Tailieu.vncty.com   luan-van-nang-cao-chat-luong-tin-dung
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Tailieu.vncty.com luan-van-nang-cao-chat-luong-tin-dung

on

  • 481 views

http://tailieu.vncty.com/index.php

http://tailieu.vncty.com/index.php

Statistics

Views

Total Views
481
Views on SlideShare
476
Embed Views
5

Actions

Likes
0
Downloads
7
Comments
0

1 Embed 5

http://tailieu.vncty.com 5

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Tailieu.vncty.com   luan-van-nang-cao-chat-luong-tin-dung Tailieu.vncty.com luan-van-nang-cao-chat-luong-tin-dung Document Transcript

  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng LỜI NÓI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu và rộng hậu WTO, lại bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, ngành Ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đang là vấn đề sống còn trong tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng. Đối với các ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng trung – dài hạn nói riêng là hoạt động tạo ra doanh thu và lợi nhuận chủ yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. Tuy nhiên, do những yếu tố khách quan lẫn chủ quan, hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại nước ta hiện nay còn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Những rủi ro đó khi phát sinh sẽ không chỉ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của mỗi ngân hàng mà còn ảnh hưởng dây chuyền tới sự ổn định và phát triển của cả nền kinh tế. Chính vì vậy nâng cao chất lượng tín dụng là mối quan tâm của không chỉ các nhà lãnh đạo ngân hàng mà còn là của các nhà quản lý kinh tế. Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam là một đơn vị hoạt động kinh doanh về nội tệ và ngoại tệ, phần lớn các khoản vay trung và dài hạn ở đây là cho vay nội tệ. Do vậy trước sự biến động của nền kinh tế nước ta, ngân hàng nông nghiệp huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam cũng đã gặp phải không ít những khó khăn, vướng mắc và những rủi ro vốn có trong hoạt động cho vay của mình. Nhận thức được những rủi ro trong hoạt Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 1
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng động tín dụng trung – dài hạn cũng như sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng, với những kiến thức đã được trang bị trong trường cùng những kinh nghiệm thực tiễn khi thực tập, em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam” làm khóa luận tốt nghiệp. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Nghiên cứu những lý luận cơ bản về tín dụng nói chung, tín dụng trung dài hạn nói riêng. - Phân tích thực trạng tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Lý Nhân từ đó đánh giá những kết quả được, tìm ra những mặt còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó. - Trên cơ sở những tồn tại, đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh. 3. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đồng thời sử dụng các bảng, biểu để minh họa. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu : Chất lượng tín dụng trung – dài hạn. Phạm vi nghiên cứu : Hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHNo & PTNT Lý Nhân trong giai đoạn 2007 – 2009. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 2
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 5. Kết cấu khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận được chia làm 3 chương: Chương 1 : Những vấn đề chung về tín dụng và tín dụng trung – dài hạn Chương 2 : Thực trạng chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT Lý Nhân Chương 3 : Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT Lý Nhân Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 3
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN 1.1. Tín dụng ngân hàng 1.1.1. Khái niệm về tín dụng Ngân hàng bắt nguồn từ việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. Là trung gian tài chính, ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho cá nhân và tổ chức vay lại. Tín dụng là một trong những hoạt động của ngân hàng, hoạt động này mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Thuật ngữ “ tín dụng” ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ. Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là CREDO ( tin tưởng, tín nhiệm ). Trong thực tế tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau : Trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay. Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể. Ví dụ, trong hoạt động thương mại một công ty bán hàng trả chậm cho một công ty khác, như vậy người bán đã chuyển giao hàng hóa cho bên mua và theo thỏa thuận, sau một thời gian nhất định bên mua phải trả tiền co bên bán. Hoặc giao dịch giữa ngân hàng với các định chế tài chính khác, với doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay và cũng sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán cả gốc và lãi cho ngân hàng. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 4
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng. Với chức năng cơ bản của một ngân hàng, tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa ) giữa bên cho vay ( ngân hàng và các định chế tài chính ) và bên đi vay ( cá nhân,doanh nghiệp và các chủ thể khác ) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. 1.1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Quan hệ tín dụng tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, nhưng dù vận động ở phương thức nào tín dụng đều mang những đặc trưng sau : Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay ( bằng tiền ) và cho thuê ( bất động sản và động sản ). Khi xã hội phát triển thì hình thức cho thuê cũng phát triển ngày càng mạnh mẽ. Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả người cho vay phải nhận được tài sản sau một thời gian nhất định từ người đi vay. Giá trị mà người cho vay nhận được phải lớn hơn giá trị ban đầu mà họ cho vay. Chênh lệch này chính là giá trị nhận được do việc chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện hay quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay. Cơ sở tin tưởng này có thể là do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp hoặc do sự bảo lãnh của người thứ ba. 1.1.3. Vai trò của tín dụng a. Đối với nền kinh tế Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Từ nguồn Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 5
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng vốn đó, các chủ thể mở rộng hoạt động kinh doanh, đưa tiền vào nền kinh tế đẩy mạnh sản xuất và tiêu dùng – hai mắt xích quan trọng của quá trình tái sản xuất và như thế tín dụng ngân hàng đã thúc đẩy sản xuất phát triển. Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thỏa mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh. Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội. Khi nền kinh tế có những thay đổi, thông qua việc điều chỉnh các điều kiện tín dụng, nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy mô lẫn kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. b. Đối với các tổ chức tín dụng Ngày nay, mặc dù các ngân hàng đã mở rộng các hoạt động như tư vấn, bảo lãnh…nhưng hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng và là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng đó. Bản thân ngân hàng sẽ tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng. 1.1.4. Phân loại tín dụng a. Phân loại theo mục đích vay vốn Theo căn cứ này thì tín dụng được chia ra các loại sau : Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 6
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Cho vay bất động sản : Là loại cho vay liên quan tới việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Đối với loại hình cho vay này bằng chính tài sản thực : đất đai, nhà cửa và các công trình khác. - Cho vay công nghiệp và thương mại : Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp thương mại và dịch vụ. - Cho vay nông nghiệp : Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón,thuốc trừ sâu,giống vật nuôi cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu. - Cho vay các định chế tài chính : Là việc cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và - Cho vay cá nhân : Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân như nhà ở, ô tô và các vật dụng thiết yếu khác. - Cho thuê : Bao gồm cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản mà chủ yếu là máy móc, thiết bị. Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng đảm nhận việc thanh toán tiền mua máy móc, thiết bị và giữ quyền sở hữu máy móc thiết bị đó còn người đi thuê được quyền lựa chọn thiết bị phù hợp với nhu cầu kinh doanh và lắp đặt tại nơi tiến hành hoạt động kinh doanh của mình trong suốt thời gian thuê. Kết thúc hợp đồng thuê, ngân hàng sẽ nhận được tiền từ người đi thuê, bên đi thuê có thể mua lại tài sản đó theo giá bán được định trước khi ký kết hợp đồng thuê. b. Phân loại theo mục đích tín nhiệm Cho vay có bảo đảm : Là loại cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ 3. Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo. Sự bảo Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 7
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu thứ 2, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Cho vay không có bảo đảm : Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ 3. Việc cho vay này dựa trên uy tín của khách hàng. Với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cho vay mà không cần nguồn thu nợ bổ sung. c. Phân loại theo xuất xứ tín dụng Cho vay trực tiếp : Đây là việc ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Cho vay gián tiếp : Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Loại cho vay này gồm có chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng và nghiệp vụ bao thanh toán. d. Phân loại theo phương pháp hoàn trả - Cho vay có thời hạn : Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng. Loại cho vay này gồm các loại sau : + Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ là loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thỏa thuận. + Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể ( cho vay trả góp ) là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ. + Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể, việc trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay. Với loại cho vay này khách hàng có thể trả nợ trước hạn nhưng ngân hàng được quyền thu lãi toàn bộ kỳ hạn trả nợ theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 8
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Cho vay không có thời hạn cụ thể : Ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể thỏa thuận trong hợp đồng. e. Phân loại theo thời hạn cho vay Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thơi gian liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng, theo cách phân loại này tín dụng được chia thành 3 loại: - Cho vay ngắn hạn : Là loại cho vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Cho vay trung hạn : Thời hạn của tín dụng trung hạn thường là không cố định. Trước đây, thời hạn mà NHNN Việt Nam đưa ra đối với tín dụng trung hạn là từ 1 đến 3 năm. Tuy nhiên hiện nay để đáp ứng yêu cầu vay của doanh nghiệp,NHNN Việt Nam quy định thời hạn của tín dụng trung hạn là từ 1 đến 5 năm. Việc nâng thời hạn tín dụng lên 5 năm đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay của doanh nghiệp vì đối với 1 số tài sản cố định có thời hạn sử dụng tương đối dài nên cần phải có thời gian đủ lớn, doanh nghiệp mới có thể hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng và sẽ giúp doanh nghiệp tránh rơi vào tình trạng nợ quá hạn. - Cho vay dài hạn : Là loại tín dụng mà thời hạn của nó dài hơn đối với tín dụng trung hạn. Loại tín dụng này cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, nhà máy lớn, các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. 1.2 Tín dụng trung – dài hạn 1.2.1 Khái niệm tín dụng trung – dài hạn Tín dụng trung – dài hạn là các khoản cho vay có thời hạn trên 1 năm, nhưng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình thành từ vốn vay. Việc phân chia cụ thể tín dụng trung – dài hạn tùy thuộc vào quy định của mỗi Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 9
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng quốc gia. Theo quy định của Thống đốc NHNN Việt Nam các khoản tín dụng có thời gian từ trên 1 đến 5 năm gọi là tín dụng trung hạn. Đối tượng tín dụng trung, dài hạn rất đa dạng, phong phú. Ngân hàng có thể cho vay nhiều đối tượng khác nhau mà pháp luật không cấm. Trong tín dụng trung dài hạn là các công trình, hạng mục dự án đầu tư, mua sắm tài sản cố định, nâng cấp hạ tầng cơ sở của các đơn vị kinh tế, nhà nước hay cá nhân có luận chứng kinh tế tốt, xác thực có tính khả thi cao, những khoản cho vay dài hạn thường đươch thực hiện cho vay với khách hàng là doanh nghiệp nhà nước để đầu tư những dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia, những dự án quy mô lớn như nhà máy thủy điện, nhiệt điện, công trình giao thông, cơ sở hạ tầng hay lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế. Các khoản tín dụng dài hạn thường áp dụng phương pháp giải ngân và trả nợ nhiều lần. 1.2.2 Các đặc trưng của tín dụng trung – dài hạn a. Mục đích và đối tượng cho vay Khác hẳn với loại hình tín dụng ngắn hạn chủ yếu dùng để bổ xung vốn lưu động cho các doanh nghiệp, tín dụng trung dài hạn được dùng để tài trợ cho nhu cầu tài sản cố đính, tài sản lưu động thường xuyên và các dự án có thời gian tương đối dài. Mục đích của cho vay trung dài hạn là các chi phí cấu thành trong tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm giá trị vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ, chi phí nhân công…Tuy nhiên, ngân hàng thương mại sẽ không cho vay toàn bộ các chi phí mà khách hàng sẽ phải bỏ ra chỉ cho vay theo một tỷ lệ nhất định , thường là 70% giá trị tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng. b. Thời hạn cho vay Được tính bắt đầu từ khi khách hàng nhận được vốn vay cho đến khi khách hàng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng.Tín dụng trung, dài hạn do mục đích của người đi vay chủ yếu là đầu tư vào tài sản cố định hoặc các Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 10
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng dự án có thời gian thu hồi vốn chậm.Trên thực tế,thời hạn cho vay của các khoản vay trung dài hạn thường có hai trường hợp: - Khoản vay phát huy ngay hiệu quả sau khi số tiền vay được sử dụng, thời hạn cho vay chính là thời gian thu hồi - Khoản vay phải trải qua một thời gian mới phát huy được hiệu quả, khách hàng mới có khả năng trả nợ.Đối với trường hợp này thời hạn cho vay phải bao gồm thời gian trả nợ và khoảng thời gian phát huy hiệu quả của đồng vốn Thời hạn cho vay phải dựa trên thỏa thuận giữa người đi vay và ngân hàng. Thỏa thuận này thông thường được căn cứ vào thời gian khấu hao của dự án vì đây là nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng. Do đó, tùy vào thời gian khấu hao mà các khoản vay có thề kéo dài từ trên 12 tháng đến 60 tháng ( tín dụng trung hạn ) hoặc trên 60 tháng ( tín dụng dài hạn ) Tùy thuộc vào loại khách hàng và thời hạn cho vay mà kì hạn trả nợ cũng khác nhau, khách hàng có thể lựa chọn nhiều loại kì hạn trả nợ: - Kì hạn trả nợ đều nhau theo tháng , quý hoặc năm - Kì hạn trả nợ có tính thời vụ - Kì hạn trả nợ chỉ có 1 lần vào lúc kết thúc thời hạn cho vay c. Nguồn vốn sử dụng để cho vay NHTM luôn luôn phải đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên của mình, đây là vấn đề sống còn của mỗi ngân hàng, ảnh hưởng không chỉ tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn là uy tín , hình ảnh của ngân hàng. Do đó, việc cho vay phải dựa trên nền tảng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được. Vì một trong những đặc trưng của tín dụng trung dài hạn là thời hạn cho vay tương đối dài nên nguồn vốn NHTM cho khách hàng vay cũng phải ổn định và có thời hạn tương ứng. Các nguồn vốn này thường là : - Vốn tự có: là nguồn vốn của ngân hàng Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 11
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Nguồn vốn huy động TDH : nguồn vốn này có thề được hình thành theo hình thức tiền gửi trung dài hạn hoặc phát hành trái phiếu dài hạn. Nguồn vốn này đang ngày càng bị hạn chế do ngân hàng thương mại khó huy động các khoản tiền gửi dài hạn trong dân, người dân thường không thích gửi các khoản tiền trong thời hạn dài mà chỉ gửi các thời hạn ngắn trong khi chờ đợi các cơ hội đầu tư khác hấp dẫn hơn - Vốn đi vay trung dài hạn : NHTM có thể tìm nguồn vốn TDH bằng cách vay NHNN hoặc vay nợ nước ngoài. Tuy nhiên việc vay NHNN thường phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của NHNN trong từng thời kì. Vay nợ nước ngoài thường chỉ áp dụng cho các dự án lớn , hiểu quả kinh tế cao bởi nguồn vay nợ nước ngoài thường lớn, lãi suất chấp nhận được nhưng các NHTM cần phải tính đến yếu tố rủi do không thanh toán được nợ hoặc rủi do tỷ giá - NHTM cũng có thể sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay TDH nhưng chỉ theo một tỷ lệ nhất định vì việc làm này có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM. Do đó , NHNN đã ban hành quyết định 457/2005/QĐ – NHNN,theo đó NHTM chỉ được phép sử dụng 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay TDH ( đối với các TCTD thì tỷ lệ này là 30%) - Vốn nhận ủy thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư của nhà nước , tổ chức kinh tê tài chính tín dụng, xã hội trong và ngoài nước. Nguồn vốn này có đặc điểm và tình ổn định không cao, các dự án đầu tư thường chỉ định trước các NHTM chỉ là trung gian đóng vai trò quản lý, giải ngân và thu hồi vốn đầu tư, họ không có quyền lựa chọn dự án đầu tư. d. Lãi suất cho vay Lãi suất phụ thuộc vào 4 yếu tố sau: - Mức lãi suất chung trên thị trường : Các NHTM luôn phải căn cứ vào mức lái suất chung để quyết định lãi suất cho vay. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 12
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Số tiền vay : Số tiền khách hàng vay càng lớn thì lãi suất lại thường thấp hơn do các chi phí dàn xếp thẩm định và quản lý các khoản vay có quy mô lớn, rẻ hơn các khoản vay có quy mô nhỏ tính trên giá trị khoản vay. Thêm vào đó, các khoản vay có quy mô lớn thường dành cho các khách hàng lớn, có tình hình kinh doanh tốt, mức độ rủi ro tín dụng thấp. - Thời hạn vay : Nếu thời hạn vay kéo dài sẽ làm nảy sinh nhiều rủi ro và phát sinh nhiều chi phí nên các khoản vay có thời gian càng dài thì lái suất cho vay sẽ cao hơn. - Mức độ rủi ro của khách hàng : Theo đánh giá của NHTM, các khách hàng nào có mức độ rủi ro cao sẽ phải chịu mức lãi suất cao hơn các khách hàng có mức độ rủi ro thấp. - Lãi suất cho vay TDH có thể là lãi suất cố định, áp dụng luôn cho cả thời hạn vay, cũng có thể là lãi suất thả nổi, được điều chỉnh theo từng kỳ hạn nhất định trong suốt thời hạn vay.Khi áp dụng cho vay theo lãi suất thả nổi, NHTM sẽ kèm theo các điều khoản về lãi suất sàn và lãi suất trần để hạn chế tính biến động, giảm bớt rủi ro cho cả người đi vay và người cho vay. e. Rủi ro và tài sản đảm bảo Hoạt động cho vay của NHTM luôn chịu tác động của nhiều yếu tố. Do thời hạn dài nên NHTM không thể dự đoán chính xác tác động của các nhân tố đến hoạt động tín dụng trung – dài hạn. Vì vậy rủi ro trong hoạt động này cũng cao hơn so với cho vay ngắn hạn , thời hạn cho vay càng dài thì mức độ rủi ro càng lớn. Để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của mình , NHTM thường đòi hỏi khách hàng phải có hình thức bảo đảm, có thể là tài sản hoặc là sự bảo lãnh của bên thứ ba. Tài sản bảo đảm sẽ giúp trong quá trình sử dụng vốn , đối với hầu hết các khoản vay trung – dài hạn thì đây là một điều kiện rất quan trọng để khách hàng có thể vay được vốn . Tuy nhiên, hình thưc đảm bảo không phải là Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 13
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng yếu tố quyết định để NHTM ra quyết định cho vay, nó chỉ là cứu cánh cho NHTM không nên quá chú trọng vào vấn đề này mà cần xem xét hiệu quả kinh tế mà khoản vay có thể đem lại cho khách hàng. 1.2.3. Vai trò của tín dụng trung – dài hạn a. Vai trò của tín dụng trung – dài hạn đối với các doanh nghiệp Các khách hàng có nhu cầu vay trung – dài hạn thường là các doanh nghiệp, mà đối với các doanh nghiệp thì vốn bao giờ cũng là 1 nhu cầu cần thiết. Trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện để nâng cao năng suất lao động, giảm thiểu chi phí, giảm giá thành để đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, với mục tiêu là thắng trong cạnh tranh thu được lợi nhuận cao. Về dài hạn, các doanh nghiệp luôn cần 1 lượng vốn lớn để mở rộng sản xuất, xây dựng nhà xưởng, đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị, đổi mới công nghê… Các doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động đó bằng nhiều hình thức như : - Dùng nguồn vốn tự có - Phát hành cổ phiếu, trái phiếu - Đi vay các NHTM Đối với biện pháp tài trợ bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp : Biện pháp này rất hạn chế, vì không phải tất cả các doanh nghiệp đều có đủ vốn để thực hiện các hoạt động này. Đối với biện pháp phát hành cổ phiếu trái phiếu : Đây là biện pháp được sử dụng ở các nước có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên sử dụng biện pháp này các doanh nghiệp phải cân nhắc liệu các cổ phiếu, trái phiếu này có được nhà đầu tư chấp nhận hay không, nó còn phụ thuộc vào những yếu tố như : uy tín của doanh nghiệp, sự phát triển của thị trường chứng khoán, tâm lý của nhà đầu tư… Mặt Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 14
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng khác, cũng có các doanh nghiệp không muốn phát hành cổ phiếu để tránh trường hợp phải phân chia quyền kiểm soát cho các cổ đông mới. Trong điều kiện nước ta hiện nay, nhu cầu vốn đầu tư thì lớn trong khi đó vốn tích lũy của các doanh nghiệp còn quá ít, tâm lý đầu tư trực tiếp của công chúng vào các doanh nghiệp còn hạn chế, thị trường chứng khoán chưa phát triển, cho nên các doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn vốn tự có của mình và phần còn lại phải dựa vào sự tài trợ của hệ thống NHTM. Có thể nói tín dụng TDH thực sự trở thành một công cụ tài trợ hữu hiệu đáp ứng các nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp. b. Vai trò của tín dụng trung – dài hạn đối với các NHTM Hiện nay, các NHTM đã phát triển rất nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ nhưng cho vay luôn là hoạt động chủ yếu của các NHTM, chiếm tỷ trọng cao nhất trong thu nhập của ngân hàng. Trong đó hoạt động tín dụng TDH luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh số cho vay của NHTM. Có thể nói, tín dụng TDH có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Điều này được thể hiện ở chỗ : - Khi cho vay, quy mô khoản vay càng lớn thời hạn cho vay càng dài thì tiền lãi vay càng lớn. Do đó các khoản vay TDH luôn mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo ra nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng. Tuy nhiên, NHTM phải luôn chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng TDH vì đây là một hoạt động mang lại thu nhập lớn đồng thời rủi ro cũng rất cao. -Việc mở rộng tín dụng TDH tạo điều kiện phát triển uy tín cho ngân hàng khẳng định khả năng tài chính, tiềm lực về vốn của NHTM, củng cố thương hiệu và nâng cao tính cạnh tranh của NHTM. - Thông qua hoạt động tín dụng TDH, ngân hàng có thể mở rộng đối tượng khách hàng, khai thác được các khách hàng tiềm năng, mở rộng phát triển các dịch vụ khác cho doanh nghiệp. Từ đó, ngân hàng có thể tạo dựng được quan hệ Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 15
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng làm ăn lâu dài với các doanh nghiệp đã vay vốn và điều này sẽ thúc đẩy tín dụng ngắn hạn phát triển. Vì những lý do kể trên có thể thấy tín dụng TDH luôn đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với hoạt động của ngân hàng. Do vậy,tín dụng TDH cần phải được NHTM quan tâm, chú trọng phát triển, việc mở rộng và nâng cao chất lượng của hoạt động này. c. Đối với nền kinh tế Nền kinh tế nào cũng cần có những khoản vốn TDH dù là nền kinh tế của các nước đang phát triển hay là nền kinh tế của các nước phát triển. Các nước có nền kinh tế phát triển thì cần đầu tư TDH để nâng cao, phát triển kinh tế theo chiều sâu. Các nước có nền kinh tế đang phát triển thì cần phải đầu tư phát triển kinh tế theo chiều rộng. Do đó, có thể thấy rõ đối với nền kinh tế của 1 nước đang phát triển như Việt Nam thì hoạt động tín dụng TDH có những đóng góp to lớn đối với nền kinh tế. - Tín dụng TDH góp phần quan trọng vào sự mở rộng và phát triển của các doanh nghiệp mà sự phát triển của các doanh nghiệp góp phần tạo nên sú phát triển của cả nền kinh tế. Khi các doanh nghiệp mới được thành lập hoặc mở rộng quy mô thì nền kinh tế sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm, đời sống người lao động sẽ từng bước được cải thiện. Thêm vào đó sự phát triển sản xuất sẽ nâng cao chất lượng mẫu mã sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh và thúc đẩy thương mại trong nước cũng như thương mại quốc tế phát triển. Điều này sẽ tạo điều kiện nâng cao nguồn thu cho ngân sách và nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, góp phần cải thiện cán cân thương mại và thanh toán quốc tế. - Thông qua huy động và cho vay có định hướng, hoạt động tín dụng TDH góp phần to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bởi vì tín dụng TDH là 1 công cụ quan trọng mà thông qua nó các NHTM sẽ tiến hành tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và giúp phát triển các nền kinh tế mũi nhọn, trọng Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 16
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng điểm. Các khoản tín dụng này sẽ tạo điều kiện xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, khai thác triệt để các nguồn lực để tập trung phát triển nền kinh tế theo hướng có lợi. Thông qua đó, cơ cấu kinh tế sẽ được chuyển dịch theo hướng hợp lý, đẩy mạnh tốc đọ phát triển của nền kinh tế góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH đất nước mà Đảng và Chính phủ đã đề ra. Như vậy, có thể thấy hoạt động tín dụng TDH có vai trò quan trọng đối với không chỉ hai bên ngân hàng và doanh nghiệp mà còn với cả nền kinh tế. Với những đóng góp to lớn cho nền kinh tế, tín dụng TDH cần phải được quan tâm và phát triển một cách hợp lý. d. Đối với quan hệ kinh tế đối ngoại Trong điều kiện hiện nay, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn liền với thị trường thế giới. Các hoạt động tín dụng tín dụng trung – dài hạn đã trở thành nhịp cầu nối liền quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau bằng các hình thức kinh doanh cho vay quốc tế như : Các hình thức giữa các chính phủ, giữa các cá nhân với chính phủ, giữa cá nhân với cá nhân, các hình thức tài trợ, cho vay không hoàn lại của chính phủ cấc nước. 1.2.4. Các loại tín dụng trung – dài hạn - Cho vay theo dự án đầu tư Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi đã xem xét khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của dự án đó. Do vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn khẳng định lại các vấn đề : Chi phí sản xuất, giá thành thị trường tiêu thụ, quy trình công nghệ. Bởi vì việc quyết định cấp một khoản tín dụng sẽ ràng buộc ngân hàng với người vay một khoảng thời gian dài tùy theo từng dự án cho nên cần phải nghiên cứu một cách nghiên cứu và xem xét kĩ các rủi ro xảy ra. Hình thức cho vay theo dự án gồm : + Tín dụng hợp vốn ( cho vay đồng tài trợ ) Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 17
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Cho vay đồng tài trợ là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng cho một dự án do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên tài trợ để thực hiện nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng. Quan hệ tín dụng dưới hình thức đồng tài trợ gồm hai bên tham gia : Bên đồng tài trợ và bên nhận tài trợ. Bên đồng tài trợ : Tối thiểu phải có từ hai ngân hàng thành viên trở lên, mỗi ngân hàng thành viên là một tổ chức tín dụng hoặc nhiều khi cũng có thể là một chi nhánh của một tổ chưc tín dụng được ủy quyền. Các ngân hàng thành viên sẽ bàn bạc cùng nhau chọn ra một tổ chức tín dụng làm đầu mối. Nhìn chung mọi quan hệ về tín dụng giữa bên đồng tài trợ và bên nhận tài trợ đều được thông qua tổ chức tín dụng làm đầu mối. Bên nhận tài trợ : thường là một pháp nhân hoặc cá nhân có nhu cầu vay vốn đàu tư cho dự án. + Tín dụng trực tiếp Đây là hình thức tín dụng trung – dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm đối với từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ. Thực tế cho thấy việc lựa chọn dự án tốt là yếu tố quyết định nhất của hình thức tín dụng này. + Tín dụng tuần hoàn Tín dụng tuần hoàn được coi là tín dụng trung – dài hạn khi thời hạn của hợp đồng kéo dài từ một đến vài năm và người vay rút tiền ra kh cần và được trả nợ khi có nguồn, trong thời gian hợp đồng có hiệu lực. Trong các doanh nghiệp cổ phần khi có nhu cầu về vốn trung – dài hạn, doanh nghiệp có thể gia tăng việc phát hành cổ phiếu nhưng cũng có thể vay ngân hàng dưới hình thức tín dụng tuần hoàn, sau đó sử dụng phần lợi nhuận tính trả cho cổ đông đẻ trả nợ, đồng thời tăng vốn góp của cổ đông lên. Thực chất đây là một Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 18
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng hình thức cải biến cơ cấu tàu chính của doanh nghiệp, chuyển nợ vay ngân hàng thành vốn trung – dài hạn. Doanh nghiệp vay vốn cũng có thể yêu cầu ngân hàng chuyển tín dụng tuần hoàn thành tín dụng trung – dài hạn và thậm chí có thể ra hạn kéo dài nhiều năm với điều kiện có tài khoản đảm bảo cho khoản vay một cách chắc chắn. Việc chuyển đổi này thường được diễn ra vào cuối giai đoạn của hợp đồng và điều đó còn phụ thuộc vào mức độ hợp đồng và tình hình tài chính của khách hàng vay vốn. - Tín dụng thuê mua Tín dụng thuê mua là một kiểu cho thuê tài sản để sử dụng. Tài sản cho thuê gồm động sản và bất động sản như nhà cửa, máy móc, thiết bị văn phòng. Đối với người cho thuê ( ngân hàng ) : đa dạng hóa việc sử dụng vốn, mở rộng khách hàng , tăng thêm sản phẩm ngân hàng , giảm mức độ rủi ro so với cấp tín dụng hoặc bảo lãnh. Vì trong thời gian cho thuê , ngân hàng vẫn có khả năng nhanh chóng lấy lại thiết bị nếu người đi thuê không tuân thủ theo hợp đồng thuê. Tín dụng thuê mua bảo đảm sử dụng đúng đắn số vốn tài trợ , tỷ lệ sử dụng vốn cao . Đối với người đi thuê : Người đi thuê không phải bỏ ngay một số tiền để mua sắm thiết bị nhưng vẫn có thiết bị sử dụng , có thể tiếp cận được công nghệ tiên tiến đồng thời hạn chế được sự nỗi thời nhanh chóng của thiết bị. Mô hình tín dụng thuê mua có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển đất nước, tạo điều kiện giúp đỡ những doanh nghiệp không đủ vốn nhưng vẫn có thể thuê được máy móc , thiết bị hiện đại , thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh , tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. 1.3. Nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn 1.3.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 19
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Chất lượng sản phẩm,dịch vụ là một phạm trù rất quan trọng và phức tạp,phản ánh tổng hợp các nội dung kỷ thuật ,kinh tế xă hội .Do tính phức tạp của nó nên hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm.Mổi khái niệm đều có những cơ sở khoa học và nhằm giải quyết những mục tiêu,nhiêm vụ nhất định trong thực tế. Đứng trên các góc độ khác nhau tùy theo mục tiêu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng ,xuất phát từ người sản xuất ,người tiêu dùng, từ sản phảm hay đòi hỏi của thị trường. Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của mộtt sản phảm với một tập hợp các yêu cầu và tiêu chuẩn,quy cách đã được xây dựng trước. Trong nền kinh tế thị trường,người ta đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về chât lượng sản phẩm nhưng khái niệm chất lượng này xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu cạnh tranh, giá cả…Theo hiệp hội tiêu chuẩn Pháp thì chât lượng là năng lực của sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thõa mãn nhu cầu của người sử dụng,còn theo Philip Croby- một chuyên gia hàng đầu của Mỹ về quản lý chất lượng thì: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” Theo ông, yêu cầu ở đây là yêu cầu của người tiêu dùng và người sản xuất.Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ( ISO ) trong bộ tiêu chuẩn ISO đã đưa ra định nghĩa như sau: “ Chất lượng là tổng thể các chỉ tiêu những đặc trưng của mình thể hiện được sư thõa mãn nhu cầu trong những biểu hiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phảm mà người tiêu dùng mong muốn”. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng là vấn đề vô cùng phong phú, phức tạp do tính đa dạng của hoạt động kinh doanh ngân hàng.Về cơ bản,một sản phẩm do một tổ chức cung cấp phải có khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng .Sản phẩm ngân hàng mang nhiều đặc điểm khác với các sản phẩm của các Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 20
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng ngành công nghiệp.Tính vô hình ,tính không thể tách biệt,tính không ổn định và khó xác định nên việc xác định chất lương tín dụng là rất khó.Trên cơ sở các quan niệm chất lượng trên ta có thể hiểu chất lượng TDNH như sau: “Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng,đảm bảo an toàn hay hạn chế rủi ro về vốn,tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển KT-XH. Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu,vừa mang tính định tính,vừa mang tính định lượng. Chất lượng tín dụng được hiểu là sư hiệu quả của việc sử dụng khoản vốn vay mà ngân hàng thương mại đã cấp cho khách hàng. Một khoản tín dụng được coi là có chất lượng tốt khi nó mang lại lợi ích cho cả khách hàng ,ngân hàng và nền kinh tế . Nếu chỉ đem lại lợi ích cho một bên ngân hàng thì khoản tín dụng đó không thể coi là tín dụng có chất lượng. Bởi vì khi NHTM cho vay thì ngoài việc xem xét khả năng hoàn trả của khách hàng còn cần phải tính đến xem liệu khoản vốn mình cấp cho khách hàng có mang lại hiệu quả kinh tế cho khách hàng .Như vậy,một khoản tín dụng có chất lượng phải là khoản tín dụng đem lại phải đáp ứng lợi ích cho cả 3 bên: + Đối với ngân hàng thương mại : Chất lượng tín dụng là khoản tín dụng được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp ,tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển của ngân hàng. + Đối với khách hàng : Chất lượng tín dụng là khoản tin dụng đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất về lãi suất, kỳ hạn, hình thức giải ngân va thu nợ phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng , thủ tục đơn giản thuận tiện, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng nhiệt tình, chuyên nghiệp. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 21
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng + Đối vối nền kinh tế : Khoản tín dụng có chất lượng là khoản tín dụng góp phần thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hỗ trợ cho hoạt đọng kinh doanh, tiêu dùng hợp pháp góp phần phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng của đất nước. 1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung –dài hạn Tín dụng từ xưa đến nay vẫn là hoạt đọng chủ yếu của các NHTM. Mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các ngân hàng.Trong đó hoat động tín dụng trung –dài hạn luôn đóng góp một phần không nhỏ vào lợi nhuận của các NHTM. Việc mở rộng tín dụng TDH là một việc làm cần thiết để gia tăng thu nhập và nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngân hàng và đáp ứng ngày càn tốt hơn nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, các khoản cho vay trung – dài hạn có qui mô lớn, thời hạn cho vay dài thường chứa đựng nhiều rủi ro. Do đó, việc nâng cao chất lượng các khoản tín dụng luôn là mối quan tâm của các ngân hàng thương mại. Chất lượng tín dụng trung –dài hạn được nâng cao cũng sẽ giúp cho ngân hàng thực hiện tốt hoạt động kinh doanh của mình. Khi đó, NHTM sẽ có thể giảm được các chi phí nghiệp vụ, chi phí quản lý và các thiệt hại do không thu hồi được vốn cho vay. Từ đó đảm bảo được khả năng thanh toán và lợi nhuận của ngân hàng. Ngoài ra ,khả nă cấp tín dụng sẽ gia tăng và thu hút được nhiều khách hàng, NHTM có thể cung cấp nhiều loại hình sản phẩm dịch vụ khác cho khách hàng. Ngân hàng sẽ ngay càng nâng cao được hình ảnh và uy tín của mình,tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh. Đảm bảo chất lượng tín dụng TDH sẽ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế đất nước. Khi chất lượng tín dụng được đảm bảo thì nguồn vốn cho vay sẽ tăng, sẽ Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 22
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng có ngay càng nhiều khách hàng tiếp cận được với nguồn vốn tham gia đầu tư phát triển sản xuất, từ đó đem lại lợi ích cho nền kinh tế. Với những ưu điểm trên, việc cũng cố và nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn là cần thiết cho sự phát triển lâu dài của ngân hàng, đem lại thu nhâp về nhiều lợi ích cho nền kinh tế. Vì thế, chất lượng tín dụng cần phải được chú ý nâng cao. 1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung-dài hạn. Chất lượng tín dụng ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụng trung dài hạn nói riêng của mõi ngân hàng được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh nhất định . a. Đánh giá chất lượng tín dụng trung- dài hạn cua ngân hàng từ phía người đi vay (khách hàng ). * Chi phí vốn vay (lãi suất tiền vay). Chi phí hay giá của sản phẩm, dịch vụ là tiêu chí dược khách hàng quan tâm hàng đầu khi tiếp cân với bất kỳ một sản phẩm, dịch vụ nào .Đối với dịch vụ ngân hàng ,giá cả ở đây chính là lãi suất cho vay và các loại chi phí (nếu có ) của khoản vay. Xét trên một ngân hàng cụ thể thi giá (lãi suất) của các khoản vay khác nhau, nó phụ thuộc vào mức độ rủi ro tiềm ẩn (theo cách đánh giá của ngân hàng) của mõi khoản vay. Đối với cho vay trung dài hạn ,do thời gian dài giá trị khoản vay thường lớn nên ngan hàng luôn thẩm định, đánh giá mức độ rủi ro rất kỹ lưỡng,thông thường lãi suất cho vay sẽ tương ứng với mức độ rủi ro của khoản vay trên nguyên tắc : rủi ro cao thì lãi suất cao và ngược lại ,rủi ro thấp thì lãi suất thấp (tất nhiên chỉ cho vay khi khoản vay không nằm trong giới hạn chấp nhận được ). Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 23
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Còn xét trong tổng thể ngành ngân hàng trên cơ sở cạnh tranh giữa các NHTM thì lãi suất dịch vụ tín dụng nói chung và tín dụng trung dài hạn nói riêng của các ngân hàng này thường không khác nhau nó phụ thuộc vào hai yếu tố: + Lãi suất huy động tiền gửi đầu vào : NH nào có chi phí đầu vào thấp ( lãi suất huy động thấp) thì lãi suất cho vay thường sẽ thấp hơn. + Đối tượng khách hàng chính của ngân hàng Do vậy, để giảm lãi suất cho vay , thu hút được nhiều khách hàng , nhiều phương án ,dự án khả thi giảm thiểu rủi ro trong ngân hàng thì các ngân hàng cần phải giảm thiểu chi phí đầu vào ( lãi suất huy động ). Để làm được điều đó các ngân hàng không ngừng xây dựng hình ảnh, uy tín của mình trong mắt khách hàng. * Thời gian bình quân để xét duyệt một khoản vay trung – dài hạn. Ngoài yếu tố chi phí ( lãi vay ) thì thời gian được đáp ứng nhu cầu cũng là một tiêu chí mà khách hàng rất quan tâm bởi trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, tiêu chí này đôi khi quyết định sự thành bại của một phương án kinh doanh. Vì vậy tiêu chí này ảnh hưởng rất lớn tới việc lựa chọn ngân hàng để vay vốn của khách hàng. Do vậy, để trách việc mất đi những khách hàng tốt, nâng cao chất lượng tín dụng nói chung, các ngân hàng cần phải rất chú ý đến chỉ tiêu này, cần nỗ lực tìm mọi giải pháp để đơn giản vẫn đảm bảo sự an toàn tín dụng cho ngân hàng. * Sự đa dạng của loại hình tín dụng trung – dài hạn của ngân hàng. Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng. Điều này đồng nghĩa với việc để nâng cao chất lượng tín dụng, ngoài những yếu tố khác ngân hàng cần đặc biệt chú trọng tới sự đa dạng trong chủng loại sản phẩm tín dụng. Do vậy, các ngân hàng cần liên tục nghiên cứu để tìm ra các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng. b. Đánh giá chất lượng tín dụng rung – dài hạn từ phía người cho vay ( ngân hàng ) Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 24
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Chỉ tiêu doanh số cho vay trung – dài hạn. Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền mà ngân hàng đã sử dụng để cho vay trung – dài hạn. Chỉ tiêu này mang tính chất thời kỳ, thường được tính cho một năm. Doanh số cho vay lớn và tốc độ tăng nhanh cho thấy hoạt động tín dụng trung – dài hạn của ngân hàng đang rất tốt và ngày càng được mở rộng. - Chỉ tiêu dư nợ trung – dài hạn. Chỉ tiêu này là chỉ tiêu tuyệt đối mang tính thời điểm, phản ánh số tiền trung – dài hạn mà ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng nhưng chưa thu hồi do khoản vay chưa đến hạn thanh toán hoặc khoản vay đang bị nợ quá hạn. Mặc dù bao gồm cả những khoản vay quá hạn nhưng chỉ tiêu dư nợ nói chung và dư nợ tín dụng trung – dài hạn nói riêng được các ngân hàng rất quan tâm. Chỉ tiêu này cho biết quy mô tín dụng trung – dài hạn của một ngân hàng và thông qua việc so sánh giữa các thời kỳ khác nhau ngân hàng sẽ đánh giá được tốc độ phát triển tín dụng trung- dài hạn của ngân hàng mình. Từ chỉ tiêu dư nợ tín dụng trung – dài hạn ta cũng có thể tính toán và đánh giá chất lượng tín dụng trung – dài hạn của ngân hàng qua một chỉ tiêu khác là : Dư nợ cho vay T& DH Tỷ lệ dư nợ cho vay T&DH = Tổng dư nợ cho vay Chỉ tiêu tuyệt đối cho biết quy mô tín dụng trung dài hạn của ngân hàng tại một thời điểm nhất định.Qua việc so sánh các thơi điểm,ngân hàng sẽ biết được tốc độ phát triển TDH ra sao, đồng thời cũng một phần phản ánh được chất lượng tín dụng đang tăng lên hay giảm xuống. Nếu dư nợ tăng nhiều và ổn định thì chứng tỏ hoạt động tín dụng TDH của ngân hàng đang phát triển theo chiều hướng tốt. Chỉ tiêu tương đối cho biết tỷ trọng của dư nợ cho vay TDH với tổng dư nợ, đồng thời cũng phản ánh tương quan với dư nợ ngắn hạn. Hoạt động tín dụng Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 25
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng TDH thường mang lại lợi nhuận lớn hơn cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ cho vay thi chứng tỏ ngân hàng đang chú trọng vào phát triển cho vay TDH, điều này sẽ mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Dư nợ tín dụng TDH Tỷ lệ dư nợ tín dụng TDH = Trên tổng tài sản Tổng tài sản Chỉ tiêu này phản ánh tương quan so sánh về quy mô cho vay TDH so với tổng tài sản, để đánh giá tính hợp lý trong cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng. - Chỉ tiêu doanh số thu nợ TDH Đây là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền mà ngân hàng đã thu hồi được sau khi đã giải ngân. Chỉ tiêu này tăng chứng tỏ công tác thu nợ được tiến hành tốt. Khoản tín dụng có chất lượng mang lại hiệu quả cho khách hàng, giúp cho khách hàng trả được nợ. Điều này có nghĩa là khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng là tốt. Để đánh giá chính xác hơn, ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đối đó là Doanh số thu nợ TD TDH Chỉ tiêu vòng quay vốn TD = Dư nợ TDH bình quân Chỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng trong vòng một năm. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ số vòng chu chuyển vốn tín dụng càng lớn hiệu quả của hoạt động tín dụng càng cao, thu được nhiều nợ và nhanh chóng đưa vốn vào vòng quay. - Chỉ tiêu đánh giá lại lợi nhuận do tín dụng trung – dài hạn mang lại. Chỉ tiêu này là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh hiệu quả kinh tế do hoạt động cho vay TDH mang lại, đây luôn là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng tín dụng TDH, vì có những khoản vay TDH có chất lượng tốt mới có thể đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Khách hàng sử dụng vốn hiệu quả trả nợ gốc và lãi đúng Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 26
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng thời hạn, ngân hàng quản lý chi phí huy động và cho vay tốt nên có lợ nhuận cao. Để đánh giá đóng góp của hoạt động tín dụng TDH cho NHTM, ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đối : Lợi nhuận từ hoạt động TD TDH Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động= Tín dụng TDH Tổng lợi nhuận Chỉ tiêu này cho thấy hoạt động tín dụng TDH mang lại bao nhiêu phần trăm lợi nhuận cho ngân hàng, đồng thời cũng cho thấy tầm quan trọng của tín dụng TDH đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này lớn thì có nghĩa là lợi nhuận do cho vay TDH đang tạo nên lợi nhuận chủ yếu, có đóng góp lớn vào kết quả kinh doanh của ngân hàng. Ngoài ra để đánh giá khả năng sinh thời và hiệu quả của các khoản cho vay TDH ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu : Lợi nhuận từ TD TDH Tỷ lệ lợi nhuận từ TD TDH = Trên dư nợ TD TDH Dư nợ TD TDH - Chỉ tiêu đánh giá về nợ quá hạn Nợ quá hạn tín dụng TDH là một yếu tố không thể tránh khỏi khi hoạt động tín dụng, nhất là đối với tín dụng TDH. Khi một khoản vay đến hạn cần phải thanh toán mà khách hàng không thể hoàn trả như cam kết ( không trả nợ gốc và lãi hoặc không trả nợ gốc, hoặc không trả nợ lãi ) thì khoản vay đó sẽ được chuyển sang làm nợ quá hạn. Tuy là yếu tố không thể tránh nhưng nợ quá hạn vẫn là một chỉ tiêu qun trọng khi đánh giá chất lượng tín dụng TDH. Chất lượng tín dụng TDH không thể coi là cao nếu như tỷ lệ nợ quá hạn lớn, như vậy có Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 27
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng nghĩa là hoạt động này của ngân hàng kém hiệu quả, ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro lớn. Thông thường, NHTM dùng những chỉ tiêu sau để đánh giá nợ quá hạn : Nợ quá hạn của TD TDH Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng = Dư nợ TDH Tổng dư nợ TD TDH Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng TDH càng kém hiệu quả, các khoản cho vay không đem lại hiệu quả kinh tế cho khách hàng khiến khách hàng không trả được nợ, ngân hàng sẽ phải chịu rất nhiều rủi ro. Ngâ hàng sẽ phải xem xét đến khả năng thu hồi lại những khoản nợ quá hạn này. Ngoài ra ngân hàng còn sử dụng tỷ lệ sau để xem xét hiệu quả hoạt động tín dụng TDH trong hoạt động tín dụng chung của ngân hàng : Nợ quá hạn của TD TDH Tỷ lệ nợ quá hạn từ tín dụng = TDH trên tổng nợ quá hạn Tổng nợ quá hạn Tỷ lệ này cho biết trong tổng nợ quá hạn của ngân hàng thì nợ quá hạn từ hoạt động tín dụng TDH chiếm tỷ lệ bao nhiêu. Nợ quá hạn luôn tồn tại trong hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng TDH nói riêng. Vì thế ngân hàng không thể xóa bỏ nó mà cần phải tìm cách hạ thấp các chỉ tiêu trên để nâng cao hơn nữa hoạt động tín dụng của mình. - Nợ xấu trung – dài hạn Theo quyết định số 18/2007/QĐ – NHNN sửa đổi bổ sung quyết định 493/2005/QĐ – NHNN thì nợ ngân hàng được chia thành năm nhóm từ nhóm 1 đến nhóm 5, trong đó nợ xấu là các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, tức là các khoản nợ thuộc nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 28
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng vốn. Nợ xấu TDH càng nhiều cho thấy rủi ro từ hoạt động này càng lớn, hiệu quả của hoạt động này là không cao, ngân hàng cần có các biện pháp để trích lập dự phòng, hạn chế các rủi ro có thể xảy ra. Ngoài ra tương tự như chỉ tiêu nợ quá hạn, ngân hàng còn có thể sử dụng chỉ tiêu tương đối về nợ xấu : Nợ xấu TDH Tỷ lệ nợ xấu TDH trên tổng = Dư nợ TDH Tổng dư nợ TDH Chỉ tiêu này càng cao cho thấy hiệu quả hoạt động tín dụng TDH càng thấp, chứa đựng càng nhiều rủi ro. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng TDH, ngân hàng cần đưa ra các biện pháp cụ thể để giảm bớt tỷ lệ này. - Số lượng khách hàng vay TDH : Ngoài các chỉ tiêu trên một chỉ tiêu khác mà hiện nay các NHTM cũng rất quan tâm đó là số lượng khách hàng vay TDH. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng TDH của ngân hàng đang đi đúng hướng, chất lượng dịch vụ của ngân hàng tốt, uy tín tăng lên và quan trọng hơn đó là ngân hàng đã phân tán rủi ro cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. c. Đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn trên phương diện xã hội - Dư nợ xếp theo cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành nghề. Chỉ tiêu này giúp người đánh giá được tỷ lệ dư nợ tín dụng của ngân hàng đang tập trung hỗ trợ vốn cho loại thành phần kinh tế nào ,ngành nghề nào. Trên cơ sở đó tính toán chỉ tiêu này phần nào có thể biết được ngành nghề nào đang được đánh giá cao ngành nào đang phát triển mạnh …Chỉ tiêu này cho biết đồng vốn mà ngân hàng đưa ra thị trường có hiệu quả mang tính vĩ mô hay không,ngân hàng đóng góp ở mức độ nào vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước . - Số lượng các doanh nghiệp mới thành lập được tài trợ tín dụng TDH. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 29
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Các doanh ngiệp khi mới thành lập thường có quy mô nhỏ bé thiếu kinh nghiệm quản lý khó khăn trong việc thâm nhập và mở rộng thị trường ,thiếu công nghệ …Và tất cả đều bắt nguồn từ việc thiếu vốn ,đăc biệt là vốn trung dài hạn trong khi đó hầu hết các ngân hàng đều rất do dự trong việc tài trợ vốn trung dài hạn cho đối tượng khách hàng mới thành lập vì cho rằng mức độ rủi ro rất cao.Chính vì vậy,chỉ tiêu trên phần nào cho thấy mưc độ đóng góp của ngân hàng đối với sự phát triển các doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. 1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn . a. Các nhân tố từ phía khách hàng. Cho vay là nhịp cầu nối giữ hoạt động kinh doanh của ngân hàng vớ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Do đó, mỗi biểu hiện tốt xấu trong hoạt động của khách hàng sẽ có những ảnh hưởng tương ứng với hoạt động sản xuất kinh doanh cho vay thông qua cơ chế tác động của mối quan hệ cho vay. Với những khách hàng sản xuất kinh doanh có lãi, có khả năng chiếm lĩnh thị trường và quan hệ cho vay tốt, nhịp cầu nối giữa vay và cho vay thông suốt tạo điều kiện tăng vòng quay vốn cho vay, mở rộng quy mô vốn đầu tư mang lại thu nhập cho ngân hàng cũng như đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Mức độ phù hợp giưa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của DN sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng đến chất lượng cho vay. Do đó lợi nhuận của ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay cũng bị giới hạn bởi mức lợi nhuân mà doanh ngiệp thu được từ .Nếu như lãi suất tiền vay lớn hơn lợi nhuận thu được từ sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp không có khả năng trả nợ ngân hàng, ảnh hưởng quá trình sản xuất của doanh nghiệp nói riêng và của nèn kinh tế nói chung thì lúc này hoạt động cho vay Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 30
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng không còn là đòn bẩy thúc đẩy cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển theo đó chất lương cho vay bị ảnh hưởng . b. Các nhân tố từ phía ngân hàng. - Khả năng nguồn vốn cho vay. Để tiến hành hoạt động tín dụng ngân hàng cần phải có nguồn vốn. Nếu thực hiện theo nguyên tác chỉ dùng vốn huy động trung dài hạn để cho vay trung dài hạn thì các ngân hàng không đủ vốn để đáp ứng được các khoản cho vay trung dài hạn. Trong thực tế ngân hàng có thể sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung- dài hạn nhưng phải tính toán để không ảnh hưởng đến tình hình tài chính của ngân hàng. Hiện nay NHNN cho phép các NHTM được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung- dài hạn, với tổ chức tín dụng khác là 30%. Nguồn vốn để cho vay trung – dài hạn của ngân hàng được tạo từ các nguồn sau: + Nguồn vốn huy động trung – dài hạn: Đây là nguồn vốn mà ngân hàng huy động từ các tổ chức kinh tế vầ cá nhân trên cơ sở có sự thỏa thuận thời gian rút tiền từ một năm trở lên. Khách hàng cá nhân thường gửi các khoản tiết kiệm với mục đích sinh lời và an toàn. Họ ít có nhu cầu rút tiền khi đến hạn mà chỉ rút lãi hoặc nhập lãi vào gốc để gửi tiếp nên đây là nguồn vốn khá ổn định. Tuy nhiên các khoản gửi tiết kiệm thời gian dài thường chiếm tỷ lệ ít do đó khi cần vốn với số lượng lớn ngân hàng thường phát hành trái phiếu, kỳ phiếu để huy động vốn. + Vốn tự có: Nguồn vốn này thuộc sở hữu của ngân hàng, thường được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất, phần còn lại cungf với vốn bổ sung và lợi nhuận hàng năm của ngân hàng để cho vay TDH. + Nguồn vốn ngắn hạn: Các ngân hàng hiện nay đều sử dụng một tỷ lệ vốn ngắn hạn để cho vay TDH bởi lẽ tại một thời điểm không thể có sự trùng hợp hoàn toàn nguồn vốn và sử dụng vốn ở cả ba yếu tố: số lượng, thời hạn và lãi suất. Sử dụng hợp lý nguồn vốn ngắn hạn để cho vay TDH cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 31
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Chính sách tín dụng của ngân hàng Trong mỗi thời kỳ khác nhau các ngân hàng có chính sách tín dụng khác nhau. Chính sách tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, số lượng khoản vay, đến các khoản bảo đảm và nhiều yếu tố khác. Chính sách cho vay được xây dựng, thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ kết hợp hài hòa lợi ích ngân hàng, khách hàng và xã hội thì hứa hẹn sẽ một chất lượng cho vay TDH tốt và ngược lại. - Trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng Trong bất kỳ lĩnh vực nào con người luôn là yếu tố quan trọng. Tín dụng TDH là một trong nhựng nghiệp vụ phức tạp, đòi hỏi cán bộ tín dụng phải nắm được đặc thù của mỗi ngành sản xuất kinh doanh, am hiểu về pháp luật, nắm bắt được thông tin thị trường, có khả năng thẩm định tốt để có thể giảm thiểu rủi ro thấp nhất cho ngân hàng. - Chất lượng thẩm định dự án Khi quyết định cung cấp một khoản vay đặc biệt là cho vay TDH các ngân hàng bắt buộc phải thẩm định thông qua đó có thể đánh giá được hiệu quả của dự án đầu tư và đó cũng chính là biện pháp nhằm nâng cao chất lượng các khoản vay. Do các khoản cho vay TDH thường đem lại nhiều rủi ro, khả năng linh hoạt kém nên thông qua công tác thẩm định có thể đưa ra những quyết định đúng đắn cho vay khối lượng bao nhiêu, thời gian bao lâu, từ đó đảm bảo tính ổn định củ khoản vay. Nếu việc thẩm định không được tiến hành chặt chẽ thì khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn và khoản vay sẽ không có hiệu quả cao. Do đó các ngân hàng phải có đầy đủ thông tin về dự án và các lĩnh vực có liên quan. Khi cho vay ngân hàng phải có đầy đủ thông tin về tình hình thực hiện dự án, về thị trường và các thông tin khác để có thể phản ứng kịp thời trước những đột biến có thể xảy ra. - Giám sát các khoản tín dụng. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 32
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt thời gian dài luôn chứa đựng rủi ro tiềm ẩn không thể lường trước được. Vì vậy công tác theo dõi giám sát cho vay TDH sau khi cho vay có ý nghĩa rất quan trọng. Hoạt động giám sát chủ yếu về sự tuân thủ đúng mục đích sử dụng vốn, tiến độ trả nợ, quá trình sử dụng bảo quản và biến động tài sản của doanh nghiệp, những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án. Làm tốt công tác này giúp ngân hàng phát hiện và ngăn chặn kịp thời những rủi ro và thông qua việc luôn bám sát hoạt động của doanh nghiệp để có những biện pháp giúp đỡ doanh nghiệp khi gặp khó khăn để thực hiện dự án có hiệu quả nhất, góp phần nâng cao chất lương cho vay TDH. - Những yếu tố thuộc về đạo đức Ngoài trình độ chuyên môn thì đạo đức nghề nghiệp là một đòi hỏi rất cao đối với cán bộ ngân hàng. Nếu cán bộ ngân hàng có tư lợi riêng họ sẽ liên kết với khách hàng để lừa ngân hàng và làm trái với những quy định của Nhà nước, làm sai quy chế quy định của ngành. Vì thế có thể nói rằng yếu tố đạo đức cũng là một yếu tố tác động đến chất lượng tín dụng. Ngoài những nhân tố từ phía khách hàng và ngân hàng, chất lượng tín dụng TDH còn chịu tác động bởi các nhân tố khác như sự biến động về kinh tế - chính trị - xã hội, những thay đổi trong chính sách quản lý của nhà nước, ảnh hưởng của thiên tai, dịch họa… Kết luận chương 1 Qua những vấn đề đã trình bày ở trên, ta có thể thấy tín dụng trung dài hạn là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Nó có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của cả doanh nghiệp ngân hàng và cả nền kinh tế. Vì vậy mở rộng nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn là một việc làm cần thiết mang lại lợi ích cho cả ba bên ngân hàng , khách hàng và cả nền kinh tế. Ngân hàng thương mại phải thương xuyên kiểm tra, đánh Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 33
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng giá chất lượng tín dụng để có cái nhìn khách quan và chính xác nhất,khi phân tích chất lượng tín dụng cần phải xem xét đến tác động của các yếu tố, đánh giá chất lượng thông qua các chỉ tiêu định tính và định lượng . Ngoài ra, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung dài hạn. Do đó muốn nâng cao được chất lượng tín dụng trung dài hạn ngân hàng cần có những tác động khác nhau,đồng thời đưa ra các biện pháp đúng đắn. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 34
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG T-DH TẠI CHI NHÁNH NHNo & PTNT HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM 2.1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh NHNo & PTNT huyện Lý Nhân 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống Ngân hang Việt Nam có rất nhiều điểm quan trọng, trong đó phải kể đến nghị định 53/HĐBT của hội đồng bộ trưởng( nay là chính phủ ) ban hành ngày 26/3/1988. Theo đó hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm : Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh. Được thành lập từ sau nghị định 53/CP của chính phủ. NHNo & PTNT Việt Nam đã trở thành một trong những NHTM quốc doanh lớn nhất nước ta bên cạnh các ngân hàng lớn như Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển. Cho đến nay NHNo & PTNT Việt Nam đã thực sự phát triển với hệ thống các chi nhánh ngân hàng có mặt rộng khắp trên toàn quốc. NHNo & PTNT huyện Lý Nhân trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh Hà Nam tiền thân của NHNo & PTNT huyện Lý Nhân là một chi nhánh ngân hàng huyện trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh cũ là Hà Nam Ninh. Đầu năm 1997 tỉnh Hà Nam được thành lập. Huyện Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nam, bao gồm một thị trấn và 24 xã. NHNo & PTNT huyện Lý Nhân được thành lập năm 1988 theo nghị định 53/NĐ – HĐBT ngày 26/3/1988. Nhiệm vụ chủ yếu của NHNo & PTNT huyện Lý Nhân là hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng trong địa bàn huyện Lý Nhân đối với mọi thành phần kinh tế : Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thương mại, và chủ yếu là phục vụ chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 35
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng NHNo & PTNT huyện Lý Nhân đã tập trung vốn đầu tư trong nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng, đổi mới cơ cấu nông nghiệp hiện đại hóa nông nghiệp. Từ ngày thành lập đến nay NHNo & PTNT huyện Lý Nhân luôn luôn ổn định và phát triển vững chắc, toàn diện cả về tổ chức bộ máy, nhân sự và chuyên môn nghiệp vụ cụ thể. - Nguồn vốn kinh doanh liên tục tăng qua các năm. Trong đó chủ yếu là vốn huy động tại chỗ. Vốn huy động được để phục vụ trực tiếp cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. - Doanh số thu chi tiền mặt qua các năm đều tăng thường xuyên đáp ứng nhu cầu chi tiêu tiền mặt cho các tổ chức kinh tế và dân cư trên địa bàn. - Từ ngày được thành lập NHNo & PTNT huyện Lý Nhân liên tục kinh doanh có lãi đảm bảo hệ thống lương tháng. Năm theo quy định. Đời sống cán bộ công nhân viên trong cơ quan luôn ổn định và từng bước được cải thiện cả về mặt vật chất và tinh thần. Làm tròn nghĩa vụ đối với ngân hàng cấp trên và đối với Ngân sách nhà nước. - Lúc mới thành lập cơ sở vật chất còn nghèo nàn và chưa phù hợp với yêu cầu hoạt động của ngân hàng trong thời kỳ đổi mới. Đến nay NHNo & PTNT huyện Lý Nhân đã được xây dựng bề thế , khang trang , nâng cấp các thiết bị phương tiện đáp ứng được mọi hoạt động trực tiếp, gián tiếp liên quan tới nghiệp vụ của ngân hàng . Tùng bước hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Có thể nói quá trình xây dựng và phát triển của NHNo & PTNT huyện Lý Nhân là quá trình phát triển vững chắc, ổn định và toàn diện. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức NHNo&PTNT huyện Lý Nhân có trụ sở giao dịch chính đóng trên địa bàn thị trấn Vĩnh Trụ-huyện Lý Nhân.Mạng lưới hoạt động từ 6 đến 7 xã có một phòng giao dịch,hoạt động phục vụ cho khách hàng có nhu cầu giao dịch.NHNo&PTNT huyện Lý Nhân gồm một người là giám đốc ngân hàng cấp hai và 2 người là Phó Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 36
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng giám đốc tham mưu cho Giám đốc và trực tiếp điều hành bộ phận kế toán tiền tệ, kho quỹ, bộ phận tín dụng. Phòng hành chính nhân sự: 3 người. Phòng kế toán ngân quỹ: 10 người Phòng tín dụng : 8 người Sơ đồ 2.1.Cơ cấu tổ chức của chi nhánh NHNo&PTNT huyện Lý Nhân. Tổ chức mạng lưới: Có 2 phòng giao dịch gồm có :2 người là Trưởng phòng, 2 là Phó phòng, 2 người là Thủ quỹ, 4 người làm Kế toán, 10 người làm Tín dụng. Về trình độ chuyên môn: 45% số người có trình độ đại học, số còn lại là cao đẳng và trung cấp. 2.1.3. Hoạt động của chi nhánh giai đoạn 2007-2009 a. Công tác huy động vốn và sử dụng vốn. Tình hình huy động vốn. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 37
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Ngân hàng là một trung gian tài chính, hoạt động trên nguyên tắc đi vay để cho vay. Quy mô nguồn vốn huy động ảnh hưởng đến quy mô và phạm vi hoạt động của chính bản thân ngân hàng.Một nguồn vốn có cơ cấu hơp lý, chi phí huy động thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng và nâng cao hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bảng 2.1.Cơ cấu nguồn vốn huy động tại NHNo&PTNT huyện Lý Nhân. Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007 Năm 2009 So sánh 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % TGKBNN 73.296 85.486 12.190 16,63 102.356 16.870 16,71 TGTCTD 446 364 -82 -18,39 456 92 25,27 TGTCKT &DC 233.317 236.846 3.529 1,51 273.313 4.900 2,06 TGTT TGTK KP,TP 4.935 5.117 182 3,69 6.110 1.545 30,19 228.340 231.682 3.342 1,46 267.150 7.500 3,24 42 47 5 11,90 53 6 12,76 Tổng NVHĐ 307.059 322.696 15.637 5,09 376.125 53.429 16,55 (Nguồn : Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Lý Nhân) Với lợi thế là ngân hàng chủ lực trên địa bàn, NHNo&PTNT đã tận dụng được mọi nguồn vốn huy động. Nhìn chung, nguồn vốn huy động qua các năm đều có xu hướng tăng. Năm 2008 tổng nguồn vốn huy động là 322.696 trđ tăng 5,09% so với năm 2007. Mặc dù nguồn vốn huy động tăng nhưng tốc độ tăng có phần giảm sút. Ngân hàng đã không thực hiện được như kế hoạch đã đề ra. Tuy nhiên không thể nhìn vào con số để đánh giá tình hình huy động vốn của ngan hàng không tốt mà chúng ta phải nhìn nhận vấn đề trong tổng quan nền kinh tế. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 38
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Năm 2008 có rất nhiều khó khăn đối với hoạt động của ngành ngân hàng. Đặc biệt là những tháng đầu năm, tỷ giá giá vàng diễn biến phức tạp, lãi suất giao dịch trên thị trường thời điểm đầu năm giữa năm và cuối năm chênh lệch rất lớn. Có những thời điểm thị trường khan hiếm tiền đồng và lãi suất giao dịch bị đẩy lên rất cao. Hoạt động ngân hàng bị tác động mạnh của thị trường tiền tệ, thay đổi nhiều về cơ cấu huy động vốn. Do huy động vốn khó khăn, hầu hết các ngân hàng phải sử dụng nhiều biện pháp để hút và giữ nguồn vốn. Lãi suất huy động ngắn hạn cao hơn lãi suất huy động dài hạn. Nhiều ngân hàng ở một số thời điểm đã tăng lãi suất quá cao sát trần lãi suất cho vay làm thị trường tiền tệ bất ổn, khách hàng chuyển dịch lòng vòng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và “làm giá” với ngân hàng. Mặt khác, tỷ lệ lạm phát cao (giá tiêu dùng bình quân 2008 so với 2007 tăng 22,97%) đã ảnh hưởng đến lãi suất huy động vốn của ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn huy động thì tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân cư luôn chiếm tỷ lệ cao nhất.Năm 2007, tỷ lệ này là 75,98%, năm 2008 là 73,4% và năm 2009 tỷ lệ này là 72,67%. Nguồn vốn này nhìn chung tăng và tốc độ cũng tăng. Năm 2008 chỉ tăng 1,51% so với 2007 nhưng năm 2009 tỷ lệ này tăng lên 2,06%. Khủng hoảng kinh tế và lạm phát gia tăng trong năm 2008 vì vậy các tổ chức kinh tế cũng như người dân ngần ngại khi gửi tiền vào ngân hàng. Bên cạnh đó, giá vàng liên tục tăng nên người dân sẵn sàng rút tiền từ ngân hàng để đầu tư vào vàng. Đây chính là nguyên nhân làm giảm lượng tiền huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư. Nhưng đến 2009 chính phủ và ngân hàng nhà nước thực hiện chuyển từ chính sách tiền tệ thắt chặt sang dần nới lỏng cùng với chủ trương kích cầu, hạn chế suy giảm kinh tế đã làm cho tiền gửi các tổ chức kinh tế và dân cư tăng lên 2,06%. Có được điều này cũng là do chi nhánh luôn chú trọng nâng cao Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 39
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng dịch vụ khách hàng. Bên cạnh đó, năm 2009 cũng đẩy mạnh chăm sóc khách hàng cũ, tiếp thị các DN mới để nâng cao số dư tại ngân hàng. Kể từ năm 2005, NHNo&PTNT Lý Nhân đã có thêm hình thức huy động vốn mới, phát hành trái phiếu kỳ phiếu. Đây là hình thức huy động thuận tiện đã đem lại một nguồn vốn ổn định vì người mua không thể rút trước hạn. Năm 2008 tỷ lệ tăng so với 2007 là 5%, năm 2009 tăng so vớ 2008 là 12,76%. Nguồn vốn từ loại hình huy động này cố tốc độ tăng lên vì có sự đảm bảo hoàn trả chắc chắn nhất. Tuy nhiên, đây là hình thức mới vì vay mà tỷ lệ nguồn vốn này vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động. Trong cơ cấu nguồn vốn huy động thì tiền gửi tổ chức tín dụng biến động mạnh nhất. Năm 2008 giảm 82 trđ với tỷ lệ giảm là 18,39%. Đây chính là ảnh hưởng của CSTT thắt chặt của NHNN và quy định tăng tỷ lệ DTBB đã làm cho các ngân hàng gặp khó khăn trong thanh khoản vì vây mà lượng tiền gửi của các TCTD tại NHNo&PTNT Lý Nhân giảm. Năm 2009 đã tăng lên 92 trđ tương ứng với tỷ lệ tăng 25,27% so với 2008. Có được điều này là do đầu năm 2009 chính phủ triển khai hỗ trợ lãi suất, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng tiếp cận với khách hàng và tăng trưởng tín dụng tăng lên một cách rất đáng kể. Tiền gửi KBNN chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng nguồn vốn huy động. Năm 2007 là 73.296 trđ chiếm 23,87%, năm 2008 là 85.486 trđ chiếm 26,49%, năm 2009 là 102.356 trđ chiếm 27,21%. Tiền gửi này đã hỗ trợ cho sự tăng trưởng nguồn vốn , góp phàn mở rộng hoạt động kinh doanh đăc biệt là hoạt động cho vay. Mặc dù năm 2009 chư khắc phục được hết những khó khăn của cuôc khủng hoảng kinh tế năm 2008 nhưng nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Lý Nhân vẫn đạt được những kết quả tương đối tốt. Sỡ dĩ , đạt được những kết quả trên là sự cố gắng phấn đấu của NHNo&PTNT Lý Nhân tích cực tìm nguồn, khơi tăng tiềm năng về vốn, vốn trong dân cư, TCKT, TCTD và các tổ chức khác đáp ứng nhu cầu về vốn mở rộng tín dụng một cách vững chắc, chủ động về nguồn vốn tại địa phương. Ngân hàng sẽ tích cực tuyên truyền Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 40
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng quảng cáo, tiếp thị nhăng tính hấp dẫn thu hút sự chú ý, tạo sự tin tưởng, bền vững lâu dài trong lòng dân bởi thương hiệu và uy tín của NHNo&PTNT trên thị trường. Tình hình sử dụng vốn. Bảng 2.2. Dư nợ tín dụng theo thời gian. Đơn vị: Triệu đồng. Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Số tiền Tỷ lệ % Năm 2009 Số tiền Tỷ lệ % Dư nợ ngắn hạn 132.769 143.899 11.130 8,38 186.499 42.600 29,60 Dư nợ trung-dài hạn 83.014 75.190 -7.824 -9,42 84.728 9.538 12,69 Tổng dư nợ 215.783 219.089 3.306 1,53 271.227 52.138 23,79 (Nguồn : Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Lý Nhân) Qua bảng số liệu ta thấy tổng dư nơ qua các năm 2007-2009 đều tăng và tăng mạnh nhất là vào năm 2009. Năm 2008 dư nợ cho vay đạt 219.089 trđ tăng so với 2007 là 1,53% ,đến năm 2009 đạt 271.227 trđ. Dư nợ ngắn hạn tăng mạnh , năm 2008 dư nợ ngắn hạn đạt 143.899 trđ (tăng 11.130 trđ với tỷ lệ tăng là 8,38%) so với 2007. Và cũng tăng mạnh nhất vào năm 2009, tăng 42.600 trđ với tỷ lệ tăng 29,60% so với 2008. Bên cạnh sự tăng trưởng của dư nợ ngắn hạn thì dư nơ trung dài hạn cũng có dấu hiệu tăng trưởng nhưng mức tăng không đáng kể qua 3 năm. Cuối năm 2008 dư nợ hoạt động cho vay trung dài hạn chỉ đạt 75.190 trđ giảm 7.824 trđ tương ứng với tỷ lệ giảm là 9,42%. Sang đến năm 2009, dư nợ hoạt đông cho vay trung dài hạn tăng lên vơi mức 9.538 trđ ứng với tỷ lệ là 12,69%. Nguyên nhân của việc tăng trưởng dư nợ ngắn hạn và sự chững lại của dư nợ trung dài hạn là do tình trạng mất ổn định của nền kinh tế năm 2008 và sự phục hồi chưa hoàn toàn trong năm 2009. Lạm phát tăng cao đầu năm và có dấu hiệu của sự suy thoái vao cuối năm. Những bất ổn này khiến cho việc vay Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 41
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng trung dài hạn trở nên khó khăn hơn đồng thời rủi ro cũng cao nên ngan hàng đã hạn chế cho vay trung dài hạn. Sự thay đổi này lam cho cơ cấu cho vay của chi nhánh thay đổi theo. Cho vay ngắn hạn đang ngày càng có xu hướng chiếm tỷ trọng cao hơn so với hoạt động cho vay trung dài hạn. Biểu 2.1. Tỷ lệ dư nợ tín dụng theo thời gian. Năm 2007 61% 39% Năm 2008 35% 65% Dư nợ ngắn hạn Dư nợ trung dài hạn Năm 2009 68% 32% Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 42
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Dư nợ ngắn hạn luôn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dư nợ. Năm 2007 là 61% , năm 2008 là 65%, năm 2009 là 68%.Tỷ lệ dư nợ ngắn hạn tăng qua các năm và chiếm tỷ lệ lớn mang lại những ưu điểm là : Các khoản cho vay ngắn hạn tiềm ẩn rủi ro ít hơn khoản cho vay trung dài hạn do đó sẽ ít ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. b. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn và các hoạt động dịch vụ của ngân hàng đã đem lại cho ngân hàng nguồn lợi nhuận đáng kể. Điều này được thể hiện ở bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh như sau: Bảng 2.3. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Đơn vị: Triệu đồng. Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007 Năm 2009 So sánh 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % Tổng thu nhập 51.145 57.02 2 5.877 11,49 65.56 4 8.542 14,98 Thu từ HĐ tín dụng 44.911 48.71 4 3.803 8,47 54.50 7 5.793 11,89 Thu từ HĐ dịch vụ 695 754 59 8,49 1.022 268 35,54 Thu từ HĐKD khác 5.539 7.554 2.015 36,38 10.03 5 2.481 32,84 Thu từ HĐKD khác 5.539 7.554 2.015 36,38 10.03 5 2.481 32,84 Tổng chi phí 32.259 36.11 7 3.858 11,96 41.36 8 5.251 14,53 Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 43
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Chi phí HĐ tín dụng 19.648 22.56 0 2.912 14,82 26.72 2 4.162 18,44 Chi phí HĐ dịch vụ 377 467 90 23,87 560 123 26,33 Chi phí HĐ khác 12.234 13.09 0 856 7,00 14.08 6 996 7,6 Lợi nhuận 18.886 20.90 5 2.019 10,69 24.19 6 3.291 15,74 (Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNo&PTNT Lý Nhân). Biểu 2.2.Lợi nhuận của chi nhánh 0 5000 10000 15000 20000 25000 2007 2008 2009 Lợi nhuận Năm Triệu đồng 18886 20905 24196 Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 44
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Qua bảng và biểu đồ ta thấy: lợi nhuận của ngân hàng qua các năm có xu hướng tăng. Năm 2009 tăng 3.291 trđ tương ứng với tỷ lệ 15,74% so với năm 2008. Lợi nhuận thu được chủ yếu từ hoạt động tín dụng. Năm 2007 thu từ chiếm 87,81%, năm 2008 là 85,54%, năm 2009 tỷ lệ này là 83,13%. Khủng hoảng kinh tế và những hậu quả của nó vẫn còn để lại trong năm 2009, do đó ảnh hưởng đến thu nhập của dân cư làm cho tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng trong năm 2009 tăng không nhiều . Tuy nhiên, thu nhập từ hoạt động dịch vụ và hoạt động kinh doanh khác lại có tỷ lệ tăng cao hơn so với hoạt động tín dụng (tỷ lệ tăng của dịch vụ là 35,54% và của hoạt động kinh doanh khác là 32,84%, của tín dụng là 11,89% chứng tỏ ngân hàng đã quan tâm đến phát triển dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác đây là xu hướng chung của các ngân hàng hiên nay. Hiệu quả hoạt động của chi nhánh còn thể hiện qua chỉ tiêu ROA và ROE Lợi nhuận ROA Tổng tài sản Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 45
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Lợi nhuận ROE = Vốn chủ sở hữu Bảng 2.4 : Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 ROA 2,50 2,68 2,79 ROE 38,37 40,81 42,81 Chỉ số ROA cho biết một đồng tài sản được sử dụng thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Qua bảng trên ta thấy ROE của ngân hàng khá cao, cao hơn của hệ thống NHNo (ROE của hệ thống ngân hàng nông nghiệp năm 2008 và 2009 là 1,72 và 1,81). ROE cho biết một đồng vốn chủ sở hữu mang lại bao nhiêu đồng lơi nhuận. Chỉ tiêu ROE của chi nhánh cao bởi hoạt động của ngân hàng chủ yếu dựa trên nguồn vốn từ bên ngoài. 2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Lý Nhân. Trên cơ sở phân tích khái quát tình hình hoạt động cho vay trung dài hạn của NHNo&PTNT chi nhánh huyện Lý Nhân, dưới đây sẽ tiếp tục đi sâu đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng trung dài hạn của chi nhánh thông qua một số chỉ tiêu cơ bản. 2.2.1. Dư nợ trung dài hạn Hoạt động tín dụng của một ngân hàng mạnh hay không thể hiện qua số dư nợ, số dư nợ cuối kỳ cho biết số tiền ngân hàng đã cho vay và chưa thu hồi được nợ. Đó là do khoản nợ chưa đến hạn thanh toán hoặc khoản nợ đã quá hạn nhưng thu hồi được. Xét chỉ tiêu dư nợ cho vay trung dài hạn/ tổng tài sản : Năm 2007 tỷ lệ này là 0,29, có nghĩa là cứ có một đồng tài sản được sử dụng thì cho vay trung dài hạn là 29 đồng. Năm 2008 tỷ lệ này giảm xuống còn 0,28 và sang năm Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 46
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 2009 tỷ lệ này là 0,30. Trong khi đó, tỷ lệ này của hệ thống NHNo năm 2007 là 0,327 và 0,34 Bảng 2.5: Dư nợ tín dụng trung dài hạn theo thành phần kinh tế. Đơn vị: Triệu đồng. Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007 Năm 2009 So sánh 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % DN ngoài QD 24.920 24.24 3 -677 -2,27 27.630 3.387 13,59 HTX 3.938 4.054 116 2,95 5.320 1.266 31,22 Hộ GĐ- CN 54.156 46.89 3 -7.263 -13,14 55.891 8.998 19,18 Tổng dư nợ 83.014 75.19 0 -7.824 -9,42 88.841 13.651 18,15 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Lý Nhân) Biểu 2.3. Tỷ lệ dư nợ tín dụng trung dài hạn theo thành phần kinh tế Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 47
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Xét trong cơ cấu dư nợ tín dụng trung - dài hạn theo thành phần kinh tế có dư nơ theo hộ gia đình – cá nhân luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tông dư nợ trung dài hạn. Các năm 2007, 2008, 2009 tỷ lệ này lần lượt là : 65,24%; 62,37%; 62,91%. Năm 2008 giảm so với 2007 là 13,41% nguyên nhân là do lạm phát tăng cao nhưng sang 2009 tỷ lệ này so với 2008 đã tăng lên 19,18%. Trên địa bàn chỉ có 2 ngân hàng là ngân hàng nông nghiệp và ngân hàng chính sách. Tuy nhiên ngân hàng chính sách rất hẹp chủ yêu là các đối tượng được hỗ trợ như sinh viên, hộ nghèo nhằm mục tiêu chính sách quốc gia. Các đối tượng còn lại muốn tiếp cận với nguồn vốn của ngân hàng thì phải giao dịch với NHNo&PTNT vì vậy đối tượng cho vay của NHNo&PTNT Lý Nhân rất đa dạng. Đây cũng là cách để ngân hàng phân tán rủi ro, tránh tình trạng cho vay tập trung vào một đối tượng. Mục tiêu vay trung- dài hạn của các hộ gia đình là để sản xuất như trồng cây lâu năm, phát triển xưởng mộc, dệt len…Các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyên sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, kinh doanh dịch vụ sản phẩm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, kinh doanh đồ mỹ nghệ. Dư nợ tín dụng của doanh nghiệp ngoài quốc doanh dường như không có nhiêu thay đổi đáng kể (trừ năm 2009). Từ mức đạt tỷ trọng 30,01% năm 2007 sang năm 2008 tăng lên 32,24% năm 2009 giảm đi còn 31,10%. Tuy rằng, tháng 4/2009 đã có quyết định 443/QĐ-TTg về hỗ trợ cho các doanh nghiêp vay trung dài hạn nhưng năm 2009 vẫn giảm bởi các ngân hàng muốn tránh rủi ro. Nguyên Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 48
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng nhân chủ yếu là do viêc cho vay đối với thành phần ngoài quốc doanh sẽ có rủi ro lớn hơn so với doanh nghiệp nhà nước, nhất là với những khoản vay trung dài hạn, uy tín của các doanh nghiệp này còn thấp, đa số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều có quy mô nhỏ, ít có các dự án lớn có hiệu quả cũng như ít có nhu cầu về nguồn vốn TDH. Do đó, hoạt động cho vay TDH đối vớ doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ tập trung vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có qui mô lớn, có uy tín. Riêng đối với hợp tác xã, dư nợ tín dụng đều tăng qua các năm là do chính sách ưu tiên đối với thành phần kinh tế này đảm bảo sự phát triển vững chắc, kinh tế hợp tác xã là chủ trương của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế nhiều thành phần trong những năm gần đây, dư nợ thành phần kinh tế nay đã tăng lên đáng kể (31,12% năm 2009) là vì số lượng hợp tác xã đã được tăng lên, quy mô hoạt động được mở rộng. Bảng 2.6: Dư nợ tín dụng trung dài hạn theo ngành kinh tế Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007 Năm 2009 So sánh 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % Nông-lâm nghiệp 44.109 45.19 2 1.083 2,46 52.672 8.563 19,41 CN-XD 15.421 13.65 3 -1.768 -11,46 17.899 4.246 31,09 TM-DV 12.619 7.876 -4.743 -37,59 12.540 4.664 59,21 Cho vay khác 10.865 8.469 -2.396 -22,05 11.009 2.540 29,99 Tổng dư nợ 83.014 75.19 0 -7.824 -9,42 94.120 18.930 25,17 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT). Biểu 2.4: Dư nợ tín dụng trung-dài hạn phân theo ngành kinh tế. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 49
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 80000 90000 100000 2007 2008 2009 Nông lâm nghiệp CN-XD TM-DV Cho vay khác Tổng dư nợ Năm Triệu đồng Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ ta có thấy được sự thay đổi của tỷ trọng cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế. Dư nợ cho vay theo nông - lâm nghiệp đều tăng qua các năm, năm 2008 nền kinh tế dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên có nhiều khó khăn do đó dư nợ cho vay theo nông - lâm nghiệp tăng 2,46%. Nhưng đến 2009 NHNN đã có thông tư số 443/QĐ - TTg về hổ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp vay TDH nên tỷ lệ này đã tăng lên 19,41%. Tổng dư nợ TDH năm 2009 đã tăng 18.930 trđ so với năm 2008 tương ứng với tỷ lệ tăng 25,17% là do chính sách của nhà nước đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, bên cạnh đó dân cư trên địa bàn chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nên nhu cầu vay vốn cho sản xuất nông nghiệp cao lên, dư nợ nông - lâm nghiệp tăng và luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ. Năm 2008 cho vay công nghiệp xây dựng,thương mại dịch vụ và cho vay khác đều giảm là do ngân hàng gặp khó khăn về vốn nên phải hạn chế cho vay Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 50
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng các lĩnh vực này. Sang năm 2009 nguồn vốn huy động đã tăng lên đáng kể nên dư nợ trong các ngành này cũng tăng lên. 2.2.2. Doanh số cho vay và thu nợ trung dài hạn. Bảng 2.7: Doanh số cho vay và thu nợ trung dài hạn theo thành phần kinh tế Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007 Năm 2009 So sánh 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Tổng doanh số cho vay 66.78 5 51.0 21 - 15.764 -23,60 60.94 3 9.922 19,4 5 DN ngoài QD 19.68 6 13.2 94 -6.392 -32,47 17.26 8 3.974 20,8 9 HTX 2.665 2.68 4 19 0,71 2.748 64 2,3 Hộ GĐ-CN 44.43 4 35.0 43 -9.391 -21,13 40.92 7 5.884 16,7 9 Tổng doanh số thu nợ 49.89 2 58.8 45 8.953 17,94 59.72 8 883 1,50 DN ngoài QD 15.81 0 13.9 71 -1.839 -11,63 16.02 1 2.050 14,6 7 HTX 1.650 2.56 8 918 55,64 2.648 80 3,1 Biểu 2.5: Doanh số cho vay và thu nợ theo thành phần kinh tế. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 51
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000 80000 2007 2008 2009 Tổng doanh số cho vay Tổng doanh số thu nợ Năm Triệu đồng So sánh tổng doanh số cho vay qua các năm ta thấy tổng doanh số cho vay năm 2008 là 51.021 trđ giảm 15.764 trđ tương ứng với tỷ lệ giảm 23,60 % so với năm 2007. Đến năm 2009 doanh số cho vay đã tăng trở lại và đạt 60.943 trđ tăng 9.922 trđ với tỷ lệ tăng là 19,45 % so với năm 2008. Doanh số cho vay trong năm là tổng số tiền ngân hàng cho vay trong năm đó. Trong năm 2007, ngân hàng đẩy mạnh cho vay vì vậy doanh số cho vay tăng lên nhanh chóng, đây cũng là năm mà hoạt động tín dụng của cả hệ thống được coi là tăng trưởng “ nóng’’. Năm 2008 giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu tăng làm giảm nhu cầu vay vốn của người đầu tư, bản thân ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn. Những thay đổi này đã tác động đến hoạt động cho vay của ngân hàng làm cho doanh số cho vay trong năm giảm. Năm 2009 cùng với chính sách tiền tệ nới lỏng và quyết định hỗ trợ lãi suất cho vay TDH với các doanh nghiệp của NHNN đã tạo điều kiện để doanh số cho vay tăng trở lại. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 52
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Bên cạnh việc đẩy mạnh cho vay ngân hàng cũng luôn chú trọng đến công tác thu hồi nợ. Cuối năm 2008 doanh số thu nợ là 58.845 trđ, tăng 8.953 trđ so với năm 2007 ( tương ứng với tỷ lệ tăng là 17,94 % ). Mặc dù trong năm 2008 có rất nhiều biến động nhưng doanh số thu nợ của chi nhánh vẫn tăng và tăng cao so với 2007. Bước sang 2009 tuy là doanh số thu nợ có tăng nhưng chỉ ở mức 1,50%, đó là do những hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế để lại khiến cho công tác thu nợ gặp nhiều khó khăn. Thế nhưng nhìn chung thì tỷ lệ thu nợ của ngân hàng vẫn tăng qua các năm. Có được kết quả này là do những nguyên nhân sau : - Thứ nhất : Về phía bản thân ngân hàng, cán bộ tín dụng ngoài việc xem xét hồ sơ theo dõi những khoản vay còn tích cực nhắc nhở từng doanh nghiệp, hộ gia đình trả nợ theo đúng hợp đồng. - Thứ hai : Về phía bản thân khách hàng , nhận thấy được tầm quan trọng của việc trả nợ đúng hạn, giữ uy tín với ngân hàng nên hầu hết khách hàng đều trả nợ đúng thời hạn. Do đó ít ngân hàng trên địa bàn nên khách hàng luôn có tâm lý nếu không trả được nợ thì lần sau đến giao dịch với ngân hàng sẽ rất khó khăn. Bảng 2.8 : Doanh số cho vay và thu nợ TDH theo ngành kinh tế. Đơn vị : Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007 Năm 2009 So sánh 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % Tổng DS cho vay 66.785 51.021 - 15.764 -23,60 60.943 9.922 19,45 Nông – lâm nghiệp 39.187 31.219 -7.968 -20,33 36.642 5.423 17,37 CN-XD 14.483 12.411 -2.072 -14,31 15.961 3.550 28,60 TM-DV 9.142 6.275 -2.867 -31,36 6.430 155 2,47 Cho vay khác 3.973 1.116 -2.857 -71,91 1.910 794 71,14 Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 53
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Tổng DS thu nợ 49.892 58.845 8.955 17,94 59.728 883 1,50 Nông – lâm nghiệp 32.023 30.136 -1.887 -5,89 37.913 7.777 25,80 CN-XD 10.899 14.179 3.280 30,09 15.878 1.699 11,98 TM-DV 4.899 11.018 6.119 124,90 12.213 1.195 10,85 Cho vay khác 2.071 3.512 1.441 69,58 4.724 1.212 34,51 ( Nguồn báo cáo kết quả hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Lý Nhân ) Xét theo ngành kinh tế, năm 2008 doanh số cho vay của các lĩnh vực đều giảm nhưng tốc độ giảm mạnh nhất là cho vay khác ( giảm 71,91 % ), cho vay khác gồm các khoản vay như mua nhà ở, nâng cấp sửa chữa nhà, mua xe máy… Đây chủ yếu là khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng ( nguyên nhân là do lạm phát cao kéo theo lãi suất tăng cao nên nhu cầu vay của khách hàng giảm một cách đáng kể. Hơn nữa, ngân hàng đều dè dặt hơn trong cho vay tiêu dùng bởi đã rút ra được bài học từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính của Mỹ ). Mặt khác cho vay tiêu dùng không phải là lĩnh vực được nhà nước khuyến khích cho vay trong điều kiện các ngân hàng đang gặp khó khăn. Năm 2009, doanh số cho vay các ngành nghề đều tăng và mạnh nhất vẫn là 71,14 % vì nền kinh tế đã bước đầu tăng trưởng trở lại. Doanh số cho vay, thu nợ của nông – lâm nghiệp luôn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng doanh số cho vay, thu nợ của ngành. Ngành này chịu ảnh hưởng của thời tiết nên những thay đổi của thời tiết đều tác động đến sản xuất của người dân từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng. Năm 2009, thời tiết diễn biến rất phức tạp và bất ngờ đã gây ra không ít khó khăn cho ngành nông- lâm nghiệp, thế nhưng doanh số cho vay và thu nợ của ngân hàng vẫn ở mức cao. Thu nợ nông – lâm nghiệp năm 2009 đạt 7.777 trđ tương ứng với tỷ lệ tăng 25,80 %. Doanh số thu nợ của ngành công nghiệp – xây dựng, thương mại – dịch vụ và cho vay khác đều tăng cao làm cho tổng thu nợ năm 2009 tăng. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 54
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 2.2.3. Tình hình nợ quá hạn Bảng 2.9 : Cơ cấu dư nợ quá hạn trung – dài hạn Đơn vị : Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007 Năm 2009 So sánh 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % Nợ cần chú ý 354 319 -35 -9,89 288 -31 -9,71 Nợ dưới tiêu chuẩn 239 241 2 0,84 250 9 3,73 Nợ nghi ngờ 185 154 -4 -2,53 165 11 7,14 Nợ có khả năng mât vốn 97 92 -5 -5,15 86 -6 -6,52 Tổng nợ quá hạn 848 806 -42 -4,95 789 -17 -2,10 ( Nguồn : Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Lý Nhân ) Biểu 2.6 : Cơ cấu nợ quá hạn trung dài hạn Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 55
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Năm 2007 42% 28% 19% 11% Nợ cần chú ý Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ nghi ngờ Nợ có khả năng mất vốn Năm 2009 36% 32% 21% 11% 40% 30% 19% 11% Năm 2008 Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 56
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn. Kể từ tháng 5/2007 ngân hàng đã phân loại các nhóm nợ trên căn cứ vào quyết định số 18/2007/QĐ – NHNN sửa đổi bổ sung quyết định 493/2005/QĐ – NHNN về việc phân loại, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng. So với năm 2007, tổng nợ quá hạn năm 2008 giảm 42 trđ, tỷ lệ giảm là 4,95 % trong đó nhóm nợ cần chú ý giảm 9,89 %, nhóm nợ dưới tiêu chuẩn tăng 0,84 % ; nhóm nợ nghi ngờ giảm 2,53 %. Riêng nhóm nợ có khả năng mất vốn giảm 5,15% đây là điều đáng mừng cho ngân hàng, nó chứng tỏ rủi ro bị mất vốn giảm. Năm 2009, tổng nợ quá hạn giảm 17 trđ, tỷ lệ giảm 2,10 % giảm mạnh nhất là nhóm nợ cần chú ý ( giảm 9,71 % ) đây là do ngân hàng thực hiện theo quy định của NHNN : Từ chỗ quy định nhóm nợ cần chú ý bao gồm các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày thành quy định là các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày. Như vậy, theo quy định 493 có những khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày vẫn bị coi là nợ cần chú ý theo quyết định 18 sẽ chuyển thành nhóm nợ đủ tiêu chuẩn. Bảng 2.10: Tỷ lệ nợ quá hạn , nợ xấu trung- dài hạn. Đơn vị: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 So sánh 2008/2007 Năm 2009 So sánh 2009/2008 Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ % Nợ quá hạn 848 806 -42 -4,95 761 -45 -94,41 Nợ xấu 494 487 -7 -1,42 478 -9 -98,15 Tổng dư nợ 83.014 75.190 -7.824 9,42 88.841 13.651 18,15 Tỷ lệ nợ quá hạn 1,02 1,07 0,05 4,94 0,85 -0,22 -20,56 Tỷ lệ nợ xấu 0,60 0,65 0,05 8,34 0,53 -0,12 -18,46 (Nguồn báo cáo kết quả hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Lý Nhân) Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 57
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Qua bảng trên ta thấy tỷ lệ nợ quá hạn trong năm 2008 và 2009 đều giảm so với năm 2007. Năm 2007 tỷ lệ này là 1,02%; năm 2008 là 1,07%; năm 2009 là 0,85%. Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 đến nhóm 5. Nợ xấu trung dài hạn trên tổng dư nợ trung dài hạn là chỉ tiêu cơ bản nhất phản ánh chất lượng tín dụng trung dài hạn, tỷ lệ này càng thấp càng tốt. Trong năm 2007 nợ xấu là 494 trđ, chiếm 0.60% tổng dư nợ TDH, tập trung chủ yếu vào nhóm nợ dưới tiêu chuẩn và nợ nghi ngờ. Năm 2008 nợ xấu là 487 trđ giảm 7 trđ( tỷ lệ giảm 1,42%) so với 2007 nguyên nhân là do dư nợ TDH 2008 giảm( tương ứng tỷ lệ 1,42%). Nợ xấu năm 2009 là 478 trđ giảm 9 trđ so với 2008, tỷ lệ giảm là 98,15%,tỷ lệ nợ xấu là 0,53% giảm 0,12% so với 2008. Như vậy tỷ lệ này trong giai đoạn 2007 - 2009 nhìn chung là thấp và có sự thay đổi không đáng kể, đây là điều mà ngân hàng nên phát huy. Nguyên nhân nợ xấu vẫn còn tồn tại những năm gần đây có thêm nhiều doanh nghiệp mới thành lập, với kinh nghiệm quản lý còn non trẻ đã tiến hành đầu tư lớn sản phẩm sản xuất ra vượt quá nhu cầu thị trường làm cho hàng hóa tồn đọng lại từ đó ảnh hưởng đến việc trả nợ ngân hàng. Đối với hộ sản xuất nông nghiệp, những biến đổi xấu của thiên tai, dịch bệnh cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đây là nguồn thu chính để trả nợ, khi sản xuất kinh doanh gặp rủi ro thì họ không thể trả nợ ngân hàng được. 2.3. Đánh giá kết quả tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Lý Nhân 2.3.1. Kết quả đạt được Trong giai đoạn 2007 – 2009 mặc dù nền kinh tế có nhiều biến động nhưng hoạt động cho vay của ngân hàng, đặc biệt là cho vay trung – dài hạn vẫn đạt được một số kết quả cao. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 58
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng * Tổng dư nợ năm 2008 và 2009 đều tăng so với năm 2007, nguồn vốn cho vay trung – dài hạn lấy từ nguồn vốn huy động trung – dài hạn và một phần nguồn vốn huy động ngắn hạn. Ngân hàng đã có nhiều biện pháp tích cực trong công tác huy động vốn làm cho nguồn vốn huy động tăng, từ đó làm tăng dư nợ cho vay trung – dài hạn tạo điều kiện cho doanh nghiệp hộ sản xuất phát triển kinh doanh lâu dài. * Ngân hàng luôn căn cứ vào các văn bản hiện hành của NHNN làm cơ sở hoạt động. Các chính sách đi vay đều gắn liền với chủ trương phát triển kinh tế của nhà nước. Các bộ ngân hàng luôn thực hiện đúng quy trình cho vay. Các khoản cho vay đều được sử dụng đúng mục đích, không có vụ việc tiêu cực nào xảy ra. * Doanh số thu nợ liên tục tăng, đã có sự kết hợp giữa ngân hầng và các cơ quan đoàn thể trongg việc thu hồi gốc và lãi. * Chi nhánh đã có nhiều thành công trong việc kiểm soát chất lượng và quản lý nợ xấu. Nợ có khả năng mất vốn ngày càng giảm, đồng vốn bị thất thoát giảm, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ không cao; do chi nhánh thường kiểm tra, kiểm soát công tác cho vay trung – dài hạn với những biện pháp như : + Rà soát, chấn chỉnh hồ sơ cho vay trung – dài hạn. + Giám đốc kiểm soát hàng ngày các món vay. + Kiểm tra chặt chẽ quá trình phát tiền vay + Hạn chế cho vay những khách hàng có nợ xấu. * Các khoản vay trung – dài hạn đều có tài sản đảm bảo. Do cho vay trung – dai hạn chứa nhiều rủi ro nên ngân hàng luôn yêu cầu tài sản đảm bảo đối với khoản vay này. Khi khách hàng không trả được nợ ngân hàng đã thu hồi tài sản đảm bảo bù đắp cho phần vốn gốc bị mất. 2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại. a. Những tồn tại Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 59
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động cho vay của NHNo & PTNT huyện Lý Nhân vẫn còn một số hạn chế cần được quan tâm để từ đó đưa ra một số giải pháp khắc phục góp phần phát triển chi nhánh, đáp ứng nhu cầu của công cuộc CNH – HĐH nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng. * Về công tác huy động vốn. Nguồn vốn cho vay trung – dài hạn còn hạn chế từ đó ảnh hưởng đến dư nợ cho vay. Trong giai đoạn 2007 – 2009 mặc dù dư nợ cho vay trung – dài hạn tăng nhưng tỷ lệ dư nợ trung – dài hạn vẫn còn thấp và có xu hướng giảm. * Về hoạt động cho vay Quy trình thủ tục cho vay tiến hành còn chậm chạp, chất lượng thẩm định dự án chưa cao. Việc điều tra phân loại khách hàng đã có nhưng chưa sâu sát, bản thân cán bộ cho vay chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc phân loại khách hàng để từ đó có hướng đầu tư, có chế độ ưu đãi đối với khách hàng truyền thống. Hình thức cho vay chưa đa dạng, chủ yếu vẫn là kiểu cho vay tuyền thống : khách hàng có nhu cầu đến vay thì ngân hàng xem xét nếu đồng ý thì phát tiền vay. Còn tập trung quá nhiều vào lĩnh vực nông nghiệp, chưa đẩy mạnh cho vay doanh nghiệp, hoạt động về dịch vụ, xây dựng. Ban lãnh đạo có tiến hành kiểm tra nhưng hoạt động không thường xuyên. Bộ phận kiểm soát chưa thực hiện hết vai trò và trách nhiệm của mình, kiểm tra mới dừng lại trên sổ sach chứ chưa xuống thực tế, chủ yến vẫn là cán bộ tín dụng thẩm định rồi kiểm tra. Một trong những quyết định cho vay là tài sản đảm bảo , tuy nhiên hiện nay việc đánh giá tài sản đảm bảo chưa chính xác. * Về đội ngũ cán bộ cho vay Trình độ đội ngũ cán bộ chưa đồng đều. Nợ quá hạn phát sinh do nhiều nguyên nhân từ bên ngoài như thiên tai, dịch bệnh, cơ chế chính sách, khách hàng Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 60
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh nên thua lỗ không trả được nợ đúng hạn. Nhưng bản thân cán bộ ngân hàng cũng phải chịu trách nhiệm về chất lượng cho vay bị giảm sút. b. Nguyên nhân của những tồn tại. Thứ nhất: Ngân hàng chưa đa dạng hóa hình thức huy động vốn. Nguồn vốn huy động chủ yếu từ các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, mục đích người gửi tiền là tìm kiếm lợi nhuận nhưng sự chênh lệch lãi suất giữa các kỳ hạn không cao nên không thu hút được tiền gửi kỳ hạn dài. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền quảng cáo chư thực sự được đẩy mạnh, người dân biết đến ngân hàng là do ngân hàng đã hoạt động tư lâu. Các dịch vụ ngân hàng chưa phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa được nâng cao. Thứ hai: Lập dự án là công việc của người đi vay nhưng hầu hết hộ nông dân có trình độ thấp. Họ có sức lao động, có khả năng lao động nhưng việc hạch toán thu nhập, chi phí thì chưa khoa học nên cán bộ ngân hàng phải mất nhiều thời gian hướng dẫn. Với những dự án phức tạp, trong quá trình phân tích có một số cán bộ ngân hàng chưa nắm rõ các định mức kinh tế kỷ thuật của dự án. Số liệu sử dụng làm căn cứ phân tích chưa đầy đủ, thiếu chính xác. Phạm vi điều tra, thu nhập thông tin chưa sâu rộng, phương tiện và cách thức thu thập thông tin chưa đa dạng. Cơ cấu cho vay chưa hợp lý do nguyên nhân khách quan, xuất phát từ nhu càu của khách hàng. Phần lớn nhu cầu vay vốn là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp vì vậy mà có sự tập trung nguồn vốn vào lĩnh vực này. Việc đánh giá tài sản đảm bảo chưa chính xác là do việc đánh giá còn mang tính chủ quan của cán bộ thẩm định. Quy mô hoạt động của chi nhánh nhỏ, không có bộ phận định giá tài sản nên việc định giá do bản thân cán bộ tín dụng thẩm định. Thứ ba: Số lượng cán bộ tín dụng còn quá ít so với khối lượng công việc. Địa bàn hoạt động rộng, mỗi cán bộ phải đảm nhận một khu vực lớn. Một số cán bộ Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 61
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng tín dụng trẻ chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế nên đôi khi gặp khó khăn trong phân tích các khoản vay. Kết luận chương 2 Qua việc phân tích về chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT Lý Nhân trong giai đoạn 2007- 2009 cho thấy tín dụng trung dài hạn dã góp phần tạo cơ sở vật chất để sản xuất, kinh doanh của các tổ chức cá nhân đồng thời tạo thêm nguồn thu lớn cho ngân hàng. Thực tế phân tích cũng cho thấy một số hạn chế trong hoạt động của chi nhánh. Để khắc phục những hạn chế này cần có những giải pháp thiết thực đê nâng cao chất lượng trong hoạt động của ngân hàng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngoài ra, một nguyên nhân quan trọng nữa chính là sự bất ổn của nền kinh tế trong năm 2007, 2008 và hậu quả của nó vẫn còn kéo dài đến 2009. Tình trạng lạm phát tăng cao rồi lại rơi vào suy thoái khiến cho các ngân hàng và doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Biến động lãi suất cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến đến cả ngân hàng và khách hàng. Để đối phó với tình hình kinh tế NHNN đã phải liên tục đưa ra các văn bản pháp luật để hướng dẫn và điều chỉnh tình hình hoạt động của các ngân hàng, khiến cho ngân hàng càng thêm bị động trước những khó khăn của nền kinh tế. Sự biến động của nền kinh tế cũng khiến cho công tác cho vay trung dài hạn cũng trơ nên rủi ro hơn đối vối các ngân hàng khác, chính vì thế ngân hàng cẩn trọng hơn trong hoạt động tín dụng trung dài hạn. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 62
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NHNO & PTNT HUYỆN LÝ NHÂN 3.1. Định hướng hoạt động của ngân hàng 3.1.1. Định hướng hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT huyện Lý Nhân năm 2010 Nguồn vốn huy động tăng 20 – 22% so với năm 2009. Tập trung thu nợ xấu, và giảm tỷ lệ các nhóm nợ này xuống dưới 3%/tổng dư nợ. - Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng cho vay trong năm 2010 và tăng cường chất lượng cho vay. - Đảm bảo nhu cầu vốn cho vay các hộ sản xuất, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. - Đẩy mạnh đầu tư cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn. - Tăng cường đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng tiêu dùng, trước hết là đầu tư cho việc mở rộng quy mô và đổi mới công nghệ của các cơ sở hiện có. - Đẩy mạnh hoạt động cho vay ủy thác và đẩy nhanh việc giải ngân các dự án có nguồn vốn nuốc ngoài được cam kết. - Ngừng đầu tư và rút dần dư nợ từ các doanh nghiệp, hộ sản xuất làm ăn thua lổ hoặc sản xuất kinh doanh không ổn định, tình hình tài chính không lành mạnh. * Một số chỉ tiêu cho vay trung dài hạn dự kiến Chỉ tiêu Dự kiến 1. Dư nợ cho vay 2. Tỷ lệ nợ xấu 3. Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn Tăng 15% so với năm 2009 Dưới 3%/tổng dư nợ 35 – 38%/ tổng dư nợ Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 63
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 4. Tỷ lệ cho vay DN ngoài QD 32%/ tổng dư nợ 3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động của chi nhánh * Những thuận lợi: - Trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam, nông nghiệp được coi là nền móng cho nền kinh tế. Đại hội Đảng X đã nhấn mạnh: phải luôn coi trọng đẩy chung mà Đảng và Nhà nước đã đề ra NHNN đã chú trọng đến phát triển tín dụng nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ tín dụng nông thôn phát triển, nâng cao năng lực của các ngân hàng. - Chính sách và phương thức điều hành cuả Chính phủ và các bộ ngành về một số lĩnh vực có quan hệ mật thiết đến hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT huyện Lý Nhân nói riêng như chương trình về lương thực, vật tư nông nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động cho vay và đầu tư tại NHNo&PTNT huyện Lý Nhân. - Các chính sách của nhà nước về đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, đa dạng hóa các hình thức sở hữu cho thuê, khoán tài chính, sửa đổi luật đầu tư đã tạo thêm nhiều cơ hội trong hoạt động cho vay nhất là đối với cho vay trung dài hạn. * Những khó khăn: Suy giảm kinh tế các tháng đầu năm tác động xấu đến hoạt động sản xuất – kinh doanh – tiêu dùng của các thành phần kinh tế, xã hội trong nước. Luồng vốn kinh doanh luân chuyển chậm dẫn đến kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp giảm làm tăng tỷ lệ nợ xấu theo dây chuyền và giảm dòng vốn thanh toán qua Ngân hàng. Cơ chế hỗ trợ lãi suất kích cầu đầu tư tạo nên tăng trưởng tín dụng nóng. Mặc dù Chính phủ và NHNN đã có những biện pháp để điều hành nền kinh tế, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia nhằm ổn định kinh tế vĩ mô Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 64
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng nhưng vẫn chưa thể thoát ra khỏi tình trạng suy thoái. Thị trường tiền tệ diễn biến phức tạp, lạm phát đã được kiềm chế nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn bởi sự tăng trưởng về tín dụng của nước ta còn thấp và không bền vững. Về lĩnh vực nông nghiệp cũng còn những khó khăn: - Hoạt động sản xuất nông nghiệp còn chứa đựng nhiều rủi ro do diễn biến thời tiết phức tạp, khó lường, dịch bệnh, sâu bệnh luôn rình rập thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chưa ổn định thêm vào đó công tác nghiên cứu dự báo kinh tế liên quan đến lĩnh vực này còn yếu nên ảnh hưởng nhiều đến sản xuất. - Thu nhập của dân cư còn thấp cùng với việc xử lý quyền sử dụng đất của người nông dân còn nhiều bất cập nên việc cho vay các khoản lớn để mở rộng sản xuất của hộ gia đình nông dân là hạn chế. - Công nghệ ngân hàng và mạng lưới viễn thông mới chỉ thực sự phát triển ở khu vực đông dân còn những nơi dân cư thưa thớt thì chưa thực sự phát triển, hạn chế cho việc tiếp cận tín dụng của người dân. Các sản phẩm dịch vụ tại khu vực này còn nghèo nàn chủ yếu là tín dụng truyền thống, sản phẩm tín dụng thì chưa bao gồm các dịch vụ hỗ trợ đi kèm. - Chưa có chiến lược phát triển nông thôn phù hợp, quy hoạch vùng sản phẩm nông nghiệp chưa rõ ràng, thị trường tiêu thụ chưa mở rộng và ổn định, nhà nước chưa có chính sách hổ trợ cho nông nghiệp kịp thời. Việc hổ trợ kỷ thuật cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi chưa đồng bộ, việc bao tiêu sản phẩm chưa có kế hoạch cụ thể. Tất cả những điều đó đã gây khó khăn nhất định cho việc mở rộng đầu tư tín dụng của ngân hàng. 3.1.3. Mục tiêu và phương thức phát triển - Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng cho vay trong năm 2010 và tăng cường chất lượng cho vay. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 65
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Đảm bảo nhu cầu vốn cho vay các hộ sản xuất, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. - Đẩy mạnh đầu tư cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn. - Tăng cường đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng tiêu dùng, trước hết là đầu tư cho việc mở rộng quy mô và đổi mới công nghệ của các cơ sở hiện có. - Đẩy mạnh hoạt động cho vay ủy thác và đẩy nhanh việc giải ngân các dự án có nguồn vốn nuốc ngoài được cam kết. - Ngừng đầu tư và rút dần dư nợ từ các doanh nghiệp, hộ sản xuất làm ăn thua lổ hoặc sản xuất kinh donh không ổn định, tình hình tài chính không lành mạnh. 3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại chi nhánh. 3.2.1. Tăng cường huy động nguồn vốn trung dài hạn Thực tế hiện nay ở các ngân hàng lượng tiền gửi dài hạn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, trong khi đó vốn cho vay trung – dài hạn lại chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay. Như vậy có thể thấy rằng ngân hàng đã dùng một lượng khá lớn nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung – dài hạn. Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm tại NHNo & PTNT huyện Lý Nhân chiếm 71,02% tổng vốn huy động, cho thấy Ngân hàng đã chú trọng tới công tác huy động nguồn này. Tuy nhiên, tiền gửi tiết kiệm năm 2009 tăng nhưng cơ cấu tiền gửi chưa cân đối giữa tiền gửi tiết kiệm dưới 12 tháng và tiền gửi tiết kiệm trên 12 tháng. Nguyên nhân là do người dân chưa thực sự tin tưởng để gửi tiền dài hạn vào ngân hàng. Do giá cả luôn biến động, vì vậy mà đầu tư vào vàng luôn là lựa chọn của phần lớn dân cư. Bên cạnh đó chênh lệch lãi suất tiền gửi ngắn hạn và dài hạn chưa thực sự hấp dẫn người gửi tiền. Để nguồn tiền gửi này ngày Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 66
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng càng tăng trưởng ổn định, cần có giải pháp khắc phục những tồn tại khách quan và chủ quan trong việc huy động nguồn tiền này như tạo ra lãi suất thực sự hấp dẫn với loại tiết kiệm dài hạn hoặc đưa ra các chương trìn khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng. Ngân hàng nên quan tâm đặc biệt đối với khách hàng là người đã nghỉ hưu, đây là một bộ phận dân cư có nhu cầu chi tiêu ít nên để ra được một lượng tiền nhàn rỗi. Các cán bộ ngân hàng nên động viên họ gửi tiết kiệm, vừa đảm bảo an toàn lại vừa sinh lời, thủ tục rút tiền khi có nhu cầu rất nhanh chóng. Đối với các doanh nghiệp lượng tiền gửi vào là rất lớn, ngân hàng cũng nên có chính sách dành riêng cho những doanh nghiệp này như mở tài khoản miễn phí, có quy định với những khoản tiền lớn sẽ được hưởng lãi suất ưu đãi. Ngoài huy động tiền gửi tiết kiệm thì ngân hàng cần đa dạng hóa các công cụ huy động vốn trung – dài hạn như phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi trên 1 năm, phát hành trái phiếu. Ngân hàng còn có thể tạo ra nguồn vốn tín dụng thông qua việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ : Dịch vụ ủy thác, tư vấn đầu tư, bảo đảm an toàn các vật có giá… Khuyến khích sử dụng thẻ ATM và tăng cường địa điểm đặt máy. Hình thức sử dụng thẻ ATM hiện nay vẫn còn mới mẻ với nhiều người dân vì vậy ngân hàng nên tuyên truyền rộng rãi và hướng dẫn cụ thể khi họ có nhu cầu làm thẻ. Khuyến khích các chủ thể sản xuất kinh doanh, thanh toán không dùng tiền mặt mà qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, vừa giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí trong kiểm đếm, bảo quản, vừa làm tăng tính hiệu quả của đồng vốn ngân hàng. 3.2.2. Xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng phù hợp. Chính sách tín dụng ngân hàng được coi là phù hợp khi thể hiện được các nội dung và yêu cầu sau : Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 67
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Chính sách tín dụng của ngân hàng phải bám sát định hương phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chiến lược và phương hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương và nội lực của tổ chức tín dụng. Chính sách tín dụng được xây dựng trên cơ sở các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng, phục vụ cho mục tiêu kinh doanh của ngân hàng nhằm mang lại hiệu quả trong kinh doanh thông qua việc tăng trưởng tín dụng một cách bền vững, phòng ngừa và hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro trong hoạt động tín dụng. Do đó, ngân hàng cần nhanh nhạy chủ động nắm bắt các dự án đầu tư có tính khả thi cao để đầu tư vốn. - Chính sách tín dụng vừa phải đảm bảo tính khả thi, thông thoáng dễ hiểu, dễ thực hiện, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống xã hội, của doanh nghiệp, cá nhân – hộ sản xuất… vừa phải tuân thủ nguyên tắc và điều kiện tín dụng, các quy định của chính phủ, quy định của NHNN về việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và khả năng kiểm soát của ngân hàng. Thực hiện được yêu cầu này tạo điều kiện cho khách hàng trong việc vay vốn nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập mà còn giúp chính ngân hàng thực hiện tốt chức năng của mình, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững. - Chính sách tín dụng phải được thể chế hóa quyền và trách nhiệm ủa khách hàng, của ngân hàng, của những người liên quan tới việc cho vay, các quy định về hồ sơ, thủ tục vay vốn, quy trình thẩm định, xét duyệt cho vay, thời hạn vay, kỳ hạn trả nợ, ra hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, xử lý nợ, đảm bảo tiền vay, ủy quyền, phân cấp mức phán quyết cho vay liên quan tới khoản vay. Nhưng chính sách tín dụng đó cũng phải quy định rõ về các đối tượng cấm cho vay, hạn chế cho vay, giới hạn cho vay, bảo lãnh. Đối với một khách hàng, cán bộ tín dụng không được thu nợ và thu lãi trực tiếp của khách hàng, cấm cán bộ tín dụng vay ké hay nhờ khách hàng vay hộ. 3.2.3. Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 68
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Đây là một khâu quan trọng, là cơ sơ để ngân hàng đánh giá chính xác nhu cầu vay của khách hàng, đánh giá mức độ rủi ro từ quyết định cho vay hay không cho vay. Để nâng cao chất lượng thẩm định trước hết ngân hàng cần hoàn thiện quy trình thẩm định, muốn vậy ngân hàng phải cải tiến quy trình thẩm định theo hướng cụ thể hóa các bước thẩm định cho phù hợp với hoạt động của ngân hàng, năng lực trình độ của cán bộ tín dụng và áp dụng các kỹ thuật tính toán hiện đại để tính các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cần thiết. Bên cạnh đó ngân hàng cần hoàn thiện nội dung thẩm định : thẩm định năng lực pháp lý, năng lực tài chính và năng lực kinh doanh, môi trường kinh doanh, phương án sản xuất kinh doanh, bảo đảm tiền vay. Ngân hàng nên tiến hành đổi mới công trình tín dụng thực hiện tốt quy trình này sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín dụng. Tại ngân hàng cán bộ tín dụng phải đảm bảo tất cả các khâu của công trình từ tiếp nhận hồ sơ khách hàng cho đến giải ngân, thu nợ nên không tránh khỏi những khiếm khuyết trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Chính vì vậy ngân hàng nên thành lập một bộ phận chuyên thẩm định tín dụng. Những nhu cầu tài trợ dài hạn thường đòi hỏi độ an toàn hơn khoản ngắn hạn nên thường cần thiết phải xử lý một lượng thông tin lớn. Do đó sự tham gia của nhiều người trong thẩm định là rất cần thiết, đảm bảo tính chính xác, khách quan và nhanh chóng. Thông tin là yếu tố quan trọng nhất, có tính chất quyết định đến hiệu quả của công tác thẩm định tín dụng do đó hoàn thiện hệ thống cung cấp và xử lý thông tin là một yêu cầu rất lớn trong công tác thẩm định. Ngoài việc tiếp nhận từ hồ sơ khách hàng cung cấp, trực tiếp phỏng vấn khách hàng, điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng, cán bộ cho vay nên có sự trao đổi thông tin, kiểm tra từ phía các chi nhánh, các NHTM và các tổ chức cho vay khác có mối liên hệ với người xin vay. Đây là nguồn thông tin cần thiết , qua đó có thể có sự đánh giá cụ thể về năng lực và kinh nghiệm, uy tín của khách hàng trong quá khứ, trên cơ sở Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 69
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng đó có thể hỗ trợ cho công tác thẩm định nguồn thông tin đầy đủ và cụ thể hơn về khách hàng. Cán bộ cho vay nên thẩm tra qua những doanh nghiệp cung cấp và tiêu thụ có quan hệ với người xin vay. Đây là nguồn thông tin cần thiết về việc các hóa đơn của doanh nghiệp đã được thanh toán như thế nào, chiết khấu có được thực hiện không, liệu có những khoản nợ bất hợp pháp được thực hiện hay không. Việc kiểm tra qua các khách hàng của doanh nghiệp có thể biết tin tức về chất lượng các sản phẩm của nó, đáng tin cậy của các dịch vụ và khối lượng hàng hóa đã được khai báo. Ngân hàng cũng có thể thu thập thông tin qua Trung tâm thông tin tín dụng CIC, qua cơ quan hữu quan như cơ quan thuế, cục quản lý thị trường, trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm…hoặc thu thập thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin lưu trữ tại chính ngân hàng. Khâu thẩm định có thể coi là khâu kiểm soát trước khi cho vay, chính vì vậy cán bộ thẩm định phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ ngân hàng mà còn phải là chuyên gia về mọt số lỉnh vực, ngành nghề khác. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thẩm định có thể được thực hiện thông qua tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với từng đối tượng. 3.2.4. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng Để phù hợp với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường và tạo ra năng lực cạnh tranh cho các tổ chức tín dụng, thì lợi thế con người được xem là yếu tố căn bản, đồng thời đây là yếu tố căn bản và khó thay đổi nhất. Vì vậy phát triển đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao được coi là một yếu tố then chốt trong chiến lược quản lý của ngân hàng. Đào tạo không chỉ nhằm đạt hiệu quả cao nhất đối với các nhiêm vụ trước mắt mà còn chuẩn bị nguồn lực cho các yêu cầu cấp thiết trong tương lai. Dưới đây là một số giải pháp ngân hàng có thể áp dụng: Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 70
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Thứ nhất, tổ chức và tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên tham gia các lớp nâng cao trình độ chuyên môn. Mỗi cán bộ không chỉ là chuyên gia về lĩnh vực mình phụ trách mà còn hiểu rõ nhiều lĩnh vực khác, không chỉ có khả năng phân tích mà còn có khả năng phán đoán để đưa ra những quyết định chính xác. Ngân hàng nên khuyến khích nhân viên chủ động tham gia đào tạo để mở rộng tri thức, khả năng sáng tạo, phát minh, óc tưởng tượng và các kỷ năng thực hành nghề nghiệp của mỗi nhân viên. Thứ hai, phân công đúng người đúng việc, có như vậy mới phát huy được chuyên môn, khả năng thực sự của nhân viên. Khi phân công công việc cho cán bộ nhân viên cần phải giao trách nhiệm cụ thể, không giao một cách chung chung, gắn trách nhiệm với lợi ích của họ khi hoàn thành công việc. Đưa ra các tiêu chuẩn để cán bộ nhân viên phấn đấu, hàng năm tổ chức các cuộc thi kiểm tra trình độ, đánh giá phân loại cán bộ, nhân viên. Có các chế độ thưởng phạt phân minh để động viên cán bộ nhân viên đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp gây ảnh hưởng đến uy tín hình ảnh của ngân hàng. Thứ ba, đa dạng hóa hình thức và nội dung đào tạo tại chỗ, đào tạo ở nước ngoài, mời chuyên gia giỏi về giảng dạy, liên kết với các trung tâm đào tạo. Không chỉ đào tạo về chuyên môn mà còn đào tạo các kỷ năng mềm như phong cách làm việc, thái độ với khách hàng, tinh thần đoàn kết nội bộ, đạo đức nghề nghiệp. Với cán bộ trẻ mới ra trường càng phải đào tạo thường xuyên, tạo điều kiện cho họ tham gia các nghiệp vụ phức tạp để học hỏi kinh nghiệm. Thứ tư, tăng cường đội ngũ cán bộ nhân viên. Hiện nay nhu cầu về vốn ngân hàng rất đông. Số lượng cán bộ tín dụng của ngân hàng còn ít, vì vậy ngân hàng nên tăng cường đội ngũ cán bộ nhân viên tín dung để giảm số lượng công việc cho mỗi cá nhân. Việc tăng cường đội ngũ cán bộ, nhân viên và sắp xếp công việc hợp lý để tránh được tình trạng quá tải giúp cho họ làm việc có hiệu quả từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của ngân hàng. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 71
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 3.2.5. Đa dạng hóa hình thức cho vay và mở rộng quan hệ khách hàng. Để tăng cường dư nợ và hạn chế rủi ro ngân hàng cần đa dạng hóa các hình thức cho vay. Đặc biệt là cần áp dụng nhiều hình thức cho vay mới phù hợp với sản xuất nông nghiệp, phù hợp với trình độ dân trí, tiềm lực kinh tế của những người sản xuất nông nghiệp. Các hình thức có thể áp dụng như cho vay trả góp đối với hộ nông dân, cho vay thông qua các tổ chức trung gian như các trạm thu mua, các tổ chức cung ứng vật tư phân bón nông nghiệp, các nông trường thông qua các tổ chức hội, các đoàn thể, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, thực hiện cho thuê tài chính để cho thuê các máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị. Đối với chi nhánh ngân hàng huyên Lý Nhân cho thuê tài chính là một hình thức rất mới mẻ vì vậy cán bộ ngân hàng cần phải tìm hiểu kỹ về hình thức cho vay này, có thể tìm hiểu kinh nghiệm qua ngân hàng bạn. Với khách hàng, cần kiên nhãn giảng giải để cho họ thấy được những lợi ích mà hình thức này mang lại. Hiện nay đối tượng cho vay của ngân hàng chủ yếu là cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp. Việc cho vay trước hết nên hướng vào phát triển mạnh các cơ sở hạ tầng trong sản xuất nông nghiệp như ( điện, đường, trạm, tưới tiêu, nước sạch…) tạo tiền đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và cản thiện đời sông ngươi dân; cho vay để cải tiến sản xuất áp dụng công nghệ cao và khoa học tiên tiến vào sản xuất từ con giống đến thu hoạch, bảo quả cất trữ và chế biến nhằm nâng cao chất lượng nông sản. Tuy nhiên, lĩnh vực này chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết nên rủi ro cũng khá cao vì vậy ngân hàng không chỉ cho vay bó gọn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mà phải mở rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau như đẩy mạnh cho vay tiêu dùng, cho vay xuất khẩu lao động. Khách hàng luôn là nhân tố quan trọng của ngân hàng, có được khách hàng đã khó, giữ dược mối quan hệ tốt với khách hàng còn khó hơn. Ngân hàng cần dành thời gian và công sức để “ chăm sóc” các mối quan hệ với khách hàng đặc Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 72
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng biệt là khách hàng lâu năm. Ngoài những ưu đãi về lãi suất, ngân hàng có thể tư vấn miễn phí cho khách hàng, giúp khách hàng nhanh chóng hoàn thành hồ sơ khi giao dịch với ngân hàng… Việc tìm kiếm khách hàng mới có thể được thực hiện thông qua việc đẩy mạnh hoạt động marketing. Nhiệm vụ của hoạt động ngân hàng là thu hút được khối lượng lớn khách hàng thuộc mọi tầng lớp dân cư với thu nhập, tâm lý và sở thích khác nhau. Vì vậy việc ứng dụng các nguyên tắc của marketing trong quản lý quan hệ khách hàng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Các biện pháp mà ngân hàng càn thực hiện là đẩy mạnh tuyên truyền quảng cáo về các dịch vụ ngân hàng, các hình thức và chính sách huy động vốn… Hình thức tuyên truyền, quảng cáo phải đa dạng như phát tờ rơi, thông qua các phương tiện thông tin hoặc để sách giới thiệu ở phía ngoài quầy giao dịch để khách hàng có thể đọc trong khi chờ đợi. Nội dung giới thiệu cụ thể, rõ ràng để bất kỳ ai cũng có thể hiểu được. Ngân hàng phải tìm cách để mọi khách hàng biết đến hoạt động của mình, cho khách hàng thấy được lợi ích khi tiến hành giao dịch với ngân hàng.Tạo lập phong cách chuyên nghiệp và thái độ nhiệt tình của nhân viên cũng rất lớn trong việc thu hút khách hàng mới. 3.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và quản lý nợ. Để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra ngân hang cần phải thường xuyên xem xét khoản vay, kiểm tra lại điều kiện cho vay, đánh giá tình trạng kinh doanh của khách hàng, khả năng tài chính của khách hàng, sự thay đổi hạn mức tín dụng. * Thường xuyên kiểm tra đánh giá các khoản vay Đối với công tác giám sát sử dụng vốn vay ngân hàng cần phải tổ chức theo dõi chặt chẽ tiến độ hoàn thành từng hạng mục dự án đầu tư, quá trình nhâp vật tư, hành hóa thông qua các báo cáo do khách hàng cung cấp. Nếu phát hiện những vi phạm trong quá trình sử dụng vốn vay chẳng hạn như sử dụng vốn vay Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 73
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng sai mục đích thì cán bộ giám sát có thể kiến nghị thu hồi nợ trước hạn hoặc chuyển sang nợ quá hạn. Ngoài việc nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo cũng là một công việc quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, nó đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải luôn theo dõi, giám sát khoản vay để phát hiện kịp thời những dấu hiệu rủi ro. Việc báo cáo kịp thời, theo dúng yêu cầu về rủi ro cũng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác kiểm soát, quản trị rủi ro tín dụng. Đến định kỳ tùy đối tượng nhận báo cáo cho Ban giám đốc thì có thể chỉ tập trung vào phần đánh giá chung, tổng hợp rủi ro và nguyên nhân của rủi ro để ban giám đốc nắm bắt có ý kiến chỉ đạo kịp thời. Báo cáo kèm theo các biểu đồ, sơ đồ, bảng số liệu toongr hợp, định kỳ báo cáo có thể là tuần, tháng, quý. Còn báo cáo cho bộ phận nghiệp vụ tín dụng thì yêu cầu bản biểu chi tiết. * Nâng cao vai trò kiểm tra kiểm soát nội bộ. Nếu ngân hàng chỉ quan tâm đến mở rộng tín dụng mà không quan tâm đến kiểm tra kiểm soát thì chất lượng tín dụng sẻ giảm mà đối với tín dụng trung dài hạn với thời gian vốn vay dài, rủi ro rất dể xãy ra.Vì vậy công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ là nghiệp vụ tín dụng quan trọng để đảm bảo chất lượng tín dụng. Khi ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng thì công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ phải được nâng lên ở mức độ tương xứng. Cần có sư làm rõ trách nhiệm của bộ phận kiểm tra kiểm toán nội bộ trong chi nhánh đối với các dự án vay vốn. Trong quá trình kiểm tra giám sát, cán bộ giám sát tín dụng cần quan tâm hơn nữa đến các dấu hiệu cảnh báo rủi ro trong hoạt động tín dụng của chi nhánh như sự đánh giá và phân loại của cán bộ thẩm định không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng; việc cấp tín dụng dựa trên cam kết không chắc chắn và thiếu đảm bảo của khách hàng; tốc độ tăng trửng tín dụng quá nhanh vượt qua khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng; soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không rỏ ràng, không định rõ lịch Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 74
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng hoàn trả đối với từng khoản vay, cố ý thỏa hiệp nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có tiềm ẩn rủi ro; hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy định hiện hành về quy trình tín dụng và phê duyệt tín dụng. Như vậy công tác kiểm tra kiểm soát được đề cập không chỉ nhằm đơn thuần là kiểm tra khách hàng mà quan trọng hơn là phải kiểm tra giám sát việc làm của cán bộ ngân hàng. Nhằm giúp họ tuân thủ đầy đủ theo đúng quy định của nghiệp vụ, bảo đảm kinh doanh an toàn, hiệu quả theo dúng pháp luật. Để đạt được an toàn trong kinh doanh tiền tệ và tín dụng ngân hàng phải dựa vào công tác kiểm tra kiểm soát rất nhiều. Ngân hàng phải đặt ra việc kiểm tra đến với từng dự án vay, với từng khách hàng nhưng phải làm sao để tránh được sự phiền hà và tăng được sự an toàn về vốn và tài sản cho ngân hàng. Tăng cường và hoàn thiện công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của chi nhánh. Tất cả các cán bộ công nhân viên khác cũng như cán bộ lãnh đạo ngân hàng nhận thức đầy đủ và quan tâm đến công tác này thì chất lượng hoạt đông kinh doanh cũng như chất chất lượng tín dụng của ngân hàng mới được tăng lên. * Giám sát chặt chẽ các khoản nợ xấu Hoạt động ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro vì vậy bất cứ ngan hàng nào cũng khó tránh khỏi tình trạng nợ xấu. Năm 2009 nợ xấu toàn hệ thống …………………Để quản lý và thu hồi nợ xấu chi nhánh có thể : + Gia hạn nợ vay hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ đối với khách hàng gặp khó khăn và có nhu cầu xin điều chỉnh lại nợ. + Tài trợ thêm vốn nhằm hổ trợ khách hàng: Trường hợp dự án đầu tư của khách hàng đang gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc thu nợ và nguyên nhân chủ yếu là thiếu vốn và ngân hàng xét thấy dự án có thể phát triển tốt thì có thể xem xét vay thêm. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 75
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng + Hợp tác với chủ đầu tư, cử cán bộ có năng lực xuống tư vấn cho việc kinh doanh và điều hành cho đến khi khoản vay được hoàn trả. + Thanh lý , phát mại tài sản thế chấp trong trường hợp thấy rõ khả năng không thu được nợ từ khách hàng. Ngân hàng có thể lập ban xử lý và thu hồi nợ dưới sự chứng kiến xác nhân của cơ quan pháp luật. + Trường hợp không có tài sản đảm bảo thì thì ngân hàng nộp đơn yêu càu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp để thu hồi vốn từ thanh lý tài sản. Áp dụng biện pháp phá sản đối với doanh nghiệp cũng là bất đắc dĩ vì quy trình thủ tục phá sản rất phức tạp, khó khăn và mất thời gian. + Bán nợ cho các tổ chức có chức năng mua bán nợ chuyên nghiệp, đây là phương án xử lý nợ xấu nhanh nhất giúp ngân hàng thu hồi một phần vốn phục vụ cho nhu cầu và cơ hội kinh doanh mới . + Chuyển nợ thành vốn góp gắn với tái cấu trúc doanh nghiệp. Cách này chỉ áp dụng với các doanh nghiệp yếu kém về tài chính. Khi đã trở thành chủ sở hữu có thể hỗ trợ về tài chính để doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh. 3.2.7. Áp dụng và đổi mới công nghệ. Trong bất cứ mọi hoạt động về chính trị, xã hội hay kinh tế thì yếu tố công nghệ luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng. Với ngành ngân hàng điều đó càng được thể hiện một cách rõ nét. Những năm qua công nghệ ngành ngân hàng đã có sự phát triển rất nhanh. Nhờ có đổi mới công nghệ mà hệ thống ngân hàng đã đưa ra được nhiều dịch vụ mới như dịch vụ máy ATM, Internet Banking, Telephone Banking, ngân hàng trực tuyến…giúp tiết kiệm thời gian giao dịch và đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng. Để chất lượng dịch vụ được nâng cao đòi hỏi công nghệ của các ngân hàng phải không ngừng được cải tiến, hiện đại và nâng cấp để thực sự trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhân viên ngân hàng. Lựa chọn đúng công nghệ để ứng dụng trong lĩnh vực quản lý, hoạt động kinh doanh của ngân hàng có ý Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 76
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng nghĩa quyết định đến sự phát triển của các hoạt động dịch vụ, tăng quy mô vốn huy động một cách vững chắc, quyết định hiệu quả vốn đầu tư. Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp Lý Nhân đã bước áp dụng thành công chương trình IPCAS. Chương trình này là một hệ thống thanh toán nội bộ và kế toán khách hàng của NHNo & PTNT Việt Nam được xử lý trực tuyến tập trung nhằm giúp ngân hàng quản lý các giao dịch của khách hàng, lưu trữ chứng từ, xử lý số liệu và nhiều nghiệp vụ đơn lẻ khác. Sau một thời gian thực hiện khối lượng giao dịch của ngân hàng tăng lên rất nhanh, chất lượng quản lý cũng được cải thiện. 3.3. Kiến nghị 3.3.1 Kiến nghị với chính phủ Hoàn thiện các chính sách về kinh tế, pháp luật tạo môi trường thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế phát triển. Các chính sách của nhà nước phải thống nhất, phải rõ ràng, tránh mâu thuẫn gây khó khăn cho chủ thể thực hiện. Chính sách phải thể hiện được định hướng phát triển của đất nước. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 bắt đầu từ Mỹ và sau đó lan ra các nước khác đã ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tim kiếm các nguồn đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Số lượng hợp đồng mới ký kết rât thấp, thậm chí có những trường hợp hợp đồng đã ký kết nhưng bây giờ bị rút lại. Nhiều doanh nghiệp xuất nhập như chế biến thức ăn chăn nuôi, xuất khẩu nông sản phải vay ngân hàng mua nguyên vật liệu với giá cao thì nay giá giảm mạnh không bán được hoặc phải bán với giá thấp dẫn đến thua lỗ không trả được nợ. Trước những khó khăn này Nhà nước nên nhanh chóng hỗ trợ các doanh nghiệp. Trước mắt nhà nước đưa ra những chủ trương, chính sách để kích cầu giúp tiêu thụ sản phẩm giảm bớt nỗi lo cho doanh nghiệp. Gần đây Chính phủ đã ra quyết Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 77
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng định 443/QĐ – TTg ngày 4/4/2009 về hỗ trợ lãi xuất cho vay trung – dài hạn cho tổ chức, cá để thực hiện đầu tư mới phát triển sản xuất – kinh doanh, kết cấu hạ tầng. Lãi suất hộ trợ là 4% /năm, thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất tối đa 24 tháng, việc hỗ trợ lãi suất được thực hiện từ ngày 1/4/2009 đến ngày 31/12/2011. Như vậy cần nhanh chóng triển khai quyết định này để các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế. Đẩy mạnh quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn Về nông nghiệp, Nhà nước cần có chiến lược phát triển nông thôn phù hợp, quy hoạch vùng sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi, hỗ trợ về giá để người sản xuất an tâm bỏ công sức và vốn đầu tư. Điều chỉnh chính sách ruộng đất, hợp pháp hóa quyền sử dụng đất lâu dài đối với người nông dân; Tránh việc giao khoán ruộng đất cho nông dân một cách manh mún, làm ruộng đất bị xé lẻ, cản trở việc phát triển sản xuất quy mô lớn; nhất quán trong việc nhận quyền sử dụng đất làm tái sản thế chấp vay vốn ngân hàng. Chính sách thuế, nhất là thuế nông nghiệp cần tạo nhiều ưu đãi để khuyến khích người dân đầu tư sản xuất. Các loại thuế về nhập khẩu vật tư, phân bón máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp cần được ưu đãi hơn nữa để khuyến khích đầu tư cải tiến sản xuất. 3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước. Với chức năng quản lý Nhà nước các hoạt động về tiền tệ và ngân hàng, Ngân hàng nhà nước có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, tạo ra môi trường kinh tế lành mạnh giúp hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả. Thứ nhất: Hoàn thành hệ thống văn bản, đơn giản hóa quy chế cho vay trong hành lang pháp lý cho mọi hoạt động của NHTM. Trong bối cảnh đất nước có nhiều rủi ro như hiện nay, các ngân hàng quá chú trọng đến mức độ an toàn và tuân thủ cứng nhắc các thủ tục. Đối với các thủ tục Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 78
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng vay vốn, ngân hàng thẩm định kỹ hơn, xem xét kỹ hơn các báo cáo tài chính, lịch sử thanh toán, khả năng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, thu nhập tương lai…Vậy nên NHNN cần sớm tinh giản hóa các điều kiện cho vay sao cho vẫn an toàn mà tiện ích. Thứ hai: Ngân hàng nhà nước cần có những biện pháp đồng bộ để ổn định tiền tệ. Theo số liệu thống kê……………………………… ,giá vàng lên xuống không ổn định làm ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội. Một trong những chính sách đồng bộ cho phát triển kinh tế Việt Nam là chính sách tiền tệ. Ổn định tiền tệ đảm bảo cho sự phát triển kinh tế giữ được tốc độ tăng trưởng nhịp nhàng hằng năm và tỷ lệ lạm phát ở mức độ hợp lý. Khi ổn định tiền tệ sẽ có tác động rất lớn đến hoạt động cho vay trung dài hạn. Đồng thời tạo tâm lý cho người dân yên tâm gửi tiền vào ngân hàng với thời hạn dài.Từ đó làm tăng tỷ lệ vốn tín dụng trung dài hạn trong các ngân hàng. Ổn định tiền tệ giúp cho khách hàng và ngân hàng tránh được rủi ro về tỷ giá khi phải vay nợ bằng ngoại tệ hạn chế rủi ro trong cho vay, từ đó ngân hàng sẽ mạnh dạn hơn để cho vay trung dài hạn. Thứ ba: Hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên quan đến các hoạt động của NHTM. Hệ thống thông tin hiện nay chưa thực sự đầy đủ thiếu chính xác và không mang tín thời sự. Thông tin tín dụng là một vấn đề thiết yếu không thể thiếu đối với mỗi ngân hàng thương mại. Vì vậy nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) nhằm giúp cho các NHTM trong việc thu thập thông tin, đưa ra quyết định chính xác, phù hợp. Thứ tư: Cải tiến và tăng cường hoạt động thanh tra ngân hàng. Nội dung thanh tra cần tập trung vào các vấn đề: chất lượng tài sản có mà cụ thể là chất lượng các khoản cho vay; các yêu cầu về vốn theo quy định; chất lượng quản lý và kinh doanh nhân sự; lợi nhuận và khả năng sinh lời; khả năng thanh khoản và Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 79
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng tính thanh khoản. Nội dung thanh tra cần xây dựng các bảng điểm đánh giá. Dựa vào thang điểm đánh giá, NHNN đưa ra các biện pháp kịp thời nhắc nhở đối với các ngân hàng có mức điểm dưới chuẩn. Công tác thanh tra phải được tiến hành bất ngờ để đánh giá chính xác tình hình hoạt động của ngân hàng 3.3.3. Kiến nghị với NHNo & PTNT Việt Nam. Ngân hàng nông ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là một ngân hàng thương mại nhà nước với nhiều lợi thế so sánh : quy mô nguồn vốn lớn, mạng lưới hoạt đông rộng khắp các địa bàn toàn quốc, có được mối quan hệ truyền thống với khách hàng. Ngân hàng đang có điều kiện để khẳng định giữ vị trí then chốt tại địa bàn nông nghiệp, nông thôn; là một kênh cung cấp vốn tín dụng và dịch vụ thanh toán chủ yếu trong tiến trình hiên đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.Với vai trò quan trọng như vậy ngân hàng phải không ngừng đổi mới và nâng cao đáp ứng nhu cầu cáp thiết của nền kinh tế. Hoàn thiện cơ chế đảm bảo tiền vay. Khi khách hàng có nhu cầu đến vay ngân hàng luôn đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo.Đây là nguồn thu nợ thứ hai trong trường hợp khác hàng không trả dược nợ.Tuy nhiên, việc định giá tài sản đảm bảo đôi khi thực hiện một cách chiếu lệ và mang tính thủ tục đặc biệt đối với công trình xây dựng hoặc dây chuyền máy móc thiết bị.Ngân hàng không phải lúc nào cũng có thể hỏi ý kiến của các tổ chức định giá chuyên nghiệp.Vì vậy ngân hàng cần phải hoàn thiện cơ chế đảm bảo tiền vay. Để thực hiện đúng quy định về biện pháp bảo đảm tiền vay, đảm bảo an toàn hiệu quả cần thực hiện các giải pháp sau đây: - Các chi nhánh cần phải tuân thủ các điều kiện quy định của ngân hàng nhà nước về biện pháp bảo đảm tiền vay tương ứng . Tuy nhiên để thực hiện tốt yêu cầu trên, các chi nhánh cần phải có biện pháp tích cực nhằm hạn chế tính chủ quan trong quyết định lựa chọn, đặc điểm kiên quyết xử lý đối với những hành vi thông đồng với khách hàng. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 80
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Để có được một biện pháp bảo đảm tiền vay khôn phù hợp với từng loại khách hàng cụ thể mà đảm bảo an toàn hiệu quả, trước hết các chi nhánh cần phải có sự tính toán đầy đủ, đồng bộ và cân nhắc chính xác các yếu tố như tình hình sản xuát kinh doanh, khả năng tài chính, hiệu quả của dự án, tài sản đảm bảo, mối quan hệ tín dụng trên cơ sở có sự phù hợp, kiểm tra,đối chiếu thực tế sau đó phân ra từng loại khách hàng để có chính sachs ưu tiên hợp lý. Mở rộng thêm các chi nhánh Cũng cố và mở rộng hệ thống mạng lưới các chi nhánh phục vụ nông nghiệp, nông thôn theo hướng gần dân, phục vụ trực tiếp và có hiệu quả của các nhu cầu vay vốn. Hiện nay các chi nhánh vẫn tập trung chủ yếu ở các thành phố, các đô thi nên ngân hàng cân mở rộng thêm các chi nhánh ở vùng sâu vùng xa để tiết kiêm thời gian, giảm bớt các chi phí di lại cho người dân. Tăng cường hỗ trợ về công nghệ kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các chi nhánh Để góp phần nâng cao uy tín hình ảnh, NHNo&PTNT Việt Nam phải không ngừng đổi mới kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất khang trang tạo niềm tin cho khách hàng.Với mạng lưới hoạt động trải rộng trên toàn quốc và phân nhiều cấp, ngân hàng phải lựa chon các phương án kỹ thuật nghiệp vụ cũng như phương án triển khai phù hợp. Hiện nay trình độ cán bộ tại các chi nhánh không đồng đều, một số còn hạn chế nên khi tiếp nhận và vận hành các hệ thống kỹ thuật mới còn nhiều lúng túng, nhầm lẫn. Để việc triển khai hệ thống kỷ thuật tới các chi nhánh đạt hiệu quả cao, cần tổ chức đào tạo thật kỹ lưỡng về các chức năng cũng như quy trình vận hành hệ thống cho một đội ngũ cán bộ các chi nhánh,bồi dưỡng thành lực lượng nòng cốt trong quá trình tiếp nhạn vạn hành hệ thống tại chi nhánh, hạn chế tối đa sai sót do người vận hành gây ra. Trong quá trình chuẩn bị triển khai các công nghệ mới cần phải lưu ý khâu chuẩn bị và kiểm Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 81
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng tra, khi thực hiện phải tăng cường báo cáo kết quả để có những giải pháp phù hợp. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 82
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng KẾT LUẬN Thông qua việc nghiên cứu lý luận về các các vấn đề cho vay trung dài hạn nói chung và việc phân tích thực trạng giải quyết các nội dung của hoạt động cho vay trung dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT huyện Lý Nhân nói riêng, ta thấy được sự chuyển biến đi lên đúng hướng của ngân hàng trong công cuộc đổi mới của đất nước theo hướng công nghiêp hóa- hiện đại hóa. Bước đầu ngân hàng đã tìm cho mình các giải pháp và bước đi thích hợp cho các hoạt động nhằm tạo ra sự thích ứng ngày càng cao của ngân hàng đối với nền kinh tế. Để ngân hàng vũng chắc đi lên hơn nữa thì nhất thiết ngân hàng cần phải có những nỗ lực hơn nữa trong vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đât nước. Nhất là trong điều kiện hiện nay chất lượng và hiệu quả cho vay được đặt lên hàng đầu và là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư. Việc tuân thủ các nguyên tắc cho vay, điều hành vốn vay có ý nghĩa rất quan trọng. Nhưng an toàn đồng nghĩa với dè dặt, cẩn thận, vì vậy để mở rộng quy mô phải mạnh dạn, đảm bảo đúng nguyên tắc cho vay nhưng không quá gò bó, nguyên tắc. Mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay trung – hạn để đáp ứng nhu cầu phát triển của ngân hàng, là mục đích cơ bản trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang có những chuyển biến và phát triển không ngừng. Hơn nữa đó là hình thức để đổi mới trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho phù hợp với yếu tố khách quan. Trên đây là những kiến thức về lý luận cũng như thực tế đề cập trong khóa luận này. Tuy nhiên, đây là một vấn đè hết sức phức tạp, rộng lớn mà bản thân em, khả năng nghiên cứu và tìm hiểu thực tiễn còn có hạn chế nhất định. Vì vậy, em mong nhận được sự đóng góp cũng như ý kiến phê bình của các thầy cô, các Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 83
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng anh chị phòng tín dụng chi nhánh NHNo&PTNT huyện Lý Nhân để bài khóa luận của em hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của TS.Đỗ Thị Hồng Hạnh, các thầy cô giáo trường Học viện ngân hàng, Ban lãnh đạo chi nhánh NHNo&PTNT huyện Lý Nhân, các anh chị đang làm việc tại chi nhánh đã giúp đỡ em hoàn thiện khóa luận này. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 84
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Đỗ Thị Hồng Hạnh đã giúp đỡ và hướng dẫn em tận tình trong suốt thời gian viết khóa luận, tạo cho em những tiền đề, những kiến thức để tiếp cận vấn đề, phân tích giải quyết vấn đề. Nhờ đó mà em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình được tốt hơn. Em cũng xin cảm ơn các bác,cô chú, anh chị trong chi nhánh NHNo&PTNT Lý Nhân – Hà Nam đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại cơ sở, tạo cho em hiểu thêm về những kiến thưc thực tế tại ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ ngân hàng, công tác tín dụng. Những kiến thức mà em được học hỏi là hành trang ban đầu cho quá trình làm việc của em sau này. Em xin gửi tới mọi người lời chúc thành công trên con đường sự nghiệp của mình. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 85
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan khóa luận “ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam” là công trình nghiên cứu của riêng em. Các số liệu, thông tin nêu trong khóa luận là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị nơi em thực tập. Nếu có dấu hiệu sai lệch em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hà Nội, tháng 6 năm 2010 Sinh viên thực hiện Nguyền Thị Thanh Hương. Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 86
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN………………………………………………………………... 1.1. Tín dụng ngân hàng………………………………………………………… 1.1.1. Khái niệm về tín dụng …………………………………………………….. 1.1.2. Đặc trưng về về tín dụng ngân hàng………………………………………. 1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng…………………………………………… 1.1.4. Phân loại tín dụng ngân hàng………………………………………………. 1.2. Tín dụng trung - dài hạn…………………………………………………… 1.2.1. Khái niệm tín dụng trung - dài hạn…………………………………………. 1.2.2. Đặc trưng của tín dụng trung - dài hạn…………………………………… 1.2.3. Vai trò của tín dụng trung – dài hạn……………………………………… 1.2.4. Các loại tín dụng trung – dài hạn………………………………………… 1.3. Nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn……………………………. 1.3.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng…………………………………………. 1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn……………. 1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung – dài hạn………………… 1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung – dài hạn…………... CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NHNO & PTNT HUYỆN LÝ NHÂN – TỈNH HÀ NAM…… 2.1. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh NHNo & PTNT Lý Nhân… 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển……………………………………………. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức……………………………………………………………… 2.1.3. Hoạt động của chi nhánh giai đoạn 2007 – 2009…………………………… 2.2. Thực trạng tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT Lý Nhân... 2.2.1. Dư nợ tín dụng trung – dài hạn……………………………………………... Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 87
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng 2.2.2. Doanh số cho vay và thu nợ trung – dài hạn………………………………... 2.2.3. Tình hình nợ quá hạn……………………………………………………….. 2.3. Đánh giá kết quả tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT Lý Nhân……………………………………………………………………………….. 2.3.1. Kết quả đạt được……………………………………………………………. 2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại…………………………………. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG – DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NHNO & PTNT LÝ NHÂN 3.1. Định hướng hoạt động của ngân hàng………………………………………... 3.1.1. Định hướng hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT Lý Nhân năm 2010 3.1.2. Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động của chi nhánh……………… 3.1.3. Mục tiêu và phương hướng phát triển……………………………………. 3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại chi nhánh NHNo & PTNT Lý Nhân…………………………………………………………………. 3.2.1. Tăng cường hoạt động nguồn vốn trung - dài hạn…………………………. 3.2.2. Xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng phù hợp………………………. 3.2.3. Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng 3.2.4. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng………………………………. 3.2.5. Đa dạng hóa các hình thức cho vay và mở rộng quan hệ khách hàng……… 3.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và quản lý nợ…………………… 3.2.7. Áp dụng và đổi mới công nghệ……………………………………………... 3.3. Kiến nghị……………………………………………………………………… 3.3.1. Kiến nghị với chính phủ……………………………………………………. 3.2.3. Kiến nghị với NHNN………………………………………………………. 3.3.3. Kiến nghị với NHNo & PTNT Việt Nam…………………………………. KẾT LUẬN…………………............................................................................... TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 88
  • Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Cụm từ viết tắt Cụm từ đầy đủ NHNo & PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn NHNN Ngân hàng nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại DN Doanh nghiệp QD Quốc doanh HTX Hợp tác xã GĐ - CN Gia đình – cá nhân CN - XD Công nghiệp – xây dựng TM - DV Thương mại – dịch vụ T - DH Trung- dài hạn TGKBNN Tiền gửi kho bạc nhà nước TGTCTD Tiền gửi tổ chức tín dụng TGTCKT Tiền gửi tổ chức kinh tế TGTT Tiền gửi thanh toán KP, TP Kỳ phiếu, trái phiếu NVHĐ Nguồn vốn huy động Nguyễn Thị Thanh Hương Lớp LTCĐ 4A 89