đó, theo GS. Trịnh Duy Luân, VN vẫn chưa có bất kỳ cơ chế bảo đảm an sinh nào cho nông dân. Ông cũng nêu một thực tế ở Việt Nam là vẫn có những người được hưởng chế độ an sinh xã hội là người có thu nhập cao, trong khi cơ hội hưởng lợi từ hệ thống này của những người nghèo rất hạn chế. Ông Luân lý giải một trong những nguyên nhân của tình trạng này chính là hạn chế trong cơ chế lan toả, phân phối an sinh xã hội chưa cấp tiến. quot;Nhiệm vụ của chúng tôi là nghiên cứu để xác định các nhóm mục tiêu cần ưu tiên trong chính sách an sinh xã hội. Nông dân là một trong những đối tượng cần được quan tâm và chắc chắn họ sẽ có chế độ an sinh xã hộiquot;, ông nhấn mạnh. Người giàu đang hưởng an sinh xã hội gấp 6 lần người nghèo Theo nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Phân tích chính sách xã hội, ĐH Bath, Anh, về chính sách an sinh xã hội của Việt Nam, tỷ lệ nghèo có thể tăng 4,6% nếu không có khoản trợ cấp an sinh xã hội. Đây là con số tác động cụ thể nhất được tuyên bố trong nghiên cứu với độ chắc chắn và tin cậy cao. Cũng theo nghiên cứu này, xét về tỷ lệ được hưởng an sinh xã hội ở nhóm 20% dân số giàu nhất trong xã hội Việt Nam cao gấp 6 lần nhóm người nghèo. Và nhóm liền kề nhóm giàu gấp 4 lần nhóm người nghèo. Mức hưởng an sinh xã hội của nhóm người có thu nhập cao rất lớn trong khi người có thu nhập thấp, ở nông thôn, miền núi chiếm tỷ lệ rất hạn chế. Trong các khoản thu nhập từ an sinh xã hội ở Việt Nam năm 2004, bảo hiểm xã hội - lương hưu chiếm 61,8%, trợ cấp y tế 22,6%, chi phí phúc lợi 9,2%, trợ cấp giáo dục 4,8% và bảo hiểm xã hội cho người đang làm việc là 1,6%. Bản báo cáo đánh giá, trợ cấp giáo dục và phúc lợi xã hội cao nhất ở những nhóm nghèo nhất.
  8. 8. Với lương hưu thì ngược lại. Trợ cấp y tế đồng đều ở tất cả các nhóm. • Phương Loan Việt Nam đang hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả Diễn đàn An sinh Xã hội Thế giới lần thứ nhất vừa được tổ chức tại Mátxcơva (Liên bang Nga) từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 9 năm 2007. Tham dự, có gần 1300 đại biểu của các tổ chức an sinh xã hội đến từ 129 quốc gia. Hiệp hội An sinh Xã hội Thế giới (ISSA) ra đời năm 1927, được tổ chức tại Brussel với sự tham gia của 17 tổ chức đại diện cho 20 triệu đối tượng từ Bỉ, Tiệp Khắc, Pháp, áo, Đức, Luxembourg, Ba Lan, Thuỵ Sỹ và Anh. Chủ tịch đầu tiên là ông Leo Winter, Phó Chủ tịch thứ nhất của Liên đoàn Toàn quốc các Cơ quan Bảo hiểm ốm đau của Tiệp Khắc (1927- 1928). 80 năm qua, từ một tổ chức nhỏ đại diện cho các liên đoàn quốc gia của các quỹ bảo hiểm ốm đau của 9 nước châu Âu, ISSA đã trở thành một đối tác có tầm ảnh hưởng quan trọng và có vị thế lớn trên các diễn đàn và hợp tác quốc tế, đại diện cho hàng triệu đối tượng được bảo hiểm và bảo trợ trong mọi lĩnh vực của hệ thống an sinh xã hội. Cùng với thời gian, mục tiêu và nội dung của hội nghị quốc tế của hiệp hội (CIMAS) cũng đã được mở rộng, bao gồm cả chế độ bảo hiểm tuổi già, thương tật, tử tuất. ISSA đã chứng tỏ được sự lớn mạnh và hoạt động của mình trong lĩnh vực vận động xã hội và tăng cường kiến thức về tầm quan trọng sống còn của an sinh xã hội trong các nền kinh tế đương đại. ISSA giờ đây đã là tổ chức hàng đầu thế giới chuyên về tập hợp các ý tưởng và kiến thức chuyên môn liên quan đến các vấn đề an sinh xã hội. Hiệp hội thường xuyên xây dựng các diễn đàn quy mô toàn cầu nhằm trao đổi thông tin và những vấn đề liên quan đến an sinh xã hội. ISSA có tầm bao phủ toàn cầu nhờ số lượng thành viên của mình, bao gồm 360 tổ chức, cơ quan an sinh xã hội của 150 nước trên thế giới. Ngày nay, khái niệm về hệ thống an sinh xã hội được mở rộng. Vai trò của an sinh xã hội không chỉ còn giới hạn trong việc tái phân bổ thu nhập và trợ cấp để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho người dân. An sinh xã hội cần phải năng động hơn và chuyển từ tư duy cho rằng an sinh xã hội là phương tiện bảo trợ, là một số khoản trợ cấp xã hội sang nhận thức mới, chủ yếu là hướng vào việc phòng tránh và bảo vệ từng cá nhân trước những rủi ro và sự yếu thế. Phương pháp tiếp cận mang tính đổi mới này được gọi là “Hệ thống an sinh xã hội năng động”, có vai trò không chỉ đơn thuần là phương tiện bồi thường và khắc phục khó khăn cho đối tượng mà là sự đầu tư vào yếu tố con người “vốn con người”. Mục tiêu chính của hệ thống an sinh xã hội năng động là phát triển dịch vụ xã hội bền vững và dễ tiếp cận hơn, không chỉ chú trọng đến dịch vụ bảo trợ mà còn tăng cường các biện pháp phòng tránh và hỗ trợ hoà nhập việc làm, nhằm xây dựng xã hội hiệu quả về kinh tế, xã hội và hoà nhập cộng đồng tốt hơn. Diễn đàn An sinh xã hội lần này diễn ra sôi động, mang tính đa chiều, hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động sẽ mở rộng phạm vi, diện bao phủ và cung cấp dịch vụ đồng bộ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, giảm được chi phí quản lý và hành chính, áp dụng một cơ chế quản lý chung cho các loại hình dịch vụ, đơn giản hoá thủ tục. Trong các phiên họp, diễn đàn đã thực sự là cơ hội cho mọi đại biểu chia sẻ và trao đổi kiến thức, kinh nghiệm của nhiều quốc gia về những thách thức của hệ thống an sinh xã hội, cùng xây dựng một tầm nhìn chung về sự phát triển, xu hướng và vai trò của hệ thống an sinh xã hội trong bối cảnh chung của nền kinh tế toàn cầu. Tại diễn đàn, các chủ đề chính được các đại biểu nhiều quốc gia quan tâm: Sự phát triển và các xu hướng an sinh xã hội; hỗ trợ một hệ thống an sinh xã hội năng động; áp dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy tác động của hệ thống an sinh xã hội; chế độ trợ cấp gia đình; quản lý hành chính;
  9. 9. công nghệ thông tin và truyền thông là một công cụ hỗ trợ chuyển đổi; thách thức về bệnh hiểm nghèo, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động đối với bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; thách thức về đầu tư của các quỹ bảo hiểm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý trường hợp nhằm tái hoà nhập việc làm; các giả định về nhân khẩu học và kinh tế được sử dụng trong đánh giá thống kê bảo hiểm đối với chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hệ thống an sinh xã hội bền vững thực chất là nhu cầu đối phó với vấn đề già hoá dân số và xu hướng toàn cầu hoá, an sinh xã hội dễ tiếp cận phải mang tính phổ cập với hàm ý mở rộng độ bao phủ dịch vụ, ví dụ như bảo hiểm y tế phải hướng tới toàn dân. Việc thực hiện các chương trình trợ cấp (đối với nước ta chính là trợ cấp xã hội cho các đối tượng khó khăn) là phương án khả thi để mở rộng độ bao phủ các dịch vụ và giảm tỷ lệ người nghèo và nhóm dễ bị tổn thương như nhóm dân cư nghèo khổ, người già cả cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/ AIDS…cải thiện hiệu quả để trợ cấp đầy đủ. Xu hướng chung của hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia đều nỗ lực hướng tới cải thiện hiệu quả hoạt động: phương thức mới trong quản lý rủi ro, quản lý và có biện pháp đón đầu đối với những thay đổi và biến động trong xã hội và thị trường lao động; phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, hợp lý hoá chi tiêu cho y tế và tăng cường biện pháp quản lý chất lượng dịch vụ; cải thiện hiệu quả hoạt động và quản lý Nhà nước của các chương trình trợ cấp bảo hiểm xã hội. Hỗ trợ các phương pháp tiếp cận và phòng tránh chủ động. Đây là phương pháp đầu tư vào đối tượng cá thể và từ đó đáp ứng cho cả mục tiêu phát triển nguồn nhân lực như chuyển đổi chương trình bảo hiểm bệnh tật sang bảo hiểm y tế; các chương trình phát triển và xây dựng lối sống lành mạnh, trao quyền cho các đối tượng; xây dựng quan hệ đối tác giữa bên cung cấp dịch vụ và người nhận dịch vụ. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, già hoá dân số, người già ở các nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều khó khăn để đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống. Nguyên nhân của tình trạng này là do những thay đổi về nhân khẩu học, kinh tế và xã hội. Các loại bệnh tật phổ biến, đặc biệt những bệnh hiểm nghèo, bệnh mới, HIV/AIDS và việc di dân cũng như xu hướng đô thị hoá đã tác động tiêu cực đến đời sống của người già vì họ phải chịu gánh nặng chăm sóc trẻ em có bố mẹ đi làm ăn xa hoặc các cháu mồ côi. Xu hướng chung được nhiều quốc gia xem xét và áp dụng nhằm bảo đảm thu nhập cho người già là cung cấp các loại trợ cấp (hưu trí không đóng góp) cho người già. Tương tự trợ cấp cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên (không có lương hưu,trợ cấp BHXH ở nước ta), trợ cấp thường xuyên đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một xu hướng phản ánh quan điểm chuyển đổi cách tiếp cận về vai trò an sinh xã hội. Đó là chuyển sang phòng tránh chủ động và bảo vệ để cân bằng các nhu cầu khác nhau về phát triển kinh tế, xã hội. Xu hướng này cũng phản ánh một hiện tượng thực tế đó là người già là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt ở các nước đang phát triển, do những thay đổi về hình thái gia đình, mạng lưới xã hội và người già phải gánh vác thêm nhiều trách nhiệm xã hội và gia đình: Xu hướng này củng cố quan điểm cho rằng việc dành các khoản tiền trợ cấp cho người già, đặc biệt từ nguồn ngân sách Nhà nước là rất cần thiết có thể góp phần cải thiện phúc lợi cho các hộ gia đình và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Xu hướng này cũng ghi nhận một thực tế là sự già hoá dân số là một hiện tượng toàn cầu và ngày càng có nhiều người già đang sinh sống ở các nước chậm phát triển, mà ở đó, diện bao phủ của hệ thống hưu trí dựa vào sự đóng góp còn rất thấp. Xu hướng này cũng phù hợp với mục tiêu chung của thế giới là giảm nghèo đói, khẳng định An sinh xã hội là một quyền của con người. Thực tế ở nhiều nước, tình trạng thất nghiệp vẫn gia tăng cho dù có nỗ lực xây dựng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp với các biện pháp hữu hiệu nhằm giúp người lao động trở lại làm việc. Tại diễn đàn cũng có quan điểm cho rằng bảo hiểm thất nghiệp không chỉ tốn kém mà còn kém hiệu quả- diễn đàn đã dành nhiều thời gian để tranh luận về các quan điểm tán thành và phản đối bảo hiểm thất nghiệp. Không chỉ những nước có nền kinh tế chậm phát triển mà cả những nước có nền kinh tế phát triển vẫn còn một bộ phận lao động thất nghiệp thiếu việc làm, do sự chuyển đổi nền kinh tế, thay đổi kỹ thuật, công nghệ sản xuất, trình độ người lao động không còn phù hợp, doanh nghiệp phải sắp xếp lại nên phải có chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho người lao động ổn định cuộc sống, bớt khó khăn hoặc tham gia các khoá học nghề, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để chuyển nghề mới.
