• Save
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

on

  • 5,298 views

luận văn kiểm toán: Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

luận văn kiểm toán: Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

Statistics

Views

Total Views
5,298
Views on SlideShare
5,192
Embed Views
106

Actions

Likes
4
Downloads
0
Comments
1

1 Embed 106

http://luanvan.forumvi.com 106

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel

11 of 1

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • good
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Document Transcript

    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, trong tiến trình hội nhập và phát triển nền kinh tế thế giới, nền kinh tếnước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, bước chuyển mình vượt bậc. Với chínhsách mở cửa và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển, môi trường kinh doanh ngàycàng rộng mở, nhiều doanh nghiệp ra đời với quy mô lớn, thu hút ngày càng đông đảo sựquan tâm của các nhà đầu tư, của những người quan tâm tới tình hình tài chính của doanhnghiệp. Vấn đề minh bạch báo cáo tài chính lại càng trở nên cần thiết. Nhu cầu về kiểmtoán càng trở thành tất yếu, kiểm toán không chỉ là công cụ kiểm tra tính chính xác củabáo cáo tài chính, cung cấp các thông tin tạo niềm tin cho người quan tâm mà kiểm toánđã phát triển thành một nghề cung cấp các dịch vụ về kiểm toán, tư vấn tài chính, gópphần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý …và ngày càng nắm giữ vị trí quan trọngtrong nền kinh tế. Về thực chất, hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính là quá trìnhthu thập và đánh giá các bằng chứng về các Báo cáo tài chính dựa trên các cơ sở dẫn liệucủa chúng. Các loại bằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau đến kếtluận trên báo cáo kiểm toán. Những kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợplý của Báo cáo tài chính trong cuộc kiểm toán đóng vai trò hết sức quan trọng đối vớiquyết định của các nhà đầu tư, đối với sự phát triển lành mạnh của doanh nghiệp, cũngnhư nền kinh xã hội. Do đó, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần nhận thức được vaitrò của mỗi loại bằng chứng để có thể thu thập các bằng chứng kiểm toán thích hợp vàđầy đủ trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán của mình và đánh giá một cách đầy đủ vàhợp lý nhất, từ đó đưa ra được ý kiến phù hợp về báo cáo tài chính được kiểm toán. Cóthể nói, sự thành công của một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập vàsau đó là đánh giá bằng chứng kiểm toán của KTV. Nhận thấy ý nghĩa thiết thực và vaitrò quan trọng cũng như có nhiều vấn đề khác nhau giữa lý thuyết và thực tế nênem đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểmtoán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾTOÁN AAC”. Đề tài đã phần nào nêu ra được thực tế vận dụng các kỹ thuật vànhận ra những mặt còn tồn đọng từ đó nêu kiến nghị một số giải pháp dựa trên lýthuyết tìm hiểu. Em hi vọng với những kiến thức học tập trên trường và thực tế tìmhiểu được, đề tài này sẽ góp phần hoàn thiện hơn công tác sử dụng các kỹ thuật thuthập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chuyên đề tốt nghiệp bao gồm ba phần chính sau: Phần 1: Cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán và các phương pháp thuthập bằng chứng kiểm toán Phần 2: Thực tế việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toántrong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AACthực hiện Phần 3: Đánh giá và một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện kỹ thuật thuthập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHHKiểm toán và Kế toán AAC.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 1
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁNI. Tổng quan về kiểm toán BCTC1. Khái niệm kiểm toán BCTC Có nhiều cách định nghĩa về kiểm toán khác nhau, nhưng theo cách hiểuchung và bản chất của kiểm toán được định nghĩa như sau: “Kiểm toán là một quátrình mà qua đó một người độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằngchứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằmmục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin số lượng đó với cácchuẩn mực đã được xác định”. Nếu kế toán có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tincho các quyết định kinh tế của tổ chức liên quan thì kiểm toán có trách nhiệm kiểmtra, đánh giá và đảm bảo nâng cao độ tin cậy của các thông tin kế toán. Hoạt động kiểm toán có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau,mà căn cứ theo đối tượng cụ thể có thể phân thành kiểm toán báo cáo tài chính(BCTC), kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ. Trong đó, kiểm toán BCTClà hoạt động chủ yếu và phổ biến và đặc trưng nhất của kiểm toán ngay từ khi rađời cũng như trong quá trình phát triển. Đối tượng trực tiếp của kiểm toán BCTClà bản khai tài chính. Bộ phận quan trọng của những bản khai này là các BCTC.Theo chế độ kế toán nước ta, các báo cáo tài chính của đơn vị bao gồm: Bảng cânđối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ vàthuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra, bảng khai tài chính còn bao gồm nhữngbảng kê khai có tính chất pháp lý khác như các bảng dự toán và quyết toán ngânsách nhà nước, các bảng dự toán và quyết toán các công trình xây dựng cơ bản, cácbảng kê khai tài sản cá nhân… Kiểm toán báo cáo tài chính là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểmtoán của các KTV nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnhtrọng yếu của báo cáo tài chính. Mức độ trung thực, hợp lý, hợp pháp của các bản khai tài chính được xácminh dựa trên chuẩn mực kế toán. Kiểm toán tài chính được thực hiện dựa trên hệ thống chuẩn mực kiểm toán. Kết quả xác minh các bản khai tài chính được trình bày trên báo cáo kiểmtoán.2. Mục tiêu kiểm toán BCTC Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam 200, mục tiêu của kiểm toán BCTC là:  Giúp cho KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không.  Giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Các mục tiêu kiểm toán chung: • Sự tồn tại và phát sinh: xác minh tính có thật của tài sản và nợ phải trả trên BCĐKT, doanh thu và chi phí trên Báo cáo KQKD. • Sự đầy đủ: xác minh tài sản, nguồn vốn và các nghiệp vụ được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và được phản ánh đầy đủ trên BCTC.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 2
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Quyền kiểm soát và nghĩa vụ: xác minh quyền kiểm soát đối với tài sản và nghĩa vụ pháp lý đối với nguồn vốn của đơn vị trên BCĐKT. • Sự ghi chép chính xác: xác minh các nghiệp vụ kinh tế được ghi nhận đúng tài khoản, đúng số tiền và đúng kỳ kế toán; sự đúng đắn của việc chuyển sổ, cộng số phát sinh, tính số dư và lên BCTC. • Sự đánh giá: xác minh các đối tượng kế toán được đánh giá phù hợp với nguyên tắc kế toán. • Sự trình bày và khai báo: xác minh tài sản, nợ phải trả, vốn CSH, doanh thu, chi phí được trình bày và thuyết minh phù hợp với chuẩn mực kế toán. Mục tiêu kiểm toán cụ thể: là các mục tiêu kiểm toán riêng cho từng khoảnmục hoặc chu trình, được xác định trên cơ sở: • Mục tiêu kiểm toán chung • Đặc điểm của khoản mục hay chương trình • Đặc điểm hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến khoản mục hay chu trình đó.3. Vai trò của kiểm toán Hoạt động kiểm toán xuất phát từ yêu cầu quản lý và phục vụ cho yêu cầuquản lý. Có thể khái quát vai trò của kiểm toán BCTC qua các mặt chủ yếu sau:  Tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong các tài liệu kế toán. Các đối tượng quan tâm đến BCTC bao gồm các cơ quan Nhà nước, các nhàđầu tư, nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác, người lao động, kháchhàng, nhà cung cấp…Các đối tượng này không cần hoặc không thể biết tất cả cácnghiệp vụ tài chính kế toán nhưng cũng cần biết thực trạng của hoạt động này. Chỉcó kiểm toán BCTC mới mang lại cho họ niềm tin vào những xác minh độc lập vàkhách quan, từ đó có thể đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn  Góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nền họat động tài chính kế toán nói riêng và quản lý nói chung Bởi lẽ các hoạt động liên quan đến tài chính kế toán bao gồm rất nhiều mốiquan hệ đa dạng, luôn luôn biến đổi và cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể.Để hướng các nghiệp vụ này vào mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp ngoài việccó định hướng và thực hiện tốt các định hướng mà cần phải thực hiện thườngxuyên các soát xét việc thực hiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mongmuốn.  Góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý.4. Khái quát quá trình kiểm toán BCTC Lập kế Thực hiện kiểm toán Kết thúc hoạch kiểm kiểm toán toán  Chuẩn bị kiểm toán • Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán • Thu thập thông tin cơ sở • Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàngSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 3
