Your SlideShare is downloading. ×
Chương 8 tinh chong chiu cua thuc vat
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

Chương 8 tinh chong chiu cua thuc vat

5,177

Published on

1 Comment
2 Likes
Statistics
Notes
No Downloads
Views
Total Views
5,177
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
124
Comments
1
Likes
2
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. CHƯƠNG 8. TÍNH CHỐNG CHỊU CỦA THỰC VẬT 1. Khái niệm chung về tính chống chịu của thực vật Qua quá trình tiến hoá ở các loài thực vật đã hình thành nên những nhu cầu xác định đối với môi trường sống. Đồng thời mỗi cơ thể có khả năng thích nghi với môi trường biến đổi. Cả hai tính chất đó được tồn tại trên cơ sở di truyền. Khả năng biến đổi sự trao đổi chất phù hợp với điều kiện thay đổi của môi trường càng lớn, phản ứng thích nghi của cơ thể đối với môi trường càng rộng và càng thích nghi hơn với điều kiện sống. Khả năng chịu được môi trường bất lợi có thể được di truyền lại nhưng một phần khả năng đó có thể xuất hiện mà không đụng đến cơ chế di truyền của cơ thể. Tính chống chịu môi trường bất lợi có các đặc trưng đa dạng. Cơ thể có thể bằng cách nào đó tránh khỏi tác động bất lợi. Ví dụ các loài xương rồng dự trữ nước trong cơ thể và nhờ vậy chúng tránh được sự mất nước hoặc các loài thực vật chóng tàn rút ngắn chu kỳ sinh trưởng xuống chỉ còn hai tuần để gắn hoạt động sống vào thời gian có mưa ở các sa mạc. Kiểu chống chịu dựa trên khả năng của tế bào thay đổi tốc độ và chiều hướng trao đổi chất sao cho trong điều kiện môi trường thay đổi vẫn tạo ra tất cả các sản phẩm cần thiết là có ý nghĩa lớn. Trong các điều kiện môi trường bất lợi gây nên stress ở cơ thể thực vật, thường gặp nhất là thiếu nước (hạn), nhiệt độ cao (nóng), nhiệt độ thấp (rét)… Tính chống chịu đối với mỗi một tác động đó được xác định do một loạt những đặc điểm sinh lý hoá sinh của cơ thể.
  • 2. 2. Tính chịu hạn 2.1. Các kiểu khô hạn của môi trường Hạn là hiện tượng xảy ra khi cây bị thiếu nước. Do thiếu nước, lượng nước hút vào cây không bù đắp được lượng nước bay hơi đi qua các bộ phận trên mặt đất, làm cho cây mất cân bằng nước và bị héo. Có ba loại hạn: Hạn đất xảy ra khi lượng nước dự trữ cho cây hấp thu trong đất bị cạn kiệt nên cây không hút đủ nước và mất cân bằng nước. Hạn đất thường xảy ra với các vùng có lượng mưa trung bình rất thấp và kéo dài nhiều tháng trong năm như các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên…vào mùa khô. Hạn không khí xảy ra khi độ ẩm không khí quá thấp làm cho quá trình thoát hơi nước của cây quá mạnh và cũng có thể dẫn đến mất cân bằng nước trong cây. Hạn không khí thường xảy ra ở các vùng có gió khô và nóng như vùng có gió mùa Tây Nam của các tỉnh miền Trung, mùa khổơ Tây Nguyên hoặc đôi lúc gió mùa Đông Bắc cũng có độ ẩm không khí thấp… Hạn sinh lý xảy ra do trạng thái sinh lý của cây không cho phép cây hút được nước mặc dù trong môi trường không thiếu nước. Rễ cây không lấy được nước trong khi quá trình bay hơi nước vẫn diễn ra nên cây mất cân bằng nước. Ví dụ khi đất yếm khí, rễ cây thiếu oxy để hô hấp nên không có không có năng lượng cho hút nước; hoặc khi nồng độ muối trong đất quá cao vượt quá nồng độ dịch bào của rễ làm rễ cây không hút nước được, hay trường hợp nhiệt độ của đất quá thấp cũng xảy ra hạn sinh lý…Hạn sinh lý kéo dài cũng tác hại như hạn đất và hạn không khí. Nếu hạn đất kết hợp với hạn không khí thì mức độ tác hại đối với cây tăng lên rất nhiều lần. 2.2. Tác hại của hạn đối với cơ thể thực vật Hệ thống keo nguyên sinh chất bị thay đổi mạnh
  • 3. - Thay đổi các tính chất lý hoá của chất nguyên sinh: tăng độ nhớt chất nguyên sinh làm chậm các hoạt động sống, giảm mức độ phân tán, khả năng thuỷ hoá và tính đàn hối của keo nguyên sinh chất… - Thay đổi đặc tính hoá keo từ trạng thái sol rất linh động thuận lợi cho các hoạt động sống sang trạng thái coaxecva hoặc gel kém linh động, cản trở các hoạt động sống… Quá trình trao đổi chất lúc thiếu nước sẽ bị đảo lộn từ hoạt động tổng hợp là chủ yếu khi đủ nước chuyển sang hướng phân giải khi thiếu nước. Quá trình phân giải quan trọng nhất là phân giải protein và axit nucleic, kết quả là giải phóng và tích luỹ NH3 gây độc cho cây và có thể làm chết cây. Hoạt động sinh lý bị kìm hãm - Thiếu nước sẽ ức chế hoạt động quang hợp. Do khí khổng đóng nên thiếu CO2, lục lạp có thể bị phân huỷ, ức chế tổng hợp diệp lục; lá bị héo và khô chết là giảm diện tích quang hợp; sự vận chuyển các sản phẩm quang hợp ra khỏi lá và về cơ quan dự trữ bị tắc nghẽn… - Thiếu nước ban đầu sẽ làm tăng hô hấp vô hiệu, về sau giảm hô hấp nhanh, hiệu quả sử dụng năng lượng của hô hấp rất thấp vì hô hấp sản sinh nhiệt là chính. - Hạn làm mất cân bằng nước trong cây: lượng nước thoát ra lớn hơn lượng nước hấp thu vào cây làm cho cây bị héo. - Dòng vận chuyển vật chất trong cây bị ức chế rất mạnh: Sự hút chất khoáng giảm do tốc độ dòng thoát hơi nước giảm. Thiếu nước kìm hãm tốc độ vận chuyển chất đồng hoá về các cơ quan dự trữ và có thể có hiện tượng “chảy ngược dòng” các chất đồng hoá từ các cơ quan dự trữ về các cơ quan dinh dưỡng. Kết quả làm giảm năng suất kinh tế của cây trồng…
