• Save
Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (54)
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Like this? Share it with your network

Share

Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (54)

on

  • 1,162 views

 

Statistics

Views

Total Views
1,162
Views on SlideShare
1,162
Embed Views
0

Actions

Likes
0
Downloads
0
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (54) Document Transcript

  • 1. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com lời nói đầu Nói tới đời sống kinh tế thế giới, người ta không thể không nhắc tới xuthế quốc tế hoá với các cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá với sự gia tăngcủa các hình thức hợp tác kinh tế quốc tế đa dạng, trong đó thương mạiquốc tế là một vấn đề rất quan trọng. Qua hơn 10 năm thực hiện đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiềuthành tựu đáng khích lệ trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Bướcđầu, Việt Nam đã tạo cho mình một vị trí có ý nghĩa quan trọng nhất địnhtrong quan hệ kinh tế - chính trị quốc tế. Trên con đường của sự hội nhậpvào xu thế quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới, có thể khẳng định rằngquan hệ thương mại của Việt Nam với các nước khác đóng một vai trò vôcùng quan trọng. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với trên120 quốc gia trên thế giới, ký Hiệp định thương mại với trên 60 nước vàThoả thuận về Quy chế Tối huệ quốc với hơn 70 nước và vùng lãnh thổ,trong đó đặc biệt phải kể tới Mỹ. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ đã được cải thiện đáng kểtừ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995. Tuy nhiên, giá trịthương mại hai chiều chưa cao do chưa có một khung pháp lý điều chỉnhmối quan hệ thương mại giữa hai nước. Lộ trình bình thường hoá quan hệkinh tế giữa hai nước đã hoàn tất mà biểu hiện là việc đàm phán và ký kếtHiệp định thương mại Việt - Mỹ ngày 13/7/2000, trong đó hai bên cam kếtdành cho nhau ngay lập tức và vô điều kiện chế độ Tối huệ quốc. Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ được ký kết sẽ mở ra nhiều triểnvọng cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập thị trường Mỹ - một thị trường tiêuthụ khổng lồ với nhiều phân đoạn thị trường, không đòi hỏi quá khắt khe vềchất lượng. Bên cạnh những thuận lợi mà thị trường Mỹ mở ra đối với hàngxuất khẩu của Việt Nam, hàng hoá của ta còn gặp phải rất nhiều thách thứckhi tiếp cận thị trường này. 1
  • 2. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Vấn đề đặt ra hiện nay là cần có đối sách chiến lược gì, sử dụng biệnpháp chiến thuật nào để nền kinh tế có thể tận dụng triệt để các tác độngtích cực và giảm thiểu các tác động tiêu cực sinh ra từ Hiệp định Thươngmại Việt - Mỹ một khi Hiệp định có hiệu lực. Nhận thức được những tác động tích cực và những tác động tiêu cựcmà Hiệp định đem lại đối với hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta, emquyết định chọn đề tài: “HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT- MỸ VỚI VẤN ĐỀ XUẤT KHẨU HÀNGHOÁ CỦA VIỆT NAM SANG MỸ”. Nội dung của Chuyên đề thực tập tốt nghiệp được trình bày trong 3chương :Chương I :Những vấn đề chung về thương mạI quốc tế và Tổng quan vềHiệp định thương mại Việt - Mỹ.Chương II :Hiệp định thương mại Việt - Mỹ: Cơ hội và thách thức đối vớiviệc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang MỹChương III : Các giải pháp đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hoá của ViệtNam sang Mỹ Do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn, việc thu thập và xử lýthông tin gấp, nhiều khó khăn nên nội dung bài viết còn nhiều vấn đề chưađược đề cập và còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ýkiến và sự chỉ bảo thêm của thày cô và bạn bè về nội dung cũng như cáchtrình bày Chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Hy vọng rằng đề tài này sẽ đượccác khoá viên sau hoàn thiện. Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo T.S NguyễnThường Lạng – Giảng viên trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân và PGS.TSNguyễn Thiết Sơn cùng toàn thể cô chú trong trung tâm nghiên cứu bắc Mỹđã dành nhiều thời gian và tâm đắc đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp bổsung cũng như chỉnh lý nội dung nhằm giúp đỡ em hoàn thành bản bảnchuyên đề thực tập tốt nghiệp này. 2
  • 3. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com CHƯƠNG I:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT - MỸ I. Những vấn đề lý luân vê thương mại quốc tế . 1.khái niệm .Thương mại quốc tế là một quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thôngqua buôn bán nhằm mục đích kinh té tối đa .Trao đổi hang hoá là một hìnhthức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhaugiữa các người soan xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng nhăm tạo điều kiên cho các nướctham gia vào phân công lao động quốc tế ,phát triển kinh tế và làm giầu chođất nước. Ngày nay thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần làbuôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giưa các quốc gia vào phân công laođộng quốc tế .Vì vậy phải coi trọng thương mại quốc tế như là một tiêuđề ,một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chon một cáchtối ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế . Bí quyết thành công trong chiên lược phát triển kinh tế của nhiều nướclà mở rộng thị trường quốc tế và tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm hàng hoáchế biến có hàm lượng kỹ thuật cao. Thương mại quốc tế ,một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đốicủa đất nước phù hợp với su thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế ,mặtkhác phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơhội .Phả luôn luôn tinh toán cái có thể thu được so với cái phải trả khi thamgia buôn bán và phân công lao động quốc tế để có chính sách thích hợp .Vìvậy ,để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả nâu giài phải tăng cườngkhả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thộc lẫn nhau ngay cànglớn. Quan hệ kinh tế trong một nước là những quan hệ giữa những ngườitham gia vào quá trình soản xuất và lưu thông hàng hoá trên cơ sở phân công 3
  • 4. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comlao động và chuyên môn hoá trong nước .Quan hệ thương mạI quốc tế thểhiện sự phân công lao động và chuyên môn quốc tế ở trình độ kĩ thuật caovàquy mô lớn .nó phát triển trong một môi trường khàc hoan toàn các quan hệkinh tế trong nước về phương thức giao dịch buôn bán,pháp luật và nghiệpvụ.Thị trường trong nước và thi trương quốc gia là những phạm chù kinh tếkhác nhau .Vì vậy,các quan hệ kinh tế diễn ra giứa các chủ thể trong kinhdoanh thương mại quốc tế mang tính chất kinh té xã hội hết sức phức tạp,không thể cho phép nghĩ rằng cứ buôn bán trong nước được thì buôn bánvới nước ngoài cũng thành công . 2. Quá trình hình thành ,phát triển và lợi ích của thương mạiquốc tế . Thương mại quốc tế là sự trao đôỉi hàng hoá dịch vụ giữa các nướcthông qua buôn bán .Sự trao đổi đó là một hình thức của một quan hệ xã hộiphản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người soản xuất hànghoá riêng biệt của tưng quốc gia . Thương mại quốc tế có tính chất sống còn vì một lý do cơ bản là ngoạithương mở rộng khả năng soản xuất và tiêu dùng của một nước .Thương mạiquốc tế cho phép một nước tiêu dung tất cả các mặt hàng với số lương nhiềuhơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của khả năng soản xuất trong khinước thưc hiện chế độ tự cung tự cấp ,không mua bán. Tiền đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội với tiến bộkhoa học kĩ thuật ,phạm vi chuyên môn hoá ngày càng cao số sản phẩm vàdịch vụ để thoả mãn nhu cầu con người ngày một dồi dào ,sự phụ thuộc giữacác quốc gia ngày càng tăng . Thương mại quốc tế và chuyên môn hoá tăng nhanh đã đặt ra câuhỏi: Buôn bán để làm gì? Trước hết thương mại suất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiêncủa soản xuất giữa các nước cho nên chuyên môn hoá soản xuất một số mặt 4
  • 5. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comhàng cò lợi thế và nhập khẩu các mặt hàng khác từ nước ngoài mà soản xuấttrong nước kếm lợi thế chắc chắn đêm lạI lợi nhuận lớn hơn. Sự khác nhau về điệu kiện sản xuất ít nhiều cũng giải thích được sựhình thành thương mại quốc tế giữa các nước trong kinh doanh các mặt hàngnhư dầu lửa ,lương thực, dịch vụ du lịch .Song phần lớn số liệu tự nhiên vốncó của sản xuất ,Mỹ sản xuất đựơc ô tô tại sao nhập khẩu ô tô từ Nhật Bản ?vì sao nước ta sản xuất với xuất phát đIểm và chi phí sản xuất các mặt hàngđều lớn hơn chi phí sản xuất các cường quốc kinh tế khác vẫn có thể duy trìthương mại với những nước đó. Năm 1817 ,nhà kinh tế học David Ricảdo đã chưng minh: chuyênmôn hoá quốc tế có lợi cho tất cả các nước và gọi kết quả là quy luật lợi thếtương đối (hay lý thuyết về lợi thế so sánh ) . Quy luật lợi thế so sánh nhấn mạnh sự khác nhau về chi phí sản xuất,coi đó là chìa khoá của phương thức thương mại . lý thuyết này khẳng địnhnếu mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất các sản phẩm mà nước đó có lợithế tương đối hay có hiệu quả sản xuất só sánh cao nhất thí thương mại sẽ cólợi cho cả hai nước .Những lợi ích thương mại quốc tế do sự chênh lệch giữa các quốc gia về chiphí cơ hội .Chi phí cơ hội của một mặt hàng là số lượng các mặt hàng khácngười ta phảI từ bỏ để sản xuất hoặc kinh doanh thêm một đơn vị hàng đó . Giả sử nền kinh tế khép kín có các nguồn lực nhất định có thể là đầumáy video,áo sơ mi   càng sử dụng nhiều nguôn lực vào việc sản xuất đầumáy video ,thì càng cò ít nguồn lực để sử dụng vào việc sản xuất áo sơ mi.Chi phí cơ hội của đâu máy video là lương áo sơ mi bị hi sinh do dùngnguồn lực vào việc làm ra các đâu máy vi deo . Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tương đối đẻ làm ra các mặt hàngkhác nhau . sự chênh lệch giữa các nước về chi phí tương đối tronh sản xuấtquyết định phương thức thương mại quốc tế . Phương thức thương mại quốctế minh hoạ bằng quy luật lơi thế tương đối . 5
  • 6. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Quy luật lợi thế tương đối nói rằng :”các nước hay cá nhân nên chuyênmôn hoá trong việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà họ làm ra vớichi phí tương đối thấp hơn thì sẽ có lợi ích kinh tế lớn hơn”. Có nhiều nguyên nhân giải thích tai sao chí phí cơ hội hoặc chi phítương đối lại có thể khác biệt ở các nước khác nhau . Chúng bắt nguồn từ sựkhác biệt trong kỹ thuật công nghệ hoặc hiệu xuắt .Ví dụ ,hai nước Mỹ vàAnh đang sản xuất ra hai loại hàng hoá là máy video và áo sơ mi .Giả địnhrằng lao động là yếu tố sản xuất duy nhất có mức lợi tức không đổi theo quymô ,ta có : Bảng 1:lợi thé só sánh của Mỹ và Anh về máy vi deo và áo sơ mitheo giờ lao động .Hàng hoá Mỹ AnhMáy video(giờ/đv sản 30 60phẩm)áo sơ mi 5 6 Cần 30giờ ở Mỹ để sản xuất ra 1 máy video và 5giờ để sản xuất ra 1 áosơ mi. lao động ở Anh có hiệu suất kếm hơn ;cần 60giờ để làm ra 1 máyvideo và 6 giờ để sản xuất ra 1 áo sơ mi. Ta giả thiết rằng có sự cạnh tranh hoàn hảo ,do vậy giá cả các mặt hàngbằng chi phí biên của nó vì mức lợi tức không đổi theo quy mô nên chi phíbiên băng chi phí trung bình chính vì thế giá cả bằng chi phí trung bình củasản xuất .Do đó lao động là yếu tố sản xuất duy nhất nên trong ví dụ trênchi phí trung bình được tính bằng giá trị đầu vào lao động trên một đơn vịđầu ra sản lượng tức là chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm . Giả thiết rằng công nhân Mỹ kiếm được 6 USD/giờ ,ta có chi phí laođộng cho một đơn vị của hai loạI hàng của mỗi nước như sau;Bảng số 2:lợi thế tương đối của Anh và Mỹ về máy videovà áo sơ mitheo chi phí lao động.Chi phí lao động chomột đơn vị sản phẩm 6
  • 7. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Mỹ AnhMáy video 180 USD 120bảngÁo sơ mi 30 USD 12bảng Nếu không có thương mại quốc tế thì mỗi nước sẽ phải sản xuất cả hailoại hàng vào các chi phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm là giá trị nội địacủa mỗi sản phẩm bán ra ở thị trường trong nước . Đối với cả hai sản phẩm ,yêu cầu lao động cho một đơn vị sản phẩm ởMỹ thấp hơn môt cách tuyệt đối so với yêu cầu này ở Anh. Nhưng lao độngở Mỹ hiệu quả hơn một cách tương đối về máy video và áo sơ mi . Còn sốgiờ lao động để soản suất ra một máy video ở Anh nhiều gấp đôi so với Mỹnhưng ở Anh chỉ cần 6/5giờ lao động để sản xuất ra một cái áo sơ mi ở Mỹ .Chính những trênh lệch tương đối về năng xuất này là cơ sở cho thương mạiquốc tế . Còn nhiều lý do khác khiến cho thương mạI quốc tế rất quan trọngtrong thế giới hiện đại . Một trong những lý do đó có thể là thương mại quốctế tối cần thiết cho chuyên môn hoá để có hiệu quả kinh tế cao trong ngànhcông nghiệp hiên đại . chuyên môn hoá quy mô lớn làm chi phí sản xuấtgiảm và hiệu quả kinh tế theo quy mỗ sẽ được thực hiện trong hàng hoá cácnước sản xuât. Sự khác nhau về sở thích và mức cung cầu là những nguyên nhângiẫn tới việc xuất hiện thương mại quốc tế. Ngay cả trong trương hợp hiệuquả tuyệt đối ở hai nước giống hệt nhau ,thương mại quốc tế vẫn có thể sẩyra do sự khác biệt về sở thích . 3. phát triển thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay. a.Chủ trương mở cửa nền kinh tế. Có thể nói nhu cầu trao đổi háng hoã xuất hiện từ thời cổ đại nhưng chỉtừ khi ra đời nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa mới dẫn đến sự phá vỡtính chất khép kín của từng đơn vị kinh tế trong từng quốc gia và của từngnước . tự do thương mai gắn dan tộc với thi trường thế giới ,gắn phân cônglao động trong nước với phân công lao động quốc tế . Ngoại thương trở nên 7
  • 8. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comkhông thể thiếu được đối với sản xuất đó ,như LêNin nhận xét “không có thịtrương bên ngoài thí một số nước tư bản chủ nghĩa không thể sống được” Nước ta và một số nước khác đã có lúc xêm xét vấn đề độc lập kinh tếvà xây dựng một nền kinh tế hoàn chỉnh mang tính chất tự cung tự cấp đểtránh sự lệ thuộc vào bên ngoài . Thực tê đã chứng minh rằng không mộtquốc gia nào có thể đề ra cho mình một mục tiêu đầy tham vọngnhư vậy.Bởi vì không có quốc gia nào dù giầu mạnh như Mỹ hay Trung Quốc lại xâydựng một nền kinh tế tự cung tự cấp vô cùng tốn kếm về cả vật chất và thờigian. Mở rộng thị trường thương mại quốc tế và các mối quan hệ kinh tế đốingoạI khác lá vận dụng một trong những bài học kinh nghiệm quý báu rút ratừ thực tiễn của nước ta trong những năm qua về mở cửa nền kinh tế . Báocáo chính trị của ban chấp hành trung ương Đảng tại đại hội lần thứ V||| nhấnmạnh “tiếp tục thực hiện đường nối đối ngoại độc lập tự chủ ,mở rộng địaphương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nammuốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới ,phấn đấu vì hoàbình độc lập và phát triển . Hợp tác nhiều mặt song phương và đa phươngvới các nước ,các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độclập ,chủ quỳen và toàn vện lãnh thổ ,không can thiệp vào công việc nội bộcủa nhau ,bình đẳng ,cùng có lợi ,giảI quyết các vấn đề tồn tạI các tranh chấpbằng thương lượng “(văn kiện đạI hộiV|||ĐCSVN) Xu thế phát triển của nhiều nước trong nhưỡng năm gần đây là thay đổichiến lược tà đóng sang mở cửa , từ thay thế nhập khẩu sang hướng vàoxuất khẩu. Nền kinh tế đóng cửa là nền kinh tế tự cung tự cấp sản xuất thay thếnhập khẩu . Đặc trưng của nền kinh tế này là sản xuất trực tiếp tiêu dùng .Tổchức xã hội của lao động diễn ra trong phạm vi hẹp ,mang nặng tính bảothủ .Nó không phù hợp với các quy luật phát triển khách quan của thế giới.Chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá là cả quá trình khó khănphức tạp vì tính chất tri tuệ ,bảo thủ của nền kin tế tự nhiên. Chính sách “đónh cửa “kông thể tồn tại lâu dài do những lý do sau : 8
  • 9. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com -Trong những điều kiện quốc tế quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càngcao,sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu , các nước phụ thuộc lẫnnhau và tham gia tích cực hơn vào các quá trình liên kết kinh tế và hợp tácquốc tế ,một chính sách biệt lặp “đóng cửa “là không thích hợp. -Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh trở thành nhân tốquyết định sự phát triển của sản xuất .Trong khi đó ,chính sách “đóng cửa”đãhạn chế khả năng tiếp thu kĩ thuật mới ,làm cho nền kinh tế nông nghiệp lạchậu soản xuất nhỏ là phổ biến không có nguồn bổ sung kỷ thuật tiên tiến.Kết quả là tất yếu là năng xuất lao động thấp ,hiêu qua kếm ,khả năng cạnhtranh yếu,tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm. Hầu hết các nước nghèo ,lạc hậuhoặc đang phát triển đều thiếu vốn.Trong khi đó,quá trình phát triển kinh tếđòi hỏi nhập khẩu một lượng ngày một nhiềumáy móc thiết bị và nguyênliêụ công nghiệp.Nếu không phải phát triển mạnh thương mại quốc tế thì vấnđề thiếu hụt trong khâu thanh toán ngày càng lớnvà trở nên gay găt . -Thị trường trong nước nhỏ hẹp,không đủ đảm bảo cho sự phát triểncông nghiệp với qui mô hiện đại,sản xuất hàng loạt ,do đó không tạo thêmcông ăn việc làm –vấn đề mà các nước nghèo luôn luôn phải giải quyết. -Trong thế giới hiện đại,không có một quốc gia nào bằng chính sáchđóng cửa của mình lại phát triển có hiệu quả kinh tế trong nước. Muốn pháttriển nhanh mỗi nước không thể đơn độc dựa vào nguồn lực lượng của mìmhmà phải tận dụng các thành tựu kinh tế khoa học kỹ thuật của loài người đểphát triển .Nền kinh tế mở cửa sẽ mở ra hướng phát triển mới tạo điều kiệnkhai thác lợi thế ,tiềm năng sẵn có trong nước nhằm sử dụng phân công laođộng quốc tế một cách có lợi nhất . -Đối với những nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp như nướcta, những yếu tố tiềm năng là tài nguyên thiên nhiên và lao động .Còn nhữngyếu tố thiếu hụt làvốn, kỹ thuật ,thị trường và khả năng quản lý .Chiến lượchướng vào xuất khẩu thực chất là giả pháp mở cửa nền kinh tế nên kinh tếnhằm tranh thủ vốn kỹ thuật của nước ngoài ,kết hợp chúng với tiềm năngtrong nước (lao động và tài nguyên thiên nhiên )để tạo sự tăng trương nhanhcho nền kinh tế góp phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với nước giầu . Với định hướng phát triỉn kinh tế xã hội của đảng ,chính sách kinh tếđối ngoại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng phải được coi là chinhsách cơ cấu có tầm qan trọng chiến lược nhằm phục vụ quá trình phát triểnnền kinh tế quốc dân . Chính sách xuất khẩu phảI tranh thủ được tới mức cao 9
  • 10. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comnhất nguồn vốn kỹ thuật,công nghệ tiên tiến của nước ngoài nhằm thúc đẩysản xuất hàng hoá phát triển ,giải quyết việc làm cho người lao động ,thựchiện phương châm phát triển thương mại với nước ngoài để đẩy mạnh sảnxuất trong nước ,vừa có sản phẩm để tiêu dùng vừa có hàng hoà để xuấtkhẩu. Cho đến nay, chúng ta đã gặt hái được những kết quả đáng mừng từchính sách thương mại ,giao lưu kinh tế với bên ngoài .Nước ta đang từngbước chuyển mình với nhịp độ sản xuất mới bằng những công nghệ khoa họctiên tiến.Tin tưởng rằng với những hướng đi đúng đắn và sự lãnh đạo sángsuốt của Đảng và nhà nước ,Việt Nam sẽ trở thành mắt xích quan trọng trongnên kinh tế thế giới. Như vậy ,thương mại quốc tế là tất yếu khach quan tạo ra hiệu quả kinhtế cao nhất trông nền sản xuất của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới .Chếđộ tư bản chủ nghĩa ra đời ngăn chặn thị trương dân tộc với thị trương thếgiới ,gắn phân công nao động trong nước với phân công lao động quốc tế :thương mại và thị trưòng thế giới đã trở thành tiền đề của phương thức sảnxuất hàng hoá .Ngày nay trong đIều của thế giới hiện đại khi quá trình quốctế hoá đời sống kinh tế trở nên sâu rộng hơn bao giờ hết ,khi cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật công nghệ đã phát triển đến một trình độ cho phép có thểphân chia các công đoạn của quá trình sản xuất thành các khâu khác nhau vàphân bố những vị trí xa nhau thì không nước nào có thể đóng cửa nền kinh tếtự mình thực hiện một chính sách biệt lập khỏi mối quan hệ cộng đồng.Nhận thức rõ đIều đó đảng và nhà nước ta hướng đI mới trong lối cuả mình 4.các lý thuyết về thương mại quốc tế.4.1.Lý thuyết cổ điển4.1.a,Chủ nghĩa trọng thương .Chủ nghĩa trọng thương xuất hiện và phát triển ở châu Âu,mạnh nhấtlà ởAnh và Pháp tư thế kỷ15,16 và thịnh hành vào cuối thế kỷ 17 đến giữa thếkỷ 18. Các học giả tiêu biểu của chủ nghĩa này là Jean Bodin, Melon, (Pháp)và Thomas, Munn, (Anh) Tư tương cơ bản của chủ nghĩa trọng thương coivàng và các kim loại quý là đại biểu cho sự giầu có của các quốc gia . Để cósự giầu có này các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau các sản phẩmđặc thù của mình .Lợi nhuận buôn bán theo chủ nghĩa trọng thương là kếtquả của sự trao đổi không ngang giá và lương gạt giữa các quốc gia .Thươngmại quốc tế chỉ có lợi cho một bên và gây ra thiệt hại cho bên kia “ dân tộc 10
  • 11. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comnày làm giầu bằng cách hi sinh lợi ích của dân tộc kia “. Theo tư tưởng đóthìchính phủ là chủ thể chủ yếu của quan hệ thương mại quốc tế. Để có thể cónhiều vàng và kim loại quỳ thì quốc gia này phải bóc lộtt quốc gia khác ,ngoài ra chính phủ phải sử dụng các công cụ để dẩy mạnh xuất khẩu và hạnché nhập khẩu bằng cách tăng thuế nhặp khẩu . Lý thuyết về thương mại quốc tế của chủ nghĩa trọng thương đã đạtđược những thành tựu đáng kể ,tuy nhiên không tránh khỏi những hạn chế.Nhìn chung ,lý thuyết trọng thương đã sớm đánh giá được tầm quan trọnhcủa thương mại quốc tế ,nó khác với trào lưu tư tưởng kinh tế phong kiếnthời bấy giò đề cao nền kinh tế tự cung tự cấp .Vai trò của nhà nước với tưcách la chủ thể điều chỉnh quan hệ buôn bán của một nước với nước khác đãđược coi trọng .tuy vậy lý thuyết về thương mại quốc tế này còn đơn giản ,íttính chất lý luận ,thương đựơc nêu lên dưới hình thức lời khuyên thực tiễn vềchính sách kinh tế ,lập luận mang tính chất kinh nghiệm chưa cho phép giảithích bản chất của thương mại quốc tế 4.1.b,Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.Lý thuyết tuyệt đói của AdsmSmỉtha đời gần với 3cuộc cách mạng : Cáchmạng công nghiệp ,cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp .lý thuyết này đượcxây dựng trên cởo lý thuết về buôn bán tự do được phát triển vào thời kìnày .Theo Adamsmith các quốc gia sẽ thu được lợi khi tham gia vào thươngmại quốc tế dựa trên lọi thế tuyệt đối của quốc gia đó. Việc sử dụng chính khái niệm lợi thế tuyệt đối này là cách giải thíchđơn giản nhất về cách ứng sử trong buôn bán .Rõ ràng việc buôn bán giữacác quốc gia khác bị thiệt từ thương mại thì họ sẽ từ chối ngay . Giả sử thếgiới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai mặt hàng giốngnhau. Quốc gia tứ nhất có lợi tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá X quốcgia thứ hai có lợi tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hoá ýo sánh với quốc giathứ nhất . Nếu mỗi quốc gia tiến hành chuyên môn hoá trong việc sản xuấtmột mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối ,sau đó trao đổi thì cả hai quốc giacùng có lợi .Trong quá trình này ,các nguồn lực sản xuất của cả thế giớisẽđược sử đụng một cách hiệu quả nhất ,do đó tổng sản phẩm của thế giới sẽgia tăng . Sự tăng thêm của các sản phẩm của toàn thế giới là nhờ vào sựchuyên môn hoá và được phân bố giưã hai quốc gia theo tỷ lệ trao đổi thôngqua ngoai thương. Thực chất về lợi thế tuyệt đối có tể mimh hoạ thông qua ví dụ sau: 11
  • 12. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Bảng số 3 :Lợi thế tuyệt đối của Việt Nam và Đài Loan về mặt hàng gạovà thịt bò theo sản phẩm Quốc gia Việt Nam Đài Loan Sản phẩm toàn Sản phẩm toànHàng thế giới trước thế giới sau khiHoá khi có TM có TMGạo(Kg/h) 6 1 7 12Thịt bò(Kg/h 4 5 9 10 12
  • 13. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 13
  • 14. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comNhư vậy ,Việt Nam có lợi thế trong việc sản xuất gạo so với Đài Loan cònĐài Loan có lợi thế trong việc sản suất thịt bò . Việt Námẽ chuyên mônhoá ,trong việc trông lúa còn Đài Loan sẽ chuyên môn hoá trong việc nuôIbò ,hai nước trao đổi sản phẩm trên cho nhau . Nừu tỷ lệ trao đổi quốc tế là 6 gạo đổi 6 thịt bò thì Việt Nam sẽ tiếtkiệm được 2kg thịt bò do mỗi giờ công ở Việt Nam chỉ sản xuất được 4kgthịt bò và tỷ lệ trao đổi nội địa là :6 gạo =4 thịt bò .Tương tự như vậy ,6gạomà Đài Loan nhận được từ Việt Nam tương đương với 6giờ công lao động ởĐài Loan và có thể tạo ra 30kg tịt bò như vậy Đài Loan được lợi lợi30-6=24kg.tỷ lệ trao đổi nội địa là 2gạo=5thịt bò .Tỷ lệ trao đổi quốc tế sẽlà: > tỉ lệ trao đổi quốc tế >1/5 Tuy nhiên lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích cho một phần nhỏ củathương mại quốc tế hiên nay ,đó là thương mại giữa các nước đang phát triểnvà các nước phát triển .Phần lớn thương mại thế giới ,đặc biệt là thương mạigiữa các nước phát triển không thể giảI thích được băng lợi thế tuyệt đối. 4.1.c,Lý thuyết về lợi thế tương đối. Theo David Ricado nếu một quốc gia bất lợi trong việc sản xuất cácmặt hàng thì có thể tham gia vào thương mại quốc tế nếu biết nự chọn mặthàng thích hợp có lợi thế sóánh .Lợi thế sóánh là lợi thế đạt được của mộtquốc gia .nếu quốc gia đó chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sảnphẩm thể hiện mối tương quan thuận lợi hơn so với quốc gia khác về cùngmặt hàng đó và nhập khẩu nhữnh mặt hàng có tính chất ngược lại .Nếu quốcgia nào có hiệu quả thấp trong việc sản xuất tất cả các mặt hàng thì quốc giađó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và nhập khẩu các loại hàng hoá mà việcsãnuất ra chúng ít bất lợi nhất;nhập khẩu hàng hoá bất lợi nhất .Mô hình lợithế tương đối có thể minh hoạ qua ví dụ sau: 14
  • 15. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Bảng số 4 : Lợi thế tương đối của Việt Nam và Đài Loan về thépvà vảI theo sản phẩm lao động. Quốc gia Việt Nam Đài LoanHàng hoáThép (Kg/g) 1 6Vải (m) 2 4 Đài Loan có lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng ,Việt Nam thì không cólợi thế tuyệt đối .Nừu theo quan đIúm của AdamSmiththì Việt Nam khôngnhập khẩu mặ hàng nào và Đài Loan xuất khẩu cả hai mặt hàng ;còn theoDavid Ricảdo thì Việt Nam có thể tham gia thương mạI quốc tế nếu nựachọn những mặt hàng có lợi thế so sánh. Xét quan điểm tương quan năng xuất <tqchi phí > thì tương quanngành thép năng xuất lao động của Đài Loan gấp 6 lần năng xuất lao độngcủa Việt Nam . Trong nghành vải năng xuất lao động của Đài Loan gấp hailần năng xuất lao động cua Việt Nam . Vậy Đài Loan lựa chọn chuyên mônhoá thép còn Việt Nam chuyên môn hoá vải . Tỷ lệ trao đổi quốc tế :< Tỷ lệ trao đổi quốc tế < Giả sử tỷ lẹ trao đổi quốc tế là 1/1 (6kg thép đổi 6 m vải )thì Đài Loansẽ lợi 2m vải, tức tiết kiệm được ẵ giờ công . Việt Nam nhận được 6kg théptương đương 6 giờ công ,Việt Nam sử dụng 6 giờ công để sản xuất vải thìqua trao đổi với Đài Loan sẽ được lợi 6m vải hay tiết kiệm được 3giờcông .Nừu trao đổi theo tỷ lệ của Việt Nam thì 6kg thép đổi lấy 13m vải còntheo tỷ lệ của Đài Loan thì 6thép lấy 4vải .Nếu tỷ lệ trao đổi gần tỷ lệ traođổi nội địa của Đài Loan thì Việt Nam càng có lợi và ngược lại ,nếu gần tỷlệ của Vệt Nam thì Đài Loan càng có lợi . Vậy khoảng dao động của tỷ lệtrao đổi quốc tế là: 15
  • 16. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 4m vải <6kg thép <12m vải. Trong trường hợp 6kg thép đổi 6m vải thì Đài Loan được 2m vải cònViệt Nam sẽ được 6m vaỉ . Nếu trao đổi 6kg thép lấy 8m vảI thì Đài Loanđược lợi 4m vải còn Việt Nam cũng được lợi 4m vải . Như vậy khi tỷ lệ traođổi quốc tế thay đổi sẽ dẫn đến sự phân phối lại nguồn lợi từ thương mạigiữa các nước tham gia. 4.1.dCách tiếp cận của Haberler về lợi thế tương đối . Lợi thế tương đối ,cách tiếp cận của Hablẻlẻ về lợi thế tương đối . Xét từ góc độ chi phí cơ hội theo quan điểm của Hablerlerlowij thếtương đối chính xác hơn nhiều so với cách lý giải của D Ricảdotheo thuyếtgiá trị lao động . Theo thuyết này thì chi phí cơ hội của một hàng hoá là khốilượng các hàng hoá khác phải cắt giamr để nhường đủ số nguồn lực sản xuấtthêm một đơn vị hàng hoá thứ nhất. Quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp về một mặt hàng nào đó thì quốcgia đó sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng này và ngược lại. Bảng số5: Lợi thế tương đối của Việt Nam và Đài Loan về gạo vàthịt bò theo sản phẩm lao động . Quốc gia Việt Nam ĐàI LoanHàng hoáGạo (Kg/h) 6 1 4 5 -Đối với Việt Nam: +Chi phí cơ hội đẻ sản xuất gạo :1kg gạo = 5kg thịt bò. +Chi phí cơ hội để sản xuất thịt bò: 1kg thịt bò =3/2 kg gạo . -Đối với ĐàI Loan : +Chi phí cơ hội để sản xuất gạo : 1kg gạo = 5kg thịt bò . 16
  • 17. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com +Chi phí cơ hội để soản xuất thịt bò :1kg thịt bò = 1/5 kg gạo . Đài Loan có lợi thế về thịt bò nhưng bất lợi về goạ còn Việt Nam có lợithế về gạo nhưng bất lợi về thịt bò. ≤ Tỷ lệ trao đổi quốc tế ≤ 4.1.e. Đường giới hạn tiềm năng sản xuất của các quốc gia trongđiều kiện chi phí cơ hội không đổi . Việt Nam Đài Loan Gạo Thịt Thịt bò Gạo 120 0 100 0 90 20 80 4 60 40 60 8 30 60 40 12 0 80 20 16 0 20 Trong điều kiện chi phí cơ hội không thay đổi thì đường giới hạn tiềmnăng sản xuất của một quốc gia là đường thẳng: thị chi phí cơ hội của Việt Nam. Gạo 120 Chi phí cơ hội tăng dần 17
  • 18. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Đồ thị :2 chi phí cơ hội của Đào Loan Gạo 20 Chi phí cơ hội giảm dần 16 Cố định 12 8 Chi phí cơ họi tăng dần 4 20 40 60 80 100 Thịt bò Đường giới hạn khả năng sản xuất của các phía khi có thương mại. Đồ thị3: Đường giới hạn tiềm năng sản xuất của Việt Nam Gạo 18
  • 19. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 150 Trước thương mại 20 Sau thương mại 20 40 60 80 100 Thịt bò Tỷ lệ trao đổi quốc tế của hai quốc gia nằm ở trong khoảng 2tỷ lệ traođổi nội địa: < Tỷ lệ trao đổi quốc tế < Đài Loan sẽ thu được lợi ích tối đa nếu trao đổi tỷ lệ của Việt Nam. Việt Nam thu được lợi ích tối đa nếu trao đổi tỷ lệ của Đài Loan. Nếu trao đổi hàng hoá trên cơ sở lợi thé so sánh thì các quốc gia tăngđược sản xuất và tiêu dùng .Vì vậy ,các quốc gia có đIều kiện tăng trưởngnền kinh tế và điều chỉnh cơ cấu . Đường giới hạn khả năng sản xuất của ĐàiLoan sau thương mại song song với đương giới hạn khả năng sản xuất củaViệt Nam trước thương mại ;đường giới hạn của Viêt Nam sau thương mạisong song với đương giới hạn khả năng sản xuất của Đài Loan trước thươngmại. 4.1.g.lý thuyết Hekshẻ-Ohlin về lợi thế tương đối . -Các giả định lý thuyết Hekshẻ-Ohlin là thế giới có hai quốc gia ,haihàng hoá ,hai yếu tố lao động và tư bản. Giả định này là bước mở rộng củamô hình D. Ricardo . - Một hàng hoá chứa nhiều lao động và tư bản trong một hàng hoángười ta thường xem xét tỷ lệ K/L: 19
  • 20. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com -Nếu K/N lớn thì hàng có hàm lượng tư bản cao . -Nếu K/N nhỏ thì hàng hoá này có hàm lượng lao động cao. - Công nghệ sản xuất ở hai quốc gia không thay đổi ,chi phí sản xuấtkhông đổi . -Tỷ lệ thu hồi vốn theo quy mô là hằng số . -Cạnh tranh hoàn hảo trên thị trương các yếu tố đầu vào và các yếu tốđầu ra . Điều này có ý nghĩa là giá cả yếu tố đầu vào và đầu ra được quyếtđịnh bởi cung và cầu . - không có chi phí vâni tải ,không có hàng rào thuế quan và các trởngại thác trong buôn bán của các quốc gia .-Thương mại hoàn toàn tự do . Để xét xem hàng hoá giầu lao động hay giầu tư bản cần xem xét tỷ lệK/L: hàng hoá nào có tỷ lệ K/L cao thì hàng hoá này được coi là giầu tưbản ;hàng hóa có tỷ lệ K/L thấp hàng hoá này gọi là hàng hoá giầu lao động . Đò thị 5:biểu diễn hàng hoá giầu tư bản và hàng hoá giầu lao độngTư bản (K) hàng hoá giầu tư K/L bản hàng hoá giầu lao động Lao động (L) 20
  • 21. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Để xem xét hàng hoá sử dụng nhiều lao động hay hàng hoá sử dụngnhiều tư bản phải căn cứ vào chi phí lao động và tư bản để sản xuất ra hànghoá đó . Tỷ lệ giữa tư bản và lao động là tỷ lệ tương dối được xêm xét từ góc độtừng sản phẩm cụ thể ,nếu ở góc độ quốc gia thì để biết được một quộc giagiầu lao động hay giầu tư bản cần phải căn cứ vào giá cả của lao động haygiá cả của tư bản . Giá cả của tư bản được thể hiện ở lãi xuất (r) .Giá cả củalao động được tính bằng tiền lương (w) ,nếu tỷ lệ r/w cao thí đâu là quốc giagiầu lao động bởi lý do thiếu vốn cho nên giá vốn cao giá lao động thấp . K/Lcao thì đây là quốc gia giầu vốn R/Wthấp đây là quốc gia giầu tư bản vì do dư thừa vốn nên lãi suấtthấp và giá lao động cao. Hàng hoá X là hàng hoá sử dụng nhiều lao động còn hàng hoá Ylàhàng hoá sử dụng nhiều vốn . Biểu diễn đường giới hạn khả năng sản xuấtcủa hai quốc gia : một quốc gia giầu lao động , một quốc gia giầu vốn. Quốc gia giầu lao động sẽ sử dụng để sản xuất hàng hoá giầu lao độngvà quốc gia giầu vốn sư dụng sản xuất hàng hoá nhiều vốn. Đồ thị 6Đường giới hạn khả năng sản xuất của hai quốc gia Y Quốc gia 2 Quốc gia 1 21
  • 22. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com X Định lý Hekshẻ-Ohlin. Một quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu những loại hàng hoá cần sửdụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn đồng thời nhập khẩu những loại hànghoá mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm ỏnước đó ,đIều này có nghĩa là một nước tương đối giầu lao động sẽ xuấtkhẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu hàng hoá sử ụng nhiềuvốnvà ngược lại. Cấu trúc cân bằng của Hekshẻ-Chlin. 22
  • 23. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Giá cả hàng hoá GIá cả yếu tốCông nghệ Nhu cầu dẫn xuất về yếu Cung về yếu tố Nhu cầu về hàng hoá cuối cùng Phân phối theo sở hữu Sở thích về yếu tố sản xuất Để đánh giá sở thích con người sử dụng đường bàng quan tập hợp cácđiểm có độ thoả dụng như nhau . Đồ thị 7: biểu diễn đường bàng quan: 23
  • 24. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Bắt đầu từ sở hữu của từng cá nhân, cộng đồng người hoặc từng quốcgia cùng với thu nhập xác định về nhu cầu hàng hoá cuối cùng. Nhu cầu vềhàng hoá cuối cùng làm căn cứ để xác định nhu cầu dẫn xuất về yếu tố nhưlao động đất đai, vốn,công nghệ trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cảđược xác định trên cơ sở cung và cầu. Vì vậy gía cả các yếu tố sản xuất đượcxác định trên cơ sở cung về các yếu tố và nhu cầu về các yếu tố. Giá cả cácyếu tố do tác dụng của công nghệ sẽ quyết định đến gía cả hàng hoá cuốicùng. Sự khác biệt gữa cácquốc gia về mức giá này được coi là nguyên nhântrực tiếp của thương mại quốc tế và quyết định hangf hoá nào sẽ được đưa ratrao đổi . Dưới góc đôi tiền tệ thì sự khác nhau vè giá cả là nhân tố quan trọngnhất để xác định moo hình thương mại của quốc gia . Giả thiết của HekSher-Ohlin là sở thích và thu nhập của các quốc gianhư nhau , công nghệ không đổi nên sư khác nhau về cung dẫn đến sự khácnhau về giá cả các yếu tố đó . Đây là cơ sở dẫn đến sự khác về giá cả hànghoá cuối cùng . Như vậy nguồn lực phát triển của các quốc gia là cơ sở củahoạt động trao đổi của các quốc gia . 4.1.h. Định lý về sự cân bắng giá cả các yếu tố sản xuất . 24
  • 25. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Thương mại tự do giữa hai quốc gia sẻ làm cho giá cả các yếu tố sảnxuất ở các quốc gia đó trở nên cân bằng và nếu hai quốc gia cứ tiếp tục sảnxuấthai mặt hàng đó thì gía cả các yếu tố sản xuất của hai quốc gia sẽ thật sựbằng nhau. Mô hình cân bằng giá cả các yếu tố sản xuất: Tiền lương (W) Chi phí vải LãI suất ( r ) Chi phí thếp Chi phí tương đối Tiền lương Việt Nam ĐàI Loan LãI suất Tiền lương Quốc gia 1 Quốc gia 2 Lãi suất Định lý Stolper-Samuelson.Một sự gia tăng về giá cả tương đối của mặt hàng cần nhiều lao động sẽ làmtăng mức tiền lương trong giá cả của hai mặt hàng v à làm giảm mức lãi xuấtvới cả hai mặt hàng. 25
  • 26. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com4.1.i. Kiểm nghiệm khả năng vận dụng của các nghịch lý lý thuyết.(Định lý Leontief).Leontief đã tiến hành kiểm tra bằng mô hình thực nghiệm của Heksher -Ohlin. Leontief cho rằng Mỹ là một quốc gia giàu có về tư bản do đó hànghoá xuất khẩu của Mỹ xuất khẩu chưa nhiều tư bản hàng hoá xuất khẩu củaMỹ giàu lao động. Tuy nhiên kết quả thực tế cho thấy rằng hàng hoá nhậpkhẩu của Mỹ chưa nhiều hơn 30% tư bản so với xuất khẩu. Kết quả nàyngược lại với mô hình của Heksher - Ohlin nên nó được coi là nghịch lýLeontief.Nghịch lý này được g iải thích bằng nhiều cách khác nhau nhưng đến nayvẫn còn tồn tại để bảo vệ cho lý thuyết Heksher - Ohlin có thể dựa vào cáclập luận sau:- Số liệu Leontief thiếu chính xác vì các yếu tố này bị biến dạng vì các yếu tốchủ quan.- Trong nghịch lý Leoitief chỉ sử dụng 2 yếu tố lao động và tư bản nên bỏqua yếu tố tài nguyên, đất đai, khí hậu.- Do chính sách thuế quan của Mỹ ảnh hưởng đến nghiên cứu của Leontief.- Leontief chưa t ính đến tư bản đầu tư vào con người mà chỉ đề cập đến tưbản đầu tư vào vật chất.4.2. Lý thuyế hiện đại.4.2.a. Lý thuyến về chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm.Lý thuyết này giải thích nguyên nhân của hoạt động thương mại quốc tếthông qua các giai đoạn chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm. Khi sản phẩm ởvào giai đoạn suy giảm, triệt tiêu trên vòng đời của nó thì nó được bán ranước ngoài để kéo dài vòng đời đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đâychính là nguyên nhân của hoạt động thương mại quốc tế.Đồ thị số 9: Chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm. Doanh số lợi nhuận 26
  • 27. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Suygiảm Phát triển Chín muồi triệt tiêu đổi mới bão hoà Thời gian4.2.b. Lý thuyết về đầu tư. Hoạt động đầu tư quốc tế là nền tảng cho hoạt động thương mại bởi vì đầutư cho phép khai thác lợi thế đầy đủ và triệt để hơn, bao gồm: Nguồn lực,công nghệ, thị trường, uy tín, danh tiếng, nhãn hiệu, kinh nghiệm quản lý đểthu lợi ích từ thị trường nước ngoài và vượt qua các hàng rào thuế quan. Dođó có thể nói đầu tư quốc tế là sự thay thế tốt hơn cho thương mại quốc tế.II.Tổng quan về hiệp địng thương mại việt mỹ 1. BỐI CẢNH CUỘC ĐÀM PHÁN THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ 1.1. BỐI CẢNH CHUNG. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành mộttrong những xu thế nổi bật của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Toàn cầuhoá mà trọng tâm là toàn cầu hoá kinh tế đã tác động mạnh mẽ đến sự pháttriển thương mại trên phạm vi toàn thế giới. Cái đích cuối cùng mà quá trìnhtoàn cầu hoá hướng tới là một nền kinh tế toàn cầu thống nhất không cònbiên giới quốc gia về kinh tế . Toàn cầu hoá kinh tế là quá trình liên kết, hợp nhất của các nền kinh tếquốc gia vào nền kinh tế thế giới trên tất cả các lĩnh vực: sản xuất, thương 27
  • 28. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.commại, đầu tư, tài chính, thông tin, vận tải ... với trình độ phát triển cao, dẫnđến sự hình thành các hệ thống sản xuất, phân phối, hệ thống tài chính toàncầu, các mạng lưới thông tin liên lạc và các hệ thống giao thông vận tải toàncầu, trong đó các công ty xuyên quốc gia, các hệ thống tư nhân và các trungtâm kinh tế đóng vai trò nòng cốt. Toàn cầu hoá kinh tế là bước phát triển cao của quá trình quốc tế hoáđời sống kinh tế - bước phát triển tất yếu khách quan được quyết định bởi sựphát triển không ngừng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thếgiới. Nhờ có công nghệ toàn cầu phát triển, sự hợp tác giữa các quốc gia, cáctập đoàn kinh doanh có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phối trên phạm vitoàn cầu. Một nền công nghệ toàn cầu xuất hiện là cơ sở cho các quan hệkinh tế toàn cầu phát triển. Đầu tiên là các quan hệ thương mại, chi phí vậnchuyển liên lạc ngày càng giảm đi thì khả năng bán hàng đi các thị trường xacàng tăng lên, thương mại toàn cầu càng có khả năng phát triển. Đồng thờiquá trình phân công, chuyên môn hoá sản xuất càng có thể diễn ra giữa cácquốc gia và châu lục. Các quan hệ sản xuất, thương mại có tính toàn cầu đãkéo theo các dòng tiền tệ, dòng vốn, dịch vụ...vận động trên phạm vi toàncầu. Công nghệ thông tin đã làm cho các dòng vận động này thêm náo độngvà nhanh nhậy. Cơ cấu kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ do có sự bùng nổtự do hoá thương mại toàn cầu. Từ năm 1950 đến 1996, tổng sản phẩm thếgiới tăng 6 lần trong khi khối lượng mậu dịch tăng 16 lần. Sản lượng côngnghiệp tăng 9 lần trong khi khối lượng trao đổi các sản phẩm công nghiệptăng 31 lần. Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP của thế giới trong thập kỷ 90 caohơn 60% so với tỷ lệ ở năm 1913. Năm 1997, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụthương mại thế giới đạt 6500 tỷ USD - 1/5 sản lượng toàn cầu. Thương mạiđiện tử xuất hiện với khả năng ngày càng phát triển và đang trở thành mộtloại hình buôn bán toàn cầu đầy triển vọng. Sự phát triển của công nghệ toàncầu và các quan hệ kinh tế toàn cầu đang ngày càng xung đột với các thể chếquốc gia, với các rào cản quốc gia. Sự phát triển của lực lượng sản xuất vàcác quan hệ kinh tế toàn cầu đang công phá các bức tường thành quốc gia.Bước vào thập kỷ 90 các bức tường thành quốc gia này đã bị phá vỡ ở cácquốc gia trong Liên minh Châu Âu, ở các quốc gia Bắc Mỹ với mức độ thấphơn. Các quốc gia ASEAN đã cam kết giảm bớt rào cản quốc gia. Các nước 28
  • 29. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comthành viên của Tổ chức Thương mại thế giới cũng đã cam kết một lộ trình dỡbỏ hàng rào này, tuy nhiên hàng rào thương mại vẫn còn rất mạnh ở nhiềunước và ở ngay cả Liên minh Châu Âu hay Bắc Mỹ với những hình thứcbiến tướng đa dạng đã và đang cản trở quá trình toàn cầu hoá. Những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều, trở nên bứcxúc, đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu của các quốc gia. Chúng ta có thểdẫn ra hàng loạt các vấn đề toàn cầu như: thương mại, đầu tư, tiền tệ, dân số,lương thực, năng lượng, môi trường …Môi trường toàn cầu ngày càng bị pháhoại, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày một cạn kiệt; dân số thế giớiđang gia tăng nhanh chóng trở thành một thách thức toàn cầu; các dòng vốntoàn cầu vận động tự do không có sự phối hợp điều tiết đã làm nảy sinh cáccuộc khủng hoảng liên tiếp ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á trong thập kỷ90. Vì vậy cần thiết phải có sự phối hợp toàn cầu để đối phó với các tháchthức đó. “Bàn tay hữu hình” của các Chính phủ chỉ phát huy tác dụng ở cácquốc gia riêng lẻ còn trên phạm vi toàn cầu hiện đang có quá nhiều “bàn tayhữu hình” va đập vào nhau chứ chưa có một “bàn tay hữu hình” chung làmchức năng điêù tiết toàn cầu. Ngoài ra chiến tranh lạnh chấm dứt vào đầuthập kỷ 90 đã kết thúc sự đối đầu giữa các siêu cường, tạo ra một thời kỳ hoàbình, hợp tác và phát triển mới. Toàn cầu hoá là một quá trình tất yếu trong lịch sử phát triển xã hộiloài người, là hệ quả của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, của cácphương tiện khoa học công nghệ. Toàn cầu hoá, khu vực hoá dẫn đến một hệquả là hình thành xu thế hội nhập quốc tế. Trong xu thế toàn cầu hoá và hộinhập quốc tế, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước, các khu vực khôngngừng gia tăng, tạo điều kiện đẩy lùi nguy cơ chiến tranh thế giới, duy trìmôi trường hoà bình và ổn định, tạo những điều kiện và cơ hội thuận lợi chosự hợp tác trên quy mô khu vực và toàn cầu vì mục tiêu phát triển bền vữngcủa mỗi nước và của toàn thế giới. Việc tự do hoá thương mại, huỷ bỏ dần các hàng rào thuế quan và phithuế quan, xoá bỏ mọi phân biệt đối xử trong quan hệ buôn bán quốc tế đãđánh dấu sự hoà nhập các nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi vàomột hệ thống đa phương. Như vậy là thời đại của hàng rào thuế quan cao, 29
  • 30. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comcủa cách thức đóng cửa ở một số thị trường lớn, của một số đặc quyền ít ỏitrong mậu dịch quốc tế dành cho các nước kém phát triển đã chấm dứt. Buônbán quốc tế chuyển sang một thời đại mới đó là mở rộng tự do buôn bánđược đánh dấu bằng sự ra đời của WTO và những ưu đãi thương mại trongkhuôn khổ hợp tác cùng có lợi . 1.2 . Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Trong xu thế toàn cầu hoá, thương mại hoá phát triển trên phạm vitoàn thế giới, vấn đề hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan. Con đườngthích hợp với nước ta trong điều kiện hiện nay là hội nhập quốc tế để khaithông thị trường trong nước với khu vực và thế giới, tạo ra môi trường kinhdoanh có khả năng cạnh tranh cao. Việt Nam đang trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải tiếp tục mở rộng hợp tác quốctế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy nội lực, tranhthủ tối đa ngoại lực, xây dựng nền kinh tế mở kết nối với khu vực và thếgiới. Với đường lối đối ngoại rộng mở, Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cảcác nước, sẵn sàng mở rộng hợp tác, quan hệ hữu nghị với các nước trên thếgiới nhằm tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng Chủ nghĩaxã hội, bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu vì hoà bình, ổn định và phát triển. Hội nhập thực chất là quá trình tham gia vào cạnh tranh quốc tế vàcạnh tranh ngay trên thị trường nội địa của mình. Tham gia tự do hoá thươngmại quốc tế, Việt Nam - một nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, năng suấtlao động thấp, chi phí nguyên liệu và năng lượng tốn kém, mức sử dụngnăng lượng trên một đơn vị sản phẩm nhiều hơn từ 1,5 đến 2,5 lần, máy mócthiết bị lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với thế giới và đang trong quá trìnhchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường sẽ có cơ hội thâm nhập vào thị trườngthế giới rộng lớn để phát triển kinh tế đất nước. Sản phẩm của Việt Nam sẽcó khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, các nguồn đầu vào của sảnxuất và kinh doanh trong nước trở nên phong phú hơn, dễ lựa chọn nhữngloại hàng hoá có chất lượng cao hơn và giá cả rẻ hơn được cung cấp từ cácnước khác trên thế giới. Đây là một trong những nhân tố quan trọng nhằmgiảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, hàng hoá nhậpkhẩu nhiều giúp người tiêu dùng có điều kiện lựa chọn nhiều hơn vì giá hàng 30
  • 31. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comnhập khẩu trở nên rẻ hơn do việc giảm thuế nhập khẩu. Khi thực hiện tự dohoá thương mại, Việt Nam có điều kiện tham gia nhanh chóng vào hệ thốngphân công lao động quốc tế hiện đại. Hội nhập khu vực và thế giới là một quá trình tất yếu để tạo cơ hội choViệt Nam phát triển kinh tế nhanh, rút ngắn khoảng cách với các nước kháctrong khu vực và trên thế giới. Quá trình hội nhập sẽ thúc đẩy Việt Namchuyển đổi kinh tế mạnh hơn sang cơ chế thị trường với định hướng hướngmạnh vào xuất khẩu. Chiều hướng này sẽ có lợi cho Việt Nam đưa nền kinhtế nước nhà lên một quy mô lớn hơn nhiều so với bó hẹp trong khuôn khổcác chính sách bảo hộ, hướng nội không hiệu quả. Việt Nam đang tham giatiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chiều hướng và ở nhiều tầng nấc khácnhau: song phương, tiểu khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã cónhiều cố gắng trong việc mở rộng các mối quan hệ thương mại, hợp tác kinhtế với nhiều nước trong và ngoài khu vực. Đáng chú ý, trong thời gian vừaqua, tiếp theo việc bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam vàMỹ, hai bên đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để ký kết các Hiệp định kinhtế song phương về các vấn đề nợ, bản quyền và thương mại, từng bước bìnhthường hoá quan hệ kinh tế thương mại. Đồng thời, ở mức độ tiểu khu vực,kể từ khi trở thành thành viên ASEAN, ta đã và đang nỗ lực tham gia thựchiện các chương trình hợp tác kinh tế ASEAN, đặc biệt là chương trình Khuvực mậu dịch tự do AFTA . Một sự kiện quan trọng và có ý nghĩa lớn lao đốivới tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam . Sau một thời gian nỗ lực vậnđộng và chuẩn bị, Việt Nam đã được các nhà lãnh đạo APEC tuyên bố kếtnạp làm thành viên năm 1998. Đối với tiến trình hợp tác Á - Âu (ASEM),chúng ta đã cùng các nước Châu Á khác tích cực tham gia Hội nghị cấp caoASEM - 3 ở Seoul (Hàn Quốc) trong 2 ngày 20 - 21/10/2000. Chúng ta cũngđang tích cực chuẩn bị đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), một tổ chức mang tính toàn cầu mà việc tham gia là thể hiện sự hộinhập với thế giới. Đồng thời, ta tích cực hợp tác với các tổ chức tài chínhquốc tế như WB, IMF nhằm tận dụng một cách có hiệu quả sự hợp tác củacác tổ chức đó phục vụ tiến trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế củamình. 31
  • 32. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, một khuvực phát triển năng động và đạt được độ tăng trưởng cao hơn các khu vựckhác. Các trung tâm kinh tế trên thế giới, các nước lớn đều hướng trọng tâmhoạt động kinh tế, chính trị vào khu vực này và xem đây là nơi chứa đựngnhiều yếu tố quyết định sự phát triển của mình. Châu Á- Thái Bình Dươngchịu ảnh hưởng ngày càng lớn bởi các mối quan tâm của các nước lớn nhưMỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga. Trong bối cảnh đó, vị trí địa lý, kinh tế,chính trị của Việt Nam được các nước lớn ngày càng coi trọng và dần trởthành một khâu quan trọng trong chiến lược toàn cầu hoá. Tuy Việt Namchưa phải là đối tượng hàng đầu trong chính sách Châu Á- Thái Bình Dươngcủa Mỹ song một Việt Nam đổi mới, mở cửa, đa dạng hoá và đa phương hoáquan hệ đối ngoại quả là một đối tượng hợp tác không thể thiếu trong cuộctìm kiếm thị trường. Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam không muốn tụt hậu thìcần phải thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế với các nước khác trên thế giới,đặc biệt là với Mỹ- một siêu cường chi phối mạnh mẽ nền kinh tế toàn cầu. Là một nước đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham gia hộinhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với đa số các nước khác trongkhu vực, vì vậy tiến trình hội nhập quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hộicho chúng ta, mặt khác cũng đặt ra nhiều thách thức lớn đòi hỏi sự nỗ lựcvươn lên của các cấp các ngành. Để hội nhập có hiệu quả, chúng ta phải rasức tăng cường nội lực, thực hiện những cải cách, điều chỉnh về cơ chế,chính sách, luật lệ, tập quán kinh doanh, cơ cấu kinh tế trong nước để phùhợp với “luật chơi chung” của quốc tế. Chúng ta cần coi cải cách trong nướcvà hội nhập quốc tế là “con đường hai chiều”. Cải cách bên trong sẽ quyếtđịnh tốc độ và hiệu quả hội nhập quốc tế, đồng thời quá trình hội nhập sẽ hỗtrợ và thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước có nhịp độ nhanh hơn và hiệuquả cao hơn .2. TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT - MỸ. 2.1.Kết quả đạt được qua các vòng đàm phán. Đàm phán ký kết Hiệp định thương mại với Mỹ là một yêu cầu quantrọng nhằm tạo môi trường pháp lý cho quan hệ thương mại giữa hai nướcphát triển và làm tiền đề cho việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới 32
  • 33. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com(WTO) của Việt Nam được thuận lợi hơn. Vấn đề cốt lõi của Hiệp địnhthương mại giữa hai nước cũng như gia nhập WTO của Việt Nam là Mỹdành cho Việt Nam Quy chế Quan hệ Thương mại bình thường (NTR) trongquan hệ song phương hay đa phương. Mục tiêu cần đạt được là hai nước sẽdành cho nhau NTR trên cơ sở có đi có lại, không điều kiện và không phảixem xét lại hàng năm. Hầu hết các quôc gia có quan hệ thương mại với Mỹđều được hưởng NTR. Quy chế này quy định các mức thuế thấp đánh vàohàng nhập khẩu đã đạt được trong các vòng đàm phán về tự do thương mại.Khi Việt Nam còn chưa được hưởng NTR thì hàng Việt Nam xuất khẩu vàoMỹ phải chịu thuế suất cao, làm cho hàng hoá Việt Nam bán trên thị trườngMỹ kém hấp dẫn, thậm chí không có khả năng cạnh tranh với hàng hoá sảnxuất tại Mỹ. Tháng 10/1995, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Namvà Đại diện thương mại Mỹ thoả thuận hai bên tập trung thúc đẩy quan hệkinh tế- thương mại và chuẩn bị đàm phán Hiệp định thương mại. Tháng 11/1995, Đoàn Liên bộ Mỹ thăm Việt Nam để tìm hiểu hệ thốngluật lệ thương mại, đầu tư của Việt Nam. Tháng 4/1996, Mỹ trao cho Việt Nam bản “Những yếu tố bình thườnghoá quan hệ kinh tế- thương mại với Việt Nam”. Tháng 7/1996, Việt Nam trao cho Mỹ bản “Năm nguyên tắc bìnhthường hoá quan hệ kinh tế- thương mại và đàm phán Hiệp định thương mạivới Mỹ” đáp lại văn bản nói trên. Để ký kết được Hiệp định thương mại, Việt Nam và Mỹ đã tiến hànhđàm phán qua các vòng: - Vòng 1 : Từ 2/9/1996 đến 26/9/1996 tại Hà Nội. - Vòng 2 : Từ 9/12/1996 đến 11/12/1996 tại Hà Nội. - Vòng 3 : Từ 12/4/1997 đến 17/4/1997 Mỹ trao cho Việt Nam văn bản dự thảo Hiệp định đề cập đến các vấn đề như : 1. Quy định về giá và điều tiết giá. 2. Hệ thống thuế. 33
  • 34. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com 3. Các trợ cấp đối với mỗi lĩnh vực của nền kinh tế nhất là đối với nông nghiệp. 4. Chế độ đầu tư. 5. Cán cân thanh toán. 6. Thuế quan nhập khẩu, bao gồm tất cả thuế quan ưu đãi, phí hải quan, miễnthuế. 7. Các biện pháp tự vệ và các đền bù thương mại khác (Chống bán phá giá và thuế đối kháng). 8. Giấy phép nhập khẩu. 9. Các công ty, doanh nghiệp nhà nước. 10. Tiêu chuẩn và chứng nhận hàng hoá nhập khẩu, các tiêu chuẩn vệsinh dịch tễ. 11. Hoạt động đối ngoại. 12. Hệ thống thống kê và phát hành các ấn phẩm về ngoại thương. 13. Hệ thống bảo hộ quyền tác giả. 14. Các bước tự do hoá thương mại trong tương lai được thể hiện trongcác quy định và các bộ luật của quốc gia... - Vòng 4 : Từ 6/10/1997 đến 11/10/1997 tại Washington, sơ bộ trao đổivề những quy định chung và chương Thương mại hàng hoá trong Hiệpđịnh. - Vòng 5 : Từ 16/5/1998 đến 22/5/1998 tại Washington. - Vòng 6 : Từ 15/9/1998 đến 22/9/1998 tại Hà Nội. - Vòng 7 : Từ 15/3/1999 đến 19/3/1999 tại Hà Nội. Tại các vòng đàm phán 5, 6, 7 hai bên tập trung trao đổi tổng thể về Thương mại hàng hoá, Sở hữu trí tuệ, Thương mại dịch vụ và Đầu tư. - Vòng 8: Từ 14/6/1999 đến 18/6/1999 tại Washington. 34
  • 35. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com - Vòng 9 : Từ 23/7/1999 đến 25/7/1999 tại Hà Nội, gặp mặt cấp Bộ trưởng- Hiệp định đã được thoả thuận về nguyên tắc. - Vòng 10 : Từ 28/8/1999 đến 2/9/1999 tại Washington, xử lý các vấn đề về kỹ thuật. - Vòng 11: 3/7/2000 tại Washington, hoàn tất Hiệp định. Sau 6 vòng đàm phán đầu tiên, nhìn chung các vấn đề cơ bản của mộtHiệp định thương mại đã được đưa ra đàm phán và đã đạt được những kếtquả đáng khích lệ sau: + Các bên cơ bản thống nhất được các lĩnh vực quan trọng là dựa trêncác chuẩn mực của WTO để đưa ra dự thảo Hiệp định như chương vềThương mại hàng hoá, Sở hữu trí tuệ, tuy nhiên có một số vấn đề có thể mởrộng hơn WTO nhưng đang bàn ở diễn đàn khác như Đầu tư. + Các bên qua thời gian giải thích về chính sách hiện hành cuả mình đãhiểu biết nhau hơn và đã có thể đánh giá được mức độ cam kết sẽ được cácbên chấp nhận ở mức độ nào nhưng chưa thể đi đến những kết luận cụ thể vìnhững vấn đề còn khác nhau thường phải do cấp cao quyết định còn ở cấpchuyên viên chưa thể quyết định được. + Các bên đã đưa ra dự thảo của mình với quy mô khác nhau nhưngcũng ở mức hàng trăm trang (nếu kể cả các phụ lục thì dài hơn nhiều) và dựatrên cơ sở đó để so sánh và tiến hành đàm phán rõ quan điểm của nhau. Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các công ty Mỹ ở Việt Nam, quychế Đối xử quốc gia trong thương mại dịch vụ và đầu tư, mức độ mở cửa thịtrường cho hàng hoá của nhau là những nội dung chính của vòng đàm phánthứ 6 ở cấp chuyên viên. Tại vòng đàm phán này nhiều nội dung đã đượclàm rõ và tuy vẫn còn nhiều sự khác biệt, hai bên cũng đã thoả thuận đượcmột số vấn đề cụ thể. Bên Việt Nam đồng ý thực hiện hầu hết những quyđịnh của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trừ vấn đề thuế nhập khẩu,nhưng không thể đồng ý với yêu cầu của phía Mỹ muốn Việt Nam bãi bỏngay những chính sách không phù hợp với những quy định của Tổ chứcThương mại thế giới (WTO) và Khu vực tự do mậu dịch ASEAN (AFTA)như chế độ hạn ngạch, hàng rào phi quan thuế...và áp dụng ngay những quy 35
  • 36. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comđịnh đó trong quan hệ thương mại với Mỹ, trước khi Việt Nam trở thànhthành viên chính thức của hai tổ chức này. Tại vòng đàm phán thứ 7, hai đoàn tập trung trao đổi những vấn đềquan trọng nhất còn lại chưa xử lý được trong các vòng đàm phán trước nằmở các chương “ Phát triển Quan hệ đầu tư”, “ Thương mại dịch vụ”, “Thương mại hàng hoá” và “ Sở hữu trí tuệ”. Cuộc đàm phán đã đạt được kếtquả tốt đẹp. Phần lớn các vấn đề nêu ra đã tìm được tiếng nói chung, khoảngcách giữa hai bên đã được thu hẹp. Hai đoàn hài lòng với kết quả đàm phán.Tuy nhiên, hai đoàn cũng ghi nhận còn một số vấn đề thuộc lĩnh vực quyềnthương mại và dịch vụ mà hai bên sẽ xem xét và thảo luận tiếp để có thể sớmđi đến ký kết Hiệp định thương mại nhằm thúc đẩy quá trình bình thườnghoá quan hệ kinh tế- thương mại, tăng cường trao đổi phát triển hàng hoá vàhợp tác đầu tư giữa hai nước. Nội dung của vòng đàm phán thứ 8 là giải quyết các vấn đề còn tồn tạitừ vòng trước. Cả hai bên đều tỏ thái độ thiện chí và cố gắng nhằm giải quyếtnhững vướng mắc còn tồn đọng. Theo các thành viên đoàn Việt Nam, nhữngvấn đề còn lại tuy không nhiều nhưng lại nằm rải rác ở mỗi chương, nhưngđây lại là những vấn đề khó nhất. Dư luận Mỹ, đặc biệt là giới doanh nghiệpMỹ rất quan tâm ủng hộ việc ký kết Hiệp định thương mại giữa hai nước. Họđã tổ chức viết thư lên các nghị sỹ Quốc hội Mỹ kiến nghị đẩy nhanh quátrình bình thường hoá quan hệ kinh tế với Việt Nam, điều này góp phần cảithiện bầu không khí quan hệ giữa hai nước. Quyết định miễn áp dụng Đạoluật bổ sung Jackson- Vanik đối với Việt Nam là một dấu hiệu tốt cho việcphát triển mối quan hệ Việt- Mỹ, nhất là trước vòng đàm phán thứ 8. Tạicuộc đàm phán lần này, phía Việt Nam đã đưa ra nhiều đề xuất mới đối vớicác vấn đề còn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của dự thảo Hiệp định nàynhư dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại hàng hoá. Các vấn đề do phíaViệt Nam đưa ra đều được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc của Tổ chứcThương mại thế giới (WTO) và chuẩn mực quốc tế. Phía Việt Nam đã đưa ramột lộ trình hợp lý để thực hiện các nguyên tắc của WTO trong bối cảnhViệt Nam là một nước đang phát triển và đang trong quá trình chuyển đổinền kinh tế. 36
  • 37. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Ông Nguyễn Đình Lương, Trợ lý Bộ trưởng Thương mại, Trưởng đoànđàm phán Việt Nam khẳng định rằng các đề xuất nói trên thể hiện nỗ lựccao nhất của Việt Nam để tiến tới kết thúc quá trình đàm phán và ký Hiệpđịnh thương mại giữa hai nước, thể hiện đường lối và chính sách của Đảngvà Nhà nước Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới, tạo điều kiện để Việt Namphát huy cao độ nội lực, nhằm xây dựng một nền kinh tế vững mạnh. ÔngNguyễn Đình Lương tỏ ý mong muốn phía Mỹ thể hiện sự hiểu biết thực sựvà có đánh giá đầy đủ hơn về những nỗ lực của phía Việt Nam trong các đềxuất được đưa ra tại vòng đàm phán này, để có thể sớm kết thúc đàm phánvà tiến tới ký kết Hiệp định thương mại giữa hai nước trong thời gian sớmnhất. Hai bên đã thu hẹp đáng kể nhiều vấn đề tồn tại, tạo thuận lợi cho việcbình thường hoá quan hệ thương mại giữa hai nước nhưng vẫn còn một sốvấn đề quan trọng chưa được giải quyết như dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm ...Đại sứ Mỹ Pete Peterson cho rằng những cơ sở tài chính ở Việt Nam hiệnnay vẫn còn rất non nớt và phải khá lâu nữa mới có thể sánh ngang hàng vớinhững hệ thống tài chính quốc tế. Chính vì thế, Mỹ đòi hỏi Việt Nam phảicủng cố các cơ sở tài chính trong nước để có thể cạnh tranh trên thươngtrường quốc tế cũng như thoả mãn những đòi hỏi trong nước. Như vậy, trongtương lai, Việt Nam sẽ phải cho phép những cơ sở tài chính cũng như cáchãng bảo hiểm của nước ngoài vào làm ăn tại đây. Qua 11 vòng đàm phán, hai bên đều thể hiện sự quyết tâm thúc đẩynhanh tiến trình đàm phán ký kết Hiệp định thương mại. Cả Việt Nam và Mỹđều bày tỏ sự quan tâm tới quá trình bình thường hoá quan hệ về kinh tế vìcác doanh nghiệp của cả hai phía đang mong đợi điều này. Tuy nhiên khôngphải vì lợi ích trước mắt mà bỏ qua những lợi ích lâu dài nên các bên vừaquyết tâm đàm phán vừa phải bảo vệ lợi ích lâu dài của mình. Ngày 13/7/2000 tại Washington (tức ngày 14/7/2000 giờ Việt Nam),Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Vũ Khoan và bà Charlene Barshefsky, Đạidiện thương mại thuộc phủ Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã thay mặtChính phủ hai nước ký Hiệp định giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại, đánh dấu bướcphát triển mới trong quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước, kết thúc mộtquá trình đàm phán lâu dài và kiên trì. Hiệp định được ký đúng vào dịp kỷ 37