  10. 10. Trong các nước phát triển, bảo hiểm dựa vào cộng đồng đang phát triển, mở rộng phạm vi bao phủ, khả năng chống chọi của mỗi cá nhân từ việc cung cấp dịch vụ bảo vệ sang dịch vụ phòng ngừa, quản lý rủi ro mở rộng phạm vi. Cũng có đại biểu nhận định đối tượng tham gia thị trường lao động có xu hướng giảm, đối tượng hưởng trợ cấp gia tăng. Vì là quyền con người, họ có làm việc hay không làm việc, vấn đề phải có cơ chế, chính sách khuyến khích họ tham gia vào thị trường lao động - Đối với những nước có nền kinh tế chậm phát triển hoặc đang phát triển thì diện bao phủ thấp, không thể thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp như những nước có nền kinh tế phát triển. Người lao động muốn nhận được trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trước hết phải có quan hệ lao động, phải có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, theo nguyên tắc đóng – hưởng, có san sẻ, số đông bù số ít. Trên thực tế đều có những rủi ro, vấn đề cơ bản là đặt lưới an toàn ở đâu. Xác định lưới an toàn ở đâu là do Chính phủ- thiết kế lưới này thế nào tuỳ thuộc vào nhận thức của cơ quan chức năng để tham mưu cho Chính phủ. Bởi xã hội luôn luôn phát triển, luôn có mặt trái. Thiết kế bảo hiểm thất nghiệp phải tinh vi hơn, quản lý bảo hiểm thất nghiệp sẽ phức tạp hơn, chi phí cao hơn nên phải hướng tới sự hoàn thiện nền kinh tế và thị trường lao động, toàn cầu hoá, phi chính thức, phải phù hợp với cuộc chơi chung, có cách nhìn khác hơn cho bảo hiểm thất nghiệp ở các nước đang phát triển, các nước có điều kiện kinh tế khác nhau. Nhưng sự thống nhất cao là phải làm thế nào để bảo hiểm thất nghiệp mang ý nghĩa bảo vệ nhiều nhất, giảm thiểu chi phí. Nhiều đại biểu cho rằng bảo hiểm y tế là rất quan trọng, các nước cần thực hiện đúng cam kết quốc tế, từng bước bao phủ đến người dân, mở rộng đến cả người ăn theo của đối tượng. Tuỳ thuộc vào nền kinh tế của mỗi nước, mỗi quốc gia phải xây dựng chiến lược toàn diện thực hiện quyền của người dân, quyền con người. Bảo hiểm y tế đang gặp trở ngại và thách thức lớn – diện bao phủ thấp, đối tượng đóng chưa phải là toàn dân – nguy cơ bệnh hiểm nghèo gia tăng – ngân quỹ không đáp ứng, phải tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân, lấy số đông bù đắp, san sẻ số ít, xác định mức đóng phù hợp mới có khả năng trợ giúp kịp thời cho những người không may bị bệnh hiểm nghèo có cơ hội được cứu chữa. Vấn đề quan trọng là nhận thức của mọi người, phải hướng tới sự tham gia bảo hiểm y tế toàn dân – khắc phục tình trạng khi biết bệnh rồi mới tham gia. Bệnh nghề nghiệp, thách thức đối với bảo hiểm xã hội. Qua diễn đàn, nhận thức về bệnh nghề nghiệp rất đa dạng, về bản chất, việc định nghĩa bệnh nghề nghiệp là “ thuật ngữ pháp lý” hay “thuật ngữ y học” sẽ tác động đến cách thiết kế chế độ bảo hiểm này. Bệnh nghề nghiệp trở thành một thách thức đối với bảo hiểm xã hội do sự xác định nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp, đặc biệt là xác định các yếu tố liên quan đến công việc và không liên quan đến công việc. Khó khăn trong xác định nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong việc phòng chống và bảo hiểm. Qua diễn đàn, đại biểu nhiều nước cùng đi đến thống nhất về những thách thức: khó khăn trong công tác báo cáo và thống kê bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là những bệnh có thời gian ủ bệnh lâu. Vấn đề này phức tạp ở chỗ có nhiều căn bệnh mới hoặc đang xuất hiện, khó có thể xác định là do điều kiện làm việc gây ra như bệnh rối loạn thần kinh; thách thức thứ hai là mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động trong khu vực phi chính thức, mở rộng cơ hội tiếp cận hệ thống kiểm tra sức khoẻ, khám bệnh nghề nghiệp và bồi thường thương tật. Thông qua Diễn đàn An sinh Xã hội Thế giới lần này cũng giúp cho Việt Nam có thêm kinh nghiệm để hướng tới xây dựng hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả hơn, góp phần vào công cuộc giảm nghèo bền vững. Do nhiều nguyên nhân nên Việt Nam chưa tham gia Hiệp hội An sinh Xã hội Thế giới, nhưng những gì mà Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang thực hiện trong nhiều thập kỷ qua đều hàm chứa nội dung cơ bản của hệ thống an sinh xã hội bao gồm: Các hoạt động phòng ngừa rủi ro, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…cả về chiều rộng và chiều sâu, tăng cường mức độ bao phủ, cải thiện chất lượng dịch vụ, từng bước mở thêm các hình thức bảo hiểm nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động, phòng ngừa rủi ro. An sinh xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững của nền kinh tế, an sinh xã hội cũng nhằm phát triển các thế hệ tương lai, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền. An sinh xã hội tốt sẽ thúc đẩy thực hiện các quyền cơ bản của con người. Các hoạt động trợ giúp thường xuyên sẽ bảo đảm từng bước được mở rộng đối tượng bao phủ mà quan niệm của các nước là chương trình trợ cấp “không đóng góp, hưu trí không đóng góp” nhưng vẫn tập trung cho những đối tượng khó khăn nhất, bảo đảm công bằng trong các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng nhằm đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ về cuộc sống. Đa dạng hoá và linh hoạt trong các hình thức hỗ trợ- đáp ứng tốt
  11. 11. hơn nhu cầu của đối tượng trên cơ sở mở rộng sự tham gia của các đối tượng vào các hoạt động trợ giúp. Các hoạt động trợ giúp đột xuất bảo đảm đến đúng đối tượng, đến kịp thời và đáp ứng nhu cầu của đối tượng. Linh hoạt trong hoạt động cứu trợ và huy động được sự tham gia rộng rãi của cộng đồng nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về Nhà nước. Như vậy, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam ngoài tuân thủ nguyên tắc đóng và hưởng còn có trách nhiệm của Nhà nước cùng cộng đồng xã hội đối với người dân- những người có hoàn cảnh khó khăn không trực tiếp tham gia các hình thức bảo hiểm, bảo đảm an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, bền vững về tài chính. Kết hợp giữa phòng ngừa rủi ro có hiệu quả với giảm thiểu và khắc phục rủi ro. Tạo môi trường để khu vực phi chính thức tham gia vào quá trình cung cấp các dịch vụ của an sinh xã hội. Hướng tới bảo đảm công bằng và ổn định xã hội tạo môi trường cho phát triển bền vững. Đầu tư cho an sinh xã hội là đầu tư cho con người, phát triển vốn con người. An sinh xã hội có vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống đói nghèo, bần cùng hoá. So với lịch sử 80 năm của hệ thống an sinh xã hội thế giới, hệ thống an sinh xã hội Việt Nam còn non trẻ, đang tích cực học tập, kế thừa và phát huy những mặt tốt, tiến bộ của các nước phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam, hướng tới một hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả, phòng ngừa được những biến cố, rủi ro, đóng góp tích cực vào cuộc chiến chống đói nghèo để nhân dân có cuộc sống tốt đẹp hơn. TS. Đàm Hữu Đắc, Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Việt Nam: An sinh xã hội cho người nghèo có khi là số âm Lao Động số 195 Ngày 23/08/2007 Cập nhật: 9:02 PM, 22/08/2007 Chương trình Phát triển LHQ đã công bố các tài liệu khảo sát về an sinh xã hội (ASXH) ở VN (LĐ) - Các lợi ích của an sinh xã hội ở Việt Nam được phân phối không công bằng. Nhóm giàu nhất ở VN (20% số hộ gia đình) nhận được 40% lợi ích an sinh xã hội, trong khi đó nhóm nghèo nhất chỉ nhận được chưa tới 7%. An sinh xã hội cho người nghèo có trường hợp là số 0, có khi là âm. Để hội nhập thành công, cần chi nhiều hơn cho an sinh xã hội - các chuyên gia LHQ cảnh báo. Ngày 22.8, Chương trình Phát triển LHQ đã công bố các tài liệu khảo sát về an sinh xã hội (ASXH) ở VN. Đây là bước đi đầu tiên của UNDP để hợp tác với các bộ, ngành của VN xây dựng đề cương về hệ thống ASXH tích hợp và tổng thể cho Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ giai đoạn 2011 - 2020. Nghiên cứu này đã so sánh các đối tượng hưởng lợi từ ASXH ở VN và cho thấy có khoảng cách lớn giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất. Ví dụ, nhóm giàu nhất nhận được 47% lương hưu, nhóm nghèo nhất chỉ được 2%.