  • 4. Quá trình sinh trưởng và phát triển bị kìm hãm - Ức chế sinh trưởng: thiếu nước thì đỉnh sinh trưởng không tiến hành phân chia được, quá trình dãn của tế bào bị ức chế làm cho cây sinh trưởng chậm. Do đó nước được xem là yếu tố nhạy cảm trong sự sinh trưởng của tế bào. Trong trường hợp cần ức chế sinh trưởng không cần thiết của cây như lúc cây có nguy cơ bị lốp, có thể tạo điều kiện khô hạn để ức chế sự dãn của tế bào, ức chế sinh trưởng chiều cao. - Ức chế ra hoa, kết quả: Thiếu nước ảnh hưởng đến quá trình phân hoá hoa và đặc biệt là quá trình thụ tinh. Khi gặp hạn, hạt phấn không nảy mầm, ống phấn không sinh trưởng được, sự thụ tinh không xảy ra và hạt sẽ bị lép, giảm năng suất… 2.3. Các phản ứng chịu hạn Tính chịu hạn là sự thích nghi có bản chất di truyền được thể hiện ra trong các thích nghi đa dạng về mặt hình thái và sinh lý của thực vật chịu mất nước. Điều đó được biểu hiện ở thực vật chịu hạn bằng cách giảm thiểu sự thoát hơi nước nhờ có lớp cutin dày, khí khổng nằm sâu, hình thành các protein sốc có tác dụng bảo vệ bộ gen khỏi bị hạn tác động gây hư hại và sử dụng nước một cách có hiệu quả nhất bằng cách tiến hành quang hợp theo con đường CAM. Về quan hệ của thực vật đối với nước, có thể chia thực vật thành ba nhóm sinh thái: - Thực vật thuỷ sinh (hydrophyta) gồm những loài cây ngập bộ phận hay toàn bộ cơ thể trong nước và những cây sống ở lập địa ẩm ướt. - Thực vật trung sinh (mesophyta) gồm các loài thực vật sống trong môi trường với mức độ cung cấp nước trung bình. Những cây thuộc nhóm này không có các thích nghi đối với sự thừa hay thiếu nứơc. - Thực vật hạn sinh (xerophyta) bao gồm những loài thực vật sống trong môi trường thường thiếu nước nghiêm trọng.
  • 5. Về mặt sinh lý thích nghi, nhóm thực vật hạn sinh không đồng nhất. Tồn tại một số kiểu thích nghi đối với hạn: · Thực vật tránh khô hạn (thực vật chóng tàn – Ephemerophyta) Nhóm thực vật này có chu kỳ sinh trưởng ngắn, toàn bộ chu kỳ sinh dưỡng vào thời kỳ mưa ở sa mạc. Thời gian sinh trưởng của chúng rất ngắn, chỉ vài tuần lễ. Khi có mưa, đất ẩm hạt giống của chúng lại nẩy mầm. Chúng sinh trưởng và phát triển thật nhanh, hình thành hạt rồi chết trước khi mùa khô hạn đến, là lúc thế nước của đất giảm xuống dưới mức gây chết. Lúc đó hạt của chúng bước vào giai đoạn ngủ đợi đến lần mưa năm sau. Thực vật nhóm này không có khả năng chịu được mất nước. Thực vật tích luỹ nước (hạn sinh giả) Đây là nhóm thực vật hạn chế sự mất nước. Nhóm này gồm thực vật mọng nước trước hết là cây xương rồng (Euphobia), cây có thân dày, bề mặt thoát hơi nước ở nhóm này là rất hẹp. Lá bị tiêu giảm mạnh, tất cả bề mặt của cây được phủ lớp cutin dày. Xương rồng có hệ rễ cạn nhưng phân bố rộng. Tế bào rễ có nồng độ dịch bào thấp do đó áp suất thẩm thấu thấp. Xương rồng sống tại các miền có chu kỳ khô hạn xen kẽ thời kỳ mưa, hệ rễ của chúng thích nghi với sự hấp thụ nước mưa. Thời gian còn lại trong năm xương rồng sống nhờ lượng nước mưa dự trữ trong các cơ quan thịt mọng, lượng nước này được xương rồng chi dùng một cách tiết kiệm. Cường độ thoát hơi nước giảm theo mức độ giảm của lượng nước trong tế bào. Liên quan với sự tiết kiệm nước, thực vật mọng nước, cụ thể cây xương rồng có kiểu trao đổi chất độc đáo gọi là CAM. Ban ngày khí khổng đóng, ban đêm khí khổng mở cho khí CO2 khuếch tán vào lá. Các axit hữu cơ vốn rất giàu trong cây mọng nước là chất nhận CO2. Trong các tế bào cây xương rồng nhờ có sự oxy hoá không hoàn toàn cacbon hydrat trong hô hấp tích luỹ lại nhiều axit hữu cơ. Ban ngày khi ánh sáng chiếu tới, CO2 đã ở trạng thái liên kết được giải phóng ra và được tái cố định theo chu trình Calvin để liên kết vào các hợp chất hữu cơ là sản phẩm của quang hợp như C6H12O6 và các chất khác. Đặc điểm trao đổi chất theo con đường CAM giúp thực vật mọng nước thực hiện được quang hợp vào ban ngày lúc khí khổng đóng đảm bảo thực hiện sự giảm
  • 6. thiểu sự mất nước qua quá trình thoát hơi nước và không bị chết đói. Xương rồng bị hư hại và chết. Đó là nhóm thực vật tích trữ nước và chi dùng một cách tiết kiệm do chúng sinh trưởng rất chậm. Thực vật thích nghi tìm kiếm nước Thực vật nhóm này có hệ rễ lan toả và ăn sâu, hướng tới nguồn nước trong đất. Tế bào rễ thường có áp suất thẩm thấu cao, sức hút nước lớn. Nhờ các đặc điểm đó, thực vật nhóm này có thể thu gom thể tích nước rất lớn từ trong đất. Hệ rễ của nó có thể phân bố tới hệ nước ngầm không quá sâu. Mô dẫn của nhóm thực vật này phát triển mạnh, lá mỏng, hệ gân dày đặc có tác dụng giảm thiểu đến mức tối đa lực cản đối với dòng nước đi đến các tế bào sống của lá. Thực vật nhóm này có cường độ thoát hơi nước rất cao. Thậm chí vào những ngày nóng khô chúng vẫn mở khí khổng. Nhờ thoát hơi nước mạnh, nhiệt độ của lá thấp hơn nhiều so với nhiệt độ không khí giúp thực hiện quá trình quang hợp ở điều kiện nhiệt độ ban ngày cao. Những loài cây chịu hạn có lá mỏng, thoát hơi nước mạnh như dưa hấu (Citrulus colocynthus), cây đinh lăng đồng cỏ (Medicago falcata), cây ngải (Artemosia)…lá của chúng được phủ lớp lông. Lông đóng vai trò như cái màn phản quang góp phần bảo vệ lá khỏi bị đốt nóng. Một đặc điểm rất quan trọng của kiểu chịu hạn này là khả năng chịu được mức độ mất nước rất cao-héo lâu dài mà không bị hư hại. Khi được cung cấp nước, thực vật nhóm này nhanh chòng phục hồi lại hoạt động sống bình thường. · Thực vật chịu khô hạn ở trạng thái tiềm sinh (anabios) Đó là loài cây lá cứng ở trạng thái cương chứa hàm lượng nước rất ít. Khi héo, hàm lượng nước trong các cây ấy có thể tụt xuống đến 25%. Ở trạng thái mất nước, cây lá cứng rơi vào trạng thái tiềm sinh. Các loài thực vật này có đặc trưng là có mô cơ học rất phát triển. Lá ở những cây này rất cứng cho phép chúng tránh khỏi hư hại cơ học khi mất sức trương. Tế bào chất của các loài thực vật này có độ nhớt cao. Khi được cung cấp đủ nước, cường độ thoát hơi nước cao. Khi gặp điều kiện thiếu nước, chúng xuất hiện thích nghi có tác dụng giảm thiểu cường độ thoát hơi nước. Chẳng hạn, chúng có khả năng cuộn lá thành ống, nhờ vậy khí khổng
  • 7. lẫn vào bên trong ống lá giúp giảm thiểu sự thoát hơi nuớc qua khí khổng. Ở một số loài cây khí khổng nằm lõm sâu chuyên biệt vào dưới biểu bì và từ phía trên lá được đậy bởi lớp vảy nhựa. Đôi khi lá bị tiêu biến. Như vậy, tính chịu hạn của thực vật là khả năng của cở thể thực vật duy trì tính ổn định trao đổi chất trong điều kiện thiếu nước. 2.4. Bản chất của những thực vật thích nghi và chống chịu khô hạn Tránh hạn - Những thực vật này thường sống ở những sa mạc khô hạn có thời gian mưa rất ngắn trong năm. Đây là những thực vật có thời gian sinh trưởng rất ngắn gọi là các cây đoản sinh. Hạt của chúng nảy mầm ngay khi bắt đầu có mưa, đất còn ẩm. Sau đó, chúng sinh trưởng và phát triển nhanh chóng, hình thành hạt rồi chết trước khi mùa khô đến. Hạt của chúng chịu hạn rất tốt vì có thời gian ngủ nghỉ rất dài suốt mùa khô, đợi đến mùa mưa năm sau lại nẩy mầm. - Nói chung, những thực vật này không có những đặc trưng chống hạn thực sự mà chỉ có chu kỳ sống quá ngắn nên tránh được hạn và tính phát triển dẻo dai. Thực vật đoản sinh có hai nhóm: một nhóm nhờ nước mưa về mùa đông thường có dạng lá hình hoa thị để tăng khả năng nhận ánh sáng yếu hơn trong mùa đông và có con đường quang hợp C3; còn nhóm thứ hai nhờ nước mưa mùa hè có con đường quang hợp C4 để tăng khả năng quang hợp và tích luỹ. - Trong công tác chọn giống cây trồng chống chịu hạn, các nhà chọn giống quan tâm nhiều đến tính chín sớm, có thời gian sinh trưởng ngắn. Với các giống chín sớm, có thể bố trí thời vụ để tránh được thời kỳ hạn nặng trong năm. Thực tế các giống chín sớm cũng có khả năng chống hạn tốt hơn nhưng giống khác. Giảm khả năng mất nước Với cây trồng, giảm khả năng mất nước cũng là đặc trưng thích ứng với khô hạn. Có nhiều cách mà thực vật chịu hạn có được là:
  • 8. - Đóng khí khổng để giảm thoát hơi nước khi gặp hạn. Khí khổng của những thực vật chịu hạn này thường rất nhạy cảm với thiếu nước. Các thực vật loại này thường sống ở sa mạc và thường là thực vật CAM nên có xu hướng mở khí khổng vào ban đêm để nhận CO2. Các cây xương rồng ở sa mạc có thể đóng khí khổng liên tục trong thời gian rất dài nếu sức hút của đất quá lớn. - Các thực vật chống chịu hạn thường có tầng cutin dày hơn để giảm lượng nước bay hơi qua cutin. - Giảm sự hấp thu năng lượng ánh sáng mặt trời bằng cách vận động lá theo hướng song song với tia sáng tới để nhận năng lượng ít nhất, nhất là vào ban trưa hoạc có thể cuộn lá lại hay cụp lá xuống. - Giảm diện tích lá để giảm bề mặt thoát hơi nước. Nhiều thực vật có lá biến thành gai như xương rồng. Lá của chúng thường sinh trưởng rất chậm khi thiếu nước. Lá rất nhạy cảm với thiếu nước nên một số lá bị rụng đi hay khô chết đi để giảm bề mặt thoát hơi nước… Duy trì khả năng hấp thu nước - Có hệ rễ phát triển rất mạnh và phân bố sâu xuống mạch nước ngầm để lấy nước. Số lượng và mật độ rễ cũng rất cao và tỷ lệ rễ/thân, lá cao hơn nhiều khi gặp hạn. - Về giải phẫu: chúng có số lượng và đường kính mạch dẫn tăng lên để tăng khả năng vận chuyển nước lên thân lá. - Tăng áp suất thẩm thấu và sức hút nước của mô bằng khả năng điều chỉnh thẩm thấu của những thực vật này. Các chất điều khiểnn thẩm thấu có thể là muối kali, axit hữu cơ, đường, …tuỳ theo loại cây trồng. Chính nhờ các đặc điểm trên mà giúp cây lấy được nước có hiệu quả nhất trong điều kiện cung cấp nước rất khó khăn. Duy trì tính nguyên vẹn về cấu trúc và chức năng sinh lý của tế bào
  • 9. - Đặc điểm chung nhất của thực vật chống chịu hạn là trong điề kiện thiếu nước, chất nguyên sinh của tế bào vẫn giữ được nguyên vẹn mà không bị thương tổn nên không rò rỉ các chất ra ngoài, các bào quan vẫn duy trì cấu tắuc và chức năng của chúng. - Độ nhớt và tính đàn hồi duy trì ở mức cao. Các protein và enzym bền vững, không bị biến tính và không bị phân huỷ lúc thiếu nước… Các hoạt động trao đổi cấht và sinh lý vẫn duy trì được mà không bị đảo lộn khi gặp hạn. Quá trình sinh trưởng và phát triển cũng như việc hình thành băng suất được tiến hành ở mức độ khác nhau tuỳ theo khả năng chống chịu hạn của chúng. Năng suất của các cây trồng giảm nhiều hay ít tuỳ theo mức độ hạn và khả năng chống chịu hạn của chúng. 2.5. Các biện pháp tăng tính chịu hạn cho cây trồng - Phương pháp tôi hạt giống: Ngâm ướt hạt giống rồi phơi khô kiệt và lặp lại nhiều lần trước khi gieo. Cây mọc lên có khả năng chịu hạn… - Xử lý các nguyên tố vi lượng như Cu, Zn, Mo…bằng cách xử lý hạt trước khi gieo hoặc phun lên cây ở giai đoạn sinh trưởng nhất định cũng có khả năng tăng tính chịu hạn cho cây. - Sử dụng một số chất có khả năng làm giảm thoát hơi nước, tăng hiệu quả sử dụng nước. Các chất này thường là axit usnic, usnat amon, axetat phenyl đồng… 3. Tính chịu nóng 3.1. Định nghĩa Tính chịu nóng là khả năng của cơ thể thực vật chịu được sự đốt nóng. Trong tự nhiên nhiều trường hợp nhiệt độ cao tác động đồng hành cùng gió khô. Khả năng thích nghi của thực vật đối với nhiệt độ cao là khác nhau giữa các loài, giống cây. Đa số các loài thực vật bắt đầu bị hư hại ở nhiệt độ 35-40o C. Tuy nhiên, tồn tại những loài cây sống được ở môi trường nhiệt độ cao, đặc biệt, thực vật sa mạc. Chẳng hạn như thực vật
  • 10. thuộc chi xương rồng chịu được nhiệt độ 60o C. Một loạt các loài thực vật bậc thấp như một số loài tảo, nấm và vi khuẩn có thể sống được nhiệt độ cao hơn. Vi sinh vật vùng núi lửa là những cơ thể chịu được nhiệt độ cao nhất, có thể tồn tại ở nhiệt độ 100o C. 3.2. Tác hại của nóng đối với thực vật Giới hạn nhiệt độ cao bị giới hạn -Với thực vật sống ở vùng nhiệt đới, đa số thực vật có giới hạn nhiệt độ trên là 45o C. Nói chung, chúng chỉ tồn tại ở 45-55o C trong 1-2giờ. Các thực vật ôn đới có giới hạn trên là 35- 40o C. Với nhiệt độ này, chúng sinh trưởng rất kém và năng suất thấp. Vượt quá giới hạn trên nhiệt độ này, thực vật sẽ chết. - Các mô khác nhau chịu nhiệt độ cao khác nhau. Chẳng hạn, hạt phơi khô đang ngủ nghỉ có thể chịu được nhiệt độ lên đến 100o C trong thời gian ngắn. Các mô quả thường chịu nhiệt độ cao hơn các mô khác. Triệu chứng bị hại và thương tổn ở nhiệt độ cao - Với các cây con, triệu chứng bị hại giống như triệu chứng nhiễm nấm bệnh gây thối nhũn cây và thường gặp ở cây lanh, lúa mạch, lúa mì, đậu đỗ… - Lá bị hại: Biểu hiện bị hại ở lá là thường mất màu hay có thể bị biến dạng, các mép lá bị hỏng và chết hoại như lan ra toàn lá như ở khoai tây, rau diếp, bắp cải… - Nguyên nhân gây chết ở nhiệt độ cao trước hết và quan trọng nhất là protein bị bíên tính, bị phân huỷ giải phóng NH3 gây độc amon cho cây. Việc giảm hàm lượng N-protein, tích luỹ amoniac và tích luỹ N-phi protein có thể coi là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thương tổn làm chết cây. - Hệ thống màng bị thương tổn: Do sự biến tính của protein mà làm mất hoạt tính của hệ thống màng sinh học và hệ thống enzym. Sự thương tổn màng dẫn đến hiện tượng rò rỉ các chất
  • 11. ra ngoài màng tế bào, phá huỷ chức năng bình thường của hệ thống màng. Hoạt động trao đổi chất bị rối loạn, quá trình phân huỷ chiếm ưu thế… - Các hoạt động sinh lý của cây khi gặp nhiệt độ cao đều rối loạn như ức chế quang hợp vì lục lạp và diệp lục bị phân huỷ, hô hấp vô hiệu, mất cân bằng trong trao đổi nước…Do đó, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bị ức chế, nhất là quá trình thụ tinh không xảy ra bình thường làm hạt lép và giảm năng suất… 3.3. Các kiểu chịu nóng của thực vật Tính chịu nóng phụ thuộc vào đặc điểm di truyền, pha sinh trưởng và phát triển của giống, loài thực vật. Thực vật đã có những thích nghi khác nhau để chống lại tác động của nóng. - Thoát hơi nước để hạ nhiệt độ cơ thể: Thực vật thuộc nhóm này có hệ rễ phát triển mạnh, sâu vào đất, có thể đạt đến mạch nước ngầm, đảm bảo đủ nước cho cây thoát hơi nước với cường độ cao khi bị nóng. - Chịu nóng cao nhờ sự bền vững hoá lý của hệ keo sinh chất: Đại diện nhóm này là thực vật mọng nước sống ở sa mạc khô và nóng. Tế bào chất của chúng có độ nhớt cao, vượt xa độ nhớt của những cây chịu hạn khác. Độ nhớt cao cùng hàm lượng nước liên kết cao là đặc trưng của sinh chất của thực vật mọng nước. 3.4. Cơ chế hóa sinh của tính chịu nóng Cơ sở hoá sinh của tính chịu nóng là khả năng khử độc cao và khả năng phục hồi nhanh chóng những hư hại sau khi nhiệt độ cao ngừng tác động. Đặc biệt là sự xuất hiện các protein sốc đặc hiệu, đồng thời giảm protein vốn được hình thành ở điều kiện bình thường. Trong thời gian nhiệt độ cao tác động, tính thấm của màng sinh chất tăng lên. Sự tồn tại các protein sốc có tác dụng ổn định màng sinh chất, hạn chế sự gia tăng tính thấm của nó. Ngoài các protein gây sốc, trong bộ gen còn có mã hoá chương trình liên quan với sự thử thách stress. Khi bị stress, trong tế bào tăng cường tổng hợp hydrocacbon và các axit amin như prolin có khả năng tăng khả
