• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Luan van thac si kinh te (18)
 

Luan van thac si kinh te (18)

on

  • 462 views

 

Statistics

Views

Total Views
462
Views on SlideShare
459
Embed Views
3

Actions

Likes
0
Downloads
0
Comments
0

1 Embed 3

http://luanvan.forumvi.com 3

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Luan van thac si kinh te (18) Luan van thac si kinh te (18) Document Transcript

    • ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH HỨA ĐÌNH HÒA ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC TIẾP CẬNNGUỒN NƢỚC ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ THÁI NGUYÊN, NĂM 2008
    • 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH HỨA ĐÌNH HÒA ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC TIẾP CẬN NGUỒN NƢỚC ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Mã số: 60.31.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Chí Thiện THÁI NGUYÊN, NĂM 2008Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 2 LỜI CẢM ƠN Luận văn đuợc hoàn thành là quá trình học tập nghiên cứu và tích luỹkinh nghiệm của tác giả. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn đốivới các lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh TháiNguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đối với lãnh đạo Khoa Đào tạo Sauđại học - Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên Để có được kết quả này, tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâusắc đến TS. Trần Chí Thiện - người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi làm đề tài. Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo,các bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn nhất Luận văn hoàn thành, không thể không nhắc tới sự giúp đỡ của các cánbộ UBND xã Tân Lập, nơi tôi thực hiện luận văn này. Đã luôn tạo điều kiệnrất thuận lợi cho tôi trong việc thu thập số liệu, nghiên cứu địa bàn. Cuối cùng thôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thành viên trong gia đìnhtôi, những người đã tạo điều kiện cho tôi cả về vật chất lẫn tinh thần, để tôihoàn thành kháo học cũng như luận văn này. Tôi cũng xin cảm ơn nhóm sinhviên đã cùng tôi đi nghiên cứu địa bàn và thu thập số liệu. Một lần nữa tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của mọi người. Thái nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả luận văn Hứa Đình HoàSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi sốliệu sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn. Các số liệu sơ cấp là kết quảđiều tra, đánh giá của tôi, và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trìnhnghiên cứu nào khác. Thái nguyên, ngày tháng năm 2008 Tác giả luận văn Hứa Đình HoàSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 4 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮTTT Nội dung Ký hiệu, viết tắt1 Khoa học và Công nghệ KH&CN2 Tài nguyên nước TNN3 Lưu vực sông LVS4 Uỷ ban nhân dân UBND5 Tài nguyên và Môi trường TN&MT6 Phát triển nông thôn PTNT7 Xây dựng cơ bản XDCB8 Phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn PCLB&TKCN9 Vệ sinh môi trường nông thôn VSMTNN10 Khoa học thuỷ lợi KHTL11 Kinh tế xã hội KTXH12 Hội nước quốc tế IWRASố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 5 MỤC LỤCPHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 11. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 12. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 32.1. Mục tiêu chung ........................................................................................... 32.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................... 33. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 33.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 33.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................................................... 34. Đóng góp mới của luận văn .......................................................................... 45. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 4Chƣơng I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................. 51.1. Cơ cở khoa học của đề tài .......................................................................... 51.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ........................................................................... 51.1.1.1. Tình hình tài nguyên nước của Việt Nam ............................................ 51.1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước ....................... 81.1.1.3. Vai trò của nước và khả năng tiếp cận nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp ........................................................................... 141.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài ...................................................................... 151.1.2.1. Đánh giá nguồn nước tại một số tỉnh khó khăn miền núi phía Bắc ....... 151.1.2.2. Tình hình nguồn nước của tỉnh Bắc Kạn ........................................... 181.1.2.3. Tình hình phát triển của hệ thống thuỷ lợi ở tỉnh Bắc Kạn ................... 221.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài ......................................................... 251.2.1. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................... 251.2.2. Cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu ........................................... 261.2.3.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể ...................................................... 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 1.2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin ......................................................... 261.2.3.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu ................................................. 261.2.3.3. Phương pháp phân tích số liệu ........................................................... 271.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ................................................................ 281.2.4.1. Chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận nguồn nước của hộ .................. 281.2.4.2. Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và chi phí của hộ ........................ 291.2.4.3. Một số chỉ tiêu bình quân ................................................................... 29Chƣơng II: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TẠI XÃ TÂN LẬP, CHỢ ĐỒN, BẮC KẠN ................................................................... 302.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn ............... 302.1.1. Điều kiện tự nhiên xã Tân Lập .............................................................. 302.1.1.1. Vị trí Địa lý ........................................................................................ 302.1.1.2. Đặc điểm địa hình huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập............................ 302.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết của xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn .......... 312.1.1.4. Đặc điểm thuỷ văn của xã .................................................................. 322.1.1.5. Đặc điểm tài nguyên đất đai của xã ................................................... 332.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản của xã ........................................................... 352.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội của xã ............................................................. 362.1.2.1. Tình hình dân số và lao động ............................................................. 372.1.2.2. Cơ sở hạ tầng của xã .......................................................................... 372.1.2.3. Đánh giá những tác động của điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội phát triển nông nghiệp và hạ tầng thuỷ lợi của địa phương ........... 412.1.2.4. Đặc điểm của nhóm hộ điều tra. ........................................................ 422.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp và tiếp cận nguồn nước của người dân xã Tân Lập ...................................................................................... 452.2.1. Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra ................................................ 45
    • 2.2.2. Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ ................................ 502.2.2.1 Kết quả sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra .......................... 502.2.3. Phân tích tình hình sản xuất lúa của hộ ................................................. 572.3. Phân tích quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất của hộ ............. 612.3.1. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất lương thực của các hộ nông dân xã Tân Lập ................................................................. 612.3.2. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước với cơ cấu thu nhập của hộ .... 622.3.3. Phân tích ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ ........................................................................................... 652.3.4. Kết luận về tình hình thu nhập và ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ .......................................................... 69Chƣơng III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN NƢỚC VÀ TĂNG THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN ....................... 713.1. Các giải pháp chung sử dụng nguồn nước ............................................... 713.1.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước phục vụ SXNN ................ 713.1.2. Tình hình thuỷ lợi và một số giải pháp thuỷ lợi cho các tỉnh miền núi phía Bắc .......................................................................................... 723.2. Giải pháp của Nhà nước ........................................................................... 783.3. Giải pháp sử dụng nguồn nước cho xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn ..... 823.3.1. Giải pháp của UBND xã Tân Lập ......................................................... 823.3.2. Giải pháp cho khu vực có điều kiện trung bình về nguồn nước ........... 863.3.3. Giải pháp cho khu vực không thuận lợi trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn nước.................................................................................. 863.3.4. Giải pháp của các nhóm hộ nông dân xã Tân Lập ................................ 87KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 88PHỤ LỤC ....................................................................................................... 92
    • DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂUBảng 2.1: Tình lượng mưa, độ ẩm của huyện năm năm 2007 ........................ 31Bảng 2.2: Tổng diện tích đất tự nhiên xã Tân Lập năm 2007 ........................ 34Bảng 2.3: Thống kê các công trình thuỷ lợi .................................................... 38Bảng 2.4: Tình hình nguồn nước xã Tân Lập năm 2007 ................................ 40Bảng 2.5: Những đặc trưng của nhóm hộ điều tra .......................................... 42Bảng 2.6: Thông tin chung về chủ hộ điều tra ................................................ 45Bảng 2.7: Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ........................................ 45Bảng 2.8: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra .......................................... 47Bảng 2.9: Tình hình tài sản phục vụ sản xuất của hộ ..................................... 48Bảng 2.10: Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ ................................ 50Bảng 2.11: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của hộ ..................................... 51Bảng 2.12: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của hộ .................................... 53Bảng 2.13: Chi phí ngành trồng trọt của hộ .................................................... 55Bảng 2.14: Chi phí ngành chăn nuôi của hộ ................................................... 56Bảng 2.15: Kết quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra................................... 57Bảng 2.16: Chi phí sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) .............. 59Bảng 2.17: Hiệu quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) ............. 60Bảng 2.18: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất lương thực của các hộ nông dân xã Tân Lập năm 2005 ................... 61Bảng 2.19: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước với xác định phương án sản xuất kinh doanh của hộ năm 2005 ............................ 62Bảng 2.20: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng thu nhập từ nông nghiệp.......................................................................... 65Bảng 2.21: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lúa ..................................................................................... 67
    • 1 PHẦN MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là một trong những yếu tố cần thiết hàng đầu đến đời sống củacon người nói riêng và đến mọi sự sống trên trái đất nói chung. Nước là một yếu tố không thể thay thế của sự sống. N-íc lµ tµi s¶n quýb¸u cña c¸c hé gia ®×nh lµm kinh tÕ n«ng nghiÖp vµ c¶i thiÖn viÖc sö dôngnguån n-íc lµ mét ph-¬ng ph¸p quan träng lµm ®a d¹ng ho¸ ph-¬ng kÕ vµ lµmgi¶m yÕu tè yÕu thÕ cña c¸c hé n«ng d©n nghÌo. Mét ph-¬ng ph¸p sö dônghiÖu qu¶ h¬n nguån n-íc cho viÖc s¶n xuÊt l-¬ng thùc b»ng viÖc tiÕt kiÖmnguån n-íc quý gi¸ ®Ó ®¸p øng nhu cÇu cho c¸c ph-¬ng s¸ch kh¸c. T¨ng n¨ngsuÊt cña nguån n-íc ë vïng l-u vùc th-îng nguån ®-îc xem nh- lµ mét sùcan thiÖp cèt yÕu sÏ n©ng cao c«ng t¸c qu¶n lý ®Êt ®ai mét c¸ch tæng quan. Nước ngọt là nguồn tài nguyên quý hiếm của thế giới, lượng nước ngọttrên mặt bao gồm các ao, hồ, sông, suối và nước ngầm tầng nông chỉ chiếmkhoảng 2% tổng lượng nước; toàn thế giới hiện có khoảng 430 triệu ngườithiếu nước dùng. Việt Nam cũng không ít vùng thiếu nước ngọt và cũngkhông ít vùng có nước nhưng bị ô nhiễm, khoảng hai phần ba số dân thiếunước và chưa được dùng nước sạch. Trên các vùng, nguồn nước ngọt có được nhờ vào nước mưa hằng năm,lượng nước đó phục vụ đời sống dân cư và các lĩnh vực sản xuất. Với đặcđiểm lượng mưa hằng năm từng vùng khác nhau, nơi cao tới hơn 2.000 (mm)ly, nơi thấp chỉ 600 - 700 ly; nhưng lượng mưa đó không phân đều trong nămmà tập trung vào một số tháng trong năm, trong tháng cũng chỉ tập trung vàomột số ngày. Có những trận mưa hàng trăm ly trong ngày gây nên lũ lụt vànạn xói mòn đất nghiêm trọng; đồng thời tình trạng mưa phân bố không đềutrong năm cũng gây nên những đợt hạn hán khắc nghiệt kéo dài. Vụ hạn từcuối năm 2004 đến 2005 kéo dài tới mười tháng ở các tỉnh cực nam Trung BộSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 2và Tây Nguyên không những đã gây nên thiệt hại to lớn cho sản xuất nôngnghiệp mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống của cư dân trong vùng. Với những đặc điểm thiên nhiên và thiên tai kể trên, đòi hỏi chúng tamuốn có nền sản xuất, nhất là nông nghiệp, bền vững và ổn định cuộc sốngcủa nhân dân, phải xây dựng một chiến lược sử dụng nước có cơ sở khoa họckết hợp kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trên thế giới và trong nước để sửdụng nguồn nước tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất. Các nước trên thế giới và nước ta nhiều năm cũng đã tích lũy đượcnhiều kinh nghiệm, nhất là trong lĩnh vực chống xói mòn. Nhưng trong nhữngnăm của thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ 20, do khai thác thiên nhiên, phát triểnkinh tế thiếu khoa học, lãng phí tài nguyên, làm mất cân bằng sinh thái, ônhiễm môi trường, nạn lụt lội, hạn hán xảy ra hằng năm ngày càng trầm trọng,nạn thiếu nước ngọt cho cuộc sống và sản xuất đang trở thành nguy cơ số mộtcủa thế giới. Các nước cần tính đến chiến lược nhằm từng bước giải quyếtmột cách cơ bản vấn đề bức xúc này. Sản xuất nông nghiệp là một lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều của điềukiện tự nhiên như: khí hậu, thời tiết, ánh sáng, độ ẩm, đất, nước. Trong đó,nước là yếu tố quan trọng nhất. Tiếp cận nguồn nước, nói cách khác nguồn nước thuận lợi hay khôngảnh hưởng rất nhiều đến kết quả sản xuất nông nghiệp, do đó ảnh hưởng đếnthu nhập của người dân. Nguồn nước cũng tác động đến phương án sản xuấtkinh doanh, do đó cũng ảnh hưởng đến thu nhập của hộ. Xã Tân Lập là một xã miền núi của huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn,phần lớn diện tích của xã có khó khăn về nguồn nước do hệ thống thuỷ lợi vàkhả năng dự trữ kém. Do vậy, thu nhập của hộ cũng bị hạn chế. Để có được những chính sách, giải pháp phát triển hệ thống thuỷ lợi nhằmphục vụ cho người dân, đề tài phải nghiên cứu rõ những ảnh hưởng của khả năngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 3tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ, mà chủ yếu là từ nông nghiệp.Vì vậy,tôi chọn nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn nước đến thunhập của hộ nông dân xã Tân Lập, huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn”2. Mục tiêu nghiên cứu2.1. Mục tiêu chung Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồnnước đến thu nhập của hộ nông dân2.2. Mục tiêu cụ thể 1) Hệ thống hoá được những lý luận về phát triển sản xuất nông nghiệp vàvai trò của nguồn nước đối với sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân miền núi 2) Đánh giá được tác động của nguồn nước tới sản xuất nông nghiệp vàthu nhập của hộ 3) Đề ra được những giải pháp nhằm nâng cao khả nằng tiếp cậnnguồn nước cho các hộ gia đình nông dân3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khả năng tiếp cận các nguồn nướcvà thu nhập của hộ nông dân3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài3.2.1. Phạm vi không gian Đề tài được tổ chức nghiên cứu tại xã Tân Lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn3.2.2. Phạm vi thời gian Đề tài nghiên cứu những số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2005 - 2007 Số liệu sơ cấp năm 20073.2.3. Phạm vi nội dung Nước có vai trò quan trọng đối với mọi mặt của đời sống. Tuy nhiên,nội dung đề tài chỉ giới hạn trong ảnh hưởng của nguồn nước sản xuất nôngnghiệp tơi các phương án sản xuất kinh doanh và thu nhập của hộ.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 44. Đóng góp mới của luận văn Đây là một đề tài mới, một hướng nghiên cứu mới trong phát triển nôngnghiệp nông thôn liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý để pháttriển bền vững. Đề tài nghiên cứu sẽ chỉ ra được những ảnh hưởng của khảnăng tiếp cận nguồn nước đến khả năng tăng thu nhập cho hộ nông dân. Đề tài sử dụng hàm Cobb - Douglas để nghiên cứu mức độ ảnh hưởngcủa nguồn nước đến tăng thu nhập của người dân. Đề tài chỉ ra được những giải pháp cơ bản nhằm tăng khả năng tiếp cậnvà hiệu quả sử dụng nguồn nước cho hộ nông dân miền núi xã Tân Lập -huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn.5. Bố cục của luận văn Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, có 3 chương gồm: Chương I: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu Chương II: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và thực trạng vấn đề nghiên cứutại xã Tân lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn Chương III: Một số giải pháp tăng khả năng tiếp cận nguồn nước vàtăng thu nhập cho hộ nông dân tại xã Tân lập, huyện Chợ ĐồnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 5 Chƣơng I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU1.1. Cơ sở khoa học của đề tài1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài1.1.1.1. Tình hình tài nguyên nước của Việt Nam Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất,nước biển. Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tạithường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như:sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băngtuyết. Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, đượcsử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Do đó, tài nguyên nước nóichung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết địnhsự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ haymột quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vàovà lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa). Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước tabằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km 3chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40%. Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tươngđối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thếgiới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thếgiới. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biếnđổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đềutrong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 6 Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3,chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đóđến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau,khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bìnhvà sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5km3 (11,1%). Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta làphần lớn nước sông (khoảng 60%) lại được hình thành trên phần lưu vực nằmở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3,88%). Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnhthổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệthống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%) [14]. Việt Nam không giàu tài nguyên nước, đánh giá, kết luận này rất có giátrị, giúp chúng ta nhận thức lại một thực tế Việt Nam không giàu có về tàinguyên nước. Phụ thuộc nhiều vào nguồn nước bên ngoài Chúng ta thường nghĩ Việt Nam là quốc gia giàu về tài nguyên nước(TNN). Hai hệ thống sông lớn Mê Kông, Hồng-Thái Bình của hai đồng bằnglớn Cửu Long và Bắc bộ cùng những dòng sông dọc bờ biển miền Trungkhiến nhiều người cho rằng Việt Nam thừa nước. Thậm chí có người còn chorằng, TNN ở Việt Nam là vô hạn và các hệ thống sông thiên nhiên tiếp tụccung cấp đủ nước chất lượng tốt cho tương lai. Thế nhưng, những số liệu mớinhất của Dự án nghiên cứu về nguồn tài nguyên nước của Việt Nam lại khẳngđịnh điều ngược lại. Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn nước của các sông quốc tế. Chỉ40% lượng nước mặt phát sinh trong nước, có 6 lưu vực sông lớn phụ thuộcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 7vào dòng chảy từ các nước khác. Cụ thể, gần 57% tổng lượng nước thuộc lưuvực sông (LVS) Cửu Long, hơn 16% thuộc LVS Hồng-Thái Bình. Hai hệthống này đều có nguồn từ Trung Quốc và chảy qua không chỉ một quốc gia. Theo tiêu chuẩn quốc tế, mức không đủ nước là dưới 1.700m3/người/năm,nếu lượng nước sẵn có nằm trong khoảng 1.700m3-4.000m3/người/năm thì cókhả năng xảy ra thiếu nước. Lượng nước bình quân đầu người của cả nước là9.856m3/năm, với con số này Việt Nam dồi dào về TNN; tuy nhiên, lượngnước ở các lưu vực sông rất khác nhau, đặc biệt là trong mùa khô ở một sốlưu vực sông kéo dài tới 9 tháng với lượng nước chỉ đạt 20-30% tổng lượngnước bình quân năm [14]. Theo tiêu chuẩn quốc tế, trong mùa khô, có 4 trong 16 lưu vực sônghiện thuộc nhóm “căng thẳng cao” là sông Mã, nhóm sông Đông Nam bộ,sông Hương và Đồng Nai và có 6 lưu vực sông thuộc nhóm “căng thẳng trungbình”. Trong đó, lưu vực sông Hồng có mức khai thác cao nhất trong nhómtrung bình. Hiện nay 80% lượng nước mùa khô của sông Mã được khai thác.Các sông ven biển Nam Trung bộ có mức khai thác sử dụng gần 75% lượngnước mùa khô. Tính trung bình toàn quốc, gần 82% lượng nước mặt đượckhai thác phục vụ nông nghiệp. Điều này cho thấy mức sử dụng nước cao vàkhông bền vững [14]. Thực trạng trên làm gia tăng cạnh tranh đối với cả nước mặt và nướcdưới đất (ngầm) trong mùa khô, ngày càng ít nước cung cấp cho cộng đồng,do đó 60% dân số sử dụng nguồn nước ngầm. Tuy nhiên, thực tế khai thácnước ngầm ở mức cao đã gây nên sự sụt giảm nhanh mực nước ở các vùngquanh Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Tây Nguyên. Đó là chưa kể tới chất lượngnguồn nước sông và nước ngầm đang suy giảm nhanh do những hoạt độngphát triển liên quan đến nước và đất.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 8 Khoảng 8,5 triệu người ở các đô thị không được tiếp cận với nước sạchvà đối với những người được tiếp cận với nước sạch thì tiêu chuẩn hiện hànhlà rất thấp theo tiêu chuẩn quốc tế. Mặc dù gần đây đã có rất nhiều nỗ lực,nhưng vẫn còn 21 triệu người ở nông thôn không được tiếp cận với nước vệsinh và 41 triệu người không được cấp nước theo tiêu chuẩn nước sạch củaBộ Y tế [14].1.1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước Sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội trong thế kỷ 21 sẽ làmgia tăng mạnh nhu cầu dùng nước và đồng thời tác động mạnh mẽ đến tàinguyên nước. Tài nguyên nước (xét cả về lượng và chất) liệu có đảm bảo chosự phát triển bền vững kinh tế xã hội trong hiện tại và tương lai của nước tahay không. Đây là một vấn đề lớn cần được quan tâm. Trước hết, sự gia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nướcsạch cho ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất. Đồng thời, tác độngcủa con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nóiriêng sẽ ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng. Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một nămtừ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020. Tuymức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với ChâuÁ (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồnnước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước hiệnnay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với các hệ thốngsông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thốngsông Đồng Nai. Nước nào có mức bảo đảm nước cho một người trong mộtnăm dưới 4000 m3/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước [11]. Theo tiêu chí này, nếu xétchung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ítSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 9vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, nhưvùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai. Đó là chưaxét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoàisẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó. Hơn nữa, nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉchiếm khoảng 10 - 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ônhiễm, nên mức bảo đảm nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảođảm nước trung bình hàng năm. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầudùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽtrong tất cả các vùng. Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cầndùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy năm tương ứngvới tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào khoảng năm2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn, từ 41 km3 (chiếm89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000 (chiếm85%). Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùngcho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn năm 2000 đạt tới70,7 km3, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trongmùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điềutiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất 75%.Vào khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn có thể tới 90km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổnglượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Đặc biệt, ởkhông ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổnglượng nước có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượngnước cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cungcấp cho sinh hoạt và sản xuất [11].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 10 Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, đã, đang và sẽ tác động mạnhmẽ đến nguồn tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,50C, lượng dòng chảysông ngòi cũng sẽ biến đổi tuỳ theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếulượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịchbản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độkhông khí tăng 4,50C. Mức độ biến đổi mạnh nhất xẩy ra ở Nam Trung Bộ vàĐông Nam Bộ [11]. Ngoài ra, trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm0,3 - 1,0m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồngbằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển.Nếu nước biển dâng 1 m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2, chủ yếu ở đồngbằng sông Cửu Long, 1700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe doạ và 17triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt [11]. Cuối cùng, sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếmnguồn nước sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tàinguyên nước. Cũng vì lẽ đó mà người ta cho rằng, khủng hoảng nước hiệnnay không chỉ do nước quá ít không đủ để thoả mãn nhu cầu của con ngườimà còn do sự quản lý nguồn nước quá kém gây nên hàng tỷ người và môitrường gánh chịu hậu quả.* Thực trạng và nguyên nhân gây lãng phí nguồn nƣớc sản xuất nông nghiệp 1. Các hiện tượng chính gây lãng phí, thất thoát nước tưới phục vụ sảnxuất nông nghiệp, bao gồm: Tổn thất trong quá trình dẫn nước từ công trình đầu mối đến mặtruộng, do ngấm, kênh bị bồi lắng, sạt lở... cản trở dòng chảy, thiếu các côngtrình điều tiết nước cho từng khu tưới.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 11 Tưới ngập thường xuyên: Đây là biện pháp tưới truyền thống, phù hợptưới cho lúa. Tuy nhiên, theo kết quả nhiều công trình nghiên cứu, việc tướinước cho cây lúa theo quy trình “nông, lộ, phơi” sẽ mang lại hiệu quả kinh tếnhất, tức là có những thời kỳ chúng ta hạn chế cấp nước mà phải để lộ ruộngvà phơi ruộng theo yêu cầu sinh trưởng của cây trồng. Việc tưới ngập thườngxuyên suốt vụ theo tập quán của nông dân đã gây ra lãng phí nước rất lớn,chưa kể tình trạng lượng nước dư thừa từ ruộng chảy xuống kênh tiêu. Chưa có biện pháp tích cực hạn chế bốc hơi mặt thoáng: Đây là hiệntượng tự nhiên cũng gây tổn thất nước rất lớn, ví dụ: tổng lượng bốc hơi bìnhquân tại trạm Tuyên Quang là 1.193,9mm/năm, lượng mưa là 1.145,8 mm/năm;tại trạm Phan Rang - Ninh Thuận, tổng lượng nước bốc hơi bình quân là1.730 mm/năm, trong khi đó lượng mưa có 815 mm/năm. Trước đây, ngườinông dân có phong trào dùng bèo phủ lên mặt thoáng của ruộng, xung quanhgốc cây trồng, vừa hạn chế bốc thoát hơi nước và làm phân xanh, tăng cườngđộ đạm trong đất. Hiện nay, phong trào đó không còn, một vài địa phương,người dân dùng ni lông để che phủ cho một số loại cây trồng, nhưng chi phítốn kém. Tưới tràn, vượt quá khu vực cây trồng có khả năng sử dụng được nướctưới: Điều này xảy ra đối với việc cấp nước cho cây công nghiệp, cây ăn quả,khi chúng ta tưới nước để chẩy tràn trên mặt đất. Tưới quá nhiều làm nước thấm quá sâu so với chiều sâu bộ rễ câytrồng: Cây trồng chỉ có khả năng hấp thụ nước trong phạm vi của rễ cây, nếuchúng ta tưới nhiều, nước sẽ ngấm sâu hơn so với chiều sâu của bộ rễ, gâylãng phí. Tưới tiết kiệm nước và sử dụng nước tiết kiệm là những biện pháp cấpnước theo yêu cầu và khả năng hấp thụ nước theo từng thời đoạn sinh trưởngcủa cây trồng, hạn chế lượng nước dư thừa nhưng không ảnh hưởng đến năngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 12suất, chất lượng cây trồng. Vụ 3 năm 2005, Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh AnGiang đã thử nghiệm xây dựng mô hình tưới tiết kiệm nước cho lúa trên diệntích 17,3 ha của 19 hộ nông dân tại phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên,tỉnh An Giang (trong đó: 8,3 ha của 9 hộ nông dân sử dụng biện pháp tưới tiếtkiệm nước; 9 ha của 10 hộ nông dân còn lại sử dụng biện pháp tưới truyềnthống để đối chứng). Bằng việc đặt ống theo dõi mực nước trong ruộng và ápdụng biện pháp tưới ướt khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế (IRRI),nông dân làm thí nghiệm đã giảm bình quân 4 lần bơm nước vào ruộng trong1 vụ lúa, so với 8 lần bơm nước theo tập quán nông dân, tiết kiệm nước tưới,ít sâu bệnh, giảm được 7,9% số diện tích bị đổ ngã, tỷ lệ chắc chiếm 78,2%,cho năng suất 5,8 tấn/ha, tăng 0,5 tấn/ha so với ruộng đối chứng. Giá thànhsản xuất của ruộng ""tưới tiết kiệm"" chỉ 1.142 đồng/kg lúa, trong khi ruộngđối chứng tới 1.382 đồng/kg, mức chênh lệch 240 đồng/kg. (Nguồn NNVN). Như vậy, áp dụng biện pháp tưới cổ truyền đã làm cho lượng nước tướilãng phí rất lớn. Theo số liệu thống kê, hiện tại các hệ thống công trình thuỷ lợi đảm bảo tướicho 7,61 triệu ha lúa, nếu với mức tưới bình quân 4.500 m < sup >3 < / sup > / ha - vụ,chỉ cần tiết kiệm được 10% lượng nước tưới thì sẽ tiết kiệm khoảng 3 tỷm<sup>3</sup> nước. Trong khi đó, để xây dựng hồ chứa Nước Trong thuộctỉnh Quảng Ngãi chỉ có dung tích 258 triệu m3 đã phải tốn gần 1.642 tỷ đồng.Như vậy, nếu chúng ta tiết kiệm được nước tưới sẽ tiết kiệm được chi phí đầutư, xây dựng công trình thuỷ lợi và chi phí xã hội rất lớn. 2. Nguyên nhân gây lãng phí, thất thoát nước tưới phục vụ sản xuấtnông nghiệp, bao gồm: Để xẩy ra hiện tượng lãng phí, thất thoát nước, ngoài nguyên nhân vềcông trình, trang thiết bị chưa được đầu tư xây dựng, nâng cấp sửa chữa, còndo những hạn chế trong công tác quản lý. Cụ thể:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 13 Công trình chưa có chủ thực sự: Theo Pháp lệnh khai thác &BVCTTL,các công trình thuỷ lợi do các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi vàcác hợp tác xã dùng nước quản lý, nhưng hầu hết các địa phương đều chưaphân cấp rõ đâu là công trình do doanh nghiệp quản lý, công trình do hợp tácxã dùng nước quản lý. Tình trạng vi phạm phạm vi bảo vệ công trình diễn rangày một nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả cấp nước củacông trình. Kể cả công trình đã được phân cấp nhưng quyền hạn và tráchnhiệm chưa rõ ràng: + Đối với công trình do doanh nghiệp quản lý: Do không có hoặcthiếu kinh phí quản lý, nâng cấp, sửa chữa nên doanh nghiệp quản lý theokiểu có đến đâu sửa đến đó, công trình còn đến đâu phục vụ đến đó, chỉ tậptrung chủ yếu vào sửa chữa máy móc thiết bị, còn phần công trình, kênhmương gần như bỏ ngỏ. Chủ của các công trình này là Nhà nước và giao choGiám đốc doanh nghiệp quản lý, nhưng do cơ chế, chính sách trong quản lýkhai thác chưa đồng bộ, thiếu kính phí nên công trình xuống cấp, hư hỏngcũng không ai chịu trách nhiệm. + Đối với công trình do hợp tác xã dùng nước quản lý (hiện nay chủyếu là hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý): Chủ nhiệm hợp tác xã do xãviên bầu, chế độ tiền lương thấp, nên hầu hết làm việc theo kiểu “được chănghay chớ”, còn bầu thì làm, không thì nghỉ, các chế tài quản lý chưa đầy đủ,nên trách nhiệm rất hạn chế. Trình độ chuyên môn của cán bộ thuỷ nông hầunhư không có, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm và lòng nhiệt tình. Chủ củacác công trình này là tập thể xã viên hợp tác xã nên không có ai chịu tráchnhiệm một cách cụ thể, công trình còn hoạt động được thì hợp tác xã quản lývận hành, khi công trình hư hỏng thì bàn giao trả Nhà nước. Các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý khai thác côngtrình thuỷ lợi còn thiếu và chưa đồng bộ như các văn bản về hướng dẫn về tổSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 14chức quản lý, chế độ tài chính, phân cấp công trình... Bên cạnh đó, nhiều địaphương chưa triển khai thực thi đầy đủ các văn bản đã có. Ý thức sử dụng nước của người nông dân chưa cao: Họ thường coinước là ""của trời"", công trình cấp nước đã có Nhà nước đầu tư, bản thân họđã đóng thuỷ lợi phí nên họ phải sử dụng cho “đủ”. Kiến thức sử dụng nướccủa hầu hết người dân còn nhiều hạn chế, họ không được trang bị kiến thức vềyêu cầu nước tưới theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây trồng... dẫn đến tìnhtrạng lấy nước quá nhiều, dư thừa. Trách nhiệm giữa đơn vị cung cấp nước và người hưởng lợi được thựchiện thông qua hợp đồng kinh tế nhưng chưa rõ ràng và chưa nghiêm túc.Theo Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, đơn vị cung cấp nướcvà đơn vị sử dụng nước có trách nhiệm ký kết hợp đồng kinh tế ngay từ đầuvụ làm cơ sở để thực hiện và thanh quyết toán vào cuối vụ sản xuất. Nhưngthực tế nhiều địa phương xảy ra tình trạng đơn vị sử dụng nước ký hợp đồngthấp hơn so với diện tích thực phục vụ và chây ỳ trong việc thanh toán thuỷlợi phí (từ năm 1999 đến năm 2003 cả nước nợ đọng thuỷ lợi phí 332,450 tỷđồng). Đây là hiện tượng vi phạm hợp đồng kinh tế nhưng Nhà nước cũngchưa có chế tài cụ thể. Dẫn đến tình trạng các đơn vị cung cấp nước không cókinh phí tu bổ công trình đảm bảo dẫn nước.1.1.1.3. Vai trò của nước và khả năng tiếp cận nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Nước là một loại vật chất đặc biệt, chiếm 3/4 bề mặt trái đất. Trong cấutrúc động, thực vật thì nước chiếm tới 95 - 99% trọng lượng các laòi cây dướinước, 80% trọng lượng các loài cá, 70% các loại cây trên cạn, 65 - 75% trọnglượng con người và các động vật [11]. Nước là nền tảng của sự sống, không một sinh vật nào có thể sống thiếunước. Nước là điều kiện đầu tiên xác định sự sinh tồn của sự sống, của conSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 15người cũng như của nền sản xuất nông nghiệp. Từ đó thấy được nghĩa vụ củamình trong việc giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Do nguồn tài nguyên nước phân bố không đều, đối với Việt Nam, tàinguyên nước ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững. Các kết quả nghiên cứugần đây ở Việt Nam dự báo, tổng lượng nước mặt của nước ta vào năm 2025chỉ bằng khoảng 96%, đến năm 2070 xuống còn khoảng 90% và năm 2100chỉ còn khoảng 86% so với hiện nay.1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài1.1.2.1. Đánh giá nguồn nước tại một số tỉnh khó khăn miền núi phía Bắc Gắn phát triển kinh tế - xã hội với thực hiện các chính sách dân tộc, từngbước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường sinh tháicho vùng và hạ lưu ở đồng bằng Bắc Bộ; góp phần giữ vững an ninh quốcphòng”. Để thực hiện được mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế -xã hội ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn cần thiết phải đầu tư cơsở hạ tầng nói chung, cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nói riêng. Trên địa bàn các tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc có tổng diệntích tự nhiên 58.265 km2, dân số 3,405 triệu người, được chia ra 956 đơn vịcấp xã, trong đó có 444 xã, bản với số dân 1,403 triệu người thường xuyênthiếu nước sinh hoạt và sản xuất [6]. Nguồn nước hiện nay được sử dụng chủyếu là nước tại các nguồn lộ, nước khe, nước suối với lưu lượng rất hạn chế,hơn thế nữa các nguồn nước này đều không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh choăn uống và sinh hoạt. Các cao nguyên đá vôi thuộc các tỉnh Cao Bằng, BắcKạn, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu có địa hình karst phân cắt mạnh không cóđiều kiện tàng trữ nước mặt, nguồn nước cho sinh hoạt thường xuyên thiếutrầm trọng đặc biệt về mùa khô. Một số tỉnh như: Sơn La, Lai Châu, ĐiệnBiên có nhu cầu lớn về nước sạch phục vụ các khu di dân, tái định cư, cáccông trình thuỷ điện. Để từng bước giải quyết những khó khăn về nước chođồng bào các dân tộc vùng cao thuộc 6 tỉnh miền núi phía Bắc (Sơn La, LaiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 16Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn) cần thiết phải tiến hành điềutra, đánh giá khai thác nguồn nước ngầm. Công tác điều tra, đánh giá nước dưới đất phục vụ cấp nước cho nhândân ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, trong đó có các tỉnh đặc biệt khókhăn. Kết quả đạt được là rất đáng khích lệ, tính riêng năm 2002 đã điều tra,đánh giá được trữ lượng khai thác 18.521 m3/ngày có khả năng cung cấp nướcsạch cho 300.000 người (mức 60 lít/người/ngày) [13]. Các công trình được lắpmáy bơm điện để khai thác, có bể chứa nước và bàn giao trực tiếp các côngtrình cấp nước cho địa phương, kịp thời đáp ứng một phần nhu cầu cấp thiếtvề nước sinh hoạt cho nhân dân các huyện Mộc Châu, Yên Sơn (Sơn La);Mường Lay (Lai Châu); Mường Khương (Lào Cai); Quản Bạ (Hà Giang);Trùng Khánh (Cao Bằng) và Chợ Đồn (Bắc Kạn). Tuy nhiên, so với số vùng,số dân còn chưa có nước sạch để sử dụng cần phải điều tra đáp ứng thì nhữngkết quả trên còn rất nhỏ Do đó, để góp phần tích cực thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế –xã hội tại các tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc theo tinh thần chỉ đạocủa Thủ tướng Chính phủ thì việc đầu tư thực hiện dự án điều tra, đánh giánước dưới đất trên địa bàn các tỉnh theo phương châm điều tra kết hợp khaithác cấp nước sạch tại chỗ cho dân là rất cấp thiết. Sáu tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc có dạng địa hình chủ yếulà núi cao, cao nguyên và các thung lũng giữa núi nhỏ hẹp, dốc đứng. Mức độphân cắt địa hình lớn, độ cao trung bình 1000 - 1500m. Do góc dốc địa hìnhlớn nên các dòng mặt có trong vùng thường là các dòng tạm thời. Về mùamưa các dòng này hầu như cạn kiệt trơ đáy. Về tiền đề địa chất, địa chất thuỷ văn: Vùng nghiên cứu tồn tại các thểđịa chất từ già nhất đến trẻ nhất phân bố đan xen, nhiều khi không theo quyluật do các hoạt động nội ngoại sinh. Nguồn gốc thạch học đa dạng gồm: trầmtích, biến chất, macma và các sản phẩm phong hoá. Hoạt động tân kiến tạo vàSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 17các vận động nội sinh phức tạp biểu hiện đa dạng như các hệ thống đứt gãychằng chịt, các hiện tượng lún trượt, lở đất xảy ra thường xuyên. Trong vùng nghiên cứu đã phát hiện được nhiều nguồn nước ngầm, nướckhoáng có giá trị. Nước dưới đất tồn tại và vận động chủ yếu ở các đới dập vỡ,đứt gãy kiến tạo. Tầng chứa nước thường mỏng, phân bố không đồng nhất.Thành phần hoá học của nước dưới đất đa dạng và có nguồn gốc hình thànhkhác nhau. Đặc biệt là cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc và một số vùng khácdo có mực xâm thực rất sâu nên để trả lời câu hỏi có nước dưới đất hay không?,nước dưới đất tồn tại bao nhiêu mét?, nguồn hình thành và đặc điểm tàng trữ vàvận động ra sao? Vẫn là một câu hỏi lớn cho các nhà địa chất thuỷ văn. Mục tiêu và nhiệm vụ của dự án là điều tra, phát hiện các nguồn nướcdưới đất, đánh giá trữ lượng, chất lượng nguồn nước tìm được, phục vụ cấpnước sinh hoạt tại chỗ cho nhân dân. Cung cấp tài liệu cơ bản về địa chất, địachất thuỷ văn, khả năng cung cấp nước dưới đất, làm cơ sở cho quy hoạchkhai thác hợp lý nước dưới đất của địa phương. Ngoài ra, các lỗ khoan địachất thuỷ văn đáp ứng được yêu cầu cấp nước được tiến hành kết cấu thànhgiếng khoan khai thác (như doa mở rộng đường kính, đặt ống chống, ống lọcđảm bảo giếng khoan khai thác bền vững), lắp đặt thiết bị khai thác (máybơm, ống dẫn, đường điện) để đưa nước trong lỗ khoan lên bể chứa, bàn giaocho địa phương quản lý, khai thác phục vụ nhân dân. Theo tài liệu tại phòng Địa chất cho biết: Cục Địa chất và Khoáng sảnđã có nguồn tài liệu phong phú về địa chất - địa chất thuỷ văn trên toàn lãnhthổ Việt Nam, đó là thuận lợi cơ bản giúp Nhà nước giảm thiểu chi phí đầu tư.Ngoài ra, với đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ cao và được đàotạo cơ bản cả trong và ngoài nước, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong hoạtđộng điều tra địa chất , chắc chắn dự án sẽ thành công và mang lại hiệu quảkinh - tế xã hội đáp ứng lòng mong mỏi của đồng bào các dân tộc miền núi.Kết quả dự án còn giúp các nhà chuyên môn nắm được quy luật hình thành vàSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 18vận động của nước dưới đất cũng như quy mô khai thác có thể áp dụng, giúpcác cơ quan quản lý điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế khu vực. Đựơc biết, đến năm 2006 dự án sẽ hoàn thành, khoảng 250.000 ngườidân thuộc các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn được tiếp cận và sử dụng nướcsạch, khoảng hơn 100 vùng dân cư, đô thị, di dân được dùng nước trên mộtdiện tích gần 2.000km2. Đây là một đóng góp không nhỏ trong công cuộcphát triển kinh tế - xã hội ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn. Sốvốn đề nghị để thực hiện dự án là hơn 25 tỷ đồng.1.1.2.2. Tình hình nguồn nước của tỉnh Bắc Kạn Bắc Kạn là nguồn của 5 con sông lớn chảy sang các tỉnh lân cận, đó làsông Phó Đáy, sông Năng chảy sang tỉnh Tuyên Quang về phía Tây, sông BắcGiang chảy sang Lạng Sơn về phía Đông, sông Bằng Giang chảy sang tỉnh CaoBằng về phía Bắc và sông Cầu chảy về tỉnh Thái Nguyên. Theo thống kê sơ bộ của Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môitrường nông thôn, tỉnh Bắc Kạn hiện có hơn 400 công trình cấp nước tậptrung qui mô vừa và nhỏ, thiết kế theo hệ tự chảy tại các địa bàn đông dân cư,các trường học nơi vùng sâu vùng xa và khoảng 10.000 lu bể chứa, thiết bịtích trữ nước sạch và hệ thống giếng khoan đạt chuẩn vệ sinh, chưa kể cácgiếng nước do dân tự khơi. Với sự đầu tư của Nhà nước, các tổ chức phichính phủ, các nhà hảo tâm và sự đóng góp của nhân dân, Bắc Kạn đã nhanhchóng đảm bảo cung cấp nhu cầu nước sạch hợp vệ sinh cho hơn 70% dân số,tăng 59% so với năm 1999, trong đó hơn 18.000 nhân khẩu nơi định canhđịnh cư không còn thiếu nước sinh hoạt [10]. Là tỉnh vùng cao, dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển, dân cư sốngthưa thớt theo các lũng núi cao, nước sinh hoạt luôn là nhu cầu cấp thiết vớingười dân nơi đây. Hơn nữa, thổ nhưỡng tại Bắc Kạn phần nhiều là núi đávôi, mùa hè các khe núi còn có nước chảy, bước sang mùa Thu hoặc mùaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 19Đông và Xuân thì nước các khe núi thường cạn kiệt, người dân các bản vùngsâu phải đi bộ hàng km mới kiếm được nước về nấu ăn, còn tắm rửa, giặt rũthì “mạnh ai ấy làm”. Đối với thanh niên và người có sức khoẻ thì còn leo núiđi xa bản làng tìm được khe nước để tắm giặt, còn trẻ em, người già thì rất ítcó điều kiện tắm giặt trong mùa khô cạn, vì gùi được nước về nấu ăn đã khó,lấy đâu ra nước sạch đẻ vệ sinh cơ thể. Trước hàng loạt khó khăn ở nơi vùng sâu, nhất là vùng khó khăn trongviệc tiếp cân nguồn nước, tỉnh Bắc Kạn đã ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầngphục vụ sự ổn định vững chắc nơi vùng sâu từ; giao thông, thuỷ lợi, điện lưới,trường học, trạm y tế đến chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp bà con thay đổitập quán sản xuất, hình thành những thôn bản định canh định cư và dầnchuyển nếp sinh hoạt cũ theo nếp sống mới. Trong đó, Bắc Kạn đã giành hơn100 tỷ đồng đầu tư các công trình nước sạch sinh hoạt, giúp nhân dân có điềukiện thay đổi dần nếp sinh hoạt cổ truyền theo lối hợp vệ sinh. Phương thứcNhà nước và nhân dân cùng làm đối với các dự án về nước sạch, bà con chỉđóng góp công sức và lao động thủ công, nhà nước cấp tiền mua vật tư, thiếtbị, nhân công kỹ thuật. Sau bàn giao công trình cho dân hưởng lợi tự quản lý,duy tu và sử dụng, do đó đã phát huy tốt hiệu quả các công trình, nhất là hệthống nước tự chảy nơi tập trung khu cụm dân cư. Nhờ có sự phối kết hợpnhịp nhàng gữa nhà nước và người dân hưởng lợi, hàng trăm công trình nướcsạch tập trung tại khu cụm dân cư và hàng nghìn công trình cấp nước nhỏ lẻhình thành nhanh chóng xây dựng xong tại hầu khắp các khu cụm dân cưvùng sâu, nhất là những địa hình núi đá vôi và cát tơ thường xuyên thiếunước, góp phần cấp nước sạch đầy đủ cho hơn 18.000 nhân khẩu đã định canhđịnh cư, góp phần tăng số dân của toàn tỉnh có nước sạch từ hơn 11% năm1999 lên trên 70% năm 2008.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 20 Có nước sạch sinh hoạt, ở các thôn bản vùng cao đã dần bắt nhịp theonếp sống mới như ăn ở hợp vệ sinh, góp phần loại bỏ tận gốc các mầm bệnhngoài da, đường ruột, sốt rét. Là tỉnh đầu nguồn sông Cầu, Bắc Kạn đang phải đối mặt với tình trạngô nhiễm môi trường đang gia tăng, lưu lượng nước ở đầu nguồn ngày càngcạn kiệt, tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, gây ra những tác động xấu tớimôi trường và cảnh quan lưu vực sông Cầu Tình hình ô nhiễm nguồn nước Qua điều tra, khảo sát tổng quan hiện trạng ô nhiễm Arsenic (thạch tín)nguồn nước của Bắc Kạn do Trung tâm Thông tin Kỹ thuật tài nguyên môi trườngtỉnh tiến hành đã cho thấy, tình trạng nhiễm thạch tín đang ở mức báo động...Hàm lượng thạch tín tại sông, suối... cao Theo tài liệu của Phòng Môi trường (Sở TN & MT) khi phân tích mẫunước tại vị trí đuôi nước thải gần các xí nghiệp chế biến khoáng sản. Kết quảcho thấy, nguồn nước tại các sông suối đều ô nhiễm thạch tín. Điều này cũngkhẳng định, ở những vùng nhiều khoáng sản như Chợ Đồn, Ngân Sơn nguycơ nhiễm thạch tín càng cao. Một vài xã ở cuối nguồn nước thải từ khu vựckhai thác quặng ở xã Bằng Lãng như Tủm Tó, Bản Lắc hàm lượng Arsenickhi thử nhanh đều cao hơn mức quy định. Đoàn Trung tâm Thông tin Kỹ thuật TN - MT đã tiến hành điều tra ở 8huyện thị với 72/122 xã, phường, tập trung vào giếng khoan, giếng đào vànhững mạch lộ mà người dân sử dụng làm nước sinh hoạt. Cụ thể, 277 côngtrình lấy nước từ khe, mạch lộ, 3 vị trí lấy nước mặt, 306 giếng đào và 114giếng khoan. Đoàn sử dụng bộ dụng cụ phân tích tại hiện trường, phiếu điềutra và gửi mẫu về phòng thí nghiệm... Kết quả là chỉ có duy nhất xã BằngLãng (Chợ Đồn) có hàm lượng thạch tín 0,05mg/l (vượt quá tiêu chuẩn quyđịnh là 0,01mg/l). Những tài liệu nghiên cứu trước đó cũng khẳng định, tạiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 21một số huyện, nguồn nước mặt, nước sinh hoạt đều nhiễm thạch tín ở nhiềumức độ, qua thời gian chúng sẽ ngấm vào mạch nước ngầm và lại được dùnglàm nước sinh hoạt. Bắc Kạn có nhiều sông suối như Sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy,sông Bắc Giang, sông Na Rì, sông Hiến, sông Bằng Khẩu... chưa kể hàngtrăm con suối, khe lạch khác. Hiện nay, nguồn nước một số vùng trên địa bàn đã chịu ảnh hưởng củacác chất thải, gây hiện tượng ô nhiễm, nguyên nhân gây ô nhiễm được cáckhoa học khẳng định, một phần do cấu tạo địa chất. Tuy nhiên, nguyên nhânchính vẫn do các nhà máy xả thải không qua xử lý, người dân sử dụng nhiềuchất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, đào lấp giếng không đúng tiêu chuẩn.Quan trọng hơn nữa là do hoạt động khai thác khoáng sản ngày càng pháttriển trên địa bàn tỉnh. Một trong những biện pháp được Trung tâm Thông tin Kỹ thuật Tàinguyên và môi trường phổ biến, là dùng phương pháp lọc bằng cách chonước thô đi qua khối vật liệu bằng cát, than hoạt tính, vải lọc. Phương phápnày có thể lọc bớt các chất bẩn nhìn thấy như mănggan, kết tủa sắt, vi khuẩnvà cả Arsenic. Điều này đặc biệt hữu dụng với rất nhiều hộ dân đang sử dụnggiếng đào, giếng khoan ở các thị trấn, thị tứ của tỉnh. Mặc dù, tình trạng nguồn nước nhiễm arsenic tại Bắc Kạn chưa quánghiêm trọng như tại Hà Nam, An Giang... nhưng nếu người dân sử dụngtrong thời gian dài thì khả năng mắc bệnh là không tránh khỏi. Cần phải cócác giải pháp và chính sách hợp lý để xử lý tình trạng nhiểm asenic. * Tình hình thuỷ lợi và phát triển nông nghiệp Miền Núi Thuỷ lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứukhoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyênnước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 22 Hệ thống thuỷ lợi được xây dựng ở các tỉnh miền núi còn rất ít so với nhucầu của sản xuất. Hầu hết mới chỉ phục vụ tưới tiêu cho lúa và một ít cho câytrồng cạn và hoa màu. Tưới cho cây ăn quả, cây công nghiệp chưa được đề cập,còn yếu. Năng lực tưới mới chỉ đáp ứng 20% - 30% đất nông nghiệp hiện có.Đồng thời mới đạt 40% - 60% công suất thiết kế của các công trình thuỷ lợi [5].Chi phí đầu tư ban đầu cho công trình thuỷ lợi ở miền núi gấp 2 - 3 lần ở đồngbằng cho 1 ha canh tác nông nghiệp. Địa hình miền núi phức tạp, lượng mưakhông nhiều, lại phân bố không đều, bốc hơi lớn, đất có tính thấm mạnh, hệ sốdòng chảy nhỏ, diện tích canh tác phân tán và không bằng phẳng nên rất khókhăn về nguồn nước và bố trí hệ thống tưới mặt ruộng. Các công trình thuỷ lợiở Tây Nguyên được xây dựng sau giải phóng Miền Nam mới đảm bảo tưới30.000 ha lúa đông xuân, 46.000 ha lúa mùa và 44.000 ha cà phê (khoảng 50diện tích hiện có) và 15% so với diện tích đất ở 5 tỉnh Tây nguyên [5]. Mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp chính ở các tỉnh miền núi vàTây Nguyên là ổn định về lương thực, phát triển lợi thế về sản xuất hàng hoá,đó là phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Phấn đấuđến năm 2010 tổng sản lượng cây cà phê, cây điều các tỉnh miền núi tăng gấp3 lần. Diện tích cây ăn quả tăng gấp 5 lần, cây công nghiệp tăng gấp 5 lần,cây hoa màu tăng gấp 2,5 lần so với hiện nay. Yêu cầu về nước tưới và cácbiện pháp thâm canh khác cũng phải đầu tư rất lớn [5].1.1.2.3. Tình hình phát triển của hệ thống thuỷ lợi ở tỉnh Bắc Kạn Bắc Kạn là tỉnh thượng nguồn của lưu vực sông Cầu, có địa hình phứctạp chủ yếu là núi cao. Hệ thống sông Cầu nằm trên địa bàn tỉnh có độ dốclớn, rừng đầu nguồn và thảm phủ thực vật bị thoái hoá, khai thác mạnh nênhàng năm vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét gây thiệt hại lớn về người vànhà cửa, hoa màu, tài sản, đất đai của nhân dân. Vào mùa khô mực nước trêncác nhánh sông thường cạn gây khô hạn, thiếu nguồn nước cho sản xuất vàSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 23sinh hoạt của nhân dân. Với tỉnh Bắc Kạn, phần lớn nhân dân sống bằng nghềnông nghiệp do vậy nguồn nước trên các nhánh sông có ảnh hưởng trực tiếpđến đời sống của nhân dân. Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các Bộngành trung ương, tỉnh Bắc Kạn đã được đầu tư xây dựng nhiều công trìnhthuỷ lợi để chủ động nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt vàgiảm nhẹ thiệt hại do lũ gây ra. Với các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, tàitrợ, dân đóng góp đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được hơn 500 công trìnhgồm hồ chứa, đập dâng, hệ thống kênh mương, tưới chủ động bằng công trình5.780 ha ruộng lúa. a. Kết quả công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất của tỉnh Bắc Kạn trong 6tháng đầu năm 2006 Từ đầu năm 2006 Sở Nông nghiệp và PTNT đã cùng các địa phươngkiểm tra, chỉ đạo nạo vét các hệ thống công trình thuỷ lợi, tích luỹ nước trongcác ao hồ, bảo dưỡng các máy bơm trên địa bàn, chủ động tốt công tác cày ảitrước vụ xuân, hoàn thiện thủ tục XDCB để tiến hành thi công một số côngtrình trong thời gian tới và tiếp tục khảo sát thiết kế các công tình theo kếhoạch đầu tư của tỉnh. b. Tình hình thiên tai và biện pháp khắc phục của địa phương Về hạn hán: Trong 6 tháng đầu năm 2006 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn tìnhhình thời tiết diễn biến phức tạp, tình trạng khô hạn xảy ra trên diện rộng.Việc xảy ra khô hạn đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất vụ xuân. Trước tình hìnhđó, chính quyền địa phương đã chỉ đạo nhân dân tích nước vào các ao hồ, nạovét tu sửa kênh mương để đảm bảo nguồn nước tưới, mặt khác chỉ đạo nhândân chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp với nguồn nước và kịp thời vụ. Về lũ và công tác PCLB-TKCN: UBND tỉnh Bắc Kạn đã ban hành Chỉthị số 08/2006/CT - UBND ngày 10/5/2006 về công tác PCLB - TKCN vàSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 24giảm nhẹ thiên tai; đã phê duyệt phương án PCLB - TKCN năm 2006 tạiQuyết định số 913/QĐ - UB ngày 10/5/2006, kiện toàn BCH PCLB - TKCNcủa tỉnh và chỉ đạo các ngành, các cấp. Ngày 28/4/2006, tổ chức hội nghị tổngkết công tác PCLB - TKCN giai đoạn 2001 - 2005 và triển khai công tácPCLB -TKCN năm 2006. Phối hợp với Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văntỉnh kiểm tra các hệ thống đo mưa, đo mực nước đảm bảo hoạt động tốt đểphục vụ cho công tác PCLB trên địa bàn tỉnh [10]. c. Các vấn đề phát sinh trong lưu vực, khó khăn, tồn tại và kiến nghị củađịa phương Các vấn đề phát sinh trong lưu vực: Hiện nay diện tích rừng, thảm phủthực vật mỏng, địa hình dốc khả năng giữ nước kém nên mùa mưa thườngngập úng, lũ quét, vào mùa khô các sông suối cạn kiệt ảnh hưởng đến sảnxuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Ngoài ra hiện nay các cơ sở côngnghiệp khai thác khoáng sản do công tác xử lý chất thải kém nên gây ô nhiễmnguồn nước trên một số nhánh sông suối (huyện Chợ Đồn, Na Rì, Ngân Sơn). Khó khăn, tồn tại: Công tác quy hoạch thuỷ lợi chưa được thực hiệntoàn diện trên địa bàn toàn tỉnh do vậy việc hoạch định, cân đối sử dụngnguồn nước lâu dài, đa mục tiêu chưa được tận dụng tối đa. Hiện nay tỉnhđang tiến hành lập quy hoạch phát triển thuỷ lợi toàn tỉnh, dự kiến hoàn thànhcuối năm 2006. d. Yêu cầu phối hợp đa ngành và liên tỉnh trong phát triển lưu vực Để ổn định lưu vực sông sự phối hợp đa ngành, liên tỉnh là yếu tố cầnthiết. Trong công tác quản lý nguồn nước cần có sự phối hợp giữa các ngành,các tỉnh để đảm bảo chất lượng nước và môi trường. Có các giải pháp côngtrình và phi công trình để ổn định lâu dài, cân bằng môi trường sinh thái. Vềtổ chức quản lý, có chế chính sách phải có sự thống nhất, phù hợp với điềukiện tổng thể của lưu vực.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 25 e. Đề xuất ưu tiên đầu tư trong lưu vực Nâng cao năng lực quản lý và khai thác nguồn nước trong lưu vực sông. Đầu tư xây dựng công trình phục vụ đa mục tiêu: hồ chứa, đập dâng...phục vụ sản xuất, nước sinh hoạt, hệ thống cảnh báo nguy cơ sạt lở, lũ quét. Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ nguồn nước; Trồng rừng tăng độche phủ đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đề nghị xem xét xây dựng hệ thống công trình trên toàn lưu vực đểthuận lợi trong việc thu hút các dự án đầu tư bằng nhiều nguồn vốn đông thờihuy động sự tham gia, đóng góp của các tỉnh có hiệu quả hơn.1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu Một là, tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nôngnghiệp và thu nhập của người dân. Xã Tân Lập là một xã nghèo của huyện Chơ Đồn, giao thông đi lại rấtkhó khăn, nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp, trong đó chủ yếu là nôngnghiệp. Để có thu nhập cao từ nông nghiệp đòi hỏi người nông dân phải tiếpcận tốt được với nguồn nước. Hai là, làm thế nào giúp cho các hộ nông dân miền núi tăng khả năngtiếp cận nguồn nước. Đây là một vấn đề quan trọng đối với miền núi hiện nay. Với nền thunhập chủ yếu từ nông nghiệp, nhưng dù có nguồn tài nguyên nước dồi dào,khả năng được tiếp cận nguồn nước của người nông dân lại chưa được nhiều.Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiếp cận nguồn nước đến thu nhập, nhằm tìmra các nguyên nhân nhiều vùng chưa được tiếp cận nguồn nước, làm giảm thunhập của các hộ, từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao khả năng tiếp cậnnguồn nước, giúp tăng năng suất, tăng thu nhập của người nông dân nóichung và người nông dân xã Tân Lập nói riêng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 261.2.2. Cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu Đề tài sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương phápluận nghiên cứu. chủ nghĩa duy vật biện chứng cho chúng ta cái nhìn sự vậthiện tượng trong mối quan hệ và sự vận động của chúng. Trong đề tài đó làmối quan hệ giữa tiếp cận và sử dụng nguồn nước đến thu nhập và năng suấtlúa của hộ.1.2.3.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể1.2.3.1 Phương pháp thu thập thông tina. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp Thông tin thứ cấp là những thông tin đã được công bố chính thức. Cácthông tin thứ cấp được thu thập thông qua các báo cáo của các cơ quanchuyên môn như: Phòng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, phòng kinh tế- hạ tầng, trạm thuỷ nông, sở NN & PTNT, trên mạng Internet, các văn bản....b. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp Thông tin sơ cấp là những thông tin chưa công bố, được thu thập lầnđầu, trong nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn, các thông tin sơ cấp có ýnghĩa rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả nghiên cứu.+ Xác định điểm điều tra Để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, căn cứ vào đặc điểm của địa bànnghiên cứu, tôi tiến hành lựa chọn điểm điều tra là xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn.+ Xác định mẫu điều tra Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa bàn, tôi sẽ tiến hành điều tra ngẫunhiên 140 hộ, trong đó mỗi vùng 70 hộ, bằng phiếu điều tra xây dựng trước.1.2.3.2. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệua. Đối với thông tin thứ cấp Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắpxếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin. Đối với cácthông tin là số liệu thì tiến hành lập lên các bảng biểu.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 27b. Đối với thông tin sơ cấp Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máytính bằng phần mềm Excel để tiến hành tổng hợp, xử lý.1.2.3.3. Phương pháp phân tích số liệua. Phương pháp phân tổ Phương pháp phân tổ nhằm mục đích chỉ ra sự khác biệt giữa các nhómhộ theo một chỉ tiêu định trước. Trong đề tài, chỉ tiêu dùng để phân tổ là khảnăng tiếp cận nguồn nước của các hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp, cụthể là phần trăm diện tích được cung cấp nước một cách chủ động. Nhóm một: từ 65% - 100% diện tích đất nông nghiệp được chủ độngnước (điều kiện thuỷ lợi thuận lợi) Nhóm hai: Từ 50% - 64% diện tích đất nông nghiệp được chủ độngnước (điều kiện thuỷ lợi trung bình) Nhóm ba: Từ 30% - 49% diện tích đất nông nghiệp được chủ độngnước (điều kiện thuỷ lợi khó khăn Nhóm bốn: Từ 0% - 29% diện tích đất nông nghiệp được chủ độngnước (điều kiện thuỷ lợi vô cùng khó khăn).b. Phương pháp hồi quy Việc phân nhóm như vậy dựa trên nguyên tắc %diện tích chủ độngnước, ví dụ nhóm thuận lợi nhất trong việc tiếp cận nguồn nước có diện tíchđất tiếp cận được với nguồn nước chiếm 65% - 100%. Để phân tích ảnh hưởng của nguồn nước đến sản xuất nông nghiệp vàthu nhập của hộ, tôi sử dụng phương pháp hồi quy để ước lượng, cụ thể là sửdụng hàm sản xuất cobb – Douglas (CD). Hàm CD có dạng: Y AX 1 1 X 2 2 ... X n e D1e D 2 ...e Dm b b bnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 28 Trong đó: Y: biến phụ thuộc. Trong mô hình Y năng suất lúa của hộ và thu nhậptừ nông nghiệp của hộ. ___ Xi: là các biến độc lập định lượng ( i 1, n ) ___ Dj : là các biến độc lập thuộc tính ( j 1, m ) Chỉ tiêu hiệu suất biên một đơn vị của biến độc lập _ Y (1)Đối với biến định lượng: Y bi _ X (2)Đối với biến thuộc tính: Y e D j Ý nghĩa: đầu tư thêm 1 đơn vị yếu tố i sẽ mang lại thêm bao nhiêu đơnvị yếu tố Y Hàm sản xuất CD được giải bằng phương pháp logarit hoá hai vế vàgiải trên phầm mềm EXCEL. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tôi sử dụng hàm CD nghiên cứu cácvấn đề sau: - Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tới thu nhập từ nông nghiệpcủa hộ - Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tới năng suất lúa của hộ (câytrồng chính của hộ gia đình trên địa bàn huyện)c. Phương pháp đồ thị Để phản ánh sự biến động của thu nhập, năng suất cây trồng theo khảnăng sử dụng nguồn nước tôi dùng đồ thị để phản ánh.1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu1.2.4.1. Chỉ tiêu phản ánh khả năng tiếp cận nguồn nước của hộ Khả năng tiếp cận nguồn nước của được định lượng bằng phần trămdiện tích đất trồng cây hàng năm được chủ động nước (Sn):Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 29 DT chủ động nước Sn = ––––––––––––––––––––––––– x 100 Tổng diện tích đất NN của hộ Sn được tính cho khả năng chủ động nước 2 vụ (Sn2) và chủ động nước1 vụ (Sn1)1.2.4.2. Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và chi phí của hộ (1) Tổng giá thị sản xuất của hộ : GO (Gross output) là toàn bộ giá trịsản phẩm do hộ làm ra, được tính bằng tổng của các sản phẩm làm ra quy vềgiá trị. GO = ∑(qi x pi) (i = 1:n) Trong đó : qi khối lượng sản phẩm phẩm i Pi : giá của sản phẩm i (2) Chi phí mua ngoài (IC): là toàn bộ những chi phí sản xuất mà hộphải thuê, mua ngoài IC = ∑ Ci (i = 1:n) Ci: Chi phí mua ngoài, thuê ngoài thứ i (3) Thu nhập biên (GM): GM (Gross Margin) là phần thu nhập của hộcòn lại sau khi đã trừ đi những chi phí thuê, mua ngoài. GM = GO - IC (4) Thu nhập bằng tiên (Tm): Tm = tổng số tiền thu được của hộ (bánsản phẩm, lương, trợ cấp,...)1.2.4.3. Một số chỉ tiêu bình quân - Tổng giá trị sản xuất bình quân đầu người (GO/ người) - Thu nhập biên bình quân đầu người (GM/người) - Thu nhập bằng tiền bình quân đầu người (Tm/người)Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 30 Chƣơng IIĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TẠI XÃ TÂN LẬP, CHỢ ĐỒN, BẮC KẠN2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu xã Tân Lập, Chợ Đồn, Bắc Kạn2.1.1. Điều kiện tự nhiên xã Tân Lập2.1.1.1. Vị trí Địa lý Huyện Chợ Đồn là huyện vùng cao nằm ở phía Tây tỉnh Bắc Kạn, cáchthị xã Bắc Kạn 45km theo đường tỉnh lộ 257, trải từ 105 o26’ đến 105o42’ kinhđộ đông, và từ 21o57’ đến 22o26’ vĩ độ bắc. Phía Bắc giáp huyện Ba Bể, phíaNam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Đông giáp huyện Bạch Thông, phía Tâygiáp tỉnh Tuyên Quang. Xã Tân Lập nằm ở phía Bắc, cách trung tâm của huyện Chợ Đồn 20kmtỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên là 31,16 Km2. Phía Bắc giáp xã NamCường, phía Nam giáp xã Phương Viên, phía Nam giáp xã Bằng Phúc huyệnBa Bể, phía Tây giáp xã Quảng Bạch và Đồng Lạc.2.1.1.2. Đặc điểm địa hình huyện Chợ Đồn và xã Tân Lập Có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, với 2 dạngđịa hình phổ biến: - Địa hình núi đá vôi: Kéo dài từ huyện Ba Bể đến thị trấn Bằng Lũng,địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy đá vôi có độ cao trên 1000m xengiữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 20 - 30 độ, đây là đầu nguồncủa các con suối chảy về hồ Ba Bể. - Địa hình núi đất: Gồm thị trấn Bằng Lũng và các xã phía Nam với độcao phổ biến từ 400m đến 600m, độ dốc bình quân 20 - 25 độ. Địa hình chicắt mạnh bởi hệ thống sông suối khá dầy đặc. Tân Lập là một xã vùng cao nên địa hình khá phức tạp, chủ yếu là đồinúi chiếm trên 80% tổng diện tích đất tự nhiên, được phân bố trên toàn xã,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 31xen kẽ giữa các dãy núi là các đồi thấp, những cánh đồng nhỏ hẹp và cácruộng bậc thang nằm ở độ cao từ 200 - 300m so với mực nước biển. Nhìn chung đất đai xã Tân Lập không màu mỡ, hàm lượng mùn thấp,độ chua trung bình, đất ruộng có tầng canh tác mỏng nên cần có biện pháp cảitạo phù hợp. Đất rừng có tầng đất mặt trung bình phù hợp với việc phát triểncây lâm nghiệp. Từ địa đặc điểm địa hình như vậy cho thấy, Tân Lập sẽ phân chia thànhnhiều vùng theo cấp độ tiếp cận nguồn nước khác nhau.2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết của xã Tân Lập - huyện Chợ Đồn Mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh vàmùa hè nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình trong năm 23,2 độC, các tháng có nhiệtđộ trung bình cao nhất là tháng 6,7 và tháng 8, các tháng có nhiệt độ thấp nhấtlà tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,5 độC, tổng tích nhiệt cảnăm bình quân đạt từ 6.800 đến 7.000độC. Ngoài ra khí hậu xã Tân Lậphuyện Chợ Đồn còn có sương mù, sương muối, hiện tượng mưa đá co xảy ranhưng không thường xuyên. Lượng mưa bình quân 1.115mm/năm. Độ ẩmkhông khí trung bình 82%, lượng bốc hơi trung bình năm là 830mm. Chế độgió chủ yếu là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam. Huyện Tân lập có khí hậu nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh hưởng lớn củagió mùa đông bắc. Bảng 2.1: Tình lƣợng mƣa, độ ẩm của huyện năm năm 2007 Tháng Chỉ tiêu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Lượng 1,2 13,5 8,5 51,4 212,6 193,4 403,5 275,3 73,3 10,0 54,0 3,2 mưa (mm) Độ ẩm (%) 77,0 85,0 82,0 79,0 81,0 84,0 88,0 89,0 83,0 83,0 81,0 79,0 (Nguồn: Phòng thống kê huyện Chợ Đồn)Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 32 Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.420 mm, lượng mưa phân bốkhông đều trong năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Mùa mưa từtháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm từ 85 - 90% lượng mưa hàng năm,tập trung vào tháng 7,8 và 9 nên thường gây ra lũ quét ảnh hưởng lớn đến sảnxuất nông nghiệp của xã. Mùa đông có gió mùa đông bắc làm nhiệt độ hạ thấp, tác động xấu đếncây trồng, vật nuôi và sức khoẻ con người. Vào thời kỳ giao mùa có gió mùađông bắc thường gây ra mưa đá, giông lốc làm ảnh hưởng lớn đến sản xuấtnông nghiệp. Với đặc điểm khí hậu như vậy, xã Tân Lập huyện Chợ Đồn có thuận lợivề nước để phát triển nông nghiệp, bên cạnh đó cũng có nhiều khó khăn trongviệc phòng chống thiên tai và những ảnh hưởng của thiên nhiên tác động đếnphát triển nông nghiệp. Do lượng mưa phân bố không đều nên vào mùa mưahiện tượng sói mòn, rửa trôi diễn ra rất mạnh mẽ, ngược lại vào mùa khô lạithiếu nước phục vụ cho sản xuất. Do hiện tượng thời tiết này mà khu bờ sôngtrung tâm xã Tân Lập chịu ảnh hưởng mạnh của hiện tượng sói mòn, rửa trôivào mùa mưa.2.1.1.4. Đặc điểm thuỷ văn của xã Mạng lưới sông ngòi của của tỉnh Bắc Kạn tượng đối phong phú, phầnlớn các sông là nhánh thượng nguồn hệ thống sông Gâm có đặc điểm chung làngắn, dốc và thuỷ triều thất thường. Xã Tân Lập có 14,77 ha mặt nước sông suối, cùng hệ thống ao lớn nhỏ.Mặc dù có nguồn nước dồi dào nhưng do địa hình dốc nên việc tưới tiêu chocây trồng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những khu ruộng cao và ruộngbậc thang. Sông chảy qua trung tâm xã Tân Lập có những đặc điểm cơ bản giốngnhư sông và suối nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn như: Độ dốc lưu vực lớn,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 33nước tập trung nhanh, thời gian lên thường bằng 1/4 thời gian lũ xuống.Lượng dòng chảy tập trung chủ yếu vào mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 10,chiếm khoảng 70% tổng lượng nước trong năm, mùa cạn từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau chỉ chiếm khoảng 25% tổng lượng nước trong năm. Do đặc điểm thuỷ văn trên mà hiện tượng lũ ống, lũ quét thường xuyênsảy ra trên con sông chảy qua trung tâm xã. Trong những năm gần đây, tạimột số khu vực trong trungâm xã đã làm hệ thống kè rọ đá để bảo vệ đường đivà ruộng, nhưng sau mỗi mùa lũ đều bị phá hỏng nghiêm trọng. Dọc theo 2bờ sông nước lũ phá hỏng rất nhiều vị trí gây nguy hiểm cho đường liên xã vàlàm ảnh hưởng nghiêm trọng đến những khu vực ruộng dọc theo sông.2.1.1.5. Đặc điểm tài nguyên đất đai của xã Kết quả điều tra cho thấy huyện Chợ Đồn có những loại đất chính sau:đất feralit màu vàng nhạt trên núi trung bình (FH) chiếm 13,38% diện tích,phân bố trên tất cả các đỉnh núi cao trên 700 m, trên nền đá mắcma axit kếttinh chua, đá trầm tích và biến chất. Tầng đất mỏng, đá nổi nhiều, đất ẩm vàcó tầng thảm mục khá dày. Đất feralit điển hình vùng đồi núi và núi thấp (Ff –Fk): chiếm 71,62% diện tích, phân bố tập trung ở phía bắc huyện Chợ Đồn.Khu vực núi đá vôi thường rất ít đất trong các hang hốc, tầng đất mỏng màuđen, đất rất tốt. Nói chung, cùng với khí hậu thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vậtnuôi, đất đai trong tỉnh còn khá tốt và là cơ sở quan trọng để phát triển nông –lâm nghiệp. Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Chợ Đồn là 91.115 ha, chiếm19,04% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn. Trong đó: Đất nông nghiệp 63.505ha, đất phi nông nghiệp là 6.408,5 ha, đất chưa sử dụng là 21.201,1 ha. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Tân Lập là 3.116 ha, trong đó diệntích đất nông nghiệp là 121,458 ha, chiếm 3,8 %. Diện tích đất lâm nghiệp làSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 341.984,32 ha chiếm 63,6 % tổng diện tích đất tự nhiên của xã [9]. Qua bảng 2.2cho thấy diện tích đất tuy nhều, tuy nhiên diện tích đất phục vụ cho sản xuấtnông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp, diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 3,9% tổngdiện tích đất tự nhiên của xã. Tình hình phân bổ đất không đều, do đặc điểmcủa xã chủ yếu là đồi núi chiếm trên 80 %, xen kẽ giữa các dãy núi là đồi thấp. Bảng 2.2: Tổng diện tích đất tự nhiên xã Tân Lập năm 2007 ĐVT: Ha Chỉ tiêu Diện tíchTổng diện tích đất tự nhiên 3.116I - Diện tích đất nông nghiệp 121,4581 - Đất trồng lúa nước 72,628+ đất 1 vụ lúa 17,645+ Đất 2 vụ lúa 54,9832 - Đất trồng cây lâu năm 5,123 - Đất trồng cây hàng năm 43,71II - Đất lâm nghiệp 1.984,311 - Đất sản xuất 1.509,562 - Đất rừng phòng hộ 474,75 (Nguồn: UBND xã Tân Lập) Về tài nguyên đất: Đất đai của xã Tân Lập được hình thành từ đá mẹ như: Phiến thạch sét,đá mắc ma axit, một số là đá mắc ma trung tính và đá biến chất. Nhìn chungphần lớn đât đai có hàm lượng mùn, kali ở mức nghèo, tổng số nhỏ hơn 1,0% Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt toàn xã hiện có 0.64 ha đất thuỷ lợi và 14.77 ha nướcsông suối và mặt nước chuyên dùng, đây là nguồn mặt nước để tạo điều kiệncho phát triển sản xuất nông nghiệp và cân bằng sinh thái.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 35 Nguồn nước ngầm; Mực nước ngầm của xã ở độ sâu trung bình từ 15đến 25m, là nguồn cung cấp nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dântrong toàn xã, chủ yếu được khai thác từ những giếng khơi và giếng khoan. Tài nguyên rừng: Tài nguyên của xã Tân Lập đa dạng và phong phú, có nhiều chủng loạicây gỗ quý với diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 1984.31 ha chiếm 63.68%tổng diện tích đất tự nhiên. Số diện tích rừng hiện nay chủ yếu là do các hộgia đình, cá nhân quản lý. Tài nguyên nhân văn: Theo tài liệu thống kê số người trong độ tuổi lao động của xã Tân Lậpchiếm khoảng 47.65% tổng dân số, đây là nguồn nhân lực dồi dào, cần cùchịu khó nhưng trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều, cán bộ có trìnhđộ khoa học kỹ thuật và năng lực ít. Mặt khác diện tích đất sản xuất nôngnghiệp thường xuyên bị xói lở, bị rửa trôi bạc màu, và thường xuyên bị vùilấp mỗi khi có lũ, dẫn đến đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.2.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản của xã Lãnh thổ Bắc Kạn nằm trong hai kiểu kiến trúc địa chất có chế độ địađộng khác nhau và do đó tạo nên bức tranh khoáng sản rất đặc trưng. Ở phíaTây sông Cầu là các thành trầm tích cổ hơn tạo nên một kiến trúc dương rõnét được gọi là phức nếp lồi Lô Gâm, ở đó tập trung hầu hết các mỏ chì, kẽm.Ở phía Đông sông Cầu là các thành trầm tích trẻ hơn tạo nên kiến trúc âm đượcgọi là võng nguồn Rift nội lục sông Hiến, ở đó tập trung hầu hết các mỏ vàng.Chì, kẽm và vàng là những loại khoáng sản có tiềm năng nhất của Bắc Kạn. Xã Tân Lập có đia hình chủ yếu là núi đá mắcma axit kết tinh chua, đátrầm tích và biến chất, nguồn khoáng sản của xã không phong phú, chưa cómột mỏ khai thác khoáng sản nào.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 362.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội của xã Đơn vị hành chính: Huyện Chợ Đồn được chia làm 22 đơn vị hànhchính, gồm thị trấn Bằng Lũng và 21 xã, Nam Cường, Đồng Lạc, QuảngBạch, Tân Lập, Ngọc Phái, Phương Viên, Bằng Phúc, Rã Bản, Đông Viên,Yên Mỹ, Đại Sảo, Yên Nhuận, Bình Trung, Nghĩa Tá, Lương Bằng, BằngLãng, Phong Huân, Xuân Lạc, Yên Thượng, Yên Thịnh, Bản Thi. Xã Tân Lập là một xã nghèo nằm ở hướng Đông của huyện Chợ Đồn,giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, xã chưa có đường giao thông trải nhựa Tình hình kinh tế nông lâm nghiệp Về nông nghiệp: Tình hình sản xuất nông nghiệp có sự phát triển trungbình do thời tiết không thuận lợi, thiên tai thường xuyên xảy ra, đặc biệt làhiện tượng lũ ống, lũ quét vào mùa mưa gây thiệt hại nặng nề đến diện tíchđất canh tác của nhân dân. Khu vực trung tâm xã tập trung khoảng 20 haruộng, trong những năm vừa qua thường xuyên chịu ảnh hưỏng của hiệntượng thiên tai này. Diện tích ruộng bị ảnh hưởng do cát sỏi tràn vào dẫn đếnkhông canh tác được và bị mất do xói lở trực tiếp. Do đó năng suất, sản lượnglương thực chỉ tăng ở mức trung bình. Chăn nuôi tiếp tục phát triển,tổng đàn trâu đến năm 2006 là 621 con,đàn bò 331 con, đàn lợn 1116 con, đàn gia cầm khoảng 6000 con, bước đầuphát triển theo phương pháp chăn nuôi khoa học [9]. Lâm nghiệp: Sản xuất lâm nghiệp có dấu hiệu phát triển khả quan, diệntích đất trồng của xã đang dần được phủ xanh trở lại, do đó diện tích rừngtrồng ngày càng được mở rộng. Nghành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Nghành tiểu thủ công nghiệp của xã tuy có phát triển, nhưng vẫn cònrất chậm, chủ yếu là để tự phục vụ. Dịch vụ thương mại phát triển chậm do vị trí địa lý và xã hội khôngthuận lợi.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 37 Các dịch vụ chế biến nông sản thủ công, may mặc, xay xát, sửa chữa,mộc…đang dần được mở rộng và phát huy.2.1.2.1. Tình hình dân số và lao động Tổng dân số toàn huyện 50.669 người(Báo cáo UBND huyện năm2007) với 7 dân tộc anh em (Tày, Dao, Kinh, Nùng, Hoa, Mông, Sán Chí)cùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 70%. Số người trong độ tuổi laođộng 33.102 người. Lương thực bình quân 451kg/người/năm. Thực trạng phân bố dân cư và lao động của xã Huyện Tân Lập có 1.286 nhân khẩu với 288 hộ [9]. Trong những năm qua tình hình di cư tự do luôn diễn ra phức tạp, đángchú ý là việc di cư ồ ạt từ các tỉnh biên giới phía Bắc đi các tỉnh Tây nguyên,trong đó chủ yếu là dân tộc Mông. Tình hình di cư tự do đã gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc hoạch định chính sách phát triển KT - XH của các địaphương. Việc di cư không đơn thuần là mục đích sinh nhai mà còn tiểm ẩnmục đích chính trị. Việc di cư thường lén lút vào ban đêm chánh sự kiểm soát của chínhquyền, không tuân thủ theo các quy định của Nhà nước. Số hộ nghèo của xã Tân Lập năm 2007 là 198/280 hộ, chiếm 70,7% [9].2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng của xãa. Thực trạng giao thông Hệ thống giao thông liên xã Tân Lập bắt đầu từ khu trung tâm xã ra đếnđầu đường quốc lộ 254 chủ yếu là đường đất. Chiều rộng mặt đường từ 3 -4m. Trên tuyến đường có nhiều chỗ bị hư hỏng, rất lầy lội khi có mưa và bụikhi nắng, dẫn đến nhân dân đi lại rất khó khăn. Đặc biệt là đoạn đường gầnđến trụ sở UBND xã do mưa lũ đã bị sạt lở nghiêm trọng. Nhìn chung hệ giống giao thông xã kém phát triển, chất lượng đườngcòn rất kém chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân trong xã. HệSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 38thống đường giao thông liên thôn cũng rất nhỏ hẹp, đi lại khó khăn. Hiện tạihệ thống giao thông trong xã đang rất cần đầu tư nâng cấp để nhân dân đi lạiđược thuận tiện.b. Thực trạng về công trình thủy lợi Tập trung đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các công trình giao thông,thuỷ lợi, Trường học, nước sạch, trạm Y tế, điện nông thôn...Trong nhữngnăm qua đầu tư mở mới được trên 100km đường liên thôn, xây mới 12 cầutreo, 35km công trình nước sạch, 50 công trình thuỷ lợi, 85% số hộ khu vựcthị trấn và 65% số hộ khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch. Bảng 2.3: Thống kê các công trình thuỷ lợi Năm Diện tích tƣới tiêu Tên công Độ dài Độ Đập STT bàn của kênh trình kênh cao dài giao Lúa xuân Lúa mùa 1 Nà bản 2004 24 ha 24 ha 2.300m 1,65m 20m 2 Nà sắm 2004 35 ha 35 ha 2.700m 1,4m 9,8m 3 Nà đán 2007 0 2 ha 436,4m 1,35m 13m (Nguồn: UBND xã Tân Lập) Kiên cố hoá kênh mương là một chương trình, chủ truơng lớn củaChính Phủ nhằm nâng cao hệ thống kênh mương thuỷ lợi nội đồng năng caonăng suất tưới tiêu (tiêu ứng, chống hạn) phục vụ sản xuất nông nghiệp vàgóp phần đảm bảo vệ sinh môi trường trong nông nghiệp Khả năng tiếp cận nguồn nước được hiểu là tốc độ và độ tin cậy của hệthống kênh mương đối với sự phát triển nông nghiệp, tiếp cận và sử dụngnguồn nước của người dân. Trên địa bàn huyện Chợ Đồn đã có một số công trình thuỷ lợi được xâydựng nhằm phục vụ tưới cho đồng ruộng canh tác của thôn xã. Do vốn đầu tưcông trình hạn chế nên công trình xây dựng không đồng bộ hoặc chỉ còn làcác phai đập tạm.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 39 Công tác quản lý thuỷ lợi hiện nay: Các công trình thuỷ lợi được đưa vàosử dụng đều giao cho địa phương có công trình hưởng lợi quản lý sử dụng. Xã Tân Lập là một xã vùng sâu, vùng xã thuộc diện chính sách theoQuyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ, nằm ở phía Bắc huyện lỵ, cáchtrung tâm thị trấn Bằng Lũng 25km, địa hình độc đạo, ngõ cụt, không cócđường giao thông liên xã, dân cư có 288 hộ, 1286 nhân khẩu, gồm 5 dân tộcanh em: Tày, Nùng, Dao, Mông và Kinh. Cum dân cư chia thành 8 thôn,trong đó có 3 thôn định canh, định cư, măt bằng dân trí còn thấp, tỷ lệ hộnghèo còn cao, chiếm 65,2% số hộ [9]. Tình hình kinh tế không đồng đều giữa các thôn, Thực hiện sự nghiệpđổi mới của Đảng, Nhà nước, đặc biệt từ khi thực hiện Quyết định 135 củaThủ tướng Chính phủ, bộ mặt của địa phương ngày càng được khởi sắc: Điện,đường, trường, trạm được đầu tư đưa vào sử dụng, chương trình nước sạch8/8 thôn được hưởng lợi, hệ thống thuỷ lợi được đầu tư kiên cố hoá, cơ bảnđảm bảo nước tưới tiêu phục vụ sản xuất lúa nước hai vụ. điện lưới quốc giađã đưa ánh sáng đến 7/8 thôn, sóng vô tuyến truyền hình đã được phủ khắpcác hộ trong xã. Thực hiện sử dụng nguồn vốn Chương trình 135 năm 2007, đầu năm2008, xã Tân Lập tiếp tục triển khai xây dựng công trình kênh Nà Khâu thônBản Chang, với tổng chiều dài tuyến kênh là 1.107,39 m, trong đó tuyến kênhchính dài 553,12 m, tuyến kênh phụ dài 554,27 m để đưa vào sử dụng trongnăm 2008 nhằm phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp của xã.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 40 Bảng 2.4: Tình hình nguồn nƣớc xã Tân Lập năm 2007 Chỉ tiêu ĐVT Số lƣợngHồ tự nhiên Cái 0Hồ nhân tạo Cái 0- Kiên cố M 139- Không kiên cố M 141Tổng vốn đầu tư cho thuỷ lợi năm 2006 triệu đồng 814,18DT chủ động nước Ha 6% Chủ động nước % 0,73 (Nguồn: Phòng Thống kê huyện Chợ Đồn) Bảng tình hình nguồn nước cho thấy trên địa bà xã không có hồ nướctự nhiên và hồ nước nhân tạo để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Bên cạnhđó hệ thống kênh mương của xã là rất ít, trong đó kênh mương kiên cố là 139m, kênh mương không kiên cố là 814,18 m. Điều đó càng thêm phần khókhăn cho các hộ trong việc tiếp cận nguồn nước. Chính vì vậy diện tích chủđộng nước của xã là rất ít, chỉ có 6 ha tương ứng với 0,73%.c. Thực trạng về hệ thống thông tin Về thông tin liên lạc: Huyện Chợ Đồn có 100% số xã có điện thoại đảmbảo liên lạc được, 19 xã có điểm bưu điện văn hoá xã, mật độ điện thoại đạt5,6 máy/100 người dân. 100% số xã có thư, báo đến trong ngày Xã Tân Lập có 01 điểm bưu điện văn hoá xã, nằm tại trung tâm xã, đảmbảo phục vụ thông tin liên lạc cho nhân dân xã. Là một xã nghèo vùng sâu vùngxa nên xã chỉ có điện thoại cố định, chưa được phủ song điện thoại di động.d. Thực trạng hạ tầng phục vụ cho phát triển xã hội Giáo dục: Xã Tân Lập có 01 trường tiểu học và 01 trường mầm non nằm cùngmột địa điểm, trong đó phân hiệu có 2 lớp tiểu học nằm tại thôn PhiêngĐeéng, cơ sở vật chất còn thiếu thốn và khó khăn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 41 Y tế: Có 01 trung tâm y tế huyện, 22 trạm y tế xã, thị trấn, trong đó 17trạm có bác sỹ. 03 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia (Bản Thi, Quảng Bạch, BằngLãng). Nhìn chung hệ thống y tế đa số đã được xây dựng lâu, chủ yếu là nhàcấp 4, đã xuống cấp, không đảm bảo điều kiện theo quy định Xã có 01 trung tâm y tế xã nằm tại UBND xã Tân Lập. Hệ thống cấp điện: 100% các xã có điện lưới quốc gia, tỷ lệ số hộ đượcsử dụng điện 86%. Tổng số có 100 MBA, trên 100km đường dây0,4 KV,230,5 km đường dây 35 KV, 9.366 công tơ điện. Xã Tân Lập còn 01 thôn chưa có điện lưới đó là thôn Phiêng Đéng, làmột thôn vùng cao, nằn xa trung tâm xã.2.1.2.3. Đánh giá những tác động của điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội phát triển nông nghiệp và hạ tầng thuỷ lợi của địa phươnga - Điểm mạnh Là một xã vùng sâu vùng xa nghèo, được sự quan tâm của chính quyềnđịa phương, xã Tân Lập có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp, diện tích đấttrống của xã đang dần được phủ xanh do diện tích rừng trồng ngày càng tăng. Là huyện tiếp giáp với huyện Ba bể và tỉnh Tuyên Quang, Chợ Đồn cóthế mạnh về sản xuất nông nghiệp và khai thác xuất khẩu tài nguyên Khoángsản như : Kẽm, Chì, Quặng…góp phần phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Kạn.b - Điểm yếu Xã Tân Lập là một xã vùng sâu vùng xa, nằm xa đường quốc lộ chính,giao thông đi lại khó khăn, trung tâm xã nằm cách xa đường quốc lộ, giaothông từ đường quốc lộ vào trung tâm xã là đường đất đỏ, chưa được giảinhưa. Khi trời mưa đường rất trơn trượt và khó đi, trời nắng lại nhiều bụi,nhiều đoạn đường đã bị hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng, dẫn đến pháttriển kinh tế của huyện gặp nhiều khó khăn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 42 Xã Tân Lập nằm hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, không có chợ,nên mọi hoạt động giao thương mua bán của người dân chủ yếu là tự cung tựcấp, hoặc đi đến trung tâm huyện, vì vậy để phát triển kinh tế thông qua conđường giao thương là rất hạn chế.c - Cơ hội Bên cạnh những khó khăn, huyện Tân Lập có khí hậu thuận lợi để pháttriển một cây trồng, vật nuôi đa dạng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả,chăn nuôi đại gia súc. Đây là lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp sinhthái, tạo ra các sản phẩm tập trung phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.d - Nguy cơ Chịu ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt, lũ ống và lũ quét xảy ra vàomùa mưa, gây hiện tượng xói mòn, và nguy hiểm cho tính mạng của ngườidân, hiện tuợng xói mòn sẽ gây mất đất, giảm diện tích đất nông nghiệp, trongkhi kinh tế người dân trong xã chủ yếu là nông và lâm nghiệp. Trình độ dân trí thấp, cộng với nhiều phong tục tập quán còn cổ hủ dẫnđến sự đình trệ trong phát triển kinh tế của xã.2.1.2.4. Đặc điểm của nhóm hộ điều tra. Bảng 2.5: Những đặc trƣng của nhóm hộ điều tra Những chiến lƣợc Vấn đềKiểu nhóm Đặc trƣng của nhóm sản xuất cần nghiên cứu Độ tuổi trung bình 40,2 - Tập trung trồng Nghiên cứu gải pháp Có diện tích đất lâm các cây hoa mà, tối ưu cho việc tiếp nghiệp lớn, đất trồng cây lâu năm và cây cận nguồn nước, xây lúa rộng, nhưng chỉ chủ lấy gỗ đập ngăn, bể chứa giữ Nhóm rất yếu là đất 1vụ, do nước. khó khăn không chủ động được nước tưới. - Có đất để trồng cây lâu nămSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 43 Những chiến lƣợc Vấn đềKiểu nhóm Đặc trƣng của nhóm sản xuất cần nghiên cứu - Độ tuổi trung bình là Với diện tích đất Tiếp cận tốt nguồn 44,5 canh tác rộng, cần nước, sử dụng đường - Nguồn lao động dồi có các giải pháp ống dẫn nước từ bể dào khắc phục khó chứa. - Diện tích đất 1vụ và khăn về thuỷ lợi 2vụ lớn để tăng năng suất - Diện tích đất trồng cây trồng. cây lâu năm có điều Nhóm khó kiện để phát triển cây khăn lâu năm - Khả năng tiếp cận nguồn nước trung bình do có được sử dụng hệ thống kênh mương, nhưng xa nguồn nước, hệ thống kênh kiên cố chưa có. Độ tuổi trung bình 42,9. Xây dựng tốt hệ Nghiên cứu khả năng số lao động nam trung thống kênh tiếp cận nguồn nước bình 1hộ là 2,35 người, mương, để tất cả do được tiếp cận nữ 2,95, ổn định về được hưởng thuỷ nguồn nước nhưng nguồn lao động lợi, đào ao nuôi một số vùng còn xaNhóm thuận - Tiếp cận nguồn nước thuỷ sản. nguồn và hệ thống lợi tôt do nằm ven rung tâm Nguồn lao động thuỷ lợi xã, nhưng một số vùng dồi dào, tập trung còn có kênh mương thấp phát huy tối đa hơn ruộng diện tích để canh tác, lúa, ngô, sắn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 44 Những chiến lƣợc Vấn đềKiểu nhóm Đặc trƣng của nhóm sản xuất cần nghiên cứu - Độ tuổi trung bình là Được tiếp cận tôt Nghiên cứu sử dụng 44 nguồn nước, cần tối đa lợi thế về - Diện tích đất 1vụ và phòng chống thiên nguồn nước, chống 2vụ và ngô nhỏ tai gây ảnh hưởng xói mòn đất, cải tạo - Diện tích đất canh tác đến diện tích đất đất để tăng năng suất. Nhóm rất nhỏ do vùng trung tâm canh tác, xây kè thuận lợi xã diện tích nhỏ chống xói. - Tiếp cận nguồn nước Tập trung sản xuất tôt nhất, do ở thấp, lúa, cây hao màu, dòng sông nhỏ chảy qua phát triển dịch vụ. trung tâm luôn đủ nước để tưới tiêu. Bảng 2.5 cho ta thấy tình hình đặc điểm nổi bật của từng nhóm hộ điềutra, ở nhóm hộ khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước có sự thuận lợivề đất lâm nghiệp và đất trồng cây lâu năm, đất trồng lúa rộng nhưng chỉ sửdụng để trồng lúa một vụ do khả năng tiếp cận nguồn nước khó khăn, khôngđủ nước tưới tiêu. Với sự thuận lợi về đất trồng cây lâm nghiệp và khó khănvề nguồn nước, nhóm cần có các phương án trồng cây lâm nghiệp phù hợp,bên cạnh đó cũng cần có các phương án giữ nước để phục vụ tưới tiêu. Tậptrung vào canh tác và tròng các loại cây có chi phí thấp hơn và chịu sự khôcằn tốt hơn cây lúa.