Luan van thac si kinh te (30)

  • 793 views
Uploaded on

 

More in: Education
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
    Be the first to like this
No Downloads

Views

Total Views
793
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1

Actions

Shares
Downloads
0
Comments
0
Likes
0

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ---------------------- PHẠM NGUYỆT THƯƠNGGIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA CỦA TỈNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Thái Nguyên, năm 2008
  • 2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ---------------------- PHẠM NGUYỆT THƯƠNGGIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA CỦA TỈNH NGHỆ AN Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60 - 31 - 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: TS. Đoàn Quang Thiệu Thái Nguyên, năm 2008
  • 3. i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn làtrung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi thông tintrích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc. Thái Nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả Phạm Nguyệt ThươngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 4. ii LỜI CẢM ƠN Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới tất cả các đơn vị, cánhân đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này. Trước hết tôi xin chân thành cảmơn sâu sắc tới TS. Đoàn Quang Thiệu - giáo viên trực tiếp hướng dẫn và giúpđỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nhgiên cứu và hoàn thành bảnluận văn này. Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới lãnh đạo Đại học kinh tế vàQuản trị kinh doanh Thái Nguyên, khoa sau Đại học, cùng toàn thể quý thầycô giáo. Tôi xin chân thành cảm ơn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thônNghệ An, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An, Cục thống kê Nghệ An, SởLao động và thương binh xã hội tỉnh Nghệ An, UBND tỉnh Nghệ An, UBNDthành phố Vinh, UBND các huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An và toàn thể cáchộ gia đình, cá nhân đã giúp đỡ tôi trong điều tra, phỏng vấn, thu thập số liệuđể hoàn thành luận văn này. Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹthuật Nghệ An, chân thành cảm ơn tập thể ban chủ nhiệm khoa và giáo viênkhoa Kế Toán- Phân tích trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Nghệ An, cácđồng nghiệp, gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong thời gian họctập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Thái Nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả Phạm Nguyệt ThươngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 5. iii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BVTV Bảo vệ thực vật CNH Công nghiệp hoá GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) GTSX Giá trị sản xuất HĐH Hiện đại hoá HTX Hợp tác xã UBND Uỷ ban nhân dân VSMT Vệ sinh môi trường WTO Tổ chức thương mại Thế giớiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 6. iv DANH MỤC CÁC BẢNGBảng 2.1. Hiện trạng sử dụng quỹ đất tỉnh Nghệ An năm 2007Bảng 2.2. Dân số và lao động của tỉnh Nghệ An năm 2007Bảng 2.3.Giá trị và cơ cấu giá trị sản phẩm các ngành kinh tế tỉnh Nghệ AnBảng 2.4. Cơ cấu GDP trong các thành phần kinh tế của tỉnh Nghệ AnBảng 2.5. Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế các ngành sản xuất nông- lâm- thuỷ sản tỉnh Nghệ AnBảng 2.6. Giá trị sản xuất và cơ cấu các loại cây trồng của tỉnh Nghệ AnBảng 2.7. Diện tích, năng suất, sản lượng cây lương thực, thực phẩmBảng 2.8. Diện tích, năng suất, sản lượng cây ăn quảBảng 2.9. Diện tích, năng suất, sản lượng cây công nghiệpBảng 2.10. Tỷ suất nông sản hàng hoá các loại cây lương thực, thực phẩmBảng 2.11. Tỷ suất nông sản hàng hoá các loại cây ăn quảBảng 2.12. Tỷ suất nông sản hàng hoá các loại cây công nghiệpBảng 2.13.Giá trị và cơ cấu GTSX các loại vật nuôi trên địa bàn tỉnh Nghệ AnBảng 2.14. Số lượng và sản lượng sản phẩm chăn nuôi tỉnh Nghệ AnBảng 2.15. Tỷ suất nông sản hàng hoá trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnhBảng 2.16. GTSX và cơ cấu GTSX các thành phần kinh tế của tỉnh Nghệ Annăm 2007Biểu đồ 2.1: Cơ cấu GDP trong các ngành kinh tế của tỉnh Nghệ AnBiểu đồ 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp thuần theo giá thực tếBảng 3.1. Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động tỉnh Nghệ An đến năm 2020Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 7. v MỤC LỤCTrangLời cam đoan .......................................................................................................................iLời cảm ơn ...........................................................................................................................iiDanh mục các chữ viết tắt...................................................................................................iiiDanh mục các bảng .............................................................................................................ivMục lục .................................................................................................................................vMở đầu..................................................................................................................................1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNCỨU ............................................................................................................................................................... 51.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theohướng sản xuất hàng hoá ....................................................................................................51.1.1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp...................... 51.1.2. Sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theohướng sản xuất hàng hoá ..................................................................................... 141.1.3. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuấthàng hoá .............................................................................................................. 211.1.4. Tác động của hội nhập kinh tế Quốc tế đến sản xuất hàng hoá và chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ........................ 231.1.5. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sảnxuất hàng hoá một số nước trên thế giới và Việt Nam ....................................... 251.2. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................321.2.1. Các phương pháp nghiên cứu.................................................................... 321.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích ................................................................. 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾNÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI TỈNH NGHỆ AN .........352.1. Đặc điểm của tỉnh Nghệ An. ........................................................................ 352.1.1. Đặc điểm tự nhiên ..................................................................................... 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 8. vi2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội..................................................................... 392.2. Cơ hội và thách thức đối với nông nghiệp Nghệ An trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế và khu vực.......................................................................... 442.3. Thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tình hình chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá của tỉnh Nghệ An trong 5năm qua ............................................................................................................... 472.3.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế của tỉnh Nghệ An. ............................................ 472.3.2 Thực trạng và tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệpcủa tỉnh Nghệ An trong 5 năm qua ..................................................................... 522.3.3 Những kết quả đạt được và tồn tại trong chuyển dịch cơ cấu kinhtế ngành nông nghiệp tỉnh Nghệ An ................................................................... 81CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNGNGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI TỈNH NGHỆ AN .......................853.1. Quan điểm, mục tiêu, phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá tại tỉnh Nghệ An đến năm 2020 .................. 853.1.1- Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngsản xuất hàng hoá ở tỉnh Nghệ An ....................................................................... 853.1.2. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sảnxuất hàng hoá của tỉnh Nghệ An ............................................................................ 873.1.3. Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngsản xuất hàng hoá ở tỉnh Nghệ An đến năm 2020 .............................................. 893.2. Giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngsản xuất hàng hoá tại tỉnh Nghệ An đến năm 2020 ............................................ 953.2.1. Giải pháp chung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theohướng sản xuất hàng hoá của tỉnh Nghệ An ....................................................... 953.2.2. Giải pháp cụ thể đối với từng ngành trong nông nghiệp thuần ................ 104KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.................................................................................................... 111TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 114Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 9. 1 MỞ ĐẦUI - TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nôngthôn, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Nông nghiệp vẫn được coilà ngành kinh tế quan trọng đối với nước ta hiện nay, là nơi cung cấp lươngthực, thực phẩm cho dân cư cả nước, là nơi cung cấp nguyên liệu cho nhiềungành kinh tế quốc dân, là thị trường tiêu thụ quan trọng của công nghiệp vànhiều ngành kinh tế khác. Do vậy, công cuộc Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá(CNH, HĐH) đất nước với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ văn minh" được bắt đầu bằng việc phát triển kinh tế ở khu vực nôngthôn. Từ Đại hội lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam (1982) nông nghiệpđược coi là "Mặt trận hàng đầu". Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 do Đại hội Đảng IX thông qua tiếp tục khẳng định quan điểm này. Mụctiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010 của Đại hội ĐảngX nêu rõ: Tiếp tục đẩy mạnh và coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn. Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôntheo hướng sản xuất lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thựchiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá nhằm nâng cao năng suất, chấtlượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương.Tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, tạo điều kiện pháttriển các khu công nghiệp công nghệ cao, các vùng trồng trọt và chăn nuôi tậptrung, các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với làng nghề, các loạihình sản xuất trang trại, hợp tác xã (HTX), sản xuất các loại sản phẩm có thịtrường và hiệu quả kinh tế cao. Nghệ An là một tỉnh lớn nằm ở phía Bắc Trung Bộ, trên tuyến giao lưukinh tế - xã hội Bắc Nam, với diện tích đất tự nhiên là 1.648.729,74 ha và cóhơn 3,1 triệu người sinh sống. Nông nghiệp vừa là bộ phận quan trọng trongSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 10. 2cơ cấu kinh tế của tỉnh, vừa có điều kiện phát triển theo hướng sản xuất hànghóa. Vì vậy, nông nghiệp là ngành được đặc biệt chú trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An. Trong nhiều năm qua, mức độ chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Nghệ An đã diễn ranhanh hơn nhưng vẫn còn nhiều tiềm năng trong nông nghiệp chưa được khaithác. Sản xuất nông nghiệp còn mang tính nhỏ lẻ, sản xuất tự cung, tự cấp làchủ yếu. Sản phẩm nông nghiệp làm ra chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng của hộgia đình và thị trường nội địa, có hướng tới xuất khẩu nhưng chưa nhiều vàhiệu quả chưa cao, chưa phát huy hết lợi thế và tiềm năng của tỉnh. Ngànhchăn nuôi chưa phát huy hết lợi thế; tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt trongtổng giá trị sản xuất nông nghiệp thuần còn cao; dịch vụ nông nghiệp vẫnchiếm tỷ trọng nhỏ. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh hiện nay chưa phùhợp với quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế Quốc tế, chưa phát huy hếttiềm năng về sản xuất hàng hoá, vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong pháttriển kinh tế nông thôn và nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp. Do đó, đề tài"Giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngsản xuất hàng hóa của tỉnh Nghệ An" là thực tế khách quan và là yêu cầuđặt ra mang tính cấp thiết.II - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU * Mục tiêu chung: Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng cơ cấukinh tế nông nghiệp, xác định rõ sự bất hợp lý và những nguyên nhân, từ đóđưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT)nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của tỉnh Nghệ An phù hợp với nềnkinh tế thị trường trong thời kỳ CNH, HĐH và xu thế hội nhập Quốc tế hiện nay. * Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch CCKT nông nghiệpSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 11. 3 - Phân tích, đánh giá thực trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp và quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá tại tỉnhNghệ An trong những năm qua, chỉ ra kết quả, tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng. - Đề xuất giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm thúc đẩy quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa phùhợp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.III - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU3.1- Đối tƣợng nghiên cứu Là những vấn đề lý luận và thực tiễn thuộc về cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn nhất là cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2008- 2020.3.2- Phạm vi nghiên cứu * Về không gian Nghiên cứu, đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệpcủa tỉnh Nghệ An * Về thời gian - Phần tổng quan thu thập từ các tài liệu đã công bố từ năm 1996 đến nay. - Các số liệu, tài liệu phục vụ đánh giá thực trạng địa bàn nghiên cứuđược thu thập trong khoảng thời gian từ 2003 - 2007 - Phần định hướng tham khảo các tài liệu về mục tiêu, phương hướngphát triển đến năm 2010 và 2020. * Về nội dung Đề tài chỉ tập trung đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp của tỉnh Nghệ An trong những năm qua dựa trên định hướng vàmục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tìm ra những căn cứ, đềxuất giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho giai đoạn tiếp theo.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 12. 4IV - BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Nghệ An Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại tỉnh Nghệ AnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 13. 5 CHƢƠNG 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾNÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ1.1.1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp1.1.1.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp * Khái niệm về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nền kinh tế của mỗi nước là một tổ hợp phức tạp, bao gồm các bộ phậnvà phân hệ hợp thành. Việc phân tích, đánh giá cơ cấu kinh tế đòi hỏi phảixem xét cấu trúc bên trong của nền kinh tế, biểu hiện ở những mối quan hệkinh tế giữa các bộ phận và giữa các phân hệ của các bộ phận đó trong hệthống kinh tế. Những mối quan hệ kinh tế đó ràng buộc lẫn nhau và được biểuhiện ở những quan hệ về mặt lượng cũng như quan hệ về mặt chất. C.Mác đãchỉ ra rằng: “Cơ cấu kinh tế là sự phân chia về chất lượng và tỉ lệ về số lượngcủa quá trình sản xuất xã hội" [6]. Khi có sự thay đổi của một số bộ phận vàphân hệ nào đó trong hệ thống kinh tế sẽ làm thay đổi các bộ phận và phân hệcòn lại, hoặc ngược lại. Trong khi phân tích và đánh giá một cơ cấu kinh tếtrên quan điểm hệ thống nhất thiết phải chỉ ra được định lượng và định tínhcủa các quan hệ kinh tế. Là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội, cơ cấu kinh tếphản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của nềnkinh tế. Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải có các bộ phận, các phân hệ được kếthợp với nhau một cách hài hoà, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tàinguyên của đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, có nhịp độtăng trưởng và phát triển ổn định, nâng cao mức sống của dân cư và tạo điềukiện thuận lợi cho người lao động làm việc có hiệu quả.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 14. 6 Cơ cấu kinh tế của một nước xét trên tổng thể bao gồm những mối liênhệ tổng thể giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của nước đó, bao gồm cácyếu tố kinh tế, các lĩnh vực kinh tế (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng),các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ …), các khu vực kinh tế(nông thôn, thành thị), các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể, hộgia đình). Ở mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi thành phần kinh tế lại có cơ cấu riêngcủa mình tuỳ thuộc vào những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể. Để có một nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao và ổn địnhtất yếu phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý. Cơ cấu kinh tế đó phản ánh đượccác yêu cầu của quy luật khách quan: Quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế xãhội. Trong việc hình thành và vận động của cơ cấu kinh tế, nhân tố chủ quancủa con người cũng có vai trò rất quan trọng. Việc nhận thức đầy đủ và ngàycàng sâu sắc các quy luật khách quan, người ta phân tích, đánh giá hiện trạngcủa cơ cấu kinh tế, biết được xu hướng biến đổi của cơ cấu kinh tế, trên cơ sởđó tìm ra các phương án xác lập cơ cấu kinh tế cụ thể và lựa chọn phương án tốiưu có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất trong những điều kiện cụ thể của đấtnước. Đồng thời qua đó tìm ra và thực hiện các giải pháp hữu hiệu để đảm bảocơ cấu kinh tế đó đi vào cuộc sống. Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại đã cho thấy cơ cấu kinhtế không phải là một hệ thống tĩnh, bất biến mà luôn ở trạng thái vận động,không ngừng biến đổi, phát triển và có sự chuyển dịch cần thiết phù hợp vớinhững thay đổi biến động của các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xãhội. Do tác động của tiến bộ kỹ thuật và ứng dụng công nghệ mới, do sự pháttriển của khoa học quản lý và ứng dụng nó trong thực tiễn hoạt động kinh tế -xã hội, cơ cấu kinh tế cũng theo sự phát triển đó mà ngày càng hoàn thiệnhơn. Theo đà phát triển của xã hội, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển,phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng, cơ cấu kinh tế cũng ngày càngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 15. 7tiến bộ. Muốn xác lập cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với những mục tiêu,chiến lược kinh tế - xã hội của các thời kỳ lịch sử nhất định, con người phảinghiên cứu các quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội. Đó là sự đòi hỏibức thiết. Nghiên cứu hoạch định và dự báo cơ cấu kinh tế hiện tại và trongtương lai là việc làm cần thiết của các nhà lý luận và những người quản lý. Từđó yêu cầu trước hết phải đặt ra là nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cácchính sách vĩ mô, các mô hình kinh tế cụ thể, những vấn đề kinh tế vi mô [1]. Từ sự phân tích trên có thể khái quát cơ cấu kinh tế như sau: “Cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế củamỗi nước. Các bộ phận đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫnnhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượngtrong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiệnkinh tế- xã hội nhất định, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao” [13]. Nền kinh tế quốc dân là một tổ hợp đa ngành, đa lĩnh vực. Trên góc độkhông gian lãnh thổ của mỗi nước, người ta phân chia ra thành kinh tế nôngthôn và kinh tế thành thị. Sự phân biệt giữa kinh tế nông thôn và kinh tế thànhthị dựa vào sự khác nhau về địa lý, gắn liền về trình độ phát triển lực lượngsản xuất, phân công lao động xã hội và những đặc thù của các ngành. Khuvực nông thôn bao gồm một không gian rộng lớn, ở đó cộng đồng dân cư sinhsống và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp (theo nghĩa rộng) vớicác hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với lĩnh vực đó. Kinh tế nông thôn làmột tổng thể các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn. Kinh tế nông thôngồm các ngành liên quan mật thiết với nhau: Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngưnghiệp và bao gồm cả công nghiệp, dịch vụ trong nông nghiệp [13]. Cácngành kinh tế đó quan hệ chặt chẽ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về sốlượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất lượng. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp làmột bộ phận của hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân, phụ thuộc vào cơ cấu kinhSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 16. 8tế quốc dân, nhưng nó cũng mang tính độc lập tương đối. Vậy cơ cấu kinh tếnông nghiệp được hiểu: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về sốlượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quanđến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Cơ cấu kinh tế phản ánh quá trình phát triển, sự phù hợp, hợp lý trongphát triển kinh tế của mỗi Quốc gia, mỗi ngành và mỗi thành phần kinh tế.Muốn có một cơ cấu kinh tế hợp lý, cần có những biện pháp cụ thể nhằmchuyển dịch cơ cấu đúng hướng để có thể khai thác tối đa những tiềm năng vàlợi thế của từng vùng, ngành và từng địa phương * Đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế nông nghiệp - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tồn tại và phát triển phụ thuộc vào trình độphát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Mỗi một trìnhđộ nhất định của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội tương ứngvới một cơ cấu kinh tế nông thôn cụ thể. C.Mác nói “Trong sự phân công laođộng xã hội thì con số tỷ lệ là tất yếu không ai tránh khỏi, một sự tất yếu thầmkín, yên lặng”. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế cụ thể trong hệhống kinh tế nông nghiệp cũng như xu hướng chuyển dịch của chúng ra sao làtuỳ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội, những điều kiện tự nhiên nhấtđịnh mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Tuy nhiên, cácquy luật kinh tế lại được biểu hiện và vận động thông qua hoạt động của conngười. Vì vậy, con người phải nhận thức đầy đủ các quy luật kinh tế cũng nhưcác ngành tự nhiên để từ đó góp phần vào việc hình thành, biến đổi và pháttriển cơ cấu kinh tế nông nghiệp sao cho cơ cấu đó ngày càng hợp lý và đemlại hiệu quả cao. Trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới hiệnnay, cơ cấu kinh tế còn bị chi phối bởi sự phát triển kinh tế chung của vùng vàSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 17. 9của thế giới. Như vậy, việc hình thành và vận động của cơ cấu kinh tế nôngnghiệp đòi hỏi phải tôn trọng khách quan và không được áp đặt chủ quan, duyý chí. - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp không cố định mà luôn luôn vận động vàbiến đổi Sự vận động biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn gắn liền vớiđiều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên và tiến bộ khoa học kỹ thuật,công nghệ mới. Sự tác động của các điều kiện đó làm cho các bộ phận kinh tếtrong hệ thống kinh tế nông nghiệp biến đổi, tác động lẫn nhau, tạo ra một cơcấu kinh tế nông nghiệp mới. Cơ cấu ấy vận động và phát triển, đến lượt nóphải nhường chỗ cho một cơ cấu mới khác ra đời. Tuy vậy, để đảm bảo choquá trình hình thành, vận động và phát triển của cơ cấu kinh tế nông nghiệpmột cách khách quan, yêu cầu đặt ra là cơ cấu nông nghiệp phải đảm bảotương đối ổn định. Nếu cơ cấu kinh tế nông nghiệp thường xuyên thay đổi,xáo trộn sẽ làm cho các quá trình sản xuất kinh doanh không ổn định, quátrình đầu tư lúng túng, lưu thông hàng hoá trở ngại, làm cho kinh tế nôngnghiệp, nông thôn phát triển què quặt và phiến diện, gây lãng phí, tổn thất chonền kinh tế. [13] - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính hợp tác và cạnh tranh Trong việc lựa chọn một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, có hiệuquả cao phải xem xét đầy đủ các yếu tố từ bên ngoài ảnh hưởng đến việc hìnhthành cơ cấu kinh tế và mối liên hệ giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài. Sựgắn bó được biểu hiện trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội, trong việc bố trí sản xuất, hoạch định các chính sách, ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật và công nghệ mới, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanhchế biến và tiêu thụ sản phẩm … * Các yếu tố cấu thành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thônSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 18. 10 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sản phẩm của phân công lao động xã hội.Phân công lao động xã hội diễn ra liên tục và phát triển cùng với sự phát triểncủa lực lượng sản xuất xã hội. Phân công lao động xã hội gồm hai hình thứccơ bản: Phân công lao động xã hội theo ngành và phân công lao động xã hộitheo lãnh thổ. Hai hình thức cơ bản của phân công lao động xã hội đó gắn bóvới nhau. Sự phát triển của phân công lao động xã hội theo ngành kéo theo sựphát triển của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, ngược lại mỗi bướctiến của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ lại góp phần quan trọng chobước phát triển mới cho phân công lao động xã hội theo ngành. Sự phát triểnđó là thước đo trình độ phát triển chung của mỗi dân tộc. Phân công lao độngxã hội và chế độ sở hữu tạo ra cơ cấu các thành phần kinh tế. Cơ cấu kinh tếhợp lý sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho người sảnxuất kinh doanh năng động hơn, cho phép khai thác các tiềm năng và lợi thếcó hiệu quả hơn [4]. Như vậy xét trên tổng thể cơ cấu kinh tế nông nghiệp baogồm: Cơ cấu ngành, Cơ cấu vùng lãnh thổ, Cơ cấu thành phần kinh tế và Cơcấu kỹ thuật. - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo ngành Cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp - nông thôn thể hiện các mối quanhệ tỷ lệ giữa các ngành trong nông thôn: Nông nghiệp (theo nghĩa rộng),Công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Trong từng ngành lớn lại có các phânngành. Nông nghiệp (theo nghĩa rộng) là tổ hợp các ngành gắn liền với cácquá trình sinh học gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Trên cơ sở sựphát triển của phân công lao động xã hội trong quá trình sản xuất và côngnghiệp hoá, các ngành đó được hình thành và ngày càng phát triển cho phéptách sản xuất của các nhóm sản phẩm và các sản phẩm thành ngành kinh tế cụthể tương đối độc lập với nhau nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 19. 