Khóa luận tốt nghiệp một số giải pháp thúc đẩy qhkt Lào và Việt Nam

3,440 views

Published on

Đề tài: Khóa luận tốt nghiệp một số giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế Lào và Việt Nam

Published in: Education
1 Comment
3 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
3,440
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
14
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
1
Likes
3
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Khóa luận tốt nghiệp một số giải pháp thúc đẩy qhkt Lào và Việt Nam

  1. 1. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com Lời mở đầu Trước xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa; hòa bình ổn định, cùng nhauphát triển và sự liên kết kinh tế toàn cầu. Quan hệ thương mại hàng hoá giữacác quốc gia ngày càng được coi trọng và đặt ở vị trí trọng tâm trong quan hệthương mại hàng hoá nói chung giữa các nước và quan hệ thương mại hànghoá giữa Lào -Việt Nam nói riêng. Lào -Việt Nam là hai nước láng giềng, cóquan hệ đoàn kết từ lâu đời, là liên minh đấu tranh chống kẻ thù chung trongchiến tranh cách mạng giành độc lập dân tộc; hai nước đều là thành viên củaHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Với điều kiện mới như hiệnnay, tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai nước càng được tăng cường vàcoi trọng phát triển thành quan hệ hợp tác toàn diện. Đặc biệt chú trọng ưutiên cho lĩnh vực thương mại hàng hóa và coi đây là một trong những nhân tốquyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước. Hợp tác thương mại hàng hóa giữa hai nước gắn liền với những đặctrưng quan hệ ở mỗi thời kỳ. Quá trình hợp tác kinh tế Lào -Việt có nhiềuthuận lợi, song gặp cũng không ít khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhậpmậu dịch tự do hiện nay. Chính những thuận lợi và khó khăn trong hợp tácthương mại đã đặt ra yêu cầu cho hai nước cần nghiên cứu phương pháp vàhình thức hợp tác phù hợp, có hiệu quả trong thời gian tới. Bởi ý nghĩa rất quan trọng của quan hệ hợp tác thương mại hàng hoá Lào- Việt Nam trong quan hệ đối ngoại của Lào cũng như của Việt Nam và vớimong muốn góp phần tìm hiểu sự hợp tác trao đổi thương mại hàng hoá giữahai nước. Đặc biệt từ khi hai nước ký Hiệp định Hữu Nghị và Hợp tác năm1977. Do vậy mà em đã chọn tiêu đề: “Một số giải pháp nhằm thúc đẩyquan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN ViệtNam” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Bản khóa 1 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  2. 2. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comluận này nhằm mục đích tìm hiểu thực chất trao đổi thương mại hàng hoágiữa hai nước, những khó khăn - thuận lợi cũng như kết quả đã được vànhững hạn chế tồn tại; từ đó đưa ra những dự đoán triển vọng và giải pháp cóthể thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác thương mại hàng hoá, đạt hiệu quảnhiều hơn, làm cơ sở vững chắc cho quan hệ Hữu Nghị hợp tác toàn diện giữahai Đảng hai Nhà nước Lào-Việt Nam. Kết cấu khóa luận được chia làm 3 chương:Chương I: Một số cơ sở lý luận về quan hệ thương mại hàng hoá giữaCHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam.Chương II: Thực trạng về quan hệ thương mại hàng hoá giữa Lào-Việt Namhiện nay.Chương III: Một số giải pháp về phát triển quan hệ thương mại hàng hoágiữa Lào -Việt Nam trong thời gian tới. 2 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  3. 3. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com CHƯƠNG I MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠIHÀNG HOÁ GIỮA CHDCND LÀO VÀ CHXHCN VIỆT NAMI. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ1. Khái niệm đặc điểm và vai trò về thương mại quốc tế a. Khái niệm Hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa,dịch vụ của các tổ chức và cá nhân có trụ sở kinh doanh đặt ở các quốc giakhác nhau. Hoạt động thương mại quốc tế, có tính quốc tế của nó và được thể hiện: + Bên mua và bên bán là những người có trụ sở thương mại đặt ở cácquốc gia khác nhau. + Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền nước người mua, người bán,nhưng thường là các ngoại tệ mạnh. + Hàng hóa đối tượng của giao dịch được di chuyển ra khỏi biên giới củamỗi nước. b. Vai trò Quan hệ kinh tế - thương mai quốc tế Xuất nhập khẩu đã được thừa nhận là hoạt động cơ bản nhất của hoạtđộng thương mại quốc tế, là phương tiện thúc đẩy kinh tế phát triển. vì thếxuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các nước thamgia vào thương mại quốc tế như sau: Vai trò của xuất khẩu Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp 3 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  4. 4. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comhoá hiện đại hoá đất nước. Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gianngắn đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn để nhập khẩu thiết bị máy móc, kỹ thuật,công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu một phần thu từ hoạt động xuấtkhẩu hàng hoá. Vì thế Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhậpkhẩu. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sảnxuất phát triển: Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùngmạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiệnđại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợpvới xu hướng phát triển của kinh tế thế giới. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế: Một là: xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuấtvượt quá nhu cầu nội địa. Trong nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển,sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ chủ động chờ sự thừa ra của sảnxuất thì xuất khẩu vẫn sẽ nhỏ bé và tăng trưởng chậm. Hai là: coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quantrọng để tổ chức sản xuất. điều đó tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấukinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển sự tác động này thể hiện ở chỗ: Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuậnlợi, khi sản phẩm của ngành này được xuất khẩu thì cũng đồng nghĩa vớiviệc ngành sản xuất nguyên liệu của ngành đó sẽ có điều kiện phát triểnmạnh. Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho 4 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  5. 5. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comsản xuất phát triển và ổn định. Nhờ có hoạt xuất khẩu mà thị trường tiêu thụcủa các sản phẩm không còn bó hẹp trong phạm vi nhỏ bé của thị trườngtrong nước. Các sản phẩm hàng hoá của một nước đã có điều kiện xuất hiện ởnhiều thị trường khác nhau trên thế giới. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sảnxuất, nâng cao khả năng sản xuất trong nước. Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nângcao năng lực sản xuất trong nước.Thông qua xuất khẩu hàng hoá các quốc giatrên thế giới sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả,chất lượng, marketing - hỗn hợp. Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp luôn đổi mới và hoàn thiệncông tác quản lý sản xuất kinh doanh. Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cảithiện đời sống nhân dân. Tác động của xuất khẩu đến đời sống gồm có nhiềumặt. Trước hết sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vàolàm việc và có thu nhập khá. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩuvật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày càng đa dạngphong phú thêm nhu cầu của nhân dân. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ thương mạiquốc tế của các quốc gia. Xuất khẩu và các quan hệ thương mại quốc tế có tácđộng qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động thương mạiquốc tế, có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động thương mạiquốc tế khác tại điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạnxuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng,đầu tư, dịch vụ, mở rộng vận tải quốc tế ... mặt khác; chính các quan hệthương mại quốc tế tạo tiền đề cho mở rộng xuất. 5 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  6. 6. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com Vai trò của nhập khẩu Nhập khẩu góp phần trong việc thực hiện công nghiệp hóa và hiện đạihoá đất nước, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển thì nhập khẩu giúpcho việc tiếp thu công nghệ tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại, các nguyênnhiên vật liệu có chất lượng cao mà trong nước chưa đáp ứng đợưc trong quátrình sản xuất hàng hóa có chất lượng cao và đáp ứng cho chính sách mở cửavà hợp tác kinh tế với nước ngoài. Nhập khẩu những loại hàng hoá mà trong nước không thể sản xuấtđược hoặc không đủ đáp ứng ví dụ: thép, xi măng... ngoài ra nhập khẩu giúpcho việc có ngững mặt hàng mà trong nước sản xuất không có hiệu quả bằnghàng nhâp khẩu ví du: máy bay, vũ khí... Nhập khẩu có vai trò thúc đẩy xuất khẩu những hàng hoá có chất lượngcao và có giá trị thấp bằng cách nhập khẩu máy móc hiện đại và nguyên vậtliệu đầu vào tốt. Nhập khẩu giúp cho việc tăng ngân sách nhà nước thông qua thuế nhấpkhẩu.2. Một số cơ sở lý thuyết về thương mại quốc tế2.1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối Theo Adam Smith cho rằng mỗi quốc gia chuyên môn hoá vào nhữngngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, có nghĩa là sử dụng những lợi thếđó cho phép họ sãn xuất những sản phẩm có chi phí thấp hơn các nước khác.Chẳng hạn, tài nguyên thiên nhiên dễ khai thác, lao động dồi dào, giá nhâncông rẻ, khí hậu ổn hoà, đất đai màu mỡ cho sản lượng nông nghiệp cao vàchi phí thấp. Ví dụ: vì các khí hậu điều kiện thuận lợi, Brazin có thuận lợitrong việc trồng cà phê nhưng không có thuận lợi trong việc trồng lúa mỳ, 6 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  7. 7. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comngược lại Canada có thuận lợi trong việc trồng lúa mỳ nhưng không có thuậnlợi trong trồng cà phê, Brazin có lợi thế tuyệt đối so với Canada về trồng càphê nhưng không có lợi thế về trồng lúa mỳ. Còn đối với Canada có lợi thếtuyệt đối so với Brazin về trồng lúa mỳ nhưng không có lợi thế về trồng càphê. Do vậy cả hai quốc gia có thể thu lợi được nếu mỗi quốc gia chuyên mônhoá sản xuất hàng hoá có lợi thế tuyệt đối của họ để trao đổi với quốc gia kialấy hàng hoá không có lợi thế. Do đó kể cả cà phê và lúa mỳ đều được trồngnhiều hơn.2.2. Lý thuyết lợi thế so sánh Học thuyết lợi thế so sánh đã chỉ ra thương mại giữa các quốc gia cóthể đem lại lợi nhuận cho tất cả các bên tham ra chứ không phải chỉ với quốcgia sản xuất hàng hoá ở mức giá rẻ. Có một số ý kiến cho rằng, nếu có sựkhác nhau so sánh trong hiệu quả sản xuất hàng hoá giữa các quốc gia thìngay cả nước nghèo cũng có thể thu được lợi thế so sánh. Học thuyết lợi thếso sánh khẳng định nếu một quốc gia chuyên môn hoá sản xuất các loại hànghóa giữa quốc gia này với quốc gia khác sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên.Năm 1817 David Ricardo nhà kinh tế học người Anh ( gốc do thái ) đã nghiêncứu và dựa vào học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith để phát triển họcthuyết lợi thế so sánh. Ricardo lập luận rằng mọi nước luôn có thể và rất cóthể khi tham gia vào quá trình phân công lao động và thương mại quốc tế. Bởivì phát triển ngoại thương cho phép khả năng tiêu dùng của một nước: chỉ nênchuyên môn hoá sản xuất số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hóa củamình để đổi lấy hàng hoá nhập khẩu từ nước khác và những nước nào có lợithế tuyệt đối hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với cácnước khác trong việc sản xuất mọi sản phẩm thì vẫn có thể có lợi khi tham giavào phân công lao động và thương mại quốc tế. 7 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  8. 8. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com2.3. Lý luận mậu dịch đường biên. Các đường biên giữa các quốc gia nó không chỉ có ý nghĩa phân danhđịa giới hành chính, an ninh trật tự, quốc phòng... mà trong xu thế hội nhậptoàn cầu hoá nó còn có ý nghĩa lớn về kinh tế xã hội và thương mại quyếtđịnh đến xu thế phát triển và địa vị của quốc gia đó. Khi hai quốc gia có chung đường biên giới trên bộ với nhau sẽ tạo điềukiện để hai bên phát triển hoạt động buôn bán trong hoạt động kinh doanhhiện đại tồn tại một lý thuyết về mậu dịch đường biên giữa các quốc gia trongkhu vực và quốc tế. Đường biên giữa các quốc gia là sự giao thông kinh tếgiữa các quốc gia đó và tất yếu tồn tại một khu vực mậu dịch đường biên.trong khu vực đường biên tồn tại và phát triển chủ yếu là mô hình thương mạibán lẻ. Hệ thống hoạt động thương mại hàng hoá dựa trên cơ sở lý thuyết vềmậu dịch đường biên phải được hoạch định và triển khai thích hợp cho phépkhai thác mặt tích cực của nó, tạo tiền đề cho hoạt động thương mại songphương và đa phương hoá giữa các quốc gia. Mặt khác cũng đòi hỏi một sự tổchức chặt chẽ quản lý hữu hiệu theo quy luật kinh tế khách quan của khu vựcthị trường này để làm giảm đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực chonền thương mại của các quốc gia, thúc đẩy sự phát triển của quan hệ thươngmại hàng hoá nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung.3. Các phương thức kinh doanh trong thương mại quốc tế. Trong hoạt động thương mại quốc tế có nhiều phương thức kinh doanh,nhưng hoạt động thương mại hàng hóa thường áp dụng các phương thức kinhdoanh như sau: - Phương thức xuất nhập khẩu trực tiếp. 8 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  9. 9. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com Phương thức xuất nhập khẩu trực tiếp là phương thức kinh doanh màngười nhập khẩu và xuất khẩu trực tiếp quan hệ với nhau để tiến hành thươnglượng và trao đổi hàng hóa. Do người bán và người mua trực tiếp quan hệ với nhau, cho nên dễdàng đi đến thống nhất, ít xảy ra hiểu lầm hoặc những sai sót đáng tiếc và làmcho thương vụ tiến hành nhanh chóng hơn, ít xảy ra rủi ro hơn. Mặt khác,thực hiện xuất nhập khẩu trực tiếp, tạo điều kiện cho người bán và người muatrực tiếp tiếp xúc với thị trường, nắm bắt được những sự thay đổi của môitrường để có thể đưa ra những quyết định chính xác và kịp thời, đối ứng vớinhững biến động của thị trường, tạo cho họ những khả năng nắm bắt và phảnứng linh hoạt với thị trường để phát triển hoạt động xuất nhập khẩu của mình. Thực hiện nhập khẩu trực tiếp cho phép các nhà kinh doanh thiết lập,mở rộng được mối quan hệ với bạn hàng một cách thuận lợi nhanh chóng, xáclập một mối quan hệ mua bán tin cậy (good will) tạo khả năng mở rộng và đổimới mặt hàng. Trong thương mại quốc tế, phương thức này thường được áp dụng khitrao đổi với khối lượng hàng hóa lớn mới có thể bù đắp được chi phí giaodịch. Nhưng lại có thể áp dụng rất hiệu quả để nâng cao hiệu quả kinh doanh,mở rộng thị trường và mặt hàng khi thực hiện hoạt động mua bán qua khu vựcbiên giới với mọi quy mô từ lớn đến nhỏ, do ưu điểm của buôn bán qua khuvực biên giới là có điều kiện thương mại thuận lợi giảm được chi phí giaodịch. - Phương thức buôn bán qua trung gian. Phương thức mua bán qua trung gian là phương thức kinh doanh màngười mua và người bán không trực tiếp quan hệ với nhau mà mọi quá trìnhthương lượng trao đổi hàng hóa đều thông qua người thứ ba gọi là trung gian 9 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  10. 10. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comthương mại. Hoạt động thương mại hàng hóa qua biên giới đường bộ thường sử dụnghai dạng trung gian thương mại đó là đại lý và môi giới. Sử dụng loại hình đại lý rất thích hợp khi mua bán các loại hàng nôngsản thực phẩm, hàng công nghiệp tiêu dùng và một số loại hàng hóa khác. Sử dụng môi giới khi mua bán các thiết bị máy móc và một số hàng hóađặc biệt khác. Sử dụng phương thức mua bán qua trung gian hoạt động thương mạihàng hóa qua biên giới đường bộ có những ưu điểm sau: Tạo điều kiện để doanh nghiệp, mở rộng thị trường, mở rộng mặt hàng,đặc biệt có hiệu quả khi xâm nhập vào những thị trường mới và mặt hàngmới. Sử dụng được những kinh nghiệm và các cơ sở vật chất của các trunggian, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường nhanh, hạn chếđược những rủi ro và chi phí ban đầu. Tối ưu hóa được quá trình vận chuyển. Nhưng sử dụng phương thức này có những hạn chế: Người kinh doanh mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường, thiếu thông tin,thông tin không chính xác, kịp thời, ảnh hưởng đến các quyết định kinh doanhcủa doanh nghiệp. Nhiều khi không kiểm soát được các hoạt động của trung gian và lợinhuận bị chia sẻ. Phương thức mua bán qua trung gian được áp dụng phổ biến trong hoạtđộng thương mại quốc tế nói chung và hoạt động thương mại hàng hóa nói 10 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  11. 11. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comriêng. Khi áp dụng các phương thức này cần có các biện pháp để kiểm soátcác trung gian thương mại, và khi lựa chọn các trung gian thương mại cần căncứ vào các tiêu thức: + Khả năng kinh doanh. + Khả năng tài chính. + Kinh nghiệm và uy tín của trung gian trên thị trường. - Phương thức kinh doanh tái xuất. Kinh doanh tái xuất khẩu là xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài nhữnghàng hóa đã nhập vào trước đây không qua giai đoạn, gia công chế biến ởnước tái xuất. Ở trên thế giới đang tồn tại hai quan điểm về hoạt động tái xuất: Quan điểm 1: Hàng hóa nhập khẩu về sau đó trực tiếp xuất thẳng ra nướcngoài không qua quá trình lưu thông trong nước. Quan điểm 2: Hàng hóa nhập khẩu về có thể qua quá trình lưu thôngtrong nước sau đó mới xuất khẩu ra nước ngoài. Hiện nay có hai hình thức tái xuất là tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu. Hình thức tạm nhập tái xuất: Hàng hóa nhập khẩu được làm thủ tụchải quan để nhập cảnh và khi xuất khẩu lại làm thủ tục hải quan để xuất khẩuhàng hóa. Hình thức tạm nhập tái xuất thường hiệu quả không cao bằng hình thứcchuyển khẩu, nhưng nghiệp vụ tiến hành lại đơn giản dễ thực hiện, nó chophép nhập về những lô hàng lớn và tái xuất những lô hàng nhỏ và ngược lạiphù hợp với điều kiện kinh doanh của hai nước Lào - Việt Nam. Hình thức chuyển khẩu: Hàng hóa được chuyển thẳng từ nước xuất 11 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  12. 12. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comkhẩu sang nước nhập khẩu, không làm thủ tục hải quan ở nước tái xuất. Hìnhthức này thường hiệu quả kinh doanh cao hơn, nhưng nghiệp vụ tiến hànhphức tạp hơn, đòi hỏi người kinh doanh phải tính toán và phối hợp các nghiệpvụ cho tốt. - Phương thức kinh doanh đối lưu. Phương thức kinh doanh đối lưu là phương thức kinh doanh mà xuấtkhẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua,lượng hàng hóa trao đổi là tương đương nhau. Phương thức cho phép khắc phục được hiện tượng lệch cán cân thanhtoán, và nếu có phương pháp tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy xuất khẩu. Các hìnhthức mua bán đối lưu thường sử dụng là: + Hàng đổi hàng. + Mua đối lưu. + Hình thức bù trừ. + Hình thức mua lại sản phẩm. + Giao dịch bồi hoàn. - Phương thức gia công quốc tế. Phương thức gia công quốc tế là phương thức kinh doanh mà một bêngọi là bên nhận gia công nguyên liệu, bán thành phẩm, thiết bị máy móc củamột bên, gọi là bên đặt gia công, để tiến hành gia công thành sản phẩm trả lạicho bên đặt gia công. Bao gồm hai hình thức gia công quốc tế cơ bản: Hình thức nhận nguyên liệu trả lại sản phẩm: Người đặt gia công giaonguyên liệu cho bên nhận gia công nhưng quyền sở hữu nguyên vật liệu vẫn 12 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  13. 13. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comthuộc bên đặt gia công. Hình thức nhận nguyên liệu bán lại sản phẩm: Người đặt gia công bánnguyên liệu cho bên nhận gia công và mua lại sản phẩm do bên nhận gia côngsản xuất ra. Hoạt động gia công quốc tế có thể là làm gia công cho người nướcngoài hoặc đặt người nước ngoài gia công. - Đấu thầu quốc tế. Đấu thầu quốc tế là một phương thức kinh doanh, trong đó người mua(người gọi thầu) công bố trước các điều kiện mua hàng để người bán báo giácả và các điều kiện thương mại khác, để người mua chọn người bán được tốthơn. Đấu thầu để cung cấp những hàng hóa và dịch vụ với số lượng lớn nhưmáy móc, thiết bị công nghệ, nguyên vật liệu. Hàng tiêu dùng và trong lĩnhvực xây dựng. Tuỳ theo cách lựa chọn tiêu thức để phân loại mà hoạt động đấu thầucó những hình thức như: Đấu thầu mở rộng, đấu thầu hạn chế, đấu thầu mộttúi hồ sơ, đấu thầu hai túi hồ sơ, đấu thầu một giai đoạn và đấu thầu hai giaiđoạn. Những doanh nghiệp tham gia đấu thầu phải là những doanh nghiệp cóuy tín, và có khả năng cạnh tranh cao. - Mua bán tại hội chợ và triển lãm. Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thờigian và địa điểm cố định trong một thời gian nhất định, tại đó người bán đemtrình bày hàng hóa và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua bán. Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu thành tựu của một nền kinh tế 13 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  14. 14. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comhoặc một ngành kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Ngày nay các nướctrên thế giới lợi dụng triển lãm để trưng bày hàng hóa quảng cáo và xúctiến bán hàng. Có nhiều hình thức hội chợ, triển lãm như: Hội chợ và triển lãm tổng hợp,hội chợ và triển lãm chuyên ngành. Và hội chợ triển lãm là nơi giới thiệu, quảngcáo và tiến hành giao dịch ký kết các hợp đồng mua bán hàng hóa.II. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ GIỮACHDCND LÀO VÀ CHXHCN VIỆT NAM1. Lịch sử phát triển quan hệ thương mại Lào - Việt Nam Lào -Việt Nam là hai nước láng giềng vốn có mối quan hệ gắn bó vớinhau từ lâu đời, cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, có chung hơn 2000 kmbiến giới, dãy núi Phuxamxâu ở Đông Bắc Lào nối liền với dải Trường sơncủa Việt Nam, người Việt, người Lào cùng tắm chung dòng nước Mêkông.Hai dân tộc đã có hàng ngàn năm lịch sử giúp đỡ lẫn nhau. Về quan hệ thương mại giữa Lào và Việt Nam đã có quan hệ buôn bántừ xa xưa, và dù gặp nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên mang lại, nhưngquan hệ giao lưu buôn bán không ngừng phát triển, vượt qua mọi khó khăn đểphát triển toàn diện trong mọi hoàn cảnh, mọi giai đoạn và mọi lĩnh vực. Banđầu chủ yếu là thông qua việc giao thương, trao đổi hàng hóa của cư dân vùngbiên giới hai nước. Mãi đến năm 1961, mối quan hệ ấy mới được xác lậpchính thức thông qua con đường Nhà nước khi chính phủ Vương quốc Lào vàchính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định thương mại ngày 14 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  15. 15. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com13/07/1961; tạo cơ sở pháp lý đầu tiên cho quan hệ thương mại nói riêng vàcho sự phát triển của quan hệ kinh tế trên tất cả các lĩnh vực giữa hai nước nóichung. Một trong những nội dung của Hiệp định thương mại là chính thứccông nhận quan hệ trao đổi hàng hoá giữa hai nước dưới 3 hình thức: Mậudịch Trung ương, mậu dịch địa phương và mậu dịch tại cửa khẩu (tiểu ngạch).Như vậy, đến thời điểm này quan hệ trao đổi kinh tế giữa hai nước chính thứcbắt đầu. Tuy nhiên, thời kỳ 1961-1975, do điều kiện khách quan khó khăn đólà đất nước đang ở thời chiến, cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ đang diễn raác liệt cho nên quan hệ kinh tế giữa hai nước không phát triển, hoạt độngbuôn bán hầu như bị gián đoạn hoặc nếu có thì chỉ là hoạt động buôn bán lẻtẻ, không chính thức giữa cư dân ở vùng biên giới, và phần lớn với hình thứchàng đổi hàng mang tính chất giúp đỡ lẫn nhau; đặc biệt là giữa nhân dân cáctỉnh biên giới Việt Nam với bà con vùng giải phóng Lào. Sau khi nước CHDCND Lào được thành lập (tháng12/ 1975), và đặc biệttừ khi hai Nhà nước Lào và Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác tạithủ đô Viêng Chăn ngày 18/07/1977, quan hệ Lào-Việt Nam đã phát triểnthêm một bước và chuyển đổi từ quan hệ chủ yếu về chính trị, quân sự sangquan hệ toàn diện cả về Chính trị, ngoại giao, an ninh quốc phòng, kinh tế,văn hóa, khoa học, kỹ thuật...vv. Hiệp ước này đã đánh dấu sự phát triển vượtbậc; tạo cơ sở để ký kết hàng loạt các Hiệp định, Nghị định và Thoả thuậnhợp tác sau này trên tất cả các lĩnh vực để tạo hành lang pháp lý cho việc traođổi buôn bán giữa hai nước. Từ đó, hai Bên đã thành lập Uỷ ban hợp tác Liênchính phủ và Phân ban hợp tác ở mỗi nước, họp một năm hai lần để kiểmđiểm, đánh giá tình hình hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học kỹthuật giữa hai nước; đồng thời thống nhất đưa ra các kế hoạch hợp tác trong10 hoặc 5 năm và kế hoạch từng năm để cụ thể hóa các mục tiêu và biện pháp 15 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  16. 16. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comthực hiện. Như vậy, quan hệ thương mại giữa Lào và Việt Nam đã bước thêmmột giai đoạn mới. Tuy quan hệ thương mại giữa hai nước đã được chính thức hóa và diễnra trên tất cả các lĩnh vực và ở các các cấp: từ Trung ương đến địa phươngnhưng vẫn mang nặng hình thức cũ: hàng đổi hàng và do chính phủ hai Bênkiểm soát và can thiệp quá sâu, ví dụ trong thương mại việc qui định chặt chẽtổng giá trị buôn bán trao đổi cũng như danh mục mặt hàng và chỉ định tổchức doanh nghiệp chịu trách nhiệm thực hiện làm cho việc trao đổi thươngmại không được mở rộng. Hơn nữa, cũng có nhiều lý do khách quan khác nhưđường giao thông nối kết giữa hai nước không thông suốt, nên nhìn chungquan hệ thương mại giữa hai nước giai đoạn này chỉ phát triển theo nghĩa Nhànước và mang tính chất giúp đỡ lẫn nhau. Đến giữa thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, tình hình quốc tế và khu vực cónhững biến đổi lớn, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hoá đã tác động không nhỏđến mọi quốc gia kể cả Lào và Việt Nam. Năm 1986 cả Lào và Việt Nam đềutiến hành đổi mới. Thêm vào đó năm1991, Liên Xô và hệ thống các nước xãhội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, tác động to lớn đến nền kinh tế của cácnước xã hội chủ nghĩa trong đó có cả Lào và Việt Nam, nước vốn dựa vào sựviện trợ, giúp đỡ bao cấp từ anh cả Liên Xô. Đến lúc này, quan hệ thương mạigiữa hai nước thực sự thay đổi: chuyển dịch cơ cấu từ việc viện trợ cho vaydo Nhà nước chi phối sang giảm dần viện trợ và cho vay, đẩy nhanh hợp tácsản xuất và kinh doanh bình đẳng cùng có lợi phù hợp với xu hướng và thônglệ quốc tế. Đồng thời quan hệ hợp tác kinh tế Lào -Việt Nam cũng chuyển từhợp tác từng vụ việc theo yêu cầu sang hợp tác theo kế hoạch hàng năm. Tuyvậy, hai nước vẫn giành cho nhau nhiều ưu đãi, ưu tiên để tạo điều kiên pháttriển kinh tế xã hội ở mỗi nước. Hiệp định Thương mại thời kỳ 1991-1995giữa hai chính phủ ra đời, theo đó hai Bên chấm dứt hình thức ký nghị định 16 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  17. 17. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comthư trao đổi hàng hóa hàng năm, xoá bỏ tình trạng bao cấp của Nhà nước, chophép mở rộng đối tượng trao đổi, không hạn chế các tổ chức, cá nhân thamgia trao đổi, mở rộng danh mục mặt hàng trao đổi. Do đó, góp phần làmphong phú đa dạng các mặt hàng trao đổi và làm tăng kim ngạch buôn bángiữa hai nước. Quan hệ buôn bán theo đúng nghĩa thực sự bắt đầu.2. Những thuận lợi cơ bản. Quan hệ chính trị - xã hội đặc biệt giữa Lào - Việt Nam trong suốt chiềudài lịch sử. Đây là yếu tố, là tiền đề đặc biệt quan trọng tạo cơ sở cho sự pháttriển hợp tác, liên kết và giao lưu thương mại giữa hai nước. Đảng NDCMLào và Chính phủ CHDCND Lào cũng như Đảng và Chính phủ Việt Namluôn khẳng định sự cần thiết “bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữanhân dân hai nước, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về nhiều mặt, trênnguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng củanhau”. Nếu như trước thập niên 80, quan hệ hợp tác Lào - Việt Nam chủ yếulà sự giúp đỡ không hoàn lại của Việt Nam nhằm khôi phục nền kinh tế, đảmbảo giao thông vận tải, quá cảnh, xây dựng các tuyến đường quan trọng choLào thì từ sau Hiệp định thương mại 1981 (cho giai đoạn 1981-1985), quan hệhợp tác Lào - Việt Nam đã đạt được bước phát triển mới, cả về chiều rộng lẫnchiều sâu, theo phương hướng xây dựng quan hệ hợp tác trên cơ sở lợi íchsong phương. Lào - Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN. Vì vậy, quan hệgiữa hai nước không chỉ dừng ở quan hệ hỗ trợ truyền thống mà còn chịu ảnhhưởng của các yếu tố khu vực, được xác định theo tập quán quốc tế trên cơ sởlợi ích song phương. Lộ trình thực hiện AFTA với thời hạn đối với Lào đượckéo dài tới 2008 và với Việt Nam tới 2006 tạo điều kiện cho hai nước duy trìkhả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực. Quan hệ hợp tác giữa hai 17 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  18. 18. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comnước trên cơ sở phối hợp và phát huy thế mạnh của mỗi bên tạo nên một thịtrường rộng lớn hơn, có sức cạnh tranh hơn trong hợp tác khu vực. Đồng thờikhả năng hợp tác phát triển, thu hút đầu tư của Lào từ các nước trong khu vựctăng lên sẽ làm cho cơ hội hợp tác của Lào với Việt Nam cũng tăng lên và cóhiệu quả cao hơn. Điều kiện và trình độ phát triển của hai nước, tuy có những lợi thếkhác nhau nhưng về cơ bản không có sự chênh lệch lớn, nhiều mặt tươngđồng nên tạo thuận lợi để tạo lập và thực hiện các nguyên tắc tương hỗ, ngangbằng dân tộc trong quan hệ thương mại quốc tế giữa hai nước. Mặc dù, quymô GDP của Việt Nam gấp khỏang 10 lần của Lào nhưng GDP bình quân đầungười của hai nước ở mức chênh lệch nhau không lớn (năm 1996, GDP bìnhquân đầu người của Lào là 397,8 USD, Việt Nam là 337,3 USD; năm 2000,các chỉ tiêu tương ứng đạt: 327,5USD và 405,6 USD). Cũng như Lào, nềnkinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường.Nền kinh tế của hai nước về cơ bản vẫn đang chủ yếu phát triển theo chiềurộng, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp và nềnkinh tế cả hai nước đều xếp vào loại thấp. đây là yếu tố quan trọng thúc đẩyhai nước tăng cường trao đổi thương mại với nhau để giảm thiểu thiệt thòitrong buôn bán quốc tế với các nước có trình độ phát triển và sức cạnh tranhcủa nền kinh tế cao hơn trong khu vực. Hệ thống giao thông hành lang Đông - Tây trong tiểu vùng Mê Kôngđang được thiết lập và chú trọng đầu tư phát triển của các quốc gia trong tiểuvùng đã tạo điều kiện thuận lợi và mở ra triển vọng lớn phát triển giao lưuhàng hóa, phát triển thương mại giữa Lào với Việt Nam cũng như của hainước với Cămpuchia, Thái Lan và các nước trong khu vực. Việt Nam có vị tríthuận lợi để Lào giao lưu quốc tế bằng đường biên trong các cảng nước sâu ởmiền Trung, góp phần hạn chế những trở ngại trong buôn bán quốc tế do sự 18 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  19. 19. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.combiệt lập với đường biển của Lào. Ngược lại, qua Lào Việt Nam có thể tăngcường tiếp cận với các nước trong khu vực qua các đường biên giới trên bộ.Từ năm 1990 đến nay, việc thực hiện các dự án xây dựng cầu đường trongtiểu vùng sông Mê Kông đã làm cho hành lang Đông - Tây phát triển, tạo điềukiện rất thuận lợi cho việc vận chuyển và giao lưu hàng hóa giữa các nướctrong tiểu vùng. Nhưng dự án phát triển kết cấu hạ tầng của các nước trongkhu vực trong khuôn khổ phát triển hợp tác tiểu khu vực sông Mê Kông sẽ cảithiện đáng kể tình trạng hạ tầng hiện vẫn đang còn rất nghèo nàn, lạc hậu củacác địa phương dọc tuyến hành lang Đông - Tây, tạo lập cơ sở vật chất pháttriển hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa của các nước trong tiểu khu vực. Cùng với Hiệp định khung ASEAN về tạo điều kiện thuận lợi cho vậnchuyển hàng hóa quá cảnh được thực hiện từ năm 2000, hiện nay các nướctrong tiểu khu vực: Lào, Việt Nam, Cămpuchia, Thái Lan, Myanma vàTrung Quốc đang chuẩn bị ký kết “Hiệp định khung về tạo điều kiện thuậnlợi cho vận chuyển hàng hóa và hành khách dọc biên giới ở khu vực sôngMê Kông”, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và hànhkhách khu vực biến giới bằng đường bộ và đường sắt, đơn giản và hài hòahóa những quy định và thủ tục liên quan đến việc di chuyển ở khu vực dọcbiên giới. Như vậy, hành lang Đông - Tây được xây dựng và phát triển sẽ tạo điềukiện thuận lợi và mở ra cơ hội lớn về phát triển thương mại hàng hóa giữaLào - Việt Nam. Triển vọng duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao (với tốc độ tăng trưởngGDP 5 - 8% năm) của hai nước mở ra triển vọng lớn về phát triển giao lưuhàng hóa, thế mạnh kinh tế và tài nguyên của mỗi nước, Lào và Việt Nam cónhiều triển vọng hợp tác phát triển. Lào có nhiều tài nguyên khoáng sản; tiềm 19 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  20. 20. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comnăng thủy điện dồi dào; quỹ đất, rừng rất lớn chưa được khai thác. Lào cũngcó tiềm năng lớn về trồng cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, về chănnuôi gia xúc lớn và có nhiều lâm sản quý hiếm. Khó khăn của Lào là kết cấuhạ tầng, đường giao thông chưa phát triển, không có biển, hệ thống đường sắtchưa phát triển, thiếu lao động và cán bộ khoa học kỹ thuật. Trong khi đó,Việt Nam có trên 3000 km bờ biển với nhiều cảng nước sâu, đủ điều kiện đểphát triển thành cảng biển quốc tế; có tiềm năng nông sản, thủy hải sản phongphú và đa dạng, có nhiều khả năng bổ sung, trao đổi với các bạn; công nghiệpsản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp chế biến đã đạt đến trình độ phát triểnnhất định, có khả năng hợp tác phát triển với Lào. Đặc biệt là Việt Nam cólực lượng lao động dồi dào, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo, cóthể hỗ trợ Lào phát triển nguồn nhân lực. Tuy kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Lào hiện chỉ chiếm tỷ lệ nhỏtrong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng Lào là đối tác thươngmại đặc biệt của Việt Nam. Đối với Lào, Việt Nam lại là đối tác chiến lược, làmột trong 4 bạn hàng lớn nhất của Lào (năm 2000, kim ngạch xuất nhập khẩucủa Lào với Việt Nam đạt 177 triệu USD, chiếm 25,8% tổng kim nhạch xuấtnhập khẩu của Lào). Thị trường Lào có nhu cầu nhập khẩu chủ yếu là nguyênvật liệu phục vụ sản xuất như: phân bón, thức ăn gia súc, thuốc bảo vệ súcvật, nguyên liệu cho may mặc, đồ gia dụng, kim khí là những mặt hàng màViệt Nam có tiềm năng xuất khẩu, ngược lại Lào cũng có nhu cầu xuất khẩumột số sản phẩm mà Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu như: sản phẩm gỗ, song,mây, cánh kiến, sa nhân, thạch cao, khoáng sản và một số hàng tiêu dùng docác xí nghiệp 100% FDI hoặc liên doanh tại Lào sản xuất như xe máy, quạtđiện, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ. Đặc điểm về nhu cầu thị trường, nhu cầu xuấtvà nhập khẩu các chủng loại hàng hóa của hai nước Lào - Việt Nam nêu trênlà những tiềm năng và triển vọng lớn trong phát triển trao đổi thương mại 20 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  21. 21. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comhàng hóa giữa hai nước. Quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước luôn là vấn đề được Chínhphủ hai nước quan tâm phát triển với các chính sách ưu đãi song phương đãvà sẽ được xem xét trong những năm tới. Đây là yếu tố quan trọng tạo nênnền tảng cho giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa.3. Những khó khăn cơ bản. Điều kiện kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển thị trường và thương mạigiữa hai nước và tại các địa phương dọc tuyến biên giới Lào - Việt Nam còn ởtrong tình trạng rất lạc hậu, chắp vá, manh mún và rất khó phát triển trongnhững năm tới do địa hình phức tạp, hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc chovận chuyển và giao lưu hàng hóa còn rất thiếu thốn, nhất là thiếu các tuyếngiao thông xương cá nối từ trục đường chính qua biên giới đến các cửa khẩuvà với các vùng khác xung quanh. Các công trình thương mại như: cửa hàng,siêu thị, trạm trại, kho hàng tại các vùng cửa khẩu, kể cả các cửa khẩu quốctế, hiện còn rất lạc hậu, thiếu thốn, nhiều cửa khẩu chưa được hình thành vàcũng rất khó khăn cho việc xây dựng trong thời gian tới do địa hình phức tạphẻo lánh, giá thành xây dựng rất cao. Thị trường dọc giữa Lào - Việt Nam, chủ yếu khu vực biên giới tại cáccửa khẩu cũng như các vùng lân cận, phần lớn còn sơ khai, dân cư rất thưathớt, phần lớn là đồng bào dân tộc ít người, dân trí thấp, văn hóa đa sắc tộc,kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp còn phổ biến tập quán và thói quen trao đổihàng hóa còn chưa rõ nét, trao đổi hiện vật còn phổ biến. Việc di chuyển dâncư ở các vùng lân cận đến định cư tại các vùng cửa khẩu biên giới cũng gặpnhiều khó khăn về vốn đầu tư, tập quán sinh hoạt và các vấn đề nhạy cảm vềan ninh dọc tuyến hành lang biên giới. Tất cả những điều trên đã gây khókhăn lớn cho các hoạt động giao tiếp, giao dịch và trao đổi mua bán hàng hóa 21 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  22. 22. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comtại khu vực biên giới giữa hai nước. Để thực hiện các chương trình phát triển các khu thương mại, các khuvực mậu dịch biên giới dọc tuyến biên giới, đòi hỏi phải huy động nguồn lựckhá lớn của cả nước cũng như các địa phương dọc biên giới. Trong khi đó hầuhết các tỉnh dọc biên giới Lào - Việt Nam đều là những tỉnh nghèo, kinh tếkém phát triển; tất cả các vùng cửa khẩu dọc tuyến biên giới này đều là nhữngvùng xa, lạc hậu, nguồn lực tại chỗ (vốn, lao động) không đáng kể, chưa đủsức giải quyết những yêu cầu đặt ra cho sự phát triển kinh tế địa phương. Nền kinh tế hai nước Lào - Việt Nam và các tỉnh biên giới vẫn còn đậmnét kinh tế hiện vật, mới bước đầu chuyển sang kinh tế hàng hóa. Vì vậy, ởcác địa phương khó có được sự phát triển công nghiệp - thương mại - dịch vụ. Nguồn nhân lực tại chỗ của các tỉnh biên giới phục vụ cho phát triểnthương mại rất yếu kém và cũng rất khó nâng cao trong những năm tới. Trongkhi đó, việc thu hút nguồn lao động có trình độ cao ở các địa phương khácđến các vùng này là rất hạn chế, dù Nhà nước đã có một số chính sách khuyếnkhích, đãi ngộ. Những yếu kém về hạ tầng kinh tế - thương mại và khó khăn cho việcthu hút nguồn lao động có trình độ và tay nghề cao đến làm việc tại các doanhnghiệp ở khu vực cửa khẩu biên giới làm cho các chính sách thu hút đầu tưvào khu vực này trở nên kém hiệu quả. Việc thu hút đầu tư trực tiếp nướcngoài là yếu tố có tính động lực không chỉ cho tăng trưởng kinh tế mà cònthúc đẩy phát triển thương mại - dịch vụ. Vì thế, sự kém hấp dẫn các nhà đầutư nước ngoài tại Lào - Việt Nam, đặc biệt các vùng cửa khẩu biên giới là mộthạn chế lớn đối với phát triển thương mại tại các vùng này. Thị trường Lào với 5,4 triệu dân không phải là một thị trường tiêu thụlớn lại rất phân tán, mức chi tiêu bình quân đầu người cũng khá hạn chế, đặc 22 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  23. 23. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.combiệt là tại các tỉnh biên giới, cũng là một khó khăn trong phát triển xuất khẩuđối với Việt Nam. Phát triển nhập khẩu cũng gặp khó khăn do những mặthàng chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch nhập khẩu từ Lào như linh kiện xemáy, gỗ nguyên liệu sẽ bị hạn chế trong thời gian tới (do chính sách quản lýnhập khẩu linh kiện xe máy của Việt Nam và chính sách đóng cửa rừng củaLào) trong khi trình độ phát triển sản xuất của Lào còn yếu kém nên việc tìmkiếm các mặt hàng nhập khẩu thay thế sẽ gặp khó khăn trong những năm tới. Những khó khăn nói trên cần đòi hỏi phải có những chính sách hỗ trợthích hợp của Chính phủ hai nước và những nỗ lực lớn của các tỉnh địaphương dọc tuyến biên giới trong việc thực hiện những mục tiêu đặt ra cho sựphát triển thương mại hàng hóa giữa Lào - Việt Nam.4. Những Lợi ích của việc phát triển quan hệ thương mại song phươnggiữa Lào và Việt Nam Trong việc phát triển quan hệ thương mại song phương giữa Lào vàViệt Nam đã tạo những lợi ích không ít cho cả hai nước: Tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại hai nước tăng nhanh kim ngạchxuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hai nướctiếp tục phát triển hợp tác đầu tư, liên doanh dưới hình thức siêu thị tiến tớithành lập các trung tâm thương mại tại mỗi nước. Thí điểm sản xuất tại Làocác mặt hàng của Việt Nam đang được thị trường Lào ưa chuộng và có sẵnnguyên liệu, thực hiện tốt chính sách thanh toán bằng hàng hoá, chính sách ưuđãi miễn giảm thuế nhập khẩu đối với hàng hoá có xuất xứ từ mỗi nước . Quan hệ thương mại Lào-Việt Nam góp phần không nhỏ cho việc ổnđịnh tình hình chính trị cũng như cho sự tăng trưởng của kinh tế Lào. GDPmỗi năm tăng liên tục: từ năm 1981-1985 tăng 5,5%; từ 1986-1990 tăng4,8%; năm 1991-1995 tăng 6,4% và 6,2% giai đoạn 1996-2000, năm 2001 23 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  24. 24. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comtăng 6,4%, năm 2002 5,8%, năm 2003 6,1% (dự kiến). Cuộc sống của nhândân Lào được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 114 US$năm 1985 lên 211US$ năm 1990, 380US$ năm 1995 và 350 US$ năm 2000(bị giảm do nạn lạm phát ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ 1997) và 360USD năm 2002 ; nổi bật hơn là kể từ năm 2000 trở đi, Lào đã hoàn toàn giảiquyết được nạn thiếu lương thực và trở thành một trong những nước xuấtkhẩu gạo. Tạo điều kiện cho hai nước có thể tham khảo những kinh nghiệm và giúpđỡ lẫn nhau trong việc phát triển thương mại cũng như thu hút đầu tư nướcngoài, nâng cao sản xuất v.v. Trong những năm gần đây Việt Nam đã giúpLào qui hoạch sản xuất lương thực, qui hoạch thuỷ lợi và các đồng bằng trọngđiểm với tổng số viện trợ không hoàn lại trong 5 năm 1996-2000 là 36 tỷđồng, chưa kể các dự án bổ trợ như khí tượng thuỷ văn. Lào và Việt Nam còn thỏa thuận xây dựng các siêu thị, trung tâm giớithiệu hàng hóa của hai Bên ở các địa phương của Lào. Theo nghị định của bộthương mại số 0996/TM-CATBD ngày 21-3-2001. Tạo điều kiện trong việcgiới thiệu và buôn bán các mặt hàng giữa hai nước. Tạo điều kiện thông thoáng dễ dàng cho người, phương tiện, hàng hoáqua lại biên giới. Hai nước đã thành lập Ngân hàng liên doanh Lào-Việt tạiViêng Chăn, Hà Nội, tỉnh Champasắc của Lào và gần đây nhất tháng 4/2003mở thêm một chi nhánh tại TP HCM, nhằm tăng cường hợp tác, tạo điều kiệnthuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn, bảo lãnh thanh toán trả chậm,tạo niềmtin cho doanh nghiệp của hai nước. Tạo điều kiện cho việc phát triển hợp tác đầu tư giữa các doanh nghiệpcủa hai nước đặc biệt là các dự án đầu tư Việt Nam vào Lào. Tính đến cuốinăm 2000, Việt Nam có 22 dự án tại Lào với tổng số vốn đăng ký trên 22,49 24 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  25. 25. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comtriệu USD và vốn pháp định gần 7 triệu USD, Việt Nam trở thành đối tácđứng thứ 16 trong số 37 quốc gia và lãnh thổ. Tính từ 07/12/1988- 30/4/2002,dự án đầu tư của Việt Nam tại Lào là 31 dự án với tổng giá trị là 27,134 triệuUSD (trong đó có một số dự án là vốn đầu tư liên doanh của Lào và ViệtNam). Trên thực tế, số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Lào và vốn đầu tưtại Lào còn nhiều hơn nhưng chưa được đưa vào danh sách thống kê chínhthức. Trong tổng số 57 dự án của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài với vốn đầutư đăng ký là 36,28 triệu USD trên 18 quốc gia và lãnh thổ thì Lào là nước cónhiều dự án đầu tư trực tiếp của Việt Nam lớn nhất, chiếm 35,25% số vốn đầutư ra nước ngoài của Việt Nam. Trong đó, đầu tư lĩnh vực xây dựng và sảnxuất vật liệu xây dựng là chủ yếu chiếm khoảng 60% vốn đăng ký; chế biếngỗ chiếm 23%; thương mại, dịch vụ 6,2%; sản xuất kinh doanh dược phẩm10%.III. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNGMẠI HÀNG HOÁ GIỮA CHDCND LÀO VÀ CHXHCN VIỆT NAM Có nhiều nhân tố tác động đến sự phát triển của hoạt động thương mạiquốc tế nói chung và hoạt động thương mại hàng hóa giữa Lào - Việt Namnói riêng. Nhưng đề tài chỉ tập trung phân tích các nhân tố cơ bản có tínhquyết định về tiền đề, làm cơ sở cho các phần nghiên cứu tiếp theo của đề tài,các nhân tố đó là:1. Các chính sách phát triển thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào vàCHXHCN Việt Nam. Nhà nước muốn quản lý nền kinh tế nói chung và các hoạt động kinh tếnói riêng như hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, hoạt động xuất nhậpkhẩu hàng hóa giữa Lào và Việt Nam theo đường lối và định hướng chungphải thông qua các chính sách, các biện pháp và các công cụ quản lý. Trong 25 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  26. 26. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.commột chừng mực nhất định khi các cơ quan chức năng của nhà nước xây dựngmột hệ thống các chính sách kinh tế hoàn chỉnh phù hợp với các yêu cầu củacác quy luật kinh tế khách quan và điều kiện thực tế của nền kinh tế hai nướccủa điều kiện thực tế về hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt độngxuất nhập khẩu hàng hóa giữa Lào với Việt Nam nói riêng, đồng thời áp dụnghữu hiệu các biện pháp các công cụ quản lý kinh tế và mô hình sẽ tác độngthúc đẩy thương mại hàng hóa giữa hai nước và các khu vực cửa khẩu biêngiới. Các chính sách phải có tác dụng quản lý và điều tiết hoạt động xuấtnhập khẩu. Quản lý và điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu là làm cho hoạtđộng xuất nhập khẩu phát triển theo hướng hội nhập và mở cửa thị trường,phù hợp với điều kiện thúc đẩy kinh tế ở hai nước. Có tác động thúc đẩy hoạtđộng xuất nhập khẩu phát triển theo mục tiêu và định hướng phát triển củanền kinh tế đất nước. Các chính sách phải có tác dụng định hướng cho hoạt động xuất nhậpkhẩu. Định hướng phát triển các chủ thể kinh doanh, định hướng phát triển thịtrường, định hướng phát triển mặt hàng, định hướng phát triển hình thức vàphương thức kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu đi theo đúng hướng sẽ làcon đường ngắn nhất để phát triển và nâng cao hiệu quả cho hoạt động xuấtnhập khẩu. Các chính sách của Nhà nước phải tạo ra môi trường kinh doanh thuậnlợi cho tất cả các thành phần kinh tế, cho các mặt hàng và cho các lĩnh vựckinh doanh cho phép khai thác tối đa các lợi thế so sánh để phát triển các hoạtđộng xuất nhập khẩu. Các chính sách phải có tác dụng phối hợp các cơ quan quản lý Nhànước, các ngành, các địa phương tạo thành một hệ thống quản lý thống nhất từ 26 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  27. 27. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comtrung ương đến địa phương đối với hoạt động xuất nhập khẩu giữa hai nước. Hệ thống các chính sách để phát triển hoạt động thương mại hàng hóagiữa Lào - Việt Nam bao gồm: + Các chính sách phát triển kinh tế nói chung. + Các chính sách phát triển hoạt động xuất nhập khẩu. + Các chính sách phát triển thương mại hàng hóa giữa Lào - Việt Nam.2. Điều kiện thuận lợi của cửa khẩu biên giới. Ở các cửa khẩu biên giới có các điều kiện kinh doanh thuận lợi, có tácdụng thúc đẩy cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Ngược lại, nếu ở cáccửa khẩu biên giới không có các điều kiện kinh doanh thuận lợi, có thể sẽ hạnchế hoặc ngăn cản sự phát triển của các hoạt động xuất nhập khẩu ở khu vựcbiên giới. Các điều kiện thuận lợi ở các cửa khẩu biên giới, một phần do sự thuậnlợi về mặt tự nhiên, địa lý tạo nên, nhưng hầu hết các nhân tố này là do cácquốc gia có chung đường biên giới tạo nên. Nhưng nhân tố tạo nên nhữngđiều kiện kinh doanh thuận lợi tại các cửa khẩu biên giới bao gồm: + Các nhân tố tự nhiên địa lý. Những cửa khẩu có nhân tố tự nhiên, địa lý thuận lợi là các cửa khẩu cócác địa hình thích hợp cho các dân cư sinh sống, thuận tiện để mở các tuyếngiao thông, thuận tiện cho việc mở các khu kinh tế, khu thương mại, thuậntiện trong việc kinh doanh buôn bán, dân cư hai bên đông đúc, kinh tế pháttriển. Mặt khác, cửa khẩu lại gần với các trung tâm kinh tế, chính trị xã hộicủa mỗi nước, hoặc có điều kiện thuận lợi để mở các tuyến giao thông đườngbộ, đường sông, đường biển, đường hàng không với các trung tâm kinh tế củamỗi nước và của các nước thứ ba. 27 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  28. 28. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com + Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật thương mại. Các cửa khẩu có các cơ sở hạ tầng tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy giao lưubuôn bán giữa hai bên phát triển. Hệ thống cơ sở hạ tầng tại các cửa khẩu bao gồm hệ thống các khu côngnghiệp, khu kinh tế, khu thương mại, hệ thống chợ biên giới, hệ thống giaothông ở khu vực cửa khẩu và từ cửa khẩu tới các trung tâm khác, hệ thốngvận tải, hệ thống kho bãi, hệ thống bưu chính viễn thông, hệ thống ngân hàng,hệ thống kiểm nghiệm, kiểm dịch, hệ thống hải quan, hệ thống văn phòng vàcác hệ thống dịch vụ khác. + Thủ tục hành chính. Thủ tục hành chính tại các cửa khẩu có thể gây khó khăn và có phần kìmhãm sự phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới,đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Cần thiết lập được một hệ thống tổ chức quản lý vừa đảm bảo quản lýđược chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu tại các khu vực biên giới lại phải vừacó tác dụng tạo điều kiện và thúc đẩy cho hoạt động này phát triển. Các thủ tục hành chính tại các cửa khẩu biên giới bao gồm: thủ tục hảiquan, thủ tục xuất nhập cảnh, vấn đề xin giấy phép xuất nhập khẩu, giấy phéphoạt động trong chợ biên giới trong khu kinh tế, khu thương mại cửa khẩu,vấn đề kiểm dịch, kiểm nghiệm và các thủ tục xuất nhập khẩu khác. Điểm đáng chú ý là các điều kiện thuận lợi tại các cửa khẩu biên giới, nóphải đảm bảo được sự tương đồng ở hai bên cửa khẩu, một bên có điều kiệnthuận lợi còn một bên có điều kiện khó khăn thì không thể phát huy hết tácdụng của nó. 28 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  29. 29. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com3. Đặc điểm kinh tế của mỗi nước. Lào và Việt Nam là hai nước có quan hệ với nhau về mọi mặt, nền kinhtế có nhiều nét tương đồng nhau, có xu hướng chung về phát triển nền kinh tếvà đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá (CNH - HĐH) đấtnước trong quan hệ đối ngoại, phát triển kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần,khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài mở rộng đa dạng hoá kinh tếđối ngoại kể cả hình thức hợp doanh với tư bản nước ngoài, nhờ đó bước đầuhình thành một nền kinh tế sống động phát triển theo hướng mở rộng ra bênngoài hoà nhập vào trào lưu phát triển kinh tế trong khu vực biên giới giữa hainước góp phần thúc đẩy nền kinh tế hai nước ngày càng phát triển, tiếp tụcmở rộng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế hai nước, thực hiện lộtrình hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp với những cam kết của hai nước trongquan hệ song phương và đa phương. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG 29 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  30. 30. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com HOÁ GIỮA LÀO VÀ VIỆT NAMI. THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ HOẠTĐỘNG THƯƠNG MẠI GIỮA LÀO VÀ VIỆT NAM1. Thực trạng chính sách phát triển quan hệ thương mại giữa Lào và ViệtNam * Chính sách xuất khẩu Ngoài các mặt hàng Nhà nước độc quyền, cấm các thành phần kinh tếkinh doanh là những mặt hàng có ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, trật tựan toàn xã hội, thuần phong mỹ tục những mặt hàng còn lại được Nhà nướcquản lý bằng các công cụ chủ yếu như hạn ngạch, giấy phép, thuế quan và cáchàng rào phi thuế quan khác. Nhưng để đẩy mạnh xuất khẩu, Lào đã thực hiệnmột số chính sách về trợ cấp, trợ giá, miễn giảm hoàn toàn thuế nhập khẩucho nguyên vật liệu dùng trong sản xuất hàng xuất khẩu, hoàn thuế VAT, lậpquỹ hỗ trợ, quỹ thưởng xuất khẩu, các chính sách về lãi suất, tỷ giá dã có tácdụng tốt đẩy mạnh được xuất khẩu . Ngoài ra Lào đã thực hiện giảm mạnhxuất khẩu thô và sơ chế, tăng nhanh sản phẩm chế biến, nâng dần tỷ trọng sảnphẩm có hàm lượng công nghệ cao, phát triển mạnh những sản phẩm, hànghoá, dịch vụ có khả năng cạnh tranh. Thực hiên cơ chế bảo hiểm hàng hoáxuất khẩu, đầu tư cho hoạt động hỗ trợ xuất khẩu . Bên cạnh đó, Lào đã thựchiện chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất làm ăn có hiệu quảhoặc các doanh nghiệp sản xuất đã xuất khẩu trực tiếp sản phẩm sang ViệtNam bằng cách hỗ trợ về vốn trong việc nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đạivà đổi mới công nghệ trong qúa trình sản xuất để cải tiến sản phẩm phù hợpvới thị hiếu của người tiêu dùng, nâng cao chất lượng, và nâng cao được khảnăng cạnh tranh của hàng hoá và doanh nghiệp của Lào vào thị trường ViệtNam. Trong việc phát triển phát triển cơ sử hạ tầng để phục vụ cho công việc 30 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  31. 31. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comthúc đẩy xuất khẩu cung được quan tâm đặc biệt là ngành giao thông vận tải(đường bộ) bởi vì Lào nằm giữa Đông Nam Á lục địa, không có đường thôngthường trực tiếp ra biển, không có đường sắt, đường bộ chưa thông suốt từBắc đến Nam; hơn nữa đường bộ lại xuống cấp nghiêm trọng. Để phát triểnkinh tế - xã hội, Lào phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mà trước hết là lĩnhvực giao thông vận tải để góp phần thúc đẫy quan hệ xuất nhập khẩu giữa Làovà Việt Nam co hiệu quả hơn. * Chính sách nhập khẩu Hơn 10 năm qua (1991 đến nay), trên cơ sở chiến lược hợp tác kinh tế,văn hoá, khoa học kỹ thuật và các hiệp định thương mại song phương Lào -Việt Nam, CHDCND Lào đã hoạch định và triển khai chính sách nhập khẩuhàng hoá từ Việt Nam. Chính sách nhập khẩu này đã thúc đẩy sự tăng trưởngkhá ổn định kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam của Lào qua cácnăm. Hiện nay, mặt hàng mà Lào nhập từ Việt Nam bao gồm: các hàng côngnghiệp tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ (như hàng dệt may, giầy dép, linhkiện vi tính, sản phẩm nhựa,...) với tỷ trọng trong tổng kim ngạch nhập khẩungày càng tăng trưởng và đạt chỉ số lớn. Để thúc đẩy quan hệ thương mạihàng hoá với Việt Nam, Lào đã thực hiên chính sách ưu đãi đối với mặt hàngnhập khẩu từ Viêt Nam như : + Miến giảm thuế cho các mặt hàng nhập từ Việt Nam, giảm thuế nhậpkhẩu 50% những mặt hang đủ 4 điều kiện: (1) Nằm trong doanh mục hàng hoá được chính phủ hai nước đã thoả thuận giảm 50% thuế nhập khẩu. (2) Có gấy chứng nhận xuất xứ từ Việt Nam. 31 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  32. 32. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com (3) Có gấy chứng nhận của Bộ thương mại hoặc Sở thương mại của Việt Nam. (4) Hàng hoá phải được vận chuyển qua các cửa khẩu chính thức giữa hai nước. Trị giá tính thuế nhập khẩu là giá trị hàng tại cửa khẩu nhập hàng baogồm tiền hàng , cước vận chuyển, bảo hiểm do người nhập khẩu và ngườixuất khẩu thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không được thấp hơn giá thực tếtại cửa khẩu nhập khẩu 15%. Thuế suất doanh thu nhập khẩu có 3 mức: 3%,5%, 10%. Thuúe suất bán lể hàng nhập khẩu 1% của doanh số bán. + Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiêp Viêt Nam xuất khẩusang Lào, Năm 2002 Lào cũng ban hành Quyết định 13/UBQLĐTHT nhằmđơn giản hóa thủ tục xin cấp phép, quy định thời gian và chức năng nhiệm vụcủa từng bộ, ngành, địa phương liên quan. Tất cả là cơ sở pháp lý quan trọngđể thúc đẩy hoạt động hợp tác đầu tư và thương mại. + Tạo mọi điều kiện thuận lợi, phương thức thanh toán phù hợp để tăngkim ngạch xuất nhập khẩu bằng cách thúc đẩy hoạt động ngân hàng tiền tệđáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán bằng đồng tiền hai nước. + Tạo điều kiện thuậ lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc nghiêncứu thị trơừng của Lào bằng cách áp dụng chính sách hỗ trợ cung cấp thôngtin tạo điều kiện và cơ hội cho các doanh nghiệp hợp tác với nhau. * Chính sách đối với các chủ thể hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Cơ cấu chủ thể tham gia hoạt động xuất nhập khẩu có những sự thayđổi rất lớn trong những năm đổi mới vừa qua. Từ năm 1980 trở về trước, nguyên tắc Nhà nước độc quyền về ngoạithương, toàn quốc chỉ có một vài công ty trực thuộc Bộ Ngoại thương được 32 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  33. 33. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comquyền xuất nhập khẩu mà thị trường chủ yếu là với các nước xã hội chủnghĩa cũ. Nước CHDCND Lào đã đề ra những đổi mới cơ bản đối với chế độquản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, trong đó có việc mởrộng quyền xuất nhập khẩu trực tiếp cho các doanh nghiệp thuộc mọi thànhphần kinh tế. Trong 10 năm đổi mới với những chính sách mới ban hành đã có nhữngthay đổi cơ bản đối với các chủ thể tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Từviệc Nhà nước độc quyền về hoạt động xuất nhập khẩu đến việc cho phép tấtcả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuấtnhập khẩu, đã nâng số doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu từ vài chụcdoanh nghiệp cho đến ngày 30/08/2001 cả hai nước đã có hơn 2000 doanhnghiệp xuất nhập khẩu đã tạo điều kiện để phát triển hoạt động xuất nhậpkhẩu của hai nước. Tuy nhiên chính sách vẫn còn giới hạn các doanh nghiệp chỉ được phépkinh doanh các mặt hàng theo phạm vi ngành nghề đã đăng ký kinh doanh,điều này có thể làm ảnh hưởng đến cơ hội và khả năng phát triển của cácdoanh nghiệp. Mặt khác khi số lượng các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩutăng nhanh nếu không có biện pháp tổ chức quản lý có một định hướng pháttriển cụ thể, không hướng các doanh nghiệp về một mục đích chung xảy rahiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, gian lận làm ảnh hưởng đến lợi íchkinh tế của hai nước. * Chính sách thương mại đường biên Đối với những đặc điểm riêng của khu vực mậu dịch đường biên các 33 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  34. 34. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comquốc gia cần thiết phải hoạch định và triển khai hữu hiệu chính sách mậu dịchđường biên, đảm bảo tôn trọng quyền tự chủ cùng tổ chức và quản lý khu vựcthị trường này. Chính sách thương mại đường biên phải đảm bảo cho sự tự do lưuthông hàng hoá trong khu vực thị trường này, phát triển tổ chức thương mạibán lẻ thích ứng phát huy mối quan hệ kinh tế, văn hoá xã hội, của dân cưtrong vùng. Chính sách thương mại đường biên cần được hoạch định và triểnkhai trên cơ sở quan hệ thương mại song phương giữa các quốc gia và tậptrung trên các khía cạnh chủ yếu: - Về mặt hàng kinh doanh. - Phát triển các hình thức thương mại bán lẻ. - Tổ chức quản lý tốt khu vực thị trường này. * Chính sách hải quan Chính sách hải quan là bộ phận cấu thành chính sách thương mại songphương giữa các quốc gia, nội dung cơ bản của chính sách này là: Đơn giản hoá tiến tới thống nhất hoá phương pháp xác định giá hải quan,danh mục thuế quan và các quy trình thủ tục hải quan. Đảm bảo việc thực thi liên tục, công khai và công bằng luật lệ hải quan,các quy trình thủ tục và luật lệ hành chính mỗi nước. Quản lý có hiệu quả, làm thủ tục nhanh chóng đối với hàng hoá tạo điềukiện cho phát triển thương mại và đầu tư. 34 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  35. 35. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com Ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hình thức buôn lậu cũng như cáchành vi vi phạm luật hải quan khác. Chính sách hải quan Lào đã được hoàn thiện trong thời gian qua đảmbảo những điều kiện cần thiết để hợp tác hải quan nói riêng, phát triển thươngmại với các nước ASEAN nói chung. * Chính sách xúc tiến và truyền thông thương mại Chính sách này tác động tới sự phát triển của ngành thương mại hànghoá trong và ngoài nước. Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp xúc tiến,thúc đẩy hoạt động kinh doanh XNK cho các doanh nghiệp thông qua chínhsách xúc tiến truyền thông thương mại XNK nhất là các quốc gia đang pháttriển, hệ thống XNK nhỏ bé về quy mô, vị thế thấp trên thị trường quốc tế nhưLào và Việt Nam và nhiều nước khác trong khối ASEAN. * Chính sách phát triển khu kinh tế của cửa khẩu và chợ biên giới Từ năm 1997, Lào đã trở thành thành viên của ASEAN và tham giaAFTA với thời gian thực hiện hoàn toàn các cam kết CEPT/AFTA vào năm2008. Trong chương trình “Tăng cường quan hệ thương mại Lào - Việt Nam,triển khai thực hiện thoả thuận Cửa Lò ”. Việc thực hiện chương trình này sẽđem lại những cơ hội mới cho sự phát triển quan hệ thương mại giữa hainước, Chính phủ Lào cũng đã thành lập ban chỉ đạo phát triển khu thương mạibiên giới Nặm Phạo - Cầu Treo để thực hiện các chính sách khuyến khích đầutư phát triển kinh tế xã hội tại khu vực này. Lào chủ trương tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quan hệ hợp tác với ViệtNam trên tất cả các lĩnh vực, để khuyến khích hoạt động thương mại du lịch,phía Lào tạo điều kiện cho Việt Nam tổ chức bán hàng trên đất Lào, duy trì 35 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  36. 36. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comhọp chợ biên giới, cho phép nhân dân hai bên đi lại bằng giấy thông hành biêngiới, các tỉnh Bo Ly Khăm Say, khăm Muôn của Lào và các tỉnh Hà Tĩnh,Nghệ An của Việt Nam. Hàng năm tổ chức gặp gỡ cán bộ cao cấp và các cấpchuyên ngành nhằm bàn bạc thống nhất các biện pháp để đẩy quan hệ hợp táctrên các lĩnh vực về sự phát triển chung đảm bảo lợi ích quốc gia và mỗi tỉnhtrên cơ sở tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai nước. Chính phủ Lào đã cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệpViệt Nam hoạt động kinh doanh tại Lào về mọi thủ tục hành chính. Các doanhnghiệp Việt Nam được ưu đãi vốn vay, hưởng mức thuế chỉ bằng 50% mứcthuế chung khi đầu tư vào Lào, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuấttại Lào được hưởng hạn ngạch xuất khẩu của Lào sang các nước khác. Đối với Lào, mở các tuyến đường thông qua các cảng biển của Việt Namlà con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để thực hiện thông thương với cácnước. Vì vậy, bên cạnh quan hệ hợp tác gắn bó truyền thống giữa hai nước,Việt Nam giữ vị trí quan trọng trong chiến lược liên kết hội nhập ASEAN vàGMS của Lào và cũng là cửa ngõ ra biển để Lào mở rộng giao lưu kinh tế vớicác nước ngoài khu vực. Các chính sách hợp tác đa phương trong khuôn khổ ASEAN và GMScủa Lào và Việt Nam đã tạo những tiền đề thuận lợi và mở ra những triểnvọng phát triển mới cho thương mại biên giới giữa hai nước. Các nước GMSđã khẳng định sự cần thiết phải tăng cường phát triển thương mại biên giớivới các nhiệm vụ chiến lược: mở cửa biên giới; tăng cường buôn bán và đầutư nội khu vực; phát triển các hành lang kinh tế; cải thiện môi trường và giảmđói nghèo tại các địa phương biên giới. Trước mắt là các địa phương dọc hànhlang Đông - Tây; phát triển các đặc khu kinh tế, khu công nghiệp thuộc phạm 36 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  37. 37. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comvi hành lang Đông - Tây và xây dựng các quy định hài hòa về xuất khẩu hànghóa với các nước trong khu vực. Những nhận thức về tầm quan trọng và tính chất đặc thù của thương mạibiên giới, của việc phát triển các khu kinh tế cửa khẩu đối với phát triển kinhtế quốc gia nói chung, kinh tế biên giới nói riêng nên bắt đầu từ năm 1998,Chính phủ Việt Nam đã có các quyết định cho áp dụng các chính sách ưu đãiphát triển đối với các khu kinh tế biên giới và khu thương mại cửa khẩu dọctuyến biên giới Lào - Việt Nam: khu cửa khẩu Cầu Treo, khu thương mại LaoBảo (1998), khu cửa khẩu Bờ Y - Ngộc Hồi (1999), cửa khẩu Tây Trang vàcửa Khẩu Pa Háng (2001). Ngày 15/10/2002, Chính phủ đã ra quyết định số137/2002/QĐ-TTg về việc thành lập khu kinh tế cửa khẩu và áp dụng chínhsách ưu đãi phát triển đối với khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo tỉnh Quảng Bình. Các khu kinh tế cửa khẩu khác nhau có các đặc thù khác nhau về vị tríđịa lý, kinh tế... và các chính sách ưu đãi đối với các khu kinh tế cửa khẩucũng không hoàn toàn giống nhau do đặc thù của mỗi vùng nhưng vẫn cóđiểm chung nhất là: quy định về địa bàn trên cơ sở khai thác ưu thế về địa lý,cho phép phát triển đồng bộ các loại hình thương mại như xuất nhập khẩu,tạm nhập tái xuất, vận chuyển hàng quá cảnh, kho ngoại quan, cửa hàng miễnthuế, hội chợ triển lãm, gia công hàng xuất khẩu, chi nhánh đại diện của cáccông ty trong và ngoài nước, chợ biên giới, thủ tục xuất nhập cảnh phù hợpvới đặc điểm vùng biên giới theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho công dânhai nước giáp khu kinh tế cửa khẩu, ưu đãi về đầu tư và nộp ngân sách, ápdụng các chính sách khuyến khích đầu tư và chính sách tài chính, tiền tệ ưuđãi khác. Sự hình thành các khu kinh tế cửa khẩu đã tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động thương mại qua các khu vực này và góp phần tích cực vào việcphát triển kinh tế ở các địa phương có khu kinh tế cửa khẩu. 37 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  38. 38. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com2. Thực trạng về hệ thống tổ chức quản lý hoạt động thương mại hànghoá giữa Lào và Việt Nam * Thực trạng về hệ thống tổ chức quản lý hoạt động thương mạihàng hoá của Lào với Việt Nam Đối với hệ thống tổ chức quản lý hoạt động thương mại hàng hoá củaLào những năm qua chưa được chú trọng, hàng hoá sản xuất trong nước chưađủ tiêu dùng, thị trường nội địa còn thiếu thốn những hàng hoá cần thiết. Hệthống tổ chức quản lý còn kém, trình độ sản xuất còn thấp, hàng hoá phầnnhiều nhập khẩu từ Thái Lan, hàng hoá xuất khẩu ngoài gỗ và điện lực hầunhư chẳng có gì. Những năm gần đây từ khi Lào ra nhập khối ASEAN và quan hệ hợptác thương mại song phương với các nước nói chung và quan hệ hợp tácthương mại hàng hoá với Việt Nam nói riêng, Lào đã có những bước chuyểnđổi mới, hạn chế những hàng hoá nhập khẩu từ Thái Lan, chuyển hướng traođổi các mặt hàng cần thiết từ các nước khác theo mục đích hai bên cùng cólợi, chủ yếu là với Việt Nam. Năm 2000 hàng hoá của Lào xuất khẩu sangViệt Nam đạt 111,6 triệu USD; năm 2001 đạt 67,8 triệu USD, với mặt hàngxuất khẩu đa dạng hơn và hiệu quả xuất khẩu tăng đáng kể. Về hải quan: Đã có nhiều cuộc cải cách lớn, nhằm đơn giản hóa thủtục hải quan, nhất là sau khi áp dụng chính sách hải quan và luật hải quan,thực hiện 3 bước đối với hàng nhập khẩu, miễn kiểm tra đối với nhiều mặthàng xuất khẩu... nhiều cửa khẩu quốc tế Lào - Việt Nam cho phép mở tờkhai một lần cho nhiều lần xuất khẩu hàng hóa, công khai các quy định thuếvà lệ phí hải quan, rút ngắn thời gian làm thủ tục cho các lô hàng chỉ còntrong ngày, thực hiện cả trong ngày nghỉ nếu doanh nghiệp có yêu cầu. 38 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  39. 39. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com Về phương thức thanh toán: Do tính đa dạng của chủ thể tham gia vàphương thức kinh doanh trên thị trường khu vực biên giới nên các phươngthức trao đổi, thanh toán cũng rất đa dạng. Để tạo điều kiện cho hoạt độngbuôn bán, trao đổi giữa hai nước, bên cạnh chính sách khuyến khích xuấtnhập khẩu theo phương thức hàng đổi hàng, Chính phủ hai nước đã ký kếtthoả thuận Cửa Lò 223/8/1999 về cơ chế thanh toán hàng xuất nhập khẩu giữahai nước và ngân hàng hai nước. Về hoạt động xúc tiến thương mại: Hầu hết các tỉnh ở khu vực biêngiới đã thành lập trung tâm xúc tiến thương mại, các tổ chức xúc tiến thươngmại, hỗ trợ các doanh nghiệp khảo sát thị trường, tổ chức hội chợ triển lãm tạikhu vực biên giới giữa hai nước. Về hoạt động chống buôn lậu: với đặc điểm biên giới Lào - Việt Nam,với nhiều kênh rạch và đường mòn qua lại của cư dân khu vực hai bên biêngiới, dân cư dọc biên giới đa số là người dân tộc, đời sống còn nhiều khókhăn, thiếu việc làm. Những đặc điểm nêu trên để bọn đầu lậu lôi kéo, muachuộc vận chuyển trái phép, buôn lậu hàng cấm, chứa hàng nhập lậu, gâykhông ít khó khăn cho hoạt động chống buôn lậu. Trong thời gian vừa quahoạt động chống buôn lậu của các cơ quan chức năng có nhiều tiến bộ, triểnkhai thực hiện tốt kế hoạch đề ra, định kỳ có kiểm điểm đánh giá kết quả thựchiện. * Thực trạng về hệ thống tổ chức quản lý hoạt động thương mạihàng hoá của Việt Nam với Lào. Việt Nam đã có mạng lưới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động thươngmại hàng hoá từ trên xuống dưới. Hạn chế các mặt hàng nhập khẩu từ nướcngoài mà Việt Nam sản xuất được, ưu tiên nhập một số mặt hàng từ bên nước 39 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  40. 40. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.comLào mà chính hàng hoá nước CHDCND Lào sản xuất. Việt Nam đã có giảipháp tăng cường sức cạnh tranh để hàng hoá chiếm lĩnh được thị trường nộiđịa và quốc tế. Hoạt động tổ chức quản lý chống buôn lậu hàng hoá qua cácđường biên giới, hoạt động kiểm tra kiểm soát hàng hoá trốn thuế. Thực hiện hệ thống tổ chức quản lý hàng hoá quá cảnh qua Lào vào thịtrường Việt Nam bên cạnh mặt tích cực tạo ra sự sôi động thị trường các hànghoá này ở việt nam. Về hải quan: ở bên phía Việt Nam cũng đang tập trung cải cách lại chotốt hơn và hiện nay hai bên đang thực hiện chính sách giảm 50% thuế xuất khẩu. Về phương thức thanh toán: Việt Nam cũng ban hành Quyết định245/2000/QD-NHNN7 ngày 02/08/2000 về việc thanh toán hàng xuất nhậpkhẩu bằng đồng Việt Nam và đồng Kíp Lào. Ngoài ra còn được phép thanhtoán bằng ngoại tệ (đô la Mỹ). Về hoạt động xúc tiến thương mại: Các tỉnh ở khu vực biên giới cũngthành lập trung tâm xúc tiến thương mại để tổ chức xúc tiến thương mại, hỗtrợ các doanh nghiệp khảo sát thị trường, tổ chức hội chợ triển lãm tại khuvực biên giới giữa hai nước. Về hoạt động chống buôn lậu: Với đặc điểm biên giới hai nước nhưvậy và trình độ dân trí ở khu vực biên giới còn thấp, do vậy, không tránh khỏiviệc buôn bán lậu và mua chuộc vận chuyển trái phép... và trong thời gian quahoạt động chống buôn lậu đã có nhiều tiến bộ, đã tăng cường hoạt động nàyđối với các cơ quan chức năng, thực hiện tốt kế hoạch và kiểm điểm đánh giákết quả thực hiện.II. PHÂN TÍCH TỔNG QUÁT VỀ KẾT QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 40 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam
  41. 41. Khóa luận tốt nghiệp http://luanvan.forumvi.com HÀNG HOÁ GIỮA LÀO VÀ VIỆT NAM 1. Về kim ngạch buôn bán giữa Lào và Việt Nam Bảng (2.1) KIM NGẠCH XNK CHÍNH NGẠCH CỦA LÀO VỚI VIỆT NAM 1991-2002 Đơn vị: triệu USD 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002Tổng kimngạch 6,9 23,7 56,3 123,8 104,6 163,4 98,8 217,4 360 178 130,2 122XNKKim ngạch 3,3 7,7 41,9 83,3 84 108,5 52,7 144 195 111,6 67,8 62,5xuất khẩuKim ngạch 3,6 16 14,4 40,5 20,6 54,9 46,1 73,3 164,3 66,4 62,4 59,5nhập khẩuCán cânthương -0,3 -8,3 27,5 42,8 63,4 53,6 6,6 70,7 30,7 45,2 5,4 3mại Nguồn: Số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê Việt Nam và Tổng cục Hải quan Qua bảng (2.1) cho thấy, từ năm 1991 đến nay tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của hai nước có chiều hướng tăng mạnh và đã vượt xa hẳn so với thời kỳ những năm 70, 80. Sở dĩ có được như vậy chủ yếu là do hai nước cùng thực hiện tiến hành đổi mới về mọi mặt (như đã trình bày ở trên). Trong giai đoạn này, từ những năm đầu đổi mới đến năm 1992, Lào liên tục nhập siêu của Việt Nam, riêng 1992 khoảng 8,3 triệu USD. Đến lúc này, nhiều loại hàng 41 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hoá giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam

×