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Thực hiện thủ tục phân tích • Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro • Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của KH và đánh giá RRKS • Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát • Thiết kế chương trình kiểm toán  Thực hiện kiểm toán • Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (nếu có): nhằm thu thập bằng chứng nhằm đánh giá tính hữu hiệu của HTKSNB. • Thực hiện thử nghiệm cơ bản: nhằm thu thập bằng chứng nhằm phát hiện các sai sót trọng yếu trong BCTC. + Thực hiện thủ tục phân tích: là việc so sánh các thông tin, nghiên cứu xuhướng nhằm phát hiện biến động bất thường. + Thực hiện các thử nghiệm chi tiết: là việc kiểm tra số dư và nghiệp vụ bằngcác phương pháp thích hợp.  Kết thúc kiểm toán: là quá trình tổng hợp và rà soát lại những bằng chứng thu thập được để KTV hình thành nên ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán. • Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ • Xem xét giả thiết hoạt động liên tục của khách hàng • Đánh giá tổng quát kết quả kiểm toán • Lập báo cáo kiểm toánII. Khái niệm, phân loại và yêu cầu đối với bằng chứng kiểm toán1. Khái niệm bằng chứng kiểm toán Báo cáo kiểm toán đã đưa ra ý kiến xác nhận về tính trung thực và hợp lý củabáo cáo tài chính đơn vị được kiểm toán. Để đánh giá, nhận xét và đưa ra ý kiến vềbáo cáo tài chính của đơn vị đã được kiểm toán, kiểm toán viên cần thu thập cácbằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho những kết luận của mình. Bằng chứng kiểmtoán quyết định tính đúng đắn, chính xác các nhận xét của kiểm toán viên, quyếtđịnh sự thành công của cuộc kiểm toán. Việc thu thập bằng chứng kiểm toán làtrung tâm của cuộc kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán số 500 ban hành theo quyết định số219/2000/QĐ/BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng tài chính về bằng chứng kiểmtoán ta có khái niệm về bằng chứng kiểm toán như sau: “Bằng chứng kiểm toán làtất cả những tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộckiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến củamình”. Như vậy, bằng chứng kiểm toán bao gồm cả thông tin nhân chứng và thôngtin vật chứng mà kiểm toán viên thu thập làm cơ sở cho ý kiến của mình về báocáo tài chính được kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán có tính đa dạng. Các loạibằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến việc hình thành ýkiến kết luận kiểm toán. Do đó, kiểm toán viên cần có nhận thức cụ thể về các loạibằng chứng một cách hữu hiệu khi thực hành kiểm toán.2. Ý nghĩa và vai trò của bằng chứng kiểm toán Bằng chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra ý kiến, nó là cơ sở vàlà một trong những yếu tố quyết định độ chính xác và ý kiến của kiểm toán viên.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 4
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comViệc thành công cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập bằng chứngvà đánh giá bằng chứng của kiểm toán viên. Một khi kiểm toán viên không thuthập đầy đủ và đánh giá không đúng các các bằng chứng chính xác, thích hợp thìkiểm toán viên khó có thể đưa ra một nhận định chính xác về đối tượng cần kiểmtoán. Chuẩn mực Kiểm toán số 500 có quy định: Kiểm toán viên và công ty kiểmtoán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa raý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán Thông qua đó ta có thể thấy một ý nghĩa rất quan trọng đối với các tổ chứckiểm toán độc lập, các cơ quan cơ quan kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan pháp lý,bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạt động củakiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán. Việc giám sát này có thể donhà quản lý tiến hành đối với các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hoặc có thểdo cơ quan tư pháp tiến hành đối với chủ thể kiểm toán nói chung. Việc thu thập bằng chứng nhằm đánh giá tính trung thực của BCTC, chúngcó được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không và đưara một BCTC thích hợp. Chỉ khi việc thu thập bằng chứng đầy đủ thì KTV mới cóthể đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của BCTC. Mục tiêu kiểm toán củathu thập bằng chứng kiểm toán nhằm cung cấp một bố cục để giúp KTV tập hợpnhững chứng cứ cần thiết và quyết định đúng đắn bằng chứng cần thu thập có căncứ tình huống hợp đồng. Các mục tiêu không thay đổi giữa các cuộc kiểm toánnhưng chứng cứ thì thay đổi, phụ thuộc vào các tình huống. Một bằng chứng chỉ có thể thảo mãn một mục tiêu hay một vài mục tiêu kiểmtoán chứ không thể thoản mãn toàn bộ các mục tiêu kiểm toán đề ra, chính vì vậykhi thu thập bằng chứng KTV phải luôn hướng vào mục tiêu kiểm toán. Chỉ khihướng vào mục tiêu, bằng chứng cần tìm thì KTV mới có thể xác định bằng chứngđang ở đâu, với đối tượng nào. Tránh tìm tràn lan nhưng không thỏa mãn mục tiêukiểm toán làm ảnh hưởng tới việc đưa ra kết luận của KTV. Ngoài ra nó còn làmtăng chi phí kiểm toán khi bằng chứng thu thập một cách không hiệu quả.3. Phân loại bằng chứng kiểm toán Trong thực tế có nhiều loại bằng chứng kiểm toán khác nhau. Để giúp choviệc nghiên cứu, xét đoán và sử dụng bằng chứng kiểm toán được tiện lợi và hữuhiệu cần phải tiến hành phân loại bằng chứng kiểm toán. 3.1. Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc hình thành Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc là căn cứ vào nguồn gốc củathông tin, tài liệu có liên quan đến báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thu thậpđược trong quá trình kiểm toán. Theo cách phân loại này, bằng chứng kiểm toán được chia thành các loại sau(sắp xếp theo thứ tự giảm dần độ tin cậy):  BCKT do kiểm toán viên tự khai thác và phát hiện bằng cách: • Kiểm kê tài sản thực tế : như biên bản kiểm kê hàng tồn kho, kiểm kê tài sản cố định, kiểm kê quỹ, …. • Tính toán lại các biểu tính toán của doanh nghiệp: như các số liệu, tài liệu do kiểm toán viên tính toán lại có sự xác nhận của doanh nghiệp hoặc những người liên quan là hợp lý.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 5
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Quan sát hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ: là những thông tin, tài liệu do kiểm toán viên ghi chép lại thông qua việc quan sát hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp, có dẫn chứng theo thời gian khảo sát… • Bảng câu hỏi phỏng vấn • Bảng phân tích số liệu Đây là loại bằng chứng có độ tin cậy cao nhất vì nó được thực hiện trực tiếpbởi kiểm toán viên. Song nhiều lúc nó còn mang tính thời điểm tại lúc kiểm tra,như việc quan sát hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp thìkiểm toán viên phải tiến hành bí mật nhằm đảm bảo cho bằng chứng thu thập đượccó độ tin cậy cao hơn, kiểm kê hàng tồn kho phụ thuộc vào tính chất vật lý củachúng theo từng thời điểm khác nhau mà có những kết quả khác nhau.  BCKT do bên thứ 3 cung cấp từ các nguồn khác nhau Các bằng chứng do những người bên ngoài đơn vị cung cấp trực tiếp chokiểm toán viên, như: các bảng xác nhận nợ phải trả của các chủ nợ, bảng xác nhậncác khoản phải thu của các khác nợ, hoặc số dư tiền gửi ngân hàng đã được ngânhàng xác nhận, hóa đơn bán hàng… Các bằng chứng được lập do đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có liên quanđến báo cáo tài chính của doanh nghiệp, như hoá đơn bán hàng cho doanh nghiệp,số phụ ngân hàng… Các ghi chép độc lập hoặc các báo cáo thống kê tổng hợp theo chuyên ngànhcó liên quan đến doanh nghiệp…  BCKT do các đối tượng khác phát hành lưu trữ tại doanh nghiệp: hoá đơnbán hàng, hoá đơn mua hàng, biên bản bàn giao tài sản cố định, sổ phụ ngânhàng… Loại bằng chứng có độ thuyết phục cao bởi nó được tạo từ bên ngoài, tuynhiên loại bằng chứng này vẫn có khả năng tẩy xoá, thêm bớt ảnh hưởng đến độtin cậy của kiểm toán đối với với hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp.  BCKT do doanh nghiệp phát hành và luân chuyển ở bên ngoài đơn vị Chứng từ, tài liệu do doanh nghiệp phát hành và chuyển đến các đơn vị khácsau đó quay trở lại đơn vị như: các uỷ nhiệm chi… Đây là dạng bằng chứng cótính thuyết phục cao vì nó được cung cấp bởi bên thứ ba tuy nhiên nó cần phảiđảm bảo được tính độc lập của người cung cấp với doanh nghiệp.  BCKT do doanh nghiệp phát hành và luân chuyển đến các bộ phận nội bộđơn vị và các thông tin mà doanh nghiệp cung cấp cho kiểm toán viên. • Chứng từ, tài liệu do doanh nghiệp phát hành và luân chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, như các phiếu chi, phiếu xuất vật tư, hoá đơn bán hàng, bảng chấm công, sổ thanh toán tiền lương, sổ tổng hợp, sổ chi tiết, phiếu kiểm tra sản phẩm, phiếu xuất kho, phiếu nhập kho… • Các sổ kế toán, báo cáo kế toán của doanh nghiệp lập • Những thông tin (lời nói, ghi chép..) của cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ hoặc những giải trình của những người có liên quan trong đơn vị cho kiểm toán viên… Bằng chứng này chiếm một số lượng lớn, khá phổ biến vì nó vì nó là nguồntài liệu sẵn có và được lưu giữ tại đơn vị. Do bằng chứng này có nguồn gốc từ nộibộ doanh nghiệp, nên chúng chỉ thực sự có độ tin cậy khi hệ thống kiểm soát nộiSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 6
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.combộ của doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động hiệu quả và có hiệu lực thực sự,do vậy tính thuyết phục của loại bằng chứng này không cao. 3.2. Phân loại bằng chứng kiểm toán theo loại hình bằng chứng Độ tin cậy còn được đánh giá qua hình thức của bằng chứng, với việc đánhgiá độ tin cậy thông qua nguyên tắc: Bằng chứng dưới dạng văn bản, hình ảnh,đáng tin cây hơn bằng chứng ghi lại từ lời nói. Việc phân loại bằng chứng theo loạihình bằng chứng bao gồm:  Các bằng chứng vật chất là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thậpđược trong quá trình thanh tra hoặc quá trình kiểm kê các tài sản hữu hình như:hàng tồn kho, tài sản cố định hữu hình, tiền mặt, các loại chứng khoán… Thuộc loại này gồm có các biên bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản kiểm kêquỹ tiền mặt, các chứng khoán, biên bản kiểm kê TSCĐ hữu hình…. Các bằng chứng vật chất có độ tin cậy cao nhất, bởi vì bằng chứng vật chấtđược đưa ra từ việc kiểm tra trực tiếp để xác minh tài sản có thực hay không.  Các bằng chứng tài liệu: là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập đượcqua việc cung cấp tài liệu, thông tin của các bên liên quan theo yêu cầu của kiểmtoán viên. Thuộc loại này gồm: • Các ghi chép kế toán và ghi chép nghiệp vụ của doanh nghiệp, các báo cáo kế toán, các bản giải trình của các nhà quản lý doanh nghiệp… • Các chứng từ, tài liệu do các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cung cấp như: các văn bản các giấy xác nhận, các báo cáo của bên thứ 3 có liên quan đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán như cơ quan thuế, hải quan, bên bán, bên mua… • Các tài liệu tính toán lại của KTV: thông qua việc xác minh, phân tích số liệu, tài liệu, kiểm toán viên tính toán lại số liệu của doanh nghiệp được kiểm toán để đưa ra những bằng chứng cho những ý kiến có lý của mình như: tính toán lại giá các hoá đơn, việc tính trích khấu hao TSCĐ, tính giá thành, phân bổ chi phí, khoá sổ kế toán, quá trình lấy số liệu để lập báo cáo kế toán.. Các bằng chứng tài liệu này củng cố tính thuyết phục, nhưng độ tin cậykhông cao bằng những bằng chứng vật chất, độ tin cậy của chúng phụ thuộc vàotính hiệu lực của bộ phận kiểm soát nội bộ.  Dạng bằng chứng thu được từ lời nói. Dạng bằng chứng này thường đươc thu thập qua phương pháp phỏng vấn, nómang tính thuyết phục không cao, song lại đòi hỏi sự hiểu biết của người phỏngvấn khá cao về độ am hiểu vấn đề cần phỏng vấn. 3.3. Phân loại bằng chứng kiểm toán theo tính thuyết phục Vì bằng chứng kiểm toán được sử dụng để trực tiếp đưa ra ý kiến khác nhauvề tính trung thực của báo cáo tài chính đơn vị kiểm toán phát hành nên KTV cầnphải xem xét mức độ tin cậy của chúng. Việc đưa ra ý kiến của kiểm toán viêntrong báo cáo kiểm toán có mức độ tương ứng đối với tính thuyết phục của bằngchứng. Theo cách này bằng chứng được phân loại như sau:  Bằng chứng có tính thuyết phục hoàn toàn: Đây là loại bằng chứng do kiểm toán viên thu thập bằng cánh tự kiểm kê, đánh giá và quan sát. Bằng chứngSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 7
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com này thường được đánh giá là khách quan, chính xác và đầy đủ. Dựa vào ý kiến này kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần.  Bằng chứng thuyết phục từng phần như: bằng chứng thu được từ phỏng vấn cần phải phân tích và kiểm tra lại, các loại bằng chứng thường được đảm bảo bởi hệ thống kiểm soát nội bộ. Chúng chỉ thật sự có tính thuyết phục khi bộ máy kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp là thực sự tồn tại và có hiệu lực. Dựa vào loại bằng chứng này kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần.  Bằng chứng không có giá trị thuyết phục: là bằng chứng không có giá trị trong việc ra ý kiến, quyết định của kiểm toán viên về việc kiểm toán. 3.4. Các bằng chứng đặc biệt Ngoài các kiểu bằng chứng kiểm toán cơ bản được thu thập đã nói ở trên,trong một số trường hợp đặc biệt kiểm toán viên cần thu thập thêm một số bằngchứng kiểm toán khác. Các bằng chứng này thường là các: ý kiến của chuyên gia,giải thích của ban giám đốc và nhân viên kế toán đơn vị, sử dụng tài liệu của kiểmtoán viên nội bộ hay của kiểm toán viên khác, hoặc là bằng chứng về các bên liênquan....  Ý kiến của chuyên gia: Do kiểm toán viên không thể am tường tất cả mọilĩnh vực của xã hội, vì vậy các chuẩn mực kiểm toán cho phép họ được sử dụng ýkiến của những chuyên gia có năng lực, kiến thức và kinh nghiệm cụ thể trong mộtlĩnh vực chuyên môn nào đó, ngoại trừ lĩnh vực kế toán và kiểm toán. Ví dụ nhưđánh giá giá trị của tài sản quý hiếm, công trình nghệ thuật... Bằng chứng này sử dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Khi kiểmtoán viên thu thập thông tin cơ sở về đơn vị được kiểm toán thì cần phải dự kiếnnhu cầu sử dụng chuyên gia nếu thấy cần thiết và đã xem xét, cân nhắc những yếutố như: • Tính trọng yếu của khoản mục cần được xem xét trong báo cáo tài chính • Rủi ro có sai sót do tính chất và mức độ phức tạp của khoản mục đó • Số lượng và chất lượng của các bằng chứng kiểm toán khác có thể thu thập được Với ý kiến các chuyên gia, kiểm toán viên chỉ nên thu thập khi thực sự cầnthiết, khi không có bằng chứng nào thay thế và chỉ với những thủ tục kiểm toáncần thiết. Tuy nhiên, dù kiểm toán viên có sử dụng ý kiến chuyên gia làm bằngchứng kiểm toán vẫn đòi hỏi kiểm toán viên là người chịu trách nhiệm sau cùng vềý kiến nhận xét đối với báo cáo tài chính được kiểm toán.  Giải trình của ban giám đốc: kiểm toán viên cần phải thu thập bằng chứngvề việc giám đốc đơn vị được kiểm toán thừa nhận trách nhiệm của mình trongviệc lập và trình bày trung thực và hợp lý báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mựcvà chế độ kế toán hiện hành và đã phê duyệt báo cáo tài chính. Kiểm toán viên sẽlà người đánh giá lại độ tin cậy của tất cả các giải trình của giám đốc trong quátrình kiểm toán và xem xét mức độ ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính và phảiđưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc từ chối. Các giải trình bằng văn bản được đánh giá là các bằng chứng kiểm toán cógiá trị cao hơn các giải trình bằng lời nói. Các giải trình bằng văn bản được thểhiện dưới các hình thức sau: • Bản giải trình của giám đốcSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 8
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Biên bản họp hội đồng quản trị hoặc báo cáo tài chính đã được giám đốc ký duyệt Hạn chế của loại bằng chứng giải trình là độ tin cậy không cao do bằng chứngnày được cung cấp từ phía doanh nghiệp, do đó phụ thuộc vào mức độ liêm khiết,trung thực của giám đốc.  Tư liệu của kiểm toán viên nội bộ: Kiểm toán nội bộ là một bộ phận trong hệthống kiểm soát nội bộ của một đơn vị, có chức năng kiểm tra, đánh giá tính phùhợp, hiệu quả, sự tuân thủ pháp luật và các quy định của hệ thống kế toán và hệthống kiểm soát của đơn vị đó. Hoạt động kiểm toán nội bộ hiệu quả có thể cho phép kiểm toán viên độc lậpthay đổi nội dung, lịch trình và thu hẹp phạm vi thủ tục kiểm toán, nhưng khôngthể hoàn toàn không thực hiện các thủ tục này. Ý kiến của kiểm toán viên nội bộkhông đạt được mức độ khách quan như ý kiến của kiểm toán viên độc lập, kiểmtoán viên độc lập chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý kiến độc lập của mình đối vớibáo cáo tài chính, do đó kiểm toán viên độc lập phải đánh giá được hoạt động củakiểm toán viên nội bộ, cân nhắc có nên sử dụng loại bằng chứng này hay không.  Tư liệu của các kiểm toán viên khác: Công việc của kiểm toán viên chínhđôi khi cần sự hỗ trợ lớn từ các kiểm toán viên khác. Vấn đề này phát sinh khikiểm toán báo cáo tài chính của một đơn vị có nhiều bộ phận (chi nhánh, công tycon, công ty liên doanh hay công ty thành viên của tập đoàn…) đã được kiểm toánbởi các kiểm toán viên khác. Không gọi là kiểm toán viên khác trong trường hợp hai hoặc nhiều kiểm toánviên được bổ nhiệm đồng kiểm toán cho một đơn vị và cũng không đề cập đến mốiquan hệ giữa kiểm toán viên năm nay và kiểm toán viên năm trước. Kiểm toán viên có thể thảo luận với kiểm toán viên khác về các thủ tục kiểmtoán đã được kiểm toán viên khác thực hiện hoặc xem xét hồ sơ kiểm toán củakiểm toán viên khác. Việc thực hiện các thủ tục kiểm toán này phụ thuộc vào từngtình huống của kiểm toán và sự đánh giá của kiểm toán viên chính về năng lựcchuyên môn của kiểm toán viên khác. Thay vì phải thực hiện lại công việc kiểmtoán tại các bộ phận, kiểm toán viên chính có thể sử dụng công việc của các kiểmtoán viên khác.  Tư liệu của các bên hữu quan: Bên liên quan và những mối quan hệ với cácbên liên quan có ảnh hưởng lớn đến nhận định của người sử dụng báo cáo tàichính. Thông tin về các bên này cần phải được công bố những vấn đề cần thiết đểgiúp người sử dụng hiểu được về bản chất của các mối liên hệ và những nhiệm vụphát sinh giữa các bên liên quan. Các bên được coi là liên quan nếu một bên cókhả năng kiểm soát hoặc ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyếtđịnh tài chính và hoạt động. Mục đích của việc thu thập bằng chứng về các bên hữu quan để xác định liệuban giám đốc đã xác minh và thuyết minh một cách đầy đủ về các bên hữu quan vànghiệp vụ với các bên hữu quan chưa. Theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán, sự tồntại của các bên hữu quan và nghiệp vụ giữa các bên có thể ảnh hưởng tới báo cáotài chính.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 9
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com4. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán Bằng chứng kiểm toán phải đạt được những yêu cầu nhất định về mặt chấtlượng và số lượng, hai khái niệm thích hợp và đầy đủ được sử dụng để chỉ về haiyêu cầu này. 4.1. Tính thích hợp Sự thích hợp của bằng chứng kiểm toán là khái niệm chỉ chất lượng hay độtin cậy của bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng có tính thích hợp khi nó có độ tincậy, nó thể hiện đúng mục tiêu kiểm toán và phản ánh đúng tính chất của các hoạtđộng, từ đó mới giúp kiểm toán viên chính xác hơn trong việc đưa ra báo cáo kiểmtoán. Hai khía cạnh của sự thích hợp phải được xem xét một cách đồng thời bởi vìbằng chứng kiểm toán có thể có độ tin cậy cao nhưng không liên quan đến mụctiêu kiểm toán, và ngược lại.4.1.1. Tính tin cậy Mức độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốnhư nguồn gốc và bản chất của thông tin. Để xem xét vấn đề này, kiểm toán viêncần chú ý đến các nhân tố sau đây:  Nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng có nguồn gốc càng độc lập với đối tượng kiểm toán thì càng cóhiệu lực, độ tin cậy cao (xem lại phần phân loại bằng chứng theo nguồn gốc hìnhthành).  Dạng bằng chứng kiểm toán. Độ tin cậy còn phụ thuộc vào dạng của bằng chứng kiểm toán. • Bằng chứng vật chất đạt được do kiểm kê hoặc tham gia kiểm kê và các hiểu biết của kiểm toán viên về lĩnh vực kiểm toán được coi là hai dạng bằng chứng có độ tin cậy cao nhất; • Bằng chứng ở dạng tài liệu (chứng từ, sổ sách) có độ tin cậy kém hơn so với dạng vật chất; • Bằng chứng thu thập qua phỏng vấn có độ tin cậy thấp hơn so với bằng chứng tài liệu; • Bằng chứng gốc thì đáng tin cậy hơn bằng chứng photo hoặc fax.  Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Bộ phận nào có kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì các bằng chứng kiểm toán cóliên quan đến các tài liệu kế toán, quy chế kiểm soát... của bộ phận đó sẽ có độ tincậy cao hơn.  Sự kết hợp giữa các loại bằng chứng Một nhóm bằng chứng kiểm toán thu thập từ những nguồn khác nhau, ở cácdạng khác nhau nhưng cùng xác nhận như nhau về một vấn đề sẽ có độ tin cậy lớnhơn so với từng bằng chứng riêng lẻ. Ngược lại, khi bằng chứng từ các nguồn khácnhau lại cho kết quả trái ngược nhau, lúc này kiểm toán viên phải xem xét vấn đềmột cách thận trọng, và có thể phải thực thi các thủ tục kiểm toán bổ sung để xácminh.  Thời điểm thu thập bằng chứng kiểm toán Tính thời điểm của bằng chứng kiểm toán sẽ đặc biệt quan trọng trong việcxác minh các tài sản lưu động, nợ ngắn hạn. Bằng chứng được thu thập cànggần ngày lập báo cáo tài chính thì đáng tin cậy hơn. Chẳng hạn, đối với tài khoảnSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 10
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comtiền mặt thời điểm kiểm kê càng gần ngày khóa sổ thì bằng chứng kiểm kê có độtin cậy cao hơn.  Các nhân tố khác Trong từng trường hợp cụ thể, độ tin cậy còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tốkhác. Ví dụ trong thủ tục phỏng vấn, sự hiểu biết của người được phỏng vấn vềvấn đề đang tìm hiểu sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy của các bằng chứng đạt được.4.1.2. Tính liên quan Tức là bằng chứng có liên quan đến mục tiêu kiểm toán. Chẳng hạn khi mụctiêu kiểm toán là sự hiện hữu của hàng tồn kho, kiểm toán viên phải lựa chọn mẫugồm số dư các khoản mục hàng tồn kho trên sổ sách kế toán và thu thập bên chứngtừ về sự tồn tại của chúng trong thực tế tại kho. Thế nhưng khi mục tiêu kiểm toánlà sự đầy đủ, kiểm toán viên phải lựa chọn một số hàng tồn kho trong kho và thuthập bằng chứng chứng minh những mặt hàng này đã được ghi chép đầy đủ vào sổsách. Như vậy, có thể thấy bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ khác nhau vớimỗi mục tiêu kiểm toán khác nhau, nhưng để được coi là thích hợp, các bằngchứng kiểm toán phải liên quan đến mục tiêu kiểm toán. Rõ ràng là kiểm toán viênkhông thể lấy các bằng chứng xác minh sự tồn tại của hàng tồn kho để làm bằngchứng cho sự đầy đủ của việc ghi chép. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, trong một số trường hợp, một loại bằngchứng kiểm toán vẫn có thể sử dụng cho nhiều mục tiêu kiểm toán cụ thể. Kiểmtoán viên cần nắm bắt được vấn đề này để có thể phối hợp công tác kiểm toán saocho thích hợp, tránh bị trùng lặp nhưng vẫn đạt hiệu quả. Ví dụ việc chọn mẫu gởithư xin xác nhận của khách hàng có thể sử dụng cho mục tiêu sự tồn tại và quyềnnghĩa vụ. Bên cạnh độ tin cậy, sự thích hợp của bằng chứng kiểm toán trong các thửnghiệm cơ bản còn đòi hỏi sự phù hợp giữa bằng chứng với cơ sở dẫn liệu màkiểm toán viên muốn xác minh. Bởi lẽ, một bằng chứng kiểm toán có thể có độ tincậy cao nhưng vẫn không thích hợp với cơ sở dẫn liệu cần xem xét. Ví dụ, thư xácnhận của khách hàng tuy là một bằng chứng có độ tin cậy cao do được cung cấptrực tiếp cho kiểm toán viên, nhưng nó chỉ chứng minh rằng khoản phải thu đó cóthật (cơ sở dẫn liệu hiện hữu và quyền) nhưng lại không thể chứng minh cho khảnăng thu hồi khoản phải thu (cơ sở dẫn liệu đánh giá). 4.2. Tính đầy đủ Sự đầy đủ của bằng chứng kiểm toán là khái niệm chỉ số lượng của các bằngchứng mà kiểm toán viên phải thu thập để dựa vào đó đưa ra ý kiến của mình. Đâylà một vấn đề không có thước đo chung, không có quy định nào của chuẩn mực vềyêu cầu cần bao nhiêu bằng chứng là đủ mà số lượng bằng chứng kiểm toán đưara đủ để đưa ra ý kiến phụ thuộc vào sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên.Một bằng chứng tuy đạt yêu cầu thích hợp nhưng sẽ không thể sử dụng làm cơ sởý kiến cho kiểm toán viên nếu không đáp ứng yêu cầu đầy đủ. Thí dụ, để kết luậnrằng nợ phải thu hiện hữu trong thực tế, thư xác nhận là bằng chứng thích hợpnhưng kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra kết luận khi đạt được một cỡ mẫu cần thiếtvà thủ tục được thực thi ở một thời điểm phù hợp. Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự xét đoán của kiểm toán viên.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 11