  12. 12. nghèo nhất chỉ nhận được tương ứng là 7% và 15%. Ngoài ra, các vùng thành thị nhận được nhiều lợi ích ASXH hơn vùng nông thôn, người Kinh, người Hoa nhận nhiều hơn người thiểu số, miền Bắc nhiều hơn miền Nam. Tiến sĩ Martin Evans thuộc Đại học Oxford - tác giả chính của nghiên cứu - nói: quot;ASXH ở VN không phải được định hướng tốt nhất cho những người cần nó.quot; Đặc biệt, các tác giả của báo cáo đã nhấn mạnh tình trạng người nghèo phải trả quá nhiều khoản phí: quot;Bất cứ lợi ích nào mà người nghèo nhận được từ ASXH lại bị lấy lại bằng cách trả phí sử dụng và các khoản chi tiêu khác cho giáo dục và y tế. Chính phủ trợ cấp tiền cho các hộ nghèo nhất và lấy lại đúng khoản đó thông qua phí sử dụngquot;. Ông Jonathan Pincus - chuyên gia kinh tế trưởng của UNDP tại VN - nhận xét: VN dựa quá nhiều vào thu phí trong giáo dục và y tế, người nghèo đến bệnh viện hay cho con cái đi học đều phải trả tiền. Do vậy, quot;ASXH cho người nghèo là số 0, có khi là âm. ASXH có giúp người nghèo, nhưng không nhiềuquot;, ông Pincus nói. Trong khi đó, về mối liên hệ giữa tuổi cao và nghèo ở VN, báo cáo cho biết, nguời cao tuổi có xu hướng làm việc và làm nhiều giờ hơn nếu như không chung sống cùng người trong độ tuổi lao động. Khoảng nửa số phụ nữ vẫn làm kinh tế ở tuổi 70 - 75 và 20% vẫn tiếp tục làm ở tuổi 80 - 85. UNDP cho rằng, trong tương lai gần, VN cần một phương pháp tiếp cận hiện đại, tích hợp với chính sách xã hội, để giúp người dân đối phó với các nguy cơ xảy ra với sinh kế, sức khoẻ, tránh bị tái nghèo do ốm đau, khuyết tật, mất việc làm, nuôi con, tuổi cao... từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động, khuyến khích khả năng sáng tạo của người dân. Điều phối viên thường trú LHQ tại VN - ông John Hendra - cho biết: quot;Bằng chứng trên thế giới cho thấy, các quốc gia hội nhập quốc tế thành công chi nhiều hơn cho các chương trình ASXH. Trong khi cân nhắc lại phương pháp tiếp cận ASXH, VN nên cân nhắc tác động tổng hợp của chính sách y tế, chăm sóc trẻ em, giáo dục, việc làm ổn định và lương hưu. Như vậy sẽ tránh được vấn đề thường gặp là cải thiện an sinh ở lĩnh vực này, nhưng lại làm mất an sinh ở lĩnh vực khácquot;. Tăng cường mạng lưới an sinh xã hội Bổ sung một số chính sách trợ giúp của Nhà nước đối với các nhóm người yếu thế, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người dễ bị tổn thương để tạo cơ hội tự tạo việc làm hoặc đi làm thuê, có thu nhập đủ nuôi sống bản thân, tham gia vào các hoạt động cộng đồng, các hoạt động xã hội để hưởng lợi từ cải cách kinh tế. Hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội nhằm mở rộng chế độ bảo hiểm xã hội áp dụng cho mọi đối tượng, kể cả những người làm việc tại khu vực kinh tế phi chính thức và bảo đảm tương quan hợp lý giữa mức đóng và mức hưởng. Đa dạng hóa mạng lưới an sinh tự nguyện. Đẩy mạnh các biện pháp bảo vệ cây trồng và vật nuôi như dịch vụ thú y, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp một cách hiệu quả ở vùng sâu, vùng xa và các vùng khó khăn. Tiến hành thử nghiệm các hình thức bảo hiểm cây trồng, vật nuôi hoặc bảo hiểm thị trường cho nông thôn. Tăng cường công tác khuyến nông như là một công cụ hữu hiệu để giảm tính tổn thương của người nghèo. Xây dựng các chương trình bảo hiểm trên cơ sở cộng đồng đối với khu vực kinh tế không chính thức trên nguyên tắc bảo hiểm nhóm (tối thiểu là bảo hiểm gia đình). Phát triển hình thức Bảo hiểm hộ gia đình để thay thế dần cho hệ thống bảo hiểm sức khỏe học đường.