11 Nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôivà dịch vụ phục vụ nông nghiệp. Trong trồng trọt lại phân ra: Trồng câylương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây cảnh …. Ngành chăn nuôi gồmcó: chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thuỷ, hải sản…. Những ngành trên đượcphân ra thành những ngành nhỏ hơn. Chúng có mối quan hệ mật thiết vớinhau trong quá trình phát triển tạo thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Phát triển ngành lâm nghiệp và giải quyết mối quan hệ hợp lý giữanông nghiệp với lâm nghiệp, giữa lâm nghiệp với công nghiệp nông thôn làyêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế nông thôn. Ngành thuỷ sản là một ngành kinh tế quan trọng cấu thành kinh tế nôngnghiệp - nông thôn ở nước ta. Ngành thuỷ sản bao gồm: nuôi trồng, khai thác,đánh bắt và chế biến thuỷ hải sản. Đó là một ngành kinh tế có lợi thế để pháttriển, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp- nông thôn theo hướng kết hợp nuôi trồng thuỷ đặc sản với nông nghiệp, lâmnghiệp, công nghiệp chế biến và bảo vệ môi trường sinh thái. Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp cả nước, đồngthời là bộ phận cấu thành kinh tế lãnh thổ. Sau cuộc phân công lao động xãhội lần thứ 2, công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và dần trở thành ngành độclập. Công nghiệp phục vụ nông nghiệp gắn bó chặt chẽ và tác động qua lạivới nông nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Công nghiệp phụcvụ nông nghiệp cùng với các ngành kinh tế trong nông nghiệp gắn bó vớinhau trong quá trình phát triển và tạo thành một cơ cấu kinh tế nông nghiệpthống nhất. Phát triển công nghiệp trong nông nghiệp có ý nghĩa về nhiềumặt: góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theohướng CNH, HĐH và phát triển sản xuất hàng hoá, tạo thêm nhiều việc làmcho người lao động và tăng thu nhập, sử dụng hợp lý và nâng cao hiệu quảcủa các nguồn lực ở nông thôn; thúc đẩy kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nôngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 20. 12thôn phát triển nhanh; góp phần phân bố hợp lý lực lượng lao động, thu hẹpkhoảng cách về mức sống giữa thành thị và nông thôn. Dịch vụ là ngành kinh tế ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triểnkinh tế Quốc dân và nâng cao mức sống nhân dân. Dịch vụ nông nghiệp xéttheo quan điểm hệ thống là một bộ phận thuộc ngành dịch vụ của cả nước,đồng thời là một bộ phận cấu thành kinh tế nông nghiệp - nông thôn gắn liềnvới tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, dịch vụ nông nghiệp cũngngày càng phát triển với nhiều chủng loại phong phú cả trong dịch vụ sản xuấtvà dịch vụ đời sống. Như vậy dịch vụ nông nghiệp phát triển là đòi hỏi kháchquan của sản xuất và nâng cao mức sống dân cư nông thôn. Sự phát triển củadịch vụ nông nghiệp làm cho hoạt động kinh tế ở nông thôn ngày càng phongphú và đa dạng, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác ở nôngthôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đạt hiệu quả cao. Trongnội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu kinh tế biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ giữatrồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ phục vụ nông nghiệp. Đây là mối quan hệphản ánh sự phát triển một cách toàn diện nhằm đạt hiệu quả cao của sản xuấtkinh doanh nông nghiệp. Ngoài ra cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệpcòn biểu hiện mối quan hệ giữa sản xuất nguyên liệu nông sản và chế biến - Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp - nông thôn theo vùng lãnh thổ Ở mỗi Quốc gia, trên cơ sở những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,quá trình phát triển các vùng kinh tế sinh thái được hình thành và phát triển.Cơ cấu ngành và cơ cấu vùng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cơ cấu vùnglà nhân tố hàng đầu để tăng trưởng và phát triển bền vững các ngành kinh tếnông nghiệp- nông thôn được phân bố ở vùng. Mục đích của việc xác lập cơcấu kinh tế vùng một cách hợp lý là bố trí các ngành theo lãnh thổ vùng saocho thích hợp và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng lợi thế của từng vùng.Như vậy để phát triển các ngành bố trí trên mỗi vùng nhằm phát huy tiềmSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 21. 13năng và thế mạnh của vùng, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá đòi hỏi phải pháttriển mạnh công nghiệp nông thôn và dịch vụ trong nông nghiệp, giải quyếthợp lý mối quan hệ giữa nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) với công nghiệp vàdịch vụ trong nông nghiệp, trước hết là quan hệ giữa sản xuất và chế biến,giữa yêu cầu của sản xuất và chế biến với việc ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoahọc - kỹ thuật và công nghệ mới, giữa sản xuất chế biến với dịch vụ đầu vàocũng như tiêu thụ sản phẩm. - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo thành phần kinh tế Các thành phần kinh tế ở nông nghiệp - nông thôn ra đời và phát triểnlà tuỳ thuộc vào đặc thù của mỗi ngành và do yêu cầu của sản xuất và nângcao đời sống của dân cư nông thôn. Trên cơ sở yêu cầu và khả năng phát triểnsản xuất, mở rộng thị trường, các thành phần hợp tác với nhau, kết hợp và đanxen với nhau một cách đa dạng với nhiều loại quy mô trình độ và hình thứckhác nhau. Tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp cónhiều thành phần kinh tế như: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cáthể, tiểu chủ; kinh tế hộ gia đình..., trong đó kinh tế hộ nông dân tự chủ là đơnvị sản xuất kinh doanh chính, là lực lượng chủ yếu trực tiếp tạo ra các sảnphẩm nông- lâm- thuỷ sản cho nền kinh tế Quốc dân. - Cơ cấu kỹ thuật trong nông nghiệp Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vàcông nghệ đã tác động mạnh vào nông nghiệp - nông thôn, phá vỡ tính cổtruyền, lạc hậu, trì trệ, phân tán, manh mún, phá vỡ tính bảo thủ. Những tiếnbộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới từng bước được hoà nhập vào nôngnghiệp, tỷ lệ thuần nông giảm nhanh, nông nghiệp - nông thôn và đô thị xíchlại gần nhau hơn; cơ khí hoá và điện khí hoá nông nghiệp - nông thôn, pháttriển mạnh mạng lưới giao thông nông thôn, phát triển mạnh công nghiệp chếbiến nông sản là điều kiện để thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp, nông thônSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 22. 14có hiệu quả và là tiền đề để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá bền vững.1.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự biến đổi về vị trí, vai trò, tỷ trọng vàtính cân đối vốn có giữa các yếu tố, các bộ phận của ngành, các vùng, cácthành phần kinh tế cho phù hợp với điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội và điềukiện tự nhiên của một nước trong một giai đoạn nhất định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình phức tạp, lâu dài, thậm chírất khó khăn nhưng trong quá trình chuyển dịch đó các mối quan hệ cũ dầnđược cải biến theo những tỷ lệ phù hợp trong tất cả các ngành kinh tế cũngnhư trong nội bộ một ngành kinh tế. Thông thường chuyển dịch cơ cấu kinh tếchung diễn ra trước, sau đó mới đòi hỏi sự chuyển dịch trong nội bộ từng ngành. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình làm biến đổi cấutrúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng vàmục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ một trạng thái nhất định tớitrạng thái phát triển tối ưu để đạt được hiệu quả mong muốn, thông qua sựđiều khiển có ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quyluật khách quan.1.1.2. Sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theohƣớng sản xuất hàng hoá1.1.2.1. Hàng hoá và sản xuất hàng hoá * Hàng hoá Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn một nhu cầu nàođó của con người và dùng để trao đổi với nhau. Hàng hoá có hai thuộc tính:Giá trị và giá trị sử dụng [4] Như vậy một sản phẩm sản xuất ra được đem trao đổi thì được coi làhàng hoá, và muốn trao đổi được thì hàng hoá đó phải có một giá trị nhất địnhSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 23. 15(giá trị của hàng hoá), sản phẩm đó phải đáp ứng nhu cầu của người sử dụng(giá trị sử dụng). Sản phẩm, hàng hoá trao đổi trên thị trường chịu sự chi phốicủa hai quy luật: Quy luật cung cầu và Quy luật cạnh tranh. * Sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình pháttriển kinh tế của mỗi nước. So với nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp, kinhtế hàng hoá có những ưu việt nổi bật. Trong nền sản xuất hàng hoá, sản phẩmsản xuất ra là để bán nên nó chịu sự chi phối của các quy luật giá trị, quy luậtcung cầu và quy luật cạnh tranh, buộc các tập thể sản xuất, người sản xuấtphải tổ chức lại sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất và chất lượng sảnphẩm, hạ giá thành sản phẩm, thay đổi mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu tiêudùng của xã hội. Từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy nhanh quátrình xã hội hoá sản xuất và càng tạo điều kiện cho nền sản xuất CNH - HĐHra đời. Kinh tế hàng hoá ra đời và tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hộigắn liền với hai điều kiện: Sự phân công lao động xã hội và các hình thức sởhữu. Phân công lao động xã hội ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫnchiều sâu (Hợp tác kinh tế Quốc tế và khu vực, thị trường chung, hội nhậpkinh tế, WTO…). Hình thức sở hữu cũng được thay đổi để phù hợp với sựphát triển của lực lượng sản xuất. Sự chuyên môn hoá và phân công hợp tác Quốc tế đã trở thành một yêucầu tất yếu ngay cả trong sản xuất nông nghiệp. Ở nước ta, kinh tế hàng hoáđã ra đời nhưng vẫn ở dạng sản xuất hàng hoá nhỏ và đang từng bước thúcđẩy kinh tế hàng hoá phát triển theo chiến lược kinh tế mở: đưa nhanh cáchmạng khoa học kỹ thuật hiện đại làm cho trình độ xã hội hoá sản xuất ngàycàng được mở rộng. Sản xuất hàng hoá không chỉ dựa trên điều kiện tự nhiên,kinh tế, kỹ thuật mà đã tính đến khả năng liên kết quốc tế. Chính sự giao lưuSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 24. 16và hợp tác quốc tế đã làm cho kinh tế hàng hoá của nước ta có những bướcphát triển mới. * Tỷ suất nông sản hàng hoá Để đo lường trình độ sản xuất và trao đổi hàng hoá có thể dùng chỉ tiêu“tỷ suất nông sản hàng hoá”. Tỷ suất nông sản hàng hoá là tỷ lệ phần trămgiữa tổng lượng nông sản hàng hoá với tổng lượng nông sản phẩm sản xuất ra.1.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo nghĩa hẹp thường gắn với cách nhìnnhận từ góc độ của nội bộ ngành nông nghiệp như quan hệ giữa trồng trọt vàchăn nuôi; mối quan hệ giữa khai thác, chế biến lâm sản với trồng và tu bổ rừng. Kinh tế nông nghiệp là một chu trình khép kín mà các khâu của quátrình tái sản xuất liên quan chặt chẽ với nhau từ sản xuất đến chế biến và dịchvụ. Vì vậy, cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn cần được hiểu trong mối quan hệgiữa sản xuất, chế biến và dịch vụ phục vụ nông nghiệp. Do đó, cơ cấu kinh tếnông nghiệp phản ánh các mối quan hệ được xác lập theo một tỷ lệ cân đối cảvề số lượng và chất lượng giữa các khâu của quá trình tái sản xuất nôngnghiệp. Trong đó, khâu sản xuất nông nghiệp là khâu quyết định, nhưng khâuchế biến cũng rất quan trọng, vì nó làm tăng giá trị của sản phẩm nôngnghiệp, với tư cách là cầu nối giữa sản xuất và chế biến, dịch vụ vừa cung cấplại vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất và người chế biến. Duy trìcác mối quan hệ tỷ lệ giữa sản xuất - chế biến - dịch vụ không những đảm bảocho sản xuất nông nghiệp diễn ra bình thường mà còn làm tăng giá trị tổngsản lượng nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất hàng hóa và nhất là tăng giá trịnông sản xuất khẩu [10]. Để đánh giá được hiệu quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp phải sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu như: Cơ cấu GDP, cơ cấu laođộng, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu sử dụng đất, năng suất cây trồng, vật nuôi,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 25. 17năng suất lao động … Để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cần sử dụng chỉ tiêu tỷ suất nông sảnhàng hoá và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trong sản xuất nôngnghiệp. Căn cứ vào mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và nguồn tài liệu cho phépmà lựa chọn chỉ tiêu phù hợp để phân tích làm rõ vấn đề cần nghiên cứu. Tínhquy luật của sự biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Tỷ trọng nông nghiệptrong GDP giảm, số người lao động trong khu vực sản xuất lương thực giảmtương đối và tuyệt đối. * Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngsản xuất hàng hoá và phát triển bền vững - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, phù hợp với nhucầu của người tiêu dùng và xu thế phát triển kinh tế hội nhập quốc tế. Thực trạng kém phát triển của nền kinh tế nước ta trong quá trìnhchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ngành nông nghiệp đang phải hứngchịu và đối mặt với nhiều thách thức, bởi vì trong nền kinh tế thị trường thìthị trường luôn là yếu tố quyết định cho sự phát triển kinh tế và đặc biệt nó sẽảnh hưởng quyết định đến việc hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nóichung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng. Trong khi xã hội không ngừng pháttriển, nhu cầu của con người về nông phẩm theo đó cũng tăng lên cả về sốlượng, chất lượng, chủng loại, giá cả… Chính yêu cầu đòi hỏi của thị trường,buộc sản xuất phải đáp ứng, dẫn tới yêu cầu đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ.Thị trường và nhu cầu càng phát triển thì cơ cấu kinh tế nông nghiệp càngphải biến đổi phong phú và đa dạng hơn. Đương nhiên, nền kinh tế thị trườngcó thể thừa nhận những cơ cấu kinh tế hiệu quả, nghĩa là cơ cấu đó có khảnăng đem lại lợi nhuận và thu nhập cao nhất cho người sản xuất.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 26. 18 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại lợi ích kinhtế ngày càng cao cho nông dân phù hợp với nguyện vọng thiết thực của họ.Mặt khác, với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng hiện nay về nôngsản thì chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng tốt nhu cầutiêu dùng thiết yếu của thị trường về các mặt hàng nông sản phẩm góp phầntích cực phát triển nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và ổn định chínhtrị xã hội. - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trường, hoà nhập kinh tế khu vực vàthế giới. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoábền vững chính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trường nhằm cung cấpmột khối lượng nông sản hàng hoá ổn định cho xã hội, nguyên liệu cho côngnghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu nhằm mở rộng thị trường trong nước và quốc tế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên cơ sởvật chất kỹ thuật trong nông nghiệp và phục vụ nông nghiệp được đổi mới vàtăng cường làm cho sức sản xuất đạt mức tăng trưởng ổn định. Một số ngànhnghề và dịch vụ phát triển đã thu hút một lượng lao động nông nghiệp sangcác ngành nghề khác, bởi vì quá trình chuyển dịch sẽ thay đổi cơ cấu sản xuấthợp lý hơn, tiến bộ kỹ thuật được áp dụng do đó tỷ lệ lao động của ngànhnông nghiệp giảm đi nhưng giá trị tuyệt đối ngành đó vẫn đạt mức sản xuấtcao. Khi đời sống nông dân được nâng lên thì đây cũng chính là nơi tiêu thụchủ yếu các sản phẩm công nghiệp và sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến.Công nghiệp chế biến và dịch vụ thương mại phát triển lại là địa bàn thu hútlao động nông nghiệp. Hàng hoá nông sản phẩm có điều kiện vươn ra thịtrường thế giới.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 27. 19 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá tạo cơ sở cho việc thay đổi môi trường kinh tế xã hội nông thôn nói chungvà bộ mặt nông thôn nói riêng. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoávà bền vững đòi hỏi nông nghiệp nông thôn phải huy động tối đa các nguồnlực để xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn (từ các nguồnhỗ trợ của ngân sách Nhà nước, các tổ chức quốc tế và huy động nội lực trongdân…), giao thông nông thôn được cải thiện và mở rộng, mạng lưới điệnnông thôn được phát triển phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, công trình phúclợi được sửa sang và xây dựng mới đã nâng cao hơn đời sống văn hóa, tinhthần của nhân dân. Y tế, giáo dục ở nông thôn cũng được đầu tư vừa nâng caosức khỏe vừa nâng cao dân trí. Việc nâng cao dân trí sẽ giúp cho nông dânđược tiếp xúc với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và nền kinh tế thị trường.Chính vì vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã vàđang từng bước góp phần tích cực tới quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp và đô thị hoá nông thôn, xây dựng nông thôn mới. - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá nhằm tạo ra một nền sản xuất chuyên môn hoá, thâm canh cao và các liênkết ngành nghề chặt chẽ với nhau hơn. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm tạo ra một nềnsản xuất chuyên môn hoá cao, thâm canh tạo ra nhiều nông sản hàng hoá cóchất lượng. Những sản phẩm truyền thống và ngành nghề truyền thống cóthương hiệu của vùng được khai thác, được chuyên môn hoá sản xuất theovùng có lợi thế nhất. Những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới được ápdụng, tạo cho sản xuất một bước nhảy vọt cả về số lượng và chất lượng. Từsản phẩm của một vùng, từ chưa có thị trường ổn định và thương hiệu để cạnhSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 28. 20tranh trên thị trường đòi hỏi phải gắn sản xuất với chế biến, hình thành cáchiệp hội, tạo ra thương hiệu đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Phát triển nông nghiệp hàng hoá cũng xuất phát từ yêu cầu của CNH -HĐH; đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân;nguyên, vật liệu cho công nghiệp chế biến; tăng nhanh khối lượng nông sảnxuất khẩu; giải quyết công ăn việc làm để tăng thu nhập cho nông dân, từ đómở rộng thị trường cho sản phẩm và dịch vụ công nghiệp; bổ sung lực lượnglao động cho các ngành công nghiệp và nông nghiệp phát triển sẽ góp phầntích luỹ vốn cho CNH - HĐH. Nền kinh tế nước ta còn nghèo, khả năng đầu tư của Nhà nước có hạn,do đó chúng ta cần phải phát huy mọi tiềm năng (vốn, kỹ thuật, kinh nghiệmquản lý …) của các thành phần kinh tế để phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH.Thực tế cho thấy, vốn tiềm tàng trong nhân dân khá lớn, vốn của kiều bào ởnước ngoài có thể kêu gọi đầu tư để xây dựng đất nước không phải là nhỏ,điều quan trọng là Nhà nước phải có hướng dẫn đầu tư vào đâu, chính sáchgiải quyết mối quan hệ lợi ích cho phù hợp. Phát triển nền kinh tế hàng hoá trên một nền kinh tế mở, nhiều thànhphần, xây dựng được thương hiệu, có thị trường ổn định, có đội ngũ nhân lựctiếp thu được tiến bộ kỹ thuật mới sẽ là sức hút vốn và công nghệ từ nướcngoài (thị trường tiêu thụ và kiều hối). Chiến lược CNH hướng về sản xuấtcác sản phẩm chế biến thay thế sản phẩm nhập khẩu nâng cao chất lượng sảnphẩm trong nước thông qua chế biến và hạ giá thành để xuất khẩu. Để thực hiện chiến lược CNH nêu trên, tất nhiên phải mở rộng sản xuấtvà giao lưu hàng hoá, phát huy ưu thế từng ngành, từng địa phương, từng cơsở sản xuất…; mở rộng nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, côngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 29. 21nghiệp cơ khí chế tạo điện tử, dầu khí nhằm vừa thoả mãn nhu cầu trong nướcvừa tập trung nguồn hàng xuất khẩu lớn, hướng về xuất khẩu cần nghiên cứuxu thế rõ các đối tác để có chiến lược, sách lược khôn khéo. Ngoài ra, cần đẩymạnh hợp tác liên doanh với nước ngoài thông qua thành lập công ty, khu chếxuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao. Tất cả các công việc trên đều nhằm thu hút vốn đầu tư, tích tụ vốn, tiếpnhận công nghệ, kinh nghiệm quản lý, nhập vật tư thiết bị tiên tiến cho phépchúng ta mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất với khối lượnghàng hoá lớn, chất lượng cao có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thịtrường thế giới.1.1.3. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng sảnxuất hàng hoá Thực hiện quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở bất kỳ quốcgia nào cũng bắt đầu từ một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý. Cơ cấu đó phảiđảm bảo khai thác tối ưu lợi thế và khả năng của mỗi nước, mỗi vùng miền phùhợp với quá trình và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp Là sự biến đổi có mục đích dựa trên cơ sở phân tích cáccăn cứ lý luận và thực tiễn cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiếtđể chuyển đổi từ một cơ cấu bất hợp lý sang một cơ cấu hợp lý hơn nhằm gópphần phát triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần thực hiện đồng bộ các nội dungtrong quá trình chuyển dịch để phát triển một nền nông nghiệp theo hướng sảnxuất hàng hoá và bền vững, bao gồm: chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tếnông nghiệp; chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành; chuyển dịch cơ cấu vùng;cơ cấu thành phần kinh tế tham gia trong nông nghiệp và cơ cấu kỹ thuật. Cơ cấu ngành kinh tế của nông nghiệp nông thôn bao gồm: nông nghiệp;công nghiệp nông thôn (tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và ngànhSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 30. 22nghề truyền thống); dịch vụ nông thôn (dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống).Trong nội bộ ngành nông nghiệp lại được phân nhỏ thành những ngành nhỏ hơnnhư: trồng trọt, chăn nuôi… hoặc trong trồng trọt lại chia thành: cây lương thực,cây rau đậu thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp… Phân công lao động thực hiện càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng đượcphân chia tỷ mỉ và đa dạng, nhưng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu vẫn phảiđảm bảo năng suất lao động của khu vực sản xuất lương thực đạt được ở mứcnhất định. Trước hết đảm bảo số lượng và chất lượng lương thực cần thiết chotoàn xã hội, sau đó mới tạo nên sự phân công giữa những người sản xuất lươngthực, người làm chăn nuôi và những người sản xuất nguyên liệu cho côngnghiệp, tạo nên sự phân công lao động giữa những người sản xuất nông nghiệpvà người làm ngành khác. Như chúng ta đã biết, theo kinh tế chính trị học của Mác - Lênin thì sựphân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo vùng,lãnh thổ. Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên nhữngvùng lãnh thổ nhất định. Như vậy, xác định cơ cấu vùng lãnh thổ là bố trí cácngành sản xuất và dịch vụ theo không gian và địa điểm cụ thể, phù hợp nhằmkhai thác tối ưu mọi ưu thế, tiềm năng to lớn của mỗi vùng, lãnh thổ. Hìnhthành các vùng chuyên môn hoá và sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn,có hiệu quả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hoá khácgắn với cơ cấu kinh tế của cả nước và của mỗi vùng miền. Để hình thành cácvùng sản xuất chuyên môn hoá tập trung mang lại hiệu quả kinh tế cao, trướchết cần hướng vào những vùng có lợi thế so sánh về sự thuận lợi trong việcphát triển từng loại cây con cụ thể, vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, có điềukiện mở rộng thị trường tiêu thụ và thị trường các yếu tố đầu vào, thuận lợicho việc mở rộng giao lưu kinh tế với các vùng trong và ngoài khu vực, trongSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 31. 23nước cũng như trên thế giới để có thể tiếp cận một cách nhanh nhất nhữngphát triển của thị trường hàng hoá và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế cũng là một nội dung hết sứcquan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấukinh tế nông nghiệp nói riêng. Cần đẩy mạnh việc đa dạng hoá các thành phầnkinh tế tham gia trong nông nghiệp nhằm phát triển một nền nông nghiệp hiệnđại, đa dạng theo hướng sản xuất hàng hoá và bền vững. Tiếp tục phát huyquan điểm nền kinh tế nhiều thành phần trong lĩnh vực nông nghiệp, nôngthôn, trong đó khẳng định thành phần kinh tế hộ nông dân tự chủ là đơn vị sảnxuất kinh doanh chính, là lực lượng chủ yếu, trực tiếp tạo ra các sản phẩmnông - lâm - thuỷ sản cho nền kinh tế quốc dân mà Đại hội Đảng đã đề ra.Trong kinh tế hộ gia đình cần phát triển mạnh kinh tế trang trại bằng cáchhình thành đa dạng các loại hình trang trại phù hợp với điều kiện, đặc điểmsản xuất của từng vùng và từng hộ. Trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của khoa học công nghệ và kỹthuật đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung và cơ cấu kinh tếnông nghiệp nói riêng, phá vỡ tính cổ truyền, lạc hậu trì trệ trong sản xuất nôngnghiệp. Trong nông nghiệp đã và đang từng bước ứng dụng các tiến bộ khoa họccông nghệ vào sản xuất, làm cho tỷ lệ thuần nông giảm nhanh, nông nghiệp,nông thôn và đô thị xích lại gần nhau hơn. Trình độ cơ giới hoá, điện khí hoánông nghiệp, nông thôn được nâng cao, mạng lưới giao thông nông thôn pháttriển mạnh, công nghệ sinh học và hoá học được đưa vào sản xuất nông nghiệp,phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản nhằm thực hiện thắng lợi côngcuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.1.1.4. Tác động của hội nhập kinh tế Quốc tế đến sản xuất hàng hoá vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá. Gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với hàng loạtSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 32. 24thách thức, trong đó có thách thức rất lớn đối với các doanh nghiệp nôngnghiệp. Nếu không có những biện pháp hỗ trợ tích cực, đa số các mặt hàngnông sản Việt Nam khó có thể cạnh tranh được với thị trường trong nước vàquốc tế, điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập quốc dân và nhất làđến đời sống dân cư Việt Nam. Tìm hiểu những quy định của WTO và dựatrên những cam kết liên quan đến nông nghiệp khi Việt Nam gia nhập WTO,đánh giá đúng sức cạnh tranh hiện tại và tương lai của từng mặt hàng nôngsản, có những hỗ trợ phù hợp đang thực sự là vấn đề khó khăn nhưng vô cùngcần thiết đối với Việt Nam trên “sân chơi” của WTO. Thực hiện chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu, Việt Nam đã pháthuy lợi thế sẵn có của một số mặt hàng nông sản, tạo ra những mặt hàng cónăng lực sản xuất lớn sức cạnh tranh cao và kim ngạch xuất khẩu xếp hạngcao trên thế giới như: hồ tiêu đứng thứ nhất, gạo và điều đứng thứ 2, chè vàthuỷ sản đứng thứ 7 trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông,lâm, thuỷ sản giai đoạn 2001- 2006 tăng 14,97%/ năm. Nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu tới hơn 80 nước trên thế giới,hầu hết là các nước thành viên WTO. Châu Á là thị trường lớn nhất của nôngsản Việt Nam, sau đó là Châu Âu và Bắc Mỹ. Gia nhập WTO, Việt Nam đã phải đàm phán tất cả các nội dung liênquan đến nông nghiệp, cam kết điều chỉnh các chính sách trong nước cho phùhợp với quy định của WTO, cam kết mở cửa thị trường, mở rộng quyền kinhdoanh xuất khẩu, quyền phân phối cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước,giảm thuế hàng nông sản, không trợ cấp xuất khẩu nông sản. Lĩnh vực nôngnghiệp Việt Nam có nguy cơ phải đối mặt với sự cạnh tranh quá mạnh của cácnền sản xuất lớn trong khi sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp cũngnhư các doanh nghiệp nông nghiệp còn quá yếu, do nhiều nguyên nhân: nềnnông nghiệp Việt Nam đang ở trình độ phát triển thấp, quy mô sản xuất nhỏSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 33. 25bé, manh mún, năng suất, chất lượng nông sản chưa cao; phần lớn các doanhnghiệp Việt Nam hạn hẹp về tài chính, thiết bị và công nghệ lạc hậu, chưa cókinh nghiệm tổ chức sản xuất và kinh doanh; vùng nguyên liệu quy mô nhỏbé, phân tán, chưa được đầu tư tương xứng với nhu cầu sản xuất. Khi gia nhậpWTO, mặc dù Việt Nam không còn bị phân biệt đối xử với các thành viêntrong WTO, nhưng rào cản Quốc tế chưa phải là hết, thậm chí còn có nhữngrào cản càng lớn hơn trước như: rào cản về kỹ thuật và vệ sinh an toàn thựcphẩm; rào cản chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ thương mại … Trong điều kiện mới, khi đã có những cam kết với WTO, việc lựa chọnnhững biện pháp hỗ trợ cho hàng nông sản Việt Nam ở cả thị trường trongnước, trong khu vực và thị trường Quốc tế cần phải triệt để tận dụng nhữngưu đãi đã dành được trong quá trình đàm phán; đồng thời tuân thủ những quyđịnh khắt khe của WTO về các biện pháp hỗ trợ từ phía Chính phủ, chínhquyền các cấp và thực hiện các biện pháp hỗ trợ giúp hàng nông sản ViệtNam vượt qua được rào cản thương mại của thị trường thế giới. Đồng thời tạomôi trường trong nước nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nambằng cách tăng sức hấp dẫn đối với đầu tư của mọi thành phần kinh tế vàokhu vực nông nghiệp, nông thôn để hàng nông sản có chất lượng cao.1.1.5. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớngsản xuất hàng hoá một số nƣớc trên thế giới và Việt Nam1.1.5.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc Nằm trong khu vực và liền kề với biên giới nước ta, Trung Quốc cónhiều điểm tương đồng về tự nhiên, kinh tế - xã hội, chính trị như nước ta,nhưng họ đã lựa chọn được những bước đi và những giải pháp phát triển kinhtế- xã hội nông thôn phù hợp và đã thu được những kết quả vượt bậc từ 1950đến nay. Khi mới giành độc lập Trung Quốc cũng là một nước có xuất phátSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 34. 26điểm từ một nền nông nghiệp lạc hậu, dân số đông nhất thế giới, diện tích đấtnông nghiệp bình quân đầu người 900 m2, thấp hơn nước ta. Quá trình tìm kiếm con đường đi lên CNH, HĐH cho nền kinh tế củaTrung Quốc cũng hết sức gian truân và đã phải trả giá. Do kiên trì đường lốiphát triển nên cuối năm 1978 các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đạt đượcnhững thành công ban đầu về hoạch định chính sách và đường lối phát triểnkinh tế nông thôn bằng Nghị quyết hội nghị TW3 khoá XI tháng 12 năm1978. Một trong những quyết sách đó là khoán hộ trong sản xuất nông nghiệp. Khoán hộ là một cơ chế tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp kiểu mớinhằm giải phóng các yếu tố sản xuất, khuyến khích lợi ích vật chất của nôngdân, đổi mới hoạt động kinh doanh của các công xã nhân dân và các xínghiệp Quốc doanh nông nghiệp ở nông thôn Trung Quốc. Chủ trương khoán hộ đã được nông dân thực hiện ở quy mô làng xã,đến năm 1978 được mở rộng đến quy mô tỉnh. Hộ nông dân được coi là đơnvị kinh tế tự chủ và đi vào sản xuất hàng hoá mang tính chuyên sâu và ngàycàng lớn. Cơ chế khoán hộ đã góp phần đưa nền nông nghiệp Trung Quốc thoátkhỏi trì trệ, sa sút kéo dài hơn 30 năm kể từ khi giành được độc lập, đã hoànsinh cho cuộc sống của nông dân và góp phần tích luỹ nông thôn cả nước, làcơ sở kinh tế xã hội để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướngCNH, phát triển sản xuất hàng hoá và bền vững. Từ đó, Trung Quốc xác định để chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nôngthôn phục vụ CNH, HĐH đất nước cần phải rút ra những bài học kinh nghiệm. Thứ nhất, phải phát triển nông nghiệp toàn diện trên cơ sở đảm bảo đượcan toàn lương thực cho đời sống xã hội nói chung và khu vực nông thôn nói riêng. Thứ hai, mở rộng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống vàcác ngành công nghiệp, xây dựng khác để vừa phục vụ sản xuất nông nghiệp,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 35. 27bảo quản, chế biến, xuất khẩu nông sản hàng hoá, vừa thu hút lao động dưthừa trong nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân. Thứ ba, thực hiện nhất quán cơ chế thị trường ở nông thôn có sự quảný của nhà nước trong việc dịch vụ cung ứng vật tư, tiền vốn, kỹ thuật và cáclao vụ khác, đồng thời còn tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua các tổ chứckinh tế tập thể (HTX), thôn, xã, nhà nước và một bộ phận nhỏ do nông dân tựnguyện lập ra trên các vùng nông thôn Trung quốc. Nhà nước luôn duy trì được vai trò quản lý vĩ mô trong việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn để dẫn đường các cơ cấu kinh tếđịa phương có bước đi phù hợp với cơ cấu nền kinh tế, đồng thời đảm bảonguyên tắc định hướng cho quá trình chuyển dịch này.1.1.5.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản Tuy nằm trong vùng Đông Á, song Nhật Bản lại có điều kiện tự nhiên,kinh tế- xã hội lúc xuất phát khá giống nước ta. Người dân Nhật Bản nổi tiếnglà cần cù, chịu khó và rất thông minh sáng tạo, nhưng trước đây họ vẫn phảichấp nhận chế độ khẩu phần lương thực, thực phẩm do Mỹ cung cấp. Có thểnói đây cũng là một tình cảnh chung của các nước Châu Á trước khi bước vàothời kỳ phát triển. Mặc dù vậy nhân dân Nhật Bản đã vượt lên nhanh chóngvà trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thếgiới. Có thể nói Chính phủ Nhật Bản đã sớm tìm ra được hướng đi và lựachọn bước đi thích hợp cho nền kinh tế nói chung, trong đó có ngành nông nghiệp. Ngay từ những năm 50, trong chính sách khôi phục kinh tế, Chính phủNhật Bản đã coi nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng là quan trọnghàng đầu. Trong đó trọng tâm là thực hiện an toàn lương thực, thực phẩm vàphát triển tổng hợp các cây, con khác. Vì vậy, đến đầu thập kỷ 80, nôngnghiệp Nhật Bản không những sản xuất đủ ăn mà còn dự trữ được 6 triệu tấnnông sản.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 36. 28 Năm 1987, Chính phủ Nhật Bản đã triển khai chương trình xây dựngvùng nông nghiệp đặc thù và chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá trêncơ sở tự nguyện của nông dân trong vùng. Đồng thời bằng tiềm lực kinh tế tolớn, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện tốt chính sách trợ giúp nông nghiệp vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Với quan điểmcoi phát triển thị trường nông thôn là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp nên Chính phủ đã đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống giaothông nông thôn khá hoàn chỉnh. Đồng thời giao cho chính quyền địa phươngxây dựng các hệ thống kênh mương phục vụ sản xuất nông nghiệp và chủtrương cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất tín dụng. Sản xuất nông nghiệp ổn định đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình phâncông lại lao động trong khu vực nông thôn. Đồng thời, Nhà nước khuyếnkhích phát triển ngành nghề tại các hộ gia đình, các làng, xã có ngành nghềtruyền thống. Các tổ chức sản xuất này đều hướng vào hàng hoá tinh, mẫu mãđẹp, giá thành hạ, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Từ các mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn Nhật Bảnrút ra bài học kinh nghiệm là: khuyến khích phát triển sản xuất hàng hoá trongcác nông trại theo quy luật kinh tế thị trường có sự điều tiết của Chính phủ.Đồng thời bằng tiềm lực kinh tế có được, Chính phủ hỗ trợ nông dân ứngdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất và chếbiến nông sản hàng hoá, và thực hiện rộng rãi mô hình hệ thống công nghiệpba tầng nông thôn thành các khu vực sản xuất công nghiệp vệ tinh và thực hiệnđô thị hoá nông thôn.1.1.5.3. Kinh nghiệm của Thái Lan Thái Lan là một nước nằm trong khu vực với nước ta, có diện tích canhtác 19,62 triệu ha. Đến nay đã trở thành một nước phát triển trong khu vựcmặc dù hàng chục năm trước Thái Lan cũng chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 37. 29 Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Thái Lan đã xác định quanđiểm nông thôn là xương sống của đất nước, Chính phủ đã chấp nhận nhữnggiải pháp đặc biệt để giải quyết tình hình tụt hậu của nông nghiệp đất nướctrong kế hoạch 5 năm lần thứ tư. Đồng thời Chính phủ còn khuyến khíchchiến lược CNH đất nước là đồng thời phát triển cả công nghiệp nông thôn đểthực hiện chủ trương đa dạng hoá nền kinh tế hướng vào sản xuất sản phẩmcho xuất khẩu. Do thay đổi chính sách phát triển kinh tế nên các tiềm năngtrong nông nghiệp bắt đầu phát huy tác dụng và đạt được những kết quả rấtđáng kể sau một thời gian. Đến nay, nông sản hàng hoá của Thái Lan đã xuấtkhẩu đến nhiều nước trên thế giới, có những mặt hàng xuất khẩu xếp thứ 2,thứ 3 trên toàn thế giới. Qua quá trình CNH, HĐH nông nghiệp- nông thôn nhằm chuyển dịchcơ cấu kinh tế nông nghiệp, Thái Lan đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: - Thực hiện đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp trên cơ sở ưu thế và tàinguyên thiên nhiên để phục vụ cho mục tiêu xuất khẩu, trong đó vẫn đảm bảosản xuất lương thực. - Đầu tư kịp thời chế biến nông sản hiện đại bằng nguồn vốn vay hayhợp tác với bên ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu, đảm bảoquyền lợi và tránh được rủi ro cho nông dân, giữ được chữ tín với khách hàng. Qua các kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của cácnước trên chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm tổng quát: Một là, trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, Chính phủ của hầu hếtcác nước đều có chủ trương coi trọng sản xuất nông nghiệp, lấy tăng trưởngnông nghiệp làm cơ sở để ổn định đời sống xã hội và tích luỹ bước đầu chocông nghiệp. Hai là, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cácnước đã từng bước thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp - nông thôn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 38. 30 Ba là, kinh tế nông thôn chỉ có thể phát triển khi mọi thành phầm kinhtế trong khu vực hướng vào sản xuất hàng hoá, trong đó lực lượng sản xuấtchủ yếu là nông dân tham gia sản xuất nông nghiệp. Bốn là, nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp các nướccho thấy, vốn đầu tư là quá trình then chốt của phát triển, do đó Chính phủcác nước có nhiều biện pháp hỗ trợ vốn đầu tư cho nông dân. Năm là, để thực hiện đô thị hoá nông thôn, các nước còn chủ trươngxây dựng cơ sở hạ tầng, làm cho nông dân không chỉ có thu nhập ngày càngcao mà còn tạo dựng cuộc sống văn hoá xã hội và môi trường văn minh.1.1.5.4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá tại Việt Nam Thực tế cho thấy trong nhiều năm qua nền nông nghiệp Việt Nam đãchuyển đổi cơ bản thành công từ một nền nông nghiệp lạc hậu, truyền thống,sản xuất mang tính tự cấp, tự túc sang nền nông nghiệp hàng hoá và phát triểntoàn diện. Thực hiện công cuộc đổi mới nền nông nghiệp nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu nổi bật, tạo ra những bước chuyển biến quan trọng cũng nhưcơ hội và thách thức mới về cục diện nông nghiệp, nông thôn. Những thành tựunổi bật đó là: - Sản xuất lương thực tăng nhanh và ổn định cả về diện tích và năngsuất, bảo đảm an toàn lương thực ở tầm Quốc gia. Từ một nước phải nhậpkhẩu 70- 80 vạn tấn lương thực, từ năm 1990 đến nay đã trở thành một nướcxuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Đây là tiền đề quan trọng để chuyển đổi cơcấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá góp phần tăng thunhập, nâng cao đời sống cho nông dân và phát triển kinh tế xã hội nông thôn. - Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển biến tích cực theo hướngsản xuất hàng hoá có hiệu quả, nhằm khai thác tối đa tiềm năng của cả nướcvà từng vùng địa phương phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cảSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 39. 31nước. Trong năm 2007 cơ cấu các ngành kinh tế trong nông thôn được chuyểndịch hợp lý, Nông- Lâm- Thuỷ sản chiếm 55%, Công nghiệp- Dịch vụ chiếm45%. Trong sản xuất nông nghiệp, trồng trọt chiếm 68%, chăn nuôi 26% vàdịch vụ 6% - Trong trồng trọt đã chú trọng phát triển các loại cây công nghiệp ngắnngày và dài ngày, phát triển các loại cây đặc sản phù hợp với điều kiện, tiềmnăng và lợi thế của từng vùng. Hình thành một số vùng chuyên môn hoá tậptrung ở một số vùng miền như cây cà phê, cao su, mía đường, cây ăn quả, câydược liệu, cây rau đậu thực phẩm… - Phát triển nhanh chăn nuôi theo hướng hiệu quả, bền vững và an toàn,đảm bảo tốc độ tăng trưởng 8 - 10%. Phát triển các loại gia súc gia cầm sảnxuất hàng hoá theo hướng hình thành quy mô tập trung hình thức trang trại,nuôi công nghiệp, gắn với cơ sở chế biến tập trung. Phát triển nuôi lợn chấtlượng cao ở một số vùng có lợi thế theo hướng đảm bảo an toàn dịch bệnhchủ yếu giữ vững thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu. - Thuỷ sản phát triển nhanh và có xu hướng tăng tỷ trọng ngành nàytrong cơ cấu nông nghiệp. Mở rộng nuôi trồng thuỷ sản bằng cách kết hợpnhiều hình thức nuôi phù hợp với tiềm năng của từng vùng, từng địa phương,đồng thời phát triển các loài thuỷ đặc sản mang giá trị xuất khẩu và giá trịkinh tế cao. Đẩy mạnh nuôi cá lồng trên biển ở những địa phương có điềukiện phát triển. - Cơ cấu kinh tế vùng trên cả nước đã có nhiều tiến bộ. Nhiều địaphương đã giảm đáng kể tỷ lệ thuần nông, chuyển đổi nhanh cơ cấu cây trồng,vật nuôi phù hợp nhằm khai thác tốt nhất lợi thế và tiềm năng của vùng. Cơcấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, gia tăngtỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi hàng hoá và pháttriển mạnh nuôi trồng thuỷ sản.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 40. 32 Những kết quả đạt được trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp của Việt Nam trong những năm qua đã góp phần đáng kể vàoviệc tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân Việt Nam, đóng gópkhông nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Như vậy, chuyểndịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là quá trìnhchuyển biến vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa các bộ phận cũng như trong từngbộ phận của sản xuất nông nghiệp. Đối với những nước có nền kinh tế pháttriển chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá làcon đường duy nhất để tiến hành phân công lại lao động, thực hiện xã hội hoásản xuất, phát triển kinh tế hàng hoá, tạo thêm việc làm, ổn định và cải thiệnđời sống nhân dân. Quá trình biến đổi này không chỉ chịu ảnh hưởng của tiếnbộ khoa học kỹ thuật - công nghệ, thị trường, vai trò điều tiết của Nhà nướcmà còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của mỗi vùng miền khác nhau. Nghệ An là một tỉnh miền trung thuộcnước Việt Nam nên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh vừa cónhững đặc điểm chung của cả nước vừa mang đặc trưng riêng của vùng vàcủa tỉnh.1.2 - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU1.2.1- Các phƣơng pháp nghiên cứu1.2.1.1. Phương pháp thu thập thông tin * Thu thập thông tin thứ cấp - Phần tổng quan tham khảo các tài liệu đã phát hành từ năm 1996 đến nay - Phần thực trạng thu thập từ các số liệu, tài liệu có sẵn tại Cục Thốngkê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBNDtỉnh Nghệ An...... * Thu thập thông tin sơ cấp: - Điều tra phỏng vấn các hộ nông dân sảnxuất đại diện cho các vùng ,địa phương trong tỉnh.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 41. 33 - Dựa trên cơ sở tham khảo và thu thập thông tin, ý kiến chuyên môncủa các chuyên gia có kinh nghiệm về phát triển kinh tế nông nghiệp vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, qua đó hiểu và nắm bắt được thựctrạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại tỉnh Nghệ An đồngthời xác định cơ sở đề ra các giải pháp mang tính khả thi đối với quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở cácnăm tiếp theo.1.2.1.2. Phương pháp thống kê kinh tế Dùng để phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố: lao động, đất đai, khíhậu, thời tiết, thị trường, công nghệ, chính sách của Nhà nước... tới quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.1.2.1.3. Phương pháp dự đoán, dự báo Việc dự đoán, dự báo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Nghệ Anđến năm 2020 chủ yếu dựa vào phương pháp dự báo thành phần thông qua tốcđộ tăng trưởng và sau đó tính lại cơ cấu.1.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải nhằm đạt tới mục tiêuhiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế được đo lường bằng sự so sánh giữa kếtquả sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Trên cơ sởđó, hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được thể hiện cụ thểqua hệ thống các nhóm chỉ tiêu sau: * Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh - Giá trị sản xuất và tỷ trọng giá trị sản xuất của các ngành, các bộ phậntrong kinh tế nông nghiệp - Giá trị tăng thêm và tỷ trọng giá trị tăng thêm của các ngành, các bộphận trong kinh tế nông nghiệpSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 42. 34 Nhóm chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa các bộ phận của nềnkinh tế, đồng thời thể hiện sự thoả mãn nhu cầu của xã hội về sản phẩm docác bộ phận của khu vực kinh tế nông nghiệp đảm nhận. Ngoài ra còn phảnánh tỷ trọng giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế và các bộ phậncấu thành chúng trong kinh tế nông nghiệp. Các chỉ tiêu thuộc nhóm này thểhiện sự tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, có nghĩa là sự lớn lên của các yếu tố,các sản phẩm kinh tế nông nghiệp trong một thời gian nhất định * Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - Các chỉ tiêu trực tiếp: + Tăng trưởng kinh tế (GDP bình quân đầu người) chung và của từngngành trong kinh tế nông nghiệp + Giá thành sản phẩm, lợi nhuận ròng của từng loại sản phẩm, từngngành và từng bộ phận + Năng suất lao động của từng ngành, từng loại sản phẩm trong kinh tếnông nghiệp - Các chỉ tiêu gián tiếp + Diện tích và cơ cấu đất đai + Vốn và cơ cấu vốn + Lao động và cơ cấu lao động + Năng suất và cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi + Cơ cấu các dạng sản phẩm; Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá * Một số chỉ tiêu khác Ngoài các nhóm chỉ tiêu trên, khi đánh giá cơ cấu kinh tế nông nghiệpcòn sử dụng các chỉ tiêu: Tỷ lệ hộ đói nghèo ở nông thôn; số lao động và tỷ lệlao động thất nghiệp; tỷ lệ đất đai chưa được sử dụng; tỷ lệ đất trống đồi núitrọc; trình độ văn hoá, trình độ khoa học kỹ thuật, ngành nghề của dân cư vàlao động ở nông thôn; mức độ bệnh tật của dân cư nông thôn…Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 43. 35 CHƢƠNG 2THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH TẾ NÔNGNGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI TỈNH NGHỆ AN2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỈNH NGHỆ AN2.1.1. Đặc điểm tự nhiên2.1.1.1. Vị trí địa lý Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tựnhiên 16.488,45 km2 và dân số hơn 3,1 triệu người, chiếm hơn 5,1% diện tíchtự nhiên và hơn 3,64% dân số cả nước. Về mặt hành chính có 17 huyện (gồm7 huyện đồng bằng ven biển và 10 huyện miền núi), thành phố Vinh và thị xãCửa Lò, với 473 xã, phường và thị trấn, trong đó có 214 xã, thị trấn ở cáchuyện miền núi. Giáp tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh ở phía Nam,Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ở phía Tây với 419 km đường biêngiới và biển Đông ở phía Đông. Thành phố Vinh là trung tâm kinh tế, văn hoácủa tỉnh và của khu vực Bắc Trung Bộ. Với vị trí tiếp nối giữa vùng Bắc Bộvà các tỉnh phía Nam của đất nước, Nghệ An có điều kiện đóng vai trò quantrọng trong mối giao lưu kinh tế - xã hội Bắc - Nam, dễ dàng tiếp thu nhữngyếu tố tích cực và hội nhập với nền kinh tế cả nước. Vị trí địa lý nói trên cho phép Nghệ An đóng vai trò cửa ngõ giao lưukinh tế - xã hội giữa vùng Bắc Trung Bộ với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ, vàthực tế Nghệ An đã thực hiện vai trò này nhiều năm nay. Thành phố Vinh củatỉnh là một trong những trung tâm kinh tế, giáo dục và khoa học công nghệcủa vùng. Với việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển Thànhphố Vinh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung Bộ, Thànhphố Vinh nói riêng và Nghệ An nói chung sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọngđối với vùng trong tương lai. Vị trí của Nghệ An đối với vùng sẽ ngày càngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 44. 36quan trọng hơn do sẽ góp phần ngày càng nhiều vào phát triển công nghiệp,nông nghiệp và dịch vụ của toàn vùng.2.1.1.2. Đất đai, khí hậu, thuỷ văn * Đất đai Bảng 2.1. Hiện trạng sử dụng quỹ đất tỉnh Nghệ An năm 2007 TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 1.648.845 100 I Đất nông- lâm nghiệp và NTTS 1.402.577 85,08 1 Đất sản xuất nông nghiệp 433.277,64 30,89 Đất trồng cây hàng năm 193.771,56 44,74 Đất trồng lúa 125.598,78 28,98 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 706,99 0,16 Đất trồng cây hàng năm khác 57.345 13,23 Đất trồng cây lâu năm 55.855, 31 12,89 2 Đất lâm nghiệp 959.359,70 68,39 Đất rừng sản xuất 360.609, 30 37,65 Đất rừng phòng hộ 260.080,50 27,12 Đất rừng đặc dụng 156.669,90 36,23 3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 8.933,82 0,63 4 Đất làm muối 870,95 0,06 5 Đất nông nghiệp khác 134,89 0,009 II Đất phi nông nghiệp 118.489,48 7,19 1 Đất ở 16.500,35 13,93 Đất ở tại nông thôn 14.231, 46 86,25 Đất ở tại đô thị 2.268,89 13,75 2 Đất chuyên dùng 52.216,71 44,07 3 Sông suối và mặt nước chuyên dùng 38.649,14 32,62 4 Đất phi nông nghiệp khác 8.123,28 32,31 III Đất chưa sử dụng 127.418,52 7,73 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An * Địa hình: Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn có địa hình đa dạng, phứctạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông suối. Về tổng thểđịa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Với đặc điểm địa hình nhưSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 45. 37trên là một trở ngại lớn cho việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ,đặc biệt là các tuyến giao thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn chophát triển lâm nghiệp và bảo vệ đất đai khỏi bị xói mòn, gây lũ lụt cho nhiềuvùng trong tỉnh. Các dòng sông hẹp và dốc gây khó khăn cho phát triển vậntải đường sông và hạn chế khả năng điều hòa nguồn nước trong các mùa phụcvụ cho canh tác nông nghiệp. Tuy nhiên hệ thống sông ngòi có độ dốc lớn với117 thác nước lớn nhỏ là tiềm năng rất lớn cần được khai thác để phát triểnthủy điện và điều hòa nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh. * Khí hậu, thủy văn Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và chialàm 2 mùa rõ rệt: Mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa. - Chế độ nhiệt Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23- 240C, sự chênh lệch nhiệt độ giữacác tháng trong năm khá cao. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng nhất (tháng6 đến tháng 7) là 330C, nhiệt độ cao tuyệt đối 42,70C. Nhiệt độ trung bình cáctháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) là 190C, nhiệt độthấp tuyệt đối là - 0,50C. Số giờ nắng trung bình/năm là 1.500- 1.700 giờ.Tổng tích ôn là 35000C - 40000C. - Chế độ mưa Nghệ An là tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh khác ở miềnBắc. Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.200- 2.000 mm/năm,phân bổ cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông và chia làm hai mùa rõrệt: Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và mùa mưa (từ tháng 5 đếntháng 10). - Độ ẩm không khí Trị số độ ẩm tương đối trung bình năm dao động từ 80- 90%.Chênhlệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18- 19%,vùngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 46. 38có độ ẩm cao nhất là thượng nguồn sông Hiếu, vùng có độ ẩm thấp nhất làvùng phía Nam(huyện Kỳ Sơn, Tương Dương). Lượng bốc hơi từ 700- 940mm/năm. - Chế độ gió Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: Gió mùa Đông Bắcvà gió Phơn Tây Nam. - Thủy triều Nghệ An có chế độ bán nhật triều, mực nước thủy triều trung bình là0m, cực đại 1,27, cực tiểu 0,73 m. Nhìn chung Nghệ An nằm trong vùng khí hậu có nhiều đặc thù, phân dịrõ rệt trên toàn lãnh thổ và theo các mùa, tạo điều kiện cho nhiều loại câytrồng phát triển. Song khí hậu có phần khắc nghiệt, đặc biệt là bão và gió TâyNam gây trở ngại không nhỏ cho sự phát triển chung, nhất là sản xuất nông nghiệp. Nguồn nước chính của Nghệ An dựa vào nguồn nước mặt và nguồnnước ngầm. Nguồn nước mặt chủ yếu là nước mưa và nước của hệ thống cácsông suối, hồ đầm. Do lượng mưa bình quân hàng năm lớn từ 1.200- 2.000mm, nên nguồn nước mặt dồi dào. Tổng trữ lượng nguồn nước có trên 20 tỷm3. Bình quân trên 1 ha đất tự nhiên có 13.064 m3 nước mặt. Nghệ An có hệ thống sông suối dày đặc, mật độ lưới sông từ 0,6 - 0,7km/ km2. Sông Cả là sông lớn nhất tỉnh, dài 375 km có diện tích lưu vực17.730 km2, chiếm 80% diện tích mặt nước toàn tỉnh. * Tài nguyên thiên nhiên Tổng diện tích rừng của Nghệ An là 745.557 ha, với tổng trữ lượng gỗhiện còn khoảng 50 triệu m3, trên 1.000 triệu cây tre, nứa, mét là nguồnnguyên liệu khá lớn cho khai thác lâm nghiệp và phát triển các ngành côngnghiệp dựa trên tài nguyên rừng. Rừng nguyên sinh có vườn quốc gia Pù Mátdiện tích 91.113 ha, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống diện tích 50.000 ha,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 47. 39khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt diện tích trên 60.000 ha, với nhiều động vậtvà thực vật quý hiếm có tiềm năng phát triển du lịch, nhất là du lịch sinh thái Nghệ An có 82 km bờ biển và diện tích là 4.230 hải lý vuông mặt nước,6 cửa lạch, có trên 3.000 ha diện tích nước mặn lợ, 12.000 ha ao hồ mặt nướcngọt, lợ có khả năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Đồng muối Nghệ An cókhả năng phát triển 900 - 1.000 ha với sản lượng khoảng 100.000 tấn/năm. bờbiển Nghệ An có nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng là Cửa Lò, Nghi Thiết, QuỳnhPhương …có tiềm năng lớn để phát triển du lịch biển có hiệu quả.2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội2.1.2.1. Tình hình dân số và lao động Tính đến cuối năm 2007, dân số Nghệ An có trên 3,1 triệu người, là địaphương đông dân thứ tư trong cả nước (sau Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh vàThanh Hoá), tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1%/năm, mật độ dân số trung bình184 người /km2. Tỷ lệ dân số sống ở thành thị chiếm 10,7%, dân số hoạt độngnông nghiệp chiếm 75,4% dân số toàn tỉnh. Dân cư phân bố không đồng đều, ở vùng miền núi dân cư thưa thớt,trong khi đó ở vùng đồng bằng ven biển và thành thị mật độ dân cư cao. Chấtlượng dân số ngày càng được nâng cao, trí lực của dân số đạt cao hơn mứcbình quân của vùng. Tỷ lệ dân trên 15 tuổi biết chữ trong tổng số dân đạt97%. Các chỉ số về thể lực như chiều cao, cân nặng có nhiều tiến bộ qua các năm. Tổng số lực lượng lao động của Nghệ An trên 1,5 triệu người. Trongđó, lực lượng lao động được đào tạo chiếm 32,5%, lực lượng lao động đượcđào tạo nghề chiếm 21,2%. Lao động trong các ngành nông - lâm - thủy sảnhơn 1.091.230 người, chiếm khoảng 70,44%, lao động khu vực thành thị tăngtương đối nhanh cùng với xu hướng đô thị hoá trong tỉnh (từ 6,71% năm 2000lên khoảng 11,0% năm 2007) tuy nhiên tỷ lệ này còn rất thấp so với mức bìnhquân trong cả nước khoảng 20,2%.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 48. 40 Bảng 2.2. Dân số và lao động của tỉnh Nghệ An năm 2007 Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lƣợng Cơ cấu (%) 1. Tổng số hộ Hộ 679.530 100,00 - Hộ nông nghiệp Hộ 532.139 78,31 - Hộ phi nông nghiệp Hộ 141.391 21,69 2. Tổng số nhân khẩu Nhân khẩu 3.101.239 100,00 Trong đó: Dân tộc thiểu số Nhân khẩu 312.894 10,09 3. Tổng số lao động Ngh. người 1.576 100,00 - Lao động nông nghiệp Ngh. người 1.091 70,44 - Lao động phi nông nghiệp Ngh. người 461 29,54 Nguồn: Số liệu điều tra của Cục Thống kê tỉnh Nghệ An Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm hơn so với tốc độchuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ lệ lao động nông- lâm- thuỷ sản tuy giảmnhưng vẫn còn ở mức cao (năm 2006 chiếm hơn 70,4% lao động làm việc), tỷlệ này lớn so với mức bình quân trong cả nước (khoảng 56%) và vùng BắcTrung Bộ (khoảng 67%) [25]. Lao động Công nghiệp- dịch vụ tăng khá nhanhtrong nhiều năm qua (bình quân 6,1%/năm, riêng giai đoạn 2001- 2005 tăng6,26%/năm), nhưng đến nay mới chiếm 8,1% lao động làm việc, lao độngdịch vụ tăng nhanh nhất bình quân 7,22%/năm. Cơ cấu lao động trên cho thấy chủ yếu vẫn là lao động nông nghiệp(chiếm trên 70%), lao động công nghiệp, dịch vụ còn ít (trên 20%).Tỷ lệ sửdụng thời gian lao động ở nông thôn của tỉnh Nghệ An chưa cao, tuy có tănglên trong những năm gần đây, tỷ lệ thất nghiệp thành thị giảm đáng kể.2.1.2.2. Kết cấu hạ tầng nông thôn Những năm qua kết cấu hạ tầng của tỉnh được quan tâm đầu tư, bộ mặtđô thị và nông thôn được thay đổi nhanh chóng, nhất là vùng miền núi.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 49. 41 * Giao thông Việc xây dựng quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch mạng lướigiao thông đường bộ (bao gồm các tuyến Quốc lộ, tỉnh lộ, đường liênhuyện…) cơ bản phù hợp với điều kiện cụ thể của Nghệ An đã góp phần quantrọng vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phong trào giao thông nông thôn phát triển mạnh đã góp phần thay đổibộ mặt nông thôn, từ năm 2000 đến nay các huyện đã huy động sức dân xâydựng hơn 1.200 km đường nhựa và hơn 3.790 km đường bê tông, hơn 404 cầuvà tràn dài 6.497m, tính đến nay có hơn 466/473 xã có đường ô tô đến trung tâm. * Thuỷ lợi Công tác thuỷ lợi có bước phát triển khá toàn diện, năng lực tưới tiêuđược nâng lên đáng kể; thuỷ lợi cho cây trồng cạn, cây công nghiệp, hệ thốngđê sông, đê biển được chú trọng đầu tư, đặc biệt trong những năm gần đây, dovậy góp phần giảm nhẹ ảnh hưởng của thiên tai đối với sản xuất và đời sốngngười dân. Trong những năm qua, hệ thống công trình thuỷ lợi trên địa bàn NghệAn đã được đầu tư sửa chữa, nâng cấp, điển hình là: hệ thống thuỷ nông Bắcvà hệ thống thuỷ nông Nam, hệ thống các trạm bơm ở các huyện, nhiều hồđập, một số trạm bơm điện được đầu tư xây dựng mới. Nhờ vậy, đến nay,toàn tỉnh có trên 1.600 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ, trong đó có 884 hồ đậpthuỷ lợi, 426 trạm bơm điện, các công trình tiểu thuỷ nông và 2 hệ thống côngtrình thuỷ lợi Bắc và Nam Nghệ An, hơn 4.200 km kênh mương được bê tônghoá. Tổng năng lực các công trình tưới cho lúa đạt 150.000 ha /năm (trong đódiện tích tưới chủ động hàng năm đạt trên 130.000 ha), tưới màu và cây côngnghiệp 10.000 ha, tạo nguồn tưới 18.000 - 20.000 ha cho cây trồng cạn, câyvụ đông, cấp nước nuôi trồng thuỷ sản hơn 3.000 ha.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 50. 42 * Điện: Hệ thống phân phối điện được quan tâm đầu tư, hầu hết cáchuyện trong tỉnh đã có điện lưới quốc gia đi qua, số xã có điện lưới quốc giađạt 441/473 xã (chiếm 93,2%), số hộ dùng điện đạt gần 95%. Một số côngtrình lớn được đầu tư xây dựng và đã đưa vào sử dụng, các công trình chốngquá tải lưới điện và đưa điện về xã được chú trọng đầu tư. * Cấp thoát nước và vệ sinh môi trường ở nông thôn Việc đầu tư các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn được thựchiện đều khắp cả tỉnh thông qua các chương trình đầu tư lồng ghép trên địabàn tỉnh (Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn,Chương trình 135 của Chính phủ, ngân sách tập trung của Nhà nước, vốnODA, vốn của tổ chức phi Chính phủ (NGO)…) và sự tham gia của ngườidân., các nhà máy, trạm cấp nước nông thôn được xây dựng, với công suất đầunguồn 4.000 m3/ngày đêm. Việc xây dựng các công trình vệ sinh nông thôn được đa số người dântự đầu tư, tính đến nay số hộ có công trình hợp vệ sinh đạt trên 60%. Tuynhiên một số nơi vẫn còn tình trạng ô nhiễm do thuốc trừ sâu, ô nhiễm môitrường ở một số làng nghề, khu dân cư tập trung chưa được giải quyết, do khókhăn về nguồn vốn đầu tư. * Giáo dục đào tạo Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Nghệ Anđược quan tâm phát triển cả về quy mô và chất lượng. Cơ sở trường lớp đượcquan tâm đầu tư xây dựng, trang thiết bị dạy và học được trang bị đáp ứngnhu cầu dạy và học. Chất lượng giáo dục toàn diện có tiến bộ, hàng năm cóhơn 65% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được chuyển vào trung học phổ thông. Quy mô các cấp học, ngành học phát triển ở tất cả các vùng. Toàn tỉnhđược công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ theo chuẩn quốc giatừ năm 1998. Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, ngành giáo dụcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 51. 43đã có nhiều nỗ lực xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn Quốc gia, tỷ lệ giáoviên đạt chuẩn ở cả 3 cấp học của bậc phổ thông đạt trên 98%. Các trường đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và các trung tâm học tậpcộng đồng phát triển khá nhanh, đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu học tậpcủa xã hội. Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú được quan tâm đầutư, tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt là chấtlượng văn hoá của học sinh dân tộc ít người. Mức độ xã hội hoá giáo dụctrong phạm vi toàn tỉnh tăng nhanh trong những năm qua. * Y tế và chăm sóc sức khoẻ Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, công tác dân số,gia đình và trẻ em có nhiều tiến bộ. Hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh từtỉnh đến huyện, xã từng bước được củng cố nâng cấp. Chất lượng khám chữabệnh được cải thiện. Công tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm. Đề ánnâng cao y đức của thầy thuốc bước đầu thực hiện có hiệu quả. Các cơ sở y tếmới được xây dựng như: Bệnh viện đa khoa 700 giường, bệnh viện nhi, cáctrạm và các trung tâm y tế tuyến tỉnh, các bệnh viện và các phòng khám đakhoa tuyến huyện, các trạm xá xã, phường …. Đến nay toàn tỉnh có khoảng468/473 số xã phường thị trấn có trạm y tế, trong đó hơn 35% đạt tiêu chuẩnngành, 19/19 huyện thành thị có trung tâm y tế huyện, số giường bệnh/vạndân đạt hơn 30, 46 giường.2.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An. Trong những năm qua Nghệ An đã đạt được những thành tựu đáng kểvề phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Cơ cấu kinh tế mà tỉnh đã lựa chọn phầnnào thể hiện tính năng động, thích ứng nhanh nhạy với sự thay đổi của thịtrường trong nước và thế giới, đẩy nhanh được quá trình phát triển theohướng CNH, HĐH, khai thác có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh,tăng nhanh được năng suất lao động, hình thành các ngành và sản phẩm chủSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 52. 44 lực. Trong đó đối với ngành nông- lâm nghiệp được chú trọng phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến, với phát triển đô thị và hướng vào xuất khẩu, gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Hình thành các vùng hàng hoá tập trung, phát triển sản xuất nông- lâm- thuỷ sản theo hướng tập trung quy mô lớn, mô hình công nghiệp. Điều đó được thể hiện cụ thể thông qua một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp mà tỉnh đã đạt được như: tổng giá trị sản phẩm và cơ cấu giá trị sản phẩm của các ngành kinh tế tính theo giá thực tế thể hiện qua bảng sau: Bảng 2.3.Giá trị và cơ cấu giá trị sản phẩm các ngành kinh tế tỉnh Nghệ An Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007Tổng giá trị sản phẩm Tr.đ 10.441.655 12.141.334 14.583.853 17.200.292 19.628.5071. Nông – Lâm- T.sản - Tổng sản phẩm Tr.đ 4.328.917 4.636.228 5.838.877 5.691.576 6.124.094 - Cơ cấu % 41,46 38,14 36,92 33,09 31,202. Công nghiệp -Xây dựng - Tổng sản phẩm Tr.đ 2.464.765 3.169.580 4.190.234 5.055.165 6.987.748 - Cơ cấu % 23,61 26,11 28,73 29,39 35,603. Dịch vụ - Tổng sản phẩm Tr.đ 3.647.973 4.335.526 5.009.733 6.453.549 6.561.664 - Cơ cấu % 34,94 35,71 34,35 37,52 33,20 Nguồn: Cục thống kê tỉnh Nghệ An 2.2. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP NGHỆ AN TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC Nước ta đã trở thành thành viên của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), cũng như ngành nông nghiệp cả nước, ngành nông nghiệp tỉnh Nghệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 53. 45An chính thức bước vào hội nhập. Thế nhưng hội nhập vẫn còn xa lạ đối vớingười nông dân, nhất là nông dân vùng cao. Làm thế nào để không ngừngnâng cao đời sống nông dân, để nông nghiệp của tỉnh không bị tụt hậu. Nông nghiệp tỉnh Nghệ An có đủ điều kiện và lợi thế để phát triển. NghệAn là một tỉnh miền Trung, nằm ở khu vực trung tâm giao lưu kinh tế- văn hoáBắc Nam, có nhiều tuyến quốc lộ và giao thông đường thuỷ với các bến cảng,cửa sông. Diện tích đất nông nghiệp lớn, màu mỡ, nguồn lao động dồi dào. Trước thời điểm nước ta gia nhập WTO, nông nghiệp tỉnh Nghệ An đãcó những bước phát triển mạnh, bền vững. Nhiều loại sản phẩm nông nghiệpnhư: cam, chè, tôm, cá, rau, ngô... đã có tiếng trên thị trường trong nước vàtrên thế giới. Tỉnh đã quy hoạch ổn định vùng sản xuất nông nghiệp theohướng phát triển nông nghiệp hàng hoá tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tưthâm canh, tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. Nghệ An đến nay cơ bản đã đạt được mục tiêu an ninh, an toàn lươngthực, thực phẩm. Năm 2007, tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt421.247 tấn, tổng đàn trâu đạt trên 292 nghìn con, đàn bò đạt trên 445 nghìncon, lợn trên 1.182 nghìn con và hàng chục triệu con gia cầm. Ngành nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến trong việc chuyển giaokhoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ cho nông dân thông qua các chươngtrình, dự án và sự vào cuộc thực sự của các tổ chức đoàn thể: Hội nông dân,Đoàn thể, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên … đã làm cho đa phần nông dân thựcsự làm chủ đồng ruộng, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Nông dân đã năngđộng, nhạy bén chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đa dạng hoá sản phẩm,đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng và thị trường. Trên địa bàn toàn tỉnh đã có nhiều doanh nghiệp nông nghiệp vừa vànhỏ để vừa cung cấp các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, vừa chế biếntiêu thụ sản phẩm của nông nghiệp sản xuất ra. Cơ sở hạ tầng nông thôn đượcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 54. 46xây dựng khá hoàn chỉnh. Đây là yếu tố quan trọng, là “cái gậy” cho ngườinông dân bước vào kinh tế thị trường trong tiến trình hội nhập. Gia nhậpWTO, kinh tế nông nghiệp, nông thôn tỉnh Nghệ An có cơ hội lớn là: Mởrộng thị trường và tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ, cũng như phươngpháp quản lý tiên tiến, hiện đại của Thế giới; Tạo cơ hội thu hút đầu tư từ cácnguồn trong và ngoài nước đối với khu vực nông thôn; Đây cũng là thời cơ,cơ hội cho người nông dân tiếp cận, hoà nhập với tiến trình công nghiệp hoánông nghiệp, nông thôn; Chuyển nhanh lao động nông nghiệp sang lao độngcông nghiệp và dịch vụ, nâng cao thu nhập cho người nông dân, xoá đói, giảmnghèo tiến tới giàu có. Hội nhập kinh tế thế giới, cánh cửa rộng mở cho nôngnghiệp, nông thôn từ vùng thấp đến vùng cao một cơ hội lớn để phát triển,khai thác thế mạnh, tiềm năng và nội lực vươn lên ngang tầm với kinh tế nôngnghiệp cả nước, khu vực và thế giới. Bên cạnh những cơ hội và điều kiện thuận lợi, kinh tế nông nghiệp,nông thôn tỉnh Nghệ An vẫn còn nhiều thách thức lớn. Khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm nông nghiệp và các doanh nghiệp nông nghiệp còn yếu kém doquy mô nhỏ, sản phẩm đơn điệu, chất lượng chưa cao. Kinh nghiệm quản lývà thương mại còn yếu, chưa có thương hiệu, uy tín thấp. Nông nghiệp củatỉnh có lợi thế về diện tích, nhưng thực tế sản xuất hàng hoá với quy mô lớnvà tập trung là chưa nhiều, chưa phát huy hết lợi thế của tỉnh. Mặc dù đã hìnhthành những vùng sản xuất hàng hoá tập trung trên cơ sở khai thác các thếmạnh của từng vùng, từng địa phương nhưng hiệu quả chưa cao, chưa tươngxứng với tiềm năng sẵn có. Mặc dù chăn nuôi của tỉnh trong những năm gần đây đã có sự phát triểnmạnh về số lượng và chất lượng, nhưng sản phẩm chăn nuôi vẫn chưa khẳngđịnh được vị trí trên thị trường, sản phẩm nông nghiệp qua chế biến chưanhiều, mẫu mã chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 55. 47 Nuôi trồng thuỷ sản là thế mạnh của tỉnh nhưng vẫn chưa phát huy hếtthế mạnh và chưa khai thác tốt các tiềm năng về thuỷ sản, sản phẩm nuôitrồng thuỷ sản qua chế biến chưa nhiều. Tuy nhiên, thuỷ sản của tỉnh hiệnđang là một trong những mặt hàng có hướng xuất khẩu lớn, nhưng để sảnphẩm của ngành thuỷ sản khẳng định được vị trí trên thị trường nội địa và tìmđược chỗ đứng trên thị trường thế giới trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tếthì tỉnh cần có sự quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa cho sự phát triển của ngànhthuỷ sản, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc chế biến, nâng cao chất lượngvà xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của ngành. Như vậy, tạo ra sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu, uy tín đủ sứccạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới đang là một thách thức lớn chonền nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh.2.3.THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ TÌNH HÌNH CHUYỂNDỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁCỦA TỈNH NGHỆ AN TRONG 5 NĂM QUA2.3.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế của tỉnh Nghệ An * Cơ cấu ngành kinh tế Biểu đồ 2.1: Cơ cấu GDP trong các ngành kinh tế của tỉnh Nghệ An Năm 2006 Năm 2007 33,09% 33,2% 37,52% 31,2% 29,39% 35,6% Công nghiệp – Xây dựng Nông – Lâm – Thuỷ sản Dịch vụ Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nghệ AnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 56. 48 Cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Nghệ An đã có sự chuyển dịch theohướng Công nghiệp với sự gia tăng nhanh tỷ trọng ngành Công nghiệp- Xâydựng trong tổng sản phẩm của tỉnh (từ 14,2% năm 1995 lên 29,39% năm2006 và 35,6% năm 2007), hiện là ngành có mức đóng góp lớn nhất cho GDPcủa tỉnh. Các phân ngành Công nghiệp có lợi thế của tỉnh (chế biến Nông-Lâm- Thuỷ sản, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng) được tập trung đầutư và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong giá trị tăng thêm của ngành. Tỷ trọng Nông- Lâm- Thuỷ sản giảm tương ứng từ 38,19% năm 2003xuống 33,09% năm 2006 và 31,2% năm 2007 (mặc dù vẫn tăng lên về giá trịtuyệt đối), phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngCNH, HĐH của tỉnh. Tỷ trọng các phân ngành công nghiệp, dịch vụ và nôngnghiệp hàng hoá mà tỉnh có lợi thế phát triển (công nghiệp chế biến nông sản,sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất sản phẩm cây công nghiệp) liên tục tăngnhanh trong những năm qua. Xét theo hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp, tỷ trọng củangành phi nông nghiệp trong tổng giá trị sản phẩm của tỉnh tăng nhanh từ50,9% năm 1995 lên 66,91% năm 2006 và 68,8% năm 2007. Tuy nhiên sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hai khối ngành sản xuất vật chất và sản xuấtsản phẩm dịch vụ lại không theo chiều hướng tiến bộ như vậy. Tỷ trọng khốingành sản xuất sản phẩm dịch vụ tăng không đáng kể từ 36,7% năm 1995 lên37,52% năm 2006 nhưng sau đó lại giảm còn 33,2% năm 2007. Sở dĩ tỷ trọngcác ngành kinh tế của tỉnh tăng và giảm về cơ cấu theo chiều hướng khácnhau là do giá trị sản xuất của các ngành đều tăng tương ứng trong các nămqua. Trong đó đáng kể là sự gia tăng của khối ngành Công nghiệp và sản xuấtnông nghiệp- thuỷ sản. Do có sự quan tâm của nhà nước và có sự đầu tư củanhững người sản xuất nông nghiệp trong việc đưa các giống mới năng suấtcao, phù hợp với điều kiện từng vùng sản xuất và khai thác thế mạnh củaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 57. 49vùng nên hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp tăng khá trong thời gianqua. Các tỷ trọng tương ứng của khối ngành sản xuất sản phẩm vật chất là63,3%, 62,9% và 64,6%. * Cơ cấu thành phần kinh tế Bảng 2.4. Cơ cấu GDP trong các thành phần kinh tế của tỉnh Nghệ An Đơn vị tính:(%) Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng GDP 100 100 100 100 100 Nhà nước 37,50 37,85 34,89 36,08 36,95 Tập thể 18,69 17,02 13,56 11,10 10,66 Cá thể 43,02 41,20 42,96 42,58 41,95 Tư nhân 0,77 3,93 8,59 10,24 10,44 Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nghệ An Cơ cấu theo thành phần kinh tế của tỉnh đang chuyển dịch theo đúngquy luật của nền kinh tế thị trường với sự tăng trưởng nhanh và gia tăng dầntỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, nhất là trong các lĩnh vựcthương mại, du lịch, khách sạn- nhà hàng, giao thông vận tải. Tuy nhiên, nhìnchung kinh tế ngoài quốc doanh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng,quy mô hoạt động của các loại hình kinh tế tư nhân còn nhỏ bé, manh mún,vốn và lao động ít, doanh thu thấp so với mức bình quân chung của cả nước,hiệu quả kinh doanh chưa cao. Khu vực kinh tế nhà nước giảm về số lượngnhưng phần đóng góp vào GDP của tỉnh vẫn tăng lên qua các năm, từ 33,92%năm 2000 lên hơn 36% năm 2007 và tiếp tục giữ vai trò chủ đạo thúc đẩykinh tế toàn tỉnh phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế của khu vực kinh tếNhà nước chưa cao, quá trình sắp xếp tổ chức lại còn chậm, số doanh nghiệpthua lỗ còn chiếm trên 35%, đa số các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Khu vựcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 58. 50có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có đóng góp cho GDP của tỉnh vàxuất khẩu nhưng tỷ trọng còn rất nhỏ và mới chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp. * Cơ cấu vùng lãnh thổ: Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ cũng đang có sự chuyển dịch theo hướnggiảm bớt chênh lệch giữa các vùng, mở rộng đô thị, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Khu vực đồng bằng ven biển (gồm 9 huyện, thị, thành): là khu vực cóđóng góp lớn nhất cho GDP của tỉnh, tỷ trọng của khu vực này trong GDP đãtăng từ 67,44% năm 2000 lên 72,26% năm 2007. Các hoạt động kinh tế pháttriển mạnh ở khu vực này. Lao động cũng tập trung nhiều nhất ở đây. Khuvực này có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây lương thực,thực phẩm, hình thành các vùng chuyên canh, vùng chuyên môn hoá, tậptrung với quy mô lớn, tạo ra khối lượng và giá trị nông sản hàng hoá tươngđối nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cho thị trường nội địa và hướng tớixuất khẩu, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Phát triểnmạnh nuôi trồng thuỷ sản nhằm khai thác tốt những tiềm năng và lợi thế củatừng vùng. Hiện nay, ở khu vực này các mô hình nuôi trồng thuỷ sản mang lạigiá trị kinh tế cao đã được hình thành và ngày càng phát triển, điển hình là cáchuyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, Hưng Hoà (thành phố Vinh),Nghi Lộc, Cửa Lò… Khu vực miền núi (gồm 10 huyện): tăng trưởng khá hơn do khai thác tốttiềm năng sẵn có. Khu vực này phù hợp cho việc phát triển các loại hình chănnuôi và phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả và phát triểnlâm nghiệp. Kinh tế Nông - Lâm nghiệp gắn với chế biến có nhiều tiến bộ,hoạt động khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng phát triển mạnh. Khu vực đô thị: Quy mô đô thị ngày càng được mở rộng, chất lượng đôthị ngày càng được nâng cao. Đây là nơi tập trung các hoạt động sản xuấtcông nghiệp và dịch vụ. Hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị ngày càng được hoànSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 59. 51thiện. Nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời và phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầungày càng đa dạng của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Khu vực nông thôn: Khu vực này đã có sự thay đổi cơ bản theo hướngsản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng củalĩnh vực sản xuất phi nông nghiệp. Một số vùng sản xuất cây con tập trung vàlàng nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành và phát triển. Các hợp tác xãkiểu mới ở nông thôn được thành lập, đóng vai trò quan trọng trong việc cungcấp các dịch vụ tưới tiêu, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, cung ứngvật tư kỹ thuật, chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp. Một sốmô hình sản xuất có hiệu quả đã xuất hiện ở nông thôn như mô hình kinh tếtrang trại trong trồng trọt và chăn nuôi, mô hình nông - lâm kết hợp, mô hìnhkinh tế vườn rừng, vườn đồi. Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn được cảithiện đáng kể trong những năm qua. Nhìn chung, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (về cả cơ cấu ngành,cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế) diễn ra đúng hướng, phù hợpvới mục tiêu phát triển và tiềm năng, lợi thế của tỉnh nhưng tốc độ chuyểndịch chưa tương xứng với tiềm năng và chưa vững chắc, chuyển dịch cơ cấutrong từng vùng, từng ngành chưa mạnh. Nhiều ngành dịch vụ (nhất là thươngmại, dịch vụ, du lịch) chưa phát triển đúng với tiềm năng và cơ hội sẵn có,nguyên nhân chủ yếu là do chưa có đủ các điều kiện cần thiết để phát triển(vốn, cơ sở hạ tầng, tổ chức kinh doanh, cơ chế chính sách, thị trường …).Nhiều tiềm năng du lịch tự nhiên, nhất là du lịch biển chưa được đầu tư khaithác hợp lý do thiếu vốn, làm hạn chế đáng kể mức độ đóng góp của ngànhcho GDP của tỉnh và tạo việc làm. Tuy tỷ trọng của khu vực phi nông nghiệptăng khá (từ 55,7% năm 2000 lên 65,8% năm 2007) nhưng chủ yếu do tăng tỷtrọng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp - xây dựng. Quy mô của khu vựcsản xuất sản phẩm dịch vụ giảm từ 37,2% xuống 36,3% trong cùng giai đoạnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 60. 52trong khi lao động dịch vụ tăng nhanh. Mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tếtrong nông nghiệp, nông thôn trong những năm gần đây diễn ra nhanh hơnnhưng vẫn còn nhiều tiềm năng trong nông nghiệp và công nghiệp chế biếnchưa được khai thác. Tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt trong tổng giá trị sảnxuất nông nghiệp thuần còn cao. Dịch vụ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ.2.3.2 Thực trạng và tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nôngnghiệp của tỉnh Nghệ An trong 5 năm qua2.3.2.1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong mối quan hệ giữa nông nghiệp,lâm nghiệp và thuỷ sản Giá trị sản xuất ngành nông - lâm - thuỷ sản tăng trưởng liên tục quacác năm, đạt bình quân 5,52%/năm trong cả thời kỳ 1996 - 2005, và năm2007 tốc độ tăng trưởng toàn ngành đạt 3,36%, vượt kế hoạch 5% (cả nước3,25%), so với năm 2006. Các tốc độ này đều cao hơn mức bình quân củavùng và cả nước. Bảng 2.5. Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế các ngành sản xuất nông - lâm - thuỷ sản tỉnh Nghệ An Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng giá trị Tr.đ 6.786.988 8.462.886 9.128.041 10.277.323 12.345.0961. GTSX ngành NN Tr.đ 5.469.736 7.027.450 7.479.661 8.485.675 9.876.077 Cơ cấu % 80,59 83,04 81,94 82,57 80,002.GTSX ngành LN Tr.đ 752.741 810.689 848.805 896.444 1.357.960 Cơ cấu % 11,09 9,58 9,30 8,72 11,003.GTSX ngành T. sản Tr.đ 564.511 624.747 799.575 895.204 1.111.058 Cơ cấu % 8,32 7,38 8,76 8,71 9,00 Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An Số liệu thống kê ở bảng 2.5 cho thấy, nông nghiệp thuần vẫn chiếm tỷtrọng lớn nhất trong toàn ngành nông nghiệp và ngày càng tăng trong nhữngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 61. 53năm qua. Năm 2003 tỷ trọng ngành sản xuất nông nghiệp thuần là 80,59% thìđến năm 2007 tỷ trọng là 80%. Tuy năm 2007 có giảm về tỷ trọng so với cácnăm trước nhưng giá trị sản xuất của ngành vẫn tăng lên là do sự gia tăngtương ứng về GTSX của các ngành lâm nghiệp và thuỷ sản. Lâm nghiệp cũng chiếm một tỷ trọng tương đối trong toàn ngành,nhưng chúng ta thấy cơ cấu ngành lâm nghiệp giảm dần qua các năm mặc dùgiá trị sản xuất của ngành vẫn tăng đều qua các năm. Về thuỷ sản cho thấy ngành nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sảntăng đều trong 5 năm qua cả về giá trị sản xuất và cơ cấu của ngành. Trongnhững năm qua ngành thuỷ sản đã có những đóng góp to lớn vào GDP củatỉnh nói chung và của ngành trồng trọt nói riêng. Dịch vụ trong nông nghiệp phát triển mạnh trong những năm qua, nhấtlà công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp và thuỷ sản. Qua số liệu trên chúng ta thấy nông nghiệp tỉnh Nghệ An đã có nhữngbước phát triển khá, cơ cấu ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch đúnghướng, chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH và theo hướng sản xuất hàng hoálà chủ yếu, mang lại giá trị kinh tế cao và đóng góp không nhỏ vào sự pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thônNghệ An nói riêng. Trong đó đáng chú ý là tỷ trọng ngành thuỷ sản trong năm2007 tăng lên 9%, đây là một trong những ngành mang lại giá trị kinh tế caocủa tỉnh Nghệ An, đồng thời là ngành có khả năng tạo ra khối lượng và giá trịhàng hoá lớn, tăng giá trị xuất khẩu. CCKT nông nghiệp tỉnh Nghệ An trongnhững năm qua phần nào đã thể hiện được tính năng động, thích ứng với cácđiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh và nhu cầu của thị trường, mặtkhác ngành nông nghiệp của tỉnh đã bước đầu xác định mục tiêu sản xuất nênsản xuất những gì người tiêu dùng cần nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thịtrường và của người tiêu dùng, góp phần quan trọng vào việc thay đổi bộ mặtSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 62. 