Tailieu.vncty.com so sanh-van_hoa_thai_lan_vn_3443

239 views
204 views

Published on

http://tailieu.vncty.com/index.php

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
239
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Tailieu.vncty.com so sanh-van_hoa_thai_lan_vn_3443

  1. 1. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt NamLỜI NÓI ĐẦUVăn hóa theo như định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh “là sự tổnghợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngườiđã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi sinhtồn”. Như vậy, văn hóa thể hiện những “nhu cầu đời sống”, “đòi hỏi sinhtồn”, thể hiện những phương thức, cách thức sinh sống, làm việc của conngười. Hay nói cách khác, văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo ra, gắn liền với đời sống con người. Thông qua văn hóa,ta có thể hiểu rõ hơn về mỗi nước, đó là những đặc trưng nổi bật, tạo nên sựkhác biệt giữa các quốc gia.Trong xu thế hội nhập và phát triển ngày nay, các quốc gia cần thiếtphải có sự hiểu biết lẫn nhau để xích lại gần nhau hơn, để hợp tác cùng pháttriển. Cách tốt nhất để hiểu biết lẫn nhau là thông qua văn hóa. Ngoài tìmhiểu, các cá nhân, tổ chức còn tiến hành làm công việc so sánh văn hóa. Sosánh văn hoá giữa hai quốc gia không nhằm mục đích tôn vinh nền văn hoánày, hạ thấp nền văn hoá kia mà qua đó sẽ giúp mỗi cá nhân, mỗi dân tộc sẽtìm ra được tiếng nói chung, cùng phát huy tính tích cực và hạn chế nhữngmặt tồn tại để cùng hội nhập và phát triển trong giai đoạn ngày nay.Việt Nam và Thái Lan là hai nước cùng nằm trong khu vực ĐôngNam Á. Do những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, đặcđiểm về dân cư, đặc trưng văn hóa...nên hai quốc gia này có khá nhiều néttương đồng. Tuy nhiên, cũng tồn tại những khác biệt tạo nên nét đặc trưngriêng của mỗi quốc gia. Qua bài tiểu luận này, người viết mong muốn là rõnhững nét tương đồng, khác biệt đó, dựa trên sự phân tích đặc trưng văn hóasản xuất, sự ảnh hưởng của văn hóa sản xuất lên đời sống, tính cách...củaVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 1
  2. 2. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namngười dân hai nước Thái Lan và Việt Nam. Sự so sánh, đối chiếu văn hóahai nước như vậy phần nào giúp ta tìm ra những giải pháp cho phát triển vănhoá của Việt Nam và Thái Lan trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới.Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 2
  3. 3. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt NamNỘI DUNG: SO SÁNH VĂN HÓA THÁI LAN – VIỆT NAM( Dựa trên đặc trưng văn hóa sản xuất)I. Thái LanĐiều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái đã tạo cho Thái Lan cómột cơ sở vững chắc để phát triển nông nghiệp. Thái Lan có những thunglũng phì nhiêu và tươi tốt ở vùng trung ương Thái Lan và các lưu vực sôngChao Praya. Điều kiện khí hậu nhiệt đới cũng đóng góp không nhỏ cho sựphát triển nông nghiệp của nước này. Hơn nữa từ rất sớm, người Thái đã cómột hệ thống trị thủy, đê điều tốt, cung cấp đủ nước tưới cho đồng ruộngngay cả khi mùa khô kéo dài. Do những điều kiện trên, nền nông nghiệp ởThái Lan phát triển từ rất sớm với 80% dân số Thái Lan làm nông nghiệp.Thái Lan được coi là “bát gạo của Châu Á”. Đây cũng là nước đứng đầu trênthế giới về xuất khẩu gạo. Hàng năm đất nước này xuất khẩu khoảng 7 đến 8triệu tấn ra nước ngoài trên sản lượng hàng năm khoảng 26 triệu tấn gạo.Năm 2010, ước tính sản lượng xuất khẩu gạo của Thái Lan lên tới 9 triệutấn.Nông nghiệp phát triển từ rất sớm cùng với số lượng dân cư tham gialàm nông nghiệp lớn (80%) nên đã hình thành nên những đặc trưng văn hóanổi bật ở người Thái Lan. Cụ thể như sau:Phương thức canh tác lúa nước tạo cho người Thái Lan một lối sốngtruyền thống đến nay vẫn khó phai. Ở nông thôn, người Thái sống trongnhững gia đình hạt nhân mở rộng gồm ông bà, cha mẹ, cô dì, cháu chắt....Nhiều gia đình sống thành làng, xã. Một làng có khoảng 500 đến 700 giađình tập hợp lại. Đứng đầu mỗi làng bản là trưởng bản - người điều hànhVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 3
  4. 4. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nammọi việc của bản trên cơ sở sự nhất trí cộng đồng. Trong một ngôi làng, tathường thấy có một nhà máy gạo và những kho, bể chứa gạo. Mỗi nhàthường có một kho thóc được xây ở phía nam hoặc phía bắc của ngôi nhà.Do đặc điểm sống như vậy, nên người Thái Lan có tính cố kết cộng đồngcao. Điều này còn do người Thái Lan từ xưa đã hợp sức để đắp đê, trị thủy,đào mương. Đắp đê, đào mương, canh tác lúa là những công việc không thểlàm một mình, đòi hỏi phải có sự góp sức tập thể nên đòi hỏi người dân phảixích lại gần nhau hơn.Người nông dân Thái Lan sống trong gia đình của mình với nếp sốngvà nếp nghĩ giản dị, nhân từ và khoan dung. Mỗi thành viên trong gia đìnhluôn nhận thức được phận sự của mình đối với gia đình là phải lo vun véncho hạnh phúc của cả cộng động, mọi hành vi mọi việc làm của họ sẽ ảnhhưởng tốt hay xấu tới gia đình mà họ đang sống. Trong gia đình, người chalà trụ cột, là người chịu trách nhiệm hướng dẫn những thành viên trong giađình cách thức làm ăn, dạy bảo mọi người cách sống. Người mẹ có vai trò làngười quản gia, cung cấp và giữ tiền nong, có ảnh hưởng đáng kể đến mọiquyết định của gia đình. Còn đối với trẻ nhỏ được dạy bảo rất kỹ càng ngaytừ bé về sự tôn trọng kính yêu cha mẹ và những người già cả, về vị trí củamình trong gia đình và xã hội. Chúng được là quen dần với công việc tùytheo từng lứa tuổi và luôn luôn tự giác biết mình phải làm những phần việcgì trong chuỗi những công việc của gia đình.Chính cơ cấu tổ chức gia đình và làng bản trên đây được thể hiện trênquy mô lớn hơn, đó là quy mô quốc gia. Ở đây, các nhân tố gia trưởng, thânphận, địa vị luôn thắng thế và bao trùm lên tất cả như là tiêu chuẩn của sựbiết tôn kính mà trước hết là tôn kinh vua. Từ xưa, người Thái đã coi đứcvua là đấng tối thượng. Người Thái gọi vua là “Chao giù hủa” có nghĩa làVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 4
  5. 5. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam“Vị chúa ở trên đầu”. Mọi thứ kể từ thân thể đến đồ dùng của vua đều cócách gọi riêng bằng những từ ngữ gợi lên sự thiêng liêng và khác biệt vớiđời thường. Sự tôn kính với vua còn được thể hiện ở một gia đình, mọi côngsở và các nơi công cộng đều có treo ảnh vua và hoàng hậu.Do đặc trưng làm nông nghiệp, người Thái Lan còn có rất nhiều nghilễ cũng như những lễ hội xuất phát từ đặc trưng của nền nông nghiệp trồnglúa nước. Tiêu biểu: ở Thái Lan có khá nhiều miếu thờ được đặt trên các bờruộng. Đây là dấu vết của những nghi thức thờ thần đất và thần lúa. NgườiThái Lan coi việc đào đất là một tội lỗi, nên trước khi vỡ đất, người tathường phải cũng lễ để tạ tội mẹ đất. Những lễ vật được đặt vào các miếuthờ nhỏ trên bờ ruộng. Nếu không có miếu thờ thì có thể cắm một cái sào ởbờ ruộng rồi treo lễ vật lên đó. Đến khi gieo hạt, người ta cũng dâng lễ vậtcho mẹ đất gồm trầu, cau, hoa quả và các thức ăn khác. Khi lúa chín ngườita làm lễ đưa mẹ lúa đi nơi khác trước khi gặt để mẹ lúa khỏi đau đớn khithấy con mình bị cắt. Ngoài ra, người Thái còn có lễ tạ mùa (xuất hiện từ thếkỷ XVIII), lễ dâng vật cho mẹ lúa khi suốt lúa, lễ đưa mẹ lúa về kho, lễmừng cơm mới...Những nghi lễ này đến thế kỷ XX vẫn còn tồn tại, đượclàm trong các gia đình nông dân ở Thái Lan.Ngoài những nghi lễ kể trên, ở Thái Lan còn tồn tại nhiều lễ hội xuấtphát từ nền nông nghiệp trồng lúa. Lúa gạo trở thành những hình ảnh biểutượng quan trong trong các lễ hội. Ta có thể kể đến:Lễ Rekna, hay còn gọi là lễ hạ điền – một nghi lễ mở đầu cho mộtmùa canh tác mới. Trong nghi lễ này, người ta tổ chức một đám rước để đưaông vua tượng trưng từ nhà ra ruộng thay mặt ông vua thật cày luống càyđầu tiên mở đầu cho một vụ mới. Sau này, lễ Rekna được tổ chức trong mộtVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 5
  6. 6. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namngôi đền dựng riêng trên một cánh đồng cạnh thành phố Băng Cốc. Bộtrưởng bộ Nông nghiệp – vị vua tượng trưng – cùng những người phụ việcvào giữa lễ đường bắt đầu cày những luống cày đầu tiên. Theo sau là nhữngthiếu phụ cắp những giỏ hạt giống bằng vàng, bằng bạc. Ông Bộ trưởng thìquẩy mạ, còn các vị sư sãi thì tưới nước thiêng xuống đất. Những ngườinông dân xô nhau cướp những hạt giống vì họ tin rằng những hạt giống đósẽ tạo những vụ mùa bội thuTiếp đến là lễ hội Songkran – đây là lễ hội té nước chào đón năm mớicủa người Thái Lan. Lễ hội truyền thống này được kéo dài từ 13 đến 15/4dương lịch hàng năm. Trong lễ hội, mọi người sẽ chúc nhau bằng những gáonước thân tình. Ai được ướt nhiều thì người đó có quyền được hãnh diện vàvui sướng. Điều này một phần bởi vì người Thái lan vốn làm nông là chủyếu, đồng thời do đặc điểm khí hậu của Thái Lan có một mùa khô kéo dàinên họ rất hiểu tầm quan trọng của nước, coi trọng nguồn nước. Người TháiLan còn gọi sông là “mẹ nước”. Với họ, mưa là ân đức của thần linh. Nếu bịhạn hán thì phải cầu mưa, cúng tế (Lễ Băm rung, lễ Băm rung Satra).Như vậy, ta có thể thấy được trên đây là những phong tục và lễ hộicủa người Thái Lan, nó mang nặng tính tôn giáo mà tính dân gian đượmmàu sắc nông nghiệp. Những lễ hội này được người dân tham gia rất đông,hưởng ứng nhiệt tình. Đến mùa thu hoạch, người dân Thái Lan còn hưởngứng bằng cách các trường học ở cả nông thôn và thành thị đều được nghỉhọc. Các lễ hội được tổ chức cả vào dịp trồng cây lẫn thu hoạch, tùy theo ýnghĩa.Văn hóa sản xuất còn ảnh hưởng đến người Thái Lan về nhiều mặt.Tính cách người Thái Lan cũng mang nhiều đặc trưng nông nghiệp. ThểVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 6
  7. 7. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namhiện trong quan niệm của người Thái Lan về thời gian. Người Thái Lanthường trậm chế, không đúng giờ. Họ cũng không ngại chờ đợi. Tưởngtượng nếu bạn tham gia giao thông ở Thái Lan và bị tắc đường trong vòng20 phút mà không di chuyển nổi, bạn sẽ ngạc nhiên khi nhận ra rằng khôngai bóp còi inh ỏi và tỏ thái độ bực tức vì sự đình trệ này. Hoặc khi vào nhữngnhà hàng với sự phục vụ chậm chễ, bạn có thể thấy sự tức giận, bực bội ở rấtnhiều người ở các nước khác trên thế giới, nhưng với người Thái Lan, họhầu như không tỏ ra khó chịu về điều này. Thời gian lao động của ngườiThái Lan lãng phí 6 tháng/ năm. Trong khoảng thời gian 6 tháng còn lại thìthời gian còn bị lãng phí nhiều.Cách ước tính thời gian của người Thái Lan cũng không chính xác.Nếu như bạn nghe họ nói làm gì “trong vòng 10 phút nữa”, điều này có thểnghĩa là “ngay lập tức”, cũng có thể nghĩa là “trong vòng 30 phút nữa”. Nếutheo cách hiểu thứ hai tức là bạn không phải làm điều gì đó ngay bâg giờ.Ngoài ra, văn hóa sản xuất còn tạo cho người Thái Lan những tínhcách rất phổ biến như: thích khất lần, không thích làm ngay những việc củamai sau; thiếu kỷ luật, tùy tiện; không dám mạo hiểm, tránh rủi ro, do đóthường thích làm công ăn lương chứ không thích buôn bán kinh doanh; thíchcầu may. muốn giàu có nhưng không muốn làm ăn nên hay cá cược, mua xổsố, đánh đề, cờ bạc; mê tín dị đoan, thích xem giờ, xem ngày lành tháng tốt;ưa mặc cả ( trong mua bán cũng như trong phân công lao động, cưới xin…);có tính đố kỵ, cảm thấy khó chịu và đâm ra ghét khi thấy người ta có thể hơnmình hoặc hơn mìnhẨm thực Thái Lan cũng một phần bị ảnh hưởng bởi văn hóa sản xuấtcủa đất nước này. Thái Lan với 80% dân số làm nghề nông, cây trồng chủVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 7
  8. 8. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namyếu là lúa nên thức ăn của các vùng chủ yếu là cơm tẻ và xôi. Tuy nhiên, docũng chịu ảnh hưởng từ các nước lân cận nên ẩm thực ở mỗi vùng, ngoài đặctrưng cơ bản là cơm tẻ và xôi còn có nhiều món khác đi kèm và chế biếnkhác nhauII. Việt NamCũng giống như Thái Lan, Việt Nam là một quốc gia có nền văn minhnông nghiệp từ rất sớm. Việt Nam có nhiều điều kiện tự nhiên phù hợp chosự phát triển nông nghiệp, thậm chí Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợihơn Thái Lan về phát triển nông nghiệp. Khí hậu Việt Nam có bốn mùa rõrệt, không có mùa khô kéo dài như ở Thái Lan. Hệ thống sông ngòi ở ViệtNam dày đặc, nhiều hơn ở Thái Lan cung cấp đủ nước tưới cho cây trồng.Việt Nam có hai đồng bằng phù sa màu mỡ là đồng bằng sông Hồng vàđồng bằng sông Cửu Long. Đây là hai vựa lúa chính của cả nước. Tuy vậy,sản lượng nông nghiệp hàng năm của, sản lượng xuất khẩu hàng nôngnghiệp ra nước ngoài của Việt Nam vẫn thua Thái Lan. Nguyên nhân là dotrình độ canh tác, áp dụng khoa học kỹ thuật. Hiện Việt Nam là quốc giađứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Thái Lan là quốc gia đứng đầu.Theo số liệu năm 2009, Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài khoảng 6 triệutấn gạo. Trong năm 2010, với nỗ lực cải tiến chất lượng hạt gạo và số lượng,Việt Nam hi vọng trong tương lai không xa có thể vượt qua Thái Lan về sảnlượng xuất khẩu gạo ra các nước trên thế giới.Như vậy, dân tộc Việt Nam cũng là một dân tộc có nền văn hóa đượcxây dựng trên nền nông nghiệp trồng lúa nước. Đây là ngành nghề truyềnthống đòi hỏi nhiều người cùng chung sức khai phá và phấn đấu chống lạiVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 8
  9. 9. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namthiên tai, đồng thời bảo đảm tưới tiêu cho ruộng đồng. Điều này trải qua tiếntrình lịch sử đã hình thành nên phẩm chất cố kết cộng đồng của người Việt.Nền văn minh lúa nước cũng tạo nên tinh thần cộng đồng - nét quantrọng trong ý thức và tâm lý người Việt Nam. Người Việt không chỉ có cộngđồng về huyết thống (cộng đồng dòng họ) mà còn có cộng đồng lân cư xómlàng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng theo lứa tuổi. Những quan hệ cộngđồng nói trên cùng đồng thời tồn tại, không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau,cùng là chỗ dựa trong cuộc sống của từng cá nhân, từng gia đình Việt. Cóthể nói, cộng đồng là những điểm tựa của người Việt trong cuộc sống hàngngày.Người Việt cũng sống trong những gia đình hạt nhân và nhiều giađình tập hợp lại thành làng, xã, bản. Nếp sống của dân tộc Việt Nam đượcxây dựng trong khung cảnh làng xã (chiềng, chạ) với lũy tre, ao cá, cánhđồng...Làng đã trở thành một biểu tượng văn hoá đặc trưng của người Việtthể hiện tinh thần gắn bó mối quan hệ dòng tộc, huyết thống của một bộphận đời sống dân cư trên một vùng địa lý nhất định của lãnh thổ nhà nước.Làng là một cơ chế chặt chẽ đảm bảo sự gắn kết giữa các thành viên phâncông trong lao động sản xuất và chiếm giữ các địa vị khác nhau trong cộngđồng.Tinh thần đoàn kết cố kết cộng đồng đã tạo nên sự hiền hoà, bao dungtrong phẩm chất tâm hồn của người Việt. Bản sắc hiền hòa và bao dung thểhiện ở chỗ dân tộc ta không những chấp nhận sự khác biệt từ trong làng xãmà còn đến quy mô rộng lớn hơn là trong xã hội. Chính tinh thần chấp nhậnkhác biệt, chấp nhận đa nguyên này mà khi các tôn giáo, tín ngưỡng, triết lýVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 9
  10. 10. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namtừ nước ngoài du nhập vào nước ta đã không bị kỳ thị; trái lại đã được dântộc ta dễ dàng tiếp nhận.Như vậy, trong bảng giá trị truyền thống, đoàn kết (cố kết cộng đồng)cùng với hiếu với cha mẹ (gia đình hạt nhân là tế bào xã hội) và trọng lão(trọng kinh nghiệm) luôn là những chuẩn mực được đề cao. Những chuẩnmực này đều xuất phát từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước.Do truyền thống văn hoá nông nghiệp, cơ cấu bữa ăn của người Việtthường thiên về thực vật mà lúa gạo là thức ăn hàng đầu, sau đó là rau quả.Mặc dầu vậy, do sự đa dạng của môi trường sinh thái, mâm cơm của ngườiViệt thường có rất nhiều món, mỗi món lại là sản phẩm của sự pha chế từnhiều nguyên liệu đã tạo nên một khuôn khổ rộng rãi đến kì lạ trong cáchthức chọn lựa các món ăn của người Việt. Điều này thể hiện sự linh hoạttrong lối ăn của người Việt.Cách mặc của người Việt Nam cũng được điều chỉnh để phù hợp vớisản xuất, lao động. Ta thường thấy người nông dân Việt Nam hay mặc đồnâu, đen, màu chàm. Họ thường mặc những bộ quần áo đơn giản, không cầukỳ để tiện cho việc đồng áng. Dần dần, hình thành những đặc trưng trongphong cách ăn mặc, hình thành nên những trang phục dần trở thành trangphục truyền thống của người Việt Nam.Cũng do nền văn minh nông nghiệp hình thành nên tính cách củangười Việt Nam với những đặc điểm khá giống tính cách của người TháiLan. Ngoài đặc điểm đoàn kết, gắn bó cộng đồng, bao dung, hiền hòa như đãnêu ở trên, người Việt Nam có những đặc điểm tính cách phổ biến như sau:thích khất lần, không thích làm ngay những việc của mai sau; thiếu kỷ luật,Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 10
  11. 11. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namtùy tiện; không dám mạo hiểm, tránh rủi ro, do đó thường thích làm công ănlương chứ không thích buôn bán kinh doanh; thích cầu may. muốn giàu cónhưng không muốn làm ăn nên hay cá cược, mua xổ số, đánh đề, cờ bạc; mêtín dị đoan, thích xem giờ, xem ngày lành tháng tốt; ưa mặc cả ( trong muabán cũng như trong phân công lao động, cưới xin…); có tính đố kỵ, cảmthấy khó chịu và đâm ra ghét khi thấy người ta có thể hơn mình hoặc hơnmìnhSinh hoạt văn hóa của người Việt Nam có ảnh hưởng nhiều từ nền vănminh nông nghiệp. Người dân Việt Nam có một kho tàng câu ca dao, thànhngữ đúc kết những kinh nghiệm làm nông nghiệp, thể hiện tâm tư, tình cảmcủa mình qua những hình ảnh gắn liền với nông thôn như: “Nuôi lợn ăn cơmnằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”, “ Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh raumuống nhớ cà dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bênđường hôm nao.” Ta cũng có thể thấy nhiều phong tục, lễ hội ở một số vùngnông thôn Việt Nam bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp. Việt Namcũng có tín ngưỡng thờ thần đất, thần nước. Trên các đồng ruộng, ta cũng cóthể thấy các miếu thờ thần đất, thần nước. Ta cũng có những lễ hội ngàymùa, như Lễ hội tịch điền (ở Thái Lan là lễ Rekna) được tổ chức vào dịp đầunăm mới ở chân núi Đọi (xã Đọi Sơn – Duy Tiên – Hà Nam). Nó tương tựnhư lễ Rekna ở Thái Lan nhưng khác ở chỗ không có những ông vua tượngtrưng và những nghi lễ cày đường cày đầu tiên, không có những người nôngdân xô nhau tranh cướp hạt giống. Trong thực tế, lễ hội Tịch Điền mới đượcphục hồi lại, có những quan chức cấp cao tham dự, nhân dân tới chung vui,xem lại những cảnh tái hiện trong đời sống sinh hoạt của mình. Các lễ hộivào ngày mùa khác ở Việt Nam ngày nay vẫn còn tồn tại nhiều ở nông thônnhưng không có tính phổ biến cao như ở Thái Lan. Ta cũng không có nhiềuVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 11
  12. 12. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namlễ nghi như Thái Lan và các lễ hội diễn ra không cầu kỳ. Điều này là donhững nghi lễ, lễ hội này ở Thái Lan ngoài ảnh hưởng của nền văn minhnông nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi Phật Giáo.Đặc trưng văn hóa sản xuất ra của cải vật chất ở Việt Nam ngoài trồnglúa nước còn là đánh bắt cá. Ở Việt Nam có một hệ thống sông ngòi dầy đặc.Trên lãnh thổ Việt Nam có tới 2860 sông ngòi lớn nhỏ nhưng chủ yếu là cácsông ngắn và dốc với tổng lượng dòng chảy khoảng 867 tỷ m3/năm. Sôngngòi Việt Nam nhìn chung chảy xiết và do vậy thường làm xói mòn địa hình,cuốn đi một lượng bùn cát khá lớn, ước tính khoảng 300 triệu tấn/năm. Tuydọc theo bờ biển có tới 112 cửa sông lớn, nhưng không phải tất cả bùn cátcác dòng sông mang theo đều đổ ra biển, mà một phần được giữ lại bồi đắpnên các đồng bằng rất trẻ. Do có nhiều sông ngòi nên người Việt Nam rấtgiỏi trong việc đi lại trên sông nước và đánh bắt cá trên những con sông này(tuy nhiên không giỏi đánh bắt cá trên biển lớn). Do đó hình thành nên tínhcách linh hoạt, nhanh nhạy ứng phó với thiên nhiên và tính cố kết cộng đồngcao.Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 12
  13. 13. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt NamKẾT LUẬNQua những phân tích và dẫn chứng được nêu ra ở trên, ta có thể nhậnthấy được rất nhiều điểm giống nhau của người Thái lan và người Việt Nam.Cả hai dân tộc cùng có những điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp,phát triển nông nghiệp từ rất sớm và từ đó hình thành những nét văn hóamang đặc trưng nông nghiệp có nhiều điểm tương đồng. Trước hết là nhữngđiểm tương đồng trong lối sống, sinh hoạt: cùng sống trong những gia đìnhhạt nhân, trong làng, bản, trọng người già (trọng kinh nghiệm); có nhữngnghi lễ, lễ hội có nét tương đồng (ví dụ lễ hội Rekna ở Thái Lan và lễ hộiTịch điền ở Việt Nam); ẩm thực cùng bị chi phối bởi văn hóa sản xuất.Ngoài ra, người dân Thái Lan và Việt Nam còn có những nét tương đồngtrong tính cách (mang đặc trưng nông nghiệp) như: thiếu kỷ luật, chậm chễ,ưa hưởng thụ, thích chơi cờ bạc, mê tín...Tuy nhiên, do những yếu tố khách quan khác tác động (ví dụ ở TháiLan chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đạo Phật còn Việt Nam thì sự ảnh hưởngđó không bao trùm toàn bộ dân cư, đất nước do đạo Phật không phải là tôngiáo chính như ở Thái Lan) nên ngay trong những sự giống nhau, trongnhững điểm tương đồng của hai nước đã có sự khác nhau. Khác nhau chủyếu ở đây là về mức độ. Cùng có nghi lễ cúng, thờ thần đất, thần nước, cùngcó những lễ hội xuất phát từ phương thức sản xuất trồng lúa, nhưng ở TháiLan có cầu kỳ, phổ biên hơn ở Việt Nam. Văn hóa Thái Lan đặc biệt chútrọng đến những nghi lễ, lễ hội còn văn hóa Việt Nam đặc biệt quan tâm đếnVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 13
  14. 14. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namnhững thang giá trị, chuẩn mực, những cách ứng xử giữa người với ngườitrong một làng, xã.Chúng ta hãy cùng theo dõi bảng sau để thấy rõ hơn sự tương đồng vàkhác biệt trong văn hóa của người Thái lan và người Việt Nan. Đây là bảngso sánh văn hóa Thái Lan – Việt Nam dựa trên tiêu chí đặc điểm dân cư vànhững đặc trưng văn hóa:Việt Nam Thái LanCư dân Gồm nhiều dân tộc, cư dânchủ yếu nói tiếng KinhGồm nhiều dân tộc, cư dânchủ yếu nói tiếng TháiVăn hóa sảnxuấtVăn hóa sản xuất chủ yếu làtrồng lúa nước và đánh bắtcá. Yếu tố này chi phốinhiều các mặt đời sống củangười Việt Nam. Do đó,người Việt Nam đề cao tínhcộng động, có hiếu với chamẹ, trọng người già.Văn hóa sản xuất ra của cảivật chất chủ yếu là trồnglúa. Đề cao tính cộng đồng,có hiếu với vua, với chamẹ, trọng người giàVăn hóa đảmbảo đời sống- Ăn: Thanh nhẹ, đơn giản.- Mặc: trang phục truyềnthống là áo tứ thân/ ngũ thân(nữ); áo the (nam)- Ở: tùy thuộc vào địa hình,khí hậu...mà xây nhà. Có- Ăn: Cầu kỳ, có phối trộntinh tế giữa vị cay, chua,ngọt và đắng- Mặc: Trang phục truyềnthống là Phasin (nữ),Sarong (nam)Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 14
  15. 15. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt Namnhà sàn, nhà tranh vách đất...- Ở: người Thái Lan thích ởnhà sàn vì thoáng mát vàtránh được thú dữVăn hóa quyphạmthể hiện việc trọng lão, hiếu,hoà.thể hiện việc trọng lão,hiếu, hoà.Văn hóa tâmlinhLà một dân tộc có tínngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờanh hùng.Thờ PhậtTính cách Người Việt Nam linh độngvà giỏi xử lý tình huống.Linh hoạt, khôn khéo, cởimở, mến kháchLối tư duy Trọng tình, không lo xa,kém hạch toán.Trọng tình, không lo xaTâm lý dân tộc Phức cảm, tự tôn. Tôn thờ, tin theo đức PhậtNgôn ngữ Có tính pha trộn cao Có pha trộnVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 15
  16. 16. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt NamTƯ LIỆU THAM KHẢO1. Sách tham khảo- Quế Lai (chủ biên) – Thái Lan – Truyền thống và hiện đại – NXB ThanhNiên.- Trần Ngọc Thêm (2006) - Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam - NXB Thànhphố Hồ Chí Minh.- Trần Quốc Vượng (2007) - Cơ sở văn hóa Việt Nam - NXB Giáo Dục.2. Website- http://www.vietnameseculture.org- http://www.propertyshowrooms.com- http://vi.wikipedia.org- http://www.thailandsworld.com- http://www.asiarooms.com- http://www.thailandlife.com- http://www.gay-thailand.net- http://www.vnnavi.com/news/amthucthailan.html- http://www.american.edu/TED/thairice.htmVũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 16
  17. 17. So sánh văn hóa Thái Lan – Việt NamMỤC LỤCLời nói đầu................................................................................................1Nội dung chính .........................................................................................3I. Thái Lan.................................................................................................3II. Việt Nam...............................................................................................8Kết luận...................................................................................................13Tư liệu tham khảo....................................................................................16Vũ Thị Phương Dung – Lớp K52 Quốc tế học 17

×