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com  Tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng có độ tin cậy càngthấp thì số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều. Một lượng ít bằng chứng cóđộ tin cậy thấp chưa đủ để đưa ra ý kiến chính xác về đối tượng kiểm toán đó.  Tính trọng yếu của thông tin được kiểm toán: Trọng yếu là khái niệm tầm cỡvà bản chất của các sai phạm của các thông tin tài chính hoặc từng nhóm hoặc làđơn lẻ trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì khôngthể chính xác hoặc sẽ rút ra ý kiến sai. Vì mục tiêu của kiểm toán tài chính là khẳng định báo cáo tài chính đượctrình bày trung thực trên mọi khía cạnh trọng yếu nên nếu đối tượng cụ thể đượckiểm toán càng nhiều yếu tố trọng yếu thì số lượng bằng chứng kiểm toán cần thuthập càng nhiều. Kiểm toán viên phải ước lượng sai phạm có thể ảnh hưởng trọngyếu đến báo cáo tài chính và có thể thay đổi trong quá trình kiểm toán khi các tìnhhuống thay đổi. Ước lượng trọng yếu là lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở đó báo cáotài chính có thể sai lệch nhưng chưa ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụngthông tin tài chính. Ước lượng này là một trong những quyết định quan trọng nhấtmà kiểm toán viên phải đối mặt. Sau khi ước lượng tính trọng yếu cho toàn bộ báocáo tài chính kiểm toán viên phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục trên báocáo tài chính. Dựa vào mức trọng yếu cho từng khoản mục kiểm toán viên sẽ tiếnhành thu thập những bằng chứng phù hợp. khoản mục nào có mức độ trọng yếucàng cao thì kiểm toán viên cần thu thập một lượng bằng chứng càng nhiều, vàngược lại.  Mức rủi ro tiềm tàng và mức rủi ro kiểm soát: Số lượng bằng chứng cầnphải tăng lên ở những bộ phận, hay các trường hợp có mức rủi ro tiềm tàng hoặcrủi ro kiểm soát cao. Nói cách khác, khi kiểm toán viên xác nhận mức rủi ro pháthiện chấp nhận được là thấp thì số lượng bằng chứng cần thiết sẽ tăng thêm. Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp chomỗi loại ý kiến của mình. Sự đầy đủ và tính thích hợp luôn đi liền với nhau vàđược áp dụng cho các bằng chứng kiểm toán thu thập được từ các thủ tục thửnghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. Để xem xét bằng chứng kiểm toán đã đầy đủ và thích hợp chưa, người tathường tính đến các yếu tố sau: • Tính chất, nội dung và mức độ rủi ro tiềm tàng của toàn bộ báo cáo tài chính, từng số dư tài khoản hoặc từng loại nghiệp vụ; • Hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá về rủi ro kiểm soát; • Tính trọng yếu của khoản mục được kiểm tra; • Kinh nghiệm từ các lần kiểm toán trước; • Kết quả các thủ tục kiểm toán, kể cả các sai sót hoặc gian lận đã được phát hiện; • Nguồn gốc, độ tin cậy của tài liệu thông tin. Ngoài 2 tính chất cơ bản trên, bằng chứng được coi là có tính thuyết phục khithoả mãn các tiêu chí sau: Bằng chứng phải thu thập kịp thời, đúng lúc: Tính đúng lúc của Bằngchứng kiểm toán có thể dựa vào hoặc thời gian bằng chứng được thu thập hoặcthời kỳ được kiểm toán.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 12
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Bằng chứng là sự tổng hoà của các khía cạnh cần xem xét: Sức thuyếtphục của bằng chứng chỉ có thể được đánh giá sau khi xem xét tổng hợp tính giátrị, tính đầy đủ và tính đúng lúc. Tính thuyết phục và chi phí: Trong quá trình ra quyết định về chứng cứđối với một cuộc kiểm toán đã định, cả tính thuyết phục và tính chi phí đều phảiđược xem xét. Rất hiếm khi chỉ có một loại bằng chứng là đủ để thẩm tra thôngtin.Tính thuyết phục và chi phí phải được xem xét trước khi lựa chọn một loại hoặccác loại bằng chứng tốt nhất.III. Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán Mỗi phương pháp thu thập các bằng chứng kiểm toán sẽ cung cấp những loạibằng chứng khác nhau với độ tin cậy khác nhau và từng phương pháp có ưu điểmvà hạn chế riêng của mình. Do đó, trong nhiều trường hợp, kiểm toán viên cầnphối hợp sử dụng nhiều phương pháp để đạt được các mục tiêu kiểm toán. Nóicách khác, trong từng trường hợp cụ thể, tùy theo sự xét đoán nghề nghiệp củaminh, kiểm toán viên sẽ chọn lựa các phương pháp để thu thập bằng chứng kiểmtoán.1. Phương pháp kiểm tra vật chất(kiểm kê) Kiểm tra vật chất là quá trình kiểm kê tại chỗ hay tham gia kiểm kê các loạitài sản của doanh nghiệp. Công việc kiểm kê thường được tiến hành ở một sốkhoản mục chủ yếu như: khoản mục vốn bằng tiền, khoản mục tài sản cố định,khoản mục hàng tồn kho. Với những tài sản dễ xảy ra mất mất hoặc thiếu thì việckiểm kê vật chất phải thực hiện và được kiểm tra toàn diện. Còn đối với những loạitài sản khác thì tuỳ thuộc vào tầm quan trong, mức độ trọng yếu của từng loại màtiến hành kiểm tra cho phù hợp. Độ tin cậy của bằng chứng kiểm tra vật chất phụthuộc vào kỹ năng và hiểu biết của kiểm toán viên thực hiện kiểm kê. Nếu kiểmtoán viên thiếu sự am hiểu về đánh giá chủng loại các tài sản cần thiết hoặc kiểmkê không cẩn thận thì bằng chứng thu thập được có thể có sự sai lệch.  Ưu điểm: Thủ tục này cung cấp bằng chứng vật chất là loại bằng chứng có độ tin cậy rất cao vì kiểm kê là quá trình xác minh sự hiện hữu của tài sản, mang tính khách quan. Hơn nữa cách thực hiện kỹ thuật này đơn giản, phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán.  Nhược điểm: • Đối với một số tài sản cố định như nhà xưởng, đất đai, phương tiện vận tải... việc kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản đó, chứ không cho biết về quyền sở hữu của đơn vị đối với chúng, bởi lẽ tuy chúng hiện hữu nhưng có thể lại là tài sản đi thuê, hoặc đã bị đơn vị thế chấp... • Đối với hàng tồn kho, việc kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của các loại hàng này về mặt số lượng, nhưng không cho biết chúng có được đánh giá đúng hay không, hoặc chất lượng và tình trạng của chúng như thế nào... Các vấn đề trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số dư hàng tồn kho trên báo cáo tài chính. Do những hạn chế vốn có đó mà kỹ thuật kiểm tra vật chất cần đi kèm vớinhững kỹ thuật thu thập bằng chứng khác để chứng minh quyền sở hữu và giá trịtài sản đó.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 13
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com2. Phương pháp lấy xác nhận Xác nhận là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán thông quaviệc liên hệ trực tiếp với bên thứ ba để nhận được phúc đáp của họ về các thông tincụ thể ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu được Ban Giám đốc lập và trình bày trong báocáo tài chính của đơn vị được kiểm toán (Đoạn 06 VSA 505-thông tin xác nhận từbên ngoài). Kiểm toán viên có thể xin xác nhận thông tin từ bên ngoài về các điều khoảnhợp đồng hay giao dịch của đơn vị được kiểm toán với bên thứ ba trong các trườnghợp như:  Số dư tài khoản tiền gửi, tiền vay và những thông tin khác từ ngân hàng, kho bạc, tổ chức tài chính tương tự  Số dư các khoản phải thu, phải trả  Những văn bản, giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản do luật sư giữ, hoặc đang giữ trong két sắt của ngân hàng  Hàng gia công, hàng gửi bán, hàng nhờ giữ hộ  Cổ phiếu gửi bên thứ ba; những khoản đầu tư nhờ các nhà môi giới mua nhưng chưa được giao trước thời điểm lập báo cáo tài chính... Theo VSA 505, kiểm toán viên có thể áp dụng thủ tục này theo một trong haicách sau đây: • Thư xác nhận mở (dạng khẳng định): đề nghị người được yêu cầu trả lời, ký nhận trong mọi trường hợp hoặc phúc đáp lại cho kiểm toán viên là đồng ý hoặc không đồng ý với thông tin cần xác nhận bằng cách yêu cầu điền vào thông tin. • Thư xác nhận đóng (dạng phủ định): chỉ đòi hỏi sự phản hồi khi không đồng ý với thông tin yêu cầu xác nhận. Khi đồng ý với thông tin xác nhận thì không nhất thiết phải phản hồi. Thư xác nhận đóng (phủ định) thường cung cấp bằng chứng ít tin cậy hơn so với việc sử dụng thư xác nhận mở (khẳng định), vì thế kiểm toán viên cần xem xét thực hiện các thử nghiệm cơ bản bổ sung. Tuy có độ tin cậy thấp hơn thư xác nhận mở, nhưng chuẩn mực kiểm toáncho phép sử dụng thư xác nhận đóng trong trường hợp rủi ro tiềm tàng và rủi rokiểm soát được đánh giá là thấp, các khoản phải xác nhận gồm rất nhiều các khoảncó số tiền nhỏ, khả năng xảy ra sai sót được đánh giá là thấp và kiểm toán viên tinrằng người phản hồi sẽ quan tâm đến việc trả lời. Việc xác nhận thì tương đối tốn kém về chi phí nhưng kết quả mà nó mang lạilại không cao: có thể thư xác nhận bị thất lạc, bên thứ ba không chịu hợp tác, thưtrả lời về sau khi báo cáo tài chính phát hành….Do đó phạm vi áp dụng tương đốigiới hạn, nhất là khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn, quan hệ rộng, đa quốcgia… Hơn nữa kiểm toán viên cũng cần quan tâm đến khả năng các xác nhận củabên thứ ba đã qua sự dàn xếp trước của đối tượng được kiểm toán.3. Phương pháp xác minh tài liệu Là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ sổ sách có liên quansẵn có trong đơn vị. Phương pháp này được áp dụng đối với: hoá đơn bán hàng,phiếu nhập kho, xuất kho, hoá đơn vận tải, sổ kế toán… Kỹ thuật xác minh tài liệudựa trên phương pháp đối chiếu trực tiếp, theo phương pháp này khi áp dụng chokỹ thuật xác minh tài liệu sẽ có các trường hợp đối chiếu như: đối chiếu giữaSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 14
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comchứng từ với sổ kế toán, giữa sổ kế toán với báo cáo kế toán, giữa các báo cáo kếtoán với nhau, đối chiếu kỳ này với kỳ trước,…  Chứng từ với sổ kế toán Kiểm toán viên có thể thực hiện theo hai cách: • Cách thứ nhất là kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi vào sổ sách theo hai hướng:  Đi từ chứng từ gốc lên sổ sách kế toán: kiểm toán viên đi theo hướng này khi muốn thu thập bằng chứng về sự đầy đủ của việc ghi sổ (cơ sở dẫn liệu sự đầy đủ). Ví dụ, kiểm toán viên thực hiện kiểm toán khoản mục hàng tồn kho, cụ thể là nghiệp vụ xuất kho với chứng từ ghi sổ là phiếu xuất kho. Muốn biết nghiệp vụ này có được kế toán đơn vị ghi vào sổ không thì chỉ cần đối chiếu vào sổ cái và sổ chi tiết tài khoản liên quan để xem xét.  Từ sổ sách kế toán kiểm tra ngược về chứng từ gốc: khi kiểm toán viên muốn thu thập bằng chứng về tính có thật của nghiệp vụ (cơ sở dẫn liệu sự tồn tại hoặc phát sinh). Ví dụ, kiểm toán viên xem xét nghiệp vụ xuất kho trên sổ cái tài khoản hàng tồn kho, muốn biết nghiệp vụ này có phát sinh thực sự hay không kiểm toán viên đi từ trên sổ cái về kiểm tra các chứng từ gốc có liên quan như phiếu xuất kho, yêu cầu xuất vật tư, … • Cách thứ hai là từ một kết luận có trước, kiểm toán viên thu thập tài liệu để làm bằng chứng cơ sở cho các kết luận cần khẳng định. Ví dụ, kiểm toán viên kiểm tra các tài liệu, hồ sơ pháp lý về quyền sở hữu tài sản cố định như biên bản giao nhận tài sản cố định, biên bản bàn giao tài sản cố định, hóa đơn mua hàng, hoặc kiểm toán viên kiểm tra các hóa đơn và vận đơn để chứng minh nghiệp vụ bán hàng phát sinh.…  Sổ kế toán với báo cáo kế toán Các báo cáo kế toán thường là đáp ứng thông tin cho người bên ngoài doanhnghiệp trong khi đó sổ sách kế toán lại được lưu hành nội bộ trong doanh nghiệp.Do đó, vì các lý do khác nhau hoặc cũng có thể là nhầm lẫm mà các báo cáo tàichính không thể hiện đúng sự trình bày và khai báo hoặc các quy định và cácchuẩn mực khác được thừa nhận chung.  Các báo cáo kế toán với nhau Vì các mục đích cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau, doanhnghiệp có thể lập các báo cáo tài chính khác nhau ví dụ như để giảm áp lực về thuếthu nhập doanh nghiệp các báo cáo nộp cho cơ quan thuế doanh nghiệp có thể xửlý để làm giảm lợi nhuận trước thuế bằng cách tăng chi phí hoặc giảm các khoảndoanh thu. Trong khi đó để công bố cho các cổ đông về tình hình phát triển củacông ty hay huy động vốn các báo cáo có thể được đánh bóng để gia tăng lợinhuận và thuyết minh về một tình hình phát triển triển vọng của công ty.  Đối chiếu kì này với kì trướcĐể kiểm tra các hoạt động hay sự thay đổi bất thường trong nội bộ doanh nghiệp,cách đơn giản là kiểm toán viên đối chiếu số liệu của kỳ này với các kỳ trước.Thông thường một doanh nghiệp sẽ không có sự thay đổi quá lớn nếu không cómột nguyên nhân cụ thể nào đó. Căn cứ vào sự so sánh giữa các kỳ kiểm toán viêncó thể nhận xét sơ bộ và đánh giá các rủi ro cũng như các gian lận sẽ rơi vào cáckhoản mục nào.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 15
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Ưu điểm: Được sử dụng phổ biến, thực hiện tương đối thuận lợi bởi tài liệucó sẵn phục vụ cho việc đối chiếu, chi phí kiểm toán thường thấp hơn so với cáckỹ thuật khác. Nhược điểm của kỹ thuật này: Độ tin cậy của bằng chứng phụ thuộc rất nhiềuvào nguồn gốc của tài liệu, đồng thời đề phòng trường hợp tài liệu cung cấp bị sửachữa, giả mạo làm mất đi tính khách quan.4. Phương pháp quan sát Là quá trình sử dụng các giác quan để đánh giá và phát hiện các vấn đề nghivấn từ đó đưa ra nhận thức chung về các nghiệp vụ sự kiện và hoạt động của đơnvị. Ví dụ, kiểm toán viên có thể đi thị sát đơn vị được kiểm toán để có ấn tượngchung về máy móc thiết bị của đơn vị, quan sát tính cũ mới cũng như sự vận hànhcủa máy móc, hay quan sát các cá nhân thực hiện nhiệm vụ để đánh giá về thức tếhoạt động của đơn vị, xem thủ tục đơn vị thiết lập có được vận hành đúng như quyđịnh hay không. Phương pháp này có thể áp dụng cho rất nhiều bộ phận được kiểmtoán nhưng tự nó khó thể cung cấp đầy đủ bằng chứng, mà phải đi kèm với các thủtục khác. Bằng chứng thu thập được từ quan sát do trực tiếp kiểm toán viên thực hiệnnên nó mang tính khách quan, đáng tin cậy nhưng chỉ mang tính thời điểm, nhấtthời, không khẳng định được sự việc luôn xảy ra như vậy. Kỹ thuật quan sát thường được áp dụng trong cả giai đoạn lập kế hoạch vàgiai đoạn thực hiện kiểm toán. Nhưng chủ yếu kỹ thuật quan sát sẽ được kiểm toánviên thực hiện ngay trong giai đoạn đầu lập kế hoạch.5. Phương pháp phỏng vấn Là quá trình kiểm toán viên thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng lời nóiqua việc thẩm vấn những người hiểu biết về vấn đề kiểm toán viên quan tâm. Vídụ như yêu cầu người quản lý giải thích những quy định về kiểm soát nội bộ, hoặchỏi các nhân viên về ciệc thực hiện quy chế này... Thủ tục này quan trọng vì giúpcho kiểm toán viên thu thập được những bằng chứng chưa có, hoặc củng cố cácluận cứ của mình. Độ tin cậy của bằng chứng thu thập bằng thủ tục phỏng vấnkhông cao, và nó thường chỉ dùng để củng cố cho các bằng chứng khác, hoặc đểthu thập các thông tin phản hồi. Đối với phương pháp phỏng vấn, để đạt kết quả tốt, kiểm toán viên cầnnghiên cứu trước về các nội dung cần trao đổi, lựa chọn các câu hỏi, có thái độ hòanhã... Cần chú ý là khi sử dụng, kiểm toán viên cần chú ý đến tính khách quan vàsự hiểu biết của người được phỏng vấn. Các kết quả thu thập được, nếu quan trọngthì cần được ghi lại và lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán.  Trước khi tiến hành công việc phỏng vấn, kiểm toán viên phải chuẩn bị danh mục câu hỏi, hỏi cái gì, hỏi như thế nào,… để có thể tạo được niềm tin và khơi được sự sẵn sàng hợp tác của người được phỏng vấn. Các câu hỏi cần ngắn gọn, dể hiểu, đúng mục đích, tạo tâm lý thoải mái cho người trả lời. Vấn đề cần lưu ý là phải phỏng vấn nhiều người, không nên tin vào thông tin từ một người mà cần so sánh thông tin đó với thông tin do đối tượng phỏng vấn khác cung cấp. Thường thì phỏng vấn được thực hiện đối với những người có trách nhiệm cao, phẩm chất tốt.  Khi phỏng vấn, kiểm toán viên có thể dùng hai loại câu hỏi mở hoặc câu hỏi đóng. Câu hỏi mở cho kiểm toán viên câu trả lời chi tiết và đầy đủ, đôi khiSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 16
