Uploaded on

rat la

rat la

More in: Education , Sports
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
    Be the first to like this
No Downloads

Views

Total Views
1,295
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1

Actions

Shares
Downloads
1
Comments
0
Likes
0

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. THỰC TIỄN – KINH NGHIỆM CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở TÂY NINH, GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 ▀ THÁI DUY THANH Sở Nội vụ tỉnh Tây NinhT hực hiện Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2006-2010 và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý củabộ máy nhà nước của Chính phủ, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Chương trình CCHCnhà nước giai đoạn 2006-2010 và Kế hoạch cải cách hành chính hàng năm của địaphương. I. KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU 1. Cải cách thể chế a) Xây dựng, ban hành và rà soát văn bản: từ năm 2006 đến nay, UBND tỉnh đãban hành 421 văn bản quy phạm pháp luật với nội dung chủ yếu là thực hiện các chỉ đạocủa Trung ương, Chính phủ, Tỉnh ủy và Nghị quyết của HĐND tỉnh về các lĩnh vực kinhtế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Nhờ đó, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục tăngtrưởng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, tốc độ đô thị hóa nhanh làm thay đổi cơ bản bộmặt thị xã và các thị trấn, nhiều công trình kinh tế và phúc lợi xã hội được xây dựng.Ngành tư pháp phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh, các ngành liên quan và UBNDhuyện, thị xã tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật của UBND tỉnh ban hành từnăm 2006 đến nay với tổng số 979 văn bản, trong đó tự bãi bỏ 205 văn bản. Qua rà soátđã khắc phục những quy định chồng chéo, không còn phù hợp với thực tế, đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. b) Kết quả thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC): thực hiệnĐề án đơn giản hóa TTHC giai đoạn 2007-2010, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh đã thànhlập Tổ công tác thực hiện Đề án, ban hành kế hoạch thực hiện thống kê và rà soát TTHC.Kết quả như sau: Ban hành các Quyết định công bố bộ TTHC chung áp dụng tại cấp huyện với 207TTHC, cấp xã với 150 TTHC và công bố 19 bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết củacác cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh (16 sở và 03 ban quản lý) với 1.143 TTHC. Ban hành Quyết định thông qua phương án đơn giản hóa các TTHC. Tổng sốTTHC của tỉnh đưa vào rà soát là 1.666 (cấp tỉnh: 1.309; cấp huyện: 207 và cấp xã 150).Kết quả, số TTHC cần đơn giản hóa và kiến nghị đơn giản hóa là 1.110 TTHC, đạt tỷ lệ66 %, trong đó: kiến nghị sửa đổi, bổ sung 952 TTHC; kiến nghị bãi bỏ, hủy bỏ 91TTHC; kiến nghị thay thế 46 TTHC và kiến nghị phân cấp thực hiện là 21 TTHC. c) Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông: căn cứ Quyết định của Thủtướng Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa,một cửa liên thông tại các sở, ngành, UBND cấp huyện và UBND cấp xã. Sở Nội vụcũng ban hành bộ “Tài liệu hướng dẫn mẫu thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửaliên thông”. Một số kết quả nổi bật là:
  • 2. - Về thực hiện cơ chế một cửa: đến nay, có 125 cơ quan hành chính thực hiện, baogồm: 21/21 sở, ngành (chưa tính Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội-HĐND tỉnh); 9/9huyện, thị xã và 95/95 xã, phường, thị trấn. - Về thực hiện cơ chế một cửa liên thông: các sở, ngành đang thực hiện ở các lĩnhvực: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,đăng ký thuế cho doanh nghiệp và cấp giấy phép thực hiện quảng cáo. Cấp huyện và xãđang thực hiện ở lĩnh vực quản lý đất đai. 2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính a) Kết quả của việc xác định, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hànhchính từ tỉnh đến huyện: UBND tỉnh đã ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ và cơcấu tổ chức cho 20/21 sở, ngành; còn lại Văn phòng UBND tỉnh thực hiện theo quy địnhcũ vì chưa có hướng dẫn của Trung ương. Đối với cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấphuyện: các sở, ngành chuyên môn thuộc UBND tỉnh đã ban hành hướng dẫn và UBNDcấp huyện đã ban hành quy định chức năng nhiệm vụ cho 7/12 cơ quan chuyên