Your SlideShare is downloading. ×
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngoại thương ftu
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Introducing the official SlideShare app

Stunning, full-screen experience for iPhone and Android

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngoại thương ftu

9,506
views

Published on

Khóa luận tốt nghiệp ftu

Khóa luận tốt nghiệp ftu

Published in: Education

1 Comment
6 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total Views
9,506
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
1
Likes
6
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Http://luanvan.forumvi.com luanvan84@gmail.com TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG *********** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH GIẤY VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ. Sinh viên thực hiện: Bùi Đức Chí Toàn Lớp Nga – khóa K38 E Giáo viên hướng dẫn: Thạc sỹ Phạm Song Hạnh Hà Nội - 2003
  • 2. Http://luanvan.forumvi.com luanvan84@gmail.com Mục lục Nội dung Trang sốLời nói đầu Chương I Lý thuyết về năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tếI/ Khái niệm và chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh 31. Khái niệm năng lực cạnh tranh 32. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 4II/ Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp 71. Những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 72. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 9III/ Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh củangành giấy 161. Do ngành giấy là một ngành có vai trò quan trọng trongnền kinh tế nước ta 162. Phát triển ngành giấy là một yêu cầu đặt ra nhằm phát huynguồn lực của đất nước, thay thế hàng nhập khẩu, đáp ứngnhu cầu trong nước183. Muốn phát triển ngành giấy thì phải nâng cao năng lựccạnh tranh của ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế 20
  • 3. Http://luanvan.forumvi.com luanvan84@gmail.com Chương II Thực trạng của ngành giấy Việt Nam trước thềm hội nhập kinh tế quốc tếI/ Tình hình hoạt động của ngành giấy Việt Nam 221. Những thuận lợi 242. Khó khăn đối với ngành giấy 263. Thực trạng của ngành giấy Việt Nam trongbối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực 29III/ Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành giấyViệt Nam trong điều kiện hội nhập 361. Những thách thức và cơ hội đối với ngành giấy Việt Namtrong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực 372. Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam 45 Chương III Một số biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt NamI/ Mục tiêu định hướng phát triển ngành giấy Việt Namđến năm 2010 521. Quan điểm 522. Mục tiêu của ngành giấy đến năm 2010 54II/ Các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấyA/ Về phía các doanh nghiệp 561. Xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp 562. Xây dựng nhận thức đúng đắn về hội nhập573. Áp dụng biện pháp giảm chi phí, nâng cao chất lượng 59
  • 4. Http://luanvan.forumvi.com luanvan84@gmail.com4. Phát huy nhân tố con người 615. Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp ngành giấy 646. Đầu tư hợp lý cho công nghệ 66B/ Về phía Nhà nước 681. Xây dựng chiến lược qui hoạch phát triển ngành giấy hợp lý 682. Thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư phát triển ngành giấy 703. Sắp xếp lại các doanh nghiệp quốc doanh nhằm tăng cườngnăng lực cạnh tranh cho toàn ngành 724. Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho ngành giấy,thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ 73Kết luậnTài liệu tham khảo 
  • 5. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕLời nói đầu Trong điều kiện, quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâurộng làm nảy sinh rất nhiều vấn đề mới mẻ. Quá trình hội nhập đã, đang và sẽtạo ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta. Hội nhập mang đếncơ hội cho nhiều ngành công nghiệp phát triển, xuất khẩu được nhiều hànghóa, tạo ra nhiều việc làm mới, nhưng cũng gây ra thách thức cho không ítngành của nước ta, trong đó có ngành công nghiệp giấy. Giấy là một mặt hàng tiêu dùng thiết yếu đối với nhu cầu của nhân dânvà công nghiệp giấy có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Phát triểnsản xuất mặt hàng giấy là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong bachương trình kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu vănhóa, học tập, sản xuất công nghiệp. Nhưng hiện đang có không ít ý kiến chorằng, ngành công nghiệp giấy Việt Nam có năng lực cạnh tranh yếu và có thểsẽ bị hàng nước ngoài lấn áp hoàn toàn. Có thực như vậy không? Xuất phát từ ý định đưa ra một cái nhìn và một sự đánh giá tương đốitổng quát và công bằng hơn đối với ngành công nghiệp giấy Việt Nam trướcnhững thách thức của quá trình hội nhập, tác giả đã thực hiện khóa luận này.Mục đích của tác giả không phải là đi sâu vào tình hình, thực trạng sản xuất,kinh doanh của ngành công nghiệp giấy Việt Nam hiện nay, mà đi vào phântích, đánh giá thách thức, cơ hội và năng lực cạnh tranh của ngành, thông quađó đề ra một hệ thống giải pháp ngành nên áp dụng để nâng cao năng lực cạnhtranh và phát triển ngành. Khóa luận sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp như thống kê, tổnghợp, phân tích, so sánh, diễn giải để nêu rõ mục đích của khóa luận. Ngoài phần lời nói đầu, mục lục và tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luậnđược tác giả chia làm 3 chương: -5-
  • 6. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ- Chương I :Lý thuyết về năng lực cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng caonăng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế- Chương II :Thực trạng của ngành giấy Việt Nam trước thềm hội nhập kinh tếquốc tế Chương III : Một số biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngànhgiấy Việt Nam Do ngành giấy là một ngành tương đối đặc thù dẫn đến khó khăn trongviệc thu thập thông tin và tài liệu tham khảo, đồng thời kiến thức và tư duy cònhạn hẹp, nên ý kiến của tôi nêu ra có thể còn chưa được hợp lý. Tác giả rấtmong nhận được sự góp ý, phê bình của các thầy cô, và các bạn đọc. Qua khóa luận này, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo,thạc sỹ Nguyễn Song Hạnh, người đã giúp đỡ và chỉ dẫn cho tôi trong quátrình thực hiện khóa luận. Cám ơn khoa KTNT, thư viện trường đại học ngoạithương, chú Hoan, giám đốc công ty VPP Hồng Hà đã giúp đỡ và cung cấpcho tôi nhiều tài liệu và thông tin bổ ích để thực hiện khóa luận. Cám ơn bố mẹđã tạo điều kiện cho con được học tập ở trường đại học ngoại thương, cám ơncác thầy cô đã dạy dỗ em trong bốn năm qua. Bùi Đức Chí Toàn -6-
  • 7. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Chương ILÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH (NLCT) VÀ SỰ CẦNTHIẾT PHẢI NÂNG CAO NLCT CỦA NGÀNH GIẤY VIỆT NAM TRÊN CON ĐƯỜNG HỘI NHẬP KINH TẾI/ Khái niệm và chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh Trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hóa đang lan rộng, nềnkinh tế thế giới đang phát triển rất nhanh thì vấn đề cạnh tranh trong thươngmại và trong sản xuất không còn bó hẹp trong phạm vi giữa các doanh nghiệpcủa một quốc gia, mà đã mở rộng ra phạm vi quốc tế và mang tính toàn cầu.Cạnh tranh giữa các công ty của các quốc gia để tiêu thụ hàng hoá rất quyếtliệt. Nhà sản xuất, xuất khẩu nào cũng muốn tiêu thụ hàng hóa sao cho đượcnhanh chóng, được nhiều để có thể thu được thật nhiều lợi nhuận, nhưng thịtrường thì có muôn vàn khó khăn và nghiệt ngã cản bước họ. Thương trường làchiến trường, trong cuộc cạnh tranh tất nhiên sẽ có người chiến thắng và kẻchiến bại. Người chiến thắng phải là người có năng lực cạnh tranh cao hơn kẻchiến bại. Năng lực cạnh tranh chính là chìa khóa để một doanh nghiệp dànhchiến thắng trước các đối thủ cạnh tranh. Thế nhưng ta hiểu thế nào là năng lựccạnh tranh? Và những nhân tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh?1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể phân ra làm nhiều loại: - Năng lực cạnh tranh của quốc gia - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - Năng lực cạnh tranh của hàng hóa Mỗi loại lại có những cách hiểu, khái niệm khác nhau, có những nhân tốảnh hưởng khác nhau. Cho tới nay đã có nhiều tác giả đưa ra các cách hiểu -7-
  • 8. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕkhác nhau về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cũng như của mộtquốc gia. - Ở tầm quốc gia: Theo định nghĩa của WEF (Diễn đàn kinh tế thế giới)thì: “năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì đượcmức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đốivà các đặc trưng kinh tế khác”. - Ở cấp doanh nghiệp: Theo Fafchamps, một chuyên gia về năng lực cạnhtranh, cho rằng: “năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năngcủa doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trungbình thấp hơn giá của nó trên thị trường”. Theo khái niệm này, doanh nghiệpnào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự sản xuất củadoanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn thì coi là có năng lực cạnhtranh. Theo tôi, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là “năng lựcnắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được, vì vậy khithị phần tăng lên cho thấy năng lực cạnh tranh được nâng cao”. Hiểu mộtcách đơn giản năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng hãng đó bánđược hàng nhanh, nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường cụthể về một loại hàng cụ thể. Quan điểm này có thể áp dụng đối với từng doanhnghiệp, cũng như đối với một ngành công nghiệp của một quốc gia trong cuộccạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới - “Năng lực cạnh tranh của hàng hóa là khả năng bán được hàngnhanh chóng khi trên thị trường có nhiều người cùng bán hàng đó”. Nó liênquan trực tiếp đến quyết định lựa chọn của người mua. Trong khóa luận này tôi chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp.2. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp -8-
  • 9. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Có rất nhiều chỉ tiêu để phản ánh năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp. Và chỉ có qua những chỉ tiêu này, chúng ta mới c ó thể theo dõi,đáng giá được đúng năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Trong đó, điểnhình nhất là một số chỉ tiêu sau:a) Doanh số: là số tiền bán hàng thu được trong một thời gian nhất định. Doanh số = giá bán x số sản phẩm bán ra Trên thực tế, người ta không chỉ xem xét thuần túy về giá trị mà còn chútrọng về mặt hiện vật của số sản phẩm bán ra đó, kể cả số lượng và chất lượng.Trong khi lợi nhuận chỉ rõ khả năng sinh lời thì doanh số lại cho biết quy môhay tầm cỡ của doanh nghiệp lớn hay nhỏ ở mức nào. Tuy nhiên, không phảikhi nào doanh số của hãng này lớn hơn hãng kia, thì cũng có nghĩa là lợi nhuậncủa nó cũng sẽ lớn hơn một cách tương ứng. Điều này do sự tác động củanhiều yếu tố chi phối như việc lựa chọn loại hình kinh doanh, lĩnh vực kinhdoanh, chất lượng kinh doanh…b) Thị phần của doanh nghiệp: là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm màdoanh nghiệp chiếm lĩnh. Đây là một chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp: Số sp bán ra của doanh nghiệp Thị phần = Tổng số sp tiêu thụ của thị trường - Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường: Đó là tỷ lệ %giữa giá trị sản phẩm của doanh nghiệp bán ra so với giá trị của toàn ngành. - Thị phần của doanh nghiệp so với phân khúc mà nó phục vụ: Đóchính là tỷ lệ phần trăm giữa doanh số của doanh nghiệp với doanh số của toànphân khúc. - Thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của doanh nghiệpvới đối thủ cạnh tranh mạnh nhất, chỉ tiêu này cho biết vị thế sản phẩm củadoanh nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường như thế nào? Số sp bán ra của doanh nghiệp -9-
  • 10. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Thị phần = Số sp bán ra của đối thủ Nếu hệ số trên của thị phần tương đối lớn hơn 1 thì lợi thế cạnh tranhthuộc về doanh nghiệp, và ngược lại. Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp sẽ biếtmình đang đứng ở vị trí nào, và có thể vạch ra một chiến lược hành động phùhợp. Chỉ tiêu này nói lên mức độ lớn của thị trường và vai trò vị trí của doanhnghiệp. Nó cho biết mức độ hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả haykhông hiệu quả. Khi tiềm lực của thị trường đang lên mà phần thị trường củadoanh nghiệp không thay đổi tức là thị trường đã ngoài vòng kiểm soát củadoanh nghiệp hay một phần của thị trường đã rơi vào đối thủ cạnh tranh chonên doanh nghiệp cần phải xem xét lại chiến lược kinh doanh của mình để mởrộng thị trường của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sảnphẩm trên thị trường hiện tại, có giải pháp thích hợp lôi kéo các đối tượng tiêudùng tương đối, đối tượng không thường xuyên, lôi kéo khách hàng từ thịtrường của đối thủ cạnh tranh với mình… Mục tiêu doanh số và thị phần có liên quan mật thiết với nhau. Doanh sốcho biết kết quả của doanh nghiệp ở thị trường đang hoạt động, còn thị phầnthì chỉ rõ doanh nghiệp chiếm được bao nhiêu trong cả “chiếc bánh thị trường”đó. Hai mục tiêu này còn gọi là những mục tiêu tạo lợi thế cạnh tranh hay mụctiêu thế lực. Khi doanh số và thị phần càng vượt xa đối thủ, doanh nghiệp càngcó nhiều lợi thế trong cuộc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường và thao túng giácả. Mức lợi thế áp đảo tuyệt đối sẽ dẫn tới sự lũng đoạn và độc quyền thịtrưòng, hình thành giá cả lững đoạn và lợi nhuận lũng đoạn.c) Lợi nhuận: Lợi nhuận được định nghĩa một cách khái quát là phần chênhlệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Chỉ tiêu lợi nhuận là thước đo hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp. - 10 -
  • 11. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện để tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp. Để cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho thị trường các nhà sảnxuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ mong muốn chochi phí đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi trừ đi cácchi phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mởrộng, không ngừng tích luỹ phát triển sản xuất, cũng cố và tăng cường vị trícủa mình trên thị trường để nâng cao khả năng của doanh nghiệp.d) Tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cho biết mức sinh lời củađồng vốn dùng trong kinh doanh. Tỷ suất này thể hiện sự bù đắp chi phí cơ hộicủa việc sử dụng vốn. Thông thường đồng vốn được coi là sử dụng có hiệu quảnếu tỷ lệ nói trên cao hơn mức sinh lời khi đầu tư vào các cơ hội khác hay ítnhất phải cao hơn mức lãi suất tín dụng ngân hàng. Tỷ suất lợi nhuận là mộtchỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năng của doanh nghiệp mà cònthể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản kinh doanh của doanh nghiệp ấy.Nếu chỉ tiêu này thấp thì chứng tỏ mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường là rất gay gắt. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao thì chứng tỏ doanhnghiệp đang kinh doanh rất thuận lợi và có hiệu quả.e) Tỷ suất doanh thu trên vốn: cho biết mức doanh thu tạo ra trên một đồngvốn, ngoài ra nó còn cho biết mức độ quay vòng của vốn. Tỷ suất này phụthuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành và chu kỳ sản xuất kinh doanh.f) Tỷ lệ chi phí marketing trên tổng doanh thu: Đây cũng là một chỉ tiêu đượcsử dụng nhiều để đánh giá năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả tiêu thụ sảnphẩm của các doanh nghiệp.II/ Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp1. Những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, hay của một ngành liênquan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa mà doanh nghiệp, ngành - 11 -
  • 12. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕđó cung cấp. Những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của hàng hóa cũngchính là những yếu tố tạo ra năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, mộtngành. Qua năng lực cạnh tranh của hàng hóa ta có thể thấy được năng lựccạnh tranh của một doanh nghiệp. Vì thế, năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp là một tổng thể, bao gồm nhiều nhân tố. Chất lượng: Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu của năng lực cạnhtranh. Khi chất lượng cuộc sống ngày càng tăng thì người ta càng có xu hướnglựa chọn hàng hóa đẹp, tốt, có chất lượng cao hơn là chọn hàng hóa có giá rẻ.Tùy theo mặt hàng mà tiêu chí chất lượng có thể thay đổi, đối với hàng tiêudùng, thì những hàng hóa có kiểu dáng hiện đại, màu sắc phù hợp thị hiếu, chấtlượng tốt,… sẽ thu hút khách hàng và được lựa chọn. Đối với mặt hàng thiết bịmáy móc, tiêu dùng dài ngày thì sự ưu việt của các tính năng, độ tin cậy cao,tiện nghi sử dụng là những yếu tố quyết định. Giá cả: giá cả cũng là một yếu tố có sức lôi cuốn người mua, và đượcngười mua cân nhắc khi mua một sản phẩm nào đó. Tuy nhiên, giá thấp chưachắc đã là một lợi thế, cái quyết định là tương quan hợp lý của giá và chấtlượng. Trong trường hợp, khi hàng hóa có giá trị tương đương nhau, thì hànghóa của doanh nghiệp nào có giá thấp hơn hàng hóa đó sẽ dễ bán hơn, và cókhả năng cạnh tranh cao hơn. Chi phí sử dụng: Đối với những hàng hóa sử dụng dài ngày thì chi phísử dụng là yếu tố rất quan trọng. Chi phí sử dụng thấp sẽ làm cho hiệu quả sửdụng cao. Người mua hàng rất quan tâm đến yếu tố này, bởi vì, nhiều khi chiphí sử dụng có thể vượt xa chi phí mua hàng. Hàng giá thấp nhưng chi phí sửdụng cao có thể làm cho tổng chi phí vẫn cao và sử dụng không kinh tế. Chi phí sử dụng thường là chi phí cho việc tiêu tốn năng lượng, nhiênliệu, vật liệu kỹ thuật, chi phí cho người vận hành, chi phí bảo dưỡng, duytu…. Để chi phí sử dụng thấp thì sản phẩm phải được chế tạo hoàn hảo, trìnhđộ kỹ thuật cao. - 12 -
