Hoàn thiện quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong Kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

7,586 views
7,527 views

Published on

Luận văn: Hoàn thiện quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong Kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
Tham khảo tại: http://luanvan.forumvi.com/t173-topic

Published in: Education
0 Comments
3 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
7,586
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
3
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Hoàn thiện quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong Kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

  1. 1. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNHI.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNHVÀ VAI TRÒ CỦA GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG QUYTRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.Khái niệm về kiểm toán báo cáo tài chính “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có thẩm quyền thuthập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổchức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tinsố lượng đó với các chuẩn mực đã được xác định”. Hoạt động kiểm toán có thể đượcphân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, mà căn cứ theo đối tượng cụ thể có thể phânthành kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC), kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ.Trong đó, kiểm toán BCTC là hoạt động chủ yếu và phổ biến nhất. Mục tiêu tổng quát của kiểm toán báo cáo tào chính là xác minh tính trung thực,hợp lý và hợp pháp của thông tin trên bản khai tài chính. Do đó, đối tượng trực tiếp củakiểm toán BCTC là bản khai tài chính. Bộ phận quan trọng của những bản khai này làcác BCTC. Theo định nghĩa của VSA 200 – Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phốikiểm toán BCTC – “BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kếtoán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính củađơn vị”. Ngoài ra, bảng khai tài chính còn bao gồm những bảng kê khai có tính chấtpháp lý khác như các bảng dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước, các bảng dựtoán và quyết toán các công trình xây dựng cơ bản, các bảng kê khai tài sản cá nhân… Cũng như mọi loại hình kiểm toán khác, để thực hiện chức năng xác minh và bàytỏ ý kiến, kiểm toán BCTC cũng sử dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ (kiểmtra cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic) và phương pháp kiểm toán ngoài chứngtừ (kiểm kê, thực nghiệm, điều tra). Cách thức kết hợp các phương pháp này có nhữngđặc điểm riêng do chức năng cụ thể của kiểm toán BCTC, đặc điểm của đối tượngkiểm toán BCTC , mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán BCTC quy định. Với kiểm toán BCTC, có hai cách cơ bản để phân chia đối tượng kiểm toán thànhcác phần hành kiểm toán: Phân theo khoản mục: là cách chia máy móc từng nhóm khoản mục hoặc nhómcác khoản mục trong các bảng khai vào một phần hành. Cách chia này đơn giản songcó thể bị hạn chế do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau song có liên hệ chặtchẽ với nhau.  Phân theo chu trình: là cách chia thông dụng hơn căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽlẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành các yếu tố trong một chu trìnhchung của hoạt động tài chính. Do vậy, cách phân theo chu trình thường hiệu quả hơndo thu gom được đầu mối của các mối liên hệ. 2.Quy trình kiểm toán BCTC Quy trình kiểm toán BCTC bao gồm ba giai đoạn chính là lập kế hoạch kiểmtoán, thực hiện kiểm toán và hoàn thành kiểm toánSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 1
  2. 2. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai  Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: ♦Chuẩn bị kiểm toán là quá trình kiểm toán viên (KTV) tiếp cận khách hàng đểthu thập những thông tin cần thiết nhằm giúp họ hiểu về các nhu cầu của khách hàng,đánh giá khả năng phục vụ khách hàng… Trên cơ sở đó, hai bên sẽ ký kết hợp đồngkiểm toán. ♦Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm việc thu thập thông tin về đặc điểm hoạt độngkinh doanh, tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB), xác lập mức trọng yếu để lậpkế hoạch và chương trình kiểm toán, nhờ đó sẽ nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả củacuộc kiểm toán. Giai đoạn thực hiện kiểm toán Trong giai đoạn này, KTV tiến hành thu thập những bằng chứng kiểm toán đầyđủ và thích hợp, liên quan đến cơ sở dẫn liệu của BCTC nhằm làm cơ sở cho ý kiếncủa KTV. Trong giai đoạn này, KTV sẽ thực hiện hai loại thử nghiệm chủ yếu là: ♦Thử nghiệm kiểm soát là loại thử nghiệm để thu thập bằng chứng về tính hữuhiệu của hệ thống KSNB. ♦Thử nghiệm cơ bản bao gồm các thủ tục để thu thập bằng chứng nhằm pháthiện các sai lệch trọng yếu trong BCTC. Có hai loại thử nghiệm cơ bản là thủ tục phântích và thử nghiệm chi tiết. Trong thủ tục phân tích, KTV so sánh các thông tin vànghiên cứu các xu hướng để phát hiện các biến động bất thường. Còn khi thực hiện thửnghiệm chi tiết, KTV đi sâu vào việc kiểm tra các số dư hoặc nghiệp vụ bằng cácphương pháp thích hợp. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán Đây là giai đoạn tổng hợp và rà soát lại về những bằng chứng đã thu thập được đểKTV hình thành ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán. Trước khi lập báo cáo kiểmtoán, KTV cần thực hiện các công việc cần thiết như: xem xét các khoản nợ tiềm tàng,xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, xem xét giả thuyết hoạt động liêntục và đánh giá tổng quát về kết quả kiểm toán. Tùy theo sự đánh giá về mức độ trungthực và hợp lý của BCTC mà KTV sẽ phát hành loại báo cáo kiểm toán tương ứng. 3.Vai trò của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báocáo tài chính Lập kế hoạch kiểm toán là một trong những nguyên tắc cơ bản trong công táckiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các KTV phải tuân theo đầyđủ. Đây là giai đoạn đầu tiên mà các KTV cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán, nócó vai trò rất quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộckiểm toán. Kế hoạch kiểm toán giúp KTV thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và cógiá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về các BCTC, từ đó giúp KTV hạn chếnhững sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữvững được uy tín nghề nghiệp với khách hàng. Kế hoạch kiểm toán giúp KTV phối hợp hiệu quả với nhau cũng như phối hợphiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bênngoài… Đồng thời, qua sự phối hợp hiệu quả đó, KTV có thể tiến hành cuộc kiểm toántheo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnhSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 2
  3. 3. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traitranh cho công ty kiểm toán và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâudài. Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để công ty kiểm toán tránh xảy ra nhữngbất đồng với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, KTV thống nhất vớikhách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng nhưlà trách nhiệm của mỗi bên… Điều này tránh xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc giữa haibên. Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, KTV có thể kiểm soát vàđánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phần nâng cao chấtlượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt chặt hơn mối quan hệ giữa côngty kiểm toán với khách hàng.II.TRÌNH TỰ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂMTOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Công việc lập kế hoạch kiểm toán có ảnh hưởng quan trọng đến sự hữu hiệu vàtính hiệu quả của một cuộc kiểm toán BCTC. Theo VSA 300 – Lập kế hoạch kiểmtoán – “Kế hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán. Kế hoạch kiểmtoán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết khía cạnh trọngyếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tìm ẩn; và đảmbảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn”. Như vậy, lập kế hoạch là yêu cầubắt buộc đối với mọi cuộc kiểm toán, nó bao gồm các bước công việc sau: 1.Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán 1.1.Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán Theo VSA 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán – “Trong quá trìnhduy trì khách hàng hiện có và đánh giá khách hàng tiềm năng, công ty kiểm toán phảicân nhắc đến tính độc lập, năng lực phục vụ khách hàng của công ty kiểm toán và tínhchính trực của Ban quản lý của khách hàng” Do đó, khi được mời kiểm toán, để tránh rủi ro, công ty kiểm toán nên phân côngcho những KTV nhiều kinh nghiệm để nghiên cứu về khách hàng, xem việc chấp nhậnhay tiếp tục một khách hàng có làm tăng rủi ro cho hoạt động của KTV hay làm hạiđến uy tín và hình ảnh của công ty kiểm toán hay không? Để đưa ra quyết định trên,KTV cần xem xét những vấn đề sau: Tính độc lập của công ty kiểm toán Đây là một trong những tiêu chí hết sức quan trọng của một cuộc kiểm toán. Tínhđộc lập giữa công ty kiểm toán và khách hàng luôn được đề cao bởi các thông tin trênBCTC sau kiểm toán có ảnh hưởng và liên quan đến nhiều đối tượng vì vậy đòi hỏithông tin đó phải trung thực, hợp lý và khách quan. Việc tồn tại mối quan hệ đặc biệtgiữa KTV thực hiện với những người có liên quan đến bộ phận quản lý đơn vị củakhách hàng có thể sẽ làm sai lệch những thông tin phản ánh trên BCTC sau kiểm toán.Vì vậy tính độc lập của công ty kiểm toán là một yếu tố bắt buộc mà công ty kiểm toáncần chú ý khi quyết định chấp nhận hoặc duy trì một khách hàng. Khả năng phục vụ tốt khách hàng Trong một lĩnh vực phải chịu nhiều sự cạnh tranh như nghề kiểm toán, việc có vàgiữ được khách hàng tuy có những khó khăn, nhưng KTV vẫn cần thận trọng khi quyếtSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 3
