Kiểm toán
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Kiểm toán

on

  • 4,484 views

 

Statistics

Views

Total Views
4,484
Views on SlideShare
4,484
Embed Views
0

Actions

Likes
1
Downloads
90
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Kiểm toán Kiểm toán Document Transcript

  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o A. Lịch sử hình thành và phát triển của chuẩn mực kiểm toán. I. Sơ luợc sự phát triển chuẩn mực kiểm toán của thế giới. Chuẩn mực kiểm toán của nhiều nước đã được hình thành từ đầu thế kỉ 20 dưới hình thứcsơ khai là những ấn phẩm hướng dẫn về các thủ tục kiểm toán do tổ chức nghề nghiệp banhành. Chuẩn mưcj kiêm toán đầu tiên là chuẩn mực kiểm toán của Hoa kỳ, được ban hành bỡihiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ-năm 1948. Tiếp đó các chuẩn mực kiểm toán củanhiều quốc gia cũng lần lượt ra đời, Úc ( 1951), Đức ( 1964), Pháp ( 1971), Anh ( 1980). Nguồn gốc của chuẩn mực kiểm toán quốc tế đã bắt đầu vào năm 1969, với việc công bốmột số báo cáo nghiên cứu về kiểm toán quốc tế do The Accountant International Study Group,so sánh tình hình ở Canada, Hoa Kỳ, Anh …Năm 1973 thành lập International AccoutingStandard Committee( IAPC). Sau đó IAPC đã ủy quyền cho International Auditing andAssurance Standards Board-ISAAB ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế-International Standards on Auditing-ISA. Năm 1991 những chuẩn mực kiểm toán đầu tiên được ban hành và sử dụng cho đến ngàyhôm nay. Cuối năm 1993 , ISAAB ban hành IFAC Handbook sau đó trở thành hướng dẫnchuẩn mực kiêm toán quốc tế. Để tăng cường tính độc lập của kiểm toán viên , Luật Sarbanes-Oxley( 2002) đã quy địnhtính độc lập của kiểm toán viên. Trong năm 2009 IAASB đã hoàn thành một dự án “ Clarity Project” để cập nhập và sắpxếp các chuẩn mực kiểm toán quốc tế . The Auditing Practicé Board ( APB) đã ban hành ISA mới choAnh và Ireland vào tháng10 năm 2009, những chuẩn mực này đã có hiệu lực vào ngày 15/12/2010. IAPC định kì cũng phát hành các báo cáo có tác dụng dưới chuẩn mực , nhưng mà bám sátvới chuẩn mực để trợ giúp kiêm toán viên hoạt động tốt tuân thủ chuẩn mực. II. Sự hình thành và phát triển của chuẩn mực kiểm toán việt nam. Biên soạn hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được dựa trên các chuẩn mực kế toánquốc tế về kiểm toán và đuợc điều chỉnh phù hợp với những đặc điểm riêng của Việt Nam. Ngày 13/5/ 1991 Bộ tài chính quyết định thành lập 2 công ty kiểm toán đầu tiên DNNN làVACO và ASC, sau đó Ernt & Young cũng đã được cấp phép hoạt động năm 1992. Dù cáccông ty kiểm toán đã đuợc thực hiện chương trình kiểm toán tại Việt Nam nhưng lúc đó chúng 1
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả ota chưa có luật kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp kiểm toán cũng như chuẩn mực kiểm toán.Câu hỏi đặt ra là ở giai đoạn này các công ty đã hành nghề kiểm toán, nhưng việc đánh giá chấtlượng kiểm toán và điều chỉnh hành vi của KTV dựa trên cơ sở nào? thiết nghĩ có thể là dự vàocác chuẩn mực kế toán để kiểm tra báo cáo tài chính của các đơn vị, và phải dựa vào tinh thầntự giác và quản ý của nhà nước để điều chỉnh hành vi KTV. Các công ty kiểm toán nước ngoàivào việt nam trong giai đoạn này cũng thực hiện hoạt động kiểm toán trên cơ sở chuẩn mựcquốc tế. Việt Nam cũng đã từng bước thể chế hóa hoạt động kiểm toán. Khởi đầu vào tháng01/1994, quy chế kiểm toán độc lập đuợc chính phủ ban hành theo nghị định 07/CP ngày19/01/1994 và đuợc hướng dẫn thực hiện bỡi TT 22/TC/CDDKT ngày 19/3/1994 của Bộ tàichính. Ngoài ra để taọ điều kiện phát triển của nghề nghiệp, hội Kế toán Việt Nam ( nay làHiệp hội kế toán và kiểm toán Việt Nam , VAA) đã đuợc thành lập 1995. Những yếu tố này đãgớp phần thực hiện công việc kiểm toán trên một thể chế nhất định. Sự ra đời của thì trường chứng khoán Việt Nam đánh dấu một bước ngoặc lịch sử trongviệc phát triển của kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Khi thị trường chứng khoán Việt Nam pháttriển thì vai trò của hoạt động kiểm toán độc lập sẽ trở nên quan tọng và yêu cầu xây dựngchuẩn mực kiểm toán Việt Nam sẽ gia tăng để giả quyết các vấn đè đặt ra từ sự phát triển củathị trường chứng khoán. Nhu cầu đã đuợc đưa ra nhưng việc đưa ra một chuẩn mực vừa kế thừa đuợc Chuẩn mựcđã phát triển trên quốc tế và cũng vừa phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam đến bây giờ. Các chuẩn mực kế toán quốc tế đuợc soạn thảo bỡi các tổ chức nghề nghiêp, như chuẩnmực kế toán quốc tế ban hành bỡi ISAAB,… Nhưng ở Việt Nam để chuẩn mực đúng với tinhthần trên nên Bộ tài chính đã đứng ra tổ chức soạn thảo và ban hành chuẩn mực kế toán ViệtNam. Đến 9/1999 sau một thời gian nghiên cứu, và soạn thảo, Bộ tài chính ban hành 4 chuẩnmực đầu tiên. VSA 200, 210,230,700, và hệ thống chuẩn mực chúng ta tiếp tục ban hành thêm6 lần nữa, tổng cộng là 37 chuẩn mực kiểm toán.  VSA 200( 1999) Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối hoạt động kiểm tóanbáo cáo tài chính. Nguyên tắc này dựa trên cở sở Chuẩn mực ISA 200 của quốc tế và NĐ07/1994-CP, hướng dẫn về một số nguyên tắc khi hành nghề của KTV. một số nguyên tắc hànhnghề: (1) Độc lập; (2) Chính trực ; (3) Khách quan; 2
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o (4) Tính bí mật; (5) Năng lực chuyên môn; (6) Tư cách nghề nghiệp; (7) Tuân thủ các chuẩn mực chuyên môn; Chuẩn mực 240 đuợc ban hành muôn hơn, nằm trong lần thứ 3 vào thánh 12/2001 đượcban hành kèm với các chuẩn mực khác như: 300,400.530,540,610.  VSA 240 (2001): gian lận và sai sót, chuẩn mực ban hành với nội dung gian lậnvà sai sót, và phương pháp tiếp cận với gian lận sai sót là đánh giá rủi ro. Vai trò của ban giámđốc đơn vị là chịu trực tiếp trong việc ngăn ngừ phát hiện và xử lý các gian lận và sai sót thôngqua việc xây dựng và duy trì thường xuyên hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ. KTVcó thể giúp đơn vị phát hiện và ngăn ngừa gian lận sai sót, nhưng không có trách nhiêm trựctiếp trong việc ngăn ngừa gian lận.Đến 2005 một chuẩn mực về đaọ đức ợc ban hành để làm hướng dẫn cho các nguyên tắc đạođức của kiểm toán và kế toán.Đến 2009 B. Các nghiên cứu liên quan đến chuẩn mực kiểm toán 200 và 240. I. Các nghiên cứu có liên quan VSA200 1. NCS.ThS. Phan Thanh Hải Phó Trưởng khoa Kế toán Đại học Duy Tân Bài viết trình bày các vấn đề về: 3
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả otrong ). - : “Nhà quản lý đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp đối với các sangăn ngừa, phát hiện và xử lý các gian lận và sai sót ở đơn vị mình” (Đoạn 6 VSA 240). “ Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán có trách nhiệm giúp đơnvị phát hiện, xử lý và ngăn ngừa gian lận và sai sót, nhưng kiểm toán viên và công ty kiểm toánkhông phải chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc ngăn ngừa các gian lận và sai sót ở đơn vị màhọ kiểm toán 7-VSA 240). : ?”(VSA 200). , Do yêu cầu quá cao của xã hội đối với nghề nghiệp kiểm toán . . . http://kketoan.duytan.edu.vn/Client/Gochoctap/DocumentDetail.aspx?id=113&lang=VN 4
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o 2. Bàn về Quy định đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên và đạo luậtSarbanes-Oxley TCKT cập nhật: 16/05/2007 Các loại quy định đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên Tại Hoa Kỳ, các chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp do tổ chứcnghề nghiệp kiểm toán (AICPA) ban hành và kiểm soát chất lượng hoàn toàn do tổ chức nghềnghiệp đảm nhận. Luật Sarbanes -Oxley 2002 được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn ngày 30/7/2002 nhằm nângcao chất lượng và tính minh bạch của báo cáo tài chính, tăng cường trách nhiệm của Hội đồngquản trị, Ban Giám đốc và kiểm toán viên. Quy định về đạo đức nghề nghiệp tại Việt Nam Tại Việt Nam, các quy định về đạo đức nghề nghiệp hiện hành được thể hiện chủ yếutrong Nghị định 105/2004/NĐ- CP ban hành ngày 30/3/2004 của Chính phủ về Kiểm toán độclập và Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp ban hành ngày 01/12/2005 theo Quyết định số87/2005/QĐ-BTC, áp dụng cho tất cả những người làm kế toán và người làm kiểm toán. Các quy định về đạo đức nghề nghiệp mới chỉ dừng lại ở mức độ chuẩn mực, chưa có cáchướng dẫn cụ thể. Bản thân một số nội dung trong chuẩn mực cũng còn nhiều điểm rất trừutượng, do vậy, hạn chế về khả năng triển khai chúng trong thực tế. Trong khi chờ đợi việc nghiên cứu để có thể ban hành đầy đủ các hướng dẫn, trước mắt đểchuẩn mực đạo đức nghề nghiệp có thể áp dụng sớm, cần ban hành ngay những hướng dẫn chitiết về một số nội dung quan trọng. Một là, phí dịch vụ: Hai là, xem xét khả năng phát sinh xung đột lợi ích và đưa ra các phương pháp về giảiquyết xung đột Phương pháp giải quyết xung đột do đối lập lợi ích: Phương pháp giải quyết xung đột lợi ích do cạnh tranh: Phương pháp giải quyết xung đột lợi ích kinh doanh: 5
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o http://www.tapchiketoan.com/kiem-toan/kiem-toan-doc-lap/ban-ve-quy-dinh-dao-duc-nghe-nghiep-cua-kiem-toan-vien-va-dao-luat-sarbanes-2.html 3. “Đạo đức nghề nghiệp - tài sản quý giá của người hành nghề” Bà Trịnh Hồng Nguyệt - Phó Chủ tịch VACPA: “Đạo đức nghề nghiệp - tài sản quý giá của người hành nghề (bài phỏng vấn) “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán đã được xây dựng trên nền tảng: độc lập; khách quan và chính trực; bảo mật; năng lựcchuyên môn và tính thận trọng; tư cách nghề nghiệp; tuân thủ chuẩn mực chuyên môn”. Khôngcó đạo đức nghề nghiệp thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ kế toán, kiểm toán cung cấp cho xãhội sẽ không đảm bảo được giá trị sử dụng của nó. Đạo đức nghề nghiệp – Tài sản “vô hình”quí giá của người hành nghề” Trong bài phỏng vấn Bà Hồng Nguyệt đã nêu ra các vấn đề: điểm khác biệt cơ bản của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán so với cácngành nghề khác trong xã hội. Những hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh như giảm giá dịch vụ, cho mượn danh kiểmtoán viên để hành nghề diễn ra trên thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán hiện nay. Biện pháp của VACPA để phát hiện và hạn chế những hành vi vi phạm đạo đức này. http://ketoantruong.com.vn/913-Dao-duc-nghe-nghiep---Tai-san-quy-gia-cua-kiem-toan-vien-News-detail.html 4. Làm thế nào để củng cố lòng tin của công chúng vào đội ngũ kiểm toán viên. TCKT cập nhật: 05/10/2007 Ông Bùi Văn MaiBộ Tài chínhHội thảo ACCA ngày 25/9/2007 6
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o 5. Đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên với niềm tin của xã hội TCKT cập nhật: 27/09/2007 Ông Allen Blewitt Tổng giám đốc ACCA toàn cầu Hội thảo ACCA ngày 25/9/2007 http://www.tapchiketoan.com/tin-tuc/tin-tuc-ke-toan-kiem-toan/dao-duc-nghe-nghiep-cua-kiem-toan-vien-voi-niem-tin-cua-x.html 6. Những điều cần chú ý khi kiểm toán BCTC trong điều kiện kinh tế khủnghoảng TCKT cập nhật: 02/02/2010 Tháng 4/2009 vừa qua, Hội đồng chuẩn mực kế toán Úc đã ban hành thông cáo “Nhữngvấn đề kiểm toán viên cần quan tâm trong điều kiện kinh tế khủng hoảng”. (1) Xem xét chấp nhận khách hàng 7
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o Rủi ro đầu tiên mà thông cáo đặt ra là rủi ro từ sự biến động về quy mô và hoạt động củadoanh nghiệp. (2) Tính hoạt động liên tục và rủi ro thanh khoản Ở Việt Nam, một số doanh nghiệp vẫn còn dư nợ từ năm trước với lãi suất cao trên dưới20% trong khi nhu cầu thị trường vẫn chưa phục hồi. (3) Lập kế hoạch kiểm toán 3.1. Hệ thống Kiểm soát nội bộ 3.2. Mức độ trọng yếu 3.3. Chương trình kiểm toán 3.4. Nhân lực và vật lực (4) Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toán với ban lãnh đạođơn vị được kiểm toán Phát hiện được gian lận luôn là một thách thức với các kiểm toán viên trong điều kiện kinhtế bình thường và càng trở nên khó khăn hơn trong điều kiện kinh tế khủng hoảng, khi mà nhânlực thì cắt giảm và các nhà quản lý thì chịu nhiều áp lực từ thị trường và cổ đông. http://www.tapchiketoan.com/kiem-toan/kiem-toan-doc-lap/nhung-dieu-can-chu-y-khi-kiem-toan-bctc-trong-dieu-kien-kinh-te-khung-2.html II. Các bài viết liên quan đến VSA 240 1. Gian lận và sai sót trên báo cáo tài chính và công trình nghiên cứu về gianlận. TTCK:10/09/2009 Bài viết chỉ đề cập đến gian lận trên báo cáo tài chính và các công trình nghiên cứu gianlận có ảnh hưởng đến nghề nghiệp kiểm toán. 8
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o 1.1 Định nghĩa về gian lận Có ba cách thông thường nhất để đối phó với gian lận: ngăn ngừa, phát hiện và trừng phạt.Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của người quản lý đơn vịthông qua việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) hữu hiệu. Việc phát hiện các gianlận còn thuộc về trách nhiệm của kiểm toán viên. Theo đoạn 02 Chuẩn mực kiểm toán VN(VSA 240) “Gian lận và sai sót”: “Khi lập kế hoạch và thực hiện thủ tục kiểm toán, khi đánhgiá và báo cáo kết quả thực hiện thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phảixem xét xem có các sai phạm do gian lận hoặc sai sót gây ra làm ảnh hưởng trọng yếu đến báocáo tài chính không?” 1.2 Các công trình nghiên cứu của thế giới về gian lận a. Tam giác gian lận: Công trình nghiên cứu của Donald R. Cressey (1919-1987) b. D. W. Steve Albrecht: Mục đích công trình nghiên cứu này là giúp xác định các dấuhiệu quan trọng của sự gian lận để người quản lý có thể ngăn ngừa và phát hiện chúng. c. Công trình nghiên cứu gian lận của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Mỹ (TheAssociation of Certified Fraud Examiners-ACFE). 1.3 Thực trạng về các sai phạm trên BCTC của các công ty tại VN Trong những năm gần đây tại VN, hàng loạt các vụ gian lận về kinh tế, thương mại vàgian lận trên BCTC được phát hiện… Điển hình cho các sai phạm trên BCTC đối với công ty niêm yết là Công ty cổ phần bánhkẹo Biên Hoà – Bibica, Công ty bông Bạch Tuyết (BBT), Công ty đồ hộp Hạ Long… Động cơ dẫn đến sai phạm là do nhà quản lý chịu một áp lực phải đạt được các mục tiêu,kế hoạch về doanh thu, lợi nhuận hay muốn duy trì thị giá cổ phiếu trong khi công ty đang gặpkhó khăn về kinh doanh, về tình hình tài chính. 2. Các giải pháp cho VN. Để giúp KTV phát hiện gian lận, cần có các hướng dẫn chi tiết cho KTV về các nhân tốđưa đến gian lận và các phương pháp thực hiện gian lận. Muốn vậy, cần hiệu đính chuẩn mựckiểm toán VSA 240 về gian lận. Có thể dựa trên các công trình nghiên cứu để hiệu đính chuẩnmực kiểm toán VAS 240. Ba nhân tố chính cần được nêu ra trong chuẩn mực VSA 240 là: áp 9
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả olực, cơ hội và thái độ. Các hướng dẫn chi tiết về các phương pháp thực hiện gian lận có thể dựavào công trình nghiên cứu của ACFE như đã nêu trên. TS. TRẦN THỊ GIANG TÂN http://luattaichinh.wordpress.com/2009/09/10/gian-l%E1%BA%ADn-trn-bo-co-ti-chnh-v-cc-cng-trnh-nghin-c%E1%BB%A9u-v%E1%BB%81-gian-l%E1%BA%ADn/ Áp dụng quy trình phân tích vào việc phát hiện sai sót, gian lận trên báo cáo tài chính, Tạpchí Kiểm toán số tháng 2/2010 – Ths. Mai Đức Nghĩa Trao đổi về Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 –Gian lận và sai sót, Tạp chí Kế toánsố tháng 6/2002 – Mai Đức Nghĩa Recognizing the Elements of Fraud By Mark R. Simmons, CIA CFE Về trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập đối với gian lận và sai sót trong kiểm toán tàichính / Phạm Đức Hiếu Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập đốivới việc phát hiện gian lận và sai sót trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính : Luận văn thạc sĩ /Ngô Thị Thu Hà ; người hướng dẫn: Trần Thị Giang Tân. Hoàn thiện thủ tục kiểm soát trong kiểm toán báo cáo tài chính hằm phát hiện gian lận vàsai sót tại các công ty đại chúng Việt Nam : Luận văn thạc sĩ / Lê Duy Ngọc; người hướng dẫn:Trần Thị Giang Tân. - TP.HCM : Đại học Kinh tế TP.HCM, 2009. Các Gian Lận và Sai Sót Phổ Biến trong Báo Cáo Tài Chính; Một Số Biện pháp hoànthiện và ngăn ngừa / Hồ Hữu Thụy. - TP.HCM : Trường Đại Học Kinh Tế, 2001 10
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o C. Các điểm khác biệt giữa chuẩn mực hiện hành và dự thảo. I. Chuẩn mực 200 Nhận xét đầu tiên: Xét về bản chất hai chuẩn mực này được đánh giá là chuẩn mực chung, hay còn gọi làchuẩn mực của các chuẩn mực. Nhưng theo như một số nghiên cứu đã nhắc trên thì chuẩn mựcVSA 200 dự thảo hoàn thiện và mở rộng, và dễ áp dụng hơn, bỡi vì chuẩn mực mới này cónhững quy định rõ rãng, và phương pháp tiếp cận áp dụng trong nhiều trường hợp khách quan,mà KTV có thể áp dụng mà ít phải dung tính xét đoán chuyên môn của mình. Sau đây sẽ làmột số nội dung thể hiện sự khác nhau của VSA 200 hiện hành và dự thảo. 1. Một số điểm khác nhau giữa hai chuẩn mực: 1.1 Phạm vi áp dụng của chuẩn mực. Chuẩn mực dự thảo được ban hành theo một phương pháp hoàn toàn mới, gồm 3 phần, vàphần khác biệt nhất của chuẩn mực dự thảo là phần hướng dẫn áp dụng. Về tên của đề tài kiểmtoán thể hiện rõ phạm vi áp dụng nhât, Chuẩn mực hiện hành với tên đề tài “ mục tiêu và cacnguyên tắc chi phối báo cáo tài chính” , chuẩn mục dự thảo dự trên nề tảng đó mà phát triển vàtập trung vấn đề trọng tâm để hướng dẫn cho kiểm toán viên “mục tiêu tổng thể của kiểm toánviên và công ty kiểm toán khi thục hiện kiểm toán”. Sở dĩ có sự khác nhau này ngoài lý do làphát triển trên nền tảng của chuẩn mục hiện hành , thì thêm một lý do nữa là hiện nay đã cóchuẩn mực hướng dẫn các nguyên tắc, và sự nhầm lẫn của xã hội về trách nhiệm của kiểm toánviên khi tiến hành kiểm toán. 2.2 Mục tiêu của cuộc kiểm toán, trách nhiệm của kiểm toán viên. Đ11. VSA 200-1999:” Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toánviên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có đuợc lập trên cơ sởchuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc đucợ chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liênquan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?” Đ3 VSA 200-2012: Mục đích của kiểm toán là làm tăng độ tin cậy của người đọc đối vớibáo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về tính trung thực, hợp lý củabáo cáo tài chính đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với quy định hiện hànhvề lập và trình bày báo cáo tài chính. Một cuộc kiểm toán được thực hiện theo chuẩn mực kiểm 11
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả otoán Việt Nam và yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến đúngmục đích nói trên (xem hướng dẫn tại đoạn A1 Chuẩn mực này). Dự thảo lần này xác định lại là mục đích của kiểm toán viên là đưa ra ý kiến về sự trungthực hợp lí của BCTC trên các khía cạnh trọng yếu. Theo như “ hướng dẫn áo dụng A1 thìngoài ý kiến chủ yếu đó thì: “Trong một số trường hợp, pháp luật và các quy định hiện hành cóthể yêu cầu kiểm toán viên đưa ra ý kiến về một số vấn đề khác, như hiệu quả của hệ thốngkiểm soát nội bộ hay sự phù hợp giữa báo cáo của Ban Giám đốc với báo cáo tài chính. Dochuẩn mực kiểm toán chỉ bao gồm các yêu cầu và hướng dẫn các thủ tục trên khía cạnh trợgiúp việc đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, kiểm toán viên có thể phải thực hiện thêm các thủtục bổ sung nếu như kiểm toán viên có trách nhiệm đưa ra ý kiến về các vấn đề khác ngoàiphạm vi báo cáo tài chính. “ 2.3 Yêu cầu về đối với đơn vị đuợc kiểm toán và ban giám đốc đơn vị Đ3-VSA 200-1999 Đơn vị đuợc kiểm toán ( khách hang )và các bên sử dụng kết quá kiểmtoán phải có những hiểu biết cần thiết về mục tiêu và nguyên tắc cơ bản qui định trong chuẩncự này trong quá trình phối hợp với công ty kiểm toán và kiểm toán viên cũng như xử lys cácquan hệ lien quan đến các thong tin đa đuợc kiểm toán. Đ4-VSA 200-2012. Báo cáo tài ch ính sử dụng để kiểm toán là báo cáo đã được BanGiám đốc đơn vị được kiểm toán lập với sự giám sát của Ban quản trị đơn vị. Chuẩn mực kiểmtoán Việt Nam không áp đặt các trách nhiệm đối với Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vịđược kiểm toán và có hiệu lực không cao hơn pháp luật và các quy định khác chi phối tráchnhiệm của Ban Giám đốc và Ban quản trị. Tuy nhiên, một cuộc kiểm toán theo các chuẩn mựckiểm toán Việt Nam được thực hiện với giả thiết rằng Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơnvị chịu những trách nhiệm nhất định làm cơ sở cho việc tiến hành cuộc kiểm toán. Việc kiểmtoán báo cáo tài chính không làm giảm nhẹ trách nhiệm của Ban Giám đốc và Ban quản trịđơn vị được kiểm toán (xem hướng dẫn tại đoạn A2-A11 Chuẩn mực này). Như vậy chuẩn mực dự thảo yêu cầu cao hơn về sự trang bị hiểu biết đối với chuẩn mựckiểm toán và mục tiêu của cuộc kiểm toán, mà chuẩn mực hiện hành cũng đã xác nhận về vaitrò của kiểm toán viên hay công ty kiểm toán và Ban giám đốc/ Ban quản trị của đơn vị đuợckiểm toán. Đới với sự phối hợp của BGĐ/ HĐ QT với kiểm toán viên trong quá trình kiểmtoán, chuẩn mực hiện hành dừng lại ở hướng dẫn là trợ giúp, trong nhiều trường hợp không rõrang. Ví dụ như BGĐ cố tình hạn chế phạm vi kiểm toán , mặc dù kiểm toán viên có thể chắnđuợc bằng cách đưa vào ý kiến hạn chế phạm vi kiểm toán trong báo cáo kiểm toán nhưng rõrang như thế cuộc kiểm toán vẫn không có hiệu quả cao vì có nhiều sự thật vẫn chưa đượckiểm tra và công bố. Thế nên chuẩn mực dự thảo ( Hướng dẫn A2. C. iii) đã có qui định rất rõrang về để tránh trường hợp này : đó là BGĐ đơn vị cung cấp cho kiểm toán viên “Quyền tiếpcận không hạn chế đối với nhân sự của đơn vị mà kiểm toán viên cho rằng cần thiết để phục vụmục đích thu thập bằng chứng kiểm toán. “ 12
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o Để cho thuận lợi hơn trong quá trình kiểm toán chuẩn mực mới cũng đưa ra một hướngdẫn về yêu cầu tiên quyết khi nhận hợp đồng kiểm toán. “ Hướng dẫn áp dụng. Đ.A10: “Điềukiện tiên quyết để kiểm toán viên chấp nhận hợp đồng kiểm toán là kiểm toán viên cần đượcBan Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị được kiểm toán cam kết về việc họ thừa nhận và hiểurõ những trách nhiệm đã hướng dẫn tại đoạn A2 của Chuẩn mực này, vì đây là cơ sở quantrọng để tiến hành cuộc kiểm toán theo quy định tại đoạn 06 (b) Chuẩn mực kiểm toán ViệtNam số 210 (ban hành lại) .” , nhưng điều này rất là khó cho các doanh nghiệp khi BGĐ/HĐQT của doanh nghiệp phảihọc và hiểu về chuẩn mực, thực tế rất khó xảy ra. 2.4 Lập và trình bày BCTC Đ4-VSA 200-1999. Có nhắc đến khái niệm BCTC : là hệ thống báo cáo đuợc lập theochuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành ( hoặc đuợc chấp nhận) phản ảnh các thông tin kinh tếtài chính chủ yếu của đơn vị Đ4-VSA 200-2012. BCTC đuợc sử dụng để kiểm toán là báo cáo đã được Ban Giám đốcđơn vị được kiểm toán lập với sự giám sát của Ban quản trị đơn vị. Chuẩn mực kiểm toán ViệtNam không áp đặt các trách nhiệm đối với Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểmtoán và có hiệu lực không cao hơn pháp luật và các quy định khác chi phối trách nhiệm củaBan Giám đốc và Ban quản trị. Về BCTC ở chuẩn mực hiện hành đuợc lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành,VSA dự thảo đã đưa ra khái niệm nhấn mạnh là BCTC được kiểm toán, đơn vị còn đuợc lập vàtrình bày theo các qui định có liên quan “ có thể chấp nhận được”( Đ.13). Trong một số trườnghợp, việc lập và trình bày báo cáo tài chính còn phải theo quy định và hướng dẫn của cácngành đặc thù “ Hướng dẫn áp dụng A5.” (1) tòa án, các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp kế toán; (2) Các hướng dẫn về chuẩn mực kế toán do các cơ quan, đơn vị có chức năng soạnthảo chuẩn mực hoặc Hội nghề nghiệp ban hành; (3) Các hướng dẫn xử lý tình huống kế toán cụ thể do các cơ quan, đơn vị có chứcnăng soạn thảo chuẩn mực hoặc Hội nghề nghiệp ban hành;” (4) Các thông lệ kế toán có tính phổ biến và đặc thù được thừa nhận rộng rãi. Lưu ý:” Khi có mâu thuẫn giữa các quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính với cáctài liệu hướng dẫn khác, hoặc giữa các tài liệu thì tài liệu nào có tính pháp lý cao nhất sẽ đượcáp dụng. “ 2.5 ....................................................................... Tính trọng yếu. 13
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o Đ.05-VSA-1999: “Trọng yếu là thuật ngữ thể hiện tầm quan trọng của một số thong ( mộtsố liệu kế toán) tỏng báo cáo tài chính. Thông tin đuợc coi là trong yếu nghĩ là nếu thiếu thong tin đó hay thiếu chính xác củathong tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng BCTC. Mức độ trong yếu phụthuộc vào tầm quan trọng của thông tin hay sai sót đucợ đánh giá tỏng hoàn cảnh cụ thẻ. Tínhtọng yêu scủa thông tin phải xem xét cả tren tiêu chuẩn định lượng và định tính”. Đ.06-VSA-2012:”Nhìn chung, các sai sót, bao gồm cả sự bỏ sót, được coi là trọng yếunếu xét trên góc độ riêng lẻ hay tổng thể, sai sót đó có thể gây ảnh hưởng đến quyết định củangười sử dụng báo cáo tài chính. Sự xét đoán về mức trọng yếu cần được đặt trong hoàn cảnhcụ thể, trên cơ sở kiểm toán viên hiểu rõ về những thông tin tài chính mà người sử dụng báocáo tài chính quan tâm, quy mô và bản chất của sai sót, hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó.” Dự thảo banh hành với hướng dẫn là kiểm toán viên phải đặt mình trong haonf cảnh cụ thể, trên cơ sở kiểm toán viên phải có hiểu rõ về thông tin tà chính mà người sử dụng quan tâm.Như vậy kiểm toán viên là người phải am hiểu rất nhiều về tài chính để đảm bảo được điềunày, và chuẩn mực sự thảo cũng có hướng dẫn để cho kiểm toán viên xác định đuợc trách nệmccủa mình là đưa ra ý kiến về tổng thế BCTC, không có trách nhiệm phát hiện các sai xót khôngtrọng yếu. 2.6 Sự đảm bảo hợp lý a. Cơ sở đảm bảo hợp lý BCTC. Đ.26 VSA200-1999: Kiểm toán viên thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán ViệtNam ( hoặc chuẩn mực kiẻm toán quốc tế đuợc chấp nhận) để có một sợ đảm bảo hợp lý BCTCnếu có sai sót trọng yếu thì đã đuợc kiểm tooán viên phát hiện và trình bay trong báo cáo kiểmtoán. Đ.5 VSA 200-2012.Để có cơ sở cho ý kiến của kiểm toán viên, chuẩn mực kiểm toán ViệtNam yêu cầu kiểm toán viên đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc báo cáo tài chính, xét trênphương diện tổng thể, không còn chứa đựng các sai sót trọng yếu, kể cả do gian lận hay nhầmlẫn. Mức độ đảm bảo hợp lý cho BCTC ở chuẩn mực mới đuợc yêu cầu cao hơn, ngoài khôngcòn chứa đựng các sai xót trọng yếu chuẩn mực mới còn đưa ra cả giân lận hay nhầm lẫn. Gianlận hay nhầm lẫn là những yếu tố dẫn đễ tính không trong sạch của báo cáo tài chính cao nhất,đặc biệt là gian lận, gian lận xảy ra khi ma người ta muốn che giấu một thong tin gì đó, màthong tin che giấu thường là những thông tin quan trọng, vì vậy nên người sử dụng báo cáo tàichính có thể đưa ra quyết định sai lầm. Điều này ở chuẩn mực hiện hành thực sự cũng có quyđịnh, kiểm toán viên có trách nhiệm phát hiện các gian lận, nhầm lẫn, ảnh hưởng đến BCTCnhưng ở chuẩn mực dự thảo yêu cầu cao hơn về tính trong sạch BCTC, nên đưa thêm gian lậnvà nhầm lẫn vào. Cả hai chuản mực này đều đảm bảo rằng KTV không thể loại trừ hooàn toàn rủi ro kiểmtoán và không thể đạt đuợc sự đảm bảo tuyệt đối về việc BCTC hoàn toàn không chứa đựngnhững sai xót, và điều đó là do các hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán. b. Các hạn chế tiềm tàng trong quá trình kiểm toán 14
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o Đ27-VSA-1999: Khả năng phát hiện sai xót trọng yếu của KTV bị giới hạn do những hạnchế tiềm tang sau đây: Sử dụng phương pháp kiểm tra chọn mẫu và áp dụng các thử nghiệm; Những hạn chế tiềm tàn của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ (Ví dụ:khả năng thong đồng lập chứng từ giả,...); Phần lớn các kiểm toán viên thường có tính xét đoán và thuyết phục nhiều hơn sựđảm bảo chắc chắn và khẳng định. Đ. A45-VSA-2012:”Những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán bắt nguồn từ: (1) Nội dung của báo cáo tài chính; (2) Nội dung của các thủ tục kiểm toán; (3) Điều kiện thực hiện cuộc kiểm toán với thời gian và giá phí hợp lý . “ Chuẩn mực hiện hành đưa ra những lý do chủ yếu dự vào kiểm soát và kiểm toán, dẫn đếncác hạn chế tiềm tang, chuẩn mực dự thảo có cái đánh giá toàn thể hơn đó là xem xét về cảphương diện kế toán, và sự phù hợp giữa thời gian và giá phí. Những hạn chế tiềm tàng tronglĩnh vực kế toán vè trình bày và lập BCTC có thể dẫn đến những hạn chế tiềm tàng trong kiểmtoán. Đ.A46-hướng dẫn áo dụng: “Việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm các xét đoáncủa Ban Giám đốc trong việc áp dụng các quy định hiện hành về lập và trình bày báo cáo tàichính vào hoàn cảnh thực tế của đơn vị. “ “Điều kiện thực hiện” cuộc kiểm toán với thời gian và giá phí , thực trạng trong nền kinhtế không doanh nghiệp nào lập ra mà không mốn có lợi nhuận, đơn vị kiểm toán cũng vậy, điềuđó dẫ đến khi thực hiện qui trình kiểm toán sẽ dẫn đến sự rút ngắn thời gian của cuộc kiểmtoán lại, để có thời gian thực hiện các hợp đồng khác, tọa them doanh thu, như vậy khả năngnày dẫn đến rủi ro kiểm toán cao, vì vậy nên chuânr mực dự thảo có hướng dẫ rõ rang tại Đ.A48-Hướng dẫn áp dụng: “Kiểm toán viên không được phép dựa vào sự khó khăn về nhân sự,thời gian hay chi phí để bỏ qua một thủ tục kiểm toán mà không có sự thay thế bằng thủ tụcnào khác hoặc hài lòng với bằng chứng kiểm toán không đủ sức thuyết phục. …“ “Để đưa ra báo cáo kiểm toán kịp thời và cân đối giữa lợi ích và chi phí, kiểm toán viêncần: (1) Lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được thực hiện một cách kịpthời và hiệu quả; (2) Tập trung nguồn lực kiểm toán vào những vùng mà kiểm toán viên cho rằng chứađựng nhiều rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hay nhầm lẫn và ít tập trung hơn vào cácvùng còn lại; Sử dụng các thử nghiệm và biện pháp khác để kiểm tra tổng thể nhằm phát hiện sai sót. “Đ.A49-Hướng dẫn áp dụng. 15
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o Ngoài những yêu cầu đã đề cập trên dự thảo VSA cũng đưa ra một số nguyên nhân, có thểlà hạn chế tiềm tàng của quá trình kiểm toán tại Đ. A50-A.58-Hướng dẫn áp dụng. 2.7 Xét đoán nghề nghiệp và thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Như đã nhắc đến ở trên phần đam rbảo hợp lý, chuẩn mực đều yêu cầu là Kiểm toán viênphải có sự xét đoán chuyên môn và luôn duy trì thái độ hoài nghi ngề nghiệp trong suốt quátrình kiểm toán, để trợ giúp các KTV đạt đuợc sự đam rbảo hợp lý, giảm thiểu các rủi ro ảnhhưởng đến ý kiến của kiểm toán viên về BCTC. a. Xét đoán nghề nghiệp Đ.28-VSA-1999: “ Để đưa ra ý kiến kiểm toán, KTV phải chủ yếu dựa vào sự đánh giấ xétđoán riêng của mình, đặc biệt lien quan đến việc: Thu thập bằng chứng kiểm toán; Rút ra kết luận dự trên các vằng chứng kiểm toán thu thập đuợc, ( Ví dụ: Đánhgiá tính hợp lý của các ước tính kế toán như khấu hao TSCĐ, lập dự phòng,…) Đ.13.l-VSA-2012:”Xét đoán chuyên môn: Là sự vận dụng các kỹ năng, kiến thức và kinhnghiệm phù hợp về tài chính kế toán, kiểm toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, pháp luật vàcác quy định có liên quan để đưa ra quyết định về các hành động phù hợp trong bối cảnh củacuộc kiểm toán. “ Dự thảo bổ sung thêm một số phạm vi rõ ràng mà kiểm toán viên cần phải sử dụng kiếnthức, kinh nghiệm và hoàn cảnh cụ thể để xét đoán nghề nghiệp. Đ.A23-hướng dẫn áp dụng:” (1) Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán; (2) Nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán được sử dụng để đáp ứngcác yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán và thu thập bằng chứng kiểm toán; (3) Đánh giá các xét đoán của Ban Giám đốc trong quá trình áp dụng các quy địnhvề lập và trình bày báo cáo tài chính tại đơn vị được kiểm toán;” Nhìn vào ta thấy rằng chuẩn mực dự thảo đưa ra cho kiểm toán viên nhiều phạm vi đểkiểm toán viên phải sử dụng tính xét đoán chuyên môn, không phải lúc trước những vấn đề nàykiểm toán viên không có xét đoán, mà vì những xét đoán chỉ có nói là phải sử dụng kién thứcddể xé đoán, cong phương pháp xét đoán đó chỉ nằm trong suy nghĩ, chưa đuợc chuẩn mựchướng dẫn, bây giờ đưa vào để giảm thiểu rủi ro cho kiểm toán viên khi có tranh chấp sau quatrình kiểm toán. Phạm vi rộng hơn ,có nghĩa là những xét đoán tùy thuộc vào từng kiểm toánviên, do yếu tố chủ quan, nên vấn đề này mọi kiểm toán viên sẽ tùy vào khả năng của mình màxét đoán khác nhau. Như vậy để có những xét đoán đúng đắn kiểm toán viên phải tự bản thannâng cao kĩ năng chuyên môn và kiến thức nghề nghiệp. 16
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o Những xét đoán chuyên môn cần đuợc đưa vào hồ sơ kiểm toán, giống như là một côngviệc khi tiến hành kiểm toán, nhưng chuẩn mực để giảm sự biện minh không hợp lý khi kiểmtoán viên nói sai phạm hay lỗi của mình là do xét đoán. Vì lỗi xét đoán bản than vấn đề là docá nhân kiểm toán viên, khi có sai phạm xảy ra thì kiểm toán viên phải chấp nhận lôi đó.”Kiểmtoán viên không được sử dụng xét đoán chuyên môn để biện hộ cho những quyết định khôngchứng minh được bằng thực tiễn, bằng những tình huống cụ thể của cuộc kiểm toán hoặc bằngcác bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp” A.27-Hướng dẫn áp dụng. b. Hoài nghi nghề nghiệp. Hoài nghi nghề nghiệp là một điều vô cùng có lợi cho kiểm toán viên trong quá trình kiểmtoán. Có thể nói kiểm toán viên là những người đa nghi vì nếu không có bằng chứng để chứngminh thì kiểm toán viên không chấp nhận thông tin đó là đúng. Điều đó đuợc nhắc trong chuẩnmực kiểm toán Việt Nam. Đ.24-VSA-1999:” Kiểm toán viên phải luôn ý thức rằng có thể có những tình huống dẫnđến sai sót trọng yếu tỏng báo cáo tài chính.” Đ.13.m-VSA-2012:”Là thái độ luôn nghi vấn, cảnh giác trước những điều kiện là dấuhiệu của sai sót do nhầm lẫn hay do gian lận, và đánh giá một cách kỹ càng đối với các bằngchứng kiểm toán. “ Ta có thế thấy rằng chuẩn mực kiểm toán hiện tại chỉ hướng dẫn kiểm toán viên phải cóthái độ hoài nghi nghế nghiệp khi tiến hành kiểm toán cho đơn vị, những thái đọ hoài nghi đómang tính chủ quan ở người kiểm toán viên, còn đối với dự thảo để tăng tính hướng dẫn cảuchuẩn mực, chuẩn mực dự thảo không phủ nhập rằng hoài nghi nghề nghiệp là điều cần thiết,và cũng đưa ra hướng dẫ trong cá trường hợp cụ thể sau, sẽ dẫn đến những hoài nghi để giúpcho kiểm toán viên xác định đúng hướng đi và giải quyết công việc nhanh hơn. Đ.a18-Hướngdẫn áp dụng:” (1) Các bằng chứng kiểm toán mâu thuẫn với nhau; (2) Thông tin dẫn đến việc nghi ngờ về độ tin cậy của các tài liệu và kết quả phỏngvấn đã được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán; (3) Các sự kiện có thể là dấu hiệu của gian lận; (4) Các tình huống đặt ra yêu cầu phải thực hiện thủ tục kiểm toán bổ sung ngoàinhững thủ tục mà chuẩn mực kiểm toán yêu cầu. Dự thảo cũng đưa ra nguyên nhân chính để duy trì hoài nghi nghề nghiệp là giảm thiểu cácrủi ro trong quá trình kiểm toán như bỏ qua các sự kiện và tình huống bất thường, vội càng rútra kết luận chỉ từ những quan sát kiểm toán và sử dụng các thông tin không phù hợp khi xácđịnh nội dung, lịch trình , phạm vi của các thủ tục kiểm toán. Đ.A20-hướng dẫn áp dụng. Hoài nghi nghề nghiệp là yếu tố chủ quan và đuợc hướng dẫn trong chuẩn mực, nhưng vìđiều kiện năm 1999 kiểm toán chưa phải là một nghề nghiệp thông dụng như hiện nay nên 17