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com có thể thu thập được nhiều thông tin hơn ước tính, bằng cách đưa ra câu hỏi và để đối tượng được phỏng vấn tự nêu câu trả lời theo hiểu biết của họ. Dạng câu hỏi đóng sẽ giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn, các từ khoá thường dùng: “có” hay “không”, thường sử dụng khi muốn xác minh lại một vấn đề đã nghe hay đã biết, bằng cách nêu ra câu hỏi, cho những đáp án trả lời sẵn và người được phỏng vấn chỉ cần chọn câu trả lời thích hợp.  Kết thúc phỏng vấn, trước khi đưa ra kết luận thì kiểm toán viên cần chú ý đến tính khách quan và sự hiểu biết của người được phỏng vấn để có kết luận xác đáng về bằng chứng thu thập. Kiểm toán viên thường kết luận từng phần và cuối cùng là tóm tắt các điểm chính. Ưu điểm: kỹ thuật phỏng vấn thực hiện đơn giản và dễ sử dụng, chi phí ít, sẽgiúp kiểm toán viên thu thập được những bằng chứng mới, hoặc giúp thu thậpnhững thông tin phản hồi để củng cố ý kiến của kiểm toán viên. Tuy nhiên, nhược điểm của kỹ thuật này là độ tin cậy của bằng chứng khôngcao do đối tượng được phỏng vấn chủ yếu là người trong đơn vị được kiểm toánnên thiếu tính khách quan; chất lượng của bằng chứng cũng phụ thuộc vào trìnhđộ, sự hiểu biết và tính độc lập, khách quan của người được hỏi.6. Phương pháp tính toán Đây là phương pháp được kiểm toán viên áp dụng khá rộng rãi, phổ biếntrong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán nhằm thu thập bằng chứng về tính chínhxác số học của các khoản mục trên báo cáo tài chính khi thực hiện kiểm tra chi tiếtsố dư của các khoản mục. Thông qua việc cộng dồn các số phát sinh của các tàikhoản theo đối ứng bên Nợ bên Có để xác định số dư cuối kỳ của các tài khoản. Vídụ, đối với kiểm tra việc tính toán, kiểm toán viên xem xét tính chính xác (bằngcách tính lại) các hoá đơn, phiếu nhập, xuất kho; số liệu hàng tồn kho; tính lại chiphí khấu hao; giá thành; các khoản dự phòng; thuế; số tổng cộng trên sổ chi tiết vàsổ cái,…. Đối với kiểm tra tính chính xác của việc ghi sổ, kiểm toán viên đối chiếucác chứng từ có liên quan để xem cùng một thông tin được phản ánh trên chứng từkhác nhau, ở những nơi khác nhau. Các số liệu sau khi tính toán lại sẽ được đốichiếu với số liệu trên các sổ chi tiểt, sổ tổng hợp mà đơn vị cung cấp. Nếu có sựchênh lệch kiểm toán viên cần phỏng vấn kế toán trưởng, kế toán phụ trách từngphần hành để tìm hiểu rõ nguyên nhân của sự chênh lệch này. Các bảng số liệuđược coi là một bằng chứng về sự chính xác của số liệu trên Báo cáo tài chính củađơn vị. Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần tuý về mặt số học, khôngchú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được sử dụng. Do đó kỹ thuật nàythường được sử dụng cùng với các kỹ thuật khác như kiểm tra tài liệu, kiểm tra vậtchất, phân tích…trong quá trình thu thập bằng chứng. Ưu điểm: của kỹ thuật này là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao, xét vềmặt số học. Nhược điểm: của kỹ thuật này là các phép tính và phân bổ đôi khi khá phứctạp, tốn thời gian đặc biệt khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn, loại hình kinhdoanh đa dạng, luồng tiền ra vào rất lớn…Do đó cần có trang bị về máy tính, songcần chú ý kiểm tra hệ thống xử lý trên máy, các nhân viên có can thiệp được vàohay không.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 17
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com7. Phương pháp phân tích Là sự xem xét các số liệu, thông tin của đơn vị thông qua việc so sánh vànghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau, và giữa các thôngtin tài chính với các thông tin phi tài chính. Khi phân tích, ta có thể so sánh những thông tin như:  So sánh giữa các thông tin tài chính trong kỳ này với thông tin tương ứng của kỳ trước: Kiểm toán viên có thể so sánh số dư, hoặc số phát sinh tài khoản giữa các kỳ để phát hiện các tài khoản có biến động bất thường. Ví dụ: Một sự gia tăng bất thường của khoản phải thu khách hàng cuối kỳ có thể là sự xuất phát từ sự thay đổi chính sách bán chịu, tình trạng nợ khó đòi, gia tăng hoặc đang có lệch trọng yếu trong số dư cuối kỳ. Kiểm toán viên cũng có thể so sánh tỷ số giữa các kỳ để phát hiện những tàikhoản có thể bị sai lệch. Thí dụ: số vòng quay của hàng tồn kho giảm đột ngột cóthể phản ánh những sai lệch trong số dư hàng tồn kho, hoặc hàng hóa ứ đọng haymất phẩm chất. Việc so sánh cũng có thể được tiến hành trên các đối tượng chi tiếtcủa tài khoản, hoặc sự biến động chi tiết giữa các kỳ trong tháng, quý, năm.  So sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán: Việc điều tra các sai biệt lớn giữa số liệu thực tế và kế hoạch có thể cho thấy những sai lệch trong báo cáo tài chính, hoặc các biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị.  So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với những chỉ tiêu bình quân ngành: Về nguyên tắc, giữa một số chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân của ngành có mối quan hệ tương đồng trong một phạm vi nhất định. Ví dụ: Tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu, tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu chính trong giá thành sản phẩm... Việc nghiên cứu những khác biệt lớn giữa chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân ngành có thể sẽ cho biết các sai lệch, hoặc giúp kiểm toán viên hiểu biết sâu sắc hơn về hoạt động của đơn vị. Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này cần chú ý sự khác biệt về quy mô, về việc áp dụng chính sách kế toán giữa các đơn vị.  Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính trong kỳ: Với phương pháp này, kiểm toán viên có thể dựa trên mối quan hệ bản chất giữa các số dư, hay số phát sinh của tài khoản qua mối quan hệ giữa chúng với các tài khoản khác. Ví dụ: có thể ước tính chi phí lãi vay bằng cách nhân lãi suất bình quân tháng với số dư cuối tháng của tài khoản nợ vay. Sau đó, mọi sự khác biệt trọng yếu giữa số liệu ước tính và số liệu sổ sách cần được điều tra để xác định nguyên nhân. Tài khoản chi phí lãi vay có khớp được với tài khoản vốn vay. Ngoài ra, một vài tài khoản có thể liên hệ theo cách khác. Giả sử chi phí hoa hồng có thể là một tỷ lệ phần trăm cụ thể của doanh thu và các khoản nợ khó đòi không thể vượt quá doanh thu bán hàng trả chậm. Bằng cách kiểm tra mối quan hệ qua lại giữa các tài khoản, kiểm toán viên có thể phát hiện các sai sót thuộc về xử lý kế toán. Một phương pháp khác cũng có thể được áp dụng để xác định những khoảnmục có khả năng sai lệch, đó là chọn ra các đối tượng chi tiết, các nghiệp vụ bấtthường, chẳng hạn như số tiền vượt trội hằn, hoặc có nội dung không rõ ràng đểkiểm tra. Để phát hiện chúng, kiểm toán viên có thể đọc lướt trên sổ sách, tàikhoản và xác định các khoản bất thường.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 18
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com  Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính: Các thông tin phi tài chính là những dữ liệu kinh tế, kỹ thuật do các hệ thống hạch toán nghiệp vụ, thống kê... cung cấp. Giữa các thông tin này và thông tin tài chính có những quan hệ nhất định, nên kiểm toán viên có thể phát hiện được những sai sót nhờ dựa trên mối quan hệ hợp lý giữa chúng với nhau. Ví dụ: đối chiếu giữa chi phí tiền lương và số lượng công nhân viên để xem mức lương bình quân có hợp lý không; so sánh giữa lượng tồn kho của một số loại vật từ với khả năng chứa đựng rủi ro của kho hàng... Khi sử dụng những thông tin phi tài chính, kiểm toán viên cũng cần chú ý kiểm tra độ chính xác của chúng. Trong quá trình so sánh, nếu phát hiện được các biến động bất thường, chẳnghạn như khi có những sai biệt lớn, các tỷ lệ ngoài dự kiến, những thông tin tàichính không nhất quán với các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được..., kiểmtoán viên cần tiến hành điều tra phỏng vấn bằng cách: • Phỏng vấn người quản lý đơn vị, hoặc xác minh lại các giải trình của đơn vị. • Cân nhắc và sử dụng các thủ tục kiểm toán khác để có được kết luận hợp lý. Thủ tục phân tích được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của quy trìnhkiểm toán: • Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, phân tích giúp xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán; đồng thời hướng dẫn sự chú ý của kiểm toán viên đến những bộ phận cần phải điều tra đặc biệt. • Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, phân tích là một loại thử nghiệm cơ bản, nó cung cấp bằng chứng về sự hợp lý của những khoản mục trên báo cáo tài chính, hoặc các thông tin tài chính riêng biệt. • Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán, phân tích được sử dụng để xem xét lại tổng quát lần cuối về toàn bộ số liệu đã được kiểm toán nhằm củng cố thêm cho kết luận đã được đề ra, hoặc giúp nhận thấy những vấn đề cần phải tiến hành thêm các thủ tục kiểm toán thì mới có thể kết luận. Phân tích được đánh giá là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả vì thời gian ít,chi phí thấp, mà lại có thể cung cấp những bằng chứng về sự đồng bộ, hợp lýchung về các số liệu kế toán; đồng thời giúp đánh giá được những nét tổng thể vàkhông bị sa vào các nghiệp vụ cụ thể. Kỹ thuật phân tích gồm 3 nội dung: dự đoán, so sánh và đánh giá. • Dự đoán: Là việc ước đoán về số dự tài khoản, giá trị tỉ suất hoặc xu hường… • So sánh: là việc đối chiếu ước đoán trên với số báo cáo. • Đánh giá: là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn, và các kỹ thuật khác (phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận về các chênh lệch khi so sánh. Kỹ thuật phân tích được sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán có hiệu lực gồm ba loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hường và phân tích tỉ suất. Phân tích xu hướng là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của số dưtài khoản, hay nghiệp vụ. Phân tích xu hướng thường được kiểm toán viên sử dụngqua so sánh thông tin tài chính kỳ này với thông tin tài chính kỳ trước hay so sánhthông tin tài chính giữa các tháng trong kỳ hoặc so sánh số dư (số phát sinh) củaSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 19
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com các tài khoản cần xem xem xét giữa các kỳ, nhằm phát hiện những biến động bất thường để tập trung kiểm tra, xem xét. Phân tích tỉ suất là cách thức so sánh những số dư tài khoản hoặc những loại hình nghiệp vụ. Phân tích tỉ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý về tình hình tài chính của một công ty nào đó với công ty khác trong cùng tập đoàn hay với ngành đó. Thông thường khi phân tích tỉ suất cũng phải xem xét xu hướng của tỉ suất đó. Kiểm tra tính hợp lý: kiểm tra số phát sinh thực tế so với kế hoạch, kiểm tra sự phù hợp của lãi vay… Nhìn chung các loại hình phân tích áp dụng hiệu quả đối với các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh doanh và các loại nghiệp vụ liên quan hơn là đối với các tài khoản trong bảng cân đối kế toán. Số dư các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh doanh được lấy từ số phát sinh nên dễ dự đoán hơn, trong khi đó tài khoản trong bản cân đối kế toán được lấy từ số dư cuối kỳ phải tính toán phức tạp. Loại hình phân tíchĐối tượng kiểm toán Phân tích xuhướng Phân tích tỉ suất Kiểm tra tính hợp lýKhoản mục trong bảng cân Hạn chế Hữu ích Hạn chếđối kế toánKhoản mục trong báo cáo Hữu ích Rất hữu ích Rất hữu íchkết quả kinh doanh Ưu điểm của thủ tục phân tích là tương đối đơn giản, có hiệu quả vì ít tốn thời gian, chi phí cho kiểm toán thấp mà vẫn có thể cung cấp bằng chứng về sự đồng bộ, chuẩn xác và có giá trị về mặt kế toán, giúp kiểm toán viên đánh giá được tổng thể không bị sa và các nghiệp vụ cụ thể. Thủ tục phân tích do đó được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của qui trình kiểm toán và được xem là rất hữu ích. Tuy nhiên, khi áp dụng kỹ thuật này, kiểm toán viên cần lưu ý một số điểm:  Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh: việc phân tích sẽ không có ý nghĩa nếu các chỉ tiêu không có mối liên hệ với nhau. Ngoài ra kỹ thuật này chỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu đồng chất về nội dung và phương pháp tính.  Đối với những khoản mục hay chỉ tiêu trọng yếu, kiểm toán viên không thể chỉ sử dụng kỹ thuật phân tích đơn thuần mà cần kết hợp với các kỹ thuật khác để tìm được bằng chứng thích hợp.  Trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém, cần thận trọng trong phân tích và nên kết hợp với nhiều kỹ thuật khác.  Đánh giá chênh lệch khi phân tích sẽ sai lầm nếu kiểm toán viên thiếu hiểu biết về những mức chuẩn ngành kinh doanh của đơn vị được kiểm toán. BẢNG TỔNG HỢP CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BCKT Kỹ thuật BCKT Độ tin CSDL thu thập cậy Sự Sự Sự đầy Sự Sự Quyền Trình BCKT tồn phát đủ đánh chính và bày và tại sinh giá xác nghĩa khai vụ báo Quan sát Ngầm Cao   hiểu, ít khi thể hiện trên giấy làm SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 20
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com việcKiểm tra Biên bản Cao vật chất kiểm kê hoặc phiếu kiểm kêPhỏng vấn Bảng Thấp   câu hỏiXác minh Giấy Trung     tài liệu làm việc bìnhXác nhận Thư xác Cao   nhậnTính toán Bảng số Cao  lại liệuPhân tích Bảng Cao   phân tích sơ bộ BCTC, bảng tổng hợp phân tích hệ sốIV. Áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng vào kiểm toán việc thiết kếcác thủ tục kiểm toán trong kế hoạch và chương trình kiểm toán Để thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên triển khai theo các thủ tục sau:1. Thử nghiệm kiểm soát Nếu đánh giá ban đầu của kiểm toán viên cho thấy khách hàng có hệ thốngkiểm soát nội bộ hữu hiệu thì khi đó kiểm toán viên sẽ thực hiện thủ tục kiểm soátnhằm thu thập bằng chứng kiểm toán về thiết kế và hoạt động của hệ thống kiểmsoát nội bộ. Các bằng chứng kiểm toán cần chứng minh được thiết kế các hoạtđộng kiểm soát cụ thể có thích hợp để ngăn ngừa những sai sót hay không đồngthời cũng cần chứng minh được hệ thống đó có được triển khai theo đúng yêu cầuthiết kế trong thực tế hay không. Các kỹ thuật thu thập BCKT thường được ápdụng trong phần này như: phỏng vấn, quan sát, xác minh tài liệu.2. Thử nghiệm cơ bản 2.1. Thủ tục phân tích Trong việc tổ chức thực hiện thủ tục phân tích đòi hỏi nhiều ở sự phán đoáncủa kiểm toán viên. Thông thường, thực hiện thủ tục phân tích phải trải qua cácgiai đoạn sau:  Giai đoạn phát triển mô hình  Giai đoạn ước lượng giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ  Giai đoạn phân tích nguyên nhân chênh lệch  Giai đoạn xem xét những phát hiện qua kiểm toánSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 21
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Bằng chứng thu được từ thủ tục phân tích cần được đánh giá không chỉ baogồm những sai sót trong từng khoản mục mà cả việc quan sát hệ thống kiểm soátnội bộ, hệ thống thông tin và những vấn đề liên quan. 2.2. Kiểm tra chi tiết nghiệm vụ, số dư Kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ là bước cuối cùng trong giai đoạn thựchiện kiếm toán. Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết tốn nhiều chi phí nhất trongcuộc kiểm toán. Do đó, thủ tục này được thực hiện với những tài khoản được đánhgiá là điển hình nhất. Các kỹ thuật thu thập BCKT thường được áp dụng trongphần này như: xác minh tài liệu, tính toán lại. Được tiến hành theo các bước sau:  Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết: Trước hết, kiểm toán viên xác định mục tiêu của các biện pháp kỹ thuật, tiếp theo kiểm toán viên tiến hành lựa chọn các khoản mục trong tổng thể. Việc xác định tổng số khoản mục, nghiệp vụ cần hướng tới tính đầy đủ và tin cậy của bằng chứng kiểm toán.  Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết: Kiểm toán viên có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra chi tiết không phải với tất cả các khoản mục trong một tài khoản thì phải chấp nhận mức độ không chắc chắn của Bằng chứng kiểm toán thu được. Khi đó kiểm toán viên có thể lựa chọn một số khoản mục trên cơ sở chọn điển hình các khoản mục chính hoặc chọn mẫu đại diện hay kết hợp cả 2 phương pháp.  Lựa chọn các khoản mục chính: Kiểm toán viên thu thập Bằng chứng kiểm toán bằng cách điều tra kỹ các khoản mục chính. Dựa trên sự đánh giá, kinh nghiệm và những hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng, kiểm toán viên phát hiện ra một số khoản mục không phát sinh bình thường, không dự đoán trước được hay dễ có sai phạm.  Thực hiện kiểm tra chi tiết trên khoản mục đã chọn: Có thể áp dụng các kỹ thuật kiểm toán thích hợp đối với mỗi một khoản mục lựa chọn để tiến hành kiểm tra chi tiết nhằm xác định khả năng tồn tại những chênh lệch đến mức đòi hỏi điều tra và theo dõi. Trong các kỹ thuật kiểm tra chi tiết xác nhận và kiểm tra thực tế là những biện pháp thường được áp dụng rộng rãi trong kiểm toán tài chính và cần được thực hiện trên cơ sở xác định.  Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết: Kiểm toán viên cần đánh giá những Bằng chứng kiểm toán đã thu được từ quá trình kiểm tra chi tiết và tiến hành điều tra nguyên nhân đối với những chênh lệch kiểm toán.  Xử lý chênh lệch kiểm toán: Kết thúc giai đoạn kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên thực hiện xử lý các chênh lệch kiểm toán. Tuỳ theo loại chênh lệch và thủ tục tiến hành khi phát hiện trong quá trình kiểm toán cho thấy có sai sót, kiểm toán viên sẽ có những biện pháp xử lý thích hợp cho từng loại chênh lệch.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 22
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com PHẦN 2 THỰC TẾ VIỆC ÁP DỤNG KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AACI. Khái quát chung về công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên Công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên giao dịch: Auditing and accounting company, Ltd. Tên viết tắt: AAC Địa chỉ trụ sở chính: 217 Nguyễn