Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (25).doc

672 views
613 views

Published on

1 Comment
0 Likes
Statistics
Notes
  • Tài liệu luận văn tốt nghiệp quản trị kinh doanh quốc tế download miễn phí tại đây: http://thuvientructuyen.vn/danh-muc-tai-lieu/quan-tri-kinh-doanh/514.ebook
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
672
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
12
Comments
1
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Luan van tot nghiep quan tri kinh doanh quoc te (25).doc

  1. 1. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 1 Lời mở đầu Trong xu hướng hội nhập hoá, toàn cầu hoá về kinh tế các nước và nềnkinh tế và thế giới, hoạt động kinh tế trở nên hêt sức quan trọng, tạo tiền đềthúc đẩy nền kinh tế các quốc gia cũng như thế giới phát triển cả về bề rộnglẫn chiều sâu. Cùng với sự hình thành các khu vực Thương mại tự do như EU,NAFTA, các nước ASEAN cũng đang hình thành khu vực thương mại tự doASEAN (ASEAN FREETRADEAREA – AFTA). Mở ra cho các nước trongkhu vực những cơ hội và thách thức hết sức to lớn. trong đó Việt Nam chúngta. Các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các nướcdoanh nghiệp sảnxuất giầy xuất khẩu cần thấy được điểm mạnh điểm yếu, đánh giá khă năngcạnh tranh cũng như vị thế của mình khi Việt Nam tham gia AFTA từ đó đểđề ra các giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh hạn chế điểm yếu, gia tăng khảnăng cạnh tranh của mình. Xuất phát từ đòi hỏi này cũng như tình hình thực tếnơi cơ sở thực tập của mình, tôi chọn đề tài: "Đánh giá khả năng cạnh tranhcủa công ty giầy Thụỵ Khê trong điều kiện hội nhập AFTA" cho chuyên đềthực tập tốt nghiệp của mình nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh của công tytrong điều kiện hôị nhập AFTA từ đó đưa ra một số định hướng, giải phápcho công ty cũng như cơ quan quản lý trực tiếp là Sở công nghiệp Hà Nộinhững kiến nghị nhằm giúp công ty gia tăng khả năng cạnh tranh của mình. Nội dung của đề tài bao gồm 3 chương.Chương I : Lý luận chung về tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập AFTA.Chương II: Đánh giá khả năng cạnh tranh của Công ty Giầy Thụy Khuê trong điều kiện hội nhập AFTA.Chương III: Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty Giầy Thụy Khuê trong điều kiện hội nhập AFTA. 1
  2. 2. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 2 Chương I Lý luận chung về tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập AFTA. A. CẠNH TRANH.I. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.1. Thị trường - kinh tế thị trường - cơ chế thị trường và các quy luật của thị trường. Khái niệm thị trường cho đến nay đã có rất nhiều trong quá trình pháttriển của nó. Mỗi khái niệm tiếp cận dưới một góc độ khác nhau nhưng mụcđích cuối cùng là để trả lời câu hỏi: Thị trường là gì? - Theo quan điểm của hội quản trị Hoa Kỳ: “Thị trường là tổng hợp cáclực lượng trong đó người mua và người bán thực hiện cách quyết định chuyểngiao hàng hoá và dịch vụ từ người bán sang người mua". - Thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau để tiến hành cáccuộc mua bán nhằm thoả mãn nhu cầu của mỗi bên. - Thị trường là tổng thể cung cầu đối với một loại hàng hoá trên thịtrường vận động theo những quy luật riêng và điều tiết thị trường thông quaquan hệ cung cầu, đây là định nghĩa mang nhiều tính lý thuyết. - Ta cũng có thể nói rằng thị trường là nơi hàng hoá thực hiện các chứcnăng trao đổi của nó. Theo Mác thị trường là biểu hiện của sự phân công laođộng của xã hội là một trong những khâu của quả trình tái sản xuất mở rộng,là lỉnh vực lưu thông hàng hoá là nơi gặp gở của cung và cầu. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp thì thị trường của doanh nghiệp làtập hợp các khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó tức là nơi khách hàngđang mua và có thể sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp vận dụng cho kháiniệm thị trường quốc tế của doanh nghiệp, ta có khái niệm “thị trường quốc tếcủa doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nước ngoài tiềm năng củadoanh nghiệp đó“. Bên cạnh đó nói tới thị trường đi liền với nó là khái niệm kinh tế thịtrường, Cơ chế thị trường. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà các vấn đềcơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào là do thị 2
  3. 3. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 3trường quyết định. Nói cách khác nền kinh tế thị trường là nền kinh tế do cơchế thị trường điều tiết, đó là cơ chế tự điều chỉnh nền kinh tế hàng hoá dướisự tác động khách quan của các qui luật kinh tế vốn có. Nền kinh tế thị trườnglà cách thức tổ chức nền kinh tế xã hội trong đó các quan hệ kinh tế của cáccá nhân, các doanh nghiệp đều thể hiện thông qua hoạt động mua bán hànghoá, dịch vụ trên thị trường và thái độ của từng thành viên , chủ thể là hướngvào việc tìm kiếm lợi ích theo sự dẫn dắt của giá trị thị trường, cơ chế thịtrường thì ta định nghĩa cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ môitrường động lực và các qui luật kinh tế chi phối sự vận động của cơ chế thịtrường. Các qui luật này bao gồm qui luật giá trị,m qui luật cung cầu qui luậtlưu thông, qui luật cạnh tranh. Các qui luật trên đều có vị trí, vai trò độc lậpsong lại có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau và tạo ra sự vậnđộng của thị trường, chi phối sự hoạt động của các chủ thể kinh tế. Vì vậy, bấtcứ một chủ thể nào hoạt động trong nền kinh tế đều không thể không tính tớiqui luật này, đặc biệt là các qui luật cạnh tranh. - Qui luật giá trị: Qui định hàng hoá được sản xuất ra và trao đổi trên cơsở hao phí hao phí lao động xã hội cần thiết tức là mức chi phí bình quântrong xã hội . - Qui luật cung cầu: Nêu ra mối quan hệ giữa nhu cầu cung ứng trên thịtrường. Qui luật này qui định cung và cầu luôn có xu hướng chuyển dịch xíchlại gần nhau để tạo ra sự cân bằng trên thị trường. - Qui luật lưu thông tiền tệ: Xác định số lượng tiền cần thiết trong lưuthông bằng tổng số giá cả hàng hoá chia cho số lần luân chuyển trung bìnhcủa đơn vị tiền tệ cùng loại. - Qui luật cạnh tranh: Tồn tại tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá quiluật cạnh tranh biểu hiện sự cạnh tranh giữa người bán và người mua giữangười bán và người bán giữa người mua với người mua ... và luôn diễn ra mọinơi mọi lúc trong tất cả các hoạt động kinh tế trên thị trường. Do đó trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp các chủ thể kinhtế luôn phải năng động đáp ứng nhu cầu của thị trường, các doanh nghiệp này 3
  4. 4. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 4luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau để tồn tại, phát triển và trong cuộc cạnhtranh khốc liệt nhằm đạt tới lợi nhuận cao nhất.2. Cạnh tranh - đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là thuộc tính quan trọng tất yếu trong nền kinh tế thị trường.Cạnh tranh là sự đấu tranh gay gắt quyết định giữa các nhà sản xuất, kinhdoanh vời nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằmchiếm được những điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo rađiều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển. Do đó, nói tới cạnh tranh là ta khôngthể không nói đến các nhân tố cấu thành cạnh tranh. Cạnh tranh chỉ xẩy ra khicó đủ ba yếu tố sau đây: Một là, các chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh, tức là những người cócung và có cầu về hàng hoá và dịch vụ. Hai là, đối tượng để thực hiện sự cạnh tranh tức là hàng hoá dịch vụ. Ba là, môi trường cho cạnh tranh đó chính là thị trường. Tuỳ theo từng góc độ tiếp cận chúng ta có thể phân cạnh tranh theo cácnội dung khác nhau: + Theo chủ thể tham gia trên thị trường, cạnh tranh được chia làm baloại : Một là, Cạnh tranh giữa người bán và người mua. Hai là, cạnh tranh giữa người mua với người bán. Ba là, cạnh tranh giữa người bán với người bán. Cạnh tranh giữa người babs với ngươi mua là cuộc cạnh tranh diễn radưới hình thức sẽ bán đắt, người bán luôn mong muốn bán sản phẩm, dịch vụcủa mình với giá cao. Trong khi người mua lại muốn mua với giá thấp. Sựcạnh tranh được thực hiện trong quá trình vẫn thường gọi là quá trình "mặccả” với mức giá chấp nhận là giá thống nhất giữa người bán và người mua. Cạnh tranh giữa người mua với nhau là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quiluật cung cầu. Khi mức cung của một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó nhỏ hơnmức cầu hoặc thay đổi thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn. Và giá cả củahàng hoá, dịch vụ đó sẽ tăng lên. Ta vẫn biết rằng đường cầu của mỗi cá thểkhông hoàn toàn giống đường tổng cầu nên nếu người nào đưa ra được giáchung thống nhất phù hợp nhất thì người đó sẽ thắng trong cuộc cạnh tranhnày. 4
