• Save
Luan van thac si kinh te (24)
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Like this? Share it with your network

Share
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
    Be the first to like this
No Downloads

Views

Total Views
912
On Slideshare
909
From Embeds
3
Number of Embeds
1

Actions

Shares
Downloads
0
Comments
0
Likes
0

Embeds 3

http://luanvan.forumvi.com 3

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH Nguyễn Thành NamTên đề tài:NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên nghành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60 - 31 - 10 Thái Nguyên, năm 2008
  • 2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH Nguyễn Thành NamTên đề tài:NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên nghành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60 - 31 - 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ LÝ Thái Nguyên, năm 2008
  • 3. Lêi cam ®oan - Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. - Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồngốc. Tác giả Nguyễn Thành Nam
  • 4. LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể, cá nhân. Nhân dịp này tôi xin bày tỏlòng biết ơn đến: Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thầy, cô giáo Trường Đạihọc kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên và khoa sau Đại học đã dạy bảo,giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo TS Phạm Thị Lý, ngườiđã tận tình hướng dẫn dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, nhân viên phòng Nông nghiệp và PTNT,phòng Thống kê, UBND các xã, thị trấn và các hộ trang trại trên địa bàn huyện ĐạiTừ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứuđề tài. Tôi vô cùng biết ơn gia đình, đồng nghiệp và các bạn gần xa đã giúp đỡđộng viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Thái Nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả Nguyễn Thành Nam
  • 5. danh môc c¸c b¶ng STT Tªn b¶ng TrangBiểu 01 Diện tích của huyện theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc 43Biểu 02 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ 44Biểu 03a Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế – xã hội huyện Đại Từ 46Biểu 03b Tình hình sản xuất ngành nông nghiệp 48Biểu 04 Tổng số các trang trại và phân loại trang trại theo loại hình 50 sản xuấtBiểu 05 51 Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2007 của trang trạiBiểu 06 56 Hiện trạng sử dụng đất trang trại năm 2007Biểu 7 58 Phân loại trang trại theo quy mô sử dụng đấtBiểu 8 61 Vốn sản xuất của trang trại năm 2007 63Biểu 9 Tình hình sử dụng lao động của các trang trại 65Biểu 10 Thành phần xuất phát các chủ trang trại 69Biểu 11 Chi phí sản xuất của các trang trại 76Biểu 12 Tổng thu bình quân của một trang trại năm 2007 huyện Đại Từ 78Biểu số 13 Thu nhập từ sản xuất Nông - Lâm - Nghiệp bình quân trang trại điều tra năm 2007. 82Biểu 14 Mức thu nhập bình quân lao động trong tuổi và nhân khẩu của các trang trại năm 2007
  • 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong số những thành tích đạt được của công cuộc đổi mới nền kinh tếđất nước, trong thời gian qua, có thể nói nông nghiệp là một ngành đã cónhững bước đột phá ngoạn mục. Thu nhập của nông dân không ngừng tănglên, bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể. Sản xuất nông nghiệp đã đảmbảo an toàn lương thực cho đời sống xã hội. Thế nhưng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé. Chođến bây giờ, nông nghiệp Việt Nam vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả vàthiếu tính hợp lý. Cần phải hình thành và phát triển những hình thức sản xuấtphù hợp hơn, mà trong đó, kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụngđể đáp ứng yêu cầu này. Đã manh nhà từ rất lâu, nhưng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây,vai trò của kinh tế trang trại mới thực sự được công nhận và được quan tâmchú ý, đặc biệt là sau khi Nghị quyết số 03/2000/NQ- CP của Chính phủ ngày2/2/2000 về kinh tế trang trại ra đời thì kinh tế trang trại mới thực sự đượcmột sự trợ giúp của Nhà nước về cơ chế, chính sách như là hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp thông thường của nền kinh tế thị trường. Sự tăng nhanh về sốlượng, gia tăng về giá trị sản lượng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chứcsản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thônnước ta, giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho xã hội.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 7. 2 Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy môđất đai lớn như ở vùng đồng bằng Sông Hồng hay vùng đồng bằng phía nam,nhưng tỉnh Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc là nơi có nhiều điều kiệnưu đãi về điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu…đặc biệt là vùng có truyềnthống sản xuất nông nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh của người dân tươngđối cao. Huyện Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên trongnhững năm qua sản xuất nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều tiến bộquan trọng Nhưng để ngành nông nghiệp của huyện đáp ứng được yêu cầuphát triển trong thời kỳ mới thì phải hợp lý hoá, hiệu quả hoá sản xuất nôngnghiệp nhằm khai thác một cách triệt để tiềm năng về đất đai cũng như khảnăng lao động của con người vùng miền núi này và mô hình kinh tế trang trạilà phù hợp hơn cả. Những năm qua kinh tế trang trại của huyện đã có nhiềuthành tích đáng khích lệ, nhưng thật sự vẫn chưa phát triển tương xứng vớitiềm năng của nó. Câu hỏi đặt ra là: Khả năng phát triển kinh tế trang trại củavùng đến đâu? làm sao để mô hình được áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xãhội cao nhất? Trả lời cho câu hỏi này chính là mục đích của đề tài: "Nghiên cứucác giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Từ đến năm 2010" 2. Mục tiêu nghiên cứu: - Mục tiêu chung: + Phấn đấu có 100 trang trại vào năm 2010, phấn đấu 50% số trang trạisản xuất kinh doanh chuyên ngành, chuyên môn hoá cao. + Hình thành rõ nét các loại hình trang trại như sau: Chăn nuôi gia súc,gia cầm quy mô vừa, tiến tới quy mô lớn. Chuyên sản xuất giống. Chuyên sảnxuất chè chất lượng cao. Sản xuất, kinh doanh cây trồng, vật nuôi đặc sảnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 8. 3 + Giá trị sản xuất của loại hình kinh tế trang trại đạt từ 2 - 3% tổng giá trịsản xuất nông nghiệp, tạo nên nguồn sản phẩm hàng hoá chính hướng tới xuấtkhẩu. + Thu nhập bình quân 100 triệu đồng/năm/trang trại, thu nhập người laođộng đạt 1 triệu đồng/tháng. + Tạo điển hình tiên tiến về thâm canh, chuyên môn hoá, ứng dụng khoahọc công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp. + Phấn đấu 100% các chủ trang trại nâng cao tay nghề. - Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế trang trại vàcác yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế trang trại, trên cơ sở đó đề xuất giải phápnhằm phát triển kinh tế trang trại Huyện Đại Từ, vừa nâng cao thu nhập vừagiải quyết các vấn đề về xã hội và môi trường. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 3.1. Đối tượng: Các trang trại Huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Nghiêncứu các vấn đề kinh tế- xã hội có liên quan đến việc phát triển kinh tế trangtrại của huyện Đại Từ, trong đó tập trung phân tích hiệu quả kinh tế, phân tíchnhững tồn tại và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện ĐạiTừ tỉnh Thái Nguyên. 3.2. Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tập trung nghiên cứu tại 80trang trại trên địa bàn huyện Đại Từ. + Phạm vi thời gian: Tác giả tiến hành thu thập số liệu điều tra từ năm2006-2007.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 9. 4 + Phạm vi nội dung: Xung quanh vấn đề phát triển kinh tế trang trại trênđịa bàn huyện Đại Từ còn nhiều vấn đề cần tiếp cận nghiên cứu. Tuy nhiên dohạn chế về thời gian và trình độ nên tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu, đánh giásự phát triển của các trang trại. 4 - Kết cấu của luận văn: Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo,phụ lục luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu: Chƣơng 2: Tình hình phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Từ trongthời gian qua. Chƣơng 3: Các giải pháp để phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Từtừ nay đến năm 2010.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 10. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU A. Cơ sở khoa học: I. Cơ sở lý luận: 1. Quan niệm về kinh tế trang trại: Xuất hiện cách đây khoảng hơn 200 năm, cho đến những năm cuối thếkỷ XX, kinh tế trang trại mà đặc biệt là trang trại gia đình đã trở thành môhình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp các nước phát triển, chiếmtỷ trọng lớn tuyệt đối về đất đai cũng như khối lượng nông sản, đặc biệt ở cácnước Anh, Pháp, Nga nơi bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đầu tiêncủa nhân loại. Trải qua hàng mấy thế kỷ đến nay kinh tế trang trại tiếp tục phát triển ởnhững nước tư bản chủ nghĩa lâu đời cũng như các nước đang phát triển, cácnước công nghiệp mới và đi vào những xã hội chủ nghĩa với cơ cấu và quymô sản xuất khác nhau. Tại Việt Nam, kinh tế trang trại phát triển muộn, chỉ từ sau Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được thừa nhận và đặcbiệt là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (4/98) về đổi mới quản lýkinh tế Nhà nước, kinh tế hộ nông dân mới từng bước phục hồi và phát triển,phần lớn họ trở thành những chủ thể tự sản xuất. Cùng với các hộ gia đìnhcông nhân viên chức làm nông nghiệp, lại có tích lũy về vốn, kinh nghiệm sảnxuất và kinh nghiệp quản lý, tiếp cận được với thị trường, thì sản xuất nôngnghiệp mới thoát khỏi cái vỏ tự cấp, tự túc và vươn tới nền sản xuất hàng.Kinh tế trang trại ra đời.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 11. 6 Cho đến nay, quan điểm về kinh tế trang trại vẫn được trình bày theonhiều khía cạnh khác nhau. 2- Bản chất của kinh tế trang trại: Trong lịch sử phát triển của nông nghiệp các nước trên thế giới cũngnhư ở nước ta đã từng tồn tại các hình thức sản xuất nông nghiệp mang tínhtập trung được tiến hành trên một quy mô diện tích ruộng đất đủ lớn nhằm sảnxuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất nôngnghiệp truyền thống, phân tán trên những diện tích ruộng đất nhỏ. Trong phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản, các hình thức sảnxuất nông nghiệp tập trung đã tồn tại ở nhiều nước. Thời đế quốc La Mã đã cósản xuất nông nghiệp tập trung với lực lượng sản xuất chủ yếu là tù binh vànô lệ. Thời phong kiến ở Châu Âu có các hình thức: Lãnh địa phong kiến vàtrang viên. ở Trung Quốc thời nhà Hán đã có hoàng trang, điền trang, đồnđiền, gia trang. ở Việt Nam thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn... có điền trang, ấp,đồn điền .vv... Các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong các phương thức sảnxuất trước chủ nghĩa tư bản nêu trên có những điểm chung chủ yếu sau: - Về mục đích sản xuất, các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung nóitrên đều sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sảnxuất nông nghiệp truyền thống phân tán trên những diện tích ruộng đất nhỏ,song đều nhằm mục đích tự cung, tự cấp để đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trựctiếp. Việc trao đổi sản phẩm chỉ thực hiện với bộ phận sản xuất vượt qúa nhucầu tiêu dùng trực tiếp của những người chủ.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 12. 7 - Về sở hữu, có những hình thức sản xuất dựa trên sở hữu nhà nước như:Các khu sản xuất nông nghiệp tập trung thời đế chế La Mã; hoàng trang vàđồn điền trong các triều đại phong kiến ở trung Quốc; dồn điền thời Lê,Nguyễn ở Việt Nam....Đồng thời cũng có những hình thức sở hữu riêng củamột người như Lãnh địa phong kiến và trang viên ở Châu Âu, điền trang, giatrang ở Trung Quốc, Việt Nam... Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự tác động và chi phốicủa cơ chế thị trường, trình độ phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất vàsự thay đổi lớn lao của quan hệ sản xuất xã hội đã tạo ra những điều kiện vàđộng lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tập trung chuyển lên mộttrình độ mới cao hơn với những biến đổi cơ bản về kinh tế, tổ chức và kỹthuật sản xuất so với các hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trungtrước chủ nghĩa tư bản. Những biến đổi có ý nghĩa quyết định dẫn đến sự thay đổi về chất củahình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung trong phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa bao gồm: - Sự biến đổi về mục đích sản xuất chuyển từ tự cung, tự cấp là chủ yếusang sản xuất hàng hoá. Nông sản phẩm sản xuất ra trước đây chủ yếu là đểđáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của những người chủ, thì nay trong điềukiện kinh tế thị trường, được sản xuất ra chủ yếu là để bán nhằm tăng thunhập và lợi nhuận. - Sự biến đổi về mặt sở hữu: Nếu như trong các phương thức sản xuất trướcchủ nghĩa tư bản có những hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung dựa trên sởhữu nhà nước, có những hình thức dựa trên sở hữu riêng của một người chủ độcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 13. 8lập, thì nay trong điều kiện kinh tế thị trường hình thức sản xuất nông nghiệp tậptrung về cơ bản là dựa trên quyền sở hữu tư liệu sản xuất của một chủ độc lập. - Sự thay đổi về cách thức tổ chức sản xuất và kỹ thuật sản xuất: Do mụcđích sản xuất hàng hoá nên ở đây sản xuất được tổ chức theo phương thứctiến bộ hơn với kỹ thuật sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệpmang tính tập trung trong các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản. - Trong thời kỳ Pháp thuộc cùng với sự phát triển của các đồn điền tưbản tư nhân, những ấp trại vơi các quy mô khác nhau dựa trên sở hữu tư nhânvà có mục đích chính là sản xuất nông sản phẩm để bán đã xuất hiện trênnhiều vùng. Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, ngôn ngữ các nước đều cónhững thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với nhữngbiến đổi cơ bản so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong cácphương thức sẳn xuất trước chủ nghĩa tư bản như đã nêu khi chuyển sangtiếng Việt thường được dịch là "Trang trại" hay " Nông trại". “Trang trại" hay " Nông trại" thì có thể hiểu đó là những khu đất tươngđối lớn. Ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức dưới sự chỉ huycủa một người chủ mà phần đông là chủ gia đình nông dân bao gồm cả nôngdân trong giai đoạn nông nghiệp đi vào sản xuất hàng hoá và từng bước gắnliền với kinh tế thị trường. Như vậy có thể thấy rằng trong điều kiện kinh tế thị trường về bản chất"Trang trại" hay " Nông trại" là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuấtnông nghiệp mang tính tập trung trên một diện tích ruộng đất đủ lớn nhằm sảnxuất nông sản phẩm hàng hoá với quy mô gia đình là chủ yếu.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 14. 9 Tại Việt Nam, trong những năm đổi mới, kinh tế trang trại đã hình thànhvà phát triển nhanh trên nhiều vùng, đặc biệt là các vùng có bình quân ruộngđất tính theo đầu người cao. Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ởnước ta những năm qua là nhờ đường lối đổi mới của Đảng mà mốc quantrọng có ý nghĩa hết sức to lớn là Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 5- 4-1988 củaBộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và sau đó là chính sáchgiao ruộng đất ổn định cho hộ nông dân. Việc trả lại địa vị tự chủ về kinh tếcho hộ nông dân và việc giao ruộng đất cho hộ nông dân sử dụng ổn định vàlâu dài là cơ sở quan trọng cho kinh tế trang trại mà chủ yếu là trang trại giađình ra đời và phát triển ở nước ta trong những năm qua. 3. Khái niệm về kinh tế trang trại Trong những năm gần đây ở nước ta cơ quan nghiên cứu, cơ quan quảnlý Nhà nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã quan tâm nghiên cứu vềkinh tế trang trại. Một trong những vấn đề được đề cập nhiều là khái niệm vềkinh tế trang trại. Các cơ quan, các nhà khoa học và quản lý khi nghiên cứu kinh tế trangtrại hầu như đều đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại và coi đó là điểm xuấtphát để nghiên cứu về kinh tế trang trại. Tìm hiểu các khái niệm về kinh tếtrang trại đã được đưa ra trong những năm qua, tuy nhiên các ý kiến chưa cósự thống nhất. Về thực chất, "Trang trại" và "Kinh tế trang trại" là những khái niệmkhông đồng nhất. Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sảnxuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động củatrang trại; còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và làchủ thể của các mối quan hệ kinh tế đó.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 15. 10 Như vậy, nói kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của trang trại. Ngoàimặt kinh tế, còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và mặt môi trường. Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó có cácquan hệ xã hội đan xen nhau: Quan hệ giữa các thành viên của hộ trang trại,quan hệ giữa chủ trang trại và những người lao động thuê ngoài, quan hệ giữangười lao động làm thuê cho chủ trang trại với nhau... Về mặt xã môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, trong đódiễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng. Không gian sinh thái trang trại có quanhệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng. Như vậy có thể thấy khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tếtrang trại. Tuy nhiên trong các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của trang trạithì mặt kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại.Vì vậy trong nhiều trường hợp khi nói tới kinh tế trang trại, tức nói tới mặtkinh tế của trang trại, người ta gọi tắt là trang trại. Vậy khái niệm trang trại về mặt kinh tế như thế nào? Khái niệm này phảithể hiện đươc những nét bản chất về kinh tế, tổ chức và kỹ thuật sản xuất củatrang trại trong điều kiện kinh tế thị trường. Trước hết, trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông,lâm, ngư nghiệp. Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở vì trang trại là đơn vị trựctiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội, bao gồm nông,lâm, thuỷ sản, đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại là quá trình khép kínvới các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm sản xuấtphân phối, trao đổi, tiêu dùng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 16. 11 Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở là vì trong nông, lâm,ngư nghiệp ngoài trang trại ra còn có những hình thức tổ chức sản xuất cơ sởkhác như: Nông, lâm trường quốc doanh, kinh tế hộ nông dân... Là một hình thức tổ chức sản xuất, trang trại không phải là một thànhphần kinh tế và theo cách phân định thành phần kinh tế như hiện nay thì cácchủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanhnông nghiệp đều có thể chọn hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu trang trạinếu có đủ điều kiện. Như vậy trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông,lâm, ngư nghiệp là phù hợp vì quan niệm nêu trên đảm bảo đầy đủ các nguyêntắc quy định. Mặt khác trang trại còn có những đặc điểm riêng mà nó phân biệt với cáchình thức sản xuất cơ sở khác trong nông lâm, ngư nghiệp đó là: Mục đíchsản xuất của trang trại là sản xuất hàng hoá. Đó là điểm cơ bản của trang trạiđược tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá; Cácyếu tố vật chất của sản xuất, trước hết là ruộng đất và tiền vốn trong trang trạiđược tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá; Tưliệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập.Tư liệu sản xuất ở trang trại hoặc thuộc quyền sở hữu của người chủ độc lập,hoặc quyền sử dụng của người chủ độc lập nếu tư liệu sản xuất đi thuê hoặcđược giao quyền sử dụng; Trang trại hoàn toàn tự chủ trong các sản xuất kinhdoanh, từ việc lựa chọn phương hướng sản xuất, quyết định kỹ thuật và côngnghệ sản xuất, tổ chức sản xuất, đến tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm..;Chủ trang trại là người có ý chí và năng lực, có kiến thức và kinh nghiệm vềsản xuất nông nghiệp và thường là người trực tiếp quản lý trang trại; TrangSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 17. 12trại có nhu cầu cao hơn nông hộ về ứng dụng KHKT, tiếp cận thị trường, thuêmướn lao động và đều có thu nhập vượt trội hơn... Từ những nhận thức như trên. PGS.PTS Lâm Quang Huyên, Viện quyhoạch và thiết kế nông nghiệp cho rằng: "Kinh tế trang trại là loại hình cơ sởsản xuất nông nghiệp, hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường từkhi phương thức này thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Trang trạiđược hình thành các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp, tự túc khépkín, vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá tiếp cận với thị trường, từngbước thích nghi với nền kinh tế thị trường".1 Khái niệm này đã chỉ đúng bản chất sản xuất hàng hoá của kinh tế trangtrại nhưng lại sai lầm khi cho rằng nguồn gốc của các trang trại chỉ là xâydựng từ kinh tế của các hộ tiểu nông. Trong Nghị quyết số 03/2000/NQ - CP ngày 2/2/2000 về kinh tế trangtrại, Chính phủ ta đã thống nhất nhận thức về kinh tế trang trại như sau: "Kinhtế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nôngthôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệuquả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồngrừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản".2 Khái niệm này khá đầy đủ, nêu ra được cơ sở, chức năng, hình thức sảnxuất của trang trại nhưng hiện nay trong nền kinh tế thị trường sản phẩm củatrang trại mang tính hàng hoá và đáp ứng nhu cầu thị trường. Chính vì vậynăm 2004 các giảng viên của Trường Đại học kinh tế Quốc dân đã có quanđiểm: "Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm,1 Báo cáo chuyên đề: "Chính sách phát triển kinh tế trang trại và tác động của nó đến việc và thu nhập của laođộng nông thôn" - Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp- năm 2002.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 18. 13ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộcquyền sở hữu hay thuộc quyền sử dụng của một chủ thể độc lập, sản xuất đượctiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớnvới cách tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ vàluôn gắn với thị trường".3 Đây chính là khái niệm đầy đủ về kinh tế trang trại. 4. Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế - xã hội. Bất kỳ một hình thức sản xuất nào cũng gây ảnh hưởng đến đời sốngkinh tế xã hội nói chung. Là một thực thể kinh tế, các trang trại hình thành vàphát triển đã có những đóng góp không nhỏ cả về mặt tăng trưởng kinh tế vàphát triển xã hội, làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông thôn. 4.1. Phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu của quá trình phát triểnsản xuất nông nghiệp - nông thôn. Các ngành sản xuất đều có xu hướng tích luỹ về vốn và các yếu tố sảnxuất khác: Tư liệu, lao động, kinh nghiệm, trình độ quản lý... Trong nôngnghiệp cũng vậy. Những năm cuối thế kỷ 17 ở các nước bắt đầu công nghiệphoá đã có chủ trương chính thúc đẩy các quá trình tập trung ruộng đất, xâydựng các xí nghiệp nông nghiệp tư bản quy mô lớn với hy vọng mô hình nàysẽ tạo ra nhiều nông sản tập trung với giá rẻ hơn sản xuất gia đình phân tán.Lúc đầu Marx cùng cho rằng đây là điều tất yếu trong quá trình công nghiệphoá nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa nhưng trong tác phẩm cuối của mình2 Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 22/2/2000 của chính phủ về việc kinh tế trang trại.3 Thực trạng và các giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hoá-hiện đại hoáở Việt Nam- Nhà xuất bản quốc gia - năm 2000.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 19. 14ông đã viết: "Ngay ở nước Anh nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuấtcó lợi nhất không phải là các Xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là cáctrang trại gia đình không dùng lao động làm thuê". 4 Sở dĩ như vậy là vì sảnxuất nông nghiệp có đặc trưng khác với công nghiệp ở chỗ là phải tác độngvào những vật sống (cây trồng, vật nuôi) nên không phù hợp với hình thức tổchức sản xuất tập trung quy mô quá lớn. Công cuộc đổi mới kinh tế và đổi mới nông nghiệp của Việt Nam mớibắt đầu cách đây gần hai chục năm. Cơ chế thị trường không chỉ tác độngmạnh mẽ đến hoạt động của các ngành nông nghiệp, dịch vụ mà còn làm thayđổi căn bản mục đích và do đó thay đổi cả phương thức sản xuất trong nôngnghiệp. Sự phát triển của trao đổi hàng hoá đặt ra yêu cầu làm ra sản phẩmphải là hàng hoá với giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo hơn. Không chỉ làcác nông trại lớn, ngay cả các đơn vị sản xuất nhỏ như hộ gia đình cũng hiểu rõmục đích sản xuất của mình: Sản phẩm để bán chứ không phải để tiêu dùng. Khi nông nghiệp đã có một bước chuyển mình đáng kể, nhiều hộ nôngdân đã giàu lên, nhận thức và hiểu biết về khoa học kỹ thuật ngày càng sâusắc, kinh nghiệm và khả năng quản lý, tổ chức sản xuất ngày càng được nângcao, vốn tích luỹ đạt đến một mức độ nhất định, thì cũng là lúc người kinhdoanh nông nghiệp phải nghĩ đến một hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệpmới, có quy mô lớn hơn, tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Thế là họ bỏ vốn, lập nêncác trang trại, thuê nhân công và hoạt động như một nhà kinh doanh thật sự. Nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế trang trại trong phát triểnkinh tế nói chung, phát triển nông ngiệp - nông thôn nói riêng, Chính phủ đãcó khá nhiều văn bản quan trọng về các vấn đề: Đất đai cho trang trại, vốn sản4 Kmarx. Toàn tập, tập 25, phần 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 20. 15xuất cho trang trại, hỗ trợ khâu cung ứng đầu vào, đầu ra... Có thể nói, chưabao giờ kinh tế trang trại được quan tâm đúng mức như những năm gần đây. Tuy vậy, kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển từ một nền kinh tếtự cung tự cấp sang một nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thịtrường, sự quá độ của nền kinh tế lại quy định tính đa dạng của nó, về trình độphát triển của lực lượng sản xuất, về sở hữu tư liệu sản xuất... Tính khôngđồng đều về trình độ sản xuất, một mặt dẫn tới những hình thức tổ chức sảnxuất khác nhau, mặt khác, dẫn tới sự không thống nhất của mỗi hình thức tổchức sản xuất. Do vậy trang trại nước ta cũng không thể thuần nhất khi màkinh tế còn trong thời gian quá độ. Đó cũng là một quy luật phát triển như quyluật phát triển của các mô hình sản xuất khác mà thôi. Như vậy, kinh tế trang trại là một thực thể khách quan, xuất hiện như làkết quả của quá trình tích luỹ về vốn, kinh nghiệm, năng lực của người chủsản xuất, do tác động của cơ chế thị trường, mà trong đó, trang trại gia đình (vớimột số ưu thế riêng sẽ được xem xét ở phần sau) là mô hình được lựa chọn số 1. 4.2. Tác động của kinh tế trang trại đến sự phát triển của ngành sảnxuất nông nghiệp. 4.2.1. Phát triển kinh tế trang trại thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất vàchuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn và phát triển kinh tế hàng hoá. Như đã nói, đặc trưng của kinh tế trang trại là mức độ tập trung cao vềđất đai và tích luỹ lâu dài về vốn, đã dần tạo nên một quy mô vượt trội so vớisản xuất của hộ gia đình. Với riêng mỗi trang trại, trong giai đoạn đầu do cònthiếu vốn và khả năng sản xuất cũng như kinh nghiệm quản lý, họ thường kếthợp sản xuất nhiều loại nông sản khác nhau nhưng sau đó do sự tích luỹ vềcác yếu tố vốn, đất đai, kinh nghiệm sản xuất thì các trang trại sẽ hướng theoSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 21. 16một vài loại sản phẩm do đó quy mô của loại sản phẩm này cũng lớn lên. Doảnh hưởng của các lợi thế về quy mô, ta sẽ thấy các trang trại ở trong cùngmột vùng có điều kiện tự nhiên giống nhau sẽ trồng hay nuôi cùng một loạicây, con như nhau, xây dựng các mô hình thâm canh, chuyên canh, tiếp cậncác biện pháp canh tác hiện đại, từ đấy các vùng chuyên canh, vùng chuyênmôn hoá hình thành, trở thành vùng cung cấp nguyên liệu rộng lớn cho các cơsở chế biến. Đến khi sản xuất quy mô lớn lại đòi hỏi áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất để làm ra sản phẩm với chi phí thấp, chất lượng cao vàđồng đều. Vì mục đích kinh tế trang trại là thị trường: Sản xuất cái gì, khốilượng bao nhiêu, chất lượng ở mức độ nào... đều phải bắt kịp các tín hiệu củathị trường. Vì thế các trang trại cũng thay đổi, hàm lượng khoa học kỹ thuậttrong sản phẩm nông nghiệp thậm chí tăng lên. Nhìn chung, kinh tế trang trạisẽ tăng tỷ lệ chăn nuôi, giảm tỷ lệ trồng trọt, một số tiểu ngành như sản xuấtthực phẩm cao cấp, hoa kiểng... ngày càng phát triển, đem lại nguồn thu lớn. 4.2.2. Phát triển kinh tế trang trại sẽ làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp. Lợi thế về quy mô của các trang trại (quy mô đất đai, quy mô lao động...)giúp các trang trại tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn. Trang trại có điềukiện thuận lợi trong cả việc giảm giá thành các yếu tố đầu vào và cả trongquản lý, tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là dễ dàng hơn khi áp dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật, sử dụng máy móc, trang thiết bị hiện đại trong hoạt độngsản xuất. Với các hộ gia đình, chi phí cho các thiết bị này chiếm tỷ lệ quá lớnso với thu nhập và giá trị sản phẩm làm ra, nên thông thường họ phải đi thuê,tỷ suất lợi nhuận vì thế cũng thấp, khiến cho giá trị của cả ngành nông nghiệpgiảm theo.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 22. 17 Cũng nhờ quy mô lớn, chuyên môn hoá cao, cùng với tính chất sản xuấthàng hoá mà sản phẩm của trang trại là những sản phẩm có giá trị cao. Thôngthường thì người làm trang trại hiểu rõ mục đích sản xuất của mình là cungcấp cho thị trường nên họ chỉ chọn kinh doanh những loại cây, con sao cho cóhiệu quả kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu mà thị trường đòi hỏi. Hơn thế nữa, sảnphẩm làm ra thường có giá thành cạnh tranh, chất lượng đồng đều, có khảnăng cung cấp với khối lượng lớn nên thường dễ được các cơ cở chế biến vàngười tiêu dùng chấp nhận. Giá trị sản phẩm cao không chỉ đem lại thu nhậpcho chủ trang trại mà trong phạm vi toàn ngành, nó sẽ là phần đóng góp đángkể để gia tăng giá trị ngành sản xuất nông nghiệp. 4.2.3. Phát triển kinh tế trang trại đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn. Sản xuất nông nghiệp là đầu vào quan trọng của các ngành công nghiệp,đặc biệt là công nghiệp chế biến. Rõ ràng là khối lượng, chất lượng, giá cảnông sản cung cấp cho một nhà máy chế biến thực phẩm nào đó sẽ quyết địnhtính cạnh tranh của sản phẩm nhà máy này. Không những thế, sản phẩm củatrang trại sẽ góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệpnăng lượng trong các mối liên hệ ngược với các ngành này. Để làm ra sảnphẩm, các trang trại cần sử dụng máy móc, cần tiêu dùng năng lượng, cầnđược cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu... Đó là không kể những trangtrại kinh doanh tổng hợp còn tự sơ chế, chế biến ngay tại chỗ. Yêu cầu nàycần được sự giúp đỡ của ngành công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm...Mối quan hệ qua lại này chỉ ra rằng: Sự phát triển của ngành này là động lựcphát triển của ngành kia.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 23. 18 Mặt khác, khi kinh tế trang trại phát triển nó sẽ đem lại thu nhập cho mộtbộ phận nông dân, tiêu dùng của khu vực nông nghiệp - nông thôn tăng lênkéo theo sự khởi sắc của ngành dịch vụ theo đúng quy luật của nền kinh tế thị trường. Như vậy, kinh tế trang trại không chỉ là lực lượng xung kích đi đầu tronglĩnh vực sản xuất nông sản hàng hoá, mà còn là lực lượng đi đầu trong ứngdụng khoa học công nghệ nông nghiệp, do đó là nhân tố cơ bản cho quá trìnhcông nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn nước ta. Điểm yếucủa công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn là tính chất lạc hậu, manh mún,phân tán của sản xuất nông nghiệp nước ta nói chung, của tỉnh Thái Nguyênvà của huyện Đại Từ nói riêng (cho dù huyện Đại Từ vẫn là huyện có trình độthâm canh cao so với các huyện trong tỉnh Thái Nguyên) nên đã hạn chế khảnăng thay đổi cách thức sản xuất từ thủ công sang lao động bằng máy móchiện đại. Quy mô đất đai và vốn lớn của các trang trại sẽ khắc phục nhượcđiểm này. Nói chung, trong điều kiện kinh tế thị trường, với yêu cầu công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên chính thứccủa tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì mô hình kinh tế trang trại là mộthướng đi đầy triển vọng cho nông nghiệp Việt Nam. Chắc chắn trong tươnglai, sự phát triển của nông nghiệp huyện Đại Từ phải bao gồm cả sự phát triểncủa mô hình kinh tế trang trại. 4.3. Phát triển kinh tế trang trại giải quyết đƣợc những vấn đề vềmặt xã hội và môi trƣờng. 4.3.1. Phát triển kinh tế trang trại sẽ giải quyết được việc làm cho lựclượng lao động nông thôn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 24. 19 Theo số liệu thống kê năm 2006 trên địa bàn huyện Đại Từ vẫn còn đếnhơn 70% lao động là ở nông thôn. (5) Tính chất mùa vụ của hoạt động sản xuấtnông nghiệp cùng với việc mở rộng dần phạm vị ứng dụng của máy móc hiệnđại càng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp trá hình. Theo ước tính, lao động ở khuvực nông thôn mới chỉ sử dụng hết khoảng 3/4 thời gian lao động nôngnghiệp, như vậy là đã lãng phí một lượng lớn lao động nông thôn. Trong sốđó nhiều người thậm chí còn hoàn toàn không có cả việc làm. Một phần laođộng dư thừa ấy sẽ được giải quyết khi các trang trại hình thành vì trang trạikhông chỉ giải quyết việc làm cho bản thân chủ trang trại cũng như người nhàcủa họ mà còn thu hút được một lực lượng đáng kể lao động làm thuê, trongnăm 2007 các trang trại của huyện Đại Từ đã thu hút, sử dụng 394 lao độngtrong nông thôn. * Phát triển kinh tế trang trại góp phần tăng cường quan hệ giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Tác động của kinh tế trang trại tới sự phát triển của lực lượng sản xuấtxét ở 3 khía cạnh: Một là: Nhờ cách làm ăn hiệu quả hơn, kinh tế trang trại đem lại nguồnthu nhập cao hơn cho người lao động tham gia sản xuất và trong thực tế, rấtnhiều nông dân đã giàu lên thực sự bằng con đường này. Không những thế,những lao động làm thuê cũng được hưởng một mức thu nhập cao hơn trướcđây, nhờ đó đời sống được cải thiện cả về mặt vật chất và tinh thần. Hai là: Dựa vào ưu thế của kinh tế trang trại trong việc ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật mà trình độ kỹ thuật, trình độ thâm canh, chuyên môn hoácông nghiệp của huyện nói chung được nâng lên rõ rệt. Trong thời đại này,máy móc là bộ phận vô cùng quan trọng của lực lượng sản xuất nông nghiệpSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 25. 20và sự phát triển của máy móc (xét cả về số lượng và chất lượng) chính là sựphát triển của lực lượng phát triển sản xuất. Ba là: Kinh tế trang trại phát triển kéo theo sự phát triển của các mốiquan hệ giữa nông dân - nông dân trong việc hợp tác, hỗ trợ sản xuất, thuênhân công, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ giữa các khâu sản xuất -chế biến - tiêu thụ của quy trình sản xuất hàng hoá. Tiếp theo đó là mối quanhệ giữa các chủ trang trại và nhà cung cấp, cũng được nâng lên thông qua cácloại hình dịch vụ và chuyển giao kỹ thuật. 4.3.2. Phát triển kinh tế trang trại thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầngnông thôn. Rõ ràng là để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá của mình, các trang trạicần phải được đảm bảo bằng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại.Nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, các trang trại có thể kết hợpvới các địa phương, cùng các doanh nghiệp khác để giải quyết những vấn đềchung này (giao thông, điện, nước, thuỷ lợi, hệ thống tiêu thụ sản phẩm...),các công trình giao thông, kho tàng, bến bãi, các phương tiện vận tải được mởrộng và xây dựng mới để phục vụ cho sản xuất hàng hoá của các trang trại.Và vì không phải trang trại nào cũng có khả năng tự xây dựng hệ thống nàynên cần có những sự giúp đỡ của Nhà nước. Đi đôi với việc phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuấtlà hệ thống cơ sở phục vụ đời sống nhân dân, hệ thống trường học, trạm xá,chợ, các công trình văn hoá, thể thao... Một số thị tứ đã hình thành cùng vớisự phát triển kinh tế trang trại.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 26. 21 Huyện Đại Từ đóng góp của kinh tế trang trại sẽ là góp phần xây dựngmới, tu sửa và mở rộng mạng lưới thuỷ lợi, hệ thống đường xá nối các khuvực nông thôn khác nhau, nhất là các xã xa trung tâm thị tứ. 4.3.3. Phát triển kinh tế trang trại khai thác hiệu quả các nguồn lực. Thực tế cho thấy trong các mô hình kinh tế các yếu tố nguồn lực thườngđược sử dụng hiệu quả hơn so với kinh tế hộ. Không còn mang tính chất tựsản tự tiêu, cơ chế thị trường buộc các "Doanh nghiệp trang trại" phải hạchtoán kinh doanh do đó vì lợi nhuận, các yếu tố đầu vào như đất đai, chi phímua giống, phân bón, trang thiết bị máy móc, thuê mướn nhân công... đềuđược tính toán sao cho đem lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất. Rộng hơn, kinh tếtrang trại còn góp phần tích cực vào việc huy động tiền vốn đọng trong mộtbộ phận lớn nông dân lâu nay vào sản xuất nông nghiệp. 4.3.4. Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải thiện môi trường. Đối với huyện Đại Từ, có 19 trang trại trồng rừng, các trang trại này đãgóp phần vào công cuộc xây dựng một nền nông nghiệp đa dạng, một nềnsinh thái bền vững. Tóm lại, mô hình kinh tế trang trại không chỉ là mô hình thích hợp vớisản xuất nông nghiệp huyện Đại Từ mà nó còn phù hợp với cơ chế thị trườngvà đem lại những lợi ích to lớn cả về kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, nhận thứcvề vai trò của nó chưa đủ để chúng ta xây dựng được hệ thống các giải pháphiệu quả, bởi vì ta còn phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinhtế trang trại nữa. 5. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại và tiêu chí xác địnhtrang trại:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 27. 22 5.1. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại: Việc nghiên cứu những đặc trưng của kinh tế trang trại có ý nghĩa quantrọng trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn quản lý. Để xác định nhữngđặc trưng của kinh tế trang trại, cần xuất phát từ những điểm khác biệt mangtính bản chất của kinh tế trang trại so với các hình thức sản xuất nông nghiệptập trung khác và so với kinh tế nông hộ. Điều này đòi hỏi phải xuất phát từkhái niệm về kinh tế trang trại đã được trình bày ở trên. Với quan điểm nhưvậy, kinh tế trang trại mang những đặc trưng cơ bản sau đây: 5.1.1.Phát triển kinh tế trang trại gắn với sản xuất nông, lâm, thuỷ sảntheo hướng hàng hoá và theo nhu cầu thị trường. Kinh tế trang trại là hình thức kinh tế từng bước đưa nông dân từ hộnông nghiệp tự cấp tự túc lên các hộ nông nghiệp hàng hoá. Vai trò kháchquan mang tính lịch sử này của kinh tế trang trại gắn liền với tính hai mặt củahộ nông dân, với trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp và sự giao lưuhàng hoá giữa thành thị và nông thôn. Nông hộ vừa là gia đình- đơn vị trực tiếp tiêu dùng của xã hội, vừa là cơsở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tối cần thiếtcho cuộc sống có thể tiêu dùng trực tiếp. Do vậy sản xuất trực tiếp tự túc làcái vốn có của kinh tế hộ nông dân. Các hộ nông dân muốn làm giầu phảithoát khỏi tình trạng sản xuất tự túc và từng bước chuyển sang sản xuất hànghoá theo phương thức trang trại. Như vậy các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong nền kinh tếthị trường mặc dù sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hìnhthức sản xuất phân tán, song mục đích chủ yếu vẫn là nhằm đáp ứng nhu cầutiêu dùng trực tiếp của những chủ nhân của chúng, còn kinh tế trang trại thìSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 28. 23ngay từ khi ra đời đã mang tính hàng hoá và càng ngày tính chất và trình độsản xuất hàng hoá của nó càng được nâng lên. Các trang trại đều đi lên từ kinh tế hộ nông dân khi kinh tế hộ phá vỡ vỏbọc tự cấp, tự cung vốn có. Như quá trình hình thành và phát triển kinh tếtrang trại gia đình là quá trình nâng cao hay mở rộng tính chất và trình độ sảnxuất hàng hoá của trang trại đồng thời cũng là quá trình thu hẹp tính chất sảnxuất trực tiếp tự cấp, tự túc vốn có của kinh tế hộ nông dân. Đặc trưng về mục đích sản xuất hàng hoá là đặc trưng quan trọng nhấtcủa kinh tế trang trại, bởi vì mục đích sản xuất hàng hoá chi phối và ảnhhưởng lớn, thậm chí quyết định tới các đặc trưng khác cuả kinh tế trang trại. Quy mô của trang trại lớn gấp nhiều lần quy mô của hộ gia đình hay kiểutiểu nông. Nó được đánh giá bằng diện tích đất đai sử dụng, hay bằng giá trịsản lượng làm ra trong một năm hoặc đo bằng tỷ suất hàng hoá của trang trại. 5.1.2. Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyềnsử dụng của một người chủ độc lập. Trong các trang trại mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của chủtrang trại trong trường hợp đi thuê hoặc được giao quyền sử dụng thì tư liệusản xuất đều thuộc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Người chủ độc lập ở đây không phải là người chủ biệt lập, tách rời khỏicác quan hệ liên kết và hợp tác với các chủ thể kinh tế khác. Người chủ độclập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinhdoanh. Tuy nhiên như đã trình bày ở trên, tư liệu sản xuất trong trang trạithuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập cũng cónghĩa là những hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp dựaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 29. 24trên sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể (nông, lâm trường quốc doanh, hợptác xã nông nghiệp...) thì không thuộc khái niệm trang trại. 5.1.3. Quá trình tích tụ ruộng đất và vốn đầu tư được tập trung tới quymô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá. Trong nông nghiệp cũng như trong ngành sản xuất vật chất khác, sảnxuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tậptrung tới quy mô nào đó. Do đó ở các trang trại, sản xuất hàng hoá chỉ có thểđược thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất... được tập trung tớiquy mô cần thiết (đủ lớn). Đặc trưng này được quy định bởi chính đặc trưngvề mục đích sản xuất của trang trại. ở các trang trại tư nhân, quy mô tập trungcác yếu tố sản xuất lớn hơn hẳn so với các trang trại gia đình, còn các trangtrại gia đình mặc dù có quy mô lớn hơn nhiều so với kinh tế họ tự cấp, tự túc,song nói chung vẫn nằm trong khuôn khổ gia đình, chịu sự giới hạn nhất địnhcủa các yếu tố sản xuất nội lực. Do vậy, sự tập trung các yếu tố sản xuất(ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất, lao động...) ở đây dù theo yêu cầu sảnxuất hàng hoá song cũng có những giới hạn nhất định. Đặc trưng về sự tập trung các yếu tố sản xuất của kinh tế trang trại có thểbiểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu sau: - Quy mô diện tích ruộng đất của trang trại (nếu là trang trại chăn nuôithì là số lượng gia súc, gia cầm...) - Quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại. 5.1.4. Tổ chức và quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ dựa trên sựchuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng TBKHKT, thực hiện hoạchtoán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 30. 25 - Về trình độ chuyên môn hoá sản xuất trong các trang trại: Chuyên mônhoá sản xuất của trang trại là quá trình gắn liền với việc chuyển phươnghướng sản xuất của trang trại từ sản xuất đa dạng, đa canh kết hợp trồng trọtvới chăn nuôi sang sản xuất chuyên canh, tập trung vào một vài nông sảnhàng hoá có lợi thế so sánh và khả năng sinh lời cao. Để phản ánh trình độ chuyên môn hoá, có thể sử dụng chỉ tiêu: Cơ cấugiá trị sản lượng của trang trại; Cơ cấu giá trị sản lượng hàng hoá của trangtrại. - Trình độ thâm canh trong các trang trại cũng được nâng dần từ thâmcanh truyền thống sang thâm canh kết hợp truyền thống với hiện đại rồi thâmcanh hiện đại. Những chỉ tiêu chủ yếu có thể sử dụng để biểu hiện trình độthâm canh là: Vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích; Vốn đầu tư cho nhữngcông nghệ sản xuất tiến bộ trên một đơn vị diện tích; Năng suất cây trồng vậtnuôi. - Về cách thức điều hành sản xuất: Lúc đầu sản xuất hàng hoá còn ít vàgiản đơn với mục đích là tối đa hoá lợi ích và tăng thêm thu nhập cho gia đìnhthì chủ trang trại vẫn điều hành sản xuất theo kiểu gia trưởng, song đã bắt đầuđi vào bố trí, tổ chức sản xuất, ghi chép thu chi và hoạch toán đơn giản. Khisản xuất hàng hoá là hướng chính, các phạm trù lợi nhuận, giá cả và cạnhtranh ngày càng lôi cuốn trang trại đi vào kinh doanh nhằm đạt lợi nhuậnnhiều hơn thì cách quản lý theo kiểu gia trưởng không còn thích hợp nữa. Sảnxuất đòi hỏi phải có phương án hợp lý lựa chọn cây trồng, vật nuôi, quy hoạchruộng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng, áp dụng công nghệ và quy trình thâmcanh... Do vậy quản lý và điều hành sản xuất ở đây được tiến hành trên cơ sởnhững kiến thức cần thiết về nông học, sinh học và phương pháp điều hànhsản xuất.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 31. 26 Về hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại: Hoạt động tài chínhvà hoạch toán của trang trại dần dần thay đổi. Lúc đầu khi mới đi vào sản xuấthàng hoá, chủ trang trại thường ghi nhớ trong đầu hoặc có ghi chép, hoạchtoán đơn giản lượng thu, lượng chi và phần thu nhập dôi ra đối với vài câytrồng, vật nuôi chủ yếu. Khi sản xuất hàng hoá đã trở thành hướng chính, cáctrang trại thường thực hiện hoạch toán giá thành và lợi nhuận đối với từngcây, con hàng hoá. Đến khi trang trại kinh doanh gần như một doanh nghiệpthì hoạt động tài chính đi vào chiều sâu, bao gồm các nội dung: Kế hoạch tàichính, hoạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh...Hoạt động tàichính và hoạch toán của trang trại ngày càng có vai trò quan trọng, đồng thờicũng ngày càng phức tạp đòi hỏi phải có kiến thức và nghiệp vụ kế toán,hoạch toán nhất định. - Về tiếp cận thị trường: Thái độ và hành động đối với thị trường củatrang trại cũng từng bước được thay đổi theo hướng ngày càng tiếp cận và gắnkết với thị trường. Lúc đầu trang trại chưa quan tâm nhiều đến thị trường mặc dù đã sảnxuất theo hướng hàng hoá song tỷ trọng sản phẩm tự cung, tự cấp còn khácao. Nhưng khi trình độ sản xuất hàng hoá đã nâng lên thì các trang trạithường xuyên quan tâm đến thị trường và tìm kiếm thị trường. Đến khi giaiđoạn coi kinh doanh là lẽ sống của mình thì thị trường là khâu kết thúc, quyếtđịnh chu kỳ kinh doanh thì trang trại thường xây dựng và thực hiện linh hoạtchiến lược kinh doanh nhằm đứng vững và phát triển trong cạnh tranh. Mức độ liên hệ và gắn kết với thị trường có thể xem xét thông qua chỉtiêu tỷ trọng chi phí trung gian trong tổng chi phí sản xuất của trang trại.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 32. 27 5.1.5. Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, cókiến thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinhdoanh. Người chủ trang trại là người có những tố chất cần thiết để tổ chức vàquản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Những tố chất cần thiếtvà chủ yếu của chủ trang trại là: Có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông;Có năng lực tổ chức quản lý; Có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nôngnghiệp, đồng thời có hiểu biết nhất định về hoạch toán, phân tích kinh doanh,tiếp cận thị trường... Những tố chất của người chủ trang trại nêu trên, về cơ bản không có ởngười chủ nông hộ sản xuất tự cấp, tự túc. Tuy nhiên, những tố chất ngày nóichung không phải hoàn toàn được hội đủ ngay khi trang trại mới hình thànhmà phần lớn các chủ trang trại, sự hội tụ các tố chất cần thiết cũng trải quamột quá trình nhất định. Mức độ hoàn thiện của các tố chất cũng gắn liền vớicác giai đoạn phát triển của trang trại. 5.1.6. Phát triển kinh tế trang trại giải quyết việc làm cho người laođộng: Thông thường các trang trại trong nông, lâm, ngư nghiệp đều có quy môsản xuất lớn hơn hẳn so với quy mô sản xuất của hộ nông dân. Ngay trong cáctrang trại gia đình quy mô sản xuất cũng thường lớn hơn khoảng 3 lần so vớiquy mô sản xuất bình quân của một hộ nông dân trong vùng. Điều này dẫnđến nhu cầu về lao động trong các trang trại đều vượt quá khả năng nguồn laođộng gia đình và do đó các trang trại đều có thuê mướn lao động.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 33. 28 Quy mô thuê mướn lao động của trang trại trong các loại hình khác nhauvà phụ thuộc chủ yếu vào các loại hình trang trại và quy mô sản xuất của cáctrang trại. Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại đó là: Thuê laođộng thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ. Trong hình thức thuê laođộng thường xuyên, trang trại thuê người lao động làm việc ổn định quanhnăm, còn trong hình thức thuê lao động theo thời vụ, trang trại chỉ thuê ngườilao động làm việc theo thời vụ sản xuất. Thông thường các trang trại tư nhân có quy mô sản xuất lớn thì thuê cảlao động thường xuyên và lao động thời vụ, trong đó lao động thường xuyênlà chủ yếu. Các trang trại tiểu nông thuê cả hai loại lao động, nhưng lao độngthời vụ là chủ yếu, còn trang trại gia đình do quy mô sản xuất nhỏ hơn cácloại hình trang trại trên nên thường là lao động thời vụ. 5.2. Tiêu chí xác định trang trại: Không phải Nhà nước bỏ qua hình thức tổ chức sản xuất này, nhưng vìđến trước những năm 2000, do chưa có một sự thống nhất về khái niệm cũngnhư tiêu chí xác định trang trại nên mang đầy đủ đặc điểm của một đơn vị sảnxuất kinh doanh nhưng chủ trang trại vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việcxin hưởng các chế độ hỗ trợ của Nhà nước. Thông thường các nhà thống kêvẫn sử dụng những chỉ tiêu định tính hoặc chỉ tiêu định lượng mà tính địnhlượng không cao và các chỉ tiêu này không được thống nhất trong cả nước. * Tiêu chí định tính Có thể dùng tiêu chí này để nhận dạng thế nào là một trang trại, đó là cácđặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 34. 29 - Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông lâm, thuỷ sản hànghoá với quy mô lớn. - Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sảnxuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy môsản xuất như: Đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sảnhàng hoá. - Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất,biết áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mớivào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuấthiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ. * Tiêu chí định lượng: Dùng để phân biệt rõ ràng trang trại, không phải trang trại và để phânloại các trang trại khác nhau. Ngày 23/6/2000 Liên Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, Tổng cục thống kê đã ra Thông tư số 69/2000/TTLT/BNN-TCT; Sau đó ngày 4/7/2003 Bộ Nông nghiệp và PTNT ra Thông tư số74/TT-BNN về việc sửa đổi bổ sung mục III của thông tư liên tịch số69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 hướng dẫn xác định tiêu chí kinhtế trang trại5; Cụ thể như sau: * Các đối tượng và ngành sản xuất được xem xét để xác định là kinh tếtrang trại Hộ nông dân, hộ công nhân viên Nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉhưu, các loại đô thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm nông nghiệp, lâm5 Thông tư số 74/TT-BNN về v iệc sửa đổi bổ sung mục III của thông tư liên t ịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/ 2000Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 35. 30nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêmnhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn. * Tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại - Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đượcxác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hànghoá bình quân 1 năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội sovới kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. - Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hànghoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác địnhtrang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm. * Tiêu trí xác định kinh tế trang trại: Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đượcxác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí định lượng sau đây: 1. Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm phải đạt từ 40triệu đồng trở lên/trang trại. 2. Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nônghộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. Quy mô sản xuất của trang trại được xác định như sau: STT Loại hình trang trại Quy mô I Đối với trang trại trồng trọt Quy mô diện tích 1 Cây hàng năm > 2 ha 2 Cây lâu năm (Chè, cây ăn qủa…) >3 haSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 36. 31 3 Lâm nghiệp > 10 ha II Đối với trang trại chăn nuôi Chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò… 1 - Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa - Có thường xuyên > 10 con - Chăn nuôi lấy thịt - Có thường xuyên > 50 con Chăn nuôi gia súc: Dê, lợn… - Chăn nuôi sinh sản 2 + Lợn > 20 con + Dê > 50 con Chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt, ngan… > 2000 con (không kể số đầu 3 con dưới 7 ngày tuổi) Chăn nuôi thuỷ sản > 2 ha III - Đối với chăn nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp > 1ha Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như: Trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, IV giống thuỷ sản, thuỷ đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá bình quân một năm đạt từ 40 triệu đồng trở lên 5.3. Phân loại kinh tế trang trại Phân loại theo Phân loại theo chủ Phân loại theo loại hình sản xuất quy mô thể kinh doanhNhỏ: < 2 ha - Trồng trọt Trang trại gia đìnhVừa: 2-5 ha + Trồng rừng Trang trại tiểu thủKhá lớn: 5-10 ha + Trồng cây ăn quả Trang trang tư nhân kinh doanh nôngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 37. 32 nghiệp.Lớn: > 10 ha + Trồng cây lâu năm + Trồng cây lương thực, thực phẩm + Kinh doanh đặc thù - Chăn nuôi: - Thuỷ sản - Trang trại kinh doanh tổng hợp II- Cơ sở thực tiễn: 1. Kinh nghiệm phát triển trang trại của các nƣớc trên thế giới: Tại nước Mỹ và các nước Tây Âu kinh tế trang trại đã xuất hiện từnhững năm 1950, tuy nhiên ngày càng số lượng trang trại ngày càng ít đi, tạiMỹ năm 1950 có 5.648.000 trang trại đến năm 1992 còn 1.920.000 trang trại,diện tích trang trại bình quân của các trang trại ngày càng tăng, tại Mỹ diệntích bình quân năm 1950 là 86 ha, đến năm 1992 là 198,7 ha 6. Tại Anh năm1950 diện tích bình quân trang trại là 36 ha, đến năm 1987 là 71 ha 7. Tại cácnước Châu á kinh tế trang trại chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, dân sốnên có những đặc điểm khác với trang trại ở các nước Châu Âu về quy mô vàsố lượng trang trại. Tại các nước Châu á do đất canh tác trên đầu người vàoloại thấp trên thế giới như Đài Loan: 0,47 ha; Malaixia: 0,25 ha; Hàn Quốc:6 A.A Connugin: Kinh tế nông trại M ỹ, Tr ường Đại Học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh7 Nguyễn Điền. Kinh tế trang trại trại t rên thế giới và ở Châu ÁSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 38. 330,53ha…, trong khi đó ở các quốc gia Châu á đều có dân số đông nên có ảnhhưởng đến quy mô trang trại. Chính vì vậy ở các nước Châu Á nói chung, hiện tượng tích tụ ruộng đấtdiễn ra chậm nên tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất cũng là một trongtrở ngại trong vấn đề phát triển kinh tế trang trại. Đối với các nước Châu Âu, nước Mỹ thì trang trại bao gồm: Trang trạigia đình; trang trại liên doanh, trang trại liên doanh cổ phần và trang trại uỷthác cho người nhà, bạn bè quản lý, sản xuất. Trong đó trang trại gia đình làloại hình trang trại mà mỗi gia đình có tư cách pháp nhân riêng do người chủhộ hay một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý, ởnhiều nước phát triển, những chủ trang trại muốn được nhà nước công nhậnthì trình độ quản lý và tư cách pháp nhân phải tốt nghiệp các trường kỹ thuậtvà quản lý nông nghiệp, đồng thời có kinh nghiệm qua thực tập lao động sảnxuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác. Các chủ trang trại họ đều lànhững chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, có trình độ học vấn, họ thườngxuyên liên hệ đối với các cơ quan khoa học để thu thập thông tin kinh tế kỹthuật, tham gia hội thảo khoa học. Đây là loại hình trang trại phổ biến còn cácloại hình trang trại liên doanh, trang trại liên doanh cổ phần thì đây là loạihình trang trại có quy mô lớn, được chuyên môn hoá sản xuất, sử dụng laođộng làm thuê là chủ yếu. Ở Mỹ và các nước Châu Âu thì nguồn vốn và laođộng của họ có những thuận lợi hơn so với các nước Châu Á, các trang trạiđược mua chịu tư liệu sản xuất, được hỗ trợ vay vốn với lãi xuất thấp để muatư liệu sản xuất. Về lao động và kỹ thuật, các trang trại ở Châu Âu và cácnước phát triển tăng cường sử dụng máy móc hiện đại và mức độ cơ giới ngàycàng từng bước tiến tới tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá trong sản xuất,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 39. 34trong các trang trại số lượng lao động trong nông nghiệp của gia đình cũngnhư lao động làm thuê ngày càng giảm dần. 2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở trong nƣớc: Ở nước ta các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với tên gọi khácnhau (Trại, ấp, thái ấp, đồn điền, điền trang…) đã xuất hiện ở Việt Nam từnhững năm đầu công nguyên và phát triển khá mạnh mẽ trong thời kỳ phongkiến đặc biệt là thời kỳ Lý-Trần và thời kỳ nhà Nguyễn. Bắt đầu từ nhữngnăm 1990 đến nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện những chủtrương, biện pháp nhất quán theo hướng tạo điều kiện cho kinh tế trang trại rađời và phát triển. Qua các kỳ đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, Đảng ta đãthừa nhận sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, khảng định chính sáchkhuyến khích tiểu thủ và kinh tế tư bản tư nhân. Điều đó đã tạo nên bối cảnhra đời và phát triển của kinh tế trang trại. Bằng các chủ trương, biện phápthích hợp chúng ta đã khuyến khích kinh tế trang trại phát triển như: Trướchết là sự thay đổi về các mối quan hệ kinh tế liên quan đến quyền sử dụng đấtđai, b 8ởi vì đất đai là yếu tố đầu vào quan trọng nhất trong sản xuất nôngnghiệp. Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vậnđộng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa, đất đai thuộc quyền sử hữu của ngừơi dân, không mua bán,đồng thời chủ trương giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân là bướcđột phá đầu tiên thúc đẩy hộ và kinh tế trang trại phát triển. Bước đi đầu tiênlà việc khoán sản phẩm theo nhóm và người lao động trong các hợp tác xãnông nghiệp theo tinh thần Chỉ thị 100/CT-TW của Ban bí thư Trung ươngngày 31-1-1981 đã từng bước khôi phục lại quyền tự chủ đối với sản xuất chohộ gia đình trong việc sử dụng đất và lao động của bản thân họ. Bước tiếp8 Phát triển kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại gia đ ình ở Việt NamSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 40. 35theo, thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn đồng thời cóchính sách khuyến khích kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân trongnông, lâm, ngư nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ chính trị và Nghịquyết Hội nghị lần 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VI tháng 3/1989.Đến năm 1988 đã thể chế chủ trương của Đảng về khuyến khích các hộ, cáthể, tư nhân trong ngành nông, lâm ngư nghiệp đã tạo tiền đề cho sự phát triểnkinh tế trang trại phát triển: Nhà nước thừa nhận sự tồn tại và phát triển củakinh tế hộ, cá thể, tư nhân; Nhà nước tạo điều kiện về môi trường thuận lợicho kinh tế cá thể, tư nhân, thừa nhận tư cách pháp nhân; Nhà nước bảo hộ vềquyền tài sản và thu nhập hợp pháp; vốn….việc liên tục hoàn thiện cơ chế,chính sách của nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại pháttriển. Hiện nay chưa có số liệu công bố chính thức nhưng theo báo cáo của BộNông nghiệp và PTNT thì cả nước có khoảng 113.000 trang trại, chủ yếu làcác trang trại gia đình. Qua khảo sát tình hình phát triển kinh tế trang trại của các tỉnh phía Bắc,có những đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội gần gũi với nước ta, chúng ta cóthể rút ra những nhận xét, kinh nghiệm thực tế, bổ ích để tham khảo và vậndụng có chọn lọc vào điều kiện cụ thể của huyện Đại Từ tỉnhThái Nguyên. Từ khi bắt đầu công nghiệp hoá, kinh tế trang trại ở các tỉnh phía Bắc đãhình thành và phát triển và đến khi đạt trình độ công nghiệp hoá cao, kinh tếtrang trại vẫn tồn tại và đóng vai trò của lực lượng trong nền công nghiệp sảnxuất nông sản hàng hoá. Thực tế đã chứng minh kinh tế trang trại là loại hìnhtổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, là lựclượng xung kích sản xuất nông sản hàng hoá. 3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở Thái Nguyên.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 41. 36 Tỉnh Thái Nguyên là tỉnh có nhiều đất đai rộng lớn với nhiều loại địahình và vùng khí hậu khác nhau: Đồng bằng, Trung du, miền núi, vùng cao.Thực tế cho thấy mô hình kinh tế trang trại ở Thái Nguyên trong những nămqua sản xuất có hiệu quả. Các trang trại của tỉnh Thái Nguyên có quy mô nhỏ,phổ biến quy mô bình quân trên dưới 1ha. Nhưng các trang trại của tỉnh TháiNguyên vẫn còn những tính chất cơ bản của kinh tế, như đảm bảo tỷ suấthàng hoá cao, khối lượng nông sản nhiều (khi các trang trại sản xuất chuyênmôn hoá từng mặt hàng ở vùng tập trung), vẫn thường xuyên được nâng caotrình độ khoa học công nghệ nông nghiệp. Kinh tế trang trại ở Thái Nguyênchủ yếu vẫn sản xuất theo phương thức gia đình. Trong những năm kinh tếtrang trại ở tỉnh Thái Nguyên phát triển ở tất cả các vùng kinh tế: Đồi núi,đồng bằng, hàng năm tỉnh Thái Nguyên đã dành một nguồn kinh phí khôngnhỏ để phát triển kinh tế trang trại, tạo cơ chế, chính sách về vốn, đất đai vàcác điều kiện khác để thúc đẩy trang trại phát triển, đến nay toàn tỉnh TháiNguyên có 381 trang trại, chủ yếu là các trang trại gia đình. Để phát triểntrang trại trong năm qua tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện một số giải pháp như:Quy hoạch xác định các khu vực phát triển kinh tế trang trại tập trung nhằmhình thành vùng sản xuất tập trung, đáp ứng nhu cầu thị trường. Định hướngphát triển cây trồng, vật nuôi chính , phát huy thế mạnh của từng vùng, đầu tưvốn, khoa học kỹ thuật… phù hợp với điều kiện của từng huyện. Giải quyếtcác vấn đề chuyển dịch đất đai tạo điều kiện cho các gia đình có quy mô đấtđai lớn để tập trung sản xuất. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với kếhoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, tạo mối liên doanh, liên kếtvới kinh tế hợp tác xã và kinh tế nhà nước 9. 4. Bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế trang trại ở huyện Đại Từ.9 Kết quả thực hiện Đề án phát triển kinh tế trang trại ở Thái NguyênSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 42. 37 - Trước hết cần xoá bỏ ngay quan niệm về kinh tế trang trại là phải sảnxuất trên những diện tích đất đai rộng lớn nhất. Chúng ta nên nhận định trangtrại từ tính chất sản xuất hàng hoá của nó. - Phải nhanh chóng nâng cao trình độ cơ giới hoá trong các trang trại đểsản xuất không bị lạc hậu. - Trong giai đoạn đầu, cơ cấu sản xuất của các trang trại còn hỗn tạp đểtận dụng mọi năng lực sản xuất hiện có, nhưng sau dần chuyển sang cơ cấumang tính chuyên canh và một loại nông, lâm, đặc sản nhất định. - Mô hình trang trại gia đình đang và sẽ là loại hình trang trại phổ biếnvà thích hợp. Nó bao gồm trang trại gia đình tiểu chủ vừa sử dụng lao độnggia đình vừa thuê thêm lao động thời vụ và thường xuyên với số lượng khácnhau, được Nhà nước chủ trương khuyến khích. Chính loại lao động tiểu chủlà lực lượng lao động có nhiều tiềm năng sản xuất nông sản hàng hoá hiệnnay. Mô hình này có nhiều ưu điểm nổi bật: + Có khả năng dung nạp những trình độ sản xuất nông nghiệp khác nhau + Có khả năng dung nạp các quy mô sản xuất khác nhau + Có khả năng dung nạp các cấp độ công nghệ khác nhau + Có khả năng liên kết các loại hình kinh tế khác nhau: Kinh tế gia đình,kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác, kinh tế Nhà nước. Các chính sách phát triển kinh tế trang trại của Nhà nước sẽ phải tạo điềukiện thuận lợi để các hộ gia đình nông dân có thể sản xuất theo mô hình này. - Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện, từ yêu cầuđặt ra của công nghiệp hoá, chúng ta có thể vận dụng một cách sáng tạoSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 43. 38những bài học của các tỉnh bạn, phát triển trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm,cây lâu năm... ở những nơi có điều kiện xuất khẩu, trang trại trồng cây concần ít đất, trồng hoa, cây cảnh, làm nấm, nuôi cá cảnh, rắn, ba ba, nhím... cóthể đạt hiệu quả kinh tế cao. - Về vấn đề phân hoá thu nhập: Có nhiều ý kiến cho rằng kinh tế trangtrại là "Lối làm ăn của người giàu", bởi những nông dân nghèo thì khó mà cóđủ vốn để làm trang trại, đồng thời cho rằng không nên khuyến khích loạihình trang trại tư bản tư nhân vì nó có thể dẫn đến sự tư bản hoá sản xuấtnông nghiệp. Đúng là nhờ kinh tế trang trại, một bộ phận dân cư đã có mứcthu nhập cao hơn hẳn và cũng làm phân hoá giàu nghèo, nhưng thực tế là nókhông làm cho những người nghèo nghèo đi và cũng không làm tăng số ngườinghèo, trái lại còn giải quyết việc làm cho một phần đáng kể lực lượng laođộng nữa. Hơn thế, nông nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nói riêng vànước Việt Nam nói chung còn quá lạc hậu, thu nhập của người nông dân ViệtNam thấp so với thu nhập của nông dân các nước trong khu vực và trên thếgiới, vì thế để đuổi kịp họ về trình độ sản xuất, về mức sống dân cư, về khảnăng cạnh tranh của nông sản, thì kinh tế trang trại là sự lựa chọn số một, sựlựa chọn đúng đắn và hiệu quả. B. Phƣơng pháp nghiên cứu: I. Các vấn đề mà đề tài cần giải quyết: Để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Đại Từ theo đúng địnhhướng, phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của trang trại trong nền kinh tế thịtrường thì các vấn đề mà đề tài cần tập trung giải quyết đó là: - Trong những năm qua kinh tế trang trại ở Đại Từ đã phát triển như thế nào?Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 44. 39 - Yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại của huyện ĐạiTừ. - Hiệu quả kinh tế của các trang trại như thế nào? - Giải pháp nào thúc đẩy sự phát triển kinh tế trang trại ở Đại Từ? II. Các phƣơng pháp nghiên cứu: 1. Phương pháp thu thập số liệu: - Thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thống kê qua Niên giám thống kêhàng năm của huyện. + Các thông tin, tài liệu có liên quan đến các vấn đề trang trại, kinh tếtrang trại, hiệu quả kinh tế trang trại trên thế giới và Việt Nam thu thập quabáo chí, tạp chí, mạng Internet. + Các báo cáo Nghị Quyết, số liệu cơ bản tình hình kinh tế xã hội củatỉnh, huyện, xã nghiên cứu thu thập tại Phòng Nông nghiệp và PTNT, PhòngThống kê huyện Đại Từ. + Các đề án, báo cáo tổng kết hàng năm về hoạt động của trang trại trênđịa bàn huyện Đại Từ. - Thu thập tài liệu sơ cấp: Bằng cách điều tra qua bảng được soạn sẵnđính kèm với báo cáo. 2. Công cụ xử lý số liệu: Thông tin và số liệu sau khi thu thập sẽ được tính toán theo mục đích củađề tài trên chương trình tính toán Exel.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 45. 40 3. Phương pháp phân tích số liệu: - Phương pháp thống kê mô tả: Được dùng tính, đánh giá các kết quảnghiên cứu. - Phương pháp phân tổ, thống kê, phân thành các tổ để đánh giá. - Phương pháp so sánh: Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu số tươngđối, chỉ rõ nguyên nhân biến động của hiện tượng. - Phương pháp dự báo. III. Hệ thống chỉ tiêu phân tích: * Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất của trang trại: - Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong năm. - Tổng giá trị sản xuất. - Tổng chi phí sản xuất. - Thu nhập bình quân 1 năm của trang trại. - Tỷ suất sản phẩm hàng hoá bằng giá trị sản phẩm hàng hoá/ tổng giá trị sảnxuất. * Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại: - Tổng giá trị sản xuất/1 đơn vị diện tích: - Tổng giá trị sản xuất/1 lao động. - Tổng thu nhập/1 đơn vị diện tích:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 46. 41 - Tổng thu nhập/1 lao động. - Giá trị sản xuất/ 1 trang trại bình quân. - Số lượng lao động thuê ngoài/lao động. Trong đó: + Giá trị sản xuất là giá trị toàn bộ sản phẩm thu được trong một đơn vị,trong một năm hay một chu kỳ. + Thu nhập của các trang trại là phần thu nhập thuần tuý của người sảnxuất, gồm cả công lao động trang trại và lợi nhuận mà trang trại có thể nhậnđược trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh. + Tổng giá trị sản xuất/1 đơn vị diện tích, tổng giá trị sản xuất/1 lao độnglà giá trị sản xuất được tạo ra bởi một công lao động, một đơn vị diện tích. + Tổng thu nhập/1 đơn vị diện tích, tổng thu nhập/1 lao động là thu nhậptính trên một công lao động, một đơn vị diện tích. * Hiệu quả môi trường: - Diện tích rừng đã trồng/ trang trại. - Số trang trại có hệ thống xử lý phân thải. - Diện tích cây ăn quả trồng mới/ trang trại.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 47. 42 CHƢƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN THỜI GIAN QUA 2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: 2.1.1. Đặc điểm tự nhiên: Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên. Có diện tích tựnhiên là 57.790 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp: 14.689 ha (chiếm25,42 %), đất lâm nghiệp: 27.814 ha (chiếm 48,13 %). Dân số toàn huyện trên165 vạn người, có gần 37.000 hộ sản xuất nông nghiệp. + Vị trí địa lý: Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tíchđất tự nhiên: 57.790 ha. Với có toạ độ địa lý: 210 30’ đến 21050’ độ vĩ Bắc,105032’ đến 105042’ độ Kinh đông. Phía Tây giáp Tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ Phía Đông giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên. Phía Bắc giáp huyện Định Hoá. Phía Nam giáp huyện Phổ Yên. + Địa hình: Đại Từ là huyện có địa hình tương đối phức tạp thể hiệnđặc trưng của vùng trung du miền núi Đông Bắc, địa hình có thể chia làm 3vùng khác nhau: + Vùng I: là vùng địa hình của dãy Tam Đảo.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 48. 43 + Vùng II: là vùng của dãy núi thấp có độ cao: 150 - 300m + Vùng III: là vùng thung lung hẹp song song với dãy Tam Đảo Tổng diện tích của huyện theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc được thểhiện ở biểu 01. Biểu 01: Diện tích của huyện theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc Độ cao Tỷ lệ Độ dốc Tỷ lệ Diện Diện tích STT tuyệt đối tích (ha) (%) (o) (ha) (%) (m) 1 < 100 25 123 43.45 <8 15 500 26,82 2 100 – 300 22 087 38.21 8 – 15 6 343 10,97 3 300 – 700 7 179 12.42 15 – 25 13 528 23,40 4 > 700 3 401 5.90 > 25 22 419 38,81 Nguồn: Báo cáo diện tích của huyện trong báo cáo kinh tế xã hội huyện Đại Từ + Khí hậu chia hai mùa rõ rệt: mùa mua từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khôtừ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. - Khí hậu nhiệt độ trung bình năm: 22.90C - Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 27.20C - Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 20.00C - Luợng mưa trung bình năm: 1 872 mm/namSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 49. 44 - Độ ẩm không khí trung bình: 78 - 86 (%) - Lượng bốc hơi trung bình: 985,5mm/năm - Thổ nhưỡng: Trên địa bàn huyện đều được hình thành bởi 8 nhóm,trong dó có 4 nhóm đất chính là: - Đất xám mùn trên núi có: 16.400 ha chiếm tỷ lệ 28,37% - Đất Feralit phát triển trên đất đỏ biến chất: 15.107 ha chiếm tỷ lệ26,14 % - Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ: 1.3036 ha chiếm tỷ lệ 22,55 % - Đất phù sa Gley phát triển trên đất phù sa cổ: 13.247 ha chiếm tỷ lệ22,94 % Biểu 2: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ Đơn vị tính: Ha STT Mục đích sử dụng đất Diện tích Tổng diện tích đất tự nhiên 57.705,471 Đất nông nghiệp 45.311,451.1 Đất sản xuất nông nghiệp 16.375,981.1.1 Đất trồng cây hàng năm 8.109,641.1.1.1 Đất trồng lúa 7.123,841.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 29,93Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 50. 451.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 955,871.1.2 Đất trồng cây lâu năm 8.266,341.2 Đất lâm nghiệp 28.020,981.2.1 Đất rừng sản xuất 14.238,021.2.2 Đất rừng phòng hộ 2.187,131.2.3 Đất rừng đặc dụng 11.595,831.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 914,492 Đất phi nông nghiệp 8.910,862.1 Đất ở 2.747,72.1.1 Đất ở tại nông thôn 2.679,102.1.2 Đất ở tại đô thị 68,62.2 Đất chuyên dùng 2.731,282.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 38,72.2.2 Đất quốc phòng 377,062.2.3 Đất an ninh 0,852.2.4 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 520,932.2.5 Đất có mục đích công cộng 1.793,74Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 51. 462.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 7,582.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 158,82.5 Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng 3.248,832.6 Đất phi nông nghiệp khác 16,673 Đất chƣa sử dụng 3.483,163.1 Đất bằng chưa sử dụng 529,943.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 2922,483.3 Núi đá không có rừng cây 30,74Nguồn: Thống kê, kiểm kê đất đai ngày 1/1/2008 củaPhòngTài Nguyên-Môi Trường huyện. + Hệ thống thuỷ văn và hệ thống nước Huyện Đại Từ là huyện cóđiều kiện thuỷ văn rất thuận lợi: Sông Công chảy qua huyện có chiều dài24km, Hồ Núi Cốc có diện tích 25 km2. Ngoài ra trên dịa bàn huyện còn cócác con suối như: La Bằng, Quân Chu, Cát Nê, Phục Linh, Ký Phú, Văn Yên,Mỹ Yên, Hoàng Nông là nguồn cung cấp nước quan trọng trong việc cungcấp nước để tưới tiêu và nước sinh hoạt cho nhân dân. 2.1.2. Đặc điểm xã hội: Đại Từ là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên qua điều tra một số chỉtiêu cơ bản về điều kiện kinh tế xã hội kết quả ở bảng sau: Biểu 03a. Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế xã hội huyện Đại TừSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 52. 47 Đơn vị Năm Năm Năm TT Chỉ tiêu tính 2005 2006 2007 Tổng giá trị sản xuất (Theo Tr.đồng 714.930 824.623 1.024.870 I giá cố định 1994) 1 Nông, lâm, ngư nghiệp Tr.đồng 269.460 291.123 298.540 - Nông nghiệp Tr.đồng 246.260 263.167 272.870 + Chia ra: Trồng trọt Tr.đồng 198.760 213.667 209.190 + Chăn nuôi Tr.đồng 47.500 49.500 63.680 - Lâm nghiệp Tr.đồng 16.000 17.800 17.820 - Thuỷ sản Tr.đồng 7.200 7.300 7.850 2 Công nghiệp-Xây dựng Tr.đồng 225.870 273.352 354.160 3 Dịch vụ thương mại Tr.đồng 219.600 260.148 358.960 II Chỉ tiêu xã hội 1 Dân số Người 165.920 166.130 166.650 2 Lao động trong độ tuổi Người 87.254 85.932 86.781 3 Tổng số hộ của toàn huyện Hộ 39.548 40.120 40.370 4 Tỷ lệ hộ nghèo Hộ 31,8 28,64 24,63 (Nguồn số liệu Báo cáo kinh tế phát triển kinh tế-xã hội huyện Đại Từ năm 2005-2006-2007của UBND huyện Đại Từ)Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 53. 48 Biểu 3b. Tình hình sản xuất ngành nông nghiệpSTT Chỉ tiêu Đơn vị tính Kết quả 20071 Diện tích trồng cây chính Ha1.1 Lúa xuân + lúa mùa Ha 12.1081.2 Ngô Ha 1.4241.3 Chè Ha 5.0982 Đàn gia súc2.1 Đàn trâu con 19.5662.2 Đàn bò con 3.0632.3 Đàn lợn con 59.4572.4 Đàn gia cầm Triệu con 73 Nguồn: Theo báo cáo kinh tế xã hội của huyện năm 2007 2.2.Tình hình phát triển kinh tế trang trại: * Khái quát những thành tựu đã đạt đƣợc: 2.2.1. Kinh tế trang trại phát triển nhanh, đa ngành và đạt hiệu quảkinh tế cao. Do trước đây chưa có sự thống nhất về tiêu chí xác định kinh tế trang trạinên huyện Đại Từ cũng như các địa phương khác thống kê số lượng các trangtrại theo hệ thống tiêu chí riêng, tính định lượng còn thấp, nên số liệu thốngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 54. 49kê trước và nay chênh lệch nhau đáng kể. Tuy nhiên, có thể đánh giá sự pháttriển của kinh tế trang trại bằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại. Tính đến năm 2007 Huyện Đại Từ đã có 80 trang trại (theo tiêu chí mới)(10) , trong đó các xã có số lượng trang trại nhiều nhất là Hùng Sơn (11 trangtrại), Cát Nê TT Quân Chu (7 trang trại). Tổng diện tích đất nông nghiệp, lâmnghiệp, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 463,256 ha, chiếm 0,8% diện tích củahuyện và bằng 3,15% diện tích đất nông nghiệp. Bình quân mỗi trang trạikhoảng 5,79 ha. Số trang trại của huyện Đại Từ chỉ chiếm 12,1% tổng sốtrang trại của tỉnh nhưng hiệu quả lại cao hơn. Về cơ cấu sản xuất, phần lớn các trang trại mới ở mức độ kinh doanhtổng hợp, tức là kinh doanh nhiều loại cây, con cùng một lúc. Các trang trạichăn nuôi và trang trại trồng cây lâu năm phát triển mạnh mẽ là một thế mạnhcủa vùng (chiếm tới 28,7% trong cơ cấu sản xuất trang trại năm 2007), trongđó trồng cây lâu năm chiếm ưu thế vì điều kiện vùng núi phía Bắc thuận lợicho việc trồng cây lâu năm như Cây chè, cây ăn quả, ngoài ra trang trại chănnuôi gia súc nhỏ và gia cầm cũng phát triển vì các loại này không đòi hỏi đấtnhiều, thậm chí đã xuất hiện hình thức các hộ nông dân chăn nuôi theo hìnhthức chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi gia công theo mô hình kinh tế trangtrại. Trang trại chăn nuôi đã hình thành ở tất cả các ngành sản xuất sản phẩmchăn nuôi hàng hoá: Thịt lợn, thịt gia cầm, thịt trâu, bò... Một số mặt hàng đặcsản... Trang trại chăn nuôi thường có quy mô vừa và nhỏ, chẳng hạn với gà:1000 - 5000 con, lợn 300 - 500 con, các trang trại chăn nuôi đặc sản như nuôinhím, ba ba, ếch... sử dụng từ 500 - 1000m2 nhưng đầu tư nhiều vốn và chấtxám tạo thu nhập cao. Đây là một ngành chăn nuôi chú trọng đến thị trườngtiêu thụ sản phẩm và có rất nhiều tiềm năng phát triển.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 55. 50 Ngoài ra còn có các trang trại trồng cây lâm nghiệp cung cấp nguyên liệucho các nhà máy chế biến lâm sản và các sản phẩm xuất khẩu khác. Biểu 04: Tổng số các trang trại và phân loại trang trại theo loại hình sản xuất Đơn vị tính: Trang trại Chia ra Tổng số Xã, Thị Trấn trang trại Cây lâu Lâm Chăn Thuỷ Tổng năm nghiệp nuôi sản hợp TT Q Chu 7 5 1 1 Phúc Lương 5 4 1 Đức Lương 1 1 Phú Cường 3 1 2 Na Mao 4 4 Phú Lạc 4 1 3 Tân Linh 5 2 2 1 Phú Thịnh 1 1 Phú Xuyên 1 1 Bản Ngoại 1 1 Tiên Hội 5 1 2 1 1 Hùng Sơn 11 7 4 Cù Vân 1 1 La Bằng 2 2 Hoàng Nông 2 1 1 Khôi Kỳ 3 3 Tân Thái 7 2 3 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 56. 51 Bình Thuận 3 3 Mỹ Yên 1 1 Vạn Thọ 2 1 1 Văn Yên 2 1 1 Cát Nê 7 5 2 Quân Chu 2 1 1 Tổng cộng 80 17 19 23 5 16 Nguồn: Báo cáo của phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đại Từ Biểu 5: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2007 của trang trại Đơn vị tính: Triệu đồng Giá trị hàng hoá Thu nhập Giá trị hàng và dịch vụ bình quân Xã, Thị Trấn Số trang trại Tổng thu hoá và dịch bình quân 1 trang vụ bán ra 1 trang trại trại TT Q Chu 7 555,00 518,00 74,00 37,70 Phúc Lương 5 262,50 214,00 42,80 26,30 Đức Lương 1 200,00 174,00 174,00 80,00 Phú Cường 3 145,00 120,00 40,00 19,30 Na Mao 4 727,20 692,00 173,00 72,80 Phú Lạc 4 282,40 246,00 61,50 28,30 Tân Linh 5 392,50 348,00 69,60 31,40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 57. 52 Phú Thịnh 1 187,50 137,00 137,00 75,00 Phú Xuyên 1 87,50 63,00 63,00 35,00 Bản Ngoại 1 65,00 40,20 40,20 26,00 Tiên Hội 5 396,50 363,00 72,60 35,00 Hùng Sơn 11 1702,80 1512,00 137,45 61,90 Cù Vân 1 112,50 83,00 83,00 45,00 La Bằng 2 162,60 141,00 70,50 32,50 Hoàng Nông 2 175,00 148,00 74,00 35,00 Khôi Kỳ 3 225,30 212,00 70,67 30,00 Tân Thái 7 847,60 775,00 110,71 46,70 Bình Thuận 3 600,00 519,00 173,00 80,00 Mỹ Yên 1 42,50 35,00 35,00 17,00 Vạn Thọ 2 150,10 133,00 66,50 30,00 Văn Yên 2 1000,00 946,00 473,00 200,00 Cát Nê 7 383,60 357,00 51,00 22,40 Quân Chu 2 110,10 78,00 39,00 22,00 Tổng cộng 80 8813,20 7854,20 2331,54 47,36 Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả tháng 12/2007Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 58. 53 2.2.2. Thu nhập của trang trại: Tổng thu nhập của trang trại là phần thu nhập sau khi lấy tổng thu trừ chiphí vật chất, trừ tiền công thuê lao động và trừ các chi phí khác. Như vậy,phần thu nhập của trang trại bao hàm: Tiền công của chủ trang trại (tiền côngquản lý và tiền công lao động trực tiếp), tiền công của các thành viên và tiềnlãi ròng của các trang trại. Đây là một chỉ tiêu phù hợp, vừa phản ánh kết quảsản xuất kinh doanh vừa là hiệu quả hoạt động kinh doanh của trang trại. Xem biểu 5 có thể thấy rằng thu nhập bình quân 1 trang trại của huyệnĐại Từ là cao so với các huyện, thành trong tỉnh Thái Nguyên (47,1 triệuđồng/trang trại/năm, cao hơn mức trung bình chung 1,49 lần và bỏ xa nhữngvùng khác (trừ Thành phố Thái Nguyên và Thị xã Sông Công) từ 60-75triệu/trang trại10. Tổng thu của 80 trang trại năm 2007 là 8.813,2 triệu đồng,diện tích trang trại của huyện bằng 11,7% diện tích trang trại cả tỉnh), trongđó giá trị hàng hoá và dịch vụ bán ra là 7.854,2 triệu đồng, đạt mức tỷ suất giátrị hàng hoá là 98,1%, cao hơn mức trung bình của cả nước. Nhờ thu nhậptrang trại tương đối cao nên chi tiêu cho đời sống vật chất và tinh thần củatrang trại tương đối cao so với nông dân trong huyện). 2.2.3. Tạo việc làm cho người lao động: Tổng số lao động tham gia sản xuất trong các trang trại huyện Đại Từ là394 lao động, chiếm 14% tổng số 2.815 lao động trang trại của cả tỉnh. So vớilượng lao động dư thừa ở nông thôn, thì tỉ lệ này vẫn còn nhỏ. 2.2.4. Đóng góp vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:10 Báo cáo đánh giá 3 năm (2002-2004) thực hiện chương trình phát triển kinh tế trang trại t ỉnh Thái Nguyên-tháng 12/2004.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 59. 54 Sự gia tăng giá trị sản xuất hàng hoá của kinh tế trang trại trực tiếp tácđộng đến sự gia tăng của cả ngành sản xuất nông nghiệp và do đó đóng gópvào tăng trưởng của cả nền kinh tế nói chung. Nhờ trang trại, giá trị sản xuấthàng hoá của ngành nông nghiệp được cải thiện rõ rệt. Năm 2005 giá trị sảnxuất của ngành nông nghiệp tính theo giá cố định 1994 là 269.460 triệu đồng,thì trong đó phần đóng góp của kinh tế trang trại là 1,8% 11. Trong bối cảnh nông nghiệp nước ta đang tích cực chuyển đổi cơ cấu vậtnuôi cây trồng cho phù hợp với những nhu cầu của thị trường và cải thiệncuộc sống dân cư, thì các sản phẩm của trang trại cũng là một nhân tố tíchcực, tuy sự đóng góp chưa nhiều lắm. Nhưng có thể nói rằng, nhờ tính chấtsản xuất hàng hoá, các trang trại đã tự chọn lọc hướng đi thích hợp, không kểnhững trang trại tiến hành sản xuất kinh doanh theo đúng quy hoạch của Nhànước có gắn liền với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu, nông nghiệp của huyệnĐại Từ trong những năm qua đã có những sự chuyển biến tích cực: Tỉ lệ trồngtrọt giảm xuống, chăn nuôi tăng dần, năng suất ngày càng cao. Các loại giốngcó chất lượng cao ngày càng được đưa vào sản xuất đại trà (lúa, ngô, lợn nạc,cây công nghiệp, rau xanh...) Tuy nhiên để có sự chuyển biến mạnh mẽ hơnnữa thì bản thân hoạt động sản xuất tự phát của các chủ trang trại không làmđược, mà cần có quy hoạch lâu dài trên diện rộng, chủ trương và các phươngán khả thi của tỉnh, của huyện. Có thể nói, kinh tế trang trại là bước phát triển mới của kinh tế hộ gắnvới mục tiêu sản xuất hàng hoá quy mô lớn, góp phần thúc đẩy quá trìnhchuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng nhanh tỉ trọng hànghoá tạo ra các vùng sản xuất tập trung, làm tiền đề cho công nghiệp chế biến11 Báo cáo đánh giá 3 năm (2002-2004) thực hiện chương trình phát triển kinh tế trang trại t ỉnh Thái Nguyên-tháng 12/2004.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 60. 55nông lâm sản, đưa công nghiệp và các ngành nghề dịch vụ vào nông thôn,tăng cường phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường sinh thái. 2.3. Phân tích - Đánh giá tình hình sử dụng các yếu tố nguồn lực : 2.3.1. Các nhân tố ảnh hƣởng 2.3.1.1. Các yếu tố sản xuất của trang trại: 2.3.1.1.1. Đất đai Đất đai là nguồn tư liệu sản xuất chủ yếu của trang trại nên kinh tế trangtrại trước hết được phát triển ở các vùng miền núi, những nơi mà quỹ đất cókhả năng khai phá còn lớn để phát triển kinh tế nông, lâm, thuỷ sản hàng hoálớn. Huyện Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên có diện tíchđất sản xuất nông nghiệp tương đối lớn (14.698 ha), song một số diện tích đấtviệc sử dụng không hiệu quả, có diện tích còn bỏ hoang, do đó chưa đem lạihiệu quả cao nhất. Hiện nay trước nhu cầu phát triển công nghiệp, làm nhà ở ngày càngtăng mạnh làm giảm ngày càng nhiều diện tích đất nông nghiệp. Qua biểu 6 có thể thấy, phần lớn diện tích đất làm kinh tế trang trại củahuyện là đất lâm nghiệp (64,14%), trong đó xã có diện tích nhiều nhất là PhúcLương 64 ha (13%), xã Tân Linh 56 ha, xã Cát Nê 52,2 ha, các xã có quỹ đất lớntrong việc phát triển trang trại là Phúc Lương, Tân Thái, Cát Nê, Tân Linh. Trong số 80 trang trại điều tra, quỹ đất bình quân một trang trại là 5,79ha. Quỹ đất bình quân của các trang trại giữa các xã có sự chênh lệch đáng kể,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 61. 56xã Tân Thái cao nhất 14,9ha, tiếp đó là xã Phúc Lương 12,9 ha, xã Tân Linh11,87 ha, ngược lại ở Đức Lương chỉ có 1,04 ha, xã Bản Ngoại 0,436 ha,vv... Tuy vậy trên địa bàn huyện Đại Từ vẫn còn một diện tích đáng kể đấtchưa được giao, chưa sử dụng. Cho đến năm 2004, cả nước vẫn còn khoảng15% số hộ làm kinh tế trang trại chưa được giao đất12. Diện tích đất chưa sửdụng còn lớn (12%), trong đó có cả phần đất dành cho các hoạt động phi nôngnghiệp như xây dựng Nhà máy, cơ sở hạ tầng, nhà ở... nhưng dù sao trongđiều kiện thiếu đất như hiện nay thì đó là một sự lãng phí đáng kể. Qua biểu 06 trong số 80 trang trại điều tra ta thấy các trang trại củahuyện Đại Từ có hướng sản xuất kinh doanh chính chủ yếu là trồng trọt (câychè) và chăn nuôi (Theo hình thức công nghiệp và bán công nghiệp). Phânloại theo quy mô các trang trại cho thấy có 51,25% số trang trại với quy môđất dưới 2 ha, 16,25% số trang trại với quy mô từ 2-3 ha, 5% số trang trại quymô từ 5-10 ha, 26,25% số trang trại có quy mô từ 10-30 ha và 1,25% số trangtrại có quy mô từ 30 ha trở lên. Như vậy số trang trại có hướng kinh doanhtrồng cây lâu năm và chăn nuôi chiếm 50%, trong đó một số xã quy mô nàychiếm tỷ lệ rất cao như xã Na Mao, xã Hùng Sơn có 100% số trang trại, Thịtrấn Quân Chu có 71% số trang trại...ngược lại ở một số xã có quy mô đấtbình quân trang trại còn bé như là xã Bản Ngoại: 0,436 ha, xã Cù Vân: 0,75ha, xã Đức Lương: 1,04 ha. Biểu 06: Hiện trạng sử dụng đất trang trại năm 2007 Đơn vị tính: Ha12 Báo Kinh tế nông thôn-Mục Kinh tế trang trại với công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp-nông thônngày 19/7/2007.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 62. 57 Chia ra Diện Tổng Đất Đất Đất Tổng tích số trồng trồng Đất nuôiXã, Thị Trấn diện tích Đất thổ bình trang cây cây Lâm trồng sử dụng cƣ quân trại hàng lâu nghiệp thuỷ (ha/TT) năm năm sảnTT Q Chu 7 21,45 0,28 0,57 19,6 1 3,06Phúc Lương 5 64,73 0,2 0,53 64 12,95Đức Lương 1 1,04 0,04 1 1,04Phú Cường 3 14,32 0,12 0,5 2,6 11 0,1 4,8Na Mao 4 3,16 0,16 2,8 0,2 1,05Phú Lạc 4 11,26 0,16 0,2 7,5 3 0,4 2,8Tân Linh 5 59,35 0,25 0,6 2,2 56 0,3 11,87Phú Thịnh 1 3,35 0,05 0,3 3 3,35Phú Xuyên 1 1,14 0,04 0,1 1 1,14Bản Ngoại 1 0,436 0,036 0,3 0,1 0,436Tiên Hội 5 26,885 0,285 0,4 5,2 18 3 5,4Hùng Sơn 11 11,31 0,41 2,5 8 0,4 1,03Cù Vân 1 0,75 0,05 0,7 0,75La Bằng 2 2,49 0,09 0,5 1,9 2,25Hoàng Nông 2 2,775 0,075 0,3 2,3 0,1 1,39Khôi Kỳ 3 33,57 0,14 0,3 0,2 32,93 11,19Tân Thái 7 106,68 0,28 2 0,4 35 69 15,24Bình Thuận 3 0,9 0,2 0,5 0,2 0,3Mỹ Yên 1 0,9 0,05 0,4 0,4 0,05 0,9Vạn Thọ 2 8,18 0,08 0,1 7 1 4,09Văn Yên 2 13,88 0,08 0,1 0,5 12 1,2 6,94 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 63. 58Cát Nê 7 57,41 0,31 0,5 1,3 52,2 3,1 8,2Quân Chu 2 17,29 0,09 0,2 4 13 8,65Tổng cộng 80 463,256 3,476 15,4 67,2 297,13 80,05 5,8 Nguồn: Báo cáo của phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đại Từ) Biểu 7: Phân loại trang trại theo quy mô sử dụng đất Đơn vị tính: Ha Chia ra Tổng số Xã, Thị Trấn 5-10 10-30 trang trại < 2 ha 2-5 ha > 30 ha ha ha TT Q Chu 7 1 6 Phúc Lương 5 1 4 Đức Lương 1 1 Phú Cường 3 2 1 Na Mao 4 3 1 Phú Lạc 4 3 1 Tân Linh 5 3 1 1 Phú Thịnh 1 1 Phú Xuyên 1 1 Bản Ngoại 1 1 Tiên Hội 5 2 2 1 Hùng Sơn 11 10 1 Cù Vân 1 1 La Bằng 2 2 Hoàng Nông 2 2 Khôi Kỳ 3 1 2 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 64. 59 Tân Thái 7 1 6 Bình Thuận 3 3 Mỹ Yên 1 1 Vạn Thọ 2 1 1 Văn Yên 2 1 1 Cát Nê 7 2 5 Quân Chu 2 1 1 Tổng cộng 80 41 13 4 21 1 Nguồn: Theo báo cáo của Phòng Thống kế huyện Đại Từ Cơ cấu đất đa dạng, bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôitrồng thuỷ sản và đất thổ cư, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 64,14%, đất nuôitrồng thuỷ sản chiếm tới 17,3%, đất trồng cây lâu năm chiếm 14,5%. Nhìnchung các trang trại của huyện Đại Từ thường có xu hướng sản xuất cây lâunăm và chăn nuôi là chính. Có thể nói, hiện trạng sử dụng đất của huyện Đại Từ đã gần ở mức tối đavà hướng khai thác ngày càng hợp lý hơn. Chỉ có điều, sau một thời gian dàikhai thác, thâm canh không chú ý "bồi dưỡng" cho nguồn đất, mà ở nhiều nơiđất có hiện tượng bạc màu, bất lợi cho trồng trọt. Hơn nữa, nhu cầu phát triểncông nghiệp và xây dựng các công trình công cộng, làm nhà ở... càng ngàycàng làm thu hẹp đi một phần lớn đất đai màu mỡ, làm hạn chế khả năng sảnxuất nông nghiệp. Cho nên khai thác theo chiều sâu sẽ là hướng chính trongnhững năm tới đây. 2.3.1.1.2. Vốn: Vốn là yếu tố hạn chế, để phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi phải có vốn,trong đó các chủ trang trại cần phải tích tụ một lượng vốn tự có nhất định. ĐóSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 65. 60là một trong những điều kiện tiên quyết, bởi lẽ nếu có nhiều vốn thì có thểthuê đất đai, sức lao động làm kinh tế trang trại. Thực vậy theo tài liệu điềutra vốn bình quân một trang trại của huyện Đại Từ khá cao, chủ yếu là vốn tựcó. Lượng vốn đầu tư bình quân cho một trang trại năm 2007 là 112,06 triệuđồng, bằng 1,24 lần mức trung bình chung của tỉnh, cao thứ ba chỉ sau Thànhphố Thái Nguyên và thị xã Sông Công. Lượng vốn hiện có của các trang trạitại các xã có sự chênh lệch khá lớn, các xã có vốn trung bình một trang trạicao là Hùng Sơn (259,1 triệu đồng),Văn Yên (231 triệu đồng), Đức Lương(160 triệu đồng) và Cù Vân (210 triệu đồng) là những xã đi đầu trong việcứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, ngược lại các xã trangtrại đầu tư thấp như Mỹ Yên (25 triệu đồng), Bản Ngoại (38 triệu đồng), PhúXuyên (45 triệu đồng). Tổng vốn sản xuất các trang trại tính đến tháng 12/2007 là 8.965 triệuđồng, trong đó 80,6% là vốn của chủ trang trại. Lượng vốn này còn nhỏ, baogồm vốn vay trực tiếp của ngân hàng (14,2%) và vay của bạn bè, người thânhoặc vốn dự án, vốn đầu tư ứng trước (5,2%)...Nguồn vốn vay của trang trạichủ yếu là vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, chỉ có số ít trang trạiđược vay vốn của Ngân hàng-Chính sách xã hội huyện, theo số liệu báo cáocủa Ngân hàng chính sách xã hội huyện Đại Từ trong 2 năm 2006-2007 chỉ có4 trang trại/80 trang trại của huyện được vay vốn với tổng số lượng vay là 320triệu đồng13. Thực trạng này do các nguyên nhân: - Thứ nhất người dân vẫn chưa quen với tư duy sản xuất mới, chỉ dựatrên những gì mình có mà ít khi mạnh dạn vay vốn đầu tư mở rộng sản xuất.13 Báo cáo tổng kết năm 2007 của Ngân hàng chính sách xã hội huyện Đại TừSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 66. 61 - Thứ hai hầu hết các chủ trang trại không đủ để đáp ứng những điều kiện vay vốn của ngân hàng do đó gặp nhiều khó khăn khi huy động vốn từ nguồn này. Tỉ lệ vốn vay còn nhỏ phản ánh sức huy động vốn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp còn yếu, đồng thời cũng cho thấy khả năng làm giàu còn hạn chế của một bộ phận đông đảo nông dân. Nếu như làm kinh tế trang trại chỉ có thể là những người có sẵn tiền trong tay thì sẽ có hai hậu quả: Một là gây nên tình trạng ứ đọng vốn trong các ngân hàng nông nghiệp, hai là chưa có điều kiện thuận lợi để nâng cao nhanh mức sống cho đại bộ phận nông dân nghèo. Biểu 8: Vốn sản xuất của trang trại năm 2007 Đơn vị tính: Triệu đồng Tổng Tổng vốn Vốn Vốn vốn Vốn vay đầu tƣ của bình Vốn vay đầu tƣ Ngân hàng Bình Chủ quân của Ngân VốnXã, Thị Trấn của Bình quân quân trang chủ Hàng khác trang 1 trang 1 trang Trại 1 trang trại trại trại trạiTT Q Chu 665 95 545 77,9 85 12,14 35Phúc Lương 225 45 190 38 10 2,00 25Đức Lương 160 160 120 120 20 20,00 20Phú Cường 220 73,3 175 58,3 0,00 45Na Mao 473 118,3 355 88,75 90 22,50 28Phú Lạc 336 84 284 71 25 6,25 27Tân Linh 585 117 490 98 55 11,00 40Phú Thịnh 135 135 120 120 10 10,00 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 67. 62Phú Xuyên 45 45 40 40 0,00 5Bản Ngoại 38 38 38 38 0,00Tiên Hội 405 81 295 59 70 14,00 40Hùng Sơn 2850 259,1 2168 197,1 600 54,55 82Cù Vân 210 210 150 150 25 25,00 35La Bằng 176 88 133 66,5 30 15,00 13Hoàng 160 80 145 72,5 10 5,00 5NôngKhôi Kỳ 134 44,7 100 33,3 20 6,67 14Tân Thái 610 87,1 525 75 80 11,43 5Bình Thuận 421 140,3 370 123,3 30 10,00 21Mỹ Yên 25 25 20 20 5 5,00 0Vạn Thọ 185 92,5 158 79 27 13,50 0Văn Yên 462 231 450 225 12 6,00Cát Nê 315 45 250 50 59,14 8,45 5,86Quân Chu 130 65 108 54 12 6,00 10Tổng cộng 8965 102,58 7229 1954,65 1275,14 11,50 460,86 Nguồn: Điều tra của tác giả tháng 12/2007. 2.3.1.1.3. Lao động Theo số liệu thống kê của phòng Thống kê huyện thì dân số của huyện Đại Từ là trên 166 vạn người, chiếm 15,8% số dân cả tỉnh. Cả huyện có trên 80 nghìn lao động trong độ tuổi, trong đó tới 70% là lao động nông thôn. Phần lớn các trang trại sử dụng lao động của gia đình là chính, một số có thuê thêm lao động thời vụ và lao động thường xuyên, tiền công thoả thuận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 68. 63giữa hai bên. Tiền công thời vụ thường giao động từ 40 - 50.000đ/ngày công,còn đối với lao động thường xuyên, khoảng 1.200.000đ/tháng. Bình quân mỗi trang trại có khoảng 5,1 lao động, trong đó của chủ trangtrại bình quân là 2,7 người/trang trại, lao động thuê mướn thường xuyênchiếm 33%. Các xã có tỉ lệ này cao là Hùng Sơn (40,7%), TT Quân Chu(80%), Tân Thái (79%)... lao động thuê mướn thời vụ chiếm 32,99% bìnhquân mỗi trang trại khoảng 1,9 người. Biểu 9: Tình hình sử dụng lao động của các trang trại Đơn vị tính: Người Trong đó Tổng số lao Thuê ngoài Lao động tự Bình quân động tham Xã, Thị Trấn có của chủ lao động / 1 gia sản xuất Lao động Lao động trang trại trang trại của trang trại thƣờng thuê thời xuyên vụ TT Q Chu 40 5 14 21 5,7 Phúc Lương 15 2 3 10 3 Đức Lương 3 1 2 3 Phú Cường 14 1 4 9 4,7 Na Mao 12 4 8 3 Phú Lạc 21 11 10 5,3 Tân Linh 20 6 2 12 4 Phú Thịnh 6 1 3 2 6 Phú Xuyên 5 1 1 3 5 Bản Ngoại 5 2 1 2 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 69. 64 Tiên Hội 25 1 6 18 5 Hùng Sơn 81 15 33 33 7,4 Cù Vân 4 1 3 4 La Bằng 14 6 8 7 Hoàng Nông 10 4 6 5 Khôi Kỳ 17 5 1 11 5,7 Tân Thái 41 5 19 17 5,9 Bình Thuận 15 3 4 8 5 Mỹ Yên 3 3 3 Vạn Thọ 10 2 3 5 5 Văn Yên 13 2 3 8 6,5 Cát Nê 28 5 7 16 4 Quân Chu 9 3 2 4 4,5 Tổng cộng 411 65 127 219 5,1 Nguồn: Điều tra của tác giả tháng 12/2007 Trình độ của lao động trong các trang trại nhìn chung còn thấp. Lớp họccao nhất cho 1 người ở huyện Đại Từ là 3,9 triệu, riêng khu vực nông thôn là3,8 (cao nhất cả nước) 14. Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuấtkinh doanh hiện đại. Ngoài một số ít lao động chuyên môn làm các công việcnhư vận hành máy móc, thiết bị, còn lại đại bộ phận là lao động phổ thông,chưa đào tạo, chỉ có khả năng đảm nhận những công việc đơn giản như làmđất, trồng cây, chăn gia súc, gia cầm...14 Báo cáo đánh giá 3 năm (2002-2004) thực hiện chương trình phát triển kinh tế trang trại t ỉnh Thái Nguyên-tháng 12/2004.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 70. 65 Biểu 10: Thành phần xuất phát của các chủ trang trại Đơn vị tính: Trang trại Chia ra Tổng số Công chức Bộ đội, các Cán bộ, Xã, Thị Trấn đƣơng công an trở trang Nông dân công nhân Khác chức, cán lại địa trại hƣu trí bộ xã phƣơng TT Q Chu 7 6 1 Phúc Lương 5 3 1 1 Đức Lương 1 1 Phú Cường 3 3 Na Mao 4 1 2 1 Phú Lạc 4 3 1 Tân Linh 5 4 1 Phú Thịnh 1 1 Phú Xuyên 1 1 Bản Ngoại 0 Tiên Hội 6 3 1 1 1 Hùng Sơn 10 9 1 Cù Vân 1 1 La Bằng 3 1 1 1 Hoàng Nông 1 1 Khôi Kỳ 3 1 1 1 Tân Thái 8 4 1 1 1 1 Bình Thuận 2 1 1 Mỹ Yên 2 1 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 71. 66 Vạn Thọ 2 2 Văn Yên 2 2 Cát Nê 7 5 1 1 Quân Chu 2 2 Tổng cộng 80 54 8 8 7 3 Nguồn: Điều tra của tác giả tháng 12/2007 Qua biểu 10 ta thấy các chủ trang trại xuất phát 7 nguồn chính, bao gồm:Nông dân 54 người, Công chức đương nhiệm, cán bộ xã 8 người, cán bộ,công nhân hưu trí 8 người, bộ đội, công an địa phương trở lại địa phương 7người, còn lại 3 người là các thành phần khác. Như vậy đại bộ phận các chủ trang trại xuất phát từ tầng lớp nông dân,mới thoát ra từ sự thụ động của cơ chế bao cấp trong các hợp tác xã kiểu cũvà bước đầu làm chủ kinh tế nông hộ là một điều còn mới mẻ, nên còn nhiềubỡ ngỡ, còn mang dấu ấn nặng nề của kinh tế tự nhiên tự cấp, tự túc, nghiệpvụ và bản lĩnh kinh doanh còn rất bất cập trước yêu cầu phát triển sản xuấthàng hoá, đặt mình trong cơ chế thị trường, trong nhiều trường hợp vẫn chưaquen hẳn với phương thức sản xuất và quản lý hiện đại. Theo điều tra, chỉ có32,5% số chủ trang trại được đào tạo từ sơ cấp trở lên, số có trình độ trungcấp chỉ chiếm 4,6%. Qua số liệu điều tra cho thấy thành phần chủ trang trạiảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại, phần lớn cáctrang trại có chủ trang trại là công chức nhà nước về hưu và cán bộ cấp xã thìhọ quản lý trang trại tốt hơn, các loại cây trồng, vật nuôi được lựa chọn vàosản xuất phù hợp hơn với nhu cầu thị trường, tỷ lệ áp dụng khoa học kỹ thuậtmới nhiều hơn, vì vậy thu nhập của trang trại không ngừng tăng lên, trang trạinày càng được mở rộng hơn, quy mô hơn. Đối với các chủ trang trại là nôngdân thì đa số các trang trại có diện tích đất trang trại lớn, nhưng chủ yếu là sảnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 72. 67xuất cầm chừng, đầu tư cho sản xuất thấp, trang trại hình thành chủ yếu là dođạt chỉ tiêu về diện tích, không đạt chỉ tiêu về giá trị sản lượng. Chính vì vậycó thể nói nguồn nhân lực ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất của trang trại, trìnhđộ nhân lực thấp không những hạn chế sự sáng tạo mà còn ảnh hưởng đếnviệc ứng dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, nâng cao hiệu quả sản xuất củatrang trại 2.3.1.1.4. Công nghệ kỹ thuật: Cũng như tình trạng chung của toàn ngành nông nghiệp, trình độ khoahọc công nghệ của các trang trại còn thấp, thậm chí rất thấp so với các nướctrên thế giới và trong khu vực, vốn đã hoàn thành cơ khí hoá, điện khí hoá,hoá học hoá... từ lâu. Cho đến nay, sản xuất các trang trại, dù là tiến bộ hơnsản xuất của hộ gia đình phân tán, nhưng vẫn mang nặng tính thủ công lạchậu và bất hợp lý. Lao động chủ yếu bằng tay chân và còn phụ thuộc nhiềuvào thiên nhiên. Tỉ lệ bình quân trang trại trang bị máy móc cho một ha gieotrồng còn rất thấp dưới 5cv/ha, tỉ lệ cơ giới hoá làm đất mới chỉ đạt 21%15,mức độ cơ khí hoá nhiều khâu như gieo cấy, gặt đập... còn hạn chế. Công việcbảo quản thu hoạch sản phẩm sau thu hoạch chủ yếu bằng năng lượng mặttrời, thiếu những hệ thống sấy hiện đại, quy mô lớn. Tuy vậy, cũng có những dấu hiệu đáng mừng cho thấy khoa học côngnghệ, từng bước đã và đang đóng vai trò quan trọng trong sản xuất của trangtrại. Các giống nông sản trong trang trại hầu hết đều là thành quả của cáccông trình nghiên cứu khoa học, là sản phẩm của công nghệ sinh học... chonăng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu của thị trường nên sản phẩmbán ra thị trường chất lượng chưa cao, nhiều khi phải chịu thiệt thòi, bị ép giá.15 Tạp chí công nghiệp Việt Nam tháng 5/2001.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 73. 68 Tóm lại, kinh tế trang trại huyện Đại Từ trong những năm qua mới gâyấn tượng mạnh ở tính quy mô của nó, còn tình hình sử dụng các yếu tố nguồnlực (đất đai, vốn sản xuất, lao động, khoa học công nghệ) thì chưa thật hợp lývà chắc chắn. Để có thể được coi là một nền nông nghiệp phát triển, sản phẩmsản xuất ra đáp ứng nhu cầu thị trường thì trong thời gian tới các trang trại,các yếu tố nguồn lực phải được sử dụng một cách hợp lý hơn, hiệu quả hơn. 2.3.1.2. Tổ chức hoạt động sản xuất của trang trại. 2.3.1.2.1. Loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại: Trên cơ sở đất đai được giao, vốn tự có kết hợp với sức lao động của giađình hoặc thuê thêm lao động, các chủ trang trại đã lựa chọn hướng kinhdoanh sản xuất hàng hoá trên cơ sở kết hợp chuyên môn hoá với phát triểntổng hợp theo phương châm lấy ngắn nuôi dài, khai thác tổng hợp các tiềmnăng sẵn có để phát triển kinh tế sớm đưa các trang trại vào định hình sảnxuất. Trong các trang trại điều tra, hướng hoạt động chủ yếu là nông, lâmnghiệp và nuôi trồng thuỷ sản với các loại hình sản xuất cây ngắn ngày, câycông nghiệp lâu năm, cây ăn quả. Các trang trại chăn nuôi chủ yếu là chănnuôi đại gia súc, chăn nuôi lợn, gia cầm, trong lâm nghiệp chủ yếu là trồngrừng nguyên liệu, khoanh nuôi, thực hiện nông lâm kết hợp và trong thuỷ sảnchủ yếu là nuôi trồng thuỷ sản trong nội đồng. Trong số 17 trang trại trồng cây lâu năm thì có 17 trang trại trồng câychè, cây chè được trồng nhiều nhất tại các trang trại xã Hùng Sơn với 7 trangtrại, Thị trấn Quân Chu 5 trang trại. Nhóm các trang trại kinh doanh chăn nuôi đang dần được hình thànhngày một nhiều hơn, trong số 23 trang trại chăn nuôi thì có đến 14 trang trạichăn nuôi gia súc nhỏ, tập trung chủ yếu ở các xã Hùng Sơn, Văn Yên, NaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 74. 69Mao.. nhiều trang trại có quy mô lớn như trang trại của ông Nguyễn Văn Tháiở đội 4 xã Hùng Sơn có 100 con lợn nái ngoại và 700 con lợn thịt; hộ ông LýVăn Thiệp ở xóm Bậu xã Văn Yên có 65 con lợn nái ngoại, 500 con lợn thịt,80 con bò, 70 con dê, 8 ha rừng, và 1 ha thuỷ sản. Các trang trại có hướng kinh doanh chính là lâm nghiệp, tập trung chủyếu ở các xã Phúc Lương, Cát Nê, Khôi Kỳ...với tổng số 297,13 ha, có trangtrại quy mô lớn như hộ trang trại ông Vũ Văn Thảo ở xã Tân Linh có 56 harừng. Có 5 trang trại theo hướng kinh doanh thuỷ sản, chủ yếu họ đang chănnuôi theo hình thức quảng canh, bán thâm canh, tập trung chủ yếu ở xã venvùng Hồ Núi Cốc như: xã Tân Thái 3 trang trại với quy mô tương đối lớn32,69 ha... 2.3.1.2.2. Đầu tư chi phí sản xuất của trang trại: Biểu 11: Chi phí sản xuất của các trang trại Đơn vị tính: Triệu đồng Tổng chi phí Cây lâu Chăn Lâm Tổng Xã, Thị Trấn Thuỷ sản bình quân năm nuôi nghiệp hợp TT Q Chu 41,6 29,1 0,4 6,3 5,8 Phúc Lương 26,2 3 20,4 0,66 2,14 Đức Lương 120 0,26 119,74 Phú Cường 29 2,5 2,1 18,5 5,9 Na Mao 109 10,8 87,2 3,1 2,3 5,6 Phú Lạc 42,3 16,8 1,8 9,5 2,5 11,7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 75. 70 Tân Linh 47,1 1,4 21,1 24,6 Phú Thịnh 112,5 105 5,5 2 Phú Xuyên 52,5 4,8 47,5 0,2 Bản Ngoại 39 3,5 35 0,5 Tiên Hội 47,5 9,7 6,2 0,6 31 Hùng Sơn 92,9 35,1 55,6 2,2 Cù Vân 67,5 17,1 50,4 La Bằng 48,8 41,3 2,1 5,4 Hoàng Nông 52,5 50,1 0,9 1,5 Khôi Kỳ 45,1 8,8 2,5 31,5 2,3 Tân Thái 70,1 8 8,6 27,5 26 Bình Thuận 120 110 8 2 Mỹ Yên 25,5 15,1 8,2 2,2 Vạn Thọ 45 30,5 4,9 4,1 5,5 Văn Yên 300 49,5 210 30,5 10 Cát Nê 32,2 5 24,5 2,7 Quân Chu 33 10 21 2 Tổng cộng 1599,3 457,36 779,74 215,8 112,56 33,84 TB/Tr.trại 69,53 Nguồn: Điều tra của tác giả tháng 12/2007 Theo kết quả điều tra của biểu 11 đầu tư chi phí sản xuất năm 2007 tínhbình quân chung cho một trang trại điều tra là 69,53 triệu đồng, trong đó chiphí đầu tư cho trang trại cây lâu năm là 457,36 triệu đồng, chiếm khoảng28,6%, đầu tư chi phí cho trang trại chăn nuôi là 779,74 triệu đồng, chiếm48,76% và chi phí đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp là 215,8 triệu đồng, chiếm13,49%, chi phí đầu tư sản xuất của trang trại thuỷ sản là 112,56 triệu đồng,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 76. 71chiếm 7%, chi phí đầu tư sản xuất của trang trại tổng hợp là 33,84 triệu đồng,chiếm 2,15%. Như vậy ta thấy quy mô tổng chi phí sản xuất bình quân củacác trang trại trên địa bàn huyện có sự chênh lệnh lớn. Trang trại ở Xã VănYên là trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại có quy mô lớn trên địa bàn huyện,đây là trang trại sản xuất kinh doanh có tính chuyên môn hoá cao, trong năm2007 trang trại tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư xây dựng nhàxưởng, con giống… nên trang trại có chi phí sản xuất cao nhất là 300 triệuđồng, trang trại ở xã Mỹ Yên là trang trại có chi phí sản xuất thấp nhất 25,5triệu đồng, đây là trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp, do năm 2007 trangtrại chưa tập trung sản xuất, sản phẩm của trang trại chủ yếu là để tự cung, tựcấp, quy mô còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường. Chi phí bình quân cho trang trại sản xuất chăn nuôi cao nhất 779,74 triệuđồng bằng 48,76%, tuy nhiên các xã có chi phí bình quân cho trang trại sảnxuất chăn nuôi có sự chênh lệnh lớn, xã có chi phí sản xuất chăn nuôi cao nhưVăn Yên 210 triệu bằng 70%, Đức Lương 119,74 triệu đồng bằng 99,7%.Ngược lại xã có chi phí sản xuất chăn nuôi thấp như Thị trấn Quân Chu (0,4triệu), Tiên Hội (0,6 triệu) là do trang trại chăn nuôi của các xã Văn Yên, ĐứcLương… .là các trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại có quy mô lớn, chăn nuôitheo phương pháp công nghiệp, trong trang trại các khoa học kỹ thuật đượcđầu tư, áp dụng, nguồn thức ăn chủ yếu sử dụng là cám chăn thẳng, thuênhiều nhân công lao động…mặt khác rrong năm 2007 do giá các loại thức ănchăn nuôi tăng mạnh (tăng 30%), giá nhân công tăng so với các năm trướcnên tổng chi phí đầu tư của trang trại tăng cao, còn các trang trại chăn nuôi tạicác xã Tiên Hội, Thị trấn Quân Chu thì chủ yếu là các trang trang trại chănnuôi lợn nái địa phương, hoặc chăn nuôi bò, hình thức chủ yếu là chăn nuôilợn theo phương pháp truyền thống, chăn nuôi bò theo phương pháp kết hợpSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 77. 72nhốt và chăn thả, tận dụng các thức ăn của trồng trọt và lao động chủ yếu làcủa chủ trang trại nên tổng chi phí đầu tư thấp hơn. 2.3.1.2.3. Cơ cấu sản xuất của trang trại: Cơ cấu sản xuất của các trang trại là biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ vềlượng của các ngành, các bộ phận cấu thành trong sản xuất. Có nhiều chi tiêuphản ánh cơ cấu sản xuất của kinh tế trang trại. Do nguồn số liệu điều tra, ởđây chúng tôi phân tích chủ yếu ở hai chỉ tiêu: Cơ cấu giá trị sản xuất (hoặcdoanh thu) và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của trang trại. Kinh tế trang trại ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên chủ yếu tập trungvào sản xuất nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), lâm nghiệp (trồng rừng vàkhoanh nuôi) và nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt trong nội đồng. Vì thế cơ cấusản xuất của các trang trại rất đa dạng, tuỳ thuộc vào hướng kinh doanh chínhđược lựa chọn, vào điều kiện sản xuất cụ thể về đất đai, khí hậu, thời tiết, tiềnvốn, sức lao động và điều kiện thị trường của mỗi vùng. Trong số 80 trang trạiđiều tra giá trị sản xuất bình quân 1 trang trại là 116,9 triệu đồng trong đó giátrị sản xuất ngành trồng trọt là 26,99 triệu đồng, ngành chăn nuôi 65,08 triệuđồng, ngành thuỷ sản 11,65 triệu đồng và lâm nghiệp 13,18 triệu đồng. Cơcấu giá trị sản xuất bình quân một trang trại điều tra cho thấy giá trị sản xuấtngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng lớn 55,67%, tỷ trọng giá trị sản xuất ngànhtrồng trọt chiếm 23,09%, tỷ trọng giá trị sản xuất thuỷ sản chiếm 9,96% vàcủa lâm nghiệp 11,28%. Như vậy tỷ trọng giá trị sản xuất của nông nghiệp làchủ yếu ở trong các trang trại điều tra, chiếm 85%, riêng lâm nghiệp tỷ trọngsản xuất rất thấp, vì phần lớn rừng trồng đang trang thời kỳ phát triển (chămsóc và tu bổ rừng) chưa có nguồn thu đáng kể. (Xem biểu số 12).Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 78. 73 Phân tổ các trang trại theo xã kinh tế cho thấy cơ cấu sản xuất của từngvùng có đặc trưng riêng. Xã phía Bắc và các xã ven chân núi Tam Đảo cáctrang trại doanh thu từ cây lâu năm, chăn nuôi là chủ yếu và một phần đáng kểtừ lâm nghiệp. Các trang trại ở những xã trung tâm chủ yếu doanh thu từ chănnuôi lợn và gia cầm chiếm 55%. Các trang trại ở xã La Bằng, xã Phú Thịnh,Hoàng Nông, Tiên Hội doanh thu chủ yếu từ cây lâu năm như cây ăn quả, câychè. Phần lớn doanh thu của các trang trại ở các xã phía Tây Nam như CátNê, Vạn Thọ, Thị Trấn Quân Chu, xã Quân Chu là cây công nghiệp lâu năm(cây chè), cây lâm nghiệp và một phần từ chăn nuôi. Các trang trại ở xã TânThái doanh thu từ thuỷ sản chiếm 71% và một phần lớn nhờ lâm nghiệp. Cơ cấu giá trị sản xuất giữa các nhóm trang trại phân theo hướng kinhdoanh chính cho thấy rất rõ hướng sản xuất chuyên môn hoá - tỷ trọng doanhthu từ ngành chuyên môn hoá chiếm rất cao. Các trang trại có hướng kinhdoanh chăn nuôi lợn có quy mô doanh thu lớn nhất, trong đó riêng tỷ trọngdoanh thu chăn nuôi lợn chiếm 55%. Tương tự các trang trại chăn nuôi đại giasúc, chăn nuôi gia cầm, tỷ trọng doanh thu từ chăn nuôi trâu bò và gia cầm rấtcao. Ngược lại các trang trại trồng trọt thì tỷ trọng doanh thu từ cây hàng năm,cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả cũng rất cao. Xem xét cơ cấu doanh thucủa các nhóm chủ trang trại cho thấy họ đều quan tâm đến cây công nghiệp, câyăn quả, phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản nhưng với mức độ khác nhau. Phân tích cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các trang trại điều tra chothấy hơn 22% giá trị sản phẩm hàng hoá là của ngành trồng trọt, ngành chănnuôi chiếm 54% và ngành thuỷ sản chiếm 8%, ngành lâm nghiệp 16%. Phân tổ các trang trại theo các xã lớn, cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoácủa các trang trại ở Đại Từ xếp theo thứ tự: Chăn nuôi - Trồng trọt - lâmnghiệp và thuỷ sản. Sự chênh lệch giữa các ngành đó không lớn. Song cơ cấuSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 79. 74giá trị sản phẩm hàng hoá của các trang trại ở các xã trong huyện có sự chênhlệch giữa ngành sản xuất hàng hoá chủ yếu - Chăn nuôi (chiếm 55,67%) vớingành sản xuất hàng hoá thứ hai là trồng trọt là tương đối lớn 2,4 lần, ngànhlâm nghiệp chiếm 16% và ngành thuỷ sản chiếm 8%. Chúng ta có thể thấyđược xu hướng khá rõ về cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các trang trại ởcác xã trong huyện Đại Từ là phân theo vùng và phân theo hướng kinh doanh.Nhìn chung các trang trại đã lựa chọn sản phẩm hàng hoá mũi nhọn, thực hiệnsản xuất chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp, song cũng có mộtsố tỉnh như Yên Bái, Vĩnh Phúc… các trang trại hướng chuyên sâu vào mộtloại cây như cây chè. Một số hướng kinh doanh như chăn nuôi lợn, gia cầm,thuỷ sản đạt trình độ chuyên môn hoá cao, tỷ trọng giá trị sản phẩm hàng hoácủa sản phẩm chính rất cao. Từ phân tích thực trạng cơ cấu sản xuất của các trang trại điều tra chothấy khá rõ hướng kinh doanh chính của các trang trại được phản ánh ở cơcấu giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá. Nhìn chung các trangtrại có tỷ trọng giá trị sản xuất của các ngành, các bộ phận cao hoặc thấp thìtương tự cũng có tỷ trọng giá trị sản phẩm hàng hoá cao hoặc thấp. Giữa haichỉ tiêu này có sự chênh lệch nhưng đều thể hiện được xu hướng chung đó. 2.3.1.3. Kết quả và hiệu suất sản xuất của các trang trại trên địa bànhuyện Đại Từ. Kinh tế trang trại ở huyện Đại Từ mới phát triển tương đối mạnh trongnhững năm gần đây, phần lớn các trang trại đang trong thời kỳ kiến thiết cơbản đối với vườn cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, rừng trồng, nhất là cáctrang trại ở phía Bắc. Mặc dù thế kinh tế trang trại bước đầu đã thu được mộtsố kết quả đáng khích lệ. Để phân tích kết quả và hiệu quả của kinh tế trangtrại, chúng tôi tiến hành phân tích và xem xét trên các khía cạnh: tổng thu,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 80. 75 quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá, thu nhập và đời sống, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động nông thôn. Vì hạn chế về nguồn thông tin số liệu, đề tài chủ yếu xem xét số liệu thu thập năm 2007 của các trang trại điều tra. 2.3.1.3.1. Tổng thu của các trang trại: Như trên đã phân tích kinh tế trang trại điều tra chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, vì thế nguồn thu của các trang trại tập trung vào các lĩnh vực trên. Tổng giá trị sản xuất bình quân một trang trại điều tra là 116,9 triệu đồng. Xã có giá trị sản xuất bình quân một trang trại cao nhất là ở Văn Yên 500 triệu đồng trong đó giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi là 300 triệu đồng, chiếm 60% tổng thu của các trang trại. Ở xã Hùng Sơn bình quân một trang trại thu 154,8 triệu đồng, trong đó thu từ chăn nuôi là 81,36 triệu đồng, chiếm 52,6%. Ở xã Bình Thuận tổng thu bình quân một trang trại là 200 triệu đồng, trong đó thu từ chăn nuôi (chủ yếu là chăn nuôi lợn nái ngoại) là 191,5 triệu đồng, chiếm 95,75%. Ngược lại tổng thu của trang trại ở một số xã còn thấp, đáng chú ý là các trang trại ở xã Mỹ Yên đạt 42,5 triệu đồng, ở xã Phú Cường 48,3 triệu đồng. Điều đó có thể thấy ở biểu số 12. Biểu số 12. Tổng thu bình quân của một trang trại năm 2007 huyện Đại Từ Đơn vị tính: Ha Tổng thu Trong đó Tổng Xã, Thị thu Trồng Chăn Thuỷ Lâm Trấn % % % % % nhập trọt nuôi sản nghiệp BQBình quân 116,90 100,00 26,99 23,09 65,08 55,67 11,65 9,96 13,18 11,28 chung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 81. 76Trong đó:TT Q Chu 79,3 100,00 10,7 13,49 62,18 78,41 6,42 8,10 0,00 Phúc 52,5 100,00 4,01 7,64 6,5 12,38 0,1 0,19 41,89 79,79 LươngĐức Lương 200 100,00 13 6,50 187 93,50 0,00 0,00Phú Cường 48,3 100,00 19,11 39,57 14,9 30,85 0,17 0,35 14,12 29,23 Na Mao 181,8 100,00 3,21 1,77 173,5 95,43 5,09 2,80 0,00 Phú Lạc 70,6 100,00 42,6 60,34 24,38 34,53 0,14 0,20 3,48 4,93Tân Linh 78,5 100,00 7,01 8,93 30,99 39,48 0,5 0,64 40 50,96Phú Thịnh 187,5 100,00 181 96,53 5,1 2,72 1,4 0,75 0,00Phú Xuyên 87,5 100,00 6,4 7,31 81,1 92,69 0,00 0,00Bản Ngoại 65 100,00 2,58 3,97 61,1 94,00 1,32 2,03 0,00 Tiên Hội 82,5 100,00 15,93 19,31 33,81 40,98 23,4 28,36 9,36 11,35Hùng Sơn 154,8 100,00 69,6 44,96 81,36 52,56 3,64 2,35 0,2 0,13 Cù Vân 112,5 100,00 9,1 8,09 101,2 89,96 2,2 1,96 0,00 La Bằng 81,3 100,00 77,1 94,83 0,5 0,62 0,6 0,74 3,1 3,81 Hoàng 87,5 100,00 70,2 80,23 2,2 2,51 15,1 17,26 0,00 Nông Khôi Kỳ 75,1 100,00 1,48 1,97 1,16 1,54 0,16 0,21 72,3 96,27 Tân Thái 116,8 100,00 7,1 6,08 7,14 6,11 82,44 70,58 20,12 17,23 Bình 200 100,00 8,4 4,20 191,5 95,75 0,1 0,05 0,00 Thuận Mỹ Yên 42,5 100,00 17,5 41,18 20,9 49,18 4,1 9,65 0,00 Vạn Thọ 75 100,00 29,99 39,99 31,28 41,71 13,73 18,31 0,00 Văn Yên 500 100,00 9,5 1,90 350 70,00 100 20,00 40,5 8,10 Cát Nê 54,6 100,00 0,31 0,57 12,76 23,37 7,11 13,02 34,42 63,04 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 82. 77Quân Chu 55 100,00 14,88 27,05 16,25 29,55 0,12 0,22 23,75 43,18 Nguồn: Theo kết quả điều tra của tác giả tháng 12/2007 2.3.1.3.2. Tổng thu nhập và đời sống của các trang trại: Tổng thu nhập trang trại là phần thu nhập sau khi lấy tổng thu trừ chi phí vật chất, trừ tiền công thuê ngoài và trừ chi phí khác. Như vậy trong phần thu nhập trang trại bao hàm tiền công lao động của chủ trang trại (tiền công lao động quả lý và lao động trực tiếp), tiền công lao động của các thành viên và lãi thuần của trang trại. Trên cơ sở đó, kết quả tính toán cho thấy thu nhập trang trại bình quân là 47,36 triệu đồng chiếm 40,5% tổng thu, trong đó nhóm các trang trại thuộc các xã có mức thu nhập thấp: Mỹ Yên chỉ bằng 35,89% mức thu nhập bình quân chung của các trang trại, các xã Cát Nê, Quân Chu có cao hơn, đạt mức từ 22 - 25 triệu. Tuy quy mô thu nhập trang trại của các xã này còn nhỏ, nhưng tỷ suất thu nhập trang trại đạt khá cao, Cát Nê đạt 93,1% tổng thu, Quân Chu 70,9%. Nhóm các trang trại thuộc các xã có quy mô thu nhập trang trại cao với mức từ 80 triệu đồng, gồm có Đức Lương, Bình Thuận, Văn Yên, phần lớn các trang trại này là trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại. Các trang trại ở các xã này cũng có tỷ suất thu nhập trang trại cao chiếm từ 80 - 90% tổng thu. Số trang trại thuộc các xã còn lại có quy mô thu nhập trang trại trung bình, có thể thấy ở biểu số 14. Quy mô thu nhập trang trại giữa các vùng chênh lệch không lớn, vùng núi phía Nam có mức thấp nhất và 01 trang trại ở vùng phía Nam có mức thu nhập cho một trang trại cao nhất, chênh lệch giữa hai trang trại là 11,7 lần. Cơ cấu thu nhập bình quân chung một trang trại chủ yếu là chăn nuôi, chiếm 55,7%, trồng trọt, thuỷ sản và lâm nghiệp chiếm từ 8 - 23%. Xem xét cơ cấu thu nhập trang trại của các xã cho thấy rất đa dạng. Vùng phía Bắc các trang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 83. 78trại dựa vào cây công nghiệp lây năm là chính, chiếm 85% tổng thu nhập, cácngành khác chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Còn ở các vùng khác, các trang trại đềudựa vào hai ngành, trong đó một ngành chiếm tỷ trọng thu nhập tương đối caovà ngành kia thấp hơn. Các xã miền núi phía Bắc thu nhập là dựa vào cây côngnghiệp lâu năm (chè là chủ yếu) và chăn nuôi. Biểu 13. Thu nhập từ sản xuất Nông - Lâm - Ngƣ nghiệp bình quân trang trại điều tra năm 2007. Đơn vị tính: Triệu đồng Trong đó Xã, Thị Trấn Tổng thu Chăn Lâm Trồng trọt Thuỷ sản nuôi nghiệp Bình quân chung 47,36 10,93 26,37 4,72 5,34 Trong đó: TT Q Chu 37,7 5,09 29,56 3,05 0,00 Phúc Lương 26,3 2,01 3,26 0,05 20,98 Đức Lương 80 5,20 74,80 0,00 0,00 Phú Cường 19,3 7,64 5,95 0,07 5,64 Na Mao 72,8 1,29 69,48 2,04 0,00 Phú Lạc 28,3 17,08 9,77 0,06 1,39 Tân Linh 31,4 2,80 12,40 0,20 16,00 Phú Thịnh 75 72,40 2,04 0,56 0,00 Phú Xuyên 35 2,56 32,44 0,00 0,00 Bản Ngoại 26 1,03 24,44 0,53 0,00 Tiên Hội 35 6,76 14,34 9,93 3,97 Hùng Sơn 61,9 27,83 32,53 1,46 0,08 Cù Vân 45 3,64 40,48 0,88 0,00 La Bằng 32,5 30,82 0,20 0,24 1,24 Hoàng Nông 35 28,08 0,88 6,04 0,00 Khôi Kỳ 30 0,59 0,46 0,06 28,88 Tân Thái 46,7 2,84 2,85 32,96 8,04 Bình Thuận 80 3,36 76,60 0,04 0,00Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 84. 79 Mỹ Yên 17 7,00 8,36 1,64 0,00 Vạn Thọ 30 12,00 12,51 5,49 0,00 Văn Yên 200 3,80 140,00 40,00 16,20 Cát Nê 22,4 0,13 5,23 2,92 14,12 Quân Chu 22 5,95 6,50 0,05 9,50 Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đại Từ Cơ cấu thu nhập trang trại phân theo hướng kinh doanh cho thấy tỷ trọngthu nhập cao của các ngành chuyên môn hoá đối với cây chè… đối với câycông nghiệp lâu năm; lợn, gia cầm đối với chăn nuôi… Quy mô thu nhập củacác trang trại nông dân cao hơn bình quân chung, các trang trại khác đều thấphơn mức bình quân chung. Đáng chú ý là nhóm chủ trang trại công chức,công nhân đương chức, mức thu nhập của nhóm trang trại này cao hơn nhómchủ trang trại nông dân. Các trang trại thuỷ sản có quy mô thu nhập khá cao 58,25 triệu đồngbình quân một trang trại, tuy nhiên chênh lệch về thu nhập cũng khá lớn. Sởdĩ trang trại của các xã đạt mức thu nhập khác nhau là do trình độ thâm canhnuôi trồng thuỷ sản khác nhau. Thu nhập của trang trại là chỉ tiêu phù hợp nhất vừa phản ánh kết quảsản xuất vừa là hiệu quả hoạt động kinh doanh của kinh tế trang trại. Thunhập trang trại là chỉ tiêu tính toán cuối cùng của trang trại vừa bao hàm phầntiền công của chủ trang trại và những người lao động trong trang trại vừa cảphần lãi do kinh doanh của trang trại đem lại. Trên cơ sở mức thu nhập củacác trang trại, có thể tính mức thu nhập bình quân của một lao động và mộtnhân khẩu của trang trại. Kết quả tính toán cho thấy mức thu nhập bình quânmột lao động trong độ tuổi của các trang trại điều tra là 1,25 triệu đồng. Mứcthu nhập lao động của các trang trại ở Na Mao đạt 27 triệu đồng và bằng gầnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 85. 801,8 lần mức thu nhập của các trang trại trên địa bàn toàn huyện. Có 7 xã cómức thu nhập bình quân lao động cao hơn mức trung bình chung và 16 xã cònlại đạt mức dưới trung bình, đáng chú ý là có 3 xã đạt mức tương đối thấp,nhất là Vạn Thọ, Mỹ Yên và Hoàng Nông. Mức thu nhập bình quân hàngtháng một lao động đạt 1,25 triệu đồng. Phân bổ trang trại ở các xã có mứcthu nhập bình quân một trang trại từ 1 triệu đồng trở xuống có 8 xã, đó là cáctrang trại ở Thị Trấn Quân Chu, xã Phú Lạc, xã La Bằng, xã Hoàng Nông, xãMỹ Yên, xã Vạn Thọ, xã Quân Chu, từ 1 -2 triệu đồng có 12 xã, từ 2 – 2,5triệu đồng có 3 xã. Mặc dù mức thu nhập của một lao động hàng tháng củacác trang trại điều tra còn thấp, nhất là nhóm trang trại phía Tây Nam với mứcbình quân 650 ngàn đồng, mức thu nhập này bằng 1,4 lần so với mức tiềncông lao động làm thuê thường xuyên của xã này. Mức thu nhập tính bìnhquân một nhân khẩu các trang trại điều tra là 8,05 triệu đồng tính cho cả nămvà 670 ngàn đồng tính cho một tháng. Mức chênh lệch giữa thu nhập mộtnhân khẩu ở xã cao nhất và thấp nhất thu hẹp xuống 2,7 lần. Nhìn chung thunhập bình quân nhân khẩu của trang trại các hộ chăn nuôi lợn nái ngoại là caonhất, tiếp đó là các trang trại cây lâu năm, thấp nhất là các trang trại lâmnghiệp (Do đang ở thời kỳ kiến thiết). Với mức thu nhập này của các trangtrại là cao và vượt trội so với kinh tế hộ nông dân (xem biểu số 14). Biểu 14 Mức thu nhập bình quân lao động trong tuổi và nhân khẩu của các trang trại năm 2007 Đơn vị tính: Triệu đồng TN của một lao động TN của một nhân khẩu BQ 1 năm BQ 1 tháng BQ 1 năm BQ 1 tháng Bình quân chung 15,03 1,25 8,05 0,67Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 86. 81 TT Q Chu 11,28 0,94 6,26 0,52 Phúc Lương 13,44 1,12 7,07 0,59 Đức Lương 25,20 2,10 12,60 1,05 Phú Cường 16,80 1,40 9,24 0,77 Na Mao 27,00 2,25 13,50 1,13 Phú Lạc 9,84 0,82 5,17 0,43 Tân Linh 13,68 1,14 7,60 0,63 Phú Thịnh 10,80 0,90 6,35 0,53 Phú Xuyên 14,40 1,20 7,58 0,63 Bản Ngoại 25,20 2,10 12,36 1,03 Tiên Hội 16,68 1,39 9,26 0,77 Hùng Sơn 14,52 1,21 8,06 0,67 Cù Vân 12,00 1,00 6,67 0,56 La Bằng 10,92 0,91 6,06 0,51 Hoàng Nông 10,20 0,85 5,66 0,47 Khôi Kỳ 13,20 1,10 6,94 0,58 Tân Thái 14,64 1,22 8,12 0,68 Bình Thuận 22,80 1,90 11,40 0,95 Mỹ Yên 9,60 0,80 5,05 0,42 Vạn Thọ 7,80 0,65 5,57 0,46 Văn Yên 21,60 1,80 11,36 0,95 Cát Nê 12,60 1,05 7,00 0,58 Quân Chu 11,40 0,95 6,34 0,53 (Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả tháng 12/2007) 2.4. Đánh gía chung và những vấn đề cần đặt ra trong phát triểnkinh tế trang trại của huyện Đại Từ.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 87. 82 2.4.1. Những nhận xét và đánh gía: Từ khảo sát thực tế và phân tích thực trạng phát triển của 80 trang trại ởhuyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, có thể rút ra một số kết luận sau đây: - Trong những năm gần đây kinh tế trang trại đã phát triển mạnh ở huyệnĐại Từ. Mặc dù đang trong quá trình phát triển, nhưng kinh tế trang trại đãthực sự là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá ngày càng lớn, một mặt đã tạora lượng giá trị lớn về nông, lâm thuỷ sản hàng hoá mà quy mô của nó vượttrội nhiều lần so với kinh tế hộ nông dân, mặt khác là mô hình lấy sản xuấthàng hoá làm mục tiêu chính. Số liệu điều tra cho thấy ở 80 trang trại thì giátrị sản phẩm hàng hoá bình quân một trang trại năm 2007 là 47,36 triệu đồng. - Kinh tế trang trại là nhân tố mới trong nông thôn. Phát triển kinh tếtrang trại là động lực mới nối tiếp và phát huy động lực của kinh tế hộ, làđiểm đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nông nông nghiệp hàng hoálớn. Các trang trại đã tạo ra khối lượng nông lâm, thuỷ sản hàng hoá lớn đápứng tiêu dùng trong huyện và một phần bán ra tỉnh ngoài. Phát triển kinh tếtrang trại đã góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng,vật nuôi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Phát triểnkinh tế trang trại là con đường tất yếu, là bước đi thích hợp để chuyển nềnnông nghiệp từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá lớn. - Chủ trang trại với cơ cấu xuất thân rất đa dạng, trong đó các chủ trangtrại có nguồn gốc từ hộ nông dân làm ăn giỏi là lực lượng chủ yếu để xâydựng và phát triển kinh tế trang trại. Với tỷ lệ 67,5% số chủ trang trại là nôngdân. Điều đó có thể khẳng định để phát triển kinh tế trang trại ở huyện Đại Từtrước hết và chủ yếu phải dựa vào lực lượng những hộ nông dân làm ăn giỏivà các trang trại gia đình là hình thức tổ chức chiếm tuyệt đại bộ phận trongSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 88. 83kinh tế trang trại ở huyện Đại Từ. Bên cạnh đó có khoảng 3% là các chủ trangtrại sản xuất với quy mô lớn, đây là những trang trại có điều kiện để áp dụngcông nghệ khoa học vào sản xuất kinh doanh và là trang trại tạo thêm đượcnhiều việc làm và thu nhập cho các địa phương. Vì lẽ đó theo tôi ngoài việcthúc đẩy phát triển mạnh các trang trại gia đình thì các trang trại khác cũngcần được khuyến khích. - Để khởi sự phát triển kinh tế trang trại, các ông chủ trang trại cần phảitích tụ vốn ban đầu nhất định, trong đó chủ yếu bằng vốn tự có. Tuỳ thuộcvào điều kiện cụ thể của từng vùng, việc lựa chọn hướng sản xuất kinh doanhcủa các trang trại mà lượng vốn của từng ông chủ có sự khác nhau. Các trangtrại ở huyện Đại Từ lượng vốn tích luỹ ban đầu nhỏ, chủ yếu đi lên từ đất thựchiện phương châm lấy ngắn nuôi dài, chuyên môn hoá kết hợp phát triển tổnghợp, tăng cường sự tích góp thành quả lao động để phát triển kinh tế trangtrại. Quy mô các trang trại này còn nhỏ bé. - Một số đáng kể trang trại đã lựa chọn hướng kinh doanh chính phù hợpvới các vùng chuyên canh theo quy hoạch của tỉnh và huyện, góp phần sớmđịnh hình các vùng sản xuất chuyên môn hoá lớn gắn với chế biến, tiêu thụsản phẩm, các trang trại chè ở La Bằng, Hùng Sơn, Phú Thịnh, HoàngNông…Các trang trại qua điều tra đã thể hiện được các loại hình trang trạichuyên môn hoán theo từng loại cây trồng, vật nuôi, tỷ trọng giá trị sản phẩmhàng hoá này trong các trang trại có hướng kinh doanh chính chiếm rất cao. - Phát triển kinh tế trang trại đã góp phần khai thác và sử dụng quỹ đấttốt hơn, đưa đất đai hoang hoá vào sản xuất nhất là những xã vùng núi trọc,bãi bồi ven sông, ven biển đã được đưa vào sản xuất, tạo ra khối lượng sảnphẩm hàng hoá đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên quá trình chuyểnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 89. 84nhượng đất chủ yếu diễn ra ở vùng đất mới khai phá, quỹ đất chuyển nhượngchưa lớn. - Các trang trại đã tạo thêm việc làm và thu nhập đáng kể cho bộ phậnlao động ở nông thôn. Số liệu điều tra 80 trang trại cho thấy ngoài số lao độngcủa bản thân các trang trại, hàng năm đã tạo thêm nhiều việc làm cho hàngngàn lao động, bao gồm cả lao động làm thuê thường xuyên theo thời vụ.Mức tiền công hàng tháng của lao động thường xuyên đạt trên 1 triệuđồng/tháng. Từ thực tiễn đó có thể khảng định: Một mặt kinh tế trang trại đãtạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho những người lao động ở nôngthôn. Mặt khác kinh tế trang trại có thể sử dụng lao động gia đình hoặc có thểthêm lao động thường xuyên và lao động thời vụ khi cần thiết, chứ khôngnhất thiết phải thuê lao động mới là kinh tế trang trại. 2.4.2. Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu và giải quýêt. Bên cạnh những kết luận và khẳng định nêu trên, kinh tế trang trại ởhuyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên đang đặt ra một loạt các vấn đề cần đượcnghiên cứu và giải quyết, đáng chú ý là những vấn đề sau: - Nhà nước chưa có những chính sách đồng bộ cụ thể nhằm khuyếnkhích kinh tế trang trại phát triển tương xứng với tiềm năng: Trong nhữngnăm gần đây kinh tế trang trại đã phát triển khá mạnh theo đường lối đổi mớicủa Đảng, nhưng chưa được hướng dẫn và chủ yếu còn mang tính chất manhmún, chưa gắn chặt với quy hoạch các vùng sản xuất và công nghiệp chế biếnnông, lâm, thuỷ sản. Vấn đề đang đặt ra cho UBND huyện và các cơ quanchức năng của huyện là từng bước hướng dẫn kinh tế trang trại phát triển phùhợp với mục tiêu, quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và từngđịa phương.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 90. 85 - Nhận thức và tiêu chí nhận dạng trang trại mới được thống nhất: Cònnhiều bàn cãi về vai trò của kinh tế trang trại, thậm chí cho đến nay một sốcán bộ, chuyên gia còn băn khoăn có nên phát triển kinh tế trang trại ở nướcta hay không? Liệu có chệch hướng sang phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩahay không? Về tiêu chí nhận dạng kinh tế trang trại của tỉnh chưa rõ nét, dovậy việc xác định số lượng các tang trại đang khác nhau. Cần khẳng định việcphát triển kinh tế trang trại là hình thức thích hợp và có hiệu quả đối với sảnxuất nông, lâm, thuỷ sản của huyện . - Quỹ đất của các trang trại rất đa dạng: nhất là phần đất chưa được giao,phần này chiếm trên 20% đó là đất nhận thầu của hợp tác xã, chính quyền địaphương, dự án…đang làm cho các chủ trang trại chưa thật yên tâm bỏ vốnđầu tư để khai thác có hiệu quả quy đất này. - Sản phẩm hàng hoá của các trang trại có quy mô thương đối lớn, songvấn đề chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm còn mang tính cục bộ. Vài banăm tới các trang trại đưa diện tích cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả, rừngnguyên liệu vào kinh doanh sản xuất thì vấn đề chế biến nông, lâm, thuỷ sảnvà tiêu thụ sản phẩm sẽ đặt ra hết sức gay gắt, nếu không chú ý giải quyết từbây giờ thì chắc chắn sẽ gây ra tổn thất lớn cho các trang trại và nền kinh tếquốc dân. - Trình độ của các chủ trang trại về chuyên môn, nghiệp vụ còn thấp. Tỷlệ các chủ trang trại được đào tạo có bằng từ sơ cấp trở lên mới đạt 32,5% sốchủ trang trại, còn lại chủ yếu là do họ học tập qua báo chí, đài…và các tổchức xã hội khác. Vấn đề đào tạo những kiến thức cần thiết về kỹ thuật vàquản lý cho chủ trang trại đã và đang đặt ra một cách bức bách. Huyện cầnnghiên cứu chính sách đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với các chủ trang trại,họ là một lực lượng chủ yếu của nông nghiệp huyện trong tương lai.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 91. 86 - Để phát triển kinh tế trang trại trước hết người chủ phải dựa vào vốn tựcó là chủ yếu, do vậy mà nhiều người có kiến thức, ý chí làm giàu nhưng chưađủ điều kiện để phát triển kinh tế trang trại. Nếu đáp ứng được nguồn vốn vaytrong đó cơ cấu vay trung và dài hạn hợp lý chắc chắn xu thế phát triển kinhtế trang trại sẽ mạnh hơn, rộng rãi hơn, sẽ góp phần sử dụng hợp lý quỹ đấtcòn hoang hoá, nhất là ở các xã miền núi. Vấn đề đặt ra cần có chính sách tíndụng phát triển kinh tế trang trại thích hợp với từng vùng, từng địa phươngtrong giai đoạn hiện nay. - Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa mở rộng: Giá cả thiếu ổn định, rủi ro cao,mặc dù vấn đề được đề cập nhiều nhưng còn mang tính cục bộ. Nguyên nhânnhì có nhiều: Chất lượng nông sản thấp, trình độ chế biến, bảo quản yếu kém,chủ trang trại thiếu nghiệp vụ thị trường, sản xuất không theo quy hoạch cácvùng chuyên môn hoá gắn với các cơ sở chế biến rau quả, thuỷ sản... vài banăm tới, hầu hết các trang trại đưa diện tích cây lâu năm, cây công nghiệp,rừng nguyên liệu vào khai thác cho sản phẩm đồng loạt thì vấn đề chế biếnnông, lâm, thuỷ sản và thị trường tiêu thụ, giá cả sản phẩm sẽ đặt ra hết sứcgay gắt, không chú ý giải quyết ngày từ bây giờ chắc chắn sẽ gây ra tổn thấtlớn cho các trang trại và cho nền kinh tế quốc dân. - Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu, nhất là những vùng kinhtế trang trại phát triển, đáng chú ý là mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, điệnnông thôn, chế biến nông sản rất yếu kém. Các trang trại đang mong muốnđược ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là cây, con giống tốt, côngnghệ sau thu hoạch….vấn đề đặt ra cần được nhà nước hỗ trợ các trang trại vềxây dựng các yếu tố cần thiết của hệ thống kết cấu hạ tầng, từng bước đưatiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất và chế biến của các trang trại.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 92. 87 CHƢƠNG III CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN ĐẠI TỪ ĐẾN NĂM 2010 3.1. Quan điểm-Phƣơng hƣớng - Mục tiêu: 3.1.1. Quan điểm phát triển * Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đấtđai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bềnvững, tạo việc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đóigiảm nghèo; phân bố lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới... Tiếp tụcphát triển trên diện rộng không chỉ ở những vùng có nhiều đất, nhất là đấttrống, đồi núi trọc, đất còn hoang hoá mà còn ở ngay trên những vùng đất ít(là phần lớn) bằng thâm dụng lao động, tăng cường đầu tư vốn và thâm dụngkỹ thuật, gắng với chế biến và thương mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trịkinh tế lớn. * Coi trọng hiệu quả kinh tế của các trang trại, khuyến khích làm giàuhợp pháp. Bên cạnh đó cũng cần nhìn nhận một thực tế là, đại bộ phận nôngdân rất kém linh hoạt thiếu nhạy bén trong cơ chế thị trường, vì thế thu nhậpvà đời sống nông thôn chậm được cải thiện. Do vậy trước mắt những ngườicó vốn, có kinh nghiệm và có năng lực, bất kể thuộc thành phần xã hội nào,thành phần kinh tế nào, nếu có mong muốn làm giàu từ sản phẩm nôngnghiệp, đều được khuyến khích làm kinh tế trang trại, chấp nhận giải quyếtmột lượng lao động thấp hơn nhưng đem lại hiệu quả cao, chấp nhận có mộtbộ phận nông dân giàu hơn hẳn để làm đầu tầu, tạo ra động lực kích thích sảnxuất, kích thích động cơ làm giàu của bộ phận nông dân còn lại.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 93. 88 * Tôn trọng nguyên tắc phát triển nông nghiệp bền bững, quá trình canhtác, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản của trang trại không vì lợi nhuận trước mắtmà khai thác một cách bừa bãi các tài nguyên, sử dụng tài nguyên đất, tàinguyên nước... không chú trọng cải tạo hay chú ý đến lợi ích lâu dài, để chụcnăm sau, đất đai bạc màu, ô nhiễm hoá học khiến co đất không thể tái sảnxuất được nữa. Không những thế, trang trại cũng phải được chú ý để tạo nênmột vùng sinh thái hợp lý góp phần cần bằng môi trường sống của dân cư.yếu tố an toàn lương thực phải được coi trọng. 3.1.2. Định hƣớng: - Trong những năm tới việc phát triển kinh tế trang trại phải được coi làmột giải pháp lớn, quan trọng trong phát triển kinh tế nông lâm nghiệp củahuyện, phát triển kinh tế trang trại nhằm đẩy nhanh qúa trình CNH - HĐHnông nghiệp, nông thôn, phát triển mạnh các loại hình kinh tế trang trại cả vềquy mô, số lượng và hiệu quả kinh doanh để kinh tế trang traị phát huy vai tròđầu tầu dẫn dắt cho kinh tế hộ phát triển. 16 - Phát triển theo hướng hàng hoá chuyên canh - Quy hoạch các vùng phát triển phù hợp với điều kiện của huyện. - Phát triển kinh tế trang trại phải có sự quản lý của Nhà nước. 3.1.3. Mục tiêu: - Phát triển bền vững. - Phấn đấu năm 2010 đạt 100 trang trại.16 Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Đại Từ lần thứ 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 94. 89 - Hình thành rõ nét các loại hình trang trại như sau: + Chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô vừa, tiến tới quy mô lớn. + Chuyên sản xuất giống. + Chuyên sản xuất chè chất lượng cao. + Sản xuất, kinh doanh cây trồng, vật nuôi đặc sản - Giá trị sản xuất của loại hình kinh tế trang trại đạt từ 2 - 3% tổng giá trị sảnxuất nông nghiệp, tạo nên nguồn sản phẩm hàng hoá chính hướng tới xuất khẩu. - Thu nhập bình quân 100 triệu đồng/năm/trang trại, thu nhập người laođộng đạt 1 triệu đồng/tháng. - Tạo điển hình tiên tiến về thâm canh, chuyên môn hoá, ứng dụng khoahọc công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp. - Phấn đấu 100% các chủ trang trại nâng cao tay nghề. 17 3.2. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ 3.2.1. Các giải pháp về phía Nhà nƣớc Nhà nước đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra một môitrường thuận lợi cho trang trại cả trong khâu hỗ trợ đầu vào và tiêu thụ sảnphẩm đầu ra. Những sự hỗ trợ ấy sẽ tác động thông qua các giải pháp về cácvấn đề sau đây:17 Đề án phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Từ giai đoạn 2006-2010.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 95. 90 3.2.1.1. Các giải pháp về đất đai: Đất đai là mối quan tâm hàng đầu đốivới các hộ nông dân nói chung, các trang trại nói riêng. Trên thực tế, nhữngnăm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đổi mới về chủ trương chính sáchruộng đất, tạo điều kiện cho quá trình tập trung ruộng đất diễn ra trên nhiềuđịa phương. Tuy nhiên quá trình tập trung còn chậm. Đất khai hoang vàchuyển nhượng chiếm tỷ trọng nhỏ. Trong bối cảnh trên, giải pháp đất đai đốivới phát triển kinh tế trang trại phải đạt được các mục đích sau: - Tạo điều kiện tập trung đất đai để hình thành trang trại cũng như quymô hợp lý của các trang trại cũ. - Đưa đất đai còn hoang hoá vào phát triển kinh tế trang trại - Hợp pháp hoá về mặt pháp lý để các chủ trang trại yên tâm bỏ vốn đầutư phát triển sản xuất. - Khuyến khích các trang trại khai thác sử dụng đất đai đầy đủ hợp lý,gắn khai thác với bảo vệ và nâng cao chất lượng ruộng đất - Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai Để đạt được các mục đích trên, trong tình hình hiện nay cũng như trongsự biến chuyển kinh tế- xã hội trong năm tới, cần tập trung giải quyết các vấnđề sau: * Cần sớm có quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạchđất đai ở cấp huyện. Huyện là cấp hành chính trực tiếp giải quyết các vấn đề có liên quan đếnphát triển kinh tế trang trại. Trên cơ sở các định hướng phát triển đã được xácđịnh, đất đai của huyện được chia thành các tiểu vùng kinh tế - sinh thái - xãSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 96. 91hội. Từ đó bố trí sản xuất trên toàn bộ địa bàn của huyện và tính toán tốc độphát triển của từng ngành. Các tiểu vùng dự định phát triển kinh tế trang trạicần được quy định rõ trong quy hoạch của huyện theo từng bước phát triển, từđó đi sâu vào quy hoạch cụ thể và thiết kế các tiểu vùng kinh tế trang trại trênđịa bàn huyện trên cơ sở định hình quy mô các vùng chuyên môn hoá tậptrung đã có, thực hiện quy hoạch các vùng chuyên môn hoá mới, đặc biệt làvùng cây ăn quả, cây công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản...như quy hoạch vùngphát triển cây chè tại các xã Tân Linh, Phú Lạc, Phú Thịnh, Phú Cường,Hoàng Nông, La Bằng, Hùng Sơn, Quân Chu; Vùng phát triển chăn nuôi thuỷsản tại các xã như Tân Thái, Cù Vân, Vạn Thọ, Lục Ba…; Phát triển trang trạisản xuất rau, hoa, cây cảnh…tại các xã Hùng Sơn, Bình Thuận, Tiên Hội, BảnNgoại; Phát triển vùng sản xuất cây lâm nghiệp tại Phúc Lương, Đức Lương,Minh Tiến, Mỹ Yên… * Khuyến khích tập trung đất đai và những người có nguyện vọng nhậnđất ở các vùng đất trống, đồi núi trọc, vùng đất hoang hoá để hình thành cáctrang trại có quy mô hợp lý. Để trở thành trang trại các nông hộ phải tập trung ruộng đất đến quy mônhất định. Trên thực tế, quá trình tập trung ruộng đất diễn ra chậm, cần tiếptục khuyến khích quá trình tập trung ruộng đất theo hướng hình thành trangtrại. Đó là yêu cầu đòi hỏi thực tế (80% lãnh đạo các cấp và 75% các chủtrang trại thống nhất với ý kiến này) và là yêu cầu khách quan của phát triểnkinh tế trang trại. Tuy nhiên, việc tập trung ruộng đất phải được tiến hành mộtcách thận trọng. Đặc biệt, ở các vùng đồng bằng nơi diện tích đất nông nghiệpbình quân thấp, khả năng để lao động nông nghiệp chuyển sang phi nôngnghiệp rất hạn chế nên việc tập trung đất đai có thể làm cho một bộ phận nhỏnông dân vì hoàn cảnh khó khăn quẫn bách buộc phải mất đất để chỗ thấtSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 97. 92nghiệp, bần cùng hoá. Do vậy, việc tập trung đất đai không thể diễn ra tự phátmà phải có sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước, nhất là các chínhquyền địa phương. Trong bối cảnh hiện nay theo tôi khuyến khích tập trungruộng đất phát triển kinh tế trang trại cần tập trung sử lý một số vấn đề như: - Nhà nước cần nhanh chóng giao quyền sử dụng đất lâu dài: Đối vớinhững diện tích đất trang trại đã được giao và sử dụng hợp pháp: có thể chophép chuyển nhượng quyền sử dụng. Khuyến khích bằng cách giảm thuế, giahạn hợp đồng thuê đất, sử dụng đất... cho những chủ trang trại biết đầu tưkhoa học, kỹ thuật và tái đầu tư mở rộng vào khai thác hiệu quả cao nhất diệntích đang được giao quản lý sử dụng. - Đối với những diện tích đất chưa được giao: Đẩy mạnh việc giao đất,cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trang trạisử dụng hợp pháp để các chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất. Cácđịa phương rà soát lại các trang trại hiện có, xúc tiến nhanh việc cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất theo chính sách đất đai như trong Nghị quyếtcủa Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài Nguyên-MT. Những hộ gia đình cánhân đã sử dụng đất phát triển trang trại mà chưa được giao, chưa được thuêhoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chưa được cấp giấy chứng nhậntrước khi ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, sử dụng đúng mục đích vàkhông tranh chấp thì dược xét giao, cho thuê, được cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất cho trang trại. - Đối với những phần đất đai vượt mức hạn điền: Mức hạn điền quy địnhcần phải phù hợp với đặc trưng của cơ cấu sản xuất của từng loại trang trại vàphù hợp với hiện trạng đất đai chật hẹp của vùng, đảm bảo người sản xuất cóđất, đồng thời khuyến khích tích tụ đất theo hướng quy mô lớn ở những nơicó điều kiện.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 98. 93 - Đối với đất trồng cây dài ngày hay để chăn nuôi đại gia súc, ở nhữngnơi có nhiều ruộng đất cần nghiên cứu quy định cho thuê lâu dài phần diệntích vượt mức hạn điền trên nguyên tắc khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả,đồng thời có biện pháp ngăn ngừa việc kiếm lời bằng mua bán đất đai. - Đối với gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất hoặc đã đượcchuyển nhượng quyền sử dụng đất vượt mức hạn điền trước ngày 02/2/2000thì tiếp tục sử dụng và chuyển sang cho thuê đất với thời gian sử dụng bằngthời gian đất được giao. - Hộ nông dân không có đất sản xuất ở địa phương phải được ưu tiêngiao đất. Cho phép các hộ gia đình phi nông nghiệp có nguyện vọng lập trangtrại được thuê đất; hộ gia đình, cá nhân ở địa phương khác nếu có nguyệnvọng lập trang trại lâu dài, có vốn đầu tư được thuê đất để lập trang trại. - Tiếp tục khai hoang: Tiếp tục khai thác những vùng đất hoang hoá ởcác vùng đồi núi trọc rải rác trong vùng, các bãi bồi ven sông Công, mặt nướcnuôi trồng thuỷ sản còn chưa sử dụng, ít người muốn nhận làm, những cánhân có nguyện vọng thiết tha muốn làm trang trại sản xuất nông nghiệp, cókhả năng về vốn, kinh nghiệm sản xuất và quản lý thì cho họ nhận không thutiền, với diện tích có thể cao hơn hạn điền. Những vùng có nhiều khó khăntrong khai thác và sản xuất thì có thể cho giao với mức thuế thấp, hoặc miễnhẳn. Cho thuê hoặc khoán theo luật định. - Đối với đất đai của các dự án xin kiến nghị xử lý theo hướng: Nhữngtrang trại hoạt động theo hình thức dự án do các cấp có thẩm quyền duyệt vớiquy mô diện tích lớn trên 100 ha, đền nghị UBND huyện, Công ty lâm nghiệpcho chuyển hình thức hoạt động sang công ty tư nhân hay công ty trách nhiệmhữu hạn theo luật công ty; Đối với các chủ dự án khai thác trồng mới cây lâuSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 99. 94năm, rồi giao khoán lại cho các hộ thuộc địa phương chăm sóc, phân phốitheo sản phẩm đề nghị Nhà nước cho họ thuê đất sản xuất nông lâm nghiệp,ổn định và lâu dài theo thời gian mà Luật đất đai quy định18. * Khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún: Việc khắc phục tìnhtrạng đất manh mún của các nông hộ là sẽ tạo điều kiện đi vào sản xuất tậptrung, đồng thời là tiền đề để chuyển từ nông hộ lên trang trại một cách thuậnlợi. Tuy nhiên giải quyết tình trạng đất đai manh mún là vấn đề phức tạp liênquan đến lợi ích và tâm lý, tập quán sản xuất của hàng triệu hộ, hàng ngàntrang trại. Vì vậy, không thể dựa vào mệnh lệnh áp đặt từ trên xuống, mà phảithuyết phục nông dân tự nguyện, đồng thời phải có phương pháp đúng đắn vàthích hợp. Trước hết, phải có quy hoạch lâu dài đất đai của huyện, xã phù hợp vớiđiều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội ở từng nơi. Dựa vào quy hoạch, các địaphương cần có kế hoạch chuyển đổi đất đai thích hợp khắc phục tình trạngmanh mún. Sau đó, cần khuyến khích các hộ nông dân chuyển đổi ruộng đất trướckhi đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Có chính sách dồn điền để lập các trang trại lớn: Để thuận lợi cho tíchtụ đất đai hình thành và phát triển kinh tế trang trại một cách nhanh chóng,thuận lợi, đúng quy luật, có hiệu quả nhất, tuân theo quy hoạch của Nhà nướcvà tránh những hậu quả khác ở nông thôn thì nhà nước cần có chính sách cụthể hơn nữa như đã thực hiện tại các địa phương như Hà Nội, huyện Phổ Yên…cho phép nông dâ, các trang trại có thể nhận, chuyển nhượng quyền sửdụng hoặc có thuê đất đai, để tích tụ đất ở những nơi có điều kiện.18 Luật đất đai năm 1993Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 100. 95 - Có chính sách ưu đãi về thuế sử dụng đất, thuế phụ thu để khuyếnkhích các chủ trang trại mạnh dạn mở rộng quy mô của mình. * Thừa nhận về pháp lý đất đai là một hàng hoá đặc biệt để quản lý vàsử dụng đất đai có hiệu quả. Thị trường đất đai ở nước ta đang trong quá trình hình thành. Trong nămqua thị trường này đã và đang bộc lộ những yếu kém, những hiện tượng tiêucực nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai cần thiết phải đượckhắc phục. Nhà nước cần thừa nhận đất đai là một hàng hoá đặc biệt và cóchính sách phù hợp để đảm bảo hàng hoá này vận động trong cơ chế thịtrường. Từ đó nông dân có thể yên tâm khai thác và sử dụng đất đai có hiệuquả, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước quản lý tốt đất đai. * Nhanh chóng xây dựng kết cấu hạ tầng cho các tiểu vùng kinh tế trang trại Trước hết cần tiếp tục cải thiện hệ thống đường sá, giao thông đi lại chothuận tiện. Nâng cấp những tuyến đường đã hư hỏng làm cản trở giao thôngtrong vùng. Tìm nguồn nước, xây dựng các hồ chứa nước, hoàn tiện hệ thốg thuỷ lợiphục vụ sản xuất, hệ thống cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư trong vùng vàphục vụ nhu cầu tưới tiêu, nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của trang trại. 3.2.1.2. Các chính sách về vốn Trong các nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội nông thôn nói chung, kinhtế trang trại nói riêng, vốn là nguồn lực quan trọng. Kết quả điều tra cho thấyvốn đầu tư cho các chủ trang trại thấp (bình quân 102,58 triệu đồng/trang trại)và có sự chênh lệnh lớn giữa các vùng. Nguồn vốn chủ yếu là vốn tự có. Việchình thành và phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi vốn lớn hơn so với kinh tếSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 101. 96hộ vì quy mô sản xuất lớn hơn, phải tiến hành khai hoang, kiến thiết đồngruộng, mặt nước, trồng rừng, trồng cây dài ngày, làm thuỷ lợi, mua sắm máymóc…Vốn ít, các trang trại chưa có tư cách pháp nhân nên các trang trại chỉphát triển dần quy mô sản xuất theo phương châm “ Lấy ngắn nuôi dài”,nhiều cơ sở hạ tầng không xây dựng, công cụ sản xuất còn thô sơ. Đây lànguyên nhân làm cho kinh tế trang trại những năm qua phát triển chậm, hiệuquả thấp, nhất là những trang trại có lượng vốn thấp, trong khi nhu cầu đầu tưđể mua sắm máy móc, xây dựng các cơ sở hạ tầng của trang trại rất lớn.Nhưng hiện nay các trang trại không muốn vay vốn của ngân hàng vì sử dụngvốn vay hiệu quả thấp, các thủ tục vay, thời điểm vay và thời hạn vay chưahợp lý. Để khắc phục mâu thuẫn trên cần giải quyết theo các vấn đề sau: * Một là, cần có sự hỗ trợ nguồn vốn ngân sách cho việc phát triển kinhtế trang trại. Vốn ngân sách hỗ trợ trang trại tập trung vào xây dựng các côngtrình hạ tầng như thuỷ lợi, giao thông, điện….Các công trình được đầu tư xâydựng ở bên ngoài trang trại nhưng là cơ sở quan trọng cho việc hình thành vàphát triển kinh tế trang trại. Nhà nước hỗ trợ đầu tư là chủ yếu, tuy nhiêntrong trường hợp nguồn ngân sách hạn hẹp, nhu cầu xây dựng lớn thì cần tínhtoán đầu tư có trọng điểm và kết hợp nguồn lực của các trang trại với phươngtrâm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”. *Hai là, Nhà nước cần thực hiện cơ chế cho các chủ trang trại vay theodự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Nhà nước nên có chính sách tín dụng ưu đãi cho các trang trại theo haihướng: Tăng vốn cao hơn cho kinh tế hộ, đồng thời tăng lượng vốn vay trunghạn và dài hạn; không phân biệt vốn vay giữa các khu vực kinh tế quốc doanhvà ngoài quốc doanh, đơn giản hoá thủ tục, giảm lãi suất... coi như đó là mộtphần gián tiếp Nhà nước đầu tư cho doanh nghiệp.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 102. 97 Ngày 22/9/2000 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hànhquyết định số 423/2000/NĐ-NHNN về chính sách tín dụng ngân hàng đối vớikinh tế trang trại. Theo đó quy định thời gian cho vay phù hợp với thời giansinh trưởng, thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm của cây trồng, vật nuôi, thời giankhấu hao tài sản cố định, thời gian thuê và khả năng của chủ trang trại. Mứcngắn hạn là 12 tháng, trung hạn là 12 - 16 tháng và dài hạn theo dự án đầu tưlà trên 60 tháng. Nếu vay từ 20 đến dưới 15 triệu thì không phải thế chấp tàisản, nhưng phải có phương án kinh doanh hiệu quả và phải nộp giấy chứgnhận quyền sử dụng đất hoặc giấy xác nhận của UBND xã, phường là đấtđang sử dụng không có tranh chấp. - Đa dạng hoá các hình thức cho vay và huy động vốn. Các ngân hànghuy động vốn từ tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu...; vay vốn của cáctổ chức tài chính quốc tế và cả vốn ODA, vốn vay thương mại, ngoài ra hàngnăm cũng nên dành một phần ngân sách để chuyển sang các tổ chức tín dụngcho vay theo chương trình, dự án19. - Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, đảm bảo một môi trường tài chính,tiền tệ lành mạnh, trong đó giữ vững ổn định tương đối giá trị đồng tiền ViệtNam để tạo điều kiện khuyến khích việc huy động vốn dài hạn phục vụ chomục tiêu đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn. Cần tiến tới việc xoá bỏquy định về lãi suất trần để tạo cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tíndụng, thúc đẩy dòng luân chuyển được nhanh hơn. - Cần đổi mới mạnh mẽ phương thức cho vay, thu nợ phù hợp với đặcđiểm của từng loại hình kinh tế trang trại. Đổi mới thủ tục cho vay, thu lãi sao19 Quyết định 67/QĐ-TT ng ày 30/3/1999 về m ột số chính sách ngân hàng phục vụ phát t riển nông thônSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 103. 98cho đơn giản, thuận tiện hơn, có cơ chế cho vay, thu lãi theo thời vụ của câytrồng, vật nuôi. - Cần có cơ chế cho phép Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay theodự án đầu tư trọn gói (bao gồm cả chi phí trả lãi ngân hàng) đối với kinh tếtrang trại. 3.2.1.3. Giải pháp về thị trường cho kinh tế trang trại để đẩy mạnh tiêuthụ sản phẩm: Đây là vấn đề sống còn không chỉ riêng với kinh tế trang trại mà còn đốivới cả nền nông nghiệp nước ta. Cần tập trung vào các mặt sau đây: - Về thông tin thị trường: Việc người sản xuất nắm bắt thông tin thị trường là vô cùng quan trọngtrong nền kinh tế hàng hoá. Nhà nước cần lầm tốt công tác thông tin kinh tế,đưa những thông tin này đến người sản xuất thông qua nhiều hệ thống kênhtrong đó có thông qua hệ thống khuyến nông để tăng khả năng tiếp thị củangười sản xuất, để chủ trang trại có điều kiện phân tích cung cầu trên thịtrường. Chẳng hạn, hình thành các kênh thông tin để doanh ngiệp và các chủtrang trại tiếp cận thị trường như: tạo điều kiện thuận lợi cho thương nhânnước ngoài vào Việt Nam đặt hàng, thương nhân Việt Nam ra nước ngoàichào hàng; triển khai các hội chợ hàng nông sản, hội thảo hàng nông sản, dầndần tổ chức thành các thị trường mua bán kỳ hạn như ở các nước. UBND huyện và UBND các xã, TT tổ chức tốt việc cung cấp thông tin,khuyến cáo khoa học giúp trang trại định hướng kinh doanh phù hợp nhu cầuthị trường trong nước và quốc tế. Các cơ quan xúc tiến thương mại của NhàSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 104. 99nước cần làm tốt công tác dự báo thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoàinước để giúp các trang trại có hướng sản xuất thích hợp. - Về lưu thông hàng hoá. Đa dạng hoá các hình thức liên kết giữa thương nghiệp Nhà nước với cácthành phần kinh tế, giữa các viện nghiên cứu với các cơ sở sản xuất và các địaphương, gắn việc ký kết hợp đồng cung ứng vật tư với bao tiêu sản phẩmnhằm bảo đảm hiệu quả kinh tế. Hình thành và phát triển kinh tế hợp tác trêncơ sở tự nguyện và nguyên tắc các bên cùng có lợi giữa các trang trại và dâncư nông thôn gắn vói thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá và nơi cung cấpcác mặt hàng công nghiệp thực phẩm thiết yếu cho sản xuất và đời sống củanông dân và nông thôn. Khuyến khích phát triển hệ thống chợ nông thôn vàcác trung tâm giao dịch mua bán nông sản, vật tư nông nghiệp ở các thị trấn,thị tứ nhất là các địa bàn tập trung phát triển kinh tế trang trại. Khắc phục tình trạng thả nổi thị trường nông thôn tạo điều kiện cho cácchủ trang trại không chỉ xuất khẩu trực tiếp sản phẩm của mình mà nếu cóđiều kiện còn có thể thu gom của các chủ trang trại khác, hay khuyến khíchlàm đại lý vật tư nông nghiệp. Bên cạnh đó cần củng cố hệ thống các doanh nhiệp thương mại làmnhiệm vụ xuất khẩu cho các trang trại ở các vùng chuyên canh. Qua hệ thốngnày có thể vừa không ngừng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho cáctrang trại, vừa có thể kiểm soát các quan hệ kinh tế theo hướng bảo đảm lợiích hợp lý cho cả phía trang trại lẫn doanh nghiệp thương mại phi Nhà nước.Đồng thời phải thắt chặt sự kiểm soát đối với hàng hoá nông sản giá rẻ, chấtlượng kém của nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước thông qua conđường phi mậu dịch ở các vùng biên giới.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 105. 100 - Về xuất khẩu nông sản: Một mặt nhà nước, các doanh nghiệp tiếp tụcduy trì quan hệ với các thị trường truyền thống như Đông Âu, Trung Quốc,Cu Ba, ... mặt khác tích cực tìm kiếm các thị trường mới. Đẩy mạnh việckhuyến khích các chủ trang trại có điều kiện về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật vàcó thị trường tham gia xuất khẩu trực tiếp những nông sản hàng hoá đã quachế biến. Khắc phục tình trạng quá nhiều đầu mối xuất khẩu không có tổ chức dẫnđến tranh chấp, ép giá. Hoàn chỉnh chính sách tiêu thụ ổn định lâu dài và trựctiếp cho những mặt hàng nông sản quan trọng như gạo, thịt, rau quả cao cấp,nông sản đặc sản... Thoát dần tình trạng xuất khẩu nhỏ từng chuyển qua cáckhâu trung gian, khuyến khích các đơn vị trực tiếp giao dịch với các đối tácnước ngoài, tăng cường và mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại trong sản xuấtkinh doanh nông nghiệp. 3.2.1.4. Giải pháp về khoa học công nghệ ở các trang trại: - Nhà nước cần đổi mới, hoàn thiện tổ chức hoạt động khoa học côngnghệ từ nghiên cứu đến triển khai. Cần huy động các tiềm năng của các thànhphần kinh tế tập trung đầu tư vào khoa học và công nghệ nông nghiệp, coi đâylà mặt trận hàng đầu. - Ngoài chính sách chung về khoa học và công nghệ nông nghiệp, cần cóchính sách cụ thể hướng dẫn khuyến khích, hỗ trợ khoa học và công nghệ đốivới kinh tế trang trại là lực lượng, là loại hình tổ chức sản xuất có nhiều nhucầu và khả năng nhất trong việc ứng dung khoa học và công nghệ nôngnghiệp vào sản xuất. Đó chính là công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyếnngư.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 106. 101 Nâng cao, hướng dẫn cho các trang trại áp dụng các mô hình canh táctổng hợp có hiệu quả, ứng dụng các biện pháp kỹ thuật, quy trình kỹ thuậtcanh tác tiến bộ nhất là sử dụng các loại giống mới, có năng suất và chấtlượng cao vào sản xuất, khuyến khích hỗ trợ các trang trại có điều kiện về đấtđai, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật tham gia sản xuất và cung ứng giống. Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp trong hoạt động khuyến nông củamọi tổ chức, mọi thành phần kinh tế và phương châm tất cả mọi hoạt độngkhuyến nông đều tác động đến người lao động, đem lại hiệu quả cao nhất. Cần có chính sách mạnh mẽ để tập hợp được nhiều cán bộ khuyến nông,chuyên môn giỏi, nhiều cán bộ quản lý kỹ thuật, kinh tế và xã hội, nhữngnông dân giỏi trong sản xuất và có kinh nghiệm làm giàu. Đảm bảo công táckhuyến nông đạt chất lượng cao nhưng phù hợp với ngân sách của địaphương. Tiếp tục sử dụng những cán bộ khuyến nông có năng lực chuyênmôn và giỏi thực hành biết làm công tác tuyên truyền và vận động quầnchúng ở từng xã, trả lương ngân sách. Nhiệm vụ của số cán bộ này là tuyêntruyền và phổ biến, hướng dẫn tập huấn các chủ trang trại và người lao độngcó đủ khả năng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về công nghệ sau thu hoạch,bảo quản sản phẩm, công nghệ chế biến nông, lâm, thuỷ sản theo quy mô vừavà nhỏ sử dụng các trang trại thiết bị cơ giới phù hợp trong khâu làm đất, vậnchuyển, bơm nước... Bên cạnh ngân sách của Nhà nước đầu tư cho khuyếnnông, cần xây dựng các chính sách thu hút vốn của các ngành hàng, các cơ sởsản xuất kinh daonh nông sản, và nguồn tài trợ quốc tế tham gia công tác này.Hiện nay ngành nông nghiệp chỉ hoạt động khuyến nông chung cho cả nôngdân giàu lẫn nghèo. Đã đến lúc cần tập trung công tác khuyến nông riêng đốivới các hộ nông dân, trang trại sản xuất hàng hoá. Hình thành và mở rộng cáccâu lạc bộ khuyến nông cho các chủ trang trại theo các ngành sản xuất, đi vềSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 107. 102những chuyên đề thiết thực. Mục tiêu của công tác là hướng dẫn các trang trạisử dụng các giống cây, con mới; áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về bảo quản sảnphẩm, nhất là bảo quản rau quả nhằm kéo dài thời gian tiêu thụ; áp dụng côngnghệ chế biến nông, lâm, hải sản tiên tiến; phân loại và đóng gói sản phẩmtiêu thụ, sử dụng máy móc phù hợp để làm đất, vận chuyển và bơm nước tướitiêu... - Chính sách khoa học công nghệ của Nhà nước phải kết hợp những kinhnghiệm, tinh hoa cổ truyền với hiện đại hoá theo hướng cơ giới hoá, tin họchoá, thuỷ lợi hoá, đặc biệt là ứng dụng những thành tựu mới nhất của côngnghệ sinh học trong nước và quốc tế. - Nhà nước cũng nên tiếp tục tăng cường quản lý và kiểm tra chặt chẽchất lượng giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp theo pháp lệnh giốngcây trồng, vật nuôi, tăng cường kiểm tra, đặc biệt là giống nhập từ các nước,xử lý kịp thời những trường hợp buôn bán hàng giả, giống chất lượng kémthậm chí có nguy cơ gây hại cho cả ngành sản xuất chung để hạn chế rủi rocho các trang trại và cho toàn ngành nông nghiệp. - Phát huy vai trò của các phòng ban, trạm, trại của địa phương. Các cơquan này cần theo dõi sát sao nhu cầu của các trang trại, liên kết với các trangtrại để xác định các mô hình chuyển giao kỹ thuật mới cho nông dân trongvùng. Đầu tư xây dựng các vườn ươm nhân giống cây trồng, vật nuôi trên địabàn phát triển trang trại, thậm chí khuyến khích loại hình trang trại kinh doanhhình thức này để đảm bảo cung cấp đủ giống tốt tại chỗ cho các trang trại. - Tổ chức đào tạo nâng cao đội ngũ cán bộ khoa học phục vụ nôngnghiệp bằng nhiều hình thức đa dạng. Khuyến khích cá nhân, tập thể mở rộngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 108. 103trao đổi, hợp tác với nước ngoài, có chính sách đãi ngộ thoả đáng với nhữngsáng tạo công nghệ và ứng dụng có hiệu quả vào sản xuất. - Đối với công nghiệp chế biến, trên cơ sở quy hoạch các vùng nguyênliệu tập trung, các nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, nguồn vốn 135, sắp xếplại hệ thống các cơ sở chế biến công nghiệp, đồng thời phát triển công nghiệpchế biến với các trình độ sản xuất khác nhau để tăng lượng nông sản qua chếbiến, phục vụ nhu cầu đa dạng không chỉ của trong vùng mà còn của các vùngkhác. Đối với các loại nông sản xuất khẩu thì phải đầu tư đổi mới công nghệđể nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. 3.2.1.5. Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng: - Trước hết cần hoàn thiện và nâng cấp hệ thống đường giao thông trongvùng, nhất là đường giao thông nông thôn. Hệ thống đường bộ quốc gia đã cóthể đảm bảo lưu thông hàng hoá, vật tư và nông sản trong phạm vi toàn vùng.Vấn đề là nâng cấp chất lượng đường giao thông liên huyện, liên xã phù hợpvới yêu cầu phát triển của nông nghiệp hàng hoá và kinh tế nông thôn cũngnhư kinh tế trang trại. Giải pháp nâng cấp đường giao thông hiện nay phải coitrọng chất lượng hơn số lượng. - Hoàn thiện hệ thống điện nông thôn. Hiện nay điện nông thôn ở huyệnĐại Từ đã về 100% số xã nên giải pháp hoàn thiện hệ thống điện là ổn địnhnguồn điện bằng các biện pháp kỹ thuật và quản lý. Nên chăng giảm giá điện sảnxuất cho các trang trại nhỏ. Giảm giá bán điện cho nông nghiệp nói chung. - Nâng cấp các công trình thuỷ lợi trong vùng. Hệ thống thuỷ lợi hiệnnay chưa đáp ứng được yêu cầu thâm canh cao hơn và đối phó với những biếnđộng thất thường của thời tiết. Yêu cầu tưới tiêu chủ động, tiến tới tưới tiêutheo yêu cầu của sinh trưởng và phát triển của cây trồng đang đặt ra hàn loạtSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 109. 104vấn đề kinh tế và kỹ thuật đối với các công trình thuỷ lợi trong vùng, do đócần phải nâng cấp các công trình hiện có để tăng công suất tưới tiêu và cảitiến phương pháp tưới tiêu. Sắp tới vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhấn mạnhvào việc kiên cố hoá kênh mương, gắn kết việc xây dựng kênh mương với hệthống giao thông nội đồng. - Đầu tư nâng cao, chuyển giao và ứng dụng kỹ thuật mới trong nôngnghiệp: Danh mục đầu tư cần được ưu tiên đầu tư vốn, khoa học công nghệ. - Tổ chức các hệ thống dịch vụ, sản xuất, kinh doanh đồng bộ liên hoàntừ các khâu đầu vào cho đến các khâu đầu ra của sản xuất. Hình thành hệthống cung ứng vật tư, kỹ thuật, dịch vụ tư vấn, thông tin... 3.2.2. Các giải pháp hỗ trợ khác cho sự phát triển kinh tế trang trại: UBND các huyện, các phòng ban chuyên môn và UBND các xã thựchiện chức năng quản lý Nhà nước đối với kinh tế trang trại, chỉ đạo xây dựng quyhoạch, kế hoạch, phối hợp các biện pháp hỗ trợ kinh tế trang trại phát triển. Nhanh chóng ổn định việc quy hoạch phát triển các vùng cây trồng, vậtnuôi với khối lượng và chất lượng nông sản hàng hoá lớn. Tại những vùngnày, Nhà nước cùng các chủ trang trại đầu tư các hệ thống bảo vệ thực vật,thu mua và chế biến, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, đồng thời cóchiến lược dự trữ các mặt hàng nông sản chủ yếu để sẵn sàng can thiệp vàđiều tiết giá cả thị trường khi cần thiết. Bộ Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Tổng cục Thống kê và các cơquan có liên quan hướng dẫn tiêu chí về xác định trang trại để phân biệt vớicác loại hình tổ chức sản xuất khác. Tiêu chí cơ bản là giá trị sản xuất hànghoá. Các tiêu chí phụ khác được sử dụng để phản ánh quy mô, trình độ, hiệuSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 110. 105quả sản xuất hàng hoá của trang trại phù hợp với điều kiện cụ thể của từngvùng, gồm: Quy mô diện tích đất đai, diện tích cây trồng chính, số đầu congia súc, tỷ trọng hàng hoá, tỷ suất lợi nhuận, số lượng nhân công làm thuê...Việc xác định trang trại để cấp giấy chứng nhận trang trại là điều kiện để cáctrang trại nhận được sự ưu đãi về vốn và tiêu thụ sản phẩm của nhà nước. Các địa phương tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đảm bảo các chủtrang trại thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật canh tác và làm giàu đất, bảo vệmôi trường thống kê trang trại hàng năm. Tổ chức tổng kết đúc rút kinh nghiệm các mô hình trang trại tiên tiến, đểtuyên truyền phổ biến, tham quan học tập lẫn nhau. Khen thưởng kịp thời cáctrang trại sản xuất kinh doanh giỏi, tao được nhiều việc làm, hỗ trợ nhiều hộnghèo đói khó khăn vươn lên sản xuất, ổn định cuộc sống. Trong bối cảnh nước ta đã tham gia vào ASEAN, APEC và gia nhậpAFTA, WTO thì sự cạnh tranh trên thị trường lại càng khốc liệt. Theo đó vaitrò của các doanh nghiệp Nhà nước trong nông thôn và các chủ trang trại làhết sức quan trọng, doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệpthương mại phải định hướng cho các chủ trang trại bảo đảm lợi ích lâu dài vàổn định.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 111. 106 K ÕT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trong bối cảnh nền nông nghiệp nước ta đang đòi hỏi gay gắt phải có sựchuyển biến mạnh mẽ cho thích hợp với lối sản xuất hàng hoá và đem lại thunhập cao cho người nông dân, kinh tế trang trị kịp xuất hiện như một tất yếukhách quan và nhanh chóng chứng tỏ là một trong những loại hình tổ chứcsản xuất quan trọng, có vai trò và vị trí tiên phong trong tiến trình thực hiệncác mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Kinh tế trang trại là một bộ phận của nền nông nghiệp sản xuất hàng hoáđược vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nên nó cung được hưởng tất cả các chính sách đổimới của Đảng và Nhà nước đối với nông nghiệp, đồng thời kinh tế trang trạicũng phải làm tất cả các nghĩa vụ mà các thành phần kinh tế khác trong nôngnghiệp phải làm tất cả các nghĩa vụ mà các thành phần kinh tế khác trongnông nghiệp phải làm. Ngoài ra, kinh tế trang trại mang nhiều yếu tố sản xuấtnông, lâm, ngư nghiệp chế biến thực phẩm, mở mang ngành nghề dịch vụ ởnông thôn theo một cơ cấu hợp lý, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Song thực tế những năm qua đã cho thấy kinh tế trang trại thực sự là đầutàu trong việc đổi mới nền nông nghiệp của vùng, là cách tốt nhất để pháttriển nền nông nghiệp hàng hoá và trong tương lai nó còn có nhiều triển vọng,hứa hẹn đem lại một khối lượng lớn giá trị hàng hoá, nâng cao trình độ sảnxuất nông nghiệp của vùng lên một bước mới.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 112. 107 Với hệ thống các biện pháp đã đưa ra, để kinh tế trang trại phát triểnđúng với tiềm năng, đem lại nguồn thu lớn cho sản xuất nông nghiệp, xin cómột số kiến nghị như sau: - Sau khi có quy hoạch đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hộivà quy hoạch các vùng chuyên canh của vùng UBND huyện chỉ đạo các cơquan của huyện dựa vào đó và căn cứ những thế mạnh của địa phương đểhướng dẫn các hộ gia đình có điều kiện kinh doanh trang trại, lựa chọn một cơcấu sản xuất thích hợp. - Không chỉ khuyến khích các trang trại đưa tiến độ khoa học kỹ thuậtvào sản xuất mà với các hộ gia đình sản xuất nhỏ cũng nên có biện pháp hỗtrợ tương tự để họ mở rộng dần quy mô, bước đầu tạo tiền để đi lên làm kinhtế trang trại. - Cho đến nay các trang trại vẫn hoạt động độc lập, thiếu sự phối kết hợpvới nhau và với các chủ thể kinh tế khác của nền kinh tế. Có lẽ nên nghiêncứu xem xét việc thành lập Hiệp hội các trang trại của huyện để trang trại cóđiều kiện thuận lợi hơn trong việc chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác sản xuất, chếbiến, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời cũng tốt cho chủ trương hình thành cácvùng chuyên canh lớn của Nhà nước nhờ sự thoả thuận phân công giữa cáctrang trại trong hiệp hội với nhau.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 113. 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1- Báo cáo chuyên đề: "Chính sách phát triển kinh tế trang trại và tácđộng của nó đến việc và thu nhập của lao động nông thôn" - Viện Quyhoạch và thiết kế nông nghiệp- năm 20022- Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 22/2/2000 của chính phủ về việc kinh tếtrang trại.3- Thực trạng và các giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳđổi mới công nghiệp hoá-hiện đại hoá ở Việt Nam.4-Kmarx. Toàn tập, tập 25, phần 25- Thông tƣ số 74/TT-BNN về việc sửa đổi bổ sung mục III của thông tƣliên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/20006-A Connugin: Kinh tế nông trại Mỹ, Trƣờng Đại Học Kinh tế Thànhphố Hồ Chí Minh7-Nguyễn Điền. Kinh tế trang trại trên thế giới và ở Châu Á8-Phát triển kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại gia đình ở Việt Nam9- Kết quả thực hiện Đề án phát triển kinh tế trang trại ở Thái Nguyên10+11+14- Báo cáo đánh giá 3 năm (2002-2004) thực hiện chƣơng trìnhphát triển kinh tế trang trại tỉnh Thái Nguyên- tháng 12/2004.12-Báo Kinh tế nông thôn-Mục Kinh tế trang trại với công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp-nông thôn ngày 19/7/2007.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  • 114. 10913-Báo cáo tổng kết năm 2007 của Ngân hàng chính sách xã hội huyệnĐại Từ15-Tạp chí công nghiệp Việt Nam tháng 5/2001.16- Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Đại Từ lần thứ 2117- Đề án phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Từ giai đoạn 2006-2010.18- Luật đất đai năm 199319- Quyết định 67/QĐ-TT ng ày 30/3/1999 về một số chính sách ngânhàng phục vụ phát triển nông thônSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn