ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH                     Nguyễn Thành NamTên đề tài:NGHIÊN CỨU...
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH                     Nguyễn Thành NamTên đề tài:NGHIÊN C...
Lêi cam ®oan       - Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được ...
LỜI CẢM ƠN          Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình củ...
danh môc c¸c b¶ng  STT                                 Tªn b¶ng                             TrangBiểu 01    Diện tích của ...
1                                            MỞ ĐẦU      1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài      Trong số những ...
2      Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy môđất đai lớn như ở vùng đồng bằng Sông Hồng ...
3      + Giá trị sản xuất của loại hình kinh tế trang trại đạt từ 2 - 3% tổng giá trịsản xuất nông nghiệp, tạo nên nguồn s...
4      + Phạm vi nội dung: Xung quanh vấn đề phát triển kinh tế trang trại trênđịa bàn huyện Đại Từ còn nhiều vấn đề cần t...
5                                          CHƢƠNG I          CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU       A. Cơ sở khoa ...
6      Cho đến nay, quan điểm về kinh tế trang trại vẫn được trình bày theonhiều khía cạnh khác nhau.       2- Bản chất củ...
7      - Về sở hữu, có những hình thức sản xuất dựa trên sở hữu nhà nước như:Các khu sản xuất nông nghiệp tập trung thời đ...
8lập, thì nay trong điều kiện kinh tế thị trường hình thức sản xuất nông nghiệp tậptrung về cơ bản là dựa trên quyền sở hữ...
9      Tại Việt Nam, trong những năm đổi mới, kinh tế trang trại đã hình thànhvà phát triển nhanh trên nhiều vùng, đặc biệ...
10      Như vậy, nói kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của trang trại. Ngoàimặt kinh tế, còn có thể nhìn nhận trang tr...
11      Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở là vì trong nông, lâm,ngư nghiệp ngoài trang trại ra còn có nhữ...
12trại có nhu cầu cao hơn nông hộ về ứng dụng KHKT, tiếp cận thị trường, thuêmướn lao động và đều có thu nhập vượt trội hơ...
13ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộcquyền sở hữu hay thuộc quyền sử dụng của một...
14ông đã viết: "Ngay ở nước Anh nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuấtcó lợi nhất không phải là các Xí nghiệp nông...
15xuất cho trang trại, hỗ trợ khâu cung ứng đầu vào, đầu ra... Có thể nói, chưabao giờ kinh tế trang trại được quan tâm đú...
16một vài loại sản phẩm do đó quy mô của loại sản phẩm này cũng lớn lên. Doảnh hưởng của các lợi thế về quy mô, ta sẽ thấy...
17      Cũng nhờ quy mô lớn, chuyên môn hoá cao, cùng với tính chất sản xuấthàng hoá mà sản phẩm của trang trại là những s...
18      Mặt khác, khi kinh tế trang trại phát triển nó sẽ đem lại thu nhập cho mộtbộ phận nông dân, tiêu dùng của khu vực ...
19      Theo số liệu thống kê năm 2006 trên địa bàn huyện Đại Từ vẫn còn đếnhơn 70% lao động là ở nông thôn. (5) Tính chất...
20và sự phát triển của máy móc (xét cả về số lượng và chất lượng) chính là sựphát triển của lực lượng phát triển sản xuất....
21      Huyện Đại Từ đóng góp của kinh tế trang trại sẽ là góp phần xây dựngmới, tu sửa và mở rộng mạng lưới thuỷ lợi, hệ ...
22      5.1. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại:      Việc nghiên cứu những đặc trưng của kinh tế trang trại có...
23ngay từ khi ra đời đã mang tính hàng hoá và càng ngày tính chất và trình độsản xuất hàng hoá của nó càng được nâng lên. ...
24trên sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể (nông, lâm trường quốc doanh, hợptác xã nông nghiệp...) thì không thuộc khái niệm...
25        - Về trình độ chuyên môn hoá sản xuất trong các trang trại: Chuyên mônhoá sản xuất của trang trại là quá trình g...
26      Về hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại: Hoạt động tài chínhvà hoạch toán của trang trại dần dần thay ...
27      5.1.5. Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, cókiến thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng th...
28      Quy mô thuê mướn lao động của trang trại trong các loại hình khác nhauvà phụ thuộc chủ yếu vào các loại hình trang...
29      - Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông lâm, thuỷ sản hànghoá với quy mô lớn.      - Mức độ tập trung ...
30nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêmnhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nô...
31     3          Lâm nghiệp                                           > 10 ha     II         Đối với trang trại chăn nuôi...
32                                                                            nghiệp.Lớn: > 10 ha               + Trồng câ...
330,53ha…, trong khi đó ở các quốc gia Châu á đều có dân số đông nên có ảnhhưởng đến quy mô trang trại.      Chính vì vậy ...
34trong các trang trại số lượng lao động trong nông nghiệp của gia đình cũngnhư lao động làm thuê ngày càng giảm dần.     ...
35theo, thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn đồng thời cóchính sách khuyến khích kinh tế gia đình, k...
36         Tỉnh Thái Nguyên là tỉnh có nhiều đất đai rộng lớn với nhiều loại địahình và vùng khí hậu khác nhau: Đồng bằng,...
37      - Trước hết cần xoá bỏ ngay quan niệm về kinh tế trang trại là phải sảnxuất trên những diện tích đất đai rộng lớn ...
38những bài học của các tỉnh bạn, phát triển trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm,cây lâu năm... ở những nơi có điều kiện xuấ...
39      - Yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại của huyện ĐạiTừ.      - Hiệu quả kinh tế của các trang...
40        3. Phương pháp phân tích số liệu:        - Phương pháp thống kê mô tả: Được dùng tính, đánh giá các kết quảnghiê...
41      - Tổng thu nhập/1 lao động.      - Giá trị sản xuất/ 1 trang trại bình quân.      - Số lượng lao động thuê ngoài/l...
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Luan van thac si kinh te (24)
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Luan van thac si kinh te (24)

624

Published on

Published in: Education
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
624
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Luan van thac si kinh te (24)

  1. 1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH Nguyễn Thành NamTên đề tài:NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên nghành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60 - 31 - 10 Thái Nguyên, năm 2008
  2. 2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH Nguyễn Thành NamTên đề tài:NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên nghành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60 - 31 - 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ LÝ Thái Nguyên, năm 2008
  3. 3. Lêi cam ®oan - Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. - Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồngốc. Tác giả Nguyễn Thành Nam
  4. 4. LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể, cá nhân. Nhân dịp này tôi xin bày tỏlòng biết ơn đến: Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thầy, cô giáo Trường Đạihọc kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên và khoa sau Đại học đã dạy bảo,giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo TS Phạm Thị Lý, ngườiđã tận tình hướng dẫn dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, nhân viên phòng Nông nghiệp và PTNT,phòng Thống kê, UBND các xã, thị trấn và các hộ trang trại trên địa bàn huyện ĐạiTừ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứuđề tài. Tôi vô cùng biết ơn gia đình, đồng nghiệp và các bạn gần xa đã giúp đỡđộng viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Thái Nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả Nguyễn Thành Nam
  5. 5. danh môc c¸c b¶ng STT Tªn b¶ng TrangBiểu 01 Diện tích của huyện theo cấp độ cao tuyệt đối và độ dốc 43Biểu 02 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ 44Biểu 03a Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế – xã hội huyện Đại Từ 46Biểu 03b Tình hình sản xuất ngành nông nghiệp 48Biểu 04 Tổng số các trang trại và phân loại trang trại theo loại hình 50 sản xuấtBiểu 05 51 Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2007 của trang trạiBiểu 06 56 Hiện trạng sử dụng đất trang trại năm 2007Biểu 7 58 Phân loại trang trại theo quy mô sử dụng đấtBiểu 8 61 Vốn sản xuất của trang trại năm 2007 63Biểu 9 Tình hình sử dụng lao động của các trang trại 65Biểu 10 Thành phần xuất phát các chủ trang trại 69Biểu 11 Chi phí sản xuất của các trang trại 76Biểu 12 Tổng thu bình quân của một trang trại năm 2007 huyện Đại Từ 78Biểu số 13 Thu nhập từ sản xuất Nông - Lâm - Nghiệp bình quân trang trại điều tra năm 2007. 82Biểu 14 Mức thu nhập bình quân lao động trong tuổi và nhân khẩu của các trang trại năm 2007