  • 13. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Phục vụ kỹ thuật khi bán và sau bán ( hậu mãi ): để tạo thuận lợivà lôi cuốn người mua, các doanh nghiệp thường cung cấp những dịch vụ miễnphí như chở hàng đến tận nơi, lắp đặt, hướng dẫn bảo hành,… Đó là nhữngphục vụ kỹ thuật khi bán. Phục vụ kỹ thuật sau khi bán là bảo hành, cung cấp phụ tùng, tổ chứcsửa chữa,… Đây cũng là một yếu tố quan trọng để doanh nghiệp, ngành nângcao sức cạnh tranh cho hàng hóa của mình, và cho chính bản thân doanhnghiệp. Thực tế cho thấy rằng, hàng hóa của hai doanh nghiệp có chất lượng,giá cả tương đương nhau thì khách hàng sẽ chọn hàng được doanh nghiệp phụcvụ kỹ thuật khi bán và sau bán hoàn hảo. Điều này sẽ khiến khách hàng yêntâm, thoải mái hơn, tạo một ấn tượng đẹp nơi khách hàng, đồng thời giúpdoanh nghiệp nhanh chóng phát hiện ra những thiếu sót, nhược điểm của sảnphẩm và những đòi hỏi mong muốn của khách hàng… Từ đó, sẽ nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiềunhân tố, có những nhân tố mà doanh nghiệp có thể kiểm soát (các nhân tố bêntrong doanh ngiệp), và những nhân tố phức tạp, không lệ thuộc và không bịnhà doanh nghiệp chi phối (môi trường vĩ mô, môi trường ngành). Những nhântố này tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo những chiềuhướng khác nhau, và đòi hỏi doanh nghiệp phải có biện pháp thích hợp để ứngphó.* Môi trường vĩ mô Các nhân tố thuộc về mặt kinh tế: Các nhân tố này tác động đến khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp ở các phương diện sau. - 13 -
  • 14. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năngthanh toán của họ tăng dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ tănglên, đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào nắm bắtđược điều này và có khả năng đáp ứng được nhu cầu khách hàng (số lượng, giábán, chất lượng, mẫu mã…) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành công vàcó khả năng cạnh tranh cao. - Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanhchóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nóiriêng nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở. Nếu đồng nội tệ lên giá các doanhnghiệp trong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài, vì khiđó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnhtranh. Hơn nữa, khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, vì giá hàngnhập khẩu giảm, và như vậy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trongnước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước. Ngược lại, khi đồng nội tệgiảm giá, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng cả trên thị trườngtrong nước và trên thị trường nước ngoài, vì khi đó giá bán của các doanhnghiệp giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh ở nước ngoài. - Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năngcạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp thiếu vốnphải vay ngân hàng. Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của cácdoanh nghiệp tăng lên do phải trả lãi suất tiền vay lớn, khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn về vốn. Các nhân tố về chính trị, pháp luật: những yếu tố thuộc môi trường nàycó ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của doanh nghiệp. Trong số những yếutố này thì luật pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì luật pháp điều tiết hoạtđộng kinh doanh, giải quyết mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau, bảovệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ lợi ích của toàn xã hội trước những hoạt - 14 -
  • 15. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕđộng của doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận đã coi thường lợi ích chung toànxã hội. Một thể chế chính trị, pháp luật rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sởđảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh vàcạnh tranh có hiệu quả. Chẳng hạn, các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điềukiện cạnh tranh, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộcmọi thành phần và trên mọi lĩnh vực. Hay chính sách của Chính phủ về xuấtnhập khẩu, về thuế xuất nhập khẩu cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp sản xuất trong nước. Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố như tài nguyên, đất đai, vấnđề ô nhiễm môi trường… những vấn đề này có liên quan đến hoạt động củadoanh nghiệp, có ảnh hưởng đến các sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thịtrường, liên quan đến giá thành và lợi nhuận. Đây là một yếu tố quan trọngnhưng không phải mang tính quyết định, tuy nhiên, doanh nghiệp cũng khôngnên coi thường ảnh hưởng của những yếu tố này được. Trình độ phát triển khoa học, công nghệ: Nhóm nhân tố này quantrọng và có ý nghĩa quyết định đến môi trường cạnh tranh. Trình độ khoa họccông nghệ có ý nghĩa quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên năng lựccạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đó là chất lượng và giá bán. Nhữngtiến bộ về khoa học và công nghệ mới làm tăng năng suất, chất lượng sảnphẩm được đổi mới, tác động đến chi phí cá biệt của doanh nghiệp, qua đó tạonên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung. Đối với những nướcchậm và đang phát triển, giá và chất lượng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnhtranh. Hiện nay, khi trên thế giới, có sự chuyển hướng quan tâm từ giá cả sangchất lượng của hàng hóa, các doanh nghiệp chuyển từ cạnh tranh về giá sangcạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm - 15 -
  • 16. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕlượng khoa học công nghệ cao, vòng đời của sản phẩm ngày càng ngắn, thìtrình độ khoa học công nghệ lại càng nắm giữ vai trò trọng yếu hơn. Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp cho các doanh nghiệp tạo ra đượcnhững thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị toànbộ cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân nước ta. Đây là tiền đề đểcác doanh nghiệp ổn định và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.* Môi trường ngành Hoạt động trên thương trường, doanh nghiệp tự ý thức được rằng khôngphải mình đang “múa giáo ở chốn không người”, mà là giữa các đối thủ cạnhtranh dù ở trong lĩnh vực nào cũng vậy. Trong ngành nghề của mình, doanhnghiệp nào cũng sẽ phải bươn chải trong một “cái ao”, hay còn gọi là môitrường ngành của mình, và phải chịu những tác động của nó đối với hoạt độngkinh doanh của mình. Doanh nghiệp nào thích ứng tốt được với môi trườngngành của mình thì sẽ có năng lực cạnh tranh cao và là người chiến thắng. Trong tác phẩm “chiến lược cạnh tranh” của Michael Poter, một chuyêngia đầu ngành về chiến lược cạnh tranh, đồng chủ tịch của báo cáo cạnh tranhtoàn cầu, môi trường ngành được hình thành bởi các nhân tố chủ yếu mà ônggọi là năm lực lượng cạnh tranh trên thị trường ngành. Sức mạnh tổng hợp củanăm lực cạnh tranh sẽ quyết định khả năng cạnh tranh của các hãng trong cùngngành. Sức mạnh của chúng ở mỗi ngành, và mỗi lúc lại khác nhau. Bất cứmột doanh nghiệp nào cũng phải tính toán cân nhắc tới chúng, trước khi cónhững quyết định lựa chọn phương thức, nhiệm vụ phát triển của mình. Nămlực lượng đó là: Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trongnhững yếu tố phản ánh bản chất của môi trường này. Sự có mặt của các đối thủ - 16 -
  • 17. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕcạnh tranh chính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lượclượng tác động trực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của cácdoanh nghiệp. Trong một ngành bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau,nhưng thường trong đó chỉ có một số đóng vai trò chủ chốt như những đối thủcạnh tranh chính có khả năng chi phối, khống chế thị trường. Nhiệm vụ củamỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá chính xác khả năngcủa những đối thủ cạnh tranh chính này để xây dựng cho mình chiến lược cạnhtranh thích hợp với môi trường chung của ngành. Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trường Những doanh nghiệp mới tham gia thị trường trực tiếp làm tăng tínhchất quy mô cạnh tranh trên thị trường ngành do tăng năng lực sản xuất vàkhối lượng sản xuất trong ngành. Trong quá trình vận động của lực lượng thịtrường, trong từng giai đoạn, thường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhậpthị trường và những đối thủ yếu hơn rút ra khỏi thị trường. Để chống lại cácđối thủ cạnh tranh tiềm ẩn các doanh nghiệp thường thực hiện các chiến lượcnhư phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung những đặc điểm mớicủa sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm làm cho sảnphẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội hơn trên thị trường,hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ… Sức ép cạnh tranh của cácdoanh nghiệp mới gia nhập thị trường ngành phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểmkinh tế - kỹ thuật của ngành và mức độ hấp dẫn của thị trường đó. Sức ép của nhà cung ứng Những nhà cung ứng cũng có sức mạnh thoả thuận rất lớn. Có rất nhiềucách khác nhau mà người cung ứng có thể tác động vào khả năng thu lợi nhuậncủa ngành. Các nhà cung cấp có thể gây ra những khó khăn nhằm giảm khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp trong những trường hợp sau: - 17 -
  • 18. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Nguồn cung cấp doanh nghiệp chỉ cần có một hoặc vài công ty độcquyền cung cấp. - Nếu các nhà cung cấp có khả năng về các nguồn lực để khép kín sảnxuất, có hệ thống mạng lưới phân phối hoặc mạng lưới bán lẽ thì họ sẽ có thếlực đáng kể đối với doanh nghiệp là khách hàng. Sức ép của khách hàng Sức mạnh khách hàng thể hiện ở chỗ họ có thể buộc các nhà sản xuấtphải giảm giá bán sản phẩm thông qua việc tiêu dùng ít sản phẩm hơn hoặc đòihỏi chất lượng sản phẩm cao hơn. Nếu khách hàng mua với khối lượng lớn,tính tập trung của khách hàng cao hơn so với các doanh nghiệp trong ngành. Sự xuất hiện của những sản phẩm thay thế Những sản phẩm thay thế cũng là một trong những lực lượng tạo nênsức ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành. Mức độ sẵn cócủa những sản phẩm thay thế cho biết giới hạn trên của giá cả sản phẩm trongngành. Khi giá của sản phẩm tăng quá cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụngnhững sản phẩm thay thế. Hoặc do mùa vụ, thời tiết mà khách hàng cũngchuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế. Sự sẵn có của những sản phẩm thaythế trên thị trường là một mối đe doạ trực tiếp đến khả năng phát triển, khảnăng cạnh tranh và mức lợi nhuận của các doanh nghiệp.* Các nhân tố bên trong doanh nghiệp Đây là những nhân tố thuộc nội bộ doanh nghiệp, nó là những yếu tố có thểkiểm soát được hay cũng có thể nói đấy là những yếu tố chủ quan của doanhnghiệp, doanh nghiệp có thể kiểm soát chúng để quản lý hoạt động kinh doanhcủa mình. Có thể kể ra một số nhân tố như sau: - 18 -
  • 19. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ- Nguồn nhân lực: đội ngũ cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp- Tình hình tài chính của doanh nghiệp- Trình độ công nghệ của doanh nghiệp- Các quyết định từ các cấp thuộc doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Nguồn nhân lực: Đây là yếu tố quyết định của sản xuất kinh doanh.Trong nguồn nhân lực thì gồm có các bộ phận sau: + Ban giám đốc doanh nghiệp + Cán bộ quản lý ở cấp doanh nghiệp + Cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân - Ban giám đốc doanh nghiệp: Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhấttrong doanh nghiệp, những người vạch ra chiến lược trực tiếp điều hành, tổchức thực hiện công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Những công ty cổphần, những công ty lớn ngoài ban giám đốc còn có hội đồng quản trị là đạidiện cho các chủ sở hữu doanh nghiệp. Các thành viên ban giám đốc ảnhhưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Đội ngũ cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân: Nguồn cánbộ của một doanh nghiệp phải đồng bộ. Sự đồng bộ này không chỉ xuất phát từthực tế là đội ngũ lao động của doanh nghiệp mà còn xuất phát từ yêu cầu kếthợp nguồn nhân lực với các nguồn lực về tổ chức và vật chất - Công nhân: Trình độ tay nghề của công nhân và lòng hăng say làmviệc của họ là một yếu tố tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp. Bởi vì khi tay nghề cao, lại cộng thêm lòng hăng say nhiệt tìnhlao động thì tăng năng suất lao động là tất yếu. Đây là tiền đề để các doanhnghiệp có thể tham gia và đứng vững trong cạnh tranh. Nguồn lực vật chất và tài chính - Máy móc thiết bị và công nghệ: Tình trạng trình độ máy móc thiết bị vàcông nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực cạnh tranh - 19 -
  • 20. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕcủa một doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới sản phẩm. Ngoài ra, công nghệsản xuất, máy móc thiết bị cũng ảnh hưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm.Một doanh nghiệp có trang thiết bị máy móc hiện đại thì sản phẩm của họ nhấtđịnh có chất lượng cao. Ngược lại không có một doanh nghiệp nào có thể nóilà có khả năng cạnh tranh cao khi trong tay họ là cả hệ thống máy móc cũ kỹvới công nghệ lạc hậu. - Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp: Bất cứ một hoạt động đầu tư, muasắm hay phân phối nào cũng đều phải xét, tính toán trên tiềm lực tài chính củadoanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm năng lớn về tài chính sẽ có nhiềuthuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đâu tư mua sắm trang thiết bị, đảm bảonâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, để duy trì và nâng cao sức cạnhtranh, cung cấp tín dụng thương mại, khuyến khích việc tiêu thụ sản phẩm,tăng doanh thu, lợi nhuận và củng cố vị trí của mình trên thương trường. Nói tóm lại, khi xem xét, đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanhnghiệp và kể cả khả năng cạnh tranh của các đối thủ, thì ta phải xem xét đầy đủcác yếu tố tác động đến nó, từ đó mới có thể “gạn đục, khơi trong” và tìm racác biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của chính doanhnghiệp.III/ Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Ngành giấy Việt Nam có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta,nhu cầu về giấy ngày càng tăng khi nền kinh tế phát triển, chính vì thế nângcao năng lực cạnh tranh của ngành giấy là một nhiệm vụ cấp thiết và mang tínhtất yếu đối với nền kinh tế nước ta, đặc biệt là trong điều kiện nước ta đang hộinhập kinh tế rất sâu và rộng như hiện nay. Nâng cao năng lực cạnh tranh lànhằm phát triển ngành. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh củangành sẽ được lý giải qua ba nguyên nhân chính. - 20 -
  • 21. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ1. Do ngành giấy là một ngành có vai trò quan trọng trong nền kinhtế nước ta Tuy hiện nay, ngành giấy Việt Nam còn chưa phát triển được đúng vớitiềm năng của mình, giá trị sản xuất của ngành còn khá khiêm tốn mới chỉchiếm hơn 2% trong tổng giá trị công nghiệp của cả nước, nhưng ngành giấyvẫn được coi là một ngành công nghiệp quan trọng đối với nước ta và có vị trịnhất định trong nền kinh tế nước ta. Sự quan trọng của ngành thể hiện trongvai trò của nó đối với nền kinh tế nước ta: Thứ nhất, ngành giấy là một ngành thu hút nhiều lao động. Số lao độnglàm việc trực tiếp cho các đơn vị công nghiệp sản xuất giấy là khoảng 50.000người. Những người lao động này bao gồm: những người sản xuất bột giấy vànhững người sản xuất ra các sản phẩm giấy. Nếu chỉ xem xét số lao động làmviệc trực tiếp trong ngành thì ta có thể cho rằng ngành giấy mới thu hút đượcmột số lao động không phải là lớn lắm so với những ngành như may mặc, dagiày…. Nhưng để thấy hết vai trò của ngành trong việc tạo công ăn việc làm,ta phải đi từ đặc điểm của ngành. Ngành giấy là một ngành sử dụng khối lượngnguyên vật liệu thô đầu vào rất lớn, và để phục vụ nhu cầu nguyên liệu chongành thì sẽ cần phải có một đội ngũ hùng hậu những người trồng rừng, khaithác rừng. Bên cạnh đó, để phục vụ cho nhu cầu về hóa chất, xút, và các chấtphụ gia của ngành thì cũng dẫn đến sự ra đời của một lĩnh vực sản xuất chuyênphục vụ nhu cầu này của ngành giấy và cũng sẽ tạo ra rất nhiều chỗ làm. Chínhvì thế, tuy số lao động làm việc trực tiếp trong ngành có thể còn khiêm tốn,nhưng nếu cộng cả số lao động làm việc gián tiếp trong ngành thì tổng số laođộng của ngành có thể không kém gì những ngành thu hút nhiều lao động nhưdệt may hay da giày. Thứ hai, phát triển ngành giấy là tiền đề phát triển nhiều ngành kinh tếkhác, góp phần tích cực vào quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước.Nguyên liệu chủ yếu của ngành giấy là từ gỗ, chính vì vậy, nếu ngành giấy - 21 -
  • 22. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕphát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành lâm nghiệp, tạo đầu ra ổn địnhcho ngành lâm nghiệp. Đồng thời, do trồng, khai thác nguyên liệu cho ngànhgiấy phải được chuyên môn hóa, tập trung thâm canh nên dẫn đến yêu cầu phảiáp dụng các giống cây trồng có năng suất cao, kỹ thuật thâm canh tiên tiến, vàsử dụng máy móc vào trồng, khai thác, nên sẽ thúc đẩy quá trình công nghiệphóa và hiện đại hóa trong lâm nghiệp. Đầu ra của ngành giấy là để phục vụ chonhu cầu của nhiều ngành công nghiệp và cho nhu cầu của nhân dân. Ngànhgiấy phát triển sẽ tạo điều kiện cho những ngành sử dụng nguyên liệu đầu vàolà giấy như ngành in, ngành sản xuất bao bì …phát triển, nâng cao khả năngcạnh tranh của những ngành này nhờ vào nguyên liệu đầu vào có giá rẻ, chấtlượng cao. Ngành giấy phát triển sẽ phục vụ tốt nhu cầu học tập, giải trí,nghiên cứu, tìm hiểu đa dạng và ngày càng cao của người dân, góp phần nângcao nhận thức của họ, qua đó sẽ nâng cao trình độ nguồn nhân lực của nước ta,tạo ra một tác động nhất định đến quá trình CNH, HĐH đất nước. Thứ ba, phát triển ngành giấy sẽ giúp tái chuyển dịch cơ cấu kinh tếgiữa các vùng, xóa đói giảm nghèo, tăng cường an ninh quốc phòng và bảo vệmôi trường. Vai trò của ngành giấy trong việc bảo vệ môi trường thể hiện ởchỗ: Ngành giấy ngoài việc sử dụng nguyên liệu là gỗ, thì còn sử dụng nguyênliệu là những thứ đã qua sử dụng như giấy phế liệu, bã mía….Chỉ trong năm2002, ngành giấy nước ta đã thu gom và sử dụng được 206.000 tấn trong nướcđể đưa vào tái sản xuất. Điều này không chỉ giúp ngành giấy đáp ứng được36% nguyên liệu cho sản xuất giấy, mà còn góp một phần không nhỏ trongviệc bảo vệ, làm sạch môi trường, tiết kiệm chi phí cho xã hội trong việc giảiquyết đống “phế liệu” khổng lồ này. Bên cạnh đó, do cây nguyên liệu giấykhông đòi hỏi cao về chất đất, nên phát triển ngành giấy sẽ giúp phủ xanh diệntích đất trống đồi trọc đang ở mức đáng lo ngại. Trồng rừng nguyên liệu giấyvừa giúp bảo vệ môi trường, vừa tăng thu nhập cho người dân trồng rừng,khiến họ gắn bó với rừng, không phá rừng nữa và sẽ bảo vệ rừng như bảo vệ - 22 -
  • 23. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕtài sản của mình. Rừng nguyên liệu giấy thường được trồng ở các đồi núi,vùng sâu vùng xa nên nó sẽ giúp chuyển đổi cơ cấu cây trồng lạc hậu, kémhiệu quả của người dân địa phương, nâng cao đời sống cho họ, qua đó, xóa đóigiảm nghèo ở những vùng này. Đời sống của người dân ở vùng sâu, vùng xađược cải thiện không chỉ làm kinh tế của vùng được nâng cao, mà còn tạo điềukiện để nhân dân gắn bó với đất đai, kết hợp với các đơn vị bộ đội, công antrong việc giữ đất, giữ rừng, bảo vệ an ninh quốc phòng ở địa phương.2. Phát triển ngành giấy là một yêu cầu đặt ra nhằm phát huy nguồnlực của đất nước, thay thế hàng nhập khẩu, đáp ứng nhu cầu trongnước Thực trạng thị trường cầu được xem xét thông qua mối quan hệ với quimô sản xuất của ngành và lượng giấy nhập khẩu. Từ dó, ta sẽ thấy được yêucầu cấp bách phải nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành để sản xuất hànghóa thay thế hàng nhập khẩu. Theo hiệp hội giấy Việt Nam, năm 2001, nhu cầugiấy bình quân trên đầu người của nước ta là 8kg/người/năm, đây là mứctương đối thấp so với mức trung bình của khu vực và thế giới, nhưng ngànhgiấy cũng chỉ sản xuất được 420.107 tấn, đáp ứng được chưa đầy 60% nhu cầutrong nước, nên nước ta phải nhập 290.000 tấn giấy các loại, trị giá hơn 100triệu USD. Năm 2002, ngành đã tăng sản lượng sản xuất, đạt 538.231 tấn, tăng28%, nhưng cũng chỉ đáp ứng được 59% nhu cầu, còn lại nước ta vẫn phảinhập 371.554 tấn giấy, trong đó có 145.251 tấn giấy tráng, loại giấy có giá trịcao nhưng trong nước chưa sản xuất được. Nước ta đang trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, GDP tăng 6-7%/năm, cộng với sự gia tăng dân số,nhu cầu về giấy sẽ chỉ có tăng chứ khó có khả năng giảm, nó sẽ tăng tỉ lệ thuậnvới tốc độ tăng của GDP. Dự báo mức tiêu dùng giấy của nước ta sẽ tăng ổnđịnh bình quân 10 %/năm (trong đó giấy in báo tăng 7%, giấy in viết và bao bìtăng 10%, các loại khác là 15%/năm). - 23 -
  • 24. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Đến năm 2020 thì nhu cầu về giấy của Việt Nam có thể lên tới 3.420.000tấn/năm. Năm 2005 2010 2020Dân số 83 89 102Tiêu thụ giấy bình quân (kg) 9,4 14,5 33,6Nhu cầu giấy (triệu tấn) 781.000 1.286.000 3.420.000Trong đó:- Giấy in báo 85.000 120.000 236.000- Giấy in, viết 226.000 365.000 947.000- Giấy bao bì 410.000 691.000 1.729.000Loại khác 60.000 110.000 445.000 (Nguồn tổng công ty giấy Việt Nam) Theo nghiên cứu trên thì ta có thể thấy rằng nhu cầu giấy của nước ta làrất lớn so với năng lực sản xuất hiện tại của toàn nghành (năm 2002 là538.554 tấn). Để có thể đáp ứng được nhu cầu này thì phải phát triển sản xuấtgiấy trong nước. Nếu không mỗi năm chúng ta lại có thể phải bỏ ra 200 – 300triệu USD để nhập khẩu giấy, tương đương với số tiền đầu tư, xây dựng mộtnhà máy giấy hiện đại, công suất lớn, trong khi chúng ta có đủ khả năng về conngười và nguyên liệu tự nhiên để phát triển ngành dẫn tới một sự lãng phí lớnnguồn lực của đất nước. Chính vì vậy đặt ra yêu cầu phát triển ngành để đápứng đủ được nhu cầu trong nước. - 24 -
  • 25. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ3. Muốn phát triển ngành giấy thì phải nâng cao năng lực cạnh tranhcủa ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng mạnh, xu hướng cắt giảmthuế quan diễn ra ngày càng nhanh, để phát triển ngành giấy thì một nhiệm vụcấp bách là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành. Trong những nămqua sản phẩm của ngành giấy đã chiếm được 50-60% thị phần trong nước vàphần nào đáp ứng được nhu cầu của thị trường, đặc biệt là các sản phẩm giấyin, giấy viết, in báo, giấy vệ sinh đã chiếm 80 - 90% thị phần phục vụ cho nhucầu in ấn, văn hoá, giáo dục, sinh hoạt... của nhân dân. Nhưng trong thời giantới khi thuế suất đối với các mặt hàng giấy chỉ còn 0-5% vào năm 2006, sảnphẩm giấy nội địa sẽ phải chịu sự cạnh tranh rất gay gắt của giấy ngoại nhậpvề chủng loại, chất lượng, giá cả. Trong khi đó, năng lực cạnh tranh của ngànhhiện còn đang rất yếu, nếu chúng ta không nâng cao chất lượng và đặc biệt làhạ được giá thành sản phẩm thì khả năng tồn tại của sản phẩm giấy nội địa làrất khó, chứ đừng nói đến phát triển ngành, thay thế hàng nhập khẩu, phát huynguồn lực trong nước. Nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp phát triển ngànhgiấy, và ngành giấy có phát triển thì mới có sức cạnh tranh với hàng nướcngoài , hai vấn đề này có tác động qua lại lẫn nhau. Chính vì vậy, đề ra giảipháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy là một nhiệm vụ tất yếukhách quan để phát triển ngành giấy, đặc biệt là trong thời điểm hội nhập ngàycàng gần. Đó là nhiệm vụ, yêu cầu không phải chỉ của riêng một mình tổngcông ty giấy, của ngành giấy, mà là của toàn xã hội. - 25 -
  • 26. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ  - 26 -
  • 27. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Chương II THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH GIẤY VIỆT NAM TRƯỚC THỀM HỘI NHẬPKINH TẾ QUỐC TẾI/ Tình hình hoạt động của ngành giấy Việt Nam Sản xuất giấy ở Việt Nam đã có từ lâu đời, nhưng ngành công nghiệpgiấy Việt Nam thì chỉ mới ra đời vào đầu thế kỷ 20, trong thời gian đầu cácnhà máy giấy có tính chất thủ công, vào những năm trước 1945 cả nước cókhoảng 7 nhà máy sản xuất giấy, sản lượng trung bình mỗi năm chỉ vàokhoảng 1000 tấn/năm, chất lượng giấy rất thấp, qui trình sản xuất còn rất thủcông. Đến những năm 50-60, công nghiệp giấy bắt đầu đi vào phát triển, trangbị những máy móc thiết bị sản xuất giấy công nghiệp, công suất các nhà máyđược nâng lên mức 20.000 tấn/năm, điển hình trong giai đoạn này là sự ra đờicủa nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ(1949), “cái nôi của ngành giấy Việt Nam”,sản phẩm giấy trong thời kỳ này chủ yếu là để phục vụ nhu cầu in ấn và viết.Trong giai đoạn 1960 – 1970 xuất hiện hàng loạt các nhà máy giấy với qui mônhỏ ở khắp miền Nam và miền Bắc. Trong thời gian này sản phẩm giấy đượcsản xuất cũng đa dạng hơn bao gồm các loại giấy báo, giấy viết, carton… Sảnlượng đạt khoảng 40.000 tấn/năm. Sản lượng giấy năm 1970 tăng 10 lần sovới năm 1960 đạt mức hơn 50.000 tấn. Tuy nhiên, chỉ sau năm 1975 côngnghiệp giấy mới thực sự được đầu tư phát triển với những nhà máy mới cócông suất trung bình. Đặc biệt sau tám năm xây dựng, ngày26/1/1982 lễ khánhthành nhà máy giấy Bãi Bằng đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc củangành công nghiệp giấy Việt Nam. Vào thời điểm đó thì công ty giấy Bãi Bằngđược coi là một nhà máy sản xuất tương đối hiện đại, với qui trình sản xuấtkhép kín, ứng dụng kỹ thuật cơ giới hoá và tự động hóa khá đồng bộ với năng - 27 -
  • 28. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕsuất thiết kế là 55.000 tấn giấy/năm và 48.000 tấn bột giấy/năm. Với sự ra đờicủa nhà máy giấy Bãi Bằng thì tổng công suất của ngành giấy đã tăng lên90.000 tấn/năm, chất lượng giấy cũng được cải thiện rõ rệt so với trước, đặcbiệt là hai mặt hàng giấy in và giấy viết. Mặc dù vậy, trong giai đoạn này, cũngnhư nhiều ngành công nghiệp khác, ngành giấy Việt Nam cũng vấp phải khôngít khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể vượt qua do cơ chế quan liêu baocấp, kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sản phẩm sản xuất ra lại không đáp ứngđược nhu cầu của người tiêu dụng. Chính sách đổi mới do Đảng và chính phủta đề ra năm 1986 đã tạo ra sự thay đổi lớn lao trong mọi mặt đời sống xã hộivà kinh tế nước ta. Theo đó, thực hiện việc chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóatập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN dưới sự quản lýcủa Nhà nước, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư kinhdoanh sản xuất, chuyển từ mục tiêu tập trung phát triển công nghiệp nặng sangphát triển công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Sự thayđổi đó đã tạo ra bước phát triển nhảy vọt trong nền kinh tể nói chung và ngànhcông nghiệp giấy nói riêng. Lúc này, ngành giấy Việt Nam đã có hai nhà máycó công suất tương đối lớn hơn 50.000 tấn/năm là Bãi Bằng và Tân Mai. Tốcđộ tăng trưởng bình quân của ngành giấy trong giai đoạn 1990-1999 bình quânđạt 16%/năm, tốc độ tăng trưởng này nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng củacông nghiệp chế biến nước ta nói riêng và công nghiệp nói chung, nhiều thànhphần kinh tế đã tham gia vào đầu tư, sản xuất giấy đã đáp ứng được một phầnnhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm giấy, ngành giấy Việt Nam đãxuất khẩu được một số loại giấy sang các thị trường nước ngoài (Đài Loan,Srilanca, Trung Đông,…). Năm 1999 sản lượng toàn ngành đạt 292.000 tấngấp gần 4 lần năm 1990. Sau 10 năm liền tăng trưởng với tốc độ bình quân16%/năm(1990 – 1999), nhạy bén nắm bắt thời cơ, ngành giấy Việt Nam đãvươn lên tốc độ tăng trưởng rất cao (cao nhất trong các ngành công nghiệp) vớitốc độ tăng trưởng trong 3 năm gần đây ( 2000 –2002 ) là 24%/năm, ngành - 28 -
  • 29. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕgiấy cũng đã có một số biện pháp chủ động để hội nhập kinh tế. Dù đã đạtđược một số thành tựu, vẫn giữ vững được thị trường, và bước đầu xâm nhậpthị trường nước ngoài, nhưng ngành giấy Việt Nam bước vào hội nhập kinh tếvẫn còn nhiều yếu kém và khuyết điểm. Để làm rõ những điểm yếu đó, tôi xintrình bày, những thuận lợi và khó khăn đối với ngành công nghiệp giấy ViệtNam, tình hình hoạt động của ngành trong những năm gần đây. Qua đó, ta cóthể xác định được năng lực cạnh tranh của ngành và đề ra giải pháp để pháttriển ngành, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành, phát huy, khai thác lợithế của ngành, đồng thời khắc phục những khó khăn, thách thức.1. Những thuận lợi - Điều kiện tự nhiên Việt Nam có hình chữ S với tổng diện tích là 330.541 km2 trải dài suốtdọc bờ biển đông nam Châu Á, ba phần tư lãnh thổ là núi đồi với những đỉnhcao trên 300 m trên mặt nước biển trung bình, khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm.Hầu hết vùng núi là đất đỏ, trên núi cao có đất mùn và thung lũng sông vàđồng bằng châu thổ có đất phù sa phỡ nhiờu, cỏc vựng đá vôi có đất bazan vàở một vài vùng ven biển đất cát nhiều. Đất đai, và khí hậu như vậy rất phù hợpđể phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy, cây nguyên liệu có tốc độ tăngtrưởng nhanh. Tổng diện tích đất của Việt Nam là khoảng 33 triệu ha, diện tích đất đãsử dụng là 23,840 triệu ha chiếm 57,04% quỹ đất tự nhiên, diện tích đất chưasử dụng là khoảng 8 triệu ha (theo niên giám thống kê năm 2000), diện tích đấtnày có khá nhiều khu vực có tiềm năng thích hợp để trồng cây nguyên liệugiấy.Theo số liệu của Viện Điều tra quy hoạch rừng thì rừng trồng nguyên liệugiấy nước ta hiện có 803 000 ha, trong đó có 618.000 ha rừng tự nhiên, 185000 ha rừng trồng các loại. Theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn giai đoạn 2001 - 2010 đã được Quốc hội thông qua, cả nước sẽ trồng - 29 -
  • 30. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕmới 1.140.000 ha rừng cây nguyên liệu giấy trong Chương trình 5 triệu harừng. Một vùng nguyên liệu dồi dào đang mở ra cho ngành giấy trong tươnglai. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, ngành giấy Việt Nam có lợi thế vềnguồn nguyên liệu thô rất phong phú. Đến nay, tuy chưa tuyển chọn đượcnhiều, nhưng tập đoàn cây nguyên liệu giấy ở Việt Nam đã khá đa dạng, vớimột số loài sinh trưởng nhanh, cho năng suất và chất lượng cao như thông 2 lá,3 lá làm nguyên liệu cho sợi dài, bồ đề, bạch đàn làm nguyên liệu cho sợingắn, lồ ô, tre cho nguyên liệu sợi trung bình. Với tổng trữ lượng gỗ là 751,5triệu m3, tổng trữ lượng rừng tre nứa là 8,4 tỷ cây, ngành có thể sử dụngnguyên liệu từ cây lá rộng, từ tre nứa, vầu, luồng… Ngoài ra, ngành còn có thểsử dụng một nguồn nguyên liệu có khối lượng rất lớn và được cung cấp ổnđịnh những phụ phẩm của các ngành khác hàng chục triệu tấn/mỗi năm nhưrơm rạ của các vùng sản xuất lúa gạo, bã mía của các nhà máy sản xuấtđường… Với nguồn nguyên liệu đa dạng, phong phú như vậy, ngành giấy cókhả năng chủ động được về nguyên liệu, từ đó có thể nâng cao vị thế của mình.Vấn đề đặt ra là ngành phải khai thác và sử dụng chúng sao cho hợp lý và cóhiệu quả. - Nguồn nhân lực Thuận lợi thứ hai đối với ngành giấy là Việt Nam có nguồn nhân lực dồidào. Ước tính, hiện nay, Việt Nam có lực lượng lao động khoảng 50 triệungười, và được bổ sung thường xuyên hàng năm với tốc độ tăng trung bình là1,7%. Lao động của chúng ta được đánh giá là trẻ, cần cù, thông minh, chịukhó và có khả năng tiếp thu công nghệ nhanh. Giá nhân công của nước ta lạichỉ ở mức thấp. Đối với một ngành cần sử dụng nhiều lao động như ngành giấythì đây có thể coi là một yếu tố tương đối thuận lợi. Bên cạnh nguồn nhân lựcdồi dào, ngành giấy nước ta còn được hưởng lợi từ một thị trường nội địa rộng - 30 -
  • 31. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕlớn với dân số hơn 80 triệu người , thị trường này còn đang sơ khai và còn rấtnhiều tiềm năng chưa được khai thác hết. - Chính sách của Nhà nước Ngành giấy, hiện nay cũng được sự quan tâm đầu tư thích đáng của Nhànước và Chính phủ. Trong chính sách của mình, Chính phủ đánh giá ngànhgiấy như một ngành sản xuất thay thế xuất khẩu, góp phần phát triển các vùngkinh tế sâu và xa, do vậy Chính phủ đã đề ra một loạt chính sách để hỗ trợ pháttriển ngành giấy như cấp vốn bằng nguồn vốn đầu tư ưu đãi, quỹ đầu tư pháttriển, giảm thuế cho ngành, khuyến khích đầu tư vào ngành giấy. Kết quả làhiện nay có rất nhiều thành phần kinh tế tham gia vào kinh doanh, sản xuấttrong ngành, sản lượng của ngành tăng vọt, mặt hàng cũng phong phú hơn.Chính phủ đã và đang xây dựng qui hoạch phát triển ngành, vùng nguyên liệu,giao đất giao rừng cho nhân dân, khuyến khích nhân dân trồng rừng nguyênliệu giấy để tạo vùng nguyên liệu ổn định cho ngành. Sự quan tâm ưu ái củaChính phủ cũng sẽ là một nhân tố thuận lợi để phát triển ngành. - Thuận lợi khác Do đã kinh doanh lâu năm, nên ngành đã xây dựng được cho mình mộtkênh phân phối, mạng lưới đại lý trải khắp mọi miền của đất nước, sản phẩmcủa ngành đã trở nên quen thuộc với mọi người, từ các nhà in lớn tiêu thụ hàngnghìn tấn giấy một năm đến những em nhỏ lớp 1 với những trang vở đầu đời.Những cái tên như Bãi Bằng, Tân Mai,…. đã trở thành thương hiệu lớn củangành không chỉ trong nước mà cả ngoài nước, thành một tài sản vô hình củangành. Đây là một ưu thế để ngành có thể cạnh tranh với các sản phẩm nướcngoài.2. Khó khăn đối với ngành giấy - 31 -
  • 32. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Tuy ngành giấy Việt Nam có được một số thuận lợi khách quan nói trên,nhưng ngành này cũng gặp rất nhiều khó khăn đặt ra do nhiều nguyên nhânkhác nhau: Thứ nhất, nước ta có lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào và chi phí nhâncông rẻ, nhưng nguồn nhân lực nước ta lại có những điểm yếu nhất định khi sosánh với lao động nước ngoài - Sức khoẻ hạn chế, độ bền dai rất kém: Sản xuất theo phương phápcông nghiệp trong kinh tế thị trường, và đặc biệt khi hội nhập kinh tế đòi hỏimột cường độ lao động cao hơn và căng thẳng hơn nhiều. Một phần do đặcđiểm về sinh học và hình thể thấp bé và nhẹ cân, một phần do phần lớn ngườiViệt Nam xuất thân từ nền sản xuất nông nghiệp nhỏ, lạc hậu nên khó có thểđáp ứng được một cường độ làm việc cao. - Tác phong công nghiệp còn ít và chưa được định hình bền chặt: sinh ravà trưởng thành trong một nền sản xuất tiểu nông manh mún, lộn xộn, nhiềungười Việt Nam quen làm việc theo kiểu tùy hứng, nước đến chân mới nhảy,không thích hợp tác với nhau, nên khó có sự hợp tác nhịp nhàng, đồng bộ ănkhớp. Mà trong điều kiện hội nhập kinh tế, thì tác phong công nghiệp là mộttố chất rất cần thiết đối với người công nhân. - Hiểu biết chưa đủ sâu rộng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạnchế: do sống và làm việc quá lâu trong môi trường khép kín và dựa dẫm vàoNhà nước, nên người lao động Việt Nam chỉ quen làm việc bằng kinh nghiệmlà chính, họ không thấy sự bức xúc lớn của việc sử dụng kiến thức, phươngpháp khoa học. Chính những điểm yếu của nguồn nhân lực là một trong những nguyênnhân làm cho sức cạnh tranh của ngành giấy cũng như nhiều ngành côngnghiệp của Việt Nam không cao. Tác phong công nghiệp yếu kém làm khả - 32 -
  • 33. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕnăng phối hợp làm việc, hoạt động của dây chuyền không đồng bộ, nhịpnhàng. Mà trong ngành công nghiệp giấy thì tính đồng bộ, nhịp nhàng lại làmột đòi hỏi rất quan trọng, bởi sản xuất giấy phải qua nhiều khâu, nhiều giaiđoạn, chỉ cần một giai đoạn có vấn đề thì cả dây chuyền sẽ gặp sự cố. Đây làmột trong những nguyên nhân làm năng suất lao động kém, hao phí nguyên vậtliệu nhiều. Nguồn nhân lực thì nhiều, nhưng những người lao động có trình độ,năng lực, có khả năng tiếp thu công nghệ, đặc biệt là người có trình độ trongngành, thì lại thiếu dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng công nghệ mới, sửdụng thiết bị hiện đại, hệ thống quản lý cồng kềnh, thiếu hiệu quả. Thứ hai, công nghệ của ngành khá lạc hậu không chỉ so với các nướctrên thế giới, mà ngay cả với các nước trong khu vực Đông Nam á. Đây là khókhăn lớn nhất đối với ngành giấy. Ở Việt Nam có những nhà máy được xâydựng từ năm 60, đến giờ vẫn còn hoạt động và hầu như không được đầu tư,nâng cấp trong 40 năm qua. Cả nước có hàng trăm nhà máy giấy, nhưng côngsuất nhà máy trung bình thì lại nhỏ, cả nước chỉ có hai nhà máy có công suấtlớn hơn 50.000 tấn là Bãi Bằng, Tân Mai, công suất của các nhà máy giấy ViệtNam là khoảng 10.000-15.000 tấn/năm, trong khi của Indonesia là hơn100.000 tấn/năm. Nguồn lực của ngành lại phân tán trải rộng khắp ba miền,chưa có những khu vực tập trung sản xuất công nghiệp lớn chuyên nghiệp donguồn nguyên liệu phân bổ không tập trung, lại thường nằm ở các khu vực cóhạ tầng cơ sở chưa phát triển. Công nghệ lạc hậu nên đòi hỏi phải đầu tư, nângcấp, nhưng chi phí vốn đầu tư lớn, suất phí đầu tư cho ngành tương đối lớn (1800 - 2 200 USD/tấn bột giấy từ cây nguyên liệu và 1 000 - 1 200 USD/tấngiấy từ bột giấy). Khả năng thu hồi vốn lại chậm, do tỷ suất lợi nhuận và lợinhuận thấp. Hiệu suất thu hồi nội bộ khoảng 11 - 12%/năm đối với các dự ánđầu tư mới. Chi phí để xử lý môi trường cao, đặc biệt các dự án đều nằm ởthượng nguồn nên chi phí đầu tư hệ thống xử lý môi trường theo đúng tiêuchuẩn Việt Nam chiếm khoảng 20 - 25% tổng chi phí đầu tư. Nếu không có - 33 -
  • 34. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕnhững chính sách đặc thù riêng thì rủi ro sẽ rất lớn. Nên ngành rất khó khăntrong việc thu hút vốn đầu tư vào ngành, đặc biệt là vào vùng nguyên liệu vàsản xuất bột giấy. Đây là khó khăn lớn đòi hỏi ngành phải có những chính sáchđầu tư phát triển sao cho thật hợp lý, phù hợp với đặc điểm về nguyên liệu vàtài chính của Việt Nam. Thứ ba, do đặc điểm của ngành giấy đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư rấtlớn, thời gian đầu tư lại khá dài, đòi hỏi về trình độ công nghệ tương đối cao.Nhưng nước ta vẫn còn nghèo, nguồn lực về tài chính còn yếu, lại có nhiềungành, nhiều việc đòi hỏi phải được đầu tư, rót vốn ngay, nên ngành giấy nướcta gặp nhiều khó khăn trong việc có được vốn để đầu tư xây dựng nhà máy,phát triển ngành, nâng cao sức cạnh tranh, tiềm lực tài chính của mỗi doanhnghiệp còn nhỏ bé nên chưa thể khai thác hết lợi thế về nguồn nhân lực vànguyên liệu dồi dào.3. Thực trạng của ngành giấy Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinhtế quốc tế và khu vực3.1 Cơ cấu tổ chức Hiện nay, trên toàn quốc nếu không kể các cơ sở sản xuất giấy nhỏ lẻ thủcông, có 473 đơn vị sản xuất công nghiệp giấy và bột giấy, với 441 doanhnghiệp ngoài quốc doanh, trong đó những cơ sở thuộc loại vừa và lớn ở ViệtNam là khoảng 145 đơn vị, 100 đơn vị sản xuất giấy, 45 đơn vị sản xuất bộtgiấy. Các đơn vị sản xuất giấy trong ngành công nghiệp được chia ra làm 3 bộphận chính: - Các doanh nghiệp Nhà nước: tổng công ty giấy Việt Nam - Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: gồm có các công ty cổ phần, TNHH, tổ hợp tác. - 34 -
  • 35. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tổng công ty giấy Việt Nam: Tổng công ty giấy Việt Nam (tổng công ty91), đây là doanh nghiệp mạnh nhất, lớn nhất, ra đời vào năm 1996 với mụctiêu mong muốn hình thành một tập đoàn kinh tế mạnh, đủ điều kiện chi phốicác hoạt động của ngành, giúp đỡ lẫn nhau. Tổng công ty được quản lý bởi Hộiđồng quản trị và được điều hành bởi Tổng giám đốc. Tổng công ty giấy ViệtNam bao gồm các thành viên là doanh nghiệp hạch toán độc lập, doanh nghiệphạch toán phụ thuộc và đơn vị sự nghiệp, có quan hệ gắn bó với nhau về lợi íchkinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt độngtrong lĩnh vực công nghiệp giấy và trồng rừng nguyên liệu giấy, nhằm tăngcường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất đểthực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao; nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanhcủa các đơn vị thành viên và của toàn Tổng công ty; đáp ứng nhu cầu về giấycủa thị trường. Tổng công ty chịu sự quản lý, chỉ đạo, kiểm tra giám sát củaBộ Công nghiệp nhẹ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương với tư cách là các cơquan quản lý Nhà nước; đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với tưcách là cơ quan thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhànước theo quy định tại Luật Doanh nghiệp Nhà nước và các quy định khác củapháp luật. Các doanh nghiệp của tổng công ty được phân bổ ở hai vùng chủyếu là Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ. Đặc trưng của các doanh nghiệp thuộctổng công ty là: - Có nguồn vốn thường được rót từ ngân quỹ Nhà nước hay sự bảo lãnhvay của Nhà Nước. Nên tuy dự án đầu tư của họ thường có quy mô lớn nhưnglại có sự phụ thuộc, không được linh hoạt như các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh. - 35 -
  • 36. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Có quy mô thuộc loại vừa và lớn so với các doanh nghiệp giấy khác ởViệt Nam, thường được xây dựng tương đối đồng bộ, thường là với một vùngnguyên liệu quy hoạch đi kèm. Từ ngày được thành lập, tổng công ty đã liên tục phát triển và đã có mộttiếng nói quan trọng đối với ngành, đóng góp một vai trò không nhỏ trongngành. Tổng công ty giấy Việt Nam, có thể nói đã khẳng định được vai trò làthành phần kinh tế chủ đạo. Bằng chứng là Tổng công ty đã cung cấp hơn 80%các mặt hàng sản phẩm có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội như giấy báo, giấyin, giấy viết. Sản phẩm giấy in, giấy viết, giấy in báo của các doanh nghiệpthuộc tổng công ty không chỉ phục vụ ngày càng tốt nhu cầu trong nước, màcòn bước đầu xuất khẩu được sang một số nước. Tổng công ty hiện là chủ đầutư của những công trình lớn nhất về công nghiệp giấy như dự án dây chuyềngiấy bao bì công nghiệp Việt Trì (35 triệu USD), dự án mở rộng Công ty giấyBãi Bằng giai đoạn 1 lên 100.000 tấn/năm (54 triệu USD), xây dựng nhà máybột giấy Kon Tum công suất 130.000 tấn/năm (244 triệu USD),...(nguồn tạpchí cộng sản số 14 năm 2002). Tuy nhiên, do cơ chế, cách thức quản lý củaNhà nước, ảnh hưởng của cơ chế tập trung, quan liêu còn rơi rớt, nên hoạtđộng đầu tư, nâng cấp của tổng công ty còn thực hiện rất chậm, ì ạch, tốc độtăng trưởng của tổng công ty giấy trong 3 năm gần đây chỉ đạt 4%/năm. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: trước năm 1990, các doanh nghiệpngoài quốc doanh còn chưa thực sự phát triển. Sau năm 1990, với sự cởi mở vềcơ chế, chính sách, sự khuyến khích của Nhà nước, đặc biệt là khi có luậtdoanh nghiệp, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong ngành giấy mọc lênnhanh chóng ở trên mọi miền đất nước. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanhthường hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần và công ty TNHH, chịu sựquản lý và kiểm tra của Sở công nghiệp và UBND các địa phương theo luậtdoanh nghiệp. Các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ hơn, số vốn hoạt động chỉtrong tầm từ vài tỉ đến vài chục tỉ, nguồn vốn của họ huy động từ nhiều nguồn - 36 -
  • 37. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕkhác nhau: vốn tự đóng góp, vốn từ bán cổ phần, vốn huy động qua kênh thịtrường chứng khoán…nhưng cơ cấu mặt hàng của họ rất đa dạng, từ giấy vệsinh, bìa carton, giấy kraft đến giấy in, giấy viết. Các đơn vị sản xuất giấyngoài quốc doanh thường nằm ngay ở các thành phố lớn như Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh, hoặc ở các khu vực công nghiệp như Đồng Nai, BìnhDương, Bắc Ninh để thuận tiện cho sản xuất và lưu thông hàng hóa của họ.Hoạt động của họ rất linh hoạt, bộ máy quản lý gọn nhẹ, sử dụng lao động rẻ,quản lý vật tư, nguyên liệu chặt chẽ. Hoạt động đầu tư của họ có tính nhạy béntrong việc đoán trước nhu cầu của thị trường, chuẩn xác trong việc chọn thờiđiểm, đa dạng trong đầu tư, phối hợp nhịp nhàng giữa các doanh nghiệp có quymô khác nhau. Họ mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực mà họ cho là có triểnvọng, nhiều dây chuyền sản xuất giấy duplex, giấy kraft, giấy viết đã ra đờinhư thế. Quy mô đầu tư mới điển hình của khu vực ngoài quốc doanh là12.000 tấn/năm (thay vì 700 – 1500 tấn/năm như trước đây). Đã và đang xuấthiện một số công ty lớn sản xuất giấy ở khu vực ngoài quốc doanh có quy môtrên dưới 30.000 tấn/năm, đứng hàng thứ 3,4,5 trong các cơ sở sản xuất lớn củangành, sản lượng tăng đều qua từng năm như Vạn Phát, An Bình, Hapaco,công ty giấy Sài Gòn….Tuy nhiên, các doanh nghiệp này cũng còn gặp rấtnhiều khó khăn về huy động vốn và cơ chế hoạt động, qui mô, nên rất cần cósự trợ giúp, hỗ trợ kịp thời của Nhà nước. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Từ năm 1991, cùng với sựphát triển của đầu tư nước ngoài, thì trong ngành giấy cũng ra đời nhữngdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút hơn 3.000 lao động và chiếm2% sản lượng toàn ngành, trong đó lớn nhất là nhà máy giấy Newtoyo. Hiệntại, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới chỉ đầu tư vào các lĩnhvực sản xuất giấy tissue, các tông, và một số loại giấy chuyên dụng… Nhưngtrong tương lai, khi nhu cầu về giấy của nước ta tăng mạnh thì các doanh - 37 -
  • 38. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕnghiệp nước ngoài sẽ có thể tăng lượng đầu tư vào ngành giấy của nước ta vớicơ cấu mặt hàng đa dạng hơn, và xây dựng thêm nhiều nhà máy khác.3.2 Thực trạng về năng lực sản xuất Trong những năm gần đây, công suất của ngành giấy Việt Nam liên tụcđược cải thiện, nâng cấp. Hiện nay, tổng công suất của toàn ngành đạt 658 .000tấn giấy và 200.000 tấn bột giấy. Do máy móc, thiết bị, công nghệ còn lạc hậu,và sự cạnh tranh khốc liệt của hàng ngoại nhập, nên nhìn chung ngành cũngchỉ khai thác được khoảng 80- 90% công suất. Tuy nhiên, sản lượng của ngànhcũng liên tục tăng, năm sau nhiều hơn năm trước. Năm 1999, sản lượng củatoàn ngành là 292.200 tấn, thì đến năm 2002, ngành giấy đã đạt mức sản lượng538.231 tấn, gấp 1,84 lần năm 1999, hoàn thành toàn diện và vượt mức mụctiêu năm 2005 mà Đảng và Nhà Nước đã giao cho ngành (vượt 8% so với chỉtiêu 500.000 tấn). Sản lượng toàn Trong đó So sánh Năm Ngành Tcty giấy VN Các DN khác 1 2 3 2/1 Tấn % Tấn % Tấn % % 1999 292.200 100 168.924 100 123.276 100 58 2000 350.103 119 173.965 103 176.035 143 50 2001 420.107 120 187.000 107 243.000 132 45 2002 538.231 128 192.665 103 345.463 148 36 ( Nguồn hiệp hội giấy Việt Nam) Năng lực sản xuất của tổng công ty giấy Việt Nam đến thời điểm năm2003 là 233.000 tấn, và 126.000 tấn bột giấy. Nhưng xem bảng trên, ta thấysản lượng của ngành vẫn chưa đạt được mức 200.000 tấn. Trong năm 2003, dùdây chuyền sản xuất giấy của nhà máy Vạn Điểm và dây chuyền sản xuất - 38 -
  • 39. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕduplex của nhà máy Việt Trì đã đi vào hoạt động, nhưng tổng công ty cũng chỉdự định sản xuất 194.800 tấn do nhà máy Bãi Bằng phải ngừng sản xuất đểnâng cấp. Sản phẩm chủ yếu vẫn là giấy in và giấy viết. Nhìn bảng trên, ta cũng thấy năng lực sản xuất của các doanh nghiệpngoài tổng công ty tăng liên tục cả về chỉ tiêu tương đối lẫn tuyệt đối. Năm1999, sản lượng của các doanh nghiệp này mới chỉ chiếm 42 % sản lượng toànngành. Đến năm 2002 các doanh nghiệp này đã sản xuất được 345.463 tấn,chiếm 64%, gần gấp đôi sản lượng của tổng công ty giấy Việt Nam. Điều nàythể hiện rõ sự tăng trưởng nhảy vọt của các doanh nghiệp này, đặc biệt là củacác công ty cổ phần, còn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì vẫnmới chỉ chiếm một phần khiêm tốn là 2% tổng sản lượng toàn ngành.3.3 Thực trạng về cơ cấu sản phẩm Cơ cấu sản phẩm ngành giấy trong những năm gần đây đã có sự biến đổivà chuyển dịch cùng với sự thay đổi của cơ chế thị trường, mở rộng thươngmại. Sản xuất Sản xuất Mặt hàng năm 2001 năm 2002Giấy in báo 35.000 34.335Giấy in và giấy viết 130.052 135.120Giấy làm bao bì, các tông 137.727 233.318Giấy vệ sinh, tissue 17.843 24.000Giấy tráng 0 0Giấy vàng mã xuất khẩu 74.278 80.000 - 39 -
  • 40. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕGiấy vàng mã dùng trong nước 15.000 18.000 (Nguồn báo công nghiệp giấy tháng 6/2003) Trong những năm trước đây, mặt hàng chủ yếu của ngành giấy ViệtNam là giấy in, giấy viết, giấy in báo, thì hiện nay, giấy làm bao bì, các tôngđã có sự gia tăng mạnh, năm 2002 tăng 1,7 lần so với năm 2001, vươn lên làlĩnh vực có sản lượng lớn nhất trong cơ cấu mặt hàng của ngành, trong tươnglai, đây vẫn sẽ là một mặt hàng nhiều tiềm năng. Giấy in, giấy viết, giấy báovẫn là một trong những mặt hàng chính của ngành nhưng do sự cạnh tranhmạnh của giấy nước ngoài, nên sản lượng chỉ tăng nhẹ. Tuy nhiên, cơ cấu mặthàng vẫn còn chưa đa dạng, phong phú, những mặt hàng cao cấp trong nướcvẫn chưa sản xuất được. Ví như mặt hàng giấy tráng, hiện tại, nước ta chưa sảnxuất được, chỉ sau vài năm nữa khi các dự án giấy tráng của các công ty BìnhAn, Vạn Phát… đi vào hoạt động, thì sản xuất mới có thể đáp ứng được mộtphần nhu cầu trong nước.3.4 Thực trạng cơ cấu lao động Ngành giấy thu hút khoảng 50.000 lao động trực tiếp tham gia sản xuấttrong ngành. Trong đó, có 13.800 lao động làm việc trong tổng công ty giấy,còn lại làm việc trong các doanh nghiệp ngoài tổng công ty. Lao động của tổngcông ty giấy được đào tạo ở trường công nhân kỹ thuật ngành giấy, còn các kỹsư được đào tạo ở một số trường đại học như nông lâm, bách khoa, khoa học tựnhiên. Còn ở các doanh nghiệp ngoài tổng công ty thì hình thức đào tạo chủyếu cho lao động là tự đào tạo. Trong những năm tới, khi ngành giấy phát triểnmạnh, nhu cầu đối với các kỹ sư , đặc biệt lao động có tay nghề cao sẽ rất lớn,nhưng khó được đáp ứng đủ, do ngành mới có ít trường đào tạo nghề làm giấy.Theo báo cáo của tổng công ty giấy VN, nhu cầu đào tạo cán bộ kỹ thuật trongngành và một số ngành liên quan rất lớn, nhu cầu đến năm 2005 là 1.500, 2010 - 40 -
  • 41. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕlà 2.500 và 2020 là 4.000 cán bộ. Để đáp ứng nhu cầu này rất cần có sự quantâm đầu tư thích đáng của Nhà nước.3.5 Thực trạng về nguồn nguyên liệu Trong những năm gần đây, ngành giấy đã dần chủ động được nguồnnguyên liệu sản xuất giấy của mình. Các doanh nghiệp đã có thể sản xuất giấytừ bột giấy trong nước, giấy phế liệu trong nước, gỗ nguyên liệu… Nhưng tìnhhình nguyên liệu để sản xuất giấy vẫn còn một số vấn đề đáng lưu ý, cần phảigiải quyết: - Về bột giấy: do năng lực sản xuất giấy và bột giấy của ngành không tươngxứng, nên dù có nhiều cố gắng, nhưng mỗi năm toàn ngành vẫn phải nhậpkhẩu từ 60.000 – 80.000 tấn bột giấy để về gia công, sản xuất. - Về gỗ nguyên liệu: nguồn nguyên liệu cây lá rộng được cung cấp khá ổnđịnh (thời điểm hiện nay "cung" và "cầu" đã gần tương đương). Trồng rừngnguyên liệu giấy đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong kế hoạch chuyểndịch cơ cấu cây trồng ở nhiều địa phương trong nước. Nhưng hiện lại diễn ratình trạng gỗ nguyên liệu cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất ở nhiều địaphương, nơi thừa, nơi thiếu cục bộ. Ở phía Bắc, thì nhà máy giấy Bãi Bằngđang ở trong tình trạng dư thừa trong thu mua nguyên liệu giấy, tình hình nàyđã được dự báo từ lâu do cung đã vượt cầu và cơ chế thu mua một giá. Còn ởphía Nam các nhà máy Đồng Nai, Tân Mai lại phải đi nhập nguyên liệu ở cáctỉnh lân cận, hoặc của Lào, Campuchia để đem về sản xuất. - Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nhiều doanh nghiệp nước ta đã nhậpmột khối lượng lớn giấy loại của nước ngoài về để gia công, tái chế, do nguồncung giấy phế liệu trong nước chỉ thu gom được khoảng 200.000 tấn, chưa đápứng được nhu cầu của nhiều doanh nghiệp sử dụng loại nguyên liệu này. - 41 -
  • 42. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Trong nước vẫn chưa sản xuất được nhiều loại hóa chất đặc chủng, nêndoanh nghiệp của ngành vẫn phải nhập khẩu chủ yếu từ nước ngoài.III/ Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam trongđiều kiện hội nhập Hội nhập kinh tế quốc tế là việc các quốc gia thực hiện chính sách kinh tếmở, tham gia các định chế kinh tế tài chính quốc tế, thực hiện tự do hóa vàthuận lợi hóa thương mại đầu tư. Hội nhập là một quá trình tất yếu, một đòi hỏikhách quan đối với bất kể nền kinh tế nào trên thế giới dù lớn hay nhỏ, dù pháttriển hay mới chỉ đang phát triển. Bởi, lợi ích của việc hội nhập kinh tế thểhiện ở chỗ. Khi ở tầm vĩ mô nó tạo điều kiện để kết hợp tốt nhất nguồn lựctrong nước và quốc tế, giúp tăng cường thu hút nguồn vốn, công nghệ, mởrộng không gian để phát triển kinh tế và có được tiếng nói quan trọng trongquan hệ quốc tế. ở cấp độ mỗi doanh nghiệp thì hội nhập sẽ mở rộng cơ hộikinh doanh, thâm nhập thị trường, doanh nghiệp có cơ hội hoạt động trong mộtmôi trường bình đẳng, ổn định, học tập tiếp thu công nghệ sản xuất, kinhnghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài. Tuy nhiên, việc hội nhập kinh tế cũng đặt ra không ít khó khăn, tháchthức cho chúng ta. Hội nhập có nghĩa là phải cắt giảm thuế quan và hàng ràophi thuế, sự bảo hộ của nhà nước đối với sản xuất sẽ phải giảm đi. Do xuấtphát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trình độ công nghệ yếu kém, tácphong quan liêu để lại từ một thời cách đây không xa, trình độ của nguồn nhânlực còn yếu kém dẫn đến năng lực cạnh tranh của quốc gia, của công nghiệp,của ngành, của doanh nghiệp đều còn yếu kém. Khi chúng ta tham gia vào sânchơi quốc tế rộng lớn, chúng ta sẽ phải cạnh tranh khốc liệt với các doanhnghiệp nước ngoài cả trên thị trường trong nước và quốc tế. Các doanh nghiệpcủa chúng ta sẽ phải chiến đấu trong một môi trường nhiều cơ may, nhưng - 42 -
  • 43. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµn ngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ cũng không ít rủi ro khắc nghiệt, chỉ có những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, có biện pháp chủ động hội nhập kinh tế thì mới có thể tồn tại và phát triển được. Chính vì lý do đó mà tôi muốn nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành giấy hiện tại, và từ đó đề ra biện pháp nhằm giúp ngành này có thể chủ động giữ vững thị trường trong nước và sẵn sàng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.1. Những thách thức và cơ hội đối với ngành giấy Việt Nam trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực a) Cơ hội Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam đã, đang và sẽ tạo ra những tácđộng lớn đối với ngành giấy Việt Nam. Tác động tích cực của nó thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, quá trình hội nhập kinh tế đã cho ngành giấy Việt Nam cơhội tiếp cận một thị trường rộng lớn và không ngừng mở rộng. Hội nhập kinh tế làm cho nền kinh tế hướng về xuất khẩu của chúng ta có tốc độ phát triển tương đối nhanh, đời sống của nhân dân được nâng cao, nhu cầu được giải trí, học tập, nghiên cứu của người dân, nhu cầu quảng cáo và bao bì công nghiệp đối với sản xuất tăng khiến cho nhu cầu về giấy và các sản phẩm từ giấy ngày càng tăng. Một thị trường nội địa rộng lớn nhiều tiềm năng cho ngành giấy đang được mở ra, và nó có thể đạt tới hơn 3 triệu tấn vào năm 2020. Vấn đề là ngành phải có biện pháp như thế nào để tiếp cận và khai thác được nó cho hiệu quả. Bên cạnh đó, việc hội nhập kinh tế ngoài việc tạo cho ngành giấy Việt Nam cơ hội đối với thị trường trong nước, còn có cơ hội tiếp cận thị trường nước ngoài hết sức rộng lớn. Hiện tại, ngành giấy Việt Nam mới xuất khẩu được một số lượng rất ít các sản phẩm giấy ra nước ngoài, và chủng loại hàng cũng vẫn còn rất đơn giản. Nhưng trong tương lai, khi ngành giấy Việt Nam chủ động được về nguồn nguyên liệu bột giấy thì ngành giấy Việt Nam hoàn - 43 -
