Your SlideShare is downloading. ×
Tailieu.vncty.com   thuong-mai-dien-tu-va-thuc-trang-ung-dun (1)
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Saving this for later?

Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime - even offline.

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Tailieu.vncty.com thuong-mai-dien-tu-va-thuc-trang-ung-dun (1)

123
views

Published on

http://tailieu.vncty.com

http://tailieu.vncty.com

Published in: Internet

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
123
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
3
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Khoá luận tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những tiến bộ to lớn về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã tạo ra bước ngoặt mới cho sự phát triển kinh tế xã hội toàn cầu. Chính trên nền tảng đó, một phương thức thương mại mới đã xuất hiện và phát triển nhanh chóng, đó là thương mại điện tử. Thương mại điện tử chính là một công cụ hiện đại sử dụng mạng Internet giúp cho các doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường thế giới, thu thập thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và chính xác hơn. Với thương mại điện tử, các doanh nghiệp cũng có thể đưa các thông tin về sản phẩm của mình đến các đối tượng khách hàng tiềm năng khác nhau ở mọi nơi trên thế giới với chi phí thấp hơn nhiều so với các phương pháp truyền thống. Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử trên thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bộ phận chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các doanh nghiệp Việt Nam, cũng đã bước đầu nhận thức được Ých lợi và tầm quan trọng của việc ứng dụng thương mại điện tử. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế trong nhận thức của bản thân các doanh nghiệp cũng như các điều kiện cơ sở hạ tầng, việc ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam có thể nói mới ở mức độ sơ khởi. Vì thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần xây dùng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay nhằm tiếp cận nhiều hơn nữa với thương mại điện tử để có thể khai thác tối đa lợi Ých mà phương thức kinh doanh này đem lại. Đây cũng là lý do để tác giả lùa chọn đề tài “Thương mại điện tử và thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài Lê Thu Phương 1 A5 - K38B
  • 2. Khoá luận tốt nghiệp Thứ nhất, bước đầu tìm hiểu một số khái niệm về thương mại điện tử để tiến tới một nhận thức toàn diện hơn về thương mại điện tử, điều mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên biết khi quan tâm đến việc ứng dụng thương mại điện tử. Thứ hai, nhấn mạnh xu thế tất yếu phải tham gia vào thương mại điện tử qua vài nét phác hoạ về tình hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới, một số khu vực kinh tế và một số nước điển hình. Thứ ba, phân tích tình tình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam nói chung và ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nói riêng, qua đó đưa ra một vài đánh giá sơ bộ về thực trạng áp dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Thứ tư, trên cơ sở phân tích đánh giá, đưa ra một số phương hướng phát triển ứng dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, đồng thời đề cập đến một số giải pháp về phía chính phủ và về phía bản thân các doanh nghiệp để có thể phát triển hơn nữa ứng dụng thương mại điện tử. Thương mại điện tử đã và đang bắt đầu được áp dụng trong nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhất là các doanh nghiệp lớn có điều kiện thuận lợi về vốn và công nghệ. Tuy nhiên, trong điều kiện giới hạn về thời gian và tài liệu, khoá luận này chỉ xin tập trung nghiên cứu việc ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay. 3. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu sử dụng cho đề tài bao gồm phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp lý thuyết với thực tiễn. Đồng thời, để cung cấp thông tin được chính xác, cập nhật, đề tài có sử dụng một số sách, đề tài nghiên cứu về các vấn đề có liên quan, các tạp chí và thông tin trên Internet. 4. Kết cấu của đề tài: Lê Thu Phương 2 A5 - K38B
  • 3. Khoá luận tốt nghiệp Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về thương mại điện tử. Chương 2: Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, ThS. Nguyễn Quang Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài khoá luận tốt nghiệp này. Đồng thời, em còng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Trường Đại học Ngoại thương cùng các bạn đã giúp đỡ em thực hiện đề tài. Lê Thu Phương 3 A5 - K38B
  • 4. Khoá luận tốt nghiệp CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ I. KHÁI NIỆM VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm thương mại điện tử Thương mại điện tử từ khi ra đời đã có nhiều tên gọi khác nhau như “thương mại trực tuyến”(online trade) (hay còn gọi là “thương mại tại tuyến”), “thương mại điều khiển học” (cybertrade), “kinh doanh điện tử” (electronic business), “thương mại không có giấy tờ” (paperless commerce hoặc paperless trade)…Tuy nhiên, cho đến nay, tên gọi “thương mại điện tử” (electronic commerce) được sử dụng nhiều nhất rồi trở thành quy ước chung và được đưa vào văn bản pháp luật quốc tế, dù rằng các tên gọi khác vẫn có thể được dùng và hiểu với cùng một nội dung. Theo quan niệm phổ biến, thương mại điện tử (Electronic Commerce), một yếu tố hợp thành của “nền kinh tế số hoá”, là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất kỳ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn gọi là “thương mại không có giấy tờ”) Trong định nghĩa trên, chữ “thông tin” (information) không được hiểu theo nghĩa hẹp là “tin tức” mà là bất cứ cái gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các tập tin văn bản (text-based file), các cơ sở dữ liệu (database), các bảng tính (spreadsheet), các bản vẽ thiết kế bằng máy tính điệ tử (computer-aid design: CAD), các hình đồ hoạ (graphical image), quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hoá đơn, biểu giá, hợp đồng, hình ảnh động(video image), âm thanh,... Theo Đạo luật mẫu về thương mại điện tử do Uỷ ban thuộc Liên hợp Lê Thu Phương 4 A5 - K38B
  • 5. Khoá luận tốt nghiệp quốc về Luật thương mại quốc tế soạn thảo và đã được Liên hợp quốc thông qua thì “Thương mại” (Commerce) trong “thương mại điện tử” (Electronic Commerce) bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại (commercial) bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá, dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng (factoring); cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá, hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bé. Uỷ ban châu Âu cũng đưa ra định nghĩa thương mại điện tử như sau: Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện kinh doanh qua các phương tịên điện tử. Nó dùa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng văn bản, âm thanh và hình ảnh. Thương mại điện tử trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi, trong đó có hoạt động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo). Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như các thông tin số hoá qua mạng Lê Thu Phương 5 A5 - K38B
  • 6. Khoá luận tốt nghiệp Internet. Còn theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dùa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet. Như vậy, “thương mại” trong “thương mại điện tử” không chỉ là buôn bán hàng hoá (trade) theo cách hiểu thông thường mà còn bao quát một phạm vi rộng hơn nhiều, do đó, việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi cách thức hoạt động của hầu hết các hoạt động kinh tế. Theo ước tính hiện nay, thương mại điện tử có tới trên 1300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng. 2. Sù ra đời của thương mại điện tử Thương mại điện tử ra đời trên cơ sở sự ra đời và phát triển của Internet -mạng máy tính toàn cầu. Ý tưởng về Internet xuất hiện từ những năm 1960 khi Bộ quốc phòng Mỹ bắt tay vào thực hiện việc nghiên cứu kết nối các máy tính thành một mạng lưới chằng chịt để khi một mối liên kết bị phá háng thì các máy tính vẫn có thể nối kết với nhau bằng các mối liên hệ khác. Trong thời gian này, Cơ quan nghiên cứu các dự án quốc phòng cao cấp của Mỹ (ARPA) đã tìm kiếm các công nghệ truyền thông cho phép truyền thông liên tục thậm chí cả khi các trung tâm điều khiển không hoạt động được. Điều này dẫn tới việc nghiên cứu các công nghệ chuyển mạch gói. Kết quả là, tới năm 1977, hai giao thức chuyển mạch gói là Giao thức điều khiển truyền thông (TCP) và Giao thức Internet (IP) được phát minh và trở thành hai giao thức cơ bản của Internet. Một bước quan trọng trong cuộc cách mạng Internet là việc Trung tâm khoa học quốc gia Hoa Kỳ (NSF) thiết lập ra một số trung tâm siêu máy tính quốc gia vào năm 1986. NSF đã liên kết các siêu máy tính và cho phép các mạng máy tính của khu vực và các trường đại học được kết nối vào. Hơn thế Lê Thu Phương 6 A5 - K38B
  • 7. Khoá luận tốt nghiệp nữa, để sử dụng mạng truy cập từ xa các siêu máy tính của NSF, người ta đã phát triển các chương trình ứng dụng như là thư điện tử, giao thức truyền tệp và các nhóm tin để việc chia sẻ thông tin được thuận tiện hơn. Liên kết của các trường đại học với mạng của NSF để kết nối được với các siêu máy tính chính là nguồn gốc của Internet ngày nay. Internet tiếp tục phát triển rộng thành mạng toàn cầu khi các nước khác cũng xin gia nhập mạng. Đặc biệt, khi có sự phát triển của World Wide Web (www) và sự ra đời của các trình duyệt web đồ hoạ, Internet đã nhanh chóng thu hót được sự quan tâm chú ý của những người ở ngoài cộng đồng giáo dục và chính phủ. Với tính chất quốc tế và những tiện Ých của các dịch vụ Internet, các nhà quảng cáo và sau đó là các doanh nghiệp đã không bỏ lỡ cơ hội làm ăn trên mạng. Từ đó, một phương thức kinh doanh mới của thương mại toàn cầu xuất hiện và khái niệm thương mại điện tử ra đời. Sau đó, Đạo luật mẫu về thương mại điện tử do Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về thương mại quốc tế (UNCITRAL: United Nations Comission on International Trade Law) soạn thảo đã được Liên Hiệp Quốc chính thức thông qua, trở thành một cơ sở pháp lý chính thức cho thương mại điện tử trên thế giới. II. CÁC PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Các phương tiện kỹ thuật sử dụng trong thương mại điện tử 1.1 Điện thoại Điện thoại là một phương tiện được sử dụng nhiều trong giao dịch thương mại bởi tính dễ sử dụng và sự phát triển rộng rãi của mạng điện thoại trên toàn cầu, đặc biệt là sự phát triển của điện thoại di động và liên lạc qua vệ tinh. Qua điện thoại, các đối tác có thể liên lạc, trao đổi trực tiếp với nhau bằng giọng nói. Với đặc điểm này, nhiều loại dịch vụ có thể cung cấp trực tiếp qua điện thoại như dịch vụ bưu điện, ngân hàng, hỏi đáp, tư vấn, giải trí... Lê Thu Phương 7 A5 - K38B
  • 8. Khoá luận tốt nghiệp Tuy nhiên, hạn chế của điện thoại là chỉ truyền tải được âm thanh, giao dịch chính thức vẫn phải thực hiện trên giấy tờ. Ngoài ra, chi phí cho giao dịch qua điện thoại, nhất là điện thoại đường dài trong nước và quốc tế vẫn còn cao nên hiệu quả kinh tế thấp. 1.2 Máy Fax Ưu điểm lớn nhất của máy fax là cho phép truyền các văn bản trên giấy trong thời gian rất ngắn, giúp tiết kiệm được rất nhiều thời gian so với cách gửi thư và công văn truyền thống, đặc biệt là khi các đối tác giao dịch ở các nước khác nhau. Tuy nhiên, máy fax có một số hạn chế như không thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba chiều nên Ýt hấp dẫn đối với người sử dụng. Hơn nữa, giá thiết bị và chi phí sử dụng còn cao nên việc sử dụng máy fax có tính kinh tế thấp. 1.3 Truyền hình Mức độ phổ thông của máy thu hình trên toàn thế giới và tầm phủ sóng rộng rãi của vô số các kênh truyền hình đặc biệt là với sự phát triển của hệ thống cáp quang và truyền hình phủ sóng qua vệ tinh đã khiến các nhà kiinh doanh tìm thấy ở truyền hình một phương tiện kinh doanh hữu hiệu với việc thực hiện các chương trình quảng cáo trên truyền hình. Tuy nhiên, điểm hạn chế là truyền hình chỉ là công cụ viễn thông một chiều. Qua truyền hình, những khách hàng quan tâm đến sản phẩm được quảng cáo không thể tìm kiếm các dịch vụ chào hàng cũng như đàm phán với người bán về các điều khoản cụ thể. Hiện nay, nhờ được kết nối với máy tính điện tử, công dụng của máy thu hình đã được mở rộng hơn và nhược điểm này có thể được khắc phục. 1.4 Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử Trong thương mại điện tử việc thanh toán có thể được thực hiện thông qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử. Đây thực chất là các phương tiện cho phép tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản Lê Thu Phương 8 A5 - K38B
  • 9. Khoá luận tốt nghiệp khác. Những phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thanh toán điện tử là máy rút tiền tự động (ATM: Automatic Teller Machine), các loại thẻ tín dụng (credit card), thẻ mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smart card - là một loại thẻ từ có gắn vi chíp điện tử mà thực chất là một máy tính điện tử rất nhá)... 1.5 Intranet và Extranet Mạng nội bộ (Intranet) theo nghĩa rộng là mạng thông tin trong nội bộ một cơ quan, mét doanh nghiệp. Bằng sự nối kết giữa các máy tính điện tử trong cơ quan, doanh nghiệp cùng với các liên lạc di động , các thành viên trong cơ quan, doanh nghiệp đó có thể liên lạc, trao đổi thông tin và phối hợp hoạt động với nhau thông qua mạng này. Theo nghĩa hẹp, mạng nội bộ có thể là mạng kết nối các máy tính ở gần nhau, gọi là mạng cục bộ (LAN: Local Area Network), hoặc mạng kết nối các máy tính trong mét khu vực rộng lớn hơn, gọi là mạng miền rộng (WAN: Wide Area Network). Hai hay nhiều mạng nội bộ liên kết với nhau sẽ tạo thành một liên mạng nội bộ hay còn gọi là mạng ngoại bộ (Extranet) và tạo ra một cộng đồng điện tử liên xí nghiệp (inter-enterprise electronic community) . 1.6 Internet và Web Khi nói Internet là nói tới một phương tiện liên kết các mạng với nhau trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế TCP/IP. Công nghệ Internet chỉ thực sự trở thành công cụ đắc lực khi áp dụng thêm giao thức chuẩn quốc tế HTTP (HyperText Transfer Protocol - Giao thức truyền siêu văn bản) với các trang siêu văn bản viết bằng ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML (HyperText Markup Language), tạo ra hàng chục dịch vụ khác nhau, nhưng nổi bật nhất tới nay là dịch vụ World Wide Web ra đời năm 1991 (thường gọi tắt là web, viết tắt là WWW). Web là công nghệ sử dụng các siêu liên kết văn bản (hyper link, hyper text), là một giao thức để tạo ra các liên kết động trong hoặc giữa các văn bản, hay nói cách khác là tạo ra các văn bản Lê Thu Phương 9 A5 - K38B
  • 10. Khoá luận tốt nghiệp chứa nhiều tham chiếu tới các văn bản khác. Nó cho phép người sử dụng tự động chuyển từ một cơ sở dữ liệu này sang một cơ sở dữ liệu khác. Bằng cách đó, người sử dụng có thể truy cập các thông tin thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau và dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản, đồ hoạ, âm thanh... Web với tư cách là một không gian ảo cho thông tin đã được toàn thế giới chấp nhận làm tiêu chuẩn giao tiếp thông tin. Ngày nay, do công nghệ Internet được áp dụng rộng rãi vào việc xây dựng các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ nên càng ngày người ta càng hiểu các mạng này là các “phân mạng” (subnet) của Internet. Sù ra đời và phát triển của Internet đã tạo đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá, tạo ra bước phát triển mới của ngành truyền thông và đã trở thành công cụ quan trọng nhất của thương mại điện tử. Dù có hay không có Internet/Web, ta vẫn có thể làm thương mại điện tử (qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ cùng với các phương tiện điện tử khác), song ngày nay, nói tới thương mại điện tử thường có nghĩa là nói tới Internet/Web, vì thương mại đã và đang trong tiến trình toàn cầu hoá và hiệu quả hoá, nên cả hai xu hướng Êy đều đòi hỏi phải sử dụng triệt để Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao độ và có hiệu quả sử dụng cao. 2. Các hình thức hoạt động chủ yếu của thương mại điện tử 2.1 Thư điện tử (e-mail) Các đối tác (người tiêu dùng, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ) sử dụng hòm thư điện tử để gửi thư cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư điện tử (electronic mail, gọi tắt là e-mail). Đây là một thứ thông tin ở dạng “phi cấu trúc” (unstructured form), nghĩa là thông tin không phải tuân thủ một cấu trúc đã thoả thuận trước. 2.2 Thanh toán điện tử (electronic payment) Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử Lê Thu Phương 10 A5 - K38B
  • 11. Khoá luận tốt nghiệp (electronic message). Sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử đã hướng thanh toán điện tử mở rộng sang các lĩnh vực mới , đó là: ♣ Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính ( FEDI - Financial Electronic Data Interchange) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch với nhau bằng điện tử. ♣ Tiền mặt Internet (Internet Cash) là tiền mặt được mua từ một nơi phát hành (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng), sau đó được chuyển đổi tự do sang các đồng tiền khác thông qua Internet. Tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hoá, vì thế tiền mặt này còn có tên gọi là “tiền mặt số hoá” (digital cash), công nghệ đặc thù chuyên phục vụ mục đích này có tên gọi là “mã hoá khoá công khai/bí mật” (Public/Private Key Crypto-graphy). Thanh toán bằng tiền mặt Internet đang trên đà phát triển nhanh vì có hàng loạt ưu điểm nổi bật: - Có thể dùng cho thanh toán những món hàng giá trị nhỏ; - Có thể tiến hành giữa hai con người hoặc hai công ty bất kỳ mà không đòi hỏi phải có một quy chế được thoả thuận trước, các thanh toán là vô hình; - Tiềnmặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được nguy cơ tiền giả. ♣ Tói tiền điện tử (electronic purse, còn gọi là “ví điện tử”) nói đơn giản là nơi để tiền mặt Internet mà chủ yếu là thẻ thông minh (smart card, hay còn gọi là thẻ giữ tiền - stored value card); tiền được trả cho bất cứ ai đọc được thẻ đó; kỹ thuật của tói tiền điện tử về cơ bản là kỹ thuật “mã hoá khoá công khai/bí mật” tương tự như kỹ thuật áp dụng cho “tiền mặt Internet”. ♣ Thẻ thông minh (smart card) nhìn bề ngoài tương tự như thẻ tín dụng, nhưng ở mặt sau của thẻ, thay vì dải từ, lại là một chip máy tính điện tử có một bộ nhớ nhỏ để lưu trữ tiền số hoá, tiền Êy chỉ được chi trả khi người sử dụng và thông điệp (ví dụ xác nhận thanh toán hoá đơn) được xác thực là “đúng”. Lê Thu Phương 11 A5 - K38B
  • 12. Khoá luận tốt nghiệp ♣ Giao dịch ngân hàng số hoá (digital banking) và giao dịch chứng khoán số hoá (digital securities trading). Hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng là một đại hệ thống, gồm nhiều tiểu hệ thống: - Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng (qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ, các ki-ốt, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giao dịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng...); - Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị...); - Thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng; - Thanh toán giữa hệ thống ngân hàng này với hệ thống ngân hàng khác. 2.3 Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI - Electronic Data Interchange) Trao đổi dữ liệu điện tử là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form) từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác trong nội bộ công ty, hay giữa các công ty hoặc tổ chức đã thoả thuận buôn bán với nhau theo cách này một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu có cấu trúc vì các bên đối tác phải thoả thuận từ trước khuôn dạng cấu trúc của các thông tin). Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế đã đưa ra định nghĩa pháp lý sau: “Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả thuận về cấu trúc thông tin”. EDI ngày càng được sử dụng rộng rãi trên bình diện toàn cầu và chủ yếu được thực hiện thông qua các mạng nội bộ và liên mạng nội bộ. Thương mại điện tử qua biên giới (Cross-border electronic commerce) về bản chất là trao đổi dữ liệu điện tử giữa các doanh nghiệp được thực hiện giữa các đối tác ở các quốc gia khác nhau, với các nội dung: giao dịch kết nối, đặt hàng, giao dịch gửi hàng (shipping) và thanh toán. Trên bình diện này, nhiều Lê Thu Phương 12 A5 - K38B
  • 13. Khoá luận tốt nghiệp khía cạnh còn phải tiếp tục xử lý, đặc biệt là buôn bán giữa các nước có quan điểm, chính sách và luật pháp thương mại khác nhau về căn bản, đòi hỏi phải có từ trước một dàn xếp pháp lý trên nền tảng thống nhất quan điểm về tự do hoá thương mại và tự do hoá việc sử dụng Internet. Chỉ như vậy mới có thể đảm bảo được tính khả thi, tính an toàn và tính hiệu quả của trao đổi dữ liệu điện tử. 2.4 Giao gửi số hoá các dung liệu (Digital delivery of content) Giao gửi số hoá các dung liệu là việc mua bán, trao đổi các sản phẩm mà người ta cần nội dung, tức là hàng hoá, chứ không cần tới vật mang hàng hoá như phim ảnh, âm nhạc, các chương trình truyền hình, phần mềm máy tính... Các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm... nay cũng đã được đưa vào danh mục các dung liệu (content). Đồng thời, trên giác độ kinh tế - thương mại, các loại thông tin kinh tế và kinh doanh trên Internet đều có ở mức phong phó, do đó một nhiệm vụ quan trọng của công tác thông tin ngày nay là khai thác trực tiếp được lượng thông tin trên Web và phân tích tổng hợp lượng thông tin này sao cho phù hợp với mục đích sử dông. 2.5 Bán lẻ hàng hoá hữu hình (retail of tangible goods) Để tận dụng tính năng đa phương tiện (multimedia) của môi trường Web và Java, người bán xây dựng trên mạng các cửa hàng ảo (virtual shop) để thực hiện việc bán hàng. Người sử dụng Internet/Web tìm trang Web của cửa hàng, xem hàng háo hiển thị trên màn hình, xác nhận mua và trả tiền bằng thanh toán điện tử. Vì là hàng hoá hữu hình nên tất yếu sau đó cửa hàng phải dùng các phương tiện gửi hàng truyền thống để đưa hàng tới tay khách. Điều quan trọng nhất là khách hàng có thể mua hàng tại nhà (home shopping) mà không cần phải đích thân đi tới cửa hàng. 3. Các loại giao tiếp trong thương mại điện tử Lê Thu Phương 13 A5 - K38B
  • 14. Khoá luận tốt nghiệp - Giao tiếp giữa người với người: qua điện thoại, thư điện tử, máy fax; - Giao tiếp giữa người với máy tính điện tử: trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử (Electronic form) và qua mạng Internet; - Giao tiếp giữa máy tính điện tử với người: qua thư tín do máy tính tự động sinh ra, qua máy fax và thư điện tử; - Giao tiếp giữa máy tính điện tử với máy tính điện tử: qua việc trao đổi dữ liệu có cấu trúc, thẻ thông minh, các dữ liệu mã hoá bằng vạch (barcoded data, cũng gọi là dữ liệu mã vạch). 4. Các giao dịch thương mại điện tử 4.1 Căn cứ theo đối tượng giao dịch Các giao dịch thương mại điện tử hiện nay được xây dựng dùa trên các mối quan hệ giữa các chủ thể bao gồm chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng. Do vậy, căn cứ theo đối tượng giao dịch, trong thương mại điện tử có thể có các giao dịch sau: - B to B (Business to Business): là giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau và giao dịch bên trong doanh nghiệp (Business to Employee). Các doanh nghiệp thường sử dụng hình thức giao dịch này để trao đổi chứng từ, thanh toán tiền hàng và trao đổi thông tin. Hình thức trao đổi này thường được các doanh nghiệp sử dụng mạng Intranet và Extranet để giao dịch. - B to C (Business to Consumer): là giao dịch giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, minh hoạ cụ thể là việc bán hàng qua mạng, làm cho việc mua sắm của người tiêu dùng trở nên thuận tiện hơn vì người tiêu dùng có thể thực hiện việc xem hàng, mua hàng và thanh toán tại nhà mà không cần phải đến tận cửa hàng. Đây chính là sự thể hiện việc điện tử hoá tiêu thụ khi mạng toàn cầu ra đời và phát triển. - B to G (Business to Government): giao dịch giữa doanh nghiệp với chính phủ, bao gồm việc trao đổi thông tin, mua sắm chính phủ theo kiểu trực Lê Thu Phương 14 A5 - K38B
  • 15. Khoá luận tốt nghiệp tuyến (online government procurement) và quản lý nhà nước về thuế, hải quan... - C to G (Consumer to Government): giao dịch giữa người tiêu dùng với các cơ quan chính phủ nhằm trao đổi các thông tin về thuế, dịch vụ hải quan và các thông tin khác. - G to G (Government to Government): giao dịch giữa các chính phủ nhằm mục đích trao đổi thông tin. Trong các giao dịch trên, giao dịch giữa các doanh nghiệp (B to B hoặc B2B) và giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B to C hoặc B2C) là hai dạng giao dịch phổ biến trong thương mại điện tử đặc biệt là nếu xét trên góc độ thuần tuý kinh doanh. <1> Giao dịch bên trong doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp • Thư tín điện tử trong nội bộ doanh nghiệp • Xuất bản trực tuyến (trên Web) các tài liệu của công ty • Tra cứu các tài liệu, các dự án và các thông tin khác • Truyền gửi các thông tin khẩn cấp tới nhân viên • Quản lý tài chính và nhân sự • Quản lý vật tư • Phục vụ hậu cần • Gửi các thông tin hoặc báo cáo về xử lý đơn hàng cho người cung cấp hàng. <2> Giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng • Tra cứu thông tin về sản phẩm và hàng hoá (trên Web) • Đặt hàng • Thanh toán các hàng hoá và dịch vụ • Cung cấp các lao vụ trực tuyến cho khách hàng Lê Thu Phương 15 A5 - K38B
  • 16. Khoá luận tốt nghiệp Trước hết, về giao dịch B2B, đây là quan hệ giao dịch chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số các giao dịch thương mại điện tử hiện nay. Khi áp dụng B2B, các doanh nghiệp xây dùng cho mình các Website trên mạng Internet nhằm giới thiệu về doanh nghiệp cũng như các sản phẩm của doanh nghiệp cho các đối tác, đồng thời những đối tác quan tâm có thể giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp ngay trên Website này. Bên cạnh đó, Website cũng là mạng nội bộ giữa doanh nghiệp với một số khách hàng đã và đang làm việc với doanh nghiệp. Ngoài ra, đối với đa số các công ty, các Website này cũng kiêm luôn chức năng bán lẻ hàng hoá cho người tiêu dùng khi họ truy cập tìm hiểu sản phẩm và đặt hàng như các khách hàng là doanh nghiệp khác. Trong phương thức B2B, thông qua mạng Internet, các doanh nghiệp có thể theo dõi, quản lý được quá trình cung cấp nguyên liệu, dịch vụ từ phía nhà cung cấp cũng như việc giao hàng hoá cho các đại lý tiêu thụ của mình và các nhà phân phối độc lập khác. Đồng thời, trong quá trình này, doanh nghiệp cũng liên tục được cập nhật thông tin từ phía các đối tác do đó có thể nhanh chóng nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh. Về phía nội bộ doanh nghiệp, tất cả các thành viên trong doanh nghiệp đều được quản lý, được tham gia vào sản xuất một sản phẩm bằng cách truy cập thông tin về sản phẩm, đóng góp ý kiến về sản phẩm, được thông báo cũng như đóng góp ý kiến về các quyết định của doanh nghiệp thông qua mạng nội bộ của doanh nghiệp đó. Với nguồn thông tin từ nhiều phía cả bên trong lẫn bên ngoài, doanh nghiệp có thể bổ sung, hoàn thiện sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu của thị trường từ đó nâng cao kết quả và hiệu quả kinh doanh. Về giao dịch B2C, đây là một phương thức giao dịch ngày càng phổ biến bởi những tiện Ých mà nó đem lại cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng. Với sự phát triển của Internet, người tiêu dùng ngày càng quen dần với việc mua hàng trên mạng, một thị trường điện tử nơi người bán và người mua gặp Lê Thu Phương 16 A5 - K38B
  • 17. Khoá luận tốt nghiệp nhau mà trong tương lai có thể dần thay thế cho các thị trường truyền thống. Khi mua hàng trên mạng, hạn chế về khoảng cách địa lý được xoá bỏ, người tiêu dùng có thể tự do lùa chọn các sản phẩm, dịch vụ cũng như các nhà cung cấp chỉ bằng việc truy cập các Website đang xuất hiện ngày một nhiều hơn trên mạng. Giao dịch B2C có ảnh hưởng nhiều đến kênh bán lẻ bởi thông qua Internet, người sản xuất và người tiêu dùng có thể trực tiếp gặp nhau. Do chi phí trung gian được giảm bớt, người tiêu dùng có thể mua được hàng hoá hay dịch vụ mình mong muốn với giá thấp hơn và tin tưởng rằng sẽ được hưởng các dịch vụ hỗ trợ kèm theo đầy đủ hơn. Việc trao đổi trực tiếp giữa người bán và người mua giúp người bán nắm được yêu cầu chi tiết của khách hàng từ đó cung cấp sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu đó, đồng thời, thông tin phản hồi trực tiếp từ phía khách hàng cũng giúp doanh nghiệp khảo sát được thị trường một cách chính xác, hiệu quả và kinh tế. 4.2 Căn cứ theo nội dung giao dịch Hiện nay, nếu căn cứ theo nội dung giao dịch, thương mại điện tử có thể có các loại giao dịch sau: - Mua hàng điện tử: là hoạt động thương mại với chức năng bán sản phẩm. Đối với hoạt động thương mại này, những thông tin như tìm hiểu về sản phẩm, đặt hàng, thanh toán tiền đều có thể thực hiện qua mạng. Nhưng hàng hoá đưa đến tay người dùng sẽ được thực hiện thông qua các dịch vụ bưu điện đã có hoặc các cơ sở, công ty vận tải. Lợi điểm của loại hình này là giảm thiểu đến mức tối đa các khâu trung gian trong quá trình lưu thông hàng hoá. - Cung cấp thông tin: là giao dịch thương mại điện tử mà đối tượng mua bán là sản phẩm hoặc dịch vụ thông tin. Toàn bộ quá trình thương mại này Lê Thu Phương 17 A5 - K38B
  • 18. Khoá luận tốt nghiệp hoàn toàn có thể thực hiện qua mạng. - Thanh toán điện tử (e-Cash và e-Cheque): là hoạt động cung cấp việc thanh toán điện tử nhanh chóng nhất thông qua hệ thống thanh toán điện tử (Electronic Payment System - EPS). Hoạt động này nhằm bổ sung cho hai hoạt động thương mại kể trên để được một hệ thống hoàn chỉnh trong kinh doanh. Đây là yếu tố quan trọng và cần có để hoạt động thương mại điện tử mang đúng bản chất của thương mại. Đồng thời đây cũng là nguyên nhân cơ bản thúc đẩy việc điện tử hoá tiền tệ. III. LỢI ÝCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Giúp doanh nghiệp nắm được thông tin phong phó Nhờ các phương tiện điện tử sử dụng trong thương mại điện tử, điển hình là truy cập các trang web trên Internet và liên lạc qua Internet, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận với nguồn thông tin khổng lồ trên Internet cũng như nắm bắt kịp thời thông tin thị trường để từ đó xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế. Đồng thời, việc nắm bắt thông tin chính xác và kịp thời cũng giúp doanh nghiệp nhanh chóng phản ứng được trước những thay đổi của thị trường. Hơn thế nữa, việc nắm bắt thông tin cũng giúp doanh nghiệp chủ động đi trước các đối thủ cạnh tranh, đây là một yếu tố rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi các doanh nghiệp luôn phải chịu sức Ðp cạnh tranh vô cùng gay gắt. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng được nhiều quốc gia quan tâm và coi là một trong những động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế hiện nay. 2. Giúp khách hàng dễ dàng hơn trong việc lùa chọn khi mua hàng Lê Thu Phương 18 A5 - K38B
  • 19. Khoá luận tốt nghiệp Thương mại điện tử đã và đang tạo ra nhiều cơ hội mới cho cả người tiêu dùng cá lẻ và các doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, ngày càng nhiều doanh nghiệp tổ chức kinh doanh trực tuyến bằng cách quảng cáo trên mạng, bán hàng và thanh toán trên mạng. Việc quảng cáo trên mạng giúp khách hàng có thể dễ dàng tìm hiểu thông tin chi tiết và chính xác về mặt hàng mình quan tâm. Thêm vào đó, do không phải mất nhiều thời gian tìm đến tận cửa hàng nơi có trưng bày và bán sản phẩm, khách hàng có điều kiện thăm quan cùng lúc nhiều trang web của nhiều doanh nghiệp khác nhau và do đó có thể dễ dàng so sánh để chọn lùa sản phẩm và nhà sản xuất mà mình ưng ý nhất. 3. Giảm chi phí sản xuất Nhờ thương mại điện tử, chi phí sản xuất có thể được giảm bớt mà trước hết là chi phí văn phòng, một nhân tố cấu thành trong chi phí sản phẩm. Cụ thể là chi phí in Ên hầu như được loại bỏ, chi phí cho việc tìm kiếm và chuyển giao tài liệu được giảm bớt bởi việc tài liệu được lưu trữ và chuyển giao trên máy tính cho phép tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức. Cũng vì thế mà số nhân viên văn phòng được giảm thiểu giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí tiền lương mà lẽ ra phải trả cho số lượng nhân viên lớn hơn nhiều. Ngoài ra, các văn phòng không giấy tờ (paperless office) cũng chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều so với các văn phòng truyền thống. Quan trọng hơn, các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ nên có thể tập trung thời gian và năng lực vào nghiên cứu phát triển và do đó đem lại nhiều lợi Ých hơn cho doanh nghiệp xét về mặt lâu dài, chiến lược. 4. Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị Thương mại điện tử cũng giúp giảm bớt chi phí bán hàng và chi phí tiếp thị. Nhờ có Internet, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch được với rất Lê Thu Phương 19 A5 - K38B
  • 20. Khoá luận tốt nghiệp nhiều khách hàng - những người thăm quan và đặt hàng trên trang web của doanh nghiệp, chưa kể việc nhận các đơn đặt hàng có thể được máy tính tự động xử lý và vì thế chi phí nhân viên bán hàng được giảm đi đáng kể . Với số lượng người truy cập Internet ngày một nhiều như hiện nay, việc quảng cáo trên Internet là vô cùng hiệu quả bởi doanh nghiệp có thể mở rộng phạm vi quảng cáo mà không tốn thêm quá nhiều chi phí. Hơn thế nữa, các catalogue điện tử mà doanh nghiệp sử dụng để quảng cáo có nội dung phong phó, sinh động, hấp dẫn hơn nhiều và dễ dàng cập nhật thường xuyên so với các catalogue in Ên vốn có nhiều hạn chế về in Ên, phát hành. 5. Giảm chi phí giao dịch Thương mại điện tử thực hiện qua Internet giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch. Một giao dịch trong thương mại điện tử được tính bao gồm các công đoạn từ quảng cáo, tiếp xúc ban đầu cho đến giao dịch đặt hàng, giao hàng và thanh toán. Sử dụng Internet, thời gian giao dịch chỉ bằng 7% thời gian giao dịch qua fax và bằng 0,05% thời gian giao dịch qua bưu điện. Chi phí giao dịch qua Internet chỉ bằng 5% chi phí giao dịch qua fax hay qua bưu điện hoặc chuyển phát nhanh. Chi phí thanh toán điện tử qua Internet cũng chỉ bằng 10% đến 20% nếu so với chi phí thanh toán theo lối thông thường. Thời gian tiết kiệm được do giảm bớt thời gian giao dịch có ý nghĩa rất quan trọng với doanh nghiệp vì việc nhanh chóng đưa thông tin sản phẩm đến với người tiêu dùng cũng như việc sớm nắm bắt được nhu cầu thị trường từ thông tin phản hồi của khách hàng giúp doanh nghiệp dễ dàng chủ động thay đổi để theo kịp sự biến động của nhu cầu thị trường. 6. Giúp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác Thương mại điện tử tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập và củng cố Lê Thu Phương 20 A5 - K38B
  • 21. Khoá luận tốt nghiệp mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động thương mại. Thông qua mạng, từ các mạng nội bộ cho đến Internet, người tiêu dùng, các doanh nghiệp và cả các cơ quan chính phủ có thể trực tiếp liên lạc với nhau mà không có bất cứ hạn chế nào về thời gian cũng như khoảng cách địa lý bởi việc liên lạc trên mạng Internet mang tính toàn cầu. Hầu như mọi giao dịch đều được tiến hành nhanh chóng và liên tục. Do vậy, các chủ thể của hoạt động thương mại điện tử đặc biệt là các doanh nghiệp có cơ hội tìm kiếm nhiều bạn hàng mới, nhiều cơ hội kinh doanh mới trên phạm vi toàn quốc, toàn khu vực và toàn thế giới. 7. Tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hoá Nền kinh tế số hoá (digital economy) hay còn gọi là nền kinh tế ảo (virtual economy) là xu thế phát triển trong tương lai gần của nền kinh tế thế giới. Việc nhanh chóng tiếp cận nền kinh tế số hoá có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, để tránh nguy cơ tụt hậu. Trước mắt, thương mại điện tử kích thích sự phát triển của ngành công nghệ thông tin là ngành có lợi nhuận cao nhất và đóng vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, từ đó, thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền kinh tế số hoá. Đây là một lợi Ých mang tính tiềm tàng, tính chiến lược công nghệ và liên quan đến chính sách phát triển của các quốc gia, bởi một quốc gia, đặc biệt là nước đang phát triển, sớm tiếp cận được với nền kinh tế số hoá có thể tạo ra cho mình một bước phát triển nhảy vọt, tiến kịp các nước đi trước trong thời gian ngắn. IV. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN THẾ GIỚI Thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu. Tuy hiện nay thương mại điện tử được áp dụng chủ yếu ở các nước phát triển, Lê Thu Phương 21 A5 - K38B
  • 22. Khoá luận tốt nghiệp trong đó riêng Mỹ đã chiếm khoảng 1/2 tổng doanh số thương mại điện tử trên thế giới, các nước đang phát triển cũng đã bắt đầu tham gia ngày càng nhiều vào hoạt động kinh doanh này. Tuỳ đặc điểm kinh tế xã hội và định hướng phát triển riêng mà mỗi quốc gia có cách nhìn nhận, đánh giá, cách chuẩn bị, triển khai và có các bước đi khác nhau trong quá trình tham gia vào thương mại điện tử. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, để có thể tham gia có hiệu quả vào thương mại điện tử và hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro, mỗi nước đều phải có chiến lược chung về thương mại điện tử, có chương trình tổng thể, phương án hành động từng bước và phải có tổ chức chuyên trách cho công việc này. Sự phát triển của thương mại điện tử trên thế giới Thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên nền tảng của sự phát triển công nghiệp công nghệ thông tin trên thế giới. Công nghệ thông tin ngày nay đang dần dần chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân của nhiều nước. Đặc biệt, sự kết hợp hữu cơ ba bộ phận công nghiệp là máy tính (mạng, máy tính, thiết bị điện tử, phần mềm và các dịch vụ khác), truyền thông (điện thoại hữu tuyến, vô tuyến và vệ tinh) và nội dung thông tin (cơ sở dữ liệu, các sản phẩm nghe, nhìn, vui chơi giải trí, xuất bản và cung cấp thông tin v.v.) đang tạo ra vai trò và tính chất mới của công nghiệp công nghệ thông tin. Nền tảng cho sự phát triển của thương mại điện tử thế giới là Internet, bao gồm cả các phân mạng do đó bao quát toàn bộ các máy tính điện tử đang hoạt động trên toàn thế giới, và các phương tiện truyền thông hiện đại bao gồm vệ tinh viễn thông, cáp, vô tuyến và các khí cụ điện tử. Internet đang phát triển rất nhanh cả về phạm vi bao phủ, phạm vi ứng dụng và chất lượng vận hành. Nếu như năm 1991 mới có 31 nước nối mạng vào Internet thì tới giữa năm 1997 đã có 171 nước. Số trang web vào giữa Lê Thu Phương 22 A5 - K38B
  • 23. Khoá luận tốt nghiệp năm 1993 là 130, tới cuối năm 1998 đã lên tới 3,69 triệu. Số lĩnh vực sử dụng Internet/Web vào giữa năm 1991 là 1600, tới giữa năm 1997 đã lên 1,3 triệu. Giữa năm 1994, toàn thế giới có 3,2 triệu địa chỉ Internet (chủ yếu là ở Mỹ và mỗi địa chỉ có thể có nhiều trang web do sử dụng các lĩnh vực khác nhau, dùng nhiều cổng khác nhau), tới giữa năm 1996 đã lên 12,9 triệu địa chỉ với khoảng 67,5 triệu người sử dụng ở khắp các châu lục và tới giữa năm 1998 đã có 36,7 triệu địa chỉ Internet với khoảng 100 triệu người sử dụng. Số người sử dụng Internet toàn thế giới đã tăng lên trên 350 triệu vào năm 2000 và theo các nhà dự báo, vào năm 2005 sẽ có khoảng 1 tỷ người trên thế giới sử dụng Internet. Trước đây, kiểu tiêu biểu mà một cá nhân ở gia đình truy cập vào Internet là thông qua một máy tính cá nhân (PC: Personal Computer) và một đường dây điện thoại. Cách truy cập này có tốc độ rất chậm, ví dụ, nếu dùng một modem 28,8 kbps (nghìn bit/sec) thì phải mất 46 phót mới tải xuống được một chương trình video dài 3,5 phót. Hiện nay, các công ty điên thoại, vệ tinh và cáp đã tạo ra các phương tiện truy cập Internet với tốc độ cao hơn rất nhiều. Công nghệ “đường thuê bao số hoá không đồng bộ” (ADSL: Asynchronous Digital Subscriber Line), với modem 8 Mbps (triệu bit/sec), cho phép chương trình video nói trên được tải xuống chỉ trong 10 giây. Khi các công ty Mỹ phát triển công nghệ dùng ti vi để truy nhập vào Internet (gọi là HDTV: high-definition television) dùng cáp, với modem 10 Mbps sẽ chỉ mất 8 giây cho việc tải chương trình đó. Các công ty mà chủ yếu là các công ty Mỹ đã có chương trình 5 năm 1998-2002 xây dựng một mạng viễn thông băng rộng toàn cầu thông qua các vệ tinh, cho phép với tới hầu hết số dân 2 tỷ người đang sống ở các vùng không có điện thoại trên toàn thế giới. Hệ thống cáp ở các nước đã và đang chuyển thành hệ thống lưu thông Internet 2 chiều (two-way internet traffic) dùng cáp quang, có hộp giải mã các âm thanh, mã Lê Thu Phương 23 A5 - K38B
  • 24. Khoá luận tốt nghiệp hình ảnh và dữ liệu truyền gửi dưới dạng số hoá. Các phương tiện liên lạc vô tuyến cũng đều đang hội nhập vào Internet. Các tuyến cáp quang đang được rải trên khắp các nước, các châu lục để liên kết tất cả các khí cụ điện tử vào Internet, sẽ cho phép truy cập vào Internet nhanh gấp 10 lần so với mạng lưới cáp điện thoại hiện nay. Theo ước tính của các chuyên gia Mỹ, Internet/Web đang phát triển với tốc độ cứ 100 ngày thì tổng lượng thông tin qua “võng mạng toàn cầu” lại tăng lên gấp đôi. Nhìn xa hơn, các nhà “tương lai học” đã đưa ra dự báo rằng “kinh tế số hoá”, “xã hội số hoá” trên cơ sở công nghệ điện tử với điện tử là vi tố cuối cùng sẽ sớm bị thay thế bởi công nghệ cao hơn nữa là công nghệ lượng tử với vi tố là các hạt cơ bản. Theo số liệu trung bình các nguồn, doanh số thương mại điện tử toàn thế giới năm 1997 đạt khoảng 18 tỷ USD, năm 1998 đạt 47 tỷ USD và năm 1999 đạt 95,5 tỷ USD. Theo IDC, ước tính doanh thu thương mại điện tử toàn cầu sẽ tăng lên 1,3 nghìn tỷ USD vào năm 2003, còn công ty Marketing “Forrester Research”lại dự đoán mức doanh thu sẽ lên tới 6,7 nghìn tỷ USD vào năm 2004, tương đương 8,6% tổng doanh thu thương mại trên thế giới. Trong đó, buôn bán giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước thông qua trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) sẽ chiếm khoảng 50%, dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác khoảng 45%, dịch vụ bán lẻ khoảng 5%. Để công việc kinh doanh có hiệu quả hơn, các công ty đang chuyển từ thương mại điện tử sang kinh doanh điện tử, nối và gắn kết kinh doanh nội bộ với các nhà cung cấp và khách hàng. Doanh thu do ứng dụng thương mại điện tử sẽ đạt mức lãi gộp hàng năm trên 60% từ năm 1999 đến năm 2004. IDC dự báo doanh số của thương mại điện tử và doanh thu từ việc ứng dụng các chiến lược Marketing sẽ tăng từ 709 triệu USD trong năm 1999 lên tới 4,5 tỷ USD trong năm 2004. Còng trong giai đoạn này, doanh thu từ bán hàng qua thương mại điện tử dự kiến sẽ tăng từ 222 triệu USD lên tới 5 tỷ USD. Lê Thu Phương 24 A5 - K38B
  • 25. Khoá luận tốt nghiệp Như vậy, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, thương mại điện tử trên thế giới đang phát triển vô cùng mạnh mẽ và tạo ra mét xu thế phát triển chung mà các nước đang hướng tới. Trong đó, không chỉ các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc Liên minh châu Âu mà cả các nước đang phát triển cũng đang nhanh chóng tham gia vào thương mại điện tử. Sù phát triển của thương mại điện tử một mặt là kết quả của xu hướng tất yếu, khách quan của quá trình “số hoá” toàn bộ hoạt động của con người, mặt khác là kết quả của các nỗ lực chủ quan của từng nước, từng nhóm nước và toàn thế giới nói chung, đặc biệt là trên bình diện tạo môi trường pháp lý và đường lối chính sách cho kinh tế số hoá nói chung và thương mại điện tử nói riêng. Lê Thu Phương 25 A5 - K38B
  • 26. Khoá luận tốt nghiệp CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM I. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM Thương mại điện tử ở Việt Nam ngày càng được mọi người quan tâm trong xu hướng chung của thế giới. Chính phủ Việt Nam đang có các nghiên cứu để ứng dụng thương mại điện tử sao cho phù hợp với lợi Ých và điều kiện của Việt Nam nhất. Việt Nam đã đạt được thoả thuận về nguyên tắc chỉ đạo chung trong ASEAN và chương trình hành động trong APEC về thương mại điện tử. Chúng ta còng tham gia tiểu ban điều phối thương mại điện tử của ASEAN và tham gia soạn thảo và thoả thuận các nguyên tắc chung cho thương mại điện tử của tổ chức này. Thủ tướng chính phủ đã ký Hiệp định khung về e-ASEAN ngày 24/11/2000, cam kết tham gia phát triển không gian điện tửvà thương mại điện tử trong khuôn khổ các nước ASEAN. Tuy nhiên, nếu so sánh với tốc độ phát triển thương mại điện tử của thế giới thì chúng ta còn rất chậm và còn có nhiều vấn đề chưa được giải quyết như: một kế hoạch tổng thể cho việc phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam, một cơ quan cấp chính phủ điều hành, hoạch định các chính sách phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam với một cơ sở hạ tầng phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá... Nhìn chung thương mại điện tử chưa thực sự hình thành một cách đầy đủ ở Việt Nam. Dưới đây chúng ta sẽ xem xét tổng quan việc áp dụng thương mại điện tử ở Việt Nam qua một số vấn đề cơ bản bao gồm: - Nhận thức về thương mại điện tử Lê Thu Phương 26 A5 - K38B
  • 27. Khoá luận tốt nghiệp - Hạ tầng cơ sở pháp lý cho thương mại điện tử - Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin và viễn thông - Hạ tầng cơ sở nhân lực - Thanh toán điện tử - Bảo mật thông tin - Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 1. Nhận thức về thương mại điện tử Cuối năm 1999, Chính phủ đã giao cho Bộ thương mại chủ trì dự án kỹ thuật thương mại điện tử. Dự án này được phân thành các tiểu dự án có các nội dung và hoạt động chủ yếu về: Nâng cao nhận thức về thương mại điện tử; Hạ tầng cơ sở pháp lý; Hạ tầng cơ sở công nghệ; Hạ tầng cơ sở bảo mật thông tin; Hạ tầng cơ sở thanh toán điện tử; Hạ tầng cơ sở tiêu chuẩn hoá công nghiệp và thương mại; Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; Bảo vệ người tiêu dùng; An ninh quốc gia trong thương mại điện tử; Các khía cạnh văn hoá xã hội; Quản lý nhà nước và vai trò của Chính phủ; Đào tạo kỹ năng và thử nghiệm các dạng hoạt động của thương mại điện tử. Chính phủ Canada đã giúp đỡ Bộ thương mại xây dựng kế hoạch khung 5 năm chấp nhận và ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam. Trong năm 2000, Chính phủ đã giao Bộ thương mại làm đầu mối đàm phán với các nước ASEAN xây dựng Hiệp định khung e-ASEAN và Hiệp định này đã được lãnh đạo cấp cao các nước ASEAN ký ngày 24/10/2000 tại Singapore. Trong báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá X, phần nhiệm vụ của năm 2001 có ghi: “mở rộng mạng Internet ra thị trường thế giới, bước đầu nghiên cứu ứng dụng thương mại điện tử trong giao dịch kinh doanh đối với một số ngành hàng, công ty lớn...” Ngày 17/10/2000, Bộ chính trị trung ương Đảng có chỉ thị số 58/CT-TW về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp Lê Thu Phương 27 A5 - K38B
  • 28. Khoá luận tốt nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Thực hiện chỉ thị 58-CT/TW, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 128/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 về “ Một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển công nghệ phần mềm” Ngày 20/2/2001, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định số 19/2001/QĐ- TTg bổ sung sản phẩm máy vi tính vào danh mục các sản phẩm trọng điểm. Ngày 24/5/2001, TTCP đã có quyết định số 81/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình hành động triển khai chỉ thị 58/CT-TW. Văn kiện Đại hội Đảng IX (tháng 4/2001) đã nêu rõ cần phải phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành thương mại, dịch vụ và kể cả thương mại điện tử, đó chính là kim chỉ nam rất quan trọng mở đường và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cho công nghệ thông tin nói chung và thương mại điện tử nói riêng phát triển ở nước ta trong thời gian tới. Nghị định số 55/2001/NĐ-CP ngày 23/8/2001 về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet được coi là nghị định đem lại sức sống cho thị trường Internet của Việt Nam, chính thức thay thế nghị định số 21/1997/NĐ-CP ngày 5/3/1997 của Chính phủ về “Quy chế tạm thời về thiết lập, quản lý và sử dụng mạng Internet ở Việt Nam”. Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg ngày 17/7/2002 của TTCP đã phê duyệt kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam đến năm 2005 đã xác định rất rõ mục tiêu phát triển của nền công nghệ thông tin nước ta là sẽ có 5% dân số nước ta sử dụng Internet. Như vậy, có thể thấy Chính phủ Việt Nam đã có sự quan tâm sâu sắc đến việc phát triển ứng dụng thương mại điện tử và đã bắt đầu xây dựng những chương trình cụ thể về phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Tuy nhiên, về mặt xã hội, vẫn có rất nhiều người dân còn rất mơ hồ với thương mại điện tử. Họ cho rằng thương mại điện tử phải là mua và bán thuần Lê Thu Phương 28 A5 - K38B
  • 29. Khoá luận tốt nghiệp tuý qua Internet. Ngoài ra, các hoạt động thông tin đại chúng cũng chưa phân biệt rõ ràng khái niệm về thương mại điện tử, làm cho nhiều người theo dõi hiểu là phải có cửa hàng ảo trên Internet, bán hàng và thu tiền điện tử thì mới là thương mại điện tử... Theo số liệu của VCCI, hiện nay cả nước có khoảng trên 90.000 doanh nghiệp trong đó trên 90% là doanh nghiệp vừa và nhỏ thì mới chỉ có khoảng trên 3000 doanh nghiệp (3%) có website riêng và thực hiện một số khâu của thương mại điện tử, 7% bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin và kết nối Internet, sử dụng phương thức giao dịch chủ yếu qua thư điện tử (trong khi sè doanh nghiệp kết nối Internet là 48%). Thêm vào đó, mặc dù các doanh nghiệp đã đầu tư cho công nghệ thông tin nhưng vẫn chưa quan tâm thật sự đến việc xây dựng website cho mục đích quảng bá sản phẩm và tìm kiếm khách hàng mới. Do vậy, việc nâng cao nhận thức cho quảng đại quần chúng về thương mại điện tử sẽ hỗ trợ rất tốt cho quá trình phát triển các cơ sở hạ tầng cần thiết cho thương mại điện tử. Không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trong tuyên bố của APEC trong chương trình hành động về thương mại điện tử cũng nhấn mạnh vấn đề nâng cao nhận thức và coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. 2. Hạ tầng cơ sở pháp lý cho thương mại điện tử Các quyết định của TTCP số 280/QĐ-TTg ngày 29/4/1997 về việc xây dựng mạng tin học diện rộng trong các văn phòng UBND và các bộ, ngành, quyết định số 136/QĐ-TTg ngày 5/3/1997 về việc thành lập ban điều phối quốc gia mạng Internet..., là những cơ sở pháp lý ban đầu cho việc phát triển hạ tầng cơ sở thông tin ở Việt Nam và tạo điều kiện cho thương mại điện tử bước đầu phát triển tại Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã thừa nhận việc sử dụng các dữ liệu thông tin trên Lê Thu Phương 29 A5 - K38B
  • 30. Khoá luận tốt nghiệp vật mang tin như đĩa từ, băng từ hay các loại thẻ thanh toán để làm chứng từ thanh toán và để thanh toán tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng (theo quyết định số 196/QĐ-TTg ngày 1/4/1997 của TTCP) nhưng lại chưa đề cập đến đối tượng tham gia thanh toán điện tử rất quan trọng là các doanh nghiệp. Ngày 21/3/2002, TTCP có quyết định số 44/2002/QĐ-TTg thay thế cho quyết định số 196 kể trên. Quyết định này đã quy định rõ việc sử dụng chứng từ điện tử làm chứng từ kế toán để hạch toán và thanh toán vốn của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải được mã hoá bảo đảm an toàn trong quá trình xử lý truyền tin và lưu trữ, riêng yếu tố chữ ký phải được mã hoá bằng khoá mật mã (gọi là chữ ký điện tử). Luật Kế toán được thông qua tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khoá XI cũng thừa nhận chứng từ điện tử. Nhìn xa hơn, Luật Thương mại có hiệu lực thi hành từ 1/1/1998 còng coi điện báo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác là hình thức văn bản của hợp đồng mua bán hàng hoá. Tuy vậy, các doanh nghiệp vẫn chưa có đủ điều kiện pháp lý để tham gia thanh toán điện tử bởi chưa hề có các quy định về việc sử dụng khoá mật mã theo công nghệ nào, sử dụng ngay sản phẩm mã khoá ngoại nhập hay đợi sản phẩm được phát triển trong nước. Thêm vào đó, quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT ngày 10/10/2002 của Bộ văn hoá thông tin về “Quy chế quản lý và cấp phép cung cấp thông tin, thành lập trang thông tin điện tử trên Internet” lại làm cho các doanh nghiệp lo lắng hơn. Điều này là không hợp lý đối với các doanh nghiệp không làm dịch vụ cung cấp thông tin trên Internet (ICP: Internet Content Provider) mà chỉ xây dựng website trên Internet trong đó đăng tải các thông tin liên quan đến sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp hay một số thông tin khác liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Nếu bất cứ một doanh nghiệp nào khi muốn xây dựng website đều phải xin giấy phép của Bộ văn hoá thông tin thì sẽ có nhiều doanh nghiệp ngần ngại và do đó sẽ gây ra một Lê Thu Phương 30 A5 - K38B
  • 31. Khoá luận tốt nghiệp trở lực lớn với các doanh nghiệp và cho chính sự phát triển của nền công nghệ thông tin nước nhà. Ngoài các văn bản pháp lý kể trên, thương mại điện tử Việt Nam vẫn còn cần một khung pháp lý đầy đủ hơn nữa. Chính vì vậy, căn cứ Nghị quyết số 12/2002/QH11 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ năm 2002-2007 và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc giao Bộ Thương mại làm đầu mối xây dựng Pháp lệnh Thương mại điện tử, tháng 3/2002 Bộ Thương mại đã ra quyết định thành lập Ban soạn thảo Dự án Pháp lệnh Thương mại điện tử để xây dựng, từng bước hoàn chỉnh để trình quốc hội phê duyệt văn bản pháp lý quan trọng này. Cho tới nay, dự thảo lần thứ 6 của Pháp lệnh Thương mại điện tử đã được hoàn thành và được Bộ Thương mại trình lên Chính phủ. Theo dự kiến, Chính phủ sẽ chính thức phê duyệt và ban hành Pháp lệnh này vào quý I năm 2004. 3. Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin và viễn thông 3.1 Hạ tầng Internet và viễn thông ♣ Thực trạng dịch vụ Internet và viễn thông ở Việt Nam Bộ Bưu chính viễn thông đã thực thi các chính sách ủng hộ môi trường cạnh tranh, tạo ra các điều kiện cho tất cả các ngành kinh tế tham gia vào dịch vụ Internet và viễn thông. Kết quả là trên thị trường có rất nhiều nhà cung cấp được cấp phép cung cấp các dịch vụ viễn thông (hiện tại có 6 doanh nghiệp được phép cung cấp cơ sở hạ tầng mạng). Chỉ trong dịch vụ Internet, đến cuối năm 2002 đã có 3 IXP, 13 ISP và 4 ISP dùng riêng được cấp phép cung cấp các dịch vụ Internet và các ứng dụng (so với cuối năm 2000 chỉ có 1 IXP và 5 ISP). [IXP: Nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet; ISP: Nhà cung cấp dịch vụ Internet] Do đặc điểm địa lý kéo dài theo đường bờ biển và 3/4 lãnh thổ là đồi núi Lê Thu Phương 31 A5 - K38B
  • 32. Khoá luận tốt nghiệp nên dân cư Việt Nam phân bố khá phức tạp. 3/4 dân số (76,5%) sống ở nông thôn, 1/4 còn lại sống ở các thành phố, trong đó thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung đông dân nhất với 5 triệu người dân, thủ đô Hà Nội 2,7 triệu, sau đó đến Đà Nẵng. Đây là các trung tâm văn hoá thông tin của miền Nam, Bắc và miền Trung Việt Nam nên các nơi này phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong việc phát triển toàn diện Internet. Do vậy, các ISP chủ yếu tập trung khai thác thị trường tại các thành phố lớn. Trong sè 13 ISP vào thời điểm này, chỉ có VDC là có khả năng cung cấp dịch vụ trên toàn quốc, các ISP như FPT, NETNAM, SPT chỉ tập trung vào phát triển dịch vụ tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. 9 ISP còn lại, mặc dù đã được cấp phép nhưng vẫn chưa thực sự cung cấp dịch vô. VDC hiện tại đang chịu trách nhiệm về mạng xương sống của Việt Nam và các cổng đi quốc tế. Các ISP như FPT, NETNAM chỉ cung cấp dịch vụ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, phí truy nhập Internet của 2 ISP này được tính theo giá trong nước. SPT và VIETEL do mới được cấp phép cung cấp dịch vụ nên thị phần còn thấp. VDC và FPT cũng là hai ISP lớn nhất Việt Nam, chiếm khoảng 87% thị trường Internet Việt Nam trong đó VDC chiếm khoảng 57% và FPT chiếm khoảng 30%. Hình 1. Sự tăng trưởng của 4 ISP chính VDC (VNPT), FPT, NETNAM, SPT Lê Thu Phương 32 A5 - K38B
  • 33. Khoá luận tốt nghiệp Nguồn: Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report, 5/2003 Với nhiều phương thức truyền tin khác nhau, dịch vụ điện thoại đã được đưa đến tất cả các quận huyện và 93,04% các xã phường trên toàn quốc (năm 2000 tỷ lệ này là 85,8%). Hiện nay, 8.356/8.981 phường xã trên toàn quốc đã có điện thoại, đạt tỷ lệ 93,04%; ở các xã đặc biệt khó khăn là 1.728/2362, đạt tỷ lệ 73,16%; 100% các xã ở đảo có điện thoại; 319 trong tổng số 401 xã vùng biên đã có điện thoại, đạt tỷ lệ 79,55%... Tổng số điện thoại cố định ở khu vực nông thôn là khoảng 1,8 triệu. Hiện tại, ở cả 61 tỉnh thành trên cả nước, những người sử dụng điện thoại cố định có thể truy cập gián tiếp Internet theo nhiều cách khác nhau như Internet trả trước, Internet trả sau, VNN1268, VNN1269... và với dịch vụ VNN999, người sử dụng còn có thể truy nhập Internet qua điện thoại di động. Với sự ra đời của dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao qua cáp đồng sử dụng công nghệ ADSL, ISDN, những người sử dụng (hiện nay chủ yếu là ở các thành phố lớn) bắt đầu có thể truy nhập Internet tốc độ cao để sử dụng và trao đổi các ứng dụng Internet cũng như công nghệ thông tin. Bảng 1. Cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet Việt Nam so với thế giới Chỉ tiêu so sánh Việt Nam Đông Á Thế giới Điện thoại cố định/1000 dân 50 109 158 Điện thoại di động/1000 dân 19 70 86 Số máy tính/1000 dân 11 21.7 68.4 Tỷ lệ người truy cập Internet 0.24% 1.5% 8% Số máy chủ 172 51,943 562,371 Nguồn: VNPT 2002 Đến hết tháng 6/2003, Việt Nam có trên 460.000 thuê bao Internet, tỷ lệ người sử dụng Internet đạt 2,38%. Mặc dù tỷ lệ này vẫn chưa đạt trung bình thế giới nhưng, với kết quả này, Việt Nam đã được đánh giá là có tốc độ phát triển viễn thông nhanh thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc. Lê Thu Phương 33 A5 - K38B
  • 34. Khoá luận tốt nghiệp ♣ Việc giảm phí Internet và viễn thông Từ năm 2001, Tổng cục Bưu chính viễn thông, nay là Bộ Bưu chính viễn thông, đã thực thi hàng loạt chính sách nhằm từng bước giảm phí Internet và viễn thông, đặc biệt là: Trong suốt 2 năm 2001-2002, Tổng cục đã ban hành hai quyết định về phí lắp đặt và thuê bao đường dây Internet trực tiếp, áp dụng cho các khu công nghiệp phần mềm tập trung. Từ 1/1/2002, các loại phí kết nối Internet trực tiếp trong đối với các khu công nghiệp phần mềm tập trung đã giảm đáng kể so với trước. Tính trung bình, phí thuê đường dây giảm 30%, phí lắp đặt giảm 50% và phí thuê bao cổng Internet trực tiếp giảm 39%. Có thể nói rằng đây là một nỗ lực quan trọng của ngành Bưu chính trong việc thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp phần mềm nói riêng và công nghệ thông tin Việt Nam nói chung. Với mục tiêu phổ cập hoá Internet, các chính sách thúc đẩy cạnh tranh cũng như các chính sách thích đáng về cước phí dịch vụ Internet đã được thực hiện, trong hai năm 2001-2002, phí truy nhập Internet gián tiếp qua điện thoại đã giảm khoảng 14%. Chính sách nhiều giá đã được thực thi, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà cung cấp có thể chủ động trong việc mở rộng các dịch vụ Internet. Mức cước đầu năm 2003 dao động từ mức thấp nhất là 40 VND/phút đến mức cao nhất là 180 VND/ phót. Thêm vào đó, trong hai năm liên tục 2001-2002, Tổng cục Bưu chính viễn thông đã xây dựng lịch trình giảm giá và ban hành các quyết định về giảm cước đối với các loại hình dịch vụ viễn thông khác như phí thuê kênh trong nước và quốc tế, phí dịch vụ Frame Relay và X25 cùng với cước dịch vụ điện thoại quốc tế tiếp tục được cắt giảm. Ngày 25/3/2003, Bộ Bưu chính viễn thông đã công bố mức giảm cước từ Lê Thu Phương 34 A5 - K38B
  • 35. Khoá luận tốt nghiệp 10% đến 40% đối với 12 loại hình dịch vụ Internet và viễn thông. Các mức cước mới này có hiệu lực từ 1/4/2003. Theo đó, cước viễn thông quốc tế trực tiếp (IDD - International Direct Dial) giảm khoảng 32% và được chia theo 3 mức: mức 1 là 0,9 USD/phút, mức 2 là 1 USD/phút và mức 3 là 1,1 USD/phút. Trước đó cước được chia theo 4 mức tương ứng là 1,3 USD/phút, 1,4 USD/phút, 1,5 USD/phút và 1,7 USD/phút. Do vậy, việc giảm và điều chỉnh cước viễn thông trực tiếp quốc tế IDD từ 4 mức xuống còn 3 mức giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí bằng cách chuyển từ mức cước cao xuống mức cước thấp. Cước thuê bao di động trả sau cũng giảm từ 150.000 VND xuống 120.000, cước cho mỗi phót đàm thoại cũng được chia làm hai mức: nội hạt là 1.800 VND/phút, liên tỉnh là 2.700 VND/phút. Cước di động trả trước trong nội hạt cũng giảm từ 3.500 VND/phút xuống 3.300 VND/phút, cước liên tỉnh giảm từ 5.000-6.500 VND/phút xuống 4.200 VND/phút. Cước thuê bao di động theo ngày cũng giảm từ 3000 xuống còn 2.700 VND/ngày, cước gọi nội hạt không đổi trong khi cước liên tỉnh giảm còn 3.100 VND/phút. Cước điện thoại trong nước cho truy cập Internet giảm từ 120 VND/phút xuống còn 40 VND/phút. Phí dịch vụ lắp đặt và thuê cổng Internet quốc tế trực tiếp (IIG: International Internet Gateways) của các IXP cũng giảm trung bình 20%. Phí dịch vụ lắp đặt và thuê cổng Internet quốc tế trực tiếp áp dụng cho các khu công nghiệp tập trung cũng giảm 8-10% so với mức phí hiện tại, trong đó mức phí áp dụng cho các khu công nghiệp phần mềm thấp hơn 25% so với mức phí chung. Phí thuê các kênh viễn thông liên tỉnh cũng giảm 15%. Đặc biệt, Bộ Bưu chính viễn thông đã ban hành một loạt các mức giá để các doanh nghiệp có thể chủ động áp giá theo các mức đã được quy định. Đối với các dịch vụ thuê các kênh viễn thông liên tỉnh trong nước áp Lê Thu Phương 35 A5 - K38B
  • 36. Khoá luận tốt nghiệp dụng cho các nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP) và các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), mức phí cũng giảm trung bình 15%. Đối với dịch vụ thuê kênh viễn thông quốc tế, mức phí giảm tới 40%. Mức phí dịch vụ kênh viễn thông quốc tế áp dụng cho các IXP để kết nối Internet quốc tế giảm từ 20% đến 30%. Với các dịch vụ này, Bộ Bưu chính viễn thông đã đưa ra các mức giá trần và giá sàn để tạo quyền quyết định mức giá cạnh tranh cho các doanh nghiệp. 3.2 Thị trường công nghệ thông tin Việt Nam Tổng doanh thu của thị trường công nghệ thông tin Việt Nam năm 1997 là 150 triệu USD, năm 1998 là 180 triệu, năm 1999 là 195 triệu, năm 2000 là 235 triệu và năm 2001 là 300 triệu. Trong đó, phần cứng chiếm tới 80%, phần mềm 8% và dịch vụ 12%. Năm 2002, tổng doanh thu đạt 340 triệu USD trong đó doanh thu phần cứng đạt 280 triệu, phần mềm và dịch vụ 60 triệu. Lê Thu Phương 36 A5 - K38B
  • 37. Khoá luận tốt nghiệp Hình 2. Sự tăng trưởng của thị trường công nghệ thông tin Việt Nam. Nguồn: Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report, 5/ 2003 Thị trường công nghệ thông tin thế giới phát triển chậm, trung bình khoảng 2,5%/năm, tối đa là 6% trong khi thị trường công nghệ thông tin Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì tốc độ 20-25%. Trong nửa đầu năm 2003, thị trường phần cứng, Internet và viễn thông phát triển sôi động nhất. Trong quý I, kim ngạch nhập khẩu thiết bị tin học của Việt Nam đạt 105 triệu USD, tăng 78% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, điều bất hợp lý còn tồn tại là dịch vụ phần mềm chỉ mới chiếm khoảng 20% tổng chi phí trong ngành công nghệ thông tin, trong khi tỷ lệ này trên thế giới là 49%. Có hai nguyên nhân chính: - Có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đầu tư vào công nghệ thông tin và vào dịch vụ phần mềm, điều này dẫn tới hiệu quả đầu tư thấp. - Tình trạng vi phạm bản quyền diễn ra nghiêm trọng. Theo đánh giá của Business Software Alliance (BSA, www.bsa.org, tháng 5/2002), tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm là 94%, điều này khiến Việt Nam trở thành một trong số những nước có tỷ lệ vi phạm bản quyền cao nhất. Lê Thu Phương 37 A5 - K38B
  • 38. Khoá luận tốt nghiệp ♣ Thị trường phần mềm Việt Nam Tháng 5/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về việc thiết lập và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000-2005 trong đó có nêu lên các điều kiện ưu đãi cũng như tiềm năng của ngành công nghiệp này và đã xác định: “... Phát triển ngành công nghiệp phần mềm trở thành một ngành mòi nhọn của nền kinh tế, có mức tăng trưởng cao, góp phần vào sự phát triển và hiện đại hoá của các ngành kinh tế xã hội, cải thiện năng lực quản lý của nhà nước bảo đảm an ninh quốc gia...” và “... Phấn đấu đạt mức doanh thu khoảng 500 triệu USD vào năm 2005...”. Để đạt mục tiêu trên, Chính phủ đã đưa ra quyết định số 128/2000/QĐ- TTg ngày 20/11/2000 nêu ra một số chính sách và biện pháp để xúc tiến và phát triển công nghiệp phần mềm. Trong quyết định này, một số biện pháp về thuế được quy định như sau: - Các doanh nghiệp được miễn thuế trong 4 năm đầu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và cung cấp dịch vụ phần mềm; - Các doanh nghiệp được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế giá trị gia tăng; - Các nguyên liệu phục vụ trực tiếp cho việc sản xuất phần mềm được miễn thuế; - Các doanh nghiệp được miễn thuế xuất khẩu các sản phẩm phần mềm; - Thêm vào đó có rất nhiều chính sách ưu đãi về tín dụng, thuê và sử dụng đất, bảo vệ bản quyền phần mềm, đào tạo nguồn nhân lực về phần mềm, ưu đãi về cơ sở hạ tầng Internet và viễn thông v.v. Các chính sách quan trọng này đã dẫn tới việc ra đời hàng loạt các công Lê Thu Phương 38 A5 - K38B
  • 39. Khoá luận tốt nghiệp ty phần mềm, đặc biệt là 50% trong tổng số các công ty phần mềm được thành lập trong vòng hơn 2,5 năm trở lại đây. Lê Thu Phương 39 A5 - K38B
  • 40. Khoá luận tốt nghiệp Hình 3. Biểu đồ gia tăng số các công ty sản xuất và dịch vụ phần mềm Nguồn: Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report, 5/2003 Sè nhân viên làm việc trong lĩnh vực phần mềm cũng tăng lên nhanh chóng. Hiện tại, tính trung bình, mỗi công ty có khoảng 20 người làm việc về phần mềm. Tổng số người tham gia vào ngành công nghiệp phần mềm ở Việt Nam hiện có khoảng 7.500 người. Hình 4. Biểu đồ gia tăng số nhân sự làm phần mềm Nguồn: Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report, May 2003 Năng lực sản xuất phần mềm có nhiều biến động theo hướng tăng lên nhưng mức tăng không cao. Năng suất của các công ty gia công phần mềm cho nước ngoài có cao hơn, năm 2002 đạt khoảng 13.000 USD/người/năm, Lê Thu Phương 40 A5 - K38B
  • 41. Khoá luận tốt nghiệp tăng khoảng 18% so với năm 2000. Lê Thu Phương 41 A5 - K38B
  • 42. Khoá luận tốt nghiệp Hình 5. Biểu đồ gia tăng năng suất làm phần mềm Nguồn: Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report, May 2003 Qua các số liệu trên, ta có thể thấy Nghị quyết 07 và Quyết định 128 đã tao ra sự tăng trưởng ban đầu tốt đẹp trong doanh thu của ngành sản xuất và cung cấp các dịch vụ phần mềm, dẫn tới việc gia tăng số người làm việc trong lĩnh vực phần mềm. Trong hai năm 2000-2001, rất nhiều khu công nghiệp phần mềm tập trung đã được thành lập như công viên phần mềm Quang Trung, khu công nghiệp phần mềm Hải Phòng, khu công nghiệp phần mềm Đà Nẵng... Các khu công nghiệp này đều được hưởng ưu đãi về thuế và đường dây nối mạng Internet. Bên cạnh đó, rất nhiều công ty phần mềm đã phát triển và được cấp chứng nhận chất lượng quốc tế. Ngày 23/4/2003, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, trong kỳ họp thứ ba của Uỷ ban xúc tiến quốc gia về công nghệ thông tin, đã đưa Chương trình về Phần mềm nguồn mở (OSS) vào Dự án quốc gia. Chương trình này đặt ra một số mục tiêu chính rằng đến năm 2005 sẽ thiết lập hệ thống chuẩn về phát triển và ứng dụng OSS, các hiệp hội và cộng đồng OSS sẽ được thành lập, OSS sẽ được giới thiệu đưa vào chương trình giảng dạy của các trường trung học, cao đẳng và đại học... Tổng đầu tư cho Chương trình OSS giai đoạn 2003-2007 là 312 tỷ VND, tương đương 20 triệu USD. Lê Thu Phương 42 A5 - K38B
  • 43. Khoá luận tốt nghiệp ♣ Thị trường phần cứng Việt Nam Ngày 20/2/2001, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 19/2001/QĐ-TTg về việc đưa sản phẩm máy vi tính vào danh mục sản phẩm công nghiệp quan trọng. Sau đó, Bộ Công nghiệp đã ban hành Thông tư số 4/2001/TT-BCN ngày 6/6/2001 về việc hướng dẫn thi hành quyết định nói trên. Phần cứng chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng doanh thu của thị trường công nghệ thông tin Việt Nam. Số lượng máy tính lắp ráp trong nước đang tăng lên, năm 2001 chiếm khoảng 80% tổng số máy tính bán ra trên thị trường (49.500 máy tính hoàn chỉnh và khoảng 242.000 màn hình được nhập khẩu). Có thể ước tính số máy tính lắp ráp trong nước sẽ chiếm tỷ lệ tương đối ổn định ở mức 75-80%. Kim ngạch nhập khẩu có xu hướng giữ ở mức ổn định cho thấy máy tính lắp ráp trong nước đã có những ảnh hưởng lớn đến thị trường công nghệ thông tin Việt Nam (kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2002 là 118 triệu USD, chỉ tăng 8% so với cùng kỳ năm trước). Nhiều thương hiệu máy tính Việt Nam đã được chấp nhận trên thị trường như CMS, Mekong Green, SingPC, VINACom, T&H, Robo... Hệ điều hành Linux đã được xây dựng và cài đặt trong các máy tính do CMS sản xuất, đã góp phần khẳng định chất lượng cũng như hướng đi trong dài hạn đối với sự hiện diện của máy tính Việt Nam trên thị trường Việt Nam. Khi luật về bản quyền phần mềm có hiệu lực và được thực thi một cách nghiêm túc, việc sử dụng máy tính thương hiệu Việt Nam cùng với hệ điều hành giá rẻ sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành công nghiệp máy tính Việt Nam. 4. Hạ tầng cơ sở nhân lực Cho tới năm 1980, lực lượng làm công nghệ thông tin (CNTT) ở nước ta Lê Thu Phương 43 A5 - K38B
  • 44. Khoá luận tốt nghiệp chủ yếu là các cán bộ thuộc các ngành toán, lý chuyển sang. Hiện nay trên phạm vi toàn quốc ước tính có khoảng 20.000 cán bộ đang hoạt động trong lĩnh vực CNTT, trong đó có khoảng 2.000 người chuyên làm về phần mềm tin học. Ngoài ra, có khoảng 50.000 người Việt Nam ở nước ngoài đang hoạt động trong lĩnh vực CNTT. Từ năm 1980, một số trường đại học đã bắt đầu có khoa tin học và cho tới nay hầu hết tất cả các trường đại học đều có khoa tin học và tất cả các sinh viên đều được đào tạo tin học đại cương. Bảy trường lớn ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một vài tỉnh miền Trung đã được Nhà nước hỗ trợ đầu tư cho các khoa CNTT với mục tiêu đào tạo 2000 cử nhân và kỹ sư tin học mỗi năm. Cho tới nay, trung bình mỗi năm có khoảng 3.500 người được đào tạo cơ bản về tin học. Tuy nhiên, nếu tính bình quân đầu người so với Singapore thì nước ta còn kém khoảng 50 lần. Hiện nay, chóng ta vẫn đang thiếu nhân lực về CNTT, sè sinh viên tốt nghiệp hàng năm chưa đủ đáp ứng nhu cầu của các tổ chức và doanh nghiệp. Hoạt động trong lĩnh vực CNTT đòi hỏi số lượng lớn chuyên gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, do vậy việc đào tạo nguồn nhân lực cho thương mại điện tử không chỉ giới hạn ở các khoa và bộ môn tin học của các trường đại học và cao đẳng mà còn ở nhiều nơi và nguồn khác (toán, lý, xây dựng, cơ khí, hoá, quản trị kinh doanh, y học, nông lâm ngư nghiệp, tài chính, ngôn ngữ, địa lý...). Trong khi đó, nguồn nhân lực để tham gia vào phát triển thương mại điện tử của nước ta rất lớn vì nước ta có lực lượng dồi dào sinh viên tốt nghiệp hàng năm ở các chuyên ngành từ các trường đại học. Nếu đào tạo thêm về CNTT và ngoại ngữ cho các đối tượng trên trong một thời gian ngắn, chúng ta sẽ nhanh chóng có một số lượng lớn cán bộ chuyên môn có trình độ đại học phục vụ cho thương mại điện tử. Thêm vào đó, lĩnh vực thương mại điện tử cũng đòi hỏi một số lượng lớn các nhân viên kỹ thuật chỉ Lê Thu Phương 44 A5 - K38B
  • 45. Khoá luận tốt nghiệp cần được đào tạo qua hệ thống các trường cao đẳng và dạy nghề sẽ có khả năng cung cấp thêm cho thương mại điện tử một số lượng lớn các cán bộ cao đẳng, trung cấp và trung cấp kỹ thuật. Lực lượng làm tin học ở nước ta có một số ưu điểm nổi bật sau: - Nhiều người thông minh, sắc sảo và sáng tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực phần mềm ứng dụng; - Có khả năng nhận biết và thích ứng nhanh nhạy với các xu hướng phát triển mới của CNTT; - Cần cù, chịu khó, có khả năng làm việc ngay cả trong những điều kiện rất thiếu thốn, khó khăn, đặc biệt là có khả năng tự học để nâng cao trình độ. Tuy nhiên, đội ngò chuyên gia tin học của chúng ta cũng còn có những nhược điểm: - Có sự mất cân đối về số lượng chuyên gia giữa phần mềm và phần cứng, nói cách khác là ta đang rất thiếu chuyên gia phần cứng. Các trường đại học trong nước chủ yếu đào tạo cán bộ làm phần mềm, rất Ýt trường có đào tạo chuyên gia phần cứng, nguyên nhân là do lĩnh vực phần cứng đòi hỏi hạ tầng cơ sở mà ta chưa trang bị đủ, hơn nữa ta cũng thiếu giáo sư cho lĩnh vực này. - Trong lĩnh vực phần mềm, các chuyên gia Việt Nam chưa hoàn toàn đủ năng lực xử lý các hệ thống và các phần mềm ứng dụng toàn cục với quy mô lớn. Số chuyên gia tin học giỏi có trình độ tư vấn, thiết kế hệ thống lớn, cung cấp các giải pháp tổng thể và quản lý dự án, xây dựng những cơ sở dữ liệu ngành và quốc gia hiện nay còn thiếu. Nguyên nhân chủ yếu là cơ sở hạ tầng CNTT toàn quốc vẫn còn nhiều hạn chế và chưa thực sự vững chắc, nên chưa có điều kiện thuận lợi cho tin học hệ thống được ứng dụng và phát triển ở Lê Thu Phương 45 A5 - K38B
  • 46. Khoá luận tốt nghiệp Việt Nam. - Lực lượng cán bộ tin học đào tạo từ các trường khá phong phú, nhưng chưa tận dụng được. Một số người được nhận vào các cơ quan nhà nước nhưng chủ yếu làm công việc sự vụ, một số làm việc cho các công ty nước ngoài, liên doanh nhưng đa phần làm công tác tiếp thị,văn phòng, một số vào các công ty chuyên doanh công nghệ tin học nhưng chủ yếu làm công việc tiếp thị, một số khác tự đứng ra kinh doanh thiết bị phần cứng. Vì thế, lực lượng đã qua đào tạo không thể tập hợp nhau lại trong các đề án lớn để phát triển, mà ngược lại, kiến thức có thể dần kém đi và đến một lúc nào đó các kiến thức này có nguy cơ không dùng được nữa, gây nên một sự lãng phí rất lớn cho xã hội. Theo Viện chiến lược Bưu chính viễn thông và Công nghệ thông tin, mục tiêu cần đạt được đối với nguồn nhân lực cho CNTT nói chung và Thương mại điện tử nói riêng ở Việt Nam là đến năm 2005 sẽ đào tạo thêm 50.000 chuyên gia về CNTT ở các trình độ khác nhau đạt mức trung bình trong khu vực, năm 2010 sẽ nâng số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực lên mức trung bình khá và năm 2020 sẽ ở trình độ tiên tiến. Để đạt được mục tiêu đó, cần xã hội hoá công tác đào tạo nguồn nhân lực, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, khuyến khích đào tạo theo định hướng yêu cầu, đổi mới nội dung chương trình, giáo trình đào tạo, dạy tiếng Anh và thí điểm chương trình dạy chuyên ngành CNTT bằng tiếng Anh, tạo điều kiện thu hót người nước ngoài và Việt kiều mang tri thức, công nghệ và đầu tư tích cực đóng góp vào việc phát triển nguồn nhân lực cho CNTT ở Việt Nam. 5. Thanh toán điện tử Việc giao dịch qua ngân hàng phục vụ cho hoạt động kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu và tham gia vào sự phân công quốc tế ngày Lê Thu Phương 46 A5 - K38B
  • 47. Khoá luận tốt nghiệp càng gia tăng mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng các loại hình sản phẩm dịch vụ, đáp ứng cả nhu cầu rút ngắn về thời gian, không gian... Các ngân hàng thương mại của Việt Nam đang nỗ lực triển khai các dịch vụ, các sản phẩm đặc thù bằng cách hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, nhằm tự động hoá việc xử lý giao dịch, đa dạng hoá sản phẩm. Phát triển kênh phân phối điện tử... nhằm giữ được thị phần, hiệu quả kinh doanh và vị thế cạnh tranh cao khi thị trường ngân hàng hoàn toàn mở cửa, các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được hoạt động hoàn toàn bình đẳng như các ngân hàng trong nước. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại quốc doanh đều đã có hệ thống thanh toán điện tử riêng để đáp ứng các nhu cầu thanh toán của khách hàng trong nội bộ hệ thống và đi ra ngoài qua hệ thống bù trừ và thanh toán liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, các ngân hàng còn tham gia hệ thống thanh toán SWIFT. Cụ thể là, ngân hàng ngoại thương đã có hệ thống bán lẻ SilverLake, hệ thống quản lý thẻ ATM và tham gia mạng SWIFT; ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam có hệ thống thanh toán tập trung BCS, hệ thống giao dịch trên mạng IBS và dịch vụ Home Banking; ngân hàng công thương Việt Nam đã có trương trình thanh toán điện tử trực tuyến triển khai tại toàn bộ 98 chi nhánh trên cả nước, đồng thời ngân hàng cũng sẵn sàng thanh toán các loại thẻ tín dụng của hai tổ chức là Visa và Master. Đáng chó ý hơn cả là Ngân hàng Á châu ACB đã triển khai hệ thống quản trị ngân hàng bán lẻ mới TCBS trong trong toàn hệ thống, làm nền tảng cho việc phát triển ngân hàng điện tử Á châu (ACB E.Banking). Sau ba năm chuẩn bị, sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử đã chính thức hoạt động vào đầu năm 2003 với tổ hợp các kênh phân phối bằng điện tử với những sản Lê Thu Phương 47 A5 - K38B
  • 48. Khoá luận tốt nghiệp phẩm dịch vụ ngân hàng của ACB dành cho khách hàng như Banking, Home Banking, Phone Banking, Mobile Banking, thẻ thanh toán. Đặc biệt dịch vụ Home Banking giúp khách hàng trên mạng kết nối tại văn phòng, tại nhà riêng. ACB E.Banking là kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến khách hàng thông qua điện thoại cố định, điện thoại di dộng, máy tính, POS, Internet, Intranet, Wap... dịch vụ có thể thực hiện 24 giê trong ngày và 7 ngày trong tuần. Hiện nay ACB đang cung cấp dịch vụ E.Banking hoàn toàn miễn phí. Đặc biệt, dịch vụ Home Banking do ACB cung cấp được bảo đảm an toàn nhờ hệ thống mã khoá bảo mật chữ ký điện tử của khách hàng (CA) do đơn vị thứ ba cung cấp (VASC). Công nghệ CA được các tổ chức tài chính quốc tế như Swift, Visa, Master... công nhận và sử dụng trong việc thanh toán điện tử. Các khách hàng sẽ được sử dụng tám dịch vụ chính như: Kiểm tra số dư tài khoản; Mua sắm hàng hoá không dùng tiền mặt (bằng dịch vụ Mobile Banking và thẻ ACB); Chuyển tiền giữa các tài khoản với nhau; Yêu cầu báo cáo về tình hình giao dịch tài khoản; Thanh toán các hoá đơn tiền điện thoại, nước...; Rút tiền từ tài khoản khi đang ở nước ngoài; Kiểm tra tỷ giá hối đoái, giá chứng khoán và hỏi thông tin về các tài khoản và dịch vụ ngân hàng. Như vậy, có thể thấy rằng chúng ta đã có một số cơ sở ban đầu phục vụ cho việc thanh toán điện tử thông qua các ngân hàng của Việt Nam. Tuy nhiên, việc thanh toán điện tử vẫn còn tương đối mới mẻ đối với các doanh nghiệp, đa số các doanh nghiệp vẫn chưa thể cho phép khách hàng thanh toán trực tuyến tại website của mình thông qua các dịch vụ của ngân hàng. Đây cũng chính là một thách thức cho việc phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới. 6. Bảo mật thông tin Internet là liên mạng toàn cầu với rất nhiều người, tổ chức tự nguyện tham gia và có thể tiếp cận tự do tới các đầu mối nối mạng khác trong hệ Lê Thu Phương 48 A5 - K38B
  • 49. Khoá luận tốt nghiệp thống. Đây là mạng trao đổi thông tin điện tử lớn nhất từ trước tới nay có quy mô toàn cầu. Do vậy, kẻ gian có thể dễ dàng lợi dụng mạng Internet để lấy cắp, thay đổi hoặc phá huỷ thông tin từ các kho dữ liệu. Chúng cũng có thể tự do truy cập tới các đầu mối nối mạng để thực hiện các hành vi phá hoại khác như: làm sai lệch cấu hình máy tính, làm treo máy chủ, làm tê liệt sự hoạt động của mạng... Những tên tội phạm máy tính như vậy gọi là tin tặc (hacker). Những kẻ này thường tìm mọi biện pháp đột nhập vào các kho dữ liệu bí mật của các cơ quan chính phủ, an ninh, quốc phòng, cơ quan ngiên cứu khoa học, các ngân hàng, các hãng kinh doanh và cả các thông tin của các cá nhân. Hiện nay, việc bảo đảm an toàn, an ninh cho thông tin điện tử ở Việt Nam được thực hiện như sau: ♣ Đối với các thông tin điện tử có liên quan đến các cơ quan của Chính phủ (như an ninh, quốc phòng, ngoại giao...), từ lâu nhà nước đã có các quy định chặt chẽ và các giải pháp kỹ thuật phù hợp để đảm bảo an ninh, an toàn cho loại thông tin này. Ngành cơ yếu Việt Nam đứng đầu là Ban cơ yếu Chính phủ là cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về bảo mật, bảo đảm an toàn cho việc chuyển nhận thông tin trên các phương tiện điện tử. ♣ Đối với các thông tin điện tử trong lĩnh vực kinh tế xã hội, việc bảo đảm an ninh, an toàn vẫn còn lỏng lẻo. Khi Việt Nam chính thức tham gia mạng Internet, nhà nước đã thành lập một cơ quan liên ngành Bưu chính viễn thông và Công an để quản lý, kiểm duyệt an ninh trên Internet và có một số văn bản quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, vẫn phải thừa nhận rằng, hạ tầng cơ sở bảo mật thông tin cho thương mại điện tử hiện vẫn chưa hình thành đầy đủ ở Việt Nam, chóng ta còn phải xem xét một loạt các vấn đề như: - An toàn thông tin trong hệ thống thương mại điện tử; - Yêu cầu bảo mật cho các chủ thể tham gia thương mại điện tử; Lê Thu Phương 49 A5 - K38B
  • 50. Khoá luận tốt nghiệp - Vấn đề sử dụng mật mã để bảo mật thông tin trong hệ thống thương mại điện tử; - Các giải pháp bảo mật thông tin. 7. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Sù quan tâm của nhà nước đối với vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ đã được thể hiện trong hệ thống luật pháp nước ta thông qua các điều luật, điều khoản cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Nghị định 63/CP về sở hữu công nghiệp, Nghị định 76/CP về quyền tác giả... Trong các văn bản này đã quy định rõ các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ bao gồm: quyền tác giả; sáng chế; giải pháp hữu Ých; nhãn hiệu hàng hoá; kiểu dáng công nghiệp; tên gọi xuất xứ hàng hoá; chỉ dẫn địa lý; bí mật kinh doanh; tên thương mại và chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Nạn hàng giả, sao chép trái phép băng đĩa, các chương trình phần mềm có bản quyền... vẫn đang diễn ra hàng ngày với quy mô và mức độ ngày càng trầm trọng và tinh vi hơn. Khi thương mại điện tử phát triển, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường Internet càng khó khăn hơn bởi các sản phẩm và dịch vụ số hoá truyền gửi trên Internet có thể bị sao chép một cách dễ dàng. Do vậy, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ cần phải dùa vào nỗ lực của bản thân các doanh nghiệp, cụ thể là các doanh nghiệp trước hết phải tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, quan tâm tìm hiểu các điều khoản liên quan đến sở hữu trí tuệ trong các văn bản pháp luật của nhà nước, các công ước quốc tế, các hiệp định thương mại song phương và đa phương để nghiêm túc thực hiện, tránh bớt các rắc rối khi làm việc với các đối tác trong nước và nước ngoài. Các doanh nghiệp cũng phải tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình bằng cách nhanh chóng đăng ký bảo hộ cho sản phẩm của mình để có Lê Thu Phương 50 A5 - K38B
  • 51. Khoá luận tốt nghiệp thể được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp. II. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Nghị định 90/2000/NĐ- CP là: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành, có vốn không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Với tiêu chí này, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 80% doanh nghiệp nhà nước thuộc loại có quy mô vừa và nhỏ, chỉ trừ 20% doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn là các tổng công ty và một số doanh nghiệp nhà nước thuộc loại lớn, còn trong khu vực tư nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng 97% xét về vốn và 99% xét về lao động so với tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Với tỷ lệ lớn như vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ này là một trong những nguồn động lực mạnh mẽ tạo nên sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế và là nơi tạo ra việc làm chủ yếu cho gần 90% lực lượng lao động ở cả nông thôn và thành thị nước ta. (Một cuộc điều tra gần đây do Bộ thương mại thực hiện cho thấy mỗi năm có khoảng 14.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ ra đời, tạo ra khoảng 1.200.000 việc làm). Thực tiễn quá trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam cũng như một số nước khác trên thế giới đã cho thấy vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế thể hiện ở một số lĩnh vực như: tạo công ăn việc làm mới, phát triển các ngành công nghiệp bổ trợ đối với các ngành công nghiệp mòi nhọn như chế tạo máy, điện tử và một số ngành khác, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nhờ việc tăng xuất khẩu hàng hoá thành phẩm và thay thế hàng Lê Thu Phương 51 A5 - K38B
  • 52. Khoá luận tốt nghiệp hoá nhập khẩu bằng hàng hoá sản xuất trong nước. Mặt khác, việc xoá đói giảm nghèo, công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghệp - nông thôn, giảm sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị cũng có sự đóng góp của doanh nghiệp vừa và nhá. Từ bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trong quá trình công ngiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập với nền kinh tế thế giới, xem xét đến đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, chóng ta có thể thấy doanh ngiệp vừa và nhỏ Việt Nam có những cơ hội và điểm mạnh sau: - Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới ngày một tăng nhanh, Việt Nam đã tham gia vào nhiều liên kết kinh tế quốc tế, do vậy, thị trường ngày càng được mở rộng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam; - Chính sách hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu của Chính phủ đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong quá trình thâm nhập thị trường thế giới; - Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính linh hoạt cao nên dễ thích ứng với sự biến động của thị trường thế giới, đồng thời có thể tiếp thu những kinh nghiệm quản lý tiên tiến và ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ trên thế giới một cách có hiệu quả; - Nhu cầu sử dụng đất thấp cộng với sự phân bổ đồng đều trên khắp cả nước cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ khai thác tốt những lợi thế so sánh của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có không Ýt những thách thức và điểm yếu, đó là: - Do chính sách mở cửa của Việt Nam cho phép tự do cạnh tranh nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đang phải chịu sức Ðp cạnh tranh ngày càng gay gắt từ phía hàng hoá nhập ngoại; Lê Thu Phương 52 A5 - K38B
  • 53. Khoá luận tốt nghiệp - Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam còn thấp do công nghệ còn lạc hậu, mẫu mã chưa đa dạng, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều. Các doanh nghiệp này vốn có khả năng tài chính thấp lại gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn huy động vốn để đổi mới công nghệ; - Do quy mô doanh nghiệp là vừa và nhỏ nên việc sản xuất cũng diễn ra đơn lẻ, phân tán, quy mô nhỏ, từ đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có khả năng đáp ứng những đơn hàng lớn, đặc biệt là của thị trường EU và Mỹ; - Thiếu thông tin cũng là một hạn chế rất lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay, nhiều doanh nghiệp vì thiếu thông tin về thị trường thế giới mà đã bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh, việc thiếu thông tin về công nghệ dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp nhập khẩu phải những thiết bị công nghệ lạc hậu, làm cho chi phí sản xuất cao, chất lượng hàng hoá thấp nên sức cạnh tranh của hàng hoá kém; - Ngoài ra, một vấn đề khó khăn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay đang phải đối phó là vấn đề bản quyền hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế đang bị xâm phạm ngày càng nhiều. 2. Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Với xu thế phát triển của nền kinh tế theo hướng tiến tới nền kinh tế số hoá và khởi đầu là phát triển thương mại điện tử, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với tỷ lệ lớn và tầm quan trọng không nhỏ trong nền kinh tế rất cần tham gia vào xu thế phát triển chung của nền kinh tế đất nước, đó là tham gia vào thương mại điện tử. Điều này càng có ý nghĩa lớn hơn đối với các doanh nghiệp này khi bước vào kỷ nguyên thông tin bởi thông tin, thứ mà nhiều doanh nghiệp đang thiếu, có vai trò quyết định đối với sự thành bại của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Trong khi đó, sử dụng Internet và tiếp đó là tham gia vào thương Lê Thu Phương 53 A5 - K38B
  • 54. Khoá luận tốt nghiệp mại điện tử là một cách hữu hiệu để doanh nghiệp khắc phục khó khăn này. 2.1 Nhận thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ về thương mại điện tử Theo nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiểu biết về thương mại điện tử của các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thấp và không đồng đều. Câu trả lời của hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi được hỏi về thương mại điện tử là “Website chỉ để cho có, như mở thêm một phòng trưng bày sản phẩm mà không cần có người trông coi, chứ chẳng Ých lợi gì nhiều cho chuyện làm ăn” hay “Công ty còn nhỏ nên chưa tính đến chuyện mở website”. Cũng vì thế mà điều tra của Bộ Thương mại cho kết quả là chỉ có khoảng 3% doanh nghiệp có sử dụng thương mại điện tử, 7% đang có ý định ứng dụng Internet vào kinh doanh và có đến 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa quan tâm hoặc rất mơ hồ về chuyện làm ăn qua Internet. Cũng vì nhận thức về thương mại điện tử còn thấp nên rất Ýt doanh nghiệp biết cách tìm thông tin và đối tác trên Internet thông qua các trang web thương mại điện tử. Thậm chí rất Ýt doanh nghiệp quảng cáo, marketing và cuối cùng là bán sản phẩm trực tuyến. Các doanh nghiệp đã có kết nối Internet, có trang web riêng và sử dụng Internet cho công việc kinh doanh chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là những nơi mà hạ tầng kinh tế xã hội và Internet tương đối phát triển. Còn các doanh nghiệp ở các địa phương, do điều kiện hạ tầng còn nhiều hạn chế nên nhiều doanh nghiệp còn rất mơ hồ với Internet và việc ứng dụng Internet cho công việc kinh doanh. Tuy nhiên, quan điểm về ứng dụng Internet và thương mại điện tử của các doanh nghiệp cũng rất khác nhau. Mỗi doanh nghiệp đều có lý do riêng của mình để tham gia hay chưa tham gia thương mại điện tử. Có ý kiến cho rằng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay, Internet rất thuận lợi cho việc trao đổi thông tin, tìm kiếm khách hàng nhưng việc ứng dụng Lê Thu Phương 54 A5 - K38B
  • 55. Khoá luận tốt nghiệp Internet mới chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm thông tin chứ chưa thực hiện đầy đủ các chức năng của thương mại điện tử. Ý kiến khác cho rằng thương mại điện tử chưa tạo ra được hiệu quả thực sự, các website trong nước chưa tạo ra tính thương mại hoá cao, e-mail gửi đến các đối tác chưa mang tính pháp lý còn đường truyền Internet còn chậm và gặp nhiều cản trở. Nhiều doanh nghiệp còn rất e ngại đối với thương mại điện tử với lý do khung pháp lý của nước ta còn thiếu nhiều điều luật để phân xử những hợp đồng làm ăn qua mạng nếu xảy ra tranh chấp, hàng hóa của chúng ta đưa lên giới thiệu trên mạng chưa nhiều trong khi chi phí viễn thông vẫn còn đắt đối với nhiều doanh nghiệp, ngoài ra, không thể không tính tới lý do khi tham gia thương mại điện tử thì tất yếu doanh nghiệp sẽ phải thay đổi cơ bản phương thức quản trị doanh nghiệp, quản lý nguồn cung cấp, chăm sóc và phân phối sản phẩm. Tuy nhiên, có một điều kiện thuận lợi để nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về thương mại điện tử, đó là mức độ hiểu biết tỷ lệ sử dụng Internet ở các doanh nghiệp đang tăng lên. Theo kết quả cuộc khảo sát của Sở Khoa học công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tất cả những người được phỏng vấn ở các doanh nghiệp đều có hiểu biết về Internet ở một mức độ nào đó, 97% số nhân viên doanh nghiệp đã và đang sử dụng Internet, mặc dù trong đó 43% sử dụng cho mục đích giải trí và mới chỉ có 20% sử dụng cho mục đích kinh doanh. Như vậy, có thể thấy, với một nền tảng nhận thức về thương mại điện tử còn thấp, tất yếu việc ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cũng chỉ mới đang ở giai đoạn khởi đầu, mang tính chất thử nghiệm ở một số doanh nghiệp chứ chưa thể mang tính chất rộng rãi trong toàn bộ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay. 2.2 Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhá Lê Thu Phương 55 A5 - K38B
  • 56. Khoá luận tốt nghiệp Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố vào tháng 4/2003, cả nước có khoảng 90.000 doanh nghiệp trong đó có tới 93% là doanh nghiệp vừa và nhỏ (cả khu vực nhà nước và tư nhân) nhưng chỉ có 30% các doanh nghiệp kết nối Internet thường xuyên và dưới 10% doanh nghiệp có trang web riêng để giới thiệu về các sản phẩm, dịch vụ và hoạt động của mình. Tại Việt Nam, mức độ xâm nhập của công nghệ thông tin và viễn thông vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn thấp. Chỉ có 25% số máy tính ở Việt Nam được báo cáo là thuộc về khu vực tư nhân và một số Ýt các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khoảng 48% các doanh nghiệp có khả năng truy nhập Internet chỉ sử dụng Internet để gửi thư điện tử mà chưa sử dụng Internet như một phương tiện kinh doanh hiệu quả. Theo nghiên cứu của Bộ Thương mại, trong các giao dịch thương mại điện tử hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 33,1% sè doanh nghiệp tham gia. Tuy nhiên, trong đó có tới 54,9% doanh nghiệp chưa thành công, 58% gặp khó khăn về thiết bị và 37% chưa đủ nhân lực đạt trình độ tương ứng và trên 90% chưa tiến hành thanh toán qua ngân hàng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đã ứng dụng thương mại điện tử bao gồm các doanh nghiệp thuộc nhiều nhóm ngành bao gồm các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, một số doanh nghiệp dệt may, doanh nghiệp kinh doanh máy tính và các dịch vụ về công nghệ thông tin, các doanh nghiệp sản xuất các hàng tiêu dùng khác và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tổng hợp. Tuy nhiên, xét về tỷ trọng thì các doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử chủ yếu tập trung ở ngành hàng thủ công mỹ nghệ và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, trong đó bao gồm cả kinh doanh nhà hàng, khách sạn. Với mục tiêu quảng bá sản tên tuổi doanh nghiệp, sản phẩm và dịch vụ tới các khách hàng nước ngoài, các doanh nghiệp thuộc hai lĩnh vực Lê Thu Phương 56 A5 - K38B
  • 57. Khoá luận tốt nghiệp này là những doanh nghiệp đi đầu trong việc lập website và cho tới nay, các doanh nghiệp thuộc hai lĩnh vực này đã chiếm tới trên 60% tổng số website của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hình thức áp dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhá Mức độ ứng dụng thương mại điện tử của các doanh nghiệp cũng khác nhau, tuy nhiên, do điều kiện còn hạn chế, hầu như chưa có doanh nghiệp nào ứng dụng thương mại điện tử ở mức hoàn chỉnh. Được sử dụng nhiều nhất và có hiệu quả nhất trong các giao dịch tiếp thị bán sản phẩm của các doanh nghiệp là dịch vụ thư điện tử bởi sự nhanh chóng, thuận tiện và chi phí thấp. Hiện nay, sè doanh nghiệp có website và sử dụng website để giao dịch còn rất thấp nhưng rất nhiều doanh nghiệp có điều kiện kết nối Internet đã có địa chỉ e-mail và sử dụng hình thức giao dịch này bởi thời gian giao dịch đã được rút ngắn nhiều so với cách gửi thư truyền thống, ví dụ như để gửi ảnh mẫu cho khách hàng trước đây phải mất 3-4 ngày thì hiện nay, nhờ nối mạng và gửi qua thư điện tử, công việc trên chỉ diễn ra trong vòng chưa đầy 10 phót. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng thể hiện một phần ở việc sử dụng các phần mềm như tin học văn phòng, quản lý kế toán thay cho việc sử dụng sổ sách như trước đây. Với các ứng dụng này, các doanh nghiệp quản lý danh mục hàng hoá, khách hàng cũng như thống kê các giao dịch một cách chính xác và nhanh chóng hơn hẳn cách làm truyền thống trên sổ sách giấy tờ. Các ứng dụng tin học này hiện nay được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các doanh nghiệp có trang bị máy tính (trên 50% sè doanh nghiệp vừa và nhỏ). Hình thức giao dịch được coi là hiện đại và đặc trưng cho thương mại điện tử là giao dịch qua website đã bắt đầu được một số doanh nghiệp áp dụng mặc dù mới chỉ ở giai đoạn sơ khai. Con số dưới 10% doanh nghiệp vừa Lê Thu Phương 57 A5 - K38B
  • 58. Khoá luận tốt nghiệp và nhỏ có trang web cho thấy sự quan tâm của các doanh nghiệp đối với hình thức giao dịch này chưa cao. Tuy nhiên, trong số đó một số doanh nghiệp đã thừa nhận có thành công nhất định trong việc khai thác khách hàng qua trang web mặc dù việc giao dịch thương mại qua website ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ “tiền thương mại điện tử” tức là có rao bán chào hàng trên website còn việc giao hàng vẫn thực hiện bằng nhân công. Trên thực tế, số doanh nghiệp khai thác hiệu quả trang web còn rất Ýt, chỉ khoảng 20% doanh nghiệp lập website đã có khách hàng từ trang web, còn đa số các trang web sau thời gian đầu mới thành lập được đầu tư khá công phu, cập nhật thông tin thường xuyên đã trở nên trì trệ do không được quan tâm đúng mức và không đạt hiệu quả như mong muốn. Hiện nay, bên cạnh việc lập website riêng với tổng chi phí ban đầu và chi phí duy trì tương đối tốn kém mà không phải một doanh nghiệp vừa và nhỏ nào cũng có điều kiện thực hiện, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có một hình thức quảng bá khác là tham gia sàn giao dịch điện tử hay nói cách khác, các doanh nghiệp cùng tham gia vào một website chung. Tại website này, khách hàng khi truy cập có thể xem nhiều mặt hàng của nhiều doanh nghiệp khác nhau cùng trưng bày trên sàn giao dịch và có thể chọn mua nhiều mặt hàng cùng lúc mà không phải truy cập website của từng doanh nghiệp. Ở Việt Nam, hiện đã có một số sàn giao dịch thương mại điện tử được thiết lập cho các doanh nghiệp trong nước như VNEMART (www.vnemart.com.vn), dù án do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Công ty điện toán và truyền số liệu (VDC) và Ngân hàng công thương Việt Nam (ICB) phối hợp triển khai phục vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu và chợ điện tử VNET E-Market (www.vnet.com.vn) do công ty cổ phần VNET xây dựng phục vụ cho các doanh nghiệp kinh doanh trong nước. Trong số các doanh nghiệp đăng ký tham gia các sàn giao dịch này, các doanh nghiệp vừa Lê Thu Phương 58 A5 - K38B
  • 59. Khoá luận tốt nghiệp và nhỏ cũng được ưu tiên gia nhập vì đây là đối tượng doanh nghiệp cần nhiều sự trợ giúp trong vấn đề quảng bá. Tuy nhiên, các sàn giao dịch mày mới được thành lập và đưa vào hoạt động trong hơn nửa năm nay nên số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia hình thức này còn hạn chế. Ngoài ra, còn một thực tế phải kể đến là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chỉ mới ứng dụng thương mại điện tử với hình thức thương mại B2C (doanh nghiệp - người tiêu dùng) chứ chưa áp dụng cho hình thức B2B (doanh nghiệp - doanh nghiệp) trong khi xu hướng chung trên thế giới hình thức B2B chiếm tới 80% giao dịch thương mại điện tử. Tuy vậy, điều này cũng là hợp lý đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi với quy mô nhỏ, các doanh nghiệp này chủ yếu hoạt động trong ngành kinh doanh bán lẻ và phục vụ trực tiếp người tiêu dùng. Tuy vậy, phát triển thương mại điện tử B2B là một hướng đi mà các doanh nghiệp nên hướng tới bởi giao dịch B2B đem lại cho doanh nghiệp quy mô giao dịch lớn hơn cũng như lượng khách hàng ổn định hơn, bảo đảm cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. 2.3 Kết quả ứng dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam Kể từ khi Internet phát triển ở Việt Nam, trong số các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có nhiều doanh nghiệp chú ý đến việc quảng bá tên tuổi của mình trên Internet. Sè trang web của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không ngừng tăng lên. Thực tế là một số trang web đã và đang đem lại cơ hội làm ăn, hợp đồng buôn bán và tiện Ých trong giao dịch cho một số doanh nghiệp. Trong đó, theo các doanh nghiệp này, lợi Ých lớn nhất mà họ thu được là nhờ có Internet, họ có thể giới thiệu các thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm của mình đến với khách hàng một cách nhanh chóng và thuận tiện hơn cả, do đó đã thu hót được một số khách hàng đến với doanh nghiệp nhờ thông tin Lê Thu Phương 59 A5 - K38B
  • 60. Khoá luận tốt nghiệp trên các trang web. Điều này được thể hiện qua nhận xét của bản thân các doanh nghiệp về hiệu quả sử dụng trang web của mình, một số ví dụ tiêu biểu có thể kể đến là: Công ty TNHH Sản xuất - Xuất nhập khẩu Phát Thành (Fataco), sau nửa năm khai trương website đã có hợp đồng đầu tiên trị giá 100.000 USD bán sản phẩm Melamin cho một đối tác Hà Lan. Những vị khách này nói rằng sở dĩ họ biết Fataco và sản phẩm này là nhờ đọc thông tin trên Internet. Với website www.hoanglong.com của Hoàng Long Computer, nhờ việc cập nhật thường xuyên giá cả, sản phẩm mới, ngay từ những ngày đầu khai trương trang web đã có những khách hàng từ Đà Lạt, Vĩnh Long đến mua hàng sau khi tham quan trang web và hiện nay mỗi ngày có khoảng 100 người truy cập vào trang web và qua đó khoảng 50 thư điện tử được gửi đến hàng ngày trong đó phần nhiều là thư điện tử giao dịch, mua bán. Chủ doanh nghiệp này nhận định “Không thể biết chắc những khách hàng nào đến cửa hàng của mình sau khi đã xem trên mạng, nhưng rõ ràng là lượng khách có tăng”. Tương tự, chủ doanh nghiệp sản xuất võng xếp Duy Lợi cũng tin chắc là trang web rất hữu Ých cho việc quảng bá sản phẩm. Trang web của Duy Lợi rất chi tiết về các loại võng và giá từng loại, nhờ đó đã có những người khách nước ngoài đầu tiên đến mua vâng. Ở lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, chủ nhân của cơ sở thêu may Cẩm Tó, với tham vọng “qua trang web giới thiệu cho nhiều người đến với một nghề truyền thống độc đáo của Việt Nam”, đã nhận xét “Trang web tá ra có hiệu quả khi giới thiệu sản phẩm, nhất là nhiều người nước ngoài yêu mến văn hóa truyền thống của Việt Nam, trong đó có sản phẩm thủ công mỹ nghệ”. Trên website của Cẩm Tó, khách được hướng dẫn đến mua hàng tại ba địa điểm ở Lê Thu Phương 60 A5 - K38B
  • 61. Khoá luận tốt nghiệp Mỹ, một địa chỉ khác ở Pháp, địa chỉ nào cũng kèm theo thư điện tử. Mặc dù đây mới chỉ là những website “tiền thương mại điện tử”, tức là có rao bán chào hàng trên website nhưng giao hàng bằng nhân công, những website này cũng đang chứng tỏ hiệu quả của nó qua giao dịch nửa điện tử nửa nhân công và là một dấu hiệu khả quan cho triển vọng phát triển thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Tuy nhiên, số doanh nghiệp thu được kết quả khả quan như những doanh nghiệp trên chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia thương mại điện tử ở Việt Nam. Theo ước tính chỉ khoảng 20% doanh nghiệp có khách hàng tìm đến nhờ trang web, còn lại đa số chưa thấy được kết quả thực tế nào sau khi đã đầu tư xây dựng trang web. Như vậy, trang web của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay mới chỉ thực hiện chức năng của một phương tiện quảng cáo và cho kết quả ở một số Ýt doanh nghiệp còn chức năng giao dịch mua bán trực tuyến với khách hàng còn chưa thể thực hiện được đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện hiện nay. Điều đó cho thấy việc ứng dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế mà các doanh nghiệp cần tìm cách khắc phục để tiến tới việc ứng dụng thương mại điện tử một cách toàn diện và hiệu quả hơn trong tương lai. 3. Một số hạn chế trong việc ứng dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam Hạn chế đầu tiên trong việc ứng dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhiều website của các doanh nghiệp đã không đem lại hiệu quả như người ta mong đợi khi đầu tư thành lập trang web. Cụ thể là lượng khách hàng đến với doanh nghiệp nhờ truy cập trang web không nhiều. Theo các doanh nghiệp, để lập một trang web không khó, chỉ cần 400-500 USD, nhưng cái khó là làm sao cho người khác biết đến trang web và tìm đọc Lê Thu Phương 61 A5 - K38B
  • 62. Khoá luận tốt nghiệp chúng. Hiện nay, tình trạng thiếu thông tin cho người dùng Internet khiến các website dễ rơi vào quên lãng đang phổ biến với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Tình trạng chung là nhiều trang web đã được thành lập từ lâu nhưng số người truy cập chẳng là bao và số khách hàng doanh nghiệp có được từ trang web lại càng hiếm hoi. Ví dụ điển hình là website của các doanh nghiệp ở làng gốm sứ Bát Tràng vốn là những doanh nghiệp đầu tư vào website từ rất sớm. Nhiều website ở đây mặc dù được thiết kế công phu nhưng cho tới nay, sau 3-4 năm cũng chỉ mới có trên 1000 lượt truy cập. Trong số đó, trang web của công ty TNHH Haminco (www.haminco.com.vn) được đánh giá cao nhất với cách thiết kế đẹp, tốc độ truy cập nhanh, có đủ các thư mục như giới thiệu truyền thống lịch sử làng gốm sứ, trưng bày các mẫu mới, các sản phẩm truyền thống... nhưng đã 4 năm trôi qua mà khách đến liên hệ qua trang web mới chỉ được vài ba người. Chính vì chưa thấy được hiệu quả thực tế nên nhiều website sau thời gian đầu được đầu tư khá công phu, được cập nhật thường xuyên thì hiện nay trở nên trì trệ, không được cập nhật, ngay như trang web của Haminco trong ví dụ trên cũng phải nửa năm mới được cập nhật một lần, thậm chí nhiều trang web cả 1-2 năm không được cập nhật. Điều này gây lãng phí cho các doanh nghiệp bởi ngoài chi phí ban đầu để lập trang web, mỗi năm doanh nghiệp cũng phải mất một số tiền không nhỏ để duy trì trang web. Việc giao dịch trực tiếp qua website ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng còn rất hạn chế hay nói cách khác là chưa có mấy doanh nghiệp thực hiện giao dịch bán hàng trực tiếp qua website. Nguyên nhân là các giao dịch trực tuyến qua mạng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp không Ýt trở ngại mà các doanh nghiệp lớn Ýt khi mắc phải. Đó là những trở ngại về vốn, chi phí, thẩm định đối tác, thanh toán, giao nhận vận chuyển... Theo các doanh nghiệp, sau khi được nối kết qua mạng thì việc thẩm Lê Thu Phương 62 A5 - K38B
  • 63. Khoá luận tốt nghiệp định đối tác rất quan trọng để đi đến những giao dịch nhưng việc thẩm định này lại nằm ngoài khả năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các thông tin trên mạng không đủ để các doanh nghiệp biết rõ tình hình thực tế của các đối tác, đặc biệt là những đối tác nước ngoài. Kế đến, với quy mô nhỏ, các doanh nghiệp này khó được các đối tác nước ngoài tin tưởng giao cho thực hiện các hợp đồng thương mại có số lượng hàng hoá khổng lồ để có thể đem lại lợi nhuận cao và ổn định. Nhìn chung, khách hàng chưa đủ tin tưởng vào tư cách pháp nhân của người lập nên trang web nên việc đặt hàng qua mạng còn rất hạn chế. Thêm vào đó, khách hàng vẫn giữ thãi quen xem trực tiếp hàng hoá trước khi mua, đặc biệt là với những mặt hàng như thủ công mỹ nghệ, hiện chiếm tỷ lệ lớn trong số các website của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, những hình ảnh, thông tin được giới thiệu trên website chưa đủ để khách hàng tin tưởng vào chất lượng của hàng hoá để có thể đặt mua trực tuyến. Hơn nữa, thậm chí ngay cả khi có khách đặt hàng trực tuyến thì việc vận chuyển và giao hàng tận nơi cũng là một điểm hạn chế với các doanh nghiệp vì khi đó doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí phát sinh trong quá trình vận chuyển bởi, với quy mô nhỏ, các doanh nghiệp này khó có được hệ thống phân phối rộng khắp để đảm bảo tự đưa hàng đến nơi khách yêu cầu. Chi phí cho việc vận chuyển giao hàng tận nơi có thể rất cao so với giá trị hàng hoá, nhất là khi khách hàng lại ở nước ngoài. Một sè doanh nghiệp cho rằng họ rất khó khăn về vốn, kể cả vốn đầu tư mua sắm trang thiết bị và đổi mới công nghệ. Hầu hết các giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ cho biết họ còn gặp khó khăn trong quản lý, vận hành doanh nghiệp do thiếu khả năng tài chính để thuê những người có trình độ quản lý thành thạo về công nghệ thông tin. Khó khăn về vốn cũng là một yếu tố cản trở các doanh nghiệp quảng bá website đến khách hàng một cách hiệu Lê Thu Phương 63 A5 - K38B
  • 64. Khoá luận tốt nghiệp quả bởi theo nhiều chuyên gia công nghệ thông tin, chi phí lớn nhất cho thương mại điện tử chính là chi phí quảng bá website đến các khách hàng. Để website được nhiều người biết đến phải quảng bá nó bằng cách đưa vào các search engine (công cụ tìm kiếm) càng nhiều càng tốt nhưng chi phí cho việc quảng bá này khá cao, mét doanh nghiệp cỡ nhỏ phải chi Ýt nhất 500-1000 USD một năm cho việc “phát triển và quảng bá website” và thực tế ở Việt Nam chưa có công ty nào làm dịch vụ này. Ngoài ra, trong sè 3% doanh nghiệp có thực hiện thương mại điện tử, nhiều doanh nghiệp cho rằng khó khăn lớn nhất là ở khâu thanh toán điện tử bởi, theo họ, công nghệ bảo mật thông tin ở Việt Nam còn quá thấp, doanh nghiệp khó lòng giao phó việc thanh toán trong kinh doanh bằng thẻ tín dụng một khi chưa tin tưởng vào hệ thống thanh toán điện tử của ngân hàng. Tóm lại, việc ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam cho tới nay vẫn còn ở giai đoạn khởi đầu, giai đoạn thử nghiệm khi các doanh nghiệp bắt đầu bước vào một hình thức kinh doanh mới dùa trên sự phát triển của nền công nghệ thông tin. Do vậy, cùng với những hạn chế vốn có về quy mô và vốn, những hạn chế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tham gia thương mại điện tử là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, những hạn chế này là cơ sở để các doanh nghiệp rót ra kinh nghiệm, từ đó có thể nâng cao hiệu quả ứng dụng thương mại điện tử khi hình thức kinh doanh này trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam. III. TRIỂN VỌNG ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 1. Triển vọng ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam Cho đến nay, thương mại điện tử không còn là một lĩnh vực kinh doanh quá mới mẻ trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trong xu thế phát triển chung Lê Thu Phương 64 A5 - K38B
  • 65. Khoá luận tốt nghiệp của thương mại điện tử toàn cầu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cũng đang từng bước tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, nhiều doanh nghiệp đã có những thành công bước đầu, thừa nhận những lợi Ých mà thương mại điện tử đem lại. Mặc dù còn một số hạn chế khi thương mại điện tử được ứng dụng trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam nhưng trong thời gian tới, thương mại điện tử sẽ còn phát triển hơn nữa. Với những lợi Ých tiềm năng mà các doanh nghiệp có thể thu được khi ứng dụng thương mại điện tử và với tính linh hoạt sẵn có của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong tương lai không xa, thương mại điện tử có thể được ứng dụng trong hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt khi những cơ sở hạ tầng cho thương mại điện tử ở Việt Nam được phát triển hoàn thiện hơn và người tiêu dùng đã tạo dựng được thãi quen tìm kiếm thông tin và mua hàng qua mạng. Khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mọi ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh đều có thể sử dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin để thực hiện những chu trình giao dịch hoàn chỉnh trên mạng, từ tìm hiểu thông tin thị trường, tìm kiếm khách hàng, quảng bá sản phẩm đến nhận đặt hàng và thanh toán. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, điều cần thiết hiện nay là phải đánh giá đúng những mặt thuận lợi cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp có thể gặp phải khi áp dụng thương mại điện tử, từ đó, doanh nghiệp mới có thể xây dựng một chiến lược kinh doanh thích hợp để khai thác tốt những mặt thuận lợi và khắc phục khó khăn, tiến tới để có thể khai thác tối đa những tiện Ých mà thương mại điện tử đem lại, chuẩn bị cho việc gia nhập sâu hơn, toàn diện hơn vào hoạt động thương mại điện tử trên phạm vi toàn cầu. 2. Thuận lợi và khó khăn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc ứng dụng thương mại điện tử 2.1 Thuận lợi Lê Thu Phương 65 A5 - K38B
  • 66. Khoá luận tốt nghiệp Xét ở tầm vĩ mô, thuận lợi lớn nhất đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay khi ứng dụng thương mại điện tử là tình hình kinh tế - thương mại của đất nước đang có những chuyển biến mạnh mẽ trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới. Với việc hội nhập và triển khai thực hiện các cam kết CEPT/AFTA, triển khai thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, nền kinh tế - xã hội Việt Nam cần thiết phải có những thay đổi theo hướng tích cực, điều này tạo ra cơ hội và cả thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng trong quá trình phát triển khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế. Trong điều kiện đó, tham gia vào thương mại điện tử là một giải pháp đúng đắn đối với các doanh nghiệp để có thể sớm tiếp cận với “nền kinh tế số hoá” - xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới trong thời gian tới. Ngày 24/10/2000, Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định khung e- ASEAN, (e-ASEAN Framework Agreement). Mục đích của Hiệp định là nhằm đẩy mạnh hợp tác để phát triển, tăng cường và nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ITC - Information Communication Technology) trong ASEAN, tăng cường các dịch vụ thương mại điện tử, giảm mức độ phát triển không đồng đều về kỹ thuật số trong từng nước và giữa các nước ASEAN, đẩy mạnh tiến trình tự do hoá thương mại, thúc đẩy đầu tư ICT trong các nước ASEAN. Tham gia vào hiệp định e- ASEAN sẽ đem lại cho các doanh nghiệp nước ta nhiều cơ hội, đó là sự liên kết giữa các nước thành viên về mặt xã hội, kinh tế trong không gian điện tử e-ASEAN sẽ thúc đẩy giao lưu về mặt thương mại, các doanh nghiệp trong nước sẽ có dịp trao đổi các thông tin về thị trường được nhanh chóng, thuận tiện; thực hiện các giao dịch thương mại trên mạng (thương mại điện tử, doanh nghiệp điện tử, chợ công nghệ ảo…). Lê Thu Phương 66 A5 - K38B
  • 67. Khoá luận tốt nghiệp Thuận lợi tiếp theo đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ để phát triển thương mại điện tử là Việt Nam là một nước đang phát triển nên một số công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài vào. Tuy ra đời sau nhưng thương mại điện tử ở Việt Nam có điều kiện học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước để hạn chế bớt rủi ro trong nghiên cứu và chi phí đầu tư vào nghiên cứu. Hơn thế nữa, Việt Nam vị trí địa lý thuận lợi cộng với số dân đông là một thị trường đầy tiềm năng nên đã thu hót được sự quan tâm chú ý và đầu tư của nhiều hãng lớn về công nghệ thông tin và như vậy các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều kiện tiếp cận với các công nghệ tiên tiến của thế giới. Ví dụ như, ngày 23/10/2003, hãng Intel đã công bố chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ thông tin. Theo đó, Intel sẽ cung cấp cho các nhà phân phối, đại lý, các nhà phát triển hệ thống và cung cấp giải pháp những hỗ trợ kỹ thuật và tiếp thị để hướng dẫn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đánh giá và triển khai hệ thống máy tính, trên cơ sở đó xác định những gì cần thay thế và các công nghệ mới về phần cứng và phần mềm để có thể thúc đẩy công việc làm ăn của doanh nghiệp. Sự phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông ở Việt Nam cũng là một thuận lợi không nhỏ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận thương mại điện tử. Với mạng lưới điện thoại rộng khắp, hệ thống đường truyền Internet ngày càng phát triển với chất lượng và tốc độ ngày một cao hơn và giá cước truy cập cũng ngày càng rẻ hơn với sự gia tăng số lượng các nhà cung cấp dịch vụ Internet, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với Internet và khai thác triệt để những tiện Ých của nó phục vụ cho hoạt động thương mại điện tử. Đồng thời, việc các ngân hàng ngày càng phát triển nhiều hơn các dịch vụ mới phục vụ cho thanh toán điện tử cũng là một điều kiện thuận lợi đối với việc ứng dụng thương mại điện tử của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Lê Thu Phương 67 A5 - K38B
  • 68. Khoá luận tốt nghiệp Bên cạnh đó, không thể không kể đến những nỗ lực của Chính phủ trong việc xây dựng các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy việc ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp Việt Nam như chính sách thuế, chính sách giá cả, chính sách đầu tư… hướng vào ngành công nghệ thông tin, xây dựng các dự án quốc gia về thương mại điện tử và tích cực chuẩn bị cho việc ban hành Pháp lệnh thương mại điện tử - mét có sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam. Đáng chú ý là: Ngày 5/6/2000, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký nghị quyết số 07/2000/NĐ-CP về xây dựng và phát triển công nghệ phần mềm giai đoạn 2000-2005, trong đó xác định bước đầu chú trọng hình thức xuất khẩu qua gia công và cung cấp các dịch vụ cho các công ty nước ngoài, đồng thời mở rộng thị trường trong nước, tập trung phát triển phần mềm trong nước sớm mang lại hiệu quả kinh tế xã hội, thay thế phần mềm nhập khẩu; nhanh chóng tổ chức xuất khẩu lao động phần mềm và phần mềm đóng gói để công nghiệp phần mềm Việt Nam từng bước đạt vị thế trên thị trường thế giới. Nghị quyết 07 của Chính phủ được đánh giá là đòn bẩy chiến lược để Việt Nam phát triển, xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp phần mềm. Quyết định số 128/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 cũng đã quy định một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư, phát triển công nghệ phần mềm với nội dung chính như sau: - Doanh nghiệp phần mềm sẽ được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong vòng 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế; - Doanh nghiệp phần mềm sẽ được miễn giảm thuế sử dụng đất, tiền thuê đất và được tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng viễn thông; - Được hưởng các mức thuế suất thuế thu nhập ưu đãi; - Sản phẩm và các dịch vụ phần mềm được hưởng ưu đãi cao nhất về Lê Thu Phương 68 A5 - K38B
  • 69. Khoá luận tốt nghiệp thuế giá trị gia tăng; - Miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất phần mềm mà trong nước chưa sản xuất được; - Miễn thuế xuất nhập khẩu đối với sản phẩm phần mềm; - Người lao động Việt Nam trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, dịch vụ phần mềm được áp dụng mức khởi điểm chịu thuế và mức luỹ tiến như quy định đối với người nước ngoài; - Các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập các cơ sở đào tạo về công nghệ thông tin. Các quy định như trên là một điều kiện hết sức thuận lợi cho ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam phát triển, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử. Ngoài ra, sù quan tâm của chính phủ còn thể hiện ở các hoạt động xúc tiến thương mại điện tử khác mà đáng kể nhất là việc Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam thành lập sàn giao dịch thương mại điện tử VNEMART, khai trương ngày 23/4/2003. Dự án VNEMART nhằm mục tiêu giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước làm quen dần dần với thương mại điện tử, từng bước thử nghiệm giao dịch thương mại điện tử, tiến tới sử dụng thương mại điện tử như một công cụ hữu hiệu tìm kiếm bạn hàng mới, phát triển thị trường trong và ngoài nước. Như vậy, trong quá trình tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam có không Ýt những điều kiện thuận lợi, đây là những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy việc tham gia thương mại điện tử được nhanh chóng và ngày càng toàn diện hơn. Các doanh nghiệp cần nắm bắt kịp thời những thuận lợi này, kết hợp với nỗ lực chủ quan của bản Lê Thu Phương 69 A5 - K38B
  • 70. Khoá luận tốt nghiệp thân doanh nghiệp để xác định cho mình một lé trình ứng dụng thương mại điện tử thích hợp nhằm thu được hiệu quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh. 2.2 Khó khăn Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, việc phát triển ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam vẫn còn một số khó khăn sau: Về nhân lực: nguồn nhân lực cho thương mại điện tử của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn rất thiếu so với nhu cầu. Mặc dù hiện nay tin học và công nghệ thông tin đã được nhiều trường từ đại học, cao đẳng cho tới phổ thông quan tâm đưa vào giảng dạy nhưng số lượng đầu ra đạt chất lượng vẫn còn thấp. Tâm lý chung những người có bằng đại học loại giỏi thường muốn học tiếp lên cao và muốn làm việc cho các công ty lớn. Trong số nhân viên hiện có của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có nhiều người có hiểu biết về Internet và thương mại điện tử nhưng trình độ không đồng đều, dẫn đến nhiều khó khăn khi nhân rộng các ứng dụng của thương mại điện tử ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là khi phải áp dụng các công nghệ mới, phức tạp. Về nhận thức: Nhận thức của người dân về thương mại điện tử chưa cao. Tâm lý người tiêu dùng vẫn chưa quen với việc mua hàng mà không xem tận mắt, việc xem hàng hoá trên mạng không đủ để họ yên tâm về chất lượng của hàng hoá. Phương thức thanh toán trực tuyến mang lại nhiều lợi Ých cho cả doanh nghiệp và người tiêu dùng nhưng, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, thãi quen sử dụng tiền mặt vẫn chưa thể thay đổi ngay, mức sống trung bình của người dân còn chưa cao khiến số người quan tâm đến tiền điện tử và thanh toán điện tử còn Ýt. Về phía doanh nghiệp, không phải lúc nào cũng có thể thuyết phục được ban lãnh đạo doanh nghiệp tham gia và hỗ trợ trực tiếp Lê Thu Phương 70 A5 - K38B
  • 71. Khoá luận tốt nghiệp cho dù án ứng dụng thương mại điện tử trong khi các chiến lược tổ chức lại doanh nghiệp cho phù hợp với thương mại điện tử cần có sự tham gia chỉ đạo của cấp cao nhất trong doanh nghiệp. Về năng lực cạnh tranh: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và còn non trẻ, tham gia hội nhập vào nền kinh tế, thương mại thế giới trong điều kiện phân công lao động quốc tế khá chặt chẽ, thị trường thế giới đã được phân chia tương đối ổn định, phải cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp lớn, dẫn đến sự cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới càng khó khăn, quyết liệt hơn. Về cơ sở pháp lý: Hệ thống pháp luật trong thương mại điện tử còn chưa hoàn thiện, do đó chưa tạo được lòng tin của khách hàng cũng như của doanh nghiệp khi tham gia thương mại điện tử. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quyền lợi của doanh nghiệp mặc dù đã có quy định trong nhiều văn bản pháp luật nhưng còn chưa thực sự có tác dụng khi tham gia thương mại điện tử. Bên cạnh đó, còn có những khó khăn như việc giao hàng sai hẹn, sai đơn hàng hoặc không đúng chất lượng như quảng cáo là một trở ngại do chính doanh nghiệp tạo ra, hạn chế khách hàng đến với doanh nghiệp thương mại điện tử. Ở Việt Nam, nhiều trường hợp sản phẩm, tên tuổi và chất lượng chưa gắn chặt với nhau, nên việc mua hàng trực tuyến còn hạn chế và không đủ cơ sở để tin cậy. Nạn sao chép lậu phát triển tràn lan gây trở ngại không nhỏ đối với các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp phần mềm. Việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ còn gặp nhiều khó khăn cũng là một thách thức đối với các doanh nghiệp khi tham gia thương mại điện tử. Tóm lại, dù đã trải qua hơn nửa thập kỷ kể từ khi Việt Nam bước chân vào hoạt động thương mại điện tử, sự phát triển ứng dụng thương mại điện tử Lê Thu Phương 71 A5 - K38B
  • 72. Khoá luận tốt nghiệp trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam có thể coi vẫn trong giai đoạn khởi đầu. Tuy nhiên, những kết quả ban đầu thu được và những hạn chế trong quá trình thực hiện cũng như những thuận lợi và khó khăn đối với các doanh nghiệp khi áp dụng thương mại điện tử là những nền tảng kinh nghiệm cơ bản để các doanh nghiệp tiến sâu hơn vào thương mại điện tử, chuẩn bị cho việc gia nhập vào “nền kinh tế số hoá”. Đồng thời, phát triển thương mại điện tử cũng là một giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nâng cao vai trò của bộ phận các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế đất nước. Lê Thu Phương 72 A5 - K38B
  • 73. Khoá luận tốt nghiệp CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VIỆT NAM I. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 1. Quan điểm và mục tiêu phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam 1.1 Quan điểm phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam Kế thừa các quan điểm cơ bản của Nghị quyết 49/CP (ngày 4/8/1993) của Chính phủ về phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90, thực hiện nghiêm túc chỉ thị số 58/CT-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 17/10/2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhanh chóng triển khai Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP ngày 5/6/2000 của Chính phủ về việc xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2001-2005, quan điểm ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới là: - Ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam cần được coi là biện pháp quan trọng để phát triển các hình thức trao đổi có tính chất thương mại trong giai đoạn mới nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước chủ động hội nhập quốc tế và khu vực; - Ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam cần theo hướng xã hội hoá, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và cá nhân tham gia, trong đó các doanh nghiệp nhà nước có vai trò đi tiên phong; - Ứng dụng thương mại điện tử cần định hướng vào thị trường thông qua việc tạo dựng một môi trường pháp lý thuận lợi gồm những chính sách mềm dẻo và thích hợp; Lê Thu Phương 73 A5 - K38B
  • 74. Khoá luận tốt nghiệp - Cần phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại phục vụ cho ứng dụng thương mại điện tử, trong đó cơ sở hạ tầng công nghệ là then chốt và phải đi trước một bước. 1.2 Mục tiêu phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam Trong bối cảnh kinh tế xã hội nước ta hiện nay, dùa vào quan điểm phát triển nêu trên, mục tiêu phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian tới là tạo ra môi trường thông thoáng, đầy đủ và đồng bộ khuyến khích thương mại điện tử phát triển ở Việt Nam và sẵn sàng áp dụng rộng rãi thương mại điện tử trên phạm vi cả nước. Với mục tiêu trên, một số định hướng và chủ trương lớn nhằm thúc đẩy phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam sẽ là: ♣ Nâng cao nhận thức và kiến thức về thương mại điện tử cho mọi tầng líp xã hội, đặc biệt là đối với các cán bộ lãnh đạo và quản lý lĩnh vực kinh tế, thương mại và những ngành liên quan: Cần phải nhận thức đầy đủ về tính tất yếu và mức độ tác động của “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử” nói riêng. Các chủ thể, đặc biệt là người tiêu dùng và doanh nghiệp có kiến thức cơ bản về thương mại điện tử; ♣ Xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi và các chính sách mềm dẻo khuyến khích đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, mở rộng thị trường và tăng cường trao đổi thương mại, phát triển dịch vụ, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế tạo điều kiện thuận lợi để ứng dụng thương mại điện tử; ♣ Triển khai xây dựng một chiến lược quốc gia về hình thành nền “kinh tế số hoá” nói chung và “thương mại điện tử” nói riêng làm định hướng chỉ đạo lâu dài; thiết lập một chương trình hành động trước mắt, phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, trên cơ sở đó, triển khai nhanh việc phổ cập, đào tạo, thử nghiệm... Xây dựng được một số sản phẩm mật mã áp dụng trong Lê Thu Phương 74 A5 - K38B
  • 75. Khoá luận tốt nghiệp thương mại điện tử, đặc biệt cần chú trọng việc xây dựng hạ tầng mật mã hoá công khai (PKI); ♣ Xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ cần thiết cho phát triển thương mại điện tử gồm: kết cấu hạ tầng viễn thông; công nghiệp viễn thông; công nghệ điện tử; công nghệ thông tin; công nghiệp điện lực; Internet. Xây dựng các chuẩn kỹ thuật và công nghệ thống nhất quốc gia và quốc tế. Xây dựng và tổ chức triển khai một số đề án phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ cụ thể phục vụ phát triển thương mại điện tử ở nước ta. Mục tiêu của các hoạt động này là xây dựng được hạ tầng CNTT tiên tiến, đáp ứng được nhu cầu giao dịch thương mại điện tử lớn trên mạng (trước hết là giao dịch thương mại điện tử nội địa, tiếp đến là giao dịch với bạn hàng nước ngoài), sẵn sàng cho việc hội nhập của Việt Nam với hoạt động thương mại điện tử toàn cầu; ♣ Tích cực phát triển nguồn nhân lực cho thương mại điện tử; ♣ Triển khai thử nghiệm rộng rãi các loại hình dịch vụ của thương mại điện tử ở các mức độ khác nhau để rút kinh nghiệm và nhân rộng; Tiến hành thử nghiệm các hình thái giao dịch của thương mại điện tử cho một số doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, các giao dịch bao gồm từ việc chào hàng, đàm phán, ký kết hợp đồng đến việc thanh toán thông qua mạng; ♣ Xây dựng hệ thống tổ chức quản lý thương mại điện tử thích hợp. 2. Phương hướng phát triển thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 2.1 Phương hướng phát triển Trên cơ sở tình hình phát triển thương mại điện tử trên thế giới, thực trạng thương mại điện tử ở Việt Nam trong thời gian qua và kế hoạch phát triển của Chính phủ về thương mại điện tử, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam có thể phát triển ứng dụng thương mại điện tử theo các mức độ sau: Lê Thu Phương 75 A5 - K38B
  • 76. Khoá luận tốt nghiệp ♣Mức độ 1: Quảng cáo - Tiếp thị - Thông tin Các doanh nghiệp sẽ sử dụng Internet và các website của mình như một công cụ tích cực để khai thác thông tin về thị trường, sản phẩm, quảng cáo tên tuổi và sản phẩm, dịch vụ của mình, giao tiếp với các đối tác là các doanh nghiệp ở thị trường trong và ngoài nước. ♣ Mức độ 2: Trao đổi dữ liệu bằng điện tử trong nội bộ doanh nghiệp Các thông tin nội bộ sẽ được trao đổi bằng điện tử giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, các doanh nghiệp thực hiện quản lý nhân sự, quản lý sản xuất kinh doanh thông qua mạng máy tính trong doanh nghiệp. Việc này sẽ hỗ trợ rất nhiều cho các tương tác bằng điện tử trực tiếp giữa khách hàng với các bộ phận chức năng của doanh nghiệp. ♣ Mức độ 3: Trao đổi dữ liệu bằng điện tử với các đối tác Doanh nghiệp có khả năng trao đổi dữ liệu bằng điện tử giữa các bộ phận trong và ngoài doanh nghiệp. Ở mức độ này, các giao dịch giữa các bộ phận chức năng của doanh nghiệp với khách hàng đã hoàn thiện hơn nhiều, nhiều chức năng giao dịch được tự động hoá. ♣ Mức độ 4: Tự động hoá mét phần các giao dịch trên website Với các chức năng được tự động hoá trên website, các đối tác có thể sử dụng website của doanh nghiệp để trao đổi thông tin với doanh nghiệp. ♣ Mức độ 5: Thương mại điện tử Mọi công đoạn trong quá trình giao dịch đều có thể thực hiện ngay trên website của doanh nghiệp, người mua có thể xem hàng, đặt hàng và thanh toán ngay trên mạng. Đây là giai đoạn mà thương mại điện tử theo đúng nghĩa bắt đầu phát triển với quy mô lớn. Như vậy, trong thời gian tới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể từng bước triển khai ứng dụng thương mại điện tử ở các mức độ khác nhau tuỳ theo đặc điểm, mục đích kinh doanh cũng như quy mô, năng lực của mình. Lê Thu Phương 76 A5 - K38B
  • 77. Khoá luận tốt nghiệp 2.2 Mô hình ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện hiện nay Do còn tồn tại nhiều hạn chế đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ như các điều kiện về cơ sở hạ tầng thông tin, thanh toán điện tử, chi phí sử dụng Internet… nên việc ứng dụng thương mại điện tử hoàn chỉnh từ khâu mua hàng đến khâu thanh toán trực tuyến sẽ khó là hiện thực trong những năm trước mắt ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, trên thực tế, các doanh nghiệp này có thể áp dụng mô hình thương mại điện tử kết hợp giữa các giao dịch điện tử qua mạng Internet và các giao dịch truyền thống. Đây sẽ là bước đi đầu tiên trong quá trình chuyển đổi từ thương mại truyền thống sang thương mại điện tử hiện đại của một doanh nghiệp. Theo mô hình này, các doanh nghiệp sẽ xây dựng các website trong đó thực hiện chức năng quảng cáo sản phẩm, dịch vụ, giao dịch với khách hàng và các đối tác khác để trao đổi thông tin, nhận đặt hàng, doanh nghiệp cũng sẽ thực hiện một phần quá trình hỗ trợ sau bán hàng thông qua website do khách hàng có thể gửi thông tin phản hồi về sản phẩm, dịch vụ qua trang web của doanh nghiệp và doanh nghiệp tư vấn cho khách hàng cũng thông qua hình thức này. Quá trình trao đổi thông tin trong nội bộ doanh nghiệp cũng được thực hiện bằng điện tử thông qua mạng máy tính. Bên cạnh các giao dịch bằng điện tử, các giao dịch khác như giao hàng, thanh toán, bảo hành… vẫn có thể được doanh nghiệp thực hiện bằng các phương pháp truyền thống. Khi ứng dụng mô hình này, tổ chức của doanh nghiệp có thể cần thay đổi để phù hợp hơn với các quá trình kinh doanh mới, các phòng ban trong công ty sẽ tham gia trực tiếp vào các quá trình giao dịch bằng điện tử bổ sung cho các quá trình giao dịch truyền thống. Về mặt kỹ thuật, doanh nghiệp sẽ sử dụng một chương trình catalog điện tử trên Internet để giới thiệu chi tiết các sản phẩm và dịch vụ của doanh Lê Thu Phương 77 A5 - K38B
  • 78. Khoá luận tốt nghiệp nghiệp. Chương trình catalog điện tử sẽ tạo các trang web tự động trên cơ sở dữ liệu về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Catalog này cũng cho phép doanh nghiệp có thể cập nhật cơ sở dữ liệu khách hàng, đơn hàng, sản phẩm, dịch vụ, còn khách hàng có thể đặt hàng và theo dõi quá trình thực hiện đơn hàng. Do vấn đề tiền điện tử tại Việt Nam còn hạn chế, việc thanh toán có thể vẫn được doanh nghiệp thực hiện trực tiếp theo hình thức chuyển khoản hoặc bằng tiền mặt. Tuy nhiên, các thông tin trên website vẫn là các căn cứ chính để thực hiện việc thanh toán. Hoạt động của từng bộ phận cũng có thay đổi. Các kế hoạch tiếp thị của bộ phận tiếp thị không chỉ nhằm vào các khách hàng ở địa phương mình mà sẽ nhằm vào một số loại khách hàng nào đó trên phạm vi toàn cầu. Phương thức tiếp thị cũng thay đổi, người ta không chỉ quảng cáo các sản phẩm, dịch vụ của mình trên các phương tiện truyền thông của địa phương mà mà với Internet, các sản phẩm, dịch vụ của các nhà tiếp thị có thể đi khắp nơi trên thế giới, đem các thông tin này đến tận nơi cho những người đang quan tâm tìm kiếm trên Internet. Bộ phận bán hàng cần phải sẵn sàng với các đối tượng khách hàng khác nhau ở các khu vực địa lý khác nhau thậm chí là ở phía bên kia địa cầu. Do đó, các thông tin về thuế xuất khẩu hàng hoá, chi phí vận chuyển tới địa chỉ của khách hàng, các phương thức thanh toán được chấp nhận, các điều kiện về cung cấp sản phẩm, dịch vụ, bảo hành... cũng cần được chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng, đảm bảo cho việc trả lời các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng và việc thực hiện các đơn hàng không gặp phải các trở ngại không cần thiết. Bộ phận hỗ trợ khách hàng cũng cần chuẩn bị trước các thông tin cho khách hàng về việc bảo trì, bảo dưỡng các sản phẩm, dịch vụ của mình. Dữ liệu về “Những câu hỏi thường gặp” càng nhiều và càng đầy đủ thì càng giúp cho bộ phận này giảm được các yêu cầu hỗ trợ đơn Lê Thu Phương 78 A5 - K38B
  • 79. Khoá luận tốt nghiệp giản do khách hàng cũng có thể tự giải quyết các vấn đề này sau khi đã đọc các câu hỏi và trả lời trên website. Bộ phận kế toán sẽ phải thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện các đơn hàng thông qua website để có được thông tin về khách hàng, các khoản phải thu, phải trả, liên hệ với khách hàng để trao đổi các thông tin về hoá đơn, công nợ, tài khoản ngân hàng. Bộ phận giao hàng mỗi khi có thông báo về việc chuyển hàng cho khách thông qua website hoặc email sẽ lấy hàng từ kho và liên hệ với khách hàng để thực hiện việc bàn giao cho bộ phận nhận hàng của khách hàng. Về phía khách hàng, họ không cần phải đi đến tận cửa hàng trưng bày sản phẩm để có được các thông tin về sản phẩm, dịch vụ mà họ quan tâm. Với Internet họ có thể tìm được các nhà cung cấp phù hợp, lấy được đầy đủ các thông tin cần thiết như tính năng kỹ thuật, diễn giải chi tiết, giá cả, phí vận chuyển, các điều kiện thanh toán, bảo hành... Khi quyết định mua, khách hàng chỉ cần cung cấp các thông tin cần thiết về thẻ tín dụng, địa chỉ chuyển hàng,... và chấp nhận thanh toán phí vận chuyển nếu có. Nếu không có thẻ tín dụng, khách hàng sẽ liên hệ trực tiếp với bộ phận kế toán để thực hiện các thủ tục thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Trong quá trình sử dụng, khách hàng vẫn có thể liên lạc bằng điện tử với doanh nghiệp để yêu cầu giúp đỡ hoặc gửi thông tin góp ý. Tóm lại, việc ứng dụng thương mại điện tử bằng cách kết hợp giữa các giao dịch truyền thống và các giao dịch bằng điện tử là một bước chuyển tiếp có tính khả thi đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Để có thể ứng dụng thương mại điện tử hoàn toàn, các doanh nghiệp còn cần nhiều điều kiện khách quan và chủ quan khác. Tuy nhiên, để tránh nguy cơ tụt hậu quá xa so với xu thế phát triển của thương mại điện tử thế giới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cần phải xác định sớm hướng đi để bắt đầu các hoạt động thương mại điện tử của mình theo điều kiện thực tế môi trường kinh doanh Lê Thu Phương 79 A5 - K38B
  • 80. Khoá luận tốt nghiệp hiện có của Việt Nam cũng như năng lực của chính bản thân doanh nghiệp. II. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 1. Về phía Chính phủ 1.1 Hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, tối đa hoá phổ biến các lợi Ých kinh tế - xã hội - Thường xuyên đưa các thông tin và cách khai thác thương mại điện tử phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội; - Đảm bảo kỹ thuật và giảm cước viễn thông, phí truy cập; - Xây dựng hệ thống phân phối với cước phí vận chuyển thấp; - Phổ cập hoá Internet thông qua các chương trình đào tạo cấp phổ thông và đại học và các chương trình hỗ trợ các tổ chức kinh tế - xã hội khác; - Ban hành chính sách thuế ưu đãi đối với các doanh nghiệp tham gia các chương trình thương mại điện tử và kinh doanh CNTT; 1.2 Tạo môi trường tin cậy và an toàn cho các giao dịch - Đảm bảo việc thừa nhận tính pháp lý của các giao dịch thương mại điện tử (hoá đơn, chứng từ, thuế...); - Cung cấp các dịch vụ xác thực và sản phẩm mật mã với khoá mật mã theo tiêu chuẩn quy định của pháp luật; - Xây dựng các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn giao dịch thương mại điện tử; - Cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng, đảm bảo tính riêng tư của cac thành viên tham gia thương mại điện tử; - Phổ biến các biện pháp chống truy cập bất hợp pháp và đề phòng tin tặc; - Ban hành các quy phạm pháp luật và xây dựng các giải pháp công nghệ để truy bắt, xử phạt các hành vi vi phạm nghiệp vụ, lợi dụng trong từng khâu Lê Thu Phương 80 A5 - K38B
  • 81. Khoá luận tốt nghiệp hoặc toàn bộ quá trình giao dịch thương mại điện tử. 1.3 Phát triển hơn nữa cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông ♣ Cơ sở hạ tầng viễn thông và Internet - Đảm bảo chất lượng các dịch vụ viễn thông để đáp ứng yêu cầu phát triển CNTT với giá cước bằng hoặc thấp hơn so với các nước trong khu vực; - Tăng cường các biện pháp nhằm phổ biến rộng rãi dịch vụ Internet trong toàn dân, mở rộng hơn nữa mạng các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) và các nhà cung cấp nội dung (ICP) cho mọi thành phần kinh tế, không hạn chế số lượng các ISP và ICP; - Cho phép sử dụng mọi dịch vụ đã có và sẽ có trên Internet để phát triển CNTT, tăng dung lượng đường truyền và mở thêm cổng ra quốc tế; ♣ Chuẩn hoá thông tin - Lùa chọn và chấp nhận những tiêu chuẩn công nghiệp hiện đại trên thế giới phù hợp với điều kiện phát triển công nghiệp trong nước đồng thời nhanh chóng xây dựng các tiêu chuẩn công nghệ đặc thù của Việt Nam; - Hoàn chỉnh và sớm quy định chuẩn hoá các loại thông tin cho các hoạt động quản lý điều hành quan trọng của Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương và các hoạt động kinh tế phù hợp với khu vực và quốc tế. ♣ Hạ tầng nhân lực và đào tạo cán bộ - Đa dạng hoá và xã hội hoá các hình thức đào tạo về thương mại điện tử. Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức quần chúng, xã hội như Hội tin học Việt Nam và các hội thành viên, các trung tâm đào tạo... mở các líp bồi dưỡng thường xuyên cho các đối tượng trong xã hội về CNTT và đầu tư thêm để hoàn chỉnh một bộ giáo trình tốt cho việc giảng dạy, phân loại trình độ học viên để soạn giáo trình và giảng dạy cho phù hợp; - Tăng cường gửi người đi đào tạo ở nước ngoài về thương mại điện tử. Hỗ trợ các doanh nghiệp gửi người đi đào tạo theo các học bổng của nước Lê Thu Phương 81 A5 - K38B
  • 82. Khoá luận tốt nghiệp ngoài. Khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế và cá nhân đi học ở nước ngoài về thương mại điện tử bằng nguồn vốn tự có; - Xây dựng phương án tổ chức và triển khai các hoạt động của Trung tâm phát triển nguồn lực thương mại điện tử trình Chính phủ phê duyệt để sớm thực hiện nhiệm vụ của trung tâm này. 1.4 Đầu tư nghiên cứu và ứng dụng thương mại điện tử - Nhà nước đầu tư cho một số hướng nghiên cứu và triển khai phục vụ trực tiếp các ứng dụng quan trọng của thương mại điện tử. Chính phủ cần đầu tư xây dựng một trung tâm nghiên cứu và thử nghiệm quốc gia về Internet và thương mại điện tử. Trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm những công nghệ, đề xuất các chính sách cho Internet, thương mại điện tử và mở rộng các dịch vụ Internet là một điều cần thiết và cấp bách; - Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp một phần kinh phí thực hiện các đề án triển khai thương mại điện tử, nếu trong đó có những nội dung nghiên cứu khoa học hoặc tiếp thu chuyển giao công nghệ nhằm tạo ra công nghệ mới do doanh nghiệp tự thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khoa học thực hiện. 1.5 Tạo ra một môi trường vĩ mô thuận lợi cho phát triển thương mại điện tử Tham gia thương mại điện tử là vấn đề có tầm chiến lược quốc gia, vấn đề có tính sống còn đối với tương lai của đất nước và đang là vấn đề có tính nhạy cảm về chính trị và kinh tế trên phạm vi quốc tế. Vì thế, nội dung các bản tuyên bố chính thức của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế, việc tham gia ký kết về mặt nhà nước các cam kết có tính ràng buộc trong các tổ chức quốc tế trên tất cả các khía cạnh có liên quan đến vấn đề thương mại điện tử cần phải được thảo luận kỹ lưỡng, bảo đảm tính chủ động, hiệu quả, an toàn và có tính lâu dài. Lê Thu Phương 82 A5 - K38B
  • 83. Khoá luận tốt nghiệp Nhà nước cần sớm ban hành một số chính sách hỗ trợ cho thương mại điện tử nhằm đẩy nhanh hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam như: - Chính sách đầu tư: Để hình thành đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật cho thương mại điện tử đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư rất lớn từ mọi nguồn, trong đó vốn của Nhà nước có vai trò quan trọng. Trước hết ở khâu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật cho thương mại điện tử, trong đó tập trung ưu tiên đầu tư các lĩnh vực như nghiên cứu phát triển CNTT, hệ thống thanh toán tự động, bảo mật và an toàn, tiêu chuẩn hoá công nghiệp và thương mại. Chính phủ cân nhắc thành lập Quỹ hỗ trợ ứng dụng thương mại điện tử. Quỹ này được hình thành từ nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước và được giao cho cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử quản lý sử dụng vào việc hỗ trợ, bồi thường rủi ro cho các đơn vị, doanh nghiệp thử nghiệm ứng dụng thương mại điện tử nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đi tiên phong thử nghiệm, ứng dụng thương mại điện tử. Vì Việt Nam có trình độ phát triển ở mức thấp, các doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên khó có khả năng doanh nghiệp tự bỏ tiền đầu tư ứng dụng các hoạt động thương mại điện tử. - Chính sách thuế: Nhà nước áp dụng chính sách thuế để khuyến khích phát triển các doanh nghiệp kinh doanh dung liệu số hoá (các nhà cung cấp dịch vụ Internet, các trung gian Internet...) để tạo cơ sở hạ thấp giá các dịch vụ trong thương mại điện tử. - Chính sách giá cả: Các hoạt động dịch vụ của thương mại điện tử phải hướng vào kích thích phát triển các khách hàng thuê bao, các khách hàng sử dụng các dịch vụ của thương mại điện tử. Do đó, Nhà nước cần sử dụng công cụ giá cả để điều tiết Lê Thu Phương 83 A5 - K38B
  • 84. Khoá luận tốt nghiệp cung - cầu thông qua việc quy định mức giá trần các dịch vụ để kích thích tăng trưởng nhanh nhu cầu sử dụng các dịch vụ của thương mại điện tử, ngăn chặn các nhà cung cấp dịch vụ tuỳ tiện nâng giá các dịch vụ, vượt quá sức mua của khách hàng trên thị trườngtrong nước. - Về mặt tổ chức: Chính phủ sớm hình thành một tổ chức đa ngành bao gồm ngân hàng, tài chính, tư pháp, công an, bưu chính viễn thông... đồng thời soạn thảo cơ chế vận hành, hành lang pháp lý cho thương mại điện tử. Nên thành lập ngay một đầu mối quốc gia về “kinh tế số hoá” và “thương mại điện tử”. Một tổ chức đầu mối quốc gia về thương mại điện tử (có thể là Hội đồng) gồm đại diện của nhiều bộ ngành và giới có liên quan là một tổ chức cần thành lập để có thể hội tụ được kiến thức và sự nhìn nhận từ nhiều khía cạnh. Vì hội đồng là một tổ chức mang tính tư vấn là chủ yếu, nên theo kinh nghiệm các nước, sẽ cần tới một Uỷ ban quốc gia (hoặc tương đương) có chức năng và quyền hạn ra quyết định, chỉ đạo và xử lý giải quyết. Hội đồng và Uỷ ban sẽ là đầu mối đưa ra chiến lược cũng như chương trình hành động cho thương mại điện tử, đồng thời chỉ đạo thực hiện chiến lược và chương trình đó, tránh được các xu hướng thiếu nhìn nhận toàn diện, hoặc cho là chưa thể làm gì với thương mại điện tử, hoặc ngược lại, tiến hành một cách vội vã, nặng về phô diễn, không những không thu được kết quả mong muốn mà còn để lại hậu quả khó có thể khắc phục sau này. 2. Về phía các doanh nghiệp 2.1 Nâng cao nhận thức và chủ động tham gia vào thương mại điện tử Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần xác định rõ xu thế phát triển của thương mại điện tử trong nền kinh tế nói chung và sự cần thiết phải áp dụng thương mại điện tử trong hoạt động kinh doanh của mình do những lợi Ých mà thương mại điện tử có thể đem lại, từ đó, dùa vào điều kiện thực tế của Lê Thu Phương 84 A5 - K38B
  • 85. Khoá luận tốt nghiệp doanh nghiệp mà xây dựng chiến lược ứng dụng thương mại điện tử cho phù hợp. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cần nắm được vai trò của mình trong nền kinh tế và xác định: trong thương mại điện tử doanh nghiệp là người trực tiếp kinh doanh nên phải đóng vai trò tiên phong, còn nhà nước chỉ mang tính hỗ trợ. Do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên chủ động tham gia thương mại điện tử và lập kế hoạch cụ thể về mức độ tham gia, chuẩn bị các bước cần thiết để khỏi lỡ mất cơ hội kinh doanh. Điều này sẽ làm doanh nghiệp tự chủ hơn trong kinh doanh và, hơn thế nữa, có thể đóng góp những ý kiến thiết thực cho nhà nước để tiến hành hoạt động thương mại điện tử một cách có hiệu quả, bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia. Các doanh nghiệp cũng nên chủ động tham gia các hội thảo về thương mại điện tử do chính phủ hoặc các tổ chức nước ngoài tổ chức, mặt khác, tham khảo và học hỏi kinh nghiệm nước ngoài về cách thức kinh doanh trên Internet. 2.2 Chuẩn bị nguồn nhân lực Các doanh nghiệp nên tuyển dụng, đào tạo đội ngò nhân viên có trình độ, có thể nắm bắt nhanh các kỹ thuật thương mại điện tử, sử dụng những người có hiểu biết sâu sắc về công nghệ thông tin để quản lý, kiểm soát các giao dịch thương mại điện tử. Đồng thời, bản thân lãnh đạo doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ cách thức vận hành tổ chức thương mại điện tử để có thể đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp cũng như có thể quản lý được hoạt động của doanh nghiệp khi thực hiện ứng dụng thương mại điện tử trong sản xuất kinh doanh. 2.3 Xem xét lại quy trình kinh doanh cho phù hợp với phương thức hoạt động của thương mại điện tử Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào mạng Internet trước hết cần xác định rõ mục tiêu và chiến lược kinh doanh bởi mục tiêu và chiến lược kinh doanh trong thương mại điện tử có thể có nhiều điểm khác biệt so với trong phương Lê Thu Phương 85 A5 - K38B
  • 86. Khoá luận tốt nghiệp thức kinh doanh truyền thống. Doanh nghiệp có thể tham khảo ý kiến các chuyên gia trong quá trình xây dựng kế hoạch kinh doanh. Doanh nghiệp cũng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng bước trong kế hoạch kinh doanh trước khi đưa vào triển khai để tránh những sai sót có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. 2.4 Xây dựng website của doanh nghiệp Khi tham gia vào thương mại điện tử, doanh nghiệp nên xây dùng cho mình một website riêng hoặc đăng quảng cáo tại một website nào đó. Để website thực sự là một công cụ hữu Ých trong hoạt động kinh doanh thương mại điện tử của doanh nghiệp, website của doanh nghiệp phải được thiết kế bảo đảm các yêu cầu sau: Cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác: Website phải trình bày một cách rõ ràng và chính xác các thông tin chi tiết liên quan đến doanh nghiệp mà các đối tác kinh doanh cần biết như địa chỉ trụ sở làm việc, địa chỉ e-mail, số điện thoại, fax..., các thông tin về chất lượng, giá cả sản phẩm hoặc dịch vụ, phương thức vận chuyển hàng, phương thức thanh toán, thời gian bảo hành. Doanh nghiệp cần tạo điều kiện cho khách hàng tìm hiểu nguồn gốc, xuất xứ cũng như tính năng sử dụng của sản phẩm ngay trên website này. Thiết kế website linh hoạt: Thông tin trên website phải luôn được cập nhật sao cho website này là nguồn thông tin tốt nhất về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Đồng thời hình ảnh cũng như các file dữ liệu phải thật sự gây Ên tượng cho mọi đối tượng truy nhập, luôn có các sáng kiến đổi mới để tạo được trang web với những hình ảnh sống động, âm thanh vui tươi mang bản sắc riêng và nét đặc trưng riêng của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, website cũng phải đảm bảo tốc độ truy cập nhanh bằng cách loại bỏ các đoạn không cần thiết, giảm hình ảnh giới thiệu sản phẩm ở kích thước vừa phải, doanh nghiệp cũng có thể thiết kế một hệ thống định hướng cho phép khách hàng Lê Thu Phương 86 A5 - K38B
  • 87. Khoá luận tốt nghiệp chọn sản phẩm dễ dàng hơn và nhanh hơn. Những điều này sẽ tạo điều kiện cho khách hàng truy cập website thường xuyên hơn. Đảm bảo an toàn: Website của doanh nghiệp phải chắc chắn tạo được lòng tin đối với những khách hàng tiềm năng. Do vậy, doanh nghiệp cần chú trọng quan tâm đến việc bảo mật cho khách hàng đồng thời bảo đảm tính an toàn cho hệ thống thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, để đảm bảo cho website được nhiều người biết đến, doanh nghiệp không thể không chú ý đến việc giới thiệu địa chỉ website trên các phương tiện thông tin khác bởi website chỉ có thể thực hịên được chức năng của nó khi được mọi người biết đến và truy cập. 2.5 Tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử Trên thực tế, việc xây dựng và duy trì một website có hiệu quả có thể tốn khá nhiều chi phí và là một khó khăn đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ vì quy mô vốn của các doanh nghiệp này thường không lớn. Tham gia sàn giao dịch là một giải pháp giúp các doanh nghiệp giảm nhẹ được khó khăn về chi phí. Đồng thời, các doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch sẽ được hỗ trợ về đào tạo, đào tạo cả cho người quản lý và người triển khai, để họ có thể chủ động tạo cho mình một gian hàng trực tuyến, bằng các công cụ trong sàn giao dịch. Thông qua sàn giao dịch, các doanh nghiệp sẽ được cung cấp thông tin và tư vấn về các văn bản, chính sách, các quy định và tập quán thương mại quốc tế, nhằm giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh khi hội nhập quốc tế. Sàn giao dịch cũng là diễn đàn cho các doanh nghiệp có điều kiện trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, hỏi đáp những vấn đề quan tâm. Như vậy, có thể nói, sàn giao dịch thương mại điện tử giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận với thương mại điện tử một cách chủ động, kể cả trong điều kiện nguồn kinh phí hạn chế. 2.6 Các doanh nghiệp cần có chiến lược xây dựng và phát triển thương Lê Thu Phương 87 A5 - K38B
  • 88. Khoá luận tốt nghiệp hiệu Thương hiệu là một tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp bị thất bại là do không củng cố được tên tuổi của mình trên mạng và gắn nó với những hình tượng dành cho khách hàng. Vấn đề thương hiệu trong thương mại điện tử phức tạp và dễ gặp rắc rối hơn so với thương hiệu trong kinh doanh truyền thống vì, trong kinh doanh truyền thống, thương hiệu thường có tính chất khu vực nhưng trên Internet lại không tồn tại các khu vực truyền thông. Tính toàn cầu của Internet có thể gây ra những tranh cãi về thương hiệu. Thêm vào đó, tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn là một vấn đề lớn đang tồn tại và có nguy cơ ngày càng gia tăng khi thương mại điện tử phát triển. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu tham gia vào thương mại điện tử, các doanh nghiệp phải vạch cho mình một chiến lược xây dựng, củng cố, phát triển và bảo vệ thương hiệu của mình. Lê Thu Phương 88 A5 - K38B
  • 89. Khoá luận tốt nghiệp Lê Thu Phương 89 A5 - K38B
  • 90. Khoá luận tốt nghiệp KẾT LUẬN Thương mại điện tử đã, đang phát triển rất nhanh chóng trên thế giới và sẽ là thành phần quan trọng của thương mại nói chung vào thế kỷ 21. Không chỉ có các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển cũng ngày càng nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc phát triển thương mại điện tử trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá và hướng tới phát triển “nền kinh tế số hoá”. Các quốc gia không tính đến xu thế này sẽ khó tránh khỏi nguy cơ tụt hậu nhất là trong điều kiện mà ngành công nghệ thông tin đang phát triển với tốc độ như vũ bão hiện nay. Với Việt Nam, trong tiến trình tham gia thương mại điện tử đã có nhiều kết quả đáng khích lệ đặc biệt là về việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông phục vụ cho thương mại điện tử. Tuy nhiên, để thương mại điện tử có thể phát triển hoàn thiện ở Việt Nam, trong điều kiện Việt Nam đang và sẽ tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là Hiệp định khung e-ASEAN, còn có nhiều vấn đề đòi hỏi nước ta phải giải quyết như xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trong thương mại điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ lợi Ých của người tiêu dùng… Do vậy, nước ta cần tiếp tục tăng cường xây dựng hạ tầng cơ sở thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông, giảm giá bán các loại dịch vụ viễn thông cho phù hợp với mặt bằng chung của thế giới. Đồng thời, cần tập trung phát triển nguồn nhân lực về công nghệ thông tin có chất lượng cao hơn nữa, nâng cao trình độ ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh bởi đây là ngôn ngữ giao dịch phổ biến trong thương mại điện tử trên thế giới. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế xét về tỷ trọng trong tổng số các doanh nghiệp cũng Lê Thu Phương 90 A5 - K38B
  • 91. Khoá luận tốt nghiệp như xét về khía cạnh giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, việc tham gia ứng dụng thương mại điện tử hiện nay mới ở giai đoạn khởi đầu và kết quả thu được còn thấp nhưng trong tương lai, chắc chắn thương mại điện tử sẽ có hiệu quả cao hơn đem lại nhiều lợi Ých hơn nữa cho các doanh nghiệp và có thể được ứng dụng trong hầu hết các doanh nghiệp. Tuy nhiên để đạt được điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải chủ động chuẩn bị và đầu tư các thiết bị, công nghệ tiên tiến, điều chỉnh cơ cấu, quy trình sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh để có thể đứng vững trong nền kinh tế và tham gia vào thị trường thế giới. Điều quan trọng là mỗi doanh nghiệp cần phải có được nhận thức đúng đắn về thương mại điện tử và xây dựng được cho mình một kế hoạch ứng dụng thương mại điện tử phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức. Đó là giải pháp tốt nhất đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam để phát triển vững chắc trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá và phát triển kinh tế số hoá hiện nay. Lê Thu Phương 91 A5 - K38B
  • 92. Khoá luận tốt nghiệp TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Thương mại điện tử - Học viện hành chính quốc gia - NXB Lao động 2003 2. Khía cạnh văn hoá trong thương mại điện tử - NXB Chính trị quốc gia 2003 3. Thương mại điện tử cho doanh nghiệp - NXB Khoa học kỹ thuật 2001 4. Tương lai của thương mại điện tử - Sayling Wen - NXB Bưu điện 2002 5. Giao dịch thương mại điện tử - Mét số vấn đề cơ bản - NXB Chính trị quốc gia 2002 6. Thương mại điện tử với phát triển doanh nghiệp vừa và nhá - Viện kinh tế thế giới 2001 7. Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam - NXB Chính trị quốc gia 2002 8. Dự thảo Pháp lệnh thương mại điện tử (lần thứ 6) - Bé Thương mại 9. Dự án quốc gia kỹ thuật thương mại điện tử - Bé Thương mại 10. Nghiên cứu ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp Việt Nam - Luận án tiến sỹ - Lê Minh Lương 11. Vietnam e-Readiness and e-Needs Assessment Report (5/2003) 12. Một số khoá luận tốt nghiệp của sinh viên Đại học Ngoại thương 13. Các báo và tạp chí: - Tin học và đời sống số 6,10/2002, sè 1,4,9/2003 - Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương số 2, 8,10/2001, 2/2002 - Ngoại thương số 7,8/2003 - Phát triển kinh tế số 5/2003 - Thương mại các số năm 2003 - Tuần tin Công nghiệp - Thương mại Việt Nam (Bộ Thương mại) - Bưu chính viễn thông số 5,6,7,8/2003 Lê Thu Phương 92 A5 - K38B
  • 93. Khoá luận tốt nghiệp - Kinh tế và phát triển số 11/2002 - Diễn đàn doanh nghiệp số 8/2003 - Những vấn đề kinh tế thế giới số 5/2003 Lê Thu Phương 93 A5 - K38B
  • 94. Khoá luận tốt nghiệp 14. Thông tin trên các trang Web - www.thuongmaidientu.com - www.mot.gov.vn - www.ecommercetimes.com - www.ebusinessforum.com - www.vnexpress.net - www.it-life.vnn.vn - www.vnn.vn - www.bvom.com/news/ Lê Thu Phương 94 A5 - K38B