  • 12. năng giữ nước và gia tăng áp suất thẩm thấu nội bào. Nhờ vậy, tế bào chất được ổn định, và cấu trúc của tế bào không bị hư hại trong thời gian nhiệt độ cao tác động. 3.5. Các biện pháp tăng tính chịu nóng của thực vật Qua nghiên cứu thực nghiệm, các nhà kha học đã đề xuất một số biện pháp sau: - Chọn tạo giống cây trồng chịu nóng: Chọn, tạo các giống cây trồng chịu nóng theo đặc điểm di truyền và sử dụng công nghệ sinh học có nhiều triển vọng. - Sử dụng phân bón hợp lý và một số hoá chất: Giống như đối với hạn, người ta sử dụng các biện pháp bón phân hợp lý, không bón đạm, bón kali khi cây bị nóng tác động để cây tăng khả năng giữ nước và giảm thiểu khả năng mất nước của mô. Một số hoá chất có khả năng giảm thiểu tác hại của nhiệt độ cao và tăng tính chịu nóng của cây. Có thể cung cấp cho cây trước mùa khô nóng để bảo vệ cây các chất như đường, prolin, vitamin C, axit glutamic, uraxil, ATP cùng các chất dinh dưỡng khoáng. Đặc biệt các chất tham gia trao đổi chất axit nucleic như adenin có khả năng tăng tính chịu nóng tốt nhất cho cây. Trong các chất điều hoà sinh trưởng, kinetin có tác dụng tốt, gia tăng tính chịu nóng của cơ thể thực vật. Một số nguyên tố vi lượng như kẽm, mangan, đồng cũng có khả năng tăng tính chịu nóng của thực vật. - Luyện tính chịu nóng của cây mầm 4. Tính chịu rét 4.1. Định nghĩa Là khả năng của cây chịu được tác động của rét trong thời gian dài. Thực vật ôn đới chịu rét tốt, thực vật á nhiệt đới và nhiệt đới chịu rét kém. Mức độ chịu rét là khác nhau tuỳ theo giống, loài và theo pha phát triển của cá thể thực vật. Tại Việt Nam vào mùa đông, từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường có các đợt gió mùa đông bắc gây rét, ở một số địa phương miền núi phía bắc, có khi nhiệt độ không khí hạ xuống đến gần 0o C. Nhiệt độ tụt xuống đến 10-12o C
  • 13. (rét hại) đã gây tổn thất nghiêm trọng cho ngành trồng trọt, nhất là trà mạ lúa đông xuân thường bị chết nhiều. 4.2. Phân biệt hai mức tác động của nhiệt độ thấp Phân biệt hai mức chịu nhiệt độ thấp tương ứng với mức chống chịu của thực vật: chống chịu nhiệt độ dương thấp (>0o C) gọi là tính chịu rét và chống chịu nhiệt độ thấp dưới 0o C gọi là tính chịu băng giá. 4.3. Tác hại của rét đối với cơ thể thực vật Giới hạn nhiệt độ thấp bị hại Đa số các thực vật nhiệt đới có giới hạn nhiệt độ thấp bị hại là 10-12o C. Dưới nhiệt độ đó, các cây trồng có thể chết. Các thực vật nhiệt đới mẫn cảm với nhiệt độ thấp hơn nhiều so với thực vật ôn đới. Các cây trồng ôn đới có nhiệt độ thấp gây hại khoảng 0-5o C. Tuy nhiên nhiều thực vật qua được mùa đông trong điều kiện tuyết phủ và đóng băng. Cây thông có thể tồn tại suốt mùa đông ở -40o C nhưng chúng chết vào mùa hè khi nhiệt độ hạ xuống 1-2o C…vì mùa đông chúng ở trong tình trạng ngủ nghỉ nên có khả năng chịu lạnh tốt hơn… - Tác hại của lạnh còn phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây. Thực vật ở trạng thái ngủ nghỉ có khả năng chịu lạnh tốt nhất. Hệ thống chất nguyên sinh bị thương tổn - Độ nhớt chất nguyên sinh tăng mạnh khi gặp lạnh làm cản trở các hoạt động sống trong tế bào. -Hệ thống màng sinh học trong chất nguyên sinh bị thương tổn. Đây có thể xem là biến đổi quan trọng nhất có thể gây ra sự chết cho cây. Đối với thực vật kém chịu lạnh thì nhiệt độ hạ thấp làm thay đổi trạng thái của màng từ trạng thái lỏng sang trạng thái rất linh động, hoạt động sống mạnh, chuyển sang trạng thái đông đặc lại kém linh động và không duy trì hoạt động bình
  • 14. thường. Nhiệt độ tại đó trạng thái màng chuyển từ lỏng sang rắn gọi là nhiệt độ chuyển pha. Mỗi thực vật có một nhiệt độ chuyển pha nhất định. Với thực vật mẫn cảm nhiệt độ, nhiệt đô chuyển pha khoảng 10-12o C. Các thực vật chịu lạnh có nhiệt độ chuyển pha thấp hơn nhiều. Dưới nhiệt độ chuyển pha thì cấu trúc màng bị phá huỷ và phá huỷ các quá trình trao đổi chất và năng lượng trong tế bào và trong cây. Thành phần lipit cấu trúc màng có ý nghĩa quan trọng quyết định tính bền vững của màng. Các hoạt động sinh lý bị ức chế mạnh - Quang hợp bị giảm mạnh vì lục lạp và diệp lục bị phá huỷ, sản phẩm quang hợp ứ đọng trong lá… - Hô hấp bị ức chế nên thiếu năng lượng cho hoạt động sống và chống rét. - Cân bằng nước phá huỷ, cây mất cân bằng nước dẫn đến hạn sinh lý và bị héo. Nhiều cây trồng khi nhiệt độ hạ thấp dưới 10o C thì bị héo và chết… - Dòng vận chuyển chất hữu cơ bị kìm hãm làm giảm năng suất kinh tế… Quá trình sinh trưởng phát triển và hình thành năng suất cũng bị ức chế mạnh - Lạnh làm chậm sự nảy mầm của hạt, chậm sinh trưởng, giảm khả năng đẻ nhánh… - Hạt phấn không nảy mầm, ống phấn không sinh trưởng được nên thụ tinh không thực hiện được, hạt lép và giảm năng suất nghiêm trọng. Tuỳ theo mức độ giảm nhiệt độ và khả năng chịu lạnh mà năng suất giảm nhiều hay ít. 4.4. Kiểu thích nghi của thực vật đối với tác động của rét
  • 15. Những cây chịu rét duy trì được tính ổn định của màng, có tỷ lệ cao các axit béo không no. Tế bào chất của thực vật chịu rét có khả năng giữ nước cao, tổng hợp các chất thẩm thấu như axit amin prolin, saccarose và đặc biệt hình thành các protein gây sốc. 4.5. Biện pháp khắc phục tác hại của rét cho cây trồng Ngoài biện pháp cơ bản là chọn tạo các giống cây trồng chịu rét, các biện pháp nông sinh có thể có átc dụng giúp cây biểu hiện tiềm năng di truyền về chống chịu, giảm thiểu tác hại của rét đối với đời sống cây trồng. Chuyển dịch mùa vụ là biện pháp khả thi tránh tác động của rét đối với cây trồng kém chịu rét. Có thể tăng khả năng chịu rét của thực vật nhiệt đới bằng cách luyện hạt đã nhú mầm ở nhiệt độ thấp (1-5o C) trong thời gian 12giờ và ở nhiệt độ cao hơn (10- 20o C). Bón phân hợp lý như bón phân kali, photpho không bón nitơ khi cây đang bị rét tác động. Có thể sử dụng các nguyên tố vi lượng khoảng 0,25% hay dung dịch nitrat amon đối với hạt cây bông ngâm trong hai giờ hoặc dùng dung dịch xytokinin. 5. Tính chịu mặn 5.1. Định nghĩa Là khả năng của thực vật sống được trong môi trường chứa nồng độ muối cao. Tính chịu mặn là tính chất của chất nguyên sinh. Nghiên cứu tính chịu mặn của thực vật có ý nghĩa không những về mặt lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn bởi lẽ nước biển và đại dương chứa 3-4% muối. Biển và đại dương chiếm khoảng 75% bề mặt hành tinh chúng ta, 25% mặt đất bị mặn, còn 1/3 đất canh tác được được tưới nước trên toàn thế giới tích tụ muối do kém tiêu nước. Ảnh hưởng độc hại của nồng độ cao các muối có thể xuất hiện kể cả khi bón liều lượng cao 5.2. Các kiểu đất mặn Đất được chia theo mức độ bị nhiễm mặn thành đất không mặn, mặn yếu và đất muối. Đất không mặn chứa lượng muối hoà tan ít hơn 0,35%, mặn yếu từ 0,3-0,6%, mặn mạnh 0,6-1%
  • 16. và đất muối lớn hơn 1%. Dựa theo lượng anion trong đất, người ta phân đất mặn ra thành: mặn clorit, sunfat-clorit, clorit- sunfat và cacbonat. Trong các kiểu đất mặn theo anion, mặn cacbonat natri là kiểu mặn độc hại nhất vì rằng xođa trong đất phân giải, hình thành kiềm mạnh (hidroxit natri). Theo hàm lượng cation (mặc dầu cation chiếm ưu thế là Na+ ). Đất mặn được phân thành mặn Ca, Mg hay Ca –Na, Na-Ca, Na-Mg… 5.3. Tác hại của mặn Gây hạn sinh lý Việc dư thừa muối trong đất đã làm tăng áp suất thẩm thấu của dung dịch đất. Cây lấy được nước và chất khoáng từ đất khi nồng độ muối tan trong đất nhỏ hơn nồng độ dịch bào của rễ, tức áp suất thẩm thấu và sức hút nước của rễ cây phải lớn hơn áp suất thẩm thấu và sức hút nước của đất. Nếu độ mặn của đất tăng cao đến mức sức hút nước của đất vượt quá sức hút nước của rễ thì chẳng những cây không lấy được nước trong đất mà còn mất nước vào đất. Cây không hấp thu được nước nhưng quá trình thoát hơi nước của lá vẫn diễn ra bình thường làm mất cân bằng nước gây nên hạn sinh lý. Việc tăng áp suất thẩm thấu trong đất mặn quá mức là nguyên nhân quan trọng nhất gây hại cho cây trồng trên đất mặn. Mặn ảnh hưởng đến đến các hoạt động sinh lý của cây - Sự trao đổi nước: mặn thường cản trở sự hấp thu nước của cây và có thể gây nên hạn sinh lý và cây bị héo lâu dài… - Sự tổng hợp xytokinin bị ngừng vì rễ là cơ quan tổng hợp phithormon nay nên cây thiếu xytokinin ảnh hưởng đến sinh trưởng của các cơ quan trên mặt đất. - Sự hút khoáng của rễ cây bị ức chế nên thiếu chất khoáng. Do thiếu P nên quá trình phosphoryl hoá bị kìm hãm và cây thiếu năng lượng.
  • 17. - Sự vận chuyển và phân bố các chất đồng hoá trong mạch libe bị kìm hãm nên các chất hữu cơ tích luỹ trong lá ảnh hưởng đến quá trình tích luỹ vào cơ quan dự trữ… - Sự dư thừa các ion trong đất làm rối loạn tính thấm của màng nên không thể kiểm tra được các chất đi qua màng, rò rỉ các ion ra ngoài rễ. Quá trình trao đổi chất, đặc biệt là trao đổi protein bị rối loạn, dẫn đến tích luỹ các axit amin và amit trong cây… Kìm hãm sinh trưởng - Sự ức chế sinh trưởng của cây khi bị mặn là đặc trưng rõ rệt nhất. Trong đất mặn, các thực vật kém chịu mặn ngừng sinh trưởng do các chức năng sinh lý bị kìm hãm. Nồng độ muối càng cao thì kìm hãm sinh trưởng càng mạnh. Tuỳ theo mức độ mặn và khả năng chống chịu mà cây giảm năng suất nhiều hay ít. 5.4. Phân loại thực vật theo đặc trưng chịu mặn 5.4.1. Thực vật tích lũy muối (euhalophyte). 5.4.2. Thực vật thải muối (crinohalophyte). 5.4.3. Thực vật cách ly muối (localihalophyte). 5.4.4. Thực vật không thấm muối (glycohalophyte). 5.5. Các phản ứng thích nghi đối với môi trường mặn Về quan hệ đối với môi trường mặn, chia toàn bộ thực vật thành thực vật không chịu mặn hay là thực vật sống ở đất không nhiễm mặn, không có khả năng sống trên đất nhiễm mặn như cây đậu đỗ, khoai tây, nhiều giống lúa…và thực vật chịu mặn, sống trên đất nhiễm mặn, có khả năng thích nghi với môi trường chứa muối nồng độ cao như củ cải đường, bầu bí, dưa hấu, cây rừng ngập mặn như cây đước, sú, trang, vẹt…Đặc trưng thích nghi của thực vật đối với điều kiện môi trường mặn là rất đa dạng. Theo các dấu hiệu cho phép cây chịu mặn, có thể chia thực
  • 18. vật chịu mặn thành ba nhóm: nhóm chịu mặn thực sự, nhóm thực vật thải muối và nhóm thực vật chịu mặn không thấm muối. 1. Nhóm thực vật chịu mặn thực sự là nhóm thực vật chịu mặn nhất. Chúng có lá dày. Đại diện điển hình của nhóm chịu mặn thực sự là saliconia herbacea. Thực vật nhóm này hút muối vào không bào làm tăng áp suất thẩm thấu của dịch bào để hút được nước từ đất có độ mặn cao. 2. Nhóm thực vật thải muối đã hấp thụ ra khỏi tế bào cùng với nước nhờ tuyến muối chuyên hoá và loại bỏ lượng muối dư thừa cùng với lá rụng. 3. Nhóm thực vật chịu mặn không thấm muối mọc trên đất có độ mặn thấp hơn, chúng duy trì áp suất thẩm thấu cao nhờ cường độ quang hợp cao và tích luỹ nhiều cacbohydrat hoà tan; tế bào ít thấm muối. Các đặc điểm thích nghi về hình thái, giải phẫu Mặn có thể làm thay đổi một số đặc tính của cây các đặc tính có thể cải thiện được cân bằng nước trong trường hợp đất mặn. Chúng có lá ít và nhỏ, giảm số lượng khí khổng, tăng độ mọng nước, làm dày tầng cutin và sáp phủ trên lá, giảm sự hình thành mô dẫn, ligin hoá rễ sớm…Do sự sinh trưởng chậm của các bộ phận trên mặt đất nên giảm tỷ lệ thân, lá/rễ. tất cả các đặc điểm đó giúp cho cây giảm sự dẫn nước và thoát hơi nước để duy trì sự cân bằng trong điều kiện mặn. Sự điều chỉnh thẩm thấu Do áp suất thẩm thấu cảu cây thấp hơn của đất nên cây không hút được nước. Các thực vật chịu mặn có khả năng tự điều chỉnh thẩm thấu để làm tăng áp suất thẩm thấu trong tế bào vượt quá áp suất thẩm thấu của đất. Tốc độ và thời gian điều chỉnh thẩm thấu phụ thuộc vào loài thực vật. Người ta đo được tốc độ điều chỉnh thẩm thấu trung bình là 1at/ngày. Tốc độ này chỉ
  • 19. theo kịp các biến đổi xảy ra trong đất mặn. Tuỳ thuộc vào thực vật mà có cách điều chỉnh thẩm thấu khác nhau. Một số thực vật có khả năng tích luỹ nột lượng muối cao trong tế bào, chủ yếu là muối NaCl và có thể có cả K+ … Một số thực vật có khả năng tổng hợp và tích luỹ một số chất hữu cơ đơn giản, có phân tử lượng thấp để tăng áp suất thẩm thấu. Các chất tích luỹ chủ yếu là các axit hữu cơ, axit amin, đường. Khi gặp môi trường mặn, trong cây lập tức tổng hợp các chất hữu cơ nhóm này để tự điều chỉnh áp suất tẩhm thấu của chính mình. Ngoài ra, các hợp chất prolin, betain, putressin cũng được hình thành khi bị mặn. Hình thành các khoang chứa muối, tiết muối để giảm nồng độ muối có thể gây độc cho cây Các thực vật chịu mặn hình thành nhiều tế bào đồng nhất gọi là các hạch muối. Chúng có nhiệm vụ thu gom muối ở các tế bào khác của lá và thân. Các túi muối hoạt động trong một thời gian ngắn rồi vỡ ra tung muối ra mặt lá. Các túi muối khác được hình thành và tiếp tục thu gom muối. Nồng độ muối trong các túi muối cao gấp 60 lần so với các tế bào khác. Bằng cách này, cây có thể duy trì nồng độ muối thấp trong lá. Một số thực vật hình thành các túi muối nhưng chỉ đóng vai trò “giam giữ” muối mà không loại ra khỏi lá. Số lượng túi muối càng nhiều thì khả năng chịu mặn càng cao. Cũng có một số thực vật tích luỹ nhiều muối trong lá chết để loại muối ra khỏi cây… 5.6. Các biện pháp khắc phục tác hại của môi trường mặn 5.6.1. Các biện pháp làm giảm độ mặn của môi trường + Biện pháp thủy lợi. Thuỷ lợi là biện pháp quan trọng nhất có tác dụng giảm thiểu độ mặn của đất. Ngoài ra, các biện pháp nông sinh cũng đóng vai trò quan trọng trong ngành trồng trọt trên đất nhiễm mặn
  • 20. như chọn tạo các giống cây trồng chịu mặn, chuyển đổi cây trồng theo mùa vụ, tưới tiêu có cơ sở khoa học và bón phần hợp lý. + Biện pháp vật lý – hóa học. + Biện pháp canh tác (biện pháp nông sinh). 5.6.2. Các biện pháp tăng khả năng chịu mặn của cây + Biện pháp chọn, tạo giống cây trồng chịu mặn. + Biện pháp sinh lý: - Luyện hạt. - Xử lý hóa chất. 6. Tính chống chịu đối với tác nhân vô cơ khác * Tính chịu thiếu oxy (úng) Úng là hiện tượng thừa nước đối với cây trồng. Đây là trường hợp khá phổ biến ở nước ta. Có nhiều mức độ úng khác nhau: những vùng trũng bị ngập úng quanh năm, nhưng có những vùng chỉ ngập úng vào mùa mưa nhiều và cũng có trường hợp úng tạm thời sau các trận mưa to…Dù ở mức độ nào thì úng cũng gây ra tác hại ở các độ khác nhau đối với các cây trồng. Khi ngập nước, các mao quản đất được lấp đầy nước, không khí bị đuổi ra khỏi các mao quản và do đó đất hoàn toàn thiếu oxy. Do đất thiếu oxy nên rễ cây hô hấp yếm khí, không đủ năng lượng cho việc hút nước và hút khoáng. Đây cũng là một trường hợp xảy ra hạn sinh lý cho cây trồng ảnh hưởng đến các hoạt động sinh lý và năng suất. Tuỳ theo mức độ ngập úng và giai đoạn sinh trưởng khác nhau mà tác hại của úng đối với cây trồng khác nhau.
  • 21. Trong điều kiện yếm khí, các quá trình lên men – đặc biệt lên men butiric trong đất xảy ra và sản sinh các chất gây độc cho hệ rễ. Các đặc điểm thích nghi của thực vật chịu úng Các thực vật chịu úng thường có hệ thống rễ ít mẫn cảm với điều kiện yếm khí và nhất là không bị độc do các chất sản sinh trong điều kiện yếm khí. Đặc điểm thích nghi quan trọng là trong thân, rễ của chúng có hệ thống các gian bào lớn thông nhau thành một hệ thống để dẫn oxy từ không khí trên mặt đất xuống cung cấp cho rễ hô hấp. Mặc dù đất yếm khí nhưng rễ vẫn được cung cấp đầy đủ oxy. Đấy là đặc trưng cơ bản nhất giúp cây sống trong điều kiện thường xuyên ngập nước. Các thực vật sống ở đầm lầy như các loại sú, vẹt thường có các rễ chọc lên khỏi mặt bùn để dẫn không khí xuống rễ nằm ngập sâu dưới bùn…Cây lúa cũng có hệ thống gian bào phát triển mạnh trong thân và rễ nên có thể sống thường xuyên trong đất ngập nước… 7. Tính chống chịu bệnh 7.1. Khái niệm chung về tính chịu bệnh Ngoài các điều kiện bất lợi của môi trường vô sinh, cơ thể thực vật còn chịu tác động gây hại của các tác nhân gây bệnh, trước hết là các vi sinh vật độc hại đối với cây vốn tiềm tàng theo suốt chu trình sống của cá thể. 7.2. Tác nhân gây bệnh Các tác nhân gây bệnh thực vật có thể nấm ký sinh, vi sinh, vi rut, trong các tác nhân gây bệnh, nấm và ở mức độ thấp hơn là virut và vi khuẩn gây ra những tổn thất nặng cho ngành nông nghiệp. Điều đó liên quan với số lượng rất lớn các loài nấm gây bệnh so với vi khuẩn gây bệnh thực vật. 7.3. Đặc trưng của tác nhân gây bệnh
  • 22. 7.3.1. Các nhóm sinh vật gây bệnh Ký sinh tùy nghi: Chúng là những thể loại hoại sinh, sống trên các phần chết của cơ thể thực vật, nhưng chúng có thể gây hại cho cây sống có thể trạng yếu. Đại diện điển hình của nhóm này là nấm gây bệnh thói xám (Botrytis cinera) Nhóm cơ thể hoại sinh: Các loại nấm này sống ký sinh chủ yếu trên một số loài cây và hiếm hơn sống hoại sinh. Ví dụ, nấm thuộc nhóm này là tác nhân gây bệnh khoai tây, bệnh cà chua. Nhóm ký sinh bắt buộc: Các tác nhân gây bệnh thuộc nhóm này không thể tồn tại bên ngoài cây chủ. Nhóm ký sinh bắt buộc gồm virut, nhiều loài nấm ký sinh thực vật. Vật ký sinh bắt buộc gây bệnh cho cây chủ yếu dựa trên dịch tiết của chúng gồm các hợp chất khác nhau như oligopeptit, tecpenoit, glucosit. Các hợp chất này gây hại cho các cơ thể nhạy cảm bệnh ở nồng độ rất thấp. 7.3.2. Các tính chất tác động đặc trưng của vật ký sinh - Tính gây bệnh là khả năng gây bệnh của vật ký sinh. Đặc trưng định tính của tính gây bệnh là tính độc. - Tính độc là khả năng của vật ký sinh có gây nhiễm hay không. Đó là thuộc tính của các tác nhân gây bệnh. Người ta phân biệt các tác nhân gây bệnh theo khả năng gây nhiễm đối với những cây chủ khác nhau. Tồn tại một số dạng gây nhiễm trên các cơ thể khác nhau của cùng một loài cây. Tính độc của vật ký sinh bị biến đổi khi có sự cải biến bộ gen và hầu như không phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh. - Tính xâm chiếm của vật ký sinh thể hiện ra ở mức độ gây nhiễm đối với cây nhạy cảm bệnh và được đánh giá theo tốc độ sinh trưởng của vật ký sinh, theo các tác nhân ngoại cảnh...Tính độc và tính xâm chiếm phản ánh đặc trưng định tính và định lượng về khả năng gây bệnh của vật ký sinh đối với cây.
  • 23. 7.3.3. Cơ chế bảo vệ Khả năng chống bệnh của thực vật dựa trên những cơ chế bảo vệ đa dạng. Một cách khái quát, ở thực vật, tồn tại những cơ chế bảo vệ sau: 7.3.3.1. Cơ chế thể trạng Là những cơ chế đã có sẵn trong mô cây chủ trước khi nhiễm bệnh. Cơ chế này bao gồm: đặc trưng cấu trúc của mô bảo đảm hình thành hàng rào chắn ngăn cản sự xâm nhập của ký sinh; khả năng của cây chủ tiết ra các chất có tính kháng sinh; HÌnh thành trong mô cây chủ sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần cho sự sinh trưởng và phát triển của tác nhân gây bệnh. 7.3.3.2. Cơ chế cảm ứng Là phản ứng của cây chủ đối với sự nhiễm khuẩn. Cảm ứng là cơ chế cuất hiện sau khi tế bào cây chủ tiếp xúc với ký sinh hoặc dịch tiết ngoại bào của các tác nhân gây bệnh. Cơ chế này bao gồm: Tăng hô hấp và tăng trao đổi năng lượng của cây chủ trong mọi trường hợp; Tích luỹ các chất có đặc trưng chống chịu không đặc hiệu như phytoxit, phenol và các sản phẩm của quá trình oxi hoá các hợp chất đó như quynon, tanin và các chất khác. Tính chống chịu không đặc hiệu là khái niệm về mối quan hệ của cây chủ đối với các bệnh không lây nhiễm trên cây của loài cụ thể. Nhờ tính chống chịu loài mà mỗi một loài cây chỉ bị một số ít vật ký sinh gây bệnh. Ngoài tính chống chịu không đặc hiệu, còn có tính chống chịu đặc hiệu Tính chống chịu đặc hiệu là khái niệm về mối quan hệ của giống cây trồng với vật ký sinh có khả năng khắc phục được tính chống chịu loài và gây bệnh cho cây. Tính chống chịu đặc hiệu rất quan trọng đối với cây trồng vì các vật ký sinh đặc hiệu là các tác nhân gây ra sự thất thu trên 90% nông phẩm do cây trồng bị bệnh.
  • 24. 7.3.3. Các biện pháp phòng trừ bệnh - Chọn tạo giống cây trồng chống bệnh là biện pháp quan trọng trong chiến lược bảo vệ thực vật. - Chọn cơ cấu cây trồng với chế độ luân canh, xen canh thích hợp có tác dụng hạn chế bệnh phát sinh và lây lan. - Bón phân, tưới tiêu hợp lý cũng có tác dụng hạn chế phát triển. - Sử dụng thuốc diệt sâu bệnh đúng, hợp lý. Nên áp dụng thuốc sinh học diệt trừ sâu bệnh, ví dụ sử dụng loài ong mắt đỏ để diệt sâu cho cây trồng. Các biện pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh có tác dụng trừ được sâu bệnh, đồng thời ít gây ô nhiễm cho nông phẩm và môi trường. Không nên dùng các loại thuốc độc hại đối với người và gia súc đã bị cấm sử dụng.

×