  13. 13. Tăng cường mạng lưới an sinh xã hội thông qua phát triển và củng cố các quỹ của xã hội và đoàn thể. Trợ giúp nhân đạo thường xuyên đối với người nghèo, người không có sức lao động và không nơi nương tựa; tổ chức, triển khai hoạt động của các quỹ này ngay tại những cộng đồng làng, xã nơi tập trung nhiều người nghèo, yếu thế. Trong đó, chú trọng các hình thức trợ cấp xã hội bằng hiện vật (gạo, thực phẩm, quần áo,...) đối với những đối tượng rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở cả nông thôn và một số thành phố. Duy trì và bổ sung hệ thống chính sách, giải pháp về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đặc biệt là trẻ em tàn tật, mồ côi, lang thang, lao động kiếm sống, trẻ em bị hậu quả chất độc màu da cam, nhiễm HIV/AIDS. Nâng cao trách nhiệm và chức năng của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Huy động toàn bộ xã hội tham gia vào bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Phát triển hệ thống chính sách, giải pháp hỗ trợ người tàn tật, người cao tuổi (đặc biệt là người già cô đơn không nơi nương tựa), người bị nhiễm chất độc hóa học, nhiễm HIV/AIDS. Phát triển các trung tâm bảo trợ xã hội ở những vùng nghèo, vùng gặp rủi ro thường xuyên để nuôi dưỡng các đối tượng mất khả năng và cơ hội tự kiếm sống, trước mắt triển khai tốt những quy định cụ thể của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/3/2000 về chính sách cứu trợ xã hội trong 3 năm 2001-2003. Điều chỉnh lại phương pháp phân bổ ngân sách để thực hiện các chính sách xã hội, trao quyền chủ động cho các địa phương, đặc biệt là cấp xã, huyện để đẩy mạnh phát triển quỹ cộng đồng ở làng xóm và cấp xã. (Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư) Liên Hợp Quốc cho rằng đã đến lúc Việt Nam cần đầu tư vào một hệ thống an sinh xã hội hiện đại và có tính chất lồng ghép Hà Nội, ngày 30/11/2006 – Trong khi Việt Nam đạt được những tiến bộ về mặt xã hội và kinh tế thì việc cung cấp an sinh xã hội cần phải theo kịp nhằm trợ giúp một dân số đang tăng và đầy năng động thông qua các chương trình được lồng ghép tốt phục vụ các chính sách về y tế, chăm sóc trẻ em, giáo dục, đảm bảo việc làm và tiền lương hưu trí. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Liên Hợp Quốc đã cùng gặp gỡ tại một hội thảo được tổ chức hôm nay tại Hà Nội nhằm thảo luận việc Phát triển một Hệ thống An sinh Xã hội phục vụ Phát triển Con người tại Việt Nam. “Khi Việt Nam đang hướng tới địa vị một quốc gia có thu nhập bậc trung, thì sự cần thiết phải bắt đầu tư duy lại phương pháp tiếp cận an sinh xã hội của đất nước này càng trở nên rõ nét hơn”, trích lời Điều phối viên Thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam – ông John Hendra – trong lời phát biểu khai mạc của mình. “Việc hình thành nhanh chóng các thị trường quốc gia và việc tham gia rộng lớn hơn vào các nền kinh tế khu vực và toàn cầu đã thúc đẩy các xu hướng hiện tại nhanh chóng hướng theo sự cơ động về xã hội và địa lý. Người dân Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào thu nhập từ tiền công và tiền lương. Các hình thức bảo trợ xã hội trước đây được cung cấp thông qua các hợp tác xã và các doanh nghiệp nhà nước hiện nay không còn đóng vai trò quan trọng nữa”. Trung tâm Phúc lợi tại các Quốc gia Đang phát triển thuộc Viện đại học Bath, được sự uỷ nhiệm của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và được tài trợ bởi Sáng kiến Đối tác Chiến lược giữa UNDP và Bộ Phát triển Quốc tế của Vương quốc Anh (DFID), đã trình bày hai bài thuyết
  14. 14. trình tại hội thảo này trong đó xem xét đến các chương trình an sinh xã hội hiện tại của Việt Nam. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cũng chủ trì một phiên thảo luận về các ưu tiên nghiên cứu cho năm tới. Hội thảo đã cung cấp một cơ hội cho các đại biểu của các cơ quan tài trợ, các tổ chức Chính phủ và quốc tế để đưa ra các nhận xét có chiều sâu về các bài tham luận của Viện đại học Bath và để xây dựng nền tảng cho một nghị trình nghiên cứu tiên tiến cho năm 2007 trong mối quan hệ đối tác Bộ LĐTBXH-Viện KHXHVN-LHQ. Việc cung cấp an sinh xã hội hiện tại bao gồm các chương trình đối với cán bộ nhân viên khu vực chính quy cộng với trợ giúp xã hội thông qua các Chương trình Mục tiêu và các hình thức hoạt động khác của khu vực công nhằm vào đối tượng là các cộng đồng chịu thiệt thòi. Những chiến lược này đã đóng góp cho việc giảm nghèo và phát triển tại các vùng xa xôi hẻo lánh. Chính phủ đã công nhận rằng trong một tương lai không xa Việt Nam sẽ cần phải có một phương pháp tiếp cận hiện đại và có tính chất lồng ghép đối với chính sách xã hội giúp người dân đương đầu với các rủi ro trong sinh kế và phúc lợi của mình, và để tránh rơi trở lại vào vòng đói nghèo vì ốm đau bệnh tật, tật nguyền, mất công ăn việc làm, nuôi nấng con cái và tuổi già. Tiên sỹ Martin Evans thuộc Trung tâm Phúc lợi tại các Quốc gia Đang phát triển thuộc Viện đại học Bath, là trưởng nhóm nghiên cứu. Cùng với ông có Giáo sư Ian Gough là người đã chia sẻ các quan điểm của mình về các ưu tiên nghiên cứu dựa vào kinh nghiệm nhiều năm làm công tác nghiên cứu về các vấn đề chính sách xã hội tại các nước OECD và các nước đang phát triển. “Tổ chức Liên Hợp Quốc chúng tôi rất hân hạnh được Bà Bộ trưởng và Giáo sư Đỗ Hoài Nam - Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - mời tham gia cùng với Chính phủ Việt Nam hoạch định một đề nghị đối với một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và có tính chất lồng ghép đến năm 2008”, ông John Hendra nói. “Cùng hợp tác với nhau, chúng ta đã bắt đầu thực hiện một sáng kiến tiến hành một công trình phân tích kỹ lưỡng các cứu xét về các khuynh hướng kinh tế và nhân khẩu học, năng lực tài chính và phát triển con người nhằm cung cấp nội dung thông tin cho Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội 2011-2020 của Chính phủ. Tiền đề căn bản cho sự hợp tác của chúng ta chính là một quá trình hoạch định chính sách tốt bắt đầu bằng sự phân tích cặn kẽ hiện trạng. Hôm nay là một bước tiến tuyệt vời theo hướng đó”. (Theo undp.org.) An sinh xã hội Muốn hay không, chúng ta phải công nhận một thực tế rằng: đất nước của chúng ta có an ninh, ổn định, nhưng rất thiếu an sinh xã hội. Ở Trung Đông cuộc ngừng bắn mong manh lúc nào cũng có khả năng bị đứt gãy bởi tiếng hỏa tiễn và xe bọc thép; bom nổ ở bất kỳ nơi nào: chợ, công sở, đồn cảnh sát... trên đất Iraq; tại các thành phố lớn châu Âu và Bắc Mỹ cả chục chuyến bay hủy đột ngột, những người dân của các nước giàu có nhất thế giới sống mà nơm nớp lo sợ bị khủng bố... Trong lúc đó tại Việt Nam trước buổi chung kết cuộc thi hoa hậu cả chục ngày, các chuyến bay đi Nha Trang đã hết chỗ. Người nước ngoài đến Việt Nam du lịch nói rằng Việt Nam là nơi an ninh bậc nhất thế giới. Tất cả những điều trên là có thật. Xương máu đổ ra hàng thế kỷ đem lại cho chúng ta những thập niên hòa bình mà mỗi người Việt Nam nâng niu từng ngày một. Cách cư xử của chúng ta với thế giới, nếp sống của chúng ta, truyền thống hòa hiếu trong, ngoài của người
  15. 15. Việt... cũng là cội nguồn của cuộc sống bình yên đó. Đúng, chúng ta đang được sống - một cách xứng đáng - trong một đất nước an ninh. Nhưng từ một góc độ khác, ở ta có bao nỗi bất an trong cuộc sống hằng ngày: Trước cửa nhà tôi ở, trên con đường mới trước khi kịp đặt tên đã xảy ra ba vụ tai nạn chết người. Nhiều triệu người Việt Nam như tôi nơm nớp lo khi con cái lên xe đạp ra khỏi nhà đi học. Ăn uống không an toàn ở bất cứ đâu, cho dù ngoài quán xá, nơi nhà ăn tập thể hay cả ở nhà mình. Bao nhiêu chất độc hại có thể trong thức ăn, kể cả cho trẻ con, bởi ít có nơi nào an toàn thực phẩm bị bỏ bê như ở Việt Nam. Còn khi trẻ em lớn lên, bạn phập phồng nỗi lo chúng bị lôi kéo vào ma túy. Không có bom rơi đạn nổ, nhưng đánh lộn, hành hung, đâm chém... thành chuyện không hiếm từ thành thị đến nông thôn. Nam thanh nữ tú bị trấn lột nơi tình tự, người có tuổi bị thóa mạ vô cớ chỗ công cộng. Người Việt Nam có nỗi sợ khi nghĩ đến bệnh viện, bởi dẫu biết các nhân viên y tế rất cố gắng (có lẽ ít ở đâu người làm ngành này lại chịu nhiều khó khăn như ở nước ta), thì cũng không thể giúp chúng ta tránh được sự đông nghẹt, chật chội, thiếu thốn, có lúc không thể chạy chữa kịp thời. Khi cần thiết phải đến nơi công sở, chẳng có gì đảm bảo bạn không bị đối xử thiếu tôn trọng. Mua phải hàng rởm, bạn khó nghĩ rằng kẻ lừa bạn sớm bị trừng trị. Bạn trả tiền cho nước sạch, rồi bạn bàng hoàng khi chợt hiểu nhiều năm bạn dùng nước nhiễm độc, mà kiện ai thì hầu như là chuyện vô nghĩa. Bạn có những mối lo (thường là có cơ sở) chuyện thi cử, tuyển dụng thiếu công bằng, chuyện đồng hồ điện phi mã, chuyện xe mang đi sửa bị quot;luộcquot;... Cả trăm thứ khác, không sao kể hết. Bạn không khỏi không thèm cái nền nếp trật tự, phải trái dứt khoát, thưởng phạt, luật lệ nghiêm ngặt, đâu ra đấy ở các nước khác mà bạn có dịp chứng kiến hoặc nghe biết. Muốn hay không, chúng ta phải công nhận một thực tế rằng: đất nước của chúng ta có an ninh, ổn định, nhưng rất thiếu an sinh xã hội. Một phần là do các điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật còn eo hẹp, nhưng phần khác là do những luộm thuộm của chính chúng ta, do cách quản lý xã hội, ý thức tham gia vào tổ chức đời sống cộng đồng của chúng ta còn vô cùng yếu kém. Câu hỏi đặt ra là: Phải chăng trải qua bao nhiêu năm chiến tranh, bom đạn, chúng ta hiểu quá rõ cái giá của sự sống, của hạnh phúc sống bình yên. Nhưng rồi lúc hòa bình, chúng ta lại rất thiếu tôn trọng với chính chất lượng sống của mỗi chúng ta? Câu hỏi đặt ra là: Phải chăng đó cũng là một trong số các nguyên do khiến đa số khách du lịch đến Việt Nam, đều thiện cảm với đất nước, với con người Việt Nam, nhưng chỉ số ít trong số họ quay lại lần nữa? Câu hỏi đặt ra là: Tại sao vào các giai đoạn nguy biến, chúng ta biết cách tổ chức cuộc sống cho cả xã hội một cách chu đáo, chặt chẽ khiến cả thế giới khâm phục, mà trong bối cảnh an ninh, ổn định, lại kém cỏi, vụng về trong việc vun vén cho cuộc sống của chúng ta đỡ những lo âu thắc thỏm? Hỏi đã là trả lời. Có trách nhiệm của Nhà nước, nhưng có trách nhiệm của toàn bộ cộng đồng. Có thể có lập luận: Rồi kinh tế phát triển lên, các vấn đề tự nó được khắc phục theo đà văn minh công nghiệp. Điều này chỉ đúng một nửa. Không ít các ví dụ cho thấy, kinh tế đi lên nhưng các vấn đề xã hội càng gay gắt thêm. Giàu hơn nhưng an sinh kém đi, thì chất lượng cuộc sống không tăng, mà là giảm. Việc Việt Nam vừa tụt hạng trong bảng đánh giá chất lượng cuộc sống là điều rất đáng phải lo nghĩ. Bên cạnh niềm vui, niềm tự hào có an ninh chính trị, ổn định xã hội, phải thẳng thắn nhìn thẳng vào thực trạng an sinh xã hội thấp. Không xây dựng được an sinh xã hội cao trong khi có ổn định và an ninh chung của đất nước - đó là sự hoang phí và kém cỏi không thể chấp nhận được. Sự kém cỏi của mỗi người, của tất cả chúng ta. Nguồn: TRẦN ĐĂNG TUẤN Báo Thanh Niên
  16. 16. Thứ Năm, 23/08/2007, 07:38 (GMT+7) UNDP công bố báo cáo: An sinh xã hội VN: Giàu hưởng nhiều, nghèo hưởng ít TT - Báo cáo về an sinh xã hội (ASXH) VN được Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) công bố hôm qua tại Hà Nội đã cho thấy bức tranh nghịch chiều trong hệ thống ASXH của VN. Tiến sĩ Martin Evans - lãnh đạo nhóm nghiên cứu, cho biết nhóm giàu nhất (20% hộ giàu nhất VN) nhận được 47% lương hưu, trong khi nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 2%, tỉ lệ này với trợ giúp y tế lần lượt là 45% và 7%, trợ giúp giáo dục là Khám, chữa bệnh mắt cho bệnh 35% và 15%. nhân nghèo ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre - Ảnh: N.C.T. Tiến sĩ Evans cho biết có hai nguyên nhân. Thứ nhất, do phần lớn các chính sách ASXH của VN như lương hưu, trợ cấp thương binh dành cho đối tượng là công chức từ trước thời kỳ đổi mới đã về hưu và thương binh, gia đình liệt sĩ (những hộ gia đình này thường không thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất). Thứ hai, lợi ích ASXH phụ thuộc mức thu nhập của từng người, từng hộ gia đình khác nhau theo tỉ lệ thuận do ai có thu nhập cao hơn có thể tham gia nhiều hơn vào các chương trình ASXH như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội... Trước thực trạng này, ông Johnathan Pincus - chuyên gia kinh tế cao cấp của UNDP tại VN, cho biết tuy Chính phủ nhận thức rõ rằng giáo dục, cũng như y tế, phải dựa một phần vào thu phí nhưng nhìn rộng hơn, Chính phủ phải thận trọng vì “nếu cho tiền (trợ cấp) rồi bên kia (tức các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục...) lấy lại tiền thì kết quả có thể là con số 0 hoặc thậm chí âm. Tóm lại là chính sách ASXH hiện nay của VN có giúp giảm nghèo nhưng không nhiềuquot;. Ông Pincus khẳng định việc điều chỉnh hệ thống ASXH là một quyết định chính trị mà VN phải đưa ra trên cơ sở tư vấn rộng rãi và công khai các bên khác nhau, gồm người lao động, công đoàn, doanh nghiệp, chính quyền các cấp, xã hội dân sự, dân chúng nói chung. “Không có một hệ thống nào đó để VN có thể áp dụng tuyệt đối. Mỗi nước có một lịch sử riêng và đặc điểm kinh tế, xã hội riêng. Chính phủ phải tạo ra hệ thống riêng của mình để có được những chính sách ASXH khả thi và hiện đại”, ông Pincus phân tích. Một điểm quan trọng trong hệ thống đó, theo ông Pincus, là nó phải mang tính bao trùm để ai cũng có thể đóng góp và đồng thời thu lợi từ hệ thống ASXH. Nếu hệ thống đó chỉ dành cho người nghèo thì nó chỉ có tác dụng đối với riêng người nghèo và sẽ không thể thu hút sự hỗ trợ từ các thành phần khác trong xã hội, và theo thời gian hệ thống đó sẽ có nguy cơ thất bại. ASXH công bằng giúp hội nhập quốc tế thành công Nghiên cứu được thực hiện phối hợp giữa nhóm chuyên gia từ Trường ĐH Bath (Anh) với UNDP, Viện Khoa học xã hội VN và Bộ LĐ-TB&XH, dựa trên khảo sát mức sống hộ gia đình VN năm 2004 của Cục Thống kê. Ông John Hendra, điều phối viên thường trú của LHQ, cho biết tài liệu mới nhất này của UNDP là bước đi đầu tiên trong quá trình hợp tác để xây dựng đề cương về hệ thống ASXH tổng thể cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ VN giai đoạn 2011-2020. “Chúng tôi tin rằng các phân tích kỹ lưỡng sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách xã hội của VN
  17. 17. xác định được các vấn đề ưu tiên cho cải cách ASXH, giảm bất bình đẳng về kinh tế và hỗ trợ quốc gia hội nhập kinh tế quốc tế thành cộng”, ông Hendra giải thích. Ông khẳng định VN nên thiết kế lại hệ thống ASXH vì những quốc gia hội nhập quốc tế thành công thường chi nhiều hơn cho các chương trình ASXH. Người nghèo Việt Nam hưởng an sinh xã hội thấp nhất 08:22' 23/08/2007 (GMT+7) (VietNamNet) - Theo báo cáo công bố ngày 22/8 của LHQ, người nghèo vẫn chưa được hưởng lợi nhiều từ hệ thống an sinh xã hội. Tuy nhiên, không thể xây dựng hệ thống an sinh xã hội chỉ cho người nghèo. Phải xây dựng một hệ thống toàn diện, bao trùm. Giàu hưởng nhiều, nghèo hưởng ít Báo cáo của Chương trình phát triển LHQ (UNDP): quot;An sinh xã hội ở Việt Nam lũy tiến đến mức nào?quot; vừa được công bố ngày 22/8, cho thấy tình hình an sinh xã hội Việt Nam đang lũy thoái. Bản báo cáo dựa trên các số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004. Người thiểu số hầu như chưa được hưởng lợi từ hệ thống an sinh xã hội. Nguồn: www.ambhanoi.um.dk Các chuyên gia nhận định, hệ thống an sinh xã hội không tác động ngang nhau lên toàn bộ dân số. Phát triển kinh tế kéo theo nâng cao an sinh xã hội không nâng mọi người lên một mức như nhau. Các hộ trong nhóm thu nhập cao nhất - nhóm 20% giàu nhất nhận được khoảng gần 40% lợi ích an sinh xã hội. Trong khi đó, nhóm nghèo nhất chỉ nhận chưa tới 7%. Những người sống ở đô thị có cơ hội hưởng nhiều chính sách an sinh xã hội hơn người sống ở nông thôn, người dân tộc Kinh, Hoa hưởng lợi nhiều hơn dân tộc thiểu số, sống ở miền Bắc hưởng nhiều an sinh xã hội hơn miền Nam. ASXH giúp cải thiện kỹ năng và sức khỏe cho lực lượng lao động quốc gia, từ đó, giúp các DN có tính cạnh tranh hơn.
  18. 18. Nhóm giàu nhất nhận được 47% lương hưu, còn nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 2%. Nhóm giàu nhất nhận được 45% trợ Đồng thời, ASXH giúp cộng đồng giúp y tế, còn nhóm nghèo nhất chỉ 7%. Tỷ lệ nhận trợ giúp có thể chia sẻ và quản lý được rủi giáo dục của nhóm giàu nhất và nghèo nhất tương ứng là ro kinh tế. Nếu không, DN và 35% và 15%. Chuyên gia kinh tế cao cấp Jonathan Pincus kết người lao động dễ bị rủi ro, ít có luận: nhìn tổng quát, tình hình an sinh xã hội Việt Nam là lũy khả năng đổi mới. thoái. Quan trọng hơn, một hệ thống Ông phân tích thêm, người hưởng lợi chính từ ASXH của Việt ASXH tốt có thể giúp người dân Nam lại là nhóm có thu nhập cao. Bất cứ lợi ích nào mà người tự thoát nghèo và không bị tái nghèo nhận được từ ASXH lại bị lấy lại bằng cách trả phí sử nghèo. dụng và các khoản chi tiêu khác cho y tế và giáo dục. Chính phủ trợ cấp tiền cho các hộ nghèo nhất nhưng lại lấy lại đúng khoản đó thông qua phí sử dụng. quot;Nếu một bên cho tiền thông qua ASXH, một bên lấy lại thông qua các khoản phí, lợi ích của người dân thu được sẽ bằng 0, thậm chí, ở con số âmquot;, ông Pincus nhấn mạnh. ASXH không chỉ cho riêng người nghèo TS Martin Evans, trưởng nhóm nghiên cứu, một nhân vật nổi tiếng trong chính sách xã hội và phân tích thực chứng các hệ thống ASXH nói: Việt Nam cần phải ra quyết định để lấp những khoảng trống còn tồn tại trong hệ thống ASXH của mình. quot;Đó là quyết định chính trị mà Chính phủ Việt Nam cần phải đưa raquot;. Tuy nhiên, quyết định này phải trên cơ sở tham khảo rộng rãi và công khai ý kiến của các bên liên quan: người lao động, công đoàn, các tổ chức xã hội dân sự... Các chuyên gia của LHQ cho rằng, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống ASXH bao trùm, phổ quát. Mọi người dân đều có thể đóng góp và hưởng lợi từ hệ thống ASXH ấy. Ông Pincuss phân tích thêm, quot;dù muốn tăng mức sống của người nghèo, thì cũng không đồng nghĩa với việc loại người có mức thu nhập ở tầm trung và cao ra khỏi mối quan tâm. Nếu chỉ là hệ thống ASXH cho người nghèo, hệ thống sẽ giống như chương trình giúp người nghèo. Nếu như vậy, sẽ không nhận được sự hỗ trợ của các lực lượng khác trong xã hội. Hệ thống ASXH vì thế không thể tồn tại về lâu dài. Nếu coi Việt Nam là một tập hợp khổng lồ các hộ gia đình và cộng gộp tất cả thu nhập của họ lại cho Việt Nam thì năm 2004, thu nhập bình quân đầu người là 6,1 triệu đồng/năm. Cấu phần tổng hợp lớn nhất trong thu nhập hội gia đình là từ làm công ăn lương, chiếm 32%. Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình chiếm 27%, và 22% từ kinh doanh buôn bán. Chuyển khoản cá nhân trong nội bộ hộ gia đình thông qua các khoản tiền gửi chiếm 10%. Vai trò của ASXH chỉ hạn chế, chiếm 4%, thấp hơn thu nhập từ cho thuê và các nguồn thu khác (5%). Tiền gửi không chính thức của cá nhân trong hộ gia đình vượt xa vai trò của ASXH, với tỷ lệ 2,25:1. Thu nhập từ các nguồn tiền gửi hỗ trợ trong gia đình có tác động đến thu nhập cao hơn nhiều so với chi chuyển khoản của Nhà nước. Trong 4% ASXH, thì hai phần ba dưới dạng trợ cấp bảo hiểm xã hội dài hạn (lương hưu và tiền dành cho các gia đình liệt sỹ). Một phần tư trợ cấp là cho dịch vụ y tế. 9% cho chi trả phúc lợi xã hội cho các đối tượng chính sách như cựu chiến binh, thương binh, gia đình liệt sỹ, 5% cho giáo dục và 2% cho bảo hiểm ngắn hạn như ốm đau, thai sản cho người làm công ăn lương trong diện hưởng bảo hiểm xã hội. • Phương Loan
  19. 19. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội phù hợp để hội nhập 22/12/2006 -- 4:33 PM Hà Nội (TTXVN) - Hệ thống an sinh xã hội từng là công cụ đắc lực trong việc mang thành quả của công cuộc phát triển đến với mọi người dân, nhất là người nghèo những năm qua, nay đang đứng trước nhiều thách thức bởi sự tác động ngày càng sâu rộng của việc gia nhập WTO. Điều này đã được cảnh báo từ nhiều đối tác quốc tế trong các diễn đàn hợp tác gần đây, đồng thời cũng là mối quan tâm lớn của Chính phủ và các ngành hữu quan Việt Nam. Trong một cuộc hội thảo về an sinh xã hội gần đây, Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hằng, khẳng định rằng Việt Nam nhận thức rất rõ về những thành quả cũng như thách thức trong lĩnh vực này và đang phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn diện để đối phó với rủi ro trong hội nhập quốc tế. Minh chứng rõ nét nhất cho hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam thời gian qua chính là những thành tựu ấn tượng về xoá đói giảm nghèo từng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, từng khiến Việt Nam trở thành quốc gia đi tiên phong trong việc thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Tỷ lệ hộ đói nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 30% năm 1992 xuống 8% cuối năm 2004, vượt trước kế hoạch 10% đặt ra cho giai đoạn 2001-2005. Tính theo chuẩn nghèo mới ban hành thì đến cuối năm 2006 này tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 19%. Không chỉ về xoá đói nghèo, thời gian qua cũng ghi nhận sự thành công của Việt Nam trên các lĩnh vực xã hội khác như giải quyết việc làm, giáo dục-đào tạo, dạy nghề và một số dịch vụ xã hội cơ bản. Mỗi năm, có khoảng 1,5 triệu lao động được tạo việc làm mới. Cả nước đã đạt tiêu chuẩn về quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học. Tỷ lệ gia đình được dùng nước sạch; phát thanh, truyền hình ngày càng gia tăng. Các đối tượng thiệt thòi trong xã hội được chăm lo tốt hơn, được tạo điều kiện hòa nhập cộng đồng và tiếp cận những thành tựu của đổi mới và phát triển. Thành tựu này là kết quả của sự gia tăng đầu tư của Nhà nước cho các chương trình xã hội. Nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển xã hội đã và đang được triển khai có hiệu quả như xóa đói giảm nghèo; giải quyết việc làm; phát triển kinh tế các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa; nước sạch và vệ sinh môi trường; tiêm chủng mở rộng cho trẻ em; xóa mù chữ và phổ cập tiểu học; phòng chống các tệ nạn xã hội. Các Quỹ Quốc gia về xóa đói giảm nghèo, việc làm, đền ơn đáp nghĩa, quỹ tình thương đã được thành lập và ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội. Tuy nhiên, đã đến lúc hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam cần phải được thực hiện trên bình diện rộng hơn và đi vào chiều sâu với những lĩnh vực và đối tượng cần được hưởng lợi nhiều hơn do những tác động trực tiếp và gián tiếp từ việc hội nhập WTO mang lại. Đó là sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, nguy cơ thất nghiệp, sự tụt hậu về giáo dục, vấn đề bảo vệ trẻ em... Trong nhóm những đối tượng yếu thế cần được hưởng lợi từ các chính sách an sinh xã hội sẽ có sự gia tăng những người nhiễm HIV/AIDS, những người ảnh hưởng bởi thiên tai, người di cư, phụ nữ và trẻ em bị buôn bán, lạm dụng và bóc lột thay vì chỉ bao gồm chủ yếu là người già không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, người nghèo, người khuyết tật như hiện nay. Bởi vậy, theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Hằng, hệ thống an sinh xã hội toàn diện mà Việt Nam đang xúc tiến xây dựng với sự hỗ trợ của quốc tế sẽ theo hướng bảo đảm hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, từng bước bao phủ hết các đối tượng trợ cấp xã hội, mở rộng đối tượng trợ giúp cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Theo đó, mức chuẩn trợ cấp xã hội sẽ được tính toán cân đối với mức sống trung bình của dân cư, với tiền lương tối thiểu trong từng thời kỳ; tăng cường các hình thức bảo hiểm trong xã hội và có chính sách để người dân có thể tham gia rộng rãi, trong đó chú trọng một hình thức mới là bảo hiểm thất nghiệp. Luật Bảo hiểm xã hội vừa được Quốc hội thông qua sẽ tạo điều kiện mở rộng đối tượng tham gia và phát triển với các hình thức bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp sẽ không chỉ
  20. 20. thực hiện các chức năng đơn thuần là chi trả trợ cấp thất nghiệp đối với người lao động không có việc làm mà còn thực hiện chức năng điều chỉnh cơ cấu ngành, nghề, ngăn ngừa thất nghiệp, xúc tiến các hoạt động để tăng việc làm và phát triển kỹ năng nghề đối với người lao động. Các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản, nước sạch sinh hoạt cũng sẽ được mở rộng đối tượng được thụ hưởng. Các chính sách phục hồi chức năng cho người tàn tật, chữa trị cho người nghiện ma tuý, nhiễm HIV/AIDS sẽ được tăng cường để giúp họ hoà nhập tốt vào cộng đồng./.

×