  4. 4. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traiđịnh tiếp nhận khách hàng. Rủi ro mà công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm trướcpháp luật về những ý kiến của mình đưa ra là tương đối cao, do đó công ty cần nhìnnhận năng lực hiện tại của mình với từng đối tượng khách hàng, quy mô khách hàng,tính chất công việc để đưa ra quyết định thực hiện kiểm toán. KTV không nên nhận lờikiểm toán khi xét thấy không đủ năng lực phục vụ khách hàng bởi đây là một trongnhững yêu cầu cần thiết để công ty kiểm toán có thể cạnh tranh với các công ty kiểmtoán khác và duy trì hoạt động lâu dài của mình. Tính liêm chính của ban quản trị công ty khách hàng Tính liêm chính của ban quản trị rất quan trọng đối với quy trình kiểm toán. TheoVSA 400 – Đánh giá rủi ro và KSNB, tính liêm chính của ban quản trị là bộ phận cấuthành then chốt của môi trường kiểm soát, đây là nền tảng cho tất cả các bộ phận kháccủa hệ thống KSNB. Ban quản trị và ảnh hưởng của ban quản trị tới môi trường kiểmsoát được xem là nhân tố rủi ro ban đầu của việc báo cáo gian lận các thông tin tàichính bởi lẽ ban quản trị có thể phản ánh sai các nghiệp vụ hoặc dấu diếm các thông tindẫn tới các sai sót trọng yếu trên BCTC. Nếu ban quản trị thiếu liêm chính, KTVkhông thể dựa vào bất kỳ bản giải trình nào ban quản trị cũng như không thể dựa vàocác sổ kế toán. Nếu có những nghi ngại về tính liêm chính này, kiểm toán viê có thể từchối không thực hiện kiểm toán. Xem xét việc cung cấp đầy đủ bằng chứng về nghiệp vụ kinh tế phát sinh củahệ thống kế toán khách hàng Hệ thống kế toán của khách hàng phải cung cấp đầy đủ bằng chứng chứng minhcho các nghiệp vụ đã phát sinh và đảm bảo rằng tất cả các nghiệp vụ cần được ghi chépthì thực tế cũng đã được ghi lại. Theo VSA 500 – Bằng chứng kiểm toán, “ KTV vàcông ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơsở đưa ra ý kiến của mình về BCTC của đơn vị được kiểm toán”. Vì vậy, đây là yêucầu bắt buộc của KTV đối với việc đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán. Nhữngnghi ngại về hệ thống kế toán có thể làm cho KTV kết luận rằng khó có thể có bằngchứng tin cậy và đầy đủ để làm căn cứ cho ý kiến của KTV về các BCTC. Thỏa thuận phí kiểm toán đối với khách hàng Điều cuối cùng công ty kiểm toán quan tâm đó là việc xem xét thỏa thuận phíkiểm toán với khách hàng. Giữ chi phí ở mức hợp lý giúp cho công ty đủ sức cạnhtranh và do đó giữ được khách hàng nếu công ty đã có danh tiếng vì thực hiện côngviệc có chất lượng. Sau khi tìm hiểu các vấn đề trên, công ty kiểm toán có thể ra quyết định có chấpnhận hay tiếp tục thực hiện kiểm toán đối với một khách hàng nào đó hay không. Đểcó được những thông tin về các vấn đề cần quan tâm trên, KTV có những cách thứctìm hiểu khác nhau tùy theo đối tượng là khách hàng mới hay cũ mà công ty nhận kiểmtoán. 1.1.1.Đối với khách hàng mới Nếu khách hàng mới này trước đây đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toánkhác thì KTV kế tục (KTV mới) có thể liên lạc với KTV tiền nhiệm (KTV cũ) vì đâylà nguồn thông tin hữu ích để đánh giá khách hàng. Chuẩn mực kiểm toán yêu cầu,KTV kế tục phải liên lạc với KTV tiền nhiệm về những vấn đề liên quan đến đến việcSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 4
  5. 5. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc TraiKTV kế tục quyết định có chấp nhận hợp đồng kiểm toán hay không, đồng thời cần tìmhiểu lí do nghề nghiệp khiến cho KTV tiền nhiệm không thể tiếp tục công việc. Tráchnhiệm khởi xướng mối liên lạc thuộc về KTV kế tục. Tuy nhiên, cần phải được phépcủa khách hàng trước khi thành lập mối liên lạc đó vì quy định về tính bảo mật trongbộ Điều lệ đạo đức nghề nghiệp. Và mặc dù khách hàng đã chấp thuận điều đó thìKTV tiền nhiệm vẫn có thể hạn chế hoặc từ chối mối quan hệ này. Và khi đó, người kếtục phải xem xét một cách nghiêm túc khả năng thỏa đáng của việc chấp nhận một hợpđồng sắp tới, mà không cần việc điều tra đáng kể khác, nếu khách hàng không chophép sự liên lạc hoặc người tiền nhiệm không đáp ứng toàn diện. Đối với những khách hàng mà trước đây chưa từng được công ty kiểm toán nàokiểm toán thì để có được thông tin về khách hàng cần có cuộc điều tra khác. KTV cóthể thu thập thông tin thông qua sách báo, tạp chí, từ các luật sư địa phương, các côngty kiểm toán khác, ngân hàng, các bên có mối quan hệ tài chính buôn bán với kháchhàng… Trong một số trường hợp, KTV có thể thuê mướn các nhà điều tra chuyênnghiệp để thu thập thông tin về danh tiếng và trình độ căn bản của các thành viên chínhtrong ban quản trị. Cách thu thập tin tức này cũng có thể áp dụng trong trường hợpkhách hàng trước đây đã được kiểm toán bởi một công ty khác nhưng khách hàngkhông đồng ý cho KTV mới tiếp xúc với KTV cũ hoặc khi KTV tiền nhiệm khôngcung cấp đủ các thông tin cần thiết. 1.1.2.Đối với khách hàng cũ Hàng năm, sau khi hoàn thành kiểm toán, KTV cần cập nhật thông tin nhằm đánhgiá lại về các khách hàng hiện hữu, ví dụ có thể sẽ phát sinh những vấn đề mới, chẳnghạn xung đột về lợi ích, hoặc giữa đôi bên có sự mâu thuẫn về phạm vi kiểm toán, hoặcđang xảy ra tranh chấp giữa khách hàng và KTV, … Từ những thông tin thu được,KTV có thể cân nhắc đánh giá khả năng tiếp tục kiểm toán cho khách hàng. 1.2.Tìm hiểu lí do mời kiểm toán của khách hàng Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việcxác định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ. Việc xác địnhngười sử dụng BCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ là hai yếu tố chính ảnhhưởng đến số lượng bằng chứng phải thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến màKTV đưa ra trong báo cáo kiểm toán. Theo Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 về kiểm toán độc lập vàThông tư số 64/2004/TT-TC ngày 29/06/2004 của Bộ Tài chính, ở Việt Nam, hiện nayđối tượng kiểm toán bắt buộc khá rộng rãi, bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài; tổ chức có hoạt động tín dụng, ngân hàng và Quỹ hổ trợ phát triển; tổ chứctài chính và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm; các công ty cổ phần có yết giá trên thịtrường chứng khoán, các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn… Bên cạnh đó, do sựphát triển của nền kinh tế, số lượng các khách hàng tìm đến với công ty kiểm toán ngàycàng đa dạng hơn với nhiều mục đích khác nhau như: kiểm toán trước khi cổ phần hóa;kiểm toán khi giải thể, phá sản hoặc sáp nhập; kiểm toán để vay vốn ngân hàng hoặcđấu thầu; kiểm toán để phục vụ cho nhà quản lý doanh nghiệp… Do vậy, công ty kiểmtoán cần phải nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng để ra quyết định hợp lý trongviệc ký kết hợp đồng. Đồng thời, thông qua đó, công ty kiểm toán ước lượng được quySVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 5
  6. 6. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traimô phức tạp của công việc kiểm toán cần thực hiện, từ đó tạo điều kiện thuận lợi choviệc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán ở bước tiếptheo. 1.3.Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán được tiến hành dựa trên yêu cầu về sốngười, trình độ khả năng của KTV và yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật. Thông thườngnhóm kiểm toán có một hoặc hai trợ lý kiểm toán, một KTV cao cấp và một chủ nhiệmkiểm toán. Với các hợp đồng kiểm toán lớn cần bố trí các nhận viên có các mức độkinh nghiệm khác nhau và có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực thống kê,tin học… Còn với những hợp đồng kiểm toán nhỏ thì chỉ cần một hoặc hai nhân viênkiểm toán. Đoạn 12 VSA 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán, yêu cầu “Côngviệc kiểm toán phải được giao cho những cán bộ, nhân viên chuyên nghiệp được đàotạo và có đầy đủ kỹ năng và năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu thực tế”. Đâylà một trong những yếu tố cần thiết nhất mà công ty kiểm toán cần lưu ý khi lựa chọnđội ngũ nhân viên kiểm toán. Việc lựa chọn những KTV có kiến thức và kinh nghiệmphù hợp với yêu cầu thực tế của từng đơn vị khách hàng sẽ là một công cụ đắc lực giúpcuộc kiểm toán thành công. Bên cạnh đó, nhóm kiểm toán cần có những người có khảnăng giám sát thích đáng các nhân viên chưa có kinh nghiệm trong nghề. Ngoài ra, đốivới khách hàng lâu năm, một mặt, công ty kiểm toán nên hạn chế việc thường xuyênthay đổi KTV, nhằm giúp họ tích lũy được nhiều kinh nghiệm cũng như nắm vữngnhững nét đặc thù trong kinh doanh, duy trì được mối quan hệ mật thiết giữa hai bên…Mặt khác, công ty kiểm toán phải có chính sách luân chuyển KTV để tránh việc quáquen thuộc với khách hàng, dễ dẫn đến sức ỳ về tâm lý và kiểm tra theo lối mòn, hoặcmất đi tính khách quan, độc lập… 1.4.Ký kết hợp đồng kiểm toán Một sự hiểu biết rõ ràng về các điều kiện của hợp đồng phải có giữa khách hàngvà các công ty kiểm toán. Các điều kiện phải được viết ra để giảm thiểu tối đa sự hiểulầm. Đấy là mục đích của hợp đồng kiểm toán. “Hợp đồng kiểm toán là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia ký kết(công ty kiểm toán, khách hàng) về các điều khoản và điều kiện thực hiện kiểm toáncủa khách hàng và công ty kiểm toán, trong đó xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán,quyền và trách nhiệm của mỗi bên, hình thức báo cáo kiểm toán, thời gian thực hiệnvà các điều khoản về phí, về xử lý tranh chấp hợp đồng” (Đoạn 4 VSA 210 – Hợpđồng kiểm toán). Hợp đồng kiểm toán là cơ sở pháp lý để KTV thực hiện các bước tiếptheo của cuộc kiểm toán và có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý của KTV đốivới khách hàng, nó đảm bảo cho một cuộc kiểm toán được thực thi. Tại nhiều nước,KTV có thể gửi cho khách hàng “Thư hẹn kiểm toán”, sau khi khách hàng xác nhậnvào thư hẹn sẽ gửi lại cho KTV, nó có vai trò tương tự như một hợp đồng. VSA 210 –Hợp đồng kiểm toán – cho phép sử dụng thư hẹn kiểm toán trong một số trường hợpnhưng phải đảm bảo đầy đủ các điều khoản và nội dung của hợp đồng kiểm toán. Một hợp đồng kiểm toán cần có những nội dung chủ yếu sau:SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 6
  7. 7. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Mục đích và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu của cuộc kiểm toán là cái đích cần đạttới đồng thời là thước đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán cụ thể. Phạm vi kiểm toán làsự giới hạn về không gian, thời gian của đối tượng kiểm toán, thường được xác địnhcùng với việc xác định mục tiêu của cuộc kiểm toán. Trong cuộc kiểm toán BCTC,mục tiêu của cuộc kiểm toán thường là xác định tính trung thực và hợp lý của cácthông tin trên BCTC, còn phạm vi kiểm toán thường là toàn bộ BCTC của năm kếtthúc. Trách nhiệm của ban giám đốc công ty khách hàng và KTV: Ban giám đốc cótrách nhiệm lập và trình bày trung thực các thông tin trên BCTC. KTV có trách nhiệmđưa ra ý kiến độc lập về BCTC dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán. Ngoài ra, công tykhách hàng còn có trách nhiệm cung cấp các tài liệu và thông tin liên quan đến côngviệc kiểm toán cho KTV. Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: Kết quả kiểm toán thường được biểu hiệncụ thể dưới một báo cáo kiểm toán và có kèm một thư quản lý trong đó nêu rõ nhữngkhuyết điểm của hệ thống KSNB hoặc những gợi ý sửa chữa những khiếm khuyết này. Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán: Phần này nêu rõ thời gian thực hiện kiểmtoán sơ bộ, kiểm toán chính thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáokiểm toán. Căn cứ tính và hình thức thanh toán phí kiểm toán: Phí kiểm toán thường đượcxác định căn cứ vào thời gian làm việc của các cấp bậc KTV khác nhau trong cuộckiểm toán. Xác định rằng KTV không chịu trách nhiệm những sai sót do bản chất và hạnchế vốn có của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB. Sau khi hai bên ký kết và đã hoàn tất mọi thủ tục pháp lý cần thiết, công ty kiểmtoán chính thức trở thành KTV của đơn vị. 2.Lập kế hoạch kiểm toán 2.1.Thu thập thông tin chung về khách hàng 2.1.1.Nội dung thông tin Khi đã trở thành KTV đương nhiệm của khách hàng, KTV chuyển sang việc lậpkế hoạch kiểm toán. Để có thể xây dựng và thực hiện kế hoạch và chương trình kiểmtoán hữu hiệu và hiệu quả, trước hết KTV phải có hiểu biết đầy đủ về khách hàng.VSA 300 – Hợp đồng kiểm toán – quy định, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán,KTV cần thu thập những thông tin sau: Ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng, bao gồm: ♦Những hiểu biết chung về nền kinh tế như thực trạng nền kinh tế, mức độ lạmphát, các chính sách của Chính phủ… ♦Hiểu biết về môi trường kinh doanh và lĩnh vực kinh doanh của đơn vị đượckiểm toán như tình hình thị trường và cạnh tranh, các đặc điểm ngành nghề kinhdoanh, các chuẩn mực, chế độ kế toán cũng như các quy định khác của luật pháp cóliên quan đến ngành nghề… ♦Hiểu biết về cơ cấu sản xuất kinh doanh và quản lý, cơ cấu vốn của đơn vịkhách hàng. Hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của khách hàng.SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 7
  8. 8. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Các bên liên quan với khách hàng. Theo VSA 550 – Các bên liên quan – “Các bên được coi là liên quan nếu mộtbên có khả năng kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc raquyết định tài chính và hoạt động”. Như vậy, các bên liên quan có thể được hiểu là cácbộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty khách hàng hay bất kì côngty chi nhánh, một cá nhân hay tổ chức nào mà công ty khách hàng có quan hệ và các cánhân tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới cácchính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của công ty khách hàng. Hình thức sở hữu và nghĩa vụ pháp lý của khách hàng. 2.1.2.Phương pháp tìm hiểu Để đạt được những hiểu biết trên, ngoài các thông tin có thể thu thập từ bênngoài, KTV có thể thu thập thông tin từ nội bộ đơn vị. a.Trao đổi với kiểm toán viên tiền nhiệm, xem xét lại kết quả của cuộckiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán chung Hồ sơ kiểm toán hầu hết đều có các bản sao của các tài liệu như sơ đồ tổ chức,điều lệ công ty, các bảng kê, chính sách tín dụng, chính sách kế toán… Qua đó KTVkhông những tìm thấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của kháchhàng, có thể xác định được những quyết định của nhà quản lý có phù hợp với pháp luậtNhà nước và chính sách hiện hành của công ty không mà còn giúp KTV hiểu được bảnchất của các số liệu cũng như biến động của chúng trên BCTC được kiểm toán. b.Thu thập và nghiên cứu các tài liệu về tình hình kinh doanh của đơn vị Việc nghiên cứu những tài liệu này giúp KTV có nhiều thông tin hữu ích về tìnhhình kinh doanh để xem xét ảnh hưởng của chúng đối với BCTC của đơn vị. Dưới đâylà một số tài liệu cần thu thập và sử dụng: Giấy phép thành lập và điều lệ công ty. Giấy phép thành lập là tài liệu pháp lý chứng minh tư cách pháp nhân của đơn vị,giúp KTV hiểu mục tiêu hoạt động, các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị. Điều lệ công ty giúp KTV hiểu và xem xét về nhiều vấn đề như cơ cấu tổ chức,thể lệ họp cổ đông, thủ tục phát hành cổ phần, thể thức về công bố cổ tức, lập các quỹdự trữ… Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành haytrong vài năm trước. BCTC giúp KTV nhận thức tổng quát, phân tích và đánh giá xu hướng phát triểncủa đơn vị thông qua các dữ kiện về tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng lưuchuyển tiền tệ của đơn vị. Các báo cáo kiểm toán, kiểm tra, thanh tra giúp KTV hiểu rõ hơn về hiện trạng vàdự kiến phương hướng kiểm tra. Biên bản các cuộc họp Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị (hay Hội đồng thànhviên) và ban giám đốc.. Đây là các tài liệu tóm tắt về những vấn đề quan trọng đã được thảo luận và quyếtđịnh trong những cuộc họp như quyết định về cổ tức, việc hợp nhất, giải thể các đơn vịtrực thuộc, xét duyệt việc mua bán các tài sản quan trọng, cho phép vay dài hạn… Quanghiên cứu, KTV sẽ xác định được những dữ kiện có thể ảnh hưởng đến các thông tinSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 8
  9. 9. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traitrên BCTC. Các bản sao biên bản và những thông tin thu thập từ biên bản cần được ghichép và lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán. Các hợp đồng và cam kết quan trọng. Việc xem xét các hợp đồng và cam kết quan trọng (như hợp đồng mua bán hàng,sử dụng bản quyền) sẽ giúp KTV tiếp cận với những hoạt động của khách hàng, giúphình dung những khía cạnh pháp lý có thể ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quảhoạt động kinh doanh của đơn vị. Các nội quy, chính sách của công ty khách hàng. Một số nội quy, chính sách của khách hàng như chính sách nhân sự, tiếp thị, tíndụng… là một trong những nguồn thông tin giúp KTV đạt được sự hiểu biết về hệthống KSNB của khách hàng. Một số tài liệu khác. KTV cũng cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như các văn bản luật, chếđộ, chính sách của Nhà nước có liên quan đến môi trường kinh doanh và lĩnh vực hoạtđộng của doanh nghiệp; các tạp chí chuyên ngành, niên giám thống kê; báo chí,Internet và các phương tiện thông tin đại chúng khác… c.Tham quan đơn vị Để tận mắt quan sát về hoạt động của khách hàng, KTV cần phải tham quan nhàxưởng, kho tàng, cửa hàng, văn phòng làm việc… của đơn vị. Điều này rất hữu ích vìsẽ giúp KTV bước đầu hình dung về hoạt động của phân xưởng, cửa hàng, về sảnphẩm dở dang, về thiết bị… nhờ đó KTV hiểu hơn về tình hình hoạt động thực tế củakhách hàng; hiểu khái quát về phương thức sử dụng và bảo vệ tài sản, sơ bộ về đánhgiá KSNB và giúp cho KTV phân tích và xác định trọng tâm cuộc kiểm toán. d.Phỏng vấn KTV yêu cầu đơn vị cử người có thẩm quyền để trình bày về tình hình của đơn vị,về hệ thống KSNB, chính sách kinh doanh, cơ cấu tổ chức… Ngoài ra, trong quá trìnhtham quan đơn vị, KTV có thể trực tiếp trao đổi với những cán bộ chủ chốt tại các bộphận. Qua những cuộc tiếp xúc trên, ngoài việc tìm hiểu về phương diện chuyên môn,KTV cũng có dịp đánh giá sơ bộ về năng lực, phẩm chất của đội ngũ nhân viên đơn vị. 2.2.Thực hiện thủ tục phân tích Phân tích là một thủ tục quan trọng trong kiểm toán. Thủ tục phân tích, theo địnhnghĩa của VSA 520 – Quy trình phân tích – “là việc phân tích các số liệu, thông tin,các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mốiquan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn hơnso với giá trị đã dự kiến”. Thủ tục phân tích cũng bao gồm xem xét các mối quan hệgiữa các thông tin tài chính với nhau, giữa các thông tin tài chính với các thông tin phitài chính. Do rất hiệu quả, thủ tục này được KTV sử dụng trong suốt quá trình kiểmtoán. Sau khi đã thu thập các thông tin chung về khách hàng, KTV tiến hành thực hiệncác thủ tục phân tích đối với các thông tin đã thu thập. Trong giai đoạn này, chủ yếuKTV phân tích báo cái tài chính của đơn vị khách hàng. Ngoài bước đầu giúp KTVhiểu rõ hơn về nội dung các BCTC và tình hình hoạt động của khách hàng, thủ tụcphân tích còn giúp phát hiện những biến động bất thường từ đó giúp dự đoán về nhữngSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 9
  10. 10. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traikhu vực có rủi ro cao. Ngoài ra, thông qua phân tích sơ bộ tình hình tài chính (nhất làkhả năng thanh toán), KTV còn xem xét thêm liệu giả định hoạt động liên tục củakhách hàng có bị vi phạm hay không? Đánh giá ban đầu về giả định này sẽ là cơ sở đểKTV quyết định có thực hiện các thủ tục xác minh cần thiết hay không? Cuối cùng,các thủ tục phân tích sử dụng cho việc lập kế hoạch kiểm toán còn nhằm mục đích hỗtrợ cho việc lập kế hoạch về bản chất, thời gian và nội dung các thủ tục kiểm toán sẽđược sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán. Việc xây dựng thủ tục phân tích bao gồm một số bước đặc thù như xác định mụctiêu, thiết kế các cuộc khảo sát, tiến hành khảo sát, phân tích kết quả và đưa ra kết luận.Các thủ tục phân tích được KTV sử dụng gồm hai loại cơ bản là phân tích ngang vàphân tích dọc Phân tích ngang là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng mộtchỉ tiêu trên BCTC như so sánh các số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc giữa cáckỳ với nhau, so sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ước tính của KTV,so sánh dữ kiện của công ty khách hàng với dữ kiện của ngành. Phân tích dọc là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan củacác chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC. Các tỷ suất tài chính thường dùngtrong phân tích dọc có thể là các tỷ suất về khả năng thanh toán, các tỷ suất về khảnăng sinh lời… Như vậy, qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch,KTV có thể xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán BCTC. Mức độ, phạm vi vàthời gian áp dụng các thủ tục phân tích thay đổi tùy thuộc vào quy mô và tính phức tạptrong hoạt động kinh doanh của khách hàng. 2.3.Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán 2.3.1.Xác lập mức trọng yếu a.Khái niệm trọng yếu “Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay độ lớn) và bản chất của các sai phạm (kểcả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ, hoặc là từng nhóm mà trong bốicảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc sẽrút ra kết luận sai lầm” (Đoạn 4 VSA 320 – Tính trọng yếu trong kiểm toán). Sai lệch chỉ được xem là trọng yếu khi có ảnh hưởng quan trọng đến BCTC vàquyết định của người sử dụng BCTC. Mức độ trọng yếu tùy thuộc vào tầm quan trọngvà tính chất của các sai phạm được đánh giá trong những hoàn cảnh cụ thể. Mức trọngyếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cầnphải có. Sai lệch có thể là trọng yếu bởi số tiền (tiêu chuẩn định lượng) hoặc do bảnchất của vấn đề (tiêu chuẩn định tính), vì thế KTV cần xem xét cả hai khía cạnh này: Về mặt định lượng, được gọi là trọng yếu khi sai lệch trên BCTC cao hơn một sốtiền nhất định và có thể gây ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTC. Về mặt định tính, KTV phải nhận thức rằng có những trường hợp tuy sai lệch cógiá trị thấp nhưng do bản chất của nó nên có thể vẫn gây ảnh hưởng đến quyết định củangười sử dụng BCTC, ví dụ như sai phạm có tác động dây chuyền và gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến BCTC, các gian lận luôn được xem là quan trọng hơn các sai sót vớimột quy mô tiền tệ, hay các sai phạm làm ảnh hưởng đến thu nhập…SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 10
  11. 11. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai b.Vận dụng khái niệm trọng yếu trong kiểm toán Trong kiểm toán BCTC, do một số hạn chế nhất định nên KTV không thể pháthiện được mọi sai lệch trong BCTC. Tuy nhiên, KTV phải đảm bảo hợp lý rằng sailệch nếu còn tồn tại trên BCTC đã kiểm toán sẽ không gây ảnh hưởng trọng yếu. Đểđạt được điều này, trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV cần phải xác lập mức trọng yếu.Việc xác lập mức trọng yếu sẽ giúp KTV ước tính mức độ sai sót của BCTC có thểchấp nhận được, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của cácsai sót lên BCTC, từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi các thử nghiệm kiểmtoán. c.Quy trình đánh giá mức trọng yếu Hình 1: Quy trình đánh giá mức trọng yếu Ước tính ban đầu về mức trọng yếu đối với toàn bộ BCTC Phân bổ mức trọng yếu ban đầu cho các khoản mục, các bộ phận của BCTC So sánh mức sai sót dự kiến với mức sai sót chấp nhận được của từng khoản mục Tổng hợp sai sót dự kiến của tất cả các khoản mục của BCTC So sánh tổng sai sót dự kiến với tổng mức trọng yếu ước tính ban đầu hoặc được điều chỉnh Bước 1: Ước tính ban đầu về mức trọng yếu đối với toàn bộ BCTC Ở mức độ tổng thể của BCTC, KTV phải ước tính toàn bộ sai lệch có thể chấpnhận được để đảm bảo rằng BCTC không có sai lệch trọng yếu. Việc ước tính ban đầuvề mức trọng yếu giúp cho KTV lập kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán thíchhợp. Đây là một việc làm mang tính xét đoán nghề nghiệp của KTV. Do đó, ước tínhban đầu về mức trọng yếu không cố định mà có thể thay đổi trong suốt cuộc kiểm toánnếu KTV thấy rằng mức ước tính đó là quá cao hoặc quá thấp hoặc một trong các nhântố dùng để xác định mức ước tính ban đầu bị thay đổi.SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 11
  12. 12. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Khi xác định mức ước tính ban đầu về mức trọng yếu cho tổng thể, KTV cần phảichú ý đến quy mô công ty khách hàng, bởi một sai sót với quy mô nhất định có thể làtrọng yếu đối với công ty nhỏ nhưng không trọng yếu đối với một công ty lớn. Do đóviệc xây dựng mức ước tính ban đầu để áp dụng cho tất cả các khách hàng là một điềukhông thể làm được. Ngoài ra, cần phải chú ý đến yếu tố định lượng và định tính củatính trọng yếu hay nói cách khác KTV cần chú ý tới cơ sở để đánh giá tính trọng yếu làgì và bản chất của các sai sót xảy ra trên BCTC. Mặc dù ước tính ban đầu về mức trọng yếu là một xét đoán nghề nghiệp mangtính chủ quan của KTV song trên thực tế mỗi công ty kiểm toán sẽ có một phươngpháp riêng để hỗ trợ cho KTV của mình trong việc ước tính ban đầu về mức trọng yếu.Sau đây là một số cách xác định mức trọng yếu:Bảng 1: (Gay & Simnett 2003, Auditing and assurance service) Cơ sở xác định mức trọng yếu Tỷ lệ xác định mức trọng yếuLợi nhuận sau thuế 5% - 10%Tổng doanh thu 0,5% - 1%Tổng tài sản 0,5% - 1%Vốn chủ sở hữu 1% - 2%Bảng 2: Vị trí của khoản Không trọng yếu Có thể trọng yếu Chắc chắn trọng mục yếu Báo cáo kết quả <5% lợi nhuận Từ 5% - 10% lợi >10% lợi nhuận kinh doanh trước thuế nhuận trước thuế trước thuế Bảng cân đối kế <10% tổng tài sản Từ 10% - 15% >15% tổng tài sản toán tổng tài sản Bước 2: Phân bổ mức trọng yếu ban đầu cho các khoản mục, các bộ phận củaBCTC Sau khi đã có ước tính ban đầu về mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC, KTV cầnphân bổ mức ước ước tính này cho từng khoản mục trên BCTC. Đó chính là sai số cóthể chấp nhận được của từng khoản mục. Mục đích của việc phân bổ mức trọng yếuban đầu cho các khoản mục là nhằm giúp KTV xác định số lượng bằng chứng kiểmtoán thích hợp với từng khoản mục, đồng thời đảm bảo tổng hợp các sai sót trên BCTCkhông vượt quá mức trọng yếu. Việc phân bổ được thực hiện theo cả hai chiều khaikhống và khai thiếu, tập trung vào các tài khoản trên bảng cân đối tài sản do hầu hếtcác thủ tục KTV tập trung vào các tài khoản này. Tùy theo bản chất của khoản mục, rủiro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục mà theokinh nghiệm kiểm toán của mình, KTV tiến hành thực hiện phân bổ. Trong thực tế rất khó dự đoán về khả năng xảy ra sự sai sót cũng như chi phíkiểm toán cho từng khoản mục nên công việc này mang tính chủ quan và đòi hỏi sự xétđoán nghề nghiệp của KTV. Do vậy hầu hết các công ty kiểm toán thường phân côngcác KTV có trình độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm để thực hiện công việc này. Bước 3: So sánh mức sai sót dự kiến với mức sai sót chấp nhận được của từngkhoản mục.SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 12
  13. 13. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai KTV áp dụng kỹ thuật chọn mẫu, lấy mẫu kiểm tra nhằm xác định sai phạm củamẫu, từ đó ước tính mức sai sót của từng khoản mục, gọi là sai sót dự kiến. KTV sẽ sosánh mức sai sót dự kiến này với mức sai sót có thể chấp nhận được của từng khoảnmục và đưa ra quyết định có chấp nhận hay không chấp nhận số liệu sổ sách hoặc tiếptục thu thập thêm bằng chứng kiểm toán. Bước 4: Tổng hợp sai sót dự kiến của tất cả các khoản mục của BCTC. Bước 5: So sánh tổng sai sót dự kiến với tổng mức trọng yếu ước tính ban đầuhoặc được điều chỉnh. Trên cơ sở kết quả so sánh này, KTV sẽ đánh giá xem tổng sai sót dự kiến đó cóvượt qua mức chấp nhận được hay không? Và tùy từng trường hợp, KTV sẽ yêu cầuđơn vị điều chỉnh số liệu hoặc thực hiện thêm các thủ tục kiểm toán hoặc đưa ra ý kiếnvề BCTC đó. 2.3.2.Đánh giá rủi ro kiểm toán Khả năng để KTV nhận xét không xác đáng về BCTC là điều luôn có thể xảy ra.Vấn đề đặt ra là phải tìm cách giới hạn khả năng đó ở mức độ chấp nhận được. Vì vậyngay từ giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, KTV cần phải đánh giá rủi ro kiểm toán để điềuchỉnh các thủ tục kiểm toán một cách thích hợp sao cho rủi ro này giảm xuống ở mứcthấp nhất có thể. a.Khái niệm về rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xétkhông xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng. Nhữngnhận xét không xác đáng chủ yếu theo hướng KTV sẽ kết luận là các BCTC được trìnhbày trung thực hợp lý, do đó công bố một ý kiến chấp nhận hoàn toàn trong khi chúngbị sai sót trọng yếu. Rủi ro này xuất phát từ các sai lệch tìm ẩn trong BCTC nhưngkhông được hệ thống KSNB của đơn vị ngăn chặn hay phát hiện và KTV cũng khôngtìm ra. Để nghiên cứu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán, ngườita phân chia rủi ro kiểm toán thành ba bộ phận là rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát vàrủi ro phát hiện. b.Các bộ phận của rủi ro kiểm toán Rủi ro tiềm tàng Rủi ro tiềm tàng là xác suất tồn tại các sai phạm trọng yếu trong BCTC khi chưacó sự tác động của bất kỳ hoạt động kiểm tra nào. Rủi ro tiềm tàng bắt nguồn từ hoạtđộng hay môi trường kinh doanh, hoặc do bản chất của khoản mục hay nghiệp vụ.Ngoài những nhân tố trên thì tính trung thực, trình độ và kinh nghiệm của người quảnlý cũng ảnh hưởng đến rủi ro toàn bộ BCTC. Như vậy, rủi ro tiềm tàng là rủi ro sẵn có,KTV không tạo ra và cũng không kiểm soát được chúng. Do đó, dựa vào xét đoánchuyên môn của mình, KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng cả trên phương diện BCTC lẫntrên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ. Rủi ro kiểm soát Rủi ro kiểm soát là xác suất hệ thống KSNB của đơn vị không phát hiện và ngănchặn kịp thời các gian lận và sai sót trọng yếu trên BCTC. Rủi ro kiểm soát sẽ luônxuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế cố hữu của bất kỳ hệ thống KSNB nào.Riêng các đơn vị xử lý số liệu trong môi trường tin học, tuy có những thuận lợi như sẽSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 13
  14. 14. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traiít gặp sai lầm trong tính toán, số tổng cộng và số dư được cập nhập thường xuyên, tiếtkiệm thời gian, nhân lực… nhưng bên cạnh đó lại xuất hiện rủi ro kiểm soát khác vớimôi trường thủ công như việc lập trình sai sẽ gây tác động dây chuyền đến các số liệukhác khi xử lý tự động hay việc bảo mật không tốt dẫn đến việc người ngoài thâm nhậpvào hệ thống thông tin… Rủi ro phát hiện Rủi ro phát hiện là xác suất công việc kiểm toán của KTV không phát hiện đượccác sai lệch trọng yếu trên BCTC. Rủi ro phát hiện có nguyên nhân bắt nguồn trực tiếptừ nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản đã được thực hiện, mứcđộ tuân thủ các chuẩn mực và nguyên tắc kiểm toán. Cần chú ý rằng rủi ro phát hiệnvẫn có thể xảy ra dù đã kiểm tra 100% số dư và nghiệp vụ, vì có thể KTV đã lựa chọnvà áp dụng các phương pháp kiểm toán không phù hợp, hoặc giải thích sai, hay nhậnđịnh sai về kết quả kiểm tra. Hình 2: Rủi ro kiểm toán và các bộ phận rủi ro cấu thành Rủi ro tiềm tàng Có sai lầm cụ thể nào hay không? Có Hệ thống KSNB có phát hiện được hay không? Không Rủi ro kiểm soát KTV phát hiện được bằng các thủ tục kiểm toán hay không? Không Rủi ro phát hiện Ý kiến sai c.Mối quan hệ giữa các loại rủi ro Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát khác với rủi ro phát hiện bởi cho dù có tiếnhành kiểm toán hay không, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát vẫn tồn tại trong hoạtđộng và môi trường kinh doanh của đơn vị, trong bản chất của những số dư tài khoản,hay các loại nghiệp vụ. Ngược lại, rủi ro phát hiện có thể được kiểm soát bởi KTV.Tùy theo tình hình của đơn vị, KTV sẽ điều chỉnh nội dung, thời gian và phạm vi củacác thử nghiệm cơ bản để đạt được mục đích cuối cùng là rủi ro kiểm toán được giảmxuống đến mức chấp nhận được với chi phí hợp lý.SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 14
  15. 15. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và các thành phần của rủi ro kiểm toán đượcthể hiện qua công thức sau: AR = IR x CR x DRTrong đó: AR là rủi ro kiểm toán IR là rủi ro tiềm tàng CR là rủi ro kiểm soát DR là rủi ro phát hiện Dựa vào mối quan hệ của các loại rủi ro trên, khi lập kế hoạch kiểm toán, KTVxác định rủi ro kiểm toán mong muốn. Mức rủi ro kiểm toán mong muốn này quyếtđịnh khối lượng công việc kiểm toán cần thực hiện. Sau đó, KTV lần lượt đánh giá rủiro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Việc đánh giá hai loại rủi ro này phụ thuộc vào kinhnghiệm và khả năng xét đoán của KTV. Sau khi xác định ba chỉ tiêu trên, KTV có thểxác định được rủi ro phát hiện DR = DAR / (IR x CR)Trong đó: DAR là rủi ro kiểm toán mong muốn Các loại rủi ro kiểm toán có thể được đánh giá cụ thể bằng các con số theo tỷ lệphần trăm hoặc được đánh giá một cách khái quát theo yếu tố định tính như “thấp”,“trung bình”, “cao”. Trong VSA 400 – Đánh giá rủi ro và KSNB, mối quan hệ giữa cácloại rủi ro được xác lập bằng một bảng dưới dạng ma trận nhằm xác định rủi ro pháthiện như sau: Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát Cao Trung bình Thấp Đánh giá của Cao Tối thiểu Thấp Trung bình KTV về rủi ro Trung bình Thấp Trung bình Cao tiềm tàng Thấp Trung bình Cao Tối đa Trong cả hai cách trình bày trên cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa rủi ro tiềmtàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Rủi ro phát hiện luôn tỷ nghịch với rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát và khi đó số lượng bằng chứng kiểm toán sẽ có quan hệtỷ lệ thuận với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. d.Vận dụng khái niệm rủi ro kiểm toán Khái niệm này được vận dụng trong kiểm toán BCTC nhằm giúp KTV kiểm soátrủi ro này trong giới hạn cho phép. Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, KTV cần đánhgiá rủi ro kiểm toán, bao gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát nhằm xác định mứcrủi ro phát hiện phù hợp, trên cơ sở đó thiết kế các thử nghiệm cơ bản thích hợp để rủiro kiểm toán sau cùng sẽ nằm trong giới hạn cho phép. Đối với các khoản mục mà rủiro phát hiện chấp nhận được là thấp, KTV cần tăng cường thử nghiệm chi tiết, mở rộngcỡ mẫu… Ngược lại, đối với khoản mục có thể cho phép mức rủi ro phát hiện cao,KTV có thể giảm bớt các thử nghiệm cơ bản và giảm cỡ mẫu để tăng tính hiệu quả. e.Đánh giá rủi ro kiểm toán Bao gồm các bước sau: Bước 1: Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn (DAR).SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 15