  5. 5. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 5 Cạnh tranh giũa người bán với người bán là cuộc cạnh tranh giữanhững người cung cấp, hàng hoá, dịch vụ ra thị trường nhằm bán được nhiềuhàng hoá,dịch vụ. Đối với mỗi doanh nghiệp đây là ý nghĩa sống còn, trongđiều kiện quốc tế hoá , khu vực hoá thì hội nhập thì cuộc cạnh tranh này lạicàng khốc liệt hơn. Theo phạm vi ngành kinh tế: Michael Porter đã chia cạnh tranh thànhnăm nhân tố cạnh tranh. 1) Cạnh tranh giữa những người mới đi vào sản xuất kinh doanh ởngành công nghiệp đối với những doanh nghiệp của ngành. Sự xuất hiện của các công ty mới tham gia vào thị trường có khả năngchiếm lĩnh thị trường ( thị phần) của các công ty khác, để hạn chế sự cạnhtranh giữa các đối thủ này các doanh nghiệp thường dựng lên các hàng ràonhư. + Mở rộng khối lượng sản xuất của công ty để giản chi phí. + Dị biệt hoá sản phẩm. + Mở rộng khả năng cung cấp vốn. + Đổi mới công nghệ, đổi mới hệ thống phân phối tăng đầu tư vốn. + Mở rộng các dịch vụ bổ sung. Ngoài ra có thể lựa chọ địa điểm thích hợp nhằm khai thác sự hỗ trợcủa chính phủ và chon lựa đungs đắn thị trường nguyên liệu và thị trường sảnphẩm. 2) Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất và các nhà cung cấp. Sựcạnh tranh ảnh hưởng đến doanh nghiệp về khía cạnh sinh lợi, tăng giá hoặcgiảm giá, giảm chất lượng hàng hoá khi tiến hành giao dịch với công ty. 3) Cạnh tranh giữa doanh nghiệp và những người mua. Khách hàng cóthể mặc cả thông qua sức ép làm giảm giá, giảm khối lượng hàng hoá mua từcông ty hoặc đưa ra yêu cầu chất lượng phải tốt hơn với cùng một mức giá. 4) Cạnh tranh giữa các sản phẩm của doanh nghiệp với sản phẩm thaythế khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ tăng lên thì khách hàng có xu hướng sửdụng sản phẩm dịch vụ thay thế sự cạnh tranh này đe doạ sự mất mát về thịtrường của công ty. Các công ty đưa ra thị trường những sản phẩm có khảnăng khác biệt hoá cao độ so với sản phẩm của công ty hoặc tạo ra các điềukiện ưu đãi hơn về các dịch vụ hay các điều kiện tài chính. 5
  6. 6. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 6 5) Cạnh tranh trong mọi bộ ngành. Trong điều kiện này các công tycạnh tranh với nhau khốc liệt về giá cả, sự khác biệt hoá về sản phẩm hoặc sựđổi mới về sản phẩm giữa các công ty hiện đang cùng tồn tại trong thị trường.Sự cạnh tranh này ngày càng gay gắt là do các đối thủ cạnh tranh nhiều vàgần như cân bằng; do sự tăng trưởng của ngành công nghiệp hiện đại ở mứcđộ thấp ; do các loại chi phí ngày càng tăng ; do chưa quan tâm tới quá trìnhkhác biệt hóa sản phẩm hoặc các chi tiết về chi phí do sự thay đổi của các nhàcung cấp ; do các đối thủ cạnh tranh có chiến lược kinh doanh đa dạng, cóxuất xứ khác nhau ; do các hàng rào kinh tế làm cho công ty khó có thể tự dodi chuyển giữa các ngành.3. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Chính sự cạnh tranh đã tạo ra động lực cho nền kinh tế phát triển tạonên sức thu hút, hấp dẫn cho nền kinh tế, không có cạnh tranh thì sẽ không cócơ chế thị trường, cạnh tranh chính là sự thể hiện tính tự do ưu việt của nềnkinh tế thị trường, nó luôn luôn thúc đẩy cac doanh nghiệp ngày càng hòanthiện các sản phẩm, dịch vụ, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của kháchhàng. Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp đánh giá nhìn lại bản thân mình, pháthuy điểm mạnh , khắc phục điểm yếu vận dụng cơ hội, vượt qua được nhữngkhó khăn thử thách. Vì vậy cạnh tranh lành mạnh luôn là mục tiêu mà xã hội thị trường vàbản thân mỗi doanh nghiệp mong muốn duy trì đạt tới. Cạnh tranh là nhân tố kích thích tạo nguồn cho doanh nghiệp phát triển.Nhưng mặt khác, cạnh tranh cũng rất khắc nghiệt. Cạnh tranh chỉ thực sự giúpđỡ cho những doanh nghiệp có đủ khả năng, năng lực buộc các doanh nghiệpphải cố gắng không ngừng nghỉ nó sẵn sàng loại bỏ không khón nhượngnhững kẻ lười nhác không còn đủ khả năng thích nghi, sinh hoạt. Cạnh tranhdiễn ra ở khắp nơi ta có thể nói rằng sự hiện diện của cạnh tranh là hữu hìnhmà cũng có thể nói là vô tình. Cạnh tranh lúc diễn ra công khai lúc diễn rangấm ngầm lúc dữ dội, lúc phẳng lặng giữa mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tếmỗi doanh nghiệp nào biết nắm bắt cơ hội tìm được hướng đi đúng đắn. Xét riêng đến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh để tăng lợi nhuậnmở rộng thị trường hoạt động họ tìm cách vươn ra thị trường nước ngoài. Đối 6
  7. 7. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 7với doanh nghiệp của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam hiện nayphương thức kinh doanh quốc tế chủ yếu vẫn là xuất khẩu. Tuy nhiên thịtrường nước ngoài với những đối thủ cạnh tranh rất mạnh về tiềm lực. Ví vậymuốn tăng gia xuất khẩu thì phải tăng khả năng cạnh tranh của chính mìnhnhằm chiếm và giữ lấy cho mình một thị phần nhất định hay nói cách kháctăng kgả năng cạnh tranh là biên pháp nhàm tăng khả năqng xuất khẩu. Như vậy, rõ ràng cạnh tranh sẽ có tác động mạnh thực sự có tinh thầncầu thị, có đạo đức kinh doanh tạo ra cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắctrên thị trường.II. MÔ HÌNH PHÂN TÍCH KHĂ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP (MÔ HÌNH SWOT). Mô hình SWOT là viết tắt của chữ Streng ths (các điểm mạnh)Oppotunities (các cơ hội) Weaknesses (Các điểm yếu), Threates (Các tháchthức). Trên cơ sở phân tích 4 nhân tố trên để tìm ra các điểm mạnh điểm yếucủa doanh nghiệp cũng như cơ hội, thách thức đối với doanh nghiệp trên thịtrường. Để từ đó các nhà lãnh đạo doanh nghiệp trên thị trường ở thời điểmhiện nay và giúp cho doanh nghiệp để ra được những chiến lược đúng đắntrong giai đoạn trước mắt và tương lai sau này. SƠ ĐỒ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH. Phân tích bên Phân tích bên trong ngoài Cơ hội (O) Điểm mạnh ( S) thách thức(T) Điểm yếu (W) Lựa chọ chiến lược cho Doanh nghiệp1. Phân tích bên ngoài: 7
  8. 8. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 8 Đây là sự phân tích các yếu tố của môi trường bên ngoài ảnh hưởngđến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp tìm racác cơ hội cũng như các thách thức đối với doanh nghiệp. Các yếu tố bên ngoài có thể là yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị , yếu tốpháp luật, yếu tố văn hoá xã hội, yếu tố khoa học công nghệ, yếu tố tự nhiên... Các yếu tố này là tác động gián tiếp khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp. Do vậy, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu phân tích các yếu tố củamôi trường bên ngoài để tăng cơ hội, giảm thách thức hạn chế rủi ro một cáchtối thiểu cho doanh nghiệp và trên cơ sở phân tích đó lựa chọn chiến lược hợplý cho doanh nghiệp.2. Phân tích bên trong. Đây là sự phân tích các yếu tố bên trong của doanh nghiệp hay là cácnhân tố nội tại của doanh nghiệp việc phân tích tập trung chủ yếu vào các vấnđề sau: - Cơ cấu tổ chức. - Đội ngũ cán bộ quản lý. - Khả năng tài chính. - Trình độ công nghệ ... Từ việc phân tích những yếu tố trên, Doanh nghiệp sẽ tìm ra đượcnhững điểm mạnh, điểm yếu của mình so với các đối thủ cạnh tranh. Doanhnghiệp sẽ biết mình sẽ đứng ở đâu trên thị trường, thị phần hiện tại của cácdoanh nghiệp là bao nhiêu, khả năng tăng thị phần của doanh nghiệp trongthời gian sắp tới, khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai ... mộtkẻ chiến thắng là kẻ biết mình, biết người có như vậy doanh nghiệp mới biếtđược đâu là những mặt, những yếu tố đã đang và sẽ gây ảnh hưởng cản trởcho quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Có biết được nhược điểm vànhững điểm mạnh của mình thì doanh nghiệp mới biết được cách để khắcphục, giải quyết vấn đề đang và sẽ đặt ra đối với Doanh nghiệp.3. Mô hình đa giác cạnh tranh Đứng trước một thị trường và các đối thủ cạnh tranh, Các doanh nghiệpcần thiết lập được một bản đánh giá tương đối về các điểm mạnh và các điểmyếu của mình. Điều này đặt ra hai vấn đề chính: Một mặt doanh nghiệp cónhững năng lực nào vượt trội và mặt khác, tình trạng hiện tại hoặc tiềm năng 8
  9. 9. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 9của các doanh nghiệp như thế nào. Phân tích khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp tức là nghiên cứu những nguồn lực mà doanh nghiệp có từ môitrường khu vực và trong nước. Phương pháp có thể được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh làdùng đồ thị dưới dạng đa giác cạnh tranh đa giác này mô tả khả năng củadoanh nghiệp theo các yếu tố trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnhtranh hoặc một tập hợp các đối thủ cạnh tranh để xây dựng một phân tích vềkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi chồng sơ đồ này lên nhau ta cóthể thu được nhanh chóng những ưu thế tương đối của doanh nghiệp. Sản xuất Quan niệm Giá cả ĐỐI THỦ CẠNH TRANH Tài chínhTrước bán hàng Cô Ngoại giao Sau bán hàng Bán hàng HÌNH MÔ HÌNH ĐA GIÁC CẠNH TRANHCác yếu tố xuất phát từ khả năng của doanh nghiệp. - Chất lượng sản phẩm: Đây là yếu tố quan trọng nhất được đánh giámột cách khách quan bằng những định mức, những yêu cầu khác nhau về thịtrường nước ngoài. - Giá cả cũng là một loại công cụ dùng để đánh giá khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp cùng với chất lượng và các điều kiện như nhau thì giácả thấp hơn khả năng cạnh tranh của sản phẩm sẽ cao hơn. - Bán hàng xét theo góc độ phương pháp và các phương tiện thươngmại, cách thức bán hàng của doanh nghiệp. - Ngoại giao là khả năng điều hành theo hướng tích cực những mốiliên hệ với các nhân tố của môi trường ... điều này tạo điều kiện cho doanh 9
  10. 10. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 10nghiệp hoạt động kinh doanh của mình. Đây là những tiền đề cho doanhnghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình và mở rộng thị trường. - Trước bán hàng là khả năng dự báo nhu cầu của thị trường và ápdụng các hoạt động thành thạo để thuyết phục khách hàng và khả năng đápứng nhu cầu của khách hàng tôt nhất thì doanh nghiệp không những đứngvững trên thị trường mà còn có thể mở rộng thị trường của mình. - Tài chính theo nghĩa là các nguồn tài chính hiện có và có thể huyđộng một cách nhanh chóng . doanh nghiệp có thể mở rộng và sản xuất kinhdoanh tăng cường hoạt động nghiên cứu triển khai, mở rộng thị trường đềuphải dựa trên nguồn tài chính hiện có và khả năng huy động nhanh chóng.III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP. Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào cũng đềuphải chịu sự tác động của môi trường xung quanh và chiụ sự tác động từchính bản thân doanh nghiệp. Do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệpkhông chỉ phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào cácyếu tố khách quan khác của môi trương xung quanh doanh nghiệp. Nhìnchung có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp, song tóm gọn lại đều có ba nhóm nhân tố cơ bản sau. - Môi trường vĩ mô. - Môi trường ngành: Mô hình 5 sức mạnh của Michael porter. - doanh nghiệp,.1. Môi trường vĩ mô. Môi trường vĩ mô chính là môi trường mà doanh nghiệp đang hoạtđộng. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều nhân tố phứctạp ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Môi trường đóchính là tổng thể các nhân tố cơ bản : Nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị vàpháp luật, nhan tố xã hội , nhân tố tự nhiên, nhân tố công nghệ. Mỗi hnhân tốnày tác động và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp. Chúng có thể là cơ hội hoặc thách thức đối với doanh nghiệp. Cácdoanh nghiệp cần phải có sự am hiểu về các nhân tố trên và đưa ra cách ứngxử cho phù họp đối với những đòi hỏi; những biến động của chúng đối vớinhững doanh nghiệp kinh doanh quốc tế thì vấn đề này cần được coi trọng. 10
  11. 11. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 11 a. Nhân tố kinh tế.Đây là nhân tố ảnh hưởng rất to lớn với doanh nghiệp và là nhân tố quantrọng nhất trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, Một nền kinh tếtăng trưởng sẽ tạo đà cho doanh nghiệp phát triển, nhu cầu dân cư sẽ tăng lênđồng nghĩa với một tương lai sáng sủa, điều này cũng có nghĩa là tốc dộ tíchluỹ vốn đầu tư trong nền kinh tế cũng tăng lên , mức độ hấp dẫn đầu tư vàngoài cũng sẽ tăng lên cao, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt. Thị trườngđược mở rộng đây chính là cơ hội tố cho những doanh nghiệp biết tận dụngthời cơ, biết tự hoàn thiện mình, không ngừng vươn lên chiếm lĩnh thị trường.Nhưng nó cũng chính là thách thức đối với những doanh nghiệp không cómục tiêu rõ ràng, không có chiến lược hợp lý.Chạy đua không khoan nhượng đối với tất cả các doanh nghiệp dù là doanhnghiệp nước ngoài cũng như doanh nghiệp ở trong nước dù là doanh nghiệpđó đang hoạt động ở thị trường nội địa hay thị trường nước ngoài. Và ngượclại khi nền kinh tế bị suy thoái, bất ổn định , tâm lý người dân hoang mang,sức mua của người dân giảm sút , các doanh nghiệp phải giảm sản lượng phảitìm mọi cách để giữ khách hàng, lợi nhuận doanh số cũng sẽ giảm theo tronglúc đó sự cạnh tranh trên thị trường lại càng trở nên khốc liệt hơn.Các yếu tố của nhân tố kinh tế như tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ lạm phát tỷ giá hốiđoái... cũng tác động đến khả năng tài chính của doanh nghiệp. b. Nhân tố chính trị và pháp luật. Chính trị và pháp luật có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của bất cứdoanh nghiệp nào, nhất là đối với những doanh nghiệp kinh doanh quốc tế.Chính trị và pháp luật là nền tảng cho sự phát triển kinh tế cũng như là cơ sởpháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bất cứ thịtrường nào dù là trong nước hay nước ngoài. Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có một nền kinh tế ổnđịnh, phát triển thực sự lâu dài và lành mạnh. Luật pháp tác động điều chỉnhtrực tiếp đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế. Mỗi thịtrường đều có hệ thống pháp luật riêng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Luậtpháp rõ ràng, chính trị ổn định là môi trường thuận lợi cho hoạt động kinhdoanh của từng doanh nghiệp. Đặc biệt đối với từng doanh nghiệp tham giavào hoạt động xuất khẩu chịu ảnh hưởng của quan hệ giữa các chính phủ, các 11
  12. 12. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 12hiệp định kinh tế quốc tế ... Các doanh nghiệp này cũng đặc biệt quan tâm tớisự khác biệt về pháp luật giữa các quốc gia. Sự khác biệt này có thể sẽ làmtăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp những đièu này sẽ ảnhhưởng rất lớn đến các hoạt động, chính sách kế hoạch chiến lược phát triển,loại hình sản phẩm danh nghiệp sẽ cung cấp cho thị trường. Vì vậy, các doanh nghiệp luôn luôn cần một nền kinh tế ổn định mộtmôi trường pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp,cá nhân, tổ chức ... trong nền kinh tế. Khuyến khích phát triển, tham gioa khảnăng cạnh tranh. c. Nhân tố xã hội : Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời giannên đôi khi khó nhận biết nhưng lại qui định các đặc tính của thị trường màbất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị trường đócho dù có muốn sống hay không. Nhân tố xã hội có thể bao gồm. -Lối sống, phong tục, tập quán. -Thái độ tiêu dùng. -Trình độ dân trí. -Ngôn ngữ. -Tôn giáo. -Thẩm mỹ... Chúng quyết định hành vi của người tiêu dùng, quan điểm của họ vềsản phẩm, dịch vụ, chúng là những điều mà không ai có thể đi ngược lại đượcnếu muốn tồn tại trong thị trường đó. Ví dụ như ở những thị trường luôn có tưtưởng đề cao sản phẩm nội địa như ấn Độ, Nhật Bản thì các sản phẩm ngoạinhập sẽ kém khả năng cạnh tranh so với các Doanh nghiệp của quốc gia đó.Sự khác biệt về xã hội sẽ dẫn đến việc liệu sản phẩm của Doanh nghiệp khixuất sang thị trường nước ngoài đó có được thị trường đó chấp nhận haykhông cũng như việc liệu doanh nghiệp đó có đủ khả năng đáp được yêu cầucủa thị trường mới hay không. Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm hiếu nghiêncứu kỹ các yếu tố xã hội tại thị trường mới cũng như thị trường truyềnthống để từ đó tiến hành phân đoạn thị trường, đưa ra được những giải phápriêng. Đáp ứng thị trường tốt nhất yêu cầu của thị trường để nâng cao khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp. 12
  13. 13. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 13 d. Nhân tố tự nhiên. Điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợihoặc khó khăn cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh vị trí địa lý thuận lợi ởtrung tâm công nghiệp hay gần nhất nguồn nguyên liệu, nhân lực trình độ cao,lành nghề hay các trục đường giao thông quan trọng ... sẽ tạo cơ hội cho cácdoanh nghiệp phát triển, giảm được chi phí. Các vấn đề ô nhiểm môi trường,thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên. Cùng với nhu cầu ngàycàng lớn đối với các nguồn lực có hạn khiến cho xã hội cũng như các doanhnghiệp phải thay đôỉ quyết định và các biên pháp hoạt động liên quan. e. Nhân tố công nghệ. Khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp thông qua chất lượng sản phẩm và giá bán bất kỳ một sản phẩmnào được sản xuất ra cũng đều phải gắn với một công nghệ nhất định. Côngnghệ sản xuất đó sẽ quyết định chất lượng sản phẩm cũng như tác động tới chiphí cá biệt của từng doanh nghiệp từ đó tạo ra khả năng cạnh tranh của từngdoanh nghiệp. Khoa học công nghệ tiên tiến sẽ giúp các doanh nghiệp xử lý thông tinmột cách chính xác và có hiệu quả nhất trong thời đại hiện nay, bất kỳ mộtdoanh nghiệp nào muốn thành công cũng cần có một hệ thống thu thập, xử lý,lưu trữ, truyền phát thông tin một cách chính xác, đầy đú nhanh chóng hiệuquả về thị trường và đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, khó học công nghệ tiêntiến sẽ tạo ra một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của nền kinh tếquốc dân nói chung cũng như thị trường doanh nghiệp nói riêng. Vì vậy, cóthể nói rằng khoa học công nghệ là tiền đề cho các doanh nghiệp nâng caokhả năng cạnh tranh của mình.2. Môi trường ngành. Môi trường ngành là môi trường bao gồm các doanh nghiệp trong cùngtham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Môi trường ngành còn được hiểu làmôi trường cạnh tranh của doanh nghiệp sự tác động của môi trường ngànhảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là điều không thểphủ nhận. Môi trường ngành bao gồm năm nhân tố cơ bản là : đối thủ cạnh tranh,người mua, người cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và các đối thủ thay thế. Đó là 13
  14. 14. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 14nhân tố thuộc mô hình 5 sức mạnh của Michael porte. Sự am hiểu các nguồnsức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhân ra mặt mạnh mặt yếu cũng nhưcác cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp ngành đó đã và đang và sẽ gặpphải. Đối thủ mới tiềm năng Các đối thủ cạnh tranh trong ngành Nhà cung Sự cạnh tranh giữa Người cấp mua các doanh nghiệp có trong ngành Các m hàng và dịch vụ ặt t hay t hế a. Đối thủ cạnh tranh. Sự am hiểu về đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa vô cùng quan trọngđối với các doanh nghiệp. Cha ông ta đã có câu “biết mình biết trăm trận trămthắng" Do đó doanh nghiệp cần phải hiểu rõ đối thủ cạnh tranh. Có thể thấy trước hết là đối thủ cạnh tranh quyết định mức độ cuộctranh đua để giành lợi thế trong ngành và trên thị trường nói chung. Mức độ cạnh tranh dữ dội phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tốnhư số lương các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh giúp cho doanh nghiệpđưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ và tăng thi phần nâng caokhả năng cạnh tranh. b. Khách hàng . Câu nói “khách hàng là thương đế” luôn luôn đúng đối với mọi doanhnghiệp bất cứ một doanh nghiệp nào cũng không được quyên rằng khách hàngluôn luôn đúng nếu họ muốn thành công, chiếm lĩnh thị trường. Những kháchhàng mua sản phẩm của một ngành hay một doanh nghiệp nào đó thì họ cóthể làm giảm lợi nhuận của ngành đấy, của doanh nghiệp đấy bằng cách yêu 14
  15. 15. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 15cầu chất lượng sản phẩm hặc dịch vụ cao hơn, hoặc có thể bằng cách dùngdoanh nghiệp này chống lại doanh nghiệp kia. Vì vậy, trong thực tế khách hàng thường có quyền lực trong các trườnghợp sau. Khi có nhu cầu khách hàng là ít hơn so với lương cung trên thị trườngvề sản phẩm nào đó thì họ có quyền quyết định về gía cả. Các sản phẩm mà khách hàng mua phá tỷ lệ đáng kể trong chi tiêu củangười mua. Nếu sản phẩm đó chiếm một tỷ trọng hơn trong chi tiêu của ngườimua thì gía cả là một vấn đề quan trọng đối với khách hàng đó. Do đó họ sẽmua với giá có lợi và sẽ chọn mua những sản phẩm có giá trị thích hợp. Những sản phẩm mà khách hàng mua trong khi không được cung cấpđầy đủ về thông tín và chủng loại, chất lượng, đặc tính, hình thức, kiếu dángcủa sản phẩm thì họ có xu hướng đánh dòng các sản phẩm cùng loại trên thịtrường với nhau họ sẽ có xu hướng thiên về hướng bất lợi cho doanh nghiệpvì họ không thể đánh giá cũng như hiểu chính xác được rõ giá trị của sảnphẩm doanh nghiệp sản xuất. Khách hàng phải chịu chi phí đặt cọc do đó chi phí đặt cọc rõ ràng buộckhách hàng với người bán nhất định. Khách hàng có thu nhập thấp tạo ra áp lực phải giảm chi tiêu cho việcmua bán của mình. Khách hàng cố gắng khép kín sản xuất tức là họ cố gắng trở thànhngười cung cấp cho chính mình. Mặt khác khi khách hàng có đầy đủ thông tin và nhu cầu giá cả thịtrường hiện hành và chi phí của người cung cấp thì quyền “mặc cả” của họcàng lớn. c. Nhà cung cấp. Sức ép của nhà cung cấp liên doanh nghiệp cũng không kém phần quantrọng. Họ có thể chi phối đến hoạt động của doanh nghiệp do sự độc quyềncủa một số nhà cung cấp những nguyên vật liệu chi tiết đặc dụng... họ có thểtạo ra sức ép lên doanh nghiệp bằng việc thay đổi gía cả, chất lượng nguyênvật liệu. được cung cấp ... Những thay đổi này có thể làm tăng hoặc giảm chiphí sản xuất, chất lượng sản phẩm và lợi nhuận từ đó tác động tới khả năngcạnh tranh của các doanh nghiệp. 15
  16. 16. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 16 d. Đối thủ tiềm năng. Đối thủ tiềm năng là những người sẽ đi vào hoạt động sản xuất kinhdoanh ở ngành doanh nghiệp đang hoạt động hoặc ở những ngành sản xuấtsản phẩm, dịch vụ thay thế. Họ có khả năng mở rộng hoạt động chiếm lĩnh thịtrường của doanh nghiệp, họ có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanhnghiệp. Đứng trước nguy cơ này, các doanh nghiệp phải cùng liên kết và dựnglên các hàng rào chắc vô hình và hữu hình đối vơi các đối thủ cạnh tranhtièem năng. e. Sức ép của sản phẩm thay thế. Sức ép của sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận củangành do mức giá cao nhất bị khống chế. Nếu không chú ý tới sản phẩm thaythế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với nhu cầu thị trường. Phần lớn các sản phẩm thay thế mới là kết quả của sự tiến bộ về côngnghệ. Muốn đạt được thành công các doanh nghiệp cần phải chú ý và giànhnguồn lực để phát triển hay vận dụng công nghệ mới vào chiến lược củamình.3. Doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp sức mạnh từ cácnguồn lực hiện có và có thể huy động được với doanh nghiệp. Khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu qua nguồn nhân lực, nguồn lựcvật chất, nguồn lực tài chính tổ chức, kinh nghiệm. a. Nguồn nhân lực. Ngày nay thông thường khi đánh giá khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp, người ta thường đánh giá trước tiên nguồn nhân lực của doanhnghiệp:Yếu tố nhân lực được coi là tài sản vô cùng quý báu cho sự phát triển thànhcông của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp. Với một đội ngũ nhân lực tốt, doanh nghiệp có thể được làm đựợc tốttất cả những gì như mong muốn, đội ngũ nhân lực này sẽ làm tăng các nguồnlực khác cho doanh nghiệp khác lên một cách nhanh chóng, trí tuệ chất xám lànhững thứ vô cùng quý giá. Nó tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, ưu viêthơn với giá thành thấp nhất, đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng, đưa doanh 16
  17. 17. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 17nghiệp vượt lên trên các đối thủ cạnh tranh. Một đội ngũ công nghiệp lãnhđạo, quản lý giàu kinh nghiệm, trình độ cao, năng động, linh hoạt và hiểubiết... sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ là lợi ích trước nmắt như tăngdoanh thu, tăng lợi nhuận mà cả uy tín của doanh nghiệp. Họ sẽ đưa ra nhiềuý tưởng chiến lược sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành củadoanh nghiệp cũng như phù hợp với sự thay đổi của thị trường. Bên cạnh đó nguồn nhân lực của một doanh nghiệp phải đồng bộ sựđồng bộ này không chỉ xuất phát từ thực tế là đội ngũ công nghiệp của doanhnghiệp là từ những nhóm người khác nhau mà còn xuất phát từ năng lực tổnghợp riêng thu được từ việc kết hợp nguồn nhân lực về mặt vật chất, tổ chứctrình độ tay nghề, ý thức kỹ luật, lòng hăng say lao động sẽ là nhân tố quantrọng đảm bảo tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. b. Nguồn lực vất chất. Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với một công nghệtiên tiến phù hợp với qui mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn sẽ nângcao năng lực sản xuất, làm tăng khả năng của doanh nghiệp lên rất nhiều vớimột cơ sở vật chất tốt , chất lượng sản phẩm sẽ được nâng lên cao hơn cùngvới việc hạ giá thành sản phẩm kéo theo sự giảm giá bán trên thị trường. Khảnăng chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ rất lớn, ngược lạikhông một doanh nghiệp nào lại có khả năng cạnh tranh cao khi mà côngnghề sản xuất lạc hậu, maúy móc thiết bị cũ kỹ sẽ làm giảm chất lượng sảnphẩm, tăng chi phí sản xuất. Nguồn lực vật chất có thể là: - Tình trạng trình độ máy móc công nghệ , khả năng áp dụng công nghệmối tác động đến chất lượng, kiểu dáng, hình thức giá thành sản phẩm. - Mạng lưới phân phối: Phương tiện vận tải, cách thức tiếp cận kháchhàng . - Nguồn cung cấp: ảnh hưởng đến chi phí lâu dài và đầu ra trong việcđảm bảo cho sản xuất được liên tục, ổn định. - Vị trí địa lý của doanh nghiệp cũng có thể tác động đến chi phí sảnxuất, (đất đai, nhà cửa, lao động,...) nguồn nguyên liệu, sự thuận tiện củakhách hàng. c. Nguồn lực tài chính. 17
  18. 18. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 18 Nguồn lực tài chính là yếu tố quan trọng trong quyết định khả năngsản xuất cũng như là chỉ tieu hàng đầu để đánh giá qui mô của doanh nghiệp. Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm trang thiết bị , nguyên liệu hayphân phối, quảng cáo cho sản phẩm ... đều phải được tính toán dựa trên thựctrạng tài chính của doanh nghiệp, một doanh nghiệp có tiềm lực tài chínhmạnh mẽ sẽ có khả năng trang bị công nghệ máy móc hiện đại, Bởi vì bất cómột hoạt động đầu tư mua saqứm trang thiết bị nào cũng phải được tính toándựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp. doanh nghiệp nào có tiềm lựctài chính hùng mạnh sẽ có khả năng trang bị dây chuyền công nghệ sản xuấthiện đại, đảm bảo chất lượng, hạ giáthành sản phẩm, giá bán sản phẩm tổchức các hoạt động quảng cáo khuyến mại mạnh mẽ nâng cao sức cạnh tranh.Ngoài ra, với một khả năng tài chính hùng mạnh, doanh nghiệp cũng có khảnăng chấp nhận lỗ một thời gian ngắn để hạ giá thành sản phẩm nhằm giữvững và mở rộng thị phần cho doanh nghiệp để tăng giá, thu lợi nhuận nhiềuhơn. Vì vậy vấn đề tài chính luôn luôn là vấn đề gây nhiều trăn trở cho nhàquản lý. Không chỉ vậy trong nền kinh tế thị trường, trở thành biểu tượng chosự giàu có phát đạt, sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp nguồn tài chínhvững chắc sẽ là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp dành được sự tincậy, đầu tư từ phía khách hàng lẫn nhà đầu tư nước ngoài. Khả năng tài chính của doanh nghiệp gồm vốn chủ sở hữu hay vốn tựcó và các nguồn vốn khác có thể huy động được. Tài chính không chỉ gồmcác tài sản lưu động và tài sản cố định của doanh nghiệp, mà gồm cả cáckhoản vay, khoản nhập sẽ có trong tương lai và cả giá trị uy tín của doanhnghiệp đó trên thị trường. Vốn tự có có thể do các thành viên sáng lập đónggóp hoặc do một phần lợi nhuận được để lại từ đầu tư, hoặc vốn góp thêmcủa các cổ đông sau này. Vốn vay có thể được huy động từ ngân hàng các tổchức tài chính các đơn vị quen biết. Thiếu nguồn tài chính cần thiết , doanhnghiệp có thể bị phá sản, sụp đỗ bất cứ lúc nào. Tài chính được coi là phươngtiện chủ yếu vũ khí sắc bén để tấn công, đánh thắng các đối thủ cạnh tranh . Doanh nghiệp nào không đủ khả năng tài chính sẽ bị thôn tính bới cácđối thủ hùng mạnh hơn hoặc tự rút lui khỏi thị trường. d. Tổ chức. 18
  19. 19. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 19 Mỗi doanh nghiệp phải có một cơ cấu tổ chứcđịnh hướng cho phần lớncác công việc trong doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng đến phương thức thông qua quyết định của nhà quản trị,quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện của doanh nghiệp. Cơcấu nề nếp tổ chức có thể là nhược điểm gây cản trở cho việc hoạt động thựchiện chiến lược hoặc thúc đẩy các hoạt động đó không phát huy tính năngđộng sáng tạo của các thành viên trong doanh nghiệp. doanh nghiệp nào có cơcấu tổ chức hợp lý, năng động sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn các doanhnghiệp khác. e. Kinh nghiệm. Kinh nghiệm sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp dự đoán chínhxác nhu cầu trên thị trường trong từng thời kỳ, từ đó giúp doanh nghiệp chủđộng trong việc sản xuất kinh doanh không bị ứ đọng vốn, tồn kho qúa nhiềusản phẩm tiết kiệm được nhiều chi phí khác. Vì vậy, có thể nói, kinh nghiệm là thứ vô cùng quí giá đối với sự hoạtđộng thành công của mỗi doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động chức năng kháccủa doanh nghiệp có khả năng thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vàokinh nghiệm của người lãnh đạo doanh nghiệp, của các cán bộ quản lý bộphận 19
  20. 20. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 20 I. Môi trường vĩ mô. 1 Nhân t ố kinh t ế. . 2. Nhân tố chính trị và pháp luật. 3.Nhân tố xã hội . 4. Nhân tố tự nhiên. Môi trường ngành II. 5. Nhân tố công nghệ.1. Nhà cung cấp. 2. Khách hàng . III. Doanh nghiệp. 3.Đối thủ cạnh tranh. 1. Nguồn nhân lực. 4. sản phẩm thay thế. 2. Nguồn lực vật chất. 5. Đối thủ tiềm năng. 3. Nguồn lực tài chính. 4. Tổ chức. 5. Kinh nghiệm. B. AFTA VÀ HỘI NHẬP AFTA.1. Cơ sở hình thành AFTA. Quá trình quốc tế hoá đời sỗng kinh tế thế giới đang diễn ra ở nhữn nơicấp độ khác nhau, với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vựchoá. Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trường thế giới thống nhấtmột hệ thống tài chính, tín dụng toàn cầu là việc phát triển và mở rộng phân 20
  21. 21. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 21công lao động quốc tế theo chiều sâu , là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoahọc công nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu, là việc giải quyết các vấnđề kinh tế – xã hội có tính chất toàn cầu như vấn đề, dân số tài nguyên thiênnhiên, bảo vệ môi trường sinh thái ... trong khi đó khu vực hoá kinh tế chỉdiễn ra trongmột thời gian địa lý nhaqát định dưới nhiều hình thức như: Khuvực mậu dịch tự do , đông minh liên minh, thuế quan, đồng minh tiền tề, thịtrường chung, đồng minh kinh tế... nhằm mục đích hợp tác, hỗ trợ lẫn nhaucùng phát triển từng bước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư bản ,lực lương lao động hàng hoá dịch vụ ... tiến tới tự do toàn cầu nhữnh dichuyển mối liên hệ giữa các nước thành vien trong khu vực. Ở những quốc gia có kinh tế thị trường phát triển, thì xu hướng thamgia hội nhập voà nền kinh tế trong khu vực bảo hộ mậu dịch ngày càng tăng.Việc tham gia mạnh mẽ và rông rãi các khối liên minh kinh tế khu vực, tiếntới sự nhất thể hoá cao trog thông qua văn bản, hiệp định ký kết đã đưa lại chocác quốc gia trong liên minh sự ổn định hợp tác cùng phát triển. Trong điềukiện đó các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên được hưởng những ưuđãi về thương mại cũng như các gánh vác các nghĩa vụ về tài chính giảm thuếcũng như giảm miễn phí khác ... Tình hình này trong quá khứ, hiện tại vàtương lai đang đặt ra cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới nói chungcác quốc gia Đông Nam á nói riêng những cơ hội và thách thức mới. Sự hình thành kiên kết giữa các quốc gia đang phát triển, ngoài mụctiêu hợp tác , hỗ trợ nhau phát triển còn nhằm mục tiêu chống lại các chínhsách bảo hộ mậu dịch của các nước công nghiệp phát triển. Việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực và sự hội nhập của từngquốc gia vào nền kinh tế các nước trong khu vực vời nhiều mức độ khác nhautuỳ thuộc vào từng khu vực liên kết và hình thức liên kết. Khu vực mậu dịch tự do hay khu buôn bán tự do là giai đoạn đầu củaquá trình hội nhập kinh tế khu vực. Đây là một liên minh quốc tế giữa hai haynhiều quốc gia nhằm mục đích tự do hoá buôn bán đối một hoặc một số nhómmặt hàng náo đó. đặc trưng của khu vực mậu dịch tự do là xoá bỏ các hàngrào thuế quan và phi thuế quan nhằm tạo ra một thị trường thống nhất củakhu vực. Nhưng mỗi quốc gia là thành viên vẫn thi hành chính sách ngoạithương độc lập đối với các quốc gia ngoài liên minh. 21
  22. 22. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 22 Sự hôi nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực đang đưa lạinhững lợi ích khác nhau cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong cácnước thành viên. Một quốc gia nào đó gia nhập hội các nước thực hiện ưu đãimậu dịch thường đua lại những kết quả chủ yếu sau. Một là, Tạo lập quan hệ mậu dịch nối giữa các nước thành viên, mởrộng hơn nữa khả năng xuất nhập khẩu hàng hoá của các nước trong liênminh với các nước các khu vực khác trên thế giới : cũng trong điều kiện nàymà tiềm năng kinh tế các nước thành viên được khai thác một cách có hiệuquả. Cũng trong điều kiện này lợi ích của người tiêu dùng cũng được tăng lênnhờ hàng hoá của các nước thành viên đưa vào nước như là luôn nhận đượcsự ưu đãi. Do đó hàng hoá hạ xuống làm người dân ở nước chủ nhà có thểmua được khối lượng hàng hoá lớn hơn với mức chi phí thấp hơn. Hai là, hội nhập kinh tế khu vực còn góp phần vào việc chuyển hướngmậu dịch, sự chuyển biến này diễn ra phổ biến khi hình thành liên minh thuếquan , và khi đó các điều kiện buôn bán giữa các nước thành viên trong liênminh sẽ trở nên thuận lợi hơn, hấp dẫn hơn trước. Ba là, hội nhập vào khu vực, thực hiện tự do hoá thương mại tạo điềukiện thuận lợi trong việc tiếp tục thu vốn, công nghề trình độ quản lý ... từ cácquốc gia khác nhau trong liên minh. Về lâu dài tự do hoá thương mại thúc đẩytăng trưởng kinh tế, góp phần tăng năng suất lao động. Để tiến thêm một bước nữa tới tự do thương mại toàn diện và để phảnứng với xu thế hội nhập kinh tế khu vực đang diễn ra ở nhiều nơi trên thếgiới, ngày 27/28 tháng 1 năm 1992 các nước ASEAN đã thoả thuận thiết lâpkhu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) trong vòng 15 năm trong 15 năm, kể từ1.1.1993, thuế của các nước trong khu vực sẽ được giảm xuống ở mức 0 – 5%và các hàng rào phí thuế quan với một diện rộng các sản phẩm chế tạo. Năm1994, các nước ASEAN đã rút ngắn thời gian quá trình đó còn lại 10 năm, tứclà thuế giảm xuống còn 0 – 5% vào năm 2003. AFTA không phải là một liênminh thuế quan trong nuớc ASEAN vẫn được tự do riêng để dặt thuế vớinhững nước còn lại trên thế giới. 22
  23. 23. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 232. Nội dung chủ yếu của AFTA. 2.1. CEPT ( Kế hoạch thuế ưu đãi có hiệu lực chung ) CEPT là một cột chính để thành lập AFTA. CEPT ( Common EffectivePreferential Tarif). Được đưa ra nhằm thoả thuận các nước thành viênASEAN trong việc giảm thuế quan trong thương mại nội bộ ASEAN xuống0- 5% đồng thời loại bỏ những hạn chế về định lượng các hàng rào phi thuếquan trong vòng 10 năm bắt đầu từ 1/1/1993 và hoàn thành 1/1/2003 đồngthời các nước thành viên cũng sẽ đi đến thống nhất giữa các danh mục biếuthuế và các thủ tục hải quan để thực hiện CEPT. Các nước ASEAN đã nêu ra 15 nhóm sản phẩm giảm thuế nhanh vớimức thuế ưu đãi phải đạt 0 – 5 % trong thời gian dài nhất là 7 năm ( 5 nămđối với hàng hoá chọn thuế thấp ) 15 nhóm sản phẩm Đồ nhựa Đá quý và đồ trang sức Sản phẩm cao su Cực âm dòng Sản phẩm da Hàng điện tử Bột giấy Nội thất bằng gỗ và mây Hàng dệt Hoa chất Dàu thực vật Dược phẩm Xi măng Phân bón Sản phẩm gốm và thuỷ tinh Đối với nhóm giảm thông thường tốc độ giảm hơn và những hàng hoáchịu thuế cao hơn thì việc giảm thuế có thể thực hiện trong 15 năm. Ban đầu, người ta dự tính có thể áp dụng CEPT cho tất cả các hàng hoáchế tạo nhưng cho phép thực hiện ngoại lệ đối với các hàng hoá dễ bị tổnthương và khó tính cạnh tranh trực tiếp. Tuy nhiên, ngoài những trường hợphạn chế buôn bán là cần thiết để đảm bảo an toàn an ninh quốc gia, sức khoẻvà truyền thống văn hoá. Và việc loại bỏ ra khỏi CEPT các sản phẩm chỉmang tính tạm thời. Một nước thành viên laọi bỏ tạm thời một sản phẩm thì sẽkhông còn tư cách để hướng sự xâm nhập ưu đãi cho sản phẩm đó vào thịtrường các quốc gia thành viên khác. Việc đình chỉ ưu đãi chỉ phù hợp vớiđiều XIX của GRATT ( hành động khẩn cấp về nhập khẩu các sản phẩm đặcbiệt ) . Năm 1994 ASEAN đồng ý với tiến trình giảm thuế như sau. 1) Đối với hàng hoá theo thời gian thực hiện bình thường. 23
  24. 24. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 24 - Thuế suất trên 20% sẽ giảm xuống dưới 20% vào ngày 1/11/1998 vàsau đó còn 0 – 5%vào ngày 1/1/2003. - Thuế suất đã ở dưới mức 20% sẽ được giảm xuống 0 – 5% vàongày1/1/2000. 2) Đi với hàng hoá theo thời gian thực hiện nhanh. - Thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống 0 – 5% vào 1/1/2000. - Thuế suất đã ở dưới mức 20% sẽ được giảm còn 0 – 5% vàongày1/1/1998. * Danh sách các cửa hàng tạm thời không thuộc CEPT sẽ bị loại bỏnhững sản phẩm hiện đang nằm ngoài CEPT theo chu kỳ sẽ được đặt vàodanh sách CEPT vào thời gian bắt đầu từ 1/1/1995. * Những nông sản thô hoặc chưa qua chế biến bây giờ sẽ được đưa vàoCEPT Trước đây loại sản phẩm này nằm trong kế hoạch mậu dịch ưu đãi(PTA). * Sẽ thành lập một đơn vị AFTA trong ban thư ký ASEAN và trong tấtcả các nước thành viên để đảm bảo một sự phối hợp giải quyết tốt hơn nhữngvấn đề CEPT. Phạm vi áp dụng của CEPT . CEPT áp dụng cho tất cả các hàng hoá chế tạo là của ASEAN bao gồmtư liệu sản xuất, nông sản chế biến và những sản phẩm phi nông nghiệp khác .Một hàng hoá đạt tiêu chuẩn của ASEAN nếu ít nhất đạt 40% nghuyên vậtliẹu của nó xuất xứ từ bất kỳ một nuức thành viên ASEAN nào đó. Trên thựctế, yêu cầu này thấp hơn yêu cầu hàm lượng địa phương của hầu hết các klhốimậu dịch tự do khác như 50% giá trị tăng thêm địa phương trong khối AFTAvà trong hiệp định New Zealand – Australia, AFTA yêu cầu giá trị vật tư vàchi phí chế biến trực tiếp phải xuất phát từ khối. Theo quyết định thông qua năm 1994, những nông sản thô hoặc chưaqua chế biến sẽ phải đáp ứng tiêu chuẩn trên, dịch vụ được loại ra khỏi CEPT.Nguyên tắc xuất xứ của ASEAN có nghĩa là có sự nhất trí chuyển hướng mậudịch và đầu tư sang nông nghiệp, công nghiệp chế tạo và các ngành khác. - Việc tham gia CEPT sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thương mại. Thamgia AFTA sẽ có một tác động trực tiếp nhất tới yếu tố gía cả của hàng hoá,bởi vì việc cắt giảm thuế, đơn giản hoá thủ tục buôn bán thì giá bán của hàng 24
  25. 25. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 25hoá sẽ hạ hơn. Các yếu tố khác như chất lượng, mẫu mã cũng sẽ thay đổi dosức ép cạnh tranh trong nội bộ AFTA. Đặc biệt, tác động của khu vực mậu dịch tự do sẽ rõ ràng nhất trongđiều kiện các nước thành viên có điều kiện phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tếvà buôn bán tương tự nhau như ASEAN. Tính cạnh tranh sẽ rất mạnh khi sựthay đổi thuế quan sẽ có tác dụng quyết định. Đồng thời khả năng tạo lập sựhợp tác và chuyên môn hoá cũng lớn. Xu hướng chung phân bố sản xuất làchuyến các cơ sở sản xuất từ nơi có giá thành cao sang nơi có gi thành thấp.Mức chênh lậch giá thành càng lớn thì luồng di chuyển càng mạnh khi cáchàng rào thuế quan bị xoá bỏ. Việt Nam chúng ta khi tham gia AFTA, sẽ có thuận lợi hơn cho xuấtkhẩu hàng hoá sang các nước ASEAN vì các hàng rào bảo hộ của các nướcđó cũng được cắt giảm tương tự khi Việt Nam cắt giảm hàng rào bảo hộ củamình. Một thị trường lớn nằm kế bên , có các đòi hỏi về chất lượng khôngphải quá cao, với các ưu đãi sẽ được mở rộng ra cho các Doanh nghiệp ViệtNam. CEPT sẽ là một tác nhân quan trọng không những thúc đẩy cải tiến kỹthuật công nghề và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất, màhơn thế còn điều chế cơ cấu sản xuất bằng cách ngừng sản xuất những mặthàng không đủ sức cạnh tranh. Việc tham gia AFTA sẽ đặt một cươ sở công nghiệp non yếu của ViệtNam trước một thực tế phải cạnh tranh trên thị trường nước mình trong mộtthé bất lợi. Do cơ cấu mặt hàng sản xuất của ASEAN tương đối giống nhau vàViệt Nam ở vào tình thế nền sản xuất trong nước không còn được bảo hộmạnh mẽ như trước sẽ có nguy cơ tiêu diệt một số ngành trong nước với100% vốn của Việt Nam, thị trường trong nước sẽ bị chen lấn bởi sản phẩmxuất khẩu trong khuôn khổ AFTA cũng như những liên doanh sản xuất tạiViệt Nam có sự đầu tư vốn của các Doanh nghiệp ASEAN về 15 nhóm sảnphẩm tương tự. 25
  26. 26. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 26 2.2. Những hàng thuế quan (NTBS), hạn chế số lượng(ORS) và các biện pháp khác. CEPT chỉ là một bộ phận của AFTA đã phát sinh hiệu lực, tuy nhiênthuế không phải là cản trở duy nhất và quan trọng nhất đối với buôn bán khuvực. Cần gạt bỏ nhiều hàng rào phi thuế quan và hạn chế số lượng . - NTBS của Việt Nam bao gồm: + Giâý phép hoạt động cho các nhà xuất khẩu và nhập khẩu, chỉ có cácdoanh nghiệp thuộc Bộ Thương Mại được thực hiện các hoạt động ngoạithương. + Giấy phép xuất nhập khẩu, áp dụng đối với một số loại hàng hoá. + Giáy chứng nhận của một số tổ chức có thẩm quyền áp dụng với cácloại hàng hoá đặc biệt. - ORS của Việt Nam bao gồm: + Qua ta. + Các hàng hoá và như yếu phẩm do chính phủ kiểm soát đẻ tạo cânbằng cơ sở giữa cung và cầu trong nền kinh tế quốc dân. 2.3. Mục tiêu kinh tế của AFTA. Mỗi một quốc gia tham gia vào AFTA đều đặt ra cho mình những mụctiêu nhất định phù hợp với đặc thù của nước mình tuy nhiên tất cả họ đều cónhững mục tiêu chung đó là: - Tự do hóa thương mại trong ASEAN thông qua việc giảm dần thuếquan nội bộ khu vực và NTBS. - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực bằng cách mở rộngmột thị trường phối hợp rộng hơn. - Làm thích ứng với những điều kiện kinh tế đang thay đổi dặc biệt làquá trình thành lập các khối thương mại trên thế giới. 2.4. Danh mục sản phẩm theo chương trình CEPT của Việt Nam. Khi tham gia vào AFTA các quốc gia có thể đưa ra danh mục CEPT vàlịch trình cắt giảm của riêng mình. Hơn nữa, Việt Nam là nước gia nhậpASEAN sau lên được gia hạn thêm 3 năm nữa có danh mục CEPT và lịchtrình cắt giảm có đặc điểm: Danh mục CEPT được chia ra làm 3 loại. 26
  27. 27. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 27 - Danh mục các mặt hàng giảm thuế theo hai kênh nhanh và thôngthường. - Danh mục loại trữ tạm thời và loại trữ chung. - Các sản phẩm chưa qua chế biến nhạy cảm. Trong 3211 mặt hàng chịu thuế nhập khẩu của Việt Nam. Thì 53.1%hiện có mức thuế thấp hơn 5% ( chủ yếu là nguyên liệu thô dùng cho sản xuấttrong nước các mặt hàng chế tạo có mức thuế cao hơn để bảo vệ công nghiệptrong nước) do vậy việc tham gia CEPT không có tác độgn mạnh đến thuếnhập khẩu. Danh mục các mặt hàng giảm thuế gồm 1633 mặt hàng, chiếm 50.5%danh mục hàng nhập khẩu Việt Nam. Danh mục ngoại tệ tạm thời bao gồm1168mặt hàng chiếm 36% danh mục hàng nhập khẩu.II. SỰ HỘI NHẬP AFTA CỦA VIỆT NAM.1. Thực tiễn thực hiện AFTA : Về tiến trình cắt giảm thuế Việt Nam nói chung không thực hiện tiếntrình cắt giảm nhanh tuy nhiên đối với những sản phẩm đang có thuế xuất 0 -5%, tức là đã thoả mãn mục tiêu của CEPT, ta có thể thực hiện vào tién trìnhcắt giảm nhanh đối với sản phẩm có thuế suất cao hơn 5% trong doanh mụccát giảm thuế quan hướng thực hiện bước cắt giảm đầu tiên thực tế bắt đầu từnăm 1998 để đảm bảo cho nguốn thu và hôc trợ một phần cho sản xuất trongnước. Trong hai năm 1996 - 1997 Việt Nam đã thực hiện hi cải cách thuế,trong đó đối với chính sách thuế áp dụng cho hàng nhập khẩu, Việt Nam đãthực hiện việc phân tích hai loại thuế là thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trịgia tăng trước khi tiến hành cát giảm thuế nhập khẩu thực sự từ 1998. Do đó,mức thuế nhập khẩu giảm trên phần thuế nhập khẩu còn lại là thấp so với mứcphải giảm nếu không có sự phân tích hai loại thuế trên. Có thể nói, Việt Nam thực hiện nghiêm tục và rất thận trọng việc giảmthuế quan để tránh ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách, và làm giảm được giáhàng nhập khẩu góp phần cải thiện điều kiện kinh doanh và tiêu dùng trongnước, còn các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi khixuất khẩu hàng sang các nước ASEAN. 27
  28. 28. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 28 Về các biện pháp phi thuế quan thì ở Việt Nam còn rất đơn giản chỉ làgiấy phép và hạn ngạch. Để thực hiện được việc giảm thuế và bỏ hàng rào phithuế quan Việt Nam đã và đang phối hợp các nước ASEAN để thống nhất cácdanh mục biểu thuế, có hệ thống định dạng hải quan, quy trình thủ tục hảiquan, v.v... Có thể nói, việc Việt Nam hoàn thành AFTA vào năm 2006 là hoàntoàn khả thi. Kết luận này căn cứ vào lộ trình AFTA của Việt Nam kết hợpvới chương trình cải cách thuế và các chính sách như đã phân tích ở trên.2. Khả năng Việt Nam hoàn thành CEPT vào năm 2003. Để thực hiện được điểm có lợi cho từng quốc gia trong việc thực hiệnAFTA là tăng khả năng xuất khẩu và thu hút đầu tư trong khối và ngoài khối.Do vậy, để Việt Nam tham gia vào AFTA vào 2003 vừa tận dụng được nhữnglợi thế trên vừa phù hợp với định hướng chiến lược các ngành kinh tế ViệtNam hội nhập ngày càng rộng và sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.Chính sự hội nhập này là một yếu tố quốc tế tạo nên sức bật cho nền kinh tế.. Nếu Việt Nam hoàn thành CEPT vào năm 2003 thì nguồn thu ngânsách từ thuế nhập khẩu không giảm nhiều so với nếu hoàn thành vào năm2006, vì thuế xuất bình quân đối với hàng nhập từ ASEAN là 13%, nếu giảmxuống 5% vào năm 2000 thì mức giảm thungân sách chỉ là 8%đsối với 50%hàng nhập khẩu là hàng thuộc CEPT.Trái lạ, nếu khpối lương hàng nhậpkhẩu từ ASEAN tăng thì đủ bù lại mức giảm thu ngân sách trên. Do vậy việcViệt Nam hoàn tất giảm thuế theo ce vào năm 2003 không gây thiệt hại lớncho ngân sách sơ với nếu vàop năm 2006. Mặt khác, việc giảm thuế sẽ làmgiảm giá bán hàng ở Việt Nam: người tiêu dùng có lợi, doanh nghiệp nhậpnguyên liệu, máy móc có lợi, các nhà đầu tư thay vì xuất khẩu hàng vào ViệtNam sẽ đầu tư trực tiếp vào đây để giữ thị phần. Tuy nhiên, các doanh nghiệpViệt Nam sẽ phải cạnh tranh quyết liệt với hàng ché biến nhập từ ASEAN,buộc họ phải vươn lên. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệpvươn lên, song không thể thựuc hiện bất kỳ mộtchính sách bảo hộ mậu dịchnào. Các doanh nghiệp chủ động vươn lên trong cạnh tranh là điều tích cựcđối với nền kinh tế Việt Nam. Cái lợi lớn nhất nếu Việt Nam tham gia AFTA vào năm 2003 là đầu tưnước ngoài tăng rõ rệt, ngành công nghiệp chế biến Việt Nam sớm hướng 28
  29. 29. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 29mạnh xuất khẩu sang ASEAN. Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ViệtNam sẽ tính đến thị trường hàng công nghiệp chế biếm xuất khẩu cho thịtrường ASEAN, để hưởng lợi từ AFTA. Thị trường hàng công nghiệp chếbiến ASEAN khi lớn, rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. ViệtNam phải nắm lấy cơ hội này để có thể phát triển nhanh công nghiệp chế biếnxuất khẩu. Một số nhà kinh tế Việt Nam cho rằng, thời cơ này chưa hề cótrước đây, và tận dụng cơ hội này từ năm 1997 – 2003 Việt Nam có thể thuhút được 21 tỷ USD FDY ( trung bình 3 tỷ USD/năm ), và cứ một đồng vốnFDY sẽ tác động làm cho 4 đồng vốn trong nước hoạt động theo, thì số vốntrong nước sẽ được huy động và phát huy tác dụng là 84 tỷ USD. Đây lànguồn lực to lớn thúc đảy công nghiệp chế biến Việt Nam phát triển. Tham gia AFTA vào năm 2003 cũng có nghĩa là nền kinh tế Việt Namchuyển dich cơ cấu kinh tế nhanh hơn, thị trường Việt Nam hội nhập nhanhhơn vào thị trường khu vực, một thị trường chung về hàng công nghiệp chếbiến hình thành. Trên cơ sở này, các nước ASEAN có thể hợp tác và chuyên môn hoákhu vực. Nếu Việt Nam không chuyển đổi cơ cấu, không phát triển nhanhcông nghiệp chế biến thì Việt Nam tam gia AFTA không có ý nghĩa gì lớn ,tài nguyên vv... là nơi mà các chủ đầu tư nước ngoài rất quan tâm khi pháttriển công nghiệp chế biến đầu tư vào ASEAN. Định hướng chiến lược phát triển các ngành vào xuất khẩu sangASEAN mà trọng tâm là công nghiệp chế biến đòi hỏi tất cả các biện phápkinh tế vĩ mô như thuế thương mại , tài chính ... đều cần được thay đổi đểđảm bảo cho việc thực hiện những thành công chiến lược đó . Sự tăng trưởngkinh tế của các nước ASEAN trong thời gian qua do thực hiện những chínhsách kinh tế hướng về xuất khẩu - chính là nguyen nhân tạo ra AFTA và cũnglà tác động ngược lại của AFTA đối vopứi kinh tế trong nước - đó là sựchứng minh rõ nét nhất cho sự cần thiết phải có chiến lược kinh tế hướng vềxuất khẩu của Việt Nam, trong đó công nghiệp chế biến là trọng tâm. Chúngta sẽ thất bại nếu hội nhập kinh tế với bên ngoài mà chiến lược kinh tế lại làthay thế nhập khẩu như trước đây hoặc duy trì song song với mức độ nhưnhau cả chiến lược thay thế nhập khẩu hưỡng vào xuất khẩu ( như hiện nay). 29
  30. 30. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 30 Chúng ta ( trước 3 năm so với hạn 2006) như các nước thành viên khácvì đó là phương án tích cực nhất , chủ động mang lại lợi ích phát triển choViệt Nam. Việc này đồi hỏi nhiều cố gắng trong việc đổi mới chính sách kinhtế. Càng chậm tham gia vào AFTA thì những lợi ích thu được từ AFTA càngít, nền kinh tế rơi vào thế bị động trong quan hệ kinh tế quốc tế. 50.5% danh mục hàng nhập khẩu Việt Nam. Danh mục ngoại tệ tạmthời gồm 1168 mặt hàng chiếm 36% danh mục hàng nhập khẩu.III. AFTA VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM. Việc hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN (AFTA )trực tiếp ảnhhưởng ngay tại xuất khẩu, nhập khẩu, , đầu tư nước ngoài tại Việt Nam khôngdừng lại ở đó, mà nó còn tác động cả vào công cuộc phát triển kinh tế củanước ta. Các nhà kinh tế, chính trị trong và ngời nước đều có nhận định rằng nếuViệt Nam nhập cuộc và hoà nhập vào thế giới bằng việc tham gia có hiệu quảvà hợp lý váo các hoạt động của ASEAN thì sự phát triển kinh tế chắc chắn sẽthành đạt. Thời gian này kéo dài bao lâu phụ thuộc chon hướng và thực hinjchuyển hưỡng cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá. Đây là thời cơlịch sử là thách thức của đất nước.1. AFTA với sự phát triển thương mại. AFTA là mô hình được xây dựng theo nguyên tắc và nội dung cơ bảncủa hệ thống thương mại toàn thế giới (WTO) hướng theo mô hình châu âu. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định 91/CP ngày 18/12/1995vềviệc thực hiện chương trình thuế quan ưu đãi chung – CEPT .Việt Nam cũngđã công bố danh sách và các bước cắt giảm thuế ở trong nước với việc cắtgiảm thuế quan là hoàn toàn hợp lý. Tính hợp lý đó nhằm mục đích chủ động hội nhập với các nướcASEAN, thực hiện đường lối mở cửa của nền kinh tế , đẩy mạnh công nghiệphoá hiện đại hoá đất nước. Hiện nay cơ cấu xuất khẩu của nước ta chưa hợp lý còn nhiều mặt hàngthô hàng nguyên liệu chưa chế biến hoặc mức chế biến thấp như dầu thô ,than, thiếc , cao su, gạo. Hàng Việt Nam xuất cho các nước ASEAN chiếm 30
  31. 31. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 31khoảng ẳ khả năng xuất khẩu và nhập khẩu từ ASEAN 1/3 khả năng xuấtkhẩu. Mặt hàng xuất khẩu lớn là dầu thô ngày càng tăng trogn lúc ngành lọcdầu chưa hình thành ở trong nước. Với cơ cấu xuất nhập khẩu như vậy chúng ta hầu như chưa được CEPTtạo thuận lợi , vì sản phẩm đưa vào chương trình CEPT là hàng công nghiệpchế biến gồm cả tư liệu sản xuất hàng nông sản chế biến mà Việt Nam cònchưa có ưư thế. Tại hội nghị cấp cao tháng 12/95 đề cập tới hàng nông sảnchưa chế biến được chính thức đưa vào chương trình CEPT. Để thực hiện CEPT, Việt Nam đã có chương trình của bộ Thương mạiphối hợp với Bộ tài Chính, đảm bảo 4 nguyên tắc. - không gây ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách. - Bảo hộ hợp lý nếu sản xuất trong nước. - Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao công nghệ , đổi mới kỹthuật cho nền sản xuất trong nước. - Hoà nhập với ASEAN để tranh thủ ưu đãi mở rộng thị trường và thuhút đầu tư nước ngoài.2. Chương trình về thuế. Hiện nay, ở nước ta đang thực hiện 3 luật thuế ( thuế giá trị gia tăng –VAT, thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập cá nhân) , trong đó tôn trọngnguyên tắc không làm giảm nguồn thu ngân sách Mục tiêu chủ yếu của việc ban hành luật thuế giá trị gia tăng ở nước talà: - Thúc đẩy sản xuất và kinh doanh phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu . - Đảm bảo huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước. - Khắc phục việc thu thuế cùng của luật thuế doanh thu. - Hoàn thiện chính sách hệ thống thuế cho phù hợp với nền kinh tế thịtrường, tạo điều kiện hoà nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cắt giảm thuế theo ưu đãi của CEPT trước mắt chủ yếu là các mặt hàngcông nghiệp chế biến. Các mặt hàng này ta chưa có khả năng cạnh tranh khốilương cũng nhỏ. Hàng công nghiệp chưa qua chế biến. Các mặt hàng này tachưa có khả năng cạnh tranh khối lư3ơng cũng nhỏ. Hàng nông nghiệp chưa qua chế biến được hưởng sự ưu đãi đó 31
  32. 32. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 323. AFTA và CEPT đối với các ngành kinh tế trong nước. Việc thực hiện AFTA và CEPT cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cácngành các bộ thuộc lĩnh vực sản xuất lưu thông và các ngành quản lý. Điều quan trọng là ổn định sự phát triển sản xuất nhưng cần tạo điềukiện để đổi mới cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hoá , đi từng bước đithích hợp, đáp ứng thị trường nước ngoài, các yếu tố cần thiết trong đổi mớicơ cấu phù hợp với vốn, kỹ thuật công nghệ và thị trường. Theo tinh thần đó, cần xem xét việc gì có thể làm được sớm cần làmtrong thời gian ngắn nhất, như việc chế biến nông sản chẳng hạn, không cầnvốn lớn chỉ cần thị trường chấp nhận và có lợi thấ so sánh, có lãi, nên có thểlàm trước. Việt Nam đã tham gia AFTA như đã trình bày có tác đọng mạnh mẽđến toàn Bộ Thương Mại, đầu tư cơ cấu sản xuất ... và cả toàn bộ qua trìnhphát triển kinh tế của Việt Nam. Xem xét trên khía cạnh một doanh nghiệp tác động của AFTA là xemxát về khả năng cạnh tranh ở trong nước, thị trường ASEAN và thị trườngngoài ASEAN từ những cơ hội và thách thức mà AFTA mở ra. Chương II đánh giá về khả năng cạnh tranh của công ty giầy Thuỵ Khuê trong điều kiện hội nhập AFTAI. THỰC TRẠNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Giầy Thụy Khuê. 1.1. Lịch sử hình thành. Công ty Giầy Thụy Khuê là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Sởcông nghiệp – Hà Nội có chức năng và nhiệm vụ là: sản xuất và kinh doanhmặt hàng giày dép các loại. Địa chỉ của Công ty Giầy Thụy Khuê được đặt ở 2 nơi: * Văn phòng giao dịch của công ty: Số 152 phố Thuỵ Khuê Hà Nội. * Cơ sở sản xuất: Khu A2 xã phù diễn – huyện Từ Liêm – Hà Nội. * Việc đặt văn phòng và cơ sở sản xuất của công ty ở những vị trí khácnhau rất thuận lợi cho việc giao dịch, tiêu thụ sản phẩm của công ty, cũng như 32
  33. 33. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 33việc thu hút nguồn nhân lực dồi dào của các vùng lân cận và làm việc tại côngty. Lĩnh vực sản xuất chủ yếu của công ty là sản xuất kinh doanh các loại giàydép phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể khái quát như sau: Tiền thân của công ty là xí nghiệp quân nhu X3, ra đời vào tháng1/1957chuyên sản xuất giầy vải và mũ cứng cung cấp cho bộ đội, trải qua chặngđường gần nửa thế kỷ, lúc nhập vào (1978) từ xí nghiệp X30 thành xí nghiệpgiày vải thượng đình, doanh nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệpchống mỹ cứu nước và xây dưng XHCN. Do nhu cầu phát triển của ngànhngày 1/4/1989 một phân xưởng xí nghiệp của giày cvải thượng đình đượcUBND thành phố Hà Nội cho tách ra thành Giày vải Thuỵ Khuê theo quyếtđịnh số 93/QĐUB ký ngày 7/1/1989 của UBND thành phố Hà Nội. Năm 1992 xí nghiệp chuyển tên thành Công ty Giầy Thụy Khuê với têngiao dịch quốc tế Thuy Khue SHOES COMPANY ( JTK). khi mới tách racông ty có 650 ấn bộ công nhân viên, giá trị tài sản gồm có vốn cố định 256triệu đồng và vốn lưu động là 200 triệu đồng bằng vật tư và bán thành phẩm.Lúc đó có hai phân xưởng sản xuất, số nhà xưởng sản xuất hầu hết là nhà cấp4 cũ nát, thiết bị máy móc cũ kỹ, lạc hậu, sản xuất chủ yếu bằng phương phápthủ công sản phẩm mỗi năm chỉ đạt trên dưới 400000 sản phẩm, phân lớn racông mũ giày cho liên Xô ( cũ ) và là sản phẩm cấp thấp. Là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơchế thị trường, hơn nữa là một doanh nghiệp trẻ mới được thành lập với đặcthù nhiệm vụ sản xuất kinh doanh giày dép là một mặt hàng dân dụng phụthuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, khí hậu, mùa vụ, sức sống dân cư... songcông ty vẫn không ngừng đổi mới đầu tư mua trang thiết bị máy móc hiện đạiđể mở rộng sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó Công ty Giầy Thụy Khuê rấtchú trọng tời nguồn nhân lực, công ty đã xác định lao động là yếu tố hàngđầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu như đảm bảo chất lượng lao độngsẽ mang lại kết quả cao, số lương và chất lượng lao động sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến năng suất hiệu quả máy móc thiết bị của công ty. Do đó những nămqua công ty không ngừng lớn mạnh cả về số lương và chất lượng. Hiện naytổng số lao động của công ty là 2156 người trong đó có 87% lượng lao độngtrế khoẻ, có trình độ tiếp thu những công nghề sản xuất tiên tiến. Trong nhũng 33
  34. 34. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 34năm gần đây công ty đã không ngừng nâng cao và cải thiện điều kiện làmviệc. Đối với các phòng ban và nghiệp vụ nhân viên được làm việc trong điềukiện khá tốt. Có đày đủ thiết bị văn phòng kể cả hệ thống thông tin liên lạc,từng phòng có gắn máy điều hoà nhiệt độ. Đối với công nhân sản xuất trựctiếp được làm việc trong môi trường an toàn có đủ hệ thống chiếu sáng, quạtmáy và đủ m,áy móc chuyên dùng thay thế cho những công việc nặng nhọc.Hiện nay công ty có 6 dây chuyền sản xuất và 20 0000m2 nhà xưởng. Về thu nhập của người lao động: đây là một trong những mục tiêu cơbản hàng đầu của công ty. Trong những năm gần đây công ty không ngừngnâng cao và cải tiến đời sống người lao động, lương tháng bình quân năm1995 là 404.000 đồng, năm 1996 là 460.000 đồng năm 1997 là 535.000 đồngnăm 1998 là 596.000đồng năm 1999 là 600.000 đồng. Như vậy do chú trọng tới việc đầu tư máu móc thiết bị hiện đại vàkhông ngừng phát triển nguồn nhân lực của mình, nên từ chỗ công ty chỉ sảnxuất được mặt hàng giày dép cấp thấp chủ yếu têu thụ thị trường nội địa, đếnnay sản phẩm của công ty đa dạng phong phú về màu sắc, chủng loại , chấtlượng sản phẩm được nâng cao, khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm từchỗ công ty có rất ít khách hàng nhất là khách hàng nước ngoài thì đến naysản phẩm của công ty đã có mặt ở nhiều nơi trên thị trường thế giới như thịtrường EU , úc, Bắc mỹ.... * Tài sản Công ty Giầy Thụy Khuê: Với quá trình phát triển như vậy tính đến năm 2000quy mo sản xuấtkinh doanh của công ty là: - Tổng số vốn kinh doanh 32198725000 đồng. - Vốn ngân sách cấp: 11271321080đồng. - Vốn vay 19269187000đồng. - Vốn tự bổ sung :1658217000đồng. 1.2. Chức năng nhiệm vụ của công ty: 1.2.1. Chức năng Công ty Giầy Thụy Khuê ( JTK) có chức năng chính là sản xuất kinhdoanh các loại giày dép và một số mặt hàng khác ù cao su phục vụ do tiêudùng và xuất khẩu. Ngoài ra công ty còn có chức năng kinh doanh xuất nhập 34
  35. 35. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 35khẩu trực tiếp theo giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu số 2051081 cấpngày 18/12/1992. Phạm vi kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty là: * Xuất khẩu: các loại giày dép và mặt hàng công ty sản xuất ra. * Nhập khẩu: vật tư, nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ cho quátrình sản xuất của công ty. Công ty thực hiện ché độ hạch toán kinh doanh độc lập trên cơ sở lấythu bù chi, khai thác các nguồn vật tư, nhân lực, tài nguyên của dất nước đẩymạnh hoạt động sản xuất tăng thu ngoại tệ góp phần vào công cuộc xây dựngvà phát triển kinh tế. 1.2.2. Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty. Là một đơn vị kinh tế hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng.Công ty Giầy Thụy Khuê có vai trò quan trọng trogn sự nghiệp xây dựng thủđô Hà Nội và ngành giày dép Việt Nam. Nhiệm vụ của công ty được thể hiện: - Thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở chủ động và tuânthủ ngiêm chỉnh các quy định của luật pháp. - Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường, kiến nghị và đềxuất với Sở Công nghiệp Hà Nội giải quyết các vấn đề vướng mắc trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh. - Tuân thủ luật pháp nhà nước về quản lý tài chính, quản lý xuất nhậpkhẩu và giao dịch đối ngoại, nghiêm chỉnh thực hiện cam kết trong hợp đồngmua bán ngoại thương và các hoạt động liên quan đến sản xuất kinh doanhcủa công ty. - Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đồng thời tự tạo nguồnvốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư vào hoạt động đổi mới trang thiết bị tựbù đắp chi phí, tự cân đối xuất nhập khẩu, đảm bảo thực hiện sản xuất kinhdoanh có lãi và hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước nghiên cứu thựchiện có hiệu quả nâng cao các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm docông ty sản xuất ra, kinh doanh làm tăng sức cạnh tranh và mở rộng doanhthu tiêu thụ. - Quản lý và đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên để phù hợp vớihoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và theo kịp sự đổi mới của đấtnước. 35
  36. 36. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 36 1.3. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty: Xuất phát từ tình hình, đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu của thịtrường và để phù hợp với sự phát tiển của mình, công ty đã không ngừngnâng cao, hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý. Đến nay bộ máy tổ chức quảnlýcủa công ty được chia làm 3 cấp : Công ty, Xưởng- Phân xưởng sản xuất.Hệ thống lãnh đạo của Công ty bao gồm Ban giám đốc và các phòng bannghiệp vụ giúp việc cho giám đốc trong việc tiến hành chỉ đạo quản lý. -Ban giám đốc gồm : +Tổng giám đốc . + Phó tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật. + Phó tổng giám đốc phụ trách kinh doanh. - Hệ thống các phòng ban bao gồm. + Phòng tổ chức + Phòng tài vụ kế toán +Phòng kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩu + Phòng cung ứng vật tư + Phòng cơ năng + Phòng kỹ thuật - Ba xí nghiệp: + Xí nghiệp giày xuất khẩu số I + Xí nghiệp giày xuất khẩu số II + Xí nghiệp giày xuất khẩu số III - Một trung tâm thương mại và chuyển giao công nghệ: 152 – Tây Hồ –Hà Nội . Mô hình tổ chức quản lý của Công ty là mô hình trực tuyến, chức năng.Đứng đầu là Giám đốc Công ty sau đó là các phòng ban nghiệp vụ và sau làcác đơn vị thành viên trực thuộc. 36
  37. 37. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trang 372. Kết quả kinh doanh của công ty trong giai đoạn vừa qua. Trong những năm gần đây công ty đã đạt được nhiều thành công đángkhích lệ. Công ty đã không ngừng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, cả về sốlương lẫn chất lượng. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công tytrong những năm qua được thể hiện thông qua biểu dưới đây. 37

×