  6. 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong số những thành tích đạt được của công cuộc đổi mới nền kinh tếđất nước, trong thời gian qua, có thể nói nông nghiệp là một ngành đã cónhững bước đột phá ngoạn mục. Thu nhập của nông dân không ngừng tănglên, bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể. Sản xuất nông nghiệp đã đảmbảo an toàn lương thực cho đời sống xã hội. Thế nhưng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong điều kiện hội nhậpkinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé. Chođến bây giờ, nông nghiệp Việt Nam vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả vàthiếu tính hợp lý. Cần phải hình thành và phát triển những hình thức sản xuấtphù hợp hơn, mà trong đó, kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụngđể đáp ứng yêu cầu này. Đã manh nhà từ rất lâu, nhưng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây,vai trò của kinh tế trang trại mới thực sự được công nhận và được quan tâmchú ý, đặc biệt là sau khi Nghị quyết số 03/2000/NQ- CP của Chính phủ ngày2/2/2000 về kinh tế trang trại ra đời thì kinh tế trang trại mới thực sự đượcmột sự trợ giúp của Nhà nước về cơ chế, chính sách như là hỗ trợ cho cácdoanh nghiệp thông thường của nền kinh tế thị trường. Sự tăng nhanh về sốlượng, gia tăng về giá trị sản lượng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chứcsản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thônnước ta, giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho xã hội.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  7. 7. 2 Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy môđất đai lớn như ở vùng đồng bằng Sông Hồng hay vùng đồng bằng phía nam,nhưng tỉnh Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc là nơi có nhiều điều kiệnưu đãi về điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu…đặc biệt là vùng có truyềnthống sản xuất nông nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh của người dân tươngđối cao. Huyện Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên trongnhững năm qua sản xuất nông nghiệp của huyện đã đạt được nhiều tiến bộquan trọng Nhưng để ngành nông nghiệp của huyện đáp ứng được yêu cầuphát triển trong thời kỳ mới thì phải hợp lý hoá, hiệu quả hoá sản xuất nôngnghiệp nhằm khai thác một cách triệt để tiềm năng về đất đai cũng như khảnăng lao động của con người vùng miền núi này và mô hình kinh tế trang trạilà phù hợp hơn cả. Những năm qua kinh tế trang trại của huyện đã có nhiềuthành tích đáng khích lệ, nhưng thật sự vẫn chưa phát triển tương xứng vớitiềm năng của nó. Câu hỏi đặt ra là: Khả năng phát triển kinh tế trang trại củavùng đến đâu? làm sao để mô hình được áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xãhội cao nhất? Trả lời cho câu hỏi này chính là mục đích của đề tài: "Nghiên cứucác giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Từ đến năm 2010" 2. Mục tiêu nghiên cứu: - Mục tiêu chung: + Phấn đấu có 100 trang trại vào năm 2010, phấn đấu 50% số trang trạisản xuất kinh doanh chuyên ngành, chuyên môn hoá cao. + Hình thành rõ nét các loại hình trang trại như sau: Chăn nuôi gia súc,gia cầm quy mô vừa, tiến tới quy mô lớn. Chuyên sản xuất giống. Chuyên sảnxuất chè chất lượng cao. Sản xuất, kinh doanh cây trồng, vật nuôi đặc sảnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  8. 8. 3 + Giá trị sản xuất của loại hình kinh tế trang trại đạt từ 2 - 3% tổng giá trịsản xuất nông nghiệp, tạo nên nguồn sản phẩm hàng hoá chính hướng tới xuấtkhẩu. + Thu nhập bình quân 100 triệu đồng/năm/trang trại, thu nhập người laođộng đạt 1 triệu đồng/tháng. + Tạo điển hình tiên tiến về thâm canh, chuyên môn hoá, ứng dụng khoahọc công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp. + Phấn đấu 100% các chủ trang trại nâng cao tay nghề. - Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế trang trại vàcác yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế trang trại, trên cơ sở đó đề xuất giải phápnhằm phát triển kinh tế trang trại Huyện Đại Từ, vừa nâng cao thu nhập vừagiải quyết các vấn đề về xã hội và môi trường. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 3.1. Đối tượng: Các trang trại Huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Nghiêncứu các vấn đề kinh tế- xã hội có liên quan đến việc phát triển kinh tế trangtrại của huyện Đại Từ, trong đó tập trung phân tích hiệu quả kinh tế, phân tíchnhững tồn tại và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện ĐạiTừ tỉnh Thái Nguyên. 3.2. Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành tập trung nghiên cứu tại 80trang trại trên địa bàn huyện Đại Từ. + Phạm vi thời gian: Tác giả tiến hành thu thập số liệu điều tra từ năm2006-2007.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  9. 9. 4 + Phạm vi nội dung: Xung quanh vấn đề phát triển kinh tế trang trại trênđịa bàn huyện Đại Từ còn nhiều vấn đề cần tiếp cận nghiên cứu. Tuy nhiên dohạn chế về thời gian và trình độ nên tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu, đánh giásự phát triển của các trang trại. 4 - Kết cấu của luận văn: Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo,phụ lục luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu: Chƣơng 2: Tình hình phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Từ trongthời gian qua. Chƣơng 3: Các giải pháp để phát triển kinh tế trang trại huyện Đại Từtừ nay đến năm 2010.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  10. 10. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU A. Cơ sở khoa học: I. Cơ sở lý luận: 1. Quan niệm về kinh tế trang trại: Xuất hiện cách đây khoảng hơn 200 năm, cho đến những năm cuối thếkỷ XX, kinh tế trang trại mà đặc biệt là trang trại gia đình đã trở thành môhình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp các nước phát triển, chiếmtỷ trọng lớn tuyệt đối về đất đai cũng như khối lượng nông sản, đặc biệt ở cácnước Anh, Pháp, Nga nơi bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đầu tiêncủa nhân loại. Trải qua hàng mấy thế kỷ đến nay kinh tế trang trại tiếp tục phát triển ởnhững nước tư bản chủ nghĩa lâu đời cũng như các nước đang phát triển, cácnước công nghiệp mới và đi vào những xã hội chủ nghĩa với cơ cấu và quymô sản xuất khác nhau. Tại Việt Nam, kinh tế trang trại phát triển muộn, chỉ từ sau Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được thừa nhận và đặcbiệt là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (4/98) về đổi mới quản lýkinh tế Nhà nước, kinh tế hộ nông dân mới từng bước phục hồi và phát triển,phần lớn họ trở thành những chủ thể tự sản xuất. Cùng với các hộ gia đìnhcông nhân viên chức làm nông nghiệp, lại có tích lũy về vốn, kinh nghiệm sảnxuất và kinh nghiệp quản lý, tiếp cận được với thị trường, thì sản xuất nôngnghiệp mới thoát khỏi cái vỏ tự cấp, tự túc và vươn tới nền sản xuất hàng.Kinh tế trang trại ra đời.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  11. 11. 6 Cho đến nay, quan điểm về kinh tế trang trại vẫn được trình bày theonhiều khía cạnh khác nhau. 2- Bản chất của kinh tế trang trại: Trong lịch sử phát triển của nông nghiệp các nước trên thế giới cũngnhư ở nước ta đã từng tồn tại các hình thức sản xuất nông nghiệp mang tínhtập trung được tiến hành trên một quy mô diện tích ruộng đất đủ lớn nhằm sảnxuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sản xuất nôngnghiệp truyền thống, phân tán trên những diện tích ruộng đất nhỏ. Trong phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản, các hình thức sảnxuất nông nghiệp tập trung đã tồn tại ở nhiều nước. Thời đế quốc La Mã đã cósản xuất nông nghiệp tập trung với lực lượng sản xuất chủ yếu là tù binh vànô lệ. Thời phong kiến ở Châu Âu có các hình thức: Lãnh địa phong kiến vàtrang viên. ở Trung Quốc thời nhà Hán đã có hoàng trang, điền trang, đồnđiền, gia trang. ở Việt Nam thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn... có điền trang, ấp,đồn điền .vv... Các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong các phương thức sảnxuất trước chủ nghĩa tư bản nêu trên có những điểm chung chủ yếu sau: - Về mục đích sản xuất, các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung nóitrên đều sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hình thức sảnxuất nông nghiệp truyền thống phân tán trên những diện tích ruộng đất nhỏ,song đều nhằm mục đích tự cung, tự cấp để đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trựctiếp. Việc trao đổi sản phẩm chỉ thực hiện với bộ phận sản xuất vượt qúa nhucầu tiêu dùng trực tiếp của những người chủ.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  12. 12. 7 - Về sở hữu, có những hình thức sản xuất dựa trên sở hữu nhà nước như:Các khu sản xuất nông nghiệp tập trung thời đế chế La Mã; hoàng trang vàđồn điền trong các triều đại phong kiến ở trung Quốc; dồn điền thời Lê,Nguyễn ở Việt Nam....Đồng thời cũng có những hình thức sở hữu riêng củamột người như Lãnh địa phong kiến và trang viên ở Châu Âu, điền trang, giatrang ở Trung Quốc, Việt Nam... Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự tác động và chi phốicủa cơ chế thị trường, trình độ phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất vàsự thay đổi lớn lao của quan hệ sản xuất xã hội đã tạo ra những điều kiện vàđộng lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tập trung chuyển lên mộttrình độ mới cao hơn với những biến đổi cơ bản về kinh tế, tổ chức và kỹthuật sản xuất so với các hình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trungtrước chủ nghĩa tư bản. Những biến đổi có ý nghĩa quyết định dẫn đến sự thay đổi về chất củahình thức sản xuất nông nghiệp mang tính tập trung trong phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa bao gồm: - Sự biến đổi về mục đích sản xuất chuyển từ tự cung, tự cấp là chủ yếusang sản xuất hàng hoá. Nông sản phẩm sản xuất ra trước đây chủ yếu là đểđáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của những người chủ, thì nay trong điềukiện kinh tế thị trường, được sản xuất ra chủ yếu là để bán nhằm tăng thunhập và lợi nhuận. - Sự biến đổi về mặt sở hữu: Nếu như trong các phương thức sản xuất trướcchủ nghĩa tư bản có những hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung dựa trên sởhữu nhà nước, có những hình thức dựa trên sở hữu riêng của một người chủ độcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  13. 13. 8lập, thì nay trong điều kiện kinh tế thị trường hình thức sản xuất nông nghiệp tậptrung về cơ bản là dựa trên quyền sở hữu tư liệu sản xuất của một chủ độc lập. - Sự thay đổi về cách thức tổ chức sản xuất và kỹ thuật sản xuất: Do mụcđích sản xuất hàng hoá nên ở đây sản xuất được tổ chức theo phương thứctiến bộ hơn với kỹ thuật sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệpmang tính tập trung trong các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản. - Trong thời kỳ Pháp thuộc cùng với sự phát triển của các đồn điền tưbản tư nhân, những ấp trại vơi các quy mô khác nhau dựa trên sở hữu tư nhânvà có mục đích chính là sản xuất nông sản phẩm để bán đã xuất hiện trênnhiều vùng. Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, ngôn ngữ các nước đều cónhững thuật ngữ để chỉ hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với nhữngbiến đổi cơ bản so với các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong cácphương thức sẳn xuất trước chủ nghĩa tư bản như đã nêu khi chuyển sangtiếng Việt thường được dịch là "Trang trại" hay " Nông trại". “Trang trại" hay " Nông trại" thì có thể hiểu đó là những khu đất tươngđối lớn. Ở đó sản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức dưới sự chỉ huycủa một người chủ mà phần đông là chủ gia đình nông dân bao gồm cả nôngdân trong giai đoạn nông nghiệp đi vào sản xuất hàng hoá và từng bước gắnliền với kinh tế thị trường. Như vậy có thể thấy rằng trong điều kiện kinh tế thị trường về bản chất"Trang trại" hay " Nông trại" là thuật ngữ gắn liền với hình thức sản xuấtnông nghiệp mang tính tập trung trên một diện tích ruộng đất đủ lớn nhằm sảnxuất nông sản phẩm hàng hoá với quy mô gia đình là chủ yếu.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  14. 14. 9 Tại Việt Nam, trong những năm đổi mới, kinh tế trang trại đã hình thànhvà phát triển nhanh trên nhiều vùng, đặc biệt là các vùng có bình quân ruộngđất tính theo đầu người cao. Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ởnước ta những năm qua là nhờ đường lối đổi mới của Đảng mà mốc quantrọng có ý nghĩa hết sức to lớn là Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 5- 4-1988 củaBộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và sau đó là chính sáchgiao ruộng đất ổn định cho hộ nông dân. Việc trả lại địa vị tự chủ về kinh tếcho hộ nông dân và việc giao ruộng đất cho hộ nông dân sử dụng ổn định vàlâu dài là cơ sở quan trọng cho kinh tế trang trại mà chủ yếu là trang trại giađình ra đời và phát triển ở nước ta trong những năm qua. 3. Khái niệm về kinh tế trang trại Trong những năm gần đây ở nước ta cơ quan nghiên cứu, cơ quan quảnlý Nhà nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã quan tâm nghiên cứu vềkinh tế trang trại. Một trong những vấn đề được đề cập nhiều là khái niệm vềkinh tế trang trại. Các cơ quan, các nhà khoa học và quản lý khi nghiên cứu kinh tế trangtrại hầu như đều đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại và coi đó là điểm xuấtphát để nghiên cứu về kinh tế trang trại. Tìm hiểu các khái niệm về kinh tếtrang trại đã được đưa ra trong những năm qua, tuy nhiên các ý kiến chưa cósự thống nhất. Về thực chất, "Trang trại" và "Kinh tế trang trại" là những khái niệmkhông đồng nhất. Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sảnxuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động củatrang trại; còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và làchủ thể của các mối quan hệ kinh tế đó.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  15. 15. 10 Như vậy, nói kinh tế trang trại là nói mặt kinh tế của trang trại. Ngoàimặt kinh tế, còn có thể nhìn nhận trang trại từ mặt xã hội và mặt môi trường. Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó có cácquan hệ xã hội đan xen nhau: Quan hệ giữa các thành viên của hộ trang trại,quan hệ giữa chủ trang trại và những người lao động thuê ngoài, quan hệ giữangười lao động làm thuê cho chủ trang trại với nhau... Về mặt xã môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, trong đódiễn ra các quan hệ sinh thái đa dạng. Không gian sinh thái trang trại có quanhệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng. Như vậy có thể thấy khái niệm trang trại rộng hơn khái niệm kinh tếtrang trại. Tuy nhiên trong các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của trang trạithì mặt kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại.Vì vậy trong nhiều trường hợp khi nói tới kinh tế trang trại, tức nói tới mặtkinh tế của trang trại, người ta gọi tắt là trang trại. Vậy khái niệm trang trại về mặt kinh tế như thế nào? Khái niệm này phảithể hiện đươc những nét bản chất về kinh tế, tổ chức và kỹ thuật sản xuất củatrang trại trong điều kiện kinh tế thị trường. Trước hết, trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông,lâm, ngư nghiệp. Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở vì trang trại là đơn vị trựctiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội, bao gồm nông,lâm, thuỷ sản, đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại là quá trình khép kínvới các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm sản xuấtphân phối, trao đổi, tiêu dùng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  16. 16. 11 Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở là vì trong nông, lâm,ngư nghiệp ngoài trang trại ra còn có những hình thức tổ chức sản xuất cơ sởkhác như: Nông, lâm trường quốc doanh, kinh tế hộ nông dân... Là một hình thức tổ chức sản xuất, trang trại không phải là một thànhphần kinh tế và theo cách phân định thành phần kinh tế như hiện nay thì cácchủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanhnông nghiệp đều có thể chọn hình thức tổ chức sản xuất theo kiểu trang trạinếu có đủ điều kiện. Như vậy trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông,lâm, ngư nghiệp là phù hợp vì quan niệm nêu trên đảm bảo đầy đủ các nguyêntắc quy định. Mặt khác trang trại còn có những đặc điểm riêng mà nó phân biệt với cáchình thức sản xuất cơ sở khác trong nông lâm, ngư nghiệp đó là: Mục đíchsản xuất của trang trại là sản xuất hàng hoá. Đó là điểm cơ bản của trang trạiđược tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá; Cácyếu tố vật chất của sản xuất, trước hết là ruộng đất và tiền vốn trong trang trạiđược tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá; Tưliệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập.Tư liệu sản xuất ở trang trại hoặc thuộc quyền sở hữu của người chủ độc lập,hoặc quyền sử dụng của người chủ độc lập nếu tư liệu sản xuất đi thuê hoặcđược giao quyền sử dụng; Trang trại hoàn toàn tự chủ trong các sản xuất kinhdoanh, từ việc lựa chọn phương hướng sản xuất, quyết định kỹ thuật và côngnghệ sản xuất, tổ chức sản xuất, đến tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm..;Chủ trang trại là người có ý chí và năng lực, có kiến thức và kinh nghiệm vềsản xuất nông nghiệp và thường là người trực tiếp quản lý trang trại; TrangSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  17. 17. 12trại có nhu cầu cao hơn nông hộ về ứng dụng KHKT, tiếp cận thị trường, thuêmướn lao động và đều có thu nhập vượt trội hơn... Từ những nhận thức như trên. PGS.PTS Lâm Quang Huyên, Viện quyhoạch và thiết kế nông nghiệp cho rằng: "Kinh tế trang trại là loại hình cơ sởsản xuất nông nghiệp, hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường từkhi phương thức này thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Trang trạiđược hình thành các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp, tự túc khépkín, vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá tiếp cận với thị trường, từngbước thích nghi với nền kinh tế thị trường".1 Khái niệm này đã chỉ đúng bản chất sản xuất hàng hoá của kinh tế trangtrại nhưng lại sai lầm khi cho rằng nguồn gốc của các trang trại chỉ là xâydựng từ kinh tế của các hộ tiểu nông. Trong Nghị quyết số 03/2000/NQ - CP ngày 2/2/2000 về kinh tế trangtrại, Chính phủ ta đã thống nhất nhận thức về kinh tế trang trại như sau: "Kinhtế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nôngthôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệuquả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồngrừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản".2 Khái niệm này khá đầy đủ, nêu ra được cơ sở, chức năng, hình thức sảnxuất của trang trại nhưng hiện nay trong nền kinh tế thị trường sản phẩm củatrang trại mang tính hàng hoá và đáp ứng nhu cầu thị trường. Chính vì vậynăm 2004 các giảng viên của Trường Đại học kinh tế Quốc dân đã có quanđiểm: "Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm,1 Báo cáo chuyên đề: "Chính sách phát triển kinh tế trang trại và tác động của nó đến việc và thu nhập của laođộng nông thôn" - Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp- năm 2002.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  18. 18. 13ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộcquyền sở hữu hay thuộc quyền sử dụng của một chủ thể độc lập, sản xuất đượctiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớnvới cách tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ vàluôn gắn với thị trường".3 Đây chính là khái niệm đầy đủ về kinh tế trang trại. 4. Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế - xã hội. Bất kỳ một hình thức sản xuất nào cũng gây ảnh hưởng đến đời sốngkinh tế xã hội nói chung. Là một thực thể kinh tế, các trang trại hình thành vàphát triển đã có những đóng góp không nhỏ cả về mặt tăng trưởng kinh tế vàphát triển xã hội, làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp, nông thôn. 4.1. Phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu của quá trình phát triểnsản xuất nông nghiệp - nông thôn. Các ngành sản xuất đều có xu hướng tích luỹ về vốn và các yếu tố sảnxuất khác: Tư liệu, lao động, kinh nghiệm, trình độ quản lý... Trong nôngnghiệp cũng vậy. Những năm cuối thế kỷ 17 ở các nước bắt đầu công nghiệphoá đã có chủ trương chính thúc đẩy các quá trình tập trung ruộng đất, xâydựng các xí nghiệp nông nghiệp tư bản quy mô lớn với hy vọng mô hình nàysẽ tạo ra nhiều nông sản tập trung với giá rẻ hơn sản xuất gia đình phân tán.Lúc đầu Marx cùng cho rằng đây là điều tất yếu trong quá trình công nghiệphoá nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa nhưng trong tác phẩm cuối của mình2 Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 22/2/2000 của chính phủ về việc kinh tế trang trại.3 Thực trạng và các giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hoá-hiện đại hoáở Việt Nam- Nhà xuất bản quốc gia - năm 2000.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  19. 19. 14ông đã viết: "Ngay ở nước Anh nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuấtcó lợi nhất không phải là các Xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là cáctrang trại gia đình không dùng lao động làm thuê". 4 Sở dĩ như vậy là vì sảnxuất nông nghiệp có đặc trưng khác với công nghiệp ở chỗ là phải tác độngvào những vật sống (cây trồng, vật nuôi) nên không phù hợp với hình thức tổchức sản xuất tập trung quy mô quá lớn. Công cuộc đổi mới kinh tế và đổi mới nông nghiệp của Việt Nam mớibắt đầu cách đây gần hai chục năm. Cơ chế thị trường không chỉ tác độngmạnh mẽ đến hoạt động của các ngành nông nghiệp, dịch vụ mà còn làm thayđổi căn bản mục đích và do đó thay đổi cả phương thức sản xuất trong nôngnghiệp. Sự phát triển của trao đổi hàng hoá đặt ra yêu cầu làm ra sản phẩmphải là hàng hoá với giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo hơn. Không chỉ làcác nông trại lớn, ngay cả các đơn vị sản xuất nhỏ như hộ gia đình cũng hiểu rõmục đích sản xuất của mình: Sản phẩm để bán chứ không phải để tiêu dùng. Khi nông nghiệp đã có một bước chuyển mình đáng kể, nhiều hộ nôngdân đã giàu lên, nhận thức và hiểu biết về khoa học kỹ thuật ngày càng sâusắc, kinh nghiệm và khả năng quản lý, tổ chức sản xuất ngày càng được nângcao, vốn tích luỹ đạt đến một mức độ nhất định, thì cũng là lúc người kinhdoanh nông nghiệp phải nghĩ đến một hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệpmới, có quy mô lớn hơn, tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Thế là họ bỏ vốn, lập nêncác trang trại, thuê nhân công và hoạt động như một nhà kinh doanh thật sự. Nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế trang trại trong phát triểnkinh tế nói chung, phát triển nông ngiệp - nông thôn nói riêng, Chính phủ đãcó khá nhiều văn bản quan trọng về các vấn đề: Đất đai cho trang trại, vốn sản4 Kmarx. Toàn tập, tập 25, phần 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  20. 20. 15xuất cho trang trại, hỗ trợ khâu cung ứng đầu vào, đầu ra... Có thể nói, chưabao giờ kinh tế trang trại được quan tâm đúng mức như những năm gần đây. Tuy vậy, kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển từ một nền kinh tếtự cung tự cấp sang một nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thịtrường, sự quá độ của nền kinh tế lại quy định tính đa dạng của nó, về trình độphát triển của lực lượng sản xuất, về sở hữu tư liệu sản xuất... Tính khôngđồng đều về trình độ sản xuất, một mặt dẫn tới những hình thức tổ chức sảnxuất khác nhau, mặt khác, dẫn tới sự không thống nhất của mỗi hình thức tổchức sản xuất. Do vậy trang trại nước ta cũng không thể thuần nhất khi màkinh tế còn trong thời gian quá độ. Đó cũng là một quy luật phát triển như quyluật phát triển của các mô hình sản xuất khác mà thôi. Như vậy, kinh tế trang trại là một thực thể khách quan, xuất hiện như làkết quả của quá trình tích luỹ về vốn, kinh nghiệm, năng lực của người chủsản xuất, do tác động của cơ chế thị trường, mà trong đó, trang trại gia đình (vớimột số ưu thế riêng sẽ được xem xét ở phần sau) là mô hình được lựa chọn số 1. 4.2. Tác động của kinh tế trang trại đến sự phát triển của ngành sảnxuất nông nghiệp. 4.2.1. Phát triển kinh tế trang trại thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất vàchuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn và phát triển kinh tế hàng hoá. Như đã nói, đặc trưng của kinh tế trang trại là mức độ tập trung cao vềđất đai và tích luỹ lâu dài về vốn, đã dần tạo nên một quy mô vượt trội so vớisản xuất của hộ gia đình. Với riêng mỗi trang trại, trong giai đoạn đầu do cònthiếu vốn và khả năng sản xuất cũng như kinh nghiệm quản lý, họ thường kếthợp sản xuất nhiều loại nông sản khác nhau nhưng sau đó do sự tích luỹ vềcác yếu tố vốn, đất đai, kinh nghiệm sản xuất thì các trang trại sẽ hướng theoSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  21. 21. 16một vài loại sản phẩm do đó quy mô của loại sản phẩm này cũng lớn lên. Doảnh hưởng của các lợi thế về quy mô, ta sẽ thấy các trang trại ở trong cùngmột vùng có điều kiện tự nhiên giống nhau sẽ trồng hay nuôi cùng một loạicây, con như nhau, xây dựng các mô hình thâm canh, chuyên canh, tiếp cậncác biện pháp canh tác hiện đại, từ đấy các vùng chuyên canh, vùng chuyênmôn hoá hình thành, trở thành vùng cung cấp nguyên liệu rộng lớn cho các cơsở chế biến. Đến khi sản xuất quy mô lớn lại đòi hỏi áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất để làm ra sản phẩm với chi phí thấp, chất lượng cao vàđồng đều. Vì mục đích kinh tế trang trại là thị trường: Sản xuất cái gì, khốilượng bao nhiêu, chất lượng ở mức độ nào... đều phải bắt kịp các tín hiệu củathị trường. Vì thế các trang trại cũng thay đổi, hàm lượng khoa học kỹ thuậttrong sản phẩm nông nghiệp thậm chí tăng lên. Nhìn chung, kinh tế trang trạisẽ tăng tỷ lệ chăn nuôi, giảm tỷ lệ trồng trọt, một số tiểu ngành như sản xuấtthực phẩm cao cấp, hoa kiểng... ngày càng phát triển, đem lại nguồn thu lớn. 4.2.2. Phát triển kinh tế trang trại sẽ làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp. Lợi thế về quy mô của các trang trại (quy mô đất đai, quy mô lao động...)giúp các trang trại tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn. Trang trại có điềukiện thuận lợi trong cả việc giảm giá thành các yếu tố đầu vào và cả trongquản lý, tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là dễ dàng hơn khi áp dụng các tiến bộkhoa học kỹ thuật, sử dụng máy móc, trang thiết bị hiện đại trong hoạt độngsản xuất. Với các hộ gia đình, chi phí cho các thiết bị này chiếm tỷ lệ quá lớnso với thu nhập và giá trị sản phẩm làm ra, nên thông thường họ phải đi thuê,tỷ suất lợi nhuận vì thế cũng thấp, khiến cho giá trị của cả ngành nông nghiệpgiảm theo.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  22. 22. 17 Cũng nhờ quy mô lớn, chuyên môn hoá cao, cùng với tính chất sản xuấthàng hoá mà sản phẩm của trang trại là những sản phẩm có giá trị cao. Thôngthường thì người làm trang trại hiểu rõ mục đích sản xuất của mình là cungcấp cho thị trường nên họ chỉ chọn kinh doanh những loại cây, con sao cho cóhiệu quả kinh tế cao, đáp ứng yêu cầu mà thị trường đòi hỏi. Hơn thế nữa, sảnphẩm làm ra thường có giá thành cạnh tranh, chất lượng đồng đều, có khảnăng cung cấp với khối lượng lớn nên thường dễ được các cơ cở chế biến vàngười tiêu dùng chấp nhận. Giá trị sản phẩm cao không chỉ đem lại thu nhậpcho chủ trang trại mà trong phạm vi toàn ngành, nó sẽ là phần đóng góp đángkể để gia tăng giá trị ngành sản xuất nông nghiệp. 4.2.3. Phát triển kinh tế trang trại đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn. Sản xuất nông nghiệp là đầu vào quan trọng của các ngành công nghiệp,đặc biệt là công nghiệp chế biến. Rõ ràng là khối lượng, chất lượng, giá cảnông sản cung cấp cho một nhà máy chế biến thực phẩm nào đó sẽ quyết địnhtính cạnh tranh của sản phẩm nhà máy này. Không những thế, sản phẩm củatrang trại sẽ góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệpnăng lượng trong các mối liên hệ ngược với các ngành này. Để làm ra sảnphẩm, các trang trại cần sử dụng máy móc, cần tiêu dùng năng lượng, cầnđược cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu... Đó là không kể những trangtrại kinh doanh tổng hợp còn tự sơ chế, chế biến ngay tại chỗ. Yêu cầu nàycần được sự giúp đỡ của ngành công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm...Mối quan hệ qua lại này chỉ ra rằng: Sự phát triển của ngành này là động lựcphát triển của ngành kia.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  23. 23. 18 Mặt khác, khi kinh tế trang trại phát triển nó sẽ đem lại thu nhập cho mộtbộ phận nông dân, tiêu dùng của khu vực nông nghiệp - nông thôn tăng lênkéo theo sự khởi sắc của ngành dịch vụ theo đúng quy luật của nền kinh tế thị trường. Như vậy, kinh tế trang trại không chỉ là lực lượng xung kích đi đầu tronglĩnh vực sản xuất nông sản hàng hoá, mà còn là lực lượng đi đầu trong ứngdụng khoa học công nghệ nông nghiệp, do đó là nhân tố cơ bản cho quá trìnhcông nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp - nông thôn nước ta. Điểm yếucủa công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn là tính chất lạc hậu, manh mún,phân tán của sản xuất nông nghiệp nước ta nói chung, của tỉnh Thái Nguyênvà của huyện Đại Từ nói riêng (cho dù huyện Đại Từ vẫn là huyện có trình độthâm canh cao so với các huyện trong tỉnh Thái Nguyên) nên đã hạn chế khảnăng thay đổi cách thức sản xuất từ thủ công sang lao động bằng máy móchiện đại. Quy mô đất đai và vốn lớn của các trang trại sẽ khắc phục nhượcđiểm này. Nói chung, trong điều kiện kinh tế thị trường, với yêu cầu công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên chính thứccủa tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì mô hình kinh tế trang trại là mộthướng đi đầy triển vọng cho nông nghiệp Việt Nam. Chắc chắn trong tươnglai, sự phát triển của nông nghiệp huyện Đại Từ phải bao gồm cả sự phát triểncủa mô hình kinh tế trang trại. 4.3. Phát triển kinh tế trang trại giải quyết đƣợc những vấn đề vềmặt xã hội và môi trƣờng. 4.3.1. Phát triển kinh tế trang trại sẽ giải quyết được việc làm cho lựclượng lao động nông thôn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  24. 24. 19 Theo số liệu thống kê năm 2006 trên địa bàn huyện Đại Từ vẫn còn đếnhơn 70% lao động là ở nông thôn. (5) Tính chất mùa vụ của hoạt động sản xuấtnông nghiệp cùng với việc mở rộng dần phạm vị ứng dụng của máy móc hiệnđại càng làm tăng tỷ lệ thất nghiệp trá hình. Theo ước tính, lao động ở khuvực nông thôn mới chỉ sử dụng hết khoảng 3/4 thời gian lao động nôngnghiệp, như vậy là đã lãng phí một lượng lớn lao động nông thôn. Trong sốđó nhiều người thậm chí còn hoàn toàn không có cả việc làm. Một phần laođộng dư thừa ấy sẽ được giải quyết khi các trang trại hình thành vì trang trạikhông chỉ giải quyết việc làm cho bản thân chủ trang trại cũng như người nhàcủa họ mà còn thu hút được một lực lượng đáng kể lao động làm thuê, trongnăm 2007 các trang trại của huyện Đại Từ đã thu hút, sử dụng 394 lao độngtrong nông thôn. * Phát triển kinh tế trang trại góp phần tăng cường quan hệ giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Tác động của kinh tế trang trại tới sự phát triển của lực lượng sản xuấtxét ở 3 khía cạnh: Một là: Nhờ cách làm ăn hiệu quả hơn, kinh tế trang trại đem lại nguồnthu nhập cao hơn cho người lao động tham gia sản xuất và trong thực tế, rấtnhiều nông dân đã giàu lên thực sự bằng con đường này. Không những thế,những lao động làm thuê cũng được hưởng một mức thu nhập cao hơn trướcđây, nhờ đó đời sống được cải thiện cả về mặt vật chất và tinh thần. Hai là: Dựa vào ưu thế của kinh tế trang trại trong việc ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật mà trình độ kỹ thuật, trình độ thâm canh, chuyên môn hoácông nghiệp của huyện nói chung được nâng lên rõ rệt. Trong thời đại này,máy móc là bộ phận vô cùng quan trọng của lực lượng sản xuất nông nghiệpSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  25. 25. 20và sự phát triển của máy móc (xét cả về số lượng và chất lượng) chính là sựphát triển của lực lượng phát triển sản xuất. Ba là: Kinh tế trang trại phát triển kéo theo sự phát triển của các mốiquan hệ giữa nông dân - nông dân trong việc hợp tác, hỗ trợ sản xuất, thuênhân công, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ giữa các khâu sản xuất -chế biến - tiêu thụ của quy trình sản xuất hàng hoá. Tiếp theo đó là mối quanhệ giữa các chủ trang trại và nhà cung cấp, cũng được nâng lên thông qua cácloại hình dịch vụ và chuyển giao kỹ thuật. 4.3.2. Phát triển kinh tế trang trại thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầngnông thôn. Rõ ràng là để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá của mình, các trang trạicần phải được đảm bảo bằng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại.Nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, các trang trại có thể kết hợpvới các địa phương, cùng các doanh nghiệp khác để giải quyết những vấn đềchung này (giao thông, điện, nước, thuỷ lợi, hệ thống tiêu thụ sản phẩm...),các công trình giao thông, kho tàng, bến bãi, các phương tiện vận tải được mởrộng và xây dựng mới để phục vụ cho sản xuất hàng hoá của các trang trại.Và vì không phải trang trại nào cũng có khả năng tự xây dựng hệ thống nàynên cần có những sự giúp đỡ của Nhà nước. Đi đôi với việc phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuấtlà hệ thống cơ sở phục vụ đời sống nhân dân, hệ thống trường học, trạm xá,chợ, các công trình văn hoá, thể thao... Một số thị tứ đã hình thành cùng vớisự phát triển kinh tế trang trại.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  26. 26. 21 Huyện Đại Từ đóng góp của kinh tế trang trại sẽ là góp phần xây dựngmới, tu sửa và mở rộng mạng lưới thuỷ lợi, hệ thống đường xá nối các khuvực nông thôn khác nhau, nhất là các xã xa trung tâm thị tứ. 4.3.3. Phát triển kinh tế trang trại khai thác hiệu quả các nguồn lực. Thực tế cho thấy trong các mô hình kinh tế các yếu tố nguồn lực thườngđược sử dụng hiệu quả hơn so với kinh tế hộ. Không còn mang tính chất tựsản tự tiêu, cơ chế thị trường buộc các "Doanh nghiệp trang trại" phải hạchtoán kinh doanh do đó vì lợi nhuận, các yếu tố đầu vào như đất đai, chi phímua giống, phân bón, trang thiết bị máy móc, thuê mướn nhân công... đềuđược tính toán sao cho đem lại tỷ suất lợi nhuận cao nhất. Rộng hơn, kinh tếtrang trại còn góp phần tích cực vào việc huy động tiền vốn đọng trong mộtbộ phận lớn nông dân lâu nay vào sản xuất nông nghiệp. 4.3.4. Phát triển kinh tế trang trại góp phần cải thiện môi trường. Đối với huyện Đại Từ, có 19 trang trại trồng rừng, các trang trại này đãgóp phần vào công cuộc xây dựng một nền nông nghiệp đa dạng, một nềnsinh thái bền vững. Tóm lại, mô hình kinh tế trang trại không chỉ là mô hình thích hợp vớisản xuất nông nghiệp huyện Đại Từ mà nó còn phù hợp với cơ chế thị trườngvà đem lại những lợi ích to lớn cả về kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, nhận thứcvề vai trò của nó chưa đủ để chúng ta xây dựng được hệ thống các giải pháphiệu quả, bởi vì ta còn phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinhtế trang trại nữa. 5. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại và tiêu chí xác địnhtrang trại:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  27. 27. 22 5.1. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại: Việc nghiên cứu những đặc trưng của kinh tế trang trại có ý nghĩa quantrọng trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn quản lý. Để xác định nhữngđặc trưng của kinh tế trang trại, cần xuất phát từ những điểm khác biệt mangtính bản chất của kinh tế trang trại so với các hình thức sản xuất nông nghiệptập trung khác và so với kinh tế nông hộ. Điều này đòi hỏi phải xuất phát từkhái niệm về kinh tế trang trại đã được trình bày ở trên. Với quan điểm nhưvậy, kinh tế trang trại mang những đặc trưng cơ bản sau đây: 5.1.1.Phát triển kinh tế trang trại gắn với sản xuất nông, lâm, thuỷ sảntheo hướng hàng hoá và theo nhu cầu thị trường. Kinh tế trang trại là hình thức kinh tế từng bước đưa nông dân từ hộnông nghiệp tự cấp tự túc lên các hộ nông nghiệp hàng hoá. Vai trò kháchquan mang tính lịch sử này của kinh tế trang trại gắn liền với tính hai mặt củahộ nông dân, với trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp và sự giao lưuhàng hoá giữa thành thị và nông thôn. Nông hộ vừa là gia đình- đơn vị trực tiếp tiêu dùng của xã hội, vừa là cơsở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp sản xuất ra những sản phẩm tối cần thiếtcho cuộc sống có thể tiêu dùng trực tiếp. Do vậy sản xuất trực tiếp tự túc làcái vốn có của kinh tế hộ nông dân. Các hộ nông dân muốn làm giầu phảithoát khỏi tình trạng sản xuất tự túc và từng bước chuyển sang sản xuất hànghoá theo phương thức trang trại. Như vậy các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung trong nền kinh tếthị trường mặc dù sản xuất ra khối lượng nông sản phẩm lớn hơn so với hìnhthức sản xuất phân tán, song mục đích chủ yếu vẫn là nhằm đáp ứng nhu cầutiêu dùng trực tiếp của những chủ nhân của chúng, còn kinh tế trang trại thìSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  28. 28. 23ngay từ khi ra đời đã mang tính hàng hoá và càng ngày tính chất và trình độsản xuất hàng hoá của nó càng được nâng lên. Các trang trại đều đi lên từ kinh tế hộ nông dân khi kinh tế hộ phá vỡ vỏbọc tự cấp, tự cung vốn có. Như quá trình hình thành và phát triển kinh tếtrang trại gia đình là quá trình nâng cao hay mở rộng tính chất và trình độ sảnxuất hàng hoá của trang trại đồng thời cũng là quá trình thu hẹp tính chất sảnxuất trực tiếp tự cấp, tự túc vốn có của kinh tế hộ nông dân. Đặc trưng về mục đích sản xuất hàng hoá là đặc trưng quan trọng nhấtcủa kinh tế trang trại, bởi vì mục đích sản xuất hàng hoá chi phối và ảnhhưởng lớn, thậm chí quyết định tới các đặc trưng khác cuả kinh tế trang trại. Quy mô của trang trại lớn gấp nhiều lần quy mô của hộ gia đình hay kiểutiểu nông. Nó được đánh giá bằng diện tích đất đai sử dụng, hay bằng giá trịsản lượng làm ra trong một năm hoặc đo bằng tỷ suất hàng hoá của trang trại. 5.1.2. Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyềnsử dụng của một người chủ độc lập. Trong các trang trại mà tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu của chủtrang trại trong trường hợp đi thuê hoặc được giao quyền sử dụng thì tư liệusản xuất đều thuộc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Người chủ độc lập ở đây không phải là người chủ biệt lập, tách rời khỏicác quan hệ liên kết và hợp tác với các chủ thể kinh tế khác. Người chủ độclập ở đây là người hoàn toàn có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinhdoanh. Tuy nhiên như đã trình bày ở trên, tư liệu sản xuất trong trang trạithuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập cũng cónghĩa là những hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp dựaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  29. 29. 24trên sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể (nông, lâm trường quốc doanh, hợptác xã nông nghiệp...) thì không thuộc khái niệm trang trại. 5.1.3. Quá trình tích tụ ruộng đất và vốn đầu tư được tập trung tới quymô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá. Trong nông nghiệp cũng như trong ngành sản xuất vật chất khác, sảnxuất hàng hoá chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tậptrung tới quy mô nào đó. Do đó ở các trang trại, sản xuất hàng hoá chỉ có thểđược thực hiện khi ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất... được tập trung tớiquy mô cần thiết (đủ lớn). Đặc trưng này được quy định bởi chính đặc trưngvề mục đích sản xuất của trang trại. ở các trang trại tư nhân, quy mô tập trungcác yếu tố sản xuất lớn hơn hẳn so với các trang trại gia đình, còn các trangtrại gia đình mặc dù có quy mô lớn hơn nhiều so với kinh tế họ tự cấp, tự túc,song nói chung vẫn nằm trong khuôn khổ gia đình, chịu sự giới hạn nhất địnhcủa các yếu tố sản xuất nội lực. Do vậy, sự tập trung các yếu tố sản xuất(ruộng đất, tiền vốn, tư liệu sản xuất, lao động...) ở đây dù theo yêu cầu sảnxuất hàng hoá song cũng có những giới hạn nhất định. Đặc trưng về sự tập trung các yếu tố sản xuất của kinh tế trang trại có thểbiểu thị về mặt lượng bằng những chỉ tiêu chủ yếu sau: - Quy mô diện tích ruộng đất của trang trại (nếu là trang trại chăn nuôithì là số lượng gia súc, gia cầm...) - Quy mô vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh của trang trại. 5.1.4. Tổ chức và quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ dựa trên sựchuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng TBKHKT, thực hiện hoạchtoán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  30. 30. 25 - Về trình độ chuyên môn hoá sản xuất trong các trang trại: Chuyên mônhoá sản xuất của trang trại là quá trình gắn liền với việc chuyển phươnghướng sản xuất của trang trại từ sản xuất đa dạng, đa canh kết hợp trồng trọtvới chăn nuôi sang sản xuất chuyên canh, tập trung vào một vài nông sảnhàng hoá có lợi thế so sánh và khả năng sinh lời cao. Để phản ánh trình độ chuyên môn hoá, có thể sử dụng chỉ tiêu: Cơ cấugiá trị sản lượng của trang trại; Cơ cấu giá trị sản lượng hàng hoá của trangtrại. - Trình độ thâm canh trong các trang trại cũng được nâng dần từ thâmcanh truyền thống sang thâm canh kết hợp truyền thống với hiện đại rồi thâmcanh hiện đại. Những chỉ tiêu chủ yếu có thể sử dụng để biểu hiện trình độthâm canh là: Vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích; Vốn đầu tư cho nhữngcông nghệ sản xuất tiến bộ trên một đơn vị diện tích; Năng suất cây trồng vậtnuôi. - Về cách thức điều hành sản xuất: Lúc đầu sản xuất hàng hoá còn ít vàgiản đơn với mục đích là tối đa hoá lợi ích và tăng thêm thu nhập cho gia đìnhthì chủ trang trại vẫn điều hành sản xuất theo kiểu gia trưởng, song đã bắt đầuđi vào bố trí, tổ chức sản xuất, ghi chép thu chi và hoạch toán đơn giản. Khisản xuất hàng hoá là hướng chính, các phạm trù lợi nhuận, giá cả và cạnhtranh ngày càng lôi cuốn trang trại đi vào kinh doanh nhằm đạt lợi nhuậnnhiều hơn thì cách quản lý theo kiểu gia trưởng không còn thích hợp nữa. Sảnxuất đòi hỏi phải có phương án hợp lý lựa chọn cây trồng, vật nuôi, quy hoạchruộng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng, áp dụng công nghệ và quy trình thâmcanh... Do vậy quản lý và điều hành sản xuất ở đây được tiến hành trên cơ sởnhững kiến thức cần thiết về nông học, sinh học và phương pháp điều hànhsản xuất.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  31. 31. 26 Về hoạt động tài chính và hoạch toán của trang trại: Hoạt động tài chínhvà hoạch toán của trang trại dần dần thay đổi. Lúc đầu khi mới đi vào sản xuấthàng hoá, chủ trang trại thường ghi nhớ trong đầu hoặc có ghi chép, hoạchtoán đơn giản lượng thu, lượng chi và phần thu nhập dôi ra đối với vài câytrồng, vật nuôi chủ yếu. Khi sản xuất hàng hoá đã trở thành hướng chính, cáctrang trại thường thực hiện hoạch toán giá thành và lợi nhuận đối với từngcây, con hàng hoá. Đến khi trang trại kinh doanh gần như một doanh nghiệpthì hoạt động tài chính đi vào chiều sâu, bao gồm các nội dung: Kế hoạch tàichính, hoạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh...Hoạt động tàichính và hoạch toán của trang trại ngày càng có vai trò quan trọng, đồng thờicũng ngày càng phức tạp đòi hỏi phải có kiến thức và nghiệp vụ kế toán,hoạch toán nhất định. - Về tiếp cận thị trường: Thái độ và hành động đối với thị trường củatrang trại cũng từng bước được thay đổi theo hướng ngày càng tiếp cận và gắnkết với thị trường. Lúc đầu trang trại chưa quan tâm nhiều đến thị trường mặc dù đã sảnxuất theo hướng hàng hoá song tỷ trọng sản phẩm tự cung, tự cấp còn khácao. Nhưng khi trình độ sản xuất hàng hoá đã nâng lên thì các trang trạithường xuyên quan tâm đến thị trường và tìm kiếm thị trường. Đến khi giaiđoạn coi kinh doanh là lẽ sống của mình thì thị trường là khâu kết thúc, quyếtđịnh chu kỳ kinh doanh thì trang trại thường xây dựng và thực hiện linh hoạtchiến lược kinh doanh nhằm đứng vững và phát triển trong cạnh tranh. Mức độ liên hệ và gắn kết với thị trường có thể xem xét thông qua chỉtiêu tỷ trọng chi phí trung gian trong tổng chi phí sản xuất của trang trại.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  32. 32. 27 5.1.5. Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, cókiến thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinhdoanh. Người chủ trang trại là người có những tố chất cần thiết để tổ chức vàquản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại. Những tố chất cần thiếtvà chủ yếu của chủ trang trại là: Có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông;Có năng lực tổ chức quản lý; Có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nôngnghiệp, đồng thời có hiểu biết nhất định về hoạch toán, phân tích kinh doanh,tiếp cận thị trường... Những tố chất của người chủ trang trại nêu trên, về cơ bản không có ởngười chủ nông hộ sản xuất tự cấp, tự túc. Tuy nhiên, những tố chất ngày nóichung không phải hoàn toàn được hội đủ ngay khi trang trại mới hình thànhmà phần lớn các chủ trang trại, sự hội tụ các tố chất cần thiết cũng trải quamột quá trình nhất định. Mức độ hoàn thiện của các tố chất cũng gắn liền vớicác giai đoạn phát triển của trang trại. 5.1.6. Phát triển kinh tế trang trại giải quyết việc làm cho người laođộng: Thông thường các trang trại trong nông, lâm, ngư nghiệp đều có quy môsản xuất lớn hơn hẳn so với quy mô sản xuất của hộ nông dân. Ngay trong cáctrang trại gia đình quy mô sản xuất cũng thường lớn hơn khoảng 3 lần so vớiquy mô sản xuất bình quân của một hộ nông dân trong vùng. Điều này dẫnđến nhu cầu về lao động trong các trang trại đều vượt quá khả năng nguồn laođộng gia đình và do đó các trang trại đều có thuê mướn lao động.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  33. 33. 28 Quy mô thuê mướn lao động của trang trại trong các loại hình khác nhauvà phụ thuộc chủ yếu vào các loại hình trang trại và quy mô sản xuất của cáctrang trại. Có hai hình thức thuê mướn lao động trong các trang trại đó là: Thuê laođộng thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ. Trong hình thức thuê laođộng thường xuyên, trang trại thuê người lao động làm việc ổn định quanhnăm, còn trong hình thức thuê lao động theo thời vụ, trang trại chỉ thuê ngườilao động làm việc theo thời vụ sản xuất. Thông thường các trang trại tư nhân có quy mô sản xuất lớn thì thuê cảlao động thường xuyên và lao động thời vụ, trong đó lao động thường xuyênlà chủ yếu. Các trang trại tiểu nông thuê cả hai loại lao động, nhưng lao độngthời vụ là chủ yếu, còn trang trại gia đình do quy mô sản xuất nhỏ hơn cácloại hình trang trại trên nên thường là lao động thời vụ. 5.2. Tiêu chí xác định trang trại: Không phải Nhà nước bỏ qua hình thức tổ chức sản xuất này, nhưng vìđến trước những năm 2000, do chưa có một sự thống nhất về khái niệm cũngnhư tiêu chí xác định trang trại nên mang đầy đủ đặc điểm của một đơn vị sảnxuất kinh doanh nhưng chủ trang trại vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việcxin hưởng các chế độ hỗ trợ của Nhà nước. Thông thường các nhà thống kêvẫn sử dụng những chỉ tiêu định tính hoặc chỉ tiêu định lượng mà tính địnhlượng không cao và các chỉ tiêu này không được thống nhất trong cả nước. * Tiêu chí định tính Có thể dùng tiêu chí này để nhận dạng thế nào là một trang trại, đó là cácđặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  34. 34. 29 - Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông lâm, thuỷ sản hànghoá với quy mô lớn. - Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sảnxuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy môsản xuất như: Đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sảnhàng hoá. - Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất,biết áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mớivào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuấthiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ. * Tiêu chí định lượng: Dùng để phân biệt rõ ràng trang trại, không phải trang trại và để phânloại các trang trại khác nhau. Ngày 23/6/2000 Liên Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, Tổng cục thống kê đã ra Thông tư số 69/2000/TTLT/BNN-TCT; Sau đó ngày 4/7/2003 Bộ Nông nghiệp và PTNT ra Thông tư số74/TT-BNN về việc sửa đổi bổ sung mục III của thông tư liên tịch số69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 hướng dẫn xác định tiêu chí kinhtế trang trại5; Cụ thể như sau: * Các đối tượng và ngành sản xuất được xem xét để xác định là kinh tếtrang trại Hộ nông dân, hộ công nhân viên Nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉhưu, các loại đô thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm nông nghiệp, lâm5 Thông tư số 74/TT-BNN về v iệc sửa đổi bổ sung mục III của thông tư liên t ịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/ 2000Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  35. 35. 30nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêmnhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn. * Tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại - Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đượcxác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hànghoá bình quân 1 năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội sovới kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. - Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hànghoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác địnhtrang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm. * Tiêu trí xác định kinh tế trang trại: Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đượcxác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí định lượng sau đây: 1. Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm phải đạt từ 40triệu đồng trở lên/trang trại. 2. Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nônghộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. Quy mô sản xuất của trang trại được xác định như sau: STT Loại hình trang trại Quy mô I Đối với trang trại trồng trọt Quy mô diện tích 1 Cây hàng năm > 2 ha 2 Cây lâu năm (Chè, cây ăn qủa…) >3 haSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  36. 36. 31 3 Lâm nghiệp > 10 ha II Đối với trang trại chăn nuôi Chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò… 1 - Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa - Có thường xuyên > 10 con - Chăn nuôi lấy thịt - Có thường xuyên > 50 con Chăn nuôi gia súc: Dê, lợn… - Chăn nuôi sinh sản 2 + Lợn > 20 con + Dê > 50 con Chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt, ngan… > 2000 con (không kể số đầu 3 con dưới 7 ngày tuổi) Chăn nuôi thuỷ sản > 2 ha III - Đối với chăn nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp > 1ha Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như: Trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, IV giống thuỷ sản, thuỷ đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá bình quân một năm đạt từ 40 triệu đồng trở lên 5.3. Phân loại kinh tế trang trại Phân loại theo Phân loại theo chủ Phân loại theo loại hình sản xuất quy mô thể kinh doanhNhỏ: < 2 ha - Trồng trọt Trang trại gia đìnhVừa: 2-5 ha + Trồng rừng Trang trại tiểu thủKhá lớn: 5-10 ha + Trồng cây ăn quả Trang trang tư nhân kinh doanh nôngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  37. 37. 32 nghiệp.Lớn: > 10 ha + Trồng cây lâu năm + Trồng cây lương thực, thực phẩm + Kinh doanh đặc thù - Chăn nuôi: - Thuỷ sản - Trang trại kinh doanh tổng hợp II- Cơ sở thực tiễn: 1. Kinh nghiệm phát triển trang trại của các nƣớc trên thế giới: Tại nước Mỹ và các nước Tây Âu kinh tế trang trại đã xuất hiện từnhững năm 1950, tuy nhiên ngày càng số lượng trang trại ngày càng ít đi, tạiMỹ năm 1950 có 5.648.000 trang trại đến năm 1992 còn 1.920.000 trang trại,diện tích trang trại bình quân của các trang trại ngày càng tăng, tại Mỹ diệntích bình quân năm 1950 là 86 ha, đến năm 1992 là 198,7 ha 6. Tại Anh năm1950 diện tích bình quân trang trại là 36 ha, đến năm 1987 là 71 ha 7. Tại cácnước Châu á kinh tế trang trại chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, dân sốnên có những đặc điểm khác với trang trại ở các nước Châu Âu về quy mô vàsố lượng trang trại. Tại các nước Châu á do đất canh tác trên đầu người vàoloại thấp trên thế giới như Đài Loan: 0,47 ha; Malaixia: 0,25 ha; Hàn Quốc:6 A.A Connugin: Kinh tế nông trại M ỹ, Tr ường Đại Học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh7 Nguyễn Điền. Kinh tế trang trại trại t rên thế giới và ở Châu ÁSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  38. 38. 330,53ha…, trong khi đó ở các quốc gia Châu á đều có dân số đông nên có ảnhhưởng đến quy mô trang trại. Chính vì vậy ở các nước Châu Á nói chung, hiện tượng tích tụ ruộng đấtdiễn ra chậm nên tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất cũng là một trongtrở ngại trong vấn đề phát triển kinh tế trang trại. Đối với các nước Châu Âu, nước Mỹ thì trang trại bao gồm: Trang trạigia đình; trang trại liên doanh, trang trại liên doanh cổ phần và trang trại uỷthác cho người nhà, bạn bè quản lý, sản xuất. Trong đó trang trại gia đình làloại hình trang trại mà mỗi gia đình có tư cách pháp nhân riêng do người chủhộ hay một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý, ởnhiều nước phát triển, những chủ trang trại muốn được nhà nước công nhậnthì trình độ quản lý và tư cách pháp nhân phải tốt nghiệp các trường kỹ thuậtvà quản lý nông nghiệp, đồng thời có kinh nghiệm qua thực tập lao động sảnxuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác. Các chủ trang trại họ đều lànhững chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, có trình độ học vấn, họ thườngxuyên liên hệ đối với các cơ quan khoa học để thu thập thông tin kinh tế kỹthuật, tham gia hội thảo khoa học. Đây là loại hình trang trại phổ biến còn cácloại hình trang trại liên doanh, trang trại liên doanh cổ phần thì đây là loạihình trang trại có quy mô lớn, được chuyên môn hoá sản xuất, sử dụng laođộng làm thuê là chủ yếu. Ở Mỹ và các nước Châu Âu thì nguồn vốn và laođộng của họ có những thuận lợi hơn so với các nước Châu Á, các trang trạiđược mua chịu tư liệu sản xuất, được hỗ trợ vay vốn với lãi xuất thấp để muatư liệu sản xuất. Về lao động và kỹ thuật, các trang trại ở Châu Âu và cácnước phát triển tăng cường sử dụng máy móc hiện đại và mức độ cơ giới ngàycàng từng bước tiến tới tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá trong sản xuất,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  39. 39. 34trong các trang trại số lượng lao động trong nông nghiệp của gia đình cũngnhư lao động làm thuê ngày càng giảm dần. 2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở trong nƣớc: Ở nước ta các hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung với tên gọi khácnhau (Trại, ấp, thái ấp, đồn điền, điền trang…) đã xuất hiện ở Việt Nam từnhững năm đầu công nguyên và phát triển khá mạnh mẽ trong thời kỳ phongkiến đặc biệt là thời kỳ Lý-Trần và thời kỳ nhà Nguyễn. Bắt đầu từ nhữngnăm 1990 đến nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện những chủtrương, biện pháp nhất quán theo hướng tạo điều kiện cho kinh tế trang trại rađời và phát triển. Qua các kỳ đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, Đảng ta đãthừa nhận sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, khảng định chính sáchkhuyến khích tiểu thủ và kinh tế tư bản tư nhân. Điều đó đã tạo nên bối cảnhra đời và phát triển của kinh tế trang trại. Bằng các chủ trương, biện phápthích hợp chúng ta đã khuyến khích kinh tế trang trại phát triển như: Trướchết là sự thay đổi về các mối quan hệ kinh tế liên quan đến quyền sử dụng đấtđai, b 8ởi vì đất đai là yếu tố đầu vào quan trọng nhất trong sản xuất nôngnghiệp. Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vậnđộng theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa, đất đai thuộc quyền sử hữu của ngừơi dân, không mua bán,đồng thời chủ trương giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân là bướcđột phá đầu tiên thúc đẩy hộ và kinh tế trang trại phát triển. Bước đi đầu tiênlà việc khoán sản phẩm theo nhóm và người lao động trong các hợp tác xãnông nghiệp theo tinh thần Chỉ thị 100/CT-TW của Ban bí thư Trung ươngngày 31-1-1981 đã từng bước khôi phục lại quyền tự chủ đối với sản xuất chohộ gia đình trong việc sử dụng đất và lao động của bản thân họ. Bước tiếp8 Phát triển kinh tế hợp tác và kinh tế trang trại gia đ ình ở Việt NamSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  40. 40. 35theo, thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn đồng thời cóchính sách khuyến khích kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân trongnông, lâm, ngư nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ chính trị và Nghịquyết Hội nghị lần 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VI tháng 3/1989.Đến năm 1988 đã thể chế chủ trương của Đảng về khuyến khích các hộ, cáthể, tư nhân trong ngành nông, lâm ngư nghiệp đã tạo tiền đề cho sự phát triểnkinh tế trang trại phát triển: Nhà nước thừa nhận sự tồn tại và phát triển củakinh tế hộ, cá thể, tư nhân; Nhà nước tạo điều kiện về môi trường thuận lợicho kinh tế cá thể, tư nhân, thừa nhận tư cách pháp nhân; Nhà nước bảo hộ vềquyền tài sản và thu nhập hợp pháp; vốn….việc liên tục hoàn thiện cơ chế,chính sách của nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại pháttriển. Hiện nay chưa có số liệu công bố chính thức nhưng theo báo cáo của BộNông nghiệp và PTNT thì cả nước có khoảng 113.000 trang trại, chủ yếu làcác trang trại gia đình. Qua khảo sát tình hình phát triển kinh tế trang trại của các tỉnh phía Bắc,có những đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội gần gũi với nước ta, chúng ta cóthể rút ra những nhận xét, kinh nghiệm thực tế, bổ ích để tham khảo và vậndụng có chọn lọc vào điều kiện cụ thể của huyện Đại Từ tỉnhThái Nguyên. Từ khi bắt đầu công nghiệp hoá, kinh tế trang trại ở các tỉnh phía Bắc đãhình thành và phát triển và đến khi đạt trình độ công nghiệp hoá cao, kinh tếtrang trại vẫn tồn tại và đóng vai trò của lực lượng trong nền công nghiệp sảnxuất nông sản hàng hoá. Thực tế đã chứng minh kinh tế trang trại là loại hìnhtổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, là lựclượng xung kích sản xuất nông sản hàng hoá. 3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở Thái Nguyên.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  41. 41. 36 Tỉnh Thái Nguyên là tỉnh có nhiều đất đai rộng lớn với nhiều loại địahình và vùng khí hậu khác nhau: Đồng bằng, Trung du, miền núi, vùng cao.Thực tế cho thấy mô hình kinh tế trang trại ở Thái Nguyên trong những nămqua sản xuất có hiệu quả. Các trang trại của tỉnh Thái Nguyên có quy mô nhỏ,phổ biến quy mô bình quân trên dưới 1ha. Nhưng các trang trại của tỉnh TháiNguyên vẫn còn những tính chất cơ bản của kinh tế, như đảm bảo tỷ suấthàng hoá cao, khối lượng nông sản nhiều (khi các trang trại sản xuất chuyênmôn hoá từng mặt hàng ở vùng tập trung), vẫn thường xuyên được nâng caotrình độ khoa học công nghệ nông nghiệp. Kinh tế trang trại ở Thái Nguyênchủ yếu vẫn sản xuất theo phương thức gia đình. Trong những năm kinh tếtrang trại ở tỉnh Thái Nguyên phát triển ở tất cả các vùng kinh tế: Đồi núi,đồng bằng, hàng năm tỉnh Thái Nguyên đã dành một nguồn kinh phí khôngnhỏ để phát triển kinh tế trang trại, tạo cơ chế, chính sách về vốn, đất đai vàcác điều kiện khác để thúc đẩy trang trại phát triển, đến nay toàn tỉnh TháiNguyên có 381 trang trại, chủ yếu là các trang trại gia đình. Để phát triểntrang trại trong năm qua tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện một số giải pháp như:Quy hoạch xác định các khu vực phát triển kinh tế trang trại tập trung nhằmhình thành vùng sản xuất tập trung, đáp ứng nhu cầu thị trường. Định hướngphát triển cây trồng, vật nuôi chính , phát huy thế mạnh của từng vùng, đầu tưvốn, khoa học kỹ thuật… phù hợp với điều kiện của từng huyện. Giải quyếtcác vấn đề chuyển dịch đất đai tạo điều kiện cho các gia đình có quy mô đấtđai lớn để tập trung sản xuất. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với kếhoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, tạo mối liên doanh, liên kếtvới kinh tế hợp tác xã và kinh tế nhà nước 9. 4. Bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế trang trại ở huyện Đại Từ.9 Kết quả thực hiện Đề án phát triển kinh tế trang trại ở Thái NguyênSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  42. 42. 37 - Trước hết cần xoá bỏ ngay quan niệm về kinh tế trang trại là phải sảnxuất trên những diện tích đất đai rộng lớn nhất. Chúng ta nên nhận định trangtrại từ tính chất sản xuất hàng hoá của nó. - Phải nhanh chóng nâng cao trình độ cơ giới hoá trong các trang trại đểsản xuất không bị lạc hậu. - Trong giai đoạn đầu, cơ cấu sản xuất của các trang trại còn hỗn tạp đểtận dụng mọi năng lực sản xuất hiện có, nhưng sau dần chuyển sang cơ cấumang tính chuyên canh và một loại nông, lâm, đặc sản nhất định. - Mô hình trang trại gia đình đang và sẽ là loại hình trang trại phổ biếnvà thích hợp. Nó bao gồm trang trại gia đình tiểu chủ vừa sử dụng lao độnggia đình vừa thuê thêm lao động thời vụ và thường xuyên với số lượng khácnhau, được Nhà nước chủ trương khuyến khích. Chính loại lao động tiểu chủlà lực lượng lao động có nhiều tiềm năng sản xuất nông sản hàng hoá hiệnnay. Mô hình này có nhiều ưu điểm nổi bật: + Có khả năng dung nạp những trình độ sản xuất nông nghiệp khác nhau + Có khả năng dung nạp các quy mô sản xuất khác nhau + Có khả năng dung nạp các cấp độ công nghệ khác nhau + Có khả năng liên kết các loại hình kinh tế khác nhau: Kinh tế gia đình,kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác, kinh tế Nhà nước. Các chính sách phát triển kinh tế trang trại của Nhà nước sẽ phải tạo điềukiện thuận lợi để các hộ gia đình nông dân có thể sản xuất theo mô hình này. - Xuất phát từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện, từ yêu cầuđặt ra của công nghiệp hoá, chúng ta có thể vận dụng một cách sáng tạoSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  43. 43. 38những bài học của các tỉnh bạn, phát triển trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm,cây lâu năm... ở những nơi có điều kiện xuất khẩu, trang trại trồng cây concần ít đất, trồng hoa, cây cảnh, làm nấm, nuôi cá cảnh, rắn, ba ba, nhím... cóthể đạt hiệu quả kinh tế cao. - Về vấn đề phân hoá thu nhập: Có nhiều ý kiến cho rằng kinh tế trangtrại là "Lối làm ăn của người giàu", bởi những nông dân nghèo thì khó mà cóđủ vốn để làm trang trại, đồng thời cho rằng không nên khuyến khích loạihình trang trại tư bản tư nhân vì nó có thể dẫn đến sự tư bản hoá sản xuấtnông nghiệp. Đúng là nhờ kinh tế trang trại, một bộ phận dân cư đã có mứcthu nhập cao hơn hẳn và cũng làm phân hoá giàu nghèo, nhưng thực tế là nókhông làm cho những người nghèo nghèo đi và cũng không làm tăng số ngườinghèo, trái lại còn giải quyết việc làm cho một phần đáng kể lực lượng laođộng nữa. Hơn thế, nông nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nói riêng vànước Việt Nam nói chung còn quá lạc hậu, thu nhập của người nông dân ViệtNam thấp so với thu nhập của nông dân các nước trong khu vực và trên thếgiới, vì thế để đuổi kịp họ về trình độ sản xuất, về mức sống dân cư, về khảnăng cạnh tranh của nông sản, thì kinh tế trang trại là sự lựa chọn số một, sựlựa chọn đúng đắn và hiệu quả. B. Phƣơng pháp nghiên cứu: I. Các vấn đề mà đề tài cần giải quyết: Để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Đại Từ theo đúng địnhhướng, phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của trang trại trong nền kinh tế thịtrường thì các vấn đề mà đề tài cần tập trung giải quyết đó là: - Trong những năm qua kinh tế trang trại ở Đại Từ đã phát triển như thế nào?Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  44. 44. 39 - Yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại của huyện ĐạiTừ. - Hiệu quả kinh tế của các trang trại như thế nào? - Giải pháp nào thúc đẩy sự phát triển kinh tế trang trại ở Đại Từ? II. Các phƣơng pháp nghiên cứu: 1. Phương pháp thu thập số liệu: - Thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thống kê qua Niên giám thống kêhàng năm của huyện. + Các thông tin, tài liệu có liên quan đến các vấn đề trang trại, kinh tếtrang trại, hiệu quả kinh tế trang trại trên thế giới và Việt Nam thu thập quabáo chí, tạp chí, mạng Internet. + Các báo cáo Nghị Quyết, số liệu cơ bản tình hình kinh tế xã hội củatỉnh, huyện, xã nghiên cứu thu thập tại Phòng Nông nghiệp và PTNT, PhòngThống kê huyện Đại Từ. + Các đề án, báo cáo tổng kết hàng năm về hoạt động của trang trại trênđịa bàn huyện Đại Từ. - Thu thập tài liệu sơ cấp: Bằng cách điều tra qua bảng được soạn sẵnđính kèm với báo cáo. 2. Công cụ xử lý số liệu: Thông tin và số liệu sau khi thu thập sẽ được tính toán theo mục đích củađề tài trên chương trình tính toán Exel.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  45. 45. 40 3. Phương pháp phân tích số liệu: - Phương pháp thống kê mô tả: Được dùng tính, đánh giá các kết quảnghiên cứu. - Phương pháp phân tổ, thống kê, phân thành các tổ để đánh giá. - Phương pháp so sánh: Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu số tươngđối, chỉ rõ nguyên nhân biến động của hiện tượng. - Phương pháp dự báo. III. Hệ thống chỉ tiêu phân tích: * Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất của trang trại: - Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong năm. - Tổng giá trị sản xuất. - Tổng chi phí sản xuất. - Thu nhập bình quân 1 năm của trang trại. - Tỷ suất sản phẩm hàng hoá bằng giá trị sản phẩm hàng hoá/ tổng giá trị sảnxuất. * Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại: - Tổng giá trị sản xuất/1 đơn vị diện tích: - Tổng giá trị sản xuất/1 lao động. - Tổng thu nhập/1 đơn vị diện tích:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  46. 46. 41 - Tổng thu nhập/1 lao động. - Giá trị sản xuất/ 1 trang trại bình quân. - Số lượng lao động thuê ngoài/lao động. Trong đó: + Giá trị sản xuất là giá trị toàn bộ sản phẩm thu được trong một đơn vị,trong một năm hay một chu kỳ. + Thu nhập của các trang trại là phần thu nhập thuần tuý của người sảnxuất, gồm cả công lao động trang trại và lợi nhuận mà trang trại có thể nhậnđược trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh. + Tổng giá trị sản xuất/1 đơn vị diện tích, tổng giá trị sản xuất/1 lao độnglà giá trị sản xuất được tạo ra bởi một công lao động, một đơn vị diện tích. + Tổng thu nhập/1 đơn vị diện tích, tổng thu nhập/1 lao động là thu nhậptính trên một công lao động, một đơn vị diện tích. * Hiệu quả môi trường: - Diện tích rừng đã trồng/ trang trại. - Số trang trại có hệ thống xử lý phân thải. - Diện tích cây ăn quả trồng mới/ trang trại.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

×