  16. 16. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Mức rủi ro này được xác định phụ thuộc vào hai yếu tố là mức độ người sử dụngtin tưởng vào BCTC và khả năng khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi báocáo kiểm toán được công bố. Bởi vì khi người sử dụng bên ngoài đặt niềm tin vào cácBCTC lớn thì mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu có sai sót khôngđược phát hiện trên BCTC. Còn nếu khả năng khách hàng gặp khó khăn về tài chínhsau khi báo cáo kiểm toán công bố càng cao thì KTV cần phải thiết lập một mức rủi rokiểm toán mong muốn thấp hơn so với khách hàng không gặp khó khăn về tài chính.Do đó, trong các trường hợp trên, KTV cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từđó tăng số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập và tăng độ chính xác trong các kếtluận đưa ra của mình. Bước 2: Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát ♦Khi đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV phải xem xét một số yếu tố chủ yếu sau: −Bản chất công việc kinh doanh của khách hàng: Rủi ro tiềm tàng thường tăng lênbởi những đặc thù ngành nghề kinh doanh mà nó có thể tạo nên những khó khăn chokiểm toán hoặc những khoản không chắc chắn do đó có thể làm tăng những gian lậnhoặc những sai sót trên BCTC. −Tính liêm chính của ban quản trị: Khi ban quản trị bị khống chế bởi một hoặc mộtsố ít cá nhân thiếu tính liêm chính, khả năng các BCTC bị báo cáo sai nghiêm trọngtăng lên rất cao. −Kết quả các lần kiểm toán trước: Những sai sót được tìm thấy trong lần kiểm toánnăm trước có khả năng cao sẽ xuất hiện trở lại trong lần kiểm toán năm nay. Lý do vìnhiều sai phạm có tính hệ thống và các đơn vị thường chậm chạp trong việc tiến hànhcác thay đổi để sữa chửa chúng. −Hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn: Các KTV sẽ thu thậpđược kinh nghiệm và kiến thức về khả năng sai sót khi kiểm toán một khách hàngtrong vài năm. Hầu hết KTV xây dựng một mức rủi ro tiềm tàng cao trong năm đầutiên kiểm toán và giảm dần trong các năm sau khi họ đã có kinh nghiệm. −Các bên đối tác có liên quan: Những nghiệp vụ giữa đơn vị với các bên đối tác cóliên quan không phải là xảy ra giữa hai thành phần độc lập với nhau do đó có khả năngrất lớn tồn tại các báo cáo sai của họ, mà điều này sẽ khiến cho rủi ro vốn có tăng lên. −Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên: Các nghiệp vụ này có khả năng bị vàosổ sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày do khách hàng thiếu kinh nghiệmtrong hạch toán các nghiệp vụ đó. −Các ước tính kế toán: Việc vào sổ đúng đắn các khoản mục phản ánh các ước tínhkế toán luôn đòi hỏi cả kiến thức lẫn kỹ năng về bản chất của khoản mục đó và lýthuyết kế toán liên quan, do đó rủi ro tiềm tàng liên quan đến số dư tài khoản và cácnghiệp vụ này luôn luôn cao. −Số lượng tiền của các số dư tài khoản: Các tài khoản có số dư bằng tiền lớn thườngđược đánh giá là rủi ro cố hữu cao hơn so với tài khoản có số dư bằng tiền nhỏ. ♦Đánh giá rủi ro kiểm soát thực chất là quá trình đánh giá tính hiệu quả của hệthống kiểm soát nộ bộ đối với việc phát hiện và ngăn chặn các gian lận và sai sótnghiêm trọng trên BCTC. Khi hệ thống KSNB được thiết kế không phù hợp, hay hoạtđộng không có hiệu quả thì khi đó rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao. Rủi roSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 16
  17. 17. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traikiểm soát sẽ luôn xuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế cố hữu của bất kỳ hệthống KSNB nào. Quy trình tìm hiểu hệ thống KSNB sẽ được trình bày ở mục 2.4. Bước 3: Xác định mức rủi ro phát hiện chấp nhận được Sau khi thực hiện xong hai bước trên, KTV sẽ xác định rủi ro phát hiện thông quacông thức: DR = DAR / (IR x CR) Khi xác định rủi ro kiểm toán, KTV phải đánh giá rủi ro ở hai mức độ là tổng thểBCTC và từng khoản mục. Ở mức độ toàn bộ BCTC, việc đánh giá rủi ro kiểm toánđược tiến hành dựa trên những thông tin thu thập được về đặc điểm và tình hình kinhdoanh, kinh nghiệm kiểm toán, các nhân tố về rủi ro ở mức độ BCTC. Ở mức độ khoảnmục, việc đánh giá này trước hết sẽ chịu ảnh hưởng của mức rủi ro đã được đánh giáđối với toàn bộ BCTC. Sau đó, KTV dựa trên hiểu biết của mình về tình hình kinhdoanh cũng như tính chất của khoản mục để đánh giá mức rủi ro của từng khoản mục. 2.3.3.Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán Theo ISA 320 về tính trọng yếu trong kiểm toán, mức độ trọng yếu và rủi ro kiểmtoán có mối quan hệ ngược chiều nhau, nghĩa là nếu tăng mức sai sót có thể chấp nhậnđược thì khả năng có sai lệch trọng yếu sẽ giảm và nếu giảm mức sai sót có thể chấpnhận được thì lúc đó rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên. Trong quá trình kiểm toán, KTV phảiluôn đồng thời xem xét tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán để hạn chế đến mức chấpnhận được những sai lệch trọng yếu có thể xảy ra. 2.4.Đánh giá sơ bộ hệ thống KSNB 2.4.1.Khái niệm hệ thống KSNB Đoạn 10 VSA 400 – Đánh giá rủi ro và KSNB – định nghĩa: “Hệ thống KSNB làcác qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụngnhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các qui định, để kiểm tra, kiểm soát,ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập BCTC trung thực và hợp lý; nhằm bảovệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”. KSNB là một chức năngthường xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trongtừng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả mụctiêu đặt ra của đơn vị. Hệ thống KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kếtoán và các thủ tục kiểm soát. 2.4.2.Mục đích tìm hiểu hệ thống KSNB Nghiên cứu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát là một phần việc hết sứcquan trọng mà KTV phải thực hiện trong một cuộc kiểm toán. Và điều này đã đượcquy định trong VSA 400 – Đánh giá rủi ro và KSNB – “KTV phải có đủ hiểu biết về hệthống kế toán và kiểm soát và hệ thống KSNB của khách hàng để lập kế hoạch kiểmtoán tổng thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả” và “trong phạm vikiểm toán BCTC, KTV chủ yếu quan tâm đến các chính sách, thủ tục của hệ thống kếtoán và hệ thống KSNB có liên quan đến cơ sở dẫn liệu của BCTC”. Việc tìm hiểu hệthống KSNB nhằm mục đích: Giúp KTV nhận diện, đánh giá được những điểm mạnh và điểm yếu của hệ thốngKSNB nói chung, cũng như trong từng bộ phận, từng khoản mục. Trên cơ sở hiểu biết về KSNB, KTV hình dung về khối lượng và độ phức tạp củacông việc, đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát. Từ đó KTV xác định được phươngSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 17
  18. 18. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traihướng, phạm vi kiểm tra, thiết kế các thủ tục kiểm toán, dự kiến về thời gian và lựclượng nhân sự cần thiết trong kế hoạch và chương trình kiểm toán. 2.4.3.Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ a.Nội dung tìm hiểu KTV cần phải có sự hiểu biết đầy đủ về các bộ phận hợp thành hệ thống KSNBđể phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm toán. Sự hiểu biết này bao gồm hai phươngdiện, đó là hệ thống KSNB có được thiết kế phù hợp không, và chúng có được đơn vịthực hiện trên thực tế hay không. Tìm hiểu môi tường kiểm soát: KTV cần có đầy đủ kiến thức để hiểu biết về cácnhân tố trong môi trường kiểm soát, trong đó chủ yếu là hiểu biết về thái độ, nhậnthức, và hành động có liên quan đến môi trường kiểm soát của nhà quản lý. KTV cầntập trung vào thực chất, nội dung của các quá trình kiểm soát hơn là hình thức củachúng. Tìm hiểu hệ thống kế toán: Thông thường, để tìm hiểu hệ thống kế toán KTV sẽphân chia hệ thống thành những chu trình nghiệp vụ chủ yếu. Để tìm hiểu, KTV cầntheo trình tự sau: −Tìm hiểu các loại nghiệp vụ chính trong đơn vị. −Xem xét việc xử lý các nghiệp vụ: cách thức ghi nhận, những sổ sách kế toán có liênquan, các phương pháp xử lý nghiệp vụ… −Tìm hiểu tiến trình lập BCTC, bao gồm cả các chính sách kế toán và phương phápxác định các ước tính kế toán. Tìm hiểu các thủ tục kiểm soát: KTV cần tìm hiểu xem các quy chế và thủ tục doban lãnh đạo đơn vị thiết lập và chỉ đạo thực hiện có được thực hiện hay không và nếuthực hiện thì có thực hiện hiệu quả hay không. Đồng thời KTV xem xét những thủ tụcđó có phù hợp với các mục tiêu kiểm soát đặt ra hay không. Bên cạnh đó, KTV cần cânnhắc kết quả đạt được trong quá trình tìm hiểu về những yếu tố khác của hệ thốngKSNB nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí. Bởi vì KTV có thể đã có những hiểu biết vềcác thủ tục kiểm soát thông qua các quá trình tìm hiểu trên. b.Cách thức tìm hiểu KTV có thể tìm hiểu bằng các phương pháp: Trao đổi với những người quản lý và nhân viên đơn vị: Công việc này giúp KTVthu thập được các thông tin ban đầu (đối với khách hàng mới) hoặc nắm bắt nhữngthay đổi trong hệ thống KSNB của khách hàng (đối với khách hàng thường niên). Đọc tài liệu để tìm hiểu các chính sách và quy định liên quan đến hệ thống KSNBđược áp dụng tại đơn vị. Xem xét lại hồ sơ của các cuộc kiểm toán trước đây. Quan sát các hoạt động của đơn vị trong thực tiễn: Công việc này củng cố thêmsự hiểu biết và kiến thức về thực tế sử dụng các thủ tục và chế độ KSNB tại công tykhách hàng. c.Mô tả hệ thống KSNB trên giấy làm việc Ba phương pháp chứng minh bằng tài liệu sự hiểu biết về cơ cấu KSNB của đơnvị thường được sử dụng là bảng tường thuật, lưu đồ, và bảng câu hỏi về hệ thốngKSNB. Những phương pháp này có thể sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp với nhau.SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 18