mônthuộc UBND cấp huyện (Văn hóa - Thông tin, Giáo dục - Đào tạo, Y tế, Lao động -Thương binh và Xã hội, Tư pháp, Nội vụ và Tài nguyên - Môi trường); còn lại 5 cơ quanthực hiện theo quy định cũ vì chưa có hướng dẫn của Trung ương. b) Kết quả của việc thực hiện phân cấp quản lý nhà nước giữa các cấp trong tỉnh:việc phân cấp quản lý ở các cấp, các ngành trong thời gian qua tương đối tốt và tiếp tụcđược điều chỉnh, bổ sung phù hợp với thực tế để các sở, ngành, huyện, thị xã mở rộngquyền và chủ động quyết định những vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương đặt ra. Bộ máy hành chính nhà nước cấp tỉnh và huyện được sắp xếp gọn, nhẹ, hoạt độngcó hiệu quả. Việc phân cấp cho các sở, ngành, UBND cấp huyện gắn liền với nâng caotrách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước; đồng thời coi trọng việc nâng caochất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã. 3. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức a) Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức: UBND tỉnh tăng cường phân cấpquản lý cán bộ, công chức (CBCC) để tạo điều kiện cho người đứng đầu các cơ quan, đơnvị quản lý, bố trí, đề bạt CBCC thuộc thẩm quyền. Cụ thể, đã ban hành các quy định vềphân cấp quản lý CBCC, quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo trưởng, phóphòng và trưởng, phó các đơn vị thuộc sở, ngành; quy định về tiêu chuẩn chức danh, điềukiện và quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại CBCC lãnh đạo, quản lý. Các cơ quan, đơn vị sau khi được phân cấp đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệmcủa người đứng đầu, tổ chức thực hiện quản lý CBCC đạt hiệu quả. Những người đượctuyển dụng đều có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, phù hợp với vị trí công tácvà đạt tiêu chuẩn quy định. Các quy trình tuyển dụng và sử dụng, tiếp nhận, điều độngCBCC được các cơ quan, đơn vị phối hợp thực hiện nghiêm chỉnh, đảm bảo thời gian vàđúng quy định hiện hành. Chất lượng đội ngũ CBCC của tỉnh từng bước được chuẩn hóavề trình độ thông qua việc tuyển dụng đầu vào và tăng cường công tác đào tạo, bồidưỡng. Công tác đề bạt, bổ nhiệm CBCC thực hiện theo quy trình cụ thể, đúng thẩmquyền được phân cấp và đảm bảo thời gian theo quy định, phù hợp với điều kiện thực tếcơ quan, đơn vị cũng như địa bàn quản lý. Những người được bổ nhiệm chức vụ lãnhđạo, quản lý đều thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, đảm bảo hiệu quả sự hoạtđộng của cơ quan, đơn vị.
  • 3. b) Công tác tinh giản biên chế được triển khai kịp thời. Trong 3 năm gần đây, đãgiải quyết chế độ cho 203 CBCC hành chính thuộc diện tinh giản, góp phần nâng caochất lượng đội ngũ CBCC của tỉnh. c) Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC: nhìn chung, công tác đào tạo bồidưỡng CBCC được các cấp lãnh đạo quan tâm. Hàng năm, UBND tỉnh chỉ đạo cácngành, các cấp lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng công chức hànhchính, viên chức sự nghiệp và CBCC cơ sở. Số lượng CBCC, viên chức qua đào tạo, bồidưỡng từ năm 2005 đến 2010 là 20.071 lượt người, trong đó: công chức hành chính là9.572; viên chức sự nghiệp 10.073 và CBCC cơ sở 426 người. Việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC, về cơ bản đảm bảo kế hoạch đề ra; các chức danhtheo quy định bước đầu đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa. Đồng thời, CBCC nhận thức đượctầm quan trọng của công tác đào tạo, hiểu được vai trò, trách nhiệm của mình trong việcnâng cao trình độ về mọi mặt để công tác được tốt hơn. d) Việc xây dựng văn hóa đạo đức nghề nghiệp CBCC; nâng cao tinh thần tráchnhiệm và đạo đức CBCC được triển khai thực hiện thông qua tổ chức các lớp bồi dưỡngvề kỹ năng hành chính, về nghiệp vụ cho CBCC. 4. Cải cách tài chính công a) Thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP: đến nay, toàn tỉnh có 126/126 cơquan hành chính nhà nước thực hiện khoán kinh phí hành chính (22 sở, ngành; 9 huyện,thị xã và 95 xã, phường, thị trấn). Qua thực hiện cho thấy hoạt động quản lý nhà nướccủa các cơ quan được nâng lên một bước về chất lượng; quy trình xử lý công việc đượcxây dựng mới hợp lý, khoa học. Cụ thể: - Thực hiện cơ chế tự chủ đã khuyến khích đơn vị sắp xếp biên chế, tinh gọn bộmáy, phân công lao động hợp lý, tuyển dụng công chức có trình độ, năng lực đáp ứng yêucầu nhiệm vụ được giao. Vấn đề cơ bản là bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệmtrong mối quan hệ về tổ chức, biên chế và kinh phí trong thực hiện nhiệm vụ, kế hoạchnhà nước giao cho các cơ quan, đơn vị. - Cùng với việc cải cách TTHC, sắp xếp lại tổ chức biên chế, giảm những ngườikhông đạt tiêu chuẩn, nhiều cơ quan đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, cân nhắc việccử cán bộ đi công tác và tổ chức hội nghị, không mua sắm những tài sản đắt tiền vàkhông thật cần thiết, xây dựng tiêu chuẩn, định mức văn phòng phẩm, xây dựng quy chếsử dụng điện thoại công vụ và định mức cước phí điện thoại, quy chế sử dụng điện vàthiết bị điện (máy photocopy, đèn điện, máy điều hoà...). b) Về thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-Chính phủ, đến nay, các đơn vị sựnghiệp công lập đang thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ,tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính như sau: - Cấp tỉnh: đã giao quyền tự chủ cho 89/99 đơn vị, đạt tỉ lệ 89,9%. - Cấp huyện: đã giao quyền tự chủ cho 108/633 đơn vị, đạt tỉ lệ 17,06%. Các đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ đều chủ động bố trí, sắp xếp bộ máytheo hướng tinh gọn, xây dựng cơ cấu, tiêu chuẩn, chức danh công chức, ký kết hợp đồnglao động. Quy chế chi tiêu nội bộ được xây dựng trên cơ sở chế độ, định mức theo quyđịnh hiện hành, được tổ chức thảo luận, góp ý rộng rãi, dân chủ, công khai trong đơn vị,có ý kiến của công đoàn và mang tính thống nhất cao. Ngoài phần kinh phí do ngân sáchnhà nước cấp, các đơn vị tích cực khai thác các nguồn thu sự nghiệp, bảo đảm chi tiêuhiệu quả, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện định mức chi tiêu để tăng thu nhập cho
  • 4. viên chức thuộc đơn vị mình, thực hành tiết kiệm trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ dođơn vị xây dựng. c) Thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP: UBND tỉnh đã phê duyệt Đề ánchuyển đổi Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ thuộc Sở Khoa học Côngnghệ sang hoạt động theo cơ chế tự trang trải kinh phí. 5. Hiện đại hóa nền hành chính nhà nước a) Kỷ luật, kỷ cương hành chính: các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm chế độtuần làm việc 40 giờ, xây dựng hoàn chỉnh quy chế làm việc; các cuộc họp do UBNDtỉnh triệu tập được chấn chỉnh về giờ giấc và thành phần tham dự; các đề án khi thôngqua UBND tỉnh được các cơ quan tham mưu chuẩn bị chu đáo. Thực hiện tốt công táctiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng củacông dân. Tăng cường công tác thanh, kiểm tra việc thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụngthời giờ làm việc và nội quy, quy chế cơ quan của CBCC, viên chức nhà nước. b) Hội họp và giấy tờ hành chính: UBND tỉnh ban hành văn bản chỉ đạo việc gửitài liệu hội họp qua thư điện tử thay thế tài liệu giấy. Theo đó, Văn phòng UBND tỉnh gửivăn bản thông qua mạng điện tử, như: quyết định, chỉ thị, giấy mời, thông báo và các vănbản khác của UBND tỉnh; hàng tuần đưa lịch làm việc của UBND lên trang thông tinđiện tử của tỉnh. Thực hiện nghiêm chế độ họp trong cơ quan theo hướng cắt giảm cáccuộc họp, nếu không cần thiết thì không tổ chức họp, để dành thời gian đi cơ sở... c) Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO vào hoạtđộng của các cơ quan hành chính nhà nước: UBND tỉnh đã ban hành Quyết định triểnkhai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhànước. Đến nay, có 27/126 cơ quan hành chính nhà nước triển khai áp dụng hệ thống quảnlý chất lượng vào hoạt động, trong đó, được cấp giấy chứng nhận là 15 (11 sở, ngành và3 huyện, thị xã) và đang xây dựng là 12 (7 sở, ngành và 5 huyện). Việc triển khai hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động của các cơ quan hànhchính nhà nước bước đầu làm cho công việc được tổ chức khoa học hơn, xác định rõchức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của từng cá nhân trong cơ quan. Đồngthời, qua đó góp phần cải tiến phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng công việc,giải quyết kịp thời, chính xác, đúng pháp luật các yêu cầu của cá nhân, tổ chức, giúp cơquan đánh giá các hoạt động và quá trình quản lý theo tiêu chuẩn. d) Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước: hiện nay, trong các cơ quan nhànước của tỉnh có 1.425 máy vi tính, 745 