54nông thôn, nâng cao mức sống của dân cư ở khu vực nông thôn, đồng thời tậndụng và phát huy một cách tốt nhất tiềm năng và lợi thế so sánh của các tiểuvùng và của tỉnh. Nếu xét theo từng phân ngành trong nông nghiệp thuần thì tỷ trọngtrồng trọt giảm, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng (tương ứng là 63,38% và35,20%). Trong năm 2007 tỷ trọng ngành chăn nuôi của tỉnh/trồng trọt cảnước là 25,0%/75,0% và tỷ trọng nông nghiệp/tổng GDP là 31,03% [24]2.3.2.2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp thuần và chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành nông nghiệp thuần Trong những năm qua hoà chung với cả nước, Nghệ An tiếp tục đẩymạnh việc thực hiện công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn và đạtđược những kết quả nhất định. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúnghướng, tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp đạt tương đối khá. Trongnông nghiệp thuần, tỷ trọng trồng trọt giảm, tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụtăng khá. Năm 2007, trồng trọt 63,38%, chăn nuôi 35,20%, dịch vụ 1,42%, sựthay đổi về cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp trong những năm qua là do tỉnhđã có sự quan tâm, đầu tư để phát triển nông nghiệp phù hợp với tiềm năng, lợithế của từng vùng trong tỉnh. Biểu đồ 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp thuần theo giá thực tế Năm 2006 Năm 2007 1,36% 1,42% 33,28% 35,20% 65,36% 63,38% Trồng trọt Chăn nuôi Dịch vụ NN Nguồn: Niên giám thống kê Nghệ AnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 63. 55 Sự hợp lý về cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp thể hiện cụ thể thôngqua việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp trên từng đại bàn củatừng địa phương trong tỉnh. Như vậy xét về cơ cấu, ngành trồng trọt của tỉnh Nghệ An vẫn chiếm vịtrí hàng đầu trong ngành sản xuất nông nghiệp, chiếm khoảng 63% giá trị sảnxuất toàn ngành, tiếp đó là ngành chăn nuôi với khoảng 35% giá trị toànngành và cuối cùng là dịch vụ phục vụ trong nông nghiệp chiếm khoảng 2%giá trị toàn ngành. Ngành trồng trọt tuy có giảm về cơ cấu nhưng lại tăng lên về giá trị sảnlượng, do trong nhiều năm qua trên địa bàn tỉnh đã thực hiện tốt các đề ánchuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp nên giá trị sản xuất trong nông nghiệptăng mạnh. Giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng là do tỉnh đã có sự quan tâmđầu tư trong phát triển ngành trồng trọt theo hướng hình thành các vùng sảnxuất tập trung, quy mô lớn và đầu tư vào các loại cây trồng có giá trị kinh tếvà hiệu quả cao. Với mục tiêu hình thành những cánh đồng có thu nhập cao từ25- 30,8 triệu đồng/ha/năm đến 60- 70 triệu đồng/ha/năm, tỉnh đã đầu tư vàphát triển các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, phá thế độc canh trongnông nghiệp, áp dụng các công thức luân canh cây trồng phù hợp với điềukiện tự nhiên của tỉnh làm tăng hiệu quả kinh tế trên 1 đơn vị diện tích đất. * Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trồng trọt Sản xuất trồng trọt liên tục phát triển với tốc độ tăng bình quân4,81%/năm trong 10 năm qua. Bước đầu đã hình thành một số vùng câynguyên liệu tập trung gắn với công nghiệp chế biến, tạo nên một khối lượngnông sản hàng hoá tương đối khá, đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và phục vụ xuất khẩu. Sản lượng lương thực liên tục tăng qua các năm, năm 2005 đạt1,04 triệu tấn, cao hơn so với mục tiêu đề ra (90 vạn tấn), năm 2006 đạt 1,14triệu tấn và năm 2007 đạt 1,05 triệu tấn, so với kế hoạch giảm 90.386 tấn,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 64. 56bằng 7,9% so với năm 2006. Sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt347,45 kg/người/năm. Bảng 2.6. Giá trị sản xuất và cơ cấu các loại cây trồng của tỉnh Nghệ An Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng số Tr. đ 3.634.639 4.603.682 4.693.373 5.546.416 6.262.3861. Cây lương thực - GTSX Tr. đ 2.168.877 2.734.571 2.769.118 3.234.694 3.591.478 - Cơ cấu % 59,67 59,39 59,00 58,32 57,35 Trong đó: Cây lúa - GTSX Tr. đ 1.659.835 2.031.802 2.025.811 2.390.457 2.650.241 - Cơ cấu % 45,67 44,13 43,16 43,10 42,322.Cây thực phẩm - GTSX Tr. đ 237.218 368.010 366.170 452.296 521.030 - Cơ cấu % 6,52 7,99 7,80 8,15 8,32 3. Cây CN - GTSX Tr. đ 534.464 686.223 685.971 847.314 966.286 - Cơ cấu % 14,70 14,90 14,61 15,27 15,43 4.Cây ăn quả - GTSX Tr. đ 339.588 392.586 445.585 528.018 614.340 - Cơ cấu % 9,34 8,52 9,49 9,51 9,815. Cây dược liệu - GTSX Tr. đ 271 394 413 453 1.254 - Cơ cấu % 0,07 0,08 0,09 0,08 0,02 6. Cây khác - GTSX Tr. đ 354.221 421.898 426.116 483.641 567.998 - Cơ cấu % 9,70 9,12 9,01 8,67 9,07 Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ AnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 65. 57 Cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ được chuyển dịch đúng hướng, diệntích lúa giảm, diện tích ngô tăng, nhất là ngô vụ đông trên đất hai lúa. Sảnlượng lúa tăng đều qua các năm mặc dù diện tích giảm nhờ năng suất tăngnhanh, năm 2006 đạt trên 911 nghìn tấn, năm 2007 đạt 846 nghìn tấn. Sảnlượng ngô tăng nhanh qua các năm do diện tích và năng suất ngô đều tăngnhanh (bình quân 18,06%/năm cả thời kỳ 10 năm 1996 - 2005) năm 2007 đạttrên 206 nghìn tấn. Đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung cây công nghiệp, cây ănquả và một số cây hàng năm với quy mô lớn: sắn trên 15.000 ha (trong đó sắnvùng nguyên liệu chế biến trên 4.000 ha), mía trên 26.000 ha; lạc trên 24.000ha, năng suất 21,69 tạ/ha, về diện tích tăng 1.118 ha, năng suất tăng 2 tạ/ha,sản lượng tăng trên 7.000 tấn so với năm 2006, đây là năm có diện tích, năngsuất và sản lượng lạc đạt cao nhất từ trước tới nay ở Nghệ An; dứa 1.752 ha,cam trên 3.000 ha, nhãn trên 1.500 ha, vải 751 ha, chè trên 5.000 ha, cà phê2.000 ha, cao su 4.000 ha, hồ tiêu 331 ha. Việc phát triển sản xuất các loại câycông nghiệp đã gắn với xây dựng các cơ sở chế biến, tạo khối lượng hàng hoáxuất khẩu khá. Bên cạnh đó, diện tích và năng suất các loại rau đậu thực phẩm cũngphát triển mạnh qua các năm, cung cấp một lượng rau đậu khá lớn đáp ứngnhu cầu tiêu dùng trên điạ bàn tỉnh và các tỉnh lân cận. Cùng với sự quan tâmđầu tư, hướng dẫn của tỉnh qua các đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nhậnthức của người dân ngày càng được nâng cao, nông nghiệp tỉnh Nghệ Anngày càng phát triển và khai thác tốt các tiềm năng sẵn có để phục vụ cho sảnxuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao. Như vậy trong 5 năm qua, sản xuất trồngtrọt của Nghệ An liên tục tăng cả về sản lượng và giá trị sản xuất của các loạicây trồng, cơ cấu cây trồng tương đối phù hợp với đặc điểm, điều kiện sảnxuất của từng vùng, địa phương. Các vùng sản xuất tập trung tạo ra khốiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 66. 58lượng hàng hoá khá lớn, đáp ứng nhu cầu tại chỗ, nhu cầu của thị trườngtrong nước và các vùng lân cận, đồng thời mang lại giá trị kinh tế cao gópphần làm tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân và phát triển kinh tế- xã hội, thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn. Các loại cây công nghiệp có giátrị kinh tế cao đã gắn với các cơ sở chế biến, hàng năm đã tạo ra khối lượnghàng hoá xuất khẩu khá lớn sang thị trường các nước trong khu vực, góp phầnmở rộng thị trường giao thương cho sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Nghệ An. Qua số liệu ở bảng 2.6 cho thấy sản xuất trồng trọt trong 5 năm quatăng nhanh về GTSX của các loại cây trồng. Trong đó đáng chú ý là năngsuất, sản lượng và GTSX của các loại cây lương thực, diện tích lương thựckém hiệu quả trong các năm được chuyển sang trồng các loại cây trồng kháccho giá trị kinh tế cao hơn, nhưng sản lượng lương thực trong các năm vẫntăng đều góp phần làm tăng giá trị sản xuất lương thực. Sở dĩ như vậy là dotrong những năm gần đây trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trongtrồng trọt nói riêng của tỉnh Nghệ An đã áp dụng khá thành công giống câymới cho năng suất và giá trị cao hơn, đồng thời áp dụng kịp thời và đồng bộcác tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp. Mặt khác cây thựcphẩm cũng phát triển nhanh trong những năm qua, năm 2007 giá trị sản xuấtmà các loại cây thực phẩm mang lại khoảng 521 triệu đồng, chiếm 8,32%,tiếp đó là sự phát triển mạnh các loại cây công nghiệp (15,34%) và cây ăn quả(9,81%) đã tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu,làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Căn cứ vào định hướng phát triển của tỉnh, (huyện, thành thị) và dựavào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng cánh đồng, tập quán sản xuấttừng nơi, các địa phương đã hình thành nên rất nhiều hình thức chuyển đổi cơcấu cây trồng theo hướng tăng thu nhập, tăng hiệu quả kinh tế trên 1 đơn vịdiện tích đất. Nhiều công thức luân canh đã hình thành nên những vùng sảnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 67. 59xuất lớn, có tính hàng hoá cao. Sau chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàntỉnh hiện có khoảng 123 công thức luân canh cây trồng khác nhau có tổng thutừ 30 triệu đồng/ha/năm trở lên. Sau đây là một số công thức chuyển đổi cơbản đã hình thành điển hình ở một số huyện. - Trên vùng đất chủ động nước và vùng sâu trũng trước đây sản xuất 2vụ lúa (Lúa Xuân + lúa Hè thu hoặc Mùa sớm) với tổng thu hàng năm từ 28 -30,8 triệu đồng/ha/năm, tổng diện tích khoảng 65.000 ha nay đã chuyển sanghình thức sản xuất chủ yếu sau: + Lúa Xuân + Lúa Hè thu + Ngô vụ Đông: cho tổng thu trung bình42,19 triệu đồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn tỉnh năm 2007 có trên21.200 ha. Đây là công thức phổ biến trên vùng đất 2 lúa, tuy thu nhập không caonhư các hình thức chuyển đổi khác nhưng ổn định, dễ nhân ra diện rộng. Tuynhiên ở công thức này cũng dễ gặp rủi ro do thời tiết bất lợi trong sản xuất vụ Đông. + Lúa Xuân + Lúa Hè thu + Rau vụ Đông: Cho tổng thu trung bình50,8 triệu đồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 3.940ha tập trung chủ yếu ở các huyện Quỳnh Lưu, Anh Sơn. + Lúa Xuân + Lúa Hè thu + Rau vụ Đông: Cho tổng thu trung bình50,8 triệu đồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 3.940ha tập trung chủ yếu ở các huyện Quỳnh Lưu, Anh Sơn. + Lúa Xuân xen cá + Lúa Hè thu xen cá + Cá vụ 3: Cho tổng thu trungbình 56,0 triệu đồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 521ha. Trong đó điển hình nhất là ở Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương... + Lúa Xuân xen cá + Lúa Hè thu + Cá vụ 3: Cho tổng thu trung bình43,2 triệu đồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 950ha. Trong đó tập trung ở Quỳnh Lưu (750 ha), Nam Đàn (100 ha).Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 68. 60 + Lúa Xuân + Lúa Hè thu + Cá vụ 3: Cho tổng thu trung bình 41,6 triệuđồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 2.386 ha. Trongđó điển hình nhất là ở Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Quỳnh Lưu,Nghi Lộc - Chuyển hẳn sang nuôi trồng thuỷ sản: + Chuyển hẳn sang nuôi tôm nước lợ 50 ha, điển hình ở huyện NghiLộc, Quỳnh Lưu, Diễn Châu và Thị xã Cửa Lò. Tổng thu có thể đạt 150 - 300 triệu đồng/ha/năm tuỳ thuộc vào khảnăng đầu tư thâm canh của từng hộ. + Chuyển hẳn sang nuôi cá nước ngọt khoảng 480 ha, nằm rải rác ởnhiều huyện. Trong đó các huyện có diện tích chuyển đổi lớn là Nam Đàn 106ha, Hưng Nguyên 40 ha, Thanh Chương 60 ha … - Hình thành các trang trại kết hợp chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sảncho thu nhập rất cao và có thể đạt hàng trăm triệu đồng /ha/năm. Như vậy trên vùng đất chủ động nước sản xuất 2 vụ lúa nay đã chuyểnđược khoảng 40.000 ha sang sản xuất các công thức luân canh 3 vụ, nuôitrồng thuỷ sản và công thức có diện tích lớn nhất là tăng thêm ngô vụ Đông(chiếm 53%). Hiệu quả từ chuyển đổi đạt mức phổ biến 40 - 45 triệu đồng/havà lãi ròng 35 - 45%. - Trên đất không hoàn toàn chủ động nước sản xuất 2 vụ lúa (lúa Xuân+ lúa Mùa) hiệu quả thấp, đạt tổng thu trên dưới 25 triệu đồng/ha/năm, tổngdiện tích khoảng 17.000 ha, đến nay đã chuyển sang các công thức luân canhchủ yếu + Lúa Xuân + Lúa Hè Thu + Cây vụ Đông (khoai lang, ngô, rau, lạc):Cho tổng thu từ 40 - 60 triệu đồng/ha/năm (tuỳ thuộc vào cơ cấu cây trồng vụĐông). Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh đã chuyển được khoảng 2.000 ha(loại hình này chuyển được nhờ làm tốt công tác thuỷ lợi).Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 69. 61 + Màu vụ Xuân (ngô, lạc) + Lúa mùa sớm + Rau mùa Đông (ngô hoặcrau ngắn ngày): Cho tổng thu trung bình 36,5 triệu đồng/ha/năm. Loại hìnhnày trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 618 ha tập trung chủ yếu ở các huyện ĐôLương, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Quỳ Hợp. + Lúa Xuân + Dưa hấu Hè + Rau Đông: Cho tổng thu trung bình 84triệu đồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh có 20 ha ở Tân Kỳ. + Lạc Xuân + Đậu Hè + Lạc Đông: Cho tổng thu trung bình 60,4 triệuđồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 998 ha tập trungchủ yếu ở huyện Nghi Lộc và Đô Lương. + Lạc Xuân +Dưa hấu Hè +Rau vụ Đông: Cho tổng thu trung bình 61,2triệu đồng/ha/năm. Loại hình này trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 50 ha tậptrung chủ yếu ở Nghi Lộc. Trên vùng đất không hoàn toàn chủ động nước sản xuất 2 vụ lúa nay đãchuyển được khoảng 6.000 ha sang sản xuất các công thức luân canh 3 vụ vàcông thức có diện tích lớn nhất là chuyển lúa mùa sang sản xuất vụ Hè thu vàtăng thêm cây trồng vụ Đông (chiếm 33,3%). Hiệu quả từ chuyển đổi đạt mứcphổ biến 40 - 60 triệu đồng/ha và lãi ròng phổ biến 45 -55 %. - Trên đất cao cưỡng, sản xuất một vụ màu và một vụ lúa chờ nước trờihiệu quả thấp, bấp bênh đạt tổng thu trên dưới 18 triệu đồng /ha/năm, tổngdiện tích khoảng 1.500 ha, đến nay cơ bản đã chuyển sang thâm canh câytrồng cạn, với các hình thức chủ yếu như sau: + Chuyên trồng mía: Cho tổng thu trung bình 27 triệu đồng/ha/năm;loại hình này đã có khoảng 500 ha, tập trung chủ yếu ở Tân Kỳ, Quỳ Hợp. + Chuyên trồng rau: Cho tổng thu 60 - 70 triệu đồng. Loại hình nàytrên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 80 ha.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 70. 62 + Trồng cỏ: Cho tổng thu 40 - 50 triệu đồng/ha/năm. Loại hình này trênđịa bàn toàn tỉnh đã có khoảng 800 ha tập trung chủ yếu ở các huyện Tân Kỳ,Nghĩa Đàn, Đô Lương, Thanh Chương. Đây là hình thức chuyển đổi có hiệu quả ở cả 2 mặt đó là tăng thu nhậptrên đơn vị diện tích, phục vụ công nghiệp chế biến và góp phần phát triểnchăn nuôi. Các công thức luân canh trên cơ bản đều đảm bảo cho lãi ròng lớn hơn30% tổng thu (theo yêu cầu của đề án đặt ra khi bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi). - Trên vùng đất màu kém hiệu quả có kết quả chuyển đổi như sau: Hình thành các vùng chuyên sản xuất rau: diện tích chuyên sản xuất rauhàng hoá trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 1.784 ha. Chủ yếu ở vùng đất cátven biển Diễn Châu, Quỳnh Lưu và vùng chân ruộng cao ở Nam Đàn, thànhphố Vinh và một số điểm rau truyền thống khác như Hưng Nguyên, QuỳnhLưu, Nghi Lộc. Công thức luân canh cây trồng trên các vùng chuyên sản xuất rau rấtphong phú, để đạt hiệu quả cao đòi hỏi người sản xuất phải thật sự năng động,nhạy cảm với thị trường, thực hiện tốt yêu cầu thời vụ và quy trình thâm canhmột cách nghiêm ngặt cho từng giống. Khả năng mở rộng của công thức luâncanh này không lớn. Điển hình ở Quỳnh Lưu, diện tích khoảng 550 ha tập trung ở các xãvùng Bãi Ngang (Quỳnh Minh, Quỳnh Lương, Quỳnh Bảng). Tổng thu củacông thức luân canh này đạt từ 125- 180 triệu đồng/ha/năm. Tuỳ theo từngloại cơ cấu cây trồng nên có thể mỗi loại cây trồng sẽ cơ cấu mấy lứa liên tụcnhau. Nam Đàn diện tích chuyên rau có khoảng 250 ha Như vậy muốn có hiệu quả kinh tế cao phải tổ chức sản xuất rau, màucao cấp. Với tiềm năng đất đai và thị trường lớn tỉnh Nghệ An cần tập trungchuyển đổi, đầu tư xây dựng thành các vùng rau màu lớn, sản xuất hàng hoá.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 71. 63 - Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vụ Xuân hè, tăng thêm vụ Đông hìnhthành công thức luân canh 3 vụ cho thu nhập khá. Đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của tỉnh trong những nămqua đã mang lại những kết quả đáng kể, góp phần khẳng định tiềm năng, lợithế của tỉnh trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất nông sản hànghoá nói riêng. Các cánh đồng có thu nhập cao trong sản xuất nông nghiệp đãđóng góp rất lớn vào GDP của tỉnh, đồng thời góp phần ổn định, tăng thunhập và nâng cao đời sống cho dân cư nông thôn. Từ năm 2004 đến nay, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo xây dựngđược 25 mô hình cánh đồng có tổng thu từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên.Trong đó có nhiều mô hình đạt từ 100 triệu đồng/ha/năm trở lên. Thông quanhững mô hình này đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng diện tích cótổng thu cao và tính đến thời điểm hiện tại toàn tỉnh đã có khoảng 17.078 hacó tổng thu từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên (chiếm khoảng 7,76% diện tích đấtcanh tác), trong đó Diễn Châu có 3.672 ha, Quỳnh Lưu 2.595 ha, Hưng Nguyên1.910 ha, Nghi Lộc 1.247 ha … Sau một thời gian thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồngtrên địa bàn toàn tỉnh kết quả thu nhập trên đơn vị diện tích năm 2007 như sau: - Diện tích cho tổng thu 30 triệu đồng/ha/năm đạt 20.202,4 ha, so vớinăm 2006 tăng 5.000 ha; trong đó điển hình nhất là huyện Đô Lương có 4.100ha, Nghĩa Đàn 2.500 ha, Yên Thành có 2.310,4 ha, Nghi Lộc có 1.838 ha - Diện tích cho tổng thu từ 30 đến 40 triệu đồng/ha/năm đạt 49.101,2ha, so với năm 2006 tăng 16.200 ha; Trong đó điển hình nhất là huyện AnhSơn có 6.100 ha, Thanh Chương 5.800 ha, Nam Đàn 3.950 ha, Diễn Châu4.350, 9 ha. - Diện tích có tổng thu nhập đạt từ trên 40 đến 50 triệu đồng/ha/năm là22.830,9 ha, so với năm 2006 tăng 18.137 ha; Điển hình là huyện Yên ThànhSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 72. 646.650,5 ha, Nghi Lộc 4.335,7 ha, Diễn Châu có 2.820,3 ha, Quỳnh Lưu có1.878 ha. - Diện tích có tổng thu nhập đạt từ trên 50 đến 100 triệu đồng/ha/năm là15.580,3 ha; so với năm 2006 tăng 8.946,7 ha; Trong đó điển hình nhất làhuyện Diễn Châu 3.671,3 ha, Quỳnh Lưu 2.595 ha, Hưng Nguyên 1.910 ha. - Diện tích có tổng thu nhập từ trên 100 triệu đồng/ha/năm đạt 1.498,1ha; so với năm 2006 tăng 882,75 ha; Trong đó điển hình nhất là huyện QuỳnhLưu có 550 ha, Nam Đàn có 300 ha. Như vậy, năm 2007 có khoảng 17.078,7 ha đất sản xuất nông nghiệp cótổng thu từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên (chiếm 7,76% diện tích đất nôngnghiệp); tăng 9.829,7 ha so với năm 2006 và nếu tính chung cho toàn bộ diệntích đất nông nghiệp (khoảng trên 220.000 ha) thì đạt 29,97 triệuđồng/ha/năm, tăng gần 3 triệu đồng/ha/năm so với năm 2006. Trên đây là một số công thức chuyển đổi cơ cấu cây trồng mang lạihiệu quả kinh tế cao. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng góp phần làm chongành trồng trọt tăng lên cả về diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượngcác loại cây trồng: - Cây lương thực, thực phẩm: Các loại cây lương thực phát triển đều trong các năm, trong đó lúa tăngnhanh về sản lượng, năm 1996 sản lượng lúa của tỉnh mới chỉ đạt 529.284tấn, đến năm 2006 đạt đến 911.267 tấn, năm 2007 đạt 846.465 tấn là do diệntích lúa giảm do chuyển đổi một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả sangtrồng các loại cây trồng khác và chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản. Năng suấtvà sản lượng lúa tăng đều trong các năm là do Nghệ An đã áp dụng các giốnglúa lai với năng suất và hiệu quả kinh tế cao vào đồng ruộng, đồng thời ápdụng các kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất. Các loại cây trồng liên tục tăng vềnăng suất và sản lượng mang lại hiệu quả kinh tế cao.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 73. 65 Số liệu bảng 2.7 chúng ta thấy, mặc dù diện tích của một số cây trồnggiảm nhưng năng suất vẫn tăng lên, và tăng mạnh ở những loại cây trồng cóhiệu quả kinh tế và mang tính hàng hoá cao. Điều đó cho thấy, chương trình,dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng của tỉnh rất phù hợp và mang lại hiệu quảkinh tế cao, nhằm hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hoá lớn vàtập trung. Bảng 2.7. Diện tích, năng suất, sản lƣợng cây lƣơng thực, thực phẩm Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng DT Ha 292.541 305.842 303.107 310.609 304.965 1. Cây lúa - Diện tích Ha 187.145 182.436 180.233 182.135 181.245 - Năng suất Tạ/ha 44,88 48,27 45,61 50,03 46,7 - Sản lượng Tấn 839.993 880.543 822.041 911.267 846.465 2. Cây ngô - Diện tích Ha 45.044 60.299 64.386 67.129 59.597 - Năng suất Tạ/ha 31,42 36,05 33,95 34,64 34,73 - Sản lượng Tấn 141.550 217.348 218.606 232.544 206.960 3. Cây chất bột - Diện tích Ha 35.739 32.949 29.800 29.716 31.002 - Năng suất Tạ/ha 82,86 100,12 117,88 136,03 138,13 - Sản lượng Tấn 296.120 392.875 351.270 404.232 428.230 4. Cây rau đậu - Diện tích Ha 24.613 28.158 28.688 31.629 33.121 - Năng suất Tạ/ha 68,65 69,73 65,27 71,92 73,06 - Sản lượng Tấn 168.970 196.348 187.258 227.475 241.982 Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các huyệnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 74. 66 - Cây ăn quả Bảng 2.8. Diện tích, năng suất, sản lƣợng cây ăn quả Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng DT ha 3.331 4.128 4.852 5.692 6.884 1. Cây cam - Diện tích ha 1.718 1.867 1.897 3.005 3.170 - Năng suất Tạ/ha 80,9 103,2 100,7 114 116 - Sản lượng Tấn 13.904 19.270 19.098 25.005 25.570 2. Cây dứa - Diện tích ha 1.250 1.666 2.150 1.752 2.705 - Năng suất Tạ/ha 180,4 184,9 180,1 185,5 222 - Sản lượng Tấn 22.545 30.812 38.722 32.504 33.154 3. Cây vải - Diện tích ha 160 254 363 446 512 - Năng suất Tạ/ha 53,8 54,2 53,7 55,4 57, 3 - Sản lượng Tấn 860 1.376 1.950 2.471 2.934 4. Cây nhãn - Diện tích ha 203 341 442 489 497 - Năng suất Tạ/ha 27,6 33,2 31,6 33,9 35,7 - Sản lượng Tấn 561 1.132 1.398 1.658 1.774 Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các huyện Trong những năm qua tỉnh đã có sự quan tâm đầu tư cho phát triển đadạng các loại cây ăn quả, tăng giá trị trên một đơn vị diện tích nhằm chuyểnđổi hợp lý cơ cấu cây trồng, chú trọng phát triển các loại cây có giá trị kinh tếcao. Trong đó, cây cam tăng nhanh về cả diện tích và sản lượng, năm 2003với diện tích 1.718 ha đạt sản lượng là 13.904 tấn, năm 2007 với diện tíchSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 75. 673.170 ha cho sản lượng 25.570 tấn. Cây cam hiện đang là một trong nhữngloại cây đặc sản của tỉnh và là loại cây ăn quả mang lại giá trị kinh tế cao, cóuy tín trên thị trường trong nước và trong khu vực. Để phát triển mạnh hơnnữa về cây ăn quả tỉnh Nghệ An cần có biện pháp quy hoạch đầu tư phát triểncụ thể cho từng vùng, đồng thời cần quan tâm xây dựng thương hiệu cho nhữngsản phẩm nông nghiệp - Cây công nghiệp Bảng 2.9. Diện tích, năng suất, sản lƣợng cây công nghiệp Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007Tổng DT ha 69.273 68.636 70.423 70.623 73.953I- Cây ngắn ngày1. Cây bông- Diện tích Ha 91 75 66 63 60- Năng suất Tạ/ha 3,20 3,60 3,50 3,30 3,12- Sản lượng Tấn 29 27 23 21 18,722. Cây vừng- Diện tích Ha 9.245 7.439 7.480 6.307 5.429- Năng suất Tạ/ha 3,00 4,80 1,90 5, 30 6,56- Sản lượng Tấn 2.797 3.599 1.437 3.344 3.5613. Cây mía- Diện tích Ha 26.210 24.059 22.271 26.658 30.821- Năng suất Tạ/ha 510,5 549,4 506,8 557, 3 585,7- Sản lượng Tấn 1.338.104 1.321.833 1.128.596 1.485.716 1.742.7404. Cây cói- Diện tích Ha 212 198 160 130 128- Năng suất Tạ/ha 35,7 31,5 47,5 50,0 52, 133Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 76. 68- Sản lượng Tấn 756 624 760 650 667,275. Cây lạc- Diện tích Ha 22.625 24.086 27.195 23.324 24.442- Năng suất Tạ/ha 16,2 20,2 16,7 19,6 21,69- Sản lượng Tấn 36.702 48.707 45.494 46.077 53.0066. Cây đậu tương- Diện tích Ha 985 1.188 938 762 723- Năng suất Tạ/ha 82 84 64 87 85- Sản lượng Tấn 804 997 602 664 6.146II- Cây lâu năm1. Cây chè- Diện tích ha 2.880 6.078 6.806 7.204 6.229- Năng suất Tạ/ha 34,5 27,4 35,2 36,9 64,2- Sản lượng Tấn 9.946 16.669 23.986 32.550 40.0002. Cây cà phê- Diện tích ha 2.620 2.399 2.340 2.466 1.853- Năng suất Tạ/ha 43 25 49 49 88- Sản lượng Tấn 1.136 607 1.150 1.215 1.6303. Cây cao su- Diện tích ha 4.130 2.814 2.850 3.383 3.937- Năng suất Tạ/ha 81 17 42 39 48- Sản lượng Tấn 3.354 475 1.204 1.320 1.8774. Cây hồ tiêu- Diện tích ha 275 300 317 326 331- Năng suất Tạ/ha 18, 3 78 86 79 89- Sản lượng Tấn 150 235 273 256 296Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 77. 69 Nguồn: Tổng hợp báo cáo của các huyện Nhìn chung, diện tích và sản lượng các loại cây công nghiệp ngắn ngàyvà dài ngày tăng liên tục trong 5 năm qua làm tăng giá trị sản xuất của ngànhtrồng trọt nói chung và các loại cây công nghiệp nói riêng, trong đó đặc biệt làcây chè và cây mía trên địa bàn tỉnh. Diện tích trồng chè năm 2004 là 6.078ha với sản lượng là 16.669 tấn, nhưng năm 2007 với diện tích là 6.229 ha đãđạt sản lượng ở mức 40.000 tấn. Năm 2003, diện tích mía là 26.210 ha vớisản lượng là 1.338.140 tấn đến năm 2007 diện tích trồng mía tăng lên 30.821ha và tổng sản lượng đạt được 1.742.740 tấn, đáp ứng nhu cầu cho nhà máy. * Tỷ suất nông sản hàng hoá trong trồng trọt của tỉnh Nghệ An Bảng 2.10. Tỷ suất nông sản hàng hoá các loại cây lƣơng thực, thực phẩm Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 20071. Cây lúa- Sản lượng Tấn 839.993 880.543 822.041 911.267 864.465- Tỷ suất HH % 28,02 32,20 32,64 34,86 34,882. Cây ngô- Sản lượng Tấn 141.550 217.348 218.606 232.544 206.960- Tỷ suất HH % 33,91 33,67 36,24 36,98 38,873. Cây sắn- Sản lượng Tấn 149.925 198.286 248.217 313.380 361.170- Tỷ suất HH % 45,73 47,26 48,09 48,86 51,024. Cây khoailang Tấn 146.195 131.589 103.053 90.852 75.983- Sản lượng % 87,06 88,20 84,03 87,90 92,01- Tỷ suất HH Nguồn: Xử lý số liệu điều traSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 78. 