  19. 19. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Bảng tường thuật: Là sự mô tả bằng văn bản về hệ thống KSNB của đơn vị. Bảngtương thuật đúng cách cần trình bày đầy đủ bốn điểm sau: −Nguồn gốc của mọi chứng từ và sổ sách trong hệ thống −Tất cả các quá trình đã xảy ra −Sự luân chuyển mọi chứng từ, sổ sách trong hệ thống −Nêu rõ các hoạt động kiểm soát cần thiết để giúp cho quá trình đánh giá rủi ro kiểmsoát Việc sử dụng bảng tường thuật rất thông dụng với các cơ cấu KSNB đơn giản vàdễ mô tả. Nhưng bất lợi của chúng là khó có thể đáp ứng cả việc cung cấp đủ thông tincần thiết mà vẫn phải diễn đạt bằng những từ ngữ đơn giản, và dễ hiểu nhất. Lưu đồ: Là những hình vẽ biểu thị hệ thống thông tin kế toán và các hoạt độngkiểm soát có kiên quan bằng những ký hiệu đã được quy ước. KTV thường trình bàylưu đồ theo hướng tổng quát là từ trái sang phải, từ trên xuống dưới và trình bày riêngtừng cột để mô tả những công việc diễn ra ở từng bộ phận chức năng hay từng nhânviên. Lưu đồ cung cấp một cái nhìn khái quát và súc tích về hệ thống của khách hàng,cho thấy mối quan hệ giữa các bộ phận, giữa các chứng từ và sổ sách… và có tác dụngnhư một công cụ phân tích khi đánh giá. Tuy nhiên, mô tả bằng lưu đồ thường mấtnhiều thời gian và trong một số trường hợp nó còn tùy thuộc vào khả năng mô tả củaKTV Bảng câu hỏi về KSNB: Là bảng liệt kê nhiều câu hỏi đã chuẩn bị trước về cácquá trình kiểm soát trong từng lĩnh vực, kể cả môi trường kiểm soát, được thiết kế dướidạng câu trả lời “có”, “không” và “không áp dụng”. Ưu điểm của công cụ này là được lập sẵn nên KTV có thể tiến hành nhanh chóngvà không bỏ sót các vấn đề quan trọng. Hơn nữa nó có thể được chuẩn bị riêng chotừng phần của mỗi chu trình nghiệp vụ, nên rất thuận lợi cho việc phân công cho cácKTV cùng thực hiện. Tuy nhiên, do được thiết kế chung, nên bảng câu hỏi này khôngthể phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp. Ngoài ra, việc chuẩn bị các câu hỏi vàhoàn tất chúng thông qua phỏng vấn là một công việc khó khăn và tốn khá nhiều thờigian; cũng như độ chính xác của các câu trả lời phụ phuộc vào sự trung thực, hiểu biếtvà thiện chí của người được phỏng vấn. Sau khi mô tả KSNB bằng các công cụ nêu trên, KTV thường sử dụng phép thửWalk-through để kiểm tra lại tính chính xác của việc mô tả từng chu trình nghiệp vụhay chưa. Phép thử này được thực hiện bằng cách theo dõi một vài nghiệp vụ thôngqua từng bước trong chu trình. 2.4.4.Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát Đoạn 28 VSA 400 – Đánh giá rủi ro và KSNB – quy định: “Dựa trên sự hiểu biếthệ thống kế toán và hệ thống KSNB, KTV và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầuvề rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các nghiệp vụkinh tế chủ yếu”. Công việc này được thực hiện theo các bước sau: Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận dụngSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 19
  20. 20. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Trong bước này KTV sẽ vận dụng các mục tiêu KSNB cụ thể cho từng loạinghiệp vụ chủ yếu của công ty. Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù Ở bước này, KTV không cần thiết phải xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉphải nhận diện và phân tích các quá trình kiểm soát dự kiến có ảnh hưởng lớn nhất đếnviệc thỏa mãn mục tiêu kiểm soát. Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống KSNB Nhược điểm được hiểu là sự vắng mặt của các quá trình kiểm soát thích đáng màđiều này sẽ làm tăng khả năng rủi ro của việc tồn tại các sai phạm trên BCTC. Đánh giá rủi ro kiểm soát Dựa vào những thông tin đã tìm hiểu trên, KTV đưa ra những đánh giá sơ bộ vềrủi ro kiểm soát của đơn vị. KTV có thể đánh giá rủi ro theo yếu tố định tính thấp,trung bình, cao hoặc theo tỷ lệ phần trăm. Thông thường, rủi ro kiểm soát được đánhgiá cao trong các trường hợp sau: −Hệ thống KSNB không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả −Áp dụng hệ thống KSNB không đầy đủ −Việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để thu thập bằng chứng về tính hiệu quảcủa hệ thống KSNB mất nhiều thời gian hơn là thực hiện các thử nghiệm cơ bản 2.5.Xây dựng kế hoạch kiểm toán và thiết kế chương trình kiểm toán 2.5.1.Lập kế hoạch chiến lược “Kế hoạch chiến lược là định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháptiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấp chỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tìnhhình hoạt động và môi trường kinh doanh của đơn vị được kiểm toán” (Đoạn 4 VSA300 – Lập kế hoạch kiểm toán). Thông thường, kế hoạch chiến lược chỉ lập cho cáccuộc kiểm toán có quy mô lớn, có tính chất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toánBCTC cho nhiều năm, còn trong những cuộc kiểm toán khác thì không bắt buộc. Nộidung và các bước công việc của kế hoạch chiến lược gồm có: −Tình hình kinh doanh của khách hàng −Xác định những vấn đề liên quan đến BCTC như chế độ, chuẩn mực kế toán ápdụng, yêu cầu về lập BCTC và quyền hạn của công ty −Xác định vùng rủi ro chủ yếu của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nó tới BCTC −Đánh giá hệ thống KSNB −Xác định các mục tiêu kiểm toán trọng tâm, phương pháp tiếp cận kiểm toán −Xác định nhu cầu về sự hợp tác của các chuyên gia −Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện −Phê duyệt của ban giám đốc (BGĐ) 2.5.2.Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể “Kế hoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hoá kế hoạch chiến lược và phươngpháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểmtoán. Mục tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là để có thể thực hiện côngviệc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng thời gian dự kiến” (Đoạn 5 VSA300 – Lập kế hoạch kiểm toán). Khác với kế hoạch chi tiết, kế hoạch kiểm toán tổngSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 20
  21. 21. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traithể phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán. Những vấn đề chủ yếu KTV phải xem xétvà trình bày trong kế hoạch kiểm toán tổng thể, gồm: −Hiểu biết về hoạt động của đơn vị được kiểm toán: bao gồm hiểu biết chung về kinhtế và đặc điểm lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, kết quả kinh doanh, năng lực củaBGĐ −Hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB: bao gồm chính sách kế toán màđơn vị áp dụng và những thay đổi trong chính sách đó, ảnh hưởng của chính sách mớivề kế toán, kiểm toán và những điểm quan trọng trong hệ thống KSNB mà KTV dựkiến thực hiện trong thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. −Đánh giá rủi ro và mức độ trọng yếu: đây là kết quả của việc vận dụng quy trìnhđánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán ở phần 2.3 −Nội dung, lịch trình và phạm vi của thủ tục kiểm toán: bao gồm phương hướng ápdụng các kỹ thuật kiểm toán đối với những khoản mục chủ yếu của BCTC. Nội dungnày có thể trình bày dưới dạng một bảng kế hoạch sơ bộ cho các khoản mục được kiểmtoán như sau: Đánh giá rủi ro Phương hướng áp Khoản Các nhân tố làm dụng các kỹ thuật mục tăng (giảm) rủi ro Tiểm tàng Kiểm soát kiểm toán −Sự phối hợp, chỉ đạo, giám sát và kiểm tra: bao gồm việc dự kiến nguồn nhân lực vàtrách nhiệm của người phụ trách kiểm toán; sự tham gia của những KTV khác vànhững chuyên gia… −Các vấn đề khác: bao gồm những vấn đề như khả năng đảm bảo giả định hoạt độngliên tục, sự hiện hữu của các bên có liên quan, những tồn tại trong kỳ kiểm toán trước,điều khoản của hợp đồng kiểm toán và những trách nhiệm pháp lý khác, nội dung vàthời hạn lập báo cáo kiểm toán hoặc những thông báo khác dự định gửi cho kháchhàng. 2.5.3.Thiết kế chương trình kiểm toán “Chương tình kiểm toán là toàn bộ những chỉ dẫn cho KTV và trợ lý kiểm toántham gia vào công việc kiểm toán và là phương tiện ghi chép theo dõi, kiểm tra tìnhhình thực hiện kiểm toán. Chương trình kiểm toán chỉ dẫn mục tiêu kiểm toán từngphần hành, nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cụ thể và thờigian ước tính cần thiết cho từng phần hành” (Đoạn 6 VSA 300 – Lập kế hoạch kiểmtoán). Như vậy, một chương trình kiểm toán sẽ bao gồm những dự kiến chi tiết về: −Các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểmtoán −Thời gian hoàn thành −Phân công lao động giữa các KTV −Các tài liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thậpThiết kế được một chương trình kiểm toán phù hợp sẽ giúp KTV thu thập đầy đủ bằngchứng kiểm toán thích hợp với chi phí và thời gian kiểm toán hợp lý.SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 21
  22. 22. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Chương trình kiểm toán hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế thành ba phần:thử nghiệm kiểm soát, thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết. Việc thiết kế các phầnnày đểu gồm bốn nội dung: các thủ tục kiểm toán cần sử dụng, quy mô mẫu, phươngpháp lựa chọn phần tử và thời gian thực hiện. a.Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát Thử nghiệm kiểm soát chỉ được áp dụng khi rủi ro kiểm soát được đánh giá thấphoặc trung bình Các thủ tục kiểm toán cần thực hiện: việc thiết kế các thủ tục kiểm toán cần −Cụ thể hóa các mục tiêu KSNB cho từng khoản mục đang được khảo sát. −Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù có tác dụng làm giảm rủi ro kiểm soát củatừng mục tiêu KSNB. −Thiết kế các thủ tục kiểm toán đối với từng quá trình kiểm soát đặc thù. Quy mô mẫu: KTV có thể áp dụng một trong hai kỹ thuật chọn mẫu là chọn mẫuthống kê và chọn mẫu phi thống kế để ước tính tỷ lệ của phần tử trong một tổng thể cóchứa một đặc điểm hoặc thuộc tính được quan tâm. Việc xác định cỡ mẫu chịu ảnhhưởng của các nhận tố: rủi ro về độ tin cậy cao vào KSNB (ROR), mức sai phạm cóthể bỏ qua (TDR), tỷ lệ sai phạm dự kiến của tổng thể (EDR). Ngoài ra kích thước tổngthể cũng ảnh hưởng tới kích cỡ mẫu nhưng chỉ khi tổng thể rất nhỏ. Phương pháp lựa chọn phần tử: tùy theo phương pháp xác định cỡ mẫu mà KTVsẽ áp dụng phương pháp lựa chọn phần tử để lựa chọn các phần tử mang tính đại diệncao cho tổng thể. Nếu KTV sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kê thì phương pháp lựachọn các phần tử mẫu là ngẫu nhiên. Nếu sử dụng kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê thìphương pháp lựa chọn các phần tử mẫu là phi xác suất hoặc ngẫu nhiên. Thời gian thực hiện: thường được tiến hành vào thời điểm giữa năm hoặc kết thúcnăm. Sau khi thực hiện các thử nghiệm kiểm soát, KTV đánh giá lại mức rủi ro kiểmsoát để quyết định mức độ thực hiện các thử nghiệm cơ bản. b.Thiết kế các thử nghiệm phân tích Các thử nghiệm phân tích được thiết kế để đánh giá tính hợp lý chung của các sốdư tài khoản. Trên cơ sở kết quả của việc thực hiện các trắc nghiệm phân tích, KTV sẽquyết định mở rộng hay thu hẹp các thử nghiệm chi tiết. c.Thiết kế các thử nghiệm chi tiết Việc thiết kế các thử nghiệm chi tiết cần quan tâm đến tính trọng yếu, rủi ro tiềmtàng và rủi ro kiểm soát của từng khoản mục vì các yếu tố này có liên quan trực tiếpđến số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và quy mô của các thử nghiệm chitiết. Tùy theo từng trương hợp mà KTV nên mở rộng hay thu hẹp các thử nghiệm chitiết. Các thủ tục kiểm toán cần thực hiện: được thiết kế cho từng mục tiêu kiểm toáncủa từng khoản mục hoặc chu trình. Việc thiết kế này rất chủ quan và mang tính xétđoán nghề nghiệp của KTV. Quy mô mẫu: được xác định theo phương pháp chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ hoặcchọn mẫu biến đổi, trong chọn mẫu biến đổi chia thành chọn mẫu biến đổi thống kê vàchọn mẫu biến đổi phi thống kê.SVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 22
  23. 23. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Phương pháp lựa chọn phần tử: sau khi xác định được cỡ mẫu, KTV tiến hành lựachọn các phần tử cho mẫu.Nếu xác định cỡ mẫu theo phương pháp chọn mẫu theo đơnvị tiền tệ hoặc chọn mẫu biến đổi thống kê thì phương pháp lựa chọn phần tử là chọnmẫu ngẫu nhiên, còn áp dụng chọn mẫu biến đổi phi thống kê thì KTV lựa chọn theophương pháp ngẫu nhiên hoặc phi xác suất. Thời gian thực hiện: phần lớn thử nghiệm chi tiết được thực hiện vào cuối niên độkế toán. Tuy nhiên đối với những khách hàng muốn công bố BCTC sớm thì những thửnghiệm chi tiết tốn nhiều thời gian sẽ được làm vào giữa niên độ và KTV sẽ thực hiệnbổ sung các thủ tục kiểm toán vào cuối niên độ để cập nhật các số dư. PHẦN II: THỰC TẾ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AACI.GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC. 1.Lịch sử hình thành và phát triển công ty Tên công ty : Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên tiếng Anh : Auditing and Accounting company LtdSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 23
  24. 24. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Trụ sở chính : 217 Nguyễn Văn Linh. TP Đà Nẵng Điện thoại : (84) 0511 3 655 886 Fax : (84) 0511 3 655 887 Email : aac@dng.vnn.vn Website : http://www.aac.com.vn Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC trước đây là Công ty Kiểm toán vàKế toán AAC trực thuộc Bộ Tài Chính, được thành lập trên cơ sở quyết định số194/TC/TCCB ngày 01/04/1993 và quyết định số 106/TC-BTC ngày 13/02/1995 củaBộ trưởng Bộ Tài Chính, một thành viên của Hãng kiểm toán quốc tế PolarisInternational, là một trong số rất ít công ty kiểm toán được thành lập đầu tiên tại ViệtNam. Tiền thân là công ty kiểm toán Đà Nẵng (DAC), hình thành trên cơ sở sáp nhậphai chi nhánh của hai công ty kiểm toán đóng tại Đà Nẵng là VACO và AASC. Ngày07/05/2007, thực hiện lộ trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổphần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty kiểm toán và kế toán AAC đã chuyểnsang hình thức công ty TNHH và đổi tên thành “Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toánAAC”. Hiện nay công ty có trụ sở chính ở Đà Nẵng, một chi nhánh ở TP Hồ Chí Minhvà hai đại diện ở Phú Yên, Quảng Bình. Sau thời gian chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Tài Chínhsang mô hình công ty TNHH hoạt động độc lập, AAC đã từng bước khẳng định nănglực và uy tín của mình trên thị trường kiểm toán Việt Nam. Hiện tại AAC đã và đangthực hiện cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn cho hơn 1000 khách hàng trên toànquốc. Theo thống kê của Hội KTV lành nghề Việt Nam, AAC nằm trong nhóm 10công ty kiểm toán có số lượng khách hàng lớn nhất tính trên hơn 160 công ty kiểmtoán đang hoạt động tại Việt Nam. Khách hàng của AAC là các doanh nghiệp, tổ chứcvà cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước; bao gồm hơn 50 công ty niêmyết trên thị trường chứng khoán, 200 công ty đại chúng, 150 công ty có vốn đầu tưnước ngoài và các tổ chức quốc tế. Bên cạnh việc mở rộng và phát triển mạng lướikhách hàng, AAC luôn đầu tư và phát triển nguồn nhân lực. Hiện tại đội ngũ cán bộcông nhân viên của AAC đã có hơn 125 nhân viên, trong đó 20% nhân viên có bằngthứ hai trở lên, khoảng 15% nhân viên có bằng thạc sĩ và là một trong số 10 công tykiểm toán có số lượng KTV hành nghề đông đảo nhất (31 KTV). AAC hoạt động theo phương châm: độc lập, khách quan, trung thực và bí mật sốliệu khách hàng. Mục tiêu hoạt động của AAC là giúp khách hàng và những ngườiquan tâm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, cung cấp cho họ những thông tin đíchthực và cần thiết để tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra các quyếtđịnh quản lý phù hợp với thực tiễn. Hoạt động của AAC nhằm góp phần phát hiện vàngăn ngừa rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp được thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. AAC được Bộ Công Thương bình chọn là một trong 05 công ty kiểm toán hoạtđộng tốt nhất Việt Nam và được trao giải cúp “Thương mại Dịch vụ - Top TradeServices” liên tiếp trong hai năm 2007, 2008. Trong năm 2009, AAC được Đài Tiếngnói Việt Nam, Bộ Công Thương, Bộ Lao Động Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, BộThông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch… bình chọn và trao cúpSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 24
  25. 25. Công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC GVHD: TS. Đoàn Thị Ngọc Traivàng “Doanh nghiệp Việt Nam tiêu biểu”. Tháng 10/2009, AAC được trao tặng danhhiệu “Tổ chức kiểm toán niêm yết uy tín”. 2.Các loại hình dịch vụ của AAC 2.1.Dịch vụ kiểm toán Dịch vụ kiểm toán là dịch vụ chính mà AAC cung cấp và đây luôn là thế mạnhcủa AAC. Trải qua một thời gian dài nỗ lực xây dựng và không ngừng phát triển, AACđã tạo được niềm tin của khách hàng trong từng dịch vụ kiểm toán. Các dịch vụ kiểmtoán AAC cung cấp bao gồm:  Kiểm toán BCTC  Kiểm toán BCTC vì mục đích thuế Kiểm toán hoạt động Kiểm toán tuân thủ Kiểm toán nội bộ Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thỏa thuận trước Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản Kiểm toán báo cáo dự toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản 2.2.Dịch vụ kế toán Bên cạnh dịch vụ kiểm toán, AAC còn cung cấp dịch vụ kế toán cho các doanhnghiệp có nhu cầu, bao gồm: Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán Lập BCTC định kỳ Chuyển đổi các BCTC được lập theo VAS, IAS Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức kế toán 2.3.Dịch vụ tư vấn thuế Đối với các công ty, thuế ngày càng đóng vai trò quan trọng do các quy định vềthuế càng ngày càng trở nên phức tạp. Thông qua một đội ngũ chuyên gia am hiểu vềcác sắc thuế và tận tâm, AAC sẵn sàng hỗ trợ các khách hàng hoàn thành đúng nghĩavụ thuế với Nhà nước đồng thời tận dụng triệt để các lợi thế về thuế trong hoạt độngkinh doanh để gia tăng lợi ích của các chủ sở hữu công ty. Đối với nhiều cá nhân, thuế thu hút được sự quan tâm ngày càng nhiều hơn. Vớikhả năng của mình, AAC giúp các khách hàng của mình có đầy đủ tự tin hoàn thànhnghĩa vụ thuế với Nhà nước cũng như đảm bảo được giá trị tài sản của mình. AAC làmviệc hết mình để xây dựng uy tín của chính mình, niềm tin đối với khách hàng khôngchỉ vì khách hàng, vì Nhà nước mà còn vì cộng đồng. Các dịch thuế do AAC cung cấpbao gồm: Đăng ký và kê khai thuế Tư vấn kế hoạch thuế Cung cấp các văn bản thuế có liên quan 2.4.Dịch vụ tư vấn và đào tạo Thông qua việc cung cấp các dịch vụ tư vấn có hiệu quả và các khóa học cập nhậtcác kiến thức mới nhất, AAC đã tham gia thành công vào việc giúp các khách hàng củaSVTH: Phan Nguyễn Hạnh Dung – Lớp 33K06.1 Trang 25

×