  • 38. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comniệm lần thứ 5 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, đã hoàn tấtquá trình bình thường hoá quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. 2.2 . Ý nghĩa của Hiệp định. Sau sự kiện Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết, giới báo chívà doanh nhân của cả hai nước đều tỏ ý vui mừng trước những nỗ lực mà haiphía đã đạt được trong suốt 4 năm liền đàm phán bền bỉ. Hiệp định được kýkết dựa trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệpvào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, đồng thời phù hợpvới thông lệ quốc tế và các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), có tính đến Việt Nam là một nước đang phát triển ở trình độ thấp,đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế và đang hội nhập với nềnkinh tế khu vực và thế giới. Hiệp định có hiệu lực (sau khi được Quốc hộicủa hai nhà nước phê chuẩn) sẽ đánh dấu việc bình thường hoá hoàn toànquan hệ Việt- Mỹ, tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ kinh tế - thương mại hainước phát triển trên cơ sở cân bằng lợi ích, phù hợp với mong muốn củanhân dân hai nước. Cho đến nay, Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại với trên 60 nướcvà Thoả thuận về quy chế Tối huệ quốc với hơn 70 nước và vùng lãnh thổtrên thế giới. Tuy nhiên, đối với nước ta đây là lần đầu một Hiệp địnhthương mại mang tính chất đồng bộ, đề cập một cách toàn diện tới các lĩnhvực kinh tế- thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, bản quyền, sở hữu trí tuệđược ký kết. Việc ký kết Hiệp định thương mại Việt- Mỹ vừa là kết quả vừa tạothêm điều kiện để tiếp tục triển khai chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đadạng hoá, đa phương hoá và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.Chắc chắn Hiệp định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng hơn nữaquan hệ kinh tế- thương mại giữa hai nước, cho phép tăng nhanh kim ngạchtrao đổi thương mại không chỉ với Mỹ mà cả với các nước khác, đồng thờicũng tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Mỹ tham gia vào các hoạt động kinh tế ởViệt Nam. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết là bước đi lịch sử trongquá trình bình thường hoá, hoà giải và hàn gắn giữa hai dân tộc, thúc đẩy quá 38
  • 39. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comtrình hội nhập của Việt Nam với Cộng đồng Quốc tế và tăng cường mậu dịchgiữa hai nước. Hiệp định này không chỉ bảo đảm lợi ích của hai nước Việt Nam vàMỹ mà còn là một đóng góp tích cực cho hoà bình, ổn định, hợp tác để pháttriển ở khu vực và trên thế giới. Mỹ cũng đánh giá Hiệp định này là mộtbước tiến quan trọng của việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thếgiới và khẳng định tích cực ủng hộ Việt Nam gia nhập tổ chức này. Với thiện chí và quyết tâm của cả hai bên, chúng ta tin rằng Hiệp địnhthương mại Việt- Mỹ sẽ được thực hiện đầy đủ trên tinh thần tôn trọng lẫnnhau, tôn trọng lợi ích và chủ quyền của nhau, không can thiệp vào côngviệc nội bộ của nhau, góp phần phát triển kinh tế- thương mại của hai quốcgia nói riêng và thế giới nói chung. Việc ký kết và thực hiện Hiệp định là phù hợp với đường lối đổi mớicủa Đảng và Nhà nước, góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ theo định hướng xãhội chủ nghĩa. Để đạt được yêu cầu đó, các ngành, các cấp và các doanhnghiệp cần ra sức phát huy tối đa nội lực, cải tiến quản lý, tiếp thu thành tựukhoa học kỹ thuật, nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và khả năng cạnhtranh của hàng hoá Việt Nam. 3.Những nội dung chủ yếu của hiệp định Hiệp Định thương mại Việt Mỹ được ký kết ngày 13/7/2000 là một sựkiện đánh dấu bước phát triển tích cực của mối quan hệ song phương kể từngày hai quốc gia lập quan hệ ngoại giao. Hiệp định dài gần 120 trang, gồm7 chương với 72 điều và 9 phụ lục, đề cập đến 4 nội dung chủ yếu:Thươngmại hàng hoá, Thương mại dịch vụ, Sở hữu trí tuệ và Quan hệ đầu tư. Nhưvậy có nghĩa là bản Hiệp định này tuy được gọi là Hiệp định về quan hệthương mại nhưng không chỉ đề cập đến lĩnh vực thương mại hàng hoá. Kháiniệm “ thương mại ” ở đây được đề cập theo ý nghĩa rộng, hiện đại, theo tiêuchuẩn của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và có tính đến đặc điểmkinh tế của mỗi nước để quy định sự khác nhau về khung thời gian thực thicác điều khoản. Do Mỹ đã tuân thủ tất cả các luật lệ của WTO và là mộttrong những nước tự do hoá thương mại nhất trên thế giới nên hầu như tất cả 39
  • 40. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comcác điều khoản trong Hiệp định, Mỹ đều thực hiện ngay. Còn Việt Nam lànước đang phát triển ở trình độ thấp và đang chuyển đổi từ kế hoạch hoá tậptrung sang kinh tế thị trường, nên kèm theo bản Hiệp định là 9 bản phụ lụccó quy định các lộ trình thực hiện cho phù hợp với Việt Nam . Hiệp định được xây dựng trên hai khái niệm quan trọng. Khái niệm“Tối huệ quốc” (đồng nghĩa với Quan hệ Thương mại bình thường) mang ýnghĩa hai bên cam kết đối xử với hàng hoá, dịch vụ, đầu tư của nước kiakhông kém phần thuận lợi so với cách đối xử với hàng hoá, dịch vụ, đầu tưcủa nước thứ ba (đương nhiên không kể đến các nước nằm trong Liên minhthuế quan hoặc Khu vực mậu dịch tự do mà hai bên tham gia, ví dụ Mỹ sẽkhông được hưởng những ưu đãi của ta dành cho các nước tham gia Khu vựcmậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và ta cũng không được hưởng tất cả các ưuđãi Mỹ dành cho các nước khác trong Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ(NAFTA). Còn khái niệm “Đối xử quốc gia” thì nâng mức này lên như đốixử với các công ty trong nước. Hai khái niệm này quan trọng vì chúng đượcđề cập đến ở hầu hết các chương của bản Hiệp định. Ngoài ra, các phụ lụcđược dùng để liệt kê các trường hợp loại trừ, chưa hoặc vĩnh viễn không ápdụng hai khái niệm trên. Chương 1: Thương mại hàng hoá gồm 9 điều. Chương 2: Quyền Sở hữu trí tuệ gồm 18 điều. Chương 3: Thương mại dịch vụ gồm 11 điều. Chương 4: Phát triển Quan hệ đầu tư gồm 15 điều. Chương 5: Những điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động bình thường. Chương 6: Những điều khoản minh bạch và quyền được kháng cáo. Chương 7: Những điều khoản chung. Sau đây chúng ta sẽ xem xét những nội dung chủ yếu của Hiệp định. 3.1 Thương mại hàng hoá : * Những quyền về thương mại: Cả hai bên cam kết thực hiện nhữngquyền thương mại theo chuẩn mực quốc tế và WTO. Tuy nhiên, đây là lầnđầu Việt Nam đồng ý thực hiện quyền về xuất nhập khẩu một cách cởi mở, 40
  • 41. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comtuân theo những quy định chặt chẽ của WTO. Do vậy, những quyền đối vớicác doanh nghiệp Việt Nam, các công ty do Mỹ đầu tư, và tất cả các cá nhânvà công ty Mỹ hoạt động tại Việt Nam theo Hiệp định này sẽ được tiến hànhtrong từng giai đoạn từ 3- 6 năm (được áp dụng dài hơn đối với một số mặthàng nhạy cảm). * Quy chế tối huệ quốc: Việt Nam và Mỹ cam kết thực hiện đối xửthuế quan tối huệ quốc đối với tất cả các mặt hàng nhập khẩu vào mỗi nước(mức thuế quan này là 50% đối với các quốc gia không nhận được MFN). * Cắt giảm thuế quan: Việt Nam đồng ý cắt giảm thuế quan (mức cắtgiảm điển hình là từ 1/3 đến 1/2 ) đối với một loạt các sản phẩm được cácnhà xuất khẩu Mỹ quan tâm như các sản phẩm vệ sinh, phim, máy điều hoànhiệt độ, tủ lạnh, xe gắn máy, điện thoại di động, video games, thịt cừu, bơ,khoai tây, cà chua, hành, tỏi, các loại rau xanh khác, nho, táo và các loại hoaquả tươi khác, bột mỳ, đậu tương, dầu thực vật, thịt và cá đã được chế biến,các loại nước hoa quả...Việc cắt giảm thuế quan các mặt hàng này được ápdụng dần dần trong giai đoạn 3 năm. Phía Mỹ thực hiện cắt giảm ngay theoquy định của Hiệp định song phương. *Những biện pháp phi quan thuế: Phía Mỹ, theo quy định của WTOsẽ không có những rào cản phi quan thuế (trừ hạn ngạch đối với hàng dệtmay); trong khi đó, Việt Nam đồng ý loại bỏ tất cả các hạn chế về số lượngđối với một loạt các sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp (các linh kiện lắpráp, thịt bò, các sản phẩm cam quýt...) trong giai đoạn từ 3 -7 năm, phụthuộc vào từng mặt hàng. * Cấp giấy phép nhập khẩu: Việt Nam sẽ loại bỏ tất cả các thủ tục cấpgiấy phép một cách tuỳ ý, và sẽ tuân thủ theo các quy định của Hiệp địnhWTO. Về việc định giá trị đánh thuế hải quan và các khoản phí hải quan,Việt Nam cần tuân thủ các luật lệ của WTO đối với việc định giá các giaodịch và định giá thuế hải quan, cũng như hạn chế các khoản phí hải quanđánh vào các dịch vụ được thanh toán trong vòng 2 năm.Về phía Mỹ, theoLuật Thương mại Mỹ, các công ty của Việt Nam và các nước khác đều sẽđược cấp giấy phép hoạt động khi có yêu cầu. 41
  • 42. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com * Những thước đo về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thựcphẩm: Hai bên cam kết tuân thủ theo các tiêu chuẩn của WTO; các quy địnhvề kỹ thuật, và những thước đo về vệ sinh an toàn thực phẩm phải được ápdụng trên cơ sở đối xử quốc gia, và chỉ được áp dụng trong chừng mực cầnthiết để giải quyết những mục đích chính đáng (bảo vệ con người, bảo vệcuộc sống của động vật, sinh vật). * Mậu dịch quốc doanh: Cần phải được thực thi theo các quy định củaWTO (ví dụ, các doanh nghiệp quốc doanh Việt Nam trước kia chỉ tiến hànhcác cuộc giao dịch theo những mối quan tâm về thương mại và còn ít quantâm tới các quy định của WTO). 3.2. Thương mại dịch vụ. Thương mại dịch vụ được đề cập trong chương 3 của Hiệp định.Chương này áp dụng cho các biện pháp của các bên có ảnh hưởng tới dịch vụthương mại. * Các cam kết chung bao gồm: Các quy định của khuôn khổ Hiệp địnhchung về Thương mại và Dịch vụ (GATS) bao gồm Tối huệ quốc, Đãi ngộquốc gia và Pháp luật quốc gia. Về các lĩnh vực và ngành cụ thể: * Các dịch vụ pháp lý: Các nhà dịch vụ Mỹ có thể cung cấp dịch vụdưới hình thức chi nhánh, công ty 100% vốn Mỹ; các chi nhánh này nhậnđược giấy phép hoạt động là 5 năm và có thể được gia hạn mỗi lần khôngquá 5 năm. * Các dịch vụ kế toán, kiểm toán: Cho phép công ty 100% vốn Mỹ đượchoạt động trong lĩnh vực này. Giấy phép được cấp trên cơ sở từng trườnghợp, có hiệu lực trong 3 năm, không có giới hạn sau đó. Có thể cung cấp cácdịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong 2 năm đầu, không giới hạnsau đó. * Các dịch vụ kiến trúc: Cho phép công ty 100% vốn Mỹ được phépkinh doanh. Có thể cung cấp các dịch vụ cho các công ty nước ngoài trong 2năm đầu, sau đó không hạn chế. 42
  • 43. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com * Các dịch vụ kỹ thuật: Cho phép công ty 100% vốn Mỹ. Có thể cungcấp các dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong 2 năm đầu,sau đó không giới hạn. * Các dịch vụ về vi tính và các dịch vụ liên quan: Cho phép công ty100% vốn Mỹ. Có thể cung cấp dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nướcngoài trong 2 năm đầu, sau đó không hạn chế. * Các dịch vụ quảng cáo: Chỉ các liên doanh với các đối tác Việt Nammới được phép kinh doanh một cách hợp pháp các dịch vụ quảng cáo. Phầngóp vốn của phía Mỹ không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh. 5năm sau khi Hiệp định có hiệu lực hạn chế này là 51% và 7 năm sau sẽkhông hạn chế về tỷ lệ góp vốn từ phía Mỹ trong các liên doanh. * Các dịch vụ tư vấn quản lý: Chỉ thông qua các công ty liên doanh. 5năm sau khi Hiệp định có hiệu lực được phép lập các công ty 100% vốn Mỹ. * Các dịch vụ viễn thông: 1) Các dịch vụ viễn thông có giá trị gia tăng:liên doanh với đối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ viễn thôngsau 2 năm (3 năm đối với dịch vụ Internet), vốn của Mỹ không quá 50% vốnpháp định của liên doanh. 2) Các dịch vụ viễn thông cơ bản (bao gồmmobile,cellular và vệ tinh): liên doanh với đối tác Việt Nam được phép kinhdoanh dịch vụ viễn thông sau 4 năm, vốn đóng góp phía Mỹ không quá 49%vốn pháp định của liên doanh. 3) Dịch vụ điện thoại cố định: liên doanh vớiđối tác Việt Nam được phép kinh doanh dịch vụ viễn thông sau 6 năm, vốnđóng góp của phía Mỹ không quá 49% vốn pháp định của liên doanh. PhíaViệt Nam có thể xem xét những yêu cầu tăng vốn đóng góp từ phía Mỹ khiHiệp định này được xem xét lại sau 3 năm. * Các dịch vụ nghe nhìn: Bao gồm các dịch vụ sản xuất và phân phốiphim, các dịch vụ chiếu phim. Liên doanh với đối tác Việt Nam được phépkinh doanh dịch vụ nghe nhìn, vốn đóng góp phía Mỹ không quá 49% và sau5 năm hạn chế về vốn này sẽ là 51%. * Các dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật đồng bộ có liên quan:Cho phép công ty 100% vốn Mỹ. Có thể cung cấp các dịch vụ cho các côngty có vốn đầu tư nước ngoài trong 3 năm đầu tiên, sau đó không hạn chế. 43
  • 44. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com * Các dịch vụ phân phối ( bán buôn và bán lẻ): Được phép lập liêndoanh sau 3 năm Hiệp định có hiệu lực, vốn đóng góp phía Mỹ không quá49%. Sau 6 năm Hiệp định có hiệu lực hạn chế về vốn này sẽ được bãi bỏ. * Các dịch vụ giáo dục: Chỉ dưới các hình thức liên doanh, 7 năm saukhi Hiệp định có hiệu lực sẽ được phép lập trường học với 100% vốn Mỹ. * Các dịch vụ tài chính: 1) Các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ và các bảohiểm không bắt buộc: được phép lập liên doanh sau 3 năm Hiệp định có hiệulực, vốn đóng góp phía Mỹ không quá 50%. Sau 5 năm được phép 100% vốnMỹ. 2) Các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủxe cơ giới, bảo hiểm trong xây dựng...): được phép lập liên doanh sau 3 nămHiệp định có hiệu lực, không giới hạn vốn đóng góp của phía Mỹ, sau 6 nămđược phép 100% vốn Mỹ. * Các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính liên quan khác: 1)Các nhà cung cấp, công ty thuê mua tài chính và ngoài ngân hàng: đượcphép thành lập công ty liên doanh trong vòng 3 năm kể từ khi Hiệp định cóhiệu lực, cho phép 100% vốn Mỹ. 2) Ngân hàng: sau 9 năm kể từ khi Hiệpđịnh có hiệu lực, các ngân hàng Mỹ được phép thành lập ngân hàng chinhánh 100% vốn Mỹ tại Việt Nam .Trong thời gian 9 năm đó các ngân hàngMỹ có thể thành lập ngân hàng liên doanh với đối tác Việt Nam, trong đóphần góp vốn của đối tác Mỹ không dưới 30% và không quá 49%. 3) Cácdịch vụ chứng khoán: các nhà kinh doanh chứng khoán Mỹ chỉ được lập vănphòng đại diện tại Việt Nam . * Các dịch vụ y tế: Được phép thành lập các cơ sở chữa bệnh 100%vốn Mỹ. Vốn đầu tư tối thiểu cho bệnh viện là 20 triệu USD, phòng khám đakhoa là 2 triệu và phòng khám chuyên khoa là 1 triệu USD. * Các dịch vụ du lịch và dịch vụ lữ hành liên quan: 1) Các dịch vụkhách sạn và nhà hàng : các công ty cung cấp dịch vụ Mỹ cùng với việc đầutư xây dựng khách sạn nhà hàng được phép thành lập doanh nghiệp 100%vốn Mỹ. 2) Các dịch vụ đại lý và điều phối du lịch lữ hành: được phép lậpliên doanh, phần góp vốn phía Mỹ không quá 49% và 3 năm sau khi Hiệpđịnh có hiệu lực hạn chế này là 51% và 5 năm sau hạn chế này sẽ được bãibỏ. 44
  • 45. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com 3.3. Quan hệ đầu tư. * Các cam kết chung bao gồm: Các hoạt động đầu tư của mỗi nướcđều được nước đối tác cam kết bảo hộ, Việt Nam đảm bảo việc bảo hộ cáccông ty Mỹ không bị sung công các khoản đầu tư của họ tại Việt Nam. * Các chuyển khoản tài chính: Cho phép đối tác Mỹ được đem vềnước các khoản lợi nhuận và các chuyển khoản tài chính khác trên cơ sở đãingộ quốc gia. * Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMs): PhíaMỹ cam kết thực hiện ngay từ đầu, Việt Nam sẽ huỷ bỏ dần các TRIMskhông phù hợp với các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTOtrong 5 năm như những quy định về tỷ lệ số lượng hoặc giá trị sản xuất trongnước. * Đối xử quốc gia: Việt Nam cam kết thực hiện chế độ Đối xử quốcgia với một số ngoại lệ. Việc thẩm tra giám sát đầu tư sẽ được dần huỷ bỏhoàn toàn đối với hầu hết các khu vực trong giai đoạn 2, 6 hoặc 9 năm (tuỳthuộc vào loại khu vực đầu tư, ví dụ, đầu tư trong các Khu Công nghiệp haytrong khu vực sản xuất), tuy nhiên Việt Nam duy trì quyền áp dụng thẩm tragiám sát trong những khu vực ngoại lệ nhất định. * Loại bỏ việc giới hạn đóng góp vốn trong các liên doanh:Quy định hiện nay đối với phần góp vốn phía Mỹ trong các công tyliên doanh ít nhất phải 30% vốn pháp định; loại bỏ những quy địnhbán cổ phần phía Mỹ trong liên doanh cho đối tác Việt Nam. Phía Mỹchưa được thành lập công ty cổ phần và chưa được phát hành cổphiếu ra công chúng, chưa được mua quá 30% vốn của một công ty cổphần. Những ràng buộc này sẽ duy trì trong vòng 3 năm sau khi Hiệpđịnh có hiệu lực. * Bộ máy nhân sự của liên doanh: Trong vòng 3 năm huỷ bỏ quyđịnh về số thành viên nhất định người Việt Nam trong Ban giám đốc; giớihạn mạnh mẽ các vấn đề trong đó “sự nhất trí” của ban giám đốc phải đạtđược (ví dụ, trong vấn đề đó các thành viên Việt Nam có quyền phủ quyết);cho phép các nhà đầu tư Mỹ được phép tuyển chọn nhân sự quản lý khôngphụ thuộc vào quốc tịch. 45
  • 46. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Phía Việt Nam cũng cam kết ngay sau khi Hiệp định có hiệu lựcsẽ loại bỏ dần tất cả các đối xử không công bằng về giá đối với cáccông ty và các cá nhân Mỹ như phí lắp đặt điện thoại và các dịch vụviễn thông khác, các phí vận tải, thuê mướn nhà xưởng, trang thiết bị,giá nước và dịch vụ du lịch. Trong vòng 2 năm sẽ bỏ chế độ hai giáđối với đăng ký ô tô, giá dịch vụ cảng và giá đăng ký điện thoại. Trongvòng 4 năm sẽ bỏ hẳn chế độ hai giá đối với mọi hàng hoá và dịch vụkể cả giá điện hay vé máy bay. 3.4. Quyền Sở hữu trí tuệ. Trên lĩnh vực bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ, tuy Việt Nam chưa thamgia nhiều Điều ước Quốc tế đa phương về bảo hộ quyền tác giả nhưng ViệtNam đã tham gia nhiều Điều ước Quốc tế đa phương về bảo hộ quyền sởhữu công nghiệp như Công ước Paris 1883, Thoả ước Madrid 1881, Côngước Stockholm 1967...Việt Nam cũng đã ký kết các thoả thuận hợp tác songphương về Sở hữu trí tuệ với Úc, Thái Lan, Pháp và tham gia Hiệp địnhkhung về hợp tác Sở hữu trí tuệ của các nước thành viên khối ASEAN. Chủtrương chung của Việt Nam là sẽ gia nhập Công ước Berne năm 1886 vềbảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật cũng như chuẩn bị các điều kiện đểgia nhập WTO nhằm mở rộng toàn diện nguyên tắc “làm việc theo phápluật” trong lĩnh vực bảo hộ Sở hữu trí tuệ trên quy mô quốc tế. Hiệp địnhQuyền tác giả được ký giữa Việt Nam và Mỹ ngày 27/6/1997 giúp Việt Namtăng cường thêm một bước công tác quản lý các hoạt động văn hoá thông tinnhằm ngăn chặn việc phổ biến các tác phẩm có nội dung không lành mạnhtại Việt Nam, hạn chế tệ sử dụng tác phẩm của Mỹ mà không chịu trả tiền đểkinh doanh kiếm lời của một số tổ chức và cá nhân trong nước. Ngoài ra,thông qua việc thực hiện Hiệp định, các tác phẩm của Mỹ sẽ được lựa chọnkỹ hơn và phổ biến ở Việt Nam với nội dung và hình thức tốt hơn. Quyền Sở hữu trí tuệ được đề cập trong chương 2 của Hiệp định. ViệtNam nhất trí tuân thủ hoàn toàn các quyền Sở hữu trí tuệ liên quan đếnthương mại (TRIPs) trong tất cả các lĩnh vực trong một khuôn khổ thời gianngắn bao gồm: Việc bảo hộ bản quyền và nhãn hiệu hàng hoá trên cơ sởTRIPs được thực thi trong 12 tháng; bảo hộ các bí mật thương mại và bản 46
  • 47. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comquyền trên cơ sở TRIPs được thực thi trong 18 tháng. Việt Nam đồng ý thựchiện những biện pháp bảo hộ mạnh mẽ hơn trong một số lĩnh vực khác nhưtín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá, bảo hộ bản quyền đốivới các động vật và thực vật, bảo hộ những dữ liệu kiểm tra bí mật đượctrình cho các Chính phủ. Đối với trường hợp bảo hộ tín hiệu vệ tinh mangchương trình mã hoá, sẽ được thực hiện theo giai đoạn là 30 tháng. Theo Hiệp định thương mại song phương, phía Mỹ cam kết thực thiquyền Sở hữu trí tuệ được ký kết kể từ ngày Hiệp định này bắt đầu có hiệulực trừ các nghĩa vụ tại Điều 8 và Điều 3.1 liên quan đến việc bảo hộ thiết kếbố trí (topography) mạch tích hợp được thi hành sau 24 tháng kể từ ngàyHiệp định có hiệu lực. Hiệp định cũng quy định trường hợp có xung đột giữa các quy địnhcủa Hiệp định này và Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ vềquyền tác giả, ký tại Hà Nội ngày 27/6/1997 thì các quy định của Hiệp địnhnày được ưu tiên áp dụng trong phạm vi xung đột. 47
  • 48. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Chương II. HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT - MỸ CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆC XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG MỸ. I. Quá trình phát triển hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Namsang Mỹ. 1. Giai đoạn trước khi Mỹ huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Trước năm 1975. Thời kỳ trước năm 1975 Mỹ có quan hệ kinh tế với c hính quyền SàiGòn cũ. Kim ngạch buôn bán không lớn, chủ yếu là hàng nhập khẩu của Mỹđể phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược. Về xuất khẩu sang Mỹ có một số mặthàng như cao su, gỗ, hải sản, đồ gốm v.v…với số lượng ít ỏi. Từ tháng 5 năm 1964. Mỹ thực thi cấm vận miền Bắc nước ta và khiViệt Nam thống nhất, Mỹ đã mở rộng cấm vận tới toàn bộ lãnh thổ ViệtNam trong tất cả các lĩnh vực thương mại, tài chính, tín dụng ngân hàng…đồng thời Mỹ khống chế các nước đồng minh và ngăn cản tổ chức tiền tệ vàtài chính quốc tế cho Việt Nam vay tiền. Theo số liệu thống kê của Việt Nam, xuất khẩu sang Mỹ thời kỳ 1986- 1989 hầu như không có gì. Những năm đầu thập kỷ 990. Bước sang thập kỷ 90 quan hệ ngoại giao cũng như quan hệ kinh tếthương mại giữa hai nước Việt Nam và Mỹ đã có những bước tiến đáng kể,lỗ lực hướng tới các mối quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng cùng có lợi,vì lợi ích của mỗi nước cũng như hoà bình và thịnh vượng chung trong khuvực Châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới. Để đến được với lộ trình này, cả hai phía đã có những lỗ lực vượt bậctheo hướng cuẩ "bản lộ trình" được đưa ra dưới thời cực tổng thống G.Bush,trong đó đưa ra các bước tiến tới bình thường hoá quan hệ với Việt Nam màtrong tâm là vấn đề rút quan khỏi Campuchia và vấn đề người Mỹ mất tích, 48
  • 49. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comtù binh chiến tranh ở Việt Nam (POW/MIA). Sự hợp tác tích cực và có hiệuquả của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề ngườiMỹ mất tích trong chiến tranh được dư luận Mỹ đánh giá cao, đã làm thayđổi thái độ của một bộ phận không nhỏ các lực lượng vốn có thái độ tiêu cựcở Mỹ, có lợi cho việc cải thiện dần đàn quan hệ Việt Nam - Mỹ. Cuối năm 1988, Mỹ cho phép gửi sách báo và văn hoá phẩm từ Mỹ vềViệt Nam với số lượng không hạn chế. Đồng thời chính phủ Mỹ cho phépBộ Ngoại giao cấp thị thực vào Mỹ cho những người Việt Nam đến Mỹ vớimục đích trao đổi khoa học với thời hạn theo nguồn tài trợ của các tổ chứcphi chính phủ. Trong năm 1991, cùng với việc Việt Nam đồng ý cho Mỹd mở vănphòng POW/MIA ở Hà Nội (8/7) và ký hiện định hoà bình Camphuchia tạiParis (23/10), phía Mỹ đã có nhiều nới lỏng như chính thức bỏ hạn chế đi lạitrong vòng 25 dặm đối với cán bộ ngoại giao Việt Nam tại trụ sở Liên HợpQuốc ở New York (23/10), chính thức bỏ hạn chế các nhóm du lịch, cựuchiến binh, các nhà báo, các nhà kinh doanh trong việc tổ chức đoàn đi ViệtNam *17/11) và bắt đầu viện trợ nhân đạo cho Việt Nam (ngày 25/4, Mỹ lầnđầu tiên tuyên bố viện trợ 1 tỷ USD giúp Việt Nam trong lĩnh vực chân taygiả). Với những chuyển biến tích cực này, ngày 22/11 thứ trưởng ngoại giaoLê Mai và trợ lý ngoại trưởng Mỹ R.Solomon tiến hành cuộc đàm phánchính thức đầu tiên về bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Mỹ. Sang năm 1992 đã có 3 cuộc gặp gỡ cấp Bộ trưởng ngoại giao và 5 lầnMỹ cử đặc phái viên tổng thống vào Việt Nam để xúc tiến vấn đềPOW/MIA, do đó vấn đề này có những cải thiện rõ rệt và phía Mỹ một lầnnữa thực hiện dỡ bỏ một loạt các hạn chế trong quan hệ Việt Nam: Cho phéplưu bưu chính viễn thông Mỹ - Việt Nam (13/4), cho phép xuất sang ViệtNam những mặt hàng phục vụ nhu cầu cơ bản của con người và bỏ các hạnchế đối với việc các tổ chức phi chính phủ Mỹ viện trợ nhân đạo cho ViệtNam (30/40); đặc biệt là cho phép các công ty Mỹ được lập văn phòng đạidiện và ký các hợp đồng kinh tế ở Việt Nam nhưng chỉ được giao dịch kinhdoanh sau khi bỏ cấm vận (14/120). 49
  • 50. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Năm 1993, ông B. Clinton lên nắm quyền, đã tán thành và cam kếttiếp tục "bản lộ trình" của chính quyền ông G.Bush: ngày 2/7 tổng thốngClinton quyết định không ngăn cản các tổ chức tài chính quốc t ế nối lại viêntrợ cho Việt Nam. Quyết định có ý nghĩa hơn nhiều đối với doanh nghiệpMỹ là ngày 14/9/1993 tổng thống Clinton cho phép các công ty Mỹ tham giađấu thầu các dự án phát triển ở Việt Nam do các tổ chức tài chính quốc tế tàitrợ. Song song với những nỗ lực cải thiện quan hệ của hai chính phủ, củacác tổ chức hoạt động ngoại thương giữa 2 nước trong những năm đầu thậpkỷ 90 này đã có được những bước đột phá ban đầu. Theo số liệu thống kê,nếu xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ thời kỳ 1986 - 1989 hầu như không cógì, thì năm 1990 đã xuất khẩu được lượng hàng trị giá khoảng 5.000 USDtăng lên 9.000USD năm 1991,11.000USD năm 1992 và lên tới 58.000USDnăm 1993. 2.Giai đoạn sau khi Mỹ lệnh cấm vận được huỷ bỏ Ngày 3/2/1994, Tổng thống Mỹ Bill Clinton chính thức tuyên bố bãibỏ lệnh cấm vận chống Việt Nam. Tiếp đó, Bộ Thương mại Mỹ chuyển ViệtNam từ nhóm Z (gồm Bắc Triều Tiên, CuBa và Việt Nam) lên nhóm Y íthạn chế thương mại hơn (gồm Liên Xô cũ, các nước thuộc khối Vacsava cũ,Anbani, Mông Cổ, Lào, Campuchia và Việt Nam). Bộ Vận tải và Bộ Thươngmại Mỹ bãi bỏ lệnh cấm tàu biển và máy bay Mỹ vận chuyển hàng hoá sangViệt Nam, cho phép tàu mang cờ Việt Nam vào cảng Mỹ. Chính phủ Mỹcũng đồng thời tiến hành các công việc chuẩn bị về chính sách và luật phápnhằm mục đích phát triển hợp tác kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế đốingoại với Việt Nam. Đây chính là những sự kiện quan trọng đầu tiên, đánhdấu bước tiến vượt bậc trong củng cố và phát triển quan hệ kinh tế- thươngmại giữa hai nước. Trước năm 1990, quan hệ thương mại mang tính một chiều, chỉ có Mỹxuất khẩu hàng hoá sang Việt Nam, còn về phía Việt Nam thì hầu như chưacó hàng hoá xuất khẩu sang Mỹ. Việt Nam và Mỹ đang cùng hướng tới nhau trong mối quan hệ về nhucầu rộng lớn bao gồm cả đầu tư và thương mại hàng hoá cũng như dịch vụ 50
  • 51. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comđặc biệt là việc xuất nhập khẩu các mặt hàng mang tính chất bổ sung lẫnnhau. Mỹ đang hướng tới Việt Nam như hướng tới một khu vực đầu tư và thịtrường đông dân đầy tiềm năng trong việc tiêu thụ các mặt hàng côngnghiệp, đặc biệt hàng công nghiệp điện tử- tin học- viễn thông mà hiện nayđang còn ở dạng sơ khai và một thị trường hàng nông sản đầy triển vọng ởkhu vực Châu Á. Còn Việt Nam hướng tới Mỹ như một thị trường tiêu thụrộng lớn, có nền công nghệ kỹ thuật hiện đại và có tiềm lực dồi dào về tàichính. Theo số liệu của Bộ Thương mại Mỹ kim ngạch mậu dịch Việt- Mỹnăm 1994 đạt trên 222 triệu USD so với 62 triệu USD năm 1993 (tăng hơn30 lần). Năm 1995 kim ngạch hai chiều đã lên tới 452 triệu USD (gấp hơn 2lần năm 1994) và năm 1996 tổng kim ngạch đạt 924 triệu USD. Năm 1997xuất nhập khẩu của Việt Nam vào Mỹ đạt 650 triệu USD và năm 1998 đạt789 triệu USD (trong đó xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đạt 519,5 triệuUSD và nhập khẩu đạt 269,5 triệu USD) đứng thứ 75 trong danh sách đối tácthương mại của Mỹ trong năm 1998. Thực tiễn trong năm qua cho thấy Việt Nam vẫn xuất siêu sang Mỹ vàsự tăng trưởng xuất khẩu này khá ổn định, xấp xỉ 15- 20%/năm. Xuất khẩucủa Việt Nam sang Mỹ chủ yếu tập trung vào các mặt hàng mà chênh lệchgiữa hai mức thuế MFN và non-MFN bằng “0” hay không đáng kể. Nhữngkết quả xuất khẩu trong những năm qua thể hiện tiềm năng mở rộng và thúcđẩy xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ nhất là khi Hiệp định thương mại songphương đã được ký kết và hai nước cam kết dành cho nhau MFN. Năm 1994 Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ lượng hàng hoá trị giá 50,4triệu USD, trong đó hàng nông nghiệp là 38 triệu (chiếm 76% giá trị hàngxuất khẩu sang Mỹ) và hàng phi nông nghiệp chỉ chiếm 12 triệu (tương ứng24%). Năm 1995, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt 200 triệu USD (gấp gần4 lần năm 1994), trong đó hàng nông nghiệp chiếm 151 triệu USD (chiếm76% giá trị hàng xuất khẩu sang Mỹ) và hàng phi nông nghiệp đạt 47 triệuUSD (24%). Năm 1996 xuất khẩu của ta sang Mỹ đạt 308 triệu USD, năm1997 đạt 372 triệu USD. 51
  • 52. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Bảng số 6:Thương mại hai chiều Việt-Mỹ (triệu USD) từ 1994 - 7/2000 1994 1995 1996 1997 1998 1999 1-7/1999 1-7/2000 % XK 50,4 200 308 372 519,5 601,9 283,4 448,2 164,8 58,15 NK 172 252 616 278 269,5 277,3 147,7 232,5 84,8 47,41 Tổng 222,4 452 924 650 789 879,2 431,7 680,7 249,6 57,9 (Nguồn: Hải Quan Hoa Kỳ) Xét về cơ cấu, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Mỹtrong thời kỳ 1994- 1997 chủ yếu thuộc nhóm nông, lâm, thuỷ- hải sản.Trong đó, cà phê chiếm phần lớn với kim ngạch 30 triệu USD năm 1994,145 triệu năm 1995, 1996 và 108 triệu USD năm 1997. Hàng công nghiệpnhẹ bắt đầu xâm nhập và tăng trưởng nhanh nhưng vẫn chỉ mang tính giớithiệu sản phẩm. Năm 1995 kim ngạch hàng công nghiệp nhẹ đạt 20 triệuUSD. Từ 1996 kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng giày dép, nguyên liệukhoáng sản tăng nhanh. Năm 1997 kim ngạch giày dép đạt 97 triệu USD.Trong năm 1994- 1995 nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếmtỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu là xuất khẩu thiếc. Năm 1996 ta bắt đầu xuất dầu thôsang Mỹ và đạt trị giá 81 triệu USD, năm 1997 đạt 52 triệu USD, năm 1998đạt 66 triệu USD, năm 1999 có xu hướng giảm mạnh. Năm 1996 giá trị kimngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt 308 triệu USD, trong đó hàng nông nghiệp chỉcòn chiếm 46% và hàng phi nông nghiệp đã chiếm 54%. 52
  • 53. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Bảng số 7: Kim ngạch buôn bán hai chiều Việt - Mỹ 1994 - 1997 (Đơn vị: triệu USD) 1994 1995 1996 1997 I. XUẤT KHẨU TỪ VIỆT NAM 50,450 198,966 319,037 388,189 SANG MỸ Hải sản 5,802 19,583 33,990 46,376 Cà phê, chè, gia vị 31,193 146,455 110,910 108,208 Ngũ cốc 4,506 5,845 20,955 Sản phẩm thịt, cá 10,477 Đường, bánh, kẹo 1,252 Dầu thô 1,105 80,650 36,670 Cao su và sản phẩm cao su 1,572 0,564 3,013 Sản phẩm da 0,490 0,896 0,502 0,493 May mặc 2,518 16,867 23,601 25,928 Giày dép 3,308 39,169 97,644 Hàng gốm 0,190 0,454 0,818 1,209 Hạt điều 7,585 15,386 II. NHẬP KHẨU TỪ MỸ 172,223 252,860 616,047 277,787 Nhiên liệu 0,734 4,719 4,844 Hoá chất hữu cơ 1,379 2,467 6,100 4,891 Phân bón 16,533 35,909 52,259 8,943 Chất dẻo 2,004 4,057 7,381 7,392 Giấy và bột giấy 0,729 9,588 10,684 4,111 Bông 12,735 7,259 11,590 12,091 Giày dép 1,357 14,196 16,405 Nhôm 4,266 11,154 13,679 Thiết bị điện 14,624 24,583 42,114 43,942 Lò phản ứng hạt nhân, nồi hơi 16,484 65,025 67,667 53,251 Sản phẩm quang học, đo lường 3,621 8,691 12,375 15,258 Xe ô tô 6,245 37,138 23,742 19,920 ( Nguồn: Phòng Thông tin Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam ) 53
  • 54. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Do chưa được hưởng quy chế Tối huệ quốc (MFN) nên hàng hoá ViệtNam xuất khẩu sang Mỹ phải chịu các rào cản thuế quan và phi thuế quan.Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Mỹ gồm thuỷ sản chiếm15,6% kim ngạch xuất khẩu năm 1998, cà phê chiếm 18,54%, dầu thô chiếm17%, gạo chiếm 8,38% và giày dép các loại chiếm 20,4%. Các nhóm hàngnày chiếm đến 80% kim ngạch xuất khẩu và là các mặt hàng có hàm lượngchế biến thấp. Nhìn chung năm 1999 thương mại giữa hai nước tăng trưởng ổn địnhtrong hoàn cảnh nền kinh tế toàn cầu đang diễn biến rất phức tạp. Xét vềtổng kim ngạch thương mại song phương, Việt Nam hiện đang xếp thứ72/227 nước có quan hệ buôn bán với Mỹ trên nhiều nước như Bulgaria,Ukraina, Slovenia mặc dù hàng Việt Nam hiện đang phải chịu mức thuế suấtnhập khẩu cao hơn so với các nước này (nếu tính về kim ngạch xuất khẩu thìViệt Nam đứng cao hơn, tức là khoảng thứ 65/227 nước xuất khẩu vào Mỹ).Tuy nhiên so với ngay các nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan (xuấtkhẩu đạt gần 14,3 tỷ USD), Philippines (12,4 tỷ USD) thì xuất khẩu của tacòn thua kém nhiều. Có nhiều lý do giải thích cho sự việc này, nhưng lý donổi bật nhất vẫn là thuế suất nhập khẩu quá cao mà hàng xuất khẩu của tacho đến nay vẫn phải chịu khi nhập khẩu vào Mỹ. Điều này cho thấy tầmquan trọng của việc đạt được khung pháp lý điều chỉnh quan hệ thương mạigiữa hai nước. Xét riêng tháng 1/2000, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt67,3 triệu USD so với 44,9 triệu USD cùng kỳ năm ngoái, đạt mức tăngtrưởng 49,9%. Đây là một trong những mức tăng cao nhất trên thế giới(trung bình xuất khẩu của thế giới vào Mỹ tăng 22,26% trong tháng 1/2000;khu vực ASEAN tăng 8,01%). Mặc dù mức tăng trưởng này đạt được dựatrên cơ sở kim ngạch chưa cao nhưng đây là một tín hiệu tốt, thể hiện nhữngphản ứng tích cực từ phía các doanh nghiệp đối với các diễn tiến trong quanhệ thương mại hai nước. 54
  • 55. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Bảng số 8 :Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Mỹ (triệu USD) 1998 1999 1999/1998 1- 3/1999 1- 3/2000 Giày dép 114,9 145,7 26,8% 38,9 38,3 (0,6) (2,00) Cà phê, chè 147,6 117,7 - 20,26% 46,6 49,4 2,8 (6,00) Cá, hải sản 79,5 108,1 35,97% 18,9 27,6 8,5 44,97 Nhiên liệu 66,1 83,8 13,92% 9,4 26,9 17,5 186,17 khoáng (Nguồn: Thương vụ thuộc Sứ quán Việt Nam tại Mỹ) Xét theo mặt hàng, hàng xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ đa dạng dần vềchủng loại (85 nhóm mặt hàng). Chiếm tỷ trọng cao nhất hiện nay là hànggiày dép và các bộ phận của giày dép. Năm 1999 nhóm hàng này đạt 145,7triệu USD, tăng 26,8% so với cùng kỳ năm ngoái (114,9 triệu USD), chiếmtỷ trọng 24,2% tổng kim ngạch hàng xuất của ta sang Mỹ. Việt Nam hiện lànước xuất khẩu giày dép lớn thứ ba trong số các nước xuất khẩu sang thịtrường Mỹ. Quý I năm nay, giá trị hàng giày dép của ta xuất sang Mỹ đạt38,3 triệu USD, giảm 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Một thực tế là cácdoanh nghiệp xuất khẩu giày dép hiện nay hầu hết là các doanh nghiệp FDIcho nên kim ngạch xuất khẩu cao nhưng phần giá trị của Việt Nam lại thấp sovới các nhóm hàng xuất khẩu khác. Nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn thứ hai là cà phê (19,6%), chè gia vị.Nhóm hàng này có xu hướng phục hồi trong năm 1999, đạt 6% (49,4 triệu sovới 46,6 triệu của năm 1998). Tuy vậy tình hình xuất khẩu đầu năm nay lạicó dấu hiệu giảm sút so với 1999. Nhóm hàng hải sản (chủ yếu là tôm và một số loại cá) và nhiên liệukhoáng sản vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể (tương ứng 18% và 14% tổng giá trịhàng xuất khẩu của ta). Tuy nhiên mức tăng trưởng của nhóm hàng này khácao đạt mức 44,9 triệu đối với hàng hải sản và 186,17 triệu đối với hàngnhiên liệu khoáng sản trong quý I/2000. Mỹ chưa phải là thị trường truyềnthống của ta đối với mặt hàng này nhưng các yêu cầu chất lượng và kiểmdịch của Mỹ lại không chặt chẽ và khó khăn như của thị trường EU. Khảnăng tăng trưởng xuất khẩu mạnh ở các mặt hàng này là không có trong 55
  • 56. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comtương lai gần vì phụ thuộc vào tiến trình đầu tư trang thiết bị cũng như mở rộngsản xuất nuôi trồng trong nước. Bảng số 9 : Các mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh (triệu USD) 1998 1999 1999/1998 1-3/1999 1-3/2000 %Muối, lưu huỳnh 1,1 4,4 300% 0,0 1,3 1,3Đồ nội thất 1,3 4,0 207,69% 0,4 2 1,6 300Dung cụ gia 0,3 1,3 333,33% 0,1 0,5 0,4 400đình (Nguồn: Hải Quan Hoa Kỳ) Các mặt hàng muối, lưu huỳnh, đồ nội thất, dụng cụ gia đình mặc dùkim ngạch chưa cao nhưng thể hiện khả năng thâm nhập thị trường Mỹ. Dovậy ta cần chú ý định hướng cho doanh nghiệp củng cố thị phần để tận dụngkhả năng xuất khẩu lớn khi được hưởng mức thuế MFN của Mỹ. II. Cơ hội thâm nhập thị trường Mỹ của hàng hoá Việt Nam . 1. Cơ hội xuất khẩu các mặt hàng chủ lực: Mỹ là nước lớn với dân số 271,8 triệu người và là một trong nhữngnước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất. Thế giới xem Mỹ là thịtrường khổng lồ vì có sức mua lớn khoảng 7.000 tỷ USD/năm. GDP năm1999 của Mỹ là 9.256 tỷ USD (gấp 300 lần Việt Nam ).Trên thế giới có 100tập đoàn kinh tế làm ăn có hiệu quả nhất thì có 61 tập đoàn là của Mỹ. Theosố liệu của Bộ Thương mại thì năm 1999 kim ngạch xuất khẩu của Mỹ là960 tỷ USD nhưng kim ngạch nhập khẩu của họ lên tới 1.230 tỷ USD, trongđó hàng dệt may khoảng 40 tỷ USD, hải sản 7,431 tỷ USD, cà phê 2,820 tỷUSD, dầu thô 35,192 tỷ USD và giày dép 13-14 tỷ USD. Mấy năm qua hàngViệt Nam vào Mỹ phần lớn phải chịu mức thuế cao tới 40% nhưng kimngạch xuất khẩu của ta sang Mỹ vẫn tăng đáng kể. Theo số liệu của Hải quanHoa Kỳ, năm 1994 kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Mỹ ởmức 50,4 triệu USD nhưng đến 1996 đã lên đến 308 triệu USD và trong năm1999 là 601,9 triệu USD, tăng gấp 12 lần, bình quân một năm tăng 64,2%,cao gấp gần 3 lần tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Có mộtsố mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ đã đạt kim ngạch khá và tăng qua các nămnhư cà phê, giày dép, đồ thêu ren, rau quả, cao su...Việt Nam cũng xuất sang 56
  • 57. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comMỹ dầu thô, hàng may mặc. thịt cá, hải sản tươi sống, sành sứ, gốm, đồ da,đồ bọc da, đồ gỗ gia dụng...Riêng mặt hàng thuỷ sản của Việt Nam xuấtkhẩu sang Mỹ, trong 6 tháng đầu năm 2000 đã đạt gần 123 triệu USD, gấp2,1 lần cùng kỳ năm 1999 và chiếm 22% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sảncủa nước ta. Ngân hàng thế giới (WB) nhận định khi Hiệp định thương mại Việt -Mỹ có hiệu lực thì kim ngạch xuất khẩu và nhóm hàng hoá như gạo, dệtmay, cà phê, hải sản... xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ có thể tăng từ 600triệu USD hiện nay lên 800 triệu USD/năm. Hiện tại, các doanh nghiệp Việt Nam đã tranh thủ xuất khẩu sang thịtrường Mỹ những mặt hàng có thuế suất nhập khẩu bằng “0” như cà phê,tôm đông lạnh, quế và cao su tự nhiên ngày càng nhiều (trung bình tăng10%). Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng này đạt gần 300 triệuUSD. Những mặt hàng đang chịu mức thuế cao cũng được đưa nhanh vào thịtrường Mỹ như giày dép năm 1995 mới xuất sang Mỹ được 7 triệu USD, đếnnăm 1996 lên đến 39 triệu USD, năm 1998: 111 triệu USD và hiện nay đãtrở thành nước đứng thứ 12 trong số các nước xuất khẩu giày dép vào thịtrường Mỹ; hàng dệt may xuất sang Mỹ cũng tăng khoảng 3- 4 lần, năm1995 là 2,7 triệu USD, năm 1997 là 7 triệu USD và năm 1999 là 70 triệuUSD...chắc chắn, khi Hiệp định thương mại có hiệu lực mức thuế các mặthàng này sẽ giảm từ 1,5 đến 2 lần, hàng dệt may giảm từ 2,5 đến 10 lần, dầumỏ giảm 4 lần, gạo giảm 3 lần. Các mặt hàng như dứa, mật ong của ViệtNam trước đây nhập vào Mỹ mức thuế thường cao gấp 10 lần so với cácnước khác. Nhưng khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ cũng như những Hiệpđịnh liên quan khác có hiệu lực, tất cả các mặt hàng có thuế suất cao sẽ giảmxuống ngang bằng mức thuế suất các nước khác có quan hệ tối huệ quốc, sẽthực sự là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hoá củamình sang Mỹ vì khi đó hàng Việt Nam vào Mỹ thuế trung bình sẽ giảm từ40% xuống 3%. Việc ký kết Hiệp định thương mại Việt- Mỹ tạo cơ hội chohàng hoá Việt Nam thâm nhập thị trường Mỹ, đặc biệt là các mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam, từ đó góp phần nâng kim ngạch xuất khẩu, cảithiện cán cân xuất nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Mỹ. 57