70 Qua điều tra về thực tế sản xuất nông nghiệp của các hộ ở một số địaphương trên địa bàn tỉnh cho thấy trong những năm gần đây, sản xuất trồng trọtđã chú trọng phát triển mạnh các loại cây trồng cho sản phẩm mang tính hànghoá cao góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và tạonên khối lượng hàng hoá lớn đáp ứng nhu cầu trong tỉnh, trong nước và xuất khẩu Bảng 2.11. Tỷ suất nông sản hàng hoá các loại cây ăn quả Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007 1. Cây cam - Sản lượng Tấn 13.904 19.270 19.098 25.005 25.570 - Tỷ suất HH % 87,26 86,54 88,25 84,93 83,75 2. Cây dứa - Sản lượng Tấn 22.545 30.812 38.722 32.504 33.154 - Tỷ suất HH % 86,92 88,75 88,90 91,47 95,20 3. Cây vải - Sản lượng Tấn 860 1.376 1.950 2.471 2.934 - Tỷ suất HH % 83,97 84,48 87,29 87,93 88,07 4. Cây nhãn - Sản lượng Tấn 561 1.132 1.398 1.658 1.774 - Tỷ suất HH % 83,27 83,78 85,42 87,05 87,81 Nguồn: Xử lý số liệu điều tra Qua số liệu điều tra cho thấy, phát triển các loại cây công nghiệp và câyăn quả cho tỷ suất hàng hoá lớn hơn các loại cây lương thực. điều đó cho thấyhàng năm các loại cây công nghiệp và cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh tế lớnhơn và cung cấp một lượng hàng hoá tương đối lớn đáp ứng nhu cầu trong tỉnh,các tỉnh lân cận và phục vụ xuất khẩu. Như vậy, trong những năm tới để pháttriển hơn nữa nông nghiệp hàng hoá tỉnh Nghệ An cần có những biện phápSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 79. 71thiết thực, đầu tư có hiệu quả để phát triển mạnh các loại cây trồng chiếm tỷsuất hàng hoá cao trong sản xuất trồng trọt của tỉnh. Việc phát triển cây lươngthực tuy mang lại giá trị hàng hoá thấp hơn nhưng trong những năm tới tỉnhcũng cần phải có những định hướng đúng đắn và hợp lý hơn nữa để phát triểnbởi đây là một trong những loại cây trồng không thể thiếu trong sản xuất nôngnghiệp của nông dân trên địa bàn tỉnh và của tỉnh nhằm đảm bảo nhu cầu lươngthực thực tế trên địa bàn và đóng góp một phần quan trọng trong xuất khẩunông sản hàng hoá. Bảng 2.12. Tỷ suất nông sản hàng hoá các loại cây công nghiệp Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007II - Cây ngắn ngày1. Cây bông- Sản lượng Tấn 29 27 23 21 18,72- Tỷ suất HH % 100 100 100 100 1002. Cây vừng- Sản lượng Tấn 2.797 3.599 1.437 3.344 3.561- Tỷ suất HH % 72,04 73,60 74,72 76,19 76,703. Cây mía- Sản lượng Tấn 1.338.104 1.321.833 1.128.596 1.485.716 1.742.740- Tỷ suất HH 78,94 80,06 82,36 82,98 84,204. Cây cói- Sản lượng Tấn 756 624 760 650 667,27- Tỷ suất HH % 98,78 98,92 99,10 99,00 99,345. Cây lạc- Sản lượng Tấn 36.702 48.707 45.494 46.077 53.006- Tỷ suất HH % 68,49 68,81 67,93 69,18 71,096. Cây đậu tươngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 80. 72- Sản lượng Tấn 804 997 602 664 6.146- Tỷ suất HH % 82,73 81,98 84,58 85,46 84,95IV- Cây lâu năm1. Cây chè- Sản lượng Tấn 9.946 16.669 23.986 26.550 32.098- Tỷ suất HH % 87,72 88,63 88,89 90,60 92,002. Cây cà phê- Sản lượng Tấn 1.136 607 1.150 1.215 1.630- Tỷ suất HH % 98,60 98,72 98,78 99,03 99,243. Cây cao su- Sản lượng Tấn 3.354 475 1.204 1.320 1.877- Tỷ suất HH % 98,83 99,75 99,82 99,79 99,974. Cây hồ tiêu- Sản lượng Tấn 150 235 273 256 296- Tỷ suất HH % 89,73 92,45 96,08 96,72 97,15 Nguồn: Xử lý số liệu điều tra * Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành chăn nuôi Trong 5 năm qua, ngành chăn nuôi đạt tốc độ phát triển nhanh về cả sốlượng và chất lượng đàn. Nghệ An đang là tỉnh đứng đầu toàn quốc về tổng sốđàn trâu, bò (năm 2007 có 292.231 con trâu và 445.304 con bò) và là mộttrong những tỉnh làm tốt công tác cải tạo giống đàn bò (chương trình Sind hoáđàn bò). Đến nay toàn tỉnh có hơn 162.000 con bò, bê lai Zêbu, chiếm 36,4%tổng đàn bò toàn tỉnh. Tốc độ tăng sản lượng chăn nuôi năm 2007 đạt108,027% so với năm 2006. Những kết quả đạt được đã góp phần đưa tỷtrọng giá trị sản xuất chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp năm2006 đạt 33,28%, năm 2007 đạt 35,20% [24].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 81. 73 Các chương trình dự án chăn nuôi do tỉnh đầu tư như: chương trình cảitạo đàn bò theo hướng Zê - bu hoá, bò thịt chất lượng cao, chương trình lợnhướng nạc …, đã góp phần cải tạo, nâng cấp chất lượng đàn nên đã nâng caohiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi. Đàn gia cầm tăng nhanh, năm 2007 có10.730 nghìn con, tăng 5,65% so với năm trước. Một số mô hình sản xuấtchăn nuôi tiên tiến, với quy mô vừa và lớn đã được hình thành và phát triển.Đặc biệt chương trình bò sữa được khôi phục, toàn tỉnh có trên 500 con bò bêsữa, trong đó 100 con vắt sữa thường xuyên, 367 con bò sinh sản (chiếm 75%tổng đàn). Chương trình nuôi lợn ngoại phát triển khá, hiện có 3.478 náingoại, sản xuất hàng năm đạt từ 75.000 - 80.000 con lợn giống chăn nuôi lợn thịt.Bảng 2.13.Giá trị và cơ cấu GTSX các loại vật nuôi trên địa bàn tỉnh Nghệ An Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng số Tr. đ 1.765.084 2.338.033 2.688.738 2.823.869 3.001.346 1. Gia súc - GTSX Tr. đ 933.482 1.341.997 1.578.120 1.626.932 1.727.574 - Cơ cấu % 52,88 57,40 58,69 57,61 57,56 2. Gia cầm - GTSX Tr. đ 389.490 466.007 500.025 510.325 544.746 - Cơ cấu % 22,06 19,93 18,60 18,07 18,15 3.C.nuôi khác - GTSX Tr. đ 442.112 530.029 610.593 686.612 729.026 - Cơ cấu % 25,06 22,67 22,71 24,32 24,29 Nguồn: Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An Qua số liệu ở bảng 2.14 cho thấy, về chăn nuôi của tỉnh Nghệ An trong5 năm qua có sự tăng trưởng khá cao về số lượng đàn gia súc, gia cầm vàchăn nuôi khác. Cụ thể, đàn trâu tăng từ 288.000 con năm 2003 lên 292.000Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 82. 74con năm 2007, lợn tăng từ 1.190.000 con lên 1.239.000 con, bò tăng từ315.000 con lên 445.000 con năm 2007, gia cầm tăng từ 10.524.000 con năm2003 lên 10.730.000 con năm 2007. Điều đó cho thấy từ việc chăn nuôi trâubò phục vụ cày kéo trong sản xuất nông nghiệp nay đã chuyển dịch theohướng chăn nuôi lấy thịt cho sản phẩm, hàng hoá đang tăng nhanh theo yêucầu của các tiểu vùng trong tỉnh, yêu cầu trên địa bàn toàn tỉnh và cả nước. Năm 2007 cũng đã tập trung đẩy mạnh chương trình chuyển đổi một sốdiện tích sản xuất lương thực kém hiệu quả sang trồng cỏ tập trung để pháttriển chăn nuôi. Đến cuối năm 2006 toàn tỉnh có 3.905 ha cỏ, năm 2007 trồngmới 750 ha, đưa diện tích cỏ tập trung toàn tỉnh lên 4.650 ha. Bảng 2.14. Số lƣợng và sản lƣợng sản phẩm chăn nuôi tỉnh Nghệ An Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 2007 I- Số lượng 1.Gia súc Ngh. con 1.793 1.854 1.921 1.850 1.919 Trong đó: - Trâu Ngh. con 288 289 294 288 292 - Bò Ngh. con 315 350 388 426 445 2. Gia cầm Ngh. con 10.524 10.274 10.950 10.156 10.730 3. Chăn nuôi khác Ngh. con 62,5 80,8 101,3 124,1 132 II. Sản lượng thịt giết mổ gia súc, gia cầm chăn nuôi Tấn 93.623 105.754 122.074 124.032 132.008 - Trong đó Thịt lợn Tấn 67.930 80.321 93.810 94.982 98.087 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Nghệ AnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 83. 75 Năm 2007, tiếp tục chỉ đạo thực hiện xây dựng các trang trại chăn nuôitập trung theo hướng công nghiệp. Đến nay, toàn tỉnh có 297 trang trại chănnuôi, trong đó có 81 trại chăn nuôi lợn; 27 trại chăn nuôi gia cầm; 162 trại chănnuôi bò và 27 trại chăn nuôi trâu. Ngoài các sản phẩm chăn nuôi truyền thốngnhư: trâu, bò, lợn, gà… đáng chú ý là đàn dê và hươu trong tỉnh ngày càngphát triển mạnh. Điển hình là ở các huyện miền núi như: Nghĩa Đàn, QuỳHợp, Tương Dương … là những nơi có điều kiện thuận lợi cho phát triển chănnuôi trâu, bò, dê, hươu. Bên cạnh đó hình thành nên những đồng cỏ phục vụchăn nuôi tạo điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất của ngành và nâng caohiệu quả kinh tế trong chăn nuôi của tỉnh. Qua số liệu thống kê ở bảng cho thấy cơ cấu khá phù hợp giữa các loạivật nuôi. Trong chăn nuôi tỉnh vẫn chú trọng phát triển đều các loại vật nuôimang tính hàng hoá phổ biến và cho giá trị kinh tế cao. Bên cạnh phát triểnmạnh đàn gia súc, gia cầm chăn nuôi lấy thịt và phục vụ chế biến, tỉnh cònquan tâm phát triển những vật nuôi mang tính đặc sản đáp ứng nhu cầu ngàycàng tăng của người tiêu dùng, của thị trường trong và ngoài nước như hươu, dê... Việc phát triển nhanh số lượng và chất lượng đàn trong chăn nuôi đãgóp phần làm tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, tăng thu nhập cho nôngdân, tăng thu ngân sách Nhà nước. Phát triển nhanh về số lượng và chất lượngđàn còn góp phần hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý trong chăn nuôi của tỉnh. Việc phát triển đa dạng các loại vật nuôi phù hợp với đặc điểm từng địaphương tạo nên một khối lượng hàng hoá tương đối về sản phẩm chăn nuôi,thể hiện cụ thể qua tỷ suất hàng hoá mà tác giả thu thập được từ các thông tinđiều tra ở một số vùng điển hình trong tỉnh * Tỷ suất nông sản hàng hoá trong chăn nuôi của tỉnh Nghệ An Qua số liệu ở bảng 2.15 chúng ta thấy, trong chăn nuôi phát triển cácloại vật nuôi mang tính đặc sản như hươu, dê... mang lại tỷ suất hàng hoá caoSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 84. 76hơn các loại gia súc, gia cầm. Hàng năm số lượng gia súc và một số vật nuôikhác mang lại một lượng hàng hoá khá lớn, tỷ suất hàng hoá về các loại vậtnuôi này chiếm bình quân hàng năm từ 80% đến trên 90%. Như vậy, nênchăng tỉnh cần có những biện pháp, chương trình đầu tư hơn nữa để phát triểnnhanh số lượng và chất lượng đàn nhằm phát huy thế mạnh của từng vùng địaphương và phát triển mạnh sản xuất hàng hoá trong ngành nông nghiệp nóichung và ngành chăn nuôi nói riêng. Bảng 2.15. Tỷ suất nông sản hàng hoá trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Chỉ tiêu ĐVT 2003 2004 2005 2006 20071. Gia súc- Số lượng Ngh.con 1.793 1.854 1.921 1.850 1.919- Tỷ suất HH % 77,63 76,84 82,92 85,32 87,842. Gia cầm- Số lượng Ngh.con 10.524 10.274 10.950 10.156 10.730-Tỷ suất HH % 52,08 48,96 56,06 49,32 50,023. Chăn nuôi khác- Số lượng Ngh.con 62,5 80,8 101,3 124,1 132-Tỷ suất HH % 87,92 88,04 89,73 92,08 94,16 Nguồn: Xử lý số liệu điều tra Tuy nhiên trong chăn nuôi những năm gần đây trên địa bàn tỉnh cònnhiều hạn chế do liên tục có những đợt đại dịch, do vậy để chăn nuôi pháttriển hơn nữa tỉnh cần có những biện pháp tốt hơn để phòng chống dịch bệnhvà đảm bảo an toàn trong chế biến các loại thực phẩm từ sản phẩm chăn nuôi. * Dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp Dịch vụ trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Nghệ An trong những nămqua đạt tốc độ phát triển tương đối (từ 1,28% năm 2003 lên 1,36% năm 2006Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 85. 77và 1,42% năm 2007). Như vậy cho thấy dịch vụ trong sản xuất nông nghiệpđã được chú trọng phát triển nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đạt hiệuquả cao hơn, dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh Nghệ An baogồm các dịch vụ cung cấp các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp như:giống, phân bón, thuốc trừ sâu, trừ cỏ …, các dịch vụ phục vụ cho chăn nuôinhư giống, thuốc phòng, chữa bệnh cho gia súc, gia cầm …, dịch vụ tưới tiêu,dịch vụ chế biến các sản phẩm nông nghiệp … Cả năm 2007 cung ứng trên địa bàn toàn tỉnh: 100.000 tấn đạm Urê,5.000 tấn đạm SA, 25.000 tấn phân Kali, 1.000 tấn phân lân, 150.000 tấnphân NPK (trong đó các đơn vị ngành cung ứng 100.000 tấn), 110 tấn thuốcBVTV, 2.000.000 liều thuốc tiêm phòng cho gia súc, 2.100 tấn lúa lai TrungQuốc, 150 tấn ngô lai (trong đó các đơn vị ngành cung ứng 100 tấn), 400 tấnlạc giống, 500 tấn lúa thuần các loại, 350 máy cày nhỏ đa chức năng, 100 cáimáy sấy nông sản, 100 cái máy gặt lúa, và 2.000 triệu đồng phụ tùng máynông nghiệp. Bên cạnh việc cung ứng đủ số lượng, kịp thời gian, giá cả hợp lý phảiđặt lên hàng đầu. Những đơn vị cung ứng vật tư, phân bón, giống cây trồng,vật nuôi, thuốc BVTV, thú y, máy cơ khí … không đảm bảo chất lượng gâythất thiệt cho người sản xuất phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệthại do loại vật tư kém chất lượng gây nên. Như vậy về cơ cấu ngành, sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong nhữngnăm qua đã có sự phát triển mạnh, đóng góp một phần đáng kể vào GDP củatỉnh, góp phần thúc đẩy nhanh quá tình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.Phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững theo hướng sản xuất hàng hoá vớiquy mô ngày càng lớn và hiệu quả ngày càng cao với mục tiêu hướng vàoxuất khẩu. Nông nghiệp Nghệ An đang dần khẳng định vị trí trên thị trườngnội địa, khu vực và thế giới, kinh tế nông nghiệp đã đóng góp một phần quanSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 86. 78trọng trong sự phát triển kinh tế chung của cả tỉnh, góp phần tăng thu nhập,nâng cao đời sống cho nông dân, tạo điều kiện cho nông dân vươn lên làmgiàu, thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn của tỉnh. Sở dĩ nông nghiệp Nghệ Anđạt được những kết quả trên là do trong những năm qua tỉnh đã có sự quantâm, đầu tư đúng hướng trong phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó đángchú ý là các chương trình, dự án chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi màtỉnh đã và đang áp dụng thực hiện. Tuy nhiên, kinh tế nông nghiệp của tỉnhtrong quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu cũng có những ưu, khuyếtđiểm nhất định mà tỉnh cần phải rút ra các bài học kinh nghiệm cho chiếnlược phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng.2.3.2.3. Cơ cấu thành phần trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Nghệ An Tham gia trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Nghệ An có các thànhphần: Doanh nghiệp Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân. Bảng 2.16. GTSX và cơ cấu GTSX các thành phần kinh tế của tỉnh Nghệ An năm 2007 Giá trị sản xuất Thành phần Cơ cấu (%) (triệu đồng) Tổng số 8.483.675 100,00 Kinh tế Nhà nước 356.165 4,20 Kinh tế tập thể 2.980.425 35,13 Kinh tế cá thể 5.142.862 60,60 Kinh tế tư nhân 6.223 0,07 - Doanh nghiệp Nhà nước trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Năm 2007, giá trị sản xuất của các doanh nghiệp Nhà nước đạt 356.165triệu đồng, chiếm gần 4,20% giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp của cácthành phần kinh tế. Điều đó cho thấy doanh nghiệp Nhà nước đã phát huy kháSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 87. 79vai trò của mình trong sản xuất nông nghiệp trong những năm qua. Giá trị sảnxuất của các doanh nghiệp Nhà nước liên tục tăng trong những năm qua. Cácdoanh nghiệp Nhà nước giữ một vị trí rất quan trọng trong phát triển sản xuấtnông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá của tỉnh Nghệ An. Các doanhnghiệp này vừa là nơi cung ứng các yếu tố đầu vào, vừa là nơi tiêu thụ các sảnphẩm nông nghiệp do nông dân sản xuất ra chưa qua chế biến, tạo điều kiệnnâng cao chất lượng hàng hoá nông - lâm sản, nâng cao năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm nông nghiệp trên thị trường trong nước và thế giới. - Thành phần kinh tế tập thể. Kinh tế tập thể trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh trong những nămqua cũng có những bước phát triển đáng kể, mà điển hình là các hợp tác xãnông nghiệp, thành phần kinh tế này đã đóng góp không nhỏ vào giá trị sảnxuất ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong những năm qua, thành phầnkinh tế này ngày càng phát huy khả năng và đem lại hiệu quả cao với tổng giátrị sản xuất nông nghiệp của thành phần kinh tế tập thể hàng năm trên 2.500triệu đồng. Cụ thể: năm 2006 đạt 2.780.046 triệu đồng, năm 2007 đạt2.980.425 triệu đồng (chiếm 35,13%). Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã thành lậpmới 8 hợp tác xã, đạt 53,34% kế hoạch, đưa tổng số HTX trên địa bàn toàntỉnh lên 378 HTX. Số xã viên HTX tăng thêm 5.275 người, số lao động cóviệc làm tăng thêm 5.970 người. Trong đó 133 HTX kinh doanh có lãi trên 20triệu đồng/năm và 36 HTX có góp vốn cổ phần mới của xã viên, cấp giấy kinhdoanh cho 231 HTX nông nghiệp. Như vậy, nhìn chung bước đầu đã tạo được chuyển biến nhận thứctrong nhân dân về HTX kiểu mới, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất, kinhdoanh và dịch vụ góp phần thúc đẩy kinh tế hộ phát triển. - Thành phần kinh tế cá thể.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 88. 80 Trong những năm qua thành phần kinh tế cá thể phát triển khá nhanh,và chủ yếu dưới các hình thức trang trại hộ gia đình Hiện nay ở khu vực nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh có 1.252 trang trại,trong đó: 646 trang trại trồng trọt; 119 trang trại chăn nuôi; 178 trang trại thuỷsản và 309 trang trại kinh doanh tổng hợp. Số trang trại được cấp giấy chứngnhận trong năm 188 trang trại. Kinh tế trang trại thực chất là kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp hàng hoá(kể cả lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản), có quy mô tương đối lớn so vớimức trung bình của kinh tế hộ tại địa phương tương ứng với từng ngành sản xuấtcụ thể. Hàng năm kinh tế trang trại đã tạo ra một khối lượng hàng hoá khá, đápứng nhu cầu về nông sản phẩm trong nước và thế giới. Với tổng giá trị sảnxuất của kinh tế trang trại năm 2006 đạt 4.373.182 triệu đồng, năm 2007 đạt5.142.862 triệu đồng (chiếm 60,6%). Mặc dù vậy, kinh tế trang trại trên đạibàn tỉnh nhìn chung quy mô trang trại còn nhỏ, phân tán, hiệu quả sản xuất vàkinh doanh chưa cao. - Thành phần kinh tế tư nhân. Thành phần kinh tế tư nhân tham gia trong sản xuất nông nghiệp khôngđáng kể. Năm 2007 giá trị sản xuất của thành phần kinh tế này đạt 6.223 triệuđồng (chiếm 0,07%). Sở dĩ như vậy là do thành phần kinh tế tư nhân hoạtđộng trong nông nghiệp mới hình thành từ năm 2005 với quy mô nhỏ và chưathực sự phát huy vai trò, khả năng trong sản xuất nông nghiệp nên hiệu quảđạt được còn rất khiêm tốn Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Nghệ an đã có sự tham giađa dạng của các thành phần kinh tế, trong đó đáng chú ý là thành phần kinh tếcá thể mà chú trọng là kinh tế trang trại phát triển khá mạnh, phát huy đượctiềm năng lợi thế của một số vùng trong nước. Sự tham gia và phát triển củaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 89. 81các thành phần kinh tế trong nông nghiệp đã góp phần to lớn làm cho sản xuấtnông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những kếtquả đạt được, sản xuất nông nghiệp của tỉnh Nghệ an trong những năm quavẫn còn rất nhiều hạn chế, tồn tại cần có giải pháp thiết thực và hiệu quả hơnnhằm thúc đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn và pháttriển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá bền vững và ổn định.2.3.3 Những kết quả đạt đƣợc và tồn tại trong chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành nông nghiệp tỉnh Nghệ An * Kết quả đạt được - Thông qua chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng cánhđồng có thu nhập cao đã làm chuyển biến mạnh mẽ và sâu sắc nhận thức củacán bộ cũng như nông dân tỉnh Nghệ An về ý thức bố trí cơ cấu cây trồng cóhiệu quả kinh tế cao. Từng bước chuyển từ sản xuất những gì mình có sangsản xuất những gì thị trường cần và biết quan tâm hơn đến chất lượng, mẫumã sản phẩm. Năm 2007, sản xuất nông nghiệp ở tỉnh gặp nhiều khó khăn nhưng việcchuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng cánh đồng có thu nhập cao vẫn tiếp tụcđược đẩy mạnh thực hiện trên các địa phương, hiệu quả của việc chuyển đổiđược khẳng định trên cả hai mặt: Tăng tổng sản phẩm xã hội và tăng thu nhậpcho nông dân. Đã có bước chuyển biến khá mạnh mẽ trong việc phát triển câytrồng có hiệu quả kinh tế cao bằng các công thức chuyên rau hoặc sử dụngcác công thức luân canh có ít nhất một vụ rau; đặc biệt là diện tích dưa hấu đãđạt trên 1000 ha. Đã có nhiều địa phương (xã, HTX) năng động trong việc tìmkiếm thị trường, tiêu thụ sản phẩm, đã tạo được đầu ra ổn định cho sản phẩmnên hiệu quả sản xuất rất cao. - Hình thức chuyển đổi khá phong phú, cùng với hướng dẫn của ngànhNông nghiệp và Phát triển nông thôn, nông dân đã sáng tạo ra nhiều côngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 90. 82thức luân canh cây trồng trong từng điều kiện sản xuất cụ thể để phát huy hiệuquả sử dụng đất, lao động và nhu cầu thị trường trong mối quan hệ sản xuất -tiêu dùng một cách năng động, hiệu quả. - Thông qua chuyển đổi kinh nghiệm sản xuất, tiến bộ kỹ thuật đượcphát huy, kiến thức và trình độ người sản xuất được nâng lên theo hướng sảnxuất hàng hóa. - Kết quả chuyển đổi khẳng định khả năng mở rộng diện tích cánh đồngcó thu nhập cao là hoàn toàn thực tế, tăng tổng sản lượng nông sản phẩm, tăngthu nhập và chuyển dịch cơ cấu thu nhập trong sản xuất ngành trồng trọt. - Đã từng bước xây dựng được các cánh đồng sản xuất tập trung, đượcđầu tư cơ sở hạ tầng (điện, giếng nước …) đáp ứng yêu cầu sản xuất mang lạihiệu quả kinh tế cao. - Đã khẳng định được nhiều công thức luân canh cây trồng phù hợp chotừng vùng, cho thu nhập cao. Và có thể khẳng định nếu phát huy hết lợi thếsẵn có, ứng dụng mạnh các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và tập trung đầu tưthâm canh đúng mức cùng với việc lựa chọn, bố trí cơ cấu sản xuất hợp lý,chính xác thì khả năng tạo ra mức tổng thu 50 triệu đồng/ha/năm và cao hơnnữa đối với nông nghiệp Nghệ An là hoàn toàn hiện thực trên diện rộng. - Về chăn nuôi tỉnh đã có những chương trình đầu tư phù hợp cho việcphát triển các loại vật nuôi trên từng vùng, từng địa phương, phát triển mạnhcác loại con là thế mạnh của vùng, cho giá trị kinh tế cao, mang tính hàng hoánhằm đáp ứng nhu cầu trong từng địa phương, trong tỉnh, trong nước và trênthị trường thế giới. - Nuôi trồng thuỷ sản trong những năm qua đã được chú trọng pháttriển và mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho người dân, đóng gópđáng kể vào GDP của ngành nông nghiệp và tạo ra một lượng hàng hoá xuấtkhẩu khá lớn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 91. 83 * Tồn tại. - Những định hướng trong chuyển đổi theo chủ trương của tỉnh vẫnchưa được tập trung giải quyết tốt nhất: các định hướng về phát triển câynguyên liệu (sắn, dứa, mía) và định hướng chuyển đổi cơ cấu cấy trồng trênđất lúa cưỡng, đất màu kém hiệu quả, vẫn còn nhiều địa phương chưa xâydựng kế hoạch chuyển đổi một cách cụ thể để tập trung chỉ đạo thực hiện. - Cơ sở hạ tầng để giúp nông dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồngvẫn chưa được cải thiện đáng kể. - Chưa tạo được thị trường ổn định cho nông sản phẩm thông qua quátrình chuyển đổi tạo ra, việc tiêu thụ sản phẩm chủ yếu do sự năng động củangười sản xuất. - Những mô hình thu nhập cao vẫn tập trung ở những vùng có truyềnthống, vùng dễ làm và việc mở rộng ra những vùng khó khăn hầu như chưathực hiện được. Thậm chí một số vùng đất bãi ven sông có tiềm năng rõ như ởNam Đàn, Hưng Nguyên vẫn chưa thực hiện được công thức luân canh 3 vụ. - Vẫn còn rất nhiều địa phương chưa xây dựng đề án chuyển đổi cơ cấucây trồng của địa phương, chưa có nghị quyết của cấp uỷ chuyên về chuyểnđổi cơ cấu cây trồng, xây dựng cánh đồng có thu nhập cao mà chỉ có đề ánmang tính chuyên đề như: Đề án xây dựng và nhân rộng mô hình cánh đồngcó thu nhập cao, đề án phát triển các cây nguyên liệu … - Trong quá trình chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng vừa qua, ngoàiviệc đi sâu giải quyết một số vấn đề kỹ thuật trong các công thức luân canh vàtrong các mô hình thì nhiều vấn đề về chỉ đạo, tổ chức quản lý, dịch vụ haiđầu mới làm được rất ít. Các yếu tố, điều kiện để thực hiện chuyển đổi có hiệuquả như đầu tư cơ sở hạ tầng, cải tạo đồng ruộng,… chưa được giải quyếtđồng bộ và quan tâm đúng mức. - Các mô hình có thu nhập cao trên đơn vị diện tích chủ yếu sản xuấtcác loại cây trồng có tính hàng hoá và có thị trường tiêu thụ. Các mô hình đạtSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 92. 84giá trị cao chủ yếu tập trung vào các cơ cấu có ít nhất một vụ rau hoặc một vụdưa, chuyên màu, chuyên hoa, chuyên rau, cây ăn quả có giá trị... - Tỷ trọng chăn nuôi vẫn đạt thấp, chủ yếu vẫn là trồng trọt, sản xuất nôngnghiệp ở một số nơi còn thiếu tính bền vững và chưa khai thác có hiệu quảnhững tiềm năng, lợi thế của từng vùng. Chất lượng nhiều loại nông sản cònthấp, chưa đồng đều, giá thành còn cao, kém sức cạnh tranh và hiệu quả thấp. - Cơ giới hóa chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệpnông thôn theo hướng sản xuất quy mô trang trại. Mức độ cơ giới hóa trongnhiều khâu sản xuất còn ít và chậm, nhất là khâu công nghệ trong và sau thu hoạch. - Môi trường vẫn đang đứng trước nguy cơ suy thoái - Cơ sở hạ tầng như điện, đường giao thông, mặt bằng sản xuất, hệthống kênh mương tưới tiêu,… phục vụ sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạnchế nên khó khăn cho việc bố trí các công thức luân canh có hiệu quả kinh tếcao, nhất là các công thức có sử dụng ít nhất một vụ rau. - Việc tổ chức sản xuất tiêu thụ sản phẩm còn nhiều khó khăn. Nhiềusản phẩm sản xuất có giá trị thu nhập cao thì đầu ra lại gặp khó khăn nên việcmở rộng quy mô còn chậm. * Nguyên nhân tồn tại Những hạn chế và tồn tại nêu trên của ngành nông nghiệp Nghệ An làdo nhiều nguyên nhân, song cần lưu ý một số nguyên nhân sau: Quá trìnhchuyển dịch cơ cấu ở một số vùng và địa phương trong tỉnh chưa gắn kết chặtchẽ giữa việc định hướng quy hoạch với việc tổ chức thực hiện quy hoạch vàbố trí sản xuất theo quy hoạch; sản xuất còn nảy sinh nhiều yếu tố tự phát,hiệu quả sản xuất/ha còn kém hiệu quả, thiếu ổn định và bền vững; hệ thốngthuỷ lợi đầu tư thiếu đồng bộ và chưa khép kín; Trong những năm gần đây,công tác xây dựng và nhân rộng mô hình sản xuất hiệu quả, tập huấn kỹ thuậtsản xuất, chuyển giao công nghệ, đưa giống cây, giống con có năng suất caovào sản xuất được chú trọng nên bước đầu đã đạt được một số kết quả nhấtđịnh nhưng phần lớn việc nhân rộng mô hình rất chậm và chưa được nhiều.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 93. 85Riêng xây dựng mô hình cánh đồng 50 triệu/ha và hộ thu nhập 50 triệu/hatriển khai thực hiện chưa đồng bộ, chưa rộng khắp ở các địa phương trong tỉnh.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 94. 86 CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNGNGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI TỈNH NGHỆ AN3.1. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, PHƢƠNG HƢỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI TỈNHNGHỆ AN ĐẾN NĂM 20203.1.1. Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội cả nước, của vùngBắc trung bộ và duyên hải Trung Bộ, xuất phát từ tình hình trong nước vàquốc tế, từ tiềm năng, lợi thế, hạn chế, thực trạng phát triển kinh tế - xã hộinói chung và phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong những năm quacủa tỉnh nói riêng và dự báo bối cảnh phát triển của Nghệ An đến năm 2020,các quan điểm cơ bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sảnxuất hàng hoá của tỉnh đến năm 2020 như sau: - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm phát triển nền nôngnghiệp hàng hoá toàn diện và tăng trưởng bền vững. Đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng gắn với bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn. Thực tế quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệpở nước ta đã cho thấy sự bất hợp lý ở rất nhiều địa phương trong cách nhìnnhận về phát triển sản xuất hàng hoá. Điều đó dẫn đến sự phát triển ồ ạt, thiếutính khoa học, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên làm thoái hoá chấtđất, cạn kiệt nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, sử dụng hoá chất trongsản xuất vượt mức an toàn thực phẩm. Sở dĩ có sự bất hợp lý đó là do nhữngngười sản xuất muốn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường về các loạinông sản hàng hoá.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 95. 87 Một thời gian dài ở nước ta đã xảy ra tình trạng chặt phá rừng để trồngồ ạt các loại cây công nghiệp, nhưng sau đó đã thu được những bài học đắtgiá. Kết quả là không đảm bảo về giống, phân bón không đủ, nước thiếu, sâubệnh không khống chế được, giá thành cao, tiêu thụ chậm, hiệu quả kinh tếthấp, nông dân thấy không có lợi lại chặt phá để trồng loại cây khác. Nhiều khu vực trồng cây ăn quả như vải, nhãn, cam, bưởi...phát triểnnhanh thành vùng hàng hoá tập trung, song chỉ được một thời gian là xuốngdốc do dịch bệnh, thị trường tiêu thụ không ổn định, giá cả thấp không đủ bùđắp chi phí chăm bón, sản phẩm chất lượng thấp thiếu tính cạnh tranh. Nhữngvườn cây ăn quả lại bị thu hẹp. Điều đó cho thấy nông sản hàng hoá thiếu tínhổn định, bền vững, phát triển mang tính chủ quan, tự phát, duy ý chí. Như vậy để phát triển nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam nói chung vàở Nghệ An nói riêng cần đảm bảo các yêu cầu: + Phát triển nông nghiệp hàng hoá ổn định trong thời gian nhất địnhphù hợp tại mỗi địa phương, mỗi vùng, tiểu vùng lãnh thổ phải dựa trên cơ sởlợi thế và tiềm năng của mình về đất đai, điều kiện tự nhiên, khả năng về vốn,công nghệ sản xuất, điều kiện giao thông, thị trường tiêu thụ... + Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi và tích tụ ruộng đất ở những vùngmanh mún, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác theo phương thức sản xuấtlớn, hiện đại, vừa đảm bảo chuyên môn hoá, vừa đa dạng hoá, áp dụng côngnghệ cao, sạch trong sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Đồng thời pháttriển sản xuất gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. + Phát triển nông nghiệp hàng hoá còn phải quan tâm đến bảo vệ môitrường sinh thái và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 96. 88 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hànghoá phải đảm bảo công bằng xã hội. Phát triển nhanh và bền vững phải gắn với ổn định xã hội và nâng caođời sống của nhân dân, xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa cácvùng miền nông thôn. Muốn vậy, cần có các chương trình dự án phát triển sảnxuất nông nghiệp phù hợp với đặc điểm, phong tục tập quán của dân cư ở mỗivùng miền. Phát triển đa dạng ngành nghề trong nông nghiệp, nông thôn, đadạng hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ dân cư, tập quán canhtác, tạo điều kiện thuận lợi về vốn đầu tư, tạo thị trường tiêu thụ cho nhữngvùng khó khăn, hình thành vùng sản xuất nguyên liệu tập trung phục vụ cácnhà máy chế biến... - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải có sự kết hợp giữatruyền thống và hiện đại Để phát triển nhanh nền nông nghiệp hàng hoá cần áp dụng những tiếnbộ của khoa học kỹ thuật trong sản xuất như: giống, kỹ thuật sản xuất hiệnđại, phương pháp chế biến bảo quản nông sản phẩm...nhưng phải kế thừa kinhnghiệm truyền thống trong sản xuất. Có như vậy mới đảm bảo phát triển một nềnnông nghiệp hàng hoá ổn định, vững chắc và đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội.3.1.2. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng sảnxuất hàng hoá của tỉnh Nghệ An Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nghệ An theo hướng pháttriển sản xuất hàng hoá và bền vững với các mục tiêu được xác định trong quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là: - Đẩy mạnh phát triển sản xuất để đạt mức tăng trưởng bình quân5,3%/năm giai đoạn 2006- 2010; 5,2%/năm giai đoạn 2011- 2015 và4,9%/năm giai đoạn 2016- 2020. Tỷ trọng Giá trị gia tăng nông nghiệp chiếm80% ngành Nông, lâm, ngư.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 97. 89 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng tích cực,đưa giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chiếm 40- 50% GTSX nông nghiệp giaiđoạn 2006- 2010, trên 50% giai đoạn 2011- 2020; phấn đấu đến năm 2020:đàn trâu, bò: 1,5- 1,8 triệu con (trâu 550- 560 ngàn con, tăng 2,6%/năm; đànbò 750- 760 ngàn con, tăng trên 7,7%/năm); đàn lợn gần 1,5 triệu con, tăng3,2%; đàn gia cầm 20- 22 triệu con. Tăng nhanh GTSX ngành thuỷ sản, đểngành thuỷ sản chiếm trên 15% giá trị sản xuất nông, lâm, ngư giai đoạn 2011- 2020. - Đến năm 2020, sản lượng lương thực đạt khoảng 1,4 triệu tấn (trongđó lúa khoảng 1 triệu tấn), tổng đàn trâu bò đạt 1.480 nghìn con, tổng sảnlượng thuỷ sản đánh bắt và nuôi trồng đạt 106 nghìn tấn, bình quân đầu ngườiđạt 340- 350 kg lương thực, 20- 22 kg thịt hơi các loại, 12-15 kg cá, 60-80kgrau quả, 50- 60 kg đường; Xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp đạt 80- 100 triệuUSD [3]. Với mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơcấu kinh tế nông nghiệp nói riêng, Nghệ An đã tính toán, lựa chọn và dự kiếncơ cấu GTSX các ngành kinh tế và cơ cấu lao động cho đến năm 2020 ở bảng 3.2. Theo số liệu ở bảng 3.2 cho thấy tỷ trọng nông, lâm, thuỷ sản giảm dầntrong các năm, từ 34,2% năm 2005 giảm xuống 24% năm 2010; 18,2% năm2015 và 14% năm 2020. Tuy tỷ trọng giảm nhưng tổng giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản vẫnđạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 5%/năm. Cơ cấu lao động cũng đượcchuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp vàdịch vụ tăng nhanh, tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm phù hợp với quátrình CNH - HĐH nền kinh tế nhưng vẫn đảm bảo phát triển nền nông nghiệpsản xuất hàng hoá hiệu quả cao và bền vững.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 98. 90Bảng 3.1. Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động tỉnh Nghệ An đến năm2020 ĐVT: % 2005 2010 2015 2020 I- Cơ cấu ngành kinh tế Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0 1. Công nghiệp - xây dựng 30,4 39,0 41,4 43,0 2. Dịch vụ 35,4 37,0 40,4 43,0 3. Nông - Lâm - Thuỷ sản 34,2 24,0 18,2 14,0 II- Cơ cấu lao động Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0 1. Công nghiệp - xây dựng 8,1 15,0 20,0 23,0 2. Dịch vụ 12,3 17,0 22,0 28,0 3. Nông - Lâm - Thuỷ sản 79,6 68,0 58,0 49,0 Nguồn: Sở Kế hoạch đầu tư Nghệ An3.1.3. Phƣơng hƣớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớngsản xuất hàng hoá ở tỉnh Nghệ An đến năm 2020.3.1.3.1. Phương hướng chung Phát triển mạnh các ngành sản xuất hàng hoá, thu hẹp các ngành sảnxuất mang tính tự cung, tự cấp trên cơ sở phát huy lợi thế, khai thác tiềmnăng, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn vànguồn nhân lực để xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá, có năng suất,chất lượng và hiệu quả cao. Đưa nông nghiệp và nông thôn Nghệ An ra khỏitình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống nông dân, góp phần giảm chênhlệch giữa thành thị và nông thôn, giữa miền núi và đồng bằng. Đẩy nhanh tốcđộ phát triển ngành nông nghiệp trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào sản xuất và quản lý. Xây dựng nông thôn mới, có cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ hợp lý, từng bước đưa nền sản xuất nôngnghiệp và nông thôn tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 99. 91 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành một số vùng cây công nghiệpvới quy mô lớn gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; đưa chăn nuôi trởthành ngành chính, đẩy mạnh chăn nuôi đại gia súc ở các huyện miền núi; đẩymạnh phát triển các loại rau thực phẩm, hoa, cây cảnh nhằm đáp ứng nhu cầutại chỗ cho người tiêu dùng; tăng nhanh giá trị sản phẩm trên một đơn vị diệntích canh tác. Khai thác, sử dụng có hiệu quả diện tích đất lâm nghiệp. Pháttriển thuỷ sản một cách toàn diện, bao gồm đánh bắt và nuôi trồng, chú trọngmở rộng nuôi trồng trên biển; đưa nhanh diện tích mặt nước các hồ đập lớnvào nuôi trồng thuỷ sản. Mở rộng các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất nôngnghiệp. Từng bước hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá vớicông nghệ cao nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trongnước và xuất khẩu, góp phần tăng nhanh hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp.3.1.3.2. Phương hướng chuyển dịch cụ thể trong nông nghiệp thuần * Trồng trọt - Cây rau thực phẩm và hoa cây cảnh Cây rau thực phẩm: Với tốc độ đô thị hoá và công nghiệp hoá ngàycàng tăng, nhu cầu về rau thực phẩm của người dân ngày càng lớn. Tập trungphát triển các vùng rau chuyên canh với quy mô khoảng 30.000 ha theohướng thâm canh tăng năng suất, ở khu vực vành đai thành phố, thị xã và cáckhu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp và các xã đồng bằng ven biển để đápứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh. Để tạo điều kiện phát triển sản xuất cần cầnchú trọng xây dựng các cơ sở sản xuất giống rau quả để chủ động trong sảnxuất, đa dạng hoá các sản phẩm rau quả. Hoa, cây cảnh: Do cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu tại chỗ về hoa,cây cảnh ngày càng lớn. Phát triển theo hướng đầu tư chiều sâu, áp dụng côngnghệ cao (sản xuất trong nhà lưới) sản xuất ra sản phẩm chủ yếu phục vụ nhucầu tại chỗ.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 100. 92 - Cây lương thực Cây lúa: Phát triển trồng lúa trên diện tích chủ động tưới tiêu, đầu tưthâm canh, đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là khâugiống để tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm. Đối với vùng miền núicao, nơi giao thông còn khó khăn, trước mắt tận dụng tối đa diện tích có thểtrồng được lúa để đáp ứng nhu cầu tại chỗ, về lâu dài khi điều kiện giao thôngđã thuận lợi có thể vận chuyển lương thực từ nơi khác đến thì không trồnglương thực bằng mọi giá mà phải tính đến hiệu quả kinh tế. Dự kiến diện tíchgieo trồng lúa vào các năm 2010, 2015, 2020 tương ứng là 175.000 ha,170.000 ha, 165.000 ha. Cần quy hoạch thành vùng tập trung với quy mô trên 30% tổng diệntích trồng lúa để phát triển các loại giống lúa chất lượng cao nhằm đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu.Dự kiến bố trí ở các huyện trọng điểm như: Yên Thành, Diễn Châu, QuỳnhLưu, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương … Chủ động việc chuyển đổi diệntích trồng lúa hiệu quả không cao sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi và các loạicây trồng khác có hiệu quả cao hơn. Cây ngô: Dự báo nhu cầu trong nước về sản phẩm ngô phục vụ chếbiến thức ăn gia súc ngày càng tăng, do vậy cần mở rộng diện tích đi đôi vớiđầu tư thâm canh sản xuất ngô. Đẩy mạnh sản xuất ngô vụ đông xuân trêndiện tích đất 2 lúa, diện tích lúa cấy cưỡng và đất bãi (dự kiến đạt 70.000 hanăm 2010, 75.000 ha năm 2015 và 80.000 ha năm 2020), tích cực áp dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhất là đưa giống mới vào sản xuất - Cây công nghiệp dài ngày Cây cao su: Bố trí trồng chủ yếu ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, QuỳChâu và một số huyện miền núi thấp có điều kiện, dự kiến đạt 7.000 ha năm2010; 9.000 ha năm 2015 và 11.000 ha năm 2020.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 101. 93 Cây chè: Mở rộng diện tích đi đôi với đầu tư thâm canh tăng năng suất,nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua việc đưa các giống mới chất lượngcao vào sản xuất và hiện đại hoá công nghệ chế biến. Trồng mới, mở rộngdiện tích để có khoảng 13.000 ha vào năm 2010, 15.000 ha vào năm 2015 và17.000 ha vào năm 2020, vùng nguyên liệu chè tập trung với quy mô lớnđược bố trí chủ yếu ở các huyện miền núi Thanh Chương, Đô Lương, ConCuông, Anh Sơn Quế Phong, Kỳ Sơn …( trong đó Kỳ Sơn chủ yếu phát triểngiống chè tuyết san). Chú trọng đổi mới khâu giống để đưa những giống mớichất lượng cao vào sản xuất; đầu tư dây chuyền chế biến với công nghệ hiệnđại, tạo ra những sản phẩm chế biến đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.Cây cà phê: Phát triển các loại cà phê chè, bố trí chủ yếu trên đất BaZan cóđiều kiện tưới chủ động ở Phủ Quỳ (Nghĩa đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ) dự kiếnđạt 3.500 ha vào năm 2010 và ổn định 3.500 ha sau năm 2010. - Cây công nghiệp ngắn ngày Cây lạc: Thâm canh cao trên đất trồng lạc hiện có, đồng thời mở rộngdiện tích trồng lạc trên đất lúa cấy cưỡng, trên đất mía và các cây trồng luâncanh khác, mở rộng diện tích lạc vụ thu đông, chú trọng đưa nhanh nhữnggiống mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất. Tập trung đầu tưđồng bộ hệ thống tưới tiêu cho các vùng sản xuất lạc tập trung ở Diễn Châu,Nghi lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp. Dự kiến quy môdiện tích lạc đến năm 2010, 2015 và 2020 tương ứng là 30.000 ha, 31.000 havà 32.000 ha. Cây sắn: Bố trí ổn định diện tích trồng phục vụ cho các nhà máy chếbiến ở Thanh Chương, Yên Thành với công suất từ 170 - 200 tấn/ngày, dựkiến diện tích 4.000 ha, được trồng chủ yếu ở các huyện Thanh Chương, NamĐàn, Nghi Lộc...Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 102. 94 Mía đường: Để đủ nguyên liệu cho các nhà máy đường hoạt động, vớicông suất dự kiến trên 18.000 tấn mía/ngày vào năm 2020 (trong đó nhà máyNghệ An T &L 16.000 tấn/ngày, Sông Con, Sông Lam 2.500 tấn/ngày), dựkiến bố trí 28.600 ha vào năm 2010, 33.600 ha vào năm 2020, mía được trồngtập trung ở các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tân kỳ,Anh Sơn Cây vừng: Dự kiến bố trí với quy mô 7.000 ha trên đất luân canh trồnglạc có điều kiện thoát nước tốt, chú trọng đưa giống có năng suất, chất lượngcao vào sản xuất, tập trung thâm canh để đạt năng suất bình quân trên 7 tạ/ha. - Các loại cây ăn quả Cùng với mức sống và thu nhập ngày càng tăng, nhu cầu về sản phẩmcây ăn quả ngày càng lớn. Triển vọng thị trường trong nước và nước ngoàiđối với các sản phẩm cây ăn quả của Nghệ An rất sáng sủa. Nghệ An có điềukiện để phát triển các loại cây ăn quả sau: Cây cam: Phát triển vùng cam tập trung với quy mô diện tích khoảng5.000 ha năm 2010 tăng lên 7.000 ha năm 2015 và 10.000 ha năm 2020, bố tríchủ yếu ở các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ, Con Cuông, ThanhChương, Anh Sơn... Chú trọng áp dụng tiến bộ khoa học vào công tác phòngtrừ sâu bệnh hại cam, khâu bảo quản sau thu hoạch và đầu tư xây dựng nhàmáy chế biến Cây dứa: Phát triển mạnh cây dứa nguyên liệu để phục vụ chế biến, mởrộng diện tích đi đôi với đầu tư thâm canh để đáp ứng nguyên liệu chế biếncho nhà máy chế biến công suất 5.000 tấn sản phẩm/năm hiện nay và tươnglai sẽ mở rộng để đạt công suất 10.000 tấn sản phẩm/năm ở Quỳnh Lưu. Hìnhthành thêm vùng nguyên liệu để phục vụ nhà máy sẽ xây dựng ở Tân Kỳ vớicông suất 10.000 tấn sản phẩm/năm. Dự kiến bố trí trồng 7.500 ha dứa ở cáchuyện Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Anh Sơn …Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 103. 95 Bên cạnh đó còn khuyến khích phát triển các loại cây ăn quả khác như:chuối, hồng, chanh ở những nơi có điều kiện phù hợp, gắn với đầu tư các cơsở bảo quản, chế biến nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. * Chăn nuôi Chú trọng phát triển mạnh chăn nuôi cả về số lượng và chất lượng đàn. Với các loại con nuôi chủ lực là trâu, bò, lợn và gia cầm, đến năm 2020dự báo đàn bò đạt 1,05 triệu con, trâu đạt 430 nghìn con, lợn đạt 2,8 triệu con,gia cầm 26 triệu con. Tập trung đầu tư phát triển chăn nuôi trâu, bò thịt ở tấtcả các vùng, nhất là các huyện miền núi, với hình thức chăn nuôi tập trungquy mô lớn, phát triển chăn nuôi theo mô hình công nghiệp ở các huyện đồngbằng và miền núi thấp. tiếp tục đẩy mạnh việc cải tạo đàn bò thịt. Quy hoạchđất trồng cỏ phục vụ chăn nuôi trâu bò với quy mô phù hợp với số lượng đàn. Đối với chăn nuôi bò sữa cần nghiên cứu kỹ địa bàn, điều kiện đảm bảocho chăn nuôi do làm ồ ạt dễ bị thất bại như một số tỉnh khác. Phát triển mạnhchăn nuôi lợn và gia cầm ở vùng đồng bằng, ven đô thị theo hướng chăn nuôitập trung, mô hình công nghiệp. Chú trọng phát triển chế biến thức ăn gia súcđể phục vụ chăn nuôi; xây dựng các cơ sở chế biến thịt với các loại sản phẩmphù hợp với nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu * Thuỷ sản Về nuôi trồng: Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản ven biển một cáchbền vững. Đẩy mạnh chương trình nuôi cá lồng trên biển với quy mô lớn, tậptrung các vùng quanh đảo Ngư (Cửa lò), Quỳnh Lưu, mỗi năm tăng thêm 50lồng với các loại cá đặc sản (cá sòng, cá giò, cá mú …),để tăng sản phẩmxuất khẩu. Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, tập trung nuôithâm canh các đối tượng nuôi đã khẳng định được tính hiệu quả như: cá rôphi,cá lồng trên sông, hồ, đập lớn và phát triển các con nuôi như: tôm càng xanh,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 104. 96cá hồng mỹ … để đến năm 2020 diện tích nuôi nước ngọt đạt 22.000 ha, trongđó diện tích nuôi rôphi khoảng 2.700 ha. Ổn định nuôi trồng mặn lợ trên cơ sởtăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, đưa các giống mớivào sản xuất, đưa vào nuôi vụ 2 trên ao tôm các đối tượng nuôi phù hợp nhưcua, cá rôphi, cá vược … Phấn đấu đến năm 2020, ổn định diện tích nuôi mặnlợ ở mức 3.500- 3.700 ha, trong đó nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh1.800- 2.000 ha. - Tiếp tục phát triển khai thác hải sản xa bờ, đẩy mạnh nuôi trồng thuỷsản trên các diện tích mặt nước, đa dạng hình thức nuôi và cơ cấu giống nuôi,đặc biệt chú trọng nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt và nuôi biển với các đốitượng có giá trị kinh tế cao, trong nuôi trồng cần chú trọng công tác bảo vệmôi trường để tránh bị ô nhiễm, phát triển các hình thức nuôi sạch, nuôi sinhthái, luân canh, xen canh, phục hồi các loài bản địa có giá trị. Xây dựng kếhoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ hải sản trên biển và nội địa (SôngLam, Sông Hiếu … và các hồ chứa). Phấn đấu ổn định sản lượng khai thác ởmức 50 - 55 nghìn tấn/năm (trong đó khai thác biển đạt 45 nghìn tấn/năm, baogồm đánh bắt ở vùng biển Nghệ An và các vùng khác), tăng nhanh sản lượngnuôi trồng lên 38 nghìn tấn năm 2010 và 51 nghìn tấn năm 2020 để đạt tổngsản lượng thuỷ hải sản 106 nghìn tấn vào năm 2020.3.2. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆPTHEO HƢỚNG SẢN XUẤT HÀNG HOÁ TẠI TỈNH NGHỆ AN.3.2.1. Giải pháp chung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệptheo hƣớng sản xuất hàng hoá của tỉnh Nghệ An* Giải pháp về quy hoạch và phát triển vùng kinh tế Tiến hành lập quy hoạch phát triển các ngành các vùng kinh tế phù hợpvới quy hoạch, kế hoạch phát triển sản xuất và lợi thế của mỗi vùng gắn vớicông nghiệp chế biến tạo ra vùng sản xuất hàng hoá lớn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 105. 97 - Vùng miền núi Tây Bắc + Phát triển nhanh về số lượng và chất lượng đàn gia súc: trâu, bò, dê… + Ổn định vùng chuyên canh và thâm canh trồng mía quy mô 30.000- 31.000 ha, đảm bảo nguyên liệu cho nhà máy đường liên doanh và SôngCon; sử dụng sản phẩm sau đường để sản xuất cồn và phân vi sinh + Phát triển vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày: cà phê 4,5nghìn ha, cao su 9 - 10 nghìn ha, cam 8 - 9 nghìn ha. + Phát triển trồng và chế biến dứa và các loại cây ăn quả khác như:cam, chanh… phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa; quy hoạch vùng trồngdứa nguyên liệu 4.000- 5.000 ha. + Phát triển lâm nghiệp theo hướng: phủ xanh đất trống đồi núi trọc,bảo vệ tốt rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng Pù Huống, kết hợp vớikhoanh nuôi, tái sinh đảm bảo cân bằng sinh thái. Phát triển trồng rừngnguyên liệu phục vụ chế biến đồ gỗ, nguyên liệu giấy, ván MDF. + Hoàn thiện hệ thống kênh mương để phát huy công trình hồ thuỷ lợiSông Sào (công suất tưới 5.000 ha trong đó có 3.000 ha cây công nghiệp) - Vùng miền núi Tây Nam + Phát triển các vùng chuyên canh trồng cây công nghiệp như: chè,mía, cam, sắn nguyên liệu cho nhà máy chế biến và một số cây công nghiệpphù hợp khác; phát triển mạnh chăn nuôi trâu, bò thịt, dê để có nhiều sảnphẩm hàng hoá cho chế biến và xuất khẩu. + Phát triển lâm nghiệp theo hướng: phủ xanh đất trống đồi núi trọc,bảo vệ tốt rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng Pù Huống, kết hợp vớikhoanh nuôi, tái sinh đảm bảo cân bằng sinh thái. Phát triển trồng rừngnguyên liệu phục vụ chế biến đồ gỗ, nguyên liệu giấySố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 106. 98 + Khoanh nuôi bảo vệ và trồng rừng mới để phát triển vốn rừng, tăngđộ che phủ, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước và tạonguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồ gỗ, bột giấy. trồng các loạicây phù hợp làm cây chủ để phát triển nuôi cánh kiến đỏ. Thực hiện tốtchương trình định canh, định cư và sản xuất nông - lâm kết hợp cho bà conđồng bào vùng cao. Thực hiện tốt chương trình Quốc gia: Xoá đói, giảmnghèo, định canh định cư, khuyến nông …Phát triển một số loại cây dược liệuquý ở Mường Lống, Nậm Cắn - Vùng đồng bằng ven biển Đây là vùng có điều kiện để phát triển các loại cây lương thực, nhất làlúa và cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, vừng, phát triển nuôi trồng vàđánh bắt thuỷ hải sản, nơi có nguồn nhân lực dồi dào, trình độ cao hơn cácvùng khác, do vậy có điều kiện phát triển các sản phẩm công nghiệp có hàmlượng trí tuệ cao. Do đó cần chú trọng định hướng phát triển vùng: + Chú trọng phát triển trồng lúa trên diện tích chủ động tưới tiêu, mởrộng diện tích ngô vụ đông trên diện tích hai lúa. Thâm canh cao diện tíchlương thực, đặc biệt là diện tích lúa nước trên hai vùng trọng điểm lương thực(Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Đô lương và Nam Đàn, Hưng Nguyên).Hình thành vùng sản xuất lúa chất lượng cao phục vụ nhu cầu trong nước vàxuất khẩu. + Phát triển mạnh cây công nghiệp ngắn ngày. Chuyển đổi một số diệntích lúa cấy cưỡng sang trồng lạc để tăng diện tích và sản lượng lạc cho chếbiến và xuất khẩu. Phát triển trồng dứa ở một số vùng đồi của một số huyệnđể cung cấp cho nhà máy chế biến ở Quỳnh Lưu + Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, bò thịt theo mô hình chăn nuôicông nghiệp. Khai thác có hiệu quả diện tích mặt nước ao, hồ để phát triểnnuôi trồng thuỷ sản. Đầu tư mở rộng diện tích và thâm canh nuôi tôm xuấtSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 107. 99khẩu ở Diễn Châu. Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, đầu tư đồng bộ phát triển đội tàuđánh bắt xa bờ. Đồng thời phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông -lâm - thuỷ sản, sản xuất hoá chất … * Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn Ưu tiên phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất.Xây dựng các công trình giao thông trên cơ sở quy hoạch đã được duyệt, nângcấp các tuyến đường liên xã, nội xã, giải quyết xong giao thông nông thôn bảnvào năm 2020, đảm bảo các yêu cầu phát triển kinh tế của nông thôn. Đẩynhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư đường vào các xã chưa có đường ôtôvà trung tâm xã, các xã chỉ có đường ôtô vào được mùa khô. Tăng cường đầu tư cho các công trình thuỷ lợi để đáp ứng yêu cầu pháttriển sản xuất, ổn định cuộc sống cho các khu dân cư, phát triển thuỷ lợi vừavà nhỏ, kênh mương nội đồng, đáp ứng yêu cầu của cây trồng vật nuôi. Đảmbảo cung cấp nước sinh hoạt cho các gia đình theo tiêu chuẩn về nước sạch,chú trọng việc giải quyết vấn đề môi trường nông thôn do quá trình tăng mậtđộ dân cư, phát triển làng nghề. Phát triển mạng lưới điện đến các điểm dân cư vùng miền núi, đến năm2015 có 100% hộ nông dân được dùng điện để sinh hoạt và phục vụ sản xuất.Chú trọng đầu tư theo quy hoạch các công trình cần thiết ở nông thôn theohướng văn minh hiện đại * Giải pháp về vốn và sử dụng vốn Để thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm2020, nhu cầu vốn đầu tư dự kiến lên đến hàng trăm tỷ đồng. Để đáp ứng nhucầu đó cho quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn cần thực hiện đồngbộ nhiều giải pháp cụ thể như sau: - Bên cạnh việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách, phải xâydựng chính sách ưu tiên đầu tư như bảo hộ sản phẩm, mở rộng các hình thứcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 108. 100huy động vốn như cổ phần hoá các HTX, cơ sở sản xuất, kinh doanh, pháthành trái phiếu... Nhằm tạo điều kiện cho người lao động, các tổ chức, cácthành phần kinh tế góp vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nhanhgiá trị hàng hoá. - Khuyến khích phát triển các hình thức tín dụng tại địa bàn dân cưtrong khuôn khổ của pháp luật để huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân. Mặtkhác chú trọng cơ chế huy động lao động sống để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầngtrên địa bàn. - Xây dựng các dự án đầu tư để thu hút vốn từ bên ngoài nhằm khaithác các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. - Tìm mọi biện pháp để tăng nguồn thu, tiết kiệm nguồn chi ngân sáchđể dành vốn cho đầu tư phát triển. - Đề nghị ngân sách TW, ngân sách tỉnh hỗ trợ kết hợp vốn ngân sáchđịa phương và đóng góp của nhân dân để xây dựng và nâng cấp kết cấu hạtầng nông nghiệp, nông thôn như: Giao thông, thuỷ lợi, trường học, điện,nước sinh hoạt, phát triển thị trấn, thị tứ.... - Đổi mới hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng phục vụngười nghèo về công tác huy động vốn, thủ tục cho vay, mở rộng việc chovay đối với sản xuất kinh doanh thông qua dự án, tích cực thu nợ để tăng quymô vay vốn. Song song với những giải pháp trên là thực hiện việc đầu tư có trọngtâm, trọng điểm, trong những năm trước mắt ưu tiên cho việc xây dựng các cơsở chế biến nông - lâm thuỷ sản, các vùng nguyên liệu tập trung (dứa, mía,sắn, vừng...), để tạo ra bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp, nông thôn. * Giải pháp về phát triển các thành phần kinh tế - Kinh tế hộ (bao gồm cả kinh tế trang trại).Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 109. 101 Nghị quyết TW 5 đã khẳng định kinh tế hộ và kinh tế HTX giữ vai tròchủ lực trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Phát triển kinh tếhộ bằng cách khuyến khích các hộ nông dân, các trang trại, các thành phầnkinh tế tham gia, liên kết với nhau, hình thành các tổ chức, các hình thức hợptác để mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh thu hút và hỗ trợ các gia đìnhcòn khó khăn. Nhằm tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Bên cạnh đóNhà nước có chính sách phù hợp như giao đất lâu dài, tạo điều kiện cho cáchộ, nhóm hội tích tụ ruộng đất, được vay vốn, được hướng các chính sáchkhuyến khích phát triển nông nghiệp nông thôn. - Kinh tế HTX. Cần làm lành mạnh tài chính trong các HTX, giải quyết dứt điểm nợnần, theo nghị quyết của Chính phủ xoá nợ cho HTX đổi mới tổ chức vàphương thức kinh doanh, phục vụ cho các HTX để đạt hiệu quả ngày càngcao. Những HTX yếu kém hoạt động không có hiệu quả xem xét từng trườnghợp có thể giải thể, hướng dẫn và giúp đỡ xã viên HTX hình thành các tổchức kinh tế tập thể phù hợp. Đồng thời xây dựng mô hình HTX cổ phần theohướng: Hộ nông dân tham gia đóng góp cổ phần bằng đất đai, vật tư, tiền vốn.Lợi nhuận HTX được phân phối theo ngày công và cổ phần đóng góp của xãviên. Hình thức tổ chức quản lý như các doanh nghiệp cổ phần hoá. Một hộnông dân có thể tham gia nhiều HTX cổ phần. - Kinh tế Nhà nước. Cần hỗ trợ, phát triển các đơn vị, cơ sở kinh tế Nhà nước trên địa bàntoàn tỉnh để thực hiện tốt vai trò trung tâm sản xuất dịch vụ khoa học, kỹ thuậttại địa phương. Củng cố các doanh nghiệp công ích chủ yếu làm tốt công tácgiống, thuỷ lợi, vật tư, phân bón, thuốc BVTV, thú y... Đảm bảo liên kết chặtchẽ giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 110. 