Your SlideShare is downloading. ×
Tailieu.vncty.com   yeu to-ky_ao_trong_sang_tac_vo_thi_hao_(qua_tieu_thuyet_gian_thieu_va_tap_truyen_ngan_nhung_truyen_khong_nen_doc_luc_nua_dem)
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

Tailieu.vncty.com yeu to-ky_ao_trong_sang_tac_vo_thi_hao_(qua_tieu_thuyet_gian_thieu_va_tap_truyen_ngan_nhung_truyen_khong_nen_doc_luc_nua_dem)

326
views

Published on

http://tailieu.vncty.com/index.php

http://tailieu.vncty.com/index.php


0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
326
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
3
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––– CAO THỊ THU HOÀI YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG SÁNG TÁC VÕ THỊ HẢO (QUA TIỂU THUYẾT GIÀN THIÊU VÀ TẬP TRUYỆN NGẮN NHỮNG TRUYỆN KHÔNG NÊN ĐỌC LÚC NỬA ĐÊM) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN THÁI NGUYÊN - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––– CAO THỊ THU HOÀI YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG SÁNG TÁC VÕ THỊ HẢO (QUA TIỂU THUYẾT GIÀN THIÊU VÀ TẬP TRUYỆN NGẮN NHỮNG TRUYỆN KHÔNG NÊN ĐỌC LÚC NỬA ĐÊM) Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM Mã số: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ĐỨC HẠNH THÁI NGUYÊN - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 3. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Sau 1975, đặc biệt là sau 1987, đời sống văn học Việt Nam có nhiều thay đổi. Sự chuyển tiếp từ thời chiến sang thời bình với những quy luật bình thƣờng của nó, ảnh hƣởng của công cuộc đổi mới tƣ duy mà Đảng khởi xƣớng, những vấn đề bức thiết cộm lên trong lịch sử dân tộc thời hậu chiến và một độ lùi thời gian tƣơng đối thích hợp... là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thay đổi quan trọng của văn học. Cùng với sự nghiệp đổi mới của Đảng, các phƣơng diện của đời sống văn học nhƣ tác giả, tác phẩm, các hoạt động sáng tác, lí luận, phê bình... đều có sự chuyển biến tích cực. Trong bức tranh chung ấy, chúng ta rất dễ nhận ra sự khởi sắc của thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đã nhận ra xu hƣớng vận động mới - xu hƣớng của những tìm tòi sáng tạo, của những lối viết hoàn toàn mới mẻ. Và hoà vào dòng chảy ấy, ta thấy xuất hiện một nữ văn sỹ có cá tính sáng tạo độc đáo - nhà văn Võ Thị Hảo. Cái tên Võ Thị Hảo đã từng gây ấn tƣợng mạnh trên văn đàn những năm 90 của thập kỷ trƣớc bởi những truyện ngắn Người sót lại của rừng cười, Biển cứu rỗi, Vườn yêu… và mấy năm gần đây, chị lại làm độc giả sửng sốt bằng cuốn dã sử đậm chất "liêu trai" với cái tên mang cảm giác mạnh Giàn thiêu (2005), cùng với đó là tập truyện ngắn Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm (2005) cũng khiến không ít ngƣời kinh ngạc. Đây là 2 tác phẩm đạt giải thƣởng của Hội nhà văn Hà Nội. 1.2. Cùng với những tên tuổi nhƣ Nguyễn Bình Phƣơng, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh..., Võ Thị Hảo là nhà văn góp phần tạo ra xu hƣớng cách tân trong nền văn xuôi Việt Nam đƣơng đại. Các nhà văn này đã mang vào văn học hơi thở của cuộc sống và con ngƣời hiện đại. Để làm đƣợc điều đó, trƣớc hết họ phải tự làm mới chính mình. Cùng với một quan niệm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 4. 2 mới mẻ về hiện thực là một văn phong táo bạo, những sáng tác đậm chất kì ảo xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống văn học hiện nay. Yếu tố kì ảo cũng chính là một trong những gam màu chủ đạo làm nên bức tranh đầy mê hoặc và lôi cuốn trong những sáng tác của nhà văn Võ Thị Hảo. 1.3. Kì ảo là một trong những thủ pháp nghệ thuật hữu hiệu và độc đáo của kho tàng văn xuôi thế giới. Nó trở thành một dòng chảy liên tục trong tiến trình của lịch sử văn học nhân loại từ thời cổ đại, qua Trung đại đến cận đại và hiện đại. Bên cạnh đó ngoài vai trò tạo sự "lạ hoá" nhằm hấp dẫn ngƣời đọc, yếu tố kì ảo còn có tác dụng giúp nhà văn biểu hiện, khám phá hiện thực và thể hiện những quan niệm mới mẻ về nhân sinh, thế sự, con ngƣời. 1.4. Nghiên cứu yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Võ Thị Hảo, chúng ta có thêm cơ sở khoa học để nghiên cứu, khẳng định những đổi mới trong nghệ thuật tự sự của văn xuôi Việt Nam hiện đại từ 1987 đến nay. Và từ đó chúng ta nhận ra xu thế hoà nhập của văn xuôi Việt Nam hiện đại vào văn xuôi thế giới hiện nay. Chính vì thế, nghiên cứu về yếu tố kì ảo trong sáng tác của Võ Thị Hảo (qua tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện ngắn Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm) sẽ giúp chúng tôi hiểu sâu sắc hơn về thế giới nghệ thuật của nhà văn, cũng nhƣ có những nhìn nhận, đánh giá xác đáng hơn về quá trình vận động của văn xuôi Việt Nam đƣơng đại. 2. Lịch sử vấn đề Với 10 tập truyện ngắn, một tiểu thuyết và ba kịch bản phim truyện, sáng tác của Võ Thị Hảo đang là mối quan tâm và bình luận của rất nhiều nhà văn, nhà phê bình và độc giả. Đã có khá nhiều bài báo và rất nhiều trang web viết về sáng tác của Võ Thị Hảo, mà chủ yếu tập trung ở tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện ngắn Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 5. 3 Chúng tôi khái quát những ý kiến đánh giá về các vấn đề xung quanh đề tài trên hai phƣơng diện sau: 2.1. Về nghệ thuật 2.1.1. Theo nhận xét của Phạm Xuân Nguyên: "Văn Võ Thị Hảo, không chỉ là những dòng chữ. Không chỉ là những truyện ngắn hay tiểu thuyết. Văn Võ Thị Hảo có nhiều tầng hình tƣợng mà mỗi lần tiếp cận ngƣời đọc lại ngạc nhiên thấy mình khám phá ra một lớp ngữ nghĩa ẩn mình sau những câu chữ. Đó là lối viết văn đã đƣợc tác giả thổi linh hồn, linh hồn đó tạo nên những câu văn huyễn ảo mê hoặc, thậm chí ma quái". ("Giàn thiêu” - xứ sở của lối văn chương mê hoặc, huyền bí - trang 8). 2.1.2. Trên báo Thể thao văn hoá, tác giả Lƣơng Thị Bích Ngọc trong bài viết Võ Thị Hảo giữa những trang viết trang đời nhận xét: "Đọc truyện chị, thấy cuốn hút cứ tƣởng hình nhƣ mình bị mê hoặc bởi lối kể truyện cuốn hút, có duyên và lối văn phong vừa cũ, vừa mới, vừa quen, vừa lạ", "một hiện thực nghiệt ngã đƣợc chở đi trên lối văn phong ảo - thực và câu chữ ngọt ngào, dịu nhẹ". 2.1.3. Tác giả Nguyễn Hoài Nam trong bài Giàn thiêu - một nghệ thuật làm tan khối băng lịch sử đã nhấn mạnh đến những đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm này: “Tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu của Võ Thị Hảo là một nghệ thuật làm tan khối băng lịch sử mà chị đã gặp phải khi dựng lên một “Giàn thiêu” với rất nhiều “lửa” của mình”. Cũng trong bài viết, tác giả chú ý hơn cả đến hai nhân vật: Nguyên Phi Ỷ Lan và Thiền sƣ Từ Đạo Hạnh: “Võ Thị Hảo đã làm tan rã khối băng nhận thức về Ỷ Lan - với tƣ cách là một nhân vật lịch sử, một khối băng vốn đã cố kết vững chắc”. Còn với nhân vật Từ Đạo Hạnh, cách làm tan rã khối băng lịch sử của Võ Thị Hảo lại thể hiện ở một phƣơng diện khác - đó là đặt một giả thiết rõ ràng lên làn sƣơng mù mờ vốn đã bao quanh nhân vật này suốt mƣời thế kỉ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 6. 4 Nhƣ vậy, tác giả Nguyễn Hoài Nam đã nhìn nhận và đánh giá Giàn thiêu trên cả hai phƣơng diện: trƣớc hết, đây là một tiểu thuyết lịch sử và xa hơn nữa còn là cuốn sách làm tan khối băng lịch sử, kéo quá khứ về hiện tại, đặt quá khứ - hiện tại trong một dòng chảy liên tục của thời gian. 2.1.4. Tác giả Quang Hải trong nhà văn Võ Thị Hảo và những cố gắng giải thiêng huyền sử lại dẫn dắt ngƣời đọc vào thế giới của tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm: Đêm bướm ma là câu chuyện “mang không khí huyền hoặc pha mùi cổ sử thi đọng lại rất lâu. Có hơi hƣớng của Liêu trai chí dị, của Truyền kì mạn lục và dĩ nhiên nó đƣợc cảm nhận bởi con ngƣời hiện đại …”. Ngƣời viết cũng chỉ ra sự khác biệt về nghệ thuật qua giọng điệu của hai truyện ngắn Dệt cỏ và Người chăn bò thần thánh. Ở Dệt cỏ là giọng văn thƣơng cảm, xót xa. Còn Người chăn bò thần thánh là giọng giễu nhại, phê phán. Đặc biệt, bài viết này đã ít nhiều đề cập đến một khía cạnh nhỏ của yếu tố kì ảo khi nhấn mạnh: mạch truyện giải thiêng là mạch chính, giọng chủ của tác phẩm. 2.1.5. Bài viết Võ Thị Hảo, vầng trăng mồ côi trên trang web http:// chimviet.free.tr| tacpham1 | stt1| vothihao.html đã đặt sáng tác của Võ Thị Hảo trong sự so sánh với các nhà văn khác: “Ngƣời đọc có thể tìm thấy trong văn phong Võ Thị Hảo cái tàn nhẫn, chất huyền thoại phảng phất cơn mƣa Nguyễn Huy Thiệp, bóng mây Phạm Thị Hoài”. Đồng thời ngƣời viết cũng cho rằng “cay độc và ẩn dụ trở thành phong trào, thành phong cách thời đại, dấu ấn của thế hệ này”. 2.1.6. Báo Người đại biểu nhân dân (2005) bày tỏ sự ca ngợi những cách tân nghệ thuật của Giàn thiêu: “Cuốn tiểu thuyết này đang đi theo con đƣờng riêng của nó, ngấm dần vào trái tim ngƣời ta và những tầng lớp ngữ nghĩa cũng nhƣ những hình tƣợng nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này thƣờng trở đi trở lại ám ảnh ngƣời đọc”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 7. 5 2.2. Về nội dung 2.2.1. Trong buổi toạ đàm về sáng tác của Võ Thị Hảo (Trên Vietnamnet.vn. 20.10.2005) có một số ý kiến: - Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân trong bài "Tiểu thuyết và lịch sử - nhân đọc "Giàn thiêu" của Võ Thị Hảo” đã đặt ra vấn đề mối quan hệ giữa tiểu thuyết và lịch sử, cũng nhƣ định nghĩa thế nào là "tiểu thuyết lịch sử" và quyền tự do của nhà văn trong việc sử dụng chất liệu lịch sử vào tiểu thuyết. Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng: “Tiểu thuyết “Giàn thiêu” còn có nhiều mặt đáng nói, nhất là xu hƣớng nữ quyền khá lộ liễu của nó với mấy nhân vật nữ đặc sắc: Nhuệ Anh, Lê Thị Đoan, cung nữ Ngạn La. Cả ba đều là những nhân vật hƣ cấu, đƣợc cài xen vào một quá khứ lịch sử, đƣợc đặt bên cạnh nhiều nhân vật lịch sử (…). Không khó để nhận ra rằng tác giả đã đƣa vấn đề của thế giới hiện đại vào tài liệu quá khứ. Đây không phải là điểm yếu, ngƣợc lại là điểm mạnh, đem lại sức sống cho ngòi bút nhà tiểu thuyết khi nhúng bút vào tích xƣa chuyện cũ”. - Hai nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và Hoàng Ngọc Hiến thì cùng chung một lời nhận xét: Giàn thiêu là một tiểu thuyết, trƣớc hết là tiểu thuyết, nghĩa là Giàn thiêu trƣớc hết không phải là một truyện lịch sử, không phải là minh chứng lịch sử mà là một sự tƣ duy lại lịch sử bằng phƣơng pháp tiểu thuyết. - Nhà văn Châu Diên thì nói rằng: ông "lấy làm tiếc cho Võ Thị Hảo" giá nhân vật chính của Giàn thiêu là Ỷ Lan thay vì Từ Đạo Hạnh thì cuốn tiểu thuyết còn thành công hơn. 2.2.2. Phùng Hữu Hải trong Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau 1975 lại nhìn nhận về sáng tác của Võ Thị Hảo ở một khía cạnh khác - đó là cảm hứng triết luận về ngƣời phụ nữ (mà theo ông đây là một nội dung của yếu tố kì ảo): "Võ Thị Hảo qua chùm chuyện Tim vỡ, Nàng tiên xanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 8. 6 xao, Hành trang người đàn bà Âu lạc tỏ ra đặc biệt hứng thú với đề tài này. Dựa vào cảnh ngộ của những ngƣời phụ nữ mang nỗi đau của "cả giới đàn bà", Võ Thị Hảo tìm ra những quy luật nghiệt ngã của đời ngƣời phụ nữ ...". 2.2.3. Ngay trong bài phỏng vấn “Tôi không định mê hoặc…” của Minh Đức trên báo Người Đại biểu Nhân dân (2005), khi đƣợc hỏi: “Thông điệp của Giàn thiêu là gì?”, Võ Thị Hảo đã trả lời rằng, điều mà chị muốn gửi gắm qua tiểu thuyết này chính là khát vọng tự do và tình yêu. Và chị cũng khẳng định: sức sống của Giàn thiêu sẽ quyết định sự mê hoặc hay không mê hoặc ngƣời đọc. 2.2.4. Luận án tiến sỹ của Bùi Thanh Truyền đã chỉ ra những thông điệp mà Võ Thị Hảo muốn gửi gắm qua các tác phẩm: “Người chăn bò thần thánh với những chi tiết về giống bò tập thể kì lạ: chúng không cần ăn cỏ, không cần bài tiết, chỉ cần “chúm môi, phồng má thổi phù một cái, thế là cả đàn bò cứ ngoan ngoãn lừ lừ ra nhƣ một đàn bóng khổng lồ” chính là cái nhìn phê phán một thời kì hợp tác xã không ít những non nớt, tiêu cực (…), ngƣời viết phần nào làm lộ ra cái thế giới bí ẩn, phức tạp của tâm hồn con ngƣời hôm nay” [55, tr.181]. Tuy có không ít những ý kiến đánh giá về yếu tố kì ảo trong sáng tác Võ Thị Hảo, nhƣng chúng chỉ nằm rải rác trong những bài báo, bài nghiên cứu chứ chƣa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu một cách có hệ thống và bao quát về vấn đề này. Bởi vậy, luận văn của chúng tôi sẽ lấp đầy “khoảng trống” đó, nhằm khám phá sâu một phƣơng diện nghệ thuật đặc sắc làm nên giá trị sáng tác Võ Thị Hảo, đặc biệt là yếu tố kì ảo qua tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn đi sâu khảo sát, phân tích lý giải những biểu hiện của cái kì ảo trong tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm cùng nghệ thuật xây dựng, miêu tả cái kì ảo trong hai tác phẩm trên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 9. 7 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Yếu tố kì ảo với những biểu hiện đa dạng và hiệu quả thẩm mĩ của nó trong tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Tiểu thuyết Giàn thiêu - nhà xuất bản Phụ nữ - 2005, (tái bản có bổ sung) và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm - nhà xuất bản Phụ nữ - 2005. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu chính sau: 1. Phƣơng pháp nghiên cứu thi pháp học. 2. Phƣơng pháp hệ thống. 3. Phƣơng pháp thống kê. 4. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh. 6. Đóng góp của luận văn 6.1. Có đƣợc những kết luận khoa học về yếu tố kì ảo trong sáng tác Võ Thị Hảo, tiếp tục mở rộng con đƣờng đi vào thế giới nghệ thuật của tác giả. 6.2. Góp phần giải mã các yếu tố kì ảo trong văn học và cách tiếp cận văn học kì ảo. 6.3. Đóng góp một tài liệu học tập, nghiên cứu về Võ Thị Hảo và văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại. 7. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Sáng tác của Võ Thị Hảo trong khuynh hƣớng văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại. Chƣơng 2: Các kiểu loại nhân vật kì ảo trong sáng tác của Võ Thị Hảo. Chƣơng 3: Một số thủ pháp nghệ thuật xây dựng yếu tố kì ảo trong sáng tác của Võ Thị Hảo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 10. 8 NỘI DUNG Chƣơng 1 SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO TRONG KHUYNH HƢỚNG VĂN HỌC KÌ ẢO VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI Khái niệm khuynh hƣớng “ghi nhận tính cộng đồng về cơ sở tƣ tƣởng thẩm mĩ của nội dung nghệ thuật; tính cộng đồng này đƣợc quy định bởi sự thống nhất về truyền thống nghệ thuật và văn hoá, bởi sự gần gũi trong cách hiểu của các nhà văn đối với các vấn đề của đời sống, bởi sự giống nhau về các tình thế xã hội, thời đại, văn hoá, nghệ thuật” [7]. Đặc điểm cốt lõi nhất của mọi khuynh hƣớng văn học là phƣơng pháp sáng tác của nó, chính phƣơng pháp quy định tính chất của việc lựa chọn chất liệu đời sống và phƣơng thức nghệ thuật để xử lí chất liệu. Sở dĩ chúng tôi xếp Võ Thị Hảo vào khuynh hƣớng trên bởi các sáng tác của nhà văn này cũng chứa nhiều yếu tố huyễn ảo, li kì và có một số điểm tƣơng đồng về bút pháp nghệ thuật với một số nhà văn sáng tác thiên về khuynh hƣớng kì ảo nhƣ Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phƣơng, Nguyễn Huy Thiệp... 1.1. Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác Võ Thị Hảo 1.1.1. Tiểu sử Võ Thị Hảo sinh ngày 13 - 4 - 1956 ở Diễn Châu - Nghệ An. Tốt nghiệp khoa văn trƣờng Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Ra trƣờng chị về công tác tại nhà xuất bản Văn hoá dân tộc. Chị làm thơ từ rất sớm và từng nghĩ sẽ trở thành nhà thơ, nhƣng chị lại viết văn và thành danh với văn xuôi. Dù vào nghề văn chƣa đƣợc bao lâu, song Võ Thị Hảo nhanh chóng đƣợc ngƣời đọc biết đến. Chị đƣợc đánh giá là một trong những cây bút sắc sảo và giàu nữ tính. Những thân phận bé nhỏ, lam lũ trƣớc cuộc đời luôn khiến chị trăn trở trên từng trang viết của mình. Ngoài ra, Võ Thị Hảo còn “bén duyên” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 11. 9 với điện ảnh và hội hoạ. Ba kịch bản phim truyện của chị đƣợc đánh giá khá cao. Bên cạnh đó, chị còn say mê vẽ tranh và đã mở một triển lãm tranh với tên gọi Đường chân trời khiến bạn bè hội họa không khỏi kinh ngạc. Giản dị trong đời thƣờng nhƣng mạnh mẽ trong văn chƣơng là điều dễ nhận thấy ở nhà văn này. 1.1.2. Sự nghiệp sáng tác Với 10 tập truyện ngắn, một tiểu thuyết đã in và ba kịch bản phim truyện, sáng tác của Võ Thị Hảo đang gây ấn tƣợng mạnh trên văn đàn. Sách đã in: Biển cứu rỗi - tập truyện ngắn, Nxb HN 1991, giải thƣởng cuộc thi tiểu thuyết và truyện ngắn. Chuông vọng cuối chiều - tập truyện ngắn, Nxb Lao động, 1993. Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo, Nxb Hội nhà văn, 1995, giải thƣởng 5 năm văn học Hà Nội. Ngậm cười - tập truyện ngắn, Nxb Phụ nữ, 1998. Nàng tiên xanh xao - tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 2000. 101 cái dại của đàn ông (phóng tác), Nxb Văn hoá dân tộc,1994. Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm - tập truyện ngắn, Nxb Phụ nữ, 2005. Goá phụ đen - tập truyện ngắn, Nxb Phụ nữ, 2005. Hồn trinh nữ - tập truyện ngắn, Nxb Phụ nữ, 2005. Người sót lại của rừng cười, Nxb Phụ nữ, 2006. Tiểu thuyết “Giàn thiêu”, Nxb Phụ nữ 2003, giải thƣởng Hội nhà văn Hà Nội năm 2004. Ba kịch bản phim truyện: Con dại của đá, Mùa thu kiếp sau, Biển cứu rỗi, Nxb Hội nhà văn, 2006. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 12. 10 Giải thƣởng báo chí toàn quốc 1999: loạt bài phóng sự điều tra về các lao động nữ ở Samoa. 1.2. Những sáng tác đậm chất kì ảo của Võ Thị Hảo Tiểu thuyết Giàn thiêu. Các tập truyện: Người sót lại của rừng cười, Biển cứu rỗi, Goá phụ đen, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, Hồn trinh nữ. 1.3. Võ Thị Hảo trong khuynh hƣớng văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại 1.3.1. Khái niệm kì ảo và văn học có yếu tố kì ảo 1.3.1.1 Khái niệm kì ảo Bàn về khái niệm này, đến nay, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới giới nghiên cứu vẫn chƣa tìm đƣợc định nghĩa thống nhất. Gần đây, trên nhiều sách, báo, tạp chí, ngoài thuật ngữ “truyện kì ảo”, chúng ta còn thấy nhiều thuật ngữ khác nhƣ: truyện kinh dị, truyện kì lạ, truyện huyền ảo, truyện huyễn tƣởng… để gọi tên những truyện mà nội dung và hình thức có chứa đựng yếu tố kì ảo. Theo cách chia của TS Bùi Thanh Truyền, có thể chia hệ thống thuật ngữ trên làm ba hƣớng: Chú trọng đến chức năng tâm lý mà loại truyện này gây ra, nhấn mạnh nhiều đến tính chất khác thƣờng, không thực. Nó có chức năng giải trí, tiêu khiển. Những khái niệm: truyện linh dị, truyện huyễn hoặc, truyện dị thƣờng… đƣợc xếp theo hƣớng này. Coi kì ảo nhƣ một thủ pháp nghệ thuật đắc lực để nhận thức và phản ánh cuộc sống, nhƣng vẫn chú trọng đến tính truyền thống vốn có. Ví dụ: Lê Nguyên Cẩn sử dụng khái niệm truyện kì ảo, Đỗ Lai Thuý sử dụng khái niệm truyện kinh dị, Vũ Thanh sử dụng khái niệm truyền kì đời mới… Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi sẽ chọn cách hiểu này để tìm hiểu và phân tích về yếu tố kì ảo trong hai sáng tác của Võ Thị Hảo. Hƣớng thứ ba bao gồm những nhà nghiên cứu nhƣ Nguyễn Văn Dân, Đặng Anh Đào, Lê Huy Bắc với các thuật ngữ nhƣ: truyện huyễn tƣởng, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 13. 11 truyện quái dị, truyện huyền ảo… chỉ những truyện kì ảo hiện đại ra đời vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX ở phƣơng Tây. Chính sự không thống nhất trên đã khiến cho việc xác định nội hàm khái niệm kì ảo gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Thực trạng đó đòi hỏi chúng tôi phải lựa chọn tìm ra một thuật ngữ phù hợp để thuận tiện trong việc nghiên cứu đề tài. Nét chung giữa các thuật ngữ này là yếu tố lạ lẫm, bất thƣờng, nửa hƣ nửa thực. Trong cuốn Truyện kì ảo thế giới ta thấy xuất hiện thuật ngữ “le fantastique” có khá nhiều điểm gần gũi với các nghĩa trên. Trong từ điển Petit Robert của Pháp, sự kì ảo (le fantastique) đƣợc định nghĩa là “cái đƣợc sinh ra bởi sự tƣởng tƣợng, cái không tồn tại trong thực tế, cái có tính tƣởng tƣợng siêu nhiên” [12]. Từ những điểm tƣơng đồng đó, chúng tôi nhận thấy từ fantastique tƣơng đƣơng với khái niệm kì ảo. (Khái niệm “kì ảo” còn đƣợc gọi tên là yếu tố kì ảo, cái kì ảo hay sự kì ảo). Trong Hán ngữ đại tự điển, “kì” là “khác thƣờng”, còn “ảo” là “không thực”. Nó thiên về tính chất li kì, hiếm thấy. Nhƣng “kì” còn đƣợc coi là một hình thức tƣ duy nghệ thuật để tạo nên các “kì văn”. Điều này thể hiện rõ nét trong thể loại Truyền kì của Trung Quốc và một số nƣớc khác nhƣ Nhật Bản, Việt Nam... Nhờ có “kì” mà câu truyện không chỉ dừng lại ở việc ghi chép mà còn trở thành sản phẩm hƣ cấu. Nói theo cách khác, nó đã biến những sự vật, hiện tƣợng bình thƣờng, quen thuộc thành khác lạ, thu hút ngƣời đọc. Ngay tên gọi thể loại tiểu thuyết qua các thời kì và tên tác phẩm cũng có chứa yếu tố kì: tiểu thuyết chí quái, tiểu thuyết chí nhân, tiểu thuyết truyền kì… Đọc tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, ta thấy hầu nhƣ tác phẩm nào cũng đề cập đến những sự kì lạ, ví dụ: kì sự, kì ngộ, kì duyên, kì nhân, kì nữ… nhằm nói về các thần linh, những hiện tƣợng không giải thích đƣợc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 14. 12 Còn “ảo” là không thực, nó biểu hiện trạng thái mơ hồ của con ngƣời. Nó xuất hiện do sự kích thích của một hiện thực cụ thể thường có tích chất kì lạ, siêu phàm và trở thành cái bóng của hiện thực [55]. Tức kì ảo phải bao hàm trong nó cả cái ảo và cái kì, nghĩa là không phân biệt nổi ranh giới giữa thực - hƣ, hoặc cũng hoàn toàn có thể có thật - cái thật mà ngƣời ta chƣa biết hoặc ít thấy. Cũng nhƣ cái điển hình, kì ảo cũng lấy chất liệu từ một nền hiện thực này để nhào nặn lại và tạo dựng một hiện thực khác mà nhìn vào đó hiện thực nền tảng kia đƣợc soi chiếu rất nhiều. Chỉ có một điểm khác biệt: sự “nhào nặn” chất liệu hiện thực của cái điển hình vẫn tuân thủ lôgic thông thƣờng của đời sống, sự “nhào nặn” chất liệu hiện thực của cái kì ảo lại tuân theo lôgic phi thƣờng hoá, lôgic của những giấc mơ, của một thế giới siêu thực. Sự kết hợp song hành hai yếu tố này khiến kì ảo trở thành một trong những hƣớng tiếp cận có ƣu thế đối với bản chất hiện thực, bên cạnh các hƣớng tiếp cận khác. Từ những lí giải trên có thể thấy yếu tố kì ảo là những điều lạ lùng, huyền bí, vừa chân thực vừa hƣ huyễn. Nhân tố quan trọng nhất của nó là sự tƣởng tƣợng, hƣ cấu của ngƣời sáng tạo nhằm thể hiện ý đồ nghệ thuật nào đó theo khuynh hƣớng phi thƣờng hoá. Thực ra, yếu tố kì ảo đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử văn học nhân loại. Ngay trong các tác phẩm văn học dân gian, yếu tố kì ảo đã xuất hiện và phản ánh nhận thức còn "ngây thơ", niềm tin lý tƣởng của ngƣời cổ đại về thế giới. Nói nhƣ Phùng Hữu Hải thì "yếu tố kì ảo cũng bắt nguồn từ những tiền đề xã hội nhất định". Nó gắn chặt với tâm lý lo sợ của con ngƣời về những gì không lý giải đƣợc hoặc không đƣợc phép lý giải. Mặt khác, yếu tố kì ảo còn đƣợc sử dụng để phản ánh thái độ của con ngƣời về những ẩn ức xã hội, những điều kiêng kị trong xã hội, mà một trong những mục đích của việc sử dụng yếu tố kì ảo chính là để "thoả mãn cái lý tƣởng đạo đức đầy mâu thuẫn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 15. 13 với một môi trƣờng xã hội nhất định" [17]. Tuy nhiên ý kiến này chỉ thiên về yếu tố tâm lí của ngƣời đọc khi tiếp nhận tác phẩm. (ví dụ Tây du kí của Ngô Thừa Ân). Roger Caillor cho rằng mọi cái kì ảo đều là một sự vi phạm trật tự quen thuộc, một sự đảo lộn của cái không thể tiếp nhận đƣợc trong lòng những quy luật bất biến của đời thƣờng [12]. M.Schemeider nhận xét: “Cái kì ảo khai thác không gian nội tâm, nó gắn liền với sợ hãi trong cuộc sống và trong hi vọng thay đổi” [12]. Ông cũng cho rằng trong văn học, cái kì ảo là hình thức thuần tuý…. Nó đƣợc tạo ra từ những giấc mơ, từ sự mê tín, hối hận hay sự kích thích quá độ của trí não, từ sự mê đắm mang tính chất bệnh lý. Nó đƣợc nuôi dƣỡng bằng ảo giác, bằng sự khủng khiếp điên cuồng [12, tr.14]. P.G.Caspex trong Truyện kì ảo Pháp từ Nodier tới Maupassant cho biết: “Cái kì ảo (…) hiện ra (…) nhƣ một sự đứt gãy đột ngột của cái huyền bí trong bối cảnh đời sống hiện thực” [12, tr.16]. Tác giả Ngô Tự Lập nhận định: “Kì ảo, đó chính là mê lộ nghệ thuật, và cũng nhƣ trong những lĩnh vực khác, nó xuất hiện ở mọi nơi, khi trật tự đã trở nên bó buộc, vừa đáng ghét vừa đáng sợ và tính hợp lý của trật tự ấy bị đặt thành câu hỏi. Tuy nhiên, những thiết chế văn minh càng chặt chẽ, càng ráo riết thì sự xuất hiện của nó càng kịch tính, nhƣ những gì chúng ta chứng kiến ở phƣơng Tây” [28, tr.29]. Còn Lê Nguyên Cẩn định nghĩa: “Yếu tố kì ảo (hay cái kì ảo) là một phạm trù tƣ duy nghệ thuật, nó đƣợc tạo ra nhờ trí tƣởng tƣợng và đƣợc biểu hiện bằng các yếu tố siêu nhiên, khác lạ, phi thƣờng, độc đáo… nó có mặt trong văn học dân gian, văn học viết qua các thời đại. Nó tồn tại trên trục thực - ảo và tồn tại độc lập, không hoà tan vào các dạng thức khác của trí tƣởng tƣợng” [12]. Từ những cơ sở lý thuyết và khảo sát một số tác phẩm của văn học kì ảo Việt Nam và nƣớc ngoài, chúng tôi chỉ xem kì ảo nhƣ một thủ pháp nghệ thuật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 16. 14 đƣợc nhiều cây bút vận dụng trong nhiều thể loại văn học nhằm đạt đƣợc hiệu quả nghệ thuật và chuyển tải những vấn đề tâm huyết của tác giả. Cội nguồn của sự tƣởng tƣợng li kì vẫn là những điều hiện hữu trên thế giới này. Các tác giả sử dụng yếu tố kì ảo nhằm “lạ hoá” hiện thực, đôi khi xáo trộn hiện thực để tăng trí tƣởng tƣợng của ngƣời đọc khi bƣớc chân vào thế giới của một “trò chơi” đầy lôi cuốn. Trong truyền thống, cách biểu đạt này vừa thể hiện một kiểu tƣ duy nghệ thuật lại vừa là cách thức để con ngƣời chiếm lĩnh thế giới. Tƣ duy văn học hiện đại sẽ kế thừa những thành quả quan trọng của văn học kì ảo truyền thống và tiếp thêm cho nó những luồng sinh khí mới. 1.3.1.2. Văn học có yếu tố kì ảo (văn học kì ảo) Văn học kì ảo là khái niệm đặc trƣng của một vấn đề văn học mà ở đây là cái kì ảo. Từ nội hàm khái niệm kì ảo, có thể thấy “văn học kì ảo chứa đựng trong nó những yếu tố ma quái, những điều lạ lùng hay những sự kiện, con ngƣời không có thực” [12, tr.12]. Trong đội ngũ hùng hậu các nhà văn nƣớc ngoài có tên tuổi hiện diện trong văn học, thật không khó để nhận ra một bộ phận không nhỏ các gƣơng mặt văn học kì ảo nổi tiếng: phƣơng Tây có Trekhov, Horoné de Balzac, Thomas Mann, E.T.A.Hoffman…; phƣơng Đông với Paplon, Ueda Akinari, Lỗ Tấn… Ở Việt Nam, cùng với những thay đổi trong cơ chế quản lí văn hoá văn nghệ, tâm lí hiếu kì của ngƣời đọc, cộng với môi trƣờng văn hoá truyền thống của dân tộc ta cũng là mảnh đất màu mỡ để yếu tố kì ảo ngoại nhập và bén rễ. Sự thực thì yếu tố kì ảo không hề xa lạ mà trái lại, nó đã gắn liền với văn học Việt Nam ngay từ lúc mới chào đời. Điều này đƣợc phản ánh rõ trong các sáng tác văn học dân gian và trong các tác phẩm cổ xƣa, những tác phẩm hoang đƣờng, kì lạ chiếm lĩnh đời sống của mọi thành viên, tầng lớp trong xã hội. Nói nhƣ Lê Ngọc Trà: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 17. 15 “Ngoài văn học dân gian - cái nôi của văn hoá, văn học dân tộc, cái kì ảo trong tiểu thuyết văn học phƣơng Đông còn gắn bó chẽ với triết học Phật giáo và phần nào triết học Lão Trang, hai học thuyết đối trọng với nho giáo nhƣng lại khá dung hoà với tín ngƣỡng gốc dân gian để góp phần tạo ra bản sắc dân tộc Việt Nam. Nếu nhƣ văn hoá nho giáo không khuyến khích hƣ cấu, tƣởng tƣợng, chủ trƣơng không nói chuyện ma quái, thần linh… thì học thuyết về vai trò của Tâm lại đề cao vai trò của trí tƣởng tƣợng, bay bổng, giúp nhà văn đƣợc tự do trong sáng tạo nghệ thuật. Cũng chính học thuyết về kiếp, về cuộc sống sau cái chết, vấn đề lai sinh hay tái sinh của đạo Phật đã mở ra cho văn học Truyền kì phƣơng Đông một nguồn mạch tƣ duy phong phú” [55, tr.28]. Bằng cách khai thác tối đa thế mạnh từ đặc trƣng của yếu tố kì ảo, những sáng tác ngôn từ của các nhà văn Trung đại xứng đáng đƣợc gọi là những “kì văn”. Với đặc trƣng nhận thức và phản ánh cuộc sống bằng những yếu tố thần kì, linh dị, kì ảo, các sáng tác này dễ dàng giúp tầng lớp nho sĩ vốn bị kìm toả trong “tam cƣơng ngũ thƣờng” tìm đƣợc con đƣờng để giải thoát những ẩn ức dồn nén, đồng thời qua đó bộc lộ suy tƣ chiêm nghiệm về cuộc đời. Nói nhƣ Bồ Tùng Linh trong Liêu trai chí dị: “con ngƣời không có sự ngăn cách tuyệt đối giữa “cõi sống” và “cõi chết”, chỉ có một chiều hƣớng duy nhất nhận ra mình là quay nhìn lại quá khứ, hoá thân vào quá khứ mà nảy sinh nhu cầu sáng tác, thƣởng thức, truyền bá những câu chuyện li kì ma quái” [30]. Nhƣ một hệ quả tất yếu, ngƣời đọc đón nhận và chấp nhận những chuyện quái dị, hoang đƣờng là có thật - điều này xuất phát từ niềm tin mang tính chất tâm linh vào những lực lƣợng thần bí, siêu nhiên trong vũ trụ. Nghĩa là mỗi con ngƣời Việt Nam hiện đại vẫn ít nhiều mang tâm hồn của ngƣời phƣơng Đông cổ xƣa. Đó là những nhân tố quan trọng khiến văn xuôi có yếu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 18. 16 tố kì ảo đƣơng đại, dù chịu ảnh hƣởng và tác động của văn học phƣơng Tây vẫn không ngừng bám chặt để hút dƣỡng chất từ truyền thống. Càng về sau này, với sự đa dạng, phong phú của đề tài và nội dung phản ánh, các sáng tác mang màu sắc kì ảo đã phần nào “lột tả” chân thực cuộc sống với đủ mọi gam màu sáng tối. Bên cạnh đó, ta cũng thấy yếu tố kì ảo còn hiện hữu trong nhiều tác phẩm lấy chất liệu từ lịch sử, viết về những con ngƣời có thực trong lịch sử từ hàng ngàn năm trƣớc nhƣ Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh) hay Sắc đẹp khuynh thành (Kiều Thanh Tùng)…. Tuy nhiên việc sử dụng gam màu kì ảo ở trên không phải để khơi gợi lại lịch sử hay soi xét lại quá khứ mà nhằm mục đích “lạ hoá” để nhà văn thể hiện một ý đồ nghệ thuật nào đó, có khi là sự phản ánh cuộc sống hiện đại trong văn học. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi xin đƣa ra khái niệm của TS Bùi Thanh Truyền: văn học có yếu tố kì ảo (hay còn gọi là văn học kì ảo) là “bộ phận văn học nhận thức và phản ánh cuộc sống từ đặc trƣng và thế mạnh của những yếu tố khác lạ, phi thƣờng, đôi khi vƣợt ra khỏi khả năng nhận thức thông thƣờng của lí trí” [55, tr.52]. Còn tác giả Tzvetan Todorov trong Dẫn luận về văn học kì ảo lại chỉ ra rằng: “văn học kì ảo đặc biệt chú ý miêu tả các hình thức thái quá lẫn sự chuyển hoá đặc biệt của chúng, hoặc là sự đồi bại. Chƣa kể vị trí của cái tàn nhẫn và bạo lực, ngay cả cái chết, cuộc sống sau chết, các xác chết mà ma quái cũng đều gắn với đề tài tình yêu” [12, tr.18]. Lần theo hành trình của văn học kì ảo thế giới, ta thấy đó là một dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại và trở nên gần gũi, quen thuộc với con ngƣời. Trƣớc tiên là dòng truyện kì ảo cổ đại, thƣờng gắn với thần thoại, cổ tích, truyền thuyết… Nó gắn với niềm tin chất phác, ngây thơ và tuyệt đối của con ngƣời vào các thế lực siêu nhiên, thể hiện nhu cầu, khát vọng nhận thức, cải tạo thế giới cũng nhƣ số phận của mình ở mức độ sơ khai, đơn giản nhờ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 19. 17 vào sự phù trợ của những bà tiên ông bụt. Đồng thời đó cũng là lời giải thích cho những hiện tƣợng tự nhiên, xã hội mà họ không thể lý giải nếu không tìm đến yếu tố kì ảo. Ở Việt Nam, khởi nguồn là những sáng tác nhƣ: Thần trụ trời - giải thích sự hình thành mặt đất, Sơn Tinh - Thuỷ Tinh - lí giải lũ lụt hàng năm và cách phòng ngừa những cơn lũ đó. Hay những truyền thuyết về ngƣời thực, việc thực song lại đƣợc bao phủ bởi ánh sáng lung linh, hƣ ảo nhƣ Thánh Gióng, An Dƣơng Vƣơng… Còn dòng truyện kì ảo Trung - cận đại, dù vẫn mang bóng dáng của văn học dân gian nhƣng đây là những sáng tác đậm dấu ấn cá nhân tác giả, gắn với sự giác ngộ, sự ý thức của con ngƣời với thực tế cuộc sống. Nó không còn tính chất nguyên sơ, thuần khiết nhƣ buổi ban đầu mà nhƣ một thế giới riêng, một thế giới với những lâu đài, hầm mộ, thành quách… một thế giới con ngƣời không thể đặt chân đến đƣợc. Các sáng tác văn học nƣớc ngoài càng tô đậm thêm cho khuynh hƣớng sáng tác kì ảo giai đoạn này. Ở Đức có Thần khúc của A.Đantê, A.Hoffmann với Rượu ngon và quỷ, nhà văn Mĩ Edgar Poe có Sự sụp đổ của ngôi nhà Usher…, ở Pháp có Miếng da lừa của Banzăc. Còn phƣơng Đông gắn với thành tựu của văn học Trung quốc gồm nhiều thể loại phong phú, đa dạng nhƣ tiểu thuyết chí quái có Sưu thần kí của Can Bảo, tiểu thuyết truyền kì có Chẩm trung kí và Nhậm tiền truyện của Thậm Kí, tiểu thuyết chí dị thời Minh - Thanh có Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu… [52, tr.9]. Trong xã hội Trung đại Việt Nam, trình độ tƣ duy của con ngƣời đã phát triển, thoát khỏi thế giới quan thô sơ, ấu trĩ. Ở thời kì này, con ngƣời phải chịu nhiều áp bức, bất công do sự hà khắc của chế độ phong kiến. Khi thất vọng trƣớc thực tại đầy đen tối, ngƣời ta ngƣời ta mƣợn yếu tố kì ảo để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 20. 18 thể hiện ƣớc mơ về hạnh phúc, công lí (ví dụ truyện cổ tích Tấm Cám, Thạch Sanh....). Bởi theo tƣ duy của ngƣời xƣa, chỉ các lực lƣợng siêu phàm mới đủ sức thay đổi trật tự xã hội, đem lại chiến thắng cho cái đẹp. Trong văn học viết Trung đại nƣớc ta, yếu tố kì ảo đƣợc biểu hiện rõ rệt nhất ở thể loại truyền kì. Đó là những câu truyện cổ kim mang nhiều yếu tố hoang đƣờng, đƣợc các bậc trí giả sử dụng với dụng ý phản ánh hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm sống trƣớc cuộc đời. Ví dụ: Truyền kì mạn lục, Truyền kì tân phả... Cũng qua thể văn này, họ có thể gửi gắm vào đó những bài học để răn dạy, giáo huấn con ngƣời. Màu sắc hoang đƣờng kì ảo làm mềm đi, mờ đi tính giáo huấn lộ liễu. Văn học kì ảo hiện đại ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu XIX ở phƣơng Tây với những đại diện ƣu tú nhƣ Hoffmann, Edgar Poe…, nó đi sâu khai thác nội tâm, khám phá những khoảng sáng tối ngay trong tâm hồn mỗi con ngƣời. Khác với tƣ duy của các nhà văn cổ - Trung đại, ngƣời ta không còn tin một cách ngây thơ vào thế giới huyền thoại, cổ tích nữa. Giờ đây, nó đã trở thành một thủ pháp nghệ thuật đắc lực để nhà văn nắm bắt mọi biểu hiện của cuộc sống. Ở Việt Nam, một số nhà văn lãng mạn nửa đầu thế kỉ XX đã có ý thức tạo ra cái thần kì để đối lập với cuộc sống thực dụng, duy lý đến trần trụi đƣơng thời. Nguyễn Tuân viết Yêu ngôn với mục đích khám phá những điều vô cùng kì bí trong tâm hồn mỗi con ngƣời. Thế Lữ trong một số truyện ngắn đƣờng rừng đã sử dụng yếu tố kì ảo để tạo không khí ma quái, rùng rợn cho câu chuyện về chốn ma thiêng nƣớc độc tăng ấn tƣợng (Ví dụ Cái đầu lâu, Lưỡi tầm sét, Vàng và máu…). Yếu tố kì ảo xuất hiện từ truyền thống đến hiện đại ở cả Đông - Tây và đều mang những đặc trƣng riêng. Càng về sau này các sáng tác đậm chất kì ảo xuất hiện trong văn học ngày càng đa dạng, phong phú. Cùng với đó là sự đổi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 21. 19 mới về tƣ duy nghệ thuật trong sáng tạo văn chƣơng, khiến văn học có yếu tố kì ảo trở thành một bộ phận không thể thiếu trong dòng chảy của văn học nhân loại. Dù trải qua các thời kì lịch sử khác nhau, nhƣng đặc trƣng chung nhất của văn học kì ảo là tính ƣớc lệ, ẩn dụ, tạo ra những biểu tƣợng nghệ thuật, những hình tƣợng đa nghĩa. Độc giả khi đứng trƣớc một sáng tác có yếu tố kì ảo vẫn không bị thoát li hay tuyệt vọng trƣớc hiện thực, mà trái lại, sau khi kết thúc tác phẩm, con ngƣời càng thêm tin yêu vào cuộc sống. 1.3.2. Diện mạo của văn học kì ảo Việt Nam đương đại Văn học giai đoạn 1945 - 1975 chủ yếu tuân thủ nguyên tắc “phản ánh hiện thực”. Mọi sáng tác đều đƣợc quy định bởi nguyên tắc phản ánh hiện thực một cách cụ thể, chân thực, điển hình. Văn học sau 1975 đến nay phát triển trong cái nhìn cởi mở, khuyến khích đề cao sự sáng tạo nghệ thuật. Ngƣời viết quan tâm hơn đến những cách thức sáng tác mới, lựa chọn chất liệu nghệ thuật mới. Từ giai đoạn sau 1987, yếu tố kì ảo trong văn học có chiều hƣớng gia tăng và trở thành “một hiện tƣợng văn học độc đáo” trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Phạm Thị Hoài, Đỗ Hoàng Diệu, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo... Họ chính là những cây bút tích cực góp phần làm mới cho văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại. Phần lớn họ thuộc thế hệ nhà văn - nói nhƣ Hoàng Ngọc Hiến: “Không hề bị vƣớng mắc bởi cái nhìn sử thi”. Đặc điểm chung dễ nhận thấy ở đội ngũ này là phần nhiều họ trƣởng thành, xuất hiện và tạo đƣợc chỗ đứng của mình trên văn đàn chủ yếu từ sau ngày đất nƣớc thống nhất. Trẻ trung, giàu nhiệt huyết, muốn đƣợc tự thể nghiệm và khám phá ... đó là những nguyên nhân dẫn họ đến với yếu tố kì ảo. Thông qua lăng kính kì ảo, cuộc sống hiện lên với muôn nghìn dáng vẻ: có hiện thực vừa quen thuộc, vừa mới lạ, có hiện thực của tâm trạng, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 22. 20 có hiện thực bị chi phối bởi vô vàn những điều ngẫu nhiên may rủi đầy bí ẩn, bất ngờ. Thử khảo sát trên một số tập truyện ngắn, chúng tôi thấy tỉ lệ các truyện sử dụng yếu tố kì ảo khá cao. Chẳng hạn tất cả các truyện trong Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm của Võ Thị Hảo đều có yếu tố kì ảo; Còn tập truyện Hồn trinh nữ cũng của tác giả này có 6/12 truyện; Tập truyện Tháng có mười lăm ngày của Ngô Tự Lập (Nxb HN 1993) có 9/12 truyện; Tập truyện Người đứng một chân của Hồ Anh Thái (Nxb trẻ 1995) có 7/10 truyện; Tập truyện Luân hồi của Tạ Duy Anh (Nxb Văn học 1994) có 9/12 truyện; Chùm tác phẩm có tên Những ngọn gió Tua Hát của Nguyễn Huy Thiệp gồm 10 truyện nhỏ thì cả 10 truyện đều chứa đựng yếu tố kì ảo... Bên cạnh các truyện ngắn trên, ta thấy tính chất kì ảo còn xuất hiện nhiều trong các tiểu thuyết nhƣ Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thoạt kì thuỷ (Nguyễn Bình Phƣơng), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh)... Nhƣ vậy, văn học Việt Nam đƣơng đại đã trở thành một tấm gƣơng phản chiếu cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Bởi ngày nay, tác phẩm văn học hay phải tạo đƣợc một cuộc đối thoại đa chiều, tác giả và ngƣời đọc cùng bàn luận, vật vã trong một cuộc đồng hành gian khổ. Nghĩa là tính mơ hồ, đa nghĩa đƣợc chú trọng và đẩy lên đến cao độ trong mỗi tác phẩm. Nhờ sự lung linh, hƣ ảo trong tất cả các phƣơng diện cấu thành tác phẩm (từ ngôn ngữ, kết cấu, cốt truyện đến chủ đề, nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật) mà ngƣời đọc định hình và nắm bắt dễ dàng hơn thông điệp nội dung do yếu tố kì ảo đem lại. Những năm gần đây, có thể nhận ra một điều, trong mỗi truyện có yếu tố kì ảo đều có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Nhƣ sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có cả cổ tích, huyền thoại, thế sự và lịch sử. Có nhà nghiên cứu chia tác phẩm của ông ra làm bốn loại: cổ tích (Con thú lớn nhất, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 23. 21 muối của rừng...), huyền thoại (Huyền thoại phố phường, Con gái thuỷ thần...), thế sự (Tướng về hưu...) và lịch sử (Kiếm sắc, vàng lửa...). Còn sáng tác của Võ Thị Hảo có sự trộn hoà thực - ảo qua việc tái hiện bức tranh lịch sử (trong Giàn thiêu) với những số phận đã đƣợc ghi và cả không đƣợc ghi trong chính sử. Một điều nữa cũng cần nhấn mạnh, đó là, nếu truyện kì ảo Trung Quốc thƣờng gắn với sự mơ mộng, kì bí thì truyện kì ảo Việt Nam đƣơng đại có những chi tiết, sự việc li kì nhƣng không làm ngƣời ta bàng hoàng, kinh sợ hay hoàn toàn thoát li thực tại mà đƣợc sử dụng nhƣ một lăng kính để chiêm nghiệm cuộc đời. Điểm khác biệt của các nhà văn trẻ so với thế hệ nhà văn đầu thế kỉ XX là các tác giả hiện nay không có ý định dùng lí tính và tri thức khoa học để “giải mã” cho ngƣời đọc. Tác phẩm chỉ đƣợc cắt nghĩa, tìm lời giải tuỳ theo sự cảm nhận của từng độc giả. Chính sự tự do trong sáng tạo nghệ thuật cùng sự đổi mới thi pháp văn xuôi đã góp phần mang lại sự sinh động, nhiều dáng vẻ màu sắc cùng sức quyến rũ, nhân bản của văn học, đồng thời thể hiện niềm khát khao mãnh liệt của ngƣời viết trong việc cải tạo xây dựng cuộc sống. Yếu tố kì ảo có truyền thống lâu đời trong văn học dân tộc. Do hoàn cảnh đặc biệt của đất nƣớc dẫn đến sự phát triển riêng biệt của văn học, nó bị đứt đoạn trong một thời gian khá dài. Trong quỹ đạo vận động đổi mới của văn học sau 1975, yếu tố kì ảo lại đƣợc hồi sinh và có xu hƣớng phát triển mạnh mẽ. Rõ ràng nó đã góp phần tích cực làm thay đổi nghệ thuật văn xuôi nƣớc nhà, đồng thời cũng tạo ra diện mạo mới cho văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại. 1.3.3. Võ Thị Hảo trong khuynh hướng văn học kì ảo Việt Nam đương đại Võ Thị Hảo là một tiếng hát trong dàn đồng ca kì ảo, vừa có điểm tƣơng đồng, vừa có điểm khác biệt so với các tác giả cùng sử dụng một thủ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 24. 22 pháp sáng tác là kì ảo. Đặc điểm chung mà ta nhận ra là đội ngũ các nhà văn này cùng sử dụng kì ảo nhƣ một phƣơng tiện nghệ thuật để phản ánh hiện thực và gửi gắm thông điệp nhân văn đến bạn đọc. Trong quan niệm về nghệ thuật của những nhà văn trên đã có sự thay đổi căn bản về hiện thực và tính hiện thực. Với họ, hiện thực không đồng nghĩa với sự thật, giống nhƣ sự thật, hay nói nhƣ Võ Thị Hảo hiện thực không phải là thực tế 2+2=4 mà nó là vẻ đẹp của cuộc sống đã được khúc xạ qua lăng kính của nhà văn và cuộc sống sẽ không đa tầng đa nghĩa nếu không sử dụng yếu tố kì ảo. (Phỏng vấn nhà văn ngày 15/3/2009). Phản ánh hiện thực không phải là sự sao chép hiện thực mà là sự sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ nhằm khám phá hiện thực sâu sắc hơn. Đội ngũ các nhà văn đƣơng đại sớm nhận ra rằng: không thể khuôn đối tƣợng nhận thức phản ánh của văn học vào những lĩnh vực hạn hẹp, cứng nhắc nhằm những nhiệm vụ không phù hợp với bản chất của nó, mà chính là phải mở rộng phạm vi khám phá của văn học để loại hình nghệ thuật này ngày càng đáp ứng đƣợc những đòi hỏi mới của ngƣời đọc. Biên độ của hiện thực trong quan niệm của ngƣời cầm bút hôm nay đã đƣợc mở rộng hơn, đƣợc soi chiếu từ nhiều góc độ, tạo điều kiện để họ có thể thâm nhập vào những địa hạt mới mẻ phù hợp với cá tính sáng tạo của mình. Sử dụng yếu tố kì ảo cũng là một phƣơng tiện đắc lực trong phản ánh hiện thực và là “điểm nối” giữa nhà văn - tác phẩm ngƣời đọc. Ngô Tự Lập cho rằng: “Ngay cả hiện thực cũng chỉ là một giấc mơ, một giấc mơ hỗn loạn, vô tận, giấc mơ với những đƣờng bay của mê lộ...” [29]. Còn Tạ Duy Anh thì quan niệm: “Mất đi sự bí ẩn, dù đó là bí ẩn mang bộ mặt thần chết, thì cuộc sống kém đi biết bao sự hấp dẫn” (Đi tìm nhân vật). Hồ Anh Thái qua một loạt những sáng tác gây tiếng vang nhƣ Trong sương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 25. 23 hồng hiện ra, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Cõi người rung chuông tận thế... cũng bày tỏ sự đồng tình với những quan điểm trên khi cho rằng: cái hiện thực ngoài đời kia phải thông qua sự cảm thấy của nhà văn, đựơc nhào nặn lại bằng những suy tƣởng và tƣởng tƣợng của chủ thể sáng tạo. Còn Ma Văn Kháng thì nhận định: cuộc sống là sự phức hợp của nhiều sắc độ, vừa sôi nổi vừa “trầm hóa”, đó là “một kết cấu của cả cái tốt lẫn cái xấu, cái thiện và cái ác” (Bồ nông ở biển). Nguyễn Khải trong Thời gian của người lại chỉ ra “bên cạnh Chúa có Quỷ, bên cạnh Phật có Ma. Ma Quỷ cũng dự phần bất tử để làm mặt đối lập, để thế giới này tiếp tục vận động và tồn tại”. Nói nhƣ Hoà Vang: “Tôi cho rằng phản ánh cái cõi đời, cõi ngƣời này mà chỉ dùng cái công cụ hiện thực thôi thì không đủ”. Ngay Ngô Tự Lập cũng khẳng định: “Ngày nay có lẽ chẳng có ngƣời cầm bút nào không cảm thấy trong mình ít nhiều phẩm chất có tên kì ảo” (Ngô Tự Lập, Lƣu Minh Sơn, 1998, giới thiệu lời tựa Đêm bướm ma, Nxb Văn học, H). Chính yếu tố kì ảo đã đảm nhiệm chức năng nghệ thuật quan trọng là “lạ hoá” cuộc sống, tạo ra tính đa thanh đa nghĩa cho tác phẩm và ấn tƣợng thẩm mĩ mạnh mẽ ở ngƣời đọc. Là một hạt nhân trong “dòng chảy” của văn học kì ảo Việt Nam, Võ Thị Hảo đã tự làm mới và hoàn thiện mình bằng nhiều sáng tác có giá trị về nội dung và nghệ thuật. Tác phẩm của chị không đi “chệch” khỏi mục tiêu coi yếu tố kì ảo là một thủ pháp đắc lực trong việc biểu hiện đời sống. Thông qua lăng kính kì ảo, hiện thực hiện ra với vô vàn những chiều sâu triết lí và tƣ tƣởng sâu xa nhƣng vẫn rất đỗi gần gũi với đời thƣờng. Hầu hết các sáng tác kì ảo của Võ Thị Hảo và các nhà văn kể trên đều chứa đựng tình cảm, thái độ của ngƣời nghệ sĩ trƣớc những số phận va đập với bão tố cuộc đời, cho dù đó là hiện thực lịch sử nghiệt ngã hay thực tế đau thƣơng, nhƣng tất cả vẫn sáng lên niềm hi vọng chứa chan vào tình yêu cuộc sống, vào mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa ngƣời với ngƣời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 26. 24 Thông điệp mà nhà văn của Giàn thiêu muốn gửi gắm là trong mỗi con người đều có phần tốt đẹp và xấu xa, thiên thần và ác quỷ, điều quan trọng là tự mỗi người phải biết vượt qua ranh giới đó để sống cuộc sống của chính mình theo xu thế hướng thiện. Tuy nhiên, ta cũng nhận ra nhiều điểm khác biệt giữa Võ Thị Hảo và nhiều nhà văn cùng thời khác. Các nhân vật nữ trong tác phẩm của chị có “thiên tính nữ” nhƣ: Nhuệ Anh, Ngạn La, Lê Thị Đoan... Các nhân vật này không chỉ đẹp ở ngoại hình mà còn đẹp ở phẩm chất, trí tuệ và giàu đức hi sinh. Qua đó thể hiện rõ sự ngợi ca nữ quyền của tác giả. Nhƣng đi liền với vẻ đẹp, những nhân vật của chị còn chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh và có số phận không may mắn. Song họ luôn dũng cảm đấu tranh để giành lấy hạnh phúc cho mình. (Ngạn La, Nhuệ Anh là hiện thân của sắc đẹp và khát vọng đấu tranh đòi quyền sống cá nhân, Lê Thị Đoan là biểu hiện của lòng dũng cảm, dám bênh vực cho ngƣời phụ nữ và lên tiếng phê phán bộ máy phong kiến cùng bè lũ quan lại xấu xa trong xã hội cũ). Sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp cũng có “thiên tính nữ”: Mẹ Cả (Con gái thuỷ thần) hiện ra với vẻ đẹp nhân từ, thánh thiện, Thắm (Chảy đi sông ơi) đẹp đẽ và tốt bụng, hay nàng Ngô Thị Vinh Hoa (Phẩm tiết) xinh đẹp, tài giỏi... Nhƣng khác với Võ Thị Hảo, nhân vật nữ của Nguyễn Huy Thiệp đƣợc tạo ra từ trong huyền thoại, truyền thuyết lung linh ảo mộng và có phần yếu đuối, cam chịu số phận. Kết thúc mỗi tác phẩm hầu hết những nhân vật này đều có một số phận không may mắn: Thắm chết đuối vì không đƣợc ai cứu giúp, cả Nàng Bua và Ngô Thị Vinh Hoa đều chết... Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu có bản năng nữ tính rất gần với tự nhiên. Mỗi ngƣời phụ nữ đều mang trong mình một trái tim mẫn cảm kì diệu. Song khác với nhân vật nữ của Võ Thị Hảo, họ lại sống nhiều bằng kỉ niệm, bằng những hồi ức về một thời đã qua. Ở những con ngƣời này, khả năng giao cảm với quá khứ chính là điểm tựa vững chắc nhất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 27. 25 cho cuộc đời đầy giông bão của họ (Hạnh - Bên đường chiến tranh, Thai - Cỏ lau, Quỳ - Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành...). Một điểm khác biệt cơ bản nữa cần phải kể đến, đó là sáng tác của Võ Thị Hảo dƣờng nhƣ ám ảnh ngƣời ta hơn bởi tính triết học. Dù trong sáng tác của một số nhà văn khác cũng chứa đựng yếu tố này, song Võ Thị Hảo đã vận dụng khá tốt triết học Phật giáo vào tƣ tƣởng tác phẩm của mình. Trong Giàn thiêu, tính triết học thể hiện ở chỗ: “Thiêu” không có nghĩa là chết, có khi “Thiêu” chính là bất tử. Chính linh hồn, tâm hồn con ngƣời là một sự bất tử. Qua các tác phẩm, nhà văn muốn đƣa ngƣời đọc vào một thế giới của những chiêm nghiệm, triết lý, buộc ngƣời đọc phải hoài nghi trƣớc những tín điều. Sự nghi ngờ đó buộc họ phải tìm hiểu để thẩm định chân lý, độc giả không còn thờ ơ đứng ngoài tác phẩm nữa. Thông qua một loạt các hình ảnh, chi tiết đƣợc ảo hoá, tác phẩm của Võ Thị Hảo tranh luận, phản biện cùng ngƣời đọc. Đây cũng chính là nét độc đáo và đặc sắc trong văn phong của cây bút này. Đặc biệt, nhà văn đã kế thừa và tiếp thu hai quy luật trong giáo lí nhà Phật để biến thành tƣ tƣởng tác phẩm, đó là quy luật số kiếp (thể hiện qua nhân vật Từ Lộ), và quy luật quả báo (qua các nhân vật nhƣ Ỷ Lan, Đại Điên...) để qua đó tìm cách khám phá số phận con ngƣời sâu sắc hơn. Bởi vậy Giàn thiêu góp phần ca ngợi tinh thần tự do của Phật giáo. Đạo Phật không bắt ngƣời ta vác đạo lí trên vai, lại càng không bó buộc tự do của con ngƣời. Võ Thị Hảo đã nhận ra một chân lí cơ bản: Phật tôn thờ tự do. Bởi vậy trong sáng tác của mình, nhà văn đã nhiều lần nhấn mạnh và khẳng định chân lí đó bằng việc trích dẫn những đoạn thuyết giảng giáo lí nhà Phật. Ngay ở trang đầu tiên của Giàn thiêu, ta bắt gặp những lời sau: “Ơi các tỳ kheo! Nếu các ngƣời lại để mình mắc vào thuyết ấy, nếu các ngƣời ƣa thích nó, nếu các ngƣời mê luyến nó, gìn giữ nó nhƣ một kho bảo vật, nghĩa là các ngƣời bị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 28. 26 ràng buộc vào nó, thì các ngƣời đâu có hiểu rằng giáo lí của ta có khác nào là chiếc bè để đƣa qua sông chứ không phải để buộc trói ngƣời vào đó...”. Trên cơ sở tìm hiểu sáng tác của một số tác giả cùng sử dụng yếu tố kì ảo khác, chúng tôi nhận thấy chỉ có Võ Thị Hảo và Nguyễn Huy Thiệp đƣa thơ vào tác phẩm của mình nhƣ là một yếu tố ngoài cốt truyện. Tuy nhiên, thơ trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp giống nhƣ một tấm biển chỉ đƣờng kín đáo để ngƣời đọc biết trƣớc nội dung tác phẩm. Còn trong sáng tác của Võ Thị Hảo, những bài thơ chính là những hình ảnh biểu tƣợng, kết tinh một chi tiết nghệ thuật đắt giá. Mở đầu mỗi cuốn sách luôn là một bài thơ chứa đầy sự kì ảo, khó hiểu thậm chí ma quái. Trong tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm là bài thơ Ngủ cùng quỷ dữ, trong Hồn trinh nữ là bài Vòng tay gái làng... Mật độ các bài thơ nhiều hơn cả là ở Giàn thiêu. Tác phẩm gồm bốn phần thì mở đầu cả ba phần đều bằng thơ (trừ phần I - Lời Phật). Ví dụ bài thơ Bài ca chu sa đỗ tễ - xuất phát từ sự gợi ý từ cái rốn đỏ của ngƣời con gái. Bởi vậy bài thơ này nhằm ca ngợi sự hấp dẫn và vẻ đẹp hình thể của con ngƣời, qua đó đƣa ra một hình ảnh có tính biểu tƣợng trong tác phẩm. Bài ca đầu lâu Dã Nhân nhƣ một lời nhắc nhở: gây hận thù bao giờ cũng gặp “quả độc”, “quả độc” đó sẽ giết hại chính ta và những ngƣời thân yêu của ta. Rõ ràng việc đƣa thơ vào văn xuôi nhƣ thế đã tạo ra hình thức mới lạ, kết hợp yếu tố tự sự với yếu tố trữ tình, chất thơ với chất văn xuôi khiến tác phẩm có nhiều tiếng nói khác nhau. Chính sự sáng tạo độc đáo này đã góp phần đổi mới hình thức tác phẩm và tƣ duy nghệ thuật của nhà văn, làm cho khuynh hƣớng văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại trở nên hấp dẫn, lôi cuốn và thành công hơn. Giàn thiêu của Võ Thị Hảo nằm trong nhóm tiểu thuyết cách tân. Khát khao đổi mới thi pháp tiểu thuyết và thoát khỏi lối mòn tƣ duy của tiểu thuyết và truyện ngắn truyền thống, nhà văn muốn sáng tạo những hình thức nghệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 29. 27 thuật mới cho tiểu thuyết. Đây là hình thức sáng tạo biểu hiện cái nhìn nghệ thuật độc đáo của tác giả.. Chính những cách tân trên đã mang đến cho Võ Thị Hảo nhiều thành công cùng các tác phẩm của mình. Một trong những thành công đó là tạo nên một hệ thống những yếu tố li kì, mới lạ và đặc sắc về cái kì ảo trong Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm. Từ đó ta rút ra đƣợc ý nghĩa của yếu tố kì ảo trong sáng tác Võ Thị Hảo thể hiện ở những điểm sau: nó đã góp phần đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết, đây cũng là một biểu hiện của xu hƣớng dân chủ hoá trong văn học hiện nay, đồng thời đƣa ra một hƣớng giải mã lịch sử bằng kinh nghiệm cá nhân chứ không bằng kinh nghiệm cộng đồng theo chính sử. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 30. 28 Chƣơng 2 CÁC KIỂU NHÂN VẬT KÌ ẢO TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO 2.1. Khái niệm về nhân vật văn học và quan niệm về nhân vật kì ảo 2.1.1. Khái niệm về nhân vật văn học Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con ngƣời. Con ngƣời là đối tƣợng chủ yếu của văn học. Dù miêu tả ma quỷ, thần linh, đồ vật hay các con vật đi chăng nữa, văn học đều thể hiện con ngƣời và tất cả những gì thuộc về con ngƣời. Cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân định nghĩa: “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ƣớc lệ, không thể bị đồng nhất với con ngƣời có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật. Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con ngƣời; nó có thể đƣợc xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy”; “nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hƣớng, trƣờng phái hoặc dòng phong cách” [7, tr.242 - 243]; “Nhân vật văn học đƣợc miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại. Đó là mâu thuẫn nội tại của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với tuyến nhân vật khác, cho nên nhân vật luôn gắn liền với cốt truyện...” [18, tr.236]. Nhân vật luôn là trung tâm của các sáng tác văn học, là tấm gƣơng phản chiếu tƣ tƣởng và năng lực nghệ thuật của nhà văn. Những sáng tác của Võ Thị Hảo thƣờng gắn với yếu tố kì ảo, do đó thế giới nhân vật trong các tác phẩm của chị cũng mang đậm dấu ấn của sự kì lạ, khác thƣờng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 31. 29 2.1.2. Quan niệm về nhân vật kì ảo Theo quan niệm của Võ Thị Hảo nhân vật kì ảo gốc là nhân vật lịch sử có thật, hoàn toàn được biến dạng, chắp nối, đặt trong một không khí huyền ảo phi lôgic, cũng có khi đó là những con người siêu nhiên được tạo ra bởi trí tưởng tượng của nhà văn. (Phỏng vấn nhà văn ngày 15/3/2009). Trong văn học Trung đại, nhân vật kì ảo thƣờng là những bóng ma, oan hồn (Truyền kì mạn lục, Lĩnh Nam chích quái...). Đến văn học đƣơng đại, nhân vật kì ảo xuất hiện khá đa dạng, tồn tại dƣới nhiều hình thức. Nhƣ bào thai trong Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), những hình thù kì dị, quái đản nhƣ Cún trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp, những con quỷ đội lốt ngƣời nhƣ Đại Điên, những con vật biết yêu thƣơng nhƣ Dã Nhân trong Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)... Qua đó, có thể thấy nhân vật kì ảo không đơn thuần chỉ là những kẻ kì quái, đáng sợ mà có khi chính là những con ngƣời thực sự bình thƣờng trong thực tế cuộc sống nhƣng đã đƣợc miêu tả qua lăng kính kì ảo. Bởi vậy chúng tôi quan niệm: nhân vật kì ảo là sản phẩm sáng tạo của ngƣời nghệ sỹ nhằm khái quát những phƣơng diện đa dạng và biến đổi không ngừng của đời sống theo khuynh hƣớng kì ảo hoá. 2.2. Nhân vật kì ảo qua cái nhìn loại hình trong tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm Qua khảo sát thế giới nhân vật trong hai sáng tác của Võ Thị Hảo, chúng tôi nhận thấy thế giới nhân vật của tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm rất đa dạng, phong phú với nhiều kiểu nhân vật khác nhau. Đó có thể là những con ngƣời bình thƣờng, có khi là những kẻ mang dáng vẻ con ngƣời nhƣng lại xấu xa, độc ác nhƣ dã thú, hay những con vật mang tình cảm, trái tim nhƣ con ngƣời... Nhƣng dù đƣợc miêu tả dƣới dạng nào thì tất cả các nhân vật ấy đều thống nhất với nhau ở đặc điểm: có yếu tố kì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 32. 30 ảo. Tuy nhiên mỗi loại nhân vật lại đƣợc „bao phủ” bằng sự kì ảo với các mức độ đậm nhạt khác nhau. Trên cơ sở đó, chúng tôi chia nhân vật kì ảo trong hai tác phẩm trên ra làm hai kiểu: nhân vật kì ảo và nhân vật có yếu tố kì ảo. Cả hai loại nhân vật này đều đƣợc khắc hoạ ở một số phƣơng diện: kì ảo ở ngoại hình, ở hoàn cảnh xuất thân, ở số phận nhân vật, ở các chi tiết nghệ thuật đắt giá và qua các hành động kì ảo. Dù ở phƣơng diện nào thì tác giả cũng đều sử dụng hai loại chi tiết nghệ thuật để miêu tả, đó là chi tiết phi thƣờng hoá (thƣờng đƣợc miêu tả bằng thủ pháp phóng đại) và chi tiết lạ hoá (với những yếu tố kì quái, khác thƣờng...). 2.2.1. Nhân vật có yếu tố kì ảo Đây là những ngƣời trần mắt thịt có thực trong cuộc sống hiện diện giữa cuộc đời phồn tạp và không ngừng trôi chảy. Nghĩa là tự bản thân nhân vật không thể tự tạo ra những điều kì lạ. Yếu tố kì ảo của nhân vật chủ yếu do ngoại cảnh và các lực lƣợng siêu nhiên bên ngoài đem lại. Nhà văn đã khắc hoạ chân dung, số phận, cuộc đời những nhân vật này qua lăng kính kì ảo. Các nhân vật đã đƣợc pha trộn sự lạ lẫm, bất thƣờng để giao lƣu với yếu tố kì ảo. Đó là các nhân vật: Từ Lộ, Ngạn La, Nhuệ Anh, Từ Vinh, Ỷ Lan, Lý Trác... (Giàn thiêu), Pạng (Chuỗi người đi trong đầm lầy), Ả Tuynh (Dệt cỏ)... Họ cũng giống con ngƣời trong đời thực với những suy tƣ, trăn trở, có cả hạnh phúc lẫn khổ đau. Trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ hiện nay, ta bắt gặp bóng dáng của các nhân vật ấy với nhiều cung bậc, trạng thái khác nhau. Một tiểu thƣ khuê các, yểu điệu và chung tình, một chàng trai quyết dứt tình riêng để trả thù nhà, một ngƣời đàn bà đầy quyền lực nhƣng đố kị và ích kỉ... Tất cả đều là những con ngƣời gần gũi với đời thực nhƣng đã ít nhiều đã đƣợc kì ảo hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 33. 