  • 58. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com * Hàng nông sản: Khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực, ta sẽ thuận lợi hơntrong việc mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Mặt hàng rau tươi xuất sangMỹ chênh lệch giữa có MFN và phi MFN là 10% và 50% nên khi có MFN,nước ta có thể xuất khẩu hàng chục triệu USD rau quả tươi sang Mỹ, nếuđảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt củaMỹ (Thuế suất của rau quả giảm từ 22 cent/kg xuống còn 1 cent/kg và quảtươi giảm từ 10 cent/kg xuống 0,4 cent/kg, chè xanh từ 20% xuống 7%).Hiện nay mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ 30 triệu USD hạt điều. Cácchuyên gia Bộ Thương mại dự đoán kim ngạch xuất khẩu hạt điều có thểtăng lên gấp đôi (60 triệu USD) nếu các doanh nghiệp sản xuất và chế biếnmặt hàng này đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng. Nước ta mỗi năm xuấtsang Mỹ trên 100 triệu USD cà phê. Các nhà xuất khẩu cà phê Việt Nam đãcó kinh nghiệm trụ ở thị trường Mỹ nên khả năng xuất khẩu mặt hàng này sẽtiếp tục tăng trong thời gian tới. * Hàng dệt may: Hiệp định thương mại Việt- Mỹ vừa được ký kết đã mở ra nhiều triểnvọng mới cho ngành dệt may trong thời gian tới bởi Mỹ luôn đứng đầu cácnước trên thế giới về nhập khẩu hàng dệt may. Theo tình hình hiện nay, saukhi Việt Nam được hưởng Quan hệ Thương mại bình thường, Việt Nam cóthể xuất khẩu vào Mỹ với kim ngạch xấp xỉ 1 tỷ USD ngay từ năm đầu tiênnếu chuẩn bị tốt các điều kiện. Khả năng gia tăng kim ngạch xuất khẩu dệtmay vào Mỹ có nhiều triển vọng do giá lao động thấp, các công ty Mỹ sẽ tìmkiếm nguồn hàng giá thành rẻ với số lượng lớn tiêu thụ ở Mỹ. Hiện nay,hàng dệt may Việt Nam với chất lượng cao và chủng loại phong phú đã đượccác thị trường khó tính Nhật và EU chấp nhận sẽ dễ dàng chinh phục kháchhàng Mỹ nhất là khi thuế quan bị cắt giảm bởi quy chế NTR. Tuy nhiên, theoBộ Thương mại, hàng dệt may là mặt hàng được bảo hộ cao bằng hàng ràothuế quan và hạn ngạch, trong quan hệ song phương sẽ là một trong nhữngvấn đề nóng bỏng nhất. Nếu mở được thị trường này, hàng dệt may của ViệtNam theo khả năng sản xuất có thể thu hút được các nước khác đầu tư vào ViệtNam làm hàng xuất khẩu đi Mỹ. 58
  • 59. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com * Hàng giày dép: Mức tiêu thụ giày dép của Mỹ rất lớn, chỉ cần giành được 10% thịtrường này cũng có thể đạt kim ngạch trên 1,5 tỷ USD, lớn hơn tổng kimngạch xuất khẩu giày dép mà Việt Nam có thể đạt được trong năm nay. Bà Châu Huệ Cẩm, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhận định với thịtrường Mỹ, hàng da giày của Việt Nam có thể tham gia vào thị trường“thượng lưu” nếu đi kèm với mác của các hãng nổi tiếng như Adidas,Reebok. Còn với phân khúc thị trường “hạ lưu” thì phải cạnh tranh với hàngcủa Trung Quốc. Tuy vậy, thị trường Mỹ cũng không khó tính, nếu đã vàođược thì khả năng trụ lại là không quá khó khăn. Nhận xét về khả năng tăng tốc của ngành Da Giày Việt Nam , mộtchuyên gia của Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Thương mại) khẳng định,với Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, thuế suất thuế nhập khẩu từ mức 35%trước đây sẽ chỉ còn 20% đối với mặt hàng giày dép của Việt Nam sang Mỹ.Trước thời điểm Hiệp định thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực, sản phẩm giàydép Việt Nam xuất khẩu tới hơn 40 nước, trong đó thị trường chủ yếu là cácnuớc EU, Mỹ, Nhật. Việt Nam được đánh giá là một trong 5 nước có sốlượng giày dép tiêu thụ nhiều nhất ở EU, do lợi thế giá rẻ, chất lượng và mẫumã chấp nhận được với loại sản phẩm chủ yếu là giày thể thao. * Hàng thuỷ - hải sản: Thời gian qua, Mỹ luôn luôn là một trong những thị trường lớn nhấtnhập khẩu các mặt hàng thuỷ, hải sản của Việt Nam như tôm sú, điệp,nghêu, cá tra, cá đồng, cá basa đông lạnh và chỉ đứng thứ 2 sau Nhật trongdanh sách 10 thị trường có thị phần cao nhất của hàng thuỷ, hải sản ViệtNam . Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của nước ta sang Mỹ tăng nhanh trongnhững năm gần đây: từ 39 triệu USD năm 1997 lên 80 triệu USD năm1998và 129 triệu USD năm 1999. Trong 8 tháng đầu năm nay, lượng thuỷ sản củata xuất khẩu sang Mỹ đạt trị giá 206,6 triệu USD. Ước tính, tổng giá trị xuấtkhẩu thuỷ sản sang thị trường này trong cả năm nay sẽ đạt trên 250 triệuUSD. 59
  • 60. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com 60
  • 61. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com 2. Dự báo kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giai đoạn 2000- 2010: Bảng số 10 : Số liệu dự báo xuất khẩu Việt Nam vào Hoa Kỳ 2010 (a)( Đơn vị: triệu USD)St Mặt hàng Xuất Nhập Nhập Tăng Tăng Xuất Nhập Thị Tăng Tăngt khẩu khẩu khẩu xuất xuất khẩu khẩu phần nhập xuất Việt Mỹ từ Mỹ từ khẩu khẩu Việt Mỹ từ Việt khẩu khẩu Nam các Việt Việt Việt Nam các Nam Việt Mỹ từ vào nước Nam Nam Nam vào vào Mỹ nước tại Mỹ Nam các Mỹ vào Mỹ Mỹ vào nước Mỹ 1998 1998 2000 2005 2005/200 2010 2010 2010 2010/1 2010/ 0 998 20051 Giày dép 115 13879 230 1000 435% 1500 18000 8,33% 13% 150%2 Hàng may 35 50000 84 1000 1190% 1500 60000 2,50% 120% 150% mặc3 Máy móc 1 281000 30 1000 3333% 1500 40000 0,38% 142% 150%4 Hàng điện 1 50000 1 500 50000% 1500 60000 2,50% 120% 200% tử5 Hàng khác 20 420722 50 500 1000% 1000 50000 0,20% 119% 200%6 Đồ chơi 1 17839 1 500 50000% 1000 20000 5,00% 112% 200%7 Nông sản 10 10000 62 100 161% 500 12000 4,17% 120% 500% chế biến8 Đồ gỗ 1 16771 10 300 3000% 500 20000 2,50% 119% 167%9 Thuỷ sản 100 6717 200 200 100% 600 8000 7,50% 119% 300%10 Sành sứ 2 3364 10 100 1000% 300 4000 7,50% 119% 300%11 Hàng thủ 1 3965 10 200 2000% 300 5000 6,00% 126% 150% công12 Cà phê hạt 150 2738 162 200 123% 350 3000 11,67% 110% 175%13 Dầu thô, 70 35051 73 100 137% 200 40000 0,50% 114% 200% khí tự nhiên14 Văn hoá 1 2919 1 100 10000% 200 4000 5,00% 137% 200% phẩm15 Hạt có dầu 15 2500 15 50 333% 100 3000 3,33% 120% 200% 61
  • 62. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comTổng số xuất 523 917465 939 5850 623% 11050 115700 0,96% 126% 189%khẩu sang Mỹ 0Tổng số xuất 9300 12000 28000 301% 50000 197%khẩu hàng hoáViệt Nam (dựbáo)Tỷ trọng xuất 7% 7% 21% 22%khẩu sang Mỹ (Nguồn: Thương vụ thuộc Sứ quán Việt Nam tại Mỹ) Dự đoán trên dựa vào các cơ sở sau đây: - Những năm 2000 - 2005 tăng trưởng đột biến (tổng xuất khẩu của ta vào Mỹ tăng 6 lần trong 5 năm), đặc biệt các mặt hàng tăng mạnh nhất là: giày dép, may mặc, máy móc, điện tử, đồ gỗ, đồ chơi, nông sản chế biến, đây là thời kỳ chuyển hướng thị trường và thay đổi cơ cấu kinh tế. Thời kỳ này chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu các hàng mà ta có ưu thế về thủ công và lao động rẻ như: giày dép, dệt may, thủ công mỹ nghệ truyền thống và bước đầu phát triển máy móc và hàng chế biến cao chuẩn bị cho thời kỳ tiếp theo. - Thời kỳ 2005- 2010 xuất khẩu của ta sang Hoa Kỳ sẽ tăng chậm lại nhưng phải tăng gần gấp đôi trong 5 năm. Hàng nguyên liệu thô và nông sản thô tăng chậm hơn hay giữ nguyên thị phần. - Đến năm 2010 thị phần của Việt Nam trong nhập khẩu của Hoa Kỳ chiếm 0,96% là một chỉ tiêu cao (năm 1998 Malaysia chiếm được thị phần vào khoảng trên 2% nhập khẩu của Mỹ đứng thứ 12 trong đối tác thương mại của Hoa Kỳ). Ta chỉ có thể đạt được quy mô trên khi ta đẩy mạnh được công nghiệp hoá, thu hút mạnh mẽ đầu tư Hoa Kỳ, chủ yếu của các công ty siêu quốc gia, đồng thời sử dụng tốt lực lượng người Việt Nam tại Hoa Kỳ, vào các ngành công nghiệp với quy mô lớn làm hàng xuất khẩu trở lại Hoa Kỳ như máy móc thiết bị, điện tử, viễn thông, điện đồng thời tận dụng cả các mặt hàng tốn nhiều sức lao động như: dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, thủ công mỹ nghệ, văn hoá phẩm... - Nhập khẩu của Hoa Kỳ trong thập kỷ qua đã đạt tốc độ tăng trưởng trung bình năm vào khoảng 10% và dự kiến trong thập kỷ tới sẽ vẫn đạt 62
  • 63. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comđược thịnh vượng như thập kỷ qua do toàn cầu hoá thành công và các nềnkinh tế khác cũng được hưởng chung thành quả này. Tuy nhiên trong giaiđoạn 2000- 2010 dự kiến tăng thấp hơn thập kỷ qua trung bình 4% năm (năm2010 so 1998 tăng 26%). III. THÁCH THỨC VỚI VIỆC XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG MỸ 1. Những quy định của Mỹ về hàng nhập khẩu. Luật pháp nước Mỹ quy định, tất cả mọi vấn đề có liên quan đến việcnhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào đều thuộc thẩm quyền của chính phủLiên bang. Bộ Thương mại, Văn phòng đại diện thương mại, Uỷ ban thươngmại quốc tế và cụ thể nhất là Hải quan Mỹ là những cơ quan có trách nhiệmđối với vấn đề này. Các giấy tờ cần xuất trình trong quy trình nhập hàng vàoMỹ gồm: Giấy nhập khẩu hải quan; Hoá đơn thương mại; Danh mục kiệnhàng (nếu có); Giấy tờ khác theo yêu cầu cụ thể của chính quyền liên banghay địa phương. Mỹ có nhiều quy định pháp luật chặt chẽ và chi tiết trongbuôn bán, các quy định về chất lượng, kỹ thuật...Vì thế, khi các nhà xuấtkhẩu chưa nắm rõ hệ thống các quy định về luật lệ của Mỹ thường cảm thấykhó làm ăn tại thị trường này. Sau đây là các quy định của Mỹ về nhập khẩu: * Nhãn hiệu và thương hiệu: Luật pháp Mỹ quy định các nhãn hiệu hàng hoá phải được đăng ký tạiCục Hải quan Mỹ. Hàng hoá mang nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chướcmột nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền của một công ty Mỹ hay một công tynước ngoài đã đăng ký bản quyền đều bị cấm nhập khẩu vào Mỹ. Bản saođăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải nộp cho Cục Hải quan Mỹ và được lưu giữtheo quy định. Hàng nhập khẩu vào Mỹ có nhãn hiệu giả sẽ bị tịch thu sungcông. Theo “Copyright Revision Act” (1976) của Mỹ, hàng hoá nhập khẩuvào Mỹ theo các bản sao chép các thương hiệu đã đăng ký mà không đượcphép của người có bản quyền là vi phạm luật bản quyền, sẽ bị bắt giữ và tịchthu, các bản sao các thương hiệu đó sẽ bị huỷ. Các chủ sở hữu bản quyền 63
  • 64. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.commuốn được Cục Hải quan Mỹ bảo vệ quyền lợi cần đăng ký khiếu nại bảnquyền tại Văn phòng bản quyền theo các thủ tục hiện hành. * Hạn ngạch nhập khẩu: Đi đôi với những luật lệ và nguyên tắc về nhập khẩu hàng hoá, ở Mỹcòn áp dụng hạn ngạch để kiểm soát về khối lượng hàng nhập khẩu trongmột thời gian nhất định. Phần lớn hạn ngạch nhập khẩu do Cục Hải quanquản lý và chia làm 2 loại: hạn ngạch thuế quan và hạn ngạch tuyệt đối. Hạnngạch thuế quan quy định số lượng đối với loại hàng nào đó được nhập khẩuvào Mỹ được hưởng mức thuế giảm trong một thời gian nhất định, nếu vượtsẽ bị đánh thuế cao. Hạn ngạch tuyệt đối là hạn ngạch về số lượng cho mộtchủng loại hàng hoá nào đó được nhập khẩu vào Mỹ trong một thời giannhất định, nếu vượt quá sẽ không được phép nhập khẩu. Có hạn ngạch tuyệtđối mang tính toàn cầu, nhưng có hạn ngạch tuyệt đối chỉ áp dụng đối vớitừng nước riêng biệt. Một số mặt hàng sau đây khi nhập khẩu vào Mỹ phải có hạn ngạch: + Hạn ngạch thuế quan áp dụng đối với: sữa và kem các loại, cam,quýt, ôliu, xirô, đường mật,wiskroom chế toàn bộ hoặc một phần từ thân câyngô. + Hạn ngạch tuyệt đối áp dụng đối với: thức ăn gia súc, sản phẩm thaythế bơ, sản phẩm có chứa 45% bơ béo trở lên, pho mát được làm từ sữa chuadiệt khuẩn, sôcôla có chứa 5,5% trọng lượng là bơ béo trở lên, cồn êtylen vàhỗn hợp của nó dùng làm nhiên liệu. Ngoài ra Cục Hải quan Mỹ còn kiểm soát việc nhập khẩu bông, len,sợi nhân tạo, hàng pha tơ lụa, hàng làm từ sợi thiên nhiên được sản xuất tạimột số nước theo quy định. Việc kiểm soát này được tiến hành dựa trênnhững quy định trong Hiệp định hàng dệt mà Mỹ đã ký với các nước. Tiêu chuẩn thương phẩm đối với hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ đượcquy định rất chi tiết và rõ ràng đối với từng nhóm hàng. Việc kiểm tra, kiểmdịch và giám định do các cơ quan chức năng thực hiện. * Hàng dệt: 64
  • 65. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Các sản phẩm dệt nhập khẩu vào Mỹ phải ghi rõ tem, mác quy định:các thành phần sợi được sử dụng có tỷ trọng trên 5% sản phẩm phải ghi rõtên, các loại nhỏ hơn 5% phải ghi là “các loại sợi khác”. Phải ghi tên hãngsản xuất, số đăng ký do Federal Trade Commission (FTC) của Mỹ cấp. * Pho mát, sữa và các sản phẩm sữa: Pho mát và các sản phẩm pho mát phải tuân theo các yêu cầu của Cơquan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) và của Bộ Nông nghiệp Mỹ,và hầu hết phải xin giấy phép nhập khẩu và quota của Vụ quản lý đối ngoại(FAS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ. Nhập khẩu sữa và kem phải tuân theo các điều luật về thực phẩm, vàđiều luật về nhập khẩu sữa. Các sản phẩm này chỉ được nhập khẩu bởinhững người có giấy phép nhập khẩu do các cơ quan: Bộ Y tế, FDA, Trungtâm an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, Văn phòng nhãn hiệu thực phẩm vàBộ Nông nghiệp Mỹ cấp. * Thịt và các sản phẩm thịt: Thịt và các sản phẩm thịt nhập khẩu vào Mỹ phải tuân theo các quyđịnh của Bộ Nông nghiệp Mỹ và phải qua giám định của Cơ quan giám địnhy tế về động - thực vật (APHIS) và của Cơ quan giám định về an toàn thựcphẩm trước khi làm thủ tục hải quan. Các sản phẩm từ thịt sau khi đã quagiám định của Cơ quan giám định động - thực vật (APHIS) còn phải quagiám định của Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA). * Động vật sống: Động vật sống khi nhập khẩu vào Mỹ phải đáp ứng các điều kiện vềgiám định và kiểm dịch của APHIS, ngoài ra còn phải kèm theo giấy chứngnhận về sức khoẻ của chúng và chỉ được đưa vào Mỹ qua một số cảng nhất định. * Gia cầm và các sản phẩm gia cầm: Gia cầm sống, lạnh đông, đóng hộp, trứng và các sản phẩm từ trứngkhi nhập khẩu vào Mỹ phải theo đúng quy định của APHIS và của Cơ quangiám định an toàn thực phẩm thuộc USDA. * Cây và các sản phẩm từ cây: 65
  • 66. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Cây và các sản phẩm từ cây phải tuân theo các quy định của Bộ Nôngnghiệp, có thể bị hạn chế hoặc cấm. Các sản phẩm này bao gồm cả trái cây,rau, cây trồng, rễ cây, hạt, sợi từ cây kể cả bông và các cây làm chổi, hoa đãcắt, một số loại ngũ cốc, gỗ cây, gỗ sẻ, đều cần có giấy phép nhập khẩu. * Hoa quả, rau và hạt các loại: Rau, quả, hạt, củ các loại khi nhập khẩu vào Mỹ phải bảo đảm các yêucầu về chủng loại, kích cỡ, chất lượng, độ chín. Các mặt hàng này phải quaCơ quan giám định an toàn thực phẩm thuộc USDA để có xác nhận là phùhợp với các tiêu chuẩn nhập khẩu. * Đồ điện gia dụng: Đồ điện gia dụng khi nhập khẩu vào Mỹ phải ghi trên nhãn mác cáctiêu chuẩn về điện, chỉ tiêu về tiêu thụ điện theo quy định của Bộ Nănglượng, Hội đồng Thương mại Liên bang, cụ thể là đối với: tủ lạnh, tủ cấpđông, máy rửa bát, máy sấy quần áo, thiết bị đun nước, thiết bị lò sưởi, điềuhoà không khí, lò nướng, máy hút bụi, máy hút ẩm. * Thực phẩm, thuốc bệnh, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế: Thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế khi nhập khẩu vào Mỹphải theo các quy định của Federal Drug and Cosmetic Act. Theo đó, nhữngmặt hàng kém chất lượng hoặc không bảo đảm vệ sinh an toàn cho người sửdụng sẽ bị cấm nhập khẩu, buộc phải huỷ hoặc đưa về nước xuất xứ. Nhiều mặt hàng thực phẩm như bánh kẹo, sản phẩm sữa, thịt, trứng,trái cây, rau còn phải tuân theo các quy định như đã nêu ở trên. Hải sản khi nhập khẩu vào Mỹ phải theo các quy định của NationalMarine Fisheries Service thuộc Cục quản lý môi trường không gian và biểnvà Bộ Thương mại Mỹ. * Làm thủ tục hải quan: Đối với các nhà xuất khẩu nước ngoài, khi muốn làm thủ tục hải quanđể xuất khẩu vào Mỹ có thể thông qua người môi giới hoặc thông qua cáccông ty vận tải. Thuế suất có sự phân biệt rất lớn giữa những nước đượchưởng quy chế Thương mại bình thường (NTR) với những nước không được 66
  • 67. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comhưởng (Non-NTR), có hàng hoá có thuế, có hàng hoá không thuế, nhưngnhìn chung thuế suất ở Mỹ thấp hơn so với nhiều nước khác. * Luật chống bán phá giá (ADs): Ở Mỹ có Luật chống bán phá giá (ADs). Nếu hàng hoá bán vào Mỹthấp hơn giá quốc tế hoặc thấp hơn giá thành thì người sản xuất ở Mỹ có thểkiện ra toà, và như vậy, nước bị kiện sẽ phải chịu thuế cao không chỉ đối vớichính hàng hoá bán phá giá mà còn đối với tất cả các hàng hoá khác củanước đó bán vào Mỹ. * Luật chống bán hạ giá (CVDs): Thuế chống bán hạ giá( CVDs) được áp dụng để làm vô hiệu hoá tácđộng của trợ cấp xuất khẩu do Chính phủ nước ngoài dành cho hàng hoá củahọ khi xuất khẩu sang Mỹ. Những trợ cấp này làm giảm giá của hàng xuấtkhẩu vào Mỹ một cách cố ý, gây “chấn thương” kinh tế cho các nhà sản xuấtMỹ. Tại thị trường Mỹ, yếu tố giá cả đôi khi có sức cạnh tranh hơn cả chấtlượng sản phẩm. Người tiêu dùng Mỹ thường không muốn trả tiền theo giániêm yết. Hàng hoá bán tại Mỹ thường phải kèm theo dịch vụ sau bán hàng.Số lượng và chất lượng của dịch vụ này là điểm mấu chốt cho sự tín nhiệmđối với người bán hàng. Các nhà kinh doanh tại thị trường Mỹ phải chấpnhận cạnh tranh rất gay gắt như nhiều người mô tả là “một mất một còn”.Cái giá phải trả cho sự nhầm lẫn là rất lớn. Người tiêu dùng Mỹ thường nônnóng nhưng lại mau chán, vì thế nhà sản xuất phải sáng tạo và thay đổinhanh đối với sản phẩm của mình, thậm chí phải có “ phản ứng trước ”. Mặc dù khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được Quốc hội hai nướcthông qua, hàng hoá Việt Nam vào Mỹ sẽ được hưởng NTR, nhưng vẫn phảicạnh tranh quyết liệt với hàng hoá của Trung Quốc, của các nước ASEAN vànhiều nước khác đang được hưởng NTR trên thị trường Mỹ, trong cuộcchiến này chất lượng và giá cả là quyết định. Hàng hoá của Việt Nam vớichủng loại tương tự nhưng một số mặt hàng có chất lượng thấp hơn và giáthành cao hơn, khó có thể cạnh tranh với hàng hoá của các nước nói trên vốnđã có mặt tại thị trường Mỹ trước hàng hoá của Việt Nam hàng chục năm. 67
  • 68. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Như vậy, những quy định ngặt nghèo của Mỹ về hàng nhập khẩu lànhững trở ngại phi thuế quan mà hàng hoá của Việt Nam không dễ vượt qua.Nếu Việt Nam được hưởng NTR/GSP mà chất lượng hàng hoá không tăngvà giá cả không hạ hoặc phía Mỹ vẫn áp dụng các quy định nhập khẩu truyềnthống thì việc tăng kim ngạch và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Namtại thị trường Mỹ là nan giải. Để vào được thị trường Mỹ, ngoài việc nắm vững nhu cầu thị trường,các doanh nghiệp Việt Nam còn phải tìm hiểu và nắm vững hệ thống quảnlý xuất nhập khẩu cũng như hệ thống hạn ngạch của Mỹ. Mỹ có một hệthống pháp luật về Thương mại vô cùng rắc rối và phức tạp. Khi các doanhnghiệp Việt Nam vượt qua được những rào cản này thì việc xâm nhập thịtrường Mỹ sẽ trở nên dễ dàng hơn. 2. Vấn đề gian lận thương mại. Vấn đề gian lận thương mại giữa các nước cũng được coi như là mộtthách thức đối với Việt Nam khi được hưởng NTR. Khi đó nếu được Mỹ ápdụng GSP (Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập) đối với hàng hoá của ViệtNam xuất khẩu sang Mỹ thì sẽ xảy ra tình trạng hàng hoá một số nước mạodanh là hàng của Việt Nam để được hưởng ưu đãi. Trong khi giá thành sảnxuất của các nước này thấp hơn nhiều so với hàng của Việt Nam, thậm chíchỉ bằng một nửa giá thành của Việt Nam, lại được hưởng thuế suất ưu đãi(thông thường dưới 5%), thì hàng của các nước này chắc chắn sẽ cạnh tranhvà đánh bật hàng của Việt Nam và chiếm được thị phần trong thị trường Mỹ. Để chống gian lận thương mại hai bên phải tìm ra các biện pháp hữuhiệu như EU và Việt Nam đã từng làm để hình thành cơ chế kiểm tra kép đốivới mặt hàng giày dép trên cơ sở giấy chứng nhận xuất xứ. 3. Công tác xúc tiến thương mại còn nhiều hạn chế. Bên cạnh những tác động tích cực mà công tác xúc tiến thương mạiđem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam, vấn đề khó khăn nhất hiện nay vẫnlà việc cung cấp thông tin chưa đầy đủ, cập nhật, chưa hỗ trợ cho các doanhnghiệp tiếp cận thị trường nước ngoài nói chung và thị trường Mỹ nói riêng. 68
  • 69. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Thông tin trong hoạt động xúc tiến thương mại đóng vai trò rất quantrọng và có ý nghĩa quyết định. Đây là đối tượng nghiên cứu của các tổ chứcxúc tiến thương mại và là mảng hoạt động lớn nhất trong xúc tiến thươngmại. Nếu tổ chức khai thác và chuyển tải thông tin tốt, chất lượng thông tincao thì hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại được khẳng định và đem lạilợi ích cho các doanh nghiệp. Ngược lại tổ chức thông tin thiếu chính xác,không đầy đủ, không kịp thời hoặc chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệpthì công tác xúc tiến thương mại sẽ không mang lại lợi ích gì cho doanhnghiệp, thậm chí còn gây thiệt hại cho các doanh nghiệp. Thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất,kinh doanh nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Trong nềnkinh tế thị trường thông tin được coi là một trong những nguồn lực quantrọng của doanh nghiệp. Trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của thịtrường, nắm bắt được nhu cầu khách hàng càng đầy đủ, nhanh chóng thì mớicó thể đáp ứng nhu cầu của họ tốt hơn và do đó hoạt động kinh doanh cóhiệu quả hơn, sản phẩm sẽ có tính cạnh tranh cao hơn. Do chưa hiểu đầy đủ, cụ thể về một ngành nào hoặc một doanh nghiệpcụ thể nào và về nhu cầu của doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinhdoanh nên thông tin từ các tổ chức xúc tiến thương mại hỗ trợ cho doanhnghiệp còn mang tính chất chung chung, chưa cụ thể và kịp thời. Trong khiđó các doanh nghiệp rất cần thông tin chuyên ngành cụ thể về thị trường, mặt hàng... Do trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên hạn chế, việc tiếp cậnvà xử lý thông tin còn yếu nên nhiều khi chương trình xúc tiến không nhằmđúng đối tượng, lĩnh vực kinh doanh làm cho hiệu quả thấp. Do không được hỗ trợ về mặt kinh tế nên đa số các tổ chức xúc tiếnthương mại hoạt động theo nguyên tắc “ lấy thu bù chi”, do vậy họ hướngvào lợi nhuận hơn là hướng vào lợi ích của quốc gia, lợi ích của các doanhnghiệp. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trênthị trường xuất khẩu, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống xúc tiến thươngmại theo hướng phục vụ khách hàng rõ rệt. Ông Greg Dodds, Tổng giám đốcđiều hành khu vực Đông Bắc Á, cơ quan xúc tiến xuất khẩu của 69
  • 70. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comAustralia(Austrade) cho rằng “Xúc tiến thương mại là giúp từng doanhnghiệp tăng doanh thu ở thị trường ngoài nước. Các cơ quan xúc tiến thươngmại cần tập trung đáp ứng nhu cầu thực sự của các cơ quan xuất khẩu do bảnthân các cơ sở này, chứ không phải ai khác đưa ra”. Muốn làm ăn với Mỹ, chúng ta phải có hệ thống thông tin hiện đại.Phương tiện hữu hiệu nhất hiện nay có thể đáp ứng nhu cầu thông tin cho cácdoanh nghiệp là Internet. Hiện nay giá dịch vụ Internet ở Việt Nam còn quácao so với nhiều nước. Ngay ở Mỹ, người sử dụng chỉ trả 1USD/ngày, còn ởViệt Nam là 1USD/giờ. Nhà nước cần tính đến lợi ích chung của xã hội chứkhông nên vì lợi ích của một số ngành mà để mất đi lợi thế có tính toàn cầunày. Nếu chúng ta không có thông tin hiện đại thì không thể hội nhập với thếgiới, không thể xuất khẩu và cạnh tranh được. 70
  • 71. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Chương III CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG MỸ I. Các giải pháp tăng cường xuất khẩu các ngành hàng chủ lực. Thực tiễn xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ trong nhữngnăm qua cho thấy một số nhóm, mặt hàng đạt kim ngạch khá và tăng đều quacác năm do các doanh nghiệp của ta đã thiết lập được hệ thống các kênhphân phối tương đối ổn định trên thị trường Mỹ và vẫn đảm bảo được nguồnlực để tổ chức sản xuất với chi phí thấp nhằm tận dụng lợi thế so sánh củamình. Để hưởng lợi trực tiếp từ Hiệp định thương mại Việt - Mỹ ngay saukhi Hiệp định có hiệu lực, chúng ta cần tổ chức tốt các ngành hàng sau đâylà các ngành hàng có triển vọng tốt để thâm nhập thị trường Mỹ: - Dệt may. - Giày dép. - Thuỷ sản. - Sành sứ. - Mây tre đan.` - Đồ gỗ và đồ nội thất. - Rau quả chế biến. - Hàng cơ khí và kim khí. - Gạo, cao su, cà phê. - Hàng thêu ren. - Đá ốp lát. Sau đây là giải pháp đối với một số ngành trọng yếu: 71
  • 72. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Đối với hàng dệt may: Làm ăn với doanh nghiệp Mỹ đòi hỏi cácdoanh nghiệp dệt may Việt Nam phải tiếp cận với phương thức sản xuất vàxuất khẩu FOB. Vì lẽ, hàng dệt may bị ràng buộc bởi điều kiện xuất xứ và tỷlệ nội địa hoá trên sản phẩm khi xuất khẩu vào thị trường này. Vì vậy, trongthời gian tới, ngành dệt may cần tích cực tìm kiếm thị trường bán hàng thànhphẩm FOB và đặc biệt lưu ý đến các hàng hoá với chất lượng bình dân, giárẻ. Đây sẽ là cơ hội xâm nhập vào thị trường Mỹ. Bên cạnh đó, ngành dệtmay Việt Nam cũng phải chịu sức ép của tiến trình hội nhập kinh tế. Đếnnăm 2004, thị trường EU bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho các nước WTO. Vàonăm 2006, theo lộ trình của AFTA, chúng ta sẽ xoá bỏ hàng rào thuế quannhập khẩu. Riêng thị trường Mỹ, sẽ ấn định hạn ngạch dệt may trong thờigian sớm nhất. Trước thách thức đó, ngành dệt may Việt Nam cần tập trung giảiquyết 4 vấn đề lớn sau: Một là, xây dựng chương trình đầu tư phát triển chotoàn ngành từ nay đến năm 2010; trong đó tập trung đầu tư cho ngành dệtdưới dạng các cụm công nghiệp nhằm tạo ra nguồn nguyên phụ liệu chấtlượng cao cung cấp cho ngành may xuất khẩu. Hai là, kết hợp chương trìnhđầu tư chiều sâu đối với các doanh nghiệp hiện có với chương trình cổ phầnhoá, sắp xếp lại các doanh nghiệp dệt may nhằm từng bước hình thành doanhnghiệp vừa và nhỏ với công nghệ chuyên sâu, phù hợp với trình độ quản lýhiện nay. Ba là, đối với ngành may, do đặc thù vốn đầu tư thấp, công nghệvà lao động không quá phức tạp nên có thể phát triển rộng khắp đến tận cácvùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở củng cố 4 trung tâm làm hàngxuất khẩu chất lượng cao, đó là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phốHồ Chí Minh. Bốn là, đổi mới hệ thống quản lý, phương pháp làm việcnhằm nâng cao hiệu quả các cuộc làm việc với các đối tác nước ngoài, đặcbiệt là doanh nhân Mỹ trên cơ sở đúng thời hạn giao hàng và ổn định sốlượng, chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó là chiến lược dài hạn tăng cườngkhả năng xuất khẩu các loại bông, sợi hoá học, vải, nguyên phụ liệu trongnước; nâng cao năng lực cũng như quy mô sản xuất của các xí nghiệp mayvà chất lượng thiết kế mẫu mã, khả năng bán hàng theo phương thức FOB,tham gia hội chợ triển lãm, liên kết mạng lưới bạn hàng trong việc cung ứngnguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. 72
  • 73. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Bên cạnh những cố gắng nỗ lực của các doanh nghiệp trong ngành dệtmay, Nhà nước vẫn cần hỗ trợ các chính sách về vốn đầu tư, ưu đãi thuế,khuyến khích sản xuất mặt hàng mới. Đối với hàng giày dép: Thị trường Mỹ rất coi trọng các tiêu chuẩn vềkỹ thuật đòi hỏi chất lượng rất cao. Hàng hoá phải được phía Mỹ kiểm tra rồimới chấp nhận cho nhập. Việc ký kết Hiệp định thương mại vừa qua, Nhànước chỉ mới tạo ra hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp, tạo thuận lợitrong quá trình trao đổi thương mại, còn bản thân các doanh nghiệp phải tựlo liệu hết các khâu từ việc tìm đối tác, tìm nhu cầu sản phẩm trên thị trườngtới việc thoả thuận giá cả, làm hàng mẫu...Hiện nay, đã có nhiều doanhnghiệp tìm được đối tác và bắt đầu sản xuất hàng mẫu, chỉ chờ khi Hiệp địnhđược thông qua là sẽ xuất khẩu. Một số ít doanh nghiệp da giày có sản phẩmgiày xuất khẩu sang thị trường Mỹ hoặc qua đối tác trung gian xuất khẩusang Mỹ sẽ có điều kiện mở rộng, đẩy mạnh sản xuất và tăng kim ngạch xuấtkhẩu. Phần lớn các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có điều kiện xuấtkhẩu số lượng lớn sang Mỹ sẽ giãn bớt ở thị trường EU và trước mắt tạo điềukiện cho số đông các doanh nghiệp của ta duy trì và phát triển sản xuất, đẩymạnh xuất khẩu vào thị trường EU. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp giàyViệt Nam sẽ tiếp tục đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị và nâng caotrình độ quản lý, kỹ thuật để tiếp cận và mở rộng thị trường vào Mỹ. Hiện nay, ngành Da giày Việt Nam đang đứng trước những tháchthức lớn, đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước xuất khẩu giày; trong đóđáng chú ý là Trung Quốc. Trình độ kỹ thuật, quản lý sản xuất chưa cao, chiphí lớn làm cho giá thành cao, điều này rất bất lợi khi xuất khẩu vào thịtrường Mỹ. Phần lớn các doanh nghiệp của ta còn phụ thuộc vào đối tác giacông nên việc thâm nhập thị trường Mỹ chưa chủ động. Đối với số đông cácdoanh nghiệp, việc hiểu biết các quy định, các luật trong thương trường Mỹcòn ít. Nếu các doanh nghiệp ngành Da giày không nhanh chóng có kế hoạchđầu tư chiều sâu cải tiến mẫu mã, xây dựng công nghệ khuôn đúc cho riêngmình thì e rằng khó có thể thâm nhập được vào thị trường Mỹ khó tínhnhưng nhiều triển vọng về lâu dài này. 73
  • 74. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Vì vậy, về lâu dài, đối với sản xuất trong nước cần đẩy mạnh việcchuyển dần từ nhận gia công sang chủ động mua nguyên liệu trong nước đểsản xuất hàng xuất khẩu. Nhà nước cần đầu tư xây dựng một số Khu Côngnghiệp liên hoàn về ngành thực phẩm và da giày để hỗ trợ nhau và tạo nênhiệu quả kinh tế tối ưu, bao gồm: nhà máy giết mổ, chế biến thức ăn sẵn, chếbiến đồ hộp, thuộc da, chế biến sản phẩm da và thiết kế mẫu mốt. Liêndoanh với các đối tác nước ngoài nhưng yêu cầu họ phải từng bước chuyểngiao công nghệ... Tổng công ty Da giày Việt Nam đã thành lập và hoạt động được mộtthời gian; bởi vậy, cần đúc rút những kinh nghiệm hoạt động sản xuất kinhdoanh và đề ra phương hướng đầu tư phù hợp trong thời gian tới. Tổng công ty Da giày đã và đang đầu tư xây dựng mới từ 2 đến 3 nhàmáy sản xuất mũ giày phục vụ sản xuất giày xuất khẩu. Các trường hợp đầutư mở rộng trong ngành giày nên được hưởng ưu đãi (theo Luật khuyếnkhích đầu tư trong nước như đối với đầu tư xây dựng cơ sở mới). Nếu doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để đầu tư thì không bắt buộcphải có vốn tự có tương đương 30% khoản vay. Đề nghị hạ mức này xuống10% hoặc bãi bỏ hoàn toàn điều kiện này. Ngân hàng sẽ tư thẩm định dự ánđầu tư và cho vay dựa trên những tính toán về hiệu quả đầu tư. Đối với hàng thuỷ sản: Theo các chuyên gia, để có thể trụ vững ở thịtrường này, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ hải sản Việt Nam sẽ phảikhông ngừng nâng cao chất lượng bởi hệ thống kiểm soát chất lượng của Mỹrất ngặt nghèo, sự cạnh tranh giữa các sản phẩm cùng loại nhập từ nước kháclà vô cùng quyết liệt. Về chất lượng, theo quy định của Mỹ, tất cả các sảnphẩm nhập khẩu từ nước ngoài vào Mỹ, đặc biệt là các mặt hàng thực phẩmchế biến, trong đó có hàng thuỷ sản, đều phải qua khâu kiểm tra chất lượngrất chặt chẽ của Cơ quan Kiểm soát chất lượng thực phẩm và dược phẩm Mỹ(FDA). Mặt khác, riêng đối với mặt hàng thuỷ sản, Mỹ chỉ áp dụng tiêuchuẩn hệ thống kiểm soát HACCP (chương trình kiểm soát vệ sinh an toànchất lượng của riêng nước này), chứ không chấp nhận bất cứ một tiêu chuẩnnào khác, kể cả tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng được coi là rất khắt khe củaLiên minh Châu Âu (EU). Chính vì vậy, hiện chỉ có 25 doanh nghiệp Việt 74
  • 75. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comNam xây dựng được tiêu chuẩn chế biến thủy, hải sản theo chương trìnhHACCP có thể xuất sang thị trường Mỹ, trong khi đó có rất nhiều doanhnghiệp khác mặc dù đã được EU đưa vào danh sách nhóm 1 (được xuất trựctiếp sản phẩm thuỷ hải sản sang toàn bộ 15 nước EU mà không cần kiểmtra), nhưng vẫn không được thị trường này chấp nhận. Ngay cả khi đặt chânvào thị trường Mỹ, hàng Việt Nam vẫn phải cạnh tranh quyết liệt với rấtnhiều sản phẩm của các nước khác như Thái Lan và các nước AESAN kháccùng có mặt trên thị trường này. Theo một số doanh nghiệp đã và đang cómặt trên thị trường Mỹ, nếu xét về chất lượng, hàng thuỷ, hải sản của ViệtNam hoàn toàn không thua kém so với các nước khác, song do phải chịuthuế suất đầu vào cao (20- 40%), nên giá thành bị đội lên quá cao, khiến sứccạnh tranh của hàng Việt Nam bị giảm đáng kể. Các doanh nghiệp Việt Namvẫn phải xây dựng cho được tiêu chuẩn hệ thống kiểm soát chất lượng theochương trình HACCP. Nhưng đó mới là “ tiêu chuẩn đầu vào”. Điều quantrọng là các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tìm hiểu đầy đủ các thôngtin về thị trường cũng như thị hiếu của khách hàng Mỹ, trên cơ sở đó xuấtnhững mặt hàng vừa có lợi thế so sánh cao so với các nước khác, vừa đượcngười tiêu dùng chấp nhận để duy trì khả năng cạnh tranh của mình”. Bộ Thuỷ sản và các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội chế biến thuỷ sản đãxác định rõ là để đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản, trước hết phải nâng cao chấtlượng và tính cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời phải tăng cường xúc tiếnthương mại để mở rộng thị trường. Ngành thuỷ sản đã sớm đi đầu trong việc xây dựng và áp dụng các hệthống mới về quản lý chất lượng sản phẩm như để từng bước thay thế cácphương thức kiểm soát chất lượng truyền thống. Từ năm 1991, thuỷ sản ViệtNam đã tiếp cận với hệ quản lý chất lượng của Mỹ đối với hàng thuỷ sản vàcoi đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất để đẩy mạnh xuất khẩuthuỷ sản sang các thị trường lớn và khó tính như Mỹ, EU. Cụ thể, Bộ thuỷsản đã có quy định là từ ngày 1/1/2000, tất cả các cơ sở chế biến thuỷ sảntrong nước bắt buộc phải áp dụng các tiêu chuẩn này. Ngoài các mặt hàng truyền thống như đã nêu trên, khả năng xuất khẩuphần mềm máy tính hay những phần mềm cho thương mại điện tử cũng là 75
  • 76. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.commặt hàng có nhiều triển vọng mà ta với Mỹ có những tương đồng phù hợplợi ích cả hai bên. Nhà nước cần có các biện pháp mạnh mẽ khuyến khíchcác công ty Việt Nam sang Mỹ tiếp cận thị trường trong lĩnh vực này. Thịphần của thương mại điện tử ở Mỹ đang trên đà tăng trưởng mạnh và trongmột số năm tới có thể lên đến hàng ngàn tỷ USD mỗi năm. II.CÁC GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC . Để hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, Nhà nướccần tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho kinh doanh, hình thành hành langpháp lý song phương và đa phương... Đối với riêng thị trường Mỹ, Nhà nướccần có các biện pháp hỗ trợ sau để giúp các doanh nghiệp tiến vào thị trườngnày: 2. Cải cách hệ thống ngân hàng. Ngành ngân hàng Việt Nam là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế,nổi bật là đẩy lùi nạn lạm phát phi mã, ổn định giá trị đồng tiền, ổn định kinhtế vĩ mô, làm nòng cốt trong huy động vốn, đáp ứng nhu cầu vốn của cácdoanh nghiệp để chuyển dịch cơ cấu sản xuất, linh hoạt đáp ứng nhu cầu thịtrường ở quy mô lớn hơn trong và ngoài nước, hợp tác chặt chẽ với các ngânhàng Mỹ trong quan hệ đại lý ngân hàng như vay vốn ngoại tệ, điều trakhách hàng Mỹ, xác nhận L/C, thanh toán quốc tế...để hỗ trợ và phục vụ cóhiệu quả cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia kinh doanh với Mỹ, đẩymạnh xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, chúng ta cần hiện đại hoá côngnghệ ngân hàng, từng bước nâng dần tỷ lệ tín dụng so với GDP lên ngangbằng các nước trong khu vực (tỷ lệ này của Việt Nam hơn 32%, các nướckhoảng 50%). Hạ thấp chỉ tiêu về chi phí nghiệp vụ trên tài sản “Có” xuốngtương đương với mức bình quân của khu vực (tỷ lệ này của Ngân hàngThương mại Việt Nam là 9%, các nước trong khu vực khoảng 2,5-3%). Tiếpđến là hình thành các thị trường chứng khoán để đáp ứng nhu cầu thu hútvốn trong và ngoài nước; tận dụng các nguồn tài trợ thương mại, nguồn vốnvay của các ngân hàng nước ngoài để cho các doanh nghiệp vay kinh doanhsản xuất và xuất khẩu. Và cuối cùng là lành mạnh hoá hệ thống tài chính tiềntệ, cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém, tăng cường tiềm lực tài chính, khả 76
  • 77. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comnăng cạnh tranh và sức đề kháng của ngân hàng trước những biến động củathị trường trong nước và quốc tế. 2. Tăng cường quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại. Bộ Thương mại và một số bộ ngành có liên quan cần thành lập cácnhóm nghiên cứu thị trường Mỹ, tập trung vào các vấn đề như môi trườngpháp luật, hàng hoá, kinh doanh, giá cả, phương thức tiếp cận thị trường Mỹđể giúp đỡ các doanh nghiệp Việt Nam . Để vào được thị trường Mỹ, các doanh nghiệp không những phải nắmvững nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và đảm bảo sản phẩm cósức cạnh tranh về chất lượng cũng như giá cả, mà còn phải thông thạo hệthống pháp luật Mỹ, nắm được hệ thống quản lý xuất nhập khẩu cũng nhưhạn ngạch của Mỹ. Mỹ có một hệ thống pháp luật về thương mại vô cùng rắcrối và phức tạp. Bộ luật Thương mại (Uniform Commerical Code) được coinhư xương sống của hệ thống pháp luật về thương mại. Vì vậy, các doanhnghiệp rất cần những thông tin hỗ trợ này từ phía Nhà nước, đặc biệt cácdoanh nghiệp chưa xuất khẩu sang thị trường Mỹ lần nào và chuẩn bị thâmnhập thị trường này. Hoạt động xúc tiến thương mại nhằm phát triển sản xuất và xuất khẩutrên cơ sở giảm chi phí về thời gian và tiền của cho các doanh nghiệp, cụ thểgồm các giải pháp sau: - Đưa vào Website những thông tin có giá trị thương mại để quảng cáocho các doanh nghiệp và hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ. Tậphợp các nhu cầu xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam, đảm bảo hàng hoá nhậpkhẩu là công nghệ tiên tiến và mang lại hiệu quả cao cho phát triển kinh tếđất nước. - Tổ chức hội chợ triển lãm theo nhu cầu của các doanh nghiệp ViệtNam và Mỹ muốn thâm nhập thị trường của nhau và chuẩn bị các phươngán làm ăn lâu dài sau khi có Quy chế Tối huệ quốc. - Tổ chức mạng lưới du lịch Việt Nam - Mỹ một cách có hiệu quả,phục vụ tốt các nhu cầu của giới kinh doanh và du khách, trong đó tổ chứccác chuyến đi khảo sát thị trường cho các doanh nghiệp. 77
  • 78. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com - Thành lập Quỹ xúc tiến thương mại do Nhà nước và doanh nghiệpcùng đóng góp. Quỹ này lập tài khoản riêng không nằm trong ngân sách củaBộ tài chính, chuyên dùng cho mục đích xúc tiến thương mại. Để thúc đẩy xuất khẩu, ngoài các biện pháp và chính sách chung, đốivới thị trường Mỹ cần lập hệ thống các trung tâm thương mại tại một sốthành phố lớn như NewYork, Los Angeles, San Francisco, Chicago...tạo cầunối và giảm chi phí giao dịch cho các công ty Việt Nam . Các trung tâm nàycó thể do Nhà nước ta bảo trợ hoặc kết hợp với các công ty Mỹ và Việt kiều,hoặc kết hợp giữa một số doanh nghiệp mạnh trong nước sang mở các phòngtrưng bày, giao dịch giới thiệu và ký hợp đồng. Để hoạt động xúc tiến thương mại gặt hái được thành công, Việt Namcần tăng cường khả năng tiếp cận với các thông tin thương mại. Chínhnhững thông tin thương mại này cho phép một chuyên gia có thể chuyển mộttiềm năng xuất khẩu thành một hoạt động giao dịch kinh doanh thực sự. Đólà thiết lập các mối quan hệ trong kinh doanh, thông tin về các kênh phânphối, hiếu biết về bản chất của cạnh tranh trong nước và nước ngoài và cuốicùng là sở thích của người tiêu dùng. Về vai trò của Đại diện thương mại ở nước ngoài, họ là phương tiệnquan trọng tạo điều kiện cho các cơ sở xuất khẩu tiếp cận với những thôngtin thương mại. Việt Nam cần tập trung tìm cách tăng cường hệ thống đó.Việc bố trí đội ngũ tuỳ viên thương mại là một hình thức đầu tư tốn kémnhưng không thể không có và chúng ta cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốnđầu tư cho việc thiết lập các Ban Đại diện thương mại của mình ở nướcngoài. 3. Thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu (HTXK). Mục tiêu chính của Quỹ HTXK là trợ giúp các doanh nghiệp có tiềmnăng phát triển xuất khẩu nhưng không có điều kiện tiếp cận nguồn vốn củangân hàng do không có tài sản thế chấp. Quỹ HTXK sẽ đứng ra bảo lãnh cáckhoản vay, cung cấp các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu đểcác doanh nghiệp đầu tư công nghệ hiện đại và bảo đảm vốn lưu động. II. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Namsang thị trường Mỹ. 78
  • 79. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Trong quan hệ kinh tế-thương mại Việt-Mỹ, Nhà nước chỉ có tác dụngtạo ra một khuôn khổ pháp lý ổn định và môi trường kinh doanh thuận lợinhất cho các doanh nghiệp. Việc tận dụng và phát huy được những lợi thếcủa mình hay không là phụ thuộc vào các doanh nghiệp. Sau đây là các giảipháp đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu: 1. Giải pháp về vốn. Thành lập các tập đoàn công ty lớn hoặc liên kết các công ty có quymô nhỏ để sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng chủ lực trên quy mô sảnxuất lớn, có khả năng cạnh tranh cao, tạo ra nguồn cung cấp hàng hoá xuấtkhẩu ổn định và lâu dài, đáp ứng được nhu cầu đặt hàng nhanh với số lượnglớn của các đối tác Mỹ. Thực tiễn cho thấy đối với mặt hàng dệt may, Mỹ không đặt đơn hànglẻ. Một đơn hàng của Mỹ có thể lên tới cả triệu sản phẩm mà thời gian cungứng hàng lại rất nhanh. Do vậy, cần đưa năng lực sản xuất của các doanhnghiệp ngành may lên cao và cần liên kết lại nhằm đủ sức thực hiện một đơnhàng. Quy mô sản xuất của ta hiện nay còn quá nhỏ để có thể cạnh tranh vìsản xuất còn phân tán theo vùng và sản xuất thủ công là chính nên giá thànhcòn cao, chất lượng chưa đồng đều và sức cạnh tranh kém. Để khắc phụcnhược điểm này, chúng ta cần tổ chức lại sản xuất ở quy mô hợp lý, kết hợpsử dụng lao động lành nghề và giản đơn, áp dụng phương thức quản lý tiêntiến, đưa hệ thống sản xuất của ta vào định hướng xuất khẩu các loại hànghoá mà các đối tác nước ngoài cần chứ không phải dựa vào những gì mìnhcó, cố gắng tận dụng phát huy những lợi thế so sánh của mình để tăng khảnăng xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Để có quy mô sản xuất lớn hai yếu tố chính là vốn và thị trường. Vìvậy việc thu hút vốn là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh nhưng nếu thiếuthị trường thì cũng không thể tăng quy mô sản xuất. Trung bình một công ty quy mô vừa ở Mỹ vào khoảng 100 triệu USDdoanh số. Các công ty dưới mức này thường liệt vào dạng nhỏ. Các công tysiêu quốc gia cũng đang trên đường hội nhập và đang có xu thế sáp nhập đểnâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. 79
  • 80. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, về vốn cần phát huy nội lực làchính, đồng thời có thể dựa vào nguồn vốn của các ngân hàng trong và ngoàinước, các tổ chức tài chính, các nguồn viện trợ, các khoản vay ngắn, trung vàdài hạn, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc tiếp cận vốn trên thịtrường chứng khoán. Kinh doanh càng phát triển sẽ tích luỹ được nhiều vốntạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng hoạt độngsản xuất kinh doanh. Về thị trường, các doanh nghiệp phải dựa một phần lớn vào hệ thốngtoàn cầu mới giải quyết được trên cơ sở hội nhập tiểu khu vực, khu vực,châu lục, liên châu lục và toàn cầu, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoátrên cơ sở giá thành hạ, chất lượng cao thì mới có khả năng mở rộng, giữvững và phát triển thị trường. Sau khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ cóhiệu lực, cánh cửa thị trường Mỹ sẽ được mở rộng với các hàng hoá xuấtkhẩu nếu như các doanh nghiệp của ta có khả năng sản xuất được các mặthàng đạt tiêu chuẩn chất lượng được phía bạn chấp nhận, giá cả mang tínhcạnh tranh. 2. Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Mỗi doanh nghiệp cần đặt lên hàng đầu mục tiêu nâng cao chất lượnghàng hóa của mình, từ đó nâng sức cạnh tranh của hàng hóa. Cùng với việcnâng cao chất lượng là việc giảm giá thành, đa dạng hóa mẫu mã, cải tiếnbao bì ... sao cho phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người Mỹ. Các doanhnghiệp không thể đổ lỗi cho thiếu vốn hay thiết bị lạc hậu để biện hộ cho khảnăng cạnh tranh yếu kém của hàng hóa của mình bởi vì còn rất nhiều yếu tốkhác cũng tác động vào sức cạnh tranh của sản phẩm như các yếu tố vĩ mô(tỷ giá hối đoái, lãi suất, thuế khóa) và các yếu tố vi mô (quy trình sản xuất,kinh nghiệm quản lý của từng doanh nghiệp). Vì vậy trong tình hình hiệnnay, do các nguồn vốn còn hạn hẹp, các doanh nghiệp cần chủ động vạch rachiến lược cạnh tranh dài hạn cho hàng hóa của mình bằng cách tạo ra nétđộc đáo cho sản phẩm dựa trên khả năng cắt giảm chi phí bình quân trongngành cũng như hợp lý hóa quy trình sản xuất. Trong điều kiện quốc tế hoá hiện nay, nền sản xuất nhỏ như ở ViệtNam có những điểm lợi thế tương đối là giá nhân công rẻ và có thể đầu tư 80
  • 81. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comthêm công nghệ để dần nâng cao chất lượng sản phẩm, nhưng cũng phải thấyrằng chỉ có thể làm thuê gia công và làm vệ tinh cho các công ty lớn mà thôi.Muốn vươn lên tự chủ cần phải tính đến quy mô sản xuất hợp lý, cần có vốn,nhân lực, công nghệ và thị trường là những yếu tố quan trọng nhất. 3. Chủ động thực hiện tốt công tác thị trường, thông tin, tiếp thị. Các doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức tiếp cận và phân tích, khaithác các thông tin, trực tiếp và thường xuyên tiếp xúc với thị trường thế giớithông qua Hội thảo khoa học, hội chợ triển lãm, đẩy mạnh tiếp thị để kịp thờinắm bắt được nhu cầu của thị trường, bám sát và tiếp cận được tiến bộ củathế giới trong sản xuất kinh doanh, chủ động tìm bạn hàng, thị trường, kýhợp đồng, tổ chức sản xuất và xuất khẩu theo nhu cầu và thị hiếu thị trường,tránh tư tưởng ỷ lại vào các cơ quan quản lý Nhà nước hoặc trông chờ trợgiá, trợ cấp. Việc tham gia các hội chợ triển lãm nhất là ở nước ngoài có thể gặpkhó khăn về kinh phí do giá thuê gian hàng đắt. Vì vậy các doanh nghiệp cóthể chủ động nắm bắt thông tin qua Thương vụ Việt Nam tại nước sở tạihoặc Cục Xúc tiến thương mại thuộc Bộ Thương mại hoặc nối mạng Internetđể từ đó có thể tìm được những bạn hàng tin cậy, nắm bắt được tương đốichính xác nhu cầu thị trường đối với hàng hóa của mình cũng như khả năngcung cấp của thị trường đó, giá cả, chất lượng cho những mặt hàng mà doanhnghiệp Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu để phục vụ sản xuất và kinh doanhtrong nước. Trước khi ra quyết định xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ, một bước quantrọng không thể bỏ qua là phải nghiên cứu kỹ thị trường và đánh giá nghiêmtúc thực lực của doanh nghiệp, sức cạnh tranh của sản phẩm, khả năng tiếpthị và tiềm lực tài chính. Việc lựa chọn đúng hình thức xuất khẩu sẽ giúp chocác doanh nghiệp nhanh chóng có chỗ đứng trên thị trường đầy tiềm năngnày. Để vào được thị trường Mỹ các doanh nghiệp có thể xuất khẩu gián tiếpqua đại lý. Khi đã quyết định xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ, phương án tối ưulà phải vạch ra được chiến lược để thực hiện xuất khẩu trực tiếp. Xuất khẩutrực tiếp sẽ giúp cho doanh nghiệp kiểm soát được toàn bộ quá trình xuất 81
  • 82. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comkhẩu, thiết lập được quan hệ trực tiếp với mạng lưới tiêu thụ và người tiêudùng. Tổng kết kinh nghiệm của các công ty nước ngoài cho thấy, conđường tiến tới chinh phục thị trường Mỹ là phải biết sử dụng các đại diệnbán hàng, đại lý, nhà phân phối và nhà bán lẻ. Đây là một nhu cầu bức xúcnhưng rất khó khăn đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải làm dần, từngbước tìm hiểu. Mặt khác, bản thân các nhà nhập khẩu, nhà phân phối cũng sẽtìm đến các doanh nghiệp Việt Nam để đặt hàng. Họ sẽ đưa ra các yêu cầu(thường là chất lượng, khối lượng hàng và thời gian giao hàng…) cònphương thức tiếp cận thị trường không đáng lo lắm vì tiềm lực tài chính củahọ khá dồi dào. Các doanh nghiệp cùng ngành hàng ở Việt Nam nên liên kếtvới nhau để có thể đáp ứng được những đơn hàng quy mô lớn, thời gian giaohàng nhanh. Các doanh nghiệp Việt Nam cần thận trọng khi quyết định bánhàng trực tiếp cho người tiêu dùng bởi tại Mỹ việc bán hàng trực tiếp nàykèm theo trách nhiệm rất lớn đối với người tiêu dùng. 4. Nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ củacác doanh nghiệp Việt Nam. Qua thực tế thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế Việt Nam, có thểthấy rõ năng lực quản lý cũng như trình độ chuyên môn của các cán bộ,người lao động tại các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu củacông việc. Nội dung hợp tác với Mỹ bao gồm các lĩnh vực kinh tế, thương mại,đầu tư và nhiều lĩnh vực khác về kinh tế cũng như khoa học công nghệ kháđa dạng. Trong khi đó trình độ cán bộ của ta còn hạn chế cả về kiến thức,kinh nghiệm và ngoại ngữ. Để đáp ứng được nhu cầu phục vụ cho mục tiêutrên, cần quan tâm thích đáng đến công tác đào tạo cán bộ, cụ thể là tập trung vào 4lĩnh vực sau: - Đào tạo nâng cao trình độ cán bộ có đủ năng lực hoạch định và thựchiện chính sách. - Đào tạo cán bộ có trình độ đàm phán quốc tế. 82
  • 83. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com - Đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn cán bộ nắm bắt được kịp thời cácHiệp ước quốc tế, các kết quả đàm phán trên bàn hội nghị, hiểu và vận dụngđược những Hiệp ước và kết quả đàm phán đó vào thực tiễn sản xuất và kinhdoanh quốc tế. Để kinh doanh được với Mỹ, các doanh nghiệp cần hiểu vàvận dụng được các luật lệ, chính sách thương mại của Mỹ. - Đào tạo về ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh để cán bộ có đủ trình độgiao dịch quốc tế. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn phải thường xuyên đào tạo công nhânkỹ thuật lành nghề để có thể sử dụng công nghệ hiện đại, sản xuất ra nhữngsản phẩm xuất khẩu có chất lượng cao, giá cả cạnh tranh trên thị trường Mỹ. Tóm lại, để chuẩn bị thực hiện Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, cácdoanh nghiệp cần sớm xúc tiến nghiên cứu để thâm nhập thị trường Mỹ, tìmhiểu đối tác, nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, cơ chế chính sáchvà luật pháp quốc tế; cần chủ động để đổi mới công nghệ, mẫu mã nâng caochất lượng hàng hoá, đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt, cần xúc tiếnkhẩn trương việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ tay nghề cho công nhân, cán bộquản lý, kể cả giám đốc để nâng cao trình độ tiếp nhận công nghệ mới, nângcao năng lực quản lý hiểu biết các chuẩn mực thông lệ quốc tế, chính sáchthương mại thế giới và chính sách thương mại Mỹ trong cuộc làm ăn mớitrên một thị trường mới. Sự chuẩn bị kỹ càng là điều kiện tốt để các doanhnghiệp nước ta chủ động hội nhập đón nhận những cơ hội và thách thức mớikhi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ chính thức được thực thi. 83
  • 84. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com 84
  • 85. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com Kết luận Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước vớiphương châm “sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia trong cộng đồngthế giới”, trong nhiều năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu tronghoạt động kinh tế đối ngoại. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ là một trong các điểm mốc căn bảntrong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, là nấc thang cuối cùng trêncon đường bình thường hoá quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ, là dấuhiệu tốt của quá trình hội nhập của Việt Nam vào hệ thống thương mại quốctế. Hiệp định thương mại Việt - Mỹ sẽ mang đến nhiều cơ hội kèm theokhông ít thách thức xét cả về phương diện vĩ mô và vi mô, đối với cả Nhànước và từng doanh nghiệp. Theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Khoan thì “Có Hiệpđịnh là điều cần nhưng chưa đủ. Điều quyết định nhất là chủ động tích cựcnâng cao khả năng cạnh tranh trên cả ba cấp độ, đồng thời các doanhnghiệp của ta cần phát huy tinh thần “ tiến công ”, không ngồi chờ mà chủđộng thâm nhập thị trường Hoa Kỳ, tìm hiểu bạn hàng, đối tác, nhu cầu,luật pháp, từ đó đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ đầu tư, công nghệ ”. Nhiệm vụ quan trọng của Việt Nam hiện tại là phải đưa ra một chiếnlược phát triển của đất nước gắn với quá trình hội nhập của mình. Chiếnlược đó phải đảm bảo duy trì được sự tăng trưởng kinh tế đất nước và thựchiện được hội nhập. Do vậy, mọi chính sách đối nội và đối ngoại của ViệtNam phải hướng tới mục tiêu phát triển này, phải được điều phối một cáchhài hoà sao cho phù hợp với tình hình thực tế trong từng giai đoạn pháttriển và tình hình quốc tế. Công việc này đòi hỏi các cơ quan Chính phủphải hợp tác chặt chẽ với nhau và với các nước để có thể đưa ra chiến lượctốt nhất cho đất nước và cộng đồng quốc tế chấp nhận được. Chiến lược nàykhông thể chỉ là những nguyên tắc chung chung mà là những vấn đề cụ thểcủa từng ngành với các chính sách cụ thể. Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách thươngmại của mình, hướng tới các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, mang tính thực 85
  • 86. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.comthi trong nước; cần thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và thâmnhập thị trường Mỹ để đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ. Sau sự kiện Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được ký kết, các cuộc tiếpxúc gần đây và đặc biệt là chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng thống MỹBill Clinton ngày 16- 19/11/2000 đã thực sự đưa quan hệ kinh tế Việt - Mỹchuyển sang một giai đoạn mới. Ở giai đoạn này nhịp độ buôn bán và đầu tưsẽ sôi động hẳn hơn trước đây. Trước mắt, hàng hoá của Mỹ vào Việt Namchưa nhiều nhưng hàng hoá của Việt Nam vào Mỹ sẽ tăng mạnh. Có thể hoàn toàn tin tưởng rằng với những thành tựu đã đạt được củahơn 10 năm đổi mới, với nền kinh tế đang có dấu hiệu hồi phục, với nhữngquyết tâm cao độ và đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt của Đảng vàChính phủ Việt Nam, chúng ta sẽ tận dụng đầy đủ cơ hội mà Hiệp địnhthương mại Việt - Mỹ mang lại nhằm phát huy thế mạnh, đồng thời đẩy lùiđược những nguy cơ yếu kém. 86
  • 87. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com tài liệu tham khảo1. Hiệp định giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về Quan hệ Thương mại .2. Ký Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (Bắc Hà-Phi Hổ), Tạp chí Thương nghiệp- Thị trường Việt Nam số tháng 7/2000.3. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ bao gồm cả các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ- Phỏng vấn Bộ trưởng Vũ Khoan, Báo Thương mại số 57 (759) ngày 18/7/2000.4. Kỷ yếu hội nghị khoa học- Khoa kinh tế Ngoại thương, Đại học Ngoại thương tháng 10/2000.5. Hội nhập thời toàn cầu hoá, Báo Quốc tế 5/10/1998 đến 11/10/1998.6. Thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế - Phỏng vấn Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Báo Đầu tư ngày 20/4/1998.7. Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ thúc đẩy Việt Nam hội nhập quốc tế, Báo Thương mại 1/9/2000.8. Sự hình thành và phát triển hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) trong quan hệ buôn bán của các nước trên thế giới (Hà Văn Hội), Tạp chí Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương số 1(26)/2000.9. Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ từ khi bình thường hoá đến nay (Đỗ Đức Định), Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 4(66)/2000.1 0. Quan hệ thương mại, đầu tư Việt Nam - Mỹ: Quá khứ và triển vọng (Hoàng Lan Hoa), Tạp chí kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương số 4(25)/12-1999.1 1 . Báo cáo tổng kết Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 1999, Bộ Thương mại .1 2. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và triển vọng gia nhập của Việt Nam - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 1997.1 3. Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam (Vũ Đức Thuận), Báo Kinh doanh và Pháp luật số 27 ngày 6/7/2000. 87
  • 88. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com14. Chính sách thương mại của Mỹ và việc Việt Nam gia nhập WTO ( Nguyễn Trường Sơn), Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 263+ 264, tháng 4 và 5/2000.15. Khái quát về Luật Thương mại Mỹ (Bruce Odessey, Warner Rose, John Shaffer), Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 3/2000.16. Xuất khẩu vào thị trường Mỹ- Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan Mỹ.17. Hiệp định thương mại Việt- Mỹ: Ba thách thức đối với doanh nghiệp (Thái Thanh), Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 24/8/2000.18. Tiếp cận thị trường Mỹ (Thái Thanh), Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 10/8/2000.19. Để làm ăn với Mỹ (Mạnh Hùng), Báo Pháp luật chủ nhật số 145/1.218) ngày 10/9/2000.20. HACCP- “ giấy thông hành” cho thuỷ sản Việt Nam vào Mỹ (Như Hoa), Báo Thương mại ngày 22/5/1999.21. Thuỷ sản vào Mỹ dễ hay khó?, Báo Đầu tư ngày 10/8/2000.22. Hàng dệt may vào thị trường Mỹ- những thách thức không nhỏ, Báo Kinh doanh và tiếp thị số 222 ngày 25/9/2000.23. Giúp doanh nghiệp tiến vào thị trường Mỹ (VCCI), Báo Diễn đàn doanh nghiệp số 38 ngày 10/8/2000.24. Doanh nghiệp với Hiệp định thương mại Việt- Mỹ (Phạm Mạnh Hùng), Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp số 8/2000.25. Nội dung xúc tiến thương mại (N. Nhân), Thời báo Kinh tế Việt Nam số 46 ngày 17/4/2000.26. Triển vọng hàng Việt Nam vào thị trường Mỹ (Nguyễn Minh Khôi), Báo Thương mại số 67 (769) ngày 22/8/2000.27. Thị trường Mỹ: Khả năng và cách tiếp cận (Nguyễn Văn Bình), Báo Thương mại số 30- 45, tháng4 và 5/1999.28. Hàng Mỹ sẽ tràn ngập thị trường Việt Nam ?, Báo kinh doanh và Pháp luật số 38 ngày 21/9/2000. 88
  • 89. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com29. “ Các doanh nghiệp Mỹ luôn xem Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng”- Trích bài phát biểu của Đại sứ Mỹ Pete. Peterson.30. Ký Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ: Hàng Việt Nam vào Hoa Kỳ thuế trung bình giảm từ 40% xuống 3% (Ngọc Minh), Báo Diễn đàn Doanh nghiệp số 31 (308) ngày 17/7/2000.31. Hiệp định thương mại Việt- Mỹ liệu có thành “cơ hội vàng” (Hoàng Công), Báo Doanh nghiệp số 30 (82) ngày 24/7/2000.32. Việt- Mỹ: Những bước tiến mới trong quan hệ thương mại (Dũng Minh), Báo Pháp luật số 30 ngày 27/7/2000 đến 3/8/2000.33. Thị trường Mỹ: Cơ hội và thách thức cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực (Minh Nhung), Báo Đầu tư 29/7/2000.34. Quan hệ kinh tế Việt - Mỹ: Những biến đổi và triển vọng (Hoàng Thị Chỉnh), Tạp chí Phát triển Kinh tế số 120 tháng 10/2000. MỤC LỤC Lời nói đầu Chương I : Những vấn đề chung về Thương mại quốc tế và tổng quan về Hiệp định thương mại Việt - Mỹ. 89
  • 90. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com I. Những vấn đề chung. 1. Lý luận chung về thương mại quốc tế và sự cần thiết phải quan hệ thương mại với mỹ. 1.1. Khái niệm. 1.2. Quá trình hình thành, phát triển và lợi ích của thương mại quốc tế. 1.3 . Phát triển thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay. 1.4. Lợi ích của Việt Nam thu được trong quan hệ thương mại với Mỹ. 2. Các lý thuyết về thương mại quốc tế. 2.1. Lý thuyết cổ điển. 2.2. Lý thuyết hiện đại. II. Tổng quan về hiệp định thương mại Việt - Mỹ. 1. Bối cảnh cuộc đàm phán thương mại Việt - Mỹ. 1.1. Bối cảnh chung. 1.2. Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. 2. Tiến trình đàm phán ký kết Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ. 2.1. Kết quả đạt được qua các vòng đàm phán. 2.2. ý nghĩa của Hiệp định. 3. Những nội dung chủ yếu của Hiệp định. 3.1. Thương mại hàng hoá. 3.2.Thương mại dịch vụ. 3.3.Quan hệ đầu tư. 3.4.Quyền sở hữu trí tuệ. Chương II: Hiệp định thương mại Việt - Mỹ: Cơ hội và thách thức với việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ. I. Quá trình phát triển hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ. 90
  • 91. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com 1. Giai đoạn trước khi Mỹ hủy bỏ lễnh cấm vận đối với Việt Nam. 2. Giai đoạn sau khi lệnh cấm vận bị huỷ bỏ. II. Cơ hội thâm nhập thị trường Mỹ của hàng hoá Việt Nam. 1. Cơ hội xuất khẩu các mặt hàng chủ lực. 2. Dự báo kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giai đoạn 2000 - 2010. III. Thách thức đối với sự phát triển Ngoại thương Việt Nam. 1. Những quy định của Mỹ về hàng nhập khẩu. 2. Vấn đề gian lận thương mại. 3. Công tác xúc tiến thương mại còn nhiều hạn chế. Chương III: Các giải pháp đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam - sang Mỹ. I. Các giải pháp tăng cường xuất khẩu các ngành hàng chủ lực. II. Các giải pháp từ phía nhà nước. 1. Cải cách hệ thống ngân hàng. 2. Tăng cường quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại. 3. Thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu. III. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Mỹ. 1. Giải pháp về vốn. 2. Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa. 3. Chủ động thực hiện tốt công tác thị trường, thông tin, tiếp thị. 4. Nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn cho đội ngũ cán bộ của các doanh nghiệp Việt Nam. Kết luận Tài liệu tham khảo 91
  • 92. h ttp ://lu an van.fo rum vi.com em ail: lu anvan84@ gm ail.com 92