• Save
XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

on

  • 32,019 views

luận văn kiểm toán: XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

luận văn kiểm toán: XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Statistics

Views

Total Views
32,019
Views on SlideShare
31,931
Embed Views
88

Actions

Likes
26
Downloads
0
Comments
3

2 Embeds 88

http://luanvan.forumvi.com 77
http://pinterest.com 11

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • sao gio
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • m cung muon down
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • giup minh cach download voi
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Document Transcript

  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH I TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU 1. Khái niệm: Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 320 – Tính trọng yếu trong kiểmtoán thì : “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (mộtsố liệu kế toán) trong báo cáo tài chính”. Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tínhchính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáotài chính. Mức trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay củasai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểmchia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có. Tính trọng yếu của thôngtin phải xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính. Khi lập kế hoạch kiểmtoán, kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được để làm tiêuchuẩn phát hiện ra những sai sót trọng yếu về mặt định lượng. Tuy nhiên, để đánh giánhững sai sót được coi là trọng yếu, kiểm toán viên còn phải xem xét cả hai mặt địnhlượng và định tính của sai sót. Ví dụ: Việc không chấp hành chế độ kế toán hiện hành cóthể được coi là sai sót trọng yếu nếu dẫn đến việc trình bày sai các chỉ tiêu trên báo cáotài chính làm cho người sử dụng thông tin tài chính hiểu sai bản chất của vấn đề; hoặctrong báo cáo tài chính không thuyết minh những vấn đề có liên quan đến hoạt độngkhông liên tục của doanh nghiệp. 2. Đặc điểm: 2.1. Về qui mô: Nếu một nghiệp vụ, một khoản mục bị sai phạm có qui mô lớn đến mức quyếtđịnh bản chất đối tượng kiểm toán thì nghiệp vụ, khoản mục đó được coi là trọng yếu.Ngược lại, qui mô sai phạm chưa đủ lớn để làm thay đổi nhận thức về đối tượng kiểmtoán thì khoản mục, nghiệp vụ không được coi là trọng yếu. Qui mô của trọng yếu không thể được coi là một số tuyệt đối, bởi vì một khoảnmục, nghiệp vụ có qui mô nhất định, có thể là trọng yếu đối với công ty nhỏ nhưng lạikhông trọng yếu đối với công ty lớn. Vì thế, tính trọng yếu xét về mặt qui mô cần đượcđặt trong mối tương quan với toàn bộ đối tượng kiểm toán. Nghĩa là xem xét tỷ lệ củakhoản mục nghiệp vụ so với một cơ sở tính toán tùy thuộc vào đặc trưng của từng kháchhàng như : tổng tài sản, hay tổng vốn chủ sở hữu, tổng doanh thu hay lợi nhuận trướcthuế. Việc xác định trọng yếu về mặt qui mô không phải dễ dàng vì vậy để có thể xácđịnh đúng nội dung kiểm toán trên phương diện này chúng ta cần quán triệt các nguyêntắc cơ bản sau: - Thứ nhất, qui mô trọng yếu phải được xác định. Đó là việc xác định mức trọngyếu dựa trên đối tượng nào( Báo cáo tài chính, toàn bộ tài liệu kế toán hay thực trạng tàichính nói chung), khách thể kiểm toán thuộc lọai hình doanh nghiệp nào ( sản xuất, côngSVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 1
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngnghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, ngân hàng, bảo hiểm, xây lắp hay vận tải...). Vì mỗi ngành,mỗi lĩnh vực có có những đặc trưng riêng do đó qui mô trọng yếu là khác nhau. - Thứ hai, qui mô các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét bằng một con số tuyệtđối mà cần phải đặt trong mối tương quan với các đối tượng kiểm toán khác. Về địnhlượng, đó là những tỷ lệ của các khoản mục, nghiệp vụ so với một cơ sở tính toán như:tổng tài sản, tổng doanh thu, tổng lợi nhuận trước thuế... - Thứ ba, qui mô trọng yếu còn phụ thuộc vào đối tượng và mục tiêu của cuộckiểm toán là kiểm toán tài chính, kiểm toán nghiệp vụ với các chức năng xác minh hayxác minh và tư vấn... 2.2. Về bản chất:Khái niệm trọng yếu gắn với tính hệ trọng của các nghiệp vụ, khoản mục. Thông thường,các khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận thì thông thườngđược coi là trọng yếu. Ngoài ra, các sai sót hệ trọng cũng được xem là trọng yếu cho dùqui mô nhỏ. Một số ví dụ về các sai lệch sau đây được đánh giá là sai lệch trọng yếu:  Các khoản mục, nghiệp vụ có gian lận hoặc có chứa khả năng gian lận: - Các nghiệp vụ đấu thầu, giao thầu và giao dịch không hợp pháp vì có thể có sự móc nối giữa các bên nhằm thu lợi cho cá nhân. - Các nghiệp vụ thanh lý tài sản: có khả năng liên kết giữa người tiến hành thanh lý và người mua tài sản trong khi tài sản đó vẫn đang trong quá trình sử dụng. - Các nghiệp vụ về tiền mặt: các nghiệp vụ này xảy ra thường xuyên, tiền mặt lại có đặc điểm gọn nhẹ, dễ biển thủ nên dễ xảy ra gian lận. - Các nghiệp vụ về mua bán và thanh toán: doanh nghiệp và khách hàng hoặc nhà cung cấp có thể móc nối với nhau để báo cáo sai về thực trạng tài chính của mình. - Các nghiệp vụ bất thường: các nghiệp vụ này ít xảy ra nhưng chúng lại có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Các nghiệp vụ phân chia quyền lợi: các nghiệp vụ liên quan đến quyền lợi bao giờ cũng chứa đựng khả năng gian lận cao vì hầu như bất cứ ai cũng muốn thu lợi cho bản thân mình. - Các nghiệp vụ cố ý bỏ ngoài sổ sách: các nghiệp vụ phát sinh đều phải được ghi sổ, nếu đơn vị cố ý bỏ ngoài sổ sách đây là một biểu hiện của gian lận. - Các nghiệp xảy ra vào cuối kỳ kế toán hoặc thuộc loại nghiệp vụ mới phát sinh. Thông thường, vào cuối kỳ kế toán để kết quả kinh doanh được như ý muốn hoặc để điều chỉnh một số chênh lệch thừa, thiếu kế toán thường thay đổi các bút toán hạch toán. Do đó các nghiệp vụ xảy ra cuối kỳ có khả năng gian lận cao. - Các khoản mục, chứng từ có sửa chữa. Vì các sửa chữa này có thể làm sai lệch các thông tin tài chính ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính. - Các nghiệp vụ vi phạm nguyên tắc kế toán và pháp lý nói chung: vì nó ảnh hưởng đến sự trung thực và độ tin cậy của nhà quản lý doanh nghiệp và các cá nhân có liên quan.SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 2
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng  Các khoản mục, nghiệp vụ có sai sót hệ trọng thường do trình độ, năng lực yếu kém và tính cẩn trọng của nhân viên kế toán thường bao gồm: - Các khoản mục, nghiệp vụ có chênh lệch so với kỳ trước. - Các khoản mục có sai sót lặp lại nhiều lần: các sai sót lặp lại nhiều lần cho dù qui mô nhỏ cũng gây ra một sự nghi ngờ lớn về năng lực kế toán cũng như vấn đề xem xét quản lý sổ sách không chặt chẽ. Hơn nữa, tổng cộng các sai sót nhỏ có thể là một sai sót lớn có ảnh hưởng lớn đến Báo cáo tài chính. - Các sai sót có ảnh hưởng tới lợi nhuận. - Các khoản mục, nghiệp vụ là đầu mối hoặc liên quan đến nhiều khoản mục, nghiệp vụ khác. Ngoài ra, tính trọng yếu còn được xem xét trong mối tương quan với một hoặcmột nhóm sai phạm. Nếu như một sai phạm được kiểm toán viên phát hiện và được đánhgiá là không trọng yếu, nhưng nếu kết hợp với một số sai phạm khác và tạo nên sai phạmlớn có tính trọng yếu thì sai phạm phát hiện này cũng được coi là trọng yếu. Theo chuẩnmực Kiểm toán Việt Nam số 320 – Tính trọng yếu trong kiểm toán: “Kiểm toán viên cầnxét tới khả năng có nhiều sai sót là tương đối nhỏ nhưng tổng hợp lại có ảnh hưởng trọngyếu đến Báo cáo tài chính, như: một sai sót trong thủ tục hạch toán cuối tháng có thể trởthành một sai sót trọng yếu, tiềm tàng nếu như sai sót đó cứ tiếp tục tái diễn vào mỗitháng”. 3. Sự cần thiết phải thiết lập mức trọng yếu Trong kiểm toán báo cáo tài chính, do sự giới hạn về thời gian cũng như chi phíkiểm toán kiểm toán viên không thể kiểm tra toàn bộ các chứng từ, nghiệp vụ và ngay cảkhi kiểm tra 100% chứng từ, nghiệp vụ thì kiểm toán viên cũng không thể phát hiện đượchết các sai phạm do sự hạn chế về trình độ của mình cũng như sự cố tình che dấu của nhàquản lý. Vì vậy, nghiên cứu tính trọng yếu có vai trò quan trọng đối với việc lập kế hoạchvà thiết kế phương pháp kiểm toán với các mục đích cụ thể là: Ước tính mức độ sai sótcủa BCTC có thể chấp nhận được. Dự kiến hợp lý về tính trọng yếu giúp kiểm toán viênthu thập bằng chứng tương ứng phù hợp. Mức trọng yếu càng thấp, đồng nghĩa với việcđòi hỏi sự chính xác của số liệu trên BCTC càng cao, lúc đó lượng bằng chứng thu thậpsẽ càng nhiều và ngược lại. Ngoài ra, xác định mức trọng yếu còn giúp xác định bản chất,thời gian và phạm vi thời gian của các thử nghiệm kiểm toán. 4. Cơ sở xác lập mức trọng yếu Trong bước lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần xác lập mức trọng yếu cho tổng thểBCTC và mức trọng yếu cho từng khoản mục để từ đó có thể ước tính sai lệch có thểchấp nhận được của BCTC cũng như từng khoản mục phục vụ cho việc kiểm tra chi tiết.  Mức trọng yếu cho tổng thể BCTC (PM) : được xác định tùy thuộc vào từng loạihình doanh nghiệp, thực trạng hoạt động tài chính, mục đích của người sử dụng thôngtin. Kiểm toán viên thường căn cứ vào các chỉ tiêu tài chính sau để xác định: - Doanh thu: được áp dụng khi đơn vị chưa có lãi ổn định nhưng đã có doanh thu ổn định và doanh thu là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động. Tỉ lệ được các công ty kiểm toán lựa chọn thường từ 0.5%-3% doanh thu.SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 3
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng - Lợi nhuận trước thuế: được áp dụng khi đơn vị có lãi ổn định. Lợi nhuận là chỉ tiêu được nhiều KTV lựa chọn vì đó là chỉ tiêu được đông đảo người sử dụng báo cáo tài chính quan tâm, nhất là cổ đông của các công ty. Tỉ lệ được lựa chọn thường từ 5% - 10% lợi nhuận trước thuế. - Tổng tài sản : được áp dụng khi đối với các công ty có khả năng bị phá sản, có lỗ lũy kế lớn so với vốn góp. Người sử dụng có thể quan tâm nhiều hơn về khả năng thanh toán thì việc sử dụng chỉ tiêu tổng tài sản là hợp lý. Tỉ lệ được lựa chọn thường nằm trong khoảng từ 0.5%-1% tổng tài sản. - Vốn chủ sở hữu: được áp dụng khi đơn vị mới thành lập;doanh thu, lợi nhuận chưa có hoặc có nhưng chưa ổn định.Tỉ lệ được lựa chọn từ 1%-2% vốn chủ sở hữu.  Mức trọng yếu phân bổ cho từng khoản mục: là mức sai lệch tối đa của khoản mục đó. Khi phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục KTV căn cứ vào phương pháp phân bổ của công ty mình, kinh nghiệm của KTV về khoản mục đó, bản chất của khoản mục, các đánh giá về rủi ro tiểm tàng và rủi ro kiểm soát cũng như thời gian và chi phí kiểm tra khoản mục đó để phân bổ cho hợp lý. 5. Quy trình xác lập mức trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán Qui trình đánh giá trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch được thể hiện qua sơ đồsau: Mức trọng yếu ước Bước 1: Ước lượng mức trọng tính ban đầu cho toàn yếu ban đầu cho toàn bộ BCTC bộ BCTC Bước 2: Phân bổ mức trọng yếu Mức sai sót chấp nhận cho từng khoản mục được của từng khoản mục 5.1 Ước tính ban đầu về mức trọng yếu đối với toàn bộ BCTC (PM). Mức ước lượng ban đầu về trọng yếu cho tổng thể BCTC hay còn gọi là mức trọngyếu kế hoạch là giá trị sai lệch tối đa có thể được chấp nhận, nghĩa là với những sai lệch(gian lận hoặc sai sót) nhỏ hơn hoặc bằng mức này thì không được coi là trọng yếu và cóthể bỏ qua. Mức này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng kế hoạch kiểm toán, nếumức trọng yếu càng thấp thì mức sai sót có thể bỏ qua càng nhỏ. Do đó, KTV phải thiếtlập các thủ tục kiểm toán nhiều hơn, cần lấy mẫu kiểm toán nhiều hơn để có thể thu thậpSVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 4
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngđầy đủ bằng chứng làm giảm sai lệch tổng thể đến bằng hoặc nhỏ hơn mức trọng yếu đãđược thiết lập. Mức trọng yếu được xác lập dựa trên chỉ tiêu được lựa chọn và tỷ lệ tương ứng vớichỉ tiêu đó. Có các phương pháp để xác định mức trọng yêu cho tổng thể BCTC như sau: Phương pháp 1: mức trọng yếu được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm so với chỉtiêu được lựa chọn. Theo phương pháp này, mỗi công ty kiểm toán sẽ xây dựng cho mình một mứcước lượng và các tỷ lệ thích hợp. Dưới đây là là bảng hướng dẫn của VACPA đối vớiviệc tính toán mức trọng yếu trên tổng thể BCTC: Bảng 1: Bảng hướng dẫn của VACPA đối với việc tính toán mức trọng yếu Cơ sở ước lượng Tỷ lệ ước lượng Lợi nhuận trước thuế 5%-10% Doanh thu 0,5% -3% Tổng tài sản 2% Vốn chủ sở hữu 2% Sau khi đã xác định cơ sở cho việc tính toán mức trọng yếu, KTV cần có sự điềuchỉnh cơ sở này nếu có các khoản mục, nghiệp vụ bất thường… có thể làm cho cơ sở tínhtoán đó không phản ánh đúng qui mô của khách hàng. Mục đích của việc điều chỉnh nàynhằm xác định được một cơ sở phản ánh đúng qui mô của khách thể kiểm toán, từ đó xácđịnh mức trọng yếu thích hợp. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào xét đoán của thành viênban quản trị liên quan trực tiếp tới cuộc kiểm toán. Thông thường, để thận trọng, KTVthường xác lập mức trọng yếu tổng thể ban đầu thấp hơn mức chỉ đạo chung của công ty.Việc thiết lập mức trọng yếu tổng thể thấp hơn sẽ đồng nghĩa với việc làm tăng thêm khốilượng công việc kiểm toán, tăng thêm chi phí nhưng điều đó lại làm giảm đi mức độ rủiro kiểm toán và tăng khả năng loại trừ những sai phạm có thể mắc phải của KTV. Phương pháp 2: mức trọng yếu được lựa chọn từ nhiều giá trị. Theo phương pháp này, KTV sẽ sử dụng các chỉ tiêu khác nhau trên báo cáo tàichính nhân với các tỷ lệ tương ứng, sau đó sẽ xác định mức trọng yếu bằng cách chọn sốlớn nhất, số nhỏ nhất hoặc số bình quân. Ví dụ minh họa: Cơ sở xác lập Số liệu trên BCTC (Triệu VNĐ) Tỷ lệ (%) Số tiền (Triệu VNĐ) Tổng tài sản 40.000 2 800 Doanh thu thuần 20.000 2 400 LN trước thuế 3.000 10 300 Mức trọng yếu của tổng thể BCTC có thể được chọn từ: Số nhỏ nhất: 200 (triệu VNĐ) Số lớn nhất: 800 (triệu VNĐ) Số bình quân: 500 (triệu VNĐ) Thông thường, để đảm bảo nguyên tắc thận trọng KTV thường chọn số nhỏ nhỏ nhất,số bình quân ít khi dùng số lớn nhất làm mức trọng yếu cho tổng thể BCTC.SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 5
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng 5.2 Xác định mức trọng yếu ban đầu cho các khoản mục trên BCTC Mức trọng yếu cho từng khoản mục còn gọi là sai sót có thể bỏ qua đối với khoảnmục đó. KTV có thể phân bổ mức trọng yếu tổng thể cho các khoản mục trên bảngCĐKT và trên bảng BCKQKD. Tuy nhiên, giữa bảng CĐKT và bảng BCKQKD có mốiquan hệ với nhau, phần lớn các sai lệch của các chỉ tiêu trên bảng CĐKT đều ảnh hưởngtương ứng đến các chỉ tiêu trên bảng BCKQKD (vì theo nguyên tắc ghi kép, hầu hết cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh có liên quan đến các khoản mục trên bảng BCKQKD đều liênquan đến các khoản mục trên Bảng CĐKT). Hơn nữa, các chỉ tiêu trên bảng BCKQKDthực chất là tài sản nguồn vốn trên bảng CĐKT do đó không nhất thiết phải phân bổ mứctrọng yếu cho các khoản mục trên bảng BCKQKD. Có 2 phương pháp xác định mức trọng yếu cho từng khoản mục như sau:  Phương pháp 1: phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục theo tỷ trọng giátrị từng khoản mục. Sau khi xác lập được mức trọng yếu ban đầu cho tổng thể BCTC, KTV tiến hànhphân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục, từng bộ phận, từng chỉ tiêu trên BCTCđể hình thành mức trọng yếu cho từng khoản mục, từng bộ phận hay từng chỉ tiêu. Giá trịtrọng yếu dùng để phân bổ cho từng khoản mục là mức trọng yếu thực hiện MP (MPbằng một tỷ lệ % nào đó so với PM). KTV tiến hành phân bổ mức trọng yếu cho từngkhoản mục theo mức trọng yếu thực hiện để đảm bảo nguyên tắc thận trọng rằng tất cảcác sai sót được KTV phát hiện và các sai sót không được KTV phát hiện không vượt quámức trọng yếu tổng thể (PM) đã xác định. Việc phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọngyếu được thực hiện theo hai chiều hướng mà các gian lận và sai sót có thể xảy ra. Đó làsai lệch do ghi khống (số liệu trên BCTC lớn hơn thực tế) và ghi thiếu (số liệu trên BCTCnhỏ hơn thực tế). Mức trọng yếu phân bổ cho từng khoản mục thường được thực hiện trên những cơsở chủ yếu sau: + Căn cứ vào chính sách phân bổ mức trọng yếu tổng thể cho từng khoản mục trênBCTC. + Mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát mà KTV đánh giá sơ bộ cho khoảnmục. Nếu mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là cao đối với mộtkhoản mục nào đó thì khoản mục đó được phân bổ mức sai lệch có thể bỏ qua là thấp vàngược lại. + Kinh nghiệm của KTV về những sai sót và gian lận đối với khoản mục đó.Chẳng hạn, qua kiểm toán các đơn vị khác cùng ngành nghề hoặc kết quả kiểm toán củanăm trước chỉ ra rằng một khoản mục nào đó ít có sai lệch thì KTV sẽ phân bổ mức sailệch có thể bỏ qua lớn và ngược lại. +Chi phí kiểm toán cho từng khoản mục. Nếu khoản mục nào đòi hỏi việc thuthập bằng chứng tốn nhiều chi phí hơn thì phân bổ mức sai lệch có thể bỏ qua lớn hơn vàngược lại. Ưu điểm của phương pháp này là giúp KTV lựa chọn những đối tượng kiểm trachi tiết và lựa chọn những phương pháp kỹ thuật kiểm tra phù hợp. Sau khi kiểm tra, mứctrọng yếu của từng khoản mục sẽ là cơ sở để đối chiếu với sai sót dự kiến của khoản mụcSVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 6
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngđó để hình thành kết luận về khoản mục được kiểm tra. Tuy nhiên, phương pháp nàycũng có nhược điểm là việc phân bổ mức trọng yếu phụ thuộc rất lớn vào tính chủ quancủa KTV.  Phương pháp2:Lấy mức trọng yếu của tổng thể làm mức trọng yếu chung chotất cả các khoản mục trên BCTC Theo cách này, KTV không phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục mà lấymột mức trọng yếu chung cho tất cả các khoản mục. Mức trọng yếu này khác nhau ở từngcông ty kiểm toán. Ở công ty kiểm toán AAC, mức trọng yếu này được gọi là mức trọngyếu thực hiện và được xác định theo công thức: MP= (50%-75%) * PM Nhược điểm của phương pháp này là mức trọng yếu này được áp dụng chung thốngnhất cho tất cả các khoản mục khác nhau. Do vậy, tất cả các khoản mục, mặc dù có số dưhay bản chất khoản mục khác nhau đều được áp dụng một mức trọng yếu chung thống nhấtcho toàn bộ cuộc kiểm toán. II. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN: 1. Khái niệm: Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS) số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểmsoát nội bộ: "Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhậnxét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu" . Thực tế, rủi ro kiểm toán thường xảy ra theo hướng: Báo cáo tài chính có nhữngsai sót trọng yếu nhưng kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ đối với Báo cáotài chính. Trong trường hợp này, ý kiến chấp nhận toàn bộ này là không thích hợp,không đúng về Báo cáo tài chính. Điều đó có nghĩa là kiểm toán viên đồng ý với nhữngthông tin trình bày trên Báo cáo tài chính, kết luận rằng Báo cáo tài chính không cónhững sai phạm trọng yếu. Với cách lập luận như vậy, rủi ro kiểm toán được hiểu là xácsuất tồn tại các sai phạm trọng yếu trên Báo cáo tài chính mà kiểm toán viên không pháthiện được, nêu ý kiến sai lệch về Báo cáo tài chính được kiểm toán. Rủi ro kiểm toán luôn tồn tại do những nguyên nhân sau: - Trình độ khả năng thực tế của kiểm toán viên. - Giới hạn về thời gian và chi phí kiểm toán. - Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán. - Gian lận khó phát hiện hơn sai sót. Người sử dụng thông tin luôn mong muốn rủi ro kiểm toán ở mức thấp, từ đó đòihỏi kiểm toán viên phải nổ lực để có một mức rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được.Nếu kiểm toán viên mong muốn có một tỷ lệ rủi ro kiểm toán thấp, nghĩa là kết luận củakiểm toán viên có độ tin cậy cao, đòi hỏi kiểm toán viên phải thu thập lượng bằng chứngnhiều hơn và chi phí kiểm toán sẽ cao hơn. Vì thế, mức rủi ro kiểm toán cao hay thấpquyết định khối lượng công việc kiểm toán viên sẽ tiến hành. Việc xác định mức rủi rokiểm toán mong muốn thường dựa vào mức độ của người sử dụng thông tin cũng nhưkhả năng tài chính của khách hàng.Thông thường mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn làtừ 5%- 10%. Dưới đây là đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và chi phíkiểm toán:SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 7
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Rủi ro KT Rủi ro đạt tới Rủi ro mong muốn (DAR) Chi phí KT Ngoài việc đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn, người ta cần tìm hiểu ba bộphận cấu thành của nó là rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. 2. Các thành phần của rủi ro kiểm toán: 2.1 Rủi ro tiềm tàng(IR) 2.1.1 Khái niệm Theo VSA số 400 về “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” thì: “Rủi ro tiềm tànglà rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC chứađựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không cóHTKSNB”. Như vậy, rủi ro tiềm tàng là xác suất tồn tại những sai phạm trọng yếu trên báo cáotài chính do các vấn đề bất thường tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh, trong môi trườngkinh doanh hay trong bản chất các khoản mục. Đây là yếu tố rủi ro mang tính kháchquan, thuộc về bản chất của đối tượng kiểm toán, các hoạt động kiểm soát, kiểm toánkhông tạo ra nó. 2.1.2 Trách nhiệm của KTV KTV không tạo ra cũng như không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng mà chỉ đánhgiá chúng dựa vào một số nguồn thông tin như kết quả của các cuộc kiểm toán nămtrước, chính sách kinh tế của khách hàng...Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên cóthể xem xét trên 2 góc độ: doanh nghiệp và các khoản mục, nghiệp vụ. Ở góc độ doanh nghiệp: rủi ro tiềm tàng nảy sinh từ đặc điểm kinh doanh củadoanh nghiệp và tiềm ẩn trong môi trường kinh doanh. Ở góc độ các khoản mục, nghiệp vụ: rủi ro tiềm tàng nằm trong bản chất của cácsố dư tài khoản hoặc bản chất của nghiệp vụ. Nói một cách khác, bản thân các khoảnSVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 8
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngmục, nghiệp vụ này đã ẩn chứa trong nó những rủi ro làm cho chúng có khả năng saiphạm cao hơn những khoản mục, nghiệp vụ khác. Khi phân tích đánh giá rủi ro tiềm tàng đòi hỏi KTV phải có một sự hiểu biết sâusắc, toàn diện, đầy đủ về thực trạng hoạt động của doanh nghiệp và các yếu tố tác độngđến rủi ro tiềm tàng cũng như đòi hỏi KTV phải có một sự xét đoán nghề nghiệp vớinhững kinh nghiệm khá tốt mới có thể có được một kết quả chính xác. 2.1.3 Các nhân tố phổ biến ảnh hưởng đến mức độ IR - Ở góc độ doanh nghiệp:  Tính chính trực, kinh nghiệm, trình độ năng lực của nhà quản lý: nhà quản lý làngười có quyền quyết định phần lớn các chính sách, hoạt động của doanh. Nếu doanhnghiệp được lãnh đạo bởi một người yếu kém về năng lực, không liêm khiết, ít kinhnghiệm thì báo cáo tài chính dễ có sai phạm và do đó rủi ro tiềm tàng sẽ cao hơn.  Áp lực bất thường đối với nhà quản lý: KTV cần xem xét, đánh giá liệu BanGiám đốc và Kế toán trưởng doanh nghiệp có bị áp lực phải công bố BCTC sai sự thật.Chẳng hạn, doanh nghiệp thực tế kinh doanh thua lỗ liên tục, mất khả năng thanh toánkhông được các ngân hàng truyền thống tiếp tục cho vay nên dự kiến phát hành trái phiếuđể huy động vốn. Với áp lực này thì có khả năng dẫn đến việc trình bày BCTC sai sự thậtvề các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lãi lỗ và khả năng thanh toán các khoản nợ.  Bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: quy trình công nghệ, số lượngđơn vị phụ thuộc, sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp ra thị trường, số lượngnhà cung cấp, giá cả ... có ảnh hưởng đến mức độ rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp.Chẳng hạn như doanh nghiệp có nhiều nhà cung cấp và giá cả ổn định thì ít rủi ro hơn vìít bị ảnh hưởng do thiếu nguyên vật liệu hoặc giá cả đầu vào ổn định.  Yếu tố về môi trường kinh doanh và ngành nghề kinh doanh. - Ở góc độ các khoản mục, nghiệp vụ:  Các khoản mục đã được yêu cầu điều chỉnh trước đây.  Sự phức tạp trong tính toán số liệu trong các nghiệp vụ kinh tế.  Những ước tính đối với một số khoản mục như: lập dự phòng, trích khấu hao,phân bổ trích trước chi phí...  Một số tài sản dễ mất mát, tham ô: tiền, vàng, bạc, đá quý  Các nghiệp vụ bất thường và tính toán phức tạp  Các nghiệp vụ lần đầu tiên xảy ra.  Các giao dịch phát sinh cuối năm. Khi phân tích đánh giá rủi ro tiềm tàng ở một doanh nghiệp, đòi hỏi KTV phải cómột sự hiểu biết sâu sắc, toàn diện và đầy đủ về thực trạng hoạt động của doanh nghiệpvà các yếu tố tác động đến rủi ro tiềm tàng cũng như đòi hỏi KTV phải có một sự xétđoán nghề nghiệp với những kinh nghiệm khá tốt mới có thể có được một đánh giá đúngđắn vể rủi ro tiềm tàng. 2.2 Rủi ro kiểm soát 2.2.1 Khái niệm Theo VSA số 400 thì “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từngnghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệSVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 9
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngthống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện vàsửa chữa kịp thời.” Như vậy, rủi ro kiểm soát là xác suất tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáotài chính mà hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị không phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Rủi ro kiểm soát luôn tồn tại do những hạn chế vốn có của hệ thống kiểm soát nộibộ: - Phạm vi của KSNB bị giới hạn bởi vấn đề chi phí. Bởi vì các nhà quản lý luôn đòi hỏi chi phí cho cuộc kiểm tra phải hiệu quả, nghĩa là phải ít hơn tổn thất do sai phạm và gian lận gây ra. - Hầu hết các biện pháp kiểm tra đều tập trung vào các sai phạm thông thường hoặc có thể dự kiển được, vì thế khó phát hiện được các sai phạm đột xuất hay bất thường. - Sai phạm của nhân viên xảy ra do sự thiếu thận trọng, xao nhãng, sai lầm trong xét đoán hoặc hiểu sai các hướng dẫn của cấp trên. - Việc điều hành và kiểm tra có thể bị vô hiệu hóa do có sự thông đồng với bên ngoài hoặc giữa các nhân viên trong đơn vị. - Các thủ tục kiểm soát có thể không còn phù hợp vì điều kiện thực tế đã thay đổi. Tóm lại, hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ hạn chế bớt những sai sót và gian lận nhưngkhông thể loại trừ hoàn toàn các sai phạm có thể xảy ra. KTV chỉ có thể dựa vào KSNBcủa đơn vị để giảm bớt một phần công việc kiểm tra của mình nhưng không thể dựa hoàntoàn vào hệ thống này. Chính vì vậy, KTV vẫn phải tiến hành các thử nghiệm cơ bảnngay cả khi hệ thống KSNB của đơn vị được đánh giá là rất hữu hiệu. 2.2.2 Trách nhiệm của KTV KTV không tạo ra và cũng không kiểm soát được rủi ro kiểm soát, KTV chỉ có thểđánh giá hệ thống KSNB của đơn vị mạnh hay yếu sau khi tìm hiểu và đưa ra mức rủi rokiểm soát (thấp, trung bình hoặc cao). KTV có thể đánh giá rủi ro kiểm soát là cao trong trường hợp: - Hệ thống KSNB không đầy đủ và hoạt động không hiệu quả. - KTV không có được đầy đủ cơ sở để đánh giá sự thích hợp, đầy đủ và hiệu quả của hệ thống KSNB doanh nghiệp. KTV có thể đánh giá rủi ro kiểm soát là thấp khi: - KTV có đầy đủ điều kiện và có kế hoạch để thực hiện các thử nghiệm kiểm soát nhằm khẳng định việc đánh giá rủi ro của mình. - KTV có đầy đủ bằng chứng và cơ sở để kết luận hệ thống KSNB có hiệu quả. Tức là hệ thống này có khả năng ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các gian lận, sai sót trọng yếu trong doanh nghiệp. Sự đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát sẽ ảnh hưởng đến thời gian, nội dung vàphạm vi của các phương pháp kiểm toán. 2.2.3. Các nhân tố phổ biến ảnh hưởng đến CR SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 10
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Vì rủi ro kiểm soát phát sinh từ hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ nêncác thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị cũng chính là các nhân tố ảnhhưởng đến rủi ro kiểm soát. Do vậy, để đánh giá rủi ro kiểm soát KTV phải dựa vào sựhiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, cụ thể là các thành phần củahệ thống kiểm soát nội bộ:  Môi trường kiểm soát: môi trường kiểm soát có ảnh hưởng đến sự nhất quángiữa các chính sách của nhà quản lý và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và các thủ tụchoạt động kiểm soát do đó khi tìm hiểu về môi trường kiểm soát KTV cần thu thập thôngtin về: các đặc thù về quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch, cácyếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới việc thiết kế và thực hiện hệ thống KSNB.  Hệ thống thông tin kế toán: kế toán không chỉ cung cấp thông tin cần thiết choquản lý mà còn thực hiện việc kiểm tra, giám sát nhiều mặt hoạt động của đơn vị, gópphần bảo vệ tài sản của đơn vị không bị thất thoát, gian lận hoặc sử dụng lãng phí. Vìvậy, hệ thống kế toán mạnh góp phần làm cho hệ thống KSNB của đơn vị hoạt động hiệuquả.  Các thủ tục, hoạt động kiểm soát: KTV cần kiểm tra việc thực hiện các nguyêntắc kiểm soát cơ bản được đề ra trong doanh nghiệp như: phê duyệt và ủy quyền, phâncông phân nhiệm, bất kiêm nhiệm và hoạt động của bộ phận kiểm soát nội bộ trong đơnvị. 2.3. Rủi ro phát hiện 2.3.1. Khái niệm Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 400 thì “Rủi ro phát hiện là rủi roxảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khitính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểmtoán không phát hiện được.” Như vậy, rủi ro phát hiện là xác suất các thủ tục kiểm toán của kiểm toán viênkhông phát hiện được các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính được kiểm toán. Đây là rủi ro mang tính chủ quan của KTV. Rủi ro phát hiện có nguyên nhân bắtnguồn trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản đã đượcthực hiện. Thông thường mức rủi ro phát hiện sẽ giảm xuống nếu KTV tăng các thửnghiệm chi tiết trên số dư hoặc nghiệp vụ, mở rộng phạm vi kiểm tra hoặc tăng cường cởmẫu của các thử nghiệm. 2.3.2. Trách nhiệm của KTV Ngược với rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên có trách nhiệm thựchiện các các thủ tục thu thập bằng chứng kiểm toán để quản lý và kiểm soát đối với rủi rophát hiện. 2.3.3. Các nhân tố phổ biến ảnh hưởng đến DR Rủi ro phát hiện thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: - Rủi ro do chọn mẫu: KTV chọn mẫu không đại diện cho tổng thể được kiểm toán do đó kết luận của KTV dựa trên kết quả mẫu khác với kết quả thực tế tổng thể SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 11
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng - Rủi ro không do chọn mẫu: + Phạm vi kiểm toán: nếu phạm vi kiểm toán càng rộng thì khả năng phát hiệngian lận, sai sót càng tăng lên. Tức là khả năng không phát hiện gian lận, sai sót giảm đicó nghĩa là rủi ro phát hiện giảm và ngược lại. + Phương pháp kiểm toán: nếu phương pháp kiểm toán càng khoa học, thích hợpvà hiệu quả thì khả năng phát hiện các gian lận, sai sót tăng lên tức là những gian lận, saisót không phát hiện được giảm xuống có nghĩa là rủi ro phát hiện giảm và ngược lại. + Trình độ, kinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghiệp của KTV: KTV cótrình độ chuyên môn cao, có nhiều kinh nghiệm và khả năng xét đoán tốt thì dễ phát hiệnđược nhiều gian lận và sai sót và do đó rủi ro phát hiện sẽ giảm và ngược lại. Việc xácđịnh phạm vi kiểm toán và lựa chọn phương pháp kiểm toán lại lệ thuộc vào trình độ vàkinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên. Không thể tùy tiệnmở rộng phạm vi kiểm toán để hạn chế rủi ro phát hiện. Nếu KTV có trình độ cao, nhiềukinh nghiệm và khả năng xét đoán nghề nghiệp tốt thì sẽ xác định phạm vi kiểm toánthích hợp và lựa chọn phương pháp kiểm toán phù hợp, nhờ đó hạn chế được rủi ro pháthiện ở mức hợp lý. 2.4 Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và các thành phần của nó: Rủi ro kiểm toán do ba bộ phận cấu thành là: rủi ro tiểm tàng, rủi ro kiểm soát, rủiro phát hiện và giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Rủi ro tiềm tàng và rủi rokiểm soát là hai loại rủi ro vẫn luôn tồn tại trong hoạt động và môi trường kinh doanh củadoanh nghiệp cũng như tồn tại trong bản chất của các khoản mục, nghiệp vụ kinh tế.KTV không tạo ra và cũng không thể kiểm soát được chúng. KTV chỉ có thể thông quathu thập bằng chứng kiểm toán tại đơn vị khách hàng và bằng kinh nghiệm của mình đểđánh giá mức độ của chúng. Ngược lại, KTV có thể kiểm soát và điều chỉnh mức độ rủiro phát hiện thông qua việc lập kế hoạch kiểm toán phù hợp, định hướng, giám sát vàkiểm tra chặt chẽ, điều chỉnh nội dung, thời gian, phạm vi và thực hiện có hiệu quả cácthủ tục kiểm toán. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát quyết định đến khối lượng, quymô, phạm vi và chi phí kiểm toán. Nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều cao thìKTV phải dự kiến rủi ro phát hiện là thấp. Có nghĩa là, trong trường hợp này, KTV phảilàm nhiều công việc kiểm toán với quy mô, chi phí kiểm toán lớn. Mức độ rủi ro pháthiện luôn có quan hệ ngược chiều với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Mối quan hệgiữa ba bộ phận rủi ro này được thể hiện thông qua 2 dạng mô hình định tính và địnhlượng. Mô hình định tính: Dựa trên cơ sở đánh giá của KTV về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, mức rủiro phát hiện được xác định theo ma trận sau: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 12
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Bảng 2: Ma trận đánh giá mức rủi ro phát hiện: Rủi ro phát hiện Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát Cao Trung bình Thấp Cao Thấp nhất Thấp Trung bình Đánh giá của KTV về Trung bình Thấp Trung bình Cao rủi ro tiềm tàng Thấp Trung bình Cao Cao nhất Ma trận minh họa về mối quan hệ giữa các loại rủi ro do KTV dự kiến thườngđược thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Tuy nhiên, trong thực tiễn khithực hành kiểm toán, nếu KTV có bằng chứng để điều chỉnh lại rủi ro tiềm tàng và rủi rokiểm soát thì rủi ro phát hiện cũng được KTV điều chỉnh lại.  Mô hình định lượng: Về mặt định lượng mối quan hệ giữa các loại rủi ro được thể hiện qua công thứcsau: AR = IR x CR x DR AR Hay: DR= CR x IR Trong đó: - AR: Rủi ro kiểm toán (Audit risk) - IR : Rủi ro tiềm tàng (Inherent risk) - CR: Rủi ro kiểm soát (Control risk) SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 13
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng - DR: Rủi ro phát hiện (Detection risk). Tuy được biểu thị bằng công thức nhưng cần phải lưu ý rằng đây không phải làcông thức thuần túy về mặt toán học mà là mô hình dùng để trợ giúp KTV trong việcphán đoán và xác định mức độ sai sót có thể chấp nhận được để làm cơ sở thiết kế các thủtục kiểm toán . Việc đánh giá rủi ro kiểm toán (bao gồm cả đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủiro kiểm soát, rủi ro phát hiện) có thể được thay đổi trong quá trình thực hiện kiểm toán.Ví dụ: khi thực hiện các thử nghiệm cơ bản, KTV phát hiện thêm những thông tin khácbiệt so với thông tin ban đầu thì KTv phải thay đổi lại kế hoạch thực hiện thử nghiệm cơbản cho phù hợp với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đã được KTV điều chỉnh lại. 2.5 Một số lưu ý khi sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán - Việc vận dụng mô hình rủi ro trong thực tế là một vấn đề phức tạp. Khi vậndụng sẽ có sự khác nhau giữa các đơn vị được kiểm toán và các công ty kiểm toán doviệc đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát ở các đơn vị được kiểm toán có sự khácnhau và tính thận trọng của mỗi KTV và công ty kiểm toán cũng có sự khác nhau. - KTV chỉ có thể đánh giá chứ không thể tác động đến rủi ro tiềm tàng và rủi rokiểm soát. Trong trường hợp không thể đánh giá được thì chấp nhận ở mức tối đa. - KTV chủ động quyết định mức rủi ro phát hiện bằng cách điều chỉnh nội dung, phạm vi và thời gian của các thử nghiệm cơ bản. -Khi lập kế hoạch kiểm toán KTV thường phải ấn định mức trọng yếu hay những sai phạm có thể chấp nhận được ở mức thấp hơn so với mức dùng làm căn cứ để đánh giá của KTV nhằm tạo ra một khoảng lề an toàn cho KTV trong quá trình kiểm toán. -Rủi ro kiểm soát luôn luôn không được loại trừ vì những hạn chế vốn có của hệ thống KSNB, và rủi ro kiểm toán không bao giờ bằng không. -Dù cho rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức độ thấp nhất thì KTV vẫn phải thực hiện thử nghiệm cơ bản đối với các nghiệp vụ và số dư tài khoản trọng yếu. -Rủi ro kiểm soát ở đơn vị có qui mô nhỏ khác với đơn vị có qui mô lớn, vì hệ thống kiểm soát có sự khác nhau. Ở đơn vị có qui mô lớn, quá trình kiểm soát tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm, còn đơn vị có qui mô nhỏ lại vi phạm nguyên tắc này. Thường một người kiêm nhiệm nhiều việc, vừa làm vừa kiểm tra kiểm soát. Trường hợp này, kết luận của KTV phải hoàn toàn dựa trên bằng chứng thu được từ các thử nghiệm cơ bản. 2.6 Sự cần thiết phải xác định rủi ro kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giá rủi ro và kiểm soát nộibộ): "Đánh giá rủi ro kiểm toán là việc KTV và công ty kiểm toán xác định mức độ rủi rokiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp, bao gồm đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểmsoát và rủi ro phát hiện. Rủi ro kiểm toán được xác định trước khi lập kế hoạch và trướckhi thực hiện kiểm toán". Chúng ta biết rằng rủi ro kiểm toán luôn tồn tại trong mọi cuộc kiểm toán do đó,khả năng để kiểm toán viên nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính là điều luôn cóthể xảy ra. Vấn đề đặt ra là phải đánh giá hợp lý các loại rủi ro để đánh giá đúng bản chất SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 14
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngđối tượng kiểm toán cũng như đảm bảo tính hợp lý trong việc lập kế hoạch và thực hiệncuộc kiểm toán. Do đó, ý nghĩa của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là rất lớn, mang lại lợiích thiết thực trong tất các các giai đoạn của cuộc kiểm toán, nhất là trong giai đoạn đầutiên của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ giúp kiểmtoán viên: - Giới hạn phạm vi công việc kiểm toán ở mức độ cần thiết để vừa tiết kiệm đượcthời gian vừa đảm bảo chất lượng kiểm toán với mức phí hợp lý và cạnh tranh. - Xác định được những khoản mục hoặc nhóm nghiệp vụ chứa rủi ro cao, từ đó tậptrung nguồn lực để thỏa mãn các mục tiêu kiểm toán. 2.7 Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro Trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, việc xác địnhmức trọng yếu có ý nghĩa rất lớn đối với việc đánh giá rủi ro kiểm toán. Nếu mức trọngyếu (mức sai sót có thể chấp nhận được) tăng lên thì rủi ro kiểm toán sẽ giảm xuống. Nóicách khác, khi nào KTV tăng giá trị sai sót có thể bỏ qua, lúc đó khả năng có sai lệchtrọng yếu sẽ giảm và rủi ro kiểm toán rõ ràng sẽ giảm. Ngược lại, nếu giảm mức sai sótcó thể chấp nhận được, lúc đó rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên. Mối quan hệ này có một ýnghĩa rất quan trọng đối với KTV khi lập kế hoạch kiểm toán để nhằm xác định về nộidung, phạm vi, thời gian của các thủ tục kiểm toán cần áp dụng. Chẳng hạn như khi lậpkế hoạch kiểm toán, KTV xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được là thấp thì rủiro kiểm toán sẽ tăng lên, trường hợp này, để giảm mức độ rủi ro kiểm toán, KTV có thể : -Giảm mức độ rủi ro kiểm soát đã được đánh giá, KTV sẽ thực hiện bằng cách mởrộng hoặc thực hiện thêm thử nghiệm kiểm soát để chứng minh cho việc giảm rủi ro kiểmsoát; hoặc -Giảm rủi ro phát hiện bằng cách sửa đổi lại nội dung, lịch trình và phạm vi củanhững thủ tục kiểm tra chi tiết đã dự kiến. Kết quả đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán của KTV ở thời điểm lập kếhoạch kiểm toán có thể khác với kết quả đánh giá ở các thời điểm khác nhau trong quatrình kiểm toán. Sự khác nhau này là do sự thay đổi tình hình thực tế hoặc thay đổi hiểubiết của KTV về đơn vị được kiểm toán dựa trên kết quả kiểm toán đã thu thập được. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 15
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng PHẦN HAI: THỰC TẾ CÔNG TÁC XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI AAC I. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 1. Quá trình hình thành và phát triển Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên viết tắt : AAC Tên giao dịch bằng tiếng Anh : AAC Auditing and Accounting Co.,Ltd Trụ sở chính : 217 Nguyễn Văn Linh. TP Đà Nẵng Điện thoại : (84) 0511 3 655 886 Fax : (84) 0511 3 655 887 E-mail : aac@dng.vnn.vn Website : http://www.aac.com.vn Logo: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC (trước đây là Công tyKiểm toán và Kế toán AAC ) trực thuộc Bộ Tài Chính, là một trong số rất ít các công tykiểm toán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam, được thành lập trên cơ sở quyết định số194/TC/TCCB ngày 01/04/1993 và Quyết định số 106/TC-BTC ngày 13/02/1995 của Bộtrưởng Bộ Tài chính. Hiện nay, AAC là một thành viên của Hãng kiểm toán quốc tếIGAF Polaris. AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loại hìnhdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêng về việc lựachọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổ chức niêm yết trênsàn giao dịch chứng khoán, các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán... SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 16
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Liên tiếp trong hai năm 2007 và 2008, AAC được Bộ Công Thương bình chọn làmột trong 05 công ty kiểm toán hoạt động tốt nhất tại Việt Nam và được trao giải“Thương mại dịch vụ - Top Trade Services” . Năm 2009, AAC được Đài Tiếng nói Việt Nam, Bộ Công Thương, Bộ Lao ĐộngThương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa Thể thao vàDu lịch, … bình chọn và trao cúp vàng “Doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu”. Tháng 10/2009, AAC được Hiệp hội kinh doanh Chứng khoán Việt Nam (VASB),Tạp chí Chứng khoán Việt nam (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), trung tâm thông tinTín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC), Công ty Cổ phần truyền thông Tài chínhChứng khoán Việt Nam (VNSF media), Công ty Cổ phần Chứng khoán Thương mại vàCông nghiệp Việt Nam (VICS), Công ty Cổ phần Văn hóa Thông tin Thăng Long(TIC.media) trao tặng danh hiệu “Tổ chức kiểm toán niêm yết uy tín”. Từ nhiều năm nay, AAC được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận đủ điềukiện để kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứngkhoán tại Việt Nam. 2. Phương châm hoạt động Phương châm hoạt động của AAC là “Chất lượng trong từng dịch vụ” và AACluôn đề cao nguyên tắc độc lập, khách quan, trung thực và bí mật số liệu của khách hàngtrong các giao kết dịch vụ. AAC giúp khách hàng và những người quan tâm bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ,cung cấp cho họ những thông tin đích thực và cần thiết để tổ chức điều hành hoạt độngcủa doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các quyết định quản lý phù hợp với thực tiễn. Hoạtđộng của AAC còn nhằm góp phần phát hiện và ngăn ngừa những rủi ro cho doanhnghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi và đạt hiệuquả kinh tế cao nhất. Công ty AAC thực hiện kiểm toán theo đúng các Nguyên tắc, Chuẩn mực Kiểmtoán Việt Nam và thông lệ kiểm toán quốc tế, phù hợp với những quy định hiện hành vềhoạt động kiểm toán của Nhà nước Việt Nam. Hiện nay, AAC có đội ngũ gồm trên 150 nhân viên chuyên nghiệp, 100% tốtnghiệp đại học và trên đại học, 15% đã được công nhận là chuyên gia kinh tế, thạc sỹkinh tế từ các trường đại học trong và ngoài nước.Nhân viên của công ty có ý thức tráchnhiệm cao, có đạo đức nghề nghiệp, làm việc chuyên nghiệp, được đào tạo có hệ thống ởViệt Nam, Anh, Bỉ, Pháp, Úc,Ai-len, Nhật Bản… và có nhiều năm kinh nghiệm thực tiễnvề kiểm toán và tư vấn tài chính - kế toán - thuế ở Việt Nam và quốc tế. 100% đội ngũKiểm toán viên và Trợ lý Kiểm toán viên cao cấp của AAC được đào tạo trực tiếp bởi cácChuyên gia cao cấp về Kiểm toán của Cộng đồng Châu Âu thông qua chương trình hợptác về Kiểm toán và Kế toán của Dự án EURO – TAPVIET do Cộng đồng Châu Âu tàitrợ. Trong quá trình phục vụ khách hàng, bản lĩnh nghề nghiệp, hiệu quả công việc vàthiện chí của nhân viên AAC được khách hàng đánh giá cao, góp phần tạo ra mối quan hệtốt đẹp của AAC và khách hàng. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 17
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng 3. Chức năng và lĩnh vực hoạt động Bốn năm sau thời gian chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Tàichính sang mô hình Công ty TNHH hoạt động độc lập, AAC đã từng bước khẳng địnhnăng lực và uy tín của mình trên thị trường kiểm toán Việt Nam. Hoạt động của AACngày càng đi vào chiều sâu với sự chú trọng vào các lĩnh vực dịch vụ mang tính giá trị giatăng cao như tư vấn tài chính, tư vấn thuế, dịch vụ tin học, tư vấn quản lý và đào tạo songsong với việc không ngừng hoàn thiện các dịch vụ kiểm toán và đảm bảo truyền thống: Dịch vụ kiểm toán: Đây là hoạt động mang lại doanh thu chính cho công ty. Các dịch vụ kiểm toán màAAC cung cấp cho khách hàng là:  Kiểm toán Báo cáo tài chính.  Kiểm toán Báo cáo tài chính vì mục đích thuế.  Kiểm toán Hoạt động.  Kiểm toán Tuân thủ.  Kiểm toán Nội bộ.  Kiểm toán Thông tin tài chính trên cơ sơ thủ tục thỏa thuận trước.  Kiểm toán Báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB.  Kiểm toán Báo cáo dự toán vốn đầu tư XDCB. Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán xây dựng cơ bản là hai mảngkiểm toán chính của công ty. Dịch vụ kế toán:  Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán.  Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán cho các nhân viên kế toán của các đơn vị.  Lập báo cáo tài chính định kỳ.  Chuyển đổi các báo cáo tài chính được lập theo VAS, IAS.  Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán cho các đơn vị. Dịch vụ tư vấn tài chính : AAC cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính sau:  Tư vấn thành lập và quản lý doanh nghiệp.  Tư vấn thiết lập cơ chế tài chính nội bộ.  Tư vấn việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán – tài chính phù hợp với yêu cầuquản lý.  Soát xét BCTC.  Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá hoặc phá sản doanh nghiệp.  Thẩm định tình hình tài chính và giá trị tài sản tranh chấp, kiện tụng. Dịch vụ tư vấn thuế: • Đăng ký và kê khai thuế. • Tư vấn kế hoạch thuế. • Cung cấp các văn bản thuế có liên quan. Tư vấn quản lý và đào tạo: Các dịch vụ tư vấn & đào tạo do AAC cung cấp bao gồm: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 18
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng  Đăng ký chế độ kế toán doanh nghiệp.  Tư vấn thực hành thuế.  Tư vấn đầu tư và thủ tục cấp phép.  Tư vấn thành lập doanh nghiệp.  Tư vấn xác định giá trị và cổ phần hóa doanh nghiệp.  Tư vấn tổ chức bộ máy kế toán.  Tư vấn tài chính.  Tổ chức lớp chuẩn mực kiểm toán và kế toán.  Tổ chức lớp kiểm toán nội bộ.  Tổ chức lớp ôn tập và cấp chứng chỉ hành nghề kế toán.  Tổ chức lớp bồi dưỡng kế toán trưởng.  Tổ chức lớp thực hành kế toán.  Tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức chứng khoán. Dịch vụ tin học  Cung cấp và tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán và quản lý .  Tư vấn việc lựa chọn trang bị các thiết bị tin học.  Các dịch vụ khác có liên quan. 4. Cơ cấu tổ chức và quản lý: TỔNG GIÁM ĐỐC Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý PHÓ TGĐ KHỐI PHÓ TGĐ KHỔI KIỂM TOÁN KIỂM TOÁN BCTC XDCB PHÒNG PHÒNG KHỐI TƯ VẤN KHỔI KIỂM CHI KẾ KIỂM - ĐÀO NHÁNH TOÁN TOÁN TẠO TOÁN XDCB TP. HCM HÀNH BCTC CHÍNH Phòng Ban Phòng Phòng Phòng Phòng Ban Phòng kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm SVTH: Nguyễn Thị Như toán soát toán soát Quỳnh_ Lớp 34k06.3 toán toán toánTrang toán XDCB 19 chất XDCB XDCB XDCB XDCB chất XDCB 2 lượng 1 2 3 4lượng 1
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Sơ đồ tổ chức nhân sự: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 20
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng  Tổng giám đốc: Là người đại diện toàn quyền của công ty, chịu trách nhiệmtrước pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty:  Đánh giá rủi ro của một hợp đồng kiểm toán liên quan đến hoạt động của công ty.  Duy trì mối quan hệ với các cán bộ cao cấp của công ty.  Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quan trọng.  Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã được thực hiện.  Chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán và thư quản lý.  Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộc kiểm toán hoặc ủy quyền lại.  Phó tổng giám đốc:  Phó giám đốc được phân công uỷ quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên quan đến nhân lực, hành chính, khách hàng và các vấn đề về nghiệp vụ.  Phó giám đốc chịu trách nhiệm trước giám đốc và pháp luật Nhà nước về những vấn đề được phân công và uỷ quyền.  Giám đốc các khối:  Phụ trách chuyên môn nghiệp vụ, nhân sự, hành chính, tổ chức phối hợp công việc thực hiện giữa các nhóm làm việc trên hai lĩnh vực hoạt động Xây dựng cơ bản và Báo cáo tài chính.  Trưởng, phó phòng:  Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc và đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực hoạt động của công ty. Trưởng phòng giữ vai trò lãnh đạo trong ban quản lý của công ty, họ có chức năng như một cầu nối giữa Tổng Giám Đốc, ban quản lý và các nhân viên trong công ty, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến nhân sự, phối hợp hoạt động và đảm nhận các vấn đề về công việc hành chính.  Phó phòng là người tham mưu trực tiếp cho trưởng phòng, thay mặt trưởng phòng điều hành toàn bộ công việc trong thời gian trưởng phòng đi vắng và thực hiện các công việc do trưởng phòng uỷ quyền.  Kiểm toán viên chính:  Giám sát công việc của các trợ lý.  Báo cáo trực tiếp với người quản lý phụ trách một vụ việc kiểm toán.  Xem xét giấy tờ làm việc sơ bộ, hỗ trợ đào tạo nhân viên, sắp xếp nhân sự cho các cuộc kiểm toán.  Được ký vào các báo cáo kiểm toán theo sự phân công của trưởng phòng.  Trợ lý kiểm toán viên: Là những người tham gia thực hiện công tác kiểm toánnhưng chưa được Nhà nước công nhận trúng tuyển kỳ thi Kiểm toán viên cấp Quốc gia.Tùy vào năng lực, thâm niên công tác mà trợ lý kiểm toán viên chia làm ba cấp:  Trợ lý kiểm toán viên cấp 1: là người sau thời gian thử việc ba tháng, được trúng tuyển chính thức vào công ty cho đến một năm sau đó. Theo thông lệ, SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 21
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng những người mới tốt nghiệp các trường các trường kinh doanh, các trường đại học và những người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kiểm toán và kế toán có thể làm việc cho công ty với tư cách là một trợ lý mới vào nghề.  Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: là người làm việc ở công ty kiểm toán được hai năm chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó.  Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: là người làm việc ở công ty được ba năm, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng đoàn kiểm toán. 5. Tổng quan quy trình kiểm toán BCTC áp dụng tại công ty Kiểm toán vàKế toán AAC: Hiện nay, công ty đang áp dụng chương trình kiểm toán mẫu do Hội kiểm toánviên hành nghề Việt Nam VACPA ban hành. Chương trình kiểm toán gồm các giai đoạnsau: Bảng 3: Quy trình kiểm toán do VACPA ban hành SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 22
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng 5.1 Lập kế hoạch kiểm toán: Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cần thực hiệntrong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện cầnthiết khác cho kiểm toán. Lập kế hoạch có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng vàhiệu quả chung của cuộc kiểm toán. Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thậpđược các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị để làm cơ sở đưa ra các ý kiến xácđáng về Báo cáo tài chính, từ đó giúp kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểutrách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững uy tín nghề nghiệp vớikhách hàng. Bên cạnh đó, kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên phối hợp hiệu quả vớinhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, cácchuyên gia bên ngoài…Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán viên có thểtiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 23
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngtăng cường sức mạnh cạnh tranh cho công ty và giữ vững uy tín với khách hàng trongmối quan hệ làm ăn lâu dài. Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ dể công ty kiểm toántránh xảy ra những bất đồng với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểmtoán viên thống nhất với khách hàng về nội dung công việc đã thực hiện, thời gian tiếnhành kiểm toán cũng như trách nhiệm mỗi bên. Điều này tránh xảy ra hiểu lầm đáng tiếcgiữa hai bên. Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thểkiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phầnnâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó thắt chặt hơn mối quan hệgiữa AAC và khách hàng. Việc lập kế hoạch do một kiểm toán viên giàu kinh nghiệmthực hiện tùy theo qui mô khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, kinhnghiệm và những hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị và hoạt động của đơn vị đượckiểm toán. Trình tự các công việc cần thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch như sau: Thứ nhất, xem xét chấp nhận khách hàng và đánh giá rủi ro hợp đồng. Công việcnày đòi hỏi kiểm toán viên phải xem xét trên các khía cạnh : tính độc lập, khả năng phụcvụ tốt khách hàng của công ty kiểm toán cũng như tính chính trực của Ban giám đốc củadoanh nghiệp được kiểm toán để đưa ra quyết định có chấp nhận hay duy trì một kháchhàng hay không. Việc đánh giá khả năng chấp nhận khách hàng tùy thuộc vào từng loạikhách hàng : Đối với các khác hàng mới và chưa được công ty nào kiểm toán trước đây. Kiểmtoán viên cần nghiên cứu sách, báo, tạp chí chuyên ngành; từ luật sư của khách hàng;ngân hàng, các doanh nghiệp có quan hệ với khách hàng, qua các phương tiện thông tinđại chúng và thuê các nhà điều tra chuyên nghiệp… để có được những thông tin về kháchhàng. Đối với khách hàng mới và đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán khácKTV có thể liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm để có được những thông tin hữu ích vềkhách hàng. Những thông tin KTV cần thu thập là: loại hình của doanh nghiệp; các cổ đôngchính, HĐQT và BGĐ; mối quan hệ kinh doanh giữa khách hàng và công ty kiểm toánđược thiết lập như thế nào; mô tả ngành nghề kinh doanh của DN, hàng hóa, dịch vụ cungcấp; kiểm tra các thông tin liên quan đến DN và những người lãnh đạo; lý do mời kiểmtoán là gì và phải giải thích lý do thay đổi công ty kiểm toán của BGĐ; mâu thuẫn lợi íchcủa công ty với khách hàng; các sự kiện năm hiện tại của khách hàng… để có thể đánhgiá đúng rủi ro của hợp đồng cũng như quyết định có chấp nhận cung cấp dịch vụ chokhách hàng hay không. Đối với các khác hàng cũ, do công ty đã kiểm toán trước đây nên KTV chỉ cần cậpnhật các thông tin mới liên quan đến khách hàng chẳng hạn như những xung đột về lợiích, hoặc giữa đôi bên có sự mâu thuẫn về phạm vi kiểm toán, hoặc đang xảy ra tranhchấp giữa khách hàng và KTV… và từ đó đánh giá xem có tiếp tục duy trì khách hànghay không. Thứ hai, lập hợp đồng kiểm toán và lựa chọn nhóm kiểm toán. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 24
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Khi đã chấp nhận, duy trì khách hàng thì công ty cần phải tiến hành lựa chọn đội ngũkiểm toán.Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán được tiến hành dựa trên yêu cầu vềsố người, trình độ khả năng của KTV và yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật. Thông thườngnhóm kiểm toán có một hoặc hai trợ lý kiểm toán, một KTV cao cấp và một chủ nhiệmkiểm toán. Đối các hợp đồng kiểm toán lớn công ty luôn bố trí các nhân viên có các mứcđộ kinh nghiệm khác nhau và có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực thống kê,tin học… Còn với những hợp đồng kiểm toán nhỏ thì công ty chỉ cần bố trí một hoặc hainhân viên kiểm toán. Khi lựa chọ đội ngũ kiểm toán công ty luôn xem xét đến tính độclập của kiểm toán viên, nếu có sự vi phạm đến tính độc lập thì tìm các biện pháp nằmkhắc phục vấn đề trên. Sau đó, một hợp đồng kiểm toán giữa khách hàng và công ty sẽ được ký kết. Việcký kết hợp đồng kiểm toán nhằm xác định mục đích và phạm vi kiểm toán, trách nhiệmcủa Ban giám đốc công ty khách hàng và KTV, hình thức thông báo kết quả kiểm toán,thời hgian tiến hành cũng như căn cứ và hình thức thanh toán phí kiểm toán. Thứ ba, tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động. Với mục tiêu xác định vàhiểu các sự kiện, giao dịch và thông lệ kinh doanh của KH có ảnh hưởng trọng yếu tớiBCTC, KTV cần tìm hiểu về môi trường hoạt động và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởngđến doanh nghiệp, các hiểu biết về doanh nghiệp để từ đó xác định sơ bộ các rủi ro và cácthủ tục kiểm toán cho các rủi ro đó. Thứ tư, tìm hiểu chính sách kế toán và chu trình kinh doanh quan trọng. KTV tiếnhành hoạt động này nhằm xác định và hiểu được các giao dịch và sự kiện liên quan tớichu trình kinh doanh quan trọng, đánh giá về mặt thiết kế và thực hiện đối với các thủ tụckiểm soát chính của chu trình kinh doanh này, quyết định xem liệu có thực hiện kiểm trahệ thống KSNB, thiết kế các thủ tục kiểm tra cơ bản phù hợp và có hiệu quả. KTV sẽxem xét các chu trình sau: Chu trình bán hàng_phải thu_thu tiền. Chu trình mua hàng_ phải trả_chi tiền. Chu trình hàng tồn kho_ giá thành_ giá vốn. Chu trình lương và trích theo lương. Chu trình TSCĐ và XDCB. Thứ năm, phân tích sơ bộ báo cáo tài chính. Phân tích sơ bộ báo cáo tài chính giúpKTV xác định các biến động bất thường cần được tìm hiểu các nguyên nhân lý giải hoặclưu ý khi tiến hành kiểm toán. Thứ sáu, đánh giá chung về kiểm soát nội bộ và rủi ro gian lận. Việc đánh giá hệthống KSNB ở cấp độ DN giúp KTV xác định sơ bộ nhân tố rủi ro, gian lận, lập kế hoạchkiểm toán và xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán. KTVtiến hành trao đổi, phỏng vấn Bộ phận Kiểm toán nội bộ/ Ban Kiểm soát về các thủ tụcmà Bộ phận Kiểm toán nội bộ/ Ban Kiểm soát đã thực hiện trong năm nhằm phát hiệngian lận và phản ứng, biện pháp xử lý của Ban Giám đốc đối với các phát hiện đó. Thứ bảy, xác định mức trọng yếu và phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu. trên cơ sởcác thông tin có được KTV tiến hành xác định mức trọng yếu (kế hoạch - thực tế) được lập SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 25
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngvà phê duyệt theo chính sách của công ty từ đó xác định phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫucho các vùng kiểm toán chính. Cuối cùng, tổng hợp kế hoạch kiểm toán. KTV tiến hành tổng hợp các công việcđã thực hiện để xác định lại các vấn đề cần lưu ý trước khi tiến hành kiểm toán. 5.2 Thực hiện kiểm toán Trong giai đoạn này KTV tiến hành theo kế hoạch kiểm toán đã được lập ở giaiđoạn trước. KTV sẽ tiến hành kiểm tra lại hệ thống KSNB của khách hàng để soát xét lạitính hoạt động hữu hiệu của các thủ tục KSNB đối với từng chu trình, khoản mục để từđó điều chỉnh cho phù hợp các thử nghiệm kiểm toán đã được lập trong giai đoạn lập kếhoạch. Căn cứ vào việc đánh giá hệ thống KSNB, KTV sẽ tiến hành các thử nghiệm kiểmsoát, thử nghiệm cơ bản( khi rủi ro kiểm soát ở mức thấp, trung bình) hoặc chỉ tiến hànhthử nghiệm cơ bản( khi rủi ro kiểm soát ở mức cao) đối với tài sản, nợ phải trả, nguồnvốn chủ sở hữu và các tài khoản ngoài bảng, báo các kết quả hoạt động kinh doanh và cácnội dung khác như: kiểm tra tính tuân thủ pháp luật và các quy định, soát xét các bút toántổng hợp, các giao dịch với các bên liên quan, các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúcnăm tài chính, đánh giá khả năng hoạt động liên các tài sản, nợ tiềm tàng và các khoảncam kết, các thay đổi chính sách kế toán và sai sót… Khi thực hiện kiểm toán KTV cóthể sử dụng các kĩ thuật như: kiểm kê, gửi thư xác nhận, xác minh tài liệu, quan sát,phỏng vấn, tính toán, phân tích… để có thể thu thập được các bằng chứng thích hợp.Đánh giá lại mức trọng yếu là công việc cuối cùng KTV cần thực hiện trong giai đoạnthực hiện kiểm toán nhằm đánh giá ảnh hưởng của các gian lận, sai sót được điều chỉnhvà ảnh hưởng của những sai sót chưa được điều chỉnh (nếu có) đối với BCTC. 5.3 Kết thúc kiểm toán Dựa trên các bước công việc đã thực hiện, KTV tiến hành tổng hợp kết quả kiểmtoán. KTV sẽ tổng hợp kết quả kiểm tra các vấn đề phát hiện trong giai đoạn lập kếhoạch, các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm toán, hướng xử lý cũng như các vấn đềlưu ý khi thực hiện kiểm toán trong năm sau. Sau đó, KTV sẽ tiến hành phân tích tổng thểbáo cáo tài chính lần cuối, thống nhất những bút toán điều chỉnh với khách hàng và tiếnhành lập báo cáo tài chính (lưu ý: lập báo cáo tài chính là trách nhiệm của khách hàng),thu thập thư giải trình của Ban giám đốc. KTV tiến hành xem xét các sự kiện phát sinhsau ngày kết thúc niên độ cũng như xem xét giả thiết hoạt động liên tục. Cuối cùng KTVlập báo cáo kiểm toán, đóng hồ sơ. Để đảm bảo cuộc kiểm toán đã được kiểm soát chặtchẽ từ khâu lập kế hoạch kiểm toán đến khi kết thúc kiểm toán, tuân thủ các Chuẩn mựckiểm toán Việt Nam, các bằng chứng kiểm toán thích hợp đã được thu thập đầy đủ phụcvụ cho việc đưa ra ý kiến kiểm toán trưởng nhóm kiểm toán gửi hồ sơ làm việc và bảnthảo báo cáo kiểm toán lên phòng kiểm soát, giám đốc kiểm tra phê duyệt và xin ý kiến .Sau khi bản thảo được duyệt, trưởng nhóm lập báo cáo kiểm toán chính thức, thư quản lývà trình lên ban soát xét và giám đốc ký duyệt. Sau đó gửi cho hội đồng quản trị kháchhàng.Tất cả những thông tin về cuộc kiểm toán sẽ được trình bày giữ lại và lưu trong hồsơ kiểm toán của công ty. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 26
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng II. CÔNG TÁC XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁNTRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNHTẠI AAC. 1. Xác định rủi ro kiểm toán Trước khi xác định nội dung, phạm vi, các thử nghiệm kiểm toán cần thực hiệnKTV của AAC luôn tiến hành tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động, hệ thốngkiểm soát nội bộ của khách hàng để từ đó xác định rủi ro kiểm toán chung cho Báo cáotài chính, rủi ro cho từng khoản mục, chu trình. Ngoài ra, quá trình phân tích sơ bộBCTC cũng giúp KTV hiểu rõ hơn về hoạt động kinh doanh của khách hàng, các biếnđộng bất thường cần phải lưu ý trong quá trình kiểm toán. 1.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng Tại công ty Kiểm toán và kế toán AAC,việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trên toàn bộbáo cáo tài chính và trên từng khoản mục không được thể hiện trên giấy tờ làm việc. 1.1.1 Ở mức độ tổng thể BCTC Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phạm vi toàn bộ báo cáo tài chính được KTVlồng vào khi đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán được lưu giữ ở mục [A110], và tìmhiểu khách hàng và môi trường hoạt động ở mục [A310]. Trong đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng: AAC đưa ra 3 mức đánh giá rủi ro hợpđồng kiểm toán là cao, trung bình và thấp. Cụ thể là: - Nếu rủi ro kiểm toán được đánh giá là thấp thì cuộc kiểm toán được chấp nhận mà không có sự xem xét gì thêm. - Nếu rủi ro kiểm toán được đánh giá là trung bình thì trưởng nhóm phụ trách hợp đồng thu thập thêm sự đồng ý của trưởng phòng kiểm toán, phù hợp với chính sách và thủ tục trong công ty. - Nếu rủi ro kiểm toán được đánh giá là cao thì Giám đốc phải xem xét đưa ra kết luận cuối cùng. Thông thường, một hợp đồng có mức độ rủi ro cao khi có một trong các đặc điểmsau: - Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. - Công ty đại chúng. - Công ty có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục. - Công ty có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng. - Có nghi ngờ về tính chính trực của BGĐ/Ban Quản trị. - BGĐ Công ty có sức ép lớn phải hoàn thành các chỉ tiêu tài chính năm. - Công ty đang có kiện tụng, tranh chấp. - Công ty đang có kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước. - Các năm trước có lãi lớn nhưng năm nay bị lỗ lớn. - BCTC có nhiều khoản nợ phải trả lớn, đầu tư tài chính dài hạn lớn, nhiều hoạtđộng liên doanh, liên kết…lớn. - Thường xuyên thay đổi HĐQT, BGĐ, Kế toán trưởng. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 27
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Khi tìm hiểu về khách hàng và môi trường hoạt động KTV sẽ thu thập nhữngthông tin liên quan đến :  Môi trường kinh doanh chung, môi trường pháp lý mà DN hoạt động.  Ngành nghề kinh doanhcủa DN.  Hoạt động và tình hình kinh doanh.  Cấu trúc tổ chức của DN .  Các thay đổi lớn về quy mô hoạt động của DN.  Hiểu biết về hệ thống kế toán áp dụng. Việc thu thập các thông tin cần thiết về tình hình kinh doanh của đơn vị là một quá trình bao gồm thu thập, đánh giá và đối chiếu thông tin thu thập được với các bằng chứng. Tuy nhiên, thời gian thu thập những thông tin này phụ thuộc vào quy mô của đơn vị được kiểm toán, những kinh nghiệm và hiểu biết trước đây của KTV về đơn vị được kiểm toán. Các thông tin chung về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động kinh doanh cũng như các thông tin liên quan đến các chính sách kế toán được áp dụng sẽ giúp KTV có thể xác định được các rủi ro tiềm tàng trên phương diện BCTC. Và theo đó, KTV thường đánh giá rủi ro tiềm tàng cao nếu sự thu thập hiểu biết về khách hàng cho thấy các điều kiện sau: • Hoạt động trong ở những ngành nghề chứa đựng nhiều rủi ro . • Hoạt động trong môi trường với mức độ phức tạp cao của các qui định có liên quan. • Sự thay đổi về ngành nghề hoạt động kinh doanh của đơn vị. • Có sự thay đổi lớn trong cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp như tái tổ chức lại hay có các sự kiện bất thường diễn ra. • Thiếu các nhân sự chủ chốt về mặt tài chính. • Sự thay đổi của hệ thống công nghệ thông tin liên quan đến việc báo cáo thông tin tài chính. • Sự áp dụng các nguyên tắc kế toán mới…. Những thông tin thu thập được ở bước này sẽ giúp KTV có hiểu biết chung về doanh nghiệp, nhận định những rủi ro tiềm tàng liên quan đến lĩnh vực kinh doanh đó của khách hàng. Trong thực tế, trong cuộc kiểm toán năm đầu tiên tại khách hàng KTV mới chú trọng đến quá trình này còn trong các cuộc kiểm toán năm tiếp theo, các KTV thường ít chú trọng mà chủ yếu sử dụng lại những thông tin đã thu thập được trong năm trước. 1.1.2 Ở mức độ khoản mục Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng cho từng khoản mục chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm của khoản mục đó cũng như kinh nghiệm nghề nghiệp của KTV. Công tác phân tích sơ bộ BCTC góp phần giúp KTV xác định rủi ro tiểm tàng ở mức độ khoản mục. Qua việc phân tích sơ bộ BCTC (được thực hiện theo mẫu [A510]-“Phân tích sơ bộ BCTC”) KTV sẽ xác định được các khoản mục, các biến động bất thường cần được tìm hiểu nguyên nhân hoặc cần tìm những lời giải thích hợp lý. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 28
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng 1.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát 1.2.1 Ở mức độ tổng thể BCTC Thực chất của việc đánh giá rủi ro kiểm soát trên phương diện tổng thể BCTC làđánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB của khách hàng. Việc xem xét hệ thống kiểmsoát nội bộ sẽ được thực hiện thông qua bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ và xem xét rủiro xảy ra gian lận hay sai sót và AAC đã sử dụng mẫu [A610] - " Đánh giá hệ thốngKSNB của đơn vị " để thực hiện bước công việc này. KTV sẽ đánh giá trên 3 yếu tố: Môi trường kiểm soát: môi trường kiểm soát tốt góp phần tạo nên sự hiệu quả củahệ thống KSNB. Môi trường kiếm soát liên quan đến sự điều hành ban quản trị; thái độ,nhận thức và hành động của ban quản trị liên quan đến sự kiểm soát nội bộ của doanhnghiệp. Việc xem xét và đánh giá môi trường kiểm soát bao gồm việc xem xét các yếu tốchủ đạo sau: - Cơ cấu tổ chức và sự phân bổ quyền hạn và trách nhiệm: Cơ cấu tổ chức có phù hợp với quy mô, hoạt động kinh doanh và vị trí địa lý kinh doanh của đơn vị không? DN có các chính sách và thủ tục cho việc uỷ quyền và phê duyệt các nghiệp vụ ở từng mức độ phù hợp không? Có sự giám sát và kiểm tra phù hợp đối với những hoạt động được phân quyền cho nhân viên không? Nhân viên của DN có hiểu rõ nhiệm vụ của mình hay không? Sự bất kiêm nhiệm có được thực hiện phù hợp trong đơn vị không? - Sự truyền đạt thông tin trong doanh nghiệp và sự tuân thủ các đạo đức, sự truyền đạt thông tin và phương pháp điều hành của ban quản trị là những yếu tố cần thiết ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thiết kế, quản lí và chỉ đạo thực hiện các hoạt động kiểm soát. Đề cập các yếu tố này, KTV xem xét những vấn đề sau: - Triết lí điều hành của ban quản trị. - Trình độ, năng lực của nhân viên. - Chính sách nhân sự. Để có được sự đánh giá về các yếu tố trên, KTV thường tiến hành thẩm vấn BGĐhay các nhân viên trong doanh nghiệp; quan sát việc ứng dụng của một vài hoạt độngkiểm soát cụ thể; xem xét các tài liệu… Quy trình đánh giá rủi ro: KTV tìm hiểu và đánh giá các rủi ro kinh doanh liên quan tới BCTC như: Các nhà quản lý xác định rủi ro kinh doanh liên quan tới BCTC như thế nào? DNcó ước tính ảnh hưởng về mặt tài chính không? Có đánh giá khả năng xảy ra rủi ro kinhdoanh không ? Các rủi ro kinh doanh phát hiện được giải quyết như thế nào? Giám sát các hoạt động kiểm soát: KTV có thể tiến hành phỏng vấn, quan sát đểbiết các thông tin về việc giám sát thường xuyên và định kỳ, báo cáo các thiếu sót của hệthống KSNB như: DN có chính sách xem xét lại hệ thống KSNB định kỳ và đánh giátính hiệu quả của hệ thống không? Bộ phận kiểm toán nội bộ có đủ kinh nghiệm chuyênmôn và được đào tạo đúng đắn không? Bộ phận kiểm toán nội bộ có quyền tiếp cận sổ SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 29
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngsách, chứng từ kế toán và phạm vi hoạt động của họ không bị hạn chế? DN có các chínhsách, thủ tục để đảm bảo thực hiện kịp thời các biện pháp sửa chữa đối với các thiếu sótcủa hệ thống KSNB không? Bộ phận kiểm toán nội bộ có gửi báo cáo phát hiện cácthiếu sót của hệ thống KSNB lên HĐQT hoặc Ban Kiểm soát kịp thời không? Bộ phậnkiểm toán nội bộ có theo dõi các biện pháp sửa chữa của BGĐ không?... Các câu trả lời “ Không” sẽ làm giảm tính hiệu quả của hệ thống KSNB của kháchhàng. Hoàn thành bảng câu hỏi trên giúp KTV có cái nhìn toàn diện và hiểu biết về hệthống KSNB của khách hàng. Từ đó có thể đánh giá đúng về rủi ro kiểm soát trenphương diện BCTC. 1.2.2 Ở mức độ khoản mục, chu trình Sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá HTKSNB trên toàn bộBCTC, KTV đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát đối với các chu trình kinh doanh chính: - Chu trình bán hàng, phải thu và thu tiền. - Chu trình mua hàng, phải trả và trả tiền. - Chu trình hàng tồn kho, tính giá thành và giá vốn. - Chu trình TSCĐ và xây dựng cơ bản. - Chu trình lương và phải trả người lao động. Không phải lúc nào KTV cũng tiến hành kiểm tra tất cả các chu trình trên. Việckiểm tra này tùy thuộc vào qui mô cũng như đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tìm hiểu về từng chu trình, KTV sẽ tìm kiếm thông tin về các khía cạnh kinhdoanh chủ yếu, chính sách kế toán áp dụng liên quan tới từng chu trình cụ thể. Sau khicó những hiểu biết nhất định KTVsẽ tiếp tục đánh giá về mặt thiết kế và triển khai củacác thủ tục kiểm soát chính trong từng chu trình tại DN. Để đánh giá về mặt thiết kế của các thủ tục kiểm soát chính: KTV tiến hành xemxét các tài liệu do khách hàng cung cấp về các thủ tục kiểm soát, phỏng vấn các nhânviên có liên quan để xem xét các thủ tục đó được thiết kế phù hợp chưa, có ngăn ngừa,phát hiện và khắc phục được các sai phạm không. Nếu thủ tục kiểm soát được thiết kếkhông phù hợp sẽ là sự yếu kém trong hệ thống KSNB của đơn vị. Để đánh giá về mặt triển khai của các thủ tục kiểm soát chính: KTV sẽ quan sátsự vận hành của hệ thống KSNB trong thực tế, cũng như lựa chọn mẫu các nghiệp vụ,chứng từ và kiểm tra xem thử các thủ tục kiểm soát có được thực hiện hay không. Sau khi tìm hiểu từng bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV sẽ tiến hànhđánh giá chung sự hữu hiệu của HTKSNB để từ đó xác định được rủi ro kiểm soát. Rủiro kiểm soát được đánh giá là:  Cao: Khi DN không thiết kế hệ thống KSNB hoặc hệ thống KSNB hoạt độngkhông hiệu quả. Trung bình: KTV đánh giá hệ thống KSNB là hữu hiệu và thực hiện có giớihạn các thử nghiệm kiểm soát.  Thấp : Khi hệ thống KSNB của DN hoạt động hiệu quả và thực hiện đầy đủcác thử nghiệm kiểm soát. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 30
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Việc tìm hiểu hệ thống KSNB đối với khách hàng kiểm toán năm đầu tiên đòi hỏinhiều thời gian và nỗ lực của KTV do KTV chưa có được những hiểu biết về hệ thốngKSNB của khách hàng. Còn đối với cuộc kiểm toán khách hàng cũ, việc tìm hiểu hệthống KSNB sẽ tốn ít thời gian. Kiểm toán viên có thể tham khảo những kiến thức vàhiểu biết về khách hàng từ những kiểm toán viên năm trước kết hợp với những thay đổicủa hệ thống KSNB trong năm để từ đó xác định các vấn đề tồn tại trong hệ thống kiểmsoát nội bộ của năm hiện hành. 1.3 Đánh giá rủi ro phát hiện 1.3.1 Ở mức độ tổng thể BCTC: Rủi ro phát hiện sẽ được đánh giá dựa trên kết quả đã thực hiện được ở rủi ro tiềmtàng và rủi ro kiểm soát. Rủi ro phát hiện được KTV tính toán thông qua ma trận rủi ro Mục đích của việc xác định rủi ro phát hiện là nhằm xác lập mức độ thực hiện cácthử nghiệm cơ bản. Nếu rủi ro phát hiện được xác định ở mức thấp nhất thì KTV sẽ thựchiện các thử nghiệm cơ bản ở mức độ cao nhất để có thể đạt được mức rủi ro kiểm toánmong muốn. Các công việc trong giai đoạn này được thực hiện trong mẫu[A910]-“Tổnghợp kết quả kiểm toán” theo mẫu sau: Bảng 4: Xác định ban đầu chiến lược kiểm toán dựa vào kiểm tra kiểm soát haykiểm tra cơ bản [A400, A600] Sau khi thực hiện xong các thủ tục tại phần A400 và A600, KTV cần xác định chiến lược kiểm toán ban đâu là kiểm tra hệ thống KSNB hay kiểm tra cơ bản. 1.3.2 Ở mức độ khoản mục, chu trình Sau khi tìm hiểu về từng chu trình KTV sẽ đánh giá rủi ro phát hiện đối với từngchu trình theo bảng sau: Bảng 5: Bảng đánh giá rủi ro phát hiện đối với từng chu trình[A400] Mô tả rủi ro Cơ sở dẫn TK ảnh Thủ tục kiểm toán cần liệu hưởng thực hiện SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 31
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Qua sự đánh giá trên, KTV sẽ quyết định xem có thực hiện kiểm tra tính hoạt độnghữu hiệu (kiểm tra hệ thống KSNB) đối với chu trình này không hay nói cách khác,KTV sẽ thực hiện thử nghiệm cơ bản ở mức độ nào đối với chu trình này. 2. Xác lập mức trọng yếu 2.1 Ước tính mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC(PM- planning Material) PM là thước đo số lượng về trọng yếu trên phương diện toàn bộ BCTC và nó sẽđược sử dụng trong việc thiết kế các thủ tục kiểm toán nhằm đảm bảo rằng rủi ro của cácsai phạm trọng yếu không được phát hiện đã được giảm đến mức thấp có thể chấp nhậnđược. Xác lập mức trọng yếu có ý nghĩa rất lớn, xác lập mức trọng yếu không phùhợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát hiện các rủi ro kiểm toán cũng như chi phíđể thực hiện cuộc kiểm toán. Do vậy, để thận trọng, AAC đã xây dựng chính sáchthích hợp để xác lập mức trọng yếu bao gồm các chỉ tiêu được qui định làm số gốc vàkhung tỉ lệ tương ứng với từng chỉ tiêu đó. Trong các cuộc kiểm toán KTV sẽ dựa vàochính sách đó cũng như kinh nghiệm của mình để xác định chỉ tiêu và tỉ lệ thích hợp. Chính sách xác lập mức trọng yếu ở AAC được xác định giống với hướng dẫn củaVACPA: Tên các chỉ tiêu Tỉ lệ Tổng tài sản hoặc VCSH 2% Tổng doanh thu Từ 0,5% đến 3% Lợi nhuận trước thuế 5% đến 10% Một vài hướng dẫn cho việc xác định cơ sở PM đối với từng loại khách thể kiểmtoán được AAC đưa ra như sau: Bảng 6:Bảng hướng dẫn xác định cơ sở trọng yếu của AAC: Loại hình khách thể Cơ sở để xác định PM Lí do Đơn vị phi lợi nhuận Tài sản/ Doanh thu LNTT không phản ánh qui mô của đơn vị Đơn vị mới đi vào hoạt Tài sản, VCSH Đơn vị mới đi vào hoạtđộng kinh doanh, có khả động, LNTT, doanh thunăng bị phá sản. chưa có. Doanh nghiệp do chủ sở LNTT nhưng cần có sự Vì LNTT bao gồm cảhữu tự quản lí điều chỉnh phù hợp phần tiền tương ứng với tiền lương của chủ sở hữu Công ty niêm yết trên thị LNTT Đây là chỉ tiêu đượctrường chứng khoán đông đảo mọi người quan tâm, đặc biệt là cổ đông SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 32
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng của công ty Công ty không niêm yết VCSH, Tổng doanh thu LNTT không phản ánhtrên thị trường chứng được qui mô của công tykhoán Chi nhánh của công ty Mức trọng yếu được xác định trên cơ sở doanh thu và ởxuyên quốc gia mức cao hơn 2% so với các công ty không niêm yết trên thị trường chứng khoán ngang bậc. Mặc dù đã có sự hướng dẫn cụ thể nhưng việc ước lượng PM mang tính chủ quanrất lớn của KTV. Đồng thời, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV không thể dựđoán trước được tất cả các trường hợp mà có thể có ảnh hưởng đến sự đánh giá của KTVvề mức trọng yếu thông qua các công việc trong giai đoạn thực hiện các thủ tục kiểmtoán chi tiết, đánh giá việc kiểm soát … và giai đoạn hoàn thành kiểm toán. Do vậy, PMcó thể thay đổi trong suốt giai đoạn thực hiện kiểm toán và nó phải được xem xét lại khikết thúc kiểm. Việc xem xét lại việc xác lập mức trọng yếu được thể hiện ở chỉ tiêu “ xemxét lại mức trọng yếu đã xác định ở giai đoạn lập kế hoạch” ở mẫu [A910] ]-“Tổng hợpkết quả kiểm toán”. Bảng 7: Xem xét lại mức trọng yếu đã xác định ở giai đoạn lập kế hoạch Xem xét lại mức trọng yếu đã xác định ở giai đoạn lập kế hoạch Tiêu chí xác định mức trọng yếu(……………..) là phù hợp/ chưa phù hợp. Lí do ……………………………………………………………………………………… Tỉ lệ xác định mức trọng yếu(………………)là phù hợp/ chưa phù hợp. Lí do ………………………………………………………………………………… Việc xem xét lại mức trọng yếu trên sẽ làm cơ sở cho KTV trong việc lựa chọnchỉ tiêu cũng như tỉ lệ xác định mức trọng yếu trong các cuộc kiểm toán tiếp theo. 2.2 Phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục trên BCTC Hiện nay, AAC không thực hiện phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục màgiá trị mức trọng yếu sẽ được sử dụng chung cho tất cả các khoản mục trên BCTC. Theođó, sau khi xác định mức trọng yếu tổng thể(PM), KTV xác định mức trọng yếu thựchiện MP=(50%-75%)PM. Đây là mức trọng yếu được sử dụng cho toàn bộ BCTC đểđảm bảo nguyên tắc thận trọng rằng tất cả các sai sót được KTV phát hiện và các sai sótkhông được KTV phát hiện không vượt quá mức trọng yếu tổng thể (PM) đã xác định. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 33
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng 3. Vận dụng trọng yếu và rủi ro trong việc xác định cỡ mẫu và lựa chọn phần tử kiểm tra Do yêu cầu về thời gian cũng như chi phí kiểm toán, KTV không thể kiểm tra toàn bộ tổng thể các nghiệp vụ, số dư tài khoản do đó KTV tiến hành chọn mẫu để kiểm tra. Chọn mẫu đại diện giúp KTV đưa ra được ý kiến chính xác hơn về BCTC. Việc xác định trọng yếu và rủi ro sẽ giúp KTV lựa chọn được cỡ mẫu cũng như các phần tử mẫu để kiểm tra nhằm bảo đảm được thời gian, phạm vi của cuộc kiểm toán. Ở AAC, việc xác định cỡ mẫu và lựa chọn các phần tử của mẫu theo phương pháp thống kê áp dụng trong thử nghiệm chi tiết là kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ CMA (Cumulative Monetary Amount). a) Các khái niệm cơ bản Mức trọng yếu thực hiện (MP - Monetary Precision): chỉ tiêu này được xác định trong quá trình xác định mức trọng yếu Mức độ đảm bảo R (Reliability factor – R) : Là xác suất để số ước lượng (dựa trên việc kiểm tra chọn mẫu) bao hàm toàn bộ sai sót trong tổng thể, được sử dụng trong chọn mẫu thống kê. Khái niệm mức độ đảm bảo tỉ lệ nghịch với khái niệm rủi ro trong. Có nghĩa là độ đảm bảo càng cao thì rủi ro càng thấp. Xác định R: Mô hình đảm bảo kiểm toán: OA = IA + CA + SA = 3 Trong đó: OA (Overall Assurance): Mức đảm bảo chung cho cuộc kiểm toán IA (Inherent Assurance): Mức độ đảm bảo tiềm tàng CA (Control Assurance): Mức độ đảm bảo kiểm soát SA (Substantive Assurance): Mức độ đảm bảo phát hiện R được xác định qua SA. Từ những đánh giá ban đầu về mức rủi ro tiểm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro pháthiện KTV AAC sẽ tiến hành đánh giá mức độ đảm bảo tiềm tàng, mức độ đảm bảo kiểmsoát, mức độ đảm bảo phát hiện cho các khoản mục trọng yếu. Theo đó, - Nếu rủi ro tiềm tàng là cao hoặc thấp thì mức độ đảm bảo tiềm tàng tương ứng sẽ là ‘‘Không ’’ hoặc ‘‘Cao nhất ’’. Mức trung bình sẽ được xét theo hai mức ‘‘Không ’’ hoặc ‘‘Cao nhất ’’ tùy theo bản chất và rủi ro cụ thể được phát hiện của khoản mục. Nếu phát hiện được rủi ro cụ thể mà bản chất khoản mục là trọng yếu thì có thể đánh giá mức độ tiềm tàng là ‘‘Không ’’ và ngược lại. - Nếu mức độ rủi ro kiểm soát là cao, trung bình hoặc thấp thì mức độ đảm bảo phát hiện sẽ là ‘‘Không ’’, ‘‘Cơ bản ’’ hoặc ‘‘Cao nhất ’’. - Nếu mức độ rủi ro phát hiện là cao, trung bình, thấp hoặc thấp nhất thì mức độ đảm bảo phát hiện sẽ là ‘‘Cơ bản ’’, ‘‘Vừa phải ’’, ‘‘Mức trung gian ’’, ‘‘Trực tiếp’’, hoặc ‘‘Tập trung ’’. Công ty AAC đã vận dụng bảng giá trị mức độ đảm bảo cho hai trường hợp có rủiro phát hiện và không có rủi ro phát hiện nhằm hướng dẫn cho KTV xác định mức độđảm bảo. Bảng 8 : Bảng đánh giá mức độ đảm bảo SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 34
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng • Trường hợp có rủi ro phát hiện Kiểm tra tính hiệu quả Loại mức của hoạt động kiểm Không kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động độ đảm soát nội bộ (Test kiểm soát nội bộ bảo Operating Effectiveness – TOE) HTKSNB được thiết kế và thực hiện phù HTKSNB không Có hiệu Không hợp (Test Design & được thiết kế và thực quả hiệu quả Implement – Test hiện phù hợp D&I) Inherent 0.0 0.0 0.0 0.0 Assurane Không Không Không Không Control 1.3 0.0 0.3 0.0 Assurance Cao nhất Không Cơ bản KhôngSubstantive 1.7 3.0 2.7 3.0 Tập Assurance Trung bình Trực tiếp Tập trung trung Overall 3.0 3.0 3.0 3.0 Assurance • Trường hợp không có rủi ro phát hiện Kiểm tra tính hiệu quả Loại mức của hoạt động kiểm Không dựa Không kiểm tra tính hiệu quả của độ đảm soát nội bộ (Test vào hoạt động kiểm soát nội bộ bảo Operating HTKSNB Effectiveness – TOE) SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 35
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng HTKSNB được HTKSNB thiết kế và thực không được Có hiệu Không hiện phù hợp thiết kế và quả hiệu quả (Test Design & thực hiện phù Implement – Test hợp D&I) Inherent 1.0 1.0 1.0 1.0 1.0 Assurane Cao nhất Cao nhất Cao nhất Cao nhất Cao nhất Control 1.3 0.0 0.3 0.0 0.0 Assurance Cao nhất Không Cơ bản Không KhôngSubstantive 0.7 2.0 1.7 2.0 2.0 Mức trung Mức trung Mức trung Assurance Cơ bản Vừa phải gian gian gian Overall 3.0 3.0 3.0 3.0 3.0 Assurance b) Nguyên tắc chọn mẫu theo phương pháp CMA Kỹ thuật chọn mẫu CMA là phương pháp chọn mẫu đại diện thống kê, quy mô mẫu chọn được xác định theo công thức sau: N= POP/ J Trong đó: N:Số phần tử của mẫu chọn POP:Giá trị ghi sổ của tổng thể kiểm tra (số dư tài khoản, tổng giá trị của nhóm nghiệp vụ...) J=MP/R (MP: Mức trọng yếu chi tiết, R: mức độ đảm bảo ; J là bước nhảy) 4. Minh họa công tác xác lập mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Để minh họa cho đề tài của mình em xin trình bày công tác xác lập mức trọng yếuvà rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại công ty CP ABC và côngty TNHH XYZ do công ty Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện. Đây là hai loại hìnhdoanh nghiệp khác nhau đồng thời là một khách hàng mới, một khách hàng cũ của côngty do đó qua đề tài ta sẽ thấy được sự khác biệt trong việc xác định rủi ro kiểm toán vàtrọng yếu ở hai doanh nghiệp này. 4.1 Sơ lược về khách hàng  Tên khách hàng: công ty cổ phần ABC + Địa chỉ: 40 Lý Thái Tổ- TP Qui Nhơn- Bình Định. + Điện thoại: 0563 746 918 Fax: 0563 746 916 + Ngành nghề kinh doanh: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 36
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng  Xây dựng, sửa chữa các công trình giao thông đường bộ, quản lý khai thác, duy tu bảo dưỡng cơ sở đường bộ.  Xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, thủy điện, thủy lợi, công trình kỹ thuật hạ tầng khu đô thị và công nghiệp.  Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng và khai thác khoáng sản.  Chế tạo, sửa chữa , gia công phụ tùng xe máy và phương tiện vận chuyển, kinh doanh vận tải khách và hàng hóa.  Mua bán máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế.  Kinh doanh dịch vụ khách sạn và ăn uống.  Sản xuất, mua bán nước giải khát, nước đá tinh khiết.  Cho thuê kho bãi, mua bán xăng dầu.  Dịch vụ mô giới tuyển chọn lao động và cung cấp nhân sự.  Cho thuê xe máy thiết bị thi công công trình. + Niên độ kế toán áp dụng: Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm. Báo cáo tài chính và các nghiệp vụ kế toán được lập và ghi sổ bằng Đồng Việt Nam( VND). + Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng: Công ty áp dụng Chế độ kế toán Việt Nam, ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006, Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành. Hình thức kế toán: Chứng từ ghi sổ  Tên khách hàng: công ty TNHH XYZ + Địa chỉ: Khu công nghiệp Long Thành, huyện Long Thành , Đồng Nai + Điện thoại: 0613524452 Fax: 0613524453. + Loại hình doanh nghiệp: công ty có vốn đầu tư nước ngoài, là công ty con của công ty Chosun Welding, Hàn Quốc. + Ngành nghề kinh doanh: sản xuất dây hàn và que điện hàn. + Niên độ kế toán áp dụng: Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm. Báo cáo tài chính và các nghiệp vụ kế toán được lập và ghi sổ bằng Đồng Việt Nam( VND). + Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng: Công ty áp dụng Chế độ kế toán Việt Nam, ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006, Hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành. Hình thức kế toán: Chứng từ ghi sổ 4.2 Xác định rủi ro kiểm toán 4.2.1 Đánh giá rủi ro tiềm tàng a) Ở mức độ tổng thể BCTC  Đối với khách hàng ABC : sau khi nhận được yêu cầu kiểm toán từ khách hàng,do đây là khách hàng cũ được AAC kiểm toán từ năm 2007, AAC tiến hành thu thậpthêm thông tin mới trên cơ sở những thông tin có sẵn năm trước để đánh giá khả năngchấp nhận hợp đồng [A120] ( phụ lục 1). SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 37
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Qua quá trình tìm hiểu, KTV đưa ra nhận định rằng không có gì bất thường ởkhách hàng và đánh giá rủi ro của hợp đồng ở mức thấp. Do đó, công ty chấp nhận duytrì khách hàng. Khi bắt đầu cuộc kiểm toán, KTV tiến hành trao đổi với đơn vị kết hợp với nhữnghiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, tình hình cạnh tranh trên thị trườngthông qua các phương tiện truyền thông cũng như dựa trên cơ sở các thông tin thu thậpđược về loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức bộ máy ở kiểmtoán BCTC năm trước. Kiểm toán viên tiến hành phân tích và xem xét các nhân tố ảnhhưởng đến rủi ro tiềm tàng. Sau khi tìm hiểu về khách hàng và môi trường hoạt động được mô tả ở mẫu[A310] (phụ lục 2), KTV đưa ra nhận xét sau: 1. Nhân sự: HĐQT, BKS, BGĐ, KTT : không có sự thay đổi. 2. Tình hình kinh doanh năm 2010: - Bổ sung ngành nghề kinh doanh: Cho thuê xe máy, sản xuất gạch men hóa lỏng. - Vốn: không thay đổi. - Chưa đăng kí đại chúng. 3. Tình hình thanh tra, kiểm tra Kiểm toán nhà nước kiểm tra năm 2009 và không chấp nhận khoản trích lập dựphòng khó đòi vì không có biên bản đối chiếu công nợ, truy thu 39 triệu đồng. 4. Các chính sách kế toán: Có sự thay đổi thời gian khấu hao của một số tài sản ( rút ngắn). Qua những nhận xét trên, KTV đưa ra kết luận: −Rủi ro liên quan tới toàn bộ BCTC: Không có −Rủi ro liên quan tới các tài khoản cụ thể: Không có −Các thủ tục kiểm toán cơ bản cho rủi ro cụ thể: Không có. Từ đó, rủi ro tiềm tàng trên tổng thể BCTC của khách hàng ABC được đánh giá ởmức thấp.  Đối với khách hàng XYZ.: Đây là khách hàng mới của công ty, AAC tiến hànhtìm kiếm thông tin tài chính, quan hệ của doanh nghiệp, AAC cũng theo dõi các phươngtiện thông tin đại chúng …để tìm kiếm thông tin liên quan đến doanh nghiệp, lí do thayđổi kiểm toán của Ban giám đốc không có gì bất thường. Do vậy, AAC chấp nhận kiểmtoán do rủi ro liên quan đến hợp đồng này thấp[A110] (phụ lục 1) Để đưa ra các mô tả trong mẫu[A310]- “ Tìm hiểu về khách hàng và môi trườnghoạt động” KTV đưa ra những phân tích sau: 1. Môi trường kinh doanh chung: Qua quá trình tìm hiểu KTV đưa ra nhận xét:Nền kinh tế Việt Nam năm 2010 dần phục hồi sau khủng hoảng và tăng trưởng khá cao so với năm 2009, tốc độ tăng trưởng GDP là 6.78%. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc là 6.1% cao nhất trong 8 năm qua. Đó là những tín hiệu tốt ở những nền kinh tế mà công ty đang hoạt động. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát và lãi suất sẽ làm tăng chi phí đầu vào so với năm 2009. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 38
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng 2. Ngành nghề kinh doanh : Sản phẩm của công ty là que hàn, sản xuất quanh năm, không mang tính mùa vụ, sản xuất công nghiệp ở Hàn Quốc rất cần sản phẩm này nên công ty ít chịu áp lực về đầu ra. Giá bán đối với hàng cạnh tranh của các công ty khác theo giá thị trường trong nước. Đối với hàng xuất khẩu có thể chịu áp lực về giá bán nếu chủ yếu xuất cho công ty mẹ. 3. Môi trường pháp lý mà doanh nghiệp hoạt động: DN hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Chính sách ưu đãi thuế suất thuế TNDN và tiền thuê đất địa phương( tỉnh Đồng Nai) nơi doanh nghiệp đóng trụ sở. 4. Các hoạt động và kinh doanh chủ yếu: Sản xuất dây hàn và que điện hàn. Hơn 70% xuất sang Hàn Quốc còn lại bán cho các công ty trong nước. 5. Những thay đổi về qui mô hoạt động của DN: KTV nhận thấy: - Trong năm vốn hữu sở hữu không thay đổi. - Từ năm 2011: công ty cho xây dựng nhà máy số 2 ngay tại khu CN Long Thành, Đồng Nai. - Công ty không có hoạt động đầu tư vào công ty khác ngoài tiền gửi dài hạn vào ngân hàng. Qua các phân tích và nhận xét trên, KTV đưa ra kết luận rằng: −Rủi ro liên quan tới toàn bộ BCTC: Không có −Rủi ro liên quan tới các tài khoản cụ thể: Không có −Các thủ tục kiểm toán cơ bản cho rủi ro cụ thể: Không có. Từ đó, rủi ro tiềm tàng trên tổng thể BCTC của khách hàng XYZ được đánh là thấp. Nhận xét: ở công ty ABC, việc đánh giá rủi ro tiềm tàng còn sơ sài. Ở công ty TNHH XYZ, do đây là khách hàng mới của công ty nên việc đánh giá rủi ro tiềm tàng được thực hiện đầy đủ và bài bản nhất. b) Ở mức độ khoản mục: Để đánh giá rủi ro tiềm tàng trên từng khoản mục KTV tiến hành phân tích sơ bộ BCTC, tiến hành so sánh số liệu với năm 2009 để thấy được những biến động bất thường. Nếu khoản mục nào có biến động lớn thì rủi ro tiềm tàng được đánh giá là cao. Tất cả những phân tích được tổng hợp theo mẫu [A510] –“Phân tích sơ bộ BCTC” (xem phụ lục 5)  Đối với công ty ABC: các khoản mục có biến động lớn, được KTV lưu ý trongnăm là: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 39
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Năm 2010 Năm 2009 Biến động Khoản mục Số tiền Số (VNĐ) (%) (VNĐ) tiền(VNĐ) Tiền 4,253,962,033 106,824,127 4,147,137,906 3882.2% Các khoản 6,000,000,000 4,429,333,333 1,570,666,667 35.5% tương đương tiền Phải thu 29,684,505,537 15,474,931,766 14,209,573,771 47.9% KH Hàng tồn 7,291,642,499 5,429,305,086 1,862,337,413 25.5% kho Nguyên giá 29,428,102,718 27,754,204,910 1,673,897,808 6.0% TSCĐ Phải trả 11,740,985,224 1,575,441,995 10,165,543,229 645.3% người bán Doanh thu 89,280,826,523 54,400,097,577 34,880,728,946 64.10% bán hàng Với số liệu được phân tích kết hợp với kinh nghiệm kiểm toán của các lần kiểmtoán trước đây, KTV phân tích và nhận xét về các khoản mục có biến động lớn như sau: Tiền tăng mạnh:3882.2% có thể do các khoản nợ được thanh toán vào các ngàycuối năm. KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng liên quan đến khoản mục này ở mức cao. Phải thu khách hàng tăng mạnh: do doanh thu năm nay tăng mạnh hơn so với nămtrước và chủ yếu ghi nhận dồn với thời điểm cuối năm. Khoản mục này cần được kiểmtra kỹ. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này được đánh giá là cao. Rủi ro tiềm tàng liên quan đến hàng tồn kho, TSCĐ được đánh giá ở mức trungbình do sự biến động của các khoản mục này là không đáng kể. Phải trả người bán có sự tăng mạnh tăng 645.3% so với năm 2009. Do năm nay dotrúng thầu nhiều nên sử dụng nguyên liệu thi công, mặt khác phải gia công ngoài vàcông tác quyết toán thường rơi vào thời điểm cuối năm nên chưa thanh toán kịp. Rủi rotiềm tàng liên quan đến khoản mục này được đánh giá ở mức cao. Doanh thu bán hàng cũng có sự tăng mạnh 64.10% chủ yếu là do công ty trúngthầu nhiều nên doanh thu lớn và rủi ro tiềm tàng liên quan đến khoản mục này đượcđánh giá ở mức thấp. Đối với công ty XYZ:, KTV nhận định các khoản mục có biến động lớn nhưsau: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 40
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Năm 2010 Năm 2009 Biến động Khoản mục Số tiền Số tiền(VNĐ) (VNĐ) (%) (VNĐ) Tiền 5,438,691 (1,486,845 ,175 6,925,536,866 ,691) -21.5% Đầu tư ngắn hạn 500,000,000 0 500,000,000 Phải thu KH 4,885,221 2,080,024 ,324 2,805,196,325 ,999 74.1% Trả trước cho 1,384,994 1,171,447 người bán ,547 213,547,128 ,419 548.6% Hàng tồn kho 11,879,574 3,569,537 ,662 8,310,036,759 ,903 43.0% TSCĐ 33.611.355.266 34.995.536.807 (1.384.181.541) -4.0% Phải trả người 5,710,841 3,578,527 bán ,390 2,132,313,969 ,421 167.8% VCSH 38,931,163 (1,374,851 ,105 40,306,014,594 ,489) -3.4% 32,524,39 9,686,929, 22,837,46 Doanh thu 8,828 587 9,241 235.76% Lợi nhuận kế (1,302,336 (9,014,820, 7,712,48 toán trước thuế ,782) 518) 3,736 85.55% KTV phân tích và nhận xét các biến động lớn như sau: Đầu tư tài chính ngắn hạn tăng so với năm trước. Lý do có thể do DN đã xử lý tiềnnhàn rỗi tạm thời vào đầu tư chứng khoán, hoặc mua các công cụ nợ. KTV cần lưu ý đểkiểm tra khoản mục này đặc biệt là vấn đề trích lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạntrong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục nàyđược đánh giá ở mức cao. Phải thu khách hàng tăng đi đôi với doanh thu tăng gấp 2 lần so với năm trước chothấy có thể công ty đã đẩy mạnh bán hàng, có thể do mở rộng chính sách tín dụng, tăng SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 41
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngchi phí quảng cáo hoặc chính sách chiết khấu. KTV cần lưu ý các thủ tục kiểm tra phảithu bị ghi nhận quá. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này được đánh giá ở mức cao. Nguyên giá TSCĐ tăng 1.7% nhưng hao mòn lũy kế tăng 122%, có thể do một sốTSCĐ tăng vào thời điểm cuối năm 2009 chưa trích khấu hao, bắt đầu trích từ năm2010. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này cũng được đánh giá ở mức cao. Trả trước cho người bán tăng so với năm trước. KTV cần lưu ý chính sách muahàng và thanh toán của công ty, có thể công ty bị sức ép từ nhà cung cấp độc quyền dẫnđến phải thanh toán trước khi nhận hàng. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này cũng đượcđánh giá ở mức cao. Doanh thu năm 2010 tăng rất cao so với năm 2009. Công ty là doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài và thuê Ban giám đốc. Có thể Ban giám đốc chịu áp lực về doanhsố, KTV cần lưu ý các thủ tục kiểm tra doanh thu có thể bị ghi nhận sớm. Kiểm tra chínhsách ghi nhận doanh thu. Rủi ro tiềm tàng của khoản mục này cũng được đánh giá ởmức cao. Mặc dù doanh thu tăng nhưng lợi nhuận lại giảm 85%. Có thể công ty đẩy giá vốnhoặc chi phí khác để lỗ nhằm tránh chịu thuế TNDN. KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng củakhoản mục giá vốn, chi phí khác là cao. KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng liên quan đến các khoản mục còn lại như: tiền,hàng tồn kho, phải trả người bán, VCSH ở mức trung bình. Nhận xét: KTV mới chỉ đánh giá rủi ro tiềm tàng trên từng khoản mục chứ chưađánh giá trên rủi ro tiềm tàng cho từng cơ sở dẫn liệu. 4.2.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát a) Ở mức độ tổng thể BCTC KTV tiến hành đánh giá hệ thống KSNB của 2 công ty ABC và XYZ như sau: CÔNG TY CÔNG TY CÁC THÀNH PHẦN CỦA HỆ Ghi ABC XYZ THỐNG KSNB chú Có Không Có Không 1. MÔI TRƯỜNG KIỂM SOÁT 1.1 Truyền thông và thực thi tính chính trực và giá trị đạo đức trong DN - Có quy định về giá trị đạo đức và các giá trị này có được thông tin $ $ đến các bộ phận của DN không? SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 42
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng - Các sai phạm về tính chính trực và giá trị đạo đức được xử lý như $ $ thế nào? Cách thức xử lý có được quy định rõ và áp dụng đúng đắn? 1.2 Cam kết đối với năng lực và trình độ của nhân viên - Các nhà quản lý có danh tiếng hoặc bằng chứng về năng lực của họ $ $ không? - DN thường có thiên hướng thuê nhân viên có năng lực nhất hay $ nhân viên tốn ít chi phí nhất? - DN xử lý như thế nào đối với $ nhân viên không có năng lực? 1.3 Phong cách điều hành và triết lý của các nhà quản lý DN - Thái độ của các nhà quản lý $ DN đối với hệ thống KSNB? - Phương pháp tiếp cận của họ $ đối với rủi ro? - Thu nhập của các nhà quản lý có dựa vào kết quả hoạt động hay $ $ không? - Mức độ tham gia của các nhà $ $ quản lý DN vào quá trình lập BCTC? 1.4 Cấu trúc tổ chức - Cơ cấu tổ chức có phù hợp với quy mô, hoạt động kinh doanh và vị $ $ trí địa lý kinh doanh của đơn vị không? Cầu trúc DN có khác biệt với các DN có quy mô tương tự của ngành $ $ không? SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 43
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng 1.5 Phân định quyền hạn và trách nhiệm - DN có các chính sách và thủ tục cho việc uỷ quyền và phê duyệt $ $ các nghiệp vụ ở từng mức độ phù hợp không? - Có sự giám sát và kiểm tra phù hợp đối với những hoạt động được $ phân quyền cho nhân viên không? - Nhân viên của DN có hiểu rõ $ nhiệm vụ của mình hay không? - Những người thực hiện công tác giám sát có đủ thời gian để thực $ $ hiện công việc giám sát của mình không? - Sự bất kiêm nhiệm có được thực hiện phù hợp trong đơn vị $ $ không? (ví dụ, tách biệt vị trí kế toán và công việc mua sắm tài sản) 1.6 Chính sách nhân sự và thực tế về quản lý nhân sự - Đơn vị có chính sách và tiêu chuẩn cho việc tuyển dụng, đào tạo, $ $ đánh giá, đề bạt, và sa thải nhân viên không? - Các chính sách này có được xem xét và cập nhật thường xuyên $ không? - Các chính sách này có được truyền đạt đến mọi nhân viên của đơn $ vị không? - Những nhân viên mới có nhận thức được trách nhiệm của họ cũng $ như sự kỳ vọng của BGĐ không? - Kết quả công việc của mỗi nhân viên có được đánh giá và soát $ xét định kỳ không? 2. QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 44
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng RỦI RO Rủi ro kinh doanh liên quan tới BCTC - Các nhà quản lý xác định rủi ro kinh doanh liên quan tới BCTC như thế nào? - Ước tính ảnh hưởng về mặt tài chính? - Đánh giá khả năng xảy ra rủi ro kinh doanh? - Các rủi ro kinh doanh phát hiện được giải quyết như thế nào? 3. GIÁM SÁT CÁC HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT 3.1 Giám sát thường xuyên và định kỳ - Việc giám sát thường xuyên có được xây dựng trong các hoạt động của DN không? - DN có chính sách xem xét lại hệ thống KSNB định kỳ và đánh giá $ tính hiệu quả của hệ thống không? (Mô tả việc đánh giá nếu có) Công ty - DN có duy trì bộ phận kiểm $ $ ABC toán nội bộ phù hợp không? không có KSNB - Bộ phận kiểm toán nội bộ có đủ kinh nghiệm chuyên môn và được $ đào tạo đúng đắn không? - Bộ phận kiểm toán nội bộ có duy trì hồ sơ đầy đủ về hệ thống $ KSNB và kiểm tra hệ thống KSNB của đơn vị không? SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 45
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng - Bộ phận kiểm toán nội bộ có quyền tiếp cận sổ sách, chứng từ kế $ toán và phạm vi hoạt động của họ không bị hạn chế? 3.2 Báo cáo các thiếu sót của hệ thống KSNB - DN có các chính sách, thủ tục để đảm bảo thực hiện kịp thời các $ biện pháp sửa chữa đối với các thiếu sót của hệ thống KSNB không? - BGĐ có xem xét các ý kiến đề xuất liên quan đến hệ thống KSNB đưa ra bởi KTV độc lập (hoặc KTV $ nội bộ) và thực hiện các đề xuất đó không? - Bộ phận kiểm toán nội bộ có gửi báo cáo phát hiện các thiếu sót $ của hệ thống KSNB lên HĐQT hoặc Ban Kiểm soát kịp thời không? - Bộ phận kiểm toán nội bộ có theo dõi các biện pháp sửa chữa của $ BGĐ không? - Bộ phận kiểm toán nội bộ có quyền tiếp cận trực tiếp HĐQT hoặc $ Ban Kiểm soát không? Sau khi trả lời các câu hỏi trên, KTV đưa ra kết luận rằng công ty ABC không có bộ phận KSNB và rủi ro kiểm soát của công ty ABC được đánh giá ở mức cao, hệ thống KSNB của công ty TNHH XYZ được thiết kế và hoạt động hữu hiệu do đó rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức thấp. Nhận xét: - KTV thường không trình bày các thủ tục mình thực hiện để đưa ra kết luận. - Bảng câu hỏi được thiết kế chung không phù hợp với từng loại hìnhdoanh nghiệp cụ thể. - Chưa có cơ sở cụ thể để đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng nhưthế nào là tốt, trung bình, thấp mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, khả năng xét đoán củakiểm toán viên để đưa ra kết luận. b) Ở mức độ khoản mục: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 46
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Đối với công ty ABC, KTV không tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát đối với từngchu trình. Đối với công ty TNHH XYZ, KTV tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát trên hai chutrình. Đó là: Chu trình bán hàng, phải thu và thu tiền ; chu trình TSCĐ và xây dựng cơbản. KTV xác định đây là hai chu trình chính trong doanh nghiệp và cần được kiểm tra.KTV tìm hiểu các thông tin về các khía cạnh kinh doanh chủ yếu liên quan đến chutrình, chính sách kế toán, cũng như đánh giá về mặt thiết kế và triển khai các thủ tụckiểm soát chính đối với từng mục tiêu kiểm soát của các tài khoản chính trong chu trình.Qua quá trình tìm hiểu trên KTV đưa ra kết luận là: Hệ thống KSNB đối với 2 chu trìnhnày nhìn chung đã được thiết kế phù hợp với mục tiêu kiểm soát và đã được triển khaithực hiện; Có thực hiện kiểm tra tính hoạt động hữu hiệu (kiểm tra hệ thống KSNB) đốivới chu trình này. ( xem phụ lục3, phụ lục 4) Nhận xét: Công tác đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ khoản mục ở AAC thựchiện còn sơ sài. Chỉ các công ty lớn, hoặc hệ thống KSNB ở mức độ BCTC ở các côngty được đánh giá là tốt thì KTV mới thực hiện công tác này còn lại thì công tác này bịbỏ qua và thường KTV đi thẳng vào thực hiện các thử nghiệm cơ bản. 4.2.3 Đánh giá rủi ro phát hiện a) Ở mức độ BCTC Đối với công ty ABC, KTV xác định chiến lược kiểm toán là thực hiện các thửnghiệm cơ bản ở mức độ cao nhất. Còn công ty TNHH XYZ do hệ thống KSNB đượcthiết kế và hoạt động hữu hiệu nên KTV xác định chiến lược kiểm toán là đánh giá lại hệthống KSNB và thực hiện các thử nghiệm cơ bản ở mức độ thích hợp. b) Ở mức độ khoản mục Sau khi tìm hiểu về từng chu trình, KTV sẽ đưa ra nhận xét về các rủi ro phát hiệncủa từng khoản mục trong chu trình cũng như các cơ sở dẫn liệu bị ảnh hưởng. Tuynhiên, trong đề tài này, 2 công ty được chọn không có các rủi ro trọng yếu phát hiện nêncông tác này không được thể hiện rõ. 4.3 Xác lập mức trọng yếu: 4.3.1 Ước tính ban đầu về mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC: Đối với công ty ABC, công tác xác lập mức trọng yếu được thực hiện như sau: Kế Thực tế Chỉ tiêu hoạch Tiêu chí được sử dụng để Lợi nhuận trước ước tính mức trọng yếu thuế Lý do lựa chọn tiêu chí Đây là chỉ tiêu được rất nhiều người sử dụng này để xác định mức trọng BCTC quan tâm, đặc biệt là cổ đông của công ty. yếu SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 47
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Giá trị tiêu chí được lựa 12.093.068.585 (a) chọn Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu Lợi nhuận trước thuế: 5% LNTT 7% - 10% (b) Doanh thu: 0,5% - 3% Tổng tài sản và vốn: 2% Mức trọng yếu tổng thể (c)=(a)*(b) 846.514.801 (d)=(c)*(50%-7 60% 507.908.881 Mức trọng yếu thực hiện 5%) Ngưỡng sai sót không 3% 15.237.266 (e)=(d)*4% (tối đáng kể/ sai sót có thể bỏ đa) qua Đối với công ty TNHH XYZ, chỉ tiêu được KTV xác định mức trọng yếu là doanhthu. Mức trọng yếu tổng thể và mức trọng yếu thực hiện được xác định như sau: Chỉ tiêu Kế hoạch Thực tế Tiêu chí được sử dụng để Doanh thu Doanh thu ước tính mức trọng yếu Lý do lựa chọn tiêu chí này Công ty là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước để xác định mức trọng yếu ngoài nên BGĐ rất quan tâm đến doanh thu. Giá trị tiêu chí được lựa 32.524.398.828 32.524.398.828 (a) chọn Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu Lợi nhuận trước thuế: 5% - 10% (b) 5% 5% Doanh thu: 0,5% - 3% Tổng tài sản và vốn: 2% SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 48
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Mức trọng yếu tổng thể 1.626.219.941 1.626.219.941 (c)=(a)*(b) (PM) Mức trọng yếu thực hiện (d)=(c)*(50 813.109.971 813.109.971 MP %-75%) Ngưỡng sai sót không 32.524.399 32.524.399 (e)=(d)*4% đáng kể/ sai sót có thể bỏ (tối đa) qua Nhận xét: chỉ tiêu được KTV lựa chọn để xác định mức trọng yếu là các chỉ tiêuđặc trưng của doanh nghiệp, tuy nhiên việc xác định các chỉ tiêu này cũng như các tỷ lệtương ứng phụ thuộc rất lớn vào sự xét đoán chủ quan của KTV. 4.3.2 Phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục trên BCTC: Ở AAC, mức trọng yếu không được phân bổ cho từng khoản mục riêng biệt màgiá trị mức trọng yếu sẽ được sử dụng chung cho tất cả các khoản mục trên BCTC. Khikiểm tra chi tiết KTV sẽ dựa vào ngưỡng sai sót không đáng kể để đề nghị doanh nghiệpđiều chỉnh. Nếu sai sót của từng nghiệp vụ nhỏ hơn ngưỡng sai sót này thì KTV có thểbỏ qua và ngược lại KTV đề nghị doanh nghiệp điều chỉnh. Sau khi kiểm tra hết cáckhoản mục, nghiệp vụ KTV sẽ tổng hợp các sai sót của tất cả các khoản mục và so sánhvới mức trọng yếu thực hiện để đưa ra nhận xét về BCTC. 4.4 Vận dụng trọng yếu và rủi ro để xác định cỡ mẫu và lựa chọn phần tử kiểm tra Đối với công ty ABC, sau khi đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát đối vớicác khoản mục trọng yếu , KTV sẽ đánh giá mức độ đảm bảo như sau : + Đối với khoản mục phải thu khách hàng bị ghi khống , trong khi hệ thốngKSNB không được thiết kế và thực hiện phù hợp và KTV do đó mức độ đảm bảo đượcKTV xác định như sau : IA=0, CA=0, R= 3. KTV sẽ dùng mức R này để xác định cỡ mẫu cần kiểm tra của khoản mục phải thukhách hàng như sau : - Giá trị mức trọng yếu chi tiết : MP = 507.908.881 - Xác định bước nhảy: J=MP/ R= 507.908.881/3= 169.302.960 - POP: TK phải thu khách hàng cần kiểm tra. POP = 29.684.505.537 - Cỡ mẫu: N= POP/J= 29.684.505.537 / 169.302.960 = 175 mẫu. + Đối với khoản mục doanh thu: rủi ro tiềm tàng thấp, trong khi hệ thống KSNkhông được thiết kế và thực hiện phù hợp và không phát hiện được rủi ro trọng yếu dođó mức độ đảm bảo được xác định như sau : IA=1, CA= 0, R= 2. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 49
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng - Xác định bước nhảy : J=MP/ R= 507.908.881/2= 253.954.441 - POP = 89.280.826.523 - Cỡ mẫu: N= POP/J= 89.280.826.523/ 253.954.441 = 352 mẫu. Đối với công ty TNHH XYZ, công tác xác định cỡ mẫu cũng được tiến hành nhưsau: + Các khoản phải thu khách hàng bị ghi nhận quá, hệ thống kiểm soát nội bộ củađơn vị được thiết kế và thực hiện phù hợp do đó IA= 0, CA= 0.3, R= 2.7 - Giá trị mức trọng yếu chi tiết : MP = 813.109.971 - Xác định bước nhảy: J=MP/ R= 813.109.971/ 2.7= 301.151.841 - POP = 4.885.221.324 - Cỡ mẫu: N= POP/J= 4.885.221.324/ 301.151.841= 16 mẫu + Doanh thu bị ghi nhận sai kỳ, trong khi hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vịđược thiết kế và thực hiện phù hợp do đó IA= 0, CA= 0.3, R= 2.7 - Giá trị mức trọng yếu chi tiết : MP = 813.109.971 - Xác định bước nhảy: J=MP/ R= 813.109.971/ 2.7= 301.151.841 - POP = 32.524.398.828 - Cỡ mẫu: N= POP/J= 32.524.398.828 / 301.151.841= 108 mẫu + Phải trả người bán: không phát hiện được rủi ro cụ thể, trong khi h hệ thốngkiểm soát nội bộ của đơn vị được thiết kế và thực hiện phù hợp do đó IA= 1, CA= 0.3,R= 1.7 - Giá trị mức trọng yếu chi tiết : MP = 813.109.971 - Xác định bước nhảy: J=MP/ R= 813.109.971/ 1.7= 478.299.982 - POP = 5.710.841.390 - Cỡ mẫu: N= POP/J= 5.710.841.390 / 478.299.982= 12 mẫu Việc xác định cỡ mẫu đối với các khoản mục khác cũng được tiến hành tương tự.Từ cỡ mẫu đã được xác định KTV sẽ tiến hành lựa chọn các phần tử của mẫu để kiểmtra. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 50
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn HưngPHẦN 3: ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC I. NHẬN XÉT VỀ CÔNG TÁC XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TẠI AAC 1. Ưu điểm 1.1 Công tác xác lập mức trọng yếu  AAC đã xây dựng được “Chính sách xác lập mức trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính” mà trong đó có những hướng dẫn đầy đủ và cụ thể về việc xác lập mức trọng yếu cho kiểm toán báo cáo tài chính, phù hợp với hồ sơ kiểm toán mẫu của VACPA và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Cụ thể là:  Chỉ tiêu được lựa chọn để xác định mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC là phù hợp: + Tổng tài sản, nguồn vốn được sử dụng đối với các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động doanh thu, lợi nhuận chưa có. + Doanh thu được sử dụng khi doanh nghiệp có doanh thu ổn định và doanhthu là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động. + Lợi nhuận trước thuế thường được sử dụng đối với những công ty niêm yếttrên sàn GDCK vì đó là chỉ tiêu được được đông đảo người sử dụng báo cáo tài chínhquan tâm.  Tỷ lệ tương ứng với các chỉ tiêu mà AAC đang áp dụng là phù hợp với gợi ý của VACPA và phù hợp với đặc điểm của khách hàng.  Mức trọng yếu thực hiện được AAC chọn ở mức thấp ( từ 50% -75%) để đảm bảo nguyên tắc thận trọng. 1.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán  AAC đã xây dựng được một quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán cụ thể, phù họp với chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và có tính thực tiễn cao. Việc đánh giá rủi ro kiểm toán được tiến hành trên từng thành phần của rủi ro kiểm toán là rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Đối với mỗi loại rủi ro trình tự các bước công việc luôn được quy định rõ ràng làm cơ sở cho việc đánh giá các rủi ro. Điều này đã giúp KTV của công ty giảm thiểu được rủi ro trong quá trình kiểm toán. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 51
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng  Các bảng câu hỏi được thiết kế rõ ràng, thuận lợi cho việc đánh giá rủi ro kiểm toán. Mặt khác, tại AAC Giấy tờ làm việc phục vụ cho việc đánh giá rủi ro kiểm toán của khách hàng được trình bày rõ ràng, dễ hiểu theo đúng hướng dẫn của VACPA, được lưu trữ cẩn thận trong hồ sơ công ty phục vụ cho các lần kiểm toán sau.  Công tác đánh giá rủi ro kiểm toán đã phục vụ đắc lực cho việc lập kếhoạch kiểm toán đối với toàn bộ báo cáo và từng khoản mục cụ thể.  Việc đánh giá rủi ro kiểm toán tại AAC luôn do những người có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn thực hiện. Do đó kết quả đánh giá có độ tin cậy khá cao. 2. Nhược điểm 2.1 Công tác xác lập mức trọng yếu  Việc xác định chỉ tiêu xác lập mức trọng yếu cũng như tỉ lệ tương ứngmang tính chủ quan rất nhiều của KTV. Nếu KTV nhận định không hợp lý sẽ làm chocông tác kiểm toán gặp rủi ro lớn.  AAC chưa tiến hành phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục. Do đó,việc xác định phạm vi kiểm toán cho từng khoản, nghiệp vụ cũng như khả năng thu thậpbằng chứng của từng khoản mục sẽ khó khăn hơn. 2.2 Đánh giá rủi ro kiểm toán  Quá trình tìm hiểu về khách hàng nhằm đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồngcũng như lập kế hoạch kiểm toán của AAC còn gặp nhiều hạn chế. Có nhiều nguyên nhânkhác nhau dẫn tới sự hạn chế này. Một trong các nguyên nhân nổi cộm nhất đó chính làthời gian. Áp lực về thời gian buộc các kiểm toán viên phải hoàn thành công việc đúnghạn. Chính vì vậy, thời gian dành cho việc nghiên cứu và tìm hiểu khách hàng từ nhiềuhướng gần như không thể thực hiện được. Việc tìm hiểu khách hàng thường thông qua tàiliệu từ những năm trước, các bên liên quan chính, đài báo và internet là chủ yếu; đôi khinhững thông tin này vẫn chưa đủ để có thể phản ánh hết bản chất của khách hàng. Hậuquả của việc đánh giá sai khách hàng thường là sự bố trí nguồn nhân lực thực hiện kiểmtoán không hiệu quả và một số những sai sót khác trong hợp đồng kiểm toán. Ví dụ như,do đánh giá sai đối tượng khách hàng có mức độ rủi ro bình thường thành rủi ro caokhiến thời gian kiểm toán tăng hay số lượng các kiểm toán viên phục vụ cho cuộc kiểmtoán đó tăng. Như vậy, gây ra sự lãng phí không đáng có. Ngoài ra, nguyên nhân dẫn tớitìm hiểu khách hàng chưa đầy đủ còn do những nguyên nhân khách quan khác như khôngcó được sự hợp tác của bên thứ ba có liên quan, khách hàng không cung cấp đủ tài liệuquan trọng, các thông tin về khách hàng không được công bố trên thông tin đại chúng.Đối với các khách hàng cũ, công tác đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng KTV chủ yếudựa vào các thông tin được thu thập vào năm trước, ít có sự tìm hiểu thêm. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 52
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng  Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng theo từng cơ sở dẫn liệu cho từng khoản mục chưa được thực hiện mà AAC chỉ đánh giá theo mỗi mức chung cho từng khoản mục bởi vì trong quá trình lập kế hoạch thì KTV đã không thu thập đủ các thông tin cần thiết để làm căn cứ cho việc đánh giá rủi ro tiềm tàng theo từng cơ sở dẫn liệu cho từng khoản mục  Bảng câu hỏi để đánh giá hệ thống KSNB được thiết kế chung cho toàn bộ các loại hình doanh nghiệp do đó chưa thực sự phù hợp với từng doanh nghiệp cụ thể.  Khi đánh giá hệ thống KSNB KTV vẫn sử dụng phương pháp đơn giản là sử dụng bảng câu hỏi để miêu tả hoạt động kiểm soát nội bộ. AAC chưa chú ý sử dụng lưu đồ, bảng tường thuật. Để đánh giá rủi ro kiểm soát, các kiểm toán viên cần thu thập hiểu biết về hệ thống KSNB và mô tả trên giấy tờ làm việc bằng việc sử dụng một trong ba phương pháp hoặc kết hợp cả ba phương pháp: vẽ lưu đồ, lập bảng câu hỏi và bảng tường thuật. Lựa chọn phương pháp nào là tùy thuộc vào từng đơn vị. Tuy nhiên, trong ba phương pháp thì phương pháp sử dụng lưu đồ thường được đánh giá cao hơn vì nó dễ theo dõi và mang tính hệ thống hơn.  Khi đánh giá hệ thống KSNB dựa vào bảng câu hỏi, công ty vẫn chưa có quy định rõ trong trường hợp nào thì đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là tốt, trung bình hay thấp. Việc đánh giá sau khi kiểm toán viên trả lời hết các câu hỏi trên bảng đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, khả năng xét đoán của kiểm toán viên. Vì vậy rất dễ xảy ra sự không nhất quán trong cách đánh giá của các kiểm toán viên khác nhau, do vậy sẽ gây khó khăn cho các kiểm toán viên đưa ra kết luận về hệ thống KSNB của khách hàng.  Việc đánh giá rủi ro kiểm soát đối với từng khoản mục,chu trình thực hiệncòn sơ sài và chỉ được thực hiện ở các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp nhỏ KTVthường bỏ qua bước này mà KTV thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ cao và đithẳng vào thực hiện các thử nghiệm cơ bản.  AAC chưa chú trọng vào công tác đánh giá hệ thống KSNB của khách hàngtrong môi trường tin học. Ngày nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, các doanhnghiệp thường sử dụng hệ thống tin học trong quản lý, công tác kế toán cũng được thựchiện trên các phần mềm kế toán. Vì vậy, KTV cần có các kiển thức về vấn đề tin học,hiểu biết ưu nhược điểm của các phần mềm kế toán hiện nay để có thể phát hiện được cácgian lận và sai sót có thể xảy ra. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 53
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TẠI AAC 1. Hoàn thiện xác lập mức trọng yếu 1.1 Quy định cách xác định tỉ lệ xác lập mức trọng yếu AAC chưa quy định rõ về việc xác định tỷ lệ xác lập mức trọng. Dưới đây, em xinđưa ra giải pháp bằng cách xem xét và cho điểm các yếu tố ảnh hưởng đến mức trọng yếutừ đó đưa ra tỷ lệ xác lập mức trọng yếu. Mức trọng yếu được xác định bị ảnh hưởng củahai nhân tố: mức độ người sử dụng tin tưởng vào BCTC và khả năng khách hàng gặpkhó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán được công bố. Do đó, ta xem xét ảnhhưởng của hai yếu tố này và tiến hành cho điểm số như sau: Tiêu chí đánh giá Điểm số Mức độ người sử dụng tin tưởng vào BCTC:  Quy mô công ty của khách hàng - Lớn 20 - Vừa 15 - Nhỏ 10  Sự phân phối quyền sở hữu - Rộng 20 - Trung bình 15 - Hẹp 10  Bản chất và quy mô của công nợ - Lớn 20 - Nhỏ 10  Khả năng khách hàng gặp khó khăn về tài chính:  Khả năng hoán chuyển thành tiền của tài sản - Cao 20 - Trung bình 15 - Thấp 10  Kết quả hoạt động kinh doanh của năm trước - Tốt 20 - Xấu 10 Sau khi tiến hành cho điểm các yếu tố trên, ta tiến hành xác định tỷ lệ xác lập mứctrọng yếu như sau: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 54
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Tỷ lệ xác lập mức trọng yếu tính trên Điểm số Lợi nhuận trước Doanh thu thuế <=50 0,5% 5,0% 50-60 1,0% 6,0% 60-70 1,5% 7,0% 70-80 2,0% 8,0% 80-90 2,5% 9,0% 90-100 3,0% 10,0% 1.2 Hoàn thiện việc phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục :Việc xác định mức trọng yếu có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lập kế hoạch kiểm toán do đó KTV cần phải phân bổ mức trọng yếu cho tất cả các khoản mục nhằm xác định thời gian, phạm vi kiểm toán từng khoản mục để có thể xác định được các sai phạm trọng yếu của khoản mục đó. Công ty có thể tham khảo việc phân bổ mức trọng yếu theo giá trị của từng khoản mục như sau: - Bước 1: Xác định các khoản mục không phân bổ mức trọng yếu hoặc phân bổ với mức rất thấp. Trong bước này KTV dựa vào kinh nghiệm của mình để xác định: + Các khoản mục ít xảy ra sai sót, ít biến động hoặc không biến động (ví dụ như vốn chủ sở hữu) thì KTV ước lượng một mức trọng yếu nhất định, hoặc không phân bổ mức trọng yếu. + Các khoản mục có chi phí kiểm toán thấp, hoặc đòi hỏi tính chính xác cao hoặc có thể kiểm tra 100% thì không phân bổ mức trọng yếu hoặc phân bổ ở mức thấp. - Bước 2: Tạm phân phối theo qui mô về giá trị của các khoản mục: Sau khi loại trừ các khoản mục không phân bổ mức trọng yếu hoặc phân bổ vớimức rất thấp ở bước 1, mức trọng yếu còn lại sẽ phân bổ cho các khoản mục còn lại theotương ứng với tỷ trọng giá trị của khoản mục đó trên báo cáo tài chính theo công thứcsau: TE phân bổ cho MP còn lại * Giá trị của khoản mục A = khoản mục A Tổng giá trị của các khoản mục còn lại - Bước 3: Phân bổ chính thức mức trọng yếu cho từng khoản mục SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 55
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Trong bước này KTV sẽ căn cứ vào rủi ro phát hiện của từng khoản mục (thôngqua việc đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát) để điều chỉnh mức trọng yếu đã đượcphân bổ: + Nếu rủi ro phát hiện là thấp, thấp nhất: tiến hành giảm mức trọng yếu cho khoảnmục đó. + Nếu rủi ro phát hiện là cao, cao nhất: tăng mức trọng yếu lên. + Nếu mức trọng yếu là trung bình: không cần điều chỉnh mức trọng yếu. Ngoài ra, KTV cần phải xem xét khả năng và chi phí thu thập bằng chứng của khoản mục đó để điều chỉnh mức trọng yếu cho phù hợp. 2. Hoàn thiện đánh giá rủi ro kiểm toán 2.1 AAC cần chú trọng hơn đến việc nâng cao chất lượng đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng. Các KTV cần tìm hiểu kỹ hơn về khách hàng để giảm thiểu rủi ro kiểm toán. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi thế giới ngày càng chuyên môn hóa cao và hợp tác hóa thì tính chuyên biệt của một lĩnh vực nào đó càng tăng lên. Có thể, KTV không có đủ kinh nghiệm và hiểu biết cụ thể về lĩnh vực đó nên việc sử dụng tư liệu của chuyên gia là hết sức cần thiết. Là thành viên của hãng kiểm toán quốc tế IGAF Polaris, AAC thường xuyên được cung cấp các tài liệu chuyên môn và các tài liệu tham khảo của các chuyên gia, do đó việc sử dụng các nguồn tài liệu này mang lại hiệu quả rất cao trong việc đánh giá rủi ro hợp đồng cũng như đánh giá rủi ro tiềm tàng của khách hàng. 2.2 Xây dựng thêm bảng câu hỏi để đánh giá hệ thống KSNB cho từng loạihình doanh nghiệp cụ thể và bổ sung cách thức đánh giá rủi ro kiểm soát trên tổngthể BCTC: Mỗi loại hình doanh nghiệp có một đặc trưng riêng, do đó hệ thống KSNB sẽ được thiết kế khác nhau. Bảng câu hỏi mang tính chung chung sẽ không đánh giá đúng về hệ thống KSNB của đơn vị. Công ty AAC cần xây dựng một bảng câu hỏi riêng cho từng lọai hình doanh nghiệp. Dưới đây là bảng câu hỏi được thiết kế cho việc đánh giá hệ thống KSNB của loại hình doanh nghiệp xây lắp. Vì doanh nghiệp xây lắp có đặc trưng là sản xuất đơn chiếc, thời gian thi công kéo dài, địa điểm thi công nằm rải rác nhiều nơi, sản phẩm xây lắp được tiến hành ngoài trời do đó công tác quản lý vật liệu, quản lý thi công và quản lý tài chính cần được chú trọng để hạn chế tình trạng thất thoát vật tư, nguyên vật liệu. Điểm Ghi Các yếu tố cần xem xét Có Không số chú Quản lý vật liệu Vật liệu phục vụ cho từng công trình được mua khi có nhu cầu và phải được phê duyệt SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 56
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Vật liệu phục vụ cho từng công trình được quản lý riêng Quản lý thi công Trong quá trình thi công công trình có bộ phận giám sát Bộ phận giám sát có chứng chỉ hành nghề giám sát thi công CTXD phù hợp với công việc, loại , cấp công trình Bộ phận giám sát độc lập với bộ phận thực hiện công trình Việc giám sát thi công công trình được thực hiện ngay từ khi khởi công Việc giám sát thi công công trình được thực hiện thường xuyên, liên tục trong quá trình xây dựng Khối lượng thi công công trình được tính toán xác nhận giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công công trình, người giám sát theo thời gian và giai đoạn thi công Khối lượng thi công công trình được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo HĐ Quản lý tài chính Công ty có bộ trí nhân viên kế toán theo từng công trình Công ty có quy định thời gian chuyển chứng từ, nghiệp vụ từ từng công trình về phòng kế toán Thời gian luân chuyển chứng từ là phù hợp Công ty có quy định thời gian ghi sổ kế toán Khi quyết toán công trình có sự đối chiếu giữa các bộ phận trong công ty SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 57
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Khi đánh giá ta tiến hành cho điểm số từng câu hỏi: 1 : Nếu câu trả lời có chiều hướng tốt -1 : Nếu câu trả lời có chiều hướng xấu Khi đánh giá hệ thống KSNB được thiết kế chung ta cũng tiến hành cho điểm nhưtrên. Sau khi tìm hiểu về hệ thống KSNB được thiết kế chung và bảng đánh giá đượcthiết kế riêng cho từng loại hình doanh nghiệp, để có thể đưa ra kết luận hệ thống KSNBcủa khách hàng là tốt, trung bình, thấp ta có thể tính tỷ lệ rủi ro X dựa vào công thức sauđây: Tổng số câu trả lời có điểm số -1 của từng bộ phận * Hệ số tương ứng X= X 100% Tổng số câu trả lời sau khi nhân hệ sốNếu X: Từ 1% - 30% thì rủi ro kiểm soát được xác định là thấp. Từ 31% - 60% thì rủi ro kiểm soát được xác định là trung bình. Từ 61% - 100% thì rủi ro kiểm soát được xác định là cao. Trong đó: Bộ phận ở đây là:Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, giám sát, hệthống KSNB được thiết kế riêng cho từng loại hình doanh nghiệp. Hệ số của môi trường kiểm soát là 2, hệ số các bộ phận khác là 1. Môi trường kiểm soát liên quan chủ yếu đến quan điểm, thái độ, nhận thức vàhành động của nhà quản lý. Nếu môi trường kiểm soát tốt thì mới góp phần đảm bảo hệthống KSNB hoạt động hữu hiệu do đó môi trường kiểm soát được đánh giá là quan trọngnhất và có hệ số là 2. 2.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng lưu đồ: Mặc dù việc mô tả hệ thống KSNB mất khá nhiều thời gian nhưng lại giúp KTVĐầu vào/ đầu ràng hơn về toàn bộ lý thống KSNB cũng như về mối quan hệ giữa ng dữ hình dung rõ Xử hệ Lưu Dò các bộ phận, giữa chứng từ và sổ sách. Dưới đây là các kí hiệu thường dùng để vẽ lưu liệura trữ đồ Chứng từ Xử lý Lưu trữ Điểm bắt đầuhoặc báo cáo thủ hồ sơ hay công kết thúc lưu đồ Thiết bị Xử lý Lưu trữ Dòng dữ liệu nhập bằng trên ổ hoặc thông liệu máy đĩa tin SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang Nút ra 58 Dữ liệu Kết nối Màn hình quyết hoặc hiển thị định thông tin
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn HưngCác ký hiệu đặc biệt dùng trong môi trường xử lý số liệu bằng phương pháp điện tửThẻ đục lỗ Băng đục lỗ Trống hay đĩa Băng từ Dựa trên các ký hiệu trên, KTV mô tả lại mối quan hệ giữa các bộ phận trong DN,sơ đồ luân chuyển chứng từ trong DN để có thể hình dung một cách có hệ thống cũngnhư đánh giá đúng đắn về hệ thống KSNB của DN. 2.4 Hoàn thiện việc đánh giá rủi ro kiểm toán từng khoản mục theo từng cơsở dẫn liệu  Đánh giá rủi ro tiềm tàng Khi phân tích sơ bộ BCTC, các biến động lớn, bất thường của các khoản mục sẽđược KTV chú ý và đưa ra nhận xét về rủi ro tiềm tàng của khoản mục. Nhưng để có thểđưa ra được kết luận đúng về rủi ro tiềm tàng của từng khoản mục trên từng cơ sở dẫnliệu công ty cần phải xây dựng bảng câu hỏi cho từng khoản mục. Sau đó tiến hành chođiểm các câu hỏi là :-1, 1. 1 : Nếu câu trả lời là “có” -1 : Nếu câu trả lời là “không” Sau đó, KTV sẽ tính tỷ lệ rủi ro(x%) dựa trên tổng số câu có điểm -1 trên tổng sốcâu có điểm 1 và -1 rồi dựa vào đó để đưa ra kết luận. Nếu tỷ lệ này nằm trong khoảng: Từ 0% - 30% thì rủi ro tiềm tàng của cơ sở dẫn liệu đó được xác định là thấp. Từ 31% - 60% thì rủi ro tiềm tàng của cơ sở dẫn liệu đó được xác định là trungbình. Từ 61% - 100% thì rủi ro tiềm tàng của cơ sở dẫn liệu đó được xác định là cao. Để minh họa cho giải pháp này ta lấy ví dụ về việc xác định rủi ro tiềm tàng củakhoản mục hàng tồn kho.Giả sử qua quá trình phân tích sơ bộ BCTC, KTV nhận thấy SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 59
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưngbiến động của khoản mục hàng tồn kho là cao, KTV sẽ tiến hành thu thập các thông tinđể có thể đánh giá rủi ro tiềm tàng của từng cơ sở dẫn liệu của khoản mục hàng tồn kho Trình bày và công bố Quyền và nghĩa vụ Sự phát sinh Sự đánh giá Chính xác Sự tồn tại Đầy đủ Các yếu tố cần cân nhắcDoanh thu bán hàngDo áp lực chỉ tiêu doanhthu phải đạt được nên có -1khả năng doanh thu bịkhai khống SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 60
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn HưngDoanh nghiệp trốn thuếnên doanh thu có khả năng 1bị che dấuViệc xử lý khối lượngcông việc lớn có thể dẫnđến sai sót về số liệu hay -1ghi nhận doanh thu khôngkịp thời.Đối chiếu phiếu xuất khovới hóa đơn để đảm bảorằng một khoản doanh thu -1không bị xuất hóa đơn vàghi sổ kế toán nhiều lầnGiá bán trên hóa đơn đượckiểm tra, đối chiếu với 1bảng giá và được cộng lạitrước khi chuyển cho KHĐánh giá rủi ro tiềm tàng 100% 0% 0% 50% 0% 0% Qua bảng đánh giá trên, rủi ro tiềm tàng liên quan đến sự phát sinh, sự chính xáccủa khoản mục doanh thu sẽ được KTV chú ý theo dõi nhiều hơn.  Đánh giá rủi ro kiểm soát Công ty cần xây dựng bảng câu hỏi cho từng cơ sở dẫn liệu và đánh giá rủi rokiểm soát của từng khoản mục theo từng cơ sở dẫn liệu theo mức điểm:1,-1 như giải pháptrên. Nếu tỷ lệ các câu trả lời “ không” : Từ 1% - 30% thì rủi ro kiểm soát được xác định là thấp. Từ 31% - 60% thì rủi ro kiểm soát được xác định trung bình. Từ 61% - 100% thì rủi ro kiểm soát được xác định là cao.  Đánh giá rủi ro phát hiện Sau khi tìm hiểu rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát trên từng cơ sở dẫn liệu củatừng khoản mục. KTV chính cần thảo luận với các KTV phụ trách từng phần hành đểtổng hợp các rủi ro liên quan đến từng cơ sở dẫn liệu để có cách nhìn chung một cáchtổng thể về rủi ro kiểm toán của tất cả các khoản mục, làm cơ sở cho các cuộc kiểm toáncũng như làm tài liệu tham khảo cho cuộc kiểm toán năm sau: SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 61
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Cơ sở dẫn liệu Quyền Sự tồn Sự Sự Trình Khoản Sự đầy Sự tồn và tại, phát đánh chính bày và T Thủ tục mục đủ tại nghĩa kikikiểm toán sinh giá xác công bố vụ I C D I C D I C D I C D I C D I C D I C D R R R R R R R R R R R R R R R R R R R R RTiềnCáckhoảntươngđươngtiềnPhảithu củakháchhàngCáckhoảnphải thukhácHàngtồn khoTài sảnngắnhạnkhácTài sảncố địnhhữuhìnhTài sảncố địnhvô hìnhChi phítrảtrướcdài hạnTài sảndài hạnkhác SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 62
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn HưngVay vànợ ngắnhạnPhải trảngườibánThuế vàcáckhoảnphảinộpNhànướcPhải trảngườilaođộngCáckhoảnphải trả,phảinộpkhácVốnđầu tưcủa chủsở hữuLợinhuậnsauthuếchưaphânphối 2.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên Ngày nay, số lượng các doanh nghiệp càng nhiều, yêu cầu kiểm toán ngày cànglớn. Do đó, AAC cần tăng cường, mở rộng nhân viên nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm toáncủa khách hàng đồng thời làm giảm rủi ro kiểm toán do bị giới hạn đội ngũ KTV. Phân công nhóm kiểm toán theo hướng chuyên môn hóa từng loại hình doanhnghiệp và lĩnh vực hoạt động của khách hàng. Điều này làm tăng tính chuyên môn hóacông tác kiểm toán, tạo điều kiện cho KTV có kiến thức chuyên sâu hơn về từng lĩnh vựctừ đó thuận lợi hơn trong việc kiểm toán. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 63
  • Email: luanvan84@gmail.com GVHD: TS. Đường Nguyễn Hưng Hiện nay, AAC đang áp dụng phần mềm trong quá trình kiểm toán, vì vậy cầnnâng cao kiến thức tin học cho nhân viên nhằm giảm thiểu thời gian kiểm toán cũng nhưnâng cao hiệu quả kiểm toán. SVTH: Nguyễn Thị Như Quỳnh_ Lớp 34k06.3 Trang 64