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả ochưa có những thực tế để xem xét diễn biến của thái độ đó như thế nào, và có ảnh hường gì,chuẩn mực dự thao xem đây là một điều kiện cần thiết khi đánh giá bằng chứng kiểm toán.Đ.20-Hướng dẫn áp dụng. 2.8 Đạo đức nghề nghiệp Tại thời điểm 1999 khi chuẩn mực kiểm toán việt nam ban hành trước đó chỉ duy nhấtmột luật kiểm toán độc lập ban hành năm 1994. Nên các vấ đề về đạo đức nghề nghiệp đượcqui đinh trong pham vi của chuẩn mực để hướng dẫn kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán.Hiện tại chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kểm toán đã đuợc ban hành 2004 và tới bây giờnhững hướng dẫn đó vẫn còn đang hiệu quả, nên những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp tại dựthảo chuẩn mực 200 đều đuơc áp dụng như đạo đức nghề nghiệp 2004. Được ban hành trước nên về Phuong pháp hướng dẫn nguyên tắc đạo đức nghề nghiệpchuẩn mực 200 hiện hành đã đưa ra từ biện pháp cụ thể cho từng trường hợp, điều này rấtchính xác , nhưng nó có hạn chế là trong cuộc sống có quá nhiều trường hợp vậy nên chuẩnmực đạo đức nghề nghiệp ra đời để giải quyết các vấn đề đó. Một trong các nguyên tắc quan trọng nhất của chuẩn mực đạo đức là tính độc lập. Ngòaira còn cáo các nguyên tắc cơ bản khác như: chính trực, khách quan, năng lực chuyên môn vàtính thận trọng, tính bảo mật, tư cách nghề nghiệp, tuân thủ chuẩn mực chuyên môn. Ngoài rachuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đưa ra các ví dụ minh họa về việc áp dụng trong các tìnhhuống cụ thể tại phần B. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp “Chuẩn mực này chỉ quy định và hướng dẫn phươngpháp tiếp cận chứ không liệt kê tất cả các trường hợp có thể gây ra nguy cơ không tuân thủ vàcác biện pháp xử lý cần thực hiện.” Đ. 43-CM ĐĐNN. Đ45-CMDĐNN: trong môi trường làm việ của những người làm kiểm toán có thể tạo ramột số nguy cơ trong việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của chuẩn mục đạo đức. Chúng takhông thể xác định đuợc tất cả các trường hợp có thể dẫn đến nguy có đó để cr xác định cácbiện pháp bảo vệ thích hợp tỏng từng trường hợp. Vì vậy nên người làm kiểm toán viên phảixác định đánh giá xử lý các nguy cơ đe dọa việc tuân thủ các nguyên tắc. Nếu nguy cơ nàyđuợc xem như đáng kể thì phải có biện pháo bảo vệ thích hợp để loại bỏ hay giảm nhẹ cácnguy cơ xuống tới mức có thể chấp nhận đuợc. Nguy cơ mà đuợc kiểm toán viên đánh giá phảiđược đánh giá cả định tính và định lượng. Nếu không có biện pháp bảo vệ thì khước từ hoạcdừng cung cấp dịch vụ. Chuẩn mực đạo đức ban hành các nguy cơ sau: Đ. 47 chuẩn mực đạo đức:” a) Nguy cơ do tư lợi: Nguy cơ này có thể xảy ra do việc người làm kế toán và ngườilàm kiểm toán hoặc thành viên trong quan hệ gia đình ruột thịt hay quan hệ gia đình trực tiếpcủa người làm kế toán và người làm kiểm toán có các lợi ích tài chính hay lợi ích khác; b) Nguy cơ tự kiểm tra: Nguy cơ này có thể xảy ra khi người làm kế toán và ngườilàm kiểm toán phải xem xét lại các đánh giá trước đây do mình chịu trách nhiệm; 18
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o c) Nguy cơ về sự bào chữa: Nguy cơ này có thể xảy ra khi người làm kế toán vàngười làm kiểm toán ủng hộ một quan điểm hay ý kiến tới mức độ mà tính khách quan có thể bịảnh hưởng; d) Nguy cơ từ sự quen thuộc: Nguy cơ này có thể xảy ra khi, do các mối quan hệquen thuộc mà người làm kế toán và người làm kiểm toán trở nên quá đồng tình đối với lợi íchcủa những người khác; và e) Nguy cơ bị đe dọa: Nguy cơ này có thể xảy ra khi người làm kế toán và ngườilàm kiểm toán có thể bị ngăn cản không được hành động một cách khách quan do các đe dọa(các đe dọa này có thể là có thực hoặc do cảm nhận thấy). Chuẩn mực cũng đưa ra các biện pháp bảo vệ có thể loại bỏ hay làm giảm nhẹ các nguyciw xuông mức thấp nhất. bao gồm: các biện pháp bảo vệ do pháp luật và chuẩn mực quy đinh,và các biện pháp bảo vệ do môi trường làm việc tạo ra. Đ.48-Chuẩn mực đạo đức. Vì có những biện pháp bảo vệ nói trên nên chuẩn mực cũng có một số hướng dẫn vềnguyên tắc khác với chuẩn mực 200 hiện hành như sau. a. Tính độc lập; Đ.85-Chuẩn mực đạo đức: “Tính độc lập không đòi hỏi người đưa ra ý kiến đánh giá nghềnghiệp phải hoàn toàn độc lập về các quan hệ kinh tế, tài chính và các mối quan hệ khác vì cácthành viên trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau. Các mối quan hệ về kinh tế, tài chính vàcác quan hệ khác cần được đánh giá thỏa đáng xem có ảnh hưởng đến tính độc lập hay không.Khi thông tin nhận được xét thấy có ảnh hưởng đến tính độc lập thì các mối quan hệ đó khôngchấp nhận được.” Bỡi vì trong một số trường hợp có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính độc lập nênkhông thể quy định từng trường hợp cụ thể có thể tạo ra nguy cơ ảnh hưởng , nên chuẩn mựcqui định và hướng dẫn cách tiếp cận, đánh giá, xem xét các nguy cơ ảnh hưởng đến tính độclập , cá biện pháp bảo vệ đuợc chấp nhận và sự quan tâm của công chúng. Dựa trên các quyđịnh của Chuẩn mực đạo đức, các công ty kiểm toán và nhóm cung cấp dịch vụ đảm bảo cónghĩa vụ xác định và đánh giá các trường hợp cụ thể, các mối quan hệ có thể dẫn đến nguy cơảnh hưởng đến tính độc lập và có những hành động phù hợp để loại bỏ hoặc làm giảm các nguycơ này xuống mức có thể chấp nhận được bằng cách áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết.Đ.86-87- chuẩn mực đạo đức. b. Tính chính trực , khách quan. Chuẩn mực đạo đức tiếp cận nguyên tắc này khi kiểm toán viên công bằng trong tư tưởngvà không có xung đột lợi ích. Đây là một điểm mới của chuẩn mực khi có một số trường hợpnảy sinh những tình huống khó xử. 19
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o Một số nhân tố có thể xảy ra khi trách nhiệm của người làm kiểm toán xung đột về đạođức; Đ.52-Chuân mực đạo đức:” a) Áp lực từ cơ quan quản lý, đơn vị cấp trên, giám đốc, người lãnh đạo công tykiểm toán; hoặc khi có các quan hệ gia đình hay cá nhân. Các mối quan hệ hay lợi ích có thểcó ảnh hưởng trái ngược, làm vi phạm hay đe dọa đến tính chính trực của người làm kế toánvà người làm kiểm toán thì cần được loại bỏ hoặc hạn chế. b) Người làm kế toán và người làm kiểm toán có thể bị yêu cầu hành động trái vớicác chuẩn mực nghề nghiệp và chuyên môn. c) Có thể có vấn đề về lòng trung thành giữa một bên là cấp trên và một bên là yêucầu của chuẩn mực nghề nghiệp mà người làm kế toán và người làm kiểm toán cần tuân thủ. Xung đột có thể nảy sinh khi thông tin không trung thực được công bố có thể ảnh hưởngđến lợi ích của chủ doanh nghiệp hoặc khách hàng, người làm kế toán và người làm kiểmtoán.” Các phương pháp giải quyết khi có xung đột xảy ra cơ nguy cơ dẫn đến không tuân thủnguyên tắc của chuẩn mực đuợc hướng dẫn trong Đ.53-Chuẩn mực đạo đức. c. Năng lực chuyên môn và tính thận trọng. Chuẩn mực mới đưa ra hai yêu cầu để thể hiện đuợc năng lực chuyên môn, khi nghànhkiểm toán hiện nay quan tâm nhìu đến niềm tin của công chúng, và đây cũng là một công việcmang tính chất rủi ro cho các KTV khi không có đủ năng lực chuyên môn. Để làm đuợc điềunày chuẩn mực đọa đức có 2 yêu cầu sau:Đ.55- Chuẩn mực đạo đức. (1) Duy trì kiến thức và nghiệp vụ chuyên môn đạt yêu cầu quy định đảm bảo cungcấp dịch vụ chuyên môn tốt nhất cho khách hàng hay chủ doanh nghiệp; (2) Hành động đúng mực, phù hợp với các chuẩn mực về kỹ thuật và nghề nghiệp khicung cấp dịch vụ chuyên nghiệp. II. Chuẩn mực 240 1. Nhận xét đầu tiên. Đ.1 VSA 240 hiện hành:” Mục đích của chuẩn mực là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơbản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đến tráchnhiệm của kiểm toán vien và công ty kiểm toná báo cáo tài chính.” Đ1 VSA 240 dự thảo: “ Chuẩn mực kiểm toán này quy định và hướng dẫn trách nhiệmcủa kiểm toán viên đối với gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính. Đặc biệt,Chuẩn mực này cũng quy định và hướng dẫn thêm cách áp dụng Chuẩn mực kiểm toán ViệtNam số 315 và số 330 (ban hành lại) đối với các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.” 20
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o Ta thấy nội dung của chuẩn mực dự thảo đang tập trung và hướng đến trách nhiệm củakiểm toán viên nhiều hơn, đương nhiên những vấn đề về gian lận và sai sót cũng được đề cậpvà hướng dẫn. Ta cũng thể thấy điều đó thông qua tên của 2 chuẩn mực: VSA 240 hiện hành: “Gian lận và sai sót. VSA 240 dự thảo: “trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trìnhkiểm toán báo cáo tài chính.” 2. Trình bày và phương pháp tiếp cận Dự thảo bao gồm các nội dung liên quan chủ yếu đến chuẩn mực kiểm toán BCTC, nhữngnội dung cụ thể được trình bày trong phụ lục bên dưới. Tiếp cân với gian lận và sai xót thôngqua đánh giá rủi ro. Chuẩn mực hiện tại các nội dung chủ yếu được trình bày trong chuẩn mực còn phục lụcchủ yếu trình bày những vấn đề bổ sung liên quan. Chuẩn mực yêu cầu kiểm toán viên xem xétgian lận vài sai sót. 3. Nhìn nhận về gian lận và sai sót. Dự thảo chuẩn mực đưa ra định nghĩa, nhưng chủ yếu nêu ra những vấn đề về gian lận vàsai xót liên quan trực tiếp đến kiểm toán viên, những gian lận và sai xót mà kiểm toán viên cầnquan tâm khi tiến hành kiểm toán BCTC (1) Gian lận: Là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giámđốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, bằng các hành vi gian dối để thu lợi một cáchbất chính hoặc bất hợp pháp. (2) Các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận: Là các sự kiện hoặc điều kiện phản ánhmột động cơ hoặc áp lực phải thực hiện hành vi gian lận hoặc tạo cơ hội thực hiện hành vigian lận. Chuẩn mực hiện hành có định nghĩa chung về gian lận và sai xót là gì và liệt kê ra các loạigian lận và sai xót khá đầy đủ. Gian lận: là những hành vi cố ý sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiềungười trong Hội đồng quản trị, Ban Giám Đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làmảnh hưởng đến báo cáo tài chính. Gian lận có thể biểu hiện dưới các dạng tổng quát sau: 21
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o - Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu liên quan đến báo cáo tài chính; - Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính; - Biến thủ tài sản; - Che dấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế làm sai lệch báocáo tài chính; Ghi chép các nghiệp vụ không đúng sự thật; - Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sáchtài chính; - Cố ý tính toán sai lệch về số học. Sai sót: Là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, như: - Lỗi về tính toán số hoặc hoặc ghi chép sai; - Bỏ sót hoặc sai , làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế; - Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp chế độ kế toán, chính sách tàichính nhưng không cố ý. 4. Trách nhiêm của kiểm toán viên và Ban giám đốc đơn vị. Dự thảo: Khẳng định trách nhiệm trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban quản trị và Bangiám đốc đơn vị được kiểm toán. Trách nhiệm của KTV là đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng BCTC đưa ra không còn sai xóttrọng yếu do gian lận hay nhầm lẫn. KTV và công ty kiểm toán phải tuân thủ chuẩn mực này trong suốt quá trình kiểm toán. Khách hàng và các đơn vị sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu biết về nhữngquy định trong chuẩn mực này. VSA hiện hành: Giám đốc (hoặc ngời đứng đầu) đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp trongviệc ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các gian lận và sai sót trong đơn vị. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán có trách nhiệm giúp đơn vị phát hiện, xử lý và ngănngừa gian lận và sai sót, nhưng kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phải chịu tráchnhiệm trực tiếp trong việc ngăn ngừa các gian lận và sai sót ở đơn vị mà họ kiểm toán, 22
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o 5. Mục tiêu Dự thảo VSA-240: Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chínhdo gian lận; Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các rủi ro có sai sót trọng yếu do gianlận mà kiểm toán viên đã tiến hành đánh giá, thông qua việc thiết lập và triển khai những biệnpháp xử lý; và Có biện pháp xử lý thích hợp đối với gian lận đã được xác định hoặc có nghi vấn. VSA-240 hiện hành: Xác định và đánh giá rủi ro về những gian lận và sai sót có thể có,làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và phải trao đổi với Giám đốc (hoặc ngườiđứng đầu) đơn vị về mọi gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiện được. Đảm bảo các gian lận và sai sót có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính đều đượcphát hiện. Kiểm toán viên phải tiến hành thu thập các bằng chứng để chứng minh là không có gianlận hoặc sai xót trọng yếu, nếu có cũng đã được KTV phát hiện. 6. Yêu cầu hành nghề đối với kiểm toán viên. VSA-240 dự thảo: Duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán: phảinhận thức khả năng có thể tồn tại sai sót trọng yếu do gian lận, Thảo luận trong nhóm kiểm toán Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan: (1) Phải phỏng vấn ban giám đốc, ban quản trị và các đối tượng khác trong đơn vị đểhiểu rõ hơn về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. (2) Đánh giá các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận. (3) Các mối quan hệ bất thường hoặc ngoài dự kiến đã được xác định. (4) Các thông tin khác. VSA-240 hiện hành: KTV phải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quátrình lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán và phải luôn ý thức được rằng có thể tồn tại nhữngtình huống hoặc sự kiện dẫn đến sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính. Những thủ tục cần được tiến hành khi có dấu hiệu gian lận hoặc sai sót: (1) KTV và công ty kiểm toán phải xem xét những ảnh hưởng của gian lận và sai sótđến báo cáo tài chính. Nếu có gian lận hoặc sai sót có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tàichính thì phải thực hiện sửa đổi và bổ sung những thủ tục kiểm toán thích hợp. 23
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o (2) KTV và công ty kiểm toán phải thảo luận với Ban giám đốc đơn vị kiểm toán vềnhững thủ tục sửa đổi bổ sung những sai xót, gian lận đến BCTC. Các thông tin khác. 7. Xác định rủi ro trọng yếu xảy ra do gian lận và sai sót. VSA-240 dự thảo: KTV phải xác định và đánh giá rủi ro có sai xót trọng yếu do gian lận ởcấp độ tổng thể BCTC, ở cấp độ cơ sở dẫn liệu. Rủi ro xảy ra đối với doanh thu. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ, kể cả các hoạt động kiểm soát liên quan đến rủi ro. VSA-240 hiện hành: KTV phải xác định và đánh giá sai xót trọng yếu trước khi nhận hợpđồng kiểm toán.Tìm hiểu hệ thống KSNB của đơn vị được kiểm toán. 8. Biện pháp xử lí dối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã đuợc đánh giá. VSA-240 dự thảo: Xử lý tổng thế: KTV phải xác định biện pháp xử lý tổng thể để xử lýsai xót trọng yếu do gian lận. Xử lý từng khoản mục cụ thể, đề xuất điều chỉnh với ban giám đốc của đơn vị được kiểmtoán, VSA-240 hiện hành: KTV phải trao đổi với Ban giám đốc và Ban quản trị về những saixót, gian lận được đánh giá. 9. Đánh giá bằng chứng kiểm toán. VSA-240 dự thảo: Bằng chứng kiểm toán phải được đánh giá theo mức độ tin cậy và đốichiếu với nhau, nếu có sự đối lập với nhau thì cần phải xem xét sự khác nhau đó. Sử dụng các bằng chứng kiểm toán hợp lý. VSA-240 hiện hành: Bằng chứng kiểm toán phải được đánh giá và đối chiều về mức độchính xác và tin cậy với nhau, nếu có sự khác biệt thì phải thực hiện kiểm toán bổ sung. 10. Thông báo gian lận và sai sót. VSA-240 dự thảo: Những sai xót phải được thông báo cho các bên liên quan, nội dungđược trình bày trong phụ lục của dự thảo chuẩn mực. KTV phải xem xét và thông báo với bangiám đốc, với ban quản trị, với các cơ quan pháp luật, với những người sử dụng thông tin kiểmtoán. Trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên về bảo mật thông tin của khách hàng có thểkhông cho phép kiểm toán viên báo cáo những gian lận cho các bên không phải là khách hàng. 24
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả oTuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, theo yêu cầu của pháp luật và các quy định cóliên quan, kiểm toán viên phải báo cáo về các gian lận với cơ quan quản lý và cơ quan phápluật có liên quan. Tùy theo từng trường hợp cụ thể, kiểm toán viên có thể phải xin ý kiến của chuyên gia tưvấn pháp luật để xác định sự cần thiết phải báo cáo về các gian lận với cơ quan quản lý, cơquan pháp luật có liên quan để đảm bảo các bước công việc cần thiết đối với lợi ích côngchúng trước ảnh hưởng của các gian lận đã phát hiện. VSA-240 hiện hành: Thông báo cho giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểmtoán trong thời hạn nhanh nhất trước ngày phát hành báo cáo tài chính, hoặc trước ngày pháthành Báo cáo kiểm tóan, khi: a) Kiểm toán viên nghi ngờ có gian lận, mặc dù chưa đánh giá được ảnh h¬ởng của gianlận này tới báo cáo tài chính; b) Có gian lận; c) Có sai sót trọng yếu Thông báo cho người sử dụng: a) Nếu có gian lận hoặc sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chínhnhưng gian lận hoặc sai sót này không được đơn vị sửa chữa hoặc không được phản ảnh đầy đủtrong báo cáo tài chính, thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải ra ý kiến chấp nhận từngthành phần hoặc ý kiến không chấp nhận. b) Nếu KTV không được phép thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợpđể đánh giá gian lận hoặc sai sót đã xảy ra hoặc có thể xảy ra làm ảnh hưởng trọng yếu đến báocáo tài chính thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đưa ra ý kiến chấp nhận từng phầnhoặc ý kiến từ chối vi phạm kiểm toán bị giới hạn. Thông báo cho cơ quan chức năng liên quan: Trường hợp đơn vị được kiểm toán có gianlận hoặc sai sót mà theo quy định của pháp luật, kiểm toán viên và công ty phải thông báo hànhvi gian lận hoặc sai sót đó cho cơ quan chức năng có liên quan. Trường hợp này, kiểm toánviên và công ty kiểm toán được phép trao đổi trước với chuyên gia tư vấn pháp luật. 11. Rút khỏi hợp đồng kiểm toán. VSA-240 dự thảo: Do kết quả của một sai sót do gian lận hoặc nghi ngờ có gian lận, nếugặp phải tình huống dẫn đến yêu cầu xem xét lại khả năng tiếp tục thực hiện cuộc kiểm toán thìkiểm toán viên phải: (a) Xác định trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm pháp lý áp dụng trong tình huốngđó, bao gồm trách nhiệm phải báo cáo với đối tượng đã chỉ định thực hiện cuộc kiểm toán hoặcbáo cáo với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền - nếu có; (b) Cân nhắc việc rút khỏi hợp đồng kiểm toán nếu pháp luật và các quy định liên quancho phép; và 25
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả o (c) Nếu rút khỏi hợp đồng thì kiểm toán viên phải: (i) Trao đổi với cấp quản lý thích hợp trong Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơn vịđược kiểm toán về việc rút khỏi hợp đồng kiểm toán và lý ro rút khỏi hợp đồng. (ii) Xác định trách nhiệm nghề nghiệp hoặc trách nhiệm pháp lý yêu cầu phải báocáo với đối tượng đã chỉ định thực hiện cuộc kiểm toán hoặc báo cáo với các cơ quan quản lýnhà nước có thẩm quyền – nếu có - về việc kiểm toán viên rút khỏi hợp đồng kiểm toán và lýdo rút khỏi hợp đồng. VSA-240 hiện hành: KTV và công ty kiểm toán được phép chấm dứt hợp đồng kiểm toánnếu đơn vị được kiểm toán không có biện pháp cần thiết để xử lý đối với gian lận mà KTV cholà cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể, kể cả gian lận không ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.Nhân tố ảnh hưởng tới quyết định rút khỏi hợp đồng, gồm: gian lận hoặc sai sót liên quan đếncấp lãnh đạo cao nhất trong đơn vị; việc tiếp tục duy trì quan hệ của kiểm toán viên với đơn vịđược kiểm toán. Nếu kiểm toán viên khác được thay thế yêu cầu cung cấp thông tin về khách hàng thì kiểmtoán hiện tại phải thông báo rõ lý do chuyên môn dẫn tới buộc phải chấm dứt hợp đồng D. Kết luận.Trải qua gần 15 năm ban hành chuẩn mực kiểm toán đang dường như muốn chia sẻ một thờigian thăng trầm cùng lịch sử kinh tế việt nam, nền kinh tế thị trường của các doanh nghiệp nhànước và đến bây giờ là sự thăng hoa và phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân và cổphần. Kinh tế Việt Nam hiện tại đang đứng trước một khó khăn rất lớn , sau khủng hoảng kinhtế 2008. Trải qua một khoảng thời gian dài và đầy thăng trầm của một nền kinh tế đang pháttriển. Sự thay đổi đó tác động đến khía cạnh tài chính cũng như kế toán, kiểm toán…. và chuẩnmực. I. Chuẩn mực 200 Sự thay đổi của chuẩn mực như và một sự tất yếu, giữa chuẩn mực 200 hiện hành và dựthảo có nhiều sự khác nhau như vậy đó cũng là do khía cạnh thay đổi của nền kinh tế. Nhữngđiểm khác nhau chính của chuẩn mực đuợc nêu ra ở trên , là sự thích nghi của chuẩn mực vớinền kinh tế. Đến 2012 khi chuẩn mực dự thảo mới ban hành thì sự khó khăn đâu tiên mà ngềkiểm toán phải gặp phải là sự giao thoa giữ chuẩn mực mới và cũ, các kiểm toán viên chưa kịpnắm bắt hết tất cả các vấn đề cuẩ chuẩn mực mới ban hành và đương nhiên vấn đề này sẽ được 26
  • Sự khác nhau giữa chuẩ n mực 200-240 hiệ n hành và dự thả ogiải quyết bằng thời gian. Khó khăn thứ hai trong khi vận dụng đó chính là việc lập báo cáo tàichính theo các qui định có liên quan và lập báo cáo theo đặc thù ngành điều này sẽ làm cho sựkhó khăn trong tình trạng hiện tại chưa có chuẩn mực kế toán nào nói về vấn đề lập báo cáokhác. Thứ ba đó chính là vấn đề tiếp cận tất cả các tài liệu làm bằng chứng liên quan, điều nàygiúp kiểm toán viên nhưng có khi nào doanh nghiệp sẽ tiết lộ tất cả các tài liệu của mình, vìcòn một thứ mà doanh nghiệp không muốn cho ai biết đó là bí mật nghề nghiệp , bí quyết kinhdoanh. 27