Tailieu.vncty.com copy of-tieuluangis_683

329 views
254 views

Published on

http://tailieu.vncty.com/index.php

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
329
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
12
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Tailieu.vncty.com copy of-tieuluangis_683

  1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂNKHOA ĐỊA LÝBài tiểu luận:Tìm hiểu về OGC – Open GISNhóm thực hiện:1. Hồ Thị Hương Giang 07680282. Nguyễn Xuân Sang 0768150
  2. 2. Tp Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2009PHẦN MỞ ĐẦUHằng ngày chúng ta tiếp xúc với rất nhiều loại thông tin khác nhau, dù làthông tin chính trị, kinh tế, văn hoá hay xã hội đều mang bên trong nhữngcâu hỏi như: Ở đâu? Khi nào? Như thế nào? Những câu hỏi tưởng chừngnhư giản đơn lại bao hàm trong nó toàn bộ ý nghĩa của vấn đề. Một câuhỏi lớn được đặt ra là: Làm sao ta có thể biết được thông tin một cáchnhanh vf chính xác nhất?Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt làsự bùng nổ của công nghệ thông tin, cùng với xu thế toàn cầu hoá đangbao trùm toàn bộ thế giới, mỗi một sự kiện diễn ra ở nơi này sẽ là điềukiện để một sự kiện khác diễn ra ở nơi khác. Lúc này vấn đề khai thác vàquản lý thông tin không những đòi hỏi chất lượng mà còn cần tốc độ.Thông tin lúc này không giống như thư viện truyền thống, nó không tậptrung ở một nơi cố định, không chỉ là những quyển sách in sẵn mà nóphân bố theo không gian và theo các nguồn khác nhau. Khi muốn giảiquyết một vấn đề lớn, có phạm vi liên quan rộng thì ta phải làm sao đểtập hợp thông tin một cách nhanh chóng nhất? Giải pháp duy nhất có thểđáp ứng các yêu cầu thực tiễn nói trên là thiết lập một hệ quản trị cơ sởdữ liệu không gian, cụ thể hệ thống các cổng thông tin địa lý. Như vậy đãđầy đủ chưa? Hệ quản trị cơ sở dữ liệu này do ai quản lý? Sẽ rất nguyhiểm nếu đồng loạt các thông tin quan trọng nằm trong tay một người haymột tổ chức nào đó. Vì vậy, cần đồng thời ứng dụng phần mềm mãnguồn mở cho hệ quản trị cơ sở dữ liệu nói trên để mọi người khi cầnthông tin đều có được sự trợ giúp. Đây cũng là một xu hướng tiến bộđang được thịnh hành trong cộng đồng công nghệ thông tin và khuyếnkhích phát triển ở tất cả mọi nơi.Trên thế giới, từ những năm 60 – 70 của thế kỷ 20 đã bắt đầu phát triểnHệ Thống Thông Tin Địa Lý (GIS). Cùng với yêu cầu chia sẻ thông tin,tích hợp dữ liệu, quản lý tài nguyên thì OPEN GEOSPATIALCONSORTIUM (OGC) đã ra đời. Có thể nói đây là một bước tiến lớntrong lĩnh vực công nghệ thông tin đáp ứng nhu cầu thực tiễn. OGC đãgiải quyết được những nhu cầu của người dùng trong xu thế mới của thờiđại.Vậy OGC là gì? Nó ra đời như thế nào? Nó hoạt động ra sao? Những tiệních mà nó đem lại là gì? Với nguồn tài liệu và kiến thức có hạn, nhóm sẽđưa ra một số nét khái quát về OGC mà nhóm tìm hiểu được.Chương I – Khái quát về Hệ Thống Thông Tin Địa lý (GIS)1.1. Lịch sử hình thành của GIS:2
  3. 3. Vào những năm 1960, một số người đã có ý tưởng mô hình hoá khônggian lưu trữ vào máy tính, đó là một bản đồ đơn giản có thể mã hoá, lưutrữ trong máy tính, sữa chửa khi cần thiết, có thể hiển thị trên màn hìnhvà in ra giấy. Thời gian đầu, bản đồ điện toán ( computer cartography)thể hienj những điểm, các đường thẳng (vector) và chữ (text). Các đồ thịphức tạp có thể được xây dựng từ những yếu tố này. Tuy nhiên, khi xãhội càng phát triển, và các loại bản đồ ngày càng đa dạng trong việc thểhiện các đối tượng khác nhau trên bề mặt trái đất, các nhà quy hoạchnhận thức được sự cần thiết trong xử lý đồng thời nhiều hơn một bản đồđể có thể quy hoạch và lập quyết định một cách toàn diện nhất.Vào lúc này thuật ngữ “Bản đồ máy tính” được thay thế bởi thuật ngữ“Hệ thống thông tin địa lý” ( Geographical Information System).HTTTĐL đầu tiên xuất hiện vào năm 1964 thuộc dự án “ Rehabilitationand Development Agency Program” của chính phủ Canada. Cơ quan “Hệthống thông tin địa lý Canada – CGIS” đã thiết kế để phân tích, kiểm kêđất nhằm trợ giúp cho chính phủ trong việc sử dụng đất nông nghiệp. Dựán CGIS hoàn thiện vào năm 1971 và phần mềm vẫn sử dụng tới ngàynay. Dự án CGIS gồm nhiều ý tưởng sáng tạo mà được pha triển trongnhững phần mềm sau này.Giữa những năm 60 – 70, HTTTĐL phát triển chủ yếu trong Chính phủvà các phòng thí nghiệm. Năm 1964, ông Howard Fisher thành lập“Phòng thí nghiệm đồ hoạ máy tính Harvard”, phòng dẫn đầu về côngnghệ mới. Phòng thí nghiệm Harvard đã tạo ra một loạt các ứng dụngchính trong HTTTĐL, bao gồm: SYMAP (Synagrphic Mapping System),CALFORM, SYMVU, GRID, POLYRVRT, và ODYSSEY. Đặc biệt,ODYSEY là mô hình vector đầu tiên trong HTTĐL và nó trở thànhchuẩn cho các phần mềm thương phẩm.Hệ thống bản đồ tự động đã được phát triển bởi CIA trong những nămcuối của thập niên 60. Dự án này tạo ra “Ngân hàng dữ liệu Thế Giới củCIA”, thu thập thông tin đường bờ biển, con sông, ranh giới hành chínhvà phần mềm trọn gói CAM tạo ra những bản đồ tỉ lệ khác nhau từ dữliệu này. Đây là một hệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ đầu tiên trên ThếGiới.Hai công trình có giá trị khác là “Hệ thông tin sử dụng đất New York(1967)” và “Hệ thông tin quản lý đất (Minnesota – 1669)”.Năm 1969, Jack Dangermond, một người trong nhóm nghiên cứu tạiphòng thí nghiệm Harvard, cùng với vợ là Laura đã sáng lập ESRI.Những năm sau này ESRI trở nên vượt trội trong thị trường HTTTĐL vàtạo ra các sản phẩm phần mềm ArcInfo và ArcView.3
  4. 4. Hội nghị HTTTĐL được tổ chức lần đầu tiên vào 1970, tổ chức bởiRoger Tomlinson (CGIS) và Duane Marble (giáo sư tại NorthwesternUniversity)Trong những năm của thập niên 80 – 90, nhiều ứng dụng được phát triểnlà những gói phần mềm phát triển bởi các công ty tư nhân như: ArcInfo,ArcView, MapInfo, SPANS GIS, PAMAP GIS, INTERGRAPH, vàSMALLWORLD. Và rất nhiều ứng dụng đã chuyển từ hệ máy lớn vào sửdụng trong máy tính cá nhân (PC).Tại Việt Nam,dù phát triển khá chậm trễ (khoảng cuối thế kỷ 20), côngnghệ GIS cũng đã được nghiên cứu và có được một số sản phẩm có kếtquả đáng khích lệ. Thời gian gần đây, việc nghiên cứu công nghệ GIS đãcho ra hàng loạt ứng dụng áp dụng trong thực tế tại Tp. Hồ Chí Minh,như StreetFinder của DolSoft, hệ thống GIS trên website Ngân hàng bảnđồ trực tuyến của VDC, DMC, Dolsoft ( www.basao.com.vn), hệ thốngchỉ dẫn giao thông của nhóm AMI Group – Đại Học Khoa Học Tự NhiênTP Hồ Chí Minh.1.2. Các thành phần của HTTTĐL:GIS được kết hợp bởi năm thành phần chính: Phần cứng; Phần mềm; Dữliệu; Con người và Phương pháp.4
  5. 5. Hình 1 – Các thành phần của GIS1.2.1. Phần cứng:Phần cứng là hệ thống máy tính trên đó một hệ GIS hoạt động. Ngàynay, phần mềm GIS có khả năng chạy trên rát nhiều dạng phần cứng,từ máy chủ trung tâm đến các máy trạm hoạt động độc lập hoặc liênkết mạng.- Máy tính:Máy tính có thể sử dụng trong HTTTĐL là máy tính cá nhân, máy chủvà có thể làm việc trong môi trường mạng.- Thiết bị nhập dữ liệu:Bao gồm bàn số hoá (digitiezer) và máy quét (scanner). Bàn số hoádùng số hoá những yếu tố lựa chọn trên bản đồ giấy. Số hoá bằng bànsố là một phương pháp phổ biến chuyển đổi bản đồ giấy và hình ảnhthành dạng số. Tuy vậy, đây là quá trình phức tạp, đặc biệt là khichuyển đổi những bản đồ có mật độ cao. Máy quét ngày nay có thểthay thế bàn số bởi nó tự động chuyển đổi bản đồ giấy thành dạng số.Trong HTTTĐL, những ảnh Raster có thể chuyển thành dạng Vectorthông qua quá trình chuyển đổi “Raster to Vector”.- Máy in:Gồm các loại máy dùng để in bản đồ. Một số loại thường thấy như: inkim, in phun, in laser. Kiểu máy vẽ gồm: Bút vẽ, vẽ nhiệt thường đòihỏi phần cứng chất lượng cao.- Hệ thống lưu trữ:Gồm đĩa quang học, đĩa từ (ổ cứng máy tính), đĩa mềm, băng từ.Phần cứng được quan tâm nhiều nhất hiện nay là Hệ Thống Định VịToàn Cầu (GPS).1.2.2. Phần mềm.Phần mềm GIS cung cấp các chức năng và các công cụ càn thiết đểlưu giữ, phân tích và hiển thị thông tin địa lý. Các thành phần chínhtrong phần mềm GIS là:- Những công cụ cho phép nhập và thao tác với thông tin địa lý.- Hệ thống lưu giữ và quản trị cơ sở dữ liệu- Những công cụ cho phép chất vấn, phân tích, thể hiện, chuyển đổidữ liệu.- Giao tiếp đồ hoạ với người sử dụng dễ dàng truy xuất, trình bày dữliệu.1.2.3. Dữ liệu:Có thể coi thành phần quan trọng nhất trong một hệ GIS là dữ liệu.Các dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính liên quan có thể được người sử5
  6. 6. dụng tự tập hợp hoặc được mua từ nhà cung cấp dữ liệu thương mại.Hệ GIS sẽ kết hợp dữ liệu không gian với các nguồn dữ liệu khác,thậm chí có thể sử dụng Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS) để tổ chứclưu giữ và quản lý dữ liệu.1.2.4. Con người:Công nghệ GIS sẽ bị hạn chế nếu không có con người tham gia quảnlý hệ thống và phát triển những ứng dụng GIS trong thực tế. Người sửdụng GIS có thể là những chuyên gia kỹ thuật, người thiết kế và duytrì hệ thống, hoặc những người dùng GIS để giải quyết các vấn đềtrong công việc.1.2.5. Phương pháp:Những phương pháp thực hiện sẽ quyết định sự thành công của mộtdự án HTTTĐL, tuỳ thộc vào những kế hoạch thiết kế, luật lệ chuyểngiao,…Chương II – Tìm hiểu về Mã Nguồn Mở2.1. Khái niệm về Mã nguồn mở:Mã nguồn mở (Open Source Software) hiểu theo nghĩa rộng là mộtkhái niệm chung được sử dụng cho tất cả các phần mềm mà mã nguồncủa nó được công bố rộng rãi công khai và cho phép mọi người tiếptục phát triển phần mềm đó. Điều này không có nghĩa là chúng có thểđược sao chép, sửa chữa thoải mái hay sử dụng vào mục đích nàocũng được.Mã nguồn mở được công bố dưới rất nhiều điều kiện khác nhau,- Một số trong đó cho phép phát triển, sử dụng và bán tuỳ ý miễn làgiữ nguyên các dòng về nguồn gốc sản phẩm.- Một số bắt buộc các sản phẩm làm ra từ đó cũng là Open Source.- Một số đòi hỏi phải công bố trọn vẹn mã nguồn- Một số không cho phép sử dụng vào mục đích thương mại- Một số lại không có ràng buộc gì đáng kểQua đó ta thấy khái niệm Open Source không thể chuẩn xác mà muốnnói đến tính pháp lý của việc sử dụng các phần mềm mã nguồn mở,do đó chúng ta phải xem xét đến điều kiện sử dụng cụ thể mà theo đócác mã nguồn được công bố.2.2. Các tiêu chuẩn của một phần mềm Mã nguồn mở:- Tự do tái phối: Bản quyền sẽ không giới hạn việc bán hay đem chophần mềm đó như là một thành phần của bản phần mềm tổng hợp màcó chứa các chương trình từ nhiều nguồn khác nhau. Bản quyền sẽkhông đòi hỏi việc phải giữ nguyên trạng phần mềm hay các phí tổncho các cuộc trao đổi.6
  7. 7. - Mã nguồn: Chương trình phải đi kèm mã nguồn và phải cho phépphân phối cả mã nguồn cũng như dạng đã được biên dịch. Ở nhữngnơi mà một số dạng sản phẩm không được phân phối cùng mã nguồnthì phải có cách thức phổ biến rộng rãi nhằm khuyên khích cho phéptải về một cách miễn phí qua Internet.- Các chương trình phát sinh: Bản quyền phải cho phép sửa đổi và lậpcác chương trình phát sinh từ đó. Đồng thời phải cho phép chúngđược phân phối trên cùng các điều khoản như giấy phép của phầnmềm gốc.- Tính toàn vẹn của mã nguồn được cung cấp bởi tác giả: Bản quyềnphải cho phép một cách tường minh việc phân phối phần mềm đượctạo ra từ mã nguồn được sửa đổi. Bản quyền có thể yêu cầu các sảnphẩm phát sinh phải mang một cái tên hay một số hiệu phiên bản khácso với phần mềm gốc.- Không có sự phân biệt giữa các cá nhân hay nhóm người: Bản quyềnphải không phân biệt đối xử với bất cứ cá nhân hay nhóm người nào.- Không phân biệt đối xử với bất kỳ một lĩnh vực công việc nào- Việc phân phối bản quyền: Các quyền lợi đi kèm với chương trìnhphải áp dụng cho tất cả những ai mà chương trình đó được tái phânphối đến, đồng thời không cần phải thực thi bất kỳ giấy phép phụthêm nào khác do các bên đó quy định.- Bản quyền không được cản trở các phần mềm khác: Bản quyềnkhông được áp đặt các giới hạn lên các phần mềm khác mà được phânphối kèm với phần mềm có bản quyền đó. Ví dụ, bản quyền khôngđược chỉ dẫn nhất quyết rằng tất cả các phần mềm khác được phanphối trên cùng một tiện thì phải là phần mềm mã nguồn mở.- Giấy phép phải ngang bằng về mặt công nghệ: Không cho phép tồntại điều khoản nào của bản quyền khẳng định sự liên quan đến bất kỳmột công nghệ riêng biệt hay một kiểu giao diện nào.Như vậy, với những thông tin vừa nêu trên, chúng ta có thể thấy phầnmềm mã nguồn mở là cơ hội cho viêc nghiên cứu phát triển phầnmềm sử dụng sức mạnh của trí tuệ cộng đồng. Nói cách khác, phầnmềm mã nguồn mở là cơ hội tốt cho phát triển công nghệ thông tin,đảm bảo việc khai thác tốt và khai thaccs tối đa, tận dụng trí tuệ củathế giới và mang lại các lợi ích cho cộng đồng.Chương III – OGC – OPENGIS3.1. Khái niệm:OGC – Open Geospatial Consortium là một tổ chức xây dựng cácchuẩn mở với tính chất đồng tâm, tự nguyện, có tính toàn cầu, phi lợi7
  8. 8. nhuận. OGC dẫn dắt việc phát triển các chuẩn cho các dịch vụ trên cơsở vị trí và không gian địa lý. OGC hoạt động với chính quyền, cácnhà công nghiệp GIS và các viện nghiên cứu để tạo ra các giao tiếpứng dụng mở cho các HTTTĐL và các công nghệ chính yếu khác cóliên quan.Ngày nay, OGC là một tổ chức quốc tế của 383 công ty, cơ quanchính phủ và trường đại học tham gia trong quá trình tìm tiếng nóichung để phát triển các đặc tả giao tiếp cho cộng đồng. Chúng tathường gọi đó là các đặc tả OpenGIS (Open GIS Specifications). Cácđặc tả OpenGIS hỗ trợ các giải pháp đồng vận hành, tích hợp làm chodữ liệu địa lý luôn sẵn sàng phục vụ cho Web, các dịch vụ trên nềntảng định vị, các dịch vụ không dây và phù hợp với các xu hướngchính của Công nghệ thông tin. Các đặc tả sẽ tăng cường sức mạnhcho các nhà phát triển công nghệ nhằm biến các dịch vụ và thông tinkhông gian phức tạp trở nên dễ dàng truy cập và hữu ích với hầu hếtcác loại ứng dụng.3.2. Lịch sử ra đời của OGC:Vào giữa thập niên 80 của thế kỷ 20, HTTTĐL (GIS) đã có nhiềuphần mềm được sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng, quản lý tàinguyên thiên nhiên, đặc biệt là trong các cơ quan chính phủ. Trên thịtrường, các nhà kinh doanh, giao thông vận tải, kỹ thuật công trình đãnghiêm túc khai thác công nghệ này để ứng dụng trong lĩnh vực củamình. Mặc dù nhìn thấy tương lai tươi sáng nhưng cũng xuất hiệnnhững thất vọng và thất bại đau đớn giữa người dùng và công nghệmới này.Người dùng thích sức mạnh và tiềm năng của các ứng dụng mới trongGIS, đó là tính năng lập bản đồ và các công cụ phân tích không gian.Tuy nhiên các phần mềm có khả năng hạn chế trong việc mở rộng,chia sẻ dữ liệu không gian giữa các hệ thống, cùng với chi phí bỏ racho mỗi phần mềm rất lớn nên đã tạo ra sự thất vọng của người dùng.Trong khi một số sản phẩm GIS thương mại đã có sẵn, vì nhiều lý dokhác nhau liên quan đến kinh phí tài trợ, một số cơ quan tổ chức chỉphát triển phần mềm GIS của riêng họ. Vào cuối những năm 1970,Dịch vụ bảo vệ động vật và cá của Mỹ ( US Fish and WildliffeService) đã liên kết với các nhà phát triển MOSS_Bản đồ phủ vàthống kê hệ thống (Map Overlay and Statistical) cho ra đời mộtVector GIS mã nguồn mở và được sử dụng nhiều trong các văn phòngchính phủ, các tiểu bang và chính quyền địa phương. Đầu những năm1980, một GIS trên nền Raster – GRASS – Địa lý tài nguyên hỗ trợphân tích hệ thống ( Geographic Resource Analysis Support System)8
  9. 9. đã được phát triển ở Mỹ do tập thể các kỹ sư của CERL (ConstructionEngineering Reseach Laboratory) thuộc quân đội Mỹ xây dựng. Saunày, nhiều tổ chức như Corps of Engineers, Sở nông nghiệp và dịchvụ bảo tồn đất, các vườn quốc gia của Mỹ đã tham gia chuẩn hoáGRASS và nó đã được sử dụng rộng rãi trong các trường đại học trênthế giới. GRASS đã lợi dụng nhiều ưu điểm của tính mở trên môitrường UNIX và Internet, từ đo GRASS trở thành một trong những dựán phần mềm Mã nguồn mở đầu tiên trên thế giới. Với sự điều phốicủa CERL rất nhiều các nhà phát triển trên thế giới đã đóng góp cácmã nguồn của mình, GRASS đã rất thành công trong việc tích hợpchung với các gói phân tich ảnh, thống kê và xử lý không gian khác.Mặc dù nhận được giải thưởng cho các sáng kiến về GRASS nhưngsau này CERL phải chuyển hoạt động của mình sang khu vực tư nhânvì nhiều lí do khác nhau. Các nhà lãnh đạo GRASS cần thiết phải cóhỗ trợ từ khu vực tư nhân cho các phần mềm để hỗ trợ có hiệu quảcho người sử dụng trong chính phủ, trong các nghành công nghiệp vàcác học viện.Ba tổ chức thành lập tại thời điểm đó như là một kết quả của việc phổbiến rộng rãi sự quan tâm và sử dụng GRASS trong cộng đồng:- The GRASS Interagency Steering Committee (GIASC), đượcthành lập bởi một nhóm các cơ quan liên bang Hoa Kỳ với một sựghi nhớ những hiểu biết của năm 1990 để hỗ trợ và phối hợp pháttriển của GRASS tại chính phủ Mỹ. GIASC gặp nhau 2 lần mộtnăm cung cấp nguồn lực và hướng cho CERL của Văn phòng tíchhợp GRASS (Office of GRASS Intergration – OGI). Một trongnhững đóng góp quan trọng nhất của OGI đã được tạo ra và duy trì2 danh sách thảo luận Internet, một là danh sách người sử dụngGRASS và một là danh sách phát triển GRASS. Hàng ngàn ngườidân, cả trong và ngoài chính phủ đều tham gia vào danh sách củaOGI, và việc này đã trở thành một hoạt động . Diễn đàn thảo luậntoàn cầu của OGI nơi các câu hỏi về việc sử dụng hoặc vị trí củaGRASS được trả lơi trong vài phút, hoặc bởi các nhân viên kháccủa cộng đồng GRASS. GIASC và OGI cũng tích cực hỗ trợ xuátbản các tạp chí cộng đồng GRASS “GRASSCLIPPINGS” cũngnhư tổ chức các cuộc họp hằng năm của cộng đồng người sử dụngGRASS.- Một nhóm người sử dụng GRASS gọi là “GRASS: The UserForum” hoặc “GRASS TURF” được thành lập vào năm 1986 dướisự lãnh đạo của Kenn Gardels, chủ tịch đầu tiên của nó. Theo sựlãnh đạo của Gardels, TURF đã trở thành sự kết hợp giữa cá nhân9
  10. 10. người sử dụng GRASS với các tổ chức nhà nước và tư nhân, vàcác trường đại học. GRASS TURF cũng được hỗ trợ hoạt độngmột cách tích cực từ cả Hội nghị người dùng GRASS và tạp chíGRASSCLIPPINGS.- Trong năm 1991, song song với GRASS TURF, một số nhà lãnhđạo nổi bật của GRASS hình thành một cộng đồng người sử dụngkhông phải vì lợi nhuận, bước đầu cũng được gọi là GIASC. Tổchức này cung cấp một cơ cấu kinh doanh trong khu vực tư nhânđể hỗ trợ các hoạt động chính của cộng đồng người dùng GRASS,bao gồm cả GRASSCLIPINGS và Diễn đàn người sử dụng hằngnăm. GIASC sớm đạt được vị trí cung cấp cho cơ quan hành chínhvà tập trung vào một khu vực tư nhân cho hoạt động của GRASSTURF nói chung.Trong suốt năm 1992, tại một cuộc họp thường niên của các thànhviên TURF GRASS, TURF GRASS đã được kết hợp với GIASC philợi nhuận và sáng lập một hội đồng quản trị được bầu từ thành viêncủa TURF GRASS. Bao gồm các giám đôc của David Schell, nhữngngười đã hoạt động tích cực cho sự phát triển kinh doanh của cộngđồng cỏ thông qua các hoạt động trong các ngành công nghiệp máytính. David tham gia quyết định mới trong hội đồng rằng đổi tên cáctổ chức mới hợp nhất là “Open GRASS Foundation – OGF” và phạmvi của nó nên được mở rộng. OGF lên tiếng kêu gọi, thúc đảy cácthành phần tư nhân hỗ trợ GRASS và gây dựng sự đồng lòng của cácthành viên trong quá trình quản lý các hoạt động của GRASS.Việc khởi động OGF đã được hỗ trợ trong tất cả các hoạt động sángtạo bởi một thoả thuận hợp tác nghiên cứu và phát triển ( Cooperativeresearch and development agreement – CRADA) triển khai thực hiệngiữa OGF và USACERL mà theo đó cung cấp hệ quản lý và hỗ trợ kỹthuật cần thiết để hoàn thành mục đích của công ty mới. Trong đóCRADA đã được thiết kế để tạo điều kiện chuyển giao công nghệ từGRASS của CERL của dự án khu vực tư nhân. Trong khi công nhậnthành công của thoả thuận này, CERL đạt được giải thưởng của GSA“1993 Federal Laboratory Consortium Competition for Excellence inTechnology Transfer”.Trong những năm tiếp theo, OGF kêu gọi tài trợ từ chính phủ, khuvực tư nhân và các học viện. Bobs Moes, chủ tịch công ty PCIGeomatics, đã làm công ty của mình trở thành công ty OGF của tài trợthương mại đầu tiên.Với sự phổ biến rộng rãi của người sử dụng phần mềm GIS thươngmại lúc đó , các vấn đề về chia sẻ dữ liệu đã trở nên quan trọng. Thực10
  11. 11. sự, “kỹ thuật kết hợp 2 máy tính khác nhau” (technicalinteroperability) – thời gian thực của truyền thông dữ liệu và hướngdẫn giữa hai hệ thống khác nhau – là một ý tưởng được ít người khámphá.Ngoài các giao tiếp của PCI tài trợ, hướng phát triển kết hợp hệ thốngchuyển thành chính và tăng khi Sun Microsystems’Academic Grantstrao giải thưởng trị giá 80000$ để hỗ trợ một đề xuất nhiều sản phẩmmà các tổ chức làm việc cùng nhau để tích hợp một hệ thống khônggian địa lý hữu dụng nhằm phát triển môi trường. Bao gồm cả Vectorvà Raster GIS, một cơ sở dữ liệu, và một gói phần mềm thống kê. Dựán được đặt tên là “Open GIS Application Environment” hoặc“OGAE”. Dưới sự hướng dẫn của nhóm nghiên cứu, OGAE nhanhchóng phát triển thành một hướng đi mới mang tên OpenGIS cho cáckhái niệm và những mối quan tâm lớn của doanh nghiệp này trở thànhnhững sản phẩm tích hợp khả năng của không gian vào trong chínhmôi trường công nghệ thông tin của các mạng.12/1993, tại hội nghị của GRASS User tại Washington DC,“OpenGIS” và “OGAE” là các chủ đề chính cho các bài báo cáo vàthảo luận.Trong suốt quá trình phát triển của những năm đầu thập kỷ 90, máytính đã trở thành trung tâm trên mạng. Nhóm quản lý đối tượng ( TheObject Management Group – OMG), một thành viên được tổ chứcdựa trên những tiêu chuẩn công nghiệp tập trung vào việc phát triểncác chi tết kỹ thuật cho phép liên kết các hệ thống dựa vào kỹ thuậtphần mềm, đã được phát triển rất nhanh chóng, và nói chung là cóbước tiến trong việc phát triển các ngành công nghiệp phần mềm theohướng chia sẻ giao diện, định hướng đối tượng chương trình và đốitượng mẫu. Các ý tưởng OGAE đã được phát triển thành một tầmnhìn của Geoprocessing System (Hệ thống quy trình không gian) kếtnối trực tiếp trên mạng lưới bằng phương tiện của một giao diện mởdựa trên “Open Geodata Interoperability Specification (OGIS)”(6/1993).Cuối cùng, sự cần thiết cho một giao diện mở dẫn đến sự thay đổi mộttổ chức khác, bởi vì OGF – một nền tảng – dường như không tổ chứcđể phát triển các chi tiết kỹ thuật. Và OMG đã đạt được những gì cầnthiết trong xu thế mới. Điều này dẫn đén yêu cầu kết hợp các công tynhằm thành lập một trạng thái mới không phải cho lợi nhuận. Công tyđã được kết hợp như là “Công ty TNHH OGIS – OGIS.ltd” ngày25/8/1994. Tháng 10/1994, đổi tên thành “Open GeospatialConsortium, Inc”.11
  12. 12. OGC được thành lập với 8 thành viên: Camber Corporation, Đại họcArkansas – CAST; trung tâm nghiên cứu thiết kế cho môi trường tạitrường đai học California – Berkeley, Intergraph Corporation, PCIRemote Sensing, QUBA, USACERL (US Army Corps of EngineersResearch Laboratory), và Dịch vụ bảo tồn đất USDA.OGC đưa ra nhãn hiệu “OpenGIS”. Nhãn hiệu này được bảo vệ chínhthức của “ Cộng đồng sỡ hữu trí tuệ - Community intellectualproperty”, điều này là rất cần thiết để kích hoạt OGC phát triển xứngtầm với vị trí của mình và các sản phẩm của OpenGIS (OpenGISSpecifications) thật sự “mở” và cung cấp trung lập (vendor – neutral).3.3. Quá trình hợp tác phát triển của OGC:3.3.1. Hợp tác:Từ năm 1994 đến nay, OGC đã hợp tác với nhiều tổ chức để thúc đẩyphát triển.- Liên bang uỷ ban dữ liệu địa lý quốc gia ( The Federal GeographicData Committee – FGDC).- OGC nhận được tài trợ thông qua Thoả thuận hợp tác của NASA(NASA Cooperative Agreement Notice – CAN), theo đó đã giúphỗ trợ phát triển một cách mạnh mẽ quy trình của Uỷ ban kỹ thuật.- Bắt đầu từ tháng 12/1994, OGC đã có năm đối tác: Trung tâm viễnthám và ứng dụng không gian ở Rutgers, Belcore, Cục tài nguyênCalifornia, NASA và công ty cổ phần Camber.- Oracle tham gia vào OGC trong tháng 3/1995, dẫn đến một thực tếlà mở giao diện satter,mô hình hệ thống không gian cũ. Oraclecông nhận có cơ hội sử dụng các phần mềm cơ sở dữ liệu khônggian lưu trữ thông tin phức tạp, làm cho dữ liệu và chức năng sẵncó của dữ liệu Oracle đến với các hệ thống không gian địa lýs khácthông qua giao diện OpenGIS.- OGC viết và xuất bản “The OpenGIS Guide – Introduction toInteroperable Geoprocessing” (Hướng dẫn dùng OpenGIS và giớithiệu về Interoperable Geoprocessing). Hàng trăm bản sao đá đượcbán và cung cấp cho thành viên. Ngoài ra, nội dung của sách cònđược sắp đặt trực tuyến, miễn phí để tải về. “The Guide” đã giúpgiáo dục người dân về công nghệ của OpenGIS Specification.- Tháng 11/1996, Microsoft đã tham gia vào OGC. Họ tập trung chủyếu vào giáo dục cho các thành viên khác trong công ty về cơ hộivà trở ngại của máy tính di động đối với các dịch vụ. Đồng thời,giúp đỡ để đưa các tiêu chuẩn của OGC hội nhập với các tổ chứctrong lĩnh vực này.12
  13. 13. Từ năm 1997 trở về sau OGC đã có những bươc phát triển vững chắcvà ngày càng trở nên phổ biến cùng với xu hướng toàn cầu hoá đanglan rộng trên toàn thế giới.3.3.2. Các thành tựu đạt được:OGC đã đưa ra nhiều sản phẩm từ giao diện OpenGIS.Năm Tên sản phẩm1997 OpenGIS Simple Features Specification1999 OpenGIS Grid Coverages SpecificationOpenGIS Catalog Services Interface Specification2000 OpenGIS Coordinate Transformation Services SpecificationOpenGIS Web Map Services Specification2002 OpenGIS Web Map Services SpecificationOpenGIS Geography Markup Language Specification(GML2.1)OpenGIS Styled Layer Descriptor ImplementationSpecification2003 OpenGIS Web Map Context Interface Specification2004 OpenGIS Location Services (OpenLS) SpecificationsBảng 1 – các sản phẩm của OGC3.4. Các chương trình hoạt động của OGC:OGC chia thành 3 khối quản lý lớn:- Specification Program : phụ trách các chương trình kỹ thuật.- Interoperability Program : Phụ trách vận hành kỹ thuật để đẩynhanh sự phát triển và phổ biến của OpenGIS Specification.- Outreach and Adoption Program: Đây là chương trình giúp ngườidụng tận dụng được lợi ích có ở các tiêu chuẩn mã nguồn mở củaOGC. Hỗ trợ các tài liệu kỹ thuật, tài liệu đào tạo, triển khai thamchiếu có sẵn trên OGCNetwork. Ngoài ra, ở chương trình này,OGC và các thành viên còn hỗ trợ các án phẩm, hội thảo, hội nghịđể giúp công nghệ phát triển.13
  14. 14. Hình 3 - Sơ đồ tổ chức của OGCMột số chương trình chính trong hoạt động của OGC:- Xây dựng mô hình thông tin (Building Information Models – BIM)- Phòng thủ và tình báo quân sự (Depense & Intelligence)- Quản lý thiên tai (Disaster Mannagerment)- Phản ứng khẩn cấp (Emergency Response)- Tài nguyên và môi trường- Quản lý không gian địa lý (Geospatial Rights Management –GeoRM)- Homeland Security- Các trường đại học & hoạt động nghiên cứu.3.5. OpenGIS Specification (Đặc tả OpenGIS) và vai trò của nó:Đặc tả OpenGIS là một đặc tả toàn diện của một bộ khung phần mềmcho phép các truy cập phân tán đến Geodata và những tài nguyênGeoprocessing. Đặc tả này cung cấp cho các nhà phát triển phần mềmtrên thé giới một khuôn mẫu giao diện chung cặn kẽ để viết các phầnmềm hoạt động chung với các phần mềm dạng OpenGIS khác.Bộ khung OpenGIS (OpenGIS Framework) gồm:- Một cách thức chung dạng số thể hiện Trái Đất và các hiện tượngcủa nó trên cơ sở toán học và khái niệm.14
  15. 15. - Một mô hình chung để thực hiện những truy cập, quản lý, thao tác,trình bày, và chia sẻ Geodata giữa những cộng đồng thông tin.- Một bộ khung để sử dụng mô hình Open Geodata và mô hình dịchvụ OpenGIS để giải quyết vấn đề khả năng không hoạt động kếthợp không chỉ về mặt kỹ thuật mà cả về mặt tổ chức.Các nhà phát triển xây dựng những hệ thống có giao diện thích ứngOpenGIS Specification sẽ tạo ra những phần mềm trung(Middleware), phần mềm bộ phận (Componentware) và những ứngdụng có thể kiểm soát một phạm vi rộng kiểu Geodata và các hàmGeoprocessing.Ưu điểm của OpenGIS Specification thể hiện qua các mặt sau:- Đối với người phát triển ứng dụng có thể dễ dàng và linh hoạt hơnđể có thể viết phần mềm để truy cập geodata, truy cập những tàinguyên Geoprocessing, sửa dổi những ứng dụng theo nhu cầu củangười dùng cụ thể, tích hợp không gian và phi không gian. Và cóthể chon một môi trường phát trienr hay cung cấp những ứng dụngtrên những nền tảng đa dạng và cũng có thể sử dụng lại mãGeoprocessing.- Đối với nhà quản lý thông tin : Có thể linh hoạt hơn trong việc truycập hoặc phân phối geodata, cung cấp những khả năng củaGeoprocessing tới khách hàng, tích hợp dữ liệu địa lý và xử lý vàomột kiến trúc tính toán liên hợp.- Đối với người dùng cuối là những người hưởng lợi tối ưu, họ nhậnđược sự truy nhập một cách nhanh chóng đến một hệ thống thôngtin rộng lớn với nhiều ứng dụng, khaai thác thông tin địa lý chínhxác, làm việc với những kiểu Geodata và định dang khác nhau bêntrong một môi trường ứng dụng đơn và dòng công việc liên tục.Chương IV – OGC – OpenGIS ở Việt Nam4.1. Sự phát triển OGC ở Việt Nam:Cùng với quá trình phát triển của đất nước, ở Việt Nam hiện nay đã cósự thâm nhập của các hãng GIS nổi tiếng như ESRI, Intergraph,MapInfo. Tuy nhiên, số lượng Web GIS trên internet có được lại rất ít,không đáng kể so với quy mô được đầu tư. Hiện nay, OGC vẫn còn ởdạng tiềm năng chưa phát triển mạnh ở Việt Nam. Ở Việt Nam, mặcdù những năm gần đây có nhiều trang webGIS nhưng hầu hết trong sốđó đều theo xu hướng không đồng vận hành. Điều đó có nghĩa cácweb mang tính cục bộ và theo các chuẩn của từng hãng riêng lẻ, tínhchia sẻ thông tin không cao và hạn chế.15
  16. 16. Hình 4 – Xu hướng không đồng vận hànhMột số địa phương đã sử dụng công nghệ này để khai thác thông tinvề hồ sơ địa chính, nhưng vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm. Ví dụnhư:- Trang web Bản đồ địa chính của tỉnh Bắc Ninh(www.sotnmt.bacninh.vn)- Trang WebGIS của chính phủ Việt Nam(www.gis.chinhphu.gov.vn) còn rất sơ xài và thông tin hạn chế.- Trung tâm thông tin Bộ Tài nguyên và Môi Trường cũng đang tiếnhành thử nghiệm webGIS dựa trên chuẩn mở quốc tế OpenGISWMS trong khuôn khổ dự án Cơ sở dữ liệu tích hợp Tài Nguyênvà Môi Trường. Với việc cung cấp dịch vụ WMS theo chuẩn mởOpenGIS (OGC), người sử dụng có thể sử dụng các phần mềmthông ụng như MapInfo 7.5, ArcMap9.2,… để truy cập và hai thácdữ liệu. Việc sử dụng các chuẩn mở OpenGIS là bước tiến mớitrong việc chia sẻ và công khai thông tin theo hướng hiện đại. Tuynhiên, dự án này vẫn đang ở trong giai đoạn thi công và chă thẻhiện hết khả năng chia sẻ công khai thông tin cho cộng đồng.- Ngoài ra, Trung tâm ứng dụng GIS Tp. Hồ Chí Minh với chứcnăng nhiệm vụ của mình đang tiến hành nghiên cứu các đề tài vàxây dựng các dự án nhằm mục tiêu giúp người sử dụng dễ dàngtìm kiếm, khai thác và sử dụng các nguồn dữ liệu trên địa bànthành phố.4.2. Ứng dụng của OGC - OpenGIS ở Việt Nam:16
  17. 17. Hiện nay có trên 50 nước đã thiết lập hạ tầng cơ sở dữ liệu không iantheo chuẩn OGC, chúng ta có thể dễ dàng tìm kiếm các thông tin ứngdụng này trên Internet.Dưới đây xin đưa ra ứng dụng cho module quản lý bản đồ hành chínhcủa thành phố Hồ Chí Minh JVNWebGIS. Đây là kết quả ứng dụngOGC – GeoPortal của tổ chức Java –Việt Nam – cộng đồng mã nguồnmở Java trong sản phẩm JVN – GIS.17

×