102 - Kinh tế tư nhân (bao gồm cả công ty tư nhân, công ty TNHH) và cácthành phần khác. Khuyến khích kinh tế tư nhân trong và ngoài tỉnh, các nhà đầu tư nướcngoài đầu tư kinh doanh nông nghiệp, nhất là đầu tư vào công nghiệp phục vụnông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng. * Giải pháp về khoa học công nghệ Ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi tạo khâu đột phávề năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản. - Tổ chức thực hiện chương trình giống Quốc gia được tỉnh và trungương hỗ trợ gồm giống ngô, lạc, cây lâm nghiệp, bò sữa, lợn hướng nạc. Tiếptục thực hiện chương trình "cấp 1 hoá giống lúa", nhân nhanh các giống laimới, giống mía, giống dứa Cayene, vừng V6, giống cam sạch bệnh, bò Sind,lợn nạc, cá, cây lâm nghiệp và nguyên liệu... - Khuyến khích nông dân khai thác đất vườn, đất đồi, bãi mặt nước đểnuôi trồng các loại cây con có giá trị kinh tế cao, tạo điều kiện cho các cơ sở,hộ gia đình đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị máy móc để nâng caonăng suất lao động. Đồng thời tổ chức tốt mạng lưới khuyến nông, khuyếnnông từ huyện, xã, phường đến xóm để hướng dẫn tuyên truyền, chuyển giaonhững tiến bộ kỹ thuật mới đến bà con nông dân một cách có hiệu quả. Phát triển công nghiệp chế biến, cơ khí hoá nông nghiệp và điện khíhoá nông thôn - Tạo điều kiện và khuyến khích các thành phần kinh tế trong tỉnh đầutư phát triển công nghệ chế biến, bảo quản để giảm bớt tổn thất sau thu hoạch,nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời, mở rộng, nâng cấp trung tâm dạynghề trên địa bàn tỉnh để đào tạo nghề cho lao động trong tỉnh. Liên doanhhoặc thuê chuyên gia đào tạo các nghề cơ khí như đúc, rèn, sửa chữa... phụcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 111. 103vụ tốt hơn cho việc phát triển công nghệ chế biến và cơ khí hoá nông nghiệptrên từng địa phương. - Nâng cấp và phát triển mạng lưới điện nông thôn, ưu tiên đầu tư lướiđiện cho vùng KTM, kết hợp cải tiến công tác quản lý để nông dân sử dụngđiện với chất lượng bảo đảm và giá cả hợp lý. * Giải pháp về phát triển thị trường cho nông sản hàng hoá Phát triển thị trường tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản làm cơ sở cho việcchuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn có hiệu quả. Làm tốt công tác nghiên cứu dự báo thông tin thị trường cho nông dânvà doanh nghiệp. Tổ chức thực hiện thông suốt và có hiệu quả hệ thống thôngtin thị trường bao gồm: thu thập; phân tích; nghiên cứu, nhất là dự báo, hướngdẫn cơ sở thực hiện. Tỉnh cần đẩy mạnh quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thốngchợ từ thành thị đến nông thôn. Bởi cho đến nay, chợ vẫn là hình thức tốt nhấtđể thúc đẩy kinh tế thị trường, đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Thiết lập vànâng cấp các trang web ngành nông nghiệp. Mặt khác cần nâng cao vai tròquản lý Nhà nước trên địa bàn, có giải pháp can thiệp cần thiết để lành mạnhhoá thị trường, kích thích và mở rộng giao lưu hàng hoá giữa thị trườngthành thị và thị trường nông thôn. Có chính sách kích thích nhằm đẩy mạnhkinh doanh sử dụng nhiều đối tượng làm đại lý cho thương nghiệp nhà nước,đồng thời tăng cường quản lý nhà nước để kinh doanh đúng pháp luật. Tổchức hoạt động tiếp thị có hiệu quả, xây dựng các chợ bán buôn, bán lẻ, khophù hợp ở các xã. Hình thành mối liên kết chặt chẽ thông qua các hợp đồngtiêu thụ giữa nông dân với các nhà tiêu thụ để đảm bảo thị trường tiêu thụ ổnđịnh cho người sản xuất * Giải pháp về đào tạo,bồi dưỡng cán bộ cho ngành nông nghiệp của tỉnh Tiếp tục quy hoạch và cải cách đội ngũ cán bộ phục vụ cho nôngnghiệp và phát triển nông thôn; đội ngũ này phải đảm bảo cân đối về conSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 112. 104người, cân đối về loại hình: Kinh tế, Kỹ thuật, Sinh học... cân đối về tri thứctrong từng con người giữa kinh tế và kỹ thuật. Trên cơ sở quy hoạch đội ngũ cán bộ có kế hoạch đào tạo theo cácphương châm, đào tạo dài hạn ở dưới nhiều hình thức. Bên cạnh vấn đề đàotạo, cần mở rộng hiểu biết cho dân cư nông thôn qua công tác khuyến nông vàcác kênh chuyển giao khác, phổ biến KH-KT, hướng dẫn kỹ thuật mới. Xâydựng quy mô trường dạy nghề phù hợp với chương trình chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp. Trong khâu tổ chức, cần sắp xếp bố trí lại đội ngũ cán bộ đúng chuyênmôn đã được đào tạo để phát huy cao hiệu quả công việc, có chính sách thuhút con em có trình độ cao, chuyên môn giỏi về làm việc tại địa phương. Đàotạo bổ sung đủ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ở tất cả các lĩnh vựctrồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi và các ngành nghề khác từ tỉnh xuốngđến huyện và đặc biệt là tăng cường cán bộ chuyên môn nghiệp vụ cho cácxã, phường, thị trấn. Mỗi cán bộ khi đã được tuyển chọn vào bộ máy cơ quannhà nước cần phải có ít nhất 1-2 đề tài ứng dụng khoa học để tận dụng tối đanăng lực và chất xám của đội ngũ trẻ này nhằm phục vụ tốt chương trìnhchuyển dịch. * Giải pháp về cơ chế chính sách - Hoàn thành việc sắp xếp và đổi mới tổ chức sản xuất của các nông,lâm trường quốc doanh và các doanh nghiệp Nhà nước trong ngành nôngnghiệp. Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cả về hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hộiở nông thôn; đầu tư xoá đói giảm nghèo trước hết đối với vùng miền núi cao,vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người. Có chính sách bảo đảm cung cấpgiống, vật tư cho sản xuất với giá cả hợp lý cho vùng sâu, vùng xa.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 113. 105 - Xây dựng chính sách bảo hiểm cho sản xuất nông nghiệp và nông dânnhư; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thiên tai, bảo hiểm khi bị rủi ro về giá do biếnđộng của thị trường. Có các giải pháp kịp thời giảm tác động của hội nhập đốivới lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. - Chú trọng chăm lo đời sống và việc làm cho nông dân vùng thu hồiđất nông nghiệp để phục vụ CNH và đô thị hoá với cơ chế chi trả tiền đền bùđất sản xuất nông nghiệp, có chính sách đào tạo nghề, bồi dưỡng kiến thức, tạođiều kiện cho người dân có việc làm mới - Bãi bỏ chính sách hạn điền, đưa công cụ thuế vào điều tiết mọi hoạtđộng có liên quan đến sử dụng đất để khuyến khích tích tụ ruộng đất, tạo điềukiện đưa cơ giới hoá vào sản xuất nông nghiệp - Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo,chương trình hỗ trợ phát triển các huyện, xã đặc biệt khó khăn. Thực hiệnlồng ghép với các chương trình quốc gia, chương trình phát triển nông nghiệp,nông thôn khác để thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh. - Đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đưa cán bộvề nông thôn. Hỗ trợ phát triển công nghiệp nông thôn, phát triển làng nghề,phát triển giáo dục, dạy nghề cho nông dân. - Đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đểgiảm bớt áp lực đối với đầu tư nhà nước. Tăng cường thu hút đầu tư phát triểnnông nghiệp, nông thôn bao gồm vốn ODA, FDI, vốn của dân, của doanhnghiệp và một phần của ngân sách nhà nước. 3.2.2. Giải pháp chuyển dịch cụ thể đối với từng ngành trong nôngnghiệp thuần. - Trên cơ sở lợi thế của mỗi vùng quy hoạch các ngành trồng trọt, chănnuôi, thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá, sản xuất tập trung quy mô lớn.Đảm bảo giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích cao nhất.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 114. 106 - Thực hiện việc chuyển đổi ruộng đất tạo tiền đề cho sản xuất pháttriển và hình thành các hình thức quản lý nông nghiệp nông thôn. Khuyến khích nông dân tiến hành "dồn điền, đổi thửa" trong nội bộnông dân theo phương châm: dân chủ, tự nguyện và thoả thuận. Gắn với công tác chuyển đổi ruộng đất và tăng cường kết cấu hạ tầngvới việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chuyển đổi ruộng vùng trũngtừ 2 vụ lúa hiệu quả thấp sang 1 vụ lúa - 1 vụ cá. Chuyển đổi diện tích vùngđồi từ 1 vụ lúa - màu cao cưỡng để phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày Thông qua việc chuyển đổi ruộng đất tiến hành việc tích tụ ruộng đấtcó tổ chức và quản lý của chính quyền các cấp gắn với quá trình chuyển dịchcơ cấu lao động. Nông dân khi đi xây dựng vùng kinh tế mới, hoặc chuyểnsang lao động công nghiệp, TTCN, dịch vụ, chuyển nhượng lại đất cho xãviên khác (theo quy định của UBND tỉnh) phải đảm bảo cho nông dân có việclàm và thu nhập ổn định. Đồng thời từng bước hình thành mô hình HTX cổphần. Trong đó nông dân đóng góp cổ phần bằng vốn và bằng quyền sử dụngđất. Một hộ nông dân có thể tham gia nhiều HTX cổ phần. - Từng bước hình thành một số cơ sở công nghiệp chế biến nông, lâm,thuỷ sản. Hoàn chỉnh việc xây dựng nhà máy đường 200 tấn/ngày đêm tại cáchuyện, xã, phường để từ vụ ép 2002 tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, xâydựng xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm... - Quy hoạch lại hệ thống giao thông, thuỷ lợi cho phù hợp với bố trí cơcấu cây trồng vật nuôi. Trên cơ sở bố trí vật nuôi, cây trồng ở từng vùng để bố trí hệ thống giaothông thuỷ lợi phù hợp. Đối với giao thông ngoài những tuyến đường do TWvà tỉnh quản lý được tỉnh đưa vào kế hoạch nâng cấp theo Nghị quyết tỉnhĐảng bộ khoá 15, phấn đấu đến năm 2010 nhựa hoá 100%. Ngoài ra mở thêmmột số tuyến đường mới đạt tiêu chuẩn đường cấp 4 nông thôn. Đối với thuỷSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 115. 107lợi tiếp tục triển khai nâng cấp và khai thác có hiệu quả hệ thống tưới tiêuhiện đại. Xây dựng mới hồ đập vừa và nhỏ để bổ sung nước tưới ổn định chodiện tích canh tác vùng cao trạm bơm để tiêu úng cho vùng sâu. Đồng thờithông qua việc chuyển đổi ruộng đất, quy hoạch lại hệ thống kênh tưới. Phấnđấu đến năm 2010 hoàn thành việc kiên cố hoá kênh thuỷ lợi để thực hiệnviệc tưới tiêu khoa học, phục vụ thâm canh cao - Tập trung phát triển nông nghiệp toàn diện, tạo đà cho sự chuyển dịchcơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường,phù hợp với hệ sinh thái từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo. Thựchiện thâm canh cao trên diện tích chủ động nước. Chuyển một phần diện tíchtrồng cây lương thực hiệu quả thấp và khai hoang mở rộng diện tích vùng đồi,cải tạo vườn tạp để tạo ra vùng sản xuất cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày vàcây ăn quả. - Tiếp tục phát triển các các cây trọng điểm: mía, chè, lạc, cam, dứa, càphê, sắn, sở, cao su, vừng, nguyên liệu giấy trong đó tập trung ưu tiên pháttriển: cây mía, chè, lạc, sắn, cam, dứa và cao su; phát triển 4 con: tôm, cá, bò,lợn. Phát triển đủ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến: mía đường, chè,lạc, dứa, sắn theo công suất mở rộng. Phát triển cây công nghiệp dài ngàytheo quy hoạch cà phê, cao su, quế, sở và nguyên liệu giấy theo quy hoạchđược duyệt. - Chuyển đổi cơ chế cây trồng phát triển sản phẩm nguyên liệu thức ăngia súc, đẩy mạnh chăn nuôi bò trong đó chăm lo đàn bò sữa 10 nghìn con.Để cơ cấu chăn nuôi chiếm 40% trong nông nghiệp. Đồng thời đưa giá trịkinh tế 1 ha canh tác đạt 30 - 35 triệu đồng. - Xây dựng đề án phát triển hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nôngnghiệp bằng cách xây dựng cơ chế chính sách, chương trình đào tạo nhân lựcđể phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 116. 108 - Phát triển nuôi trồng thủy sản và chế biến hàng chất lượng cao nângkim ngạch thuỷ sản theo Nghị quyết XV Ban Chấp hành Tỉnh uỷ. - Tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại,giới thiệu sản phẩm, dự báo nhu cầu thị trường. Tạo điều kiện thuận lợi đểkhuyến khích các thành phần kinh tế tham gia tìm kiếm thị trường, liên kết,hợp tác sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế trong nông nghiệp tỉnh cần xácđịnh phương án bố trí cụ thể đối với sự phát triển của từng ngành nhằm pháttriển nền nông nghiệp hàng hoá đạt hiệu quả cao, bền vững và thân thiện vớimôi trường * Trồng trọt - Cây lương thực + Cây lúa: Ổn định diện tích 175- 180 ngàn ha gieo trồng (Đông xuân8,0 vạn ha, hè thu 5,5 vạn ha, lúa mùa 4,0 vạn ha), đẩy mạnh thâm canh, đưanăng suất bình quân lên 50- 55 tạ/ha. Bố trí lúa lai 70 ngàn ha, lúa chất lượngcao 10.000 ha. Sản lượng lúa 90- 91 vạn tấn. + Cây ngô: Diện tích 67- 70.000 ha trong đó ngô lai 90- 95% (tăng thêm5.000 ha từ đất cấy lúa cưỡng) năng suất bình quân 4.042 tạ/ha, sản lượng 300ngàn tấn - Cây công nghiệp ngắn ngày + Cây lạc bố trí 30.000 ha (tăng thêm 3000 ha từ đất cấy lúa cưỡngvùng ven biển và đất đồi vệ vùng miền núi; Cây vừng bố trí 1,0 vạn ha vừng,5.000 ha đậu tương; đổi mới giống và tập trung thâm canh để đạt năng suấttrên 10 tạ/ha. + Cây mía : Phương án cơ bản: diện tích tập trung 25- 26 ngàn ha,trong đó Vùng Phủ quỳ 21.000- 22.000 ha, vùng Sông Con 3.000 ha, vùngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 117. 109Anh Sơn- Con Cuông 1.300 ha. Yên Thành 600 ha. Tăng năng suất để đạt 65-70 tấn/ha), phương án đột phá nâng công suất các nhà máy đường lên 15.000tấn/ngày bố trí 28.000 ha sản lượng 2 triệu tấn mía cây. + Cây Sắn: Diện tích sắn công nghiệp 5.000 ha: Thanh Chương 3000ha, Yên Thành 700 ha, Nghĩa đàn 600 ha, Tân Kỳ 500 ha, Đô lương 300 ha. - Cây công nghiệp dài ngày + Cây chè: Trồng mới 6.000 ha để đến năm 2010 có 13.000 ha, (chèTuyết sall: 1.000 ha ở Kỳ sơn và Quế phong), năng suất tươi đạt 60-65 tạ/ha,sản lượng chè búp khô 12.000 tấn xuất khẩu. + Cây cà phê chè: Bố trí 3.000- 3.500 ha vào năm 2010, trong đó kinhdoanh 2.500 ha, sản lượng cà phê nhân 3.500- 4.000 tấn. + Cây cao su: Trồng mới 5.500 ha đến năm 2010 có 7.000- 8.000 ha,trong đó kinh doanh 3.500 ha, năng suất 10 tạ/ha, sản lượng mủ khô 3.000- 3.500 tấn. - Cây ăn quả Quy hoạch các vùng cây ăn quả tập trung gắn với cải tạo vườn tạp, pháttriển vườn đồi trang trại trồng cây ăn quả + Cây Dứa: quy hoạch 10.000 ha để có Dứa đứng 6.000 ha; bố trí ở các huyện + Cây cam: diện tích 5.000 - 6.000 ha, phục tráng giống cam Xã Đoàichuyển đổi đất ruộng bố trí 500 ha. Khuyến khích các loại cây ăn quả khácnhư Vải, chuối, hồng ,chanh ... gắn với đầu tư các cơ sở bảo quản chế biến.Tổng diện tích cây ăn quả đạt 15.000 ha. * Chăn nuôi Thực hiện mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XVIII đưa chăn nuôi trởthành ngành chính nhằm đáp ứng nhu cầu về thực phẩm (thịt, trứng) cho conngười, đáp ứng sức kéo, cung cấp nguồn phân bón hữu cơ cho sản xuất trồngtrọt, đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Kết hợpchăn nuôi truyền thống và chăn nuôi theo hướng công nghiệp, phát triển chănSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 118. 110nuôi chủ yếu trong khu vực nông thôn, đảm bảo thức ăn, giống gia súc, giacầm. Mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, trạm trại,dịch vụ phòng chữa bệnh. Phấn đấu đến năm 2010 giá trị sản xuất ngành chănnuôi chiếm tỷ trọng trên 45% trong cơ cấu ngành nông nghiệp. Khai thác và phát huy tốt ưu thế của vùng, địa phương để đẩy mạnhchăn nuôi đại gia súc. Chuyển nhanh sang sản xuất hàng hoá, khai thác chănnuôi trâu bò thương phẩm, thực hiện sind hoá đàn bò nhằm nâng cao tầm vócvà trọng lượng bò... Hướng dẫn chế biến một số nguồn thức ăn sẵn có ở địa phương và tậndụng phế phẩm phụ ngành trồng trọt (rơm, cây họ đậu). Mở rộng diện tíchtrồng cỏ sinh học ở các hộ chăn nuôi theo hướng trâu, bò thịt. Phát triển chăn nuôi lợn theo hướng thâm canh, sản xuất hàng hoá, thựchiện nạc hoá đàn lợn bằng việc phát triển đàn lợn nái ngoại, tăng cường côngtác thụ tinh nhân tạo để cung cấp nguồn giống lợn ngoại tại chổ có thể nạccao, tầm vóc, trọng lượng lớn. Tiếp tục phát triển mạnh chăn nuôi dê thịt nhằm tận dụng hàng ngàn hacây bụi nhằm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân. Tăngcường công tác phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra trên địa bàn, nhằmtiếp tục xây dựng, khôi phục các trang trại chăn nuôi gia cầm theo hướng lấythịt và trứng trên quy mô lớn nhằm tăng thu nhập và cải thiện bữa ăn chonông dân và làm hàng hoá cung cấp cho thị trường. Chuyển giao kỹ thuậtchăm sóc các giống gia cầm như: Gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng, gà AiCập, vịt Kabir, Ngan Pháp ... đồng thời sử dụng gà trống của các đàn gà nóitrên để cải tạo đàn gà ta ở địa phương. Dùng máy ấp trứng để nhân nhanh đàngà giống cho các hộ gia đình khác trong toàn tỉnh. Tăng cường trồng cỏ để chăn nuôi; Phát triển mạnh đàn trâu, bò ở vùngmiền núi. Phấn đấu bình quân mỗi hộ có từ 2-3 con trâu, bò. Chú trọng cải tạoSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 119. 111đàn bò lai sind đạt trên 50%, đàn bò Sữa 10.000 con. Phát triển đàn lợn và giacầm ở vùng đồng bằng, đô thị. Xây dựng vùng nguyên liệu xuất khẩu để tậptrung đầu tư giống, thức ăn, cơ sở chế biến. Phát triển nghề nuôi ong lấy mật (sản lượng mật ong 500-700 tấn) vàmột số loại chim, thú khác. * Dịch vụ nông nghiệp Quy hoạch phát triển mạng lưới dịch vụ và đầu tư xây dựng các trungtâm thương mại ở từng địa phương trong tỉnh đặc biệt là tại thị trấn và thị tứ. - Dịch vụ thương mại Cần thực hiện tốt dịch vụ đầu vào, dịch vụ đầu ra. Tiếp tục hoàn thiệntrung tâm thương mại tại các huyện, chỉ đạo nâng cấp 100% số chợ hiện có,xây mới một số chợ, đảm bảo mỗi xã, phường có 1 chợ nông thôn hoạt độngđạt yêu cầu văn minh thương nghiệp. Củng cố phát triển cửa hàng thương mạihuyện, thành phố thành công ty thương mại đủ sức làm chủ các đại lý bánbuôn, bán lẻ và phục vụ các mặt hàng thiết yếu cho các xã miền núi. Đưangành dịch vụ tăng bình quân 13,5% thời kỳ 2001 - 2005 lên 15,8% thời kỳ2006 - 2010, để đến năm 2010 ngành dịch vụ chiếm 27% trong cơ cấu kinh tế. - Dịch vụ kỹ thuật Tổ chức tốt hệ thống sản xuất, cung ứng cho nông dân các loại giốngcây trồng vật nuôi, phân bón, thức ăn gia súc, thuốc BVTV, thuốc thú y, dịchvụ cung ứng điện nước, các loại vật tư thiết yếu cho phát triển công nghiệp,TTCN, ngành nghề. Khuyến khích các thành phần kinh tế có điều kiện thamgia các hoạt động dịch vụ kỹ thuật. Nhà nước tăng cường công tác kiểm tra,giám sát chất lượng các loại vật tư cung ứng cho nông dân, nhằm tạo môitrường pháp lý cho các thành phần dịch vụ phát triển đúng hướng, cạnh tranhlành mạnh, chống trốn lậu thuế, lưu thông hàng giả, kém chất lượng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 120. 112 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊI. KẾT LUẬN Trong những năm qua nông nghiệp nông thôn Nghệ An đã có sự pháttriển mạnh cả về năng suất, chất lượng, chủng loại sản phẩm và giá trị sảnxuất, về cơ cấu có sự chuyển dịch cơ bản đúng hướng và phát huy được khảnăng lợi thế của từng vùng địa phương trong tỉnh. Mục tiêu, quan điểm,phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp trong những nămqua đã góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn; góp phần làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn, nâng cao thunhập và đời sống cho nông dân. Qua phân tích thực trạng ngành nông nghiệpvà thực trạng cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Nghệ An chúng ta thấy: Giá trị sản xuất nông nghiệp liên tục tăng trong những năm qua cả vềsản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, kéo theo sự thay đổi khá hợplý về cơ cấu. Nếu năm 2003 tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 80,59% thìđến năm 2007 còn 80,0%; lâm nghiệp năm 2003 là 11,9% thì năm 2007 là11%; thuỷ sản năm 2003 là 8,32% đến năm 2007 tăng lên 9%. Như vậy, nhìnchung xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phát triển đúnghướng nhằm khai thác những tiềm năng và phát huy lợi thế của từng vùng. Về nội bộ ngành nông nghiệp thì có sự thay đổi về tỷ trọng của cácphân ngành: ngành trồng trọt năm 2003 là 66,54% thì năm 2007 chỉ còn63,38%; ngành chăn nuôi năm 2003 là 32,27% tăng lên 35,20% năm 2007;dịch vụ trong nông nghiệp năm 2003 là 1, 28 đến năm 2007 tăng lên 1,42%. Qua đó cho thấy rằng, trong nông nghiệp tỉnh Nghệ An đã giảm dần tỷtrọng trồng trọt, tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghiệp tăng dần quacác năm. Mặt khác trong trồng trọt, tỉnh đã chú trọng phát triển đa dạng cácloại cây trồng, phát triển mạnh các loại cây công nghiệp phục vụ nguyên liệuchế biến, các loại cây ăn quả là thế mạnh, các loại rau đậu thực phẩm …Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 121. 113 Về chăn nuôi đã có sự phát triển đa dạng các loại vật nuôi và đặc biệtchú trọng các loại vật nuôi mang tính hàng hoá, có giá trị kinh tế cao. Đồngthời nuôi trồng thuỷ sản trong những năm qua cũng được đẩy mạnh, phát triểnnhiều hình thức nuôi phù hợp với đặc điểm và điều kiện của tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành nông nghiệp NghệAn còn rất nhiều tồn tại cần phải khắc phục cả về bố trí sản xuất và cơ cấukinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp tuy cótăng lên nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, việc tổ chứcchế biến và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp còn chậm phát triển, thị trườngcho nông sản hàng hoá chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ, việc áp dụngkhoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, chế biến và bảo quản nông sảnphẩm chưa phát triển mạnh và chưa rộng khắp, các chính sách khuyến khích,hỗ trợ nông nghiệp chưa đồng bộ và chưa mạnh, nguồn nhân lực phục vụ sảnxuất nông nghiệp còn thiếu, chưa có nhiều cán bộ được đào tạo phục vụ tronglĩnh vực này… Do vậy, để khắc phục được những tồn tại trên ngành nông nghiệp NghệAn cần có những giải pháp hữu hiệu để phát triển hơn nữa. Để đưa ra đượcnhững giải pháp phù hợp cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, địaphương và các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp.II. KIẾN NGHỊ- Đối với Nhà Nƣớc Đề nghị nhà nước cần có những biện pháp quản lý và rà soát lại cácvùng kinh tế ở các địa phương, hoạch định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tếchung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp cho từng vùng. Để từ đó các địa phươngcó điều kiện xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với đặc điểm, tiềmnăng và điều kiện của mìnhSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 122. 114 Đề nghị Nhà nước có định hướng và chính sách cụ thể nhằm khuyếnkhích các địa phương hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn vớicông nghiệp chế biến và bảo vệ môi trường. Định hướng thị trường các yếu tốđầu vào cho sản xuất nông nghiệp và thị trường đầu ra cho hàng hoá nông sản.- Đối với địa phƣơng Tạo điều kiện cho nông dân chuyển nhượng ruộng đất, tạo cơ chế chínhsách thông thoáng hỗ trợ nông dân vay vốn sản xuất dễ dàng, thực hiện tốt vàđồng bộ các chương trình khuyến nông, khuyến ngư, tổ chức tập huấn kỹthuật và dự báo thị trường, giúp nông dân tìm kiếm va ổn định thị trường đầuvào và đầu ra. Đầu tư hơn nữa cho cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là hệ thống tưới tiêuvà nước sinh hoạt cho nông thôn.- Đối với hộ gia đình Thực hiện nghiêm túc các chương trình dự án và kỹ thuật trong sảnxuất nông nghiệp, vay và sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 123. 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO[1.] Nguyễn Điền (1997), Viện kinh tế Châu á - Thái Bình Dương, Công nghiệp hoá nông nghiệp - nông thôn các nước Châu á và Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị, Quốc Gia, Hà Nội[2.] Võ Văn Đức, Phát triển kinh tế trang trại - các biện pháp huy động vốn và hỗ trợ vốn, Tạp chí tài chính số 11, năm 2005[3.] Phan Duy Hải (2008), Nông nghiệp Nghệ An: Hiện trạng và giải pháp phát triển, mục nghiên cứu trao đổi của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An, Trang thông tin điện tử Nghệ An[4.] Đinh Xuân Hạng, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn - Các giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm thúc đẩy chuyển dịch nhanh, Tạp chí Tài chính, số 12 năm 2005[5.] Trần Hùng Hậu (2002) - Để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, tạp chí tài chính, số 11 năm 2002[6.] Phạm Thái Hưng, Bùi Anh Tuấn, (2006), Việt Nam gia nhập WTO: sự lựa chọn tất yếu, Tạp chí Tài chính, số 5 năm 2006[7.] Phạm Kim Ngân, Lợi thế so sánh của Việt Nam trên thị trường thế giới, Tạp chí nghiên cứu Tài chính Kế toán, số 6 năm 2006[8.] Hoàng Kim Oanh, Nguyễn Hồng Quang (1930- 2005), Lịch sử mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố Vinh[9.] Lê Đình Thắng (1998), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội[10.] Vũ thị Bạch Tuyết, Hàng nông sản Việt Nam và những giải pháp “vượt rào”, Tạp chí nghiên cứu Tài chính Kế toán, số 10 năm 2007Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 124. 116[11.] Ban Tư tưởng Văn Hoá Trung ương - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp Nông thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.[12.] Báo thông tin điện tử Đảng cộng sản Việt Nam (2007), Một số tin bài về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp[13.] Bộ lao động thương binh và xã hội (2007) Số liệu thống kê lao động việc làm ở Việt Nam năm 2006, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội.[14.] Bộ Giáo dục và đào tạo (2006), Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.[15.] C.Mác (1994), Tư bản, quyển 1, tập 2, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội[16.] Cục thống kê Nghệ An, Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An từ năm 2003 đến năm 2007[17.] Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia, Hà Nội.[18.] Đại học kinh tế Quốc dân (2002), Giáo trình kinh tế phát triển nông thôn, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội[19.] Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XII, Kinh tế Việt Nam năm 2007 tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, số 11, năm 2007[20.] Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2006)- Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020[21.] Tỉnh uỷ Nghệ An (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVISố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 125. 117[22.] Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Nghệ An (2006) - Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020[23.] Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An (2007)- Báo cáo tổng kết công tác năm 2007 và các chỉ tiêu, nhiệm vụ và biện pháp thực hiện kế hoạch năm 2008.[24]. Michael P. Todaro (1998) - Kinh tế học cho thế giới thứ 3 - Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn