• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Tailieu.vncty.com   da dang-dinh_hoc_bao_ton_9274
 

Tailieu.vncty.com da dang-dinh_hoc_bao_ton_9274

on

  • 77 views

http://tailieu.vncty.com

http://tailieu.vncty.com

Statistics

Views

Total Views
77
Views on SlideShare
71
Embed Views
6

Actions

Likes
0
Downloads
0
Comments
0

1 Embed 6

http://tailieu.vncty.com 6

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Tailieu.vncty.com   da dang-dinh_hoc_bao_ton_9274 Tailieu.vncty.com da dang-dinh_hoc_bao_ton_9274 Document Transcript

    • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM.TPHCM KHOA MÔI TRƯỜNG. ĐỀ TÀI: .ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN Giảng viên hướng dẫn : TS. LÊ QUỐC TUẤN Sinh viên thực hiện MSSV -Đặng Minh Hùng 11149632 -Đinh Quang Cường 11149612 -Lê Phi Hùng 11149559 -Nguyễn Văn Quyết 11149656 -Nguyễn Văn Phương 11149572 -Nguyễn Thanh Tùng 11149593 -Rah Lan Gia Kơ 11149561 LỚP : QM 11 NHÓM : III - 1 -
    • Đa dạng sinh học Mục lục Chương I:Đặt vấn đề Tại sao phải nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Việt Nam ? Chương II:Nội Dung I.KHÁI NIỆM ĐA DẠNG SINH HỌC II. PHÂN LOẠI ĐA DẠNG SINH Mức độ đa dạng sinh học +Đa dạng về các hệ sinh thái +Đa dạng về loài +Đa dạng về nguồn gen +Đặc trưng của đa dạng hệ sinh thái Việt Nam III. VAI TRÒ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC IV.GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC V.THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC VI. NGUYÊN NHÂN LÀM GIÃM ĐA DẠNG SINH HỌC HIỆN NAY +Sự suy giảm/biến mất đa dạng sinh học +Nguyên nhân +Hậu quả VIII. HÌNH THỨC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC - 2 -
    • Chương I: Đặt vấn đề Đa dạng sinh học Tại sao phải nghiên cứu về đa dạng sinh học tại Việt Nam? Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2 , Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lược quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu ... của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđo-Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002-Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và Phát triển kinh tế). Cụ thể:trong các hệ sinh thái trên cạn, đã thống kê và xác định được trên 13.200 loài thực vật, khoảng 10.000 loài động vật. Trong các vùng đất ngập nước nội địa, đã xác định được trên 3.000 loài thuỷ sinh vật. Môi trường biển với 20 kiểu hệ sinh thái đặc thù, đặc trưng cho biển nhiệt đới và là môi trường sống của trên 11.000 loài sinh vật biển. Khoảng hai thập kỷ gần đây, rất nhiều loài động, thực vật mới được phát hiện và mô tả, trong đó có nhiều chi và loài mới cho khoa học; đặc biệt là các loài thú và các loài cây thuộc họ Lan. Hiện nay nhiều loài động, thực vật mới vẫn được tiếp tục phát hiện và công bố ở Việt Nam. - 3 -
    • Đa dạng sinh học trên cạn Ở Việt Nam, các hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật không chỉ đóng vai trò quan trọng của nền kinh tế và văn hoá của đất nước, thể hiện ở các giá trị chính là bảo vệ thiên nhiên và môi trường (giá trị về chức năng sinh thái); kinh tế (giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp); và văn hóa, xã hội. ĐDSH đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc gia, là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực; duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dược liệu…. Mà đa dạng sinh học còn có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ước tính giá trị của tài nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la mỗi năm (Constan Za et al-1997). Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la (Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam-1995). Đa dạng sinh học dưới biển Đa dạng sinh học là cơ sở của mọi sự sống để tạo dựng nên sự phồn vinh của loài người. Việt Nam cũng giống như các dân tộc trên hành tinh này, 54 cộng đồng các dân tộc anh em sống trên lãnh thổ Việt Nam qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước đã từng sớm biết lựa chọn, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có DDSH. Thực vậy, trong cuộc sống, để tồn tại và phát triển loài người luôn luôn phải dựa trên cơ sở hai - 4 -
    • nguồn năng lượng chính mà thiên nhiên phải mất đi hàng triệu triệu năm để hình thành. Đó là: 1- Năng lượng hoá thạch là nguồn tài nguyên không tái tạo được, vì vậy phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm. 2- Đa dạng sinh học là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo. Nhưng không phải là vô hạn. Tuy nhiên, thay vì bảo tồn nguồn tài nguyên này, dưới danh nghĩa phát triển kinh tế,chúng ta đang khai thác quá mức và phí phạm nguồn tài nguyên quý giá này làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần. Do đó,nếu biết sử dụng đúng mức và quản lý tốt,nguồn tài nguyên sinh học của Việt Nam có thể trở thành nguồn tài nguyên tái tạo rất có giá trị. Biểu đồ về đa dạng sinh học tại Việt Nam : Tại sao nhóm chúng em lại tiến hành thực hiện đề tài này? Nhóm chúng em thực hiện đề tài này để nhằm phục vụ mục đích học tập, hiểu thêm về đa dạng sinh học tại Việt Nam, thực trạng việc khai thác sử dụng, nguyên nhân gây mất đa dạng sinh học ở Việt Nam,các biện pháp bảo vệ và khắc phục… - 5 -
    • Chương II I/ Khái niệm đa dạng sinh học Giới thiệu: Đa dạng sinh học là một mạng lưới các loài thực vật, động vật, côn trùng, vi sinh vật sống trên trái đất. Cuộc sống con người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào đa dạng sinh học vì các nhu cầu thiết yếu Đa dạng sinh học duy trì sự bền vững lâu dài, sự sống trên trái đất và sự toàn vẹn của chính nó Vậy đa dạng sinh học là gì? Khái niệm: Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên bao gồm sự đa dạng bên trong của các loài vật và sự đa dạng của các hệ sinh thái (định nghĩa được đưa ra tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về môi trường và phát triển 1992). Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ: • Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm. • Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. • Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống và các hệ sinh thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau. II/Phân loại đa dạng sinh học Mức độ đa dạng sinh học Phân hóa đa dạng sinh học toàn cầu - 6 -
    • 1. Đa dạng sinh học ở Việt Nam 1.1. Đa dạng về các hệ sinh thái (HST) Khái niệm HST: HST là hệ các quần xã sinh vật sống chung và phát triển trong cùng một môi trường nhất định, tương tác với nhau và với môi trường đó thông qua chu trình trao đổi năng lượng và vật chất. Ví dụ: Một cái ao, hồ, một khúc sông, khu rừng, đồng cỏ, một cánh đồng, một làng, thành phố …. gồm các sinh vật và môi trường của nó đều được coi là HST. - Phân chia chức năng của HST: Căn cứ vào vị trí, vai trò, chức năng và yêu cầu của kinh tế, xã hội môi trường có thể chia 4 loại hình HST chính như sau: - HST nơi cư trú - HST làm chức năng sản xuất - HST cần được bảo tồn - HST phục vụ cho nghỉ ngơi, giải trí, văn hoá – xã hội … HST trên đất liền: HST công nghiệp – đô thị; HST nông nghiệp; HST rừng; HST savan, đồng cỏ;HST khô cạn; HST núi đá vôi. HST dưới nước: HST đất ngập nước: hồ, ao, đầm phá …, HST sông, suối, HST ven biển, các đảo, HST biển và đại dương, HST rừng ngập mặn. Mỗi một kiểu HST đều mang trên mình những đặc trưng riêng về các yếu tố môi trường tự nhiên, xã hội, cầu trúc thành phần loài, đặc điểm phân bố và biến đổi số lượng của quần thể theo thời gian, không gian. Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong tự nhiên của Việt Nam hiện nay tập trung ở 3 hệ sinh thái (HST) chính là: HST trên cạn ( HST rừng), HST đất ngập nước và HST biển. i) Hệ sinh thái đất ngập nước Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp". Hệ sinh thái đất ngập nước rất đa dạng, theo đánh giá của Viện Điều tra quy hoạch rừng (1999) có 39 kiểu đất ngập nước, bao gồm: - Đất ngập nước tự nhiên 30 kiểu - Đất ngập nước ven biển 11 kiểu - Đất ngập nước nội địa 19 kiểu - Đất ngập nước nhân tạo 9 kiểu Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển. Trong đó có một số kiểu có tính ĐDSH cao: - Rừng ngập mặn ven biển: Rừng ngập mặn có các chức năng và giá trị như cung cấp các sản phẩm gỗ, củi, thủy sản và nhiều sản phẩm khác; là bãi đẻ, bãi ăn và ương các loài cá, tôm, cua và các loài thủy sản có giá trị kinh tế khác; xâm chiếm và cố định các bãi bùn ngập triều mới bồi, bảo vệ bờ biển chống lại tác động của sóng biển và bão tố ven biển; là nơi cư trú cho rất nhiều loài động vật hoang dã bản địa và di cư (chim, thú, lưỡng cư, bò sát). - 7 -
    • Quần thể thực vật ở rừng ngập mặn đều phải chịu được điều kiện nước mặn hòa với nước ngọt nên rất phong phú và đa dạng - Đầm lầy than bùn: đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á. U Minh thượng và U Minh hạ thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau là hai vùng đầm lầy than bùn tiêu biểu còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Vùng sông nước U Minh Hạ - Đầm phá: thường thấy ở vùng ven biển Trung bộ Việt Nam. Do đặc tính pha trộn giữa khối nước ngọt và nước mặn nên khu hệ thủy sinh vật đầm phá rất phong phú bao gồm các loài nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá thay đổi theo mùa rõ rệt. - 8 -
    • TamGiang-CầuHailàhệđầmphálớnnhấtViệtNam - Rạn san hô, cỏ biển: đây là các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng biển ven bờ, đặc biệt rạn san hô đặc trưng cho vùng biển nhiệt đới. Quần xă rạn san hô rất phong phú bao gồm các nhóm động vật đáy (thân mềm, giáp xác), cá rạn. Thảm cỏ biển thường là nơi cư trú của nhiều loại rùa biển và đặc biệt loài thú biển Dugon. Rạng san hô Việt Nam - Vùng biển quanh các đảo ven bờ: ven bờ biển Việt Nam có hệ thống các đảo rất phong phú. Vùng nước ven bờ của hầu hết các đảo lớn được đánh giá có mức độ ĐDSH rất cao với các hệ sinh thái đặc thù như rạn san hô, cỏ biển... - 9 -
    • Biển và đảo ngày càng có vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị... Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long: - ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha. Đây là nơi tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim nước. - ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684 ha. Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng nguồn sông Mê Công. Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng là những vùng có tiềm năng sản xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở đồng bằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và hệ sinh thái cửa sông. Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của měnh. Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên. - 10 -
    • Một số hình ảnh về Hệ sinh thái đất ngập nước khác: Đất ngập nước tự nhiên (Đồng bằng sông Cửu Long) Đất ngập nước ven biển (Thừa Thiên Huế) - 11 -
    • Đất ngập nước nhân tạo ( Đất ngập nước xử lí nước mưa đô thị) ii) Hệ sinh thái biển Việt Nam có vùng lãnh hải gắn với bờ biển rộng khoảng 226.000 km2 . Do vậy hệ sinh thái biển cũng rất phong phú, có 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, có tính đa dạng sinh học và năng suất sinh học cao.Trong vùng biển nước ta đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong các vùng đa dạng sinh học biển khác nhau. Thành phần quần xã trong hệ sinh thái giàu, cấu trúc phức tạp, thành phần loài phong phú. Đây là môi trường sản xuất thuận lợi và rộng lớn gắn chặt với đời sống của hàng triệu cư dân sống ven biển của Việt Nam. Một số hình ảnh về hệ sinh thái biển - 12 -
    • iii) Hệ sinh trên cạn Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã và vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học. Các kiểu hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn. Kiểu hệ sinh thái nông nghiệp và khu đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài sinh vật nghèo nàn. Các hệ sinh thái của rừng Việt Nam rất đa dạng, mỗi hệ sinh thái rừng thực chất là một phức hệ rất phức tạp, được vận hành và chi phối bởi các quy luật nội vi và ngoại vi. Xét theo tính chất cơ bản là thảm thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng kín vùng thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao. Trong đó, các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật sau đây có tính ĐDSH cao hơn và đáng chú ý hơn cả: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu phụ rừng trên núi đá vôi có giá trị đa dạng sinh học cao và có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam. Tuy nhiên,diện tích rừng của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn biến động khác nhau. Theo thống kê của tác giả Paul Maurand (1943), năm 1943 Việt Nam có diện tích rừng là 14,3 triệu hecta, đạt tỷ lệ che phủ lãnh thổ là 43%. Từ năm 1943-1975, diện tích rừng đã bị suy giảm còn 11,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ là 34% (Viện Điều tra quy hoạch rừng, năm 1976). Giai đoạn 1976 đến 1990 là thời kỳ tài nguyên rừng bị khai thác mạnh để phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước sau chiến tranh. Diện tích rừng trong giai đoạn này tiếp tục giảm xuống, diện tích rừng năm 1990 chỉ còn chưa đầy 9,2 triệu hecta với tỷ lệ che phủ chỉ đạt 27,8%. Giai đoạn 1990 đến nay Chính phủ đã có nhiều biện pháp về chính sách và đầu tư nên diện tích rừng đã dần được phục hồi kể cả diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng. Năm 2005, diện tích rừng đã đạt trên 12,6 triệu hecta với độ che phủ 37%. - 13 -
    • Bảng 1: Diễn biến diện tích và độ che phủ rừng qua các thời kỳ Năm Diện tích rừng (1000 ha) Độ che phủ (%) Ha/Đầu ngườiTổng cộng Rừng tự nhiên Rừng trồng 1943 14.300,0 14.300,0 0 43,2 0,57 1976 11.169,3 11.169,7 92,6 33,7 0,31 1980 10.683,0 10.180,0 422,3 32,1 0,19 1985 9.891,9 9.308,3 583,6 30,0 0,14 1990 9.175,6 8.430,7 744,9 27,8 0,12 1995 9.302,2 8.252,5 1.049,7 28,2 0,12 2000 10.915,6 9.444,2 1.491,4 33,2 0,14 2002 11.784,6 9.865,0 1.919,6 35,8 0,14 2003 12.095,0 10.005,0 2.090,0 36,1 0,14 2004 12.306,9 10.088,3 2.218,6 36,7 0,15 2005 12.616,7 10.283,2 2.333,5 37,0 0,15 Nguồn: Viện Điều tra Quy hoạch Rừng và Cục Kiểm lâm Do nhiều nguyên nhân đã làm cho diện tích rừng tự nhiên bị giảm sút trong thời gian qua đã kéo theo sự suy giảm về đa dạng sinh học đối với các hệ sinh thái rừng nói chung. Các hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên các hệ sinh thái này hiện nay cũng đang đối mặt với nhiều thách thức chủ yếu từ các hoạt động kinh tế xã hội của con người và những biến động của sự thay đổi khí hậu của trái đất. Diện tích rừng tự nhiên đang có chiều hướng suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Môi trường biển cũng đang bị tác động bới các hoạt động khai thác tài nguyên như dầu khí, hải sản và cả ô nhiễm v.v. Một số hình ảnh về đa dạng hệ sinh thái rừng Hệ sinh thái rừng ngập úng ( U Minh Hạ ) - 14 -
    • Hệ sinh thái rừng ngập úng ( U Minh Thượng ) Rừng trên núi đá vôi ở việt nam (rừng Cúc Phương) - 15 -
    • Rừng ẩm thường xanh (Rừng Tây Nguyên) - 16 -
    • 1.2. Đa dạng về loài a/Đa dạng loài trên thế giới Thế nào là loài (Species)? Loài là một taxon của mỗi nhóm cá thể, có quan hệ họ hàng gần nhau, có khả năng trao đổi thông tin di truyền, tức là giao phối lẫn nhau tạo thành các thế hệ trong quần thể. Các nhà khoa học đã ước tính về sự đa dạng loài có khoảng từ 5.443.644 đến 33.392.485 loài. Đây là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo vô cùng quí giá, là tiềm năng rất lớn quyết định sự sống còn của nhân loại. Nhóm sinh vật Số lượng loài đã được miêu tả (%) Số lượng loài ước tính (%)* Động vật chân khớp 1,065,000 (61%) 8,900,000 (65%) Thực vật ở cạn 270,000 (15%) 320,000 (2%) Protoctists 80,000 (5%) 600,000 (4%) Nấm 72,000 (4%) 1,500,000 (11%) Thân mềm 70,000 (4%) 200,000 (1%) Động vật có dây sống 45,000 (3%) 50,000 (<1%) Giun tròn 25,000 (1%) 400,000 (3%) Vi khuẩn 4,000 (<1%) 1,000,000 (7%) Vi rut 4,000 (<1%) 400,000 (3%) Nhóm khác 115,00 (7%) 250,000 (2%) Total 1,750,000 (100%) 13,620,000 (98%) Thành phần đa dạng sinh học của trái đất. - 17 -
    • Trong những năm qua, cùng với những nổ lực về bảo tồn đa dạng sinh học, công tác điều tra nghiên cứu về đa dạng sinh học cũng được nhiều cơ quan Việt Nam cũng như các tổ chức quốc tế thực hiện. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thành phần loài động, thực vật, các hệ sinh thái đặc trưng. Các kết quả nghiên cứu được tập hợp từ các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu cho thấy: Bảng 2- Thành phần loài sinh vật đã biết được cho đến nay TT Nhóm sinh vật Số loài đã xác định được 1 Thực vật nổi 1.939 - Nước ngọt 1.402 - Biển 537 2 Rong, tảo 697 Nước ngọt Khoảng 20 Biển 682 Cỏ biển 15 3 Thực vật ở cạn 13.766 Thực vật bậc thấp 2.393 Thực vật bậc cao 11.373 4 Động vật không xương sống ở nước 8.203 Nước ngọt 782 Biển 7.421 5 Động vật không xương sống ở đất khoảng 1.000 6 Côn Trùng 7.750 7 Cá 2.738 Nước ngọt 700 Biển 2.038 8 Bò sát 296 Rắn biển 50 Rùa biển 4 9 Lưỡng cư 162 10 Chim 840 11 Thú 310 Thú biển 16 Nguồn: Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật,2005 b/Đa dạng loài tại Việt Nam Việt Nam là một quốc gia xếp thứ 16 trên thế giới về tính đa dạng sinh học Cụ thể: Đa dạng về thực vật ở Việt Nam. Khu hệ thực vật: Do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới,cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao.Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ, hệ thực vật rừng Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng loại. Theo các tài liệu đã công bố, hệ thực vật nước ta gồm khoảng 11.373 loài thực vật bậc cao - 18 -
    • có mạch, khoảng 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo và 826 loài nấm. Theo dự báo của các nhà thực vật học, số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽ lên đến 15.000 loài.Hệ thực vật Việt Nam có độ đặc hữu cao. Phần lớn số loài đặc hữu này (10%) tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở Bắc Trung Bộ. Nhiều loài là đặc hữu địa phương chỉ gặp trong vùng rất hẹp với số các thể rất thấp Cây đa Bác Hồ ở thôn Ngòi Đa dạng về động vật ở Việt Nam  310 loài thú  840 loài chim( 100 loài đặc hữu)  286 loài bò sát  82 loài lưỡng cư  52 loài tôm ( 27 loài đặc hữu)  547 loài cá nước ngọt ( 35 loài đặc hữu)  2038 loài cá biển  7750 loài côn trùng Các loại trên cạn va các loại nước ngọt Khu hệ động vật cũng hết sức phong phú. Hiện đã thống kê được 310 loài và phân loài thú, 840 loài chim, 286 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, khoảng 547 loài cá nước ngọt và 2.000 loài cá biển và hàng vạn loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và nước ngọt. Hệ động vật Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo, đại diện cho vùng Đông Nam Á.Cũng như thực vật giới, động vật giới Việt Nam có nhiều loài là đặc hữu: hơn 100 loài và phân loài chim và 78 loài và phân loài thú là đặc hữu. Có rất nhiều loài động vật có giá trịthực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như voi, Tê giác, Bò rừng, Hổ, Báo, Voọcvá, Voọc xám, Trĩ, Sếu, Cò quắm. Trong vùng phụ Đông dương có 21 loài khỉ thì ở Việt Nam có 15 loài, trong đó có 7 loài đặc hữu của vùng phụ này. Có 49 loài chim đặc hữu cho vùng phụ thì ở Việt Nam có 33 loài, trong đó có 11 loài là đặc hữu của Việt Nam; trong khi MiếnĐiện, Thái - 19 -
    • Lan, Mã Lai, Hải Nam mỗi nơi chỉ có 2 loài, Lào 1 loài và Campuchia không có loài đặc hữu nào. Một số hình ảnh về đa dạng về động vật tại Việt Nam Hổ ,báo, Voọcvá, Cò quắm tại Việt Nam Ngoài ra,cho đến nay đă thống kê được 307 loài giun tròn, 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất, 145 loài ve giáp, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng… Trong rừng nhiệt đới đã phát hiện được 1200 loài bọ cánh cứng và 80% trong số đó là các loài mới cho khoa học. Có ít nhất 6 triệu>>9 Triệu loài động vật chân khớp tại Việt Nam và có thể lên tới 30 triệu loài. Nhưng chỉ có một phần nhỏ được mô tả.Một diện tíc 1m2 có thể lên tới 200000 con rệp và hàng chục nghìn ĐVKXS khác. - 20 -
    • Một số hình ảnh về động vật không sương sống tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia có diện tích nước ngọt bề mặt lớn với 653 nghìn hecta sông ngòi, 394 nghìn hecta hồ chứa, 85 nghìn hecta đầm phá ven biển, 580 nghìn hecta ruộng lúa nước. Ngoài ra, ở đồng bằng sông Cửu Long, hằng năm có khoảng 1 triệu hecta diện tích ngập lũ trong 2-4 tháng. Vì vậy, nguồn lợi cá nước ngọt ở Việt Nam rất phong phú. Theo kết quả điều tra khoa học, đã xác định được 547 loài cá nước ngọt phân bố ở Việt Nam. Ngoài ra, trong quá trình phát triển nghề, đã nhập nội thêm hàng chục loài khác như cá trắm cỏ, cá rô phi, cá rôhu, v.v… Cho đến nay nhiều loài cá nước ngọt mới vẫn tiếp tục được tìm thấy. - 21 -
    • Một số loài cá vừa phát hiện tại Việt Nam Trong một khoảng thời gian ngắn từ 1992-2004, các nhà khoa học Việt Nam đã cùng với một số tổ chức quốc tế đã phát hiện thêm 7 loài thú, 2 loài chim mới cho khoa học. - Sao la Pseudoryx nghetinhensis - Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis - Bò sừng xoắn Pseudonovibos spiralis - Mang trường sơn Canimuntiacus truongsonensis - Mang Pù hoạt Muntiacus puhoatensis - Cầy Tây nguyên Viverra taynguyenensis - Vooc xám Pygathrix cinereus - Thỏ vằn Isolagus timminsis - Khưới Ngọc linh Garrulax ngoclinhensis - Khưới đầu đen Actinodora sodangonum Về thực vật, trong giai đoạn 1993 – 2003, đã có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài đó được phát hiện và mô tả mới cho khoa học v.v. - 22 -
    • Một số hình ảnh về đa dạng hệ sinh thái loài (các loài động vật mới phát hiện) Sao la Pseudoryx nghetinhensis Khưới Ngọc linh Garrulax ngoclinhensis Các sinh vật biển - 23 -
    • Một số loài sinh vật biển 1.3. Đa dạng gen Đa dạng về gen – hay còn gọi là đa dạng di truyền Đó là sự đa dạng các allen cho bất kỳ loại gen nào như gen qui định màu sắc, kích thước, allen khác nhau cho mỗi gen có thể sinh ra những dạng khác nhau của một protein về cấu trúc và chức năng, sự khác biệt gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly về địa lý, cũng như sự khác nhau giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. - 24 -
    • Các loài được phân theo công dụng như sau : Bảng 4- Số lượng các loài cây trồng phổ biến ở Việt Nam Số TT Nhóm cây Số loài 1 Nhóm cây lương thực chính 41 2 Nhóm cây lương thực bổ sung 95 3 Nhóm cây ăn quả 105 4 Nhóm cây rau 55 5 Nhóm cây gia vị 46 6 Nhóm cây làm nước uống 14 7 Nhóm cây lấy sợi 16 8 Nhóm cây thức ăn gia súc 14 9 Nhóm cây lấy dầu béo 45 10 Nhóm cây lấy tinh dầu 20 11 Nhóm cây cải tạo đất 28 12 Nhóm cây dược liệu 181 13 Nhóm cây cây cảnh 62 14 Nhóm cây bóng mát 7 15 Nhóm cây cây công nghiệp 24 16 Nhóm cây lấy gỗ 49 Tổng 802 Nguồn : Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới-Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005. Lúa, ngô, sắn, khoai lang là bốn cây lương thực chính của Việt Nam - 25 -
    • Các giống cây trồng ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Hiện nay đã thống kê được 802 loài cây trồng phổ biến thuộc 79 họ. Các biểu hiện của kiểu gen ở Việt Nam rất phong phú. Riêng kiểu gen ở cây lúa có đến hàng trăm kiểu hình khác nhau, thể hiện ở gần 400 giống lúa khác nhau. Bảng 3- Các giống vật nuôi chủ yếu T. T Giống Giống Tổng số Giống nội Giống nhập ngoại 1 Lợn 20 14 6 2 Bò 21 5 16 3 Dê 5 2 3 4 Trâu 3 2 1 5 Cừu 1 1 6 Thỏ 4 2 2 7 Ngựa 3 2 1 8 Gà 27 16 11 9 Vịt 10 5 5 10 Ngan 7 3 4 11 Ngỗng 5 2 3 Nguồn : Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới-Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005. Các giống vật nuôi chủ yếu tại Việt Nam - 26 -
    • Chăn nuôi heo, bò ..... hiện đang là các giống vật nuôi chủ yếu tại việt nam Ngoài ra,các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Nam khoảng 50 loài. Trong đó có 35 loài cá cảnh còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt. Giống cá nước lạnh được nhập từ nước ngoài. Đặc trưng chủ yếu của đa dạng nguồn gen ở Việt Nam là: Các kiểu gen ở Việt Nam thường có nhiều biến dị, đột biến. Trong đó có những biến dị xảy ra dưới tác động của các yếu tố tự nhiên (sấm, chớp,bức xạ….). Có những đột biến xảy ra do những tác nhân nhân tạo. Đây chính là lí do tạo ra các nguồn đột biến mới. - 27 -
    • Đa dạng sinh học gen ở Việt Nam có khả năng chống chịu ví tính mềm dẻo sinh thái cao của các kiểu gen. 1.4 Đặc trưng của đa dạng hệ sinh thái Việt Nam Một lưới thức ăn của hệ sinh thái rừng của Việt Nam Tính phong phú đa dạng của các kiểu hệ sinh thái:Với một diện tích không rộng, nhưng trên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều kiểu loại hệ sinh thái khác nhau. Ở từng vùng địa lí không lớn cũng tồn tại nhiều kiểu loại hệ sinh thái: Thành phần quần xã trong hệ sinh thái rất giàu.Cấu trúc quần xã trong hệ sinh thái rất phức tạp, nhiều tầng bậc, nhiều nhánh.Điểm đặc trưng này làm cho đa dạng hệ sinh thái của Việt Nam có nhiều khác biệt so với các nước trên thế giới. Tính phong phú của mối quan hệ giữa các yếu tố vật lí và các yếu tố sinh học, giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa các loài, giữa các quần thể trong cùng một loài sinh vật.Mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng trong nhiều khâu nối tiếp nhau làm tăng tính bền vững của các hệ sinh thái. Các mối quan hệ năng lượng được phục vụ song song với các mối quan hệ vật chất rất phong phú, nhiều tầng, bậc thông qua các nhóm sinh vật tự dưỡng (sinh vật tiêu thụ) hoại sinh (sinh vật phân hủy) trong các hệ sinh thái ở Việt Nam là một chuỗi quan hệ mà nhiều nước khác trên thế giới không có được. Các hệ sinh thái của Việt Nam có đặc trưng tính mềm dẻo sinh thái cao, thể hiện ở sức chịu tải cao; khả năng tái tạo lớn; khả năng trung hòa và hạn chế các tác động có hại ;khả năng tự khắc phục những tổn thương; khả năng tiếp nhận; đồng hóa; chuyển hóa các tác động từ bên ngoài. Các hệ sinh thái của Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm. Tính mềm dẻo sinh thái của các hệ sinh thái ở Việt Nam làm cho các hệ đó luôn trong trạng thái hoạt động mạnh. Vì vậy, thường rất nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, kể cả các tác động thiên nhiên cũng như các tác động con người - 28 -
    • Hệ sinh thái của Việt Nam rất đa dạng và phong phú về loài và số lượng III.VAI TRÒ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC A/Tổng quát B/Vai trò của đa dạng sinh học đối với môi trường sống của các loài sinh vật - 29 -
    • Ví dụ về đa dạng sinh học đối với môi trường sống Vai trò sinh thái và môi trường Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người. Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa, thủy hóa (thủy vực): ôxy và các nguyên tố cơ bản khác như cacbon, nitơ, photpho. Chúng duy trì sự ổn định và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm, thiên tai. Gần đây, khái niệm các dịch vụ của hệ sinh thái được đưa ra trên cơ sở các thuộc tính, chức năng của chúng được con người sử dụng. - 30 -
    • Một chuỗi chu trình địa hóa, thủy hóa Bảo vệ tài nguyên đất và nước Các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ mức độ hạn hán, lũ lụt cũng như duy trě chất lượng nước. Việc hủy hoại thảm rừng do khai thác gỗ, do khai hoang làm nông nghiệp, ngư nghiệp cũng như các hoạt động khác của con người trong quá trình phát triển kinh tế làm cho tốc độ xói mòn đất, sạt lở đất, hoang mạc hóa đất đai tăng lên rất nhanh. Đất bị suy thoái khiến thảm thực vật khó có thể phục hồi càng gia tăng các thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán... hoặc gây ô nhiễm môi trường đất và nước. Giữ cân bằng sinh thái, bảo vệ nguồn đất, nước - 31 -
    • Điều hòa khí hậu Quần xã thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu địa phương, khí hậu vùng và cả khí hậu toàn cầu: tạo bóng mát, khuyếch tán hơi nước, giảm nhiệt độ không khí khi thời tiết nóng nực, hạn chế sự mất nhiệt khi khí hậu lạnh giá, điều hòa nguồn khí ôxy và cacbonic cho môi trường trên cạn cũng như dưới nước thông qua khả năng quang hợp... Cây xanh tạo bóng mát và giúp điều hòa khí hậu Phân hủy các chất thải Các quần xã sinh vật, đặc biệt các loài nấm và vi sinh vật có khả năng hấp phụ, hấp thụ và phân hủy các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải nguy hại khác. Xử lý nước ô nhiễm bằng vi sinh vật - 32 -
    • Những vai trò khác của đa dạng sinh học Nhiều hệ sinh thái tự nhiên hoặc bán tự nhiên, một số trong đó có thể có tính đa dạng sinh học cao, có giá trị đáng kể đối với con người, chẳng hạn như: Vai trò của rừng trong việc điều chỉnh và ổn định đất trên vùng đất dốc của lưu vực sông. Rừng đầu nguồn xã a Dơi (Hướng Hóa) đang được bảo vệ tốt. Vai trò ổn định bờ biển và làm bãi đẻ và sinh sống cho nhiều loài cá của rừng ngập mặn. - 33 -
    • Vai trò quan trọng của các rạn san hô đối với sự tồn tại của ngành ngư nghiệp. Và còn nhiều vai trò quan trọng khác của đa dạng sinh học….Nhưng nhìn chung, những giá trị này chỉ có quan hệ gián tiếp với đa dạng sinh học. Điều này có nghĩa là những chức năng này chỉ cần một mức độ phong phú nào đó về loài mà không có sự tương hỗ trực tiếp giữa giá trị của hệ sinh thái với tính đa dạng của nó cũng như với sự tồn tại của một tập hợp loài nhất định. Do đó, tuy các hệ sinh thái rừng ngập mặn nhìn chung thường có tính đa dạng thấp hơn hệ sinh thái rừng đất thấp liền kề nhưng xét về mặt tài nguyên thì chúng cũng có giá trị tương đương. IV/Giá trị của đa dạng sinh học đối với con người a/Khái niệm: Giá trị của đa dạng sinh học là vô cùng to lớn và có thể chia thành hai loại giá trị: giá trị trực tiếp và giá trị gián tiếp. Giá trị kinh tế trực tiếp của tính đa dạng sinh học là những giá trị của các sản phẩm sinh vật mà được con người trực tiếp khai thác và sử dụng cho nhu cầu cuộc sống của mình; còn giá trị gián tiếp bao gồm những cái mà con người không thể bán, những lợi ích đó bao gồm số lượng và chất lượng nước, bảo vệ đất, tái tạo, giáo dục, nghiên cứu khoa học, điều hòa khí hậu ,cung cấp những phương tiện cho tương lai của xã hội loài người…. b/Những giá trị của đa dạng sinh học Giá trị kinh tế trực tiếp Giá trị kinh tế trực tiếp của DDSH bao gồm: giá trị sử dụng cho tiêu thụ và giá trị sử dụng cho sản xuất +Giá trị sử dụng cho tiêu thụ bao gồm các sản phẩm tiêu dùng lương thực, thực phẩm, thuốc men, năng lượng, xây dựng là những nhu cầu cuộc sống hàng ngày. - 34 -
    • +Giá trị sử dụng cho sản xuất: cung cấp cho con người nguyên liệu hoạt động cho các ngành công nghiệp như sản xuất dược phẩm, dầu khí, hóa chất, chất đốt…. Trên thế giới Giá trị kinh tế trực tiếp Theo ước tính hơn 40% nền kinh tế trên thế giới và 80% nhu cầu của người nghèo trên thế giới phụ thuộc vào DDSH (Constanza etal - 1997 đã tính giá trị DDSH trên toàn cầu đối với loài người là 33.000 tỷ đô la Mỹ /năm). +Về nông nghiệp: Nền nông nghiệp hiện đại nhờ sử dụng các nguồn gen lấy từ các hệ sinh thái tự nhiên mà đã đạt được khoảng 3 tỷ đô la Mỹ, hoặc do kinh doanh du lịch sinh thái cũng đạt được khoảng 12 tỷ đô la Mỹ hàng năm và ngày càng tăng lên rõ rệt, nhất là tại các nước đang phát triển, nơi thường có các cảnh quan đẹp và sinh học phong phú. Sử dụng kĩ thuật hiện đại vào canh tác ĐDSH + Về thuốc chữa bệnh: Vào khoàng 80% dân số trên thế giới vẫn dựa vào những dược phẩm mang tính truyền thống lấy từ các loài động vật, thực vật để sử dụng cho những sơ cứu ban đầu khi họ nhiễm bệnh. Trên 5.000 loài động, thực vật được dùng cho mục đích chữa bệnh, có khoảng trên 3.000 loài thực vật được dùng trong cuộc sống. Người ta tính rằng từ mỗi loài cây, nếu cung cấp được hoá chất cơ bản để sản xuất các loại thuốc mới thì thu lợi được khoảng 290 triệu đô la Mỹ hàng năm. Hiện nay đã có hơn 119 chất hoá học tinh chế từ 90 loài thực vật có mạch bậc cao được sử dụng trong dược học hiện tại trên toàn thế giới và ngày càng phát hiện thêm nhiều cây, con có khả năng cứu loài người khỏi các bệnh tật hiểm nghèo. - 35 -
