• Like

Loading…

Flash Player 9 (or above) is needed to view presentations.
We have detected that you do not have it on your computer. To install it, go here.

Xu The Phat Trien Cua Cac Pttt

  • 3,109 views
Uploaded on

 

More in: Education , Technology
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
No Downloads

Views

Total Views
3,109
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
99
Comments
1
Likes
1

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. 1. Một vài nét về sự phát triển của các ấn phẩm (báo, tạp chí, sách, áp - phích, tờ rơi) 1.1 Xu thế phát triển của báo và tạp chí. Các số liệu thống kê đã cho thấy rằng, số lượng báo và tạp chí ngày càng có sự gia tăng về số lượng. Tính đến ngày 20-6-2005, cả nước có hơn 700 tờ báo, tạp chí, gần 1.000 bản tin, phụ trương và 14.000 nhà báo chuyên nghiệp (Nguồn: Báo Tuổi Trẻ, 20-6- 2005, tr. 1). Về tổng số báo và tạp chí, tính đến năm 2007 cả nước ta xuất bản: 1063.5 triệu bản. Và tỉ lệ bình quân số lượng báo trên người cũng ngày càng ra tăng : 12.5 bản/ người/20071. * Số lượng báo và Số lượng tờ báo và tạp Năm * Dân số tạp chí chí chia theo đầu người 82.860.900 989.300.000 11.9 200 5 83.892.200 991.300.000 11.8 200 6 85.154.900 1.063.500.000 12.5 200 7 Có thể kể đến một số tờ báo và tạp chí lớn ở Việt nam như: • Báo Nhân Dân là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày nay báo phát hành 180.000 tờ mỗi ngày, báo Nhân Dân cuối tuần được phát hành 110.000 tờ mỗi kỳ, và nguyệt san Nhân Dân hằng tháng được phát hành 130.000 số mỗi kỳ. Nhân Dân điện tử được ra đời trên Internet vào ngày 21 tháng 6, 1998. • Hoa Học Trò là một tuần san của Báo Sinh Viên Việt Nam. Đây là tờ báo chuyên viết cho các độc giả tuổi thiếu niên. Hoa Học Trò bắt đầu phát hành từ ngày 15 tháng 10 năm 1991, dưới sự hỗ trợ của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Số lượng ấn phẩm của báo đã đạt 20 vạn bản/1 đầu sách. • Báo Thanh Niên ra đời vào năm 1986, Báo Thanh Niên trực thuộc Hội liên hiệp Thanh Niên Việt Nam. Tờ báo được ra định kỳ, mỗi ngày một lần. • Báo Sài Gòn Giải Phóng là nhật báo lớn của Việt Nam, trực thuộc Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, có số lượng phát hành mỗi ngày lên tới trên 200.000 bản. Số lượng cán bộ phóng viên, công nhân viên trên 500 người. Báo có một nhà in. • VnExpress hay Tin nhanh Việt Nam là một một tờ báo điện tử tại Việt Nam. • Trong số hơn 10 tờ báo điện tử tại Việt Nam, VnExpress luôn có số người truy cập lớn nhất Việt Nam, tốp 300 của thế giới • Báo Tuổi Trẻ là cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh TP. HCM và gồm bốn ấn bản: nhật báo Tuổi Trẻ, tuần báo, Tuổi Trẻ Cười và báo điện tử Tuổi Trẻ. Báo phát hành trên toàn quốc với số lượng gần 500.000 bản/ngày, lớn nhất Việt Nam (số liệu từ tháng 6-2008). Từ ngày 2 tháng 4 năm 2006, báo Tuổi Trẻ chính thức trở thành một tờ nhật báo khi được phép ra thêm * Nguồn http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=394&idmid=3&ItemID=7906 1
  • 2. một kỳ vào ngày chủ nhật. Cùng lúc đó, tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật đổi tên thành Tuổi Trẻ Cuối tuần (hiện phát hành 60.000 bản/kỳ Và theo một nguồn tài liệu khác, số lượng phát hành của một vài tờ báo lớn trong nước (tính đến 6-2005) cũng đạt được ở mức rất lớn.* Nhật báo: Tuổi Trẻ 350.000, Thanh Niên 165.000, Sài Gòn Giải Phóng 130.000, Người Lao Động 85.000, Lao Động 80.000, Hà Nội Mới 32.000.* Tuần báo, bán nguyệt san và nguyệt san: Công An TP. HCM 500.000, Thế Giới Phụ Nữ 150.000, Sài Gòn Tiếp Thị 85.000, Tiếp Thị và Gia Đình 67.000, Thời Trang Trẻ 65.000, Tiền Phong 110.000, Phụ Nữ Việt Nam 110.000, Thế Giới Mới 80.000, Kiến Thức Ngày Nay 90.000, Gia Đình và Xã Hội 80.000, Phụ Nữ TP. HCM 75.000, Phụ Nữ Chủ Nhật 80.000. Có khoảng 20 tờ báo đã thực hiện báo điện tử trực tuyến, đa số ở TP. HCM.2 1.2 Sách và các ấn phẩm Đầu Triệu Năm Văn hóa phẩm bản sách nghìn bản 1995 19500 8186 169.8 1996 18633 8263 167.1 1997 15800 8663 161.5 1998 13022 9430 166.9 1999 16494 9850 191.7 2000 22800 9487 177.6 2001 23028 11445 166.5 2002 25422 13515 217.5 2003 28054 14059 222.8 2004 27230 14648 206.6 2005 34670 17800 252.4 2006 35510 20149 229.9 2007 37286 26609 276.4 Bảng: Sự phát triển của sách và các ấn phẩm ở Việt nam.3 Cùng với báo và tạp chí thì số lượng các loại sách và văn hóa phẩm cũng không ngừng ra tăng. Năm 2007, số đầu sách trong cả nước là 26609 so với 8186 năm 1995 và được in thành 276,4 triệu bản so với 169.8 triệu bản năm 1995. Đây là số bản in chính thức nhưng trong thực tế có hàng triệu cuốn sách in thêm ngoài số lượng đăng ký hoặc in lậu không có phép do nhiều lý do như để tránh xuất bản phí cao (trung bình từ 5-7% tính trên giá bán ấn phẩm và không được giảm theo luỹ tiến về số lượng nên càng in nhiều càng phải đóng phí nhiều), không muốn trả tác quyền hoặc chi phí thực hiện khâu chế bản… Số lượng sách ở Việt Nam, ngoài sách giáo khoa, vẫn còn rất ít so với tỷ lệ người dân: 21 triệu bản sách so với 80 triệu dân hiện nay - như vậy cứ 4 người mới có 1 cuốn sách. Vài nét về hiện trạng truyền thông xã hội tại Việt nam – nguồn 2 http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=print&sid=1887 Nguồn: http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=395&idmid=3&ItemID=7685 3
  • 3. Tỷ lệ này thấp so với các nước phát triển và nhiều nước trong khu vực. Ngoài ra, phải kể thêm trong phương tiện truyền thông sách ở nước ta đó là 37286 nghìn bản văn hoá phẩm gồm những bưu thiếp, tờ bướm quảng cáo, nhãn băng đĩa các loại…so với năm 1995, số lượng các văn hóa phẩm này đã tăng lên gấp hai lần.4 Về số lượng thư viện, hiện nay cả nước hiện nay có tổng số 686 thư viện, chỉ có một thư viện trung ương, 64 thư viện tỉnh, thành phố, (như vậy là mỗi tỉnh thành phố đều có một thư viện), 606 thư viện quận, huyện, 15 thư viện thiếu nhi với tổng số sách là 21.092 cuốn (Niên Giám Thống kê 2007, tổng cục thống kê) và so với các thời kì trước thì số lượng các thư viện này đều tăng lên, duy chỉ có thư viện trung ương là duy trì ở mức một cái. Số lượng sách trong thư viện cũng ngày càng tăng lên Tuy nhiên, hầu hết các thư viện trung ương hay tỉnh thành chưa được trang bị các máy móc điện tử và sách báo điện tử để người đọc có thể truy cập. Ý niệm về thư viện điện tử hãy còn xa lạ với rất nhiều người.. 2. Nhận xét về xu thế phát triển của các ấn phẩm. 2.1 Các ấn phẩm sẽ phát triển theo xu hướng ngày càng gia tăng về số lượng sách, báo, tạp chí và có sự cải thiện về chất lượng, nội dung ngày càng có sự phong phú, đa dạng hơn. Tất cả những dấu hiệu trên đã cho thấy được sự phát triển mạnh của báo chí báo chí Việt Nam theo hướng gia tăng, cải thiện cả về số lượng tờ báo, số lượng phát hành và chất lượng của chúng. Điều này cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng, các ấn phẩm này sẽ tiếp tục có sự phát triển gia tăng về số lượng và có sự cách tân, cải thiện về chất lượng trong thời gian tới. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các ấn phẩm này sẽ tiếp tục có sự gia tăng về số lượng để đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Một mặt, bản thân các nhà làm báo cũng phải tự nâng cao chất lượng công chúng để giữ chân và thu hút công chúng “những độc giả trung thành của mình” Mặt khác, sự tương tác, gắn kết giữa độc giả và những nhà làm báo, nhà xuất bản.. ngày càng trở nên thường xuyên hơn và trực tiếp hơn qua những đóng góp, trao đổi, phản hồi với họ về nội dung, hình thức và chất lượng của các ấn phẩm này. Vì thế mà nội dung và hình thức cũng sẽ ngày càng có những sự đổi mới theo hướng ngày càng đa dạng, phong phú hơn và gần gũi với cuộc sống hơn để đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của công chúng. Do vậy, mà một số ấn phẩm đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của công chúng. Thực tế trong giai đoạn hiện nay, Báo chí Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu hoàn chỉnh như một diễn đàn của nhân dân trong đấu tranh chống tiêu cực, lãng phí, tham nhũng, trong vai trò giám sát các cơ quan điều hành xã hội và góp phần dân chủ hoá đời sống. Và trở thành một phương tiện truyền thông khá đắc lực trong việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước tới người dân để thực hiện Song chúng ta có thể thấy rằng hiệu quả truyền thông của các sách và ấn phẩm này sẽ hạn chế hơn so với báo, internet và truyền hình, phát thanh. Một phần do nội dung và hình thức của các loại sách còn ít được đổi mới. các tác phẩm có giá trị cũng còn it, mặt khác nhìn chung sở thích đọc sách của người Việt còn rất hạn chế ngay cả đối với học sinh, sinh viên “văn hóa đọc bị mai một”. . 2.2 Xu thế thương mại hóa các ấn phẩm. Bên cạnh nhữn mặt tích cực trên, cũng không thể không nói tới những mặt tiêu cực của các ấn phẩm, đặc biệt là của báo, tạp chí Việt nam như sự phát triển thiếu cân đối, khoa 4 http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=394&idmid=3&ItemID=7908
  • 4. học của nhiều loại hình báo chí dẫn đến tình trạng thông tin chồng chéo, trùng lặp, gây lãng phí, làm giảm đi sự yêu thích của công chúng. Và trong cả giai đoạn hiện nay, cũng như trong thời gian tới, do mục đích chạy theo lợi nhuận, lợi ích kinh tế của các tờ báo, sách mà đã và đang và sẽ tiếp tục có xu hướng thương mại hóa báo chí. Nó ngày càng được thể hiện rõ nét trên tất cả các loại báo như: báo viết, phát thanh (báo nói), truyền hình (báo hình)... Ngày càng có sự xung đột lớn giữa chất lượng báo chí và việc tìm kiếm lợi nhuận. Chất lượng báo chí không còn là yếu tố được các nhà truyền thông, tổ chức truyền thông đặt lên hàng đầu. Các hoạt động truyền thông đại chúng có xu hướng thay đổi về cả nội dung và hình thức nhằm tăng các lợi ích kinh tế. Sự mua bán, trao đổi thông tin trong báo chí nhằm thu lại lợi nhuận ngày càng phát triển. II. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA INTERNET. 1. Thực trạng sử dụng Interner ở Việt Nam: Từ 19/11/1997 Việt Nam chính thức kết nối vào mạng Internet toàn cầu. Đến nay, cả nước có 6,3 triệu thuê bao Internet quy đổi, đáp ứng nhu cầu của 20,5 triệu dân, đạt mật độ 18,64 người/100 dân, cao hơn bình quân khu vực ASEAN và thế giới; vượt qua Thái Lan (12,65%), Trung Quốc (9,41%), Philippin (9,12%).. Internet đã đi vào 100% các Viện nghiên cứu, các trường Đại học và Cao đẳng, các Bệnh viện trung ương, các Tập đoàn và các Tổng Công ty Nhà nước, 98% các trường Trung học phổ thông, Trung học chuyên nghiệp, 92% các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 50% các trường Trung học cơ sở, Bệnh viện cấp tỉnh. Internet cũng trở thành một phần không thể thiếu được của các cơ quan, tổ chức : 26/26 Bộ Ngành, 56/64 tỉnh thành có Website và bước đầu đã đi vào cuộc sống nhân dân tới các điểm Bưu điện-Văn hoá Xã, len lỏi về làng, đến tận vùng sâu, vùng xa5…. 5 http://www.viet-hancorp.com.vn/vietnamese/content/view/84/65/
  • 5. 25 20.5 20 17.2 14.6 15 10.7 10 6.3 6.3 4.8 4 5 3 2.9 1.6 0.8 0 2003 2004 2005 2006 2007 T9/2008 Số thuê bao Số ngườ i sử dụng ( Nguồn: http://www.thongkeinternet.vn/jsp/trangchu/index.jsp) 1. Biểu đồ Phát triển internet tại Việt Nam 2003-2008 (đơn vị : triệu) Có thể nói năm 2003 so với tháng 9/2008 số thuê bao và số người sử dụng ` internet ở Việt Nam tăng khá mạnh số thuê bao tăng gấp 8 lần số người sử dụng tăng khoảng 7 lần, tương ứng khoảng mỗi năm trung bình có thêm khoảng 1,1 triệu thuê bao và 3 triệu người sử dụng internet. Trong đó nhanh nhất là giai đoạn từ năm 2007 đến tháng 9/2008 tăng 1,5 triệu thuê bao và 3,3 triệu người sử dụng. Như vậy có thể nói internet đang ngày càng phát triển, chiếm ưu thế và thể hiện rõ tính ưu việt của mình.
  • 6. Tình hình phát triển Internet tháng 11/ 2008. Statistics on Internet development upto 11/2008 - Số người sử dụng : 20669285 Users - Tỉ lệ số dân sử dụng Internet : 24.20 % Users per capita - Tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của Việt Nam : 36737 Mbps Total International connection bandwidth of Vietnam - Tổng băng thông kênh kết nối trong nước: 67960 Mbps Total domestic connection bandwidth (trong đó băng thông kết nối qua trạm trung chuyển VNIX: 24000 Mbps) (Connection bandwidth through VNIX) - Tổng lưu lượng trao đổi qua trạm trung chuyển VNIX : 33023289 Gbytes Total VNIX Network Traffic - Tổng số tên miền .vn đã đăng ký: 90189 Dot VN domain names - Tổng số tên miền Tiếng Việt đã đăng ký: 4156 Vietnamese domain names - Tổng số địa chỉ IPv4 đã cấp : địa chỉ 6589440 Allocated Ipv4 address - Số lượng địa chỉ IPv6 qui đổi theo đơn vị /64 đã cấp : /64 địa chỉ 42065754112 Allocated Ipv6 address - Tổng thuê bao băng rộng (xDSL) : 1994815 Total broad bandwidth Subscribers Nguồn: http://www.thongkeinternet.vn/jsp/trangchu/index.jsp Công nghệ Thông tin Việt Nam tuy tăng trưởng khá nhanh trong khu vực nhưng so với bản đồ công nghệ thông tin thế giới vẫn ở mức thấp: chỉ số xã hội thông tin được xếp thứ 53/53, chỉ số chính phủ điện tử xếp thứ 97/173 nước, chỉ số truy cập số (IDA) đứng thứ 122/178, tỷ lệ vi phạm bản quyền đứng cuối bảng 86/86 (x. Người Lao Động, số 3349, ngày 6-7-2005, tr. 16). Trích lại http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1887 6
  • 7. Số máy vi tính cá nhân được lắp đặt trong các trường học, tổ chức kinh tế-xã hội cũng như trong gia đình hiện nay ước tính đã lên tới khoảng hơn 5 triệu máy và số máy vi tính sản xuất trong nước cũng như nhập từ nước ngoài càng ngày càng tăng. Nhà nước đã có những chương trình phổ cập về vi tính cho mọi học sinh và phổ biến cho cả đồng bào ở nông thôn cũng như ở vùng sâu vùng xa. Tuy khuyến khích sử dụng vi tính và Internet nhưng người ta vẫn chưa dạy cách sử dụng thế nào cho đúng và mang lại hiệu quả thiết thực. Trong một cuộc điều tra do Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Đoàn tổ chức tại Hà Nội, ngày 17-4-2005, trong tổng số 80% học sinh THPT truy cập Internet có tới 92% để nghe nhạc, chỉ có 5% truy cập để học tập (x. Tuổi Trẻ, 18-4-200, tr.17). Dịch vụ Internet được mở ra ở khắp nơi chủ yếu để đáp ứng nhu cầu giải trí cho 90% người đến truy cập. Nhiều dịch vụ mở ra những phòng VIP hạng sang và nhiều nơi chiều khách hàng bằng cách truyền những phim ảnh đồi truỵ từ máy chủ sang những máy con. Điều này làm băng hoại đạo đức, nhất là đối với các thanh thiếu niên như chúng ta đã thấy một số bài đăng trên các tờ báo (An ninh Thế giới, số 435, ngày 19-3-2005, tr.1,4; Phụ Nữ, số 55, ngày 22-7-2005, tr.1,14; Tuổi Trẻ, 25,26,27-7-2005) 2.Xu hướng phát triển của internet Nếu hình dung hiện nay VN có trên 70% dân số dưới 35 tuổi, trong 15 năm nữa, số lượng người 50 tuổi sẽ là cán bộ tương đối chủ chốt trên tất cả các lĩnh vực, họ chắc chắn không thể không biết sử dụng Internet. Về mặt tự nhiên đã có hơn 70% dân số sử dụng Internet. Vì thế mục tiêu 80-90% dân số dùng mạng không phải là quá ghê gớm. Nhưng có một số việc phải làm để đạt được đích đó. Bộ Bưu chính Viễn thông dự tính đến năm 2010, mật độ thuê bao Internet trong nước đạt 13-15% thuê bao trên 100 dân và số người sử dụng Internet là 35-40% dân số tức là khoảng 43 triệu dân. Và trong 3 năm tới, 70% số xã có điểm truy cập Internet băng rộng, 100% huyện và xã trong vùng kinh tế trọng điểm được cung cấp dịch vụ này8 Việt Nam đã hình thành thị trường cạnh tranh với 6 nhà cung cấp hạ tầng mạng và nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet. Tính đến đầu tháng 12/2005, bốn nhà khai thác viễn thông di động đang chia sẻ thị phần là VinaPhone 43%, MobiFone 34%, Viettel 18% và S-Fone 5%. Dịch vụ truy nhập Internet có mức cạnh tranh cao hơn với Trích lại http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1887 7 8 http://www.vnexpress.net/GL/Vi-tinh/2005/12/3B9E5596/
  • 8. VNPT chiếm 48% thị phần, tiếp sau là: FPT 29%, Viettel 11%, SPT (5%), Netnam 4,7%. Các doanh nghiệp còn lại chiếm thị phần không đáng kể. Ngày 16/5/2007 tại trụ sở Bộ 18 Nguyễn Du - Hà Nội, nhân kỷ niệm 10 năm Internet Việt Nam, kỷ niệm ngày Viễn thông thế giới/ngày Xã hội thông tin 17/5, Bộ Bưu chính Viễn thông đã tổ chức “Hội nghị quốc gia về phát triển Internet” Phát biểu khai mạc tại Hội nghị, GS.TSKH Đỗ Trung Tá, Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông nhận định: “Sau Hội nghị này chúng ta sẽ có khí thế mới, biến các bài học 10 năm qua thành cơn lốc Internet Việt Nam trong giai đoạn 2007-2010 và các năm tiếp sau đồng thời hy vọng 'cơn lốc' này sẽ làm cho các chỉ tiêu về Internet mà Bộ BCVT đề ra trở thành các con số dự báo khá thấp và đến năm 2020, mức độ sử dụng Internet của VN sẽ đạt trình độ của các nước phát triển”.9 Từ những mục đích và cơ sở hạ tầng cùng với những thành tựu đạt được trong những năm qua có thể khẳng định trong tương lai internet sẽ ngày càng phát triển cả về số lượng các thuê bao và nguời sử dụng. Việc đạt đến mục tiêu là 35-40% dân số dùng internet là hoàn toàn có thể đạt được, không những vậy mà 100% các cơ quan nhà nước, các xã huyện, các trường học đều được tiếp cận internet… Và để phát triển như vậy cũng cần có những biện pháp đó là nâng cao nhận thức về Internet cho cả nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng; Phát triển nguồn nhân lực có tri thức; Người lao động biết sử dụng Internet; Tạo lập một môi trường ảo phục vụ thực sự hiệu quả cho quốc kế dân sinh; và xây dựng một hạ tầng thông tin hiện đại. Nếu làm được như vậy thì việc đạt được mục tiêu là hoàn toàn khả quan. Tuy nhiên, với sự phát triển như vậy thì việc kiểm soát nội dung là rất khó khăn. Các trang web đen, web có nội dung xấu xâm nhập tràn lan và hậu quả thì khó có thể lường trước được với sự phát triển nhân cách của con người đặc biệt là của trẻ em. Trong thời gian tới thì con người sẽ có kiến thức tốt hơn trong việc sủ dụng internet, không chỉ lên mạng để tán gẫu, nghe nhạc, giải trí… mà giới trẻ sẽ có xu hướng sử dụng công cụ này hữu ích hơn, thiết thực hơn như coi đó như là một phương tiện để tìn kiếm kiến thức phục vụ cho việc học tập, tiếp thu và tiếp cận nhiều nền văn hoá khác nhau để nâng cao nhận thức, phát triển tư duy, mở rộng tầm mắt. Các thông tin trên internet sẽ ngày càng phong phú hơn, cập nhật hơn nên con người sẽ không bị thiệt hại do thiếu thông tin mà thông tin là vấn đề vô cùng quan trọng trong cơ chế thị trường. http://www.viet-hancorp.com.vn/vietnamese/content/view/84/65/ 9
  • 9. Con người trên thế giới sẽ ngày càng gần nhau hơn, khoảng cách thế giới sẽ ngày càng thu hẹp lại người Việt Nam sẽ bước vào xu hướng toàn cầu hoá với các kĩ năng, kiến thức tốt hơn và tâm thế sẵn sàng hơn. Trong tương lai Internet phát triển sẽ làm tăng không gian ảo và vì thế tương tác ảo cũng sẽ tăng lên, mọi người nhất là giới trẻ sẽ bày tỏ tình cảm, quan điểm của mình nhiều hơn trong các diễn đàn, trên các blog… và như vậy liệu xu hướng phát triển của tương tác thực trong sẽ ra sao? Điều này cần được quan tâm trong các nghiên cứu trong thời gian tới. Một vấn đề quan trọng không kém đó là trong những năm tới internet sẽ ngày càng được thương mại hoá, các hình thức bán hàng, quảng cáo… qua mạng đang và sẽ ngày càng phát triển. Và nguồn lợi từ đây thực sự sẽ không nhỏ chút nào. Chúng ta có thể nhận định: Internet là phương tiện thông tin đầy uy lực và ngày càng phổ biến vì được kết nối với nhiều phương tiện khác như điện thoại di động, truyền hình… vì thế, việc học hỏi cách sử dụng là điều đáng khuyến khích và cần thiết trong thời đại hiện nay. Nhưng nếu người sử dụng không được đào tạo về mặt đạo đức và nhân bản, họ sẽ dễ dàng chiều theo những cuốn hút đầy ma lực của những trò giải trí rẻ tiền, đề cao bản năng, thú tính, hoặc khơi dậy tính tò mò trong những trang web khiêu dâm đầy trên mạng Internet. Do đó, rất cần mở những lớp đào tạo kỹ năng sử dụng Internet, nhất là cho giới thanh thiếu niên.10 Xu thế phát triển của Truyền hình ở Việt Nam Nghiên cứu của Institut Médiamétrie (- một viện nghiên cứu truyền thông của Pháp) - năm nào cũng tiến hành những cuộc khảo sát và công bố những con số thống kê về mọi sự vụ liên quan đến cuộc khảo sát về Tivi trên toàn cầu. Trong cuộc khảo sát tiền hành năm 2005 ở 70 quốc gia cho thấy trung bình mỗi người xem truyền hình khoảng 3 tiếng/ngày. Dẫn đầu, như từ xưa đến nay, là người dân của đất nước TV”- Mỹ - với 4 tiếng rưỡi. Giải nhì thuộc về đất nước Mặt trời mọc với 4 tiếng 11 phút, nghĩa là dân Nhật ưa nằm ườn trước TV khi rảnh rỗi, khác hẳn với dân châu Á nói chung (khoảng 2 tiếng rưỡi là cùng).Người châu Âu xem truyền hình mỗi ngày 3 tiếng 15 phút, không khác gì so với 2004, mặc dù trong năm 2005 không có sự kiện thể thao lớn nào làm tăng lượng khán giả. Người dân Mỹ Latinh đứng ngang hàng với châu Âu, tuy rằng sự khác biệt trong khu vực rõ rệt hơn: Argentina đứng đầu bảng với 4 tiếng 16 http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1887 10
  • 10. phút, còn Venezuela chỉ có 2 tiếng 37 phút.11. Ở Việt Nam hiện nay sự phát triển rất đa dạng của các loại truyền hình do sự áp dụng của tiến bộ khoa học kĩ thuật Truyền hình trả tiền (Pay-Television) Nếu như trước đây ở nước ta truyền hình là miễn phí đối với công chúng, thì trong giai đoạn hiện nay xu hướng truyền hình trả tiền đã và đang ngày càng được phát triển. Ví dụ như truyền hình cáp- truyền hình cáp Việt Nam (viết tắt là VCTV) là hãng truyền hình trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) có chức năng cung cấp các kênh truyền hình trả tiền. Hiện nay VCTV cung cấp 50 kênh hiện không mã khóa • Truyền hình trong nước  Các kênh quảng bá của Đài truyền hình Việt Nam: VTV1 - tin tức tổng hợp, VTV2 - khoa học giáo dục, VTV3 - thể thao giải trí và thông tin kinh tế, VTV4 - truyền hình dành cho người Việt ở nước ngoài, VTV5 - truyền hình tiếng dân tộc, VTV6: Kênh thanh thiếu niên; VTV9 (kênh Nam Bộ)  Các kênh truyền hình của Ban biên tập Truyền hình Cáp Việt Nam: VCTV1 - tổng hợp giải trí; VCTV2 - phim truyện tiếng Việt; VCTV3 - thể thao; VCTV4 - ca nhạc Việt Nam; VCTV6 - khoa học thường thức; VCTV7 - phim truyện nước ngoài; Bibi (VCTV8) - hoạt hình thiếu nhi; Info TV (VCTV9) - thông tin Tài chính, Kinh tế; O2TV (VCTV10) - Sức khỏe và Cuộc sống; TVShopping (VCTV11) - mua sắm qua truyền hình; Style TV (VCTV12) - Phong cách sống  Các kênh địa phương: Hà Nội TV1, Hà Nội TV2, Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh HTV9;  Kênh phát thanh VOV3 • Chương trình quốc tế  Các kênh thể thao quốc tế (ESPN, Star Sport, GoalTV 1, GoalTV 2),  Các kênh tin tức nước ngoài: Truyền hình Trung Quốc (CCTV4, CCTV9), truyền hình Pháp (TV5), truyền hình Đức (DW), truyền hình Nga (OPT1), truyền hình Hàn Quốc (ARIRANG và KBS), truyền hình Australia (Australia Network),  Các kênh thiếu nhi: Phim hoạt hình (Cartoon Network), phim thiếu nhi Disney Channel,  Các kênh giải trí: Ca nhạc quốc tế (MTV), Kênh giải trí tổng hợp (Star World)  Kênh khoa học: Kênh giới thiệu về các loài vật hoang dã (NGC), kênh khoa học (Discovery)  Thời sự quốc tế BBC, CNN,Bloomberg, CNBC  Phim truyện Cinemax, HBO, Star Movies, kênh phim truyện tổng hợp Mỹ (Hallmark), phim truyện Trung quốc (Celestial Movies) • Trên hệ thống MMDS có 9 kênh gồm các chương trình sau:  Kênh phim truyện tiếng Việt: Phim Việt Nam + phim nước ngoài đã dịch và thuyết minh tiếng Việt Nam  MTV: Ca nhạc quốc tế. 11 http://www.nhabaovietnam.com/module.html?name=News&file=article&sid=1117
  • 11. Discovery: Khám phá thế giới.  Star Movies, HBO: Phim hiện đại Mỹ  OPT1: Tổng hợp tiếng Nga  Cartoon network: Hoạt hình (ban ngày)  CNN: Thời sự quốc tế  TV5: Tổng hợp tiếng Pháp.  ESPN, Star Sports: Thể thao quốc tế.  Truyền hình theo yêu cầu Với truyền hình theo yêu cầu người sử dụng không còn thụ động xem tivi với quan niệm “chiếu gì xem nấy”, mà được lựa chọn giữa các thể loại giải trí nghe nhìn như ý, bao gồm: các kênh truyền hình, các loại nhạc, các thể loại phim, đọc báo, chia sẻ…). cho phép người dùng muốn gì xem nấy. Hiện nay Trung tâm TH Trực tuyến thuộc Công ty Cổ phần Viễn thông FPT kết hợp cùng Đài TH TPHCM cũng đã tiến hành phát thử nghiệm 32 kênh TH qua mạng Internet băng rộng ADSL của FPT cho 500 khách hàng của đơn vị này. Khi sử dụng dịch vụ, khách hàng có thể xem TH trên máy vi tính qua website http://tv.fpt.vn, hoặc xem từ màn hình tivi thông qua thiết bị giải mã set-top- box. Hình thức này được gọi là iTV. Hình thức truyền hình này có tính tương tác rất cao. Các loại truyền hình khác: Truyền hình internet: (IPTV -Internet Protocol Television) là dịch vụ truyền hình trên giao thức IP truyền qua đường cáp Internet băng thông rộng, thường được cung cấp kết hợp với điện thoại cố định và dịch vụ Internet nên còn gọi là công nghệ tam giác (triple play).IPTV là tín hiệu truyền hình truyền qua cáp ADSL hoặc cáp quang tới bộ giải mã gắn với ti vi. Tháng 5/2006, VNPT chính thức cung cấp dịch vụ TH qua mạng NGN để tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị, đào tạo, tập huấn... từ xa. Chi phí cứng cho một cuộc hội thảo từ xa bằng dịch vụ TH qua mạng khoảng trên 2 triệu đồng, chưa tính tiền thuê thiết bị và tiền cước thông tin- không quá đắt khi loại bỏ được sự bất tiện vì khoảng cách. Hiện tại, phương thức TH trên mạng Internet ứng dụng công nghệ viễn thông băng rộng
  • 12. thế hệ mới (NGN) cũng đã được thử nghiệm khá thành công tại công ty Phần mềm và Truyền thông VASC; công ty Điện toán và truyền số liệu VDC và công ty Đầu tư và Phát triển công nghệ số ở Việt Nam. Truyền hình qua vệ tinh: Bắt đầu từ 1-1-2009 đài truyền hình kĩ thuật số VTC chính thức phủ sóng các kênh truyền hình của VTC trên phạm vi toàn quốc và một số nước lân cận qua việc truyền dẫn thông tin qua vệ tinh VINASAT1. Tóm lại: Xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam hiện nay là ngày càng phát triển các dịch vụ truyền hình có chất lượng, và truyền hình hướng tới thỏa mãn nhu cầu của cá nhân một cách tốt nhất (ví dụ truyền hình theo yêu cầu). Còn về nội dung của truyền hình cũng phong phú và đa dạng. Các chương trình game show được các nhà cung cấp dịch vụ đặc biệt quan tâm bởi nó mang lại lợi nhuận lớn cho các nhà truyền thông. Đài phát thanh. Trong một thế giới mà các phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại như truyền hình internet, truyền hình số ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng, nâng cao chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu phong phú của xã hội thì rađio vẫn là một phương tiện truyền thông không thể thay thế. Mặc dù bị các phương tiện truyền thông khác lấn át nhưng Rađio với những đặc tính bao phủ cao (kĩ thuật truyền tin) nên vẫn gây ảnh hưởng tới một số lượng công chúng nhất định. Đài tiếng nói Việt Nam thành lập ngày 7/9/1945 với bản tin phát sóng đầu tiên là Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh và thông tin của các cuộc khởi nghĩa. So với thời kỳ mới thành lập, Đài Tiếng nói Việt Nam ngày nay có công suất phát sóng lớn hơn 4.000 lần, giờ phát sóng hơn 400 lần, số chương trình phát thanh mỗi ngày hơn 200 lần… (VOV)_ Hiện nay Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) thực hiện cả 4 loại hình báo chí: báo nói, báo điện tử, báo in và báo hình. Truyền dẫn phát sóng bằng cáp, vệ tinh, trạm phát sóng mặt đất 88 tần số trên các băng sóng trung, sóng ngắn, FM, công suất mạnh và trực tuyến 4 Hệ (VOV1, VOV2, VOV3, VOV5) trong nước và ra nước ngoài 11 thứ tiếng, 6 cơ quan đại diện ở nước ngoài: Bangkok (Thái Lan), Cairo (Ai Cập), Paris (Pháp), Bắc Kinh (Trung Quốc), Tokyo (Nhật Bản), Moscow (Liên bang Nga); Phủ sóng trong nước đến nay đạt 98,5% dân cư. Sản xuất các chương trình phát thanh - truyền hình (PT - TH) bằng công nghệ số, phòng thu và thiết bị hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, 2.000 cán bộ công chức viên chức, phóng viên, phát thanh viên, ca sỹ, nghệ sỹ đang làm việc.
  • 13. Thương hiệu VOV Hằng ngày, Đài TNVN nhận được từ 400 - 500 thư thính giả trong và ngoài nước. Đài TNVN có quan hệ phát triển với 40 tổ chức PT-TH của các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới. Đài TNVN là thành viên của Hiệp hội PT-TH châu Á Thái Bình Dương (ABU); Từ năm 1964, quan hệ hợp tác với Viện Phát triển PT-TH Châu Á Thái Bính Dương (AIBD); tiếp đó là Hiệp hội các Đài PT-TH sử dụng tiếng Pháp (CIRTEF), UNESCO, Hiệp hội Quốc tế các nước nói tiếng Pháp; Cơ quan phát triển Quốc tế Canada (CIDA) và cơ quan phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA), nhiều tổ chức PT-TH châu Âu và các nước trong khối ASEAN. Tầm phủ sóng Trong các cuộc kháng chiến và xây dựng bảo vệ Tổ quốc, Tiếng nói Việt Nam đã trở thành sức mạnh vô địch góp phần vào thắng lợi vẻ vang của cả dân tộc. Ngày 20/7/1954 Hiệp định Geneve được ký kết, Tiếng nói Việt Nam trên làn sóng phát từ Việt Nam phát đi liên tục những tin chiến thắng từ chiến trường góp phần thắng lợi trên bàn đàm phán, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Lịch sử ghi lại: Đêm 23/12/1972, hai đài phát sóng lớn nhất của Hà Nội ở Mễ Trì và Bạch Mai đã bị máy bay B52 Mỹ phá hủy hoàn toàn. Nhưng đúng 9 phút sau TNVN lại cất lên dõng dạc, đàng hoàng. Tiếp đó, Đài TNVN phát đi liên tiếp những bản tin chiến thắng giòn giã, những bài bình luận sâu góp phần đánh tan cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Đế quốc Mỹ, làm một trận Điện Biên phủ trên không lịch sử, góp phần cho thắng lợi trên bàn Hội nghị đàm phán Hiệp định Pari về Việt Nam ngày 27/1/1973; Các văn kiện này được truyền đi khắp cả nước và một phần các châu lục. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tiếng nói việt Nam vẫn là binh chủng chiến lược trên mặt trận thông tin truyền thông. Nếu so với thời kỳ Đài mới thành lập thì công suất phát sóng bây giờ lớn hơn 4.000 lần, giờ phát sóng hơn 400 lần, số chương trình phát thanh mỗi ngày hơn 200 lần; Hàng trăm tần số phát sóng trong nước và ra nước ngoài; Bất kỳ ở đâu trên thế giới này nếu ở đó có mạng Internet hãy truy cập theo địa chỉ www.vovnews.vn dễ dàng xem và nghe trực tuyến 4 Hệ của VOV phủ sóng toàn cầu. Công nghệ mới, thiết bị hiện đại Từ thuở ban đầu ngày 2/9/1945, các cán bộ kỹ thuật tự xây dựng studio, lắp ráp, sửa chữa máy tăng âm, micro, tổ chức tòa soạn làm các chương trình phát thanh, lắp đặt máy phát sóng 300W để chuẩn bị sẵn sàng cho ngày 7/9/1945. Ngày nay, công nghệ sản xuất
  • 14. chương trình PT-TH theo công nghệ số, dùng phần mềm chuyên dụng, có sự trợ giúp của máy tính không dùng giấy bút là xu thế phát triển của PT-TH hiện đại. Công nghệ số có ưu điểm đáp ứng nhanh, chất lượng âm thanh, hình ảnh trung thực, có nhiều tiện ích. Từ năm 1994, Đài TNVN đã ứng dụng công nghệ này vào sản xuất các chương trình PT-TH. Bây giờ trong hệ thống dây chuyền đã có gần 200 trạm máy tính âm thanh và văn bản với 500 máy tính cá nhân, 40 studio hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hệ thống lưu trữ phục hồi âm thanh số dung lượng lớn 30.000 giờ âm thanh được đưa vào sử dụng thay thế dần kho tư liệu truyền thống có diện tích 150m2 sàn dùng ô-phích giấy bìa tra cứu, tìm kiếm. Tầm nhìn 2020 Phấn đấu Đài TNVN trở thành Đài phát thanh Quốc gia mạnh có uy tín, ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới. ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại vào dây chuyền sản xuất, đạt chuẩn quốc tế; Xây dựng lộ trình chuyển đổi phát thanh Analog sang PT- TH số, hội tụ công nghệ PT-TH đa phương tiện IPTV, IPRadio, HD Radio, HD TV, DMB với công nghệ không dây Wimax… Đào tạo cán bộ công chức viên chức, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên, ca sỹ, nghệ sỹ ngày càng chuyên nghiệp; Nâng cao chất lượng nội dung chương trình đáp ứng với yêu cầu của quý thính giả trong giai đoạn phát triển mới. Kế thừa các thế hệ cán bộ của Đài TNVN đã và đang làm việc với bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, sáng tạo, xứng đáng là Đài anh hùng của một dân tộc anh hùng./ 12 12 www.vov.vn/tintuc