máy in; tỷ lệ CBCC được trang bị máy đạt 80%;100% các sở, ban ngành và huyện, thị trong tỉnh đã kết nối hệ thống mạng nội bộ; 37 sở,ngành đã kết nối mạng diện rộng (WAN) của tỉnh được xây dựng trên nền mạng cápquang nội thị về Trung tâm tích hợp dữ liệu tại Văn phòng UBND tỉnh. Số sở, ban,ngành, huyện, thị có kết nối Internet chiếm trên 80%, trong đó có 100% cơ quan chuyênmôn thuộc UBND tỉnh và 100% văn phòng UBND huyện, thị; phương thức kết nối chủyếu là băng rộng. e) Xây dựng trụ sở cấp xã cho việc hiện đại hóa: UBND tỉnh đã quyết định phêduyệt Đề án đầu tư xây dựng, mở rộng, cải tạo nâng cấp trụ sở UBND cấp xã. Theo Đềán, có tổng số 76/95 xã được đưa vào quy hoạch với tổng nhu cầu vốn là 129,869 tỷđồng. II. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ
  • 5. - CCHC mặc dù đã được các cấp, ngành đưa vào kế hoạch công tác hàng năm,nhưng quá trình CCHC của tỉnh tiến hành còn chậm, chưa đi vào chiều sâu, chưa đạt mụctiêu, yêu cầu đề ra. - Cải cách TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông chưa đạt yêu cầu củatỉnh đề ra, có nơi thực hiện còn mang tính hình thức, chất lượng thấp. Việc niêm yết côngkhai các TTHC còn thiếu khoa học, chưa thuận lợi cho nhân dân tiếp cận; sổ sách theodõi công việc của bộ phận một cửa chưa thống kê, cập nhật thường xuyên và kịp thời.Thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận một cửa với các phòng chuyên môn trong giảiquyết hồ sơ dẫn đến còn trường hợp trả kết quả cho người dân bị trễ hẹn. - Một bộ phận CBCC ở một số cơ quan, đơn vị còn hạn chế về năng lực chuyênmôn, kỹ năng hành chính, làm việc cầm chừng, thiếu tinh thần trách nhiệm, hiệu quảchưa cao, chưa nhiệt tình tiếp cận với người dân để giải quyết công việc; tệ quan liêu,sách nhiễu nhân dân vẫn còn diễn ra. - Việc giao khoán biên chế và định mức kinh phí quản lý hành chính để tự chủ vềtài chính còn ít, từ đó việc tiết kiệm để tăng thu nhập cho công chức trong các cơ quanhành chính còn hạn chế, nhiều cơ quan không tăng thêm được thu nhập. - Nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của tỉnhnhìn chung còn thiếu và yếu, nhất là cấp huyện, cấp xã. Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiếnthức tin học cho người sử dụng chưa được nâng cao. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác CCHC và hoạt động của bộphận một cửa chưa đáp ứng được yêu cầu, phần lớn các xã hiện nay vẫn còn phải tậndụng phòng làm việc sẵn có của UBND cấp xã với diện tích nhỏ, chật hẹp để bố trí nơilàm việc của bộ phận một cửa và thiếu các trang thiết bị văn phòng cần thiết. - Công tác tuyên truyền, giáo dục về CCHC chưa đủ thuyết phục, chưa đặt thànhnhiệm vụ trọng tâm, chưa duy trì chuyên mục, chuyên đề về CCHC trên báo, đài để cácngành, các cấp quan tâm thực hiện. III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM - CCHC là lĩnh vực có nhiều khó khăn, phức tạp, đụng chạm đến lợi ích cục bộcủa một bộ phận CBCC có chức quyền, do đó phải có sự chỉ đạo đồng bộ của cả hệ thốngchính trị. Để đạt được hiệu quả mong muốn, cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là người đứngđầu cơ quan, đơn vị phải có nhận thức đúng đắn và quyết tâm cao trong lãnh đạo, chỉ đạo,điều hành, qua đó góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vữngmạnh và từng bước hiện đại. - Cần có đội ngũ CBCC giỏi, có kinh nghiệm, hiểu biết pháp luật, có nhiệt tình vàhiểu rõ mục tiêu CCHC của Chính phủ để xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dungCCHC; đồng thời phải thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của các tổ chức, cá nhân khi đếnquan hệ với cơ quan hành chính nhà nước. - Đưa nội dung CCHC vào kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị theo từngtháng, quý, hàng năm và trong từng giai đoạn; có đánh giá sơ kết, tổng kết, rút kinhnghiệm, động viên, khen thưởng kịp thời. - Căn cứ tình hình cụ thể, xây dựng kế hoạch CCHC phù hợp với cơ quan, đơn vịlàm căn cứ thực hiện và bố trí CBCC tại bộ phận một cửa thiết thực, hiệu quả, tránh rậpkhuôn, máy móc. - CCHC cần có các điều kiện cả về con người và cơ sở vật chất. Đây là yếu tố cầnthiết để thực hiện thành công Chương trình CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020.
  • 6. - Kết hợp chặt chẽ CCHC với cải cách tư pháp, tạo môi trường, điều kiện để cảicách về kinh tế ngày càng đạt hiệu quả cao hơn