  • 44. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕtoàn có khả năng xuất khẩu các sản phẩm của mình sang các nước lân cận nhưLào, Campuchia, Mianma,Trung Đông,... và có thể xuất khẩu bột giấy choTrung Quốc, Đài Loan…. những nước có nhu cầu rất lớn về bột giấy để sảnxuất giấy. Thứ hai, việc hội nhập kinh tế của Việt Nam sẽ tạo cơ hội cho ngànhgiấy được tiếp xúc với những máy móc, thiết bị hiện đại, tiếp thu nguồn côngnghệ tiên tiến của thế giới đồng thời thu hút nguồn vốn đầu tư vào ngành. Nếunhư trước đây, công nghệ sản xuất giấy của Việt Nam chủ yếu là có nguồn gốctừ Trung Quốc, Đông Âu,...với các thế hệ máy lạc hậu từ 30-40 năm so với thếgiới, thì hiện nay khi nước ta đang hội nhập mạnh mẽ, ngành giấy Việt Nam đãcó những dây chuyền sản xuất tương đối hiện đại có nguồn gốc từ các nướcchâu Âu, Nhật, Hàn Quốc như dây chuyền sản xuất giấy in, viết của nhà máygiấy Bãi Bằng, dây chuyền sản xuất bao bì công nghiệp của nhà máy giấy ViệtTrì, dây chuyền sản xuất giấy in offset của nhà máy giấy Vạn Điểm... Do xuấtphát sau nên ngành giấy có cơ hội để đi tắt đón đầu, tiếp xúc với những côngnghệ mới nhất về sản xuất giấy. Ngành giấy Việt Nam đã tham gia vào tổ chứcliên đoàn công nghiệp bột giấy và giấy ASEAN, đã có những cuộc tham quanhọc tập ở các nước bạn, hội thảo chuyên đề với sự góp mặt của nhiều hãngdanh tiếng trên thế giới... giúp cho doanh nghiệp được tiếp cận nhiều hơn vớinhững qui trình công nghệ tiên tiến hiện đại của nước ngoài. Hội nhập cũng tạocơ hội cho ngành giấy Việt Nam cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vàonăm 1990 chưa có một doanh nghiệp nước ngoài nào đầu tư vào lĩnh vực này,thì năm 1999 đã có 20 cơ sở hoạt động với 3.000 lao động làm phong phúthêm thị trường và sản phẩm giấy của Việt Nam. Trong tương lai, khi quá trìnhhội nhập kinh tế của nước ta tiến xa hơn, hình thức liên doanh, liên kết giữadoanh nghiệp giấy trong nước và các công ty giấy lớn của nước ngoài sẽ ngàycàng phát triển, tạo cơ hội cho ngành thu hút càng nhiều vốn đầu tư và tiếp thukinh nghiệm và công nghệ hiện đại của nước ngoài. - 44 -
  • 45. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Thứ ba, việc hội nhập kinh tế là một dịp để ngành giấy tự kiểm tra,đánh giá lại thực lực của chính mình, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của quá trình hội nhập kinh tế, nhữngdoanh nghiệp nào có năng lực cạnh tranh kém, hoạt động không hiệu quả sẽ bịđào thải, những doanh nghiệp nào có chiến lược hoạt động phù hợp có sảnphẩm tốt chất lượng cao không những sẽ tiếp tục tồn tại, mà còn phát triểnmạnh hơn. Mỗi doanh nghiệp của ngành sẽ có dịp tự kiểm điểm lại chínhmình, tự phấn đấu khắc phục những điểm yếu, phát huy những điểm mạnh đểnâng cao năng lực cạnh tranh của chính mình, qua đó nâng cao năng lực cạnhtranh cho ngành giấy.b) Thách thức Tuy nhiên, giống như một tấm huy chương có hai mặt, mặt phải lấplánh ánh hào quang và mặt trái xù xì, thô ráp, hội nhập kinh tế không chỉ đemlại cơ hội mà đi kèm với nó là những thách thức, khó khăn phải vượt qua. Xuhướng cắt giảm thuế quan đặt ra trong quá trình hội nhập làm giảm sự bảo hộcủa Nhà nước đối với ngành. Điển hình là như theo lộ trình thực hiện AFTA,mức thuế quan sẽ được cắt giảm rất nhiều, có nhiều mặt hàng giấy từ 40 - 50% xuống còn 20 % và tiếp nữa sẽ giảm xuống chỉ còn 0 - 5 %, không còn cáckhoản phụ thu, phụ phí đánh vào hàng ngoại nhập nữa, như thế giá hàng ngoạinhập sẽ giảm đi rất nhiều.Trong môi trường cạnh tranh rất khắc nghiệt và khábình đẳng không còn sự bảo hộ của nhà nước thì năng lực cạnh tranh mạnh hayyếu của một doanh nghiệp, một ngành là yếu tố quyết định phân thắng thuagiữa doanh nghiệp của nước này với doanh nghiệp của nước khác. Đối với mộtngành, một doanh nghiệp, trước khi có thể nắm bắt được cơ hội đem lại từ hộinhập, thì sẽ phải giải đáp hai câu hỏi “tồn tại hay không tồn tại?” và “tồn tạibằng cách nào?”. Chỉ những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao mới cóthể giải đáp được hai câu hỏi trên, còn không thì chỉ có con đường duy nhất làphá sản và sập tiệm trước sức ép mãnh liệt từ các đối thủ cạnh tranh nước - 45 -
  • 46. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕngoài hùng mạnh. Đấy chính là thách thức lớn nhất mà quá trình hội nhập đặtra. Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, nước ta tham gia hội nhập kinhtế từ một xuất phát điểm thấp là nền kinh tế nông nghiệp, công nghệ lạc hậu,nên năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam cũng giống như nhiều ngànhkhác là rất yếu đặc biệt là đối với các sản phẩm giấy viết và giấy in, theo đánhgiá thì hai sản phẩm này của ngành giấy Việt Nam chỉ được xếp vào nhóm cónăng lực cạnh tranh yếu. Nếu không có chính sách và biện pháp hợp lý nângcao năng lực cạnh tranh thì nguy cơ ngành bị xóa tên khỏi bản đồ công nghiệpViệt Nam là không nhỏ. Có 4 nguyên nhân lớn làm ảnh hưởng đến năng lựccạnh tranh, gây ra thách thức cho sự tồn tại của ngành giấy Việt Nam trong quátrình hội nhập. - Các loại chi phí trung gian còn cao Do cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nên các loại chi phí trung gian cho ngànhgiấy đều cao hơn so với các nước trong khu vực và lại thường xuyên có chiềuhướng gia tăng, chất lượng phục vụ cũng chưa ổn định, về nguyên liệu ngànhgiấy Việt Nam lại chưa chủ động được về nguồn nguyên liệu bột giấy nên vẫnphải nhập khẩu từ nước ngoài. Tôi xin đi vào phân tích một số loại chi phítrung gian chủ yếu của ngành, để có thể nêu rõ thách thức giảm chi phí đangbức thiết như thế nào đối với ngành.. + Giá bột giấy cao lại thường không ổn định, ở thời điểm hiện nay giábột giấy đang xấp xỉ giá giấy (bột giấy in báo 380- 400 USD so với giấy in báo410 – 430 USD) do các hãng giấy nước ngoài muốn thúc đẩy việc tiêu thụ cácsản phẩm giấy của mình. Bột giấy chiếm một phần lớn trong giá thành. Điềunày ảnh hưởng khá lớn tới năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam dongành vẫn chưa chủ động được về nguyên liệu, và phải nhập khẩu từ 60.000 –70.000 tấn bột giấy mỗi năm về chế biến. + Giá điện của Việt Nam cho sản xuất cao hơn các nước ASEAN từ 45- 220 % do thất thoát điện năng quá lớn, và khu vực doanh nghiệp lại còn phải - 46 -
  • 47. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕgồng mình để bù đắp cho các khu vực khác, chất lượng điện lại kém thườngxuyên không đảm bảo điện áp, cắt điện thường xuyên làm tăng tỷ lệ phế phẩm,gián đoạn quá trình sản xuất của ngành. Giá các loại nhiên liệu khác như than,xăng dầu cũng ở mức cao và không ổn định làm chi phí sản xuất của ngànhgiấy Việt Nam ở mức cao. + Do hệ thống đường sá chưa hoàn thiện, các khu vực cung cấp nguyênliệu để sản xuất giấy và bột giấy lại phân tán dẫn đến chi phí vận tải cao do tốcđộ, khối lượng vận chuyển thấp, lại kèm theo nhiều khoản phụ thu, phụ phí.Điều này làm chi phí vận chuyển nguyên liệu từ rừng nguyên liệu giấy đến nhàmáy cao hơn so với các nước khu vực, và sản phẩm sản xuất ra đến được tayngười tiêu dùng cũng sẽ có giá cao hơn do phải qua nhiều khâu vận chuyển. Talấy ví dụ giá gỗ nguyên liệu mua tại rừng của nhà máy giấy Bãi Bằng là dưới300.000 đ/m3, nhưng khi đến tay nhà máy lại lên đến 420.000/m3 so với mức22 USD của Indonesia do phải trải qua nhiều khâu vận chuyển. + Lãi suất ngân hàng hàng 8-10/%năm và lãi suất ưu đãi 5,4% từ nguồnvốn tín dụng đầu tư phát triển cũng là một yếu tố làm giảm năng lực cạnh tranhcủa ngành. Do đặc điểm của ngành giấy đòi hỏi những khoản đầu tư rất lớn,nên lãi suất cao là một gánh nặng cho quá trình đổi mới công nghệ. Mỗi ngàymà dự án chưa đi vào sản xuất là một ngày doanh nghiệp giấy lỗ nặng (đặc biệtlà trong các doanh nghiệp quốc doanh, thời gian đầu tư thường quá dài), một vídụ mới đây nhất chính là nhà máy bột giấy Kon Tum vớii tổng chi phí đầu tưlà 235 triệu USD, tổng công ty giấy Việt Nam đã đầu tư 70 tỷ từ năm 2001nhưng đến nay dự án mới chỉ tiến hành được việc “đấu thầu tư vấn quốc tế”,điều này không những làm tổng công ty giấy bị tồn đọng vốn, phải trả lãi ngânhàng hàng trăm triệu mà còn bị lỡ thời cơ khi AFTA ngày càng đến gần hơn. - Trình độ công nghệ lạc hậu Công nghệ của ngành giấy nước ta lạc hậu so với thế giới từ 30 – 40năm, có khá nhiều máy móc công nghệ thuộc thế hệ của những năm 1960 – - 47 -
  • 48. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ1970 lắp ghép, bổ sung, thay thế cải tiến thêm một số loại máy do ta tự sảnxuất, hoặc nhập lẻ chiếc từ nước ngoài nên dây chuyền thiết bị không đồng bộ.Hậu quả nhãn tiền là máy móc thường xuyên phải duy tu, sửa chữa, bảodưỡng. Đến ngay như nhà máy giấy Bãi Bằng, nhà máy giấy hiện đại nhất ViệtNam nhưng cũng trung bình cứ một năm lại phải đóng máy một lần để duy tubảo dưỡng, nâng cấp. Yếu tố này làm phát sinh một khoản chi phí lớn, đồngthời làm trì hoãn, gián đoạn công việc sản xuất, tạo ra sản phẩm có chất lượngkhông cao, phế phẩm nhiều ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh củangành. Công nghệ lạc hậu làm năng suất, chất lượng giấy của ngành giấy ViệtNam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Trong khi, máy xeo giấythế hệ mới trên thế giới hiện nay sản xuất giấy khổ rộng 10m, tốc độ cán 2.000m/phút, bột đưa vào cán theo công nghệ phun nên đều, nhanh, giấy có bề mặtláng. Theo tính toán của các chuyên gia trong ngành, do khổ giấy hẹp hơn 2,63lần và tốc độ kém hơn 4 lần, nên trong một phút máy xeo nước ngoài cán được20.000m2 giấy nhưng máy của Việt Nam chỉ đạt 1.900m2, thấp hơn 10,52 lần.Một nhà máy giấy của Indonesia sản xuất được 300.000 tấn bột giấy/năm màchỉ cần có 300 người, trong khi nhà máy giấy Bãi Bằng chỉ sản xuất có khoảng60.000 tấn giấy và 50.000 tấn bột giấy/năm mà lại cần đến hơn 3.000 lao động.Lương bình quân của người lao động thì thấp, nhưng tiền lương chia bìnhquân cho một tấn sản phẩm lại cao hơn so với các công ty nước ngoài. Do đikèm với công nghệ lạc hậu là trình độ quản lý còn khá thấp, bộ máy quản lýcồng kềnh (đặc biệt là trong các doanh nghiệp Nhà nước) dẫn đến thất thoátnguyên vật liệu lớn, chi phí cho nhiên vật liệu, chi phí tiền lương cao, năngsuất lao động thấp, công suất nhà máy không được huy động hết, các dự án đầutư bị trì hoãn. - Nhận thức của các doanh nghiệp trong ngành Nhận thức về hội nhập của các doanh nghiệp trong ngành, nhất là trongcác doanh nghiệp Nhà nước còn chưa cao. Thương trường là chiến trường, sẽ - 48 -
  • 49. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕcó sự đào thải tự nhiên trong quá trình cạnh tranh này, trở ngại lớn nhất vẫn làhòn đá vô hình trong tư duy của nhiều quan chức, nhà vạch chính sách, lãnhđạo các doanh nghiệp giấy (nhất là DNNN), họ vẫn trông chờ vào các biệnpháp bảo hộ của Nhà nước như cấp thêm vốn, khoanh nợ hoặc xóa nợ, dànhđộc quyền nhập và cung cấp một số mặt hàng..., Các DNNN có tiến hành đầutư để đối phó với thách thức hội nhập, nhưng thời gian tiến hành đầu tư lạithường quá lâu, nguồn vốn đầu tư lại ỷ lại trông chờ vào nhà nước. Hòn đá ấychính là sự trì trệ, bảo thủ nếu không muốn nói là khối kiến thức không theokịp đòi hỏi của sự vận động thị trường nữa. Mức tiêu thụ giấy trên thị trườngkhu vực ASEAN gấp 3 lần thế giới và gấp rưỡi châu Á. Thị phần cung cấp chủyếu là các nước Indonesia, Thái Lan, Malaysia. Ngành giấy Việt Nam, hiệnnay chẳng những chưa "xơ múi" được thị trường khu vực béo bở, mà cònkhông đủ sức bao "sân nhà". Các vị lãnh đạo của các doanh nghiệp, đặc biệt làcác DNNN cũng thấy lên tiếng. Nhưng thực ra "tiếng kêu" không khác trướcmặc dù cường độ lớn hơn trước. Nào là thời gian tới sẽ cố gắng cải thiện hệthống dây chuyền sản xuất. Nào là sẽ tìm mọi phương thức tiếp cận kháchhàng và, đặc biệt, cân đối sản xuất các chủng loại giấy để phù hợp nhu cầu tiêudùng. Thế nhưng khi mà quá trình hội nhập AFTA đã đi được nửa chặngđường, tư tưởng trông chờ ỷ lại vào sự bảo hộ, giúp đỡ của Nhà nước vẫn còntồn tại trong đầu không ít vị lãnh đạo các doanh nghiệp kể cả những doanhnghiệp lớn, chưa chủ động và sẵn sàng đối phó với hội nhập thì quả thật làđáng lo. - Đầu tư của ngành giấy Một nguyên nhân nữa thách thức các doanh nghiệp giấy là vấn đề đầutư. Các doanh nghiệp có tiến hành các dự án đầu tư, cải tạo, xây dựng mới mộtsố nhà máy để nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng đều vấp phải hai vấn đềchủ yếu là vốn và thời gian đầu tư. Đối với các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh thì thời gian đầu tư không phải là yếu tố cản trở chính đến quá trình đầu - 49 -
  • 50. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕtư của họ, vấn đề chính là vốn. Với tiềm lực tài chính khá nhỏ bé, những doanhnghiệp ngoài quốc doanh thường chỉ tiến hành các dự án đầu tư ở quy mô nhỏvà vừa khoảng vài triệu USD, họ chủ yếu đầu tư “hớt ngọn” vào lĩnh vực sảnxuất các sản phẩm giấy như giấy in, giấy carton…..bằng nguyên liệu từ giấyloại, hay bột giấy mua của nước ngoài, của các công ty lớn, thời gian hoànthành các dự án đầu tư khá nhanh, khoảng từ một đến hai năm là dự án đã bắtđầu đi vào hoạt động. Tuy nhiên, nguồn huy động vốn chủ yếu của họ là thôngqua vay ngân hàng, kiểu đầu tư này làm chi phí đầu vào cao, mang tính chấttạm bợ, nên sẽ rất khó có thể cạnh tranh nổi với các công ty nước ngoài khithuế quan đánh vào hàng giấy nhập khẩu được giảm. Còn các doanh nghiệpNhà nước thì đã tiến hành đầu tư đồng thời nâng cấp một số dây chuyền cũ vớimột số dự án mới khá đồng bộ. Tuy nhiên, thời gian đầu tư rất lâu từ ý tưởngcho đến khi nhà máy đi vào hoạt động phải mất 4- 6 năm, luôn luôn quá hạn sovới kế hoạch đề ra, như dây chuyền sản xuất bao bì công nghiệp của nhà máygiấy Việt Trì trễ đến hơn 30 tháng so với kế hoạch đặt ra. Vốn đầu tư cho cácdự án này lấy chủ yếu từ hai nguồn là vay ngân hàng, và vốn do Nhà nước rótnên các doanh nghiệp không chủ động được, thời gian giải ngân lâu. Có mộtnghịch lý nữa trong đầu tư là doanh nghiệp luôn luôn phàn nàn về thiết bị lạchậu nhưng cả về trung hạn, dài hạn, hầu như không doanh nghiệp nào chịu cắtmột phần đủ lớn chiếc bánh lợi nhuận để đầu tư thích đáng vào nghiên cứu cảitiến công nghệ. Hoặc là doanh nghiệp bỏ một khoản tiền lớn mua máy mócngoại trong khi không phải máy nào mua cũng là máy xịn. Hoặc họ cũng cắtkinh phí cho nghiên cứu nhưng khoản cắt đó bao giờ cũng chỉ ở mức gọi là,cho có phong trào nghiên cứu khoa học và cùng lắm là để mang công trình đidự mấy cuộc thi sáng tạo lấy giải, chứ ít khi các công trình này được áp dụngvào thực tế sản xuất. Với cách đầu tư cho nghiên cứu khoa học như vậy, thì hỏilàm sao có thể nâng cao công nghệ, đi tắt đón đầu. - 50 -
  • 51. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ2. Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam Do ngành giấy là một ngành có cơ cấu mặt hàng khá đa dạng, có hàngchục mặt hàng, trong mỗi mặt hàng lại có những loại hàng khác nhau. Chính vìvậy, để đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam, tác giả sẽ sửdụng bảng số liệu dưới đây và chỉ đi vào phân tích, đánh giá năng lực cạnhtranh của một số mặt hàng chính của Việt Nam, hiện đang có nhu cầu và tiềmnăng phát triển lớn trong tương lai. Sản xuất Nhu cầu năm 2002 So sánh Loại giấy năm Nhập Tổng 2001 Sản xuất % % khẩu cộng 1 2 3 4 2/1 3/4Giấy in báo 35.000 34.335 29.364 63.699 98 46Giấy in và giấy viết 130.052 135.120 29.833 164.953 104 18Giấy làm bao bì, các tông 137.727 233.318 72.636 305.954 169 24Giấy vệ sinh, tissue 17.843 24.000 24.000 135Giấy tráng 145.251 145.251 100Giấy vàng mã xuất khẩu 74.278 80.000 80.000 108Giấy vàng mã dùng trong 15.000 18.000 18.000 120nướcKhác 10.207 12.556 94.470 107.928 132 88 420.107 538.231 371.554 909.785 128 41 (Nguồn báo công nghiệp giấy Việt Nam 6/2003) Giấy in, giấy viết: Trong bối cảnh, Việt Nam đang ngày càng hội nhậpsâu hơn vào khu vực và quốc tế. Xu hướng cắt giảm thuế quan đối với các sảnphẩm giấy là rất nhanh, và rất mạnh. Trong thời điểm hiện tại, khi lộ trình cắt - 51 -
  • 52. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕgiảm thuế quan của AFTA đang được thực hiện mạnh, thuế suất của các mặthàng giấy in, giấy viết giảm từ 40 – 50% xuống còn 20%, và sẽ giảm xuống 0– 5 % vào năm 2006, các khoản phụ thụ đánh vào mặt hàng này cũng phải xóabỏ, và khi Việt Nam tham gia vào WTO thì cũng phải có mức giảm thuế tươngtự cho sản phẩm của đại gia sản xuất trong khu vực như Nhật, Đài Loan, Mỹ.Vậy nên, hiện nay, tuy các sản phẩm giấy in, giấy viết của Việt Nam vẫn còngiữ được 80 – 90 % thị trường, nhưng con số thị phần kia không phản ánhđược chân thực bức tranh về thị trường. Giấy in, giấy viết sản xuất trong nướckhó có thể cạnh tranh với hàng nước ngoài về giá cả và chất lượng. Dấu hiệuthể hiện sự khó khăn đối với các doanh nghiệp trong nước sản xuất mặt hàngnày là lượng hàng tồn kho ngày càng lớn. Chín tháng đầu năm 2003, chỉ riêngTổng công ty giấy Việt Nam dù đã đóng máy một thời gian để tiêu thụ hếthàng tồn kho, áp dụng nhiều biện pháp để thúc đẩy tiêu thụ hàng, nhưng vẫn bịtồn 23.250 tấn sản phẩm giấy các loại, trong đó phần lớn là các sản phẩm giấyin và giấy viết. Các loại giấy in, giấy viết nhập khẩu từ Nhật Bản, Indonesia,Thái Lan hiện được bán ra tới tay người dùng với giá từ 12,6 -14 triệuđồng/tấn, tương đương với giá bán giấy in, giấy viết của tổng công ty giấy nóichung, nhà sản xuất giấy in, giấy viết lớn nhất trong nước, và cao hơn một chútso với giá giấy của công ty giấy Bãi Bằng. Mức giá ở thời điểm này của hàngnước ngoài, cụ thể là của các nước ASEAN còn cao là do giá giấy trên thịtrường thế giới đang ở mức cao, và hàng của Nhật, Đài Loan vẫn phải chịuthuế cao, nhưng trong tương lại thì chắc chắn mức giá này của hàng nướcngoài sẽ giảm xuống nhiều. Mặc dù, hiện tại, giá giấy nội và ngoại khôngchênh nhau nhiều, nhưng các nhà xuất bản, công ty in đang bắt đầu quay sangsử dụng giấy nhập khẩu nhiều hơn do giấy ngoại có chất lượng tốt hơn, với rấtnhiều ưu điểm nổi trội như: Độ trắng cao hơn, bề mặt nhẵn mịn, mỏng hơn, lạidai hơn, hút mực tốt hơn nên in được nhiều hơn khoảng 10% so với giấy trongnước, tỷ lệ phế phẩm trong quá trình sản xuất ít hơn. Dù hiện nay, chất lượng - 52 -
  • 53. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕgiấy in, giấy viết của các công ty lớn của chúng ta như Bãi Bằng, Tân Mai đãđược nâng cao hơn rất nhiều so với trước nhưng vẫn chưa thể tương đươngđược với chất lượng hàng nhập khẩu. Như vậy, giấy in, giấy viết của ta kémthế hơn nước ngoài cả về giá lẫn chất lượng, các doanh nghiệp sản xuất loạisản phẩm này phải nhanh chóng phải có biện pháp đối phó, nếu không sangnăm 2004, cơn bão giấy in, giấy viết ngoại sẽ tràn ngập thị trường Việt Nam,đánh bật các doanh nghiệp truyền thống của ta ra khỏi thị trường này. Sản phẩm giấy in báo: tình hình của sản phẩm này cũng hoàn toàntrong hoàn cảnh tương tự. Mặc dù Nhà nước đã có biện pháp bảo hộ, song giáthành sản xuất giấy in báo luôn cao hơn giá bán trên thị trường trong nước vàsản phẩm cùng loại nhập khẩu. Hiện tại, giá giấy in báo của Tổng công ty Giấylà 8.980.000 đ/tấn (bao gồm cả thuế VAT), giá giấy in báo nhập khẩu từ Mỹ,Nga, Indonesia, Malaysia... cũng được chào bán với giá từ 8,9 - 9 triệuđồng/tấn, giấy nước ngoài lại dôi hơn, chất giấy đẹp hơn. Năm 2002, trước thờiđiểm cắt giảm thuế theo AFTA, tình hình đối với các doanh nghiệp sản xuấtgiấy báo đã khá bi đát, nước ta sản xuất được 34.000 tấn (bằng 98% so vớinăm 2001) thì cũng có tới hơn 29.000 tấn giấy báo được nhập vào, cạnh tranhquyết liệt với hàng nội và chiếm mất gần 1/2 thị phần trong nước. Tình trạngnày đã dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh của nhiều DN sản xuất mặt hàngnày luôn lỗ. Cụ thể, năm 2001, sản phẩm giấy in báo của công ty giấy Tân Mailỗ 10.409 triệu đồng, năm 2002 lỗ 17.989 triệu đồng, năm 2003 lỗ 17.500 triệuđồng và năm 2004 dự kiến sẽ lỗ tới 90.180 triệu đồng. Khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm này đang được đặt trong tình trạng báo động, cần có sự quantâm, hỗ trợ thích đáng. Sản phẩm giấy bao bì công nghiệp: Đây là một lĩnh vực sản xuất hiệncó nhu cầu rất lớn, hiện các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm này vẫn chưa đáp - 53 -
  • 54. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕứng được hết nhu cầu trong nước. Dự báo đến năm 2020 thì nhu cầu về bao bìcông nghiệp sẽ lên tới 1.729.000 tấn, chiếm gần 1/2 nhu cầu về giấy và sảnphẩm từ giấy, lý do là khi xã hội ngày càng phát triển thì sản phẩm của cácngành khác rất cần được sự bảo quản, che trở khi cung cấp đến tay người tiêudùng. Thường thì có rất nhiều loại bao bì khác nhau, nhưng bao bì bằng chấtliệu giấy ngày nay đang được ưa chuộng do đặc tính của nó (không ảnh hưởngđến sức khoẻ của người dùng, có thể dễ dàng tái sinh, thu hồi, tái sử dụng, ítảnh hưởng đến môi trường). Trong tương lai, bao bì bằng giấy sẽ là sự lựachọn số một của các nhà sản xuất và của xã hội, và dần thay thế các loại bao bìbằng thay cho các loại bao bì như ni lon, nhựa... Thị trường của giấy bao bìcông nghiệp ở nước ta được đánh giá là sẽ khá lớn, tăng đều cùng với sự pháttriển của các ngành công nghiệp như xi măng, phân bón, chế biến thủy hảisản….thị trường ở các đô thị lớn với nhiều sản phẩm hàng hoá đa dạng trànngập cũng sẽ là tiềm năng để phát triển cho công nghiệp sản xuất giấy bao bì.Hiện tại, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm này sovới hàng nước ngoài là khá tốt, đặc biệt là các sản phẩm bao bì carton. Chấtlượng của các sản phẩm bao bì do doanh nghiệp trong nước sản xuất hiện tuychưa cao, nhưng tạm thời vẫn đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong nước,trong khi đó giá cả lại rẻ hơn rất nhiều, như giá bao bì carton rẻ hơn giấy ngoạinhập đến 40 %, trong khi thuế suất đối với mặt hàng này cũng chỉ là 5%. Đốivới mặt hàng này thì doanh nghiệp giấy Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnhtranh và chiến thắng hàng nước ngoài, chiếm lĩnh được thị trường trong nước.Nguyên nhân của việc này là bởi dây chuyền sản xuất bao bì công nghiệpkhông đòi hỏi chi phí đầu tư quá lớn, nguyên liệu cũng không quá cầu kỳ.Trong năm 2002, nước ta sản xuất được 233.000 tấn, nhưng cung vẫn chưa đápứng được hết cầu của nền kinh tế, nên ta đã phải nhập bổ sung 72.000 tấn đểphục vụ nhu cầu trong nước. Trong năm 2003, khi nhiều dây chuyền sản xuấtmới được lắp đặt và đi vào hoạt động thì sẽ làm giảm khối lượng hàng nhập - 54 -
  • 55. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕkhẩu. Tuy nhiên, ngành giấy Việt Nam hiện tại mới có thể sản xuất được cácloại bao bì cấp thấp còn loại bao bì cấp cao như giấy duplex thì vẫn chủ yếu làsân chơi của các công ty nước ngoài. Chính vì vậy trong tương lai ngành giấyViệt Nam có thể cạnh tranh được, nhưng cần chú ý đầu tư phát triển sản xuấtnâng cao chất lượng sản phẩm để theo kịp yêu cầu của thị trường, đồng thờiđầu tư, phát triển các loại sản phẩm bao bì cấp cao. Sản phẩm giấy tissue (giấy lụa, giấy lau): trước đây, nhu cầu sử dụnggiấy vệ sinh còn khá hạn chế, nhưng từ khi đời sống được cải thiện và xuấthiện các siêu thị, liên doanh nước ngoài tham gia vào thị trường, thị trường nàyngày càng có nhu cầu cao hơn cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong vài nămtới đây cũng sẽ là một mặt hàng có tiềm năng rất lớn, nhất là những sản phẩmgiấy vệ sinh cấp thấp và trung bình vì điều kiện kinh tế và thu nhập của ngườidân còn thấp nên loại giấy cao cấp còn chiếm một thị phần rất ít. Hiện tại, dùthuế suất với mặt hàng này là khá thấp, nhưng sản phẩm nước ngoài cũng khócạnh tranh với hàng trong nước sản xuất do đặc điểm của loại sản phẩm này làtương đối cồng kềnh nên chi phí vận chuyển sẽ rất cao, hàng nhập khẩu khó cókhả năng cạnh tranh về giá cả với sản phẩm trong nước. Sản phẩm giấy tissueViệt Nam sản xuất đang chiếm lĩnh thị trường sản phẩm cấp thấp và trungbình, còn ở thị sản phẩm cấp cao thì cũng đang cạnh tranh quyết liệt với hàngngoại nhập với một số nhãn hiệu như Pulpy, Bapaco, Trúc Bạch,…. Doanhnghiệp thành công nhất trên thị trường giấy tissue Việt Nam hiện nay là côngty New toyo, một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Sản phẩm củadoanh nghiệp này có mặt trên cả thị trường bình dân, trung cấp và cao cấp, vàđều được người tiêu dùng tín nhiệm. Giấy tissue hiện không chỉ là lĩnh vực củacác công ty ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, côngty giấy Bãi Bằng cũng đã đầu tư một dây chuyền sản xuất giấy tissue trị giátrên 100 tỷ đồng tại nhà máy gỗ Cầu Đuống làm phong phú thêm thị trườnggiấy tissue trong nước. Đây là dây chuyền hoàn toàn mới, hiện đại nhất Đông - 55 -
  • 56. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕNam Á, sản lượng 10.000 tấn/năm, nên sản phẩm của công ty có khả năngcạnh tranh lớn. Vấn đề của công ty là phải có biện pháp tăng cường tiếp thị,quảng cáo, xúc tiến thương mại để người tiêu dùng biết đến, quen thuộc và tínnhiệm sản phẩm. Dự đoán hàng Việt Nam vẫn sẽ giữ được thị trường trongnước và có khả năng thâm nhập thị trường một số nước khác. Giấy tráng: Đây là một loại mặt hàng cao cấp, nhu cầu đối với loại sảnphẩm này là khá lớn do nhu cầu in ấn, quảng cáo của các doanh nghiệp ngàycàng tăng, năm 2002, nước ta đã nhập khẩu tới 145.251 tấn ( chiếm 39% tổngsố hàng nhập khẩu ). Tuy vậy, hiện tại trong nước chưa sản xuất được loại mặthàng này và để mặc sức cho các công ty của Hàn Quốc, Nhật và Indo thao túngthị trường này. Hiện tại, có một số doanh nghiệp trong ngành cũng đang đầu tưvào dây chuyền sản xuất mặt hàng này, trong đó lớn nhất là dây chuyền sảnxuất giấy tráng của công ty giấy Bình An với công suất 45.000 tấn/năm. Lúcnày, chưa thể đánh giá được xem giấy tráng của Việt Nam có khả năng cạnhtranh được với hàng ngoại nhập hay không? Nhưng chắc chắn sẽ rất khó khăn,bởi sản phẩm trong nước dù đầu tư dây chuyền thiết bị đã qua sử dụng nhưngdo mới đầu tư, nên sẽ phải chịu chi phí khấu hao và lãi suất ngân hàng lớn, màthuế suất đối với mặt hàng này lại không cao, hiện thời là khoảng 10% thuếnhập khẩu đối với hàng ngoài ASEAN, 5% đối với hàng của các nướcASEAN. Nhìn toàn cảnh bức tranh của ngành giấy Việt Nam ở trên, ta có thể đưara một nhận xét rằng, hiện tại nhìn chung, ngành giấy Việt Nam đang có khảnăng cạnh tranh đối với một số mặt hàng đòi hỏi vốn đầu tư không lớn, yêucầu chất lượng ở mức trung bình. Tuy nhiên, đối với những mặt hàng cấp cao,đòi hỏi chất lượng và thiết bị công nghệ cao thì năng lực cạnh tranh của ngànhcòn kém, cả về chất lượng và giá cả đều vẫn chưa sánh được với hàng nướcngoài. Trong thời gian tới, ngành cần có biện pháp khắc phục tình hình này, - 56 -
  • 57. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕdần dần nâng cao chất lượng hàng, tiết kiệm chi phí giảm giá thành sản phẩm,đặc biệt đối với mặt hàng chất lượng cao thì phải đẩy nhanh hơn nữa quá trìnhđầu tư theo kịp quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế khuvực và thế giới thì mới có khả năng cạnh tranh được. Chương III MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH GIẤY VIỆT NAMI/ Mục tiêu định hướng phát triển ngành giấy Việt Nam đến năm20101. Quan điểm Mục tiêu phát triển của ngành Công nghiệp Giấy đến năm 2010 là khaithác và phát triển các nguồn lực sản xuất, đảm bảo 85% - 90% nhu cầu tiêudùng trong nước, từng bước tham gia hội nhập khu vực. Để đạt được mục tiêuđó, ngành giấy đã xác định phương hướng hoạt động trong thời gian tới củamình là phải tích cực đổi mới thiết bị và hiện đại hóa công nghệ, đẩy mạnhphát triển nguồn nhân lực có trình độ và tác phong làm việc hiện đại, kết hợphài hòa giữa đầu tư xây dựng mới với đầu tư chiều sâu, mở rộng các cơ sở hiệncó, phát triển vùng nguyên liệu, cân đối giữa tiêu dùng và sản xuất, xuất nhậpkhẩu, tăng sản lượng, phấn đấu đảm bảo chất lượng và sức cạnh tranh của hànghóa, góp phần tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện công nghiệp hóa và hiệnđại hóa đất nước. Ngành đã cụ thể hóa phương hướng hành động của mìnhbằng việc đưa ra những quan điểm ngành phải tập trung chú ý giải quyết trongchặng đường tới năm 2010, những quan điểm đó như sau: - 57 -
  • 58. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam phải đảm bảo tiếp cậntrình độ công nghệ tiên tiến của thế giới, có biện pháp ràng buộc đối tác nướcngoài chuyển giao công nghệ để chúng ta vươn lên chủ động sản xuất từngphần hoặc toàn bộ thiết bị sản xuất, hạn chế tối đa việc nhập khẩu thiết bị toànbộ để sản xuất giấy như trước đây. Đồng thời, ngành giấy kết hợp với việc tổchức sản xuất trong nước một số bộ phận của dây chuyền, thiết bị lẻ và phụkiện thay thế, nhằm tiết kiệm ngoại tệ; tạo nhanh các điều kiện cho côngnghiệp cơ khí trong nước phát triển vươn lên. - Định hướng phát triển lâu dài của ngành công nghiệp giấy là tập trungvào các dự án quy mô lớn và vừa để đảm bảo sản xuất có hiệu quả, trong giaiđoạn phát triển trước mắt có đầu tư các dự án quy mô nhỏ để tận dụng nhữngthế mạnh tại chỗ như nguyên vật liệu, thị trường, nhân lực . . . nhất là các tỉnhmiền núi, Tây Nguyên...; Ở một số địa phương, có thể nghiên cứu đầu tư xâydựng nhà máy chế biến nguyên liệu với quy mô nhỏ, sản phẩm không đòi hỏichất lượng cao, phù hợp với năng lực quản lý, sử dụng lao động tại địaphương. - Về bố trí quy hoạch: Việc xây dựng các cơ sở sản xuất giấy sẽ đượcnghiên cứu, đánh giá rất kỹ về địa điểm, đặc điểm nguồn nguyên liệu, nhu cầuthị trường (tại chỗ và trên địa bàn cả nước), điều kiện hạ tầng và khả năng huyđộng vốn đầu tư để đảm bảo hiệu quả lâu dài. Việc bố trí quy họach phát triểnnguồn nguyên liệu giấy phải phù hợp với quy họach chung của ngành nôngnghiệp, gắn liền với quy hoạch giống cây trồng, đặc điểm từng vùng về điềukiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu), điều kiện xã hội và phải đi đôi với việcxác định mô hình hợp lý về hệ thống sản xuất và tổ chức quản lý các vùngnguyên liệu cũng như chính sách giá nguyên liệu và phương thức thu mua,cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. - Phát triển công nghiệp giấy, gồm cả vùng nguyên liệu, phải được thựchiện trong mối liên kết chặt chẽ với bảo vệ an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi - 58 -
  • 59. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕtrường cảnh quan, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất ở các vùng miền núi,vùng sâu, vùng xa và góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệpvà nông thôn. - Về huy động các nguồn vốn đầu tư: Nhà nước sẽ tạo điều kiện thuậnlợi hơn nữa để khuyến khích mọi thành phần kinh tế và tranh thủ các nhà đầutư nước ngoài tham gia phát triển ngành giấy. Tranh thủ vốn đầu tư nước ngoàimột cách hợp lý, đảm bảo vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp trong nước,đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước. Việc thực hiện phương châm này là tùythuộc vào đặc điểm của từng dự án, từng địa phương, từng giai đoạn cụ thể đểquyết định phương thức đầu tư thích hợp (trong nước tự đầu tư hoặc liên doanhvới nước ngoài). Đẩy mạnh chủ chương xã hội hoá đối với ngành giấy; Nhànước chỉ giữ cổ phần chi phối (khoảng 51%), số cổ phẩn còn lại sẽ áp dụnghình thức cổ phần hoá, huy động nguồn vốn trong xã hội. - Phát triển vùng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp giấy có ýnghĩa quyết định trong việc thực hiện Chiến lược phát triển ngành giấy ở nướcta. Ngành giấy sẽ có biện pháp đầu tư sản xuất bột giấy nhằm tăng nhanh sảnlượng bột giấy trong nước, phấn đấu đến năm 2005 không phải nhập bột giấy,lệ thuộc vào nước ngoài. - Bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghềđể có thể nhanh chóng tiếp thu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới,phương pháp tổ chức quản lý sản xuất tiên tiến nhằm tăng cường khả năngcạnh tranh khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới.2. Mục tiêu của ngành giấy đến năm 2010 Trên cơ sở đánh giá nhu cầu và tình hình sản xuất trong nước, ngànhgiấy đã xác định những mục tiêu cụ thể ngành cần phải tập trung đạt đượctrong chiến lược phát triển ngành công nghiệp giấy gắn với phát triển vùngnguyên liệu đến năm 2010 - 59 -
  • 60. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Một là, gia tăng sản lượng giấy và bột giấy, đáp ứng nhu cầu trongnước đang gia tăng mạnh mẽ, tiến tới xuất khẩu giấy và bột giấy. - Hai là, đẩy mạnh trồng cây nguyên liệu giấy để chuyển dịch cơ cấu câytrồng, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa. - Ba là, thúc đẩy đầu tư để mở rộng năng lực sản xuất, đa dạng về chủngloại, mặt hàng ; mở rộng thị trường và tăng ưu thế cạnh tranh của sản phẩm Từ những mục tiêu này ngành giấy đã đề ra các mục tiêu cụ thể. Ngànhgiấy đang phấn đấu để đến năm 2010 sẽ đạt tổng sản lượng giấy là 1.260.000tấn/năm (tăng 3,15 lần so với năm 2000) ; sản lượng bột giấy là 2.255.000 tấn/năm (tăng 11,2 lần so với năm 2000). Nước ta không những chủ động được bộtgiấy trong nước, mà còn có thể xuất khẩu 1.000.000 tấn bột/năm. Đầu tư pháttriển ngành công nghiệp giấy và bột giấy theo các mục tiêu trên, không nhữngmang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp mà còn góp phần đắc lực thúc đẩy quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế (trong đó thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế công -nông - lâm nghiệp của các vùng nằm trong địa bàn xây dựng nhà máy bột giấyvà giấy) đồng thời thực hiện được chủ trương của Nhà nước phát triển kinh tếkhu vực miền núi và vùng dân tộc, hình thành các vùng nguyên liệu chuyêncanh, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để đạt được mục tiêuvề sản lượng giấy, bột giấy như trên, ngành giấy có nhu cầu về vốn đầu tư lớn,mà cụ thể trong thời gian tới ngành cần thu hút, sử dụng như sau: Vốn đầu tư nhà máy giai đoạn 2003 – 2010 là 1.690 triệu USD Vốn đầu tư phát triển vùng nguyên liệu 1997 - 2010 là 320 triệu USD Khối lượng vốn đầu tư đến năm 2010 chỉ là định hướng, Bộ Côngnghiệp, Tổng công ty Giấy Việt Nam căn cứ điều kiện thực tế để hiệu chỉnh bổsung cho phù hợp với tình hình thực tế. - 60 -
  • 61. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕII/ Các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Để đạt được các mục tiêu, và tuân theo đúng phương hướng trên, khôngchỉ ngành giấy phải sử dụng các biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranhcủa mình, mà cũng rất cần phải có sự trợ giúp khuyến khích của Nhà nước. Vìvậy, trong phần này, trước tiên, tôi sẽ đi vào một hệ thống các giải pháp màdoanh nghiệp giấy nên áp dụng, và sau đó, là các biện pháp nhà nước nên làmđể hỗ trợ cho ngành trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trước thách thứchội nhập kinh tế.A/ Về phía các doanh nghiệp1. Xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh phù hợp sẽ giúp phát huy được thế mạnh củadoanh nghiệp, đạt được mục tiêu đề ra, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thựctrạng hiện tại trong doanh nghiệp ngành giấy, cũng như trong các doanhnghiệp ngành khác của Việt Nam, việc xây dựng chiến lược kinh doanhthường không được đánh giá, coi trọng đúng. Doanh nghiệp vừa, nhỏ thườngxây dựng chiến lược sơ sài, một số doanh nghiệp lớn lại thường đặt ra nhữngchiến lược không thể thực hiện nổi, mang tính kế hoạch nhiều hơn là chiếnlược. Trong phạm vi khóa luận của mình, tôi không thể xây dựng được mộtchiến lược phù hợp với tất cả các doanh nghiệp trong ngành giấy, mà chỉ xin đivào phân tích chung một số điểm doanh nghiệp ngành cần chú ý khi xây dựngchiến lược cho riêng mình để có tầm nhìn lâu dài trong đầu tư. - Trong chiến lược kinh doanh chung, doanh nghiệp phải xác định đượcthế mạnh của mình, không đầu tư dàn trải, luôn đưa yếu tố hội nhập vào trongchiến lược để chủ động đối phó. - Về sản phẩm: Trên cơ sở soát lại quy hoạch và chiến lược sản phẩm đãcó, doanh nghiệp nên tiến hành điều chỉnh hoặc xây dựng mới chiến lược sảnphẩm theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, đặt mục tiêu lợi nhuận dài hạn lên - 61 -
  • 62. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕhàng đầu. Sản phẩm phải bám sát với nhu cầu của thị trường, phục vụ ngàycàng tốt hơn nhu cầu người tiêu dùng. Trước mắt cần tập trung ưu tiên đầu tưphát triển các mặt hàng có khả năng cạnh tranh cao và có thị trường đầu rahiện tại lớn, sau đó sẽ dần chuyển sang những mặt hàng có giá trị cao. Khôngngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến thiết kế, tạo mẫu, chuyển dần từnhững mặt hàng chất lượng thấp, trung bình sang những mặt hàng chất lượngcao, giá trị lớn. - Về thị trường: dựa vào khả năng và ưu thế hiện tại của mình, doanhnghiệp tập trung vào phân đoạn thị trường trọng điểm của mình. Doanh nghiệpcần làm tốt công tác nghiên cứu thị trường, tạo được một mạng lưới tiếp thịphân phối rộng khắp, phản ứng nhanh nhạy trước những thay đổi của đối thủcạnh tranh. Sau khi củng cố được phân đoạn của mình, doanh nghiệp mới đặtkế hoạch mở rộng thị trường sang những khu vực mới hay mặt hàng mới. - Về phân phối: trong điều kiện công nghệ còn lạc hậu thì chiến lượcphân phối hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh được trong điều kiện hộinhập. Doanh nghiệp phải có biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hệthống phân phối, kể cả chất lượng dịch vụ trước và sau khi bán cho phù hợpvới đặc điểm của thị trường tiêu dùng. Đa dạng hóa các kênh tiêu thụ sảnphẩm, nhưng nên cố gắng phát triển kênh phân phối sản phẩm trực tiếp, tránhphụ thuộc vào các đơn vị trung gian.. Đưa thương mại điện tử vào như mộtkênh phân phối mới, năng động, hiệu quả, thường xuyên tiến hành tuyêntruyền quảng bá sản phẩm của mình qua nhiều phương thức khác nhau, thựchiện công tác phục vụ kỹ thuật khi bán và sau bán sao cho thật thuận lợi chokhách hàng. - Về đổi mới công nghệ: doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch từngbước đổi mới dây chuyền công nghệ để tăng năng suất, hạ giá thành. Đầu tiên,cần lựa chọn các khâu quan trọng trong dây chuyền sản xuất có ảnh hưởng - 62 -
  • 63. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕtrước nhất đến chất lượng và giá thành sản phẩm để tiến hành đổi mới, nângcấp trước. - Về nhân lực: Nâng cao trình độ, năng lực kinh doanh, đIều hành, quảnlý doanh nghiệp cho người quản lý, trình độ tay nghề của người lao động, chútrọng phát huy sáng kiến, cải tiến trong hoạt động của doanh nghiệp. - Về giá cả: trong điều kiện chất lượng sản phẩm của ngành nói chungcòn kém so với hàng nước ngoài, doanh nghiệp nên sử dụng giá như một côngcụ để cạnh tranh, thường xuyên sử dụng các biện pháp khuyến mại, giảm giá,chiết giá,áp dụng các dịch vụ hậu mãi thuận lợi để khuyến khích người tiêudùng mua hàng.2. Xây dựng nhận thức đúng đắn về hội nhập Để nâng cao năng lực cạnh tranh và có thể chủ động hội nhập kinh tế,đối phó với những tác động xấu của hội nhập đòi hỏi mỗi doanh nghiệp, cũngnhư toàn ngành giấy phải xây dựng cho mình một nhận thức đúng đắn về hộinhập , bởi như Tôn Tử nói “biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng”, chỉ cóhiểu rõ về hội nhập thì doanh nghiệp mới có thể hội nhập thành công. Nêndoanh nghiệp bắt buộc phải có nhận thức, tư tưởng về hội nhập. Tư tưởng đóbao gồm những vấn đề sau: - Bản chất của hội nhập là gì? - Tiến trình hội nhập của Việt Nam như thế nào? - Hội nhập là không thể tránh khỏi. Nó là cơ hội đồng thời cũng là thách thức. Không sợ hội nhập, chỉ sợ không chuẩn bị tốt. - Hội nhập gắn liền với cạnh tranh, nhưng không phải hội nhập thì mới có cạnh tranh - Ỷ lại vào bảo hộ tất yếu sẽ bị đào thải - Thực sự quyết tâm hội nhập - Nhà nước cho cần câu chứ không cho con cá - 63 -
  • 64. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Nhà nước chỉ hỗ trợ tạo chính sách thông thoáng, chứ sẽ không trợ cấp trực tiếp cho doanh nghiệp ( tăng vốn, xóa nợ)… , cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia Những tư tưởng trên phải được doanh nghiệp phổ biến cho toàn thể côngnhân viên trong doanh nghiệp, từ người lãnh đạo quyết định chiến lược củadoanh nghiệp đến anh công nhân vận hành máy bình thường. Chỉ khi tất cảmọi người trong doanh nghiệp thấm nhuần tư tưởng, họ cảm thấy áp lực củahội nhập đang đến gần, lúc ấy, mọi người mới thấy nguy cơ, thách thức của hộinhập đe dọa, bức bách họ, và họ sẽ phải nỗ lực, cố gắng nhiều hơn vì côngviệc, nghề nghiệp, vì doanh nghiệp, ngành của mình. Đồng thời với việc truyềnbá tư tưởng về hội nhập, doanh nghiệp cũng phải luôn luôn bám sát, cập nhậtcác thông tin về hội nhập như thuế suất, luật lệ, cam kết của ta và các đối tácthương mại, thông tin về chính sách thương mại, chính sách xnk… để có biệnpháp kịp thời đối phó với tình hình, chủ động phản ứng mau lẹ trước nhữngdiễn biến trên thị trường. Doanh nghiệp nên lập ra một bộ phận chuyên tráchthu thập, nghiên cứu và phân tích các thông tin về hội nhập, và liên quan đếnhội nhập sao cho thật nhanh và chính xác. Bởi ngày nay trong thời đại hộinhập, thì “thời gian là vàng, còn thông tin là tiền”.3. Áp dụng biện pháp giảm chi phí, nâng cao chất lượng Trong thời gian qua, các doanh nghiệp trong ngành giấy Việt Nam đã ápdụng nhiều biện pháp để hạ giá thành và nâng cao khả năng cạnh tranh. Songgiá thành vẫn còn cao, nên sức cạnh tranh của hàng hóa thấp hơn so với hànghoá đến từ các nước khác. Muốn cố gắng tiết kiệm, giảm chi phí đầu vào chocác doanh nghiệp trong ngành, ngoài việc tiến hành đầu tư máy móc, côngnghệ mới, nâng cao trình độ quản lý, theo tôi doanh nghiệp cũng còn nên tiếnhành một số biện pháp như sau: - 64 -
  • 65. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Thứ nhất, nâng cao nhận thức của nhân viên về việc tiết kiệm, hạ giáthành, nâng cao sức cạnh tranh. Nhận thức về tầm quan trọng của việc tiếtkiệm, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh có ý nghĩa chiến lược sống cònđối với doanh nghiệp và với ngành giấy, nên phải xây dựng nhận thức về việctiết kiệm, hạ giá thành và nâng cao sức cạnh tranh cho tất cả mọi thành viêntrong ngành từ cán bộ cấp cao đến người công nhân bình thường, dấy lên vàthường xuyên duy trì phong trao coi việc hạ giá thành và nâng cao sức cạnhtranh, để tư tưởng đó ăn sâu vào tiềm thức của người công nhân. Kinh nghiệmcủa Nhật nhiều thập kỷ qua cho thấy với mô hình phát triển doanh nghiệp dựatrên sức mạnh của cộng đồng, đã làm cho từ chủ hãng đến người công nhân,nhất cử nhất động luôn luôn coi trọng việc nâng cao chất lượng và giảm giáthành hàng hóa để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Như thế, ngườilao động sẽ hăng say làm việc, coi công việc của công ty, của xí nghiệp cũngchính là công việc của chính mình, coi tài sản của công ty như tài sản củachính mình, họ coi việc đi làm muộn, lãng phí nguyên vật liệu, lãn công, làmra một sản phẩm chất lượng thấp là nỗi day dứt của mình, là có lỗi với bảnthân, với công ty, vì họ đã làm cho sức cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệpsuy giảm, họ luôn luôn tìm tòi biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm,tiết kiệm nguyên vật liệu. Đối với một ngành sử dụng nhiều nguyên liệu đầuvào, điều kiện đầu tư cho công nghệ để giảm chi phí, nâng cao chất lượng củangành còn khó khăn, thì việc nâng cao nhận thức về tiết kiệm và năng lực cạnhtranh là một biện pháp mà ngành có thể áp dụng một cách đơn giản và hiệuquả. Thứ hai, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng. Doanh nghiệp củangành nên áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng. Các doanh nghiệp cóthể bỏ hàng tỉ đồng để đầu tư, máy móc nhà xưởng, thì cũng nên bỏ 1/10 sốtiền đó ra để áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng. Bởi lợi ích của nókhông chỉ là một “tấm áo đẹp” để đi triển lãm, quảng cáo mà còn là một biện - 65 -
  • 66. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕpháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng sản phẩm, thoả mãn khách hàng, cải tiếnchất lượng, tăng cường sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hệ thống quản lýnhằm giảm chi phí, phát huy nội lực, đạt được sự phát triển bền vững, lâu dài,nếu doanh nghiệp biết cách áp dụng và sử dụng đúng, hiệu quả. Nó không phảilà một khoản chi phí doanh nghiệp bất đắc dĩ phải bỏ ra, mà là một khoản đầutư cho chất lượng thực sự, trong đó đặt hiệu quả lên hàng đầu. Hiện tại, trongngành mới chỉ có một số ít các doanh nghiệp ( Bãi Bằng, Tân Mai, cổ phầngiấy Sài Gòn ) áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, và thực tế đã chứngminh rằng những doanh nghiệp này cũng đã đạt được một số kết quả tốt, chấtlượng sản phẩm được nâng cao hơn so với trước và so với các doanh nghiệpkhông áp dụng, giảm được chi phí, sản phẩm bị hỏng và ô nhiễm môi trường.Sản phẩm của các doanh nghiệp này đã được người tiêu dùng tín nhiệm quacác cuộc bình chọn “hàng Việt Nam chất lượng cao”. Tuy nhiên, các doanhnghiệp đang và sẽ áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, cũng phải lưu tâmđến một số điểm sau để việc áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đạt đượchiệu quả cao nhất - Mục đích của hệ thống tiêu chuẩn chất lượng là nhằm giảm chi phí ,nâng cao năng lực cạnh tranh và kết quả kinh doanh, thông qua công tác quảnlý để làm ra những sản phẩm có chất lượng theo ý muốn, chứ không phải lànhận một tờ giấy chứng nhận sản phẩm. - Không nên đánh đồng giá trị của chứng chỉ về HTQLCL với giá trị củaHTQLCL được chứng nhận. Không nên coi mục tiêu được chứng chỉ là trọngyếu, mà phải coi việc thực hiện HTQLCL sao cho có hiệu quả mới là quantrọng. - Để áp dụng hệ thống quản lý chất lượng có hiệu quả, doanh nghiệpphải biết cách sử dụng, và sử dụng có hiệu quả, chứ không chỉ là sở hữu hệthống quản lý chất lượng để đem khoe nó như một “tấm áo đẹp”. - 66 -
  • 67. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Khi áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, phải thực hiện một cáchthường xuyên, liên tục với mục đích rõ ràng. - Trong quá trình thực hiện phải tuân thủ nghiêm ngặt một số nguyên tắcsau: + Coi trọng vai trò con người trong hoạt động sản xuất, kinh doanh + “Chất lượng là trên hết” + Quản lý theo văn bản. + Nguyên tắc kiểm tra + Nguyên tắc toàn diện + Nguyên tắc đồng bộ + Nguyên tắc kế hoạch4. Phát huy nhân tố con người Thực tiễn đã chứng minh, nhân tố con người đóng vai trò vô cùng quantrọng trong sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp. Để phát triển,công ty phải hướng tới thị trường, công việc này là công việc của cả tập thểchứ không phải của cá nhân riêng ai. Tài sản lớn nhất của các công ty ngày naykhông phải là lâu đài hay công xưởng, mà là ý tưởng, là chất xám của conngười, con người làm ra sản phẩm, máy móc, chứ không phải máy móc “sảnxuất” ra con người. Việc phát triển nhân tố con người đóng vai trò then chốt, làđiều kiện vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện giải pháp kinh doanhcủa mình, đầu tư vào nguồn nhân lực là hoạt động sinh lời nhất, hiệu quả nhấtđối với tất cả các doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đanghội nhập vào nền kinh tế thế giới, thì vai trò của nguồn nhân lực lại càng đượcđánh giá cao hơn. Bởi trong điều kiện nước ta, khi các yếu tố như năng lựccông nghệ và năng lực tài chính còn thiếu và yếu thì nguồn nhân lực dồi dào,thông minh, cần cù, chăm chỉ chính là lợi thế lớn nhất để Việt Nam hội nhậpthành công. Chính vì thế, công nghiệp Việt Nam nói chung, và ngành côngnghiệp giấy nói riêng phải tập trung phát huy nhân tố con người một cách hiệu - 67 -
  • 68. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕquả nhất để khai thác được những thế mạnh của họ, hạn chế, khắc phục nhữngđiểm yếu của người lao động mới có thể cạnh tranh được thành công khi chúngta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Khi đầu tư cho nguồn nhân lực, ngànhgiấy nên thực hiện một số biện pháp sau: Doanh nghiệp của ngành giấy (đặc biệt là DNNN) cần phải chú trọnghơn nữa trong vấn đề kiện toàn bộ máy tổ chức, đào tạo, nâng cao trình độ chocác cán bộ, cải tiến lề lối làm việc, rèn luyện đạo đức tác phong lao động phảisắp xếp, bố trí lao động một cách hợp lý đúng người đúng việc, tránh tình trạngchuyên môn một đằng phân công một nẻo. Sắp xếp lại các phòng ban theohướng tinh giảm gọn nhẹ, năng động và có hiệu quả, xây dựng nội quy làmviệc rõ ràng, nghiêm khắc, thưởng phạt phân minh để thúc đẩy tác phong làmviệc công nghiệp cho người lao động. Doanh nghiệp nên quan tâm đào tạo vàđầu tư thích đáng cho cán bộ quản lý ở cấp doanh nghiệp. Bởi các thành viênBan giám đốc ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm, khả năng đánh giá, năng động, cómối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không nhữnglợi ích trước mắt, như tăng doanh thu lợi nhuận, mà còn cả lợi ích - uy tín lâudài của doanh nghiệp và đây cũng là một yếu tố quan trọng tác động đến khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thế nên, Ban giám đốc phải nắm vững kiếnthức vững chắc không chỉ về kinh tế, quản lý, mà còn phải có kiến thức cả vềcông nghệ để bắt kịp tốc độ phát triển của quá trình hội nhập. Để phát huynăng lực của bộ phận này đòi hỏi ngành giấy phải chú trọng vào việc tìm vàbồi dưỡng những cán bộ trẻ có tài, có năng lực, năng động với thời cuộc. Đốivới người lao động, cần thông qua việc “xã hội hóa giáo dục và đào tạo”, tiếnhành đào tạo và tái đào tạo đội ngũ lao động theo chiến lược sản phẩm đã xácđịnh, theo hướng tỷ trọng lao động cơ bắp giảm dần và tỷ trọng lao động trí tuệtăng lên và ngày càng chiếm ưu thế trong tổng lao động của doanh nghiệp. - 68 -
  • 69. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Chủ động đề xuất và tổ chức nhiều phong trào thi đua phấn đấu laođộng với những khẩu hiệu như “Năng suất, chất lượng, tiết kiệm là nguồn thunhập của chúng ta”, “lao động hiệu quả là tăng thu nhập của chính mình”, tổchức những cuộc thi tay nghề, sáng kiến của cán bộ công nhân viên. Điều nàyvừa làm cho người công nhân gắn bó chặt chẽ hơn với nhà máy của mình, vừagiúp doanh nghiệp tìm được những cá nhân điển hình tốt để bồi dưỡng và nhânrộng. Những phong trào thi đua này phải đi sâu vào thức tế lấy năng suất, chấtlượng, hiệu quả làm thước đo, chứ không được mang nặng tính hình thức, phôtrương. Song song với việc phát động các phong trào thi đua, các doanh nghiệpngành giấy cũng nên đề ra hình thức khen thưởng tôn vinh xứng đáng chonhững cá nhân, tổ chức có sáng kiến hay, làm việc hiệu quả. Việc khen thưởngphải đúng người, đúng việc, đúng năng lực, khả năng, đúng lúc, đúng nơi đểkịp thời khích lệ người lao động làm việc hăng say và tư duy sáng tạo. Luôn luôn chú ý quan tâm đến nguyện vọng, tâm tư của người lao động,đảm bảo tính công bằng trong đãi ngộ, môi trường lao động ít độc hại và mộtbầu không khí tập thể hoà thuận, thoải mái và năng động. Xây dựng một bầukhông khí “văn hóa doanh nghiệp” lành mạnh và phù hợp với ngành, làmngười lao động từ trên xuống dưới luôn thấm nhuần tư tưởng, mục đích hoạtđộng của doanh nghiệp, của ngành. Nó sẽ góp phần tạo ra một chất keo gắn bógiữa những người lao động với nhau và giữa người lao động với công ty củamình. Từ đó, có thể thúc đẩy động cơ làm việc, năng lực của người lao động,phát huy năng lực sáng tạo của người lao động, giúp người lao động tiếp thuđược các chuẩn mực đạo đức và có thái độ hăng hái làm việc, nhằm đạt đượcmục đích của công ty, tạo động lực mạnh mẽ cho sự thành đạt của công ty. Doanh nghiệp cũng như ngành giấy nên lập ra một quỹ để khuyến khíchnhân viên đến các trường đại học cập nhật những kiến thức mới, tiếp cận vấnđề một cách hiện đại đáp ứng đòi hỏi của điều kiện hội nhập. Có biện phápkhuyến khích, thu hút nhân tài về với doanh nghiệp, với ngành giấy như tặng - 69 -
  • 70. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕhọc bổng cho sinh viên khá giỏi, tạo điều kiện thuận lợi, sắp xếp cho nhữngsinh viên khá giỏi được dễ dàng vào làm việc trong ngành, đãi ngộ cho họ thỏađáng, bình đẳng để họ yên tâm cống hiến sức lực và tài năng của mình chodoanh nghiệp.5. Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp ngành giấy Liên kết kinh tế là sự thiết lập mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất,kinh doanh nhằm bổ sung, hỗ trợ nhau, giảm chi phí, đạt hiệu quả cao hơntrong sản xuất, tạo ra sức cạnh tranh mạnh... Đối với doanh nghiệp, liên kếtkinh tế là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu tạo ra sự thành công.Lợi ích của việc liên kết kinh tế thể hiện ở chỗ : - Tạo điều kiện để tiết kiệm về qui mô, chi phí. - Giúp doanh nghiệp chủ động với sự phức tạp của thị trường trong điềukiện toàn cầu hóa thương mại, dễ chinh phục những thị trường mới. - Tăng khả năng linh hoạt của doanh nghiệp, phản ứng nhanh nhạy hơnvới những thay đổi của môi trường kinh doanh. - Giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng hơn với các công nghệ mới. - Giúp giảm thiểu các rủi ro. - Tạo điều kiện giảm nhẹ cơ cấu bên trong doanh nghiệp, thông qua việcchuyên môn hóa trong các công đoạn sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng quyết liệt, doanh nghiệp của ngànhgiấy dù thuộc quốc doanh, hay ở ngoài quốc doanh đều có những điểm yếu lớnso với những đối thủ cạnh tranh hùng mạnh của nước ngoài, tổng sản lượngcủa ngành giấy Việt Nam năm cao nhất (năm 2002) mới chỉ khoảng 500.000tấn không bằng một tập đoàn giấy của Indonesia (tập đoàn APP sản xuất 3triệu tấn giấy/năm), máy móc còn lạc hậu, tiềm lực tài chính còn nhỏ bé. Thìnhư đã trình bày ở trên về lợi ích của liên kết kinh tế, một trong những lối rakhả thi nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành giấy, - 70 -
  • 71. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕchính là phải liên kết các doanh nghiệp lại với nhau để phát huy sức mạnh tổnghợp, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành. Trong điều kiện Việt Nam hiệnnay, các doanh nghiệp ngành giấy có thể liên kết đôi bên, ba bên, liên doanhvới doanh nghiệp trong nước, hay liên doanh với công ty nước ngoài, liêndoanh liên kết để cùng đầu tư sản xuất một loại sản phẩm,…nhưng hiệp hội làhình thức tổ chức phù hợp nhất để hỗ trợ, liên kết và xây dựng tinh thần cộngđồng của các doanh nghiệp ngành giấy. Đây sẽ là một kênh hỗ trợ đắc lực chosự phát triển các doanh nghiệp của ngành giấy trong việc cung cấp thông tin vềthị trường, giá cả, tình hình tài chính,...tư vấn để doanh nghiệp có thể hoạtđộng một cách tốt nhất, đồng thời, các doanh nghiệp trong hiệp hội sẽ có điềukiện dễ dàng liên kết, phối hợp hoạt động với nhau. Hiệp hội là một tổ chứcđại diện hợp pháp về mặt quyền lợi, giúp doanh nghiệp giải quyết những tranhchấp phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong thời gian qua, tuyhiệp hội giấy vẫn chưa thực hiện được hết những chức năng quan trọng củamình, hoạt động vẫn mang tính hình thức, tự phát chưa chủ động, quy chế hoạtđộng, nội dung hoạt động còn đơn điệu, thiếu chặt chẽ, chưa phát huy được hếthiệu quả như mong muốn, nhưng không thể nói hiệp hội ngành giấy đã hoạtđộng không có hiệu quả gì. Hiệp hội đã lập và hiệu đính một số tiêu chuẩnngành, tạo lập được mối quan hệ với các hiệp hội giấy khác trong khu vực vànhiều nước trên thế giới, đã gia nhập liên đoàn công nghiệp Bột giấy và giấyASEAN, thường xuyên tổ chức hàng năm các cuộc tham quan, tìm kiếm cơ hộihợp tác với các đối tác nước ngoài cho các thành viên của hiệp hội giấy ViệtNam hay tổ chức các cuộc hội thảo mang tính chuyên đề của ngành... Với cáchtiếp cận như vậy đã giúp các doanh nghiệp giảm bớt chi phí cho hoạt động tìmkiếm khảo sát đối tác cung cấp thiết bị ở nước ngoài mà vẫn đáp ứng được nhucầu của doanh nghiệp. Trong tương lai, vì lợi ích của chính mình, các doanhnghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn phải tích cực tham gia vào hoạt độngcủa hiệp hội, góp phần nâng cao vai trò của hiệp hội. Để từ đó sẽ chuyển - 71 -
  • 72. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕhướng phát triển hiệp hội giấy theo hướng mới, biến hiệp hội thành một tổchức xã hội hoạt động vì lợi ích của ngành với cơ chế gọn nhẹ thu hút được sựtham gia của mọi doanh nghiệp trong ngành từ lớn đến nhỏ, tập trung ủng hộcác quyền lợi chính đáng và cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp, giúpdoanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, thuận lợi trong hoạt động. Hiệphội sẽ là một đầu mối đủ năng lực, uy tính để tập hợp các doanh nghiệp trongtoàn ngành trên cơ sở tự nguyện phân công hợp tác theo chuyên môn hóa sâu,mới đem lại hiệu quả cao, thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau.6. Đầu tư hợp lý cho công nghệ Với tư duy thiển cận, trước mắt thì dường như hoạt động đầu tư khoahọc kỹ thuật công nghệ hiện đạivà tăng tỷ suất khấu hao tài sản cố định dẫnđến hệ quả làm cho giá thành hàng hóa vống lên trong khi giá bán hàng hóakhông đổi. Nhưng trong trung và dài hạn, kỹ thuật, công nghệ mới cho phépcác doanh nghiệp tiệm cận trình độ kỹ thuật – công nghệ trung bình của thếgiới, đưa năng suất lao động tăng lên, tạo ra những sản phẩm với chất lượngcao, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp doanhnghiệp chuyển từ thế bị động sang thế chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Ứngdụng khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại là lối thoát ra khỏi suy thoái. Đấylà một tất yếu không thể đảo ngược, đầu tư công nghệ là bắt buộc, vấn đề đặtra là đầu tư công nghệ mới như thế nào? Đầu tư phải phù hợp đúng nơi, đúngchỗ, đúng thời gian. Như công ty giấy Việt Trì, khi đầu tư dây chuyền sản xuấtgiấy duplex đã gặp khó khăn về tài chính, dây chuyền đầu tư mới làm doanhnghiệp phải trả số tiền lãi nhiều trong thời gian đầu, sản phẩm tiêu thụ khókhăn, nên 9 tháng đầu năm nay doanh nghiệp lỗ tới 30,686 tỷ đồng. Có ý kiếncho rằng khó khăn về tài chính trên của doanh nghiệp là do đầu tư dây chuyềnmới, nếu công ty cứ duy trì nhà máy cũ, sản phẩm cũ, thì trong vài năm vẫn cólãi vài tỷ đồng. Nhưng khi mà thời điểm hội nhập của Việt Nam ngày càng - 72 -
  • 73. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕgần. Không đầu tư thì vẫn với cơ cấu sản phẩm như cũ, trong vài năm nữa, khithuế suất giảm xuống, với dây chuyền cũ như vậy, liệu nhà máy còn có lãi nữakhông hay sẽ bị sập tiệm? Khó khăn công ty giấy Việt Trì gặp phải chỉ mộtphần là do khoản vốn đầu tư lớn, còn phần quan trọng là do thời gian đầu tưquá dài dẫn đến bỏ lỡ mất cơ hội. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vớinguồn vốn còn hạn hẹp hơn nhiều, phải trả lãi suất cao hơn, nhưng họ đầu tưnhanh và gọn nên sản phẩm của họ nhanh chóng tung ra thị trường, nắm bắt cơhội. Để đầu tư công nghệ hợp lý, theo tôi trong thời gian tới các doanh nghiệpgiấy Việt Nam nên đầu tư theo những phương hướng sau: - Thời gian đầu tư phải thật nhanh chóng, chủ động với diễn biến của thịtrường. - Với lợi thế của người đi sau, doanh nghiệp giấy Việt Nam có thể đầu tưmới cho mình những dây chuyền tương đối hiện đại và phù hợp với mình, tiếndần từ trình độ công nghệ lạc hậu lên công nghệ khu vực. Đối với các dâychuyền cũ thì tiến hành nâng cấp những dây chuyền còn tương đối tốt, loại bỏdần dần những dây chuyền quá cũ, hao phí nguyên liệu nhiều. - Đầu tư, hợp tác, liên kết với các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuậttrong nước để phát triển sản phẩm mới, công nghệ mới. Đây là một hình thứcđầu tư rất tốt, đôi bên cùng có lợi, mà hiện nay các doanh nghiệp trong nướccòn chưa quan tâm lắm. - Đầu tư có chiều sâu, chuyển dần từ những dây chuyền công nghệ sảnxuất sản phẩm có chất lượng trung bình, kém sang dây chuyền công nghệ sảnxuất sản phẩm chất lượng cao, giá trị lớn. Đầu tư vào CNTT như một biệnpháp hỗ trợ quản lý cho doanh nghiệp, giảm chi phí hành chính. - Đầu tư phù hợp với năng lực của mình, trình độ của mình về tiềm lực tàichính và khả năng nắm bắt kỹ thuật. - Đa dạng hóa hình thức đầu tư, các doanh nghiệp trong ngành có thể liêndoanh liên kết cùng đầu tư một dây chuyền, phối hợp với các doanh nghiệp - 73 -
  • 74. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕngoài nước xây dựng nhà máy mới, huy động vốn đầu tư qua kênh chứngkhoán…B/ Về phía Nhà nước1. Xây dựng chiến lược qui hoạch phát triển ngành giấy hợp lý, kịpthời Hiện nay, đang có tình trạng tự phát quy hoạch xây dựng vùng nguyênliệu giấy, và nhà máy sản xuất ở khắp nơi, rộ lên phong trào “nhà nhà làmgiấy, người người làm giấy”. Chương trình chiến lược của các cơ quan liênquan đến ngành giấy cũng rất khác nhau. Tình trạng đó là do các tỉnh đềumuốn thông qua đầu tư này để hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, và từmột phép tính đơn giản, năng lực sản xuất hiện tại chưa cung cấp đủ 60% thịtrường, với tiềm năng về con người và tự nhiên, chúng ta đủ khả năng đáp ứngnhu cầu mà không cần phải nhập khẩu, và lại quên mất khả năng cạnh tranhgay gắt của hàng nước ngoài. Nhưng để một nhà máy giấy hoạt động hiệu quảcần phải đầu tư quy mô lớn với công suất trên 50.000 tấn, với vốn đầu tư lênđến vài trăm triệu USD/dự án, đồng thời phải xây dựng được vùng nguyên liệuđảm bảo thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển nguyên liệu cho các nhàmáy. Thế nên, cần có sự can thiệp của Nhà nước để tạo sự thống nhất trongquy hoạch tổng thể phát triển ngành giấy và vùng nguyên liệu giấy, có vậy mớitạo được điều kiện phát triển ngành giấy. Thực tế, biểu hiện thừa nguyên liệu sản xuất giấy và bột giấy ở ViệtNam hiện nay chỉ diễn ra cục bộ, còn xét tổng thể, ngành giấy vẫn thiếunguyên liệu. Do vậy, trong thời gian tới, Nhà nước cần đặt ra tiêu chí bắt buộcđể xây dựng vùng nguyên liệu và những nhà máy sản xuất bột giấy mới. Cụthể, dự án phải đáp ứng được các yêu cầu như giá thành sản phẩm phải thấphơn mức giá nhập khẩu tại thời điểm đó, phải đảm bảo thu hồi được vốn đầutư. Về nguyên liệu, các nhà máy mới phải đảm bảo thu mua nguyên liệu tại - 74 -
  • 75. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕchỗ cho người trồng rừng với mức giá thấp nhất là 300.000 đồng/m3. Đối vớitừng vùng, dự án xây dựng các dự án phải chi tiết, đồng bộ và hợp lý giữa vị tríđặt nhà máy và vùng nguyên liệu; cần tính tới yếu tố cơ sở hạ tầng giao thôngphục vụ vận chuyển nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất giấy và bột giấy.Đối với các địa phương đã hội đủ các điều kiện nêu trên, theo công nghệ tiêntiến và tiêu chuẩn về môi trường của Việt Nam hiện nay, quy mô tối thiểu phảilà 50 000 tấn/năm. Đi kèm theo nó là vùng nguyên liệu được quy hoạchkhoảng 80 000 ha. Quy mô công suất này là phù hợp với thực tế của nước ta vềvùng, sự phân tán của vùng nguyên liệu, khả năng đáp ứng về cơ sở hạ tầng,nguồn vốn đầu tư cũng như việc tổ chức quản lý... Sau này, nếu có điều kiệnthì các nhà máy có thể sẽ được mở rộng thêm quy mô và tăng công suất lêngấp 2 hoặc 3 lần. Về phân bố, Nhà nước nên đặt các nhà máy giấy tập trung lạikhông nên bố trí các nhà máy chạy dọc theo vùng chiều dài đất nước, bởi lẽ,đặc thù của công nghiệp giấy cho thấy, một nhà máy dù có qui mô lớn hay nhỏđều phải trải qua các giai đoạn chế biến gỗ, sản xuất bột giấy và giấy, sản xuấtnăng lượng điện, nước sạch, xử lý hóa chất, nước thải... để đảm bảo đượcnhững công đoạn đó thì phải đầu tư lớn cho thiết bị và công nghệ. Do vậy, nếucông suất không đủ lớn thì sản xuất sẽ không hiệu quả (vì định phí quá cao). Chúng ta đã có những bài học cay đắng từ 1.000.000 tấn mía đến10.000.000 tấn thép do xây dựng nhà máy tràn lan, không có qui hoạch tổngthể, nên sản phẩm sản xuất ra có giá thành cao, chất lượng kém. Chính vì vậy,Nhà nước nên giao cho một cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm xây dựng quihoạch, chiến lược phát triển vùng nguyên liệu và nhà máy giấy trên cả nước,các cơ quan khác chỉ có quyền tư vấn, để trách tình trạng chồng chéo trong quihoạch, gây lãng phí và chậm trễ trong đầu tư. Tránh tình trạng việc xây dựngchiến lược thiếu tính khả thi, khi xây dựng chiến lược phải dựa trên thực tếnguồn lực của đất nước, quan hệ cung cầu, khả năng cạnh tranh của sản phẩm,chiến lược, khi xây dựng chiến lược cho ngành, Nhà nước nên cho phép các - 75 -
  • 76. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕdoanh nghiệp trong ngành tham gia đóng góp ý kiến xây dựng để từ chiến lượcđến thực tế không còn là một khoảng cách quá xa.2. Thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư phát triển ngành giấy Nhìn lại tổng thể sự phát triển của ngành trong nhiều năm qua, ta thấyngành vẫn gặp phải một số trở ngại khá lớn từ cơ chế quản lý của nhà nước.Nên tôi xin có một số đề xuất mà Nhà nước nên áp dụng để hỗ trợ, khuyếnkhích những người sản xuất và nhà đầu tư trong ngành trong thời gian tới: - Áp dụng thuế suất VAT 5% đối với sản phẩm giấy sản xuất trongnước, góp phần giảm giá bán, nâng sức cạnh tranh cho các sản phẩm trongnước sản xuất. Miễn giảm thuế nhập khẩu đối với một số nguyên liệu, hóa chấtlà đầu vào cho sản xuất của ngành. Hạn chế giải ngân các nguồn vốn ODAbằng giấy trong thời gian trước mắt. - Đối với những nhà máy sử dụng nguyên liệu là giấy phế liệu. Đề nghịnhà nước có chính sách hỗ trợ bằng việc cho phép khấu trừ thuế VAT đầu vàođối với loại nguyên liệu này. Có thể khi thực hiện chính sách này sẽ có nhiềukhó khăn, vì phần lớn những người thu gom giấy loại trong nước đều buôn bánnhỏ và không hề có chứng từ hóa đơn, nhưng là việc nên làm vì sẽ hạn chế ônhiễm môi trường, và khuyến khích những người sản xuất. - Có chính sách bảo lãnh vốn vay cho các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh đầu tư phát triển ngành. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với tư duynăng động và nhạy bén của mình đã góp phần làm đa dạng hóa cơ cấu sảnphẩm trong nước. Nhưng với tiềm lực tài chính nhỏ bé thì mỗi doanh nghiệp sẽkhó có thể đầu tư những dự án lớn đem lại hiệu quả lớn cho xã hội, nếu khôngcó sự giúp sức của Nhà nước về vốn cho họ, tạo môi trường bình đẳng, thôngthoáng và thuận lợi cho họ phát triển. - Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, thường có các dự án đầu tư lớn.Nhà nước cần đẩy nhanh quy trình xét duyệt dự án, giảm sự chồng chéo trong - 76 -
  • 77. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕcơ chế quản lý, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp trong ngành với lãi suất ưuđãi với thời hạn trả xong nợ là 15 năm và thời gian khấu hao là 18 năm thay vìchỉ 10 năm (trả nợ) và 12 - 15 năm (để khấu hao) theo những quy định hiệnnay của Chính phủ để đảm bảo tiến độ triển khai các dự án mới hiệu quả, gópphần gia tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm. Cần phải đẩy nhanh quá trìnhgiải ngân cho các dự án của nhà nước. Cho phép các dự án đầu tư trong chiếnlược tăng tốc được vay thương mại (khi quỹ hỗ trợ phát triển chưa có điều kiệncấp đủ) để đầu tư cho kịp tiến độ, sau đó có thể cấp bù chênh lệch lãi suất. - Xây dựng hệ thống luật pháp, chính sách phù hợp để bảo hộ “hợppháp” cho sản xuất trong nước bằng việc cho ra đời luật thuế chống bán phágiá, luật cạnh tranh để bảo vệ sản xuất trong nước nói chung và sản xuất giấynói riêng, trước những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh của các tập đoànnước ngoài (bán phá giá hàng…). - Đối với rừng nguyên liệu giấy: Thực tế cho thấy, không có rừngnguyên liệu giấy thì không thể có công nghiệp giấy. Nhưng đầu tư trồng rừngnguyên liệu thường rất lâu (7-9 năm đối với cây nguyên liệu sợi ngắn, 10-15năm đối với cây nguyên liệu sợi dài), rủi ro trong quá trình đầu tư lớn, lợinhuận lại không cao. Vì thế, Nhà nước nên có chính sách hợp lý để khuyếnkhích nhân dân trồng rừng nguyên liệu giấy, ưu đãi cho nông dân các địaphương tham gia phát triển vùng nguyên liệu cung cấp cho sản xuất bột giấyvà giấy. Cụ thể là: + Thực hiện tốt chính sách giao đất giao rừng; gắn đất rừng với từnghộ nông dân, khuyến khích lợi ích vật chất với trách nhiệm người trồng rừng,từng bước nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc vùng cao, vùng sâu. Bảođảm thu nhập cho người trồng rừng nguyên liệu. + Lập quy hoạch vùng nguyên liệu giấy trên phạm vi toàn quốc để cócơ sở thiết lập các dự án đầu tư. Trong quy hoạch phải hình thành những vùngtương đối rộng, liên tục cho trồng rừng nguyên liệu giấy để có thể thực hiện - 77 -
  • 78. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕcông nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp trồng rừng. Từ đó có thể đảm bảođầu ra ổn định cho sản phẩm của người nông dân, đảm bảo thu nhập cho họ. + Lãi suất vay vốn trồng rừng chỉ nên bằng 50% lãi suất ưu đãi hiệnhành. + Miễn thu thuế trồng rừng ở chu kỳ đầu và giảm 50% ở chu kỳ thứhai. + Dự án được sử dụng nguồn vốn ngân sách cấp để thực hiện giao đất,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm lâm nghiệp vào mục đích trồngrừng . + Hướng dẫn, cung cấp giống cây trồng tốt, thường xuyên tư vấn, hỗtrợ về kỹ thuật canh tác cho người trồng rừng.3. Sắp xếp lại các doanh nghiệp quốc doanh nhằm tăng cường nănglực cạnh tranh cho toàn ngành Doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận quan trọng trong ngành giấy,chỉ riêng tổng công ty giấy đã chiếm 36% tổng sản lượng giấy, nhưng doanhnghiệp Nhà nước cũng là bộ phận có sức cạnh tranh khá yếu, nhiều doanhnghiệp đang thua lỗ, công nghệ lạc hậu từ 30-40 năm so với mặt bằng chungcủa thế giới. Chính vì vậy Nhà nước cần có biện pháp kiên quyết tác động vàobộ phận này để tăng năng lực cạnh tranh cho toàn ngành bằng hai biện phápchính: - Giải thể ngay những nhà máy quá lạc hậu, liên tục làm ăn thua lỗ. Đốivới những nhà máy công nghệ quá lạc hậu, chất lượng sản phẩm kém, sảnlượng thấp, gây ô nhiễm môi trường, làm ăn lại thường xuyên thua lỗ, thì tốtnhất là giải thể để có thể tập trung nguồn lực về tài chính và công nghệ vàonhững doanh nghiệp có năng lực lớn hơn. Dù có tiếc nhưng là biện pháp bắtbuộc phải thực hiện, nếu không để đến thời điểm vài năm nữa thì các doanhnghiệp này cũng phải tự sập tiệm mà thôi. - 78 -
  • 79. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ - Tiến hành cổ phần hóa nhằm tập trung, thu hút nguồn lực: Trongngành giấy hiện nay ở nước ta, công ty cổ phần đang là một hình thức khá phổbiến, các công ty này đang làm ăn khá hiệu quả (điển hình như Hapaco, cổphần giấy Sài Gòn,…). Các công ty cổ phần xét trên nhiều phương diện rõràng mang lại hiệu quả cao và lợi ích thiết thực cho doanh ngiệp, nó đang và sẽtrở thành định hướng phát triển của các doanh nghiệp hiện đại do những ưu thếcạnh tranh vượt trội của nó trong huy động vốn, chia sẽ rủi ro, kích thích laođộng sáng tạo, trách nhiệm và xã hội hóa lực lượng sản xuất xã hội. Chính vìvậy chuyển đổi từ DNNN sang công ty cổ phần là một biện pháp để nâng caonăng lực cạnh tranh. Trong thời gian qua, Nhà nước đã tiến hành cổ phần haidoanh nghiệp thuộc tổng công ty giấy là công ty giấy Viễn Đông và công tydiêm Thống Nhất, hai công ty này sau khi được cổ phần đã hoạt động tươngđối tốt. Nhà nước cũng dự định đến năm 2006 sẽ cổ phần thêm một số công tynữa thuộc tổng công ty giấy. Nhưng theo tôi thời điểm năm 2006 mới bắt đầutiến hành cổ phần hóa là quá chậm, nhất là từ năm 2003 trở đi ngành giấy phảiđối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt do giấy nhập từ các nước Asean có mứcthuế nhập khẩu là 20% và năm 2006 là 5%. Chính vì vậy Nhà nước cần cóbiện pháp đẩy nhanh hơn quá trình cổ phần hóa, đồng thời khuyến khích thuhút các thành phần kinh tế tham gia vào các doanh nghiệp sẽ được cổ phần:Như bán cổ phần ưu tiên cho các đối tượng là cán bộ công nhân viên công táctại nhà máy, phát hành cổ phiếu thông qua kênh thị trường chứng khoán…4. Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho ngành giấy, thúc đẩyhoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ Để thúc đẩy quá trình ứng dụng công nghệ hiện đại vào ngành, tăngnăng lực cạnh tranh, đề nghị Nhà nước cấp vốn ngân sách cho nghiên cứu khoahọc, đặc biệt là đầu tư cho công trình nghiên cứu cải tạo giống cây trồng chonăng suất cao, nghiên cứu ứng dụng những nguyên liệu sẵn có vào sản xuất. - 79 -
  • 80. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕPhát triển khoa học và công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý nhằm phát triển thịtrường công nghệ, coi sản phẩm nghiên cứu là loại hàng hóa đặc biệt, đi đôivới phát huy tính tự chủ của các tổ chức nghiên cứu khoa học - công nghệ ; coitrọng nhập khẩu và ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới tạo động lực về lợiích để thúc đẩy hoạt động khoa học, công nghệ gắn bó với sản xuất, kinhdoanh, hướng vào nâng cao năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm, từngdoanh nghiệp trong ngành. Chính phủ tạo môi trường thúc đẩy các doanhnghiệp đặt hàng cho các tổ chức khoa học - công nghệ, liên kết với nhaunghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, thúc đẩy hoạt động tự nghiên cứu, sángtạo trong các doanh nghiệp. Có chính sách để nhà doanh nghiệp bắt tay vớingười nghiên cứu, để kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tế. Nhà nước nên có những cơ chế cụ thể cho việc giải quyết nguồn nhânlực để đáp ứng và đi kịp với yêu cầu của các dự án đầu tư xây dựng mới vớiquy mô lớn và hiện đại. Mở thêm trường đào tạo công nhân kỹ thuật chongành, ở cấp đại học và sau đại học, mở thêm khoa về công nghệ sản xuất giấyvà liên quan đến công nghệ sản xuất giấy.  - 80 -
  • 81. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕ Kết luận Tóm lại, với năng lực cạnh tranh và qui mô sản xuất như hiện nay, đểngành công nghiệp giấy có thể tồn tại và phát triển đủ lực cạnh tranh trong quátrình hội nhập, cùng với nỗ lực của chính mình, các doanh nghiệp ngành giấyvẫn đang rất cần được sự quan tâm đúng mức của Chính phủ, của xã hội bằngnhững cơ chế đặc thù riêng cho việc đầu tư phát triển. Chỉ có như vậy, ngànhcông nghiệp giấy mới hội đủ các điều kiện cần thiết để ổn định và phát triển,chủ động hội nhập vào khu vực,và thực sự trở thành ngành kinh tế chủ lực củacông nghiệp Việt Nam, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước. Một số giải pháp mà tác giả trình bày ở trên đây chỉ mang tính đềxuất, các doanh nghiệp trong ngành tùy thuộc vào đặc điểm, nguồn lực củamình mà sẽ xây dựng một cho riêng mình một chiến lược, giải pháp phù hợp,thích ứng với tình hình hoạt động kinh doanh của mình. Với tư duy và kiếnthức còn hạn hẹp, nên giải pháp tác giả đưa ra có thể chưa phải tối ưu cho cácdoanh nghiệp giấy, nhưng tác giả mong rằng, những giải pháp đã đưa ra có thểcó một tác dụng nhất định cho ngành và cho các doanh nghiệp của ngành trongcuộc cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nước ngoài. ******* - 81 -
  • 82. Mét sè biÖn ph¸p nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña Bïi §øc ChÝ Toµnngµnh giÊy ViÖt Nam trong ®iÒu kiÖn héi nhËp kinh tÕTài liệu tham khảo 1. Trần Sửu, trường đại học ngoại thương. Giáo trình quản lý chất lượng hàng hóa và dịch vụ, năm 1999. 2. Nguyễn Trung Vãn, trường đại học ngoại thương. Giáo trình marketing lý thuyết. 3. Thời báo kinh tế Việt Nam các năm 2002, 2003. 4. Báo cáo tổng kết của tổng công ty giấy Việt Nam năm 2001, 2002. 5. Báo cáo kết quả sxkd 9 tháng đầu năm 2003 và dự báo kế hoạch sxkd năm 2004 của tổng công ty giấy Việt Nam. 6. Tạp chí công nghiệp giấy số 6 và số 9 năm 2003. 7. Tạp chí công nghiệp nhịp sống số cuối tháng năm 2003 8. Tạp chí công nghiệp số 6, 10, 14 năm 2003. 9. Quyết định số 160/QĐ-TTg, ngày 4-9-1998 về việc phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp giấy đến năm 2010. 10.Thời báo kinh tế Sài Gòn năm 2003. 11.Tạp chí cộng sản năm 2002, 2003. 12.Niên giám thống kê của tổng cục thống kê năm 2000 và 2001. 13. Trang web www.vinapimex.com.vn 14. Một số trang web khác: www.vir.com.vn, www.tapchicongsan.org.vn,.. - 82 -