31 Trong số các nhân vật trên, nhiều nhân vật đã đƣợc chính sử ghi lại nhƣ Từ Lộ, Ỷ Lan... Dựa vào những sự kiện, những chi tiết có thực đã đƣợc ghi chép lại mà Võ Thị Hảo đã có “chất liệu” để xây dựng nên chân dung những con ngƣời vừa thực vừa ảo, vừa thân quen vừa xa lạ với ngƣời đọc. Gán cho những nhân vật trên một số nét kì ảo không đồng nghĩa với việc Võ Thị Hảo muốn lật lại quá khứ, soi xét lịch sử, mà ngƣợc lại, chị muốn nhìn hiện thực theo cách riêng của mình - thông qua lăng kính kì ảo. Cái đích cuối cùng của nhà văn là gửi gắm vào những nhân vật đó một thông điệp nhân sinh, một lời nhắn nhủ với con ngƣời trong cuộc sống hiện đại. Nhân vật Từ Lộ đƣợc coi là nhân vật trung tâm của tác phẩm, là “cầu nối” giữa các sự kiện và đƣợc đặt trong mối quan hệ mật thiết với các nhân vật khác. Truyền thuyết về xuất thân và quá trình tu tập, hành đạo của Từ Đạo Hạnh trong Thiền uyển tập anh - nguồn sử liệu đã bị huyền thoại hoá để trở thành truyền thuyết về gốc tích vua Lý Thần Tông (do Từ Đạo Hạnh đầu thai làm con Sùng Hiền Hầu) và chuyện vua bị hoá hổ, sau đƣợc Minh Không đại sƣ chữa khỏi đã đƣợc ghi trong Đại Việt sử kí toàn thư. Võ Thị Hảo đã liên kết hai tiểu truyện ấy thành một câu chuyện huyền ảo mang triết lí sâu xa. Tuy vậy, ngoài các cứ liệu trên, chƣa có một phán quyết xác đáng nào về con ngƣời Từ Đạo Hạnh, về động cơ cho các hành động trong cuộc đời ông. Tóm lại, nhân vật nửa lịch sử nửa truyền thuyết này tồn tại một cách rắn chắc trong ấn tƣợng của ngƣời hậu thế về một vị sƣ nhiều quyền pháp linh diệu. Còn Võ Thị Hảo lại nhìn thấy ở nhân vật này khả năng lí giải và thể hiện những vấn đề mà chị hằng trăn trở: vấn đề của kiếp ngƣời bị thiêu đốt bởi các dục vọng, vấn đề của những số phận bị lỡ dở bởi bi kịch. Có thể khái quát toàn bộ hai kiếp sống của nhân vật này nhƣ sau: kiếp thứ nhất Từ là một công tử con quan. Tai hoạ đổ xuống gia đình chàng ngay trong đêm nguyên tiêu dạo chơi cùng ngƣời vợ chƣa cƣới: cha bị Diên Thành Hầu nhờ phép thuật của pháp sƣ Đại Điên giết chết. Cũng từ đây, chàng sống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 34. 32 chỉ để trả thù. Quyết dứt tình riêng, Từ tìm đƣờng sang học đạo bên nƣớc Tây Trúc. Sau mƣời ba năm cô độc giữa núi tuyết, chàng trở về và dễ dàng trả thù cho cha mẹ. Diên Thành Hầu thành cái xác không hồn ngày ngày chạy theo đứa con trai độc nhất hoá điên, còn Đại Điên - kẻ giết thuê lại tiếp nhận cái chết một cách bình thản lạ lùng. Sau bao sóng gió, Từ tìm đến ngôi chùa nhỏ trên núi Sài rồi trở thành một vị sƣ trụ trì đức độ, đƣợc tôn pháp danh là Đạo Hạnh. Nhƣng nếu chỉ dừng ở đó thì nhân vật này đâu đã trở thành trung tâm của tác phẩm, thành “điểm nối” giữa lịch sử và hiện tại. Với ngòi bút sắc sảo tinh tế, Võ Thị Hảo đã cách tân câu chuyện, đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết bằng việc tiếp tục đi sâu vào kiếp thứ hai của Từ. Đạo Hạnh đầu thai thành vua Lý Thần Tông. Nhƣng điều duy nhất mà nhân vật này làm đƣợc chỉ là những lạc thú để rồi chính những tham vọng và lạc thú đó đã giết chết ông ta. Nói tóm lại, nhà văn đã thành công khi xây dựng nên bức chân dung kì bí về Từ Đạo Hạnh, vén bức màn lịch sử bằng những giả thuyết nghệ thuật của mình. Bên cạnh nhân vật Từ Đạo Hạnh - Thần Tông, Võ Thị Hảo còn vận dụng khả năng nhạy cảm của mình trong việc đƣa chất liệu lịch sử vào tiểu thuyết khi miêu tả nhân vật Ỷ Lan thái hậu. Nhân vật Ỷ Lan đƣợc ghi rất rõ trong sách Đại Việt sử kí toàn thư nhƣ sau: bà thay chồng (vua Lý Thánh Tông) nhiếp chính, hết lòng chăm lo cho đời sống nhân dân. Nhƣng Linh Nhân là ngƣời có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không đƣợc dự chính sự, mới kêu với vua rằng: “Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý ngƣời khác đƣợc hƣởng, thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?”. Nên năm Quý Sửu, Thái Ninh năm thứ hai (1073), bà giam Dƣơng thái hậu và 76 cung nữ vào cung Thƣợng Dƣơng rồi bức tất cả phải chết chôn theo Lý Thánh Tông [35]. Tác giả đặc biệt chú ý chi tiết này và đƣa vào đó màu sắc kì ảo nhằm “giải thiêng” lịch sử về nhân vật trên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 35. 33 Ngoài hai nhân vật đƣợc ghi trong chính sử còn một loạt các nhân vật khác cũng đƣợc bao phủ bởi màu sắc của yếu tố kì ảo (tuy mức độ đậm nhạt là khác nhau). Mặc dù các nhân vật này đã đƣợc pha trộn sự khác thƣờng, kì lạ nhƣng họ cũng có đời sống nội tâm, có suy nghĩ, tính cách, hành động nhƣ một con ngƣời bình thƣờng. Trƣớc hết sự kì ảo biểu hiện qua hoàn cảnh xuất thân của các nhân vật. Hoàn cảnh xuất thân cho ta biết đƣợc gốc gác, cha mẹ, các mối quan hệ của họ với những ngƣời xung quanh. Nhƣng đối với các nhân vật có yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm lại không đơn thuần nhƣ thế. Ngoài những điều trên, xuất xứ của nhân vật đã đƣợc pha trộn không khí lung linh, mờ ảo, có khi ma quái. Đây chính là “dòng mạch” dẫn dắt nhân vật vào một thế giới khác, thế giới của những bí ẩn hoang đƣờng. Cái đích của nhà văn khi đƣa yếu tố kì ảo vào hoàn cảnh xuất thân của nhân vật là muốn tạo một thế giới đầy rẫy những bất ngờ. Lạc vào thế giới đó, ngƣời đọc sẽ cảm thấy lo âu, thấp thỏm, sợ hãi nhƣng vẫn tò mò muốn biết liệu kết cục sẽ ra sao? Nhân vật sẽ đƣợc sinh ra nhƣ thế nào? Sinh ra từ đâu và lớn lên cùng những sự kiện biến cố nào? Ta bắt gặp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khá nhiều nhân vật có xuất thân kì lạ hoặc không rõ ràng. Trong Con gái thuỷ thần, không ai biết Mẹ Cả là con ai, từ đâu đến. Đã có rất nhiều lời thêu dệt về nguồn gốc của Mẹ Cả. Có ngƣời kể đã trông thấy một cặp Giao Long trong một đêm mƣa bão quấn lấy nhau và sinh ra Mẹ Cả dƣới gốc cây Muỗm, có ngƣời đồn Mẹ Cả là con riêng nên đƣợc cha gửi vào nhà thờ từ khi còn bé... Ngay cả hành tung của nhân vật này cũng đầy bí ẩn, lúc là một cô bé bơi rất giỏi, lúc lại trở thành ngƣời chuyên cứu mạng những kẻ gặp nạn... Hay xuất thân của nhân vật Cún cũng đầy sự kì bí. Cún không cha mẹ, lại tật nguyền, đƣợc một lão ăn mày Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 36. 34 nhặt về. Nhƣng Cún lại có một nghi lực sống phi thƣờng và vẻ đẹp tâm hồn cao quý. Trong Những đứa trẻ chết già (Nguyễn Bình Phƣơng), những đứa trẻ khi mới sinh đã là những ngƣời già. Dù chúng là trai hay gái cũng đều có kết thúc nhƣ nhau. Từ đứa trẻ thành ông già, thành ngƣời đàn ông trung niên hay thành một thiếu nữ có chửa... nhƣng cuối cùng tất cả những con ngƣời quái dị ấy đều chết hoặc biến mất kì lạ. Sự xuất hiện của bé Hon (Thiên sứ - Phạm Thị Hoài) trong gia đình Hoài cũng đƣợc pha trộn yếu tố lạ lùng. Bộ đồ lót của mẹ bị bỏ quên ngoài trời, qua một đêm sƣơng, “bị loang lổ những vết từa tựa nhƣ chàm”. Mẹ Hoài tƣởng “không còn khả năng sinh nở nữa” vậy mà ít lâu sau lại hoài thai và sinh ra bé Hon đẹp đẽ, khác thƣờng “nhƣ một thiên sứ pha lê ghé trần gian nhân cuộc dạo chơi miên viễn”. Đặc điểm chung giữa những tác phẩm trên là có sự xâm nhập của yếu tố kì ảo trong xuất thân của các nhân vật, song trong sáng tác của Võ Thị Hảo, yếu tố kì ảo có phần đậm đặc và độc đáo hơn. Những nhân vật của chị xuất hiện bất ngờ, kì dị, thậm chí có những nhân vật đƣợc sinh ra trong hai kiếp với hai địa vị, hoàn cảnh trái ngƣợc. Điển hình là Từ Lộ. Kiếp thứ nhất, Từ là một con ngƣời bình thƣờng với cuộc sống bình dị, hạnh phúc. Nhƣng ở kiếp thứ hai sự ra đời của Từ đƣợc miêu tả qua chi tiết lạ hoá sau: “Linh hồn Từ Đạo Hạnh chỉ là một luồng khí xanh mang hình một hài nhi. Linh hồn ngài khi ra khỏi nóc hang chùa Phật Tích thì ngƣng lại, lơ lửng và thiêm thiếp ngủ giữa lƣng chừng trời, rồi biến thành một con rái cá (...). Hồn đi đến cuối con đƣờng thì đã chui tọt vào trong hình hài một đứa trẻ trai nằm cuộn tròn sẵn trong bụng Sùng phu nhân, bất động nhƣ một xác chết” [20, tr. 454, 457]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 37. 35 Rõ ràng xuất thân của cậu bé Dƣơng Hoán là vô cùng khác thƣờng. Kiếp trƣớc cậu bé đó là một ngƣời đàn ông bốn sáu tuổi già dặn, tinh thông. Nhƣng kiếp sau, trong hình hài đứa trẻ mới lớn, nhân vật này luôn sống trong một niềm khát khao không bao giờ thoả nguyện. Nhiều khi mâu thuẫn giằng xé trong trái tim bé nhỏ. Nhƣng mâu thuẫn đó không thể hoá giải đƣợc. Kể cả khi đã băng hà, Từ Lộ vẫn chƣa muốn dứt khỏi bể trầm luân của cuộc đời “nhục thân vẫn an nhiên trên bệ đá”. Phải chăng nhân vật này còn muốn tiếp tục sự chuyển giao số kiếp trong một hình hài mới? Bên cạnh đó còn có nhiều nhân vật có hoàn cảnh xuất thân khá giống nhau ở số phận bị “khiếm khuyết”. Đó là sự thiếu vắng tình yêu thƣơng của cha hoặc mẹ. Những nhân vật mồ côi xuất hiện khá nhiều trong các tác phẩm và đã trở thành một môtip quen thuộc. Rất nhiều truyện cổ tích dân gian đƣợc bắt đầu bằng việc các nhân vật không có cha mẹ (Tấm, Thạch Sanh...). Còn trong văn học hiện đại, nhiều nhà văn cũng vận dụng môtip trên để khắc hoạ hoàn cảnh, số phận các nhân vật: Mai Trừng (Cõi người rung chuông tận thế Hồ Anh Thái) chỉ đƣợc mẹ nuôi (Miên) nuôi nấng, những đứa con nàng Bua (Nàng Bua - Nguyễn Huy Thiệp) không có cha... Trong Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, loại nhân vật mồ côi xuất hiện khá nhiều. Nhƣng không dừng lại ở việc miêu tả sự côi cút, đáng thƣơng của các nhân vật, Võ Thị Hảo còn coi đây là sợi dây gắn kết các nhân vật trong những mối quan hệ bất bình thƣờng hoặc là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi nhân tính của nhân vật. Ngạn La không biết cha mình là ai. Ngƣời mẹ trẻ đã hi sinh tuổi xuân khó nhọc nuôi con khôn lớn. Trớ trêu thay, ngƣời cha của nàng đã hơn một lần muốn giết chết đứa con đẻ của mình. Khi Lý Trác nhận ra Ngạn La là con thì đã quá muộn “Lý Trác sụm xuống trƣớc mặt Ngạn La, đƣa tay về phía con dao trên tay nàng, không cất nổi một lời (...) nƣớc bọt văng cả vào mặt Lý Trác” [20, tr.540]. Những đứa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 38. 36 con Ả Tuynh (Dệt cỏ) không có cha, bọn chúng lớn lên trong thiếu thốn và nghèo đói. Còn Pạng (Chuỗi người đi trong đầm lầy) sớm mồ côi từ nhỏ, đƣợc ông chú nuôi lớn bằng những bữa nộm tai ngƣời trong rừng rậm. Khi đƣợc vợ chồng Ba Xà cứu sống, Pạng mới đƣợc sống nhƣ một con ngƣời. Từ cuộc sống của quỷ dữ đến cuộc sống làm ngƣời là một hành trình đầy khó khăn, gian khổ. Bởi vậy, miêu tả xuất thân cũng nhƣ nguồn cội của Pạng, Võ Thị Hảo đã sử dụng chi tiết lạ hoá nhằm làm cho nhân vật này trở nên lạ lùng, bí ẩn hơn. Từ Lộ có đầy đủ cả cha và mẹ. Nhƣng chỉ trong một thời gian ngắn, chàng đã mất cả hai ngƣời thân yêu. Chính sự mất mát đó là nguyên nhân biến Từ thành ngƣời khác - con ngƣời của hận thù, chỉ sống vì một mục đích duy nhất: trả thù. Qua những hoàn cảnh mồ côi trên, Võ Thị Hảo đã thể hiện lòng thƣơng cảm, xót xa với các nhân vật, đồng thời cũng gửi gắm một thông điệp: cuộc sống không chỉ toàn màu hồng mà vẫn đầy khiếm khuyết, thiếu thốn. Bởi vậy con ngƣời hãy biết yêu thƣơng, sẻ chia và giúp đỡ những cuộc đời bất hạnh nhiều hơn nữa. Dạng biểu hiện thứ hai của loại nhân vật có yếu tố kì ảo là kì ảo ở ngoại hình. Mỗi nhân vật đƣợc khắc hoạ bằng một bức chân dung khác nhau. Thông qua ngoại hình của các nhân vật đó, ta nhận ra đƣợc phần nào tính cách, phẩm chất và đoán trƣớc đƣợc cuộc đời, số phận của họ. Trong Truyện Kiều, khi miêu tả Thuý Kiều, Nguyễn Du đã phác ra một vẻ đẹp kiêu sa, một tuyệt sắc giai nhân trong thiên hạ. Song cũng dự báo trƣớc cuộc đời nàng sẽ gặp nhiều sóng gió, bất hạnh khi đặt sắc đẹp của nàng trong sự đối sánh với vẻ đẹp thiên nhiên: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. Còn trong sáng tác của Võ Thị Hảo (mà tiêu biểu là trong hai tác phẩm trên), hình dáng nhân vật đƣợc khắc hoạ rõ nét và ẩn chứa nhiều sự khác thƣờng. Điển hình là nhân vật Từ Lộ - sinh ra ở hai kiếp và mang hai hình hài, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 39. 37 số phận khác nhau. Ở kiếp thứ nhất, chàng là một thƣ sinh nho nhã, hiền lành với gƣơng mặt thanh tú “mày rậm mắt sáng miệng nhƣ vành trăng treo”. Nhƣng cha chàng đã nhận ra chút khuyết hãm nơi vành thái dƣơng và cho đó là “cái tƣớng phúc phận không trọn vẹn”, điều này cũng dự báo trƣớc cuộc đời không phẳng lặng đang chờ đón chàng. Qua chi tiết lạ hoá, ngoại hình Từ Lộ ở kiếp thứ hai thấm đẫm sắc màu kì ảo. Trƣớc hết, chi tiết này thể hiện rõ ở sự ra đời của Từ: “đứa trẻ nằm trong bụng mẹ hơn mƣời tháng vẫn không chịu ra đời”. Đôi lúc cái bào thai đó lại “chồi lên nhƣ một quả nhót khổng lồ”. Phải chăng, Từ vẫn đang phân vân trƣớc sự lựa chọn của mình: tiếp tục đầu thai trong một kiếp sống khác để thực hiện khát vọng quyền lực hay dừng lại với linh hồn của một vị thiền sƣ tốt đẹp? Đọc chi tiết này, ta liên tƣởng đến những bào thai không muốn đƣợc sinh ra vì sợ phải đối diện với cuộc sống đầy phức tạp trong Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh). Đến lúc chào đời, cậu bé Dƣơng Hoán có hình thù kì dị “vai trái ra trƣớc, chìa ra một bàn tay bé xíu đỏ hỏn có ngón út nhƣ bị cháy xém”, “cái đầu với đôi mắt hắt ra những tia sáng chói từ từ chuồi ra” [20, tr.246]. Một điểm “bất thƣờng” mang tính lạ hoá nữa ở đứa trẻ này khiến ngƣời đọc chú ý, đó là đôi mắt - có lúc non trẻ thơ ngây, nhƣng nhiều khi lại già dặn nhƣ một ngƣời đàn ông từng trải. Bên trong Dƣơng Hoán có một “ngƣời già” Từ Lộ với khao khát khôn giải ở kiếp trƣớc đã in hằn thành một khắc khoải, mà căn nguyên bí ẩn chỉ lộ rõ khi vua gặp mặt sƣ bà chùa Trầm, vốn chính là vợ chƣa cƣới của Từ thời trẻ. Nhƣng trong Từ Lộ ở kiếp thứ hai cũng có một Dƣơng Hoán trẻ tuổi muốn đạt tới quyền uy và danh vọng siêu việt, biểu trƣng ở việc gắng thành thân bằng đƣợc với cung nữ Ngạn La, cô cung nữ có chiếc rốn màu chu sa quý hiếm, vƣu vật mà chính Dƣơng Hoán đã cứu khỏi giàn thiêu. Nếu những giây tình “hồi cố” hƣớng về một tiền căn mù mờ khiến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 40. 38 Dƣơng Hoán lâm bệnh ác, thì tham vọng “phạm thƣợng” lại dẫn ông vua trẻ đến cái chết. Cái chết của ngài đã đƣợc dự báo từ trƣớc - đó là khi vua bị hoá hổ. Lúc này không còn hình dáng của Từ Lộ hay Dƣơng Hoán nữa, thay vào đó là một hình thù quái đản: “Đức vua đang ngồi chồm hổm trên long sàng, hai mắt đỏ đọc long lên, nhe răng trắng nhởn và bên mép nhoe nhoét máu”, “đám lông vằn vện trên ngƣời càng mọc dài ra, dài rủ cả xuống mặt sàn đá xanh. Bây giờ, trông nhà vua là một con hổ. Mà lại nhang nhác một con dã nhân” [20, tr.296, 460]. Đây chính là nghiệp báo mà Từ phải gánh chịu ở kiếp này: không chỉ méo mó, biến dạng trong tâm hồn mà còn thay đổi cả vẻ bề ngoài. Sự biến dạng ngoại hình là biểu tƣợng cho sự biến dạng của tâm hồn, nhân cách. Đây là một biểu hiện cụ thể của quy luật tha hoá. Cũng là sự biến đổi hình dạng nhƣng nhân vật của Macket trong Trăm năm cô đơn lại xuất phát từ nguyên nhân khác. Những đứa trẻ ra đời với chiếc đuôi ở sau lƣng và trông nhƣ một quái vật. Đó là hậu quả của sự loạn luân do bố mẹ chúng gây ra. Vì vậy, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo chứa đựng sự lên án, phê phán pha chút mỉa mai, còn Trăm năm cô đơn lại là nỗi xót xa đầy thƣơng cảm cho những con ngƣời bất hạnh. Bên cạnh nhân vật Từ Lộ, nhiều nhân vật khác cũng có ngoại hình mang đậm màu sắc kì ảo nhƣ cung nữ Ngạn La, Nhuệ Anh, Ỷ Lan thái hậu, Lý Trác, Từ Vinh... Cung nữ Ngạn La hiện lên trong tác phẩm vừa nhƣ một phù thuỷ hoang dại có thể hút hồn cả Diêm Vƣơng, ma quỷ, vừa tƣợng trƣng cho vẻ đẹp thuần khiết, trong trắng, ngây thơ. Nhƣng vẻ đẹp ấy quá xa vời và không nên hiện hữu trên thế giới này đầy bạo liệt này, nó chỉ là nguyên nhân đƣa nàng đến những bất hạnh, khổ đau. Qua chi tiết lạ hoá ngoại hình Ngạn La hiện ra thật kì lạ: “Đôi mắt mèo màu xám nâu mở to hoảng hốt dƣới đôi mày mềm mại lƣợn cong vút lên nhƣ hai cánh én. Đôi môi mọng màu hoàng thổ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 41. 39 sẫm kinh ngạc mở rộng làm hé lộ hàm răng đen láy. Mớ tóc dài nuôi nấng qua mƣời hai năm tràn xuống nửa lƣng ôm lấy một bờ vai mảnh mai chảy xuôi màu nâu mịn mƣợt nhƣ lụa. Đôi vú mới nhú nhƣ nửa vầng trăng với hai đầu vú nhỏ ƣơng ngạnh và kiêu hãnh...” [20, tr.222]. Đặc biệt là hình ảnh chiếc bớt bên vú trái mờ mờ trông nhƣ một con thạch sùng nhỏ xíu màu tím bốn chân. Chính nó là dấu tích thiêng liêng, là sợi dây ruột thịt giữa nàng và quan thái bảo Lý Trác. Riêng đôi mắt mèo hoang đƣợc tác giả nhắc lại nhiều lần cùng với chiếc rốn màu chu sa quý hiếm khiến nhân vật này càng trở nên bí ẩn và quyến rũ. Trải qua bao nỗi sợ hãi kinh hoàng từ giàn thiêu cung nữ đến lãnh cung, Ngạn La vẫn mãi là cô bé ngây thơ thuần khiết. Kể cả khi bƣớc lên giàn thiêu lần thứ hai - nàng vẫn là trinh nữ. Vẫn cặp mắt mèo hoang hút hồn ngƣời khác, vẫn đôi môi hoàng thổ và chiếc rốn in hình gƣơng mặt hai vị vua Nhân Tông, Thần Tông. Nàng giống nhƣ một viên ngọc quý không bao giờ gạn bẩn. Có thể nói, bằng thủ pháp so sánh với những hình ảnh mang tính kì ảo, Võ Thị Hảo đã vẽ nên bức chân dung Ngạn La với vẻ đẹp đầy ma lực. Đây cũng là một trong ba nhân vật nữ đƣợc nhà văn ƣu ái và ngợi ca trong tác phẩm. Nhân vật Ngạn La đƣợc xây dựng cùng một môtip với Ngƣời Đẹp Remediôt (Trăm năm cô đơn - G.Macket). Nàng Rêmediôt xinh đẹp tuyệt mĩ nhƣng lại quá ngây thơ, hoang dại. Nàng thích sống tự do theo bản năng tự nhiên của mình. Đây chính là điểm gần gũi mà Võ Thị Hảo đã kế thừa từ bậc thầy G.Macket khi xây dựng chân dung cung nữ Ngạn La. Nhân vật nữ thứ hai là Nhuệ Anh. Không đẹp bí ẩn, kiều diễm nhƣ Ngạn La, Nhuệ Anh hiện lên thánh thiện với “đôi mắt hình lá đào và đôi mày màu khói nhạt”. Chính đôi mắt đa đoan ấy đã ám ảnh Từ qua bao năm tháng, đè nặng trái tim lạnh giá của chàng. Kể cả khi đã thành sƣ bà không tuổi, mái tóc trắng nhƣ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 42. 40 cƣớc nhƣng vẻ đẹp của đôi mắt vẫn không đổi. Vẫn dáng ngƣời yểu điệu thƣớt tha, vẫn chiếc cổ cao kiêu hãnh, bàn tay thon mềm với những ngón tay trắng mịn... dƣờng nhƣ tuổi tác không làm phai nhạt nét đẹp của sƣ bà. Một nhân vật gây nhiều kinh ngạc trong tác phẩm là Ỷ Lan thái hậu. Ngoại hình của bà đã có sự thay đổi theo hai biến cố. Khi còn là thái hậu buông rèm chấp chính, bà đƣợc miêu tả nhƣ một phụ nữ quyền uy và cao quý: “Mặt tròn nhƣ trăng rằm, mày tằm, mũi nhƣ trái mật treo, quyền cốt nổi rõ dù đám thị nữ đã khéo che phủ bằng một lớp phấn màu hoa đào...” [20, tr.127 128]. Nhƣng ở đoạn trích Lãnh cung, khi bị Dƣơng thái hậu và bảy mƣơi sáu cung nữ lên án vạch tội và trƣớc hành động hung hăng của đàn chuột đói, ngoại hình Linh Nhân đã bị biến dạng: “Ỷ Lan trợn tròn đôi mắt đã mất sinh khí (...). Những mảnh áo đại vóc của Ỷ Lan bắt đầu bục ra dƣới bàn tay của các thị nữ (...) nét mặt của thái hậu co rúm một lần nữa” [20, tr.238 - 239]. Sự biến dạng từ uy nghiêm thành cô độc, đáng thƣơng trƣớc đàn chuột và lòng thù hận của những cung nữ bị bức chết năm nào chính là cái giá phải trả cho những tội ác mà bà đã gây ra khi còn sống. Qua đó ta thấy đƣợc thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm, đó là quy luật thiện - ác. Tội ác sẽ không bao giờ bị quên lãng mà trái lại sẽ mãi ám ảnh, dằn vặt và dày vò ngƣời gây tội. Ngoại hình của quan thái bảo Lý Trác lại đƣợc khai thác ở khía cạnh khác. Hắn chỉ là kẻ nịnh thần đầy tham vọng, vì địa vị mà bán cả nhân phẩm của mình. Trên khuôn mặt vốn lạnh lùng của Lý Trác là đôi mắt sắc lạnh đầy ham muốn công danh. Với quá nhiều hành động độc ác đã gây ra, cuối cùng hắn cũng phải gánh chịu hậu quả đau đớn: bị chính vua Thần Tông - đại diện cao nhất cho thế lực mà hắn tôn thờ, móc mất một con mắt: “khắp mặt Lý Trác đầm đìa máu đỏ. Con ngƣơi mắt phải đã bị móng hổ sắc móc bật ra khỏi tròng” [20, tr.312]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 43. 41 Hình ảnh xác Từ Vinh - cha Từ Lộ trôi giữa dòng sông khiến ngƣời đọc ám ảnh. Một con ngƣời hiền lành, lƣơng thiện, hết lòng lo cho dân lại phải chịu một cái chết bi thảm đầy oan khuất. Chi tiết phi thƣờng hoá biểu hiện rõ qua ngoại hình bị biến dạng nhƣng ngập tràn thù hận: “Đôi tròng gần nhƣ bật ra khỏi hốc mắt. Từ trong hai hốc mắt sâu hoắm những giọt máu tƣơi ứa ra chảy loang trên mặt chan đỏ nƣớc sông Tô... cánh tay cứng đờ giơ cao trực chỉ đúng nhà Diên Thành Hầu” [20, tr.73]. Đọc Chuỗi người đi trong đầm lầy, ta không khỏi bàng hoàng khi biết rằng, chiến tranh tàn khốc đã đi qua bao nhiêu năm mà di chứng để lại vẫn còn rất nặng nề. Những con ngƣời đã mất mát một phần thân thể trong những cuộc chiến giờ ẩn hiện nhƣ những oan hồn - lẫn vào đoàn ngƣời đi tìm lại những gì đã mất. Chính hoàn cảnh khắc nghiệt đó đã sinh ra những đứa trẻ dị dạng về ngoại hình và nhân tính. Mà Pạng là một trong số đó. Pạng là một chàng trai có “một cái miệng rất đẹp, hàm răng chắc khoẻ sáng loà loá dạng giữa đám râu ria rậm rịt rối bù nhƣ dây rừng” [21, tr.60]. Nhƣng ẩn sau ngoại hình vừa đẹp vừa hoang dã ấy là một bản năng thú tính: Pạng nghiện món nộm tai ngƣời bởi hắn một thành viên của chuỗi ngƣời trong đặc khu Thuỷ Yến. Sau ba năm sống cùng gia đình Ba Xà, bản năng ấy lại trỗi dậy trong Pạng. Hắn đã cắt tai bà Hai Rỗ, bắt cóc thằng Rồng mang lên ngọn cây vì “thịt trẻ con thơm lắm”. Lúc này không còn thằng Pạng hiền lành, ngoan ngoãn với đôi mắt bò non ngây thơ nữa mà hắn đã trở thành con quỷ dữ: “Một thằng ngƣời cao lớn chân dài, cái miệng với hàm răng trắng ngậm dao bầu lấp loá nhô ra trong nắng” [21, tr.65]. Đặc biệt, miêu tả quá trình từ ngƣời đến quỷ của Pạng, nhà văn đã đặc tả sự thay đổi của đôi mắt. Từ đôi mắt bò non biến thành đôi mắt xanh lẹt dữ dằn. Ở nhân vật Từ Lộ, ta cũng bắt gặp sự biến đổi của đôi mắt: từ đôi mắt sáng thông minh, cƣơng nghị đến đôi mắt luôn đăm chiêu, đôi lúc rực sáng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 44. 42 chói loà. Tuy nhiên khác với Pạng, sự biến đổi đôi mắt của Từ diễn ra phù hợp với địa vị và hoàn cảnh qua hai kiếp sống của chàng. Trở lại với nhân vật Pạng, khi phần bản năng thú tính dịu xuống, phần ngƣời đang dần trở lại thì tiếng rú từ rừng sâu trong buổi chiều muộn lại kéo Pạng về cuộc sống xa xƣa. Cuộc đấu tranh giằng xé trong lòng Pạng cũng là mâu thuẫn giữa tính “thú” và tính “ngƣời”. Không biết phải lựa chọn con đƣờng nào khi đứng trƣớc ngƣời Pạ đã cứu sống mình, Pạng đã chọn cái chết để giải thoát. Lúc này, trong đôi mắt bò non của hắn vẫn “in hình một gƣơng mặt trắng bệch với đôi môi nhành ra trong một nụ cƣời khó tả” [21, tr.70]. Khuôn mặt đầm đìa máu và nụ cƣời gằn cùng khuôn miệng cong cong nhƣ miệng đàn bà đã xuất hiện ở phần đầu của tác phẩm giờ một lần nữa hiện lên đầy quái dị. Hình ảnh này mang đậm sự khác thƣờng, kì ảo. Dạng biểu hiện thứ ba là kì ảo ở số phận nhân vật, bởi hầu hết các nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo mang một thông điệp nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm qua số phận của họ. Đó là nỗi khắc khoải trƣớc những số phận không may mắn, con ngƣời luôn sống trong những ràng buộc, mâu thuẫn hay phải lựa chọn giữa sự sống và cái chết, giữa hận thù và yêu thƣơng. Mà trƣớc hết là số phận của những ngƣời phụ nữ. Họ trở nên bé nhỏ, cô đơn trong cảnh mòn mỏi đợi chồng nhƣ Hồn trinh nữ, hay nỗi đau xót của những ngƣời mẹ mất con, mất chồng thành điên dại trong Vũ điệu địa ngục và Trận gió màu xanh rêu. Qua một loạt những số phận bất hạnh ấy, ta thấy hiện lên hiện thực phũ phàng của cuộc sống. Một trong những nguyên nhân dẫn đến điều đó là sự tàn bạo của chiến tranh. Chiến tranh đã cƣớp đi biết bao sinh mạng, phá tan bao mái ấm gia đình và dồn đẩy con ngƣời vào cõi chết ngay cả khi đang sống (Thảo trong Người sót lại của rừng cười là một minh chứng). Còn trong Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, ta bắt gặp nhiều con ngƣời với những số phận khác nhau. Ngoài thân phận mồ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 45. 43 côi của nhiều nhân vật (Ngạn La, Pạng...) nhà văn còn tập trung khắc hoạ hành trình kiếm tìm mục đích sống cho đến khi kết thúc cuộc đời trong bế tắc, tuyệt vọng (đa phần các nhân vật đều phải chết). Tuy nhiên ở mỗi nhân vật, hành trình số phận lại đi theo những con đƣờng riêng. Trƣớc hết là nhân vật trung tâm, xuyên suốt trong tác phẩm - Từ Lộ. Lẽ ra Từ phải đƣợc hƣởng một cuộc sống hạnh phúc, sung sƣớng vì có đầy đủ cha mẹ và sắp cƣới đƣợc một ngƣời vợ xinh đẹp là tiểu thƣ Nhuệ Anh, nhƣng một loạt biến cố đã xảy ra với gia đình chàng. Sau bao gian khổ Từ trở thành một vị pháp sƣ nhiều quyền phép. Nhƣng thẳm sâu trong trái tim Từ Đạo Hạnh vẫn khao khát, thèm muốn cuộc đời vinh hoa phú quý. Không bằng lòng với cuộc sống thực tại cùng với tham vọng quá lớn khiến Từ rơi vào bi kịch - bi kịch quyền lực. Để giải quyết mâu thuẫn này, Võ Thị Hảo chỉ có thể vận dụng khả năng sáng tạo độc đáo của mình trên cơ sở những gì đã đƣợc ghi trong chính sử. Việc ảo hoá, lạ hoá chi tiết Từ đầu thai làm con Sùng Hiền Hầu là một cách giúp nhà văn đẩy cốt truyện lên cao. Sống ở kiếp thứ nhất - Từ sống vì cha mẹ, còn kiếp thứ hai - chàng sống vì bản thân, vì dục vọng trỗi dậy mạnh mẽ. Việc duy nhất mà Từ Đạo Hạnh - Thần Tông làm đƣợc cho dân cho nƣớc là những lạc thú mà chỉ ở ngôi vị ấy mới đƣợc hƣởng. Chính đặc quyền này cắt nghĩa tại sao trong các triều đình thƣờng lâm vào cảnh nồi da nấu thịt, bùa chú ám hại lẫn nhau trong anh em ruột thịt để tranh đoạt ngôi báu. Tác giả Giàn thiêu chỉ nhấn vào vài nét thôi ở kiếp thứ hai: tình và tật. Khao khát quyền lực nhƣng vẫn luôn cháy khát một niềm lạc thú không thể cắt nghĩa đƣợc đã khiến Thần Tông hoá hổ. Ngay cả khi đƣợc Minh Không cứu chữa, mơ hồ nhận ra căn nguyên tiền duyên từ kiếp trƣớc song Thần Tông cũng không thể dứt bỏ lạc thú cùng vinh hoa phú quý chốn cung cấm. Bởi thế khi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 46. 44 từ giã cõi đời, ngài lại thấy hối tiếc vì những gì mình đƣợc hƣởng vẫn còn ít ỏi, và buộc phải thốt lên “ta lại lỡ nốt kiếp này”. Lỡ một kiếp! Lỡ một đời! Lỡ một phận ngƣời! Đó là điều mà nhân vật Từ Đạo Hạnh tự đúc kết và đó cũng là điều mà tác giả muốn gửi gắm khi xây dựng nhân vật này qua tất cả các lần hoá thân. Nói nhƣ Nguyễn Hoài Nam “một ngƣời - một vị hoàng đế, thậm chí cả một quốc gia lấy gì để bảo đảm rằng không luôn đứng trƣớc nguy cơ bị lỡ một kiếp và rồi còn bị lỡ nhiều kiếp?” [35]. Nhƣ vậy số phận của nhân vật Từ Lộ nhuốm đầy màu sắc kì ảo và có thể coi là một bi kịch, bi kịch vừa do ngoại cảnh vừa do chính Từ tạo ra. Điều này đã dẫn đến mâu thuẫn trong tâm hồn chàng: một bên là ƣớc mơ về cuộc sống hạnh phúc và một bên là khát khao quyền lực. Trong trƣờng hợp này, kì ảo có vai trò tạo khoảng cách giữa nhà văn - nhân vật - ngƣời đọc, để ngƣời đọc tự đứng ngoài soi xét khách quan. Đa phần các nhân vật nữ trong sáng tác Võ Thị Hảo đều có số phận không may mắn hay gặp nhiều bất hạnh. Họ càng đẹp đẽ, thuần khiết bao nhiêu thì cuộc đời lại đau khổ bấy nhiêu. Nhƣ nàng trinh nữ (Hồn trinh nữ) chờ chồng từ khi còn trẻ đến lúc quá thì. Vậy mà phần thƣởng cho khoảng thời gian dài tƣởng vô tận ấy là gì? Chỉ là một ngƣời chồng chai sạn, lạnh giá thậm chí vô cảm. Đêm tân hôn cũng chính là đêm kết thúc cuộc đời nàng. Còn Người sót lại của rừng Cười lại gieo vào lòng ngƣời đọc nỗi xót xa, thƣơng cảm. Khép lại tác phẩm, ta không biết bây giờ Thảo ở đâu, nhƣ thế nào: một thân hình tàn tạ, bơ phờ, mắt mộng du tay cầm cành liễu hay với bộ dạng của một ni cô khổ hạnh, một quý bà giàu có sang trọng, một phóng viên đầy tài năng? Hàng loạt câu hỏi nhƣ những vết cứa vào lòng ngƣời đọc để rồi bật lên một tiếng kêu đau đớn, tuyệt vọng: “Rừng Cƣời ơi! Đã no nê máu và nƣớc mắt, lẽ nào ngƣời cƣớp nốt của ta con chim yến nhỏ nhoi” [22, tr.107]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 47. 45 Cũng nhƣ sáng tác của Võ Thị Hảo, trong tác phẩm của Hồ Anh Thái, thân phận của ngƣời phụ nữ cũng đầy đau khổ và bi thảm. Thông qua một loạt các chi tiết, hình ảnh mang tính chất biểu tƣợng, Hồ Anh Thái đƣa ngƣời đọc vào thế giới đen tối, bế tắc. Truyện Tiếng thở dài qua rừng kim tước khiến ngƣời đọc ám ảnh khi chứng kiến cảnh Ni Lam hoá kiếp cho đứa con gái bé bỏng: “Cô bế đứa con lên ngọn đồi trọc (...) đứa trẻ chỉ giãy nhẹ mấy cái rồi lịm dần...”. Ni Lam cũng chẳng hề đau đớn hay ghê tay khi thực hiện hành động dã man đó. Vì nếu để đứa trẻ sống đồng nghĩa với việc cô sẽ phải bỏ ra một số tiền lớn làm của hồi môn cho nó. Không chỉ giết con mình, Ni Lam còn giết bao đứa trẻ vô tội khác. Trong xã hội Ấn Độ xƣa vẫn còn lƣu cữu những hủ tục lạc hậu với những quy định, tập quán cổ hủ đè nặng lên vai ngƣời nghèo khổ. Mà đáng thƣơng hơn cả là thân phận trẻ em gái. Ngƣời mẹ sẽ kinh hoàng khi sinh con gái và lúc đó, họ lại cần đến bàn tay của những ngƣời nhƣ Ni Lam - chôn đứa trẻ với một cành kim tƣớc trồng trên mộ. Để rồi những cánh đồi trọc nhanh chóng biến thành rừng kim tƣớc. Không ai đếm đƣợc cánh rừng đó có bao nhiêu cây, cũng nhƣ không biết bao nhiêu bé gái đã bị chính cha mẹ mình giết hại. Không phải chịu nỗi đau nhƣ các bé gái của Hồ Anh Thái, nhƣng những nhân vật nữ của Võ Thị Hảo cũng bị vùi dập về tinh thần và đày đoạ về thể xác. Họ buộc phải sống trong một môi trƣờng đầy những dục vọng toan tính với bao sự dày vò đau đớn. Nhuệ Anh xuất hiện trong tác phẩm nhƣ một thiên sứ đẹp đẽ và thánh thiện. Nhƣng cuộc đời đã xô đẩy nàng đến hết kiếp nạn này đến kiếp nạn khác. Tình yêu với Từ Lộ lỡ dở, bị ép phải lấy Lý Câu, cuối cùng nàng phải nhảy xuống thác Oán tự tử vì bị Từ phản bội. Nhuệ Anh đƣợc chàng Cá Bơn cứu sống và trở thành sƣ bà Động Trầm. Nhƣng số phận run rủi đã để bà gặp lại ngƣời xƣa trong hoàn cảnh oan nghiệt. Vào cung, lạc lõng giữa những thứ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 48. 46 xa hoa phù phiếm, bị ghen ghét, đố kị thậm chí bị hoàng hậu và bọn Lý Trác hãm hại, nhƣng thẳm sâu trong trái tim sƣ bà vẫn in đậm mối tình năm xƣa. Bà đã không quản gian khổ đi tìm Minh Không về chữa bệnh cho Thần Tông. Khi đức vua lựa chọn con đƣờng tiếp tục cuộc sống đế vƣơng, Nhuệ Anh đã quyết ra đi, làm “ngọn gió mong manh” cứu ngƣời. Có thể nói, số phận và cuộc đời nhân vật này chứa đựng cả yếu tố thực và yếu tố ảo. Thông qua lăng kính thực - ảo, ta hình dung ra số phận của những con ngƣời trong cuộc sống thực tại: đầy đau khổ hi sinh. Dù có trốn chạy thì họ cũng vẫn phải đối diện với những ẩn ức đã qua. Qua đó, nhà văn bày tỏ sự xót thƣơng và đồng cảm với những thân phận phụ nữ trong xã hội xƣa và nay. Nhân vật Lê Thị Đoan là một biểu hiện của thiên tính nữ trong Giàn thiêu. Dƣờng nhƣ ở Việt Nam cũng có giai thoại kể chuyện ngƣời đàn bà giả trai đi thi, nhƣng là vào những thời đại muộn hơn. Đặt câu chuyện vào thời Lý, tác giả Giàn thiêu đã hƣ cấu khi xây dựng chân dung nhân vật này. Trong tác phẩm Lê Đoá và Lý Trác đều đỗ, đều đƣợc bổ làm quan, nhƣng Lý Trác lừa dịp giật yếm áo tố cáo Lê Đoá là gái giả trai khiến tài nữ Lê Thị Đoan bị đày biệt xứ. Bà xuất hiện giữa đám thƣờng dân trong lễ hoả thiêu các cung nữ theo vua Nhân Tông, lên án việc triều đình đem tục chôn theo của phƣơng Bắc áp dụng vào nƣớc mình khiến hàng trăm phụ nữ đẹp đẽ, tài giỏi vô tội bị chết oan. Bà cắn lƣỡi tự vẫn ngay trƣớc mặt vị vua trẻ và triều thần. Sau khi bà chết, đám quan thần đứng đầu là Lý Trác đã đem cuốn sách của bà ra xử tử và giết hại dã man Lê Đan - con trai bà. Thân phận của cung nữ Ngạn La cũng vô cùng đáng thƣơng. Đựơc vua Nhân Tông đƣa về cung khi mới mƣời ba tuổi, chƣa kịp biết đến mùi vị của hạnh phúc, nàng đã bị nhốt vào lãnh cung (sau khi thoát khỏi giàn thiêu lần thứ nhất). Chứng kiến cảnh đàn chuột - hiện thân của bảy mƣơi sáu cung nữ và Dƣơng thái hậu hành hạ Linh Nhân Ỷ Lan, nàng không khỏi khiếp đảm và hoảng sợ. Khi vua Thần Tông chết, bị buộc phải lên giàn thiêu lần thứ hai, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 49. 47 Ngạn La đã lên tiếng tố cáo bè lũ quan lại độc ác, tàn bạo và phê phán Ỷ Lan thái hậu cùng đám hoàng hậu đã dùng hủ tục thiêu cung nữ để độc chiếm ngôi vị. Tiếng nói của Ngạn La đại diện cho hàng trăm tiếng kêu oan khuất đã phải chết đau đớn trên giàn thiêu. Nếu chỉ dừng ở đó thì câu chuyện sẽ rơi vào bi kịch, chính vì thế tác giả đã sáng tạo thêm một tình tiết lạ hoá nữa - đó là sự xuất hiện của ngƣời mẹ “rạch mổ bụng đón gọn thân thể Ngạn La rồi bay lên trời”. Rõ ràng đây là chi tiết hoàn toàn hƣ cấu, mang màu sắc hoang đƣờng nhƣng đặt trong hoàn cảnh bấy giờ, nó lại trở nên hợp lý và dễ dàng đƣợc ngƣời đọc chấp nhận. Kiểu kết thúc này từng có trong Trăm năm cô đơn, ngƣời đẹp Remediôt cũng bay lên trời. Đây là lời khẳng định cái đẹp phải rời xa xã hội xấu xa ấy mà bay đi. Cũng giống nhƣ Võ Thị Hảo, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp nhƣ một sự “khiêu khích” kinh nghiệm nghệ thuật của chúng ta. Với nhà văn này, cuộc đời thực không giản đơn, viên mãn nhƣ cổ tích, bởi vậy nhiều tác phẩm của ông kết thúc không có hậu. Trong Trái tim hổ, Chàng Khó dù giết đƣợc con hổ nhƣng phải mất mạng vì trái tim con vật đã bị đánh cắp, còn cô gái vì không có trái tim hổ làm thuốc đã qua đời một năm sau đó. Hay Nàng Bua (Nàng Bua) một mình tần tảo nuôi cả lũ con không cha lại chết “vì không quen sinh nở trong nhung lụa...”. Số phận của những cung nữ thời phong kiến cũng đƣợc nhà văn khắc hoạ rõ nét qua hình ảnh giàn thiêu cung nữ. Dựa trên những sự kiện có thật trong lịch sử (các cung nữ bị Ỷ Lan thái hậu bức chết khi vua băng hà), Võ Thị Hảo đã sáng tạo nên một bức tranh ghê rợn đầy chết chóc qua những chi tiết đƣợc lạ hoá. Hình ảnh giàn thiêu cung nữ xuất hiện trong tác phẩm hai lần, thì cả hai lần đều gây cho ngƣời đọc sự kinh sợ, thậm chí “không dám đọc lúc nửa đêm”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 50. 48 Xuất hiện ở giàn thiêu đầu tiên, bốn mƣơi chín cung nữ đƣợc lựa chọn trở thành bốn mƣơi chín ngọn đuốc sống bay đến cõi cực lạc hầu hạ tiên đế. Họ vừa tự nguyện vừa bị ép buộc bƣớc vào cõi chết. Đƣợc học cả những bài thuyết giáo về nghĩa vua tôi, sự khổ ải nơi trần thế nên tất cả đều “cam chịu, câm lặng nhƣ đã chết” khi đứng trƣớc giàn thiêu: “tất thảy cung nữ không một tiếng kêu la, không một lời than khóc. Họ chỉ còn thân xác mà mất đâu hồn vía chỉ mơ hồ nghe xạc xào bên tai tiếng gào khóc của những ngƣời thân đang đứt từng khúc ruột bên kia hồ” [20, tr.35]. Số phận của những cung nữ nói riêng và của ngƣời phụ nữ trong xã hội phong kiến nói chung đƣợc lột tả sâu sắc qua những hình ảnh mang nghĩa biểu tƣợng: “Trên mặt hồ chỉ còn các phiến gỗ sơn đỏ nổi lềnh bềnh nhƣ những thây ngƣời bị xử trảm trong tiếng rú man dại của các cung nữ trong cơn quằn quại trƣớc khi linh hồn về với cựu hoàng. Nối dài những tiếng gào thét, các đôi công, trĩ, uyên ƣơng bị trói chân trên nóc giàn thiêu cũng đồng loạt bật lên những tiếng xé ruột” [20, tr.37]. Còn số phận của Pạng (Chuỗi người đi trong đầm lầy) vừa bất hạnh vừa đáng thƣơng. Cái chết của Pạng gieo vào lòng ngƣời đọc nhiều dấu hỏi không có lời giải đáp. Bởi trong xã hội ngày nay, không ít ngƣời bị rơi vào bi kịch tha hoá nhƣng con đƣờng trở về làm kiếp ngƣời liệu có rộng mở? Nhƣ Chí Phèo trong tác phẩm của Nam Cao phải tìm đến cái chết vì xã hội không dung nạp những con ngƣời bị coi là Quỷ dữ nhƣ Chí. Số phận của Từ Vinh - cha Từ lộ khiến độc giả ám ảnh. Sau cái chết của ông, dòng họ Từ cũng rơi vào thảm kịch. Từ Vinh phu nhân chết, gia sản bị tịch thu, Từ Lộ phải chốn chạy sự truy sát của kẻ thù. Đây cũng chính là bi kịch chung cho những vị quan thanh liêm trong xã hội phong kiến xƣa kia. Dạng biểu hiện thứ tƣ của loại nhân vật trên là kì ảo ở các chi tiết nghệ thuật đắt giá. Trong hệ thống các nhân vật có yếu tố kì ảo, đi liền với việc xây dựng chân dung, ngoại hình, số phận nhân vật, ta còn thấy xuất hiện nhiều chi tiết nghệ thuật đắt giá gắn với yếu tố kì ảo, các chi tiết nghệ thuật này là “chất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 51. 49 liệu” để xây dựng nên các nhân vật kì ảo, tình huống kì ảo trong tác phẩm. Thông thƣờng, một tác phẩm đƣợc coi là thành công khi tạo ra đƣợc sự hấp dẫn, thu hút đối với ngƣời đọc. Mà một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm nên thành công đó chính là các nhân vật cùng những diễn biến tâm lý, đời sống nội tâm và những mối quan hệ phức tạp. Việc tìm ra các chi tiết nghệ thuật đắt giá (hay các sự kiện đắt giá) sẽ góp phần định giá tác phẩm và định giá tài năng của tác giả. Thứ nhất là những chi tiết có liên quan đến yếu tố tâm linh hay điềm báo. Trong thế giới tâm hồn của ngƣời phƣơng Đông xƣa, sự giao tiếp giữa cõi trần và những cõi khác hầu nhƣ không bị giới hạn. Còn với tƣ duy của con ngƣời hiện đại thì khả năng linh cảm gắn với một ý thức khác về thế giới: sự bí ẩn vô cùng của tự nhiên và năng lực cảm nhận bằng trực giác của con ngƣời trƣớc những hiện tƣợng bí ẩn không lý giải đƣợc. Từ góc độ khoa học, điều này gắn liền với cái gì đó siêu hình, nó có thể có hay không chƣa ai dám khẳng định. Nhƣng nghệ thuật lại nhìn nó từ góc độ khác, lấy cái ảo để chủ quan hoá đối tƣợng nhận thức. Những tình tiết của các câu chuyện có thể do nhà văn sáng tạo ra hoặc tái tạo lại từ những chuyện dân gian, những lời đồn... nhƣng nó chứa đựng một niềm tin sâu xa vào những bí ẩn cùng tận trong tâm hồn con ngƣời. Một trong số đó là chi tiết ngƣời chết hiện hồn báo ứng cho ngƣời sống, đây là môtip quen thuộc thƣờng thấy trong văn học cổ Trung đại. Khi Thuý Kiều đi tảo mộ ngày xuân, bên nấm mồ vô chủ, nghe kể về cuộc đời bất hạnh của Đạm Tiên, nàng đã nhỏ nƣớc mắt khóc than cho số phận hẩm hiu của ngƣời kĩ nữ khiến hồn Đạm Tiên xúc động trở về trong cơn gió thổi “ào ào”. Trong Giàn thiêu, Võ Thị Hảo đã sử dụng chi tiết lạ hoá nhằm tạo sự bí ẩn và hấp dẫn cho tác phẩm. Trƣớc hết là chi tiết ngƣời cha của Từ Lộ đã hai lần hiển linh báo ứng cho chàng. Lần đầu tiên, khi cha chàng vừa bị giết, xác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 52. 50 còn chƣa tìm thấy, trong nhà đã có một sự việc kì lạ xảy ra nhƣ điềm báo trƣớc về một điều kinh hoàng xắp đến: “Một cơn gió lạnh buốt thổi thốc vào nhà. Từ Lộ sởn da gà. Ba nén hƣơng vừa thắp bỗng bùng cháy nhƣ ba cây đuốc nhỏ. Chiếc lƣ đồng cổ kính thoắt đen xám lại nhƣ một lời nguyền”. Sau đó Từ đã nhìn thấy những cảnh tƣợng hãi hùng về cha: “Khuôn mặt đẫm máu, đôi tròng mắt lồi ra khỏi hốc” [20, tr.71]. Từ bàng hoàng sợ hãi và lao ra bờ sông Tô nhƣ có ngƣời chỉ đƣờng mách lối. Tại đây, tất cả những gì hiện ra trƣớc mắt cũng chính là điều chàng vừa nhìn thấy. Lần thứ hai khi Từ đi tìm Đại Điên và bắt gặp hắn trong đêm hội Quý Vũ. Từ định giơ gậy trúc bổ xuống đầu Đại Điên, nhƣng kì lạ thay, trên không trung nhƣ có một bàn tay vô hình giữ đầu gậy lại và vang lên tiếng nói của cha chàng: “chớ!...chớ! giết hổ phải cần hùng...”. Dƣờng nhƣ linh hồn ngƣời cha đang ẩn hiện quanh đây và ngăn hành động của Từ khi chàng chƣa đủ sức mạnh để đánh lại kẻ thù. Lần tiếp theo, khả năng “thần giao cách cảm” lại đến với Từ khi chàng đƣợc gặp đại sƣ Tzu. Nghe xong lời giáo huấn của đại sƣ, Từ thấy mình đang ở một thế giới khác - thế giới của trung gian giữa địa ngục và dƣơng thế. Chàng nhìn thấy mẹ chàng mặc áo cƣới, bờ bên này xác cha chàng vẫn trôi ngƣợc trên sông, bên kia sông là đức Bồ Tát mỉm cƣời đón chàng. Chi tiết nghệ thuật này có ý nghĩa quan trọng vì nó là sợi dây cuối cùng ràng buộc lí trí Từ. Chàng quyết từ bỏ tất cả “đạp con thuyền trôi xa” để nung nấu một quyết tâm duy nhất - trả thù. Kể cả lúc trở thành đức vua Thần Tông, Từ Lộ vẫn luôn sống với những kí ức nhạt nhoà trong quá khứ: “Con đƣờng nào tít tắp xa trƣớc mắt chợt hiện? Mọc đầy lá tai mèo màu tím. Cái ánh sáng nhàn nhạt này không rõ của ngày hay đêm. Mà văng vẳng tiếng lục lạc rung từ đầu tích trƣợng của tỳ kheo. Ngƣời đàn ông gầy guộc đeo tay nải, tay cầm bát gỗ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 53. 51 khất thực trên đƣờng thiên lý” [20, tr.269]. Chỉ đến khi uống sữa của ngƣời đàn bà có khuôn mặt nhọn nhƣ dã nhân với ba sợi lông trên đầu vú mới khiến Từ nguôi ngoai nỗi khát thèm. Chi tiết này gợi nhớ đến ân nhân đã cứu sống chàng thủa trƣớc. Ta cảm giác Từ nhớ đến Dã Nhân vừa nhƣ một ngƣời mẹ, vừa nhƣ một ngƣời tình. Loại chi tiết nghệ thuật thứ hai có chứa đựng yếu tố kì ảo là những chi tiết đƣợc lặp lại nhiều lần và mang đậm dấu ấn hoang đƣờng, siêu thực. Đó là hình ảnh chiếc rốn màu chu sa của Ngạn La ẩn dấu gƣơng mặt của tiên hoàng. Chiếc rốn đƣợc tác giả nhắc đến mƣời một lần nhƣ một sự nhấn mạnh giá trị của ngƣời cung nữ này. Trong đó hai lần Thần Tông định ghé môi hôn lên chiếc rốn thì cả hai lần đều xuất hiện gƣơng mặt của hoàng đế Nhân Tông. Khi là một gƣơng mặt ma quái, khi lại là một gƣơng mặt đẹp bị biến dạng. Tất cả nhằm thể hiện một điều: nàng là vật sở hữu mãi mãi của tiên hoàng. Đoạn cuối tác phẩm, một lần nữa hình ảnh chiếc rốn chu sa lại đƣợc xuất hiện. Nhƣng khác hai lần trƣớc, lần này ẩn hiện trong đó là gƣơng mặt của hai vị vua đã băng hà: Nhân Tông và Thần Tông. Chi tiết lạ hoá này tạo nên sự tò mò nơi độc giả, đòi hỏi tự mỗi ngƣời sẽ có cách giải mã cho riêng mình. Chi tiết vua Thần Tông hoá hổ cũng là một chi tiết đắt giá mang đậm tính phi thƣờng hoá trong tác phẩm. Sau khi đƣợc Minh Không cứu chữa bằng cách đƣa ra các vật tuỳ thân của đại sƣ Từ Lộ (mảnh gƣơng đồng, cây sáo trúc, đầu lâu Dã Nhân), đức vua dần nhớ lại tiền kiếp. Nhƣng ngƣời thực sự đánh thức vua lại chính là sƣ bà Nhuệ Anh. Tác giả Giàn thiêu muốn vai trò tẩy rửa thuộc về nƣớc mắt cố nhân - điều này cho thấy xu hƣớng nữ quyền không che giấu của nhà văn: “Những giọt nƣớc mắt của bà tƣới lên ngƣời đức vua. Vua run rẩy. Và kì lạ, nƣớc mắt chảy đến đâu, những đám lông vằn vện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 54. 52 tuột ra từng đám, rồi lột hết, lộ ra thân mình của đức vua với nƣớc da trắng xanh, thƣ sinh nho nhã...” [20, tr.463]. Gột bỏ lông do bệnh tật, hình hài ông vua trẻ trở nên giống với chàng Từ Lộ của dăm chục năm trƣớc. Thời điểm chữa bệnh cũng là thời điểm phê phán, cả Minh Không đại sƣ và sƣ bà Nhuệ Anh đều lên tiếng trƣớc những lỗi lầm và tham vọng của Thần Tông. Sƣ bà mỉa mai khi Thần Tông biện minh cho những tham vọng của mình: “Khi đã ngự trên ngai vàng, điều duy nhất mà ông vua đó làm đƣợc là thả sức cho những kẻ công thần tung tác, kiêu ngạo, sống phè phỡn trên xƣơng máu và mồ hôi dân lành, tiếng oan dậy đất mà chẳng thấu tới cửu trùng...” [20, tr.467]. Còn Minh Không đại sƣ thì thất vọng nhận ra trong Dƣơng Hoán Thần Tông không còn nữa một Từ Lộ tốt đẹp ngày xƣa, đại sƣ đã phải thốt lên “Đạo Hạnh đại sƣ không thể dứt nổi giấc mộng hoàng lƣơng này”. Chi tiết Từ trò chuyện với những hồn ma trong rừng rậm quanh miếu thổ thần mang đậm màu sắc kì lạ. Đây hoàn toàn là chi tiết lạ hoá do nhà văn tƣởng tƣợng ra nhƣng nó lại là tiếng kêu đau đớn của bao kiếp ngƣời bé nhỏ. Hồn những goá phụ xoã tóc cắp con bên nách, những hài nhi chết yểu vì tên bay đạn lạc, hồn những chiến binh ra trận sớm phanh thây ngoài trận mạc... mỗi một hồn ma đều mang theo mình một lá đơn đòi quyền sống, đòi công lí trả lời cho những oan uổng mà ở cõi trần họ phải chịu đựng. Chi tiết này thể hiện sự giao cảm, đồng điệu của một trái tim nhân ái và lòng thƣơng cảm xót xa cho thân phận những con ngƣời bị vùi dập. Một trong những chi tiết nghệ thuật đƣợc nhà văn tập trung miêu tả ở hầu hết các nhân vật là đôi mắt. Thông qua những đôi mắt ta có thể thấy rõ tính cách, hành động của các nhân vật. Tần số xuất hiện và đặc điểm của đôi mắt ở các nhân vật đƣợc thể hiện rõ qua bảng khảo sát sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 55. 53 Bảng 2.1. Khảo sát hình ảnh đôi mắt mang ý nghĩa tƣợng trƣng cho đời sống nội tâm nhân vật Nhân vật Từ Lộ Thần Tông Tần số xuất hiện 15 Đặc điểm Ý nghĩa biểu tƣợng Cặp mắt sáng Trí thông minh, cƣơng trực và tƣợng chói cháy rực trƣng cho sức mạnh quyền lực. Mắt lá đào với Sự yếu đuối, mỏng manh và dự báo Nhuệ Anh 15 đôi mày màu một số phận đa đoan nhiều éo le, khói nhạt Ngạn La 9 trắc trở Mắt mèo hoang Vẻ hoang dại, ngây thơ, trong sáng Đôi mắt bò non Chứa đựng mâu thuẫn ngay trong Pạng một tâm hồn, giữa một trái tim 4 ngƣời nhƣng mang bản năng vật Lý Trác 4 Đại Điên 5 Cá Bơn 6 Dã Nhân 4 Con mắt độc Sự độc ác, ham hố quyền lực nhỡn sắc lạnh Cặp mắt cọp đói Sự tàn nhẫn, lạnh lùng, không chút đỏ ngầu nhân tính Đôi mắt to tròn Một tâm hồn trong sáng, thánh thiện không chớp Cặp mắt tròn Tình yêu thƣơng của một ngƣời mẹ, lớn màu hoe nâu vừa nhƣ một ngƣời tình. Môtip đôi mắt vừa biểu hiện tính cách vừa biểu hiện số phận nhân vật (nhƣ một sự dự báo). Sở dĩ chúng tôi xếp hình ảnh đôi mắt của cả loại nhân vật kì ảo và nhân vật có yếu tố kì ảo trong cùng một bảng nhằm tạo sự đối chiếu, so sánh để tìm ra điểm khác biệt giữa hai loại nhân vật này. Qua đôi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 56. 54 mắt, những nhân vật có yếu tố kì ảo nhƣ Từ Lộ, Nhuệ Anh... vẫn ít nhiều mang những đặc điểm về tính cách, suy nghĩ và đời sống nội tâm giống con ngƣời. Còn những nhân vật kì ảo nhƣ Đại Điên, Dã Nhân... lại đƣợc tác giả xây dựng trên góc độ những “phi nhân” với tính cách và số phận đặc trƣng hoàn toàn khác thƣờng, đậm đặc chất kì ảo. Trong văn học Việt Nam, có nhiều câu chuyện kể về những trƣờng hợp đầu thai hoá kiếp. Khi kiếp này làm quá nhiều điều ác thì khi chết đi sẽ phải sống ở kiếp vật (Lý Thông thành bọ hung, tên giám đốc biến thành Dê trong Món tái Dê ), hay kiếp quỷ (ngƣời thành ma trong Cả một dây theo nhau đi) và ngƣợc lại, ngƣời tốt lại đƣợc sống hạnh phúc ở kiếp sau (Vũ Nƣơng trong Truyền Kì mạn lục). Vận dụng những tình tiết đó kết hợp với chi tiết có thực đƣợc ghi trong chính sử về việc vua Thần Tông sống ở hai kiếp, Võ Thị Hảo đã sáng tạo thêm cho tác phẩm của mình bằng cách đƣa vào đó ánh sáng của sự hoang đƣờng khiến cốt truyện trở nên lôi cuốn, hấp dẫn và mang giá trị phê phán, giễu nhại. Thực chất của việc Thiền Sƣ Từ Đạo Hạnh viên tịch chính là để đầu thai làm con Sùng Hiền Hầu. Sau khi thuyết giảng đạo lí và nói những lời trăng trối cuối cùng với các đệ tử, Từ Đạo Hạnh vào hang núi Phật Tích để đi về cõi Niết bàn: “Lời kệ cuối cùng vừa dứt, hồn của đại sƣ cũng thoát ra khỏi thóp đầu và hai bên nách thành một luồng khí xanh lẹt khoáng đạt, không đến trời cũng không đến phật, lãng quên mọi duyên kiếp vùn vụt lên nóc hang” [20, tr.452 - 453]. Những tƣởng từ đây sẽ kết thúc một kiếp ngƣời nhƣng hồn Từ không về nơi cực lạc mà vẫn lƣu lạc chốn trần gian. Kết thúc kiếp sống tu đạo cũng là lúc bắt đầu kiếp sống hƣởng lạc. Một loại chi tiết kì ảo nữa xuất hiện trong tác phẩm, đó là chi tiết cuốn sách của nữ sĩ Lê Thị Đoan bị đem ra xử tử. Nhà văn đã sử dụng cái nhìn lạ hoá để miêu tả buổi tử hình kì lạ: “Đoàn quân đi vòng quanh, dùng những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 57. 55 thuốn sắt nung đỏ đâm nát từng trang sách rồi đem thiêu trên miệng hoả lò. Bìa sách thì quẳng vào vạc dầu”. Một cuốn sách nói lên sự thật, tố cáo bè lũ quan lại tham lam hống hách, bênh vực cho những ngƣời dân nghèo khổ lại trở thành “tử từ đặc biệt”. Nhƣng con trai tác giả trƣớc lúc bị mổ bụng vẫn lên tiếng “cảm ơn” các quan đã làm thủ tục cho sự bất tử của cuốn sách và tên tuổi mẹ mình vì “những cuốn sách bị đốt là những cuốn sách đƣợc phong thần” [20, tr.526]. Dù cuốn sách bị thiêu, Lê Đan bị giết thì tên tuổi của nữ sĩ Lê Thị Đoan sẽ không bao giờ chìm vào quên lãng. Những trang sách bị đốt thành tàn than rơi xuống sông đã kết lại thành những dòng chữ. Bao ngƣời dân đã lội xuống sông uống nƣớc, uống chữ vào tim cật. Chi tiết này mang tƣ tƣởng đề cao thiên tính nữ của nhà văn và thể hiện sự lên án đối với xã hội phong kiến đƣơng thời, đồng thời là lời khẳng định sự bất tử của tác phẩm văn học chân chính trƣớc cƣờng quyền bạo ngƣợc. Trong Dệt cỏ, chi tiết ngôi mộ Ả Tuynh xuất hiện bốn lần nhƣ một minh chứng về nỗi bất hạnh đớn cùng của một kiếp ngƣời. Đời Ả Tuynh chƣa bao giờ sung sƣớng mà toàn khổ đau cho đến tận lúc chết. Ngôi mộ dành cho ả thật tội nghiệp, cô đơn, bé nhỏ và lụp xụp. Dƣới ngôi mộ ấy vẫn ngo nghoe những con đỉa chực hút máu ả. Hình ảnh đám rễ cỏ bò ra nhƣ chiếc áo rách phủ lên mộ Ả Tuynh khiến ngƣời đọc ám ảnh, khi sống ả không có lấy một tấm áo lành, đến cả lúc chết, ả vẫn phải mặc chiếc áo cỏ rách nát. Qua đó, nhà văn bộc lộ niềm xót xa, thƣơng cảm cho những số phận bé nhỏ trong cuộc đời. Dạng biểu hiện thứ năm là hành động kì ảo đƣợc miêu tả qua những chi tiết phi thƣờng hoá. Trong Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm có rất nhiều hành động diễn ra mang màu sắc kì lạ. Đó có thể là hành động của những con ngƣời bình thƣờng đƣợc trộn hoà yếu tố kì ảo, cũng có khi bản thân hành động đó đã chứa đựng sự kì ảo. Thông qua các hành động đó, nhà văn gửi gắm thông điệp nghệ thuật của mình và tạo đƣợc sự liền mạch, hấp dẫn cho cốt truyện. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 58. 56 Hai lần Từ Lộ tìm giết Đại Điên gắn với hai hành động kì ảo. Lần thứ nhất trƣớc cửa rừng Quý Vũ, Từ đã định giơ gậy trúc bổ xuống đầu Đại Điên - đây là hành động hiện thực vì hành động này xuất phát từ lòng căm hận đang ngùn ngụt cháy trong tim Từ. Nhƣng đan xen vào đó là hai hành động khác mang đậm sự kì lạ, phi thƣờng: một bàn tay vô hình đã giữ đầu gậy khiến “cây gậy trúc nhƣ tự quay đầu lại và thoắt cái lại trở về nằm gọn trong tay Từ Lộ”. Nhƣ vậy tỉ lệ giữa hành động thực và ảo ở đây là 1 - 2. Khi Tăng đô án Từ Vinh bị giết, xác ông lừng lững trôi trên sông tiến thẳng đến cổng nhà Diên Thành Hầu. Đến nơi cái xác bỗng dựng đứng dậy, cánh tay cứng đờ giơ cao trực chỉ nhà kẻ thù, máu tƣơi trong hai hốc mắt chảy ra chan đỏ nƣớc sông. Đây là hành động kì ảo hoàn toàn bởi ngƣời đã chết không thể có những hành động đó đƣợc. Hành động hồn Từ Đạo Hạnh dồn đuổi hồn Đại Điên ra khỏi bụng của Sùng Hiền Hầu phu nhân cũng chứa đậm màu sắc kì ảo: “Ngay lúc đó, một luồng khí vàng đục bị luồng khí xanh dồn đuổi đã bay vụt ra khỏi lƣỡi đứa trẻ, ra khỏi bụng của Sùng phu nhân”. Hành động này chỉ có thể là sản phẩm sáng tạo và hƣ cấu hoàn toàn của nhà văn. Mục đích là khẳng định kẻ mạnh hơn sẽ chiến thắng. Trong giàn thiêu cuối cũng xuất hiện hai hành động đan cài. Hành động thực của Ngạn La và hành động kì ảo của mẹ nàng. Ngạn La cầm dao đâm trúng tim. Ngay lúc đó một sự việc kì lạ xuất hiện trƣớc mặt Lý Trác và đám triều thần. Ngƣời mẹ trẻ xuất hiện, cầm dao rạch mổ bụng đón gọn thân thể Ngạn La vào trong. Đọc chi tiết này ngƣời đọc sẽ nghi vấn và đặt câu hỏi: có chăng sự xuất hiện của ngƣời mẹ? Và Ngạn La còn sống hay đã chết? Võ Thị Hảo miêu tả hành động này không để trả lời những câu hỏi đó mà nhà văn muốn bày tỏ lòng thƣơng cảm với ngƣời con gái phải chịu quá nhiều nỗi oan khiên trong cuộc đời đồng thời cũng khẳng định, những gì đẹp đẽ nhất, trong sáng nhất sẽ tồn tại vĩnh cửu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 59. 57 2.2.2. Nhân vật kì ảo Khác với nhân vật có yếu tố kì ảo, nhân vật kì ảo bị “ảo hoá” hoàn toàn từ xuất thân đến ngoại hình, hành động, yếu tố kì ảo có sẵn ngay trong bản chất của nhân vật, không phải do bên ngoài đem lại. Đây là những nhân vật “phi nhân” hoặc “bán nhân”. Xây dựng nên những con ngƣời kì ảo, nhà văn muốn dẫn dắt ngƣời đọc theo mạch chảy của tác phẩm, tạo ra không khí kì lạ thậm chí ma quái nhƣng vẫn cuốn hút ngƣời đọc. Trong Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm loại nhân vật này thể hiện tập trung ở các kiểu nhân vật: nửa ngƣời nửa thần (Đại sƣ Tzu, Thập Quang đại sƣ), nửa ngƣời nửa quỷ (Đại Điên), nửa ngƣời nửa vật (Dã Nhân, Cá Bơn), nhân vật siêu thực (Tƣớng quân cụt đầu, con Bƣớm ma, đàn bò biết bay). Sở dĩ chúng tôi xếp cả những con vật vào cùng một hệ thống trên bởi chúng đóng vai trò quan trọng nhƣ một mắt xích, một nhân tố thúc đẩy sự tiến triển của cốt truyện và là một loại nhân vật đặc biệt khác thƣờng đậm sắc mầu kì ảo. Qua đó nhà văn gửi gắm những vấn đề nhân sinh hay lẽ sống ở đời. Tìm hiểu những nhân vật này, ta thấy bóng dáng của truyện cổ tích thần kì, truyện ngụ ngôn hay truyền thuyết. Cũng nhƣ nhân vật có yếu tố kì ảo, nhân vật kì ảo đƣợc biểu hiện cụ thể trong các tác phẩm qua những phƣơng diện sau. Dạng biểu hiện đầu tiên là kì ảo ở hoàn cảnh xuất thân. Trong số những nhân vật kì ảo trên, một số đã đƣợc ảo hoá về hoàn cảnh xuất thân. Trƣớc hết là xuất thân kì lạ của chàng Cá Bơn. Cá Bơn mồ côi mẹ khi mới đƣợc ba tháng tuổi. Cậu bé lớn lên nhờ những bát nƣớc cốt chắt ra từ những con cá luộc và sớm quen với tiếng thác đổ trên sông Gâm. Càng lớn trông cậu càng giống một con cá. Khi bị ngƣời dì ghẻ quẳng xuống thác Oán, Cá Bơn không chết mà đƣợc một con cá khổng lồ cứu sống. Cũng từ đó, cuộc sống của cậu gắn bó với dòng sông và trên lƣng luôn có một bộ xƣơng cá mà cậu tôn thờ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 60. 58 Trong Đêm Bướm ma sự xuất hiện của con Bƣớm ma cũng khác lạ không kém. Thuận đã trông thấy nó nằm xoã cánh im lìm bên bậc thềm gần lối đi, ngay lúc đó trong Thuận đã hình thành một thứ cảm xúc khó tả. Phải chăng con Bƣớm chính là hiện thân của những cung nữ từng ngụ tại biệt điện rêu phong này? Hay là hiện thân của những khao khát cháy bỏng trong tim Thuận? Rất nhiều câu hỏi và sự nghi vấn đƣợc đặt ra. Song dù con Bƣớm ma có là gì chăng nữa thì vẻ hoang dại của nó cũng khiến ngƣời đọc phải ớn lạnh và sửng sốt. Các nhân vật kì ảo còn đƣợc tác giả chú tâm miêu tả ở ngoại hình. Ta từng bắt gặp loại nhân vật đội lốt vật hay có hình dạng quái dị nhƣng tâm hồn lại vô cùng cao đẹp trong các truyện cổ tích, truyện thần kì: chàng Sọ Dừa xấu xí, dị dạng đã lấy đƣợc cô vợ hiền lành ngoan ngoãn; nàng công chúa Ếch chỉ trở thành ngƣời khi có đƣợc nụ hôn của hoàng tử... Nhƣng những nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo không xây dựng đơn giản theo một môtip sẵn có nhƣ vậy, trái lại, rất nhiều nhân vật có sự đa diện, phức hợp, không chỉ kì ảo ở hình dạng mà còn méo mó cả tâm hồn, nhân tính. Xây dựng nên loại nhân vật ấy, nhà văn muốn đi sâu vào thế giới bí ẩn, có cả phần sáng và tối trong mỗi con ngƣời. Tiêu biểu cho kiểu loại này là Đại Điên. Đại Điên là nhân vật kì dị hoàn toàn đƣợc tác giả miêu tả qua rất nhiều chi tiết quái gở và lạ hoá. Vốn không đƣợc miêu tả về nguồn gốc xuất thân, hắn chỉ xuất hiện trong tác phẩm với tƣ cách là một kẻ giết thuê, tay sai của Diên Thành Hầu. Đại Điên có phép thuật nhƣng hắn lại không dùng phép đƣợc học để làm việc thiện mà dùng nó làm công cụ giết ngƣời. Dƣới ngòi bút của nhà văn, hình dáng Đại Điên hiện ra thật dị dạng nhƣ một con thú dữ dằn và độc ác: “Pháp sƣ khoảng trên năm mƣơi tuổi, vóc ngƣời mập mạp, dƣới hai vành lông mày rậm rạp, đôi mắt nửa khép nửa mở. Khi khép nhƣ mắt mèo ngái ngủ. Khi mở thì trừng trừng dữ dội nhƣ mắt cọp. Tròng con ngƣơi thoáng ánh đỏ” [20, tr.74]. Và những vật dụng luôn mang bên mình hắn cũng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 61. 59 kì dị không kém: một quả bầu khô vẽ hình bát quái cùng cây thiền trƣợng tạc hình con mãng xà hai đầu há miệng đỏ lòm. Ngoài những đặc điểm trên hắn còn gây cảm giác ghê sợ ở “đôi bàn tay gấu, to, thô rám, ngón tay sần sùi với những chiếc lông thô cứng nhƣ lông lợn lòi cùng cặp môi dầy thƣỡn ra ƣớt đẫm nhục dục”. Với thủ pháp vật hoá và biện pháp nghệ thuật so sánh, nhà văn đã sáng tạo nên chân dung một tên sát nhân, một kẻ dâm dục đáng sợ nhƣ thú vật. Có thể nói đây là nhân vật bị vật hoá, quỷ hoá nhiều nhất trong tác phẩm. Ngƣời đọc không hề thấy chút bóng dáng của lƣơng tri hay tính thiện trong hắn. Đại Điên gợi cho ta liên tƣởng đến những con quỷ dữ đêm đêm đi hút máu ngƣời nhƣ bá tƣớc Draucula trong Truyện kì ảo thế giới. Đối lập với Đại Điên, Cá Bơn hiện lên với vẻ ngoài đáng yêu và đƣợc coi là “ngƣời đàn ông biết yêu nhất trong văn học Việt Nam” (theo cách gọi của Võ Thị Hảo). Với thân hình “dài nhƣ con cá Bơn khổng lồ”, trên khuôn mặt là “nƣớc da trắng bạc. Dƣới ánh lửa trông làn da sáng lên lấp lánh nhƣ vẩy cá. Đôi con mắt to tròn không chớp. Cái miệng sầu thảm, đôi khoé môi trễ xuống nhƣ miệng cá. Mớ tóc rối tung loả toả xuống đôi vai mảnh che một phần cái cổ dài” [20, tr.322]. Chàng Cá Bơn không tuổi nhƣng “gƣơng mặt không một nếp nhăn”, chàng có bàn tay lạnh nhƣ thân mình một con cá. Ngay cả khi chết đi, chàng cũng chết trong hình hài một con cá. Vẫn đôi mắt to tròn không chớp nhƣng đã không còn sức sống, vẫn cõng trên lƣng bộ xƣơng cá khổng lồ... và vẫn một tình yêu tha thiết với Nhuệ Anh. Chàng Cá Bơn giống nhƣ một thiên thần lạc loài nơi trần thế, là kết tinh của những gì đẹp đẽ và thuần khiết nhất. Nhân vật Cún trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp cũng có nhiều nét giống Cá Bơn. Cún cũng mang một hình thù kì dị ngay từ lúc mới sinh. Nhƣng khác Cá Bơn, vƣợt lên hoàn cảnh và số phận nghiệt ngã, Cún có đƣợc một niềm hạnh phúc ở những giây cuối cuộc đời: làm cha. Cún chết nhƣng gƣơng mặt vẫn sáng lên niềm khát khao đƣợc sống nhƣ một con ngƣời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 62. 60 Bên cạnh Cá Bơn, Dã Nhân cũng là một nhân vật vô cùng đáng yêu và đáng trân trọng. Mang hình thù một con thú nhƣng lại có trái tim của một con ngƣời, Dã Nhân không gây cảm giác khiếp sợ cho ngƣời đọc mà trái lại, đây là nhân vật đáng đựơc yêu mến. Dã Nhân hiện ra với ngoại hình thật kì lạ: “Đôi núm vú đen và một khuôn ngực lông lá”, “đôi tay rậm rịt cũng đầy lông hung hung” cùng “một cặp mắt tròn lớn màu hoe nâu, không lông mày... một cái mũi tẹt dán sát cái miệng bẹt đầy lông lá của loài Dã Nhân” [20, tr.358 - 359]. Ngay cả khi ăn quả độc chết, Dã Nhân hiện lên thật đáng thƣơng: “Khuôn mặt ghồ ghề dại đờ đẫn, cặp môi thô nứt nẻ, hai bên mép tím nhợt sùi ra những dòng bọt đục trắng... bàn tay năm ngón dài, mu bàn tay đầy lông, lòng tay đỏ nhợt huơ huơ run rẩy nhƣ muốn nài nỉ van xin điều gì...” [20, tr.367]. Dƣới ngòi bút tinh tế của nhà văn, ta cảm giác nhƣ đang đƣợc chứng kiến một truyền thuyết xa xƣa về việc vật cứu ngƣời trong những thiên cổ tích. Với thủ pháp nhân hoá, Võ Thị Hảo đã mang đến cho không khí của tác phẩm ánh sáng mới - ánh sáng của tình yêu thƣơng đồng loại. Đại sƣ Tzu và Thập Quang đại sƣ đƣợc miêu tả nhƣ những vị thần có phép thuật và đƣợc mọi ngƣời nể trọng. Cả hai nhân vật này đều giống nhau ở một điểm: tƣợng trƣng cho sức mạnh của cái thiện, thần thái uy nghi nhƣng lại rất đỗi nhân từ và hiền hậu. Đại sƣ Tzu sau mƣời hai năm khổ luyện giam mình trong mật thất, ngài đã học đƣợc phép “lung - gom” vƣợt lên cái chết bằng cách từ bỏ chính mình. Điểm đặc biệt ở đại sƣ Tzu là đôi mắt tuy mù loà nhƣng lại phát ra thần quang, đôi mắt có thể nhìn thấu tâm can con ngƣời, hiểu rõ những uẩn khúc trong tim ngƣời khác. Còn Thập Quang đại sƣ giống nhƣ một ông bụt hiện diện giữa đời thƣờng với những đặc điểm khác thƣờng “dái tai rủ chấm vai, mắt lộ môi dầy, cầm vuông trán đứng, vóc ngƣời cao lớn”. Ta thấy hai nhân vật này giống các vị thần hay Tiên Bụt ở chỗ giúp thiện chống ác. Hầu hết các bà Tiên, ông Bụt đều xuất hiện khi nhân vật đang gặp khó khăn, hoạn nạn và giúp họ có sức mạnh để chiến thắng cái ác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 63. 61 Không phải là loài vật mang tâm hồn của con ngƣời nhƣ Dã Nhân, cũng không đƣợc ca ngợi giống những vị thần nhƣ đại sƣ Tzu và Thập Quang đại sƣ, con Bƣớm ma trong Đêm bướm ma hiện lên trong ánh hoàng hôn buổi chiều tà nơi biệt điện rêu phong khiến ta nhƣ lạc vào một thế giới đầy màu sắc cổ kính và hoang sơ với vẻ ngoài lạ thƣờng: “To cỡ bàn tay, đôi cánh đen điểm vằn nâu và xanh biếc của nó xoã im lìm trên bậc thềm mé lối đi”. Càng khác thƣờng hơn khi Thuận tỉnh giấc vào nửa đêm và thấy con Bƣớm đang nhìn mình. Phải chăng đây là cái nhìn của một con ngƣời trƣớc một con ngƣời? Hay chính biệt điện rêu phong, hoàng cung, hồn ma lạnh lẽo của các cung nữ thủa xƣa cứ bảng lảng trong không gian sống củaThuận và dồn tụ lại thành cặp mắt bƣớm ma đang ám ảnh chị? Con bƣớm hiền lành nằm im trên bậu cửa, nhƣng khi gã đàn ông xấu xa xuất hiện, nó bỗng vƣơn mình mạnh mẽ xoải đôi cánh to dị thƣờng trên mặt Thuận, đôi cánh nhƣ cái gì đó dẫn dụ gã đàn ông xuống địa ngục, còn đôi mắt “nhìn chòng chọc” vào hắn. Đây hoàn toàn là những chi tiết lạ hoá mang đậm dấu ấn tƣởng tƣợng của nhà văn. Dƣờng nhƣ chị muốn “giải thiêng” (theo cách nói của Quang Hải) những gì đƣợc gọi là bí ẩn, thiêng liêng. Nhƣng đôi mắt và những vệt phấn đen của cánh bƣớm nhƣ một sự kháng cự vô hình khiến Thuận luôn bị ám ảnh: kháng cự với những dục vọng, ham muốn thấp hèn của bản thân. Đó là sự kháng cự ma quái của lí trí mà con ngƣời nhiều khi không thể vƣợt qua. Bên cạnh loại nhân vật mang những thông điệp hay ý nghĩa nhân sinh ở trên, ta còn bắt gặp trong sáng tác Võ Thị Hảo loại nhân vật kì ảo chứa đựng sự mỉa mai giễu nhại. Đó là đàn bò biết bay trong Người chăn bò thần thánh. Đây là những chú bò rất đẹp với “chiếc sừng đƣợc bọc giấy thiếc lấp lánh, hàng vú bò đƣợc cài nơ...”. Vậy mà chỉ sau một thời gian vào nông trƣờng, đàn bò “Tây” bị biến thành những chú bò gầy yếu, xơ xác, ghẻ lở đầy mình. Bị xẻo thịt, chúng có thể bay lơ lửng trên trời nhƣ quả bóng. Không cần ăn cỏ, không cần uống nƣớc, không cần bài tiết mà chỉ cần thổi khẽ một cái, thế là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 64. 62 tất cả ngoan ngoãn bay ra khỏi chuồng. Ở đây, tác giả đã thể hiện sự mỉa mai, châm biếm thói tham nhũng của một số ngƣời trong xã hội. Điều này vừa mang tính hiện đại, vừa mang tính thời sự trong cuộc sống ngày nay. Cũng nhƣ nhân vật có yếu tố kì ảo, nhân vật kì ảo có số phận khác thƣờng, dị biệt, đầy đáng thƣơng và bất hạnh. Với nhiều cách thể hiện khác nhau nhƣ loại nhân vật mồ côi (Cá Bơn), những thân phận chứa đựng sự mỉa mai (đàn bò biết bay) hay những con ngƣời có số phận không may mắn... tất cả đều mang ánh sáng của sự huyền hoặc ma quái. Nhà văn cảm thông, thƣơng xót cho những thân phận bất hạnh trong cuộc đời và lên tiếng bênh vực, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn những con ngƣời đã hiến dâng cả cuộc đời vì dân tộc. Đó là Tƣớng quân cụt đầu với lòng ham sống thiết tha nhƣng lại phải chịu quá nhiều thiệt thòi. Ngƣời tƣớng ấy cùng đoàn kị binh đã chờ hàng trăm năm dƣới chân cầu chỉ để mỗi năm vào ngày lễ vu lan (lễ tƣởng niệm những vong hồn đã chết) đƣợc sống lại khi đầu liền vào cổ. Nhƣng đã bao năm qua đi, không một ai tin vào điều kì diệu đó nên tất cả những ngƣời tƣớng quân hỏi đều lắc đầu. Bởi những ngƣời đang sống mấy ai muốn ngƣời chết sống lại, họ chỉ biết tƣởng nhớ đến công ơn những chiến binh bằng việc xây tƣợng đài cho họ. Họ đâu hiểu rằng, những ngƣời đã chết luôn khao khát trở về cuộc sống dƣơng gian. Chỉ đến khi gặp cô Câm, điều ƣớc mới trở thành sự thật. Cô Câm có tâm hồn trong sáng và thơ ngây, cô tin vào điều kì diệu, tin vào truyện cổ tích thần tiên. Khi cô bé gật đầu mỉm cƣời trƣớc câu hỏi của tƣớng quân, điều thần kì đã xảy ra: đầu tƣớng quân đã liền vào cổ. Ông ta liền cùng đoàn quân tiến về kinh thành. Bất hạnh thay, kinh thành chật hẹp không đủ chỗ cho ngƣời sống huống chi cả những ngƣời đã chết. Vì vậy tƣớng quân lại buồn bã dẫn đoàn kị binh trở lại chân cầu với một dải lụa trắng ngăn cách đầu và cổ. Những vong hồn không thể trở lại làm ngƣời bởi họ cần lời đáp từ trái tim chứ không phải từ cuống họng. Lồng trong chi tiết rùng rợn, phi lí đầy lạ hoá này là một lời nhắn nhủ thiết Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 65. 63 tha: với những ngƣời đã hi sinh cho hoà bình, tự do của dân tộc, cái chết sinh học không đáng sợ bằng sự lãng quên, thờ ơ, lạnh nhạt của những ngƣời đang sống. Bởi bị lãng quên, họ đã phải chết hai lần. Ngoài những tƣợng đài để ngƣời ta đến nghiêng mình cảm phục, cần biết bao những đài tƣởng niệm đƣợc xây lên từ chính tấm lòng của mỗi con ngƣời. Ngoài những nhân vật có số phận đáng thƣơng đó, chúng tôi còn bắt gặp những chi tiết nghệ thuật mang đậm yếu tố kì ảo. Trƣớc hết là một loạt cái chết đƣợc ảo hoá. Thông qua cái chết của các nhân vật, Võ Thị Hảo muốn khơi gợi những vấn đề thuộc về nhân sinh, thế sự trong cuộc sống. Chết là hết nhƣng đôi khi chết lại là sự bắt đầu của một kiếp sống khác, trong một thế giới khác. Cái chết oan uổng của Dƣơng thái hậu và bảy mƣơi sáu cung nữ đƣợc miêu tả qua những chi tiết lạ hoá và bằng gam màu tối. Điều lạ lùng ở chỗ: họ đã chết, đã thành những bộ xƣơng khô bị gặm hết thịt da, nhƣng khi màn đêm bao phủ không gian thì “những bộ xƣơng cẳng tay cẳng chân, đầu lâu từ từ dựng dậy nối nhau chuyển động xếp lại theo trật tự răm rắp thành hình ngƣời. Từ miệng của những con chuột đang ngủ, một dòng da thịt chảy ra, đắp vào những bộ xƣơng đó”. Không cam chịu nỗi oan nên đêm đêm họ trở về với hình dạng cũ, lên án và kết tội Linh Nhân. Đây chính là lời phán quyết rõ ràng nhất về tội ác mà Ỷ Lan thái hậu đã gây ra. Ngoài sự hiện hình ở kiếp sau của các cung nữ, còn có cái chết mang tính chất ám ảnh của Dã Nhân, vừa giống nhƣ ân nhân, vừa giống nhƣ ngƣời mẹ, đồng thời cũng nhƣ ngƣời tình chung thuỷ của Từ. Một chi tiết nữa đƣợc nhà văn sáng tạo bằng thủ pháp kì ảo hoá, đó là đoạn tả lễ phóng diệm khẩu. Đây là buổi lễ mỗi năm diễn ra một lần để giải thoát cho lũ ngạ quỷ thoát khỏi vạc dầu địa ngục. Sau khi đƣợc giải thoát, chúng có thể tái sinh thành ngƣời ở kiếp khác hoặc bƣớc vào những tịnh độ. Chất truyền thuyết ở đây đƣợc thể hiện qua việc lũ quỷ đƣợc đầu thai chuyển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 66. 64 kiếp dƣới địa ngục. Dựa trên truyền thuyết đó, Võ Thị Hảo đã sáng tạo nên một loạt những chi tiết kì ảo: “Lũ ngạ quỷ chen chúc, chới với tay về phía chàng. Những con quỷ hình thù kì dị trông giống những hình nhân mất tay hoặc bị chém xả vai. Có kẻ miệng đỏ lòm ngoác ra, hai tay xách hai đầu ngƣời máu đỏ ròng ròng rong chơi trên miệng vạc lửa. Kẻ nào kẻ nấy da bụng dán chặt vào xƣơng sống” [20, tr.397]. Sáng tạo nên chi tiết này cũng là một “điểm nối” giữa lịch sử và tiểu thuyết. Bởi đây là dấu ấn mang tính chất bƣớc ngoặt giúp nhân vật chính Từ Lộ đi theo con đƣờng tu đạo. Chỉ sau khi đƣợc nhìn thấy, đƣợc nghe rõ những hình ảnh ghê rợn trên và sau lời giáo huấn của vị cao tăng, Từ chợt thấy lòng bình yên và nhận ra mục đích sống của đời mình. Đó là bƣớc chân vào cõi phật, dành trọn cuộc đời cho việc khuyến dƣỡng hỷ xả, chú tâm chăm lo làm điều thiện. Trong Giàn thiêu còn có một loại chi tiết nghệ thuật đắt giá khác - chi tiết mang tính dự báo. Đó là sự ra đời của những đứa trẻ sau đêm hội Quý Vũ. Chúng đều là con của Đại Điên và mang đặc điểm chung: “Ngay từ lúc lọt lòng mẹ đã có vầng trán dô, đôi mày dài và cặp mắt đỏ nhìn lâu không chớp”. Khi Từ Lộ giết chết Đại Điên, biết đâu một trong số những đứa trẻ đƣợc sinh ra từ đêm hội Chen ấy sau khi lớn lên sẽ tìm giết Từ Lộ để trả thù? Nhƣ vậy, vòng luẩn quẩn của việc báo oán sẽ còn tiếp tục. Và những con ngƣời bị chìm trong vòng xoáy đó không bao giờ đƣợc sống thanh thản, hạnh phúc. Vẫn tiếp nối với thông điệp trên là một chi tiết mang đậm chất hoang đƣờng, kì lạ. Cây gậy khô cong của Từ sau khi cắm vào vách hang đá đã nảy mầm rồi trổ hoa và ra rất nhiều quả đẹp. Nhƣng đó lại là quả độc có thể giết chết bất kì ai. Nó chính là kết quả của lòng thù hận, ham muốn trả thù mãnh liệt. Dù bên ngoài tƣơi ngon quyến rũ song bên trong ẩn chứa bao nhựa đen độc ác. Đây là một chi tiết mang tính biểu tƣợng: lòng hận thù có thể cho ta sức mạnh, nhƣng chính sức mạnh ấy có thể huỷ hoại chính ta và những ngƣời thân yêu của ta (cái chết của Dã Nhân là một minh chứng cho điều đó). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 67. 65 Cùng với những chi tiết kì ảo là một loạt hành động kì ảo diễn ra đậm đặc trong hai tác phẩm. Đó là những hành động mang tính chất dị thƣờng thậm chí bị coi là quái dị đƣợc gắn với phép thuật thần thông của Đại Điên (thôi miên Từ Lộ, niệm bùa chú với những ngƣời dân trong cuộc hành xác...). Ngoài những hành động do phép thuật mang lại trên còn có những hành động đầy màu sắc kì ảo của Minh Không đại sƣ. Ngài đƣợc coi là vị cao tăng nhất nƣớc, chỉ sau một tiếng thét “có thể phi thân lên không trung, tay chạm mặt trời, mặt trăng”, có thể “cầu đảo đƣợc mƣa nắng”... Minh Không là mẫu ngƣời lí tƣởng mang bản chất của kẻ anh hùng mà Võ Thị Hảo ca ngợi. Khi vua Thần Tông hoá hổ, Minh Không đã về chữa trị cho vua bằng nhiều hành động kì lạ: “Ngọn tầm ma cứ quất trong không khí, sát trên đầu vua, mƣời hai chiếc lá bứt khỏi cành, rơi xuống. Lá rơi đụng vào ngƣời Thần Tông. Thần Tông liền lên cơn co giật” [20, tr.344]. Đó còn là những hành động bị vật hoá đƣợc miêu tả qua những chi tiết quái gở của đám ngƣời bị biến chất vì u mê (mà kẻ điều khiển chính là pháp sƣ Đại Điên). Bọn chúng tự lấy thuốn sắt đâm vào má, bò lê trên đất kêu gào nhƣ súc vật, nhặt rắn, rết sống cho vào mồm nhai ngon lành, hay nuốt than hồng đang cháy... Hành động này cũng mang ý nghĩa biểu tƣợng: những đám đông u mê, dốt nát, khi đã bị mê hoặc thì có thể từ con ngƣời trở nên điên cuồng, tăm tối nhƣ loài súc vật. Mà cái ác rất cần sự phục tùng của những đám đông nhƣ thế. Từ những nhân vật trên, ta liên tƣởng đến những ngƣời điên trong Thoạt kì thuỷ. Tuy nhiên loại nhân vật điên của Nguyễn Bình Phƣơng là những con ngƣời bị khiếm khuyết trong tâm hồn, họ đáng thƣơng và có phần đáng yêu. Loại thứ ba là hành động của đàn chuột trong lãnh cung đƣợc ví nhƣ hành động của con ngƣời. Tác giả đã sử dụng chi tiết lạ hoá và thủ pháp phóng đại để miêu tả cụ thể, sinh động cuộc trừng phạt của đàn chuột đối với Ỷ Lan. Chúng biết lao vào cắn xé Linh Nhân, hút máu từ chân bà, gặm thịt da Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 68. 66 bà. Cùng với đó là nỗi căm hờn của các thị nữ đã biến thành một khối sức mạnh khủng khiếp: hàng trăm bàn tay trong suốt đua nhau túm lấy áo kẻ thù, dồn tụ vào đó bao nỗi oan khiên không gì bù đắp đƣợc. Tƣởng tƣợng và sáng tạo nên những chi tiết kì lạ này, nhà văn đã thành công khi tạo đƣợc ấn tƣợng mạnh đối với ngƣời đọc, khiến độc giả sửng sốt, kinh ngạc thậm chí sợ hãi. Qua những phân tích về ngoại hình, số phận, xuất thân, chi tiết nghệ thuật, hành động kì ảo của hai loại nhân vật trên, ta rút ra bảng tổng kết về mức độ sử dụng yếu tố kì ảo ở các nhân vật nhƣ sau: Bảng 2.2. Sự biểu hiện của yếu tố kì ảo qua các nhân vật Ngoại Xuất Chi tiết nghệ thuật Hành hình kì thân kì ảo có liên quan đến động ảo kì ảo nhân vật kì ảo      Ngạn La  +    Nhuệ Anh  - + -  Đại Điên  -    Từ Vinh  -    Ỷ Lan  - -   Cá Bơn     - Dã Nhân  -    Pạng    + + Tƣớng cụt đầu  -    Con Bƣớm ma   -   Đàn bò  -   - Nhân vật Từ Lộ - Thần Tông Số phận kì ảo (Chú giải: + Có yếu tố kì ảo - Không có yếu tố kì ảo (hoặc không đƣợc nhắc đến trong tác phẩm) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 69. 67 Qua bảng trên, ta thấy hầu hết các nhân vật đều có yếu tố kì ảo tuy mức độ đậm nhạt khác nhau, có những nhân vật đƣợc kì ảo hoá ở cấp độ tổng thể nhƣng cũng có nhân vật chỉ kì ảo ở một số chi tiết, bộ phận nào đó. 2.3. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời của Võ Thị Hảo Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 tập trung phản ánh con ngƣời cộng đồng, con ngƣời tập thể, con ngƣời công dân. Tất cả hƣớng về cuộc sống chung, với lẽ sống lớn, tình yêu lớn. Trong văn học giai đoạn này ít có chỗ cho tiếng nói cá nhân mà chỉ có tiếng nói của cả cộng đồng, cả dân tộc. Do đó con ngƣời trong văn học luôn đƣợc ca ngợi một chiều đẹp đẽ và hoàn hảo với nhân vật chính diện (và ngƣợc lại với nhân vật phản diện). Sau 1975, với việc sử dụng đậm nét yếu tố kì ảo trong sáng tác, các nhà văn đã có sự thay đổi trong quan niệm về con ngƣời. Giờ đây con ngƣời đƣợc nhìn nhận trong một thế giới đa chiều với con ngƣời tâm linh, con ngƣời cá nhân trong sự đa đoan của cuộc đời đa tạp: sự hợp lí và phi lí, cái bi với cái hài, tốt và xấu... ngổn ngang những “ngả rẽ” bất ngờ không thể đoán định trƣớc cho số phận con ngƣời. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời của Võ Thị Hảo có nhiều điểm tƣơng đồng với những tác giả cùng thời đại của chị. Nhƣng quan niệm ấy đƣợc biểu hiện qua “lăng kính kì ảo hoá” và có nhiều khám phá riêng rất đặc sắc. Chính bởi sử dụng yếu tố kì ảo trong hai sáng tác kể trên, Võ Thị Hảo có điều kiện soi chiếu số phận con ngƣời trƣớc những bi kịch cuộc đời và trƣớc dục vọng của bản thân. Từ đó nhà văn đúc kết những triết lí nhân sinh có giá trị phổ quát không chỉ đúng với hôm qua, với các nhân vật lịch sử có thật trong quá khứ dân tộc mà còn có giá trị với con ngƣời hôm nay. Đó là những triết lí mang tính nhân văn sâu sắc: cuộc đấu tranh muôn đời giữa thiện và ác của con ngƣời mà không phải bao giờ cái thiện cũng chiến thắng cái ác (Ỷ Lan), lòng hận thù và bạo lực (dù có động cơ chính đáng nhƣ Từ Lộ) vẫn đem lại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 70. 68 những hệ luỵ khổ đau cho mọi ngƣời và cho chính bản thân mình. Để thể hiện cái nhìn mới mẻ về con ngƣời, nhà văn đã để cho các nhân vật trải qua nhiều kiếp, miêu tả tiếng vọng của những oan hồn bị giết hay xoáy sâu vào những chi tiết miêu tả tội ác của nguyên phi Ỷ Lan. Đọc Giàn thiêu, độc giả cảm giác đang đứng trƣớc một thế giới va đập bạo liệt giữa thiện và ác, tốt và xấu, sự bi thảm trớ trêu của số phận con ngƣời. Trong thế giới ấy vang lên những thông điệp về tình yêu và khát vọng tự do; sự trƣờng tồn bất tử của sự thật trƣớc bạo lực và cƣờng quyền; những đau đớn yêu thƣơng và lầm lạc của kiếp ngƣời. Rõ ràng, quyền lực một mặt khiến con ngƣời thể hiện đƣợc tài năng và bản lĩnh nhƣng mặt khác cũng có thể đẩy con ngƣời đến tội ác. Một bộ óc sáng láng đến đâu nếu quá ham mê quyền lực cũng sẽ có những hành động sai lầm và tội lỗi. Hạnh phúc là điều quá mong manh và hiếm hoi trong những va xiết cuộc đời. Tác phẩm là tiếng nói khắc khoải, khát thèm hạnh phúc. Đó là tiếng nói khắc khoải của con ngƣời lịch sử cách đây hàng nghìn năm hay chính là tiếng nói của con ngƣời ở thế kỉ XXI này? Rõ ràng Võ Thị Hảo đã mang vào nhân vật của mình tâm tƣ, ƣớc vọng của con ngƣời đƣơng đại. Giàn thiêu viết về triều đại Lý nhƣng nhà văn lại không chọn viết về những ông vua tài danh nhƣ Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông mà lại tập trung sự chú ý vào một ông vua có vai trò rất mờ nhạt đối với chính sử: Lý Thần Tông. Sở dĩ chọn nhân vật này vì nhà văn muốn tạo ra khoảng cách gần hơn giữa nhân vật lịch sử và ngƣời đọc để từ đó bộc lộ suy nghĩ trƣớc nhiều vấn đề của cuộc sống đƣơng đại. Còn nhân vật Ỷ Lan thái hậu cũng đƣợc miêu tả ở cả hai phƣơng diện: thần thánh và đời thƣờng. Từ hai nhân vật trên, Võ Thị Hảo muốn gửi gắm một thông điệp đến ngƣời đọc: cuộc sống đầy rẫy những bất công đen tối, trong môi trƣờng đó con ngƣời phải biết tự điều chỉnh bản thân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 71. 69 cùng những dục vọng thấp hèn, có nhƣ vậy ta mới tránh đƣợc tự làm điều ác với chính mình và với mọi ngƣời. Trong Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp, cả vua Quang Trung và Gia Long đều trở thành những con ngƣời bình thƣờng với phẩm chất tốt đẹp và cả dục vọng xấu xa. Cả hai đều say mê Ngô Thị Vinh Hoa nhƣng không ai chiếm hữu đƣợc nàng. Sau cùng hai vị vua đều nhận đƣợc từ Vinh Hoa một lời cảnh tỉnh cho những tham vọng về quyền lực và địa vị. Ngoài cái ác trong hành động, còn có cái ác trong tƣ tƣởng, tâm hồn. Điều này thấy rõ trong Dệt cỏ. Thân đã bị dằn vặt bao năm chỉ vì lời hứa hão huyền với Ả Tuynh. Bởi vì vô tình, vô tâm nhiều khi cũng tạo ra tội lỗi. Những nhân vật của Võ Thị Hảo luôn phải đối mặt với những dằn vặt vì lỗi lầm đã qua. Ỷ Lan đau khổ và bị dày vò đêm đêm, Từ Lộ sau khi trả thù xong lại thấy trong lòng trống rỗng. Quá trình gây tội rồi ăn năn hối lỗi của các nhân vật đã kéo họ gần gũi hơn với thực tế cuộc sống. Con ngƣời buộc phải đối diện với chính mình với tƣ cách là một con ngƣời riêng lẻ, không nhân danh ai, không dựa vào ai để biện minh cho lầm lỗi của mình. Với việc sử dụng yếu tố kì ảo, Võ Thị Hảo đã tập trung tô đậm tình cảnh tha hoá sâu sắc của con ngƣời thời đại. Bằng việc hữu hình hoá cái ác qua yếu tố kì ảo, nhà văn đã thể hiện nỗi lo âu khắc khoải về sự suy mòn của nhân tính, đạo lý truyền thống. Điều này thể hiện rõ ở các nhân vật: Đại Điên - độc ác, tàn bạo nhƣ một con thú dữ; Diên Thành Hầu lộng quyền vì thù riêng hãm hại ngƣời vô tội; Lý Trác tham lam xấu xa đến độ giết cả con gái mình; Đô hộ phủ ngục tụng Trần Dĩnh vì lợi ích bản thân mà xử sai án... Giữa lúc giá trị đạo đức bị tấn công từ nhiều phía, ở hiền chƣa chắc gặp lành, con ngƣời tìm đến yếu tố kì ảo để giải thoát bản thân. Đậm đặc trong các sáng tác của Võ Thị Hảo là sự lên án đối với cái ác song sự “cởi nút” nó lại diễn ra khá bất ngờ. Những con ngƣời từng làm điều ác lại bị trừng phạt bởi chính bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 72. 70 thân mình. Phải chăng đây là một sáng tạo từ kiểu kết thúc có hậu vẫn thƣờng thấy trong truyện cổ dân gian mà nhà văn đã vận dụng vào tác phẩm? Tóm lại, việc tiếp cận con ngƣời ở hai chiều tốt, xấu, miêu tả sự dằn lòng bứt phá đầy đau đớn của con ngƣời muốn vƣơn tới những khát vọng chân chính, Võ Thị Hảo đã kéo văn học áp sát hơn với đời sống. Nhƣ cách nói của Hoàng Minh Tƣờng: “Đời sống đƣợc phản ánh một cách gân guốc, sống động, thậm chí không hề né tránh cả những mảng tối nhất. Ngƣời đọc sửng sốt và kinh ngạc, hả hê và phẫn nộ. Thì ra, văn chƣơng không phải chỉ là một thứ trang sức” [55]. Ngoài ra, trong quan niệm về con ngƣời của Võ Thị Hảo còn xuất hiện nhu cầu nhận thức lại thực tại trên các phƣơng diện nhƣ những vấn đề về nhân sinh, về kiếp ngƣời ở cấp độ tƣ tƣởng, triết lý. Đây là những vấn đề nhạy cảm thuộc về phần “ẩn ức xã hội”, những điều cấm kị ít đƣợc nói đến. Trƣớc hết là cảm hứng nhận thức về ý nghĩa, giá trị sự sống của con ngƣời. Trong mỗi con ngƣời không chỉ có những ham muốn tầm thƣờng, những dục vọng đen tối mà còn có cả niềm tin và mơ ƣớc (Đêm vu lan ca ngợi sự trong sáng ngây thơ và niềm tin vào những điều kì diệu của cô bé câm). Đặc biệt là cảm hứng triết luận về ngƣời phụ nữ, Võ Thị Hảo đã khái quát nên những thân phận đàn bà đầy bất hạnh nhƣng cũng vô cùng cao thƣợng và đẹp đẽ. Họ nổi bật trong tác phẩm với vẻ đẹp ngoại hình và phẩm chất bao dung độ lƣợng. Nhƣng số phận lại dành cho họ quá nhiều khổ đau: Nhuệ Anh thất vọng vì yêu nhầm ngƣời, Ngạn La cuối cùng cũng phải bƣớc lên giàn thiêu, Lê Thị Đoan tự tử vì chính nghĩa. Nhƣng trong trái tim họ lại chứa đựng một tinh thần đấu tranh dũng cảm, dám lên án, phê phán những hủ tục lạc hậu lỗi thời, mỉa mai khinh miệt tội ác của bè lũ quan lại bạo ngƣợc... Họ là hiện thân của lí tƣởng đạo đức mà trong xã hội thời đó không thể có đƣợc. Rõ ràng “thiên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 73. 71 tính nữ” hay khát vọng “nữ quyền” ở đây đƣợc hiểu theo nghĩa đẹp đẽ, trong sáng nhất. Trong truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn này có cả sự âu yếm mang chút thánh ca khi nói về tình yêu qua việc ca ngợi những mối tình đẹp nhƣng buồn (mối tình của Nhuệ Anh và Từ Lộ), hay trân trọng những con ngƣời biết yêu thực sự (chàng Cá Bơn)... Qua đó ta nhận ra một điều, dù lên án hay ngợi ca, phê phán hay mỉa mai chế giễu thì vƣợt lên tất cả, Võ Thị Hảo luôn tin tƣởng vào lòng nhân ái và bản tính tốt đẹp của con ngƣời, khẳng định sức sống lâu bền của những giá trị chân - thiện - mĩ. Đó chính là triết lý nhân sinh mà nhà văn này thể hiện qua các sáng tác của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 74. 72 Chƣơng 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO Cái khó nhất của truyện kì ảo là tạo ra một không khí kì ảo. Nó làm ngƣời đọc thấy ghê rợn, không dám đọc lúc nửa đêm, nhƣng vẫn buộc họ phải say mê khám phá tận cùng tác phẩm. Vậy nhà văn đã tạo ra không khí ấy bằng gì? Chính bằng các thủ pháp nghệ thuật mang đậm màu sắc lạ hoá. Trong Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, nhà văn Võ Thị Hảo đã sử dụng khá nhiều các thủ pháp nghệ thuật nhằm đặc tả yếu tố kì ảo và đạt đƣợc nhiều thành công. Bởi vậy chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu một vài thủ pháp nghệ thuật đặc sắc nhất trong hai tác phẩm trên của tác giả này. 3.1. Tình huống truyện có yếu tố kì ảo Tình huống truyện chính là hoàn cảnh để kết tinh xung đột truyện, khắc hoạ hình tƣợng nhân vật. Bởi vì trong các tình huống truyện ấy, nhân vật gặp gỡ nhân vật để yêu thƣơng hay đấu tranh, và nhân vật gặp gỡ các sự kiện biến cố để bộc lộ bản chất thật hoặc bộc lộ tính cách. Các tình huống kì ảo cũng mang ý nghĩa tƣơng tự với các nhân vật kì ảo. Sự hiển xuất của các hoàn cảnh kì ảo đƣợc xem nhƣ những tình huống quan trọng tạo ra sự chuyển biến của cốt truyện. Nó gắn kết các nhân vật cùng tham gia vào một sự kiện, một biến cố có ý nghĩa nào đó. Do “mọi cái kì ảo đều là sự vi phạm trật tự quen thuộc, một sự đảo lộn không thể chấp nhận đƣợc trong lòng những quy luật bất biến của đời thƣờng” [12] nên khi cái kì ảo xuất hiện, nó sẽ tạo ra sự “đứt gãy” của hiện thực khách quan, đặt ngƣời đọc vào thế lƣỡng lự hoang mang và buộc phải theo dõi quá trình diễn biến của câu chuyện. Các tình huống truyện trong hai sáng tác trên của Võ Thị Hảo không hoàn toàn chỉ bao gồm các tình huống ảo mà còn đan xen kết hợp cả các tình huống thực. Ta gọi đó là các tình huống truyện vừa thực vừa ảo. Trong Giàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 75. 73 thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm có rất nhiều sự hoà trộn, lắp ghép một cách tự nhiên, thuần thục các yếu tố ảo - thực, mối quan hệ tƣơng hỗ giữa chúng khiến ngƣời đọc không cảm thấy có sự vô lý hay vết hằn giữa các mối ghép bởi chúng đã đƣợc ngƣời viết công phu che đậy bằng những dẫn dắt hợp lý, hấp dẫn mang tính nghệ thuật. Đan cài lồng ghép hai mảng thực - ảo trong cùng một tình huống là cách để nhà văn đi sâu khai thác những mảng sáng tối, những phần lẩn khuất trong tâm hồn con ngƣời. Một phƣơng diện không kém phần quan trọng của sự lồng ghép ảo - thực là khiến cái kì ảo trƣợt trong ánh sáng thực, cọ xát với cuộc sống đời thƣờng giúp mở toang cánh cửa hiện thực. Đằng sau những tình huống truyện có vẻ hoang đƣờng phi lôgic, đằng sau những ấn tƣợng kinh dị là chủ nghĩa hiện thực sâu sắc, là giá trị nhân bản, là lời báo động đối với con ngƣời về chính bản thân mình. Trước hết là loại tình huống có tỉ lệ yếu tố thực - ảo tương đối cân bằng nhau và ít nhiều gắn với đời thường. Ở đây, yếu tố kì ảo đƣợc nhà văn tạo ra không phải bằng những hiện tƣợng siêu nhiên không giải thích nổi mà chính bằng việc cƣờng điệu, phóng đại một số chi tiết hoặc phẩm chất nào đó của hiện thực. Tác giả lấy chất liệu ngay từ nền hiện thực này để tạo dựng một nền hiện thực khác mà nhìn vào đó hiện thực nền tảng đƣợc soi sáng rất nhiều. Tình huống xác Từ Vinh trôi trên sông, cánh tay trực chỉ đúng cổng nhà Diên Thành Hầu chứa cả sự phi lí lẫn có lí. Thực tế, Từ Vinh bị Diên Thành Hầu thuê Đại Điên giết hại. Sau khi bị giết, nỗi oan khiên còn đó, thù nhà chƣa trả nên hồn Từ Vinh chƣa thể thanh thản về nơi cực lạc, bởi vậy hồn đã nhập vào xác mà chỉ ra kẻ đã giết hại mình. Nhƣng sự kì lạ lại không chỉ có vậy, ngoài yếu tố hoang đƣờng đây còn là tình huống “mở” cho số phận và cuộc đời Từ Lộ. Trƣớc cái thây đang sừng sững nhƣ một bức tƣợng cùng khuôn mặt nhuốm đầy máu đau đớn của cha, Từ Lộ đã quyết dành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 76. 74 cả cuộc đời, hi sinh tình yêu, tuổi trẻ để báo thù. Nhƣ vậy, chỉ với tình huống gặp gỡ trực tiếp duy nhất này đã làm thay đổi hoàn toàn số phận một con ngƣời. Để thể hiện nỗi oan khiên và đau đớn của nhân vật, Võ Thị Hảo đã phải dùng đến thủ pháp kì ảo để tạo ra tình huống ảo. Khi trở thành vua Thần Tông, trong lòng Từ luôn có một khối mâu thuẫn giằng xé: một bên là ham muốn vinh hoa phú quý, một bên là mơ ƣớc về một tình yêu trong sáng trong tiền kiếp. Hai mơ ƣớc mâu thuẫn không thể dung hoà khiến ngài rơi vào bế tắc. Bắt đầu từ chi tiết thực này chi tiết lạ hoá thứ hai xuất hiện: Vua hoá hổ. Việc hoá hổ cũng chính là quả báo cho những tham vọng quá lớn đó của Thần Tông. Chỉ sau một đêm, ngài đã mang hình hài và hành động nhƣ loài dã thú. Khắp ngƣời mọc đầy lông lá, ánh mắt đỏ ngầu nhƣ muốn ăn tƣơi nuốt sống kẻ khác... đây thực sự là một chi tiết kì lạ, hoàn toàn hoang đƣờng. Đặc biệt, tình huống thiêu cung nữ đƣợc “gợi ý” từ sự kiện các cung nữ bị bức chết theo vua khi vua băng hà đã từng đƣợc ghi trong chính sử. Tình huống ảo thể hiện ở sự sáng tạo của nhà văn khi tái tạo lại khung cảnh giàn thiêu giữa một không khí bảng lảng, ma quái và ghê rợn. Bầu trời Na Ngạn hiện ra toàn một màu đỏ cùng tiếng rít của gió, tiếng kêu khóc của những ngƣời thân đến tiễn đƣa các cung nữ khiến không gian nhƣ chìm trong một rừng âm thanh hỗn tạp. Cùng với đó là mùi tanh lợm của máu ngƣời, mùi nồng hắc của rƣợu pha trộn tạo nên mùi chết chóc của địa ngục. Nhƣng tất cả chỉ lên đến đỉnh điểm khi ngọn lửa trên sạn đạo bùng lên nuốt chửng các cung nữ, chỉ còn thấy những bóng đàn bà nhảy dựng lên lần cuối. Tuy ở các tình huống trên, ta đi vào khai thác riêng rẽ hai yếu tố thực ảo, song cần phải nhận thấy rằng hai yếu tố này luôn đan cài, song hành cùng nhau. Chúng không tách rời mà trái lại, sự gắn kết giữa chúng giúp ngƣời đọc nhận ra những vấn đề sâu xa hơn, mang ý nghĩa nhân sinh mà tác giả đề cập. Đồng thời cũng tạo ra sự liền mạch cho tác phẩm, khiến cốt truyện không bị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 77. 75 đứt gãy. Các tình huống thực - ảo có vai trò quan trọng đẩy xung đột truyện lên cao, dẫn dắt các nhân vật vào những mối quan hệ, những hoàn cảnh giao tiếp mới. Mà nguyên nhân chính tạo ra sức hấp dẫn cho câu chuyện là việc tác giả đã xoá nhoà đƣợc ranh giới ảo - thực. Có thể thấy, trong một tình huống yếu tố thực và ảo chỉ đƣợc suy ra từ cảm nhận của ngƣời đọc. Ngƣời viết không hề đánh dấu đâu là tình huống thực, đâu là tình huống ảo mà phải do sự nhận xét, tự tìm hiểu của độc giả kết thành. Chỉ có điều, tỉ lệ giữa yếu tố thực - ảo là không giống nhau ở mỗi tình huống. Nhƣng dù nhiều hay ít, đậm đặc hay mờ nhạt thì đằng sau những tình huống đó vẫn luôn ẩn chứa một nỗi niềm, một quan niệm sống mà nhà văn thiết tha mang đến cho ngƣời đọc. Trong Giàn thiêu, sự đan cài những tình tiết hƣ - thực đã tái tạo cả một mê cung của cái phi lí. Đó là mảnh đất nƣơng náu và gieo mầm tội ác bất công. Chúng tôi muốn nói đến tình huống Đại Điên gây tội ác và bị Từ Lộ trả thù. Sau bao tội ác, cuối cùng Đại Điên lại đƣợc nhận một cái chết quá bình thản nhẹ nhàng: đầu gậy của Từ chỉ chạm nhẹ đã đủ giết chết tên ác quỷ, một dòng máu đen đặc hôi tanh chảy tràn trên đất, khiến nửa khuôn mặt hắn bị biến dạng. Nhƣng tại sao một kẻ độc ác, thú vật nhƣ Đại Điên là đƣợc hƣởng cái chết bình yên đến vậy? Dƣờng nhƣ nhà văn muốn hƣớng ngòi bút của mình sang một lối rẽ khác: Đại Điên đã biết trƣớc và đón nhận sự trừng phạt từ lâu nên hắn có đƣợc sự ung dung tự tại. Còn lòng hận thù trong Từ Lộ lại quá lớn, đã lấn át lí trí và trái tim khiến Từ bị hẫng hụt, bất ngờ và ghen tị với cái xác dƣới chân chàng. Khi Ngạn La bị giam trong lãnh cung, nàng đã đƣợc chứng kiến cuộc đối thoại giữa hai ngƣời đàn bà quyền uy - đó là Dƣơng thái hậu và Linh Nhân Ỷ Lan. Đây là tình huống chứa nhiều xung đột và mang ý nghĩa nhân sinh cao cả. Cuộc đối chất diễn ra giữa các hồn ma nhƣng cũng có sự tham dự của đàn chuột đói. Tội ác của thái hậu Ỷ Lan không chỉ bị trừng phạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 78. 76 bởi lƣơng tri cùng nỗi day dứt trong tâm hồn mà còn bị báo oán ở kiếp sau. Chính đàn chuột là hiện thân của sự hối hận mà bà đã gây ra, chúng không ngừng lao vào cắn xé, hành hạ Linh Nhân. Loại tình huống thứ hai lại chứa đựng sự phi lí mang tính chất siêu nhiên, khiến con người nhiều khi không thể giải thích được hoặc khiến người đọc hoài nghi và tìm cách giải mã. Trong Đêm vu lan, tình huống tƣớng quân cụt đầu cùng đoàn kị binh dƣới chân cầu mấy trăm năm chỉ ao ƣớc đƣợc trở về dƣơng thế thật xót xa, đáng thƣơng và đáng trân trọng. Điều kì lạ ở đây là, một ngƣời bị cụt đầu vẫn có thể cƣỡi ngựa và cất tiếng hỏi ngƣời sống. Thậm chí biết rơi nƣớc mắt và khuôn mặt buồn rƣời rƣợi. Võ Thị Hảo đã vận dụng tình huống này trong tích truyện dân gian - một ngƣời đã chết vẫn muốn tìm lại sự sống của mình nhƣng cuối cùng đành thất vọng vì không ai giúp ngƣời đó biến mơ ƣớc thành sự thật. Thực ra ngay trong xã hội ngày nay vẫn còn ẩn chứa bao bất công oan trái, con ngƣời trở nên xa lạ và vô cảm nhiều hơn. Đó còn là tình huống cây độc xuất hiện và cái chết của Dã Nhân. Hai tình huống này thực chất chỉ là một vì nó cùng phản ánh một sự việc: Dã Nhân chết vì ăn phải quả của cây độc đó. Cây độc có nguồn gốc từ cây gậy khô mà Từ Lộ đã dùng trên con đƣờng đi tìm nơi luyện phép. Khi lên đến đỉnh Thập Vạn đại Sơn, đƣợc Dã Nhân cứu sống, Từ đã cắm cây gậy vào vách đá trong hang và lãng quên nó. Qua một thời gian tu luyện, Từ đã học đƣợc phép lục thông. Lúc này chàng mới nhận ra cây gậy ngày nào giờ xanh tốt, nhú mầm và mọc ra những quả chín đỏ mọng. Nhƣng trong mỗi quả độc ấy chứa đựng cả một khối hận thù, đây cũng chính là “liều thuốc độc” giết chết Dã Nhân: “Quả chín thứ hai còn trên tay, thân thể Dã Nhân bỗng bị co rút lại, giật lên từng cơn dữ dội, đổ vật xuống đất...”. Cái chết của Dã Nhân luôn ám ảnh và theo Từ trong suốt hành trình của hai kiếp sống. Quả độc không chỉ giết hại Dã Nhân mà còn làm nứt nẻ mặt đất, đốt những đám cỏ thành úa tàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 79. 77 và có sức mạnh tàn phá khủng khiếp: “Nơi quả cây trong tay Dã Nhân vừa rơi xuống dập nát, nhựa đen úa ra, mảng cỏ hoang rêu đá chỗ đó lập tức úa vàng, mặt đất mặt đá nứt toác, bốc khói...”. Thông điệp mà ta nhận ra qua tình huống này là: lòng hận thù sẽ là kẻ thù đầu tiên giết chết chính ta, bởi vậy con ngƣời phải biết sống vị tha và nhân ái hơn nữa. Một tình huống nữa thuộc loại này là tình huống đàn chuột trong lãnh cung. Những con chuột xuất hiện trong không gian và thời gian tối tăm, tù túng và lạnh lẽo. Đây là thời điểm và môi trƣờng thích hợp cho chúng đƣợc thả sức tung hoành. Đàn chuột trông nhƣ những con quỷ dữ hiện hồn trong đêm vắng, đua nhau gặm cụt tay chân, róc sạch xƣơng thịt của bao cung nữ. Không chỉ có vậy, chúng còn là công cụ trả thù, là “cỗ máy” xử án đặc biệt và lạ lùng. Chúng giống nhƣ những vị “quan toà” trong “phiên toà” xét xử lại tội ác mà Ỷ Lan thái hậu đã gây ra. Chi tiết này mang ý nghĩa biểu tƣợng: lòng hận thù không chỉ là công cụ báo oán mà còn là kẻ thù của chúng ta. Nhƣ vậy với việc sử dụng gam màu kì ảo trong các tình huống truyện cùng sự đan cài các yếu tố thực đã góp phần tạo cho bức tranh huyền ảo của Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm sự đa nghĩa và hấp dẫn. Rõ ràng sự tham gia của yếu tố kì ảo trong tình huống truyện đã mở rộng phạm trù, kích tấc của cái hiện thực, mở ra những vùng đất mênh mông vô tận cho sự cày xới của ngòi bút. Ở đây cái kì ảo đã thể hiện chức năng “lạ hoá” nhằm làm nổi bật ý đồ triết lí của tác giả và hiệu quả gián cách nghệ thuật xuất hiện. Đó là việc biến sự vật quen thuộc, thông thƣờng thành xa lạ, kì quái để ngƣời ta hiểu rõ về sự việc ấy hơn từ một góc nhìn mới. Lôgic câu chuyện chuyển từ bề mặt câu chữ vào phần chìm của “tảng băng trôi”. Ngƣời đọc bằng “con mắt tâm linh” soi rọi vào chiều sâu tác phẩm, khám phá cái có lí đằng sau cái phi lí nằm trong lớp nghĩa hiển ngôn của ngôn từ. Nhờ vậy những điều nhà văn muốn gửi gắm sẽ dễ dàng đƣợc ngƣời đọc đồng cảm, chia sẻ và tán thành. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 80. 78 Qua phân tích và rút ra ý nghĩa của các tình huống truyện có yếu tố kì ảo trên, chúng tôi đƣa ra bảng tổng kết sau: Bảng 3.1. Khảo sát các tình huống có yếu tố ảo - thực và ý nghĩa nghệ thuật của chúng Tình huống Thực Từ Vinh trôi Từ Vinh bị Ảo Ý nghĩa Diên Xác chết trôi trên sông, biết - Mong muốn trên sông chỉ tay Thành Hầu giết chết. chỉ tay vào nhà kẻ thù, đƣợc giải oan vào nhà Diên Đây là cái chết oan khuôn mặt biến dạng nhƣng - Là bƣớc ngoặt Thành Hầu ngùn ngụt lửa căm thù đối với cuộc đời Từ Lộ Vua hoá Hổ Vì ham muốn công danh Mang hình hài và hành Cái giá phải trả địa vị, không muốn lỡ động của loài dã thú cho tham vọng nốt kiếp này mà Từ đã quá lớn đầu thai và trở thành vua Thần Tông Giàn thiêu Việc các cung nữ bị Không khí tang thƣơng, Số phận bi thảm cung nữ bức chết đã đƣợc ghi chết chóc đẫm mùi ma của ngƣời phụ nữ trong chính sử trong xã hội xƣa. quái. Cuộc đối thoại Ỷ Lan luôn ăn năn day Đêm khuya trong lãnh Làm điều ác ở kiếp trong lãnh cung dứt vì tội ác đã gây, cung, Linh Nhân bị các này sẽ chịu “quả nên đã cho xây nhiều oan hồn và đàn chuột đói báo” ở kiếp sau. chùa chiền, nhƣng trừng phạt. trong lòng bà luôn bị dằn vặt. Trả thù Đại Điên Từ mạnh hơn Đại Điên Đại Điên chết vì bị đầu Kẻ ác bị trừng trị nên đã chiến thắng gậy chạm vào, mọc bƣớu, bƣớu nứt vỡ, máu đen chảy ra. Quả độc giết Dã Nhân vì cứu Từ nên Cái chết biến dạng của Ngợi chết Dã Nhân đã thử quả độc trƣớc ca và Dã Nhân ngay sau khi ăn thƣơng xót những quả độc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên trái tim nhân hậu http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 81. 79 3.2. Một số thủ pháp nghệ thuật Một trong những thành công lớn nhất của Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm phải kể đến là khả năng vận dụng những thủ pháp nghệ thuật sáng tạo độc đáo của nhà văn trong việc khắc hoạ thành công chân dung các nhân vật kì ảo. Không chỉ lôi cuốn ở ngoại hình nhân vật hay những hành động nhuốm màu huyền hoặc mà còn ở chính lối dẫn dắt vào đề linh hoạt, kết cấu chặt chẽ cùng hệ thống ngôn từ đƣợc lạ hoá. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi đi sâu tìm hiểu một số thủ pháp nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng góp phần làm nên một Giàn thiêu đầy lửa và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm đầy ma quái. 3.2.1. Thủ pháp “vật hoá”, “lạ hoá” Trong hệ thống nhân vật của hai tác phẩm trên, nhiều nhân vật mang ý nghĩa tƣ tƣởng hay biểu tƣợng cho một quan niệm nhân sinh nào đó. Thông qua hai thủ pháp “vật hoá”, “lạ hoá”, ngƣời đọc dễ dàng khám phá ra bề sâu của tầng lớp ngữ nghĩa ẩn mình trong mỗi nhân vật. Đôi lúc cuộc sống giả dối cùng với sự tha hoá, lệch lạc về nhân cách đã dẫn các nhân vật vào vòng xoáy của cuộc sống đầy xấu xa, thác loạn. Chính những ham muốn vƣợt quá mức bình thƣờng này đã tƣớc đi tƣ cách làm ngƣời của Từ Lộ - Thần Tông. Vì mê mải theo đuổi công danh địa vị, đắm chìm trong sắc dục mà đức vua bị hoá hổ. Qua một loạt những hình ảnh, ngôn từ giàu tính kì ảo, chi tiết vua hoá hổ hiện ra khá bất ngờ và độc đáo: “Trông nhà vua là một con hổ mà lại nhang nhác một con Dã Nhân. Con hổ vƣơn mình đứng thẳng trên hai chân sau nhƣ dáng đứng của Thần Tông, lồng lộn đi lại mấy bƣớc trên long sàng, khiến cho những ngƣời có mặt ôm tai rú lên khiếp đảm” [20, tr.460). Nhà văn đã dùng ngôn ngữ mỉa mai, trào phúng để lên án, phê phán nhẹ nhàng nhân vật này. Tác giả còn đề cập đến những vấn đề muôn thuở của nhân loại: cái thiện đấu tranh với những bệnh hoạn đầy rẫy trong xã hội. Những ham muốn dục vọng đã nảy mầm rồi trở thành những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 82. 80 “căn bệnh”, “mầm bệnh” tinh thần cần phải đƣợc mổ xẻ chữa trị. Bằng cách gán cho nhân vật của mình một hay nhiều tính chất giống loài vật, ngƣời viết muốn thức tỉnh lƣơng tri độc giả, đồng thời cũng mang đến cho con ngƣời niềm tin và hi vọng vào những giá trị tốt đẹp hơn trong cuộc sống. Sự biến dạng từ ngƣời sang vật có thể xảy ra khi nhân vật bị tách khỏi đồng loại, cứ triền miên trong nỗi hoài nhớ con ngƣời hay bị dày vò bởi những khao khát nhân tính. Đây là nguyên nhân chính khiến Từ Lộ bị biến thành loài vật. Thủ pháp “vật hoá” còn thể hiện rõ qua nhân vật Đại Điên. Hắn là một con quỷ đội lốt ngƣời, một kẻ dâm dục mang trong mình trái tim thú vật. Không chỉ dị dạng ở ngoại hình, Đại Điên còn biến dạng trong tâm hồn. Dùng những hình ảnh, chi tiết đặc sắc, nhà văn đã “vật hoá” nhân vật này đến mức cao độ: cặp mắt cọp đói, bàn tay gấu đầy lông lá, giọng nói hổ gầm... Đặc biệt cái chết của hắn mang đậm chất kì lạ - đó là cái chết của con vật chứ không phải cái chết bình thƣờng của một con ngƣời. Ngoài thủ pháp “vật hoá”, thủ pháp “lạ hoá” cũng đƣợc nhà văn sử dụng khá thành công. “Lạ hoá” là toàn bộ những thủ pháp (nghịch dị, nghịch lí...) đƣợc dùng trong nghệ thuật nhƣ một cách có chủ đích nhằm đạt tới hiệu quả nghệ thuật mà những hiện tƣợng đƣợc miêu tả hiện ra mới mẻ, chƣa quen, khác lạ với ngƣời đọc. Thủ pháp “lạ hoá” nhằm tạo ra sự khác lạ, gây “sốc” cho độc giả và tạo một “điểm nhấn” cho mạch chảy của cốt truyện. Đó là những hình ảnh, chi tiết chứa đựng sự kì lạ, khác thƣờng thậm chí phi thƣờng. Chi tiết ngọn lửa cháy bùng lên trên giàn thiêu cung nữ mang rõ sức sáng tạo mạnh mẽ của nhà văn. Thủ pháp “lạ hoá” tạo ra sự quái đản, kì dị đến ghê rợn: “Lửa lập tức bùng lên. Những lƣỡi đỏ khổng lồ thèm khát rần rật liếm giàn thiêu”. Ngƣời đọc kinh hoàng hình dung ra sức tàn phá ghê gớm của lửa, nó giống nhƣ một con quái vật khổng lồ khát máu đang vƣơn tay thiêu chết các cung nữ tội nghiệp. Chi tiết đám dân chúng hoảng sợ trƣớc cảnh nhật thực u ám đất trời cũng đƣợc “lạ hoá”. Không hiểu đó là hiện tƣợng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 83. 81 gì, những ngƣời dân chỉ biết la lối kêu gào thất thanh “gấu ăn mặt trời”, cùng những hành động kì quặc: chúi đầu con trẻ dƣới vạt áo nâu, dùng mỡ bò trộn nhọ nồi bôi lên mặt, leo lên ngọn cau hú đuổi gấu... Hiệu quả nghệ thuật của thủ pháp “lạ hoá” thể hiện đây là chỉ một sự kiện bình thƣờng nhƣng đối với những ngƣời dân, nó đã đƣợc đẩy lên trở thành quan trọng, thậm chí còn mang tính chất dự báo cho những tai họa xắp xảy ra. Một chi tiết nữa đƣợc nhà văn miêu tả với dụng ý “lạ hoá”, đó là vào năm Hội Phong thứ bảy, sao chổi hiện ra phía tây bắc kinh thành. Những ngƣời già chạy ra sân ngửa mặt lên trời khóc, các bà mẹ dúi con xuống gầm giƣờng cốt tránh ánh sáng của sao chổi. Ngay cả súc vật cũng bị “lây nhiềm” nỗi sợ hãi: “Lợn rúc đầu vào góc chuồng rú eng éc. Rắn ở đâu kéo về từng đàn phóng ràn rạt, trƣờn vào chật ních trong các chuồng gà” [20, tr.373]. Dƣới ngòi bút nhà văn, hiện tƣợng sao chổi vốn dĩ bình thƣờng trở nên bất bình thƣờng và vô cùng kì dị. Cùng với giọng điệu phóng đại, giễu nhại, thủ pháp “lạ hoá” đã tạo ra không khí li kì nhƣng mới mẻ và hấp dẫn cho tác phẩm. 3.2.2. Ước lệ tượng trưng Ƣớc lệ tƣợng trƣng là một thủ pháp nghệ thuật đƣợc sử dụng khá phổ biến trong các sáng tác có yếu tố kì ảo. Nó chủ ý nhằm mục đích tăng cƣờng ấn tƣợng về cái nghịch dị, khác thƣờng làm nổi bật bản chất của hình tƣợng nghệ thuật đƣợc miêu tả, buộc ngƣời đọc phải nghi nhờ. Dạng thức nghệ thuật này không nhằm làm ngƣời ta tin vào câu chuyện mà chủ yếu gợi liên tƣởng và suy ngẫm. Với thủ pháp nghệ thuật này, qua cái lạ mà ngƣời đọc có một con đƣờng mới để tiếp cận trực tiếp nhân vật và các sự kiện có trong tác phẩm. Võ Thị Hảo sáng tác theo khuynh hƣớng sử dụng yếu tố kì ảo làm “công cụ” miêu tả và phản ánh tác phẩm. Bởi vậy hầu hết các nhân vật, sự kiện, tình tiết trong các tác phẩm đều bao chứa trong nó ít nhiều sự li kì, khác lạ. Để làm tăng biên độ của chất “kì”, nhấn mạnh đến chất “ảo”, nhà văn đã lựa chọn thủ pháp ƣớc lệ tƣợng trƣng trong sáng tác của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 84. 82 Trong Truyện Kiều, thủ pháp này đã đƣợc Nguyễn Du sử dụng khá thành công trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật. Từ Hải xuất hiện với ngoại hình đƣợc ƣớc lệ: “Vai năm tấc rộng thân mƣời thƣớc cao”. Còn Thuý Vân thì hiện ra cùng vẻ đẹp mang tính “biểu tƣợng”: “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”. Trong Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, Võ Thị Hảo cũng đã vận dụng thủ pháp này nhằm làm “đòn bẩy” đƣa nhân vật cùng những tình tiết trong tác phẩm lên cao. Không chỉ tiếp thu những ảnh hƣởng của truyền thống, tác giả còn mang đến cho thủ pháp này “hơi thở” của thời đại mới. Không dừng lại ở việc “khuôn thƣớc” nhân vật trong một khuôn khổ có sẵn, nhà văn đã đƣa cả chất liệu hoang đƣờng, kì lạ vào trong hành trạng nhân vật. Vẫn lấy chất liệu thiên nhiên làm “thƣớc đo” chuẩn mực nhƣ trong truyền thống, đồng thời Võ Thị Hảo còn hƣ cấu, tƣởng tƣợng ra nhiều yếu tố đã đƣợc “lạ hoá”, phi thực để khắc hoạ chân dung, vẻ đẹp hay phẩm chất của nhân vật. Nhƣ đôi mắt, làn mày của Nhuệ Anh đƣợc tác giả dùng thủ pháp ƣớc lệ để miêu tả: “Đôi mày là đƣơng mây màu khói nhạt”. Đầu lâu Dã Nhân ám ảnh Từ, nó tƣợng trƣng cho mối tình sâu nặng của ân nhân, lại vừa nhƣ tình cảm của một ngƣời mẹ dành cho đứa con bé bỏng. Chiếc đầu lâu cùng cây sáo và mảnh gƣơng đồng là những kỉ vật thiêng liêng khiến Từ nhớ lại tiền kiếp của mình.Viên ngọc trai mà thái sƣ phu nhân tặng làm quà cƣới cho Lý Câu có vẻ đẹp và sức quyến rũ lạ thƣờng: “áp viên ngọc trai uống ánh trăng đó lên tai thì nghe cả tiếng gió biển âm u, sóng biển rì rào, các thuỷ thần thầm thì trò chuyện với nhau từ đáy đại dƣơng sâu thẳm vọng tới” [20, tr.176]. Chiếc rốn màu chu sa của Ngạn La tƣợng trƣng cho sự sung túc tràn đầy của một dân tộc mà bất kì một vị vua nào đƣợc sở hữu chiếc rốn đó sẽ có niềm khoái cảm vô tận vì “một ngƣời đàn bà có chiếc rốn màu chu sa là ƣớc mơ muôn đời của các bậc đế vƣơng” [20, tr.266]. Cây gậy trúc mà đại sƣ Tzu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 85. 83 ban cho Từ Lộ tƣợng trƣng cho công cụ quyền lực để báo thù. Triết lí sâu xa mà tác giả gửi gắm qua những hình ảnh trên là: trong cuộc đời phồn tạp đa đoan vẫn còn rất nhiều những giá trị cao đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn mỗi con ngƣời. Điều này cũng thể hiện cái nhìn hiện đại và sáng tạo của nhà văn về hiện thực cuộc sống. Nhƣ vậy thủ pháp ƣớc lệ, tƣợng trƣng đã làm tăng phạm vi tƣởng tƣợng của ngƣời đọc, khơi gợi sự hình dung và mở rộng trí tò mò nơi độc giả. Ta cảm giác có một thứ ánh sáng lấp lánh, huyền diệu đang bao phủ khắp câu chuyện khiến tác phẩm trở nên mơ hồ và đa thanh, đa nghĩa. 3.2.3. So sánh, đối chiếu Thủ pháp nghệ thuật này đƣợc sử dụng khá phổ biến trong các sáng tác vì nó có vai trò quan trọng góp phần định giá giá trị của các nhân vật cùng những sự kiện diễn ra trong tác phẩm. So sánh, đối chiếu vẻ đẹp của các nhân vật với cái đƣợc so sánh là những hình ảnh mang tính chất khác thƣờng, siêu thực. Điều này thể hiện sự sáng tạo của nhà văn trong việc đƣa chất liệu kì ảo vào câu chuyện. Với những nhân vật vốn đẹp đẽ nhƣ Nhuệ Anh, Ngạn La... Võ Thị Hảo đặt vẻ đẹp của họ trong thế đối xứng, so sánh với vẻ đẹp của thiên nhiên. Qua đó càng thêm nhấn mạnh và khẳng định thiên tính nữ trong mỗi nhân vật này. Nhân vật Nhuệ Anh có vẻ đẹp hoàn hảo nhƣng không hề kiêu sa, diễm lệ. Ta nhận thấy ở nàng vẻ đài các, dịu dàng và thánh thiện. Từ ánh mắt, khoé môi đến mái tóc của nàng đều đƣợc ví với sự dịu dàng của tự nhiên: Khoé môi lũm xuống nhƣ hai lúm đồng tiền được chiếu sáng từ bên trong, quyến rũ mê hồn [20, tr.54]. Gương mặt trắng xanh nhƣ một đoá hoa hàm tiếu dƣới chiếc mũ phƣợng [20, tr.180]. Đôi môi đầy đặn nhƣ môi phật, màu trắng [20, tr.278]. Lông mày màu khói lạt mượt nhƣ lụa [20, tr.55]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 86. 84 Trái lại, nhân vật Ngạn La lại mang một vẻ đẹp hoang dã, nóng bỏng và hút hồn bất kì ai trông thấy nàng. Nàng đƣợc ví nhƣ “con mèo nhỏ uyển chuyển” với đôi mắt mèo hoang và đôi mày mềm mại nhƣ hai cánh én; đôi vú mới nhú nhƣ hai vầng trăng có in hình một chiếc bớt trông nhƣ một con thạch sùng nhỏ xíu... Bên cạnh đó nhiều nhân vật cũng đƣợc miêu tả vẻ bề ngoài qua thủ pháp so sánh, đối chiếu, nhƣ Từ Lộ với vẻ đẹp thƣ sinh “mày rậm, mắt sáng miệng nhƣ vành trăng treo”, hay Đại Điên hiện ra gớm ghiếc qua “đôi mắt rờn rờn ánh thôi miên nhƣ mắt cọp trong đêm”, còn những cung nữ đang đợi giờ chết trên giàn thiêu lại đƣợc ví với hình ảnh “ngọn nến cháy lần cuối giữa buổi bình minh ma quái”. Đặc biệt là những âm thanh gợi tả cảm xúc của con ngƣời cũng đƣợc tác giả đặc tả. Đó là tiếng mõ của sƣ bà nghe nhƣ “tiếng hạc bay, lúc nhƣ than nhƣ khóc, lúc rủ rỉ nhƣ ru êm”, tiếng sáo của Từ Lộ lại đƣợc ví nhƣ “những âm thanh lúc sầm sập nhƣ giông bão, lúc khoan thứ dịu ngọt đến đá cũng phải mềm dịu tuôn chảy tràn ngập nóc cung điện”. Trong Chuỗi người đi trong đầm lầy âm thanh tiếng hú gào của đoàn ngƣời nơi rừng sâu nghe nhƣ tiếng rắn trƣờn mình dƣới mặt bùn nhão sệt, đầy nham hiểm... Nói tóm lại, thủ pháp so sánh đối chiếu đƣợc Võ Thị Hảo sử dụng khá phổ biến trong Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm. Thủ pháp này đã làm tăng hiệu quả lạ hoá cho cốt truyện, đồng thời cũng góp phần tạo cho mạch truyện sức hấp dẫn, lôi cuốn. Trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước của Hồ Anh Thái, thủ pháp so sánh cũng đƣợc nhà văn sử dụng khá thành công. Thông qua một loạt những hình ảnh so sánh, đối chiếu, nhà văn này đã gián tiếp bộc lộ nỗi xót xa, đau đớn trƣớc những thân phận bé nhỏ trong cuộc đời. Rừng kim tƣớc gây ấn tƣợng mạnh với ngƣời đọc bởi nó tƣợng trƣng cho sinh mạng, số phận bất hạnh của bao bé gái mới chào đời đã bị tƣớc đi quyền sống, và nó đƣợc ví với hình ảnh những cô gái mƣời bảy tuổi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 87. 85 đang đi tìm lại quyền làm ngƣơì của mình: “Rừng cây kim tước cao lớn rũ hết lá xanh chỉ còn vòm hoa vàng buông xoã thướt tha nhƣ đám tóc vàng của đám con gái mười bảy” [51]. 3.3. Các môtip nghệ thuật Một trong những phƣơng tiện hữu hiệu làm cho tác phẩm trở nên mơ hồ, đa nghĩa nhuốm màu sắc hoang đƣờng là việc vận dụng các môtip thần thoại, các hình thức biến hoá hƣ ảo. Dấu ấn thần thoại, truyền thuyết, cổ tích trong cách xây dựng thế giới hình tƣợng của tác phẩm, việc vận dụng các môtip kì ảo cổ điển và hiện đại để khắc hoạ tính cách, số phận nhân vật cũng nhƣ xây dựng cốt truyện có tác dụng lớn trong việc gia tăng biên độ ý nghĩa và mở rộng phạm vi liên tƣởng ở ngƣời đọc. Bởi vậy thành công mà nhà văn Võ Thị Hảo đạt đƣợc ở Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm là việc vận dụng môtip nghệ thuật truyền thống một cách sáng tạo. Môtip là “thành tố bền vững, vừa mang tính hình thức vừa mang tính nội dung của văn bản văn học; Môtip có thể đƣợc phân xuất ra từ trong một hoặc một số tác phẩm văn học của một nhà văn, hoặc trong văn cảnh một khuynh hƣớng văn học, một thời đại văn học nào đó” [18]. Các môtip mà nhà văn đã sử dụng trong hai tác phẩm trên gồm: môtip gặp Tiên, môtip hoá thân, môtip quả báo, môtip cầu sƣ học đạo, đầu thai chuyển kiếp, thần chú... Trƣớc hết là môtip ngƣời gặp Tiên. Đây là kiểu môtip thƣờng thấy trong các truyện thần thoại hay cổ tích. Khi nhân vật trong truyện gặp nạn, cần đƣợc giúp đỡ (những nhân vật này phải có hoàn cảnh khó khăn, nghèo khổ hoặc đang rơi vào bế tắc tuyệt vọng) lúc này những ông Bụt bà Tiên hiền lành có phép thuật sẽ xuất hiện. Họ hiện ra để giúp nhân vật hoàn thành mơ ƣớc mà kết thúc tác phẩm bao giờ cũng là cuộc sống hạnh phúc sẽ đến với ngƣời lƣơng thiện. Kế thừa môtip này của truyện xƣa, Võ Thị Hảo đã sáng tạo thêm nhiều tình tiết mới khác truyền thống, góp phần mang đến cho tác phẩm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 88. 86 sự mới lạ và hấp dẫn đối với ngƣời đọc. Khi Từ Lộ rơi vào hoàn cảnh bế tắc và đau đớn nhất, chàng đã đƣợc gặp Đại sƣ Tzu và Thập Quang đại sƣ - hai ngƣời thầy thông thái đã chỉ đƣờng cho chàng đến nơi có thể luyện phép thuật. Môtip này khác các môtip truyền thống ở chỗ, hai vị thần mà Từ đƣợc gặp chỉ gián tiếp giúp chàng thoả nguyện mong muốn, họ còn lên tiếng khuyên nhủ chàng từ bỏ thù hận để sống thanh thản hơn. Nhƣng Từ vẫn quyết tâm theo đuổi mục đích của mình, bởi vậy Đại sƣ Tzu đã ban cho chàng cây gậy vạn năng - vật đồng hành duy nhất cùng Từ đến đƣợc đỉnh Thập Vạn Đại Sơn. Chính lòng kiên trì và lửa hận thù là động lực giúp Từ luyện thành công phép lục thông để có thể dễ dàng trả thù Đại Điên. Loại môtip thứ hai là môtip biến hoá ngƣời - vật, vật - ngƣời (môtip hoá thân). Kiểu môtip này đã trở nên quen thuộc trong văn học phƣơng Tây hiện đại. Chúng ta có thể bắt gặp chuyện con ngƣời bị biến thành con gián, con tê giác, con bọ, cái ghế... trong các tác phẩm của Kafka, Ionetxcô... Tất cả những truyện kì quặc đó đều phản ánh tình trạng con ngƣời bị tha hoá, mất dần nhân tính, trở nên xa lạ với chính mình. Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều tác phẩm sử dụng thành công môtip này, không chỉ nhằm làm biến dạng hình hài mà còn có sự thay đổi trong tâm hồn, tính cách nhân vật. Vì một nguyên nhân hay sau một sự kiện nào đó nhân vật biến dạng theo một trong hai chiều hƣớng: tốt hoặc xấu. Trong văn học dân gian, kiểu biến hoá này có ở nhiều truyện: chàng Sọ Dừa biến thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú, chàng Cóc chính là một hoàng tử đẹp trai... Trong văn xuôi đƣơng đại, dạng thức nghệ thuật này đƣợc Nguyễn Minh Châu khai thác qua nhân vật Lão Khúng (Phiên chợ giát). Lúc thì lão thấy mình biến thành tên hung thần tay cầm búa tạ đập vào đầu con bò khoang thân thiết của lão, sau lại thấy chính mình là con bò bị đập bằng búa tạ máu mê đầm đìa. Dù thất học và bị lao động nhọc nhằn vắt kiệt sức lực, nhƣng bằng toàn bộ bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 89. 87 thể, lão ngờ ngợ về tính hai mặt trong kiếp sống của mình: vừa là hung thần vừa là nạn nhân. Qua sự biểu hiện này, Nguyễn Minh Châu đã nhìn thấy thế giới khác còn lấp khuất phía sau gƣơng mặt của ngƣời nông dân nƣớc ta thời kì trƣớc. Tiếng thở dài qua rừng kim tước của Hồ Anh Thái lại gắn với phong tục, tập quán và tôn giáo Ấn Độ. Khi những bé gái chào đời đồng nghĩa với việc cha mẹ chúng phải chuẩn bị một khoản tiền lớn làm của hồi môn cho con gái đi lấy chồng. Bởi vậy, rất nhiều hồn trẻ sau khi bị giết đã hoá thân thành rừng kim tƣớc. Qua đó, nhà văn thể hiện nỗi xót xa cho những thân phận bất hạnh trong cuộc đời, đồng thời cũng lên án, tố cáo xã hội bạo tàn đã chà đạp lên quyền sống của con ngƣời. Còn trong Giàn thiêu môtip này đƣợc nhà văn vận dụng với mục đích tạo sự “lạ hoá” cho tác phẩm, đồng thời cũng là lời phát biểu về một quan niệm, triết lí nhân sinh về cuộc sống. Môtip hoá thân có hai loại biến hoá: từ ngƣời thành vật và từ vật thành ngƣời. Con ngƣời chỉ bị biến thành loài vật khi phạm phải quá nhiều điều ác. Nhƣng vua Thần Tông hoá hổ không phải vì ông ta tàn nhẫn hay ác độc mà bởi sự u muội trong tâm hồn và tham vọng quyền lực quá lớn. Kiểu môtip này mang đậm màu sắc của Phật giáo. Cũng qua đó, tác giả bày tỏ thái độ mỉa mai, giễu nhại, trào phúng đối với phần bản năng “thú” trong tâm hồn Thần Tông. Ngoài sự kiện vua hoá hổ, trong tác phẩm còn có những con vật đƣợc miêu tả nhƣ một con ngƣời thực sự, có trái tim nồng ấm, biết yêu thƣơng. Đó là Dã Nhân - ân nhân cứu mạng Từ Lộ. Còn một loại nhân vật nữa cũng mang tính chất biểu tƣợng cho con ngƣời - đó là những đôi Công Trĩ, Uyên Ƣơng xuất hiện trong hai giàn thiêu. Chúng tƣợng trƣng cho mối quan hệ phụ thuộc giữa ngƣời phụ nữ trong xã hội cũ với ngƣời đàn ông đƣợc quyền sở hữu họ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 90. 88 Tiếng kêu của chúng giống nhƣ lời than khóc đau đớn cho thân phận những cung nữ nơi cung cấm, họ không chỉ bị mất tự do mà còn bị lệ thuộc cả tính mạng vào đức vua. Bởi vậy, chi tiết nghệ thuật này là lời tố cáo đanh thép đánh vào những luật lệ cổ hủ, hà khắc của triều đại Lý nói riêng và các vƣơng triều phong kiến khác nói chung. Môtip quả báo gắn với triết lí thiện giả thiện báo, ác giả ác báo. Môtip này xuất phát từ tƣ tƣởng báo oán của đạo Phật, nếu con ngƣời làm điều ác tất sẽ gặp quả báo. Nghệ thuật dùng luật báo ứng vừa để cảnh tỉnh ngƣời đời lại vừa chứa đựng niềm khát khao công lý, vừa là sự khúc xạ nỗi thất vọng trƣớc một thực tại còn nhiều phi lý, bất công. Chân lí mà môtip này thể hiện là mọi ngƣời đều phải trả giá thích đáng cho những hành động tội lỗi của mình. Vì vậy Ỷ Lan thái hậu phải hứng chịu hình phạt đau đớn trong lãnh cung, Vua Thần Tông chết vì dục vọng quá lớn, Đại Điên chết dƣới đầu gậy của Từ Lộ, Lý Trác huỷ hoại bản thân và giết chết cả con gái mình... Trong các tác phẩm xƣa có yếu tố nhân - quả, thì sự quả báo có từ bên ngoài. Còn trong sáng tác của Võ Thị Hảo, sự quả báo đến từ chính những dằn vặt trong lòng mỗi con ngƣời. Qua đó, nhà văn đã thể hiện tính hiện đại trong sáng tạo nghệ thuật của mình. Môtip thần chú cùng sự ứng nghiệm nhãn tiền của chúng cũng giữ vai trò đắc lực trong việc tạo ra chất hài cho tác phẩm. Kiểu môtip này có ở Người chăn bò thần thánh. Trong câu chuyện này, thật khó mà tìm thấy bóng dáng của những ngƣời anh em kiểu “Khắc nhập! Khắc xuất!”, “Vừng ơi mở ra” nhƣ trong cổ tích. Ở đây ngoài chức năng thần kì, nó còn là phƣơng tiện để nhà văn trao gửi một cái nhìn phê phán, đả kích sâu sắc: “Hỡi bò! Hỡi bò! Hãy lập tức liền vai, vì rằng mi là bò tập thể. Phàm đã là bò tập thể thì mi phải có phép thần thông vơi đấy rồi đầy đấy. Ta ra lệnh cho cái vai của mi: “Khắc đầy! Khắc đầy””. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 91. 89 Môtip đầu thai chuyển kiếp lại phản ánh mơ ƣớc của con ngƣời đƣợc sống vĩnh cửu, mãi mãi. Dù đã chết ở kiếp này nhƣng vẫn có thể sống lại ở kiếp sau. Kiểu môtip này có nhiều trong văn học dân gian và các sáng tác truyền kì (Truyền kì mạn lục, Tấm Cám…). Trong Giàn thiêu, Từ Lộ - Đạo Hạnh thiền sƣ đã đầu thai vào nhà Sùng Hiền Hầu để mong có đƣợc kiếp sống phú quý giàu sang. Quả thực, sau đó Từ đã đƣợc làm vua - trở thành vua Thần Tông khi mới mƣời hai tuổi. Loại môtip tiếp theo là môtip giấc mơ. Văn học mọi thời đại thƣờng mƣợn giấc mơ để thể hiện quan niệm nhân sinh, nhân thế. Tâm lí con ngƣời càng phát triển thì giấc mơ càng nhiều dạng, phức tạp. Trình độ nghệ thuật văn chƣơng càng cao thì thủ pháp “giấc mơ” càng trở nên biến ảo linh hoạt. Khi đi vào thế giới kì ảo trong mộng, nhân vật đã thể hiện một cuộc chu du trong tâm tƣởng để đến với một miền đất đầy bí ẩn, mới lạ nhƣng cũng hết sức sinh động bởi đó là một thế giới nơi cái thực được hư hoá, cái hư được thực hoá. Võ Thị Hảo đã đóng góp nên sự thành công của tác phẩm khi miêu tả giấc mơ của nhân vật Từ Lộ và mẹ chàng. Những giấc mơ của hai nhân vật trên chủ yếu xuất hiện và gắn liền với hình ảnh cái chết của Tăng đô án Từ Vinh. Kể từ khi Từ Vinh bị bọn Diên Thành Hầu sát hại, ông nhiều lần hiện hồn về trong giấc mơ của hai mẹ con Từ Lộ. Chính những lần gặp lại hình bóng xác ngƣời cha bên bờ sông máu trong những giấc mộng là động lực đƣa Từ đến với quyết tâm trả thù. Bên cạnh đó còn có sự phân thân trong con ngƣời Từ Lộ khi chàng mơ thấy ngƣời con gái yêu kiều Nhuệ Anh. Sau này, khi đã thành vua Thần Tông, bóng dáng ngƣời tình xƣa vẫn luôn cháy bỏng trong tim ngài. Còn Từ Vinh phu nhân cũng hai lần mơ thấy ngƣời chồng thân yêu nơi địa ngục. Khi vụ án oan của Từ Vinh không đƣợc xét xử, bà đã chết ngay trƣớc bàn thờ chồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 92. 90 Bảng 3.2. Giấc mơ và sự biểu hiện của nó qua các nhân vật trong Giàn thiêu Chủ thể Từ Lộ Thời điểm, Chi tiết giấc mơ bối cảnh - Ba ngày sau khi - Mơ thấy cha khuôn mặt đẫm cha bị giết máu, đôi tròng mắt lồi ra khỏi hốc - Sau đêm hội Quý Cái thây dựng đứng ƣớt đầm Vũ chƣa trả thù rầu rĩ. Văng vẳng tiếng nghẹn đƣợc Đại Điên, suốt ngào: “Từ Lộ con! Cha đã lầm. ba đêm Từ mơ thấy Ta chỉ tu thiện, không biết cha phòng ác mới ra nông nỗi này...”. Tới đƣợc đất Tây - Từ thấy mình đang đi tới một Trúc, gặp đại sƣ Tzu cửa hang chói loà ánh sáng. Tới một con sông máu, một bên là xác cha chàng trôi ngƣợc trên sông, bờ bên này mẹ chàng mặc áo cƣới chạy theo xác cha chàng - Từ đạp chân vào con thuyền hình sọ ngƣời - con thuyền sẽ đƣa chàng đến chân Bồ Tát Khi Dã Nhân ăn quả - Thấy một ngƣời đàn ông cao độc chết, cả đêm to, quần đen áo đen, chít khăn chàng nằm bên xác đầu rìu, mắt tròn thô lố, hai Dã Nhân chiếc răng nanh nhọn dài thò ra quặp xuống hai bên mép xanh rờn. Trở thành vua Thần - Gƣơng mặt một thiếu nữ nhạt Tông nhƣng những nhoà, đôi mắt dài và có đuôi giấc mộng vẫn ngày nhƣ lá đêm ám ảnh - Xen vào đó là một gƣơng mặt có cái mõm nhọn, phủ một lớp lông tơ mƣợt mà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Tính chất Điềm báo dẫn lối đƣa Từ ra bờ sông Động lực thôi thúc Từ trả thù Sự lựa chọn hai con đƣờng. Cuối cùng Từ đã đi theo tiếng gọi trả thù Báo hiệu phép thuật của Từ đã linh thông Từ chƣa thể dứt bỏ hết duyên nợ tiền kiếp. http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 93. 91 Chủ thể Mẹ Từ Lộ Thời điểm, Chi tiết giấc mơ Tính chất bối cảnh Khi gƣơng mặt Hồn cha con về dẫn ta đi. Ta Sợi dây thần giao trắng bệch của Từ vừa trôi trên sông cùng với cha cách cảm nối Vinh dựng ngƣợc con. Đêm nay cha con không giữa hai vợ lên mặt sông, ập vào ngủ. Mỗi canh giờ lại nghe một chồng mặt Diên Thành trăm hai mƣơi ba lần tiếng rú Hầu khiến ông ta cất của những ngƣời bị tra tấn dƣới tiếng rú hoảng loạn, A tỳ ngục, ngắm bảy lần rừng Từ Vinh phu nhân đao, bảy lần rừng kiếm ánh đang mê man bất lạnh nhƣ rắn mà đau cả ruột tỉnh trên bỗng bật dậy giƣờng gan. Nhìn thấy mƣời tám cái vạc đồng nấu ngƣời mà nhƣ chịu dầu sôi rót vào ngực. Có thể nói, kì ảo trong mộng là môi trƣờng lí tƣởng để nhân vật trở về với cái tôi đích thực của mình. Bằng việc sử dụng giấc mơ, Võ Thị Hảo đã chuyển cái nhìn vào bên trong nhân vật, thể hiện những cuộc du hành vào thế giới của cõi siêu nhiên phi thực, từ đó tạo dựng không khí huyền ảo, li kì cho tác phẩm. Đây cũng là sự nối dài nới rộng không gian hiện thực, nhờ đó mạch truyện phát triển tự nhiên, không bị đứt gãy, gƣợng ép, lƣu giữ ấn tƣợng sâu đậm trong ngƣời đọc. Chính vì thế những giấc mơ cũng đƣợc xem là một hiện thực đúng nghĩa trong văn học hiện nay. Từ những môtip kì ảo trên đã hé mở cánh cửa huyền bí để ngƣời viết xới lên những vỉa hiện thực, đặc biệt là thể hiện những vấn đề nhân sinh sâu sắc. Nhờ vậy câu chuyện trở nên lung linh đa nghĩa. Sự hiện diện của những môtip này đã cho thấy thế giới siêu nhiên không vô can mà tác động trực tiếp nhằm tạo ra sự răn đe, cảnh tỉnh và hƣớng đạo đối với con ngƣời. Việc tái lập những môtip trên không chỉ chủ tâm tác động vào tâm lí hiếu kì của độc giả hiện nay mà sự hiện diện của chúng còn là phƣơng tiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 94. 92 hữu hiệu để nhà văn khắc hoạ tính cách nhân vật, phản ánh một cách chân thực, sinh động hoàn cảnh xã hội, đồng thời dễ dàng bộc lộ nội dung tƣ tƣởng, chủ đề của tác phẩm. Sự xuất hiện của những môtip nhuốm màu sắc hƣ ảo, thần kì này không gây cảm giác xa lạ, quái đản vì chúng xuất hiện nhƣ một tất yếu trong mạch vận động chân thực của cốt truyện. 3.4. Ngôn từ nghệ thuật nhƣ một phƣơng tiện thể hiện yếu tố kì ảo Ngôn ngữ đóng vai trò là chất liệu, là phƣơng tiện biểu hiện mang tính đặc trƣng của văn học. “Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học, bởi vì chính ngôn ngữ chứ không phải cái gì khác đã cụ thể hoá và vật chất hoá sự biểu hiện của chủ đề và tƣ tƣởng, tính cách và cốt truyện. Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm; Nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của ngƣời đọc với tác phẩm” [18]. Còn theo Pôxpêlôp “ngôn ngữ là một trong ba phƣơng diện cơ bản tạo nên sự thống nhất của hình thức tác phẩm” [44]. Với tƣ cách là những thể loại gắn liền với từng đổi thay của đời sống xã hội thì ngôn ngữ trong truyện ngắn và tiểu thuyết sau đổi mới, ngoài những đặc trƣng riêng do sự tác động của yếu tố kì ảo, cũng in đậm dấu vết chuyển mình của một giai đoạn văn học đầy sôi động. Không nằm ngoài “mạch chảy” của ngôn ngữ hiện đại, ngôn ngữ của Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm đã góp phần hoàn thiện nghệ thuật cho tác phẩm cũng nhƣ khẳng định cá tính sáng tạo của nhà văn. Gần nhƣ đa số các nhà văn kì ảo hiện nay khi sử dụng yếu tố kì ảo nhƣ một thủ pháp nghệ thuật, họ đều có ý thức cao trong việc miêu tả thứ ngôn ngữ nằm giữa đƣờng biên của hƣ và thực, bình thƣờng và linh dị nhằm diễn tả một thế giới kì bí, đầy thách thức đối với trí tuệ, tình cảm con ngƣời. Khảo sát hệ thống ngôn ngữ có yếu tố kì ảo của Giàn thiêu và 5 truyện ngắn đầu tiên trong Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm (bởi toàn bộ phần sau của tập truyện này đều đã đƣợc xuất hiện trong Giàn thiêu), chúng tôi nhận thấy Võ Thị Hảo đã sử dụng những phƣơng tiện ngôn ngữ sau Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 95. 93 3.4.1. Động từ mạnh gây cảm giác bất ngờ, rùng rợn Võ Thị Hảo ƣa sử dụng những động từ mạnh gây cảm giác bất ngờ cho ngƣời đọc. Đây là những động từ - hệ quả của hành động mà các nhân vật thực hiện, nhƣng cũng có khi những hành động lại tự nhiên diễn ra, hay do một thế lực siêu nhiên nào đó điều khiển. Sử dụng các động từ mạnh là sự thể hiện cá tính sáng tạo mạnh mẽ của nhà văn. Các động từ ấy biểu hiện sự biến hoá kì diệu hay ghê rợn một cách cực kì nhanh chóng. Ta từng bắt gặp loại động từ này trong các sáng tác dân gian nhƣ truyện cổ tích hay thần thoại. Nhƣng trong những câu chuyện chứa đẫm chất hoang đƣờng ấy, các động từ đƣợc dùng với mục đích miêu tả hành động của nhân vật với các nhân vật. Do đó tính chất gây “sốc” là rất ít. Còn trong hai sáng tác của Võ Thị Hảo, rất nhiều động từ mạnh xuất hiện khiến ngƣời đọc có cảm giác kinh hãi. Không ai dám hình dung ra những cảnh tƣợng hãi hùng kiểu nhƣ: “Máu phun ra nhỏ giọt xuống đƣờng” (Đêm vu lan), hay “nổi bật những bóng đàn bà nhảy dựng lên” trong Giàn thiêu. Giữa một không gian hỗn loạn đầy tiếng khóc tức tƣởi oan khuất của các cung nữ và những ngƣời thân yêu, bỗng hiện ra một cảnh kinh hoàng: “Lửa lập tức bùng lên. Những lƣỡi đỏ khổng lồ thèm khát rần rật liếm giàn thiêu. Sạn đạo cũng bùng cháy nhƣ một con giao long khổng lồ quằn quại há miệng ngùn ngụt lửa đỏ và nuốt trọn đảo Âm hồn” [20, tr.37]. Liền tiếp ngay sau đó là tiếng gào thét, tiếng kêu rú của những đôi Công Trĩ, Uyên Ƣơng... kết thúc bằng hình ảnh những ngƣời đàn bà “chới với hai cánh tay lên trời rồi lảo đảo gục xuống, bùng lên nhƣ những bó đuốc”. Có thể nói, những động từ trên mang đến cho Giàn thiêu gam màu đầy chết chóc, đen tối. Đó không đơn thuần chỉ là sự miêu tả mà sâu xa hơn là lời phê phán tố cáo đối với những hành động dã man, tàn bạo, và gián tiếp là niềm xót thƣơng cho những thân phận bất hạnh trong xã hội xƣa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 96. 94 Hành động của các cung nữ đƣợc miêu tả qua âm thanh ghê rợn: “Bốn mƣơi tám cái cổ họng đồng loạt rú lên bốn mƣơi tám tiếng rú tắc nghẹn” [20, tr.36]. Ngoài ra còn một loạt những động từ gây cảm giác bất ngờ xuất hiện cùng chi tiết xác Từ Vinh trôi trên sông: “Đại Điên phóng vụt cây thiền trƣợng cắm vào ngực cái xác, một tiếng sét vụt nổ giữa trời”. Hay những động từ miêu tả hành động điên cuồng của Lý Câu trong ngày cƣới: “Lý Câu gầm trong họng. Lƣỡi kiếm dữ dội vung lên. Roạt...! Tấm áo choàng bát ty bị chém đứt phăng thành hai mảnh, một mảnh phật phờ rơi trở lại chiếu... Lý Câu chống kiếm nhảy dựng lên, giẫm đạp lên mọi thứ” [20, tr.190]. Đoạn tả cảnh Nhuệ Anh nháy xuống thác Oán tự tử cũng chứa nhiều động từ mạnh: “Nhuệ Anh đạp chân nhoài ngƣời lao xuống phía dòng sông chảy xiết” [20, tr.215]. Đặc biệt là cảnh tƣợng kinh hoàng khi hai cung nữ bị chôn sống sau khi Ỷ Lan thái hậu chết: “Ngôi mộ sống giẫy lên rùng rùng và tiếng ằng ặc vọng lên một cách yếu ớt từ dƣới đất” [20, tr.256]. Còn Thần Tông sau khi hoá hổ có những hành động của loài thú vật: “Ngài ngự gầm rít suốt ngày, xé tan mọi quần áo trên ngƣời...” [20, tr.297]. Động từ “rạch”, “đâm” của Ngạn La trong giàn thiêu cuối thể hiện sức mạnh, lòng can đảm của ngƣời con gái yếu đuối không chịu chấp nhận cái chết dƣới bàn tay bọn đao phủ. Động từ “xẻo gan bàn tay bàn chân” đƣợc lặp lại nhiều lần trong Chuỗi người đi trong đầm lầy nhằm nhấn mạnh chất thú vật, hoang dã của những con ngƣời đang chìm trong u tối giữa rừng già. Các động từ mạnh chính là một yếu tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện, đƣa ngƣời đọc lạc vào không khí bảng lảng huyền ảo trong một thế giới không có trong đời thực, đồng thời các động từ này gắn bó với các tình huống có tính phi thƣờng, dị thƣờng của văn học kì ảo, tạo ra sự bất an trong lòng ngƣời đọc trƣớc một cuộc sống quá nhiều đột biến. Sử dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 97. 95 những động từ mạnh cũng là cách để tác giả tạo “linh hồn‟ cho tác phẩm, đem lại “sức sống” lâu bền và vững chắc cho những sáng tác vốn dĩ đã rất nhiều “lửa” nhƣ Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm. 3.4.2. Các phó từ mang tính chất đột biến Mọi ấn tƣợng thẩm mĩ mà chúng ta có đƣợc về tác phẩm đều do ngôn từ tạo nên. Hai sáng tác của Võ Thị Hảo mang đến cho ngƣời đọc những ấn tƣợng mạnh mẽ bất ngờ trƣớc những biến cố, sự kiện hay hành động của các nhân vật. Vì khi thâm nhập tác phẩm, cảm giác bị vây bủa, giăng mắc, bị ám ảnh ban đầu nhƣ đƣợc gia tăng nồng độ bởi thế giới kì ngôn. Liên tiếp xuất hiện các phó từ chỉ tính chất bất bình thƣờng hoặc thoắt ẩn thoắt hiện của sự vật, hiện tƣợng nhƣ: bỗng, bỗng nhiên, đột ngột, chợt, bất giác... Theo thống kê của chúng tôi, trong hai tác phẩm trên có đến 256 lần tác giả sử dụng các phó từ. Trong đó Giàn thiêu là 231 lần. Đó có thể là sự xuất hiện đột ngột của một sự việc kì lạ: “Bỗng có tiếng sột soạt mơ hồ, Thuận khẽ hé mắt. Và cái nhìn đầu tiên của nàng bị hút về bậu cửa sổ. Con Bƣớm ma không còn ở đó. Nàng bỗng cảm thấy lo sợ” [21, tr.11]. “Bỗng có cái gì đó rơi rất êm, rất nhẹ trên mặt Thuận” [21, tr.13]. “Bỗng có tiếng rít ghê rợn trên không trung. Đó là tiếng réo của câu thần chú” [21, tr.40]. Có khi đó là sự phá vỡ một trạng thái đang tĩnh lặng của không gian hoặc thời gian: “Bỗng lại một tiếng gào xé ruột nữa làm rách toang bầu không khí câm lặng” [20, tr.36]. “Đột ngột, không gian nhƣ bị vỡ ra thành muôn mảnh bởi tiếng vó ngựa từng đàn hốt hoảng chạy lồng lên trong bóng đêm” [20, tr.168]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 98. 96 “Chợt một tiếng mõ lạc lõng rơi ra ngoài giàn đại hợp quần của muôn ngàn tiếng mõ đang râm ran trong buổi lễ rót thẳng vào tai Thần Tông” [20, tr.271]. Hoặc thuật lại hàng loạt các sự kiện lạ lùng diễn ra khiến những nhân vật khác cũng phải kinh ngạc: Đàn cò trắng đậu trên rặng tre bên sông “hốt hoảng vụt bay, rớt xuồng mặt sông những tiếng kêu xao xác nhƣ tiếng hú khóc” [20, tr.73]. “Bỗng từ miệng quả bầu âm dƣơng, một luồng khí hôi thối luồn ra xanh lẹt nhƣ một chùm rắn lục bao phủ lấy vầng oán khí màu đen đang vần vũ trên sông” [20, tr.76]. Đó có thể là hiện tƣợng kì bí của thiên nhiên: “Gió bất chợt cuồng nộ trên sông Gâm. Vòm trời cao xanh thoắt sầm tối” [20, tr.192]. Võ Thị Hảo sử dụng các phó từ chỉ sự đột biến ở mức độ cao, đậm đặc và có chủ ý. Các sự vật, hiện tƣợng, sự kiện diễn ra sau các phó từ này đều bí ẩn, lạ kì và ghê rợn. Nhƣng chính những bất ngờ ấy lại tạo sự lôi cuốn, gợi trí tò mò nơi độc giả. Ta cũng nhận ra cảm quan hiện thực mà tác giả gửi gắm cuộc sống đầy rẫy những biến hóa bất ngờ, những hiểm nguy luôn rình rập con người. Con người thật bé nhỏ mong manh trước dòng đời bất trắc. 3.4.3. Tính từ miêu tả với gam màu nóng - lạnh Võ Thị Hảo đƣa vào thế giới ngôn từ của mình những tính từ chỉ gam màu nóng và pha trộn với chất liệu màu tối. Việc sử dụng những tính từ đó góp phần tạo ra không khí bức bối, ngột ngạt thậm chí bực bội hoặc uất ức cho số phận các nhân vật. Dƣờng nhƣ trong bức tranh nóng dữ dội nhƣng cũng đầy chết chóc đen tối đó, con ngƣời trở nên cô đơn và lẻ loi hơn. Gam màu nóng xuất hiện ngay khi ta lật giở những trang đầu của Giàn thiêu: “dƣới ánh mặt trời gay gắt, chen giữa màu đỏ những chiếc áo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 99. 97 chết của các cung nữ, màu đỏ của hình tam giác vẽ bằng máu Uyên Ƣơng trên các vầng trán của họ, màu đỏ của các súc gỗ làm sạn đạo, màu đen sẫm nhƣ cánh quạ của những chiếc áo choàng đao phủ gợi những bữa tiệc máu âm phủ” [20, tr.35]. Hay so sánh “một trăm cung nữ đã biến thành một trăm cuộn vải đỏ rực máu” [20, tr.33]; “màu đỏ chết chóc của sạn đạo đâm thẳng vào ngôi lầu tám mái trắng mái lợp bằng chín tầng vải sô, trang điểm bằng những búi xơ tre nhuộm đen mang hình âm dƣơng nửa đen nửa trắng” [20, tr.31]. Quện hoà giữa không khí chết chóc tang thƣơng ấy là mùi tanh của những xác ngƣời bị thiêu cháy: “Mùi tanh lợm và khét lẹt của máu, thịt ngƣời cháy vẫn phả đến từ đảo Âm Hồn” [20, tr.42]. Qua đó thể hiện nỗi đau của tác giả trƣớc những số phận bi thƣơng trong xã hội cũ, đồng thời cũng là lời lên án đối với xã hội bạo tàn cùng những luật lệ hà khắc, cổ hủ mà chế độ phong kiến sử dụng để làm công cụ chế áp con ngƣời. Đó còn là những tính từ chỉ trạng thái không gian tối tăm, tù ngục trong lãnh cung - nơi giam giữ những cung nữ chót phật ý vua: “Một dãy hun hút những biệt phòng xây bằng đá nền đen gân trắng, cửa ra vào bằng lim khối, ngay giữa mùa hè cũng phả hơi ẩm ƣớt lạnh lẽo rợn ngƣời” [20, tr.219]. Trên nền xám tối đó nổi bật lên sắc đỏ của máu Ỷ Lan tuôn rơi khi bị đàn chuột cắn xé “máu tuôn đỏ lòm thành vũng dƣới chân bà” [20, tr.232]. Bên cạnh đó thiên nhiên cũng đẫm màu “nóng gắt” dƣới con mắt sƣ bà Nhuệ Anh “xa xa, cửa Càn Nguyên điện nhuộm vàng, hoàng hôn rớt lại trong một vệt ráng chiều thấm máu trên đƣờng chân trời” [20, tr.278]. Hay thiên nhiên chết chóc, đau đớn trong giàn thiêu cuối “riu ríu trong gió, áng mây đổ ngang trời xập xoạ mờ tỏ những bóng áo đỏ với mái tóc dựng ngƣợc lên trời theo ngọn lửa cháy rần rật” [20, tr.537 - 538]. Qua khảo sát hai tác phẩm, chúng tôi nhận thấy hai gam màu đỏ và đen xuất hiện với tần số dày đặc: trong Giàn thiêu màu đỏ xuất hiện 121 lần và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 100. 98 màu đen là 64 lần, còn ở Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm tần số này là 10 và 12. Không chỉ là màu đỏ của sạn đạo, của lửa, của áo choàng cung nữ mà còn có màu đỏ của máu ngƣời. Cùng với đó là màu đen xám của bầu trời, của màn đêm trong cánh rừng già, màu đen của cánh Bƣớm, của tàn tro thiêu cuốn sách... Hai gam màu đó đan cài, hoà quện tạo cho cốt truyện một không khí ma quái, trầm buồn và mang hơi hƣớng của thần thoại hay cổ tích. Đặc tả hai gam màu này cũng là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Gam màu nóng với sắc đỏ chính là nỗi đau, tội ác, nỗi oán hờn của những kiếp ngƣời bé nhỏ bị vùi dập bởi những thế lực bạo tàn. Còn gam màu lạnh với sắc đen lại thể hiện sự khắc nghiệt của số phận con ngƣời cùng sự ảm đạm, nỗi buồn đau và những linh cảm xấu trƣớc hiện thực tàn khốc. Từ đó, tác giả đã gửi gắm nhiều vấn đề nhân sinh sâu sắc. Đó là nỗi đau đớn, khắc khoải trƣớc sự rạn vỡ của những giá trị đạo đức cùng niềm thƣơng cảm xót xa khi chứng kiến những va đập cuộc đời. Ngoài những tính từ đi liền với gam màu nóng - lạnh ra, Võ Thị Hảo còn mang vào tác phẩm của mình những đoạn trữ tình ngoại đề đầy chất thơ. Đó là những đoạn tả cảnh thiên nhiên tƣơi đẹp, trong sáng: “Con sông về mùa cạn nƣớc trong vắt có thể nhìn thấu những viên đá cuội nhiều màu ẩn hiện và những đàn cá thân mỏng đuôi dài, hàng vẩy lƣng óng ánh màu sắc lƣợn đi lƣợn lại qua những nhánh rêu xanh đen đƣới đáy sông” [20, tr.193]. Những đoạn miêu tả tình yêu thuần khiết của Nhuệ Anh - Từ Lộ nơi thác Oán sông Gâm cũng đậm vẻ lãng mạn: “Những giọt mƣa dội xuống thân thể lúc này lại dịu dàng êm ái, mỗi giọt mƣa chạm xuống nhƣ mang theo một hơi thở nồng nàn sƣởi ấm cơ thể của chàng. Cái mùi đàn ông lạ lẫm, đắng ngắt, ngầy ngậy, bạo liệt nhƣ đá rừng rực toả hơi nóng dƣới ánh mặt trời pha lẫn hơi mƣa tƣơi tắn và trinh khiết khiến nàng ngây ngất chợt nhƣ lả đi chợt lại nhƣ lạc vào cõi phiêu bồng” [20, tr.211]. Cảm giác về tình yêu, nỗi đam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 101. 99 mê nồng nàn, cháy bỏng đƣợc tác giả diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ của đời sống hiện đại, bay bổng mà vẫn rất chân thành. Đó là tiếng nói đắm đuối, bất tử không bao giờ cũ của tâm hồn. Qua đó tạo sự cân bằng cho tác phẩm: sau bi ca, tráng ca là tình ca, sau máu lửa là chất thơ... Và đó chính là cuộc sống với muôn màu sắc nhƣ nó vốn có. Để khẳng định sự tƣơng đồng trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật có yếu tố kì ảo giữa Võ Thị Hảo và các nhà văn khác, chúng tôi đƣa ra bảng so sánh sau: Bảng 3.3. Bảng so sánh tần số xuất hiện phó từ, tính từ, động từ gắn với yếu tố kì ảo trong sáng tác của Võ Thị Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh Tác phẩm Phó từ gắn với Tính từ gắn với Động từ gắn yếu tố kì ảo yếu tố kì ảo với yếu tố kì ảo 2 22 15 Giàn thiêu 231 185 64 Những ngọn gió Tua Hát 26 42 23 Nỗi buồn chiến tranh 123 97 55 Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm Qua bảng so sánh trên, ta thấy có sự ổn định một đặc trƣng nghệ thuật của các nhà văn sáng tác theo khuynh hƣớng kì ảo. Đó là việc ƣa thích sử dụng những ngôn từ nghệ thuật đậm đặc sắc màu kì lạ nhƣ phó từ, tính từ, động từ kể trên. Rõ ràng việc lặp lại với tần số lớn những ngôn từ nghệ thuật trên chính là một biểu hiện rõ rệt của khuynh hƣớng sáng tác kì ảo (trong đó có Võ Thị Hảo nói riêng và các nhà văn khác nói chung). 3.4.4. Trạng từ chỉ không gian, thời gian mang yếu tố kì ảo Đây là từ loại không thể thiếu trong mỗi tác phẩm có yếu tố kì ảo. Nó giúp ta nhận ra thời đại lịch sử của câu chuyện đƣợc kể, thời điểm ra đời, xuất hiện các nhân vật cùng những tình tiết, biến cố. Qua những trạng từ chỉ thời Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 102. 100 gian, không gian chứa đựng sắc màu kì ảo, tác giả đƣa ngƣời đọc vào thế giới phiêu bồng “chông chênh” giữa hai cõi hƣ - thực. Trƣớc hết là những trạng từ ghi lại dấu mốc thời gian lịch sử, chúng thƣờng in đậm dấu ấn của những vƣơng triều phong kiến. Kiểu nhƣ: “Đinh Mùi. Tháng Chạp. Ngày ất Dậu. Giờ Dần...”; “Buổi chiều ngày Đinh Mão, tại điện Vĩnh Quang...”; “Mậu Thìn. Quảng Hựu năm thứ tƣ”; “Tháng Ba. Thiên Thuận năm thứ nhất...”. Bên cạnh những trạng từ miêu tả thời gian, không gian cụ thể trên còn có những trạng từ gắn với không gian biến ảo phi thực. Đó là không gian ngôi mộ, thành quách, cung điện, rừng rậm, dòng sông, con đƣờng, lãnh cung... Những không gian này gắn với các sự kiện mà ở đó nhân vật thể hiện bản chất hay phẩm chất của mình. Nhƣ cung điện đẫm mùi son phấn khiến sƣ bà “lợm giọng” nhƣng lại khiến Thần Tông ham muốn tột độ; dòng sông có lúc thơ mộng có lúc lại kinh sợ khi xác Từ Vinh lập lờ trôi; ngôi miếu hoang đầy những vong hồn đã chết đang trò chuyện cùng Từ Lộ; con đƣờng mà Từ phải “độc bộ” để đến đƣợc nơi tu luyện phép thuật đầy gian khổ hiểm nguy, hay ngôi mộ cô đơn giữa một bãi trũng đầy đỉa ngo ngoe của Ả Tuynh... Tất cả những trạng từ diễn tả không gian ấy đều hƣớng ngƣời đọc đến một triết lý: cuộc đời con ngƣời là một sự trôi chảy trong một khoảng không vô tận. Sống trong khoảng không rộng lớn ấy nhƣng con ngƣời không hề đƣợc hạnh phúc, vui sƣớng mà trái lại, luôn cô đơn, bé nhỏ, lạc lõng. Ngoài ra còn rất nhiều trạng từ chỉ thời gian kì ảo. Thƣờng là thời gian ban đêm vì đây là thời điểm lí tƣởng để những điều lạ lùng, li kì diễn ra. Nhƣ trong Đêm vu lan, tƣớng cụt đầu và đoàn kị binh hiện ra trong đêm mờ ảo. Cũng trong đêm tối, đàn chuột đói trong lãnh cung và oan hồn những cung nữ hiện ra. Không chỉ có thời gian đêm tối, thời điểm ban ngày cũng đƣợc miêu tả qua gam màu kì ảo. Nhƣ buổi sáng, đám học trò thấy “sƣơng lạnh buốt xói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 103. 101 xuống bả vai mới tỉnh dậy, thì thấy đang nằm ƣờn mình trên ngôi mả mới, chung quanh là một bãi tha ma ngút ngàn mồ mả. Lỏng chỏng bên cạnh những ngôi mộ là gƣơm cùn, kích gẫy, câu liêm rụng hết cả răng và những mũi tên còn đen quẹn máu ngƣời...” [20, tr.374]. Cả trạng từ không gian và thời gian kì ảo đều có vai trò làm tăng chất huyền hoặc cho câu chuyện, đồng thời cũng tạo ra không khí cổ sử thi pha mùi ma quái, đầy li kì và có sức hấp dẫn lớn với đối tƣợng tiếp nhận. 3.5. Thủ pháp “nhại” lịch sử Bằng phƣơng pháp sáng tác kì ảo, các nhà văn hiện nay có thể trình bày cuộc sống từ nhiều phía, bằng nhiều con đƣờng chứ không hoàn toàn bị lệ thuộc vào những hình thức thông thƣờng của bản thân hiện thực. Chúng ta sẽ thấy xuất hiện nhiều sáng tác “giả thuyền thuyết”, “giả cổ tích”, “giả lịch sử”, “giả liêu trai”... Những sáng tác đó tạo ra một không gian, thời gian đặc biệt, một không khí có khi linh thiêng nhƣ cảm xúc tôn giáo, có khi ma quái, rùng rợn... Còn nhà văn Võ Thị Hảo lại chọn thủ pháp nghệ thuật “nhại lịch sử” cho sáng tác của mình. Tác giả Giàn thiêu không nhằm tái hiện lại không khí hào hoa của một vƣơng triều cách đây hàng ngàn năm lịch sử, mà chị chỉ muốn vén bức màn lịch sử dƣới con mắt của một nhà văn, một ngƣời nghệ sĩ ở thời hiện đại ra trƣớc hiện thực. Có thể lịch sử ấy sẽ bao hàm cả phần sáng tối, sự tốt đẹp hay xấu xa, cả những khuất tối, u muội trong tâm hồn những con ngƣời từng đƣợc coi là thần thánh, là cha mẹ của muôn dân. Qua tác phẩm này, độc giả sẽ nhận thức đƣợc điều gì về triều đại trị vì của vị vua trẻ Thần Tông cùng những nhân vật lịch sử nhƣ Ỷ Lan thái hậu? Có lẽ điều đó không nhiều, bởi vì lúc này tiểu thuyết lịch sử đã trở thành “quá trình cá nhân hoá hƣ cấu” [9]. Nhà văn phản chiếu lịch sử từ tấm gƣơng của ý thức cá nhân, do đó tiểu thuyết này trở thành giả thuyết về một khoảng tối của lịch sử. Suy cho cùng, những tƣ liệu về lịch sử luôn chỉ là phần quá khứ hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 104. 102 diện ra trƣớc nhận thức của thực tại. Nó luôn luôn là một cái gì không đầy đủ, không thể xác quyết đƣợc đâu là sự thật. Trong một số trƣờng hợp, những tranh cãi về tính chân thực của một cuốn tiểu thuyết lịch sử thực chất chỉ là sự xung đột giữa cái nhìn cá nhân và cái nhìn cộng đồng. Vì vậy đích cuối cùng của Giàn thiêu không phải viết về những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ mà là từ những chi tiết - sản phẩm của hƣ cấu, tác phẩm buộc ngƣời đọc phải suy tƣ về sự giải thoát, về niềm tin tôn giáo, về những tham vọng và hạnh phúc. Vậy nhà văn Võ Thị Hảo đã tạo dựng những “dấu ấn” ấy trong lòng độc giả bằng thủ pháp nghệ thuật nào? Với thủ pháp “nhại lịch sử”, tác giả Giàn thiêu đã vận dụng rất sáng tạo và đạt hiệu quả nghệ thuật cao. Trƣớc hết, giọng “giễu nhại” trong văn xuôi có yếu tố kì ảo sau đổi mới tiếp tục khơi lại nguồn mạch nguyên sơ, khoẻ khoắn của truyện cƣời dân gian. Hai nhân tố chủ đạo tạo nên sắc thái giễu nhại trong các tác phẩm là “u mua” và “châm biếm đối tƣợng” [55, tr.180]. Hay nói cách khác, nó là sự phê phán “mang tính cảm xúc sáng tạo và tích cực và có sức công phá mạnh mẽ đối với những cái xấu xa lỗi thời” [18, tr.30]. Thủ pháp “nhại lịch sử” cũng dựa trên tinh thần phê phán, giễu cợt, đả kích đó của “giễu nhại”. Song dƣới ngòi bút của Võ Thị Hảo, thủ pháp này đã đƣợc sử dụng một cách linh hoạt, khéo léo đầy sáng tạo. Biểu hiện của thủ pháp này là xây dựng chân dung các nhân vật lịch sử có thật nhƣng từ góc nhìn khác và mới mẻ để mang lại tính lạ hoá cho nhân vật. Thủ pháp này dẫn tới ba hiệu quả nghệ thuật Hiệu quả thứ nhất là giễu nhại, trào phúng với đối tƣợng miêu tả. Trong tác phẩm, nhân vật nguyên phi Ỷ Lan đƣợc tác giả dựng lên bằng “một tƣợng đài” vừa hƣ vừa thực, vừa ca ngợi vừa trào phúng, mỉa mai. Trong lịch sử, bà đƣợc coi là một phật bà quan âm tái thế, một phụ nữ quyền lực và tài năng. Khi vua Thánh Tông nhà Lý đem quân đi đánh Chiêm Thành, bà đã giữ quyền chấp chính, hết lòng chăm lo đời sống nhân dân. Bà từng bỏ tiền trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 105. 103 nội phủ ra chuộc những ngƣời con gái phải đi ở đợ vì nghèo rồi gả cho những ngƣời chƣa vợ. Bà cũng là ngƣời mộ đạo, từng cho xây nhiều chùa tháp, góp phần làm cho phật giáo trở nên hƣng thịnh ở thời Lý. Nguyên phi Ỷ Lan “quyến rũ” ngƣời ta bằng sự đức độ và lòng nhân từ. Trong tác phẩm, Võ Thị Hảo không hề bỏ qua những chi tiết tốt đẹp đó của bà. Gián tiếp qua những cuộc luận bàn chính sự giữa bà với thái uý Lý Thƣờng Kiệt và thái sƣ Lý Đạo Thành, bà luôn tỏ rõ là ngƣời thông minh, rất biết trọng ngƣời tài. Nhƣng nếu chỉ đi vào ngợi ca công đức Ỷ Lan thái hậu thì Giàn thiêu chỉ là một bản sử ca đơn thuần mà thôi. Dƣới ngòi bút tinh tế, sắc sảo và nhạy cảm, Võ Thị Hảo đã dũng cảm xoáy sâu vào những phần khuất tối nhất, đời thƣờng nhất trong cuộc đời nhân vật này để giễu nhại và phê phán. Bà cũng là một ngƣời phụ nữ bình thƣờng nhƣ bao ngƣời khác: cũng ghen tuông, đố kị, ích kỉ và đầy tham vọng quyền lực. Bà tự thừa nhận: “Ta muốn duy ngã độc tôn trong thiên hạ... không gì thích thú bằng khi thấy chỉ ngón út của bàn tay ta, cả giang sơn này rùng rùng chuyển động”. Sự giễu nhại này không tách rời tính chất nghiêm chỉnh của tinh thần xây dựng và thái độ thực sự khách quan, cầu thị, bởi mỉa mai, châm biếm không phải đến từ một “cõi lạ”, không dính dáng đến hiện tại mà luôn gắn chặt với thực trạng muôn mặt của cuộc đời. Nhƣ cách nói của Bêlinxki: “Cái mỉa mai có ở đâu nhiều hơn nếu không phải là ở ngay trong chính hiện thực”. Đây cũng là cách để nhà văn tự do trong việc sáng tạo và mở rộng trí tƣởng tƣợng vốn đã phong phú của tác giả. Chất giễu nhại, trào phúng còn đƣợc đẩy lên đến cao độ khi Dƣơng thái hậu lên tiếng luận tội Ỷ Lan, gọi bà là “nghiệt phụ”, một kẻ “siêu quần” trong việc giết ngƣời. Chất giễu nhại đƣợc bộc lộ ở cái nhìn “trái chiều” về thần tƣợng Ỷ Lan và từ đó cho ta thấy rõ mặt trái của “tấm huân chƣơng”. Còn Linh Nhân chỉ biết bao biện cho mình bằng những lí lẽ thiếu thuyết phục và đầy mâu thuẫn: “Nếu không phải ta mà là bà buông rèm nghe chính sự, sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 106. 104 thịnh vƣợng của quốc gia này có đƣợc nhƣ ngày nay chăng? Kẻ nào ngáng đƣờng ta, dù chỉ là vô tình, kẻ đó phải chết” [20, tr.235]. Cũng qua cuộc đối thoại và sự tự vấn lƣơng tri của Ỷ Lan thái hậu, một sợi dây lôgic đã nối liền hai lực trái dấu trong hành trạng của bà, đúng hơn đã lí giải đƣợc sự phân cực giữa một bà thánh và một phụ nữ tàn nhẫn trong cùng một Ỷ Lan nguyên phi. Nhà văn đã hƣ cấu, tƣởng tƣợng ra khung cảnh địa ngục ngay trong lãnh cung - một không gian tù túng, tối tăm, chật hẹp nhƣng lại phù hợp cho việc luận tội Ỷ Lan. Vì đây chính là nơi 54 năm trƣớc, bà đã bức chết gần một trăm con ngƣời vô tội. Thời gian diễn ra cuộc đối chất vào nửa đêm, cũng là thời điểm lí tƣởng cho những hồn ma hiện về. Khi còn sống không ai dám kết tội Linh Nhân, chỉ có lƣơng tâm bà bị cắn rứt, dày vò. Nhƣng khi chết, tội ác mà bà gây ra không hề bị lu mờ hay quên lãng. Trái lại nó còn đƣợc khơi gợi và đòi đƣợc phán xét. Việc lựa chọn không gian, thời gian diễn ra sự kiện và sự xuất hiện của các vong hồn bị bức tử trong “phiên toà” đặc biệt là cách nhà văn mỉa mai và phê phán nhân vật Hiệu quả nghệ thuật thứ hai mà thủ pháp này đạt đƣợc là từ một góc nhìn mới mẻ để soi chiếu vào đối tƣợng miêu tả và tìm ra những giá trị mới, ý nghĩa mới từ những đối tƣợng không mới. Trong Giàn thiêu hiện lên chân dung những con ngƣời thuộc tầng lớp cao quý trong xã hội phong kiến xƣa nhƣ vua, thái hậu, các đại thần đầu triều... Nhƣng ngòi bút nhà văn không chỉ dừng ở việc tụng ca họ mà còn lên án, tố cáo sự lộng hành bạo ngƣợc của một số quan lại thời đó. Đây là cái nhìn khách quan chân thực với cả hai chiều tích cực và cả tiêu cực. Võ Thị Hảo ca ngợi những giá trị tốt đẹp mà triều Lý đã làm đƣợc nhƣ đánh thắng ngoại xâm, mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân, góp phần đƣa phật giáo trở nên cực thịnh... Thông qua việc tái hiện chân dung một loạt các nhân vật từng đƣợc ghi danh trong lịch sử nhƣ đức vua Thần Tông, thái hậu Ỷ Lan, thái sƣ Lý Đạo Thành, thái uý Lý Thƣờng Kiệt... nhà văn bày tỏ lòng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 107. 105 kính trọng đối với công lao của họ. Dƣới thời vua Thánh Tông và Nhân Tông, đất nƣớc thịnh trị, giặc phƣơng Bắc nhiều lần bị đánh bại. Thái sƣ Lý Đạo Thành đƣợc miêu tả là con ngƣời chân thực, khảng khái. Ông dám tâu bày kể tội quan tham, dâng nhiều kế sách trị nƣớc an dân cho triều đình... Còn thái uý Lý Thƣờng Kiệt lại là vị quan oai nghiêm với “khuôn mặt đẹp uy nghi”, nhờ mƣu kế tài trí của ông mà nhiều lần nhà Lý đánh tan quân Tống, dẹp yên bờ cõi thống nhất nƣớc nhà. Bên cạnh đó nhà văn còn tố cáo, phê phán các triều đại đã quá tô vẽ đề cao tầng lớp mình, ẩn sau những giá trị cao quý tốt đẹp kia là bao hủ tục còn lƣu cữu, bao tội ác chƣa đƣợc phơi bày... Ỷ Lan vì quá tham lam đố kị mà giết ngƣời tàn nhẫn, trù dập hiền thần nếu họ dám chống đối lại bà. Khi thái sƣ Lý Đạo Thành lên tiếng khuyên can thái hậu không nên xây thêm quá nhiều chùa mà hãy chăm lo nhiều hơn đến cuộc sống nhân dân, bà đã giáng chức và đẩy ông vào Nghệ An làm Tả gián nghị đại phu. Qua nhân vật Lý Trác, tác giả khái quát chân dung bè lũ quan lại hống hách, nịnh bợ, chỉ biết khƣ khƣ lo cho quyền lợi bản thân. Hay những tên lộng thần nhƣ Diên Thành Hầu, dùng quyền lực hại chết ngƣời vô tội. Ngay cả thế lực cao nhất là vua Thần Tông cũng chỉ làm đƣợc một điều duy nhất là đắm chìm trong lạc thú. Không dừng ở việc phê phán các cá nhân, tác phẩm còn lên án cả một chế độ phong kiến bạo tàn, dù vẻ ngoài đẹp đẽ nhƣng bên trong sớm mục ruỗng, thối nát. Ta thấy rõ điều đó qua lời biện minh sau: “Thời nào cũng vậy thôi, mạng ngƣời quá rẻ trong tay các bậc đế vƣơng, nhƣng vẫn phải phủ lên những cái chết đó nhƣ là một sự ô nhục, hoặc phản trắc hoặc nghĩa cử huy hoàng. Điều này các bậc đế vƣơng thƣờng xuyên làm mà, hoàng hậu họ Dƣơng... ở trong cung từng ấy năm mà ngƣơi vẫn không hiểu rằng cái bức đại vóc đẹp đẽ mà cả triều đình bao giờ cũng dệt nên bởi những mƣu mô, thủ đoạn đƣợc kéo ra từ những con kén gặm máu và nƣớc mắt sao?” [20, tr.236 - 237]. Qua đó ngƣời đọc nhận ra sự lừa dối, giả tạo và tàn nhẫn đang ngự trị trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 108. 106 tâm hồn từng cá nhân và trong lòng cả một triều đại. Dù có tìm mọi cách để đánh bóng, để tô vẽ giá trị thì sớm hay muộn, nhân dân cũng sẽ nhận ra bộ mặt thật phản dân hại nƣớc của bè lũ gian thần. Nhƣ vậy, tác giả Giàn thiêu đứng trên lập trƣờng khách quan để nhìn nhận soi xét và đánh giá hai chiều tích cực và tiêu cực đối với những nhân vật lịch sử đã đƣợc đan cài cả phần hƣ cấu, tƣởng tƣợng. Hiệu quả thứ ba của thủ pháp “nhại lịch sử” là từ nhân vật lịch sử tìm ra những vấn đề trả lời đƣợc cho những câu hỏi của thời đại mang tính thời sự của cuộc sống hôm nay. Nói nhƣ A.Đuyma “lịch sử là cái đinh để tôi treo bức tranh của mình lên đó”, Võ Thị Hảo muốn tìm câu trả lời cho những câu hỏi của thời hiện đại. Câu hỏi đó xoay quanh vấn đề: giữa khát vọng hƣớng thiện và khát khao quyền lực có mâu thuẫn với nhau? Nhân vật có thể trả lời cho câu hỏi này chính là Từ lộ. Hai kiếp sống của chàng hoàn toàn trái ngƣợc. Kiếp thứ nhất cƣơng trực, chính nghĩa, tin tƣởng vào đạo lí ở đời. Khi trở thành đại sƣ trên núi Sài, Từ không ngừng thuyết giảng đạo lí cho các đệ tử và chúng dân nghe. Đại sƣ khuyên đệ tử phải có lòng hƣớng thiện, tu tâm tích đức không ham dục vọng. Nhƣng thẳm sâu trong tâm hồn Đạo Hạnh đại sƣ vẫn nhen nhóm ngọn lửa tham vọng vinh hoa. Sự khát thèm lạc thú trần thế và quyền lực cùng sự phản tỉnh về những giáo lí mà ngài từng rao giảng khiến ngài ngày càng nhận ra rằng mình đang lừa mị chúng sinh. Bởi thế, để thoả cơn khát thèm dồn nén suốt một kiếp, ngài đã đầu thai vào cửa đế vƣơng. Lên ngôi báu, vẫn không thoả cơn khát thèm vì còn đó cung nữ Ngạn La chƣa một lần ngài đƣợc sở hữu, còn đó giấc mơ về một mối tình thơ mộng trong tiền kiếp. Dƣờng nhƣ Thần Tông đang sống gấp gáp, vội vàng mong bù đắp những thiếu thốn dồn tụ từ kiếp trƣớc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 109. 107 Nhƣ vậy trong cùng một Từ Lộ có hai mâu thuẫn lớn tạo ra xung đột: tính hƣớng thiện và lòng ham hố công danh. Sáng tạo nên cuộc đấu tranh vật lộn trong tƣ tƣởng nhân vật, nhà văn đã chỉ ra một thực tế: trong xã hội ngày nay không thiếu những kẻ nhƣ Từ Lộ, thậm chí có ở mọi nơi. Con ngƣời đang tự huỷ hoại tâm hồn mình bằng sự ảo tƣởng huyễn hoặc của quyền lực và bị sức mạnh đồng tiền cám dỗ. Cũng có những ngƣời bị lƣơng tâm dày vò cắn rứt, mong muốn hối cải để đƣợc sống thanh thản, nhƣng trƣớc ánh sáng chói loà của địa vị, tiền bạc, họ lại buông xuôi bản thân vào vòng xoáy băng hoại đạo đức. Đây chính là lời cảnh tỉnh, nhắc nhở với con ngƣời đang sống trong thời đại mới: hãy biết kiềm chế tham vọng mà vƣơn lên bằng nghị lực và niềm tin của mình. Quyền lực chỉ trở nên có ý nghĩa chân chính khi nó gắn với tính hƣớng thiện, với lòng nhân đạo. Rời xa nó, quyền lực dễ trở thành tội ác. Không sử dụng thủ pháp “nhại lịch sử” nhƣ Võ Thị Hảo, Nguyễn Huy Thiệp lại dùng thủ pháp “giả lịch sử” trong sáng tác của mình. Với các nhân vật Quang Trung, Gia Long... Nguyễn Huy Thiệp muốn dùng huyền thoại để “hoá giải” huyền thoại và kéo các nhân vật lịch sử lại cuộc sống đời thƣờng. Lịch sử đã biến thành dã sử, truyền kì, thành phƣơng tiện để chuyển tải tƣ tƣởng của nhà văn về vấn đề con ngƣời. Ví dụ trong Phẩm tiết, Quang Trung và Gia Long trở thành những con ngƣời bằng xƣơng bằng thịt với những ứng xử của đời thƣờng. Huyền thoại về Ngô Thị Vinh Hoa nói lên bản chất tự do, độc đáo, phi thƣờng cũng nhƣ bình thƣờng của cái đẹp. Vẻ đẹp siêu phàm của nàng nhƣ một liều thuốc thử để hai vị vua bộc lộ nhân cách. Cả Quang Trung và Nguyễn Ánh đều nhận đƣợc từ Vinh Hoa một lời cảnh tỉnh nghiêm khắc cho những tham vọng về quyền lực và căn bệnh ảo tƣởng duy ý chí. Còn trong Kiếm sắc, Đặng Phú Lân mang mộng tƣởng về công danh, địa vị, cuối cùng sự tận tuỵ lại đƣợc đáp đền bằng cái chết. Lân bị Ánh dùng chính thanh kiếm gia truyền của dòng họ chém đầu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 110. 108 Qua ba tác phẩm Kiếm sắc, Vàng lửa và Phẩm tiết - Nguyễn Huy Thiệp đã khắc hoạ chân dung những con ngƣời của thời đại và trả lời câu hỏi của cuộc sống hôm nay: nếu quá ảo mộng về công danh, tham vọng quá lớn về quyền lực sẽ sớm gặp thất bại. Đặc điểm giống nhau của hai thủ pháp “giả lịch sử” và “nhại lịch sử” là đều dùng các nhân vật lịch sử làm nguyên mẫu, rồi hƣ cấu để biến nó thành nhân vật của mình. Song điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ pháp này chính là ở ý nghĩa nghệ thuật của chúng. “Giả lịch sử” không mang ý nghĩa trào phúng. Nhà văn mƣợn truyện lịch sử với những nhân vật có thật để trả lời cho những câu hỏi của thời hiện đại (nếu có xuất hiện ý nghĩa trào phúng trong tác phẩm thì đó cũng không phải là đặc trƣng của thủ pháp này). Còn “nhại lịch sử” lại mang ý nghĩa trào phúng, giễu cợt, mỉa mai thậm chí có cả phê phán sâu sắc những vấn đề tồn tại của một xã hội, một thời đại, hay cả những chân dung vốn đƣợc sùng kính trong lịch sử. Qua đó nhà văn tạo nên một góc nhìn mới mẻ, gần gũi với đời sống thực tại, kéo lịch sử gần hơn với đời thƣờng và cũng nhằm phê phán những “mảng tối” còn khuất lấp của lịch sử, từ đó tìm ra bài học cho con ngƣời trong xã hội hiện nay. Nhƣ vậy, cùng viết về những vấn đề có liên quan đến lịch sử nhƣng mỗi nhà văn lại lựa chọn những phƣơng thức, thủ pháp nghệ thuật khác nhau nhằm biểu hiện quan điểm khác nhau về lịch sử. Với nhà văn Võ Thị Hảo, thủ pháp “nhại lịch sử” đã mang đến cho tác phẩm của chị hơi thở của thời đại mới cùng những “dấu ấn” rất riêng. Đọc Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, độc giả tự rút ra cho mình những kinh nghiệm sống có ý nghĩa nhân sinh cao cả. Và ít nhiều trong chúng ta sẽ soi thấy một phần bóng dáng của mình trong mỗi nhân vật, để sau đó con ngƣời biết yêu thƣơng, trân trọng nhau hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 111. 109 KẾT LUẬN 1. Luận văn tìm hiểu và nghiên cứu nội hàm khái niệm kì ảo trong văn học trên cơ sở những đánh giá, nhận xét, những bài nghiên cứu của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Việc xác định nội hàm khái niệm kì ảo quả thực không hề dễ dàng. Bởi đây là một khái niệm chƣa đƣợc thống nhất. Từ những cơ sở lí thuyết và khảo sát một số tác phẩm của văn học kì ảo Việt Nam và nƣớc ngoài, chúng tôi chỉ xem kì ảo nhƣ một thủ pháp nghệ thuật đƣợc nhiều cây bút vận dụng nhằm đạt đƣợc hiệu quả “lạ hoá” cho các tác phẩm và chuyển tải những vấn đề tâm huyết của tác giả về cuộc sống. Bàn về khái niệm văn học kì ảo, tuy có rất nhiều ý kiến khác nhau nhƣng chúng tôi đồng tình với quan niệm coi văn học có yếu tố kì ảo là một bộ phận văn học nhận thức và phản ánh cuộc sống từ đặc trƣng và thế mạnh của những yếu tố khác lạ, phi thƣờng, đôi khi vƣợt ra khỏi khả năng nhận thức thông thƣờng của lí trí. Từ những hiểu biết về cái kì ảo và cái kì ảo trong văn học, chúng tôi đi tìm và phần nào xác lập mạch nguồn kì ảo trong sáng tác Võ Thị Hảo. Những sáng tác kì ảo của Võ Thị Hảo là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Vẫn kế thừa những tinh hoa của nền văn học kì ảo xƣa cũ (mà ta thƣờng thấy trong các sáng tác dân gian nhƣ cổ tích, thần thoại hay những sáng tác thời kì Trung đại nhƣ Truyền kì) trong việc tạo ra sự kì lạ, phi thực và xây nên một bức tƣờng thành mờ ảo bao quanh các nhân vật và sự kiện trong câu chuyện. Bên cạnh sự kế thừa có chọn lọc đó, Võ Thị Hảo còn đổi mới, sáng tạo trong việc sử lí chất liệu kì ảo. Không chỉ đi theo môtip vốn có của truyền thống nhƣ xây dựng chân dung những hình nhân dị dạng, những kiểu ngƣời quái dị hay những con ngƣời thuộc thế giới thần linh ma quỷ... nhà văn này còn hƣớng ngòi bút của mình sang một vấn đề khác: khai thác những con ngƣời vốn có thực đƣợc ghi trong lịch sử cách đây cả ngàn năm trƣớc. Chính việc lựa chọn chủ đề và chủ thể độc đáo này đã đƣa đến cho ngƣời đọc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 112. 110 một cái nhìn mới mẻ, đa diện về quá khứ. Nhà văn tái tạo nên bức tranh không giản đơn chỉ với một gam màu hiện thực mà còn phủ nên nó ánh sáng huyền hoặc đầy quyến rũ. Trong thế giới vừa ảo vừa thực đó, con ngƣời hiện ra vừa chân vừa hƣ, lấp lánh hào quang nhƣng cũng không ít đen tối. Có thể nói việc sử dụng yếu tố kì ảo vừa truyền thống vừa hiện đại trong hai tác phẩm trên là một bƣớc “đột phá” lớn lao, đánh dấu tài năng Võ Thị Hảo và đƣa tên tuổi chị vào đội ngũ những cây bút sáng tác nổi bật của khuynh hƣớng văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại. 2. Luận văn của chúng tôi đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu những dạng thức biểu hiện của yếu tố kì ảo qua các nhân vật. Hệ thống nhân vật của Giàn thiêu và Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm đƣợc chia làm hai loại: Những nhân vật có yếu tố kì ảo: đây là những con ngƣời bình thƣờng, gần gũi trong cuộc sống. Ta có thể bắt gặp họ ở khắp nơi trong đời thực. Thậm chí còn có những con ngƣời từng đƣợc vinh danh trong chính sử và đƣợc nhiều ngƣời biết đến nhƣ vua Thần Tông hay nguyên phi Ỷ Lan. Sự kì ảo của những nhân vật này là do các lực lƣợng siêu nhiên đem lại và do ngoại cảnh tác động đến chứ không nằm ở bản chất nhân vật. Đôi khi yếu tố kì ảo chỉ nằm ở một số bộ phận mà không phải toàn thể, cũng có thể đến ở một đoạn đời chứ không thấm đẫm toàn bộ cuộc đời nhân vật. Qua sự hƣ cấu, tƣởng tƣợng đó, nhân vật trở nên hấp dẫn và kì bí hơn. Có thể kể đến một số nhân vật khác nhƣ Nhuệ Anh, Ngạn La, Lý Trác, Pạng... Trái lại, loại nhân vật thứ hai - nhân vật kì ảo lại mang tính “phi nhân” đậm hơn. Yếu tố kì ảo nằm trong bản chất nhân vật chứ không phải do ngoại cảnh đem lại và yếu tố này cũng bao trùm toàn bộ cuộc đời, số phận nhân vật (mà không dừng lại ở một đoạn đời hay một chi tiết nào đó). Gồm những kiểu nhân vật: nhân vật bán thần (đại sƣ Tzu, Thập Quang đại sƣ); nhân vật bán quỷ (Đại Điên); nhân vật bán nhân bán vật (Cá Bơn, Dã Nhân) và nhân vật siêu thực (tƣớng quân cụt đầu, đàn bò biết bay, con Bƣớm ma...). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 113. 111 Tuy mức độ đậm nhạt của yếu tố kì ảo ở hai loại nhân vật trên là khác nhau nhƣng giữa chúng lại có một điểm chung thống nhất - đó là các dạng thức biểu hiện giống nhau. Cả nhân vật có yếu tố kì ảo và nhân vật kì ảo đều đƣợc ảo hoá ở số phận, hoàn cảnh xuất thân, ngoại hình, hành động và các chi tiết nghệ thuật đắt giá. Nhƣng dù ở phƣơng diện nào thì tác giả cũng đều sử dụng hai loại chi tiết nghệ thuật để miêu tả, đó là chi tiết phi thƣờng hoá và lạ hoá. Bên cạnh đó là nghệ thuật thể hiện yếu tố kì ảo nhằm tạo sự lạ hoá, mơ hồ cho tác phẩm. Trƣớc hết là những tình huống truyện có yếu tố kì ảo. Những tình huống này đƣợc xem nhƣ một “hạt nhân” quan trọng trong việc gắn kết các nhân vật và tạo sự liền mạch cho cốt truyện. Tiếp theo là một số thủ pháp nghệ thuật cũng đƣợc tác giả sử dụng khá thành công trong việc xây dựng chân dung nhân vật. Nhƣ thủ pháp “nhân hoá”, “lạ hoá”; thủ pháp ƣớc lệ tƣợng trƣng; thủ pháp so sánh, đối chiếu. Ngoài ra còn có các môtip nghệ thuật đƣợc vận dụng rất linh hoạt, sáng tạo, gồm: môtip gặp tiên, môtip quả báo, môtip hoá thân, môtip cầu sƣ học đạo, môtip đầu thai chuyển kiếp, môtip thần chú. Về ngôn ngữ, Võ Thị Hảo sử dụng hiệu quả nhiều động từ mạnh gây cảm giác bất ngờ, rùng rợn; những phó từ mang tính chất đột biến cùng các tính từ miêu tả với gam màu nóng - lạnh và những trạng từ chỉ không gian, thời gian mang yếu tố kì ảo. Đặc biệt thủ pháp “nhại lịch sử” đã góp phần đem đến cho tác phẩm một chất liệu tƣơi mới và hiện đại. Ngƣời đọc nhƣ đƣợc lạc vào thế giới hƣ ảo, khó phân biệt thực - ảo và có sự đan xen, đồng hiện của quá khứ - hiện tại. Lịch sử nhƣ đƣợc tái hiện trong hiện thực, những nhân vật đời thƣờng hay có mặt trong chính sử hiện ra với đầy đủ những phẩm chất, tính cách: sự cao cả, thánh thiện lẫn phần tham vọng, xấu xa, ích kỉ... 3. Cho đến nay, tác phẩm của Võ Thị Hảo chƣa nhiều, nhƣng qua đó độc giả có thể tìm thấy những chiêm nghiệm, triết lí về con ngƣời và đời sống, tìm thấy cả những trăn trở suy tƣ trƣớc cuộc đời phồn tạp. Ngòi bút của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 114. 112 chị đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cái ác, lay thức cái thiện. Võ Thị Hảo đóng góp vào khuynh hƣớng văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại một tiếng nói nhiều ý nghĩa về những vấn đề nhân sinh đặt ra trong cuộc sống hôm nay. Qua đó ta thấy đƣợc xu hƣớng dân chủ hoá, tự do hoá trong sáng tạo nghệ thuật của nhà văn này cũng nhƣ nhìn nhận đƣợc dòng chảy đang vận động hối hả với nhiều khuynh hƣớng sáng tác, nhiều biện pháp nghệ thuật đa dạng trong văn xuôi Việt Nam đƣơng đại. 4. Nghiên cứu Võ Thị Hảo trong sự đối sánh với một số tác giả cùng trong khuynh hƣớng văn học kì ảo nhƣ Nguyễn Bình Phƣơng, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài... cho ta thấy một cái nhìn mới mẻ và một góc tiếp cận khác lạ về hiện thực, từ đó khám phá sâu sắc hơn bản chất của hiện thực cuộc sống nhằm tìm ra những câu trả lời cho cuộc sống hôm nay về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, về sự tha hoá của một bộ phận ngƣời trong xã hội hiện đại, về mối quan hệ đầy mâu thuẫn giữa khát vọng quyền lực và xu thế hƣớng thiện trong con ngƣời. Từ đó mỗi cá nhân sẽ tự rút ra những bài học từ lịch sử cho bản thân mình. Ngoài vấn đề yếu tố kì ảo trong hai tác phẩm trên, chúng tôi thấy còn rất nhiều “mảnh đất màu mỡ” có thể đƣợc tiếp tục đào sâu tìm kiếm, nhƣ nghiên cứu về phong cách nghệ thuật Võ Thị Hảo, về kết cấu, ngôn từ, giọng điệu hay thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn này. 5. Hành trình văn học kì ảo đƣơng đại từ Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp đến Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phƣơng, Võ Thị Hảo... đã mang lại những thay đổi đáng kể trên tất cả các mặt của đời sống văn học, từ quan niệm về hiện thực, quan niệm về bản chất và chức năng của văn học cùng những biến hoá, phá cách trong bút pháp và sự chuyển biến trong tiếp nhận văn học. Sâu xa hơn, nó tạo một xu thế cách tân có nhiều thành tựu so với văn học Việt Nam trƣớc 1975: từ thời đại văn học sử thi 1965 - 1975 đến thời đại văn học phi sử thi sau 1975, đặc biệt là sau đổi mới 1987. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 115. 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tạ Duy Anh (1990), Bước qua lời nguyền, Nxb Văn học, H. 2. Tạ Duy Anh (1994), Luân hồi, Nxb Văn học, H. 3. Tạ Duy Anh (2003), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, H. 4. Tạ Duy Anh (2004), Thiên thần sám hối, Nxb Đà Nẵng. 5. Hoài Anh (2006), Tuyển tập truyện lịch sử (Mê Linh tụ nghĩa, quyển 3), Nxb Văn học, H. 6. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2008), Yếu tố kì ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, ĐHSP Thái Nguyên. 7. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, H. 8. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, H. 9. Lại Nguyên Ân (2005), Tiểu thuyết và lịch sử (nhân đọc Giàn thiêu của Võ Thị Hảo). 10. M.Bakhtin (1993), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cƣ dịch), Trƣờng viết văn Nguyễn Du, H. 11. Y Ban (1998), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, H. 12. Lê Nguyên Cẩn (1999), Cái kì ảo trong tác phẩm Banlzac, Nxb Giáo dục, H. 13. Nguyễn Minh Châu (2003), Truyện ngắn, Nxb Văn học, H. 14. Nguyễn Huệ Chi (1999), Một vài phương diện tư tưởng và nghệ thuật của Bồ Tùng Linh trong Liêu Trai chí dị, TCVH (5), Tr 28 - 37. 15. Nguyễn Hà (2005), Nhà văn Võ Thị Hảo - Tôi thích những nhân vật nữ nổi loạn, Báo Truyền Hình HN, Tr 66. 16. Nguyễn Việt Hà (1999), Cơ hội của chúa, Nxb Văn học, H. 17. Phùng Hữu Hải (2006), Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau 1975, evan.com.vn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 116. 114 18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, H. 19. Nguyễn Đức Hạnh (2008), Tiểu thuyết Việt Nam thời kì 1965 - 1975 nhìn từ góc độ thể loại, Nxb GD, H. 20. Võ Thị Hảo (2005), Giàn thiêu, Nxb Phụ nữ, H. 21. Võ Thị Hảo (2005), Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, Nxb Phụ nữ, H. 22. Võ Thị Hảo (2006), Người sót lại của rừng cười, Nxb Phụ nữ, H. 23. Võ Thị Hảo (2005), Goá phụ đen, Nxb Phụ nữ, H. 24. Võ Thị Hảo (2005), Hồn Trinh nữ, Nxb Phụ nữ, H. 25. Hoàng Hoa (2001), Nhà văn, nhà báo Võ Thị Hảo - Tôi ngồi bệt trên đất, và viết, TC Nghề báo (1), Tr 28. 26. Phạm Thị Hoài (1989), Thiên sứ, Nxb Trẻ, Tp HCM. 27. Đỗ Thu Hƣơng (2001), Phương thức huyền thoại hoá và sự biểu hiện đời sống tâm linh trong văn xuôi Việt Nam từ sau 1975, Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, ĐHSP HN. 28. Ngô Tự Lập (1999), Truyện kì ảo thế giới, Nxb Văn học, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây. 29. Ngô Tự Lập (1999), Những đường bay của mê lộ (về văn học kì ảo), TC Sông Hƣơng (127), Tr 79 - 86. 30. Bồ Tùng Linh (1999), Liêu trai chí dị (Nguyễn Huệ Chi nghiên cứu, tuyển chọn, hiệu đính), Văn nghệ, Tp HCM. 31. Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Phƣơng Nam...(2006), Lí luận văn học, Nxb GD, H. 32. G.Macket (2000), Trăm năm cô đơn, Nguyễn Trung Đức, Phạm Thành Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch, Nxb Văn học, H. 33. Nguyễn Đăng Mạnh (1983), Nhà văn - tư tưởng - phong cách, Nxb Văn học, H. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 117. 115 34. Nguyễn Đăng Mạnh (1996), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb GD, H. 35. Nguyễn Hoài Nam (2005), Giàn thiêu - một nghệ thuật làm tan khối băng lịch sử, Báo Ngƣời đại biểu nhân dân, Tr 5. 36. Nguyễn Thị Hồng Ngân (2004), Yếu tố kì ảo trong “Chuyện kì ngộ ở Trại Tây” và “Đối tụng ở Long Cung”, Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ, Đề tài nghiên cứu khoa học, ĐHSP Thái Nguyên. 37. Lƣơng Thị Bích Ngọc (2004), Võ Thị Hảo giữa những trang viết, trang đời, Báo Thể thao và Văn hoá (53), Tr 25. 38. Thụ Nhân (2005), Toạ đàm về sáng tác của Võ Thị Hảo, www.vn/vanhoa/tintuc. 39. Báo Thanh niên (2003), Nhà văn Võ Thị Hảo với Giàn thiêu, www.tintucviêtnam.com/News/5742.ttvn. 40. Bảo Ninh (1991), Nỗi buồn chiến tranh, Nxb Hội nhà văn, H. 41. Nhiều tác giả (2001), Truyện ngắn hay 2001, Nxb Hội nhà văn, H. 42. Nguyễn Bình Phƣơng (2002), Những đứa trẻ chết già, Nxb Hội nhà văn, H. 43. Nguyễn Bình Phƣơng (2004), Thoạt kì thuỷ, Nxb Hội nhà văn, H. 44. G.N. Pôxpêlôp (cb), (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb GD, H. 45. Nguyễn Hữu Sơn (2002), Loại hình tác phẩm “Thiền uyển tập anh”, Nxb KHXH, H. 46. Trần Đình Sử (1999), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb GD, H. 47. Trần Đình Sử (2002), Thi pháp “Truyện Kiều” , Nxb GD, H. 48. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Vụ giáo viên, H. 49. Trần Đình Sử (1996), Lí luận và phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, H. 50. Hồ Anh Thái (2002), Cõi người rung chuông tận thế, Nxb Đà Nẵng. 51. Hồ Anh Thái (2007), Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Nxb Hội nhà văn, H. 52. Bùi Thị Thuỷ (2009), Cái kì ảo trong một số truyện ngắn của Hồ Anh Thái, Đề tài nghiên cứu khoa học, ĐHSP Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 118. 116 53. Nguyễn Huy Thiệp (2005), Truyện ngắn, Nxb Hội nhà văn, H. 54. Lê Ngọc Trà (2001), Văn hoá Việt Nam - đặc trưng và cách tiếp cận, Nxb GD, H. 55. Bùi Thanh Truyền (2006), Yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam, Luận án tiến sĩ ngữ văn, H. 56. Nguyễn Khắc Trƣờng (2002), Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nxb Hội nhà văn, H. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 119. 117 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1 1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 2 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 7 5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................ 7 6. Đóng góp của luận văn ........................................................................... 7 7. Cấu trúc luận văn .................................................................................... 7 NỘI DUNG Chƣơng 1. SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO TRONG KHUYNH HƢỚNG VĂN HỌC KÌ ẢO VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI ..................... 8 1.1. Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác Võ Thị Hảo ........................... 8 1.1.1. Tiểu sử .......................................................................................... 8 1.1.2. Sự nghiệp sáng tác ........................................................................ 9 1.2. Những sáng tác đậm chất kì ảo của Võ Thị Hảo ................................ 10 1.3. Võ Thị Hảo trong khuynh hƣớng văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại .........10 1.3.1. Khái niệm kì ảo và văn học có yếu tố kì ảo ................................. 10 1.3.2. Diện mạo của văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại ....................... 19 1.3.3. Võ Thị Hảo trong khuynh hƣớng văn học kì ảo Việt Nam đƣơng đại .. 21 Chƣơng 2. CÁC KIỂU NHÂN VẬT KÌ ẢO TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO ............................................................................. 28 2.1. Khái niệm về nhân vật văn học và quan niệm về nhân vật kì ảo ........ 28 2.1.1. Khái niệm về nhân vật văn học ................................................... 28 2.1.2. Quan niệm về nhân vật kì ảo ....................................................... 29 2.2. Nhân vật kì ảo qua cái nhìn loại hình trong tiểu thuyết Giàn thiêu và tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm........................ 29 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 120. 118 2.3. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời của Võ Thị Hảo .......................... 67 Chƣơng 3. NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN YẾU TỐ KÌ ẢO TRONG SÁNG TÁC CỦA VÕ THỊ HẢO ........................................................ 72 3.1. Tình huống truyện có yếu tố kì ảo ..................................................... 72 3.2. Một số thủ pháp nghệ thuật ................................................................ 79 3.2.1. Thủ pháp “vật hoá”, “lạ hoá” ...................................................... 79 3.2.2. Ƣớc lệ tƣợng trƣng ..................................................................... 81 3.2.3. So sánh, đối chiếu ....................................................................... 83 3.3. Các môtip nghệ thuật ......................................................................... 85 3.4. Ngôn từ nghệ thuật nhƣ một phƣơng tiện thể hiện yếu tố kì ảo .......... 92 3.4.1. Động từ mạnh gây cảm giác bất ngờ, rùng rợn............................ 93 3.4.2. Các phó từ mang tính chất đột biến ............................................. 95 3.4.3. Tính từ miêu tả với gam màu nóng - lạnh ................................... 96 3.4.4. Trạng từ chỉ không gian, thời gian mang yếu tố kì ảo ................. 99 3.5. Thủ pháp “nhại” lịch sử ................................................................... 101 KẾT LUẬN ................................................................................................ 109 TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................... 113 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 121. 119 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Khảo sát hình ảnh đôi mắt mang ý nghĩa tƣợng trƣng cho đời sống nội tâm nhân vật ................................................................... 53 Bảng 2.2. Sự biểu hiện của yếu tố kì ảo qua các nhân vật .............................. 66 Bảng 3.1. Khảo sát các tình huống có yếu tố ảo - thực và ý nghĩa nghệ thuật của chúng ............................................................................. 78 Bảng 3.2. Giấc mơ và sự biểu hiện của nó qua các nhân vật trong Giàn thiêu ..... 90 Bảng 3.3. Bảng so sánh tần số xuất hiện phó từ, tính từ, động từ gắn với yếu tố kì ảo trong sáng tác của Võ Thị Hảo, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh ........................................................................... 99 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

×