    • ĐDSH cung cấp dược phẩm cho con người + Một trong những nhu cầu không thể thiếu được của con người là protein động vật, từ xưa đến nay người dân có thể kiếm được bằng việc săn bắn các loài động vật hoang dã để lấy thịt.Ví dụ: Tại nhiều nơi ở Châu Phi, những động vật bị săn để lấy thịt là nguồn chủ yếu cung cấp protein trong khẩu phần ăn của người dân ở đây; Tại Bosnia khoảng 40% và tại Zaia 75% (Myers, 1988). Cá biển cũng là nguồn thực phẩm rất quan trọng của nhân dân các vùng gần biển…. ĐDSH cung cấp nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho con người + DDSH cung cấp phần lớn chất đốt cho nhân loại. Theo FAO, giá trị hàng năm về củi sử dụng ở Việt nam là 1.278 triệu USD, Trung Quốc 9.320 triệu USD, Ấn Độ 9.080 triệu USD, Indônêxia 2.317 USD, Thái lan 2.027 USD … - 36 -
    • DDSH cung cấp phần lớn chất đốt cho nhân loại Giá trị kinh tế gián tiếp: Ngoài việc bảo vệ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho ngày nay và cho tương lai, củi đốt, bảo vệ sức khoẻ, môi trường đa dạng sinh học còn là nguồn giải trí. Nguồn thu về giải trí có liên quan đến động vật, thực vật, cảnh quan thiên nhiên của nhiều nước đã đạt được những kết quả lớn.Ví dụ: Năm 1991 việc tổ chức giải trí liên quan đến xem chim nước ở Mỹ đã thu được khoảng gần 20 triệu USD và tạo được hơn 250.000 công ăn việc làm. Hàng năm ở Mỹ, việc tổ chức giải trí bằng câu cá nước mặn đã thu được khoảng 15 tỷ USD vào tạo được 200.000 công ăn việc làm thường xuyên. Năm 1986, các khu bảo tồn ở Mỹ đã thu được khoảng 3,2 tỷ USD từ các khu bảo tồn và năm 1989 riêng việc tổ chức xem voi ở nước này đã thu được 25 triệu USD. Đó là chưa nói đến thiên nhiên, cây cỏ. Những khu du lịch sinh thái nổi tiếng trên thế giới (thành phố InCa của PêRu và Vịnh Hạ Long của Việt Nam) - 37 -
    • Tại Việt Nam Giá trị kinh tế trực tiếp Phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản về thực chất là khai thác tài nguyên đa dạng sinh học hằng năm đem lại nguồn lợi to lớn cho Việt Nam. Nhiều nơi, nhất là miền núi nguồn lương thực, thực phẩm, nguồn thuốc chữa bệnh và mọi thu nhập chủ yếu dựa vào khai thác đa dạng sinh học. ĐDSH cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người Đa dạng sinh học không những cung cấp trực tiếp các phúc lợi cho xã hội như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, năng lượng mà còn có giá trị đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học, trong ứng dụng thực tiễn, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, y tế, du lịch. Trong Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam (1995) ước tính, hàng năm việc khai thác tài nguyên nông, lâm nghiệp và thủy sản của Việt Nam có giá trị tương đương 2 tỷ USD. Khai thác DDSH trong lĩnh vực nông nghiệp - 38 -
    • Khai thác DDSH trong lĩnh vực lâm nghiệp Khai thác DDSH trong lĩnh vực thủy sản - 39 -
    • Lấy số liệu thực của năm 2004, riêng hàng xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam đã có giá trị 2 tỷ USD. Ngành nông - lâm nghiệp hiện đang quản lý nguồn tài nguyên rừng có giá trị vô cùng to lớn. Với giá khoảng 250 USD/m3 gỗ, thì hàng năm chỉ riêng mặt hàng gỗ làm nguyên liệu giấy, ĐDSH đă cho giá trị khoảng 1,5 - 3,5 tỷ USD. Đó là chưa kể hàng năm rừng đă cung cấp các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ đã có giá trị khoảng 1,5 tỷ USD cho xuất khẩu và cũng khoảng đó cho tiêu dùng trong nước. Một số mặt hàng trong ĐDSH được xuất khẩu Sử dụng ĐDSH làm nguyên liệu sản xuất Theo Tổng cục Thống kê, năm 2003 ngành nông nghiệp đóng góp một tỷ lệ đáng kể trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): gần 21%, ngành lâm nghiệp chiếm tỷ lệ gần 1,1% và, ngành thủy sản chiếm tỷ lệ hơn 4% GDP. Theo số liệu thống kê năm 1995, nhu cầu cây thuốc cho công nghiệp dược, mỹ phẩm hương liệu khoảng 20.000 tấn/năm. Hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu thuốc khoảng 10.000 tấn/năm trị giá khoảng 15-20 triệu USD. - 40 -
    • Sử dụng ĐDSH làm mỹ phẩm hương liệu, dược phẩm Kết luận: Giá trị kinh tế trực tiếp của đa dạng sinh học thể hiện ở các mặt sau đây: - Giá trị được tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý các tài nguyên ĐDSH. - ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước, đảm bảo các nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo. - ĐDSH cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản: mía đường, bông vải, cây lấy dầu, cây lấy sợi, thuốc lá, cói, hạt điều... - ĐDSH góp phần nâng cao độ phě nhiêu của đất, qua đó làm tăng giá trị nông sản. Giá trị kinh tế gián tiếp +Các giá trị đã đề cập ở vai trò của ĐDSH + Các giá trị khác (Giá trị xã hội và nhân văn) Trong các nền văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới, một số loài động vật hoang dã được coi là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại hoặc các tác phẩm hội họa, điêu khắc. Sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên sinh vật đã hình thành các lễ hội của một số bộ tộc ít người như lễ hội săn bắn theo mùa, hoặc hình thành sự quản lý tài nguyên theo tính chất cộng đồng như vai trò của già làng, trưởng bản trong việc phân định phạm vi, mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên đất và rừng. Cuộc sống văn hóa của con người Việt Nam rất gần gũi thiên nhiên, các loài động, thực vật nuôi trồng hay hoang dã và các sản phẩm của chúng đã quen thuộc với mọi người dân, đặc biệt người dân sống ở vùng nông thôn và miền núi, như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phňng), lễ hội đua thuyền... Nhiều loài cây, con vật đă trở thành thiêng liêng hoặc vật thờ cúng đối với các cộng đồng người Việt như: gốc đa thiêng, đền thờ cá Ông ở các tỉnh miền Nam Trung bộ. Các khu rừng thiêng, rừng ma là những nét văn hóa độc đáo của nhiều dân tộc miền núi. Nghề nhuộm - 41 -
    • chàm, dệt thổ cẩm, làm hương, làm hàng mỹ nghệ từ gỗ, tre nứa hay song mây là những sự gắn bó của đời sống văn hóa con người Gốc đa thiêng đền thượng Lào Cai Lễ hội chọi trâu tại Đồ Sơn Việt Nam với ĐDSH. Rất nhiều loài động vật hoang dã được thuần dưỡng với mục đích làm bầu bạn với con người hoặc thuần hóa để chăn nuôi làm thực phẩm sử dụng hàng ngày. - 42 -
    • Một số loài động vật được thuần hóa Đa dạng sinh học được sửa dụng làm thức ăn cho chăn nuôi gia xúc Rất nhiều thú vui của con người được tạo nên thông qua việc tổ chức tham quan, theo dõi tập tính của nhiều loài động vật hoang dã. Gần đây, ngành du lịch sinh thái đă hình thành và đang phát triển rộng rãi trên cơ sở sự ham hiểu biết thiên nhiên của con người đồng thời cũng là điều kiện để nâng cao nhận thức tầm quan trọng của công tác bảo tồn thiên nhiên cũng như làm cho con người gần gũi hơn, thân thiện hơn với thiên nhiên hoang dã. - 43 -
    • Vai trò đối với du lịch sinh thái Kết luận: Giá trị kinh tế gián tiếp của ĐDSH thể hiện tập trung ở các mặt sau đây: - Tạo nhận thức, đạo đức và văn hóa hưởng thụ thẩm mỹ công bằng của người dân. Qua các biểu hiện phong phú nhiều dáng vẻ, nhiều hěnh thù, nhiều màu sắc, nhiều kết cấu, nhiều hương vị của thế giới sinh vật con người trở nên hiền hòa, yêu cái đẹp. - ĐDSH góp phần đắc lực trong việc giáo dục con người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước. - ĐDSH là yếu tố chống căng thẳng, tạo sự thoải mái cho con người. Điều này đặc biệt có giá trị trong thời đại công nghiệp, trong cuộc sống hiện tại căng thẳng và đầy sôi động. - ĐDSH góp phần tạo ổn định xă hội thông qua việc bảo đảm an toàn lương thực, thực phẩm, thỏa mãn các nhu cầu của người dân về đầy đủ các chất dinh dưỡng, về ăn mặc, tham quan du lịch và thẩm mỹ. - 44 -
    • V/Thực trạng khai thác và sử dụng đa dạng sinh học Trên thế giới: Rừng chiếm 31% tổng diện tích đất trên thế giới, là thảm thực vật giữ vai trò to lớn đối với con người như cung cấp gỗ, củi, điều hòa không khí, ngăn chặn gió báo, tạo ra oxy, nơi cư trú của muôn loài thực vật và nơi tàng trữ các nguồn tài nguyên quý hiếm. Đặc biệt, rừng là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững toàn cầu. Theo Ngân hàng Thế giới, ước tính có hơn 1,6 tỷ người sống phụ thuộc vào rừng và ngành công nghiệp lâm sản là một nguồn cung cấp khối lượng lớn việc làm, góp phần vào tăng trường kinh tế của quốc gia và khu vực. Số liệu thông kế mới đây cho thấy, 30% diện tích rừng được sử dụng để sản xuất gỗ và các sản phẩm phi gỗ, thương mại lâm sản ước đạt 327 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, hiện nay rừng đang bị con người khai thác quá mức, khiến thiên nhiên bị tàn phá nặng nề, môi trường và khí hậu thay đổi, đe dọa sự sống trên khắp trái đất. Khai thác rừng quá mức Diện tích rừng bị mất hàng năm này làm gia tăng 6 tỷ tấn CO2 gây hiệu ứng nhà kính, gấp 3,6 lần lượng khí thải do các nhà máy điện và các nhà máy công nghiệp của Liên minh châu Âu thải vào khí quyển năm 2010 theo chương trình tín dụng khí thải của Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu…. - 45 -
    • Thực trạng biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu Không chỉ vậy, kết quả những nghiên cứu sinh học quốc tế gần đây đều cho thấy hệ sinh thái, tính đa dạng sinh học của trái đất đang đứng trước mối đe dọa. Hiện nay trên thế giới có từ 10 đến 50 triệu loài động thực vật, tuy nhiên cứ qua mỗi ngày trên hành tinh lại có ba loài động vật bị biến mất. Cá heo Baiji: Loài vật này - còn có tên cá heo Dương Tử do được tìm thấy ở sông Dương Tử, Trung Quốc - có nguy cơ tuyệt chủng lớn nhất trong số những động vật có vú sống dưới nước. Nhiều nhà khoa học cho rằng chúng đã thực sự biến mất. Các nhà sinh vật dự báo, trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2020 ước tính 5- 10% số loài sinh vật trên thế giới sẽ bị biến mất và vào năm 2050 số loài bị tiêu diệt tăng lên đến 25%.Cụ thể: 17.291 trong tổng số 47.677 loài trên thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng, bao gồm 21% động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 35% động vật không xương sống và 70% loài thực vật – là số liệu được đưa ra trong các nghiên cứu gần đây của Hiệp hội Bảo tồn Thiên - 46 -
    • nhiên Thế giới (IUCN) Với tình trạng này thì 30 năm tới, có khoảng trên 60.000 loài động thực vật bị tuyệt diệt. Ếch sậy (Hyperolius sp)và Đại bàng săn cá Madagascar là một trong số những loài đang bị đe dọa suy giảm số lượng trên toàn thế giới. Tồi tệ hơn, các chuyên gia của Liên Hợp Quốc đã cảnh báo, loài người sẽ không có cơ hội nhìn thấy cá trong các đại dương vào năm 2050. Tình trạng khai thác cá non quá mức . - 47 -
    • Tình trạng khai thác cá ngừ quá mức có thể khiến loài này bị tận diệt trên toàn thế giới. Mới đây, vào tháng 05/2010, các nhà lãnh đạo thế giới cũng đã phải xác nhận thất bại trong cam kết đưa ra vào năm 2002 về việc giảm đáng kể tỷ lệ suy giảm đa dạng sinh học trên toàn cầu vào năm 2010. Điều này đang gây ra những thiệt hại đáng kể cho thế giới như thiếu lương thực, lũ lụt và thiên tai nhiều hơn, các chi phí tiêu dùng gia tăng…. Chưa bao giờ, bức tranh đa dạng sinh học trên toàn thế giới lại u ám như hiện nay. Thế giới đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất của tình trạng tuyệt chủng và suy giảm loài. Tại Việt Nam: Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, đa dạng sinh học ở nước ta hiện nay đang suy giảm với tốc độ nhanh. Nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị xâm phạm, giảm thiểu diện tích và chính điều này đã tác động mạnh tới tài nguyên nước, các hệ sinh thái và môi trường nhiều nơi. Cụ thể: Theo thống kê của Bộ TN&MT, trong gần 50 năm qua, diện tích rừng ngập mặn nước ta giảm gần 3/4. Độ che phủ rừng năm 2005 đạt ở mức 37% diện tích tự nhiên và mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 đạt ở mức 42%. Tuy nhiên, chất lượng rừng ngày càng suy giảm. Rừng tự nhiên đầu nguồn và rừng ngập mặn vẫn tiếp tục bị tàn phá nghiêm trọng. Rừng giàu, rừng kín, rừng nguyên sinh chỉ còn 13% và rừng tái sinh chiếm tới 55% tổng diện tích rừng. Điều đáng lo là rừng ngập mặn ở Việt Nam đang trên đà suy thoái. Tổng diện tích rừng còn khoảng 155.290 ha và trung bình mỗi năm mất khoảng 4.400 ha rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn nguyên sinh không còn. 62% tổng diện tích rừng ngập mặn hiện nay là rừng mới trồng, thuần loại. - 48 -
    • Nạn khai thác rừng gây mất ĐDSH Hiện nay, cả nước có 2.360 con sông, 10 lưu vực sông có diện tích hơn 10.000km2 ; tổng lượng nước mặt trung bình hằng năm là 880 tỷ m3 . Về nước ngầm, nước động thiên nhiên khoảng 50 tỷ đến 60 tỷ m3 và trữ lượng có thể khai thác khoảng 10 tỷ đến 12 tỷ m3 và hiện chỉ có khoảng 20% dự trữ nước ngầm đang được khai thác. Với sự suy giảm đa dạng sinh học nhanh như hiện nay, theo các chuyên gia về nước và môi trường thì tình trạng khan hiếm nước vào mùa khô đang dần hiện hữu trong những năm tới. - 49 -
    • Khan hiếm nước do khai thác quá mức và biến đổi khí hậu Như đã đề cập ở phần trước, số lượng loài sinh vật trong sinh quyển đã được xác định 1.392.485 cũng chỉ là tương đối. Theo UNEP (1995), hiện tại số loài đã được mô tả lên đến 1.750.000 loài, dao động trong số lượng loài có thể có, từ 3.635.000 đến 111.655.000 loài. Trong tiến trình lịch sử của sự phân hóa và tiến hóa, số lượng các loài còn nhiều gấp bội, song chúng đã bị tiêu diệt phần lớn do những biến động lớn lao của vỏ Trái Đất và của khí hậu toàn cầu. Con người đóng góp vào nạn diệt chủng của các loài chỉ sau khi họ ra đời và phát triển nền văn minh của mình và cũng là tác nhân chủ yếu làm mất đa dạng sinh học. Nhóm loài số loài tuyệt chủng đã biết ước tính số loài % số loài bị tuyệt chủng lục địa đảo đại dương tổng cộng Thú 30 51 4 85 4.000 2,1 Chim 21 92 0 113 9.00 1,3 Bò sát 1 20 0 21 6.300 0,3 ĐV lưỡng cư 2 0 0 2 4.200 0,05 Cá 22 1 0 23 19.100 0,1 ĐV không XS 48 48 1 98 1.000.000 0,2 TV có hoa 245 139 0 384 250.000 0,2 Bảng số liệu tuyệt chủng ghi nhận từ năm 1600 đến nay - 50 -
    • Nhiều loài động thực vật tại Việt Nam đang trên đà suy thoái nghiêm trọng. Sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam cũng giống như trên thế giới ngày càng một gia tăng, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật ngày một tăng do ảnh hưởng các hoạt động của con người vào tự nhiên. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật của nước ta nhanh hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực. Hổ loại động vật đang nằm trong sách đỏ của Việt Nam Theo Sách đỏ Việt Nam năm 2007 thì tổng số loài động thực vật hoang dã trong thiên nhiên của Việt Nam đang bị đe dọa hiện nay là 882 loài. Có tới 9 loài động vật được xem tuyệt chủng ngoài tự nhiên tại Việt Nam như tê giác hai sừng, heo vòi, cá sấu hoa cà. - 51 -
    • Hình ảnh một số loài đọng vật đã bị tuyệt chủng tại Việt Nam: Tê giác java và heo vòi đã bị tuyệt chủng tại Việt Nam Tê giác 1 sùng và tê giác 2 sừng đã bị tuyệt chủng tại Việt Nam Việc săn bắt, buôn bán trái phép động vật hoang dã vẫn tiếp tục diễn ra làm cho quần thể động vật hoang dã đang dần bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng - 52 -
    • Nạn săn bắn động vật hoang dã trái phép tại Việt Nam Trong hệ thực vật, hai loài lan Hài quý đã tuyệt chủng ngoài thiên nhiên. Số lượng các loài thủy sinh vật có giá trị kinh tế giảm sút nhanh chóng. Lan hài đã bị tuyệt chủng tại Việt Nam - 53 -
    • Suy suy thoái tài nguyên sinh vật còn thể hiện ở sự suy giảm môi trường sống của hầu hết các loài sinh vật biển. Theo thống kê, có 236 loài thủy sinh quý hiếm bị đe dọa ở các cấp độ khác nhau, trong đó có hơn 70 loài sinh vật biển đã được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam. Suy thoái môi trường biển ở Việt Nam - 54 -
    • VI. NGUYÊN NHÂN LÀM GIÃM ĐA DẠNG SINH HỌC HIỆN NAY a/Tổng quát:Sự suy giảm/biến mất đa dạng sinh học.Đa dạng sinh học đang biến mất hoặc bị phá hủy bằng nhiều cách bởi sự tác động của tự nhiên và con người. Như đã đề cập ở phần trước, số lượng loài sinh vật trong sinh quyển đã được xác định 1.392.485 cũng chỉ là tương đối. Theo UNEP (1995), hiện tại số loài đã được mô tả lên đến 1.750.000 loài, dao động trong số lượng loài có thể có, từ 3.635.000 đến 111.655.000 loài. Trong tiến trình lịch sử của sự phân hóa và tiến hóa, số lượng các loài còn nhiều gấp bội, song chúng đã bị tiêu diệt phần lớn do những biến động lớn lao của vỏ Trái Đất và của biến đổi khí hậu. Diễn biến phức tạp của vỏ trái đất hiện nay( chuyển động mảng theo dữ liệu vệ tinh thuộc thống định vị toàn cầu (GPS) của NASA ) Dấu hiệu hóa thạch chứng minh cho sự trôi dạt lục địa. - 55 -
    • Hình ảnh lá cây hoá thạch 200 triệu năm trước và hóa thạch 65 triệu năm của một loại động vật giống cá heo được tìm thấy ở East Greenland. Con người đóng góp vào nạn diệt chủng của các loài chỉ sau khi họ ra đời và phát triển nền văn minh của mình và cũng là tác nhân chủ yếu làm mất đa dạng sinh học. Sự tác động của con người và biến đổi khí hậu đối với ĐDSH Sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam cũng giống như trên thế giới ngày càng một gia tăng, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật ngày một tăng do ảnh hưởng các hoạt động của con người vào tự nhiên. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật của nước ta nhanh hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực. - 56 -
    • b/Nguyên nhân gây mất đa dạng sinh học Do tự nhiên: các loài tiến hóa qua quá trình đột biến, biến dị và chọn lọc tự nhiên. Quá trình tiến hóa mai rùa làm cho nhiều loài trước đó bị tuyệt chủng Sự tuyệt chủng bởi con người:con người làm giảm sự đa dạng loài và dẫn đến tuyệt như săn bắn, phát triển nông nghiệp…. Một số nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH do con người gây ra. - 57 -
    • Nguyên nhân gây suy giảm ĐDSH tại Việt Nam Nguyên nhân của sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam: có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học như sau. - Nguyên nhân trực tiếp: + Sự mở rộng đất nông nghiệp, mở rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn vào đất rừng, đất ngập nước là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái đa dạng sinh học Mở rộng đất canh tác gây suy giảm ĐDSH. + Khai thác gỗ: trong giai đoạn từ năm 1985 đến 1991, các lâm trường quốc doanh đã khai thác rừng bình quân 3,5 triệu m3 gỗ/năm, thêm vào đó khoảng 1-2 triệu m3 ngoài kế hoạch. Số gỗ này nếu qui ra diện tích thì khoảng 80.000ha bị mất mỗi năm. Hơn nữa, nạn chặt trộm gỗ xảy ra ở - 58 -
    • nhiều nơi, kết quả là rừng bị cạn kiệt nhanh chóng cả về diện tích và chất lượng, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng. Khai thác gỗ gây mất ĐDSH + Khai thác củi: hàng năm, một lượng củi khoảng 21 triệu tấn được khai thác từ rừng để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong gia đình. Lượng củi này nhiều gấp 6 lần lượng gỗ xuất khẩu hàng năm. Quá trình khai thác củi gây mất ĐDSH + Khai thác các sản phẩm ngoài gỗ: các sản phẩm ngoài gỗ như song mây, tre nứa, lá, cây thuốc được khai thác cho những mục đích khác nhau. Đặc biệt, khu hệ động vật hoang dã đã bị khai thác một cách bừa bãi. - 59 -
    • Khai thác cây thuốc và săn bắn động vật hoang dã tại Việt Nam + Cháy rừng: trong số 9 triệu ha rừng còn lại thì 56% cóa khả năng bị cháy trong mùa khô. Trung bình hàng năm khoảng từ 25.000 đến 100.000 ha rừng bị cháy, nhất là vùng cao nguyên miền Trung. Cháy rừng gây mất ĐDSH - 60 -
    • + Xây dựng cơ bản: việc xây dựng cơ bản như giao thông, thuỷ lợi, khu công nghiệp, thuỷ điện,...cũng là một nguyên nhẩn trực tiếp làm mất đa dạng sinh học. Xây dựng các khu công nghiệp và thủy điện gây mất ĐDSH. + Chiến tranh: trong giai đoạn từ 1961 đến 1975 đã có khoảng 13 triệu tấn bom và 72 triệu lít chất độc hoá học rãi xuống chủ yếu ở phía Nam đã huỷ diệt khoảng 4,5 triệu ha rừng. - 61 -
    • Chiến tranh gây mất ĐDSH tại Việt Nam. - Nguyên nhân sâu xa: + Tăng dân số: dân số tăng nhanh là một trong nhưũng nguyên nhân chính làm suy giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam. Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu sinh hoạt: lương thực, thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác trong khi tài nguyên thì hạn hẹp, nhất là đất cho sản xuất nông nghiệp. Hệ quả tất yếu là dẫn đến việc mở rộng đất nông nghiệp vào đất rừng và làm suy giảm đa dạng sinh học. Tỷ lệ gia tăng dân số ngày càng khó kiểm soát. - 62 -
    • + Sự di dân: từ những năm 60, chính phủ đã động viên khoảng 1 triệu người từ vùng đồng bằng lên khai hoang và sinh sống ở vùng núi, cuộc di dân này đã làm thay đổi sự cân bằng dân số ở miền núi. Những năm 1990, nhiều đọt di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ vào các tỉnh phía Nam, Tây nguyên sự di dân này đã ảnh hưởng rõ rết đến đa dạng sinh học của vùng này. Những ngôi nhà tạm bợ của người Việt Nam - 63 -
    • + Sự nghèo đói: với gần 80% dân số ở nông thôn, vì vậy phụ thuộc phần lớn vào nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên. Trong các khu bảo tồn được nghiên cứu, 90% dân địa phương sống dựa vào nông nghiệp và khai thác rừng. Người nghèo không có vốn để đầu tư lâu dài, sản xuất và bảo vệ tài nguyên, học buộc phải khai thác, bóc lột ruộng đất của mình, làm cho tài nguyên càng suy thoái một cách nhanh chóng. Các trẻ em nghèo ở vùng cao Việt Nam + Một số nguyên nhân sâu xa khác có thể nói như: chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách kinh tế cộng đồng, chính sách sử dụng đất, lâm nghiệp, du canh du cư ….cũng đã tác động không nhỏ đến thực trạng suỷ giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam chúng ta. - 64 -
    • c/Hậu quả của việc suy giảm đa dạng sinh học. Hình ảnh minh họa về sự mất đa dạng sinh học Sự mất mát về DDSH sẽ ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội và môi trường .Cụ thể: + Gây biến đổi khí hậu toàn cầu ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và các sinh vật trên trái đất. Do các hệ sinh thái của quả đất là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất nói chung và ở Việt Nam nói riêng, trong đó có loài người. - 65 -
    • Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến con người + Các hệ tự nhiên có nhiều giá trị thực tiễn. Rừng ở trên các sườn dốc trên núi đã điều tiết dòng chảy và thanh lọc các chất cặn bã để dòng nước trở nên trong lành khi đến người dùng, giữ gìn đất chống sạt lỡ…. Sạt lỡ đất do khai thác rừng không hiệu quả +Mất ĐDSH các loài cây và con mà chúng ta nuôi trồng không còn được bổ sung những tính trạng di truyền mới lấy từ các cây con hoang dã. +Nhiều loài cây con hoang dã không còn cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị cho thương mại, làm thuốc quý… Đến nay đã có khoảng 40% các loại thuốc có gốc từ các cây hoang dã nhưng đang bị suy giảm nghiêm trọng - 66 -
    • + Về mặt đạo lý mà nói, khi chúng ta làm suy giảm sự phong phú đa dạng sinh học tức là chúng ta đã vô tình loại trừ nhiều dạng sống mà chúng có quyền được tồn tại. Sao la và Vọoc có nguy cơ bị tuyệt chủng tại Việt Nam Tác động đến con người: + Mất nguồn dự trữ cơ bản của trái đất (các loài sinh vật, các gen di truyền )và làm suy giảm khả nằng đáp ứng nhu cầu của con người như tính bền vững của các hệ sinh thái +Con người sẽ mất đi nguồn thưc ăn, thuốc chữa bênh,các sản phẩm công nghiệp của ngày hôm nay cũng như tương lai. +Khả năng duy trì và thúc đẩy năng xuất lâm nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi sẽ bị giảm sút… Và còn nhiều hậu quả nghiêm trọng khác ảnh hưởng đến con người cũng như toàn bộ dạng sống trên trái đất. Một số hình ảnh về hậu quả của việc gây suy giảm ĐDSH - 67 -
    • Mưa axit và mưa đá do biến đổi khí hậu và hậu quả của công nghiệp. VIII. HÌNH THỨC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Để ngăn ngừa sự suy thoái đa dạng sinh học, Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn đa dạng sinh học khá sớm. Hai hình thức bảo tồn ĐDSH phổ biến được áp dụng ở Việt Nam là: Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu conservation) và bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation). 2.1. Bảo tồn nội vi in- situ Bảo tồn nội vi bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tượng bảo tồn để áp dụng các hình thức quản lý thích hợp. Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Bảo tồn nội vi là hình thức bảo tồn chủ yếu ở Việt Nam trong thời gian vừa qua. Kết quả của phương pháp bảo tồn này thể hiện rõ rệt nhất là đã xây dựng và đưa vào hoạt động một hệ thống rừng đặc dụng. Ě Hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam Việt Nam là một trong những nước sớm quan tâm đến vấn đề bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học. Ngày 7 tháng 7 năm 1962, Vườn quốc gia Cúc Phương là KBT đầu tiên được thành lập ở miền Bắc. Thời gian đầu gọi là khu “rừng cấm” Cúc Phương, đây là khu bảo tồn thiên nhiên đối với hệ động thực vật trên núi đá vôi nằm tiếp giáp ở vùng sinh thái đồng bằng Bắc bộ và Tây Bắc. Ở miền Nam, năm 1965, Phạm Hoàng Hộ và Phùng Trung Ngân đã đề nghị và được chính phủ Sài Gòn quyết định thành lập 10 khu bảo vệ vùng thấp: Côn Đảo, Châu Đốc, Bảo Lộc, Rừng cấm săn bắn Đức Xuyên (Buôn Ma Thuột), đảo Hoang Loan và Mũi Dinh. Vùng núi cao có 3 khu: - 68 -
    • Chư Yang Sin (2405m), Đỉnh Lang Bian (2183m) và Bạch Mã-Hải Vân (1450m). Theo số liệu của IUCN (1974) miền Nam Việt Nam có 7 khu bảo tồn với diện tích 753.050 ha (Cao Văn Sung- Hệ thống các khu bảo vệ thiên nhiên ở Việt Nam-1994). Sau ngày thống nhất đất nước hệ thống các KBT được dần dần mở rộng, bổ sung và hoàn thiện cả về quy mô diện tích, và hệ thống quản lý bảo vệ. Hệ thống các KBT của Việt Nam hiện nay có 211 khu, bao gồm : - Các KBT rừng (Khu rừng đặc dụng) thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang quản lý 128 KBT ( Đã được Chính phủ công nhận) - Các khu bảo tồn biển do Bộ Thủy sản đề xuất 15 KBT - Khu bảo tồn đất ngập nước do Bộ Tài nguyên và môi trường đề xuất 68 KBT Các KBT đất ngập nước và trên biển hiện mới chỉ mới đề xuất, nhưng chưa có quyết định phê duyệt chính thức. Bảng 5. Phân loại hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam T.T Loại Số lượng Diện tích (ha) I Vườn Quốc gia 30 1.041.956 II Khu Bảo tồn thiên nhiên 60 1.184.372 IIa Khu dự trữ thiên nhiên 48 1.100.892 IIb Khu bảo tồn loài/sinh cảnh 12 83.480 III Khu Bảo vệ cảnh quan 38 173.764 Tổng cộng (Khu bảo tồn) 128 2.400.092 Nguồn: Số liệu thống kê đến 10/2006- Cục Kiểm lâm và Viện Điều tra quy hoạch rừng Trong 128 KBT rừng hiện nay có 30 Vườn quốc gia (VQG), 48 Khu dữ trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài và sinh cảnh, 38 khu bảo vệ cảnh quan, với tổng diện tích 2.400.092 ha, chiếm gần 7,24% diện tích tự nhiên trên đất liền của cả nước. Một số khu rừng nghiên cứu tại các Viện, Trung tâm, các trường học cũng đã được thống kê vào trong hệ thống rừng đặc dụng, theo Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi năm 2004. Hê thống các khu rừng đặc dụng hiện có phân bố rộng khắp trên các vùng sinh thái toàn quốc. Tuy nhiên hệ thống các khu rừng đặc dụng hiện nay có đặc điểm là phần lớn các khu rừng đặc dụng đều có diện tích nhỏ, phân bố phân tán. Trong số 128 KBT có 14 khu có diện tích nhỏ hơn 1000 ha, chiếm 10,9%. Các khu có diện tích nhỏ hơn 10.000 ha là 52 khu, chiếm 40,6% các khu bảo tồn, bao gồm VQG 4 khu, 9 khu dữ trữ thiên nhiên, 9 khu bảo vệ loài, 30 khu bảo vệ cảnh quan. Chỉ có 12 khu có diện tích từ 50.000 ha trở lên. Nhiều khu bảo tồn còn bao chiếm nhiều diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư, ranh giới một số khu bảo tồn trên thực địa chưa rõ ràng, còn có tranh chấp, tính liên kết các khu yếu, chưa hình thành được các hành lang liên kết các KBT nhỏ, có nhiều đặc điểm giống nhau v.v. Ě Trong nông nghiệp và lâm nghiệp, bảo tồn nguyên vị được hiểu là việc bảo tồn các giống loài cây trồng nông nghiệp và cây rừng được trồng tại đồng ruộng hay rừng trồng. Ngoài các KBT, các hình thức bảo tồn dưới đây cũng đã được công nhận ở Việt Nam. - 69 -
    • - 5 khu Dự trữ sinh quyển quốc gia được UNESCO công nhận: Khu Cần giờ (Tp. Hồ Chí Minh), Khu Cát Tiên (Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước), Khu Cát Bà (Tp. Hải Phòng), khu ven biển Đồng bằng Sông Hồng (Nam Định và Thái Bình) và khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang. - 2 khu di sản thiên nhiên thế giới: Khu Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và Khu Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình); - 4 khu di sản thiên nhiên của Asean: 4 VQG: Ba bể (Bắc Cạn), Hoàng Liên (Lào Cai), Chư Mom Rây ( Kon Tum) và Kon Ka Kinh ( Gia Lai) - 2 khu Ramsar: Vườn quốc gia Xuân Thủy, (tỉnh Nam Định) và VQG Cát Tiên). Một số vấn đề tồn tại trong bảo tồn nội vi hiện nay • Hệ thống các KBT có nhiều KBT có diện tích nhỏ, tính liên kết yếu nên hạn chế đến các hoạt động bảo tồn trên phạm vi khu vực rộng. • Ranh giới các KBT phần lớn chưa được phân định rõ ràng trên thực địa, các hoạt động xâm lấn, vi phạm trong các KBT còn xẩy ra. • Nguồn ngân sách cho bảo tồn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước, các khu bảo tồn thuộc địa phương quản lý có nguồn ngân sách rất hạn chế cho các hoạt động bảo tồn, chưa có chính sách cụ thể để xã hội hóa công tác bảo tồn. • Một số chính sách về KBT còn thiếu, như chính sách đầu tư, quản lý vùng đệm v.v. • Hệ thống phân hạng của Việt Nam đã được quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và đã áp dụng trên thực tế. Tuy nhiên phân loại các khu rừng đặc dụng của Việt Nam so với hệ thống phân hạng của IUCN, 1994 có một số điểm chưa phù hợp: Hệ thống phân hạng của Việt Nam lẫn lộn giữa hạng và phân hạng: Khu bảo tồn loài/sinh cảnh là một hạng (category) trong hệ thống phân hạng 6 hạng của IUCN có mục tiêu quản lý khác nhau, không thể xếp vào phân hạng (Sub- category) của khu bảo tồn thiên nhiên được. - Chúng ta còn lẫn lộn trong việc sắp xếp các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên, cho VQG là quan trọng hơn về mặt bảo tồn. Do vậy trong một thời gian dài, vì thấy VQG được quan tâm và đầu tư nhiều hơn nên các tỉnh và thành phố đều muốn chuyển các khu bảo tồn của mình thành VQG. Nên trên thực tế nhiều VQG chưa đáp ứng được các mục tiêu về bảo tồn v.v. • Do hệ thống phân chia và quan niệm có sự sai khác nên trong chính sách quản lý hiện nay chủ yếu vẫn là bảo vệ nghiêm ngặt, chưa gắn kết được quan điểm hiện đại về bảo tồn là vừa bảo tồn, vừa phát triển. 2.2. Bảo tồn ngoại vi (Ex- situ) ở Việt Nam Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy... Các biện pháp gồm di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: i) nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, ii) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Tuy công tác bảo tồn ngoại vi còn tương đối mới ở Việt Nam, nhưng trong những năm qua, công tác này đã đạt được một số thành tựu nhất định. - Bước đầu hình thành mạng lưới các VTV, vườn sưu tập, các lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, các vườn động vật trên toàn quốc và dần đi vào hoạt động ổn định hơn. Trong thực tế, hệ thống bảo tồn ngoại vi đã hỗ trợ tương đối hiệu quả cho công tác nghiên cứu, học tập về bảo tồn - 70 -
    • đa dạng sinh học. Nhiều đề tài nghiên cứu thành công ở nhiều khía cạnh trong công tác bảo tồn ngoại vi ở các VTV và vườn động vật. - Các VTV, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, vườn cây thuốc và vườn động vật đã sưu tập được số lượng loài và cá thể tương đối lớn. Trong số đó, nhiều loài cây rừng bản địa đã được nghiên cứu và đưa vào gây trồng thành công; nhiều loài động vật hoang dã đã gây nuôi sinh sản trong điều kiện nhân tạo. Đặc biệt là các vườn cây thuốc chuyên đề hoặc các vườn cây thuốc trong các VTV đã đóng góp đáng kể trong công tác nghiên cứu dược liệu và gây trồng phát triển cây thuốc nam cung cấp nguyên liệu cho ngành dược. - Bảo tồn ngoại vi đã đóng góp đáng kể cho bảo tồn nội vi đối với các loài động thực vật hoang dã đã và đang bị diệt chủng ngoài tự nhiên. Một số loài động thực vật hoang dã đã bị tiêu diệt trong tự nhiên đã được gây nuôi thành công như Hươu sao, Hươu xạ, Cá sấu hoa cà (động vật), thực vật có Sưa, Lim xanh… - Bước đầu xây dựng được ngân hàng giống bảo tồn nguồn gen của các loài động thực vật, dự trữ lâu dài, hổ trợ cho công nghệ sinh học và phát triển nông lâm nghiệp v.v. Các hình thức bảo tồn ngoại vi chủ yếu hiện nay: i) Các khu rừng thực nghiệm Trong hệ thống phân loại mới rừng thực nghiệm, nghiên cứu khoa học được xếp thành một hạng nằm trong hệ thống quản lý các KBT. Kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng năm 2006 đã xác định có 17 khu rừng thực nghiệm với diện tích 8.516 ha. Các khu rừng thực nghiệm bao gồm các vườn cây gỗ, vườn thực vật, vườn sưu tập cây rừng và các lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, Một số khu thực nghiệm điển hình như: Vườn cây gỗ Trảng Bom (huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai): có 155 loài, thuộc 55 họ và 17 loài tre nứa, Thảo cầm viên Sài gòn với hơn 100 loài cây. Vườn cây gỗ của Trạm thí nghiệm Lâm sinh Lang Hanh (huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng), Vườn cây gỗ Mang Lin (thành phố Đà Lat), Vườn Bách Thảo Hà Nội v.v. ii)Vườn cây thuốc Theo số liệu điều tra của Viện Dược liệu năm 2000, Việt Nam có tới 3.800 cây thuốc thuộc khoảng 270 họ thực vật (Lã Đình Mỡi, 2001). Các loài cây thuốc phân bổ khắp trên các vùng sinh thái ở Việt Nam. Trong số đó, phần lớn các cây thuốc là mọc tự nhiên và khoảng 20% đã được gieo trồng. Từ năm 1988, công tác bảo tồn nguồn gen cây thuốc đã được triển khai. Tuy vậy, trong số 848 loài cây thuốc được xác định cần bảo tồn mới chỉ có 120 loài, dưới loài được bảo tồn trong các vùng và các cơ sở nghiên cứu. Hiện nay có rất nhiều vườn cây thuốc đã được thành lập, ngoài ra còn có hệ thống các vườn cây thuốc của các hộ gia đình làm nghề thuốc nam và thuốc bắc. Dưới đây là một số vườn cây thuốc hiện có: - Viện Dược liệu có trạm cây thuốc Sa Pa, sưu tập được 63 loài đang bảo quản các cây thuốc ở độ cao 1.500 m. - Trạm cây thuốc Tam Đảo bảo quản 175 loài, ở độ cao 900m. - Trạm cây thuốc Văn Điển (Hà Nội) - 294 loài. - Vườn trường Đại học Dược Hà Nội - 134 loài. - Vườn Học Viện Quân Y - 95 loài. - Trung tâm giống cây thuộc Đà Lạt sưu tầm 88 loài và bảo quản ở độ cao 1500 m. - Trung tâm Sâm Việt Nam bảo quản 6 loài. Ngoài ra, còn thu hạt một số cây thuốc để bảo quản ngắn hạn và trung hạn trong điều kiện nhiệt độ thấp. iii) Ngân hàng giống - 71 -
    • Việc lưu trữ nguồn giống cây trồng, vật nuôi mới được thực hiện ở một số cơ sở nghiên cứu. Hiện nay, ngành nông nghiệp Việt Nam có 4 cơ quan có kho bảo quản lạnh: Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Trường Đại học Cần Thơ và Viện Cây lương thực và Thực phẩm. Các kho lạnh đều quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, mới đạt yêu cầu bảo quản ngắn hạn và trung hạn, chưa có kho đạt tiêu chuẩn bảo quản dài hạn. Theo thống kê của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (2005), đến nay, ngân hàng gen cây trồng quốc gia đang bảo quản tại kho hơn 14.300 giống của 115 loài, gồm 3 ngân hàng gen: - Ngân hàng gen hạt giống: 12.500 giống của 83 loài cây có hạt. - Ngân hàng gen đồng ruộng: 1.720 giống của 32 loài cây sinh sản vô tính. - Ngân hàng gen in vitro: bảo quản 102 giống khoai môn - sọ. Tại 19 cơ quan mạng lưới của hệ thống bảo tồn quỹ gen cây trồng đang bảo tồn 5000 giống của 50 loài cây trồng và 3.340 kiểu gen (Genotype), 200 tiêu bản hạt của cây cao su. Đang xây dựng tập đoàn 300 kiểu gen, tư liệu hoá 2.000 kiểu gen cây cao su. - Tồn tại đối với công tác bảo tồn ngoại vi ở Việt Nam Qua quá trình thực hiện công tác bảo tồn ngoại vi ở Việt Nam đã bộc lộ một số tồn tại đồng thời cũng là các thách thức, có thể nhóm thành các nhóm sau: - Thiếu quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết. Hệ thống các VTV, vườn cây gỗ, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng hiện có thường được quy hoạch, thiết kế chưa có hệ thống, chưa có tính chất chuyên đề, chuyên sâu hay đại diện cho từng vùng sinh thái và trên phạm vi toàn quốc. Các Vườn thú chủ yếu vẫn mang tính chất phục vụ tham quan, chưa chú ý tới công tác bảo tồn. - Công tác sưu tập chưa chú ý tới các loài quý hiếm, các loài lâm sản ngoài gỗ, số lượng loài trong các vườn sưu tập còn ít, chưa có VTV nào vượt quá số lượng 500 loài (không kể các loài thực vật tự nhiên có sẵn trong quá trình quy hoạch). - Việc đào tạo cán bộ bảo tồn ngoại vi rất hạn chế, nhất là cán bộ chuyên sâu về bảo tồn ngoại vi làm việc tại các VTV, vườn động vật và các trạm cứu hộ. - Vấn đề bảo tồn ex situ chưa được quan tâm đúng mức trong các chủ trương chính sách về bảo tồn thiên nhiên. Cho đến nay mới chỉ có một số văn bản như: Quyết định 225/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp có nói đến VTV; Quyết định 86/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng tự nhiên Việt Nam đến năm 2020. Chưa có các văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện các hoạt động bảo tồn ngoại vi. - Cho tới nay, việc đầu tư phát triển các VTV, vườn cây gỗ, lâm phần bảo tồn nguồn gen cây rừng, vườn động vật và các trạm cứu hộ chưa được thực sự chú ý. Chưa có chính sách để thu hút đầu tư từ các nguồn khác như các tổ chức kinh tế xã hội, cá nhân, cộng đồng v.v. 3. Bảo tồn với phát triển bền vững 3.1. Phát triển bền vững Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau (Báo cáo Tương lai chung của chúng ta của Liên Hợp quốc-1987). Phát triển bền vững là quá trình có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, bao gồm: - 72 -
    • • Phát triển kinh tế: chú trọng đến tăng trưởng kinh tế và sự ổn định trong tăng trưởng kinh tế… • Phát triển xã hội: thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm… • Bảo vệ môi trường: thực hiện xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên… Để đảm bảo sự phát triển bền vững, phải bảo tồn ĐDSH và biết cách sử dụng nó một cách bền vững. Đối với các loại tài nguyên sinh học là dạng tài nguyên có khả năng tái tạo được, điều quan trọng là tạo được sản lượng ổn định tối đa mà không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cơ sở. Sản lượng này hoàn toàn có hạn và không thể khai thác quá khả năng chịu đựng, nếu không muốn làm giảm năng suất trong tương lai. Mục tiêu của bảo tồn thiên nhiên, quản lý ĐDSH và sử dụng bền vững các tài nguyên sinh học là ‘nhằm giữ được sự cân bằng tối đa giữa bảo tồn sự đa dạng của thiên nhiên và tăng cường chất lượng cuộc sống của con người. 3.2. Ảnh hưởng của các khu bảo tồn tới phát triển bền vững Như vậy tăng trưởng kinh tế ổn định, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái là những mục tiêu mà quá trình phát triển và bảo tồn đều muốn hướng tới và hổ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển. Với tổng diện tích các khu bảo tồn trên 2 triệu ha rừng, đây là nguồn tài nguyên đa dạng sinh học rất lớn, không những là nơi lưu giữ, cung cấp các nguồn tài nguyên, mà còn là nơi hổ trợ, là hiện trường để phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, hạn chế thiên tai v.v. ▪ Bảo tồn hổ trợ phát triển cộng đồng xoá đói giảm nghèo. Nhiều khu bảo tồn của Việt Nam là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số. Đây là những vùng có tỷ lệ đói nghèo cao. Đối với những vùng xa xôi thì các KBT là nơi cung cấp nguồn cây thuốc, các loại lâm sản phụ, nguồn cung cấp nước sạch, giảm thiểu hiện tượng di cư bất hợp pháp v.v. ▪ Cung cấp và điều tiết nguồn tài nguyên nước: các khu bảo tồn là những khu rừng có độ che phủ cao, có tác dụng phòng hộ lớn, hạn chế lũ lụt và cung cấp nguồn nước cho các vùng hạ lưu v.v. ▪ Góp phần phát triển nông nghiệp: Các khu bảo tồn là nơi lưu giữ và cung cấp nguồn gien để chuyển hoá thành các loài cây trồng, vật nuôi, đồng thời cũng là những nơi điều tiết nguồn nước và điều hoà khí hậu cho sản xuất và đời sống của người dân tại những vùng xung quanh các KBT và vùng hạ lưu v.v. ▪ Phát triển nuôi trồng thuỷ sản: Với hệ thống các KBT đất ngập nước và rừng ngập mặn ven biển đang là môi trường thuận lợi để các loài thuỷ sản phát triển, cũng như là môi trường cho việc nuôi trồng và khai thác nguồn tài nguyên này như VQG Xuân Thuỷ, KBT Thái Thuỵ v.v. ▪ Phát triển du lịch: các khu bảo tồn, nhất là các Vườn quốc gia có điều kiện thuận lợi để tiếp cận đang là những điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước như VQG Phong Nha – Kẻ Bàng mỗi năm thu bình quân 5 tỷ đồng từ hoạt động du lịch v.v. ▪ Bảo vệ môi trường: các KBT là những bể hập thụ CO2 có hiệu quả để góp phần làm giảm hiệu ứng khí nhà kính, ngăn chặn sự biến đổi khí hậu toàn cầu một trong những vấn đề đang được tất cả các nước quan tâm v.v. Bảo tồn và phát triển bền vững ở đây là nói đến các hoạt động nhằm gìn giữ được ĐDSH về các mặt: cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết, các giá trị về xã hội, văn hoá và các dịch vụ về sinh thái được khai thác và sử dụng bền vững và có hiệu quả cho cuộc sống của con người… Bảo tồn ĐDSH cũng bao gồm cả các hoạt động liên quan đến bảo tồn các loài, nguồn gen có trong mỗi loài và các sinh cảnh, các cảnh quan, thông qua việc bảo tồn các hệ sinh thái và việc - 73 -
    • khai thác một cách hợp lý các cây, con và cả các nguồn tài nguyên vi sinh vật để phục vụ cho cuộc sống của con người, cho đến việc sản xuất và phân phối các lợi nhuận có được từ các tài nguyên sinh vật. Do vậy để phát triển kinh tế ổn định cần phải quan tâm đến việc bảo vệ hệ thống các KBT hiện có trên tất cả các mặt. 4. Bảo tồn với biến đổi khí hậu 4.1. Biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là biến đổi được quy trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động của con người làm thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển làm tăng hiệu ứng nhà kính gây biến đổi hệ thống khí hậu trái đất. Thay đổi khí hậu do phát thải khí nhà kính qua hoạt động của con người ngày càng tăng. Nồng độ CO2 hiện nay đã cao hơn 30-35% so với nồng độ tự nhiên khoảng 10.000 năm về trước. Nhiệt độ bề mặt Trái đất đã tăng lên trung bình 0,60 C so với thế kỷ 20 và dự kiến có thể tăng lên đến 1,4 –5,80 C vào năm 2100, một mức chưa từng có trong khoảng 10.000 năm qua. Kết quả là lớp băng và tuyết sẽ chảy ra và mức nước biển đang dâng lên và chế độ khí hậu cũng thay đổi. Hậu quả do thay đổi khí hậu gây ra sẽ không đồng đều trên thế giới: hậu quả sẽ nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao, và ít hơn tại các vùng khác. Mức độ thay đổi khí hậu cũng sẽ tuỳ thuộc vào từng vùng khác nhau, tuy nhiên tất cả các vùng trên thế giới đều có thể bị tác động nhiều hay ít. Số loài sinh vật sẽ bị thay đổi, nhiệt độ mặt đất sẽ tăng lên, mực nước biển sẽ dâng cao, và các hệ thống sản xuất cơ bản như nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ bị tác động đáng kể, tuy nhiên tính chất và phân bố của sự tác động đó sẽ xẩy ra như thế nào trong tương lai, chưa thể xác định trước được. Như vậy khí hậu thay đổi sẽ làm thay đổi một số nhân tố bao gồm: - Nhiệt độ trái đất tăng lên - Mực nước biển dâng cao - Gây nên hiện tượng sa mạc hóa cục bộ hoặc trên diện rộng - Thay đổi chu trình thủy văn - Các quy luật thời tiết sẽ thay đổi như các hiện tượng mưa, nắng, lũ, lụt, gió bão v.v. Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới mà khí hậu đang biến đổi, mực nước biển đang dâng dần lên, dân số tăng nhanh, sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các sinh cảnh đang co hẹp lại và phân cách nhau, sức ép của công nghiệp hoá, thương mại toàn cầu... Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng lớn đến việc quản lý các khu bảo tồn cũng như cuộc sống chung của nhân loại. 4.2. Tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn đa dạng sinh học Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những ảnh hưởng lớn tới tự nhiên và xã hội, gây ra những tác động trực tiếp tới cuộc sống của con người. Biến đổi khí hậu cũng sẽ ảnh hưởng tới việc bảo tồn đa dạng sinh học cụ thể là: - Một số loài sẽ bị biến mất, một số loài được ghi trong Sách Đỏ của IUCN, nhất là các loài Rất nguy cấp và Nguy cấp mà chỉ còn sống sót ở một địa điểm nhất định. - Các hệ sinh thái, các sinh cảnh cần thiết cho các loài di cư, hoặc các loài nguy cấp có phân bố hẹp, các loài đặc hữu sẽ bị biến mất hoặc thu hẹp. - Các hệ sinh thái bị biến đổi và phân mảnh: Do mực nước biển dâng cao nên một số địa điểm mà ở đó tập trung những chủng quần quan trọng mức quốc tế hay là những chủng quần của các loài có vùng phân bố hạn hẹp có thể bị biến mất hoặc bị chia cắt, phân mảnh, như các vùng đảo, vùng ven biển v.v. - 74 -
    • - Một số khu bảo tồn cảnh quan có tầm quan trọng về kinh tế-xã hội, văn hóa và khoa học hoặc là đại diện, là độc nhất hay là có tầm quan trọng về tiến hoá hay cho các quá trình sinh học ở các đảo hoặc ven biển, cửa sông sẽ bị mất hoặc bị thu hẹp. - Sự xâm nhập của các loài ngoại lai: do môi trường sống thay đổi tạo điều kiện cho các loài động thực vật ngoại lai xâm nhập, phát triển. Cùng với các hoạt động buôn bán, sự xâm nhập của các loài ngoại lai hiện đang là mối đe dọa lớn lên tính ổn định và đa dạng của các hệ sinh thái, chỉ sau nguy cơ mất sinh cảnh. Các đảo nhỏ và các hệ sinh thái thuỷ vực nước ngọt, các vụng ven biển là những nơi bị tác động nhiều nhất. 4.3.Tác dụng của hệ thống các KBT đối với biến đổi khí hậu Hệ thống khu bảo tồn hiện nay không những là nơi bảo tồn tốt nhất các giá trị đa dạng sinh học mà còn có góp phần quan trọng trong việc hạn chế sự biến đổi khí hậu cũng như những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu: - Các khu bảo tồn là những bể hấp thụ khí CO2 khổng lồ để giảm hiệu ứng khí nhà kính một trong những nguyên nhân gây ra sự biến đổi khí hậu. - Giảm ảnh hưởng của lũ lụt, chống xói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ sản xuất và các công trình hạ tầng cơ sở. - Hạn chế hiện tượng sa mạc hoá cục bộ hay trên diện rộng, một trong những ảnh hưởng đang diễn ra tương đối phổ biến ở các nước hiện nay. - Góp phần điều hoà khí hậu trong vùng cũng như trên cả khu vực rộng lớn hơn v.v. Như vậy hệ thống các KBT không chỉ có tác dụng về mặt bảo tồn mà đáp ứng được nhiều mục tiêu như phát triển kinh tế xã hội, hạn chế ảnh hưởng của thay đổi khí hậu v.v. góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cuộc sống của con người, một trong những mục tiêu mà chúng ta đang nổ lực phấn đấu thực hiện. 4.4.Các giải pháp để bảo tồn đa dạng sinh học trong sự biến đổi của khí hậu Để giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên đa dạng sinh học một số biện pháp cần thiết phải áp dụng là: - Hoàn thiện và cụ thể hoá các chính sách về bảo tồn đa dạng sinh học để áp dụng. - Có chính sách cụ thể để thu hút các thành phần trong xã hội tham gia vào bảo tồn đa dạng sinh học. - Thành lập các khu cứu hộ để bảo vệ các loài có nguyên cơ tuyệt chủng cao do sự biến đổi của khí hậu. - Có các chương trình cụ thể để nâng cao nhận thức về bảo vệ đa dạng sinh học cho cộng đồng cũng như các ngành, các cấp. - Tăng cường hợp tác quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu của trái đất v.v. Chương III:Kết Luận Kết luận Ngày nay bảo vệ đa dạng sinh học đang được quan tâm không chỉ ở phạm vi riêng lẽ của từng quốc gia mà là mối quan tâm chung của toàn nhân loại. Bởi vì bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia cũng như hạn chế các tác động của sự thay đổi khí hậu. Hệ thống KBT hiện nay đã và đang phát huy tác dụng trong việc bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học. Tuy nhiên để bảo tồn tốt hơn không những đòi hỏi từng quốc gia, từng địa phương phải đề xuất được các kế hoạch quản lý thích hợp, mà các nhà quản lý, chính sách cần có những hiểu biết sâu sắc về ĐDSH về các điều kiện kinh tế xã hội và văn hoá của từng khu vực cụ thể v.v. để có những quyết định chính xác và các chính sách phù hợp cho công tác bảo tồn. Mục tiêu của bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững đều hướng tới sự thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu cuộc sống của con người về tất cả các mặt. Để đạt được mục tiêu này đòi - 75 -
    • hỏi có sự liên kết, hổ trợ giúp đỡ giữa các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, cộng đồng v.v. nhằm làm cho quá trình phát triển không ảnh hưởng tới các hoạt động bảo tồn và hoạt động bảo tồn sẽ hổ trợ ngày càng tốt hơn cho quá trình phát triển. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường 1996-Sách đỏ Việt Nam-Phần thực vật- Nhà Xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. 2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn-2002-Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và Phát triển kinh tế. 3. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lược quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010. 4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2004- Những sửa đổi cơ bản của Luật bảo vệ và phát triển rừng. 5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2005- Khoa học công nghệ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới. 6. Bộ Tài nguyên và môi trường, 2004- Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 7. Bộ Tài nguyên và môi trường, 2005- Tuyển tập các báo cáo khoa học hội nghị môi trường toàn quốc 2005. 8. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam-1995 Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam 9. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam-2004 Định hướng chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam. 10. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam-2003- Chiến lược quản lý Hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010. 11. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005-Kỷ yếu Hội nghị khoa học về môi trường và phát triển bền vững. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật. 12. Nguyễn Huy Dũng, 2006- Cộng đồng v à vấn đề quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp. 13. Võ Quý, 2006 - Quy hoạch và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên. 14.Cao Văn Sung, 1994 - Tổng luận phân tích Hệ thống các khu bảo vệ thiên nhiên ở Việt Nam 15. Nguyễn Nghĩa Thìn- 1997, Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật- Nhà xuất bản nông nghiệp-Hà Nội. 16.Thủ tướng Chính phủ- Quyết định số 03/2001/QĐ-TTg ngày 5/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc. 17. Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật-2002- Tài liệu hội thảo “Thực vật và bảo tồn”. 1/http://bidoupnuiba.gov.vn/index.php/vi/baotonthiennhien-left/326-bo-tn-va-phat-trin-a-dng- sinh-hc.htmlc (trang 1- chương I) 2/Hội thảo chuyên đề về đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu .Mối liên quan tới Đói nghèo và phát triển bền vững HN 22-23 tháng 5, năm 2007 https://docs.google.com/gview?url=http://bidoupnuiba.gov.vn/documents/DDSH- Quang.pdf&chrome=true - 76 -
    • http://bidoupnuiba.gov.vn/index.php/vi/baotonthiennhien-left/326-bo-tn-va-phat-trin-a-dng-sinh- hc.html http://giaoducmoitruong-giz-baclieu.com/index.php?title=%C4%90a_d%E1%BA%A1ng_sinh_h %E1%BB%8Dc_Vi%E1%BB%87t_Nam_v%C3%A0_v%E1%BA%A5n_%C4%91%E1%BB %81_b%E1%BA%A3o_t%E1%BB%93n http://thuviensinhhoc.violet.vn/present/show/entry_id/457861 http://baigiang.violet.vn/present/show/entry_id/7672894 http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=200067 - 77 -