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 452.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp và tiếp cận nguồn nƣớc của ngƣời dân xã Tân Lập2.2.1. Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra Bảng 2.6: Thông tin chung về chủ hộ điều tra Chỉ tiêu Rất Rất Thuận Khó Nhóm hộ ĐVT khó thuận lợi lợi khăn khăn Số hộ điều tra Hộ 34 19 25 62 Tuổi BQ chủ hộ Năm 44 42,9 44,56 40,2 Trình độ VH chủ hộ Lớp 6,117 6,2 6,12 6,0 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Tổng số hộ điều tra gồm 140 hộ, độ tuổi bình quân của chủ hộ củanhóm rất thuận lợi về nguồn nước là 44 và rất khó khăn là 40,2, cho thấy độtuổi bình quân của chủ hộ không chênh nhau là mấy. Điều đó có nghĩa độ tuổicủa các nhóm hộ không thể hiện xu hướng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất vàthu nhập của các hộ. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, xã có 01 truờng tiểu họ và01 trường mầm non, số lượng bỏ họ lớn, trình độ văn hoá của nhóm hộ điềutra không cao, trung bình là lớp 6, chủ yếu là làm nông nghiệp, cùng với sựkhó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước, dẫn đến năng suất không cao. Nềnkinh tế của xã chủ yếu là tự cung tự cấp. Bảng 2.7: Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ Chỉ tiêu Rất Khó Rất khó ĐVT Thuận lợi Nhóm hộ thuận lợi khăn khăn Số hộ điều tra Hộ 34 19 25 62 Bq nhân khẩu Người 3,5 5,3 4,96 4,14 - Nam “ 1,79 2,35 2,2 2,19 - Nữ “ 1,73 2,95 2,76 1,98 Bq lao động Lđ 2,23 3,05 3,04 2,61 - LĐ là nam “ 1,17 1,5 1,52 1,3 - LĐ là nữ “ 1,06 1,55 1,52 1,3 (Nguồn: Số liệu điều tra 2007)Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 46 Tổng số nhân khẩu trên hộ nhóm rất khó khăn về nguồn nước bìnhquân là 4,14 người, trong đó nhân khẩu nam bình quân là 2,19 người chiếm52,8% trên hộ, nữ là 1,98 người chiếm 47,8%. Nhóm thuận lợi nhất có tổngbình quân nhân khẩu trên hộ là 3,5 người, trong đó nhân khẩu nam là 1,79người, chiếm 51,1%, nhân khẩu nữ là 1,73 người, chiếm 49,4%. Bảng 2.7 chota thấy nhân khẩu bình quân của nhóm khó khăn nhất nhiều hơn nhóm thuậnlợi nhất, trong đó tỷ lệ nam và nữ cũng lớn hơn. Nhóm khó khăn nhất sốngtập trung tại các vùng cao, vùng núi, trình độ và nhận thức lạc hậu, dẫn đến sựgia tăng dân số ở khu vực ày cao hơn. Về lao động, nhóm khó khăn nhất có tổng lao động bình quân là 2,61người, trong đó la động nam là 1,3 chiếm 49,8%, lao động nữ cũng là 1,3người bằng 49,8%. So với bình quân nhân khẩu trên hộ thì bình quân laođộng của nhóm này chiếm 63%. Lao động của nhóm thuận lợi nhất trung bìnhlà 2,23 người, trong đó lao động nam 1,17 người chiếm 52,4%, lao động nữlà 1,06 người bằng 47,5%. So với bình quân nhân khẩu của nhóm này, laođộng chiếm 63,7%. Từ đó cho thấy, mặc dù tỷ trọng lao động trong tổng nhânkhẩu bình quân là không chênh lệch nhau là mấy, nhưng số lao động bìnhquân của nhóm khó khăn là cao hơn cả lao động nam và lao động nữ. Nhóm thuận lợi về nguồn nước có số nhân khẩu bình quân cao nhất,trong đó lao động bình quân là 3,05 ngưòi, chiếm 57,5%. Tuy chiếm tỷ trọngthấp hơn về lao động so với 2 nhóm trên, nhưng tổng lao động bình quân làlớn hơn, với tổng lao động bình quân là 3.05 người trong đố lao động nam là1,5 người và nữ là 1,55 người. Số lao động nhóm này tương đương với nhómkhó khăn trung bình là 3,04 người lao động. Với đặc điểm của nhóm thuận lợilà tiếp cận tốt về nguồn nước và nằm ở vên trung tâm, không chịu sự xói mònđất, có điều kiện để tiếp cận nguồn nước và tăng thu nhập. Tình hình lao độngkhông chênh nhau là mấy so giữa các nhóm hộ, tuy nhiên, xã Tân Lập chủSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 47yếu là sản xuất nông nghiệp, cho nên yếu tố nước tưới và đất canh tác là cácyếu tố quan trọng. Tuy nhiên đất sản xuất nông nghiệp của xã là không nhiều,đều này phần nào đã gây ra những hạn chế đối với thu nhập từ nông nghiệpcủa các nhóm hộ. Tình hình đất đai được thể hiện qua bảng số liệu sau: Bảng 2.8: Tình hình đất đai của nhóm hộ điều tra ĐVT: m2 Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khănChỉ tiêu SL % SL % SL % SL % 41.562,67 100 41.935 100 34.391,48 100 69.386,48 1001.Đất hàng năm 2.283,24 5,49 3.372,11 8,04 4.328,00 12,58 2.474,68 3,57- Đất 1 vụ 1.392,68 2.015,38 3.350,00 2.049,41- Đất 2 vụ 1.709,86 1.993,16 2.88,00 1.350,812. Đất trồng cây 0 0 275 0,65 1,200 3,49 1,175 1,69lâu nămĐất lâm nghiệp 38.393,33 92,37 37.540,00 89,52 27.730,77 80,63 65.116,4 93,84Đất nuôi trồng 260 0,62 300 0,71 650 1,89 242,86 0,35thuỷ sảnĐất vườn + 626,11 1,51 447,89 1,07 482,72 1,4 377,54 0,54thổ cư (Nguồn: UBND xã Tân Lập) Đất đai là một yếu tố hết sức quan trọng, tác động nhiều đến năng suấtcây trồng, đến diện tích canh tác. Với ngành nghề chính là nông nghiệp và lâmnghiệp cho nên diện tích của các hộ chủ yếu là trồng lúa, ngô và cây lấy gỗ Tổng diện tích bình quân của nhóm hộ có điều kiện khó khăn nhấttrong việc tiếp cận nguồn nước là 69.386,48 m2, nhóm hộ tiếp cận tốt nhất vềnguồn nước là 41.562,67 m2, nhỏ hơn so với diện tích bình quân nhóm hộ khókhăn là 27.823,81 m2 là do diện tích đất của khu trung tâm xã là nơi tiếp cậnnguồn nước tốt nhất nhỏ, chịu sự xói mòn đất do thiên nhiên, và chưa đượcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 48xây kè chống xói. Diện tích đất trồng 1vụ của nhóm hộ khó khăn nhất lớn hơndiện tích trồng lúa 2vụ là do khả năng tiếp cận nguồn nước kém, chỉ có1.35,82m2 so với 1.709,86m2 của nhóm thuận lợi nhất. Chính vì vậy nhómkhó khăn nhất tập trung vào lợi thế của mình là trồng cây lâm nghiệp với diệntích đất là 65.116,4m2 lớn hơn so với nhóm thuận lợi nhất. Với đặc điểm diện tích đất lâm nghiệp của nhóm hộ khó khăn nhấtrộng, thuận lợi cho việc phát triển trồng rừng. Cần chú trọng và có chính sáchđối với việc mở rộng quy mô trồng rừng ở các diện tích đầu nguồn, giao đấtgiao rừng để gắn trách nhiệm cho người dân, nó không chỉ có tác động tới thunhập của hộ mà còn có tác dụng giữ nước đầu nguồn, tạo nên nguồn đất tốt đểtrồng cây, tăng năng suất cây trồng. Như vậy, đất đai là một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong pháttriển sản xuất, nâng cao thu nhập của nhóm hộ điều tra. Đối với từng nhóm,sự tiếp cận nguồn nước là yếu tố quan trọng tác động đến năng suất, tuy nhiêndiện tích đất canh tác là không thể thiếu. Bảng 2.9: Tình hình tài sản phục vụ sản xuất của hộ ĐVT: Cái Nhóm hộ Rất Rất khó Thuận lợi Khó khănChỉ tiêu thuận lợi khănTổng tài sản 1,89 2,78 2,69 2,42- Máy cày 0,4 0,5 0,6 0,3- Máy tuốt lúa 0,5 1 1 1- Máy bơm nước 0,09 0,28 0,09 0,12- Máy sao chè 0 0 0 0- Máy khác 0,9 1 1 1 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 49 Trong phát triển sản xuất nông nghiệp, trang thiết bị máy móc phục vụcho sản xuất là một yếu cầu khách quan và quan trọng. Việc trang bị máy mócthiết bị vào sản xuất, một mặt làm giảm sức lao động chân tay của con người,mặt khác làm tăng năng suất lao động, năng suất đất đai, từ đó giải phóng mộtphần lao động thủ công, làm tăng khả năng được tiếp cận nguồn nước phục vụsản xuất nông nghiệp. Qua bảng số liệu trên cho thấy tình hình trang thiết những máy mócthiết yếu còn thấp, với tổng tài sản trung bình của nhóm khó khăn nhất là 2,42cái, nhóm thuận lợi nhất là 1,89 cái và 2 nhóm cao nhất là nhóm thuận lợi2,78 cái và nhóm khó khăn là 2,69, cụ thể: Máy cày bình quân của nhóm khó khăn nhất là 0,3 cái chiếm 12,3%tổng tài sản của nhóm, thì nhóm thuận lợi nhất cũng chỉ 0,4 cái, chiếm 21,2%tổng tài sản của nhóm. Máy tuốt lúa của 3 nhóm khó khăn nhất, khó khăn và thuận lợi trungbình là 1cái, trong khi đó nhóm thuận lợi nhất là 0,5cái. Nhóm khó khăn nhấttrung bình là 1 cái chiếm 41,3% tổng tài sản của nhóm. Nhóm thuận lợi nhấtlà 0,5 cái, bằng 26,4% tổng tài sản đầu tư cho nông nghiệp của nhóm. Từ đócho thấy việc đầu tư về máy tuốt lúa của nhóm thuận lợi nhất là không cao sovới các nhóm. Là địa phương với kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tiếp cận được mộtcách tốt nhất nguồn nước là điều vô cùng quan trọng, vì vậy máy bơm nước làquan trọng đối với việc tưới tiêu. Qua bảng trên cho thấy, sự đầu tư về máybơm của các nhóm là chưa nhiều, cụ thể: Nhóm khó khăn nhất trung bình là0,12cái, chiếm 4,9% tổng tài sản của nhóm, nhóm khó khăn là 0,09cái, chiếm3,3%. Nhóm thuận lợi là 0,28cái chiếm 10% và nhóm thuận lợi nhất là0,09cái chiếm 4,7% tổng tài sản của nhóm.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 50 Qua bảng trên cho thấy, tỷ trọng máy bơm nước trên tổng tài sản phụcvụ cho sản xuất nông nghiệp của các nhóm là khác nhau, cụ thể: Nhóm thuậnlợi cao nhất với 10% là máy bơm nước, do đặc điểm địa hình của nhóm nàytốt, việc tiếp cận nguồn nước là khá dễ dàng. Tuy nhiên có một số còn có diệntích đất canh tác nằm cao hơn kênh mương dẫn nước cho nên sự đầu tư vềmáy bơm là hợp lý. Đứng thứ 2 là nhóm khó khăn, với đặc điểm không thuậnlợi trong việc tiếp cận nguồn nước, việc đầu tư các máy móc để dẫn nước,bơm nước là vô cùng cần thiết, nó giúp nhóm hộ này có thể bơm dẫ nước từxa về để phục vụ tưới tiêu. Đối với nhóm khó khăn, là nhómđược hưởng điềukiện về thuỷ lợi, tuy nhiên còn nằm xa nguồn nước, các kênh mương dẫnnước, hoặc có kênh mương dẫn nước đến nhưng do kênh mương chưa kiêncố, dẫn đến sự ngấm nước, làm cho nước chưa kịp đến với diện tích cần tướitươi đã bị ngấm hết, do vậy cần đầu tư thêm máy móc để để dẫn nước và giữnước, phục vụ sản xuất nông nghiệp.2.2.2 Tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp của hộ2.2.2.1 Kết quả sản xuất nông nghiệp của nhóm hộ điều tra Bảng 2.10: Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ ĐVT: 1.000đ Nhóm hộ Rất Rất Thuận lợi Khó khănChỉ tiêu thuận lợi khó khănTổng thu từ nông nghiệp 7.448,96 11.825,19 10.219,78 8.598,09- Thu từ trồng trọt 4.139,91 6.152,82 6.685,44 4.374,87- Thu từ chăn nuôi 3.044,04 5.072,36 2.888,8 3.634,88- Thu từ lâm nghiệp 265 600 654,54 588,33 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Qua bảng kết quả sản xuất ngành nông nghiệp của hộ cho thấy, hầu hếtcác khoản thu nhập của hộ đều từ nông nghiệp. Tổng thu nhập bình quân củaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 51nhóm khó khăn nhất sau khi đã trừ chi phí là 8.598,09 nghìn đồng, trong đó thutừ trồng trọt là 4.374,87 nghìn đồng chiếm 50,8% tổng thu từ nông nghiệp, thutừ chăn nuôi là 3.634,88 nghìn đồng chiếm 42,2%, thu từ lâm nghiệp là 588,33nghìn đồng chiếm 6,8%, qua đó cho thấy thu nhập từ trồng trọt của nhóm nàychiếm tỷ trọng cao hơn so với thu từ chăn nuôi và lâm nghiệp. Nhóm thuận lợi nhất có tổng thu nhập bình quân từ nông nghiệp là7.448,96 nghìn đồng, trong đó thu từ trồng trọt là 4.139,91 nghìn đồng chiếm55,6%, thu từ chăn nuôi là 3.044,04 nghìn đồng chiếm 40,8% và thu từ lâmnghiệp là 265 nghìn đồng chiếm 3,5%. So sánh giữa 2 nhóm trên ta thấy, thutừ trồng trọt của nhóm thuận lợi nhất chiếm tỷ trọng trong tổng thu từ nôngnghiệp lớn hơn nhóm khó khăn là 4,8%. Tuy nhiên Qua nghiên cứu tình hình thu nhập và cơ cấu thu nhập của các nhóm hộđiều tra của xã Tân Lập có thể nhânh thấy tình trạng thuần nông của sản xuấtnông nghiệp. Để đưa ra cái nhìn sâu hơn về vấn đề sản xuất và thu nhập củahộ từ việc tiếp cận nguồn nước, ta đi phân tích, đánh giá tình hình sản xuấttrồng trọt và chăn nuôi của nhóm hộ điều tra. Bảng 2.11: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của hộ ĐVT: 1000đ Nhóm hộ Rất Rất Thuận lợi Khó khănChỉ tiêu thuận lợi khó khăn Tổng số 4.139,92 6.152,82 6.685.44 4.374,87- Thu từ lúa 3.931,92 5.100,40 4.774,64 3.209,55- Ngô 634,47 973,47 1.894,8 1.141,13- Đậu đỗ 73,53 78,95 16 24,19 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007)Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 52 Là một xã nghèo vùng xâu vùng xa, điều kiện còn khó khăn, kỹ thuậtgieo trồng còn thủ công và lạc hậu, chưa áp dụng được sự tiến bộ của khoahọc kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Thu nhập của các hộ trông xã đều chủ yếu từ nông nghiệp, nhưng thunhập từ các loại cây trồng và các vùng khác nhau, do quy mô và do sự tiếpcận nguồn nước, do diện tích canh tác. Bảng 2.11 cho thấy thu nhập bìnhquân từ lúa của nhóm khó khăn nhất về tiếp cận nguồn nước là 3.209,55 đồng,so với nhóm hộ tiếp cận tốt nhất là 3.931,92, thấp hơn 722,37 đồng bằng81,6% so với nhóm thuận lợi nhất về nguồn nước. Trong khi đó thu nhập từtrồng ngô của nhóm khó khăn nhất trung bình là 1.141,13 đồng so với 634,47đồng của nhóm thuận lợi nhất, nhiều hơn 506,66 đồng. Qua bảng ta thấy rằng,thu nhập từ lúa của nhóm hộ khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nướcthấp hơn so với nhóm thuận lợi nhất, tuy nhiên sản lượng ngô lại cao hơn, từđó cho thấy, vùng tiếp cận nguồn nước khó khăn nhất đã biết chuyển đổi câytrồng để phù hợp với khí khậu và đất đai. Do cây ngô có chi phí thấp hơn vàchịu sự khô cằn tốt hơn so với cây lúa. Đồ thị biểu thị thu nhập từ lúa của nhóm hộ điều tra RÊt thuËn lîi ThuËn lîi 5100.4 4774.64 6000 Khã kh¨n 3931.92 5000 RÊt khã kh¨n 3209.55 4000 1894.8 3000 1141.13 973.47 2000 634.47 78.95 1000 73.53 24.19 16 0 Thu tõ lóa Ng« §çSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 53 Bảng 2.12: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của hộ ĐVT: 1.000 đồng Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khăn Chỉ tiêu Tổng số 3.044,04 5.072,36 2.888,8 3.634,88 - Lợn 2.973,45 5.013,15 2.741,2 3.315,61 - Trâu, bò - - - 258,06 - Gia cầm 70,59 59,21 147,6 61,21 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Bắc Kạn là một tỉnh với nền nông nghiệp là chính. Dù ngành chăn nuôichưa đóng góp nhiều cho thu nhập của tỉnh và của người dân, chưa thực sựnổi bật nhưng không phải vì thế nó không có những lợi thế trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế. Để chăn nuôi thực sự trở thành một ngành kinh tếmũi nhọn, rất cần phải nhìn thẳng vào sự thật và đổi mới thực sự nhận thứcchung về vấn đề này. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tự cung tự cấp, nhu cầu thực phẩmcủa người dân ngày càng tăng, song sản phẩm chăn nuôi vẫn chưa đáp ứng đủnhu cầu tiêu dùng cho người dân xã Tân Lập. Do chưa thực sự có cách tiếpcận mới, chăn nuôi truyền thống vẫn chiếm tỷ lệ cao, với những đặc điểm nổibật là nhỏ lẻ, phân tán, số lượng không tập trung đủ lớn để trở thành sản phẩmhàng hóa, không đồng nhất về chất lượng, chưa chú trọng đến tính kế hoạchthị trường và hạch toán về hiệu quả kinh tế. Phương thức chăn nuôi này tuy cónhiều nhược điểm, nhưng là nguồn thực phẩm và thu nhập cần thiết nâng caomức sống của người dân. Tổng thu nhập bình quân từ chăn nuôi của nhóm khó khăn nhất trongviệc tiếp cận nguồn nước là 3.634,88 nghìn đồng, trong đó thu từ chăn nuôilợn là 3.315,61 nghìn đồng, chiếm 91,2% tổng thu nhập từ chăn nuôi củaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 54nhóm. Thu nhập của nhóm thuận lợi nhất từ chăn nuôi lợn là 2.973,45 nghìnđồng, chiếm 97,6% tổng thu nhập từ chăn nuôi của nhóm. Bảng 2.12 cho thấyvùng tiếp cận nguồn nước thuận lợi nhất có thu nhập bình quân từ nuôi lợnchiếm tỷ trọng trong tổng thu nhập từ chăn nuôi lớn, tuy nhiên thu nhập bìnhquân từ chăn nuôi lợn so với nhóm hộ khó khăn về nguồn nước còn thấp hơn,bên cạnh đó thu nhập từ chăn nuôi trâu, bò là không có, trong khi đó nhóm hộkhó khăn nhất thu nhập bình quân từ chăn nuôi Trâu và Bò là 258,06đồng,bằng 7% tổng thu nhập của nhóm. Đặc điểm các thôn trong vùng trung tâm xã là vùng được tiếp nguồnnước thuận lợi nhất, dân cư mới di dời đến, tập trung chủ yếu là cán bộ xã,nhà ít lao động, dẫn đến việc chăn nuôi ít được chú trọng, ví dụ chăn nuôi trâubò, do vậy thu nhập chủ yếu tập trung vào trồng trọt. Bên cạnh đó, bảng 2.12 cho thấy, thu nhập từ chăn nuôi của nhómthuận lợi về nguồn nước cao nhất, với tổng thu nhập từ chăn nuôi là 5.072,26đồng, trong đó thu nhập từ chăn nuôi lợn là 5.013,15 đồng chiếm 98,8%,chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu nhập từ chăn nuôi. Do đặc điểm địahình nằm ven trung tâm và ở các triền đồi thấp, cho nên việc tiếp cận nguồnnước tốt, diện tích chăn thả rộng, thuận lợi cho việc thả lợn ăn tự do, cho nênnhóm đã tập trung vào chăn nuôi chủ yếu là lợn, phù hợp với tập quán chănnuôi lợn của vùng. Nhóm khó khăn về tiếp cận nguồn nước có thu nhập từ chăn nuôi thấpnhất, với tổng thu nhập bình quân là 2.888,8 đồng, trong đó thu từ chăn nuôilợn là 2.741,2 đồng , thấp hơn thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm thuận lợi(nhóm có thu nhập cao nhất từ chăn nuôi lợn) là 2.271,95 đồng bằng 54,6%.Tuy nhiên, bảng 2.12 cho ta thấy thu nhập trung bình từ chăn nuôi gia cầmcủa nhóm là 147,6 đồng, cao nhất trong 4 nhóm, chiếm 5,1% tổng thu nhập từchăn nuôi của nhóm.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 55 Thu nhập bình quân từ chăn nuôi lợn của các nhóm là chênh lệch nhau. Thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm khó khăn nhất trong việc tiếp cận nguồn nước chiếm 91,2% tổng thu nhập từ chăn nuôi. Nhóm khó khăn chiếm 94,8%, nhóm thuận lợi 98,8% và nhóm rất thuận lợi là 97,6%. Qua đó cho chúng ta thấy thu nhập từ chăn nuôi lợn của nhóm thuận lợi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu từ chăn nuôi. Nhóm khó khăn có thu nhập từ chăn nuôi lợn thâp nhất, tuy nhiên thu nhập từ chăn nuôi gia cầm lại cao nhất. Bảng 2.13: Chi phí ngành trồng trọt của hộ ĐVT: 1.000 đồng Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khăn Chỉ tiêu Tổng số 5.897,33 3.906,59 3.149,23 2.494,35 - Giống 327,1 392,17 475,1 280,06 - Phân bón 523,95 673,4 643,23 533,5- Dịch vụ mua ngoài 5.000 3.135 1.930 1.680- Chi phí lđ thuê ngoài 45,58 38,89 - - (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Qua bảng 2.13 ta thấy, tổng chi phí ngành trồng trọt của các hộ giảm dần từ nhóm rất thuận lợi đến nhóm rất khó khăn, cụ thể, nhóm rất thuận lợi có tổng chi phí bình quân là 5.897.000,33 đồng, nhóm thuận lợi là 3.906.000,59 đồng, nhóm khó khăn là 3.149.000,23 đồng và nhóm rất khó khăn là 2.494.000,35 đồng. Thực tế có sự chênh lệch đó là do, có sự chênh lệch về dịch vụ thuê ngoài, nhóm rất thuận lợi có thuận lợi về nguồn vốn, thuê máy bơm nước vào những thời điểm khó khăn về nước, thuê máy tuốt lúa… , vì vậy chi phí dịch vụ của họ cao so với các nhóm khác. Về chi phí lao động thuê ngoài, chỉ 2 nhóm rất thuận lợi và thuận lợi có chi phí. Nhóm rất thuận lợi do có số lao động bình quân ít nhất trong các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 56nhóm với 2,23 người/hộ, nên phải chi phí 45,58 nghìn đồng/hộ. Nhóm thuậnlợi có chi phí thuê ngoài là 38,89 nghìn đồng/hộ. Hai nhóm khó khăn và rấtkhó khăn cũng có nhu cầu thuê lao động để phục vụ sản xuất, nhưng do điềukiện về nguồn vốn không cho phép họ thực hiện điều này. Lượng phân bóncác nhóm hộ sử dụng không chênh lệch nhau nhiều. Bảng 2.14: Chi phí ngành chăn nuôi của hộ ĐVT: 1.000 đồng Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khănChỉ tiêu Tổng số 967,79 1.315,11 996,48 940,59 - Giống 888,76 1157,92 884,08 820,28 - Thức ăn xanh 68,53 129,89 93,2 112,25- Công lao động 10,5 27,3 19,2 8,06 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Qua bảng 2.14 cho ta thấy, tổng chi phí ngành chăn nuôi của nhóm hộthuận lợi là cao nhất, do nhóm hộ này nuôi số lượng lợn nhiều nhất, với chiphí giống là 1.157.000,92 đồng, chi phí thức ăn là 129,89 nghìn đồng. Cácnhóm hộ không tiến hành mua thức ăn tinh, vì họ đã tận dụng các thức ănxanh trồng được và các sản phẩm phụ từ lúa như rơm, rạ, cám xát từ thóc.Thực tế chi phí chăn nuôi của các nhóm hộ chủ yếu đối với lợn, và con vậtnuôi này cũng đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các hộ nông dân nơi đâySố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 572.2.3. Phân tích tình hình sản xuất lúa của hộ Bảng 2.15: Kết quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra Nhóm hộ Rất Khó Rất khó ĐVT Thuận lợiChỉ tiêu thuận lợi khăn khănDiện tích gieo m2 2.424,41 3.338,42 4.056 2.254,92 trồng Năng suất Kg/1000m2 419,12 390,57 405,6 357,72 Sản lượng Kg 1.287,58 1.677,95 1.781,2 1.074,09 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Bảng 2.15 Cho ta thấy, diện tích gieo trồng lúa của nhóm hộ khó khănnhất là 2.254,92 m2, nhỏ nhất so với các nhóm khác, với sản lượng là1.074,09 kg, thấp nhất. Với diện tích gieo trồng lúa nhỏ, cộng với sự khó khănnhất trong việc tiếp cận nguồn nước, dẫn đến sản lượng từ lúa là không cao.So với nhóm khó khăn về nguồn nước có sản lượng 1.781,2 kg, thấp hơn707,11 kg, bằng 60,3% sản lưởng của nhóm khó khăn. Điều đó cho ta thấy sựchênh lệch về sản lượng giữa 2 nhóm này là khá cao là do: Diện tích đất gieo trồng của nhóm khó khăn nhất nhỏ hơn nhóm khókhăn, cụ thể, nhóm rất khó khăn có diện tích gieo trồng là 2.254,92m2, trongkhi nhóm khó khăn có diện tích gieo trồng là 4.056 m2, nhỏ hơn 1.801,08 m2,diện tích gieo trồng lúa của nhóm khó khăn nhất chỉ bằng 55,6% diện tích củanhóm khó khăn. Với những đặc điểm khó khăn về diện tích trồng lúa cũngnhư khả năng tiếp cận nguồn nước như vây, dẫn đến năng suất và sản lượnglúa của nhóm thấp nhất. Nhìn vào bảng trên ta thấy, năng suất lúa của nhóm hộ thuận lợi thấphơn nhóm khó khăn, cụ thể: Năng suất của nhóm thuận lợi là 390,57kg/1000m2, thấp hơn nhóm khó khăn có năng suất 405,6 kg/1000m2 là 15,03Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 58kg/1000m2. Do diện tích gieo trồng lúa của nhóm thuận lợi là 3.338,42 m2nhỏ hơn nhóm khó khăn có diện tích gieo trồng 4.056 m2, do vậy năng suất vàsản lượng thấp hơn, nhưng không đáng kể, cụ thể, sản lượng của nhóm thuậnlợi là 1.677,95 kg so với nhóm khó khăn có sản lượng 1.781,2 kg là 103 kg,bằng 95% sản lượng của nhóm khó khăn. Nhóm thuận lợi nhất về tiếp cận nguồn nước có diện tích gieo trồng là2.424,41 m2, chỉ lớn hơn nhóm khó khăn nhất, do nhóm khó khăn nhất chủyếu nằm ở vùng đồi núi cao, diện tích đất cho trồng lúa thấp, chủ yếu lànương rẫy. Mặc dù nhóm thuận lợi nhất nằm ở trung tâm xã, nhưng diện tíchkhông lớn là do đất dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng như UBND xã, trạm ytế,trường học…cộng với hiện tượng xói mòn rửa trôi đất do con suối chảy quatrung tâm. Từ những lý do đó dẫn đến diện tích đất gieo trồng lúa không lớn.Tuy vậy, năng suất lúa lại lớn nhất do được tiếp cận nguồn nước tốt nhất, vớinăng suất là 419,12 kh/1000m2, so với nhóm có năng suất thấp nhất là nhómkhó khăn nhất với năng suất 357,72 kg/1000m2, lớn hơn 61,4 kg/1000m2.Nhưng sản lượng của nhóm này là không cao, chỉ có sản lượng là 1.287,58kg, nguyên nhân do diện tích đất gieo trồng thấp, hàng năm lại phải chịu sựtàn phá từ thiên nhiên. Từ việc phân tích bảng 2.16 ta nhận thấy, để tận dụng được tối đanhững điều kiện thuận lợi vốn sẵn có của từng vùng , người dân xã Tân Lậpcần nâng cao hơn nữa khả năng tiếp cận nguồn nước, bên cạnh đó cần có biệnpháp chống xói mòn, giữ đất, cải tạo đất, để tăng năng suất và sản lượng củacây lúa cũng như các loại cây khác. Ngoài các biện pháp để tăng hiệu quả từ cây lúa, chi phí bỏ ra để đầu tưcho năng suât cao như giống, đạm, lân, kaly…là vô cùng quan trọng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 59 Bảng 2.16: Chi phí sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) ĐVT: 1000đ Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khănChỉ tiêuGiống 293,19 349,65 401,53 237,72Đạm 119,447 170,505 153,504 109,03Lân 106,22 146,32 154,52 101,92Ka ly 37,75 66,79 101,52 28,49NPK 3,088 - - 5,59Phân chuồng 180,14 186,05 133,7 151,85BVTV 28,38 41,16 38,4 27,62Dịch vụ mua ngoài 5 - 2,8 -Chi phí lao động 1,47 3,15 - -thuê ngoàiChi phí khác 66,66 50 90 116,38 Tổng 841,345 1.013,625 1.075,974 778,6 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Lúa là một cây trồng quan trọng của người dân xã Tân Lập, vì vậy, tiếpcận được nguồn nước thuận lợi để nâng cao năng suất là một điều kiện vôcùng quan trọng, bên cạnh đó, giảm chi phí để nâng cao thu nhập cũng đãđười dân chú ý đến. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ chính quyền như, không thuthuỷ lợi phí cũng tạo điều kiện cho người dân nơi đây giảm bớt được mộtkhoản chi phí. Với số lao động bình quân/hộ thấp nhất, nhóm hộ thuận lợinhất có chi phí thuê lao động thuê ngoài là 1,47 nghìn đồngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 60 Bảng 2.17: Hiệu quả sản xuất lúa của nhóm hộ điều tra (tính cho bq 1 sào) ĐVT: 1000đ Nhóm hộ Rất thuận lợi Thuận lợi Khó khăn Rất khó khănChỉ tiêu GO 3.431,91 5.100,4 4.774,64 3.209,55 IC 834,12 1.074,98 917,16 686,65 VA 2.597,79 4.025.,42 3.857,47 2.522,9 VA/DT 1,11 1,25 0,88 1,1 VA/GO 0,73 0,79 0,67 0,7 VA/IC 3,79 4,57 5,47 5,55 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Qua bảng 2.17, phản ánh hiệu quả sản xuất lúa của các nhóm hộ điềutra, ta thấy giá trị sản xuất của nhóm hộ thuận lợi là lớn nhất do nhóm hộ nàycó diện tích trồng lúa lớn, giá trị sản xuất của nhóm hộ này đạt 5.100.405đồng. Nhóm khó khắn có giá trị sản xuất là it nhất là 3.209.555 đồng. Chi phítrung gian của nhóm thuận lợi cũng là lớn nhất do họ phải đầu tư nhiều vàodiện tích lớn đó. Giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích của nhóm thuận lợilà 1,256128 và nhóm thấp nhất là 0,8887326. Nhìn chung tình hình sản xuấtlúa của các hộ là tốt, song để nâng cao năng suất, sản lượng của các hộ nôngdân cần có biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, đặcbiệt là nguồn tài nguyên nước. Ta thấy, giá trị gia tăng (VA)/1 đơn vị diệntích (DT) của nhóm 2 cũng lớn nhất do, nhóm hộ này đã đầu tư nhiều vàodiện tích trồng lúa mà họ có. Giá trị gia tăng (VA)/ 1 đơn vị chi phí chunggian (IC) của nhóm rất khó khăn là cao nhất do nhóm này phải mất nhiều chiphí hơn do khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nước.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 612.3. Phân tích quan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc và sản xuất của hộ2.3.1. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước và sản xuất lương thực của các hộ nông dân xã Tân Lập Bảng 2.18: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc và sản xuất lƣơng thực của các hộ nông dân xã Tân Lập năm 2005 Nhóm hộ Rất Thuận Khó Rất ĐVTChỉ tiêu thuận lợi lợi khăn khó khăn1. DT lúa bq/ M2/người 782,08 747,6 843,72 590,13đầu người 2. Lương thực Kg/người 371,36 373,14 376,86 291,69 bq đầu người3. Thu nhập bq/ 1.000đ/người 1.075,47 1.100,43 1.043,93 840,45người (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Nhóm rất khó khăn có diện tích lúa bình quân/đầu người thấp nhất là590,13 m2, mặc dù diện tích đất lớn nhất, nhưng do khẳ năng tiếp cận nguồnnước kém, cho nên họ không thể tiến hành trồng lúa nhiều. Nhóm khó khăncó diện tích lúa bình quân/ đầu người lơn nhất là do số lao động lớn, nhu cầulương thực cao cho nên họ phải trồng nhiều lúa. Lương thực bình quân đàungười của nhóm rất khó khăn là thấp nhất là 291,69 kg, điều đó khẳng định sựtiếp cận nguồn nước ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đặc biệt là trong trồng lúa,điều đó dẫn đến thu nhập thấp nhất trong các nhóm với 840.000,45 đồng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 622.3.2. Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nước với cơ cấu thu nhập của hộ Bảng 2.19: Mối quan hệ giữa tiếp cận nguồn nƣớc với xác định phƣơng án sản xuất kinh doanh của hộ năm 2005 ĐVT: Nghìn đồng Nhóm hộ Rất Rất Thuận lợi Khó khănChỉ tiêu thuận lợi khó khăn 1. Thu từ trồng trọt 4.066,39 6.073,87 6.669,44 4.350,68- Lúa 3.431,92 5.100,4 4.774,64 3.209,55- Ngô 634,47 973,47 1.894,8 1.141,13 2. Thu từ chăn nuôi 1.355,25 2.350,07 1.059,58 1.872,88- Đại gia súc - - - 193,54- Lợn 1.355,25 2.350,07 1.059,58 1.433,04- Gia cầm - 13.72 - 11 - 57,92 246,303.Thu từ lâm nghiệp 265 600 654,54 588,3 (Nguồn: Số liệu điều tra năm 2007) Nhiều vùng trong xã Tân Lập hiện nay, rất cần các nguồn nước mới đểđáp ứng nhu cầu to lớn của người dân đang gia tăng nhanh chóng. . Nguồn nước truyền thống và tự do là nước trời, tuy vậy, chi phí xâydựng các bể chứa nước mưa, đường ống dẫn và các nhà máy nước xử lý để cónước sạch lại trở thành vấn đề khá quan trọng. Nước mưa cũng có những mặthạn chế, chẳng hạn khi xảy ra những đợt hạn hán, trong khi xã nghèo như TânLập lại chưa có hệ thống kênh mương đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tưới, bêncạnh đó, hệ thống các bể chứa nước và các hộ tự nhiên chưa có. Vì vậy, đểngười dân những vùng khó khăn, những vùng xa nguồn nước được tiếp cận vàsử dụng nguồn nước là một điều khó khăn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 63 Với địa hình dốc, cộng với các cơ sở hạ tầng về thuỷ lợi chưa đáp ứngđược nhu cầu sử dụng nước như vậy, đã dẫn đến sự chênh lệch về năng suấtcây trồng cũng như vật nuôi, do mỗi vùng có sự khác nhau về tiếp cận và sửdụng nguồn nước.Trong bảng 2.19 cho thấy, năng suất lúa, sau khi trừ chi phícủa nhóm rất khó khăn về nguồn nước là 3.209,555 đồng, so với nhóm có sựthuận lợi nhất là 3.431,918 đồng, chênh lệch nhau 222.36 đồng, lý do của sựchênh lệch thu nhập từ lúa giữa 2 vùng không cách biệt nhau là mấy, đó làvùng khó khăn tuy không thuận lợi về nguồn nước, phải đi lấy nước xa về tướitiêu, nhưng có diện tích đất lớn hơn. Vùng có sự tiếp cận nguồn nước tốt hơnnhưng diện tích đất canh tác nhỏ hơn, lại phải chịu nhiều thiệt hại từ thiên tai,lụt lội gây xói mòn, làm mất chất mùn trong đất, giảm và có hộ mất diện tíchđất canh tác, dân tới năng suất không cao. Trong quá trình điều tra 4 thôn của xã đã có những sự khác biệt về vị trívà sự tiếp cận nguồn nước khá rõ rệt. Những thôn ở vùng sâu, nằm trên cáctriền núi, vị trí xa các nguồn nước và hệ thống thuỷ lợi, trong khi đó chưa cónhững hồ tự nhiên và bể chứa nước, dẫn đến việc được tiếp cận và sử dụngnguồn nước là rất khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, đến sức khoẻ vànăng suất cây trồng. Những thôn ở thấp hơn, nhưng cũng nằm trên các triền đồi cao và dốc,và không có hồ chứa nước, tuy có được sử dụng hệ thống thuỷ lợi, nhưng sốđược sử dụng còn thấp, hệ thống thuỷ lợi cũng chưa đáp ứng được nhu cầu sửdụng của nguời dân. Những thôn ở khu trung tâm xã là những thôn có được sự tiếp cậnnguồn nước tốt nhất, do nằm ở vị trí bằng phẳng và thấp, hệ thống kênhmương tương đối đầy đủ, do vậy khả năng tiếp cận nguồn nước của người dânvùng này là khá tốt. Tuy nhiên cũng có những khó khăn, đó là những thôntrung tâm được chia cắt bởi một dòng sông chảy qua, bên cạnh đó hiện tượngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 64thiên tai, lũ quét lũ ống gây xói lở đất, dẫn đến hiện tượng mất đất canh tác củanhững hộ nằm sát bờ, hoặc làm giảm diện tích đất canh tác. Qua điều tra thực tế tại 140 hộ điều tra đã có rất nhiều ý kiến khác khauvề việc khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn nước cho tưới tiêu, vídụ ý kiến về không có kênh mương đã có trên 20 ý kiến, chiếm 0,15%, nhữngý kiến về việc xa nguồn nước, nước không đến được ruộng do hệ thống kênhmương kém, hệ thống kênh mương đào nhưng chưa xây, dẫn đến thấm nước,gây sạt lở khi mưa, dẫn đến nước không đến được ruộng là 50 ý kiến chiếm35,7%. Bên cạnh đó còn rất nhiều ý kiến về việc chất lượng xây dựng các côngtrình thuỷ lợi còn kém, chưa đáp ứng được nhu cầu như: hay phải đi sửa chữakênh mương, mương thiết kế chưa đúng kỹ thuật, mương bị sạt lở khi mưa,hoặc mương làm chất lượng kém… Bên cạnh những ý kiến về khó khăn trong tiếp cận nguồn nước còn cónhững ý kiến về khó khăn của thuỷ lợi, ví dụ: Kênh mương chưa được đầu tưvề cuối nguôn, vì vậy một số ruộng còn chưa có nước, chưa có kênh mương,kênh mương kém chất lượng hoặc kênh mương chưa kiên cố… Cũng có nhiều ý kiến về tài sản, phương tiện phục vụ cho dẫn nước,chứa nước chưa có, chưa có máy bơm nước.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 652.3.3. Phân tích ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộa. Phân tích sự tác động của các nhân tố tới thu nhập từ nông nghiệp của hộ Bảng 2.20: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hƣởng thu nhập từ nông nghiệp Mức ý Hệ số nghĩa Độ tin cậy hồi T stat thống kê (Qt) (%) quy (1 -Qt)Biến phụ thuộc: Ln Thu nhập từ NNHệ số chặn 6.50 14.654 1.1E - 29 100.00Các biến giải thích Ln Lao động của hộ 0.34 2.771 6.4E - 03 0,9936 Ln Diện tích đất 2 vụ 0.02 1.873 6.3E - 02 0,937 Ln Chi phí sản xuất NN 0.24 3.427 8.1E - 04 0,99919 Ln % diện tích chủ động nước 0.02 4.049 8.6E - 05 0,999914Hệ số xác định R2 = 0.3667Mức ý nghĩa thống kê F = 1.53E - 13F = 21.12Số mẫu quan sát N = 140 (Nguồn: Số liệu điều tra 2007) Hàm hồi quy có dạng: Ln(Y) = 6.50 + 0.34 Ln(X1) + 0,02 Ln(X2) + 0.24Ln(X3) + 0.02Ln(X4) * Nhận xét bài toán Mức ý nghĩa thống kê của F = 1.53E-13 (F = 21.12) có nghĩa với độ tincậy đạt 99,99% bác bỏ giả thiết H0 cho rằng các biến độc lập Xi không ảnhhưởng tới thu nhập tử nông nghiệp của hộ: H0: (b1 = b2 = ..=bi = 0), chấp nhậngiả thiết H1 cho rằng có ít nhất 1 biến Xi ảnh hưởng đến thu nhập từ nôngnghiệp của hộ.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 66 R2 = 0,3667 có nghĩa sự biến động của các biến độc lập trong mô hìnhđã tạo ra 36.67% sự biến động của năng suất lúa. R2 = 0,3667 tuy thấp nhưngchấp nhận được trong nghiên cứu nông nghiệp, đặc biệt, thu nhập từ nôngnghiệp của hộ được chi phối bởi rất nhiều yếu tố, nhất là các yếu tố tự nhiên. Qua kết quả bài toán cũng cho thấy dấu (+, -) của các biến trong môhình đều phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. - Với độ tin cậy đạt 99% cho thấy khi lao động của hộ tăng thêm 1% thìthu nhập từ nông nghiệp của hộ sẽ tăng thêm 0.34%. Với đặc thù của huyệnChợ Đồn, thu nhập của hộ từ sản xuất nông nghiệp là chính. Lao động của hộhầu hết chỉ tham gia sản xuất nông nghiệp. Do đó, hộ nào có nhiều lao độnghơn thì thu nhập từ nông nghiệp sẽ cao hơn. Tuy nhiên, việc tăng lao độngcủa các hộ là điều không thể, tuy nhiên các hộ có thể bố trí lao động một cáchhợp lý hơn, tăng thời gian sử dụng lao động, tận dụng lao động gia đình đểtăng thu nhập của hộ. - Với độ tin cậy đạt trên 90% cho thấy nếu diện tích đất 2 vụ của hộtăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp của hộ sẽ tăng thêm 0.02%. Thunhập của hộ mà chủ yếu từ sản xuất lúa là chính, vì thế nếu diện tích đất 2 vụtăng lên, đồng nghĩa với việc diện tích gieo trồng của hộ tăng lên dẫn đến thunhập tăng lên. Qua đây ta thấy vai trò của nguồn nước và thuỷ lợi quan trọngnhư thế nào đối với các hộ gia đình miền núi. Hệ thống thuỷ lợi tốt sẽ làm chodiện tích đất 2 vụ tăng lên, qua đó giúp cho thu nhập của hộ tăng lên. - Với độ tin cậy đạt trên 99% cho thấy khi chi phí sản xuất nông nghiệptăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp sẽ tăng lên 0.24%. Chi phí nôngnghiệp tăng lên có nghĩa đầu tư cho nông nghiệp tăng lên. Điều này cho thấyhiệu quả của việc đầu tư cho sản xuất nông nghiệp của các hộ. - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy nếu diện tích chủ động nước củahộ tăng thêm 1% thì thu nhập từ nông nghiệp tăng thêm 0.02%. Nước là yếuSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 67tố quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Do đó, việc tăng thêm diện tíchđất chủ động nước sẽ tác động tích cực tới thu nhập từ nông nghiệp của hộ.Điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Vì vậy, địaphương cần chú trọng phát triển hệ thống thuỷ lợi nhằm nâng cao tích chủđộng nước trong sản xuất nông nghiệp, qua đó nâng cao thu nhập cho ngườidân địa phương.b. Phân tích tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lúa của hộ Bảng 2.21: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hƣởng tới năng suất lúa Độ tin Mức ý nghĩa Hệ số cậy T stat thống kê hồi quy (Qt) (1 - Qt) (%)Biến phụ thuộc: Ln Năng suất lúaHệ số chặn 4.89 117.16 2.8E - 135 100Các biến giải thích Ln Giống giá/sào 0.25 4.69 6.83E - 06 99.99 Ln Lượng đạm/sào 0.05 8.26 1.34E - 13 100 Ln Lượng lân/sào 0.02 1.83 0.069867 93.01 Ln Lượng kali/sào 0.01 2.61 0.010064 98.99D. Được sử dụng hệ thống thuỷ lợi 0.21 5.18 8.19E - 07 99.99Hệ số xác định R2 = 0.6166Mức ý nghĩa thống kê F = 6.77E-26F = 42.46Số mẫu quan sát N = 138 (Nguồn: Số liệu điều tra 2007) Hàm hồi quy có dạng: Ln(Y) = 4.89 + 0.25 Ln(X1) + 0,05 Ln(X2) + 0.02Ln(X3) + 0.01Ln(X4)+ e0,21DSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 68 * Nhận xét bài toán Mức ý nghĩa thống kê của F = 6.77E-26 (F = 42.46) có nghĩa với độ tincậy đạt 99,99% bác bỏ giả thiết H0 cho rằng các biến độc lập Xi không ảnhhưởng tới năng suất lúa của hộ: H0: (b1 = b2 = ..=bi = 0), chấp nhận giả thiết H1cho rằng có ít nhất 1 biến Xi ảnh hưởng đến năng suất lúa bình quân của hộ. R2 = 0,6166 có nghĩa sự biến động của các biến độc lập trong mô hìnhđã tạo ra 61.66% sự biến động của năng suất lúa. R 2 = 0,6166 là chỉ tiêu chấpnhận được trong nghiên cứu sản xuất nông nghiệp, đặc biệt phù hợp vớinhững địa phương miền núi đa dạng về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội. Qua kết quả bài toán cũng cho thấy dấu (+, -) của các biến trong môhình đều phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. * Phân tích kết quả hồi quy - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy khi hộ tăng lượng giống đầu tưcho một sào lên 1% thì năng suất lúa của hộ sẽ tăng lên 0.25%. Giống là yếutố quan trọng trong sản xuất lúa, nhiều khi các hộ gia đình đầu tư lượng giốngthấp, trong quá trình phát triển câu lúa bị hao hụt, dẫn đến năng suất thấp. Hộtăng lượng giống lên sẽ đảm bảo mật độ cây lúa dẫn đến năng suất và sảnlượng tăng lên. Tuy nhiên, việc tăng lượng lúa giống sẽ chịu sự giới hạn củađặc tính kỹ thuật. Do đó, các hộ dân ở Chợ Đồn nên tăng thêm lượng giốnglúa nhưng phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của từng giống. - Với độ tin cậy 99.99% cho thấy khi hộ tăng lượng đầu tư phân đạmthêm 1kg/sào thì năng suất lúa sẽ tăng thêm 0.05%. - Với độ tin cậy đạt trên 90%, khi lượng phân lân đầu tư thêm 1kg/ sàothì năng suất lúa sẽ tăng thêm 0.02%. - Với độ tin cậy đạt trên 95% khi đầu tư thêm 1 kg kali/sào thì năng suấtlúa sẽ tăng thêm 0.01%.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 69 Kết quả này cho thấy các hộ gia đình tại huyện Chợ Đồn - Bắc Kạnchưa quan tâm nhiều đến đầu tư phân bón trong quá trình sản xuất lúa. Các hộhoàn toàn có thể tăng năng xuất lúa bằng cách tăng thêm lượng phân bón hữucơ cho lúa. Tuy nhiên, việc tăng phân bón cho lúa không phải là vô hạn, nếucứ tăng nhiều sẽ gây ra hậu quả không tốt cho cây lúa. Do đó, các hộ nên tăngthêm lượng phân bón để tăng năng suất nhưng phải đảm bảo được theo yêucầu kỹ thuật của sản xuất lúa. - Với độ tin cậy đạt 99.99% cho thấy biến giả D (D = 1 hộ được sửdụng hệ thống thuỷ lợi; D = 0 hộ không được sử dụng hệ thống thuỷ lợi) cósự tác động tới năng suất lúa. Cụ thể, hộ được sử dụng hệ thống thuỷ lợi sẽ cónăng suất lúa cao hơn so với hộ không sử dụng hệ thống thuỷ lợi là 0.21%.Lúa là cây trồng chịu sự tác động nhiều của nguồn nước, do đó, những diệntích nào chủ động nguồn nước tốt hơn sẽ cho năng suất và sản lượng cao hơn.Kết quả này càng khảng định sự quan trọng của việc sử dụng nguồn nướctrong sản xuất nông nghiệp của địa phương.2.3.4. Kết luận về tình hình thu nhập và ảnh hưởng của khả năng tiếp cận nguồn nước đến thu nhập của hộ Xã có nguồn tài nguyên nước dồi dào, với lượng mưa trung bình năm108,32%, độ ẩm trung bình là 82,58%, người dân xã Tân Lập cần phải có cácbiện pháp khắc phục, và tiếp cận tốt hơn nguồn tài nguyên nước để phát triểnsản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho gia đình. Cần có các giải pháp chotừng vùng trong khả năng tiếp cận nguồn nước. Việc giữ nước, sử dụng nướchợp lý trong sinh hoạt cũng như trong việc tưới tiêu Bên canh những thuận lợi, xã Tân Lập, huyện Chợ Đồn là một xãnghèo, vùng sâu vùng xa, giao thông đi lại vô cùng khó khăn, cộng với tìnhhình dân trí thấp, do đặc điểm địa lý xa xôi và cơ sở hạ tầng yếu kém, truờnghọc còn thiếu thốn, chỉ có 01 trường tiểu học, trong đó có hai phân hiệu nằmSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 70tại một thôn khó khăn của xã, và chưa có điện lưới quốc gia. Thôn không cóchợ để giao dịch thương mại, thu nhập của người dân trong xã chủ yếu lànông nghiệp, chủ yếu tự cung tự cấp. Là một xã nghèo với 198 hộ nghèo/280 hộ, chiếm tới 70,7%, dân cưchủ yếu sống và canh tác trên các sườn đát dốc. Diện tích đất tự nhiên chủ yếulà núi đá cao và đồi chiếm 80% diện tích đất tự nhiên của xã. Lượng mưaphân bố không đều.Với điều kiện khó khăn về mọi mặt như vậy, dẫn đến nềnkinh tế của xã và thu nhập của người dân rất thấp. Phát huy những thế mạnh của từng vùng về khả năng tiếp cận nguồn tàinguyên nước để phát triển kinh tế, những vùng có thế mạnh về nguồn nướcphải có biện pháp chống xói mòn đất, mở rộng thu nhập từ chăn nuôi. Do đặcđiểm vùng thấp và dân cư mới di dân đến vùng trung tâm, chưa mở rộng quymô và chưa chú trọng đến chăn nuôi, nhóm hộ tiếp cận nguồn nước thuận lợinhất cần khắc phục những khó khăn tác động đến chăn nuôi để tăng thu nhậptừ chăn nuôi cho nhóm hộ.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 71 Chƣơng III MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN NƢỚC VÀ TĂNG THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN LẬP, HUYỆN CHỢ ĐỒN3.1. Các giải pháp chung sử dụng nguồn nƣớc Các chính sách vĩ mô của Nhà nước về phát triển hệ thống nước và làmtăng khả năng tiếp cận và sử dụng nguồn nước của người dân nông thôn. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam đang đứng trước nguycơ thiếu nước sạch trầm trọng vào năm 2010, do tình trạng khô hạn ngày càngtrầm trọng trong khi nhu cầu sử dụng nước lại tăng nhanh. Các chuyên gia về thủy văn và tài nguyên nước cho biết ở phía nam,sông Thị Vải và Đồng Nai đang dần trở thành những con sông chết trong khitại phía nam sông Hồng cạn kiệt một cách nguy hiểm vào vụ đông xuân, đedọa đời sống của cư dân ven sông. Một trong những nguyên nhân dẫn đến khô hạn là do năm nay ViệtNam nằm trong nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng nặng nề củahiện tượng El-nino. Lượng mưa thấp hơn trung bình nhiều năm, mùa mưa kếtthúc sớm, mực nước sông Hồng tại Hà Nội xuống mức thấp nhất trong vòng100 năm qua. Do đó, theo các chuyên gia sắp tới tình trạng suy giảm nguồnnước, hạn hán, thiếu nước có thể xảy ra trên diện rộng. Trong khi đó, nhu cầuvề nước sẽ tăng khoảng 97%.3.1.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Để khắc phục tình hình hạn hán xảy ra thường xuyên và trên diện rộngtrong những năm gần đây, ngoài việc đầu tư xây dựng công trình mới với chiphí rất tốn kém, cần tập trung sửa chữa, nâng cấp công trình hiện có để nângcao năng lực, đi đôi với việc đổi mới công tác quản lý, tuyền truyền, hướngdẫn, áp dụng công nghệ, kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, sử dụng nước tiết kiệm.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 72 Trong những năm gần đây, do sự biến động của thời tiết, khí hậu, tìnhtrạng hạn hán đã xảy ra thường xuyên và khá nghiêm trọng trên phạm vi cảnước, đặc biệt là ở các tỉnh miền Núi và Tây Nguyên, ảnh hưởng lớn đến sảnxuất và đời sống của nhân dân. Trước đây, chúng ta chủ yếu tập trung vàoviệc tìm kiếm nguồn nước, đầu tư, xây dựng công trình để quản lý, khai thácnguồn nước, còn việc sử dụng nước như thế nào cho hiệu quả chưa được coitrọng. Trong thực tế, do tập quán canh tác, sự hiểu biết còn hạn chế về kỹthuật nông nghiệp, kỹ thuật tưới, tiêu theo yêu cầu của cây trồng trong từngthời đoạn sinh trưởng đã dẫn đến việc sử dụng nước rất lãng phí. Vì vậy, đã đến lúc cần phải đặt vấn đề sử dụng nước làm sao cho hiệuquả, đặc biệt sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, thay cho quan niệmtrước đây cho rằng nước là của trời cho, là nguồn tài nguyên vô hạn. Để thựchiện được vấn đề này, từ cơ quan Trung ương đến các địa phương, từ cơ quanquản lý đến các đơn vị cung cấp nước cần thông qua việc tuyên truyền, phổbiến khoa học kỹ thuật, công nghệ tưới tiết kiệm nước để bà con nông dân sửdụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Vậy, tại sao phải nâng cao hiệu quả sử dụng nước, tưới tiết kiệm nước,phải chăng từ trước đến nay chúng ta sử dụng nước một cách lãng phí. Trongbài viết này, tôi xin được đi sâu đề cập về công tác quản lý, khai thác côngtrình thuỷ lợi, sử dụng nước trong nông nghiệp.3.1.2. Tình hình thuỷ lợi và một số giải pháp thuỷ lợi cho các tỉnh miền núi phía Bắc Các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và 6 tỉnh đặc biệt khó khăn trongvùng nói riêng là khu vực có nhiều tiềm năng, đồng thời có vị trí xung yếu vềan ninh - quốc phòng. Việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quan trọngnày luôn là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta. Điều đó chúng ta cóSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 73thể thấy qua nhiều chủ trương, chính sách cụ thể, đặc biệt cuối tháng 9 vừaqua Chính phủ đã triệu tập một hội nghị chuyên đề để bàn về phát triển kinhtế - xã hội của 6 tỉnh này. Để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội củacác tỉnh, tác giả đưa ra một số giải pháp về khoa học và công nghệ nhằm pháttriển lĩnh vực thủy lợi - một bộ phận của kết cấu hạ tầng, vấn đề quan trọngđang được các địa phương này quan tâm. Công tác thuỷ lợi nói chung, công tác khoa học và công nghệ(KH&CN) thuỷ lợi nói riêng có vai trò quan trọng góp phần thực hiện các chủtrương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội (KT -XH) các tỉnh miền núi. Theo số liệu thống kê của Viện khoa học thuỷ lợi (KHTL), không kểnhững công trình lớn như Thác Bà, Hoà Bình, đến nay tại khu vực miền núiphía Bắc, Nhà nước và nhân dân địa phương đã xây dựng được 893 hồ chứanước loại vừa và nhỏ; 1 200 đập dâng; hàng trăm công trình thuỷ luân, thuỷđiện nhỏ, trạm bơm; hàng vạn trạm thuỷ điện cực nhỏ có công suất 0,3-0,6kw; hàng vạn công trình trung, tiểu thuỷ nông gồm kênh dẫn, mương phai;hàng chục vạn bể chứa, giếng nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất; hàng trămkilômét đường ống dẫn nước kiên cố; đã phục vụ tưới chắc cho 100 000 halúa chiêm, 210 000 ha lúa mùa, cung cấp 20 000 kW điện, giải quyết nướcsinh hoạt hợp vệ sinh cho hơn 30 vạn dân ở các vùng khan hiếm nước, vùngnúi đá, vùng biên giới và các vùng dân cư, kinh tế tập trung. Tuy nhiên, cáccông trình thuỷ lợi ở đây còn bộc lộ nhiều nhược điểm, chưa đáp ứng đượcyêu cầu về số lượng và chất lượng phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH củacác tỉnh trong tình hình mới. Các công trình tạm, bán kiên cố còn chiếm tỷ lệ cao; các công trình doNhà nước đầu tư, thường mới chỉ kiên cố công trình đầu mối, còn kênhmương do dân tự làm, công trình bị xuống cấp nghiêm trọng, nên hiệu suấtSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 74còn rất thấp. Ví dụ: Trong tổng số 4 524 phai đập thì mới kiên cố được 1 200đầu mối, chiếm 26,5% (chưa kể các công trình kiên cố còn bị xuống cấpnghiêm trọng); các công trình thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ đã được xây dựng đếnnay chỉ còn dưới 50% số trạm hoạt động. Để góp phần phát triển KT-XH các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là 6tỉnh thuộc diện đặc biệt khó khăn (Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, CaoBằng và Bắc Cạn), theo chúng tôi việc phát triển thuỷ lợi ở đây phải gắn vớiviệc xây dựng hồ chứa nước, kết hợp thuỷ điện nhỏ để cung cấp nước, điệncho đời sống và sản xuất ở vùng thiếu nước, vùng sâu, vùng xa. Cụ thể là: Nâng cấp, tu bổ và kiên cố hoá công trình và cụm công trình đầu mối,hoàn chỉnh các hệ thống kênh mương để phát huy hiệu suất các công trìnhhiện có. Xây dựng một số công trình mới tại các khu vực sản xuất lương thựctập trung và có tiềm năng, kết hợp với việc cấp nước cho các cụm dân cư, thịtrấn, thị xã, khu công nghiệp. Tăng cường trồng rừng kết hợp với làm hồ chứa nước nhỏ, ruộng bậcthang nhằm bảo vệ tầng phủ, giảm lũ, giữ ẩm và tăng nguồn sinh thuỷ. Nghiên cứu xây dựng kè bảo vệ các đoạn sông suối, đặc biệt là sôngbiên giới, kiểm soát nguồn nước và chất lượng nước vào lãnh thổ Việt Nam,phòng chống lũ quét, lũ ống miền núi. Nhà nước đầu tư vốn ngân sách cho việc xây dựng các công trình thuỷlợi đầu mối, địa phương huy động nhân dân đóng góp công lao động để xâydựng, tu bổ các hệ thống kênh mương. Xây dựng hệ thống thuỷ điện nhỏ cung cấp điện sinh hoạt cho đồng bàovùng sâu, vùng xa, nơi không có điện lưới quốc gia. Cải tạo nâng cấp, mở rộng công trình cấp nước tự chảy: Đập dâng, hồchứa, kênh mương.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 75 Đối với công trình đập dâng (bao gồm đập tạm, bán kiên cố, kiên cố):Phai đập tạm như phai gối, phai chân ếch, phai cũi, do nhân dân tự làm là chủyếu. Loại này xây dựng đơn giản nhưng phải sửa chữa, làm lại hàng năm, hơnnữa các loại vật liệu để xây dựng tại chỗ hiếm, đặc biệt là gỗ không đượcphép khai thác tự do, vì thế không nên phát triển . Đối với vùng núi nên cố gắng đầu tư xây dựng các loại phai đập bánkiên cố như phai rọ đá, phai đá xếp (phai rọ đá hiện nay được dùng khá phổbiến vì công nghệ và vật liệu làm rọ đá không khó khăn như thập niên 60-70,thép làm rọ có thể được mạ lớp chống rỉ, hoặc bọc nhựa, bọc composite) vàcác loại phai đập kiên cố như đập đá xây hoặc bê tông; đập có lõi đất đá, đượcbọc đá xây hoặc bê tông; đập đá đổ cải tiến; phai đập tự động nâng lên, hạxuống theo mùa vụ. Hồ chứa nước: Chú ý sửa chữa, nâng cấp cải tạo hệ thống đóng mởđiều tiết hồ, chống thẩm lậu. Hầu hết hồ chứa ở miền núi là loại nhỏ, có dungtích trên dưới 1 triệu mét khối, chiều cao đập xấp xỉ 10 m, diện tích tưới vàichục hecta nên lưu lượng qua cống nhỏ, tiết diện cống bé, do đó vấn đề kínnước cửa van và thao tác đóng mở cửa cống là rất quan trọng, cần được lưu ý. Hệ thống kênh mương, cầu máng: Hầu hết các hệ thống kênh mươngmiền núi đều không hoàn chỉnh, hay bị sạt lở. Vì vậy cần đẩy mạnh việc kiêncố hóa. Ngoài ra có thể áp dụng công nghệ tưới cây vùng đồi bằng vòi phun,nhỏ giọt áp lực thấp đã được một số cơ quan trong nước nghiên cứu, chế tạovà áp dụng ở miền núi như các loại vòi phun bằng nhựa, bằng đồng...* Phát triển thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ, trạm bơm Việc cấp điện cũng như cấp nước sinh hoạt ở miền núi cần được giảiquyết theo hướng triệt để kết hợp với công trình thuỷ lợi để lắp đặt thiết bị.Thấy trước được vấn đề khó khăn về thiết bị, nhiều năm qua Viện KHTL đãSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 76chủ động nghiên cứu chế tạo trong nước nhiều loại thiết bị thủy luân, thuỷđiện nhỏ có kết hợp chạy các máy xay xát nông sản. Đến nay chúng ta có lựclượng để giải quyết đủ yêu cầu về thiết bị thuỷ luân, thuỷ điện nhỏ và hiệnđang tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng thiết bị (như hiệu suất, độ bền)và giảm giá thành sản phẩm để đáp ứng tốt hơn nhu cầu về các dạng thiết bịnày của các địa phương miền núi. Do đặc điểm của sông suối miền núi là có mức dao động mực nước lớngiữa mùa lũ và mùa kiệt nên thiết bị bơm nước phải đáp ứng được yêu cầu đó.Giải pháp bơm sử dụng năng lượng truyền thống, do chi phí vận hành cao nênchỉ được sử dụng cho vùng có cột nước bơm thấp hoặc cho cây trồng có giátrị kinh tế cao. Giải pháp sử dụng năng lượng nước như dốc nước, thác nước,đập dâng để xây dựng, lắp đặt các loại bơm như bơm va, bơm thuỷ luân làphù hợp, vì công nghệ này chưa được sử dụng rộng rãi nên còn nhiều địađiểm có thể tận dụng được. Ngoài những công trình xây dựng mới, thì ngaytrong hệ thống thuỷ lợi đã có cũng có thể lợi dụng các bậc nước ở sau đập, ởtrên kênh để lắp đặt chúng, góp phần nâng cao hiệu quả tưới và cấp nước sinhhoạt của công trình. Công nghệ này có thể đưa nước lên cao (10-100m) tạonguồn nước để cấp nước cho vùng đất dốc, cho cây ăn quả, cây công nghiệp,cho nuôi cá, có thể dẫn nước đi xa để cấp nước sinh hoạt. Quy mô công trìnhvừa và nhỏ, phù hợp với quy mô hộ gia đình ở miền núi, chi phí thấp (dưới 1triệu đồng cho 1 trạm), người dân có thể tự đầu tư, xây dựng, quản lý vậnhành, góp phần xã hội hoá công tác thủy lợi . Hiện nay, Viện KHTL đã nghiên cứu chế tạo được 15 loại bơm thuỷluân, hợp tác nghiên cứu 4 loại bơm va, có thể đáp ứng rộng rãi nhu cầu pháttriển thuỷ lợi miền núi. Từ năm 1998 đến 2001 Viện đã đưa kết quả nghiêncứu này vào sản xuất, góp phần xây mới và cải tạo trên 50 trạm bơm, trong đócó thể kể đến một số công trình tiêu biểu như Trạm bơm thuỷ luân Tà XaSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 77(Sơn La), Hệ thống thuỷ lợi Văn Quán (Lạng Sơn) và một số điểm trình diễnở Tuyên Quang, được địa phương đánh giá cao. Đối với vùng sâu, vùng xa điện lưới quốc gia khó vươn tới được, vì vậyviệc tận dụng nguồn thủy năng sẵn có làm thuỷ điện nhỏ là một hướng quantrọng để nâng cao đời sống dân cư ở các bản làng. Thiết bị thuỷ điện nhỏtrước đây phần lớn được nhập khẩu từ nước ngoài, một số thiết bị sản xuấttrong nước có chất lượng chưa ổn định nên làm mất lòng tin của các cấp quảnlý và người sử dụng. Trong 10 năm gần đây, Viện KHTL đã tập trung nghiêncứu, áp dụng các thành tựu mới về thuỷ điện nhỏ của thế giới và bước đầu đãchế tạo được những thiết bị chính cho thuỷ điện nhỏ với quy mô công suất 5-200 kW, phục vụ cho quy mô thôn, bản đến quy mô xã miền núi. Đặc biệttrong 2 năm gần đây nhờ áp dụng một số tiến bộ KH&CN nên thiết bị thuỷđiện do Viện nghiên cứu đã đạt trình độ của khu vực. Riêng mảng thiết bịthuỷ điện cực nhỏ, do thiết bị của Trung Quốc giá quá thấp nên sản phẩm củata chưa cạnh tranh được. Được sự hỗ trợ của Bộ nông nghiệp và phát triểnnông thôn, Bộ khoa học, công nghệ và môi trường, Viện đang tập trungnghiên cứu loại thiết bị này nhằm sớm đưa ra các thiết bị chất lượng cao, giáthành thấp, phục vụ cho phát triển miền núi. Ngoài 2 nhóm công nghệ phục vụ cho thuỷ lợi và thuỷ điện nhỏ nêutrên, Viện đang đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao các giải pháp tưới tiêntiến, tưới tiết kiệm cho cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả; sử dụng vật liệu mới(vải địa kỹ thuật) để xây dựng bể chứa nước cỡ lớn phục vụ cấp nước sinhhoạt cho vùng cao núi đá; sử dụng vật liệu mới kết hợp vật liệu địa phương đểxây dựng hồ chứa nước với chi phí thấp; một số loại bơm phù hợp với địahình miền núi...Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 78 Để phát triển thuỷ lợi ở các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn, ngoài cácgiải pháp về công nghệ, chúng tôi cho rằng còn một số vấn đề khác mà các cơquan hữu quan và Nhà nước cần quan tâm giải quyết: Đẩy mạnh phổ biến những tiến bộ KH & CN bằng cách xây dựng cácmô hình trình diễn, tổ chức các lớp tập huấn và mạng lưới cán bộ chuyển giaokỹ thuật (như mô hình khuyến nông). Với các trạm quy mô hộ gia đình, Nhà nước cần hỗ trợ vật tư (xi măng,sắt thép), thiết bị. Các trạm có quy mô lớn hơn cần được hỗ trợ đầu tư nhưđầu tư các dự án thuỷ lợi hiện nay, nhưng cần cải tiến phương thức quản lýđầu tư. Cần hỗ trợ các cơ quan nghiên cứu - triển khai để sớm đưa kết quảnghiên cứu vào sản xuất ở miền núi.3.2. Giải pháp của Nhà nƣớc Để đối phó với tình trạng khan hiếm nước, Việt Nam cần giữ gìn, bảovệ, bảo tồn nguồn nước, ứng xử hợp lý với tài nguyên nước, nhất là sử dụngnước tiết kiệm và đa mục đích, xây dựng cơ chế bảo đảm điều hòa, phân bổhợp lý tài nguyên nước, bảo vệ dòng sông và môi trường. Ngoài việc đầu tư, nâng cấp sửa chữa các công trình thuỷ lợi, việc hoànthiện một số giải pháp về cơ chế chính sách, tổ chức, quản lý công trình, sửdụng nước như sau: 1. Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lýkhai thác công trình thuỷ lợi theo hướng các công trình phải có chủ “quản lý”thực sự, quản lý kém người chủ phải chịu trách nhiệm về pháp luật và kinh tế.Thực hiện giao đặt hàng với những hệ thống công trình lớn, kết hợp với đấuthầu “quản lý” có điều kiện (về kỹ thuật và tài chính) từng phần việc, từnghạng mục công trình hoặc toàn bộ hệ thống công trình vừa và nhỏ, tiến tới tưnhân hoá, đa dạng hoá công tác quản lý.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 79 2. Xây dựng các mô hình nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thiết bị tướitiết kiệm nước phù hợp với từng loại cây trồng, từng vùng khí hậu và từngloại đất: Tưới nhỏ giọt: Là hình thức đưa nước trực tiếp trên mặt đất đến vùnggốc cây trồng một cách liên tục dưới dạng từng giọt nhờ các thiết bị đặc trưnglà các vòi tạo giọt. Áp dụng cho vùng đất có địa hình phức tạp, khan hiếmnước, gió thổi mạnh, tưới cho các cây trồng có giá trị kinh tế cao, đòi hỏi cấpnước thường xuyên ở mức nhỏ. Tưới phun mưa: Là hình thức tưới nước cho cây trồng dưới dạng hạtmưa. Áp dụng cho vùng đất có độ thấm ít, cho các loại cây trồng mềm yếu cógiá trị kinh tế cao. Tưới ngầm: Là hình thức đưa nước trực tiếp vào bộ rễ cây trồng. Ápdụng cho các vùng đất có khả năng mao dẫn tốt, đất thịt, thịt pha cát, kết cấuđất vào loại trung bình, có khí hậu khô hạn, thường xuyên có gió lớn 3. Tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật thuỷ lợi, nông nghiệp đến tận bà connông dân, đặc biệt là kỹ thuật tưới tiêu phù hợp với yêu cầu nước theo từngthời đoạn sinh trưởng của cây trồng, đặc biết đối với tưới lúa, để người nôngdân hiểu và biết cách sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Nâng cao hiệu quả sử dụng nước Một là, đẩy mạnh xã hội hoá, phát triển mạnh mẽ thị trường nước sạchvà vệ sinh nông thôn. Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch &VSMTNT, huyđộng sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội, các thành phần kinh tế nhất là khuvực nhân dân đầu tư phát triển cấp nước sạch &VSMTNT. Nhà nước khuyếnkhích sự tham gia của các thành phần kinh tế thông qua các cơ chế chính sáchđảm bảo nguyên tắc các thành phần kinh tế được coi trọng và đối xử bình đẳng. Hai là, công tác thông tin- giáo dục- truyền thông phải được tăng cườngvà tiến hành thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức khác nhau, như:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 80truyền thông trực tiếp, truyền thông đại chúng, tiếp thị xã hội nhằm nâng caonhận thức của người dân và các cấp chính quyền, khuyến khích người dân đầutư, tham gia bảo vệ và sử dụng nước sạch và nhà vệ sinh. Ba là, đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch, xây dựng, rà soát, đánhgiá, bổ sung, cập nhật quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết về cấp nướcvà VSMTNT làm cơ sở xây dựng kế họach phát triển 5 năm và hàng năm.Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch theo phương pháp kế hoạch hoá. Việcxây dựng kế hoạch của chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nôngthôn phải căn cứ vào nhu cầu của người dân và được tiến hành theo lịch trình5 năm và hàng năm phải xuất phát từ cơ sở để đảm bảo tính khả thi cao. Tăngcường việc phân cấp quản lý để đảm bảo các tỉnh chủ động trong vịêc lập kếhoạch, triển khai và quản lý các công trình cấp nước sạch &VSMTNT, đồngthời có cơ chế kiểm tra, giám sát để đảm bảo thực hịên có hiệu quả. Bốn là, chủ trọng phát triển khoa học công nghệ, nghiên cứu và pháttriển theo hướng đa dạng hoá các loại hình công nghệ khai thác, sử dụngnguồn nước hợp lý và nâng cao chất lựơng nứơc phù hợp với điều kịên tựnhiên- kinh tế- xã hội của từng vùng, đảm bảo nguyên tắc bền vững. Ưu tiêntìm kiếm và tận dụng các nguồn nước ổn định với các vùng đặc biệt khó khăn( vùng thường xuyên hạn hán, lũ lụt, vùng núi cao, hải đảo…); cấp nước tậptrung cho nhũng vùng dân cư đông và tập trung; nâng cấp, mở rộng các côngtrình cấp nước hịên có. Năm là, quản lý chặt chẽ đầu tư xây dựng, khai thác và bảo vệ côngtrình cấp nước. Việc đầu tư xây dựng phải tuân thủ quy họach, kế hoạch, dựán được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định hiện hành về quản lýđầu tư xây dựng; đảm bảo công trình được đầu tư đúng mục đích, đúng đốitượng, đúng giá trị và bền vững. Vịêc xác định dự án, công trình xuất phát từnhu cầu của người dân, đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai, người dânSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 81được tham gia ngay từ khâu lập kế hoạch, chuẩn bị đầu tư, lựa chọn côngnghệ và giám sát thực hiện xây dựng công trình. Phương thức quản lý và chủsở hữu công trình sau xây dựng phải đựơc xác định ngay từ khi lập dự án, đặcbiệt cơ chế tài chính được thiết lập phù hợp với quy mô công trình và điềukiện kinh tế xã hội của địa phương đảm bảo phát triển bền vững. Khuyếnkhích việc phân cấp quản lý đầu tư bằng ngân sách Nhà nước cho tổ chức trựctiếp khai thác công trình. Giá nước phải được tính toán đúng, tính đủ các chiphí sản xuất, đảm bảo cho các tổ chức và cá nhân làm dịch vụ khai thác, cácnhà đầu tư tự chủ về tài chính trong hoạt động kinh doanh. Trường hợp giánước tiêu thụ thấp hơn giá thành, phải xác định nguồn kinh phí hỗ trợ. Ngườisử dụng nước có trách nhịêm và nghĩa vụ trả tiền nứơc theo số lựơng sử dụngthực tế và giá nước quy định. Sáu là, đa dạng hoá nguồn kinh phí, trong đó xã hội hoá nguồn lực tàichính làm trong tâm bằng cách vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý đểkhuyến khích sự tham gia của nhân dân, các thành phần kinh tế và toàn xã hộiđầu tư vào nứơc sạch &VSMTNT. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để thu hút thêmnguồn vốn đầu tư. Đồng thời, mở rộng thị trường nước sạch và VSMTNTthông qua vốn vay ưu đãi của nhà nước và quốc tế cho các vùng kinh tế pháttriển và các vùng đồng bằng, giảm dần vốn ngân sách cho các vùng này để tậptrung ưu tiên cho các vùng miền núi, vùng khó khăn và các vùng thườngxuyên bị thiên tai. Với các giải pháp xây dựng mới công trình thuỷ lợi là rất tốn kém,trong khi đó rất nhiều công trình đã có lại chưa phát huy hết năng lực. Giảipháp về sửa chữa nâng cấp công trình hiện có, đi đôi với việc đổi mới côngtác quản lý, nâng cao hiệu quả công trình, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kỹthuật tưới tiết kiệm nước, sử dụng nước tiết kiệm thông qua việc xây dựng môSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 82hình điểm để nhân rộng sẽ đòi hỏi chi phí không cao nhưng hiệu quả kinh tế -xã hội rất lớn. Đây là hướng đi đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn chỉ đạo thực hiện.3.3. Giải pháp sử dụng nguồn nƣớc cho xã Tân Lập - Chợ Đồn - Bắc Kạn3.3.1. Giải pháp của UBND xã Tân Lập3.3.1.1. Giải pháp cho khu khực tiếp cận tốt nguồn nước Phát triển và bảo vệ tốt các công trình thuỷ lợi, cần tăng cường vai tròcủa chính quyền cơ sở, bởi các điều kịên về nguồn lực, kỹ thuật về cấp nướccông tác vận hành- bảo dưỡng các công trình nước sạch và vệ sinh diễn rathường xuyên và lâu dài trong phạm vi quản lý của người dân và chính quyềnđịa phương. Các họat động cấp nước và VSMTNT chỉ có thể thành công vàbền vững nếu có sự liên kết chặt chẽ với chính quyền cơ sở và sự phối hợpcủa các cơ quan chức năng liên quan. Những năm qua, vấn đề xói mòn, suy thoái đất tại vùng trung tâm xã,nơi có điều liện thuận lợi nhất trong việc tiếp cận nguồn nước, do tác độngcủa điều kiện tự nhiên và nạn phá rừng, cũng như các hoạt động canh tácnông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độ nhanh, trong khivùng đồng bằng thích hợp cho cây hoa màu lương thực ngắn ngày trên thực tếđã được khai thác tới hạn. Do vậy, việc phát triển nông lâm nghiệp trongnhững năm tiếp theo phụ thuộc phần lớn vào vấn đề quản lý sử dụng hiệu quảvà lâu bền quỹ đất đồi núi vốn đang rất đa dạng, giàu tiềm năng, nhưng vấnđề mấu chốt tiếp cận và sử dụng nguồn nước để phát triển nông nghiệp là giảiquyết nước tưới cho cây trồng và hạn chế chống xói mòn đất. Là vùng có thuận lợi về tiếp cận nguồn nước, nhưng còn gặp nhiều khókhăn do phải hứng chịu những thiên tai từ thiên nhiên, cần xây các bể chứanước nhỏ. Dòng suối chảy qua trung tâm xã cần có các guồng quay dẫn nướcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 83từ suối thấp lên các kênh mương hoặch ống dẫn nước để đến được với diệntích cần tưới nước, đầu tư máy móc phục vụ tưới tiêu. Xây dựng kè chống xóidọc bờ sông, chống hiện tượng xói mòn, làm mất diện tích đất canh tác. Hiện tại các vùng đồi núi nước ta nói chung và vùng khó khăn nhất vềtiếp cận nguồn nước của xã Tân Lập, hầu hết hệ thống công trình thuỷ lợinhỏ, mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nước cho phát triển nôngnghiệp. Những khu vực đất dốc giàu tiềm năng trồng cây ăn quả thường nằmngoài phạm vi phục vụ của các hệ thống thuỷ lợi. Phát triển hệ thống tưới chocác khu vực này thường không khả thi, hoặc nếu có thể thì chi phí đầu tư xâydựng cũng như vận hành và quản lý sẽ rất lớn và không mang lại lợi nhuận.Do vậy, giải pháp có chi phí thấp - giải pháp thu trữ nước có nhiều ưu điểm,thích hợp với vùng đất này là một giải pháp tốt. Thu trữ nước là giải pháp tạo nguồn nước tưới hiệu quả cho nhữngvùng có điều kiện tiếp cận nguồn nước khó khăn nhất, không thể xây dựngđược công trình thuỷ lợi, đặc biệt thích hợp với những vùng trồng cây ăn quảvà cây công nghiệp trên các vùng đất dốc. Việc ứng dụng giải pháp này vừagiải quyết được nguồn nước vào mùa khô vừa có tác dụng hạn chế xói mòn,rửa trôi đất và các chất dinh dưỡng. Hệ thống thu trữ nước có kết cấu đơngiản, rất dễ áp dụng và nhân rộng. Trong các hạng mục của hệ thống thu trữnước, bể chứa chiếm tỷ lệ kinh phí lớn nhất. Do đó, chính quyền UBND xãTân lập cần đưa một số loại vật liệu như gạch xây, xi măng đất, bê tông vỏmỏng vào thử nghiệm, bởi bể chứa bằng bê tông vỏ mỏng có giá thành thấpnhất. Hình thức bể này đang được kiến nghị đưa vào ứng dụng đại trà chovùng trung du và miền núi phía Bắc. Khu vực không thuận lợi và rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồnnước, chính quyền địa phương cần có những giải pháp chung và đồng bộ, vìđều có những khó khăn giống nhau như, xa nguồn nước, chưa được sử dụngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 84hệ thông kênh mương thuỷ lợi, cùng nằm ở địa hình cao và dốc, không có cáccông trình chứa nước như ao, hồ và bể chứa nước, vì vậy cần đầu từ xây dựngcác hồ chứa nước tự nhiên phù hợp để tránh lẵng phí. Cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa của chính quyền địa phương trongviệc đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi, định hướng phát triển kinh tế phù hợpvới vùng. Sử dụng nguồn nước một cách hợp lý, phân bố cây trồng phù hợp,ví dụ trồng các loại cây có khả năng chịu hạn cao… Một số giải pháp về giữ nước và sử dụng nước Một là, phải tính đến những giải pháp giữ nước, giữ tại chỗ, giữ từngchặng, triệt để hạn chế lượng nước mưa chảy ra biển. Ðịa hình phần lớn củahuyện Chợ Đồn và xã Tân Lập là đều có độ dốc đổ ra Biển Ðông, nếu khôngcó những giải pháp giữ nước thì sau mỗi trận mưa tạo dòng chảy trên mặt đấtchiếm tới 90% lượng nước mưa, làm xói mòn đất mùn và lượng nước mưa quýhiếm đó nhanh chóng theo sông chảy ra biển. Các giải pháp giữ nước tại chỗ vàtừng chặng bao gồm tích trữ nước mặt, tăng lượng nước ngầm. Tổng thể các giải pháp là một hệ thống hoàn chỉnh chia nhiều bước,thực hiện trong nhiều năm; nhỏ và dễ làm trước, to và khó làm sau, tùy theokhả năng huy động nhân lực, sự hỗ trợ của dân và Nhà nước. Trước mắt cầntổ chức một chương trình nghiên cứu xây dựng hệ thống giải pháp được bố tríthành hệ thống kế hoạch, chia bước hằng năm, góp phần tăng trưởng kinh tế,bảo đảm sản xuất bền vững và ổn định đời sống nhân dân. Mỗi khi tạo đượccác công trình trữ nước lớn, nhỏ hay các đập tràn dâng mức nước, cần có kếhoạch sử dụng có hiệu quả nguồn nước mới được tạo nên, lấy hiệu quả kinh tếcủa bản thân nó để tạo điều kiện thực hiện tiếp kế hoạch của giai đoạn sau. Hai là, sử dụng nước hợp lý, phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Cần hìnhthành một chương trình nghiên cứu khoa học để làm cơ sở phân phối nguồnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 85nước quý hiếm này cho các lĩnh vực sử dụng như: Sinh hoạt, tưới tiêu, pháttriển cây trồng phù hợp với vùng. Ba là, chống ô nhiễm nguồn nước sạch và tái sinh nước đã sử dụng.Hiện tượng tại huyện Chợ Đồn hiện nay là sử dụng nước lãng phí và làm ônhiễm nguồn nước, do huyện có một số công ty khai thác khoáng sản và khaithác quặng đồng thời nước thải không xử lý càng làm tăng mức độ ô nhiễmnguồn nước sạch. Là tiếng chuông cảnh báo, chúng ta cần khẩn trương tiếnhành các giải pháp khả thi để bảo vệ các nguồn nước ngọt quý. Nhiệm vụtrước mắt cũng như lâu dài là tăng cường tuyên truyền, nâng cao dân trí vềbảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước sạch, thực hiện các biện pháp chống ônhiễm nguồn nước sạch và tái sinh nước thải trong sinh hoạt cũng như trongcác lĩnh vực sản xuất để quay vòng sử dụng. Ba giải pháp trên bao gồm một hệ thống các giải pháp mang tính tổnghợp, cần được tiến hành đồng bộ mới đạt được yêu cầu hỗ trợ lẫn nhau, chiphí thấp, hiệu quả cao. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tìm nguồn nước ngầm cho vùng núicao, xây lu chứa và bể chứa nước để chứa nước mưa. Nhưng thực tế cho thấy,trong thời gian ngắn nếu không có mưa thì nước cũng bôc hơi hết. vì vậy giảipháp tìm nguồn nước ngầm là vô cùng quan trọng đối với vùng cao khó khănvề tiếp cận nguồn nước. Việc xây dựng các đường dẫn nước tự chảy từ cácmỏ nước sẽ rất lợi, nếu các mỏ nước tồn tại lâu dài. Đa số diện tích ở vùng này là đất đồi núi dốc, vấn đề xói mòn, suy thoáiđất canh tác do tác động của điều kiện tự nhiên va nạn phá rừng cũng như cáchoạt động canh tác nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độnhanh. Vì vậy vấn đề hạn chế xói mòn và giải quyết nước tưới cho cây trồnglà vấn đề mấu chốt.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 863.3.2. Giải pháp cho khu vực có điều kiện trung bình về nguồn nước Để tạo điều kịên cho người dân nông thôn tiếp cận đựơc với nước sạchvà điều kiện vệ sinh tốt, Nhà nước và chính quyền địa phương cần phải ưutiên cải thiện điều kiện cấp nước và vệ sinh cho người nghèo, khu vực nghèovà giải quyết đồng bộ các yếu tố xây dựng, quản lý, công nghệ, nâng cao nănglực cộng đồng và thông tin, giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức. Đồngthời thực hịên chủ trương tiếp cận dựa theo nhu cầu và phân cấp quản lý, thựchiện công tác cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn một cách mạnh mẽhơn, trong đó đặc biệt chú trọng vào việc trao quyền cho cộng đồng và lấycộng đồng làm trọng tâm. Tiếp tục đầu tư cho việc xây dựng các kênh mương còn dang dở, kiêncố hoá kênh mương, tránh tình trạng nước không đến được với những diệntích cần tưới tiêu, tránh tình trạng nước bị thấm do mương chưa được xâykiên cố hoá. Là khu vực có điều kiện thuận lợi về nguồn nước, mặc dù chưa thật sựcó điều kiện tốt nhất về tiếp cận nguồn nước, nhưng là một vùng có nguồnnước dồi dào và có điều kiện thuận lợi. Vùng đã được hưởng hệ thống kênhmương thuỷ lợi, nhưng do còn một số chỗ kênh mương còn thấp hơn mặtruộng và diện tích cần tưới nước, vì vậy cần có một quy hoạch đồng bộ, tránhtình trạng diện tích cần tưới nước gần hệ thống thủy lợi, nhưng không thật sựthuận tiện khi tiếp cận với nguồn nước đó.3.3.3. Giải pháp cho khu vực không thuận lợi trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn nước Những năm qua, vấn đề xói mòn, suy thoái đất tại vùng trung du miềnnúi do tác động của điều kiện tự nhiên và nạn phá rừng, cũng như các hoạtđộng canh tác nông nghiệp không phù hợp trên đất dốc diễn ra với tốc độnhanh, trong khi vùng đồng bằng thích hợp cho cây hoa màu lương thực ngắnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 87ngày trên thực tế đã được khai thác tới hạn. Do vậy, chính quyền địa phươngcần chú trọng việc đầu tư hệ thống kênh mương thuỷ lợi, các đường ống dẫnnước, phát triển nông lâm nghiệp trong những thập kỷ tiếp theo phụ thuộcphần lớn vào vấn đề quản lý sử dụng hiệu quả và lâu bền quỹ đất đồi núi vốnđang rất đa dạng, giàu tiềm năng, nhưng vấn đề mấu chốt để phát triển nôngnghiệp miền núi là giải quyết nước tưới cho cây trồng và hạn chế chống xóimòn đất. Với nguồn kinh phí của một xã nghèo, xây các bể chứa lớn là khóthực hiện, vì vậy, xây các bể chứa nhỏ bằng vật liệu xây dựng (xi măng, đá,cát, sỏi, sắt, thép) sẽ tiết kiệm được chi phi và tăng khả năng giữu nước chovùng này. Xây dựng các trạm bơm nhỏ để bơm nước lên bể chứa theo cácđường ống dẫn trong trường hợp mừa khô, lượng mưa ít. Xây dựng kiên cố hệthống kênh mương, tránh tình trạng thấm nước.3.3.4. Giải pháp của các nhóm hộ nông dân xã Tân Lập Kết hợp với chính quyền địa phương, góp sức cùng chính quyền đầu tưvà xây dựng hệ thống kênh mương, xây dựng lắp đặt các đường ống dẫn nướcnhỏ từ vùng thuận lợi lên vùng khó khăn, tưới phun đối với vùng triền đồicao. Bên cạnh đó cần tăng cường bảo vệ, tu sửa hệ thống kênh mương, đuờngống dẫn nước, kiểm tra và khơi thông hệ thống dẫn nước. Đối với vùng thuậnlợi, còn một số vùng, các hộ nông dân ở cao hơn hệ thống kênh mương, dùngbiện pháp tát nước bằng gầu lên mương, dùng ống dẫn nước vào diện tích cầntưới tiêu. Đối với các hộ khó khăn về nguồn nước, biện pháp giữ nước là vôcùng quan trọng, xây các bể chứa nước nhỏ hoặc chứa nước bằng các lu chứanước sẽ với chi phí ít hơn. Mặt khác, tranh thủ sự đầu tư của của Nhà nướccũng như của chính quyền địa phương để tiếp cận tốt hơn nữa nguồn nước, đểtăng thu nhập của mình. Ngoài ra cũng cần có chiến lược và định hướng đúngđắn đối với việc canh tác và trồng loại cây thích hợp với vùng đất canh tác, đểđạt được năng suất cao. Bên cạnh đó còn cần có giải pháp mang tính cộng đồng, trồng rừng đểgiữ nước đầu nguồn, tạo nguồn nước mạch và độ màu mỡ cho đất trồng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 88 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, vì vậyviệc quan tâm của các cấp các ngành trong nước đã có nhiều sự quan tâm vàđầu tư lớn trong việc phát triển nông nghiệp bền vững, các chính sách khuyếnkhích, hỗ trợ và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước, phát triển sản xuấtnông nghiệp, đưa nền kinh tế chúng ta phát triển cùng khu vực. Trong quá trình thực hiện Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng việc tiếp cậnnguồn nước tác động đến thu nhập của người nông dân xã Tân Lập, từ số liệuđiều tra thực tế, Luận văn rút ra một số kết luận sau: 1. Trong những năm qua, cùng với sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, sựphấn đấu nỗ lực của chính quyền địa phương và sự vươn lên khắc phục nhữngkhó khăn của người dân, việc nâng cao khả năng tiếp cận nguồn nước đã vàđang dần được cải thiện, với nhiều điều đã đạt đươc trong phát triển nôngnghiệp của địa phương. Tuy nhiên, bên bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại cầntháo gỡ, chính vì vậy vẫn cần có những nghiên cứu chi tiết hơn, cụ thể hơnnữa về vấn đề nâng cao khả năng được tiếp cận với nguồn nước, và đề ranhững giả pháp mang tính tổng thể hơn. 2. Tân Lập là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa của huyện Chợ Đồntỉnh Bắc Kạn. Đời sống nhân dân còn nghèo nàn, lạc hậu, giao thông đi lạigiữa các vùng còn khó khăn, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nôngnghiệp và lâm nghiệp. Sạt lở bờ sông khu vực trung tâm xã Tân Lập sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến tính mạng, đời sống vật chất, tinh thần, đất đai, ruộngvườn của người dân, cũng như các cơ sở hạ tầng quan trọng của xã như đườnggiao thông liên thôn, đường điện, năng suất, thu nhập từ sản phẩm nôngnghiệp…Do đó việc xây dựng các kề chống xói lở là vô cùng cần thiết. 3. Với điều kiện về nguồn nước khá dồi dào, nhưng do phân bố khôngđều, cơ sở hạ tầng còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu nước tưới tiêu choSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 89người dân. Nhưng với sự cố gắng khắc phục khó khăn, cố gắng tiếp cận và sửdụng nguồn nước để cải thiện thu nhập, đã phần nào tác động ít nhiều đến thunhập người dân trên địa bàn. Các vùng có điều kiện tiếp cận nguồn nước khácnhau đã biết canh tác các loại cây trồng phù hợp để có thu nhập. Tuy nhiên,trong quá trình điều tra, phân tích cho thấy một thực tế, tại khu vực tiếp cậnnguồn nước tôt nhất thu nhập từ lúa lại chưa cao do một số nguyên nhân như:diện tích đất canh tác nhỏ, chịu ảnh hưởng nặng của thiên tai. Những vùng khókhăn trong việc tiếp cận nguồn nước không canh tác được nhiều loại cây trồng. Các cấp lãnh đạo cần có sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa chohuyện Chợ Đồn nói chung và xã Tân Lập nói riêng. Là một xã vùng sâu vùngxa, giao thông đi lại khó khăn, tiềm lực kinh tế yếu kém, trình độ dân trí thấp,cơ sở hạ tầng kém phát triển, giao thương nhỏ lẻ, chưa có chợ, nền kinh tế củaxã chủ yếu là nông nghiệp. Nhưng điều kiện để phát triển sản xuất nôngnghiệp còn rất hạn chế, điều kiện để tiếp cận và sử dụng nguồn nước còn khókhăn, bên cạnh những yếu tố chủ quan còn có những yếu tố khách quan nhưthiên nhiên, lũ lụt, làm xói mòn đất đai canh tác, làm giảm năng suất, cho dùđó là vùng có thuận lợi về tiếp cận nguồn nước. Theo tài liệu của xã, xã còn 1 thôn chưa có điện lưới quốc gia để phụcvụ cho cuộc sống, trong khi đó lại là thôn vùng cao, khó khăn trong việc tiếpcận nguồn nước. Với các giải pháp đầu tư xây dựng và cải tao mới công trìnhthuỷ lợi là rất tốn kém, với nguồn ngân sách hạn hẹp, trong khi đó rất nhiềucông trình đã có lại chưa phát huy hết năng lực. Giải pháp về sửa chữa nângcấp công trình hiện có, đi đôi với việc đổi mới công tác quản lý, nâng caohiệu quả công trình, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kỹ thuật tưới tiết kiệmnước, sử dụng nước tiết kiệm thông qua việc xây dựng mô hình điểm để nhânrộng sẽ đòi hỏi chi phí không cao nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội rất lớn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 90 4. Đề tài hoàn thành thể hiện sự cố gắng của tác giả trong quá trình họctập, tích luỹ kinh nghiệm cũng như quá trình nghiên cứu thực tế. Có thể nói,đề tài đã thu được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, do thời gian vàtrình độ có hạn, cũng như để phù hợp với cấp độ một Luận văn thạc sỹ, bảnthân tác giả cũng nhận thấy một số điểm hạn chế: Công trình nghiên cứu khoa học mới dừng lại ở phân tích sự ảnh hưởngcủa việc tiếp cận nguồn nước ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân từnông nghiệp.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Quyền Đình Hà (2004), Kinh tế phát triển nông thôn, Trường Đại học nông nghiệp I, Hà Nội.2. PGS. TS. Phạm Ngọc Hải, GS. TS. Tống Đức Khang, GS. TS. Bùi Hiếu, TS. Phạm Việt Hoà (2007), Giáo trình quy hoạch và thiết kế hệ thống huỷ lợi, Nxb Xây dựng, Hà Nội.3. Hội khoa học kinh tế nông – lâm nghiệp (2000), Giáo trình kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.4. Đỗ Hồng Phấn (2007), “Xin đừng lãng phí nước mưa”, Báo TTXVN5. Nguyễn Quang Phi (2006), Nghiên cứu điển hình quy hoạch hệ thống thuỷ lợi6. Đặng Đình Quang (2002), Đổi mới ở vùng Miền núi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.7. TS. Đỗ Anh Tài, TS. Nguyễn Minh Thọ, ThS. Nguyễn Thị Bình, Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn miền Bắc Việt Nam.8. Đặng Lim Vui, Nguyễn Thế Đặng, Trần Ngọc Ngoạn, Lương Văn Hinh, Nguyễn Ngọc Nông, Nguyễn Hữu Hồng, Nguyễn Thị Minh Thọ, Nguyễn Thị Thắc, (2002), Một số phương pháp tiếp cận và phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.9. Báo cáo thống kê UBND xã Tân Lập năm 200710. Báo cáo tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn năm 2007, Sở Nông nghiệp & PTNT Bắc Kạn.11. Báo cáo của Hội Nước Quốc tế (IWRA)12. Báo cáo của Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam13. Niên giám thống kê huyện Chợ Đồn năm 2003 - 200714. Tạp chí Tài nguyên và Môi truờng tháng 5 - 2008.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 92 PHỤ LỤCSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 93 PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ NÔNG DÂNPhiÕu sè:...................Th«n:……………….X·:………………...M·........ HuyÖn: ..............Hä vµ tªn ng-êi pháng vÊn:........................................... M·...................................I. Th«ng tin chung vÒ hé n«ng d©n1. Hä vµ tªn chñ hé:.......................................... Giíi tÝnh  (nam: 0 ; n÷:1)- Ngµy th¸ng n¨m sinh chñ hé:………………………..- Tr×nh ®é v¨n ho¸ chñ hé: líp:……………………- D©n téc cña chñ hé  (Kinh: 0; Tµy: 1; Dao: 2; Nïng: 3; M«ng: 4; Kh¸c: 5)2. Nh©n khÈu cña hé2.1. Tæng nh©n khÈu:……………….. ng­êiTrong ®ã: sè nh©n khÈu lµ nam:……………. Ng­êi Sè nh©n khÈu lµ n÷:……………… ng­êi2.2. Lao ®éng cña hé:……………………… lao ®éngTrong ®ã: sè lao ®éng lµ nam:………………. Lao ®éngSè lao ®éng lµ n÷:………………… lao ®éngSè nh©n khÈu ngoµi ®é tuæi lao ®éng cã tham gia lao ®éng..... ng-êi? - Trªn 60 tuæi...... ng-êi? - D-íi 18 tuæi ...... ng-êi?2.4. Ph©n lo¹i hé theo nghÒ nghiÖp- Hé thuÇn n«ng:  - Hé n«ng nghiÖp kiªm TTCN: - Hé NN kiªm DÞch vô:  - Hé kh¸c:..................................3. Nh÷ng tµi s¶n chñ yÕu cña hé3.1. Nhµ ëNhµ kiªn cè:  Nhµ b¸n kiªn cè  Nhµ t¹m Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 944. §Êt ®ai cña hé Lo¹i ®Êt §VT DiÖn tÝch Thuû lîi C©y trång Ghi chóTæng diÖn tÝch cña hé *1. §Êt thæ c-2. §Êt v-ên nhµ3. §Êt trång c©y hµng n¨mM¶nh 1M¶nh 2M¶nh 3M¶nh 4M¶nh 5M¶nh 6M¶nh 7M¶nh 84. §Êt trång c©y l©u n¨m-§Êt trång chÌ-§Êt trång c©y ¨n qu¶5. §Êt v-ên rõng6. §Êt ao, hå7. §Êt kh¸c*: Chñ ®éng: 1 kh«ng chñ ®éng: 2Ghi chó: 1: mét vô; 2: hai vô; 3: 3 vôSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 955. Tµi s¶n phôc vô s¶n xuÊt cña hé Tµi s¶n Sè l-îng Gi¸ trÞM¸y kÐoM¸y cµyM¸y b¬mM¸y xay x¸tM¸y tuèt lóaM¸y kh¸cCµy, bõaM¸y tuèt lóa thñ c«ngTr©u bß cµy kÐoLîn n¸iChuång tr¹i ch¨n nu«iTµi s¶n kh¸c6. Thu nhËp vµ vèn cña hé gia ®×nh-Thu nhËp hµng n¨m cña hé:............................................................ ®-Vèn cña hé gia ®×nh vµo thêi ®iÓm ®Çu n¨m:..................................®-TiÒn göi tiÕt kiÖm cña hé gia ®×nh:...................................................®II. KÕt qu¶ s¶n xuÊt cña hé gia ®×nh1. KÕt qu¶ s¶n xuÊt ngµnh trång trät DiÖn L-îng NS SL Gi¸ C©y trång tÝch b¸n (t¹/sµo) (t¹) (1000®/kg) (m2) (kg)Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 962. Thu tõ ngµnh ch¨n nu«i Sè ®Çu gia Träng Tæng träng L-îng Gi¸ VËt nu«i sóc, gia cÇm l-îng BQ l-îng b¸n (1000®/kg) (con) (kg) (kg) (kg)-Lîn thÞt-Lîn con-Gµ-VÞt-Tr©u-Bß- C¸ (TÝnh trong mét n¨m; riªng tr©u bß ®¬n vÞ tÝnh lµ con)3. Thu tõ ho¹t ®éng l©m nghiÖp:................................ ®4. Thu tõ c¸c nguån kh¸c- Thu tõ ho¹t ®éng dÞch vô:.........................®- Thu tõ lµm nghÒ:.......................................®- Thu tõ lµm thuª:........................................®- TiÒn l-¬ng:................................................®- Thu kh¸c:..................................................®Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 97III. Chi phÝ s¶n xuÊt cña hé1. Chi phÝ cho s¶n xuÊt trång trät (tÝnh b×nh qu©n cho 1 sµo) Chi phÝ §VT Lóa C©y... C©y... C©y... C©y... C©y...1. Gièng Kg- Sè ®i mua Kg- Gi¸ 1000®/kg2. Ph©n bãn- Ph©n chuång T¹- §¹m Kg- L©n Kg- Kaly Kg- NPK Kg3. Thuèc trõ s©u 1000®4. Thuèc diÖt cá 1000®5. Lao ®éng C«ng- Thuª ngoµi C«ng- Gi¸ 1000®/c«ng6. Chi phÝ b»ng tiÒn- Thuû lîi phÝ 1000®- DÞch vô lµm ®Êt 1000®- VËn chuyÓn 1000®- Tuèt 1000®- B¶o vÖ ®ång ruéng 1000®- Chi kh¸c 1000®Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 982. Chi phÝ cho ch¨n nu«i Lîn Lîn Gia Tr©u, Kho¶n môc §VT C¸ thÞt n¸i cÇm bß1. Gièng Kg - Gi¸ 1000®/kg2. Thøc ¨n tinh- G¹o Kg- Ng« Kg- C¸m g¹o Kg- Khoai, s¾n Kg- C¸m tæng hîp Kg+ Gi¸ 1000®/kg- Bét c¸ Kg+ Gi¸ 1000®/kg--3. Thøc ¨n xanh (rau)- Tæng sè Kg+ Mua ngoµi Kg+ Gi¸ 1000®/kg4. Chi b»ng tiÒn kh¸c 1000®5. C«ng lao ®éng C«ng (Ghi chó: tÝnh cho c¶ n¨m hay tÝnh cho mét løa)3. Chi cho ho¹t ®éng l©m nghiÖp:....................................®4. Chi cho ho¹t ®éng kh¸c:- Chi cho ho¹t ®éng dÞch vô:.........................®- Chi cho lµm nghÒ:.......................................®- Chi kh¸c......................................................®Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
    • 99IV. Th«ng tin tham kh¶o vÒ t×nh h×nh thuû lîi vµ sö dông hÖ thèng thuû lîi cña hé gia ®×nhGia ®×nh cã ®-îc sö dông hÖ thèng thuû lîi?  (cã: 1 ; kh«ng: 0)NÕu cã: hÖ thèng thuû lîi ®· phôc vô tèt ch-a?  (tèt: 1 ; kh«ng: 0)Bao nhiªu % diÖn tÝch cña gia ®×nh ®-îc sö dông thuû lîi? .................Gia ®×nh cã gÆp khã kh¨n g× trong viÖc tiÕp cËn nguån n-íc?Xin cô thÓ:.......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................Thuû lîi phÝ cña gia ®×nh ph¶i tr¶ cao hay thÊp?  (Cao: 1 ; b×nh th-êng: 0)Mçi sµo sö dông gia ®×nh ph¶i tr¶ bao nhiªu? ............................1000®Theo «ng (bµ) ®¸nh gi¸ thÕ nµo vÒ ®iÒu kiÖn thuû lîi cña ®Þa ph-¬ng?ThuËn lîi..........................................................................................................................................................................................................................................Khó kh¨n..........................................................................................................................................................................................................................................Theo «ng bµ lµm thÕ nµo ®Ó n©ng cao kh¶ n¨ng tiÕp cËn nguån n-íc?....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................Xin ch©n thµnh c¶m ¬n sù hîp t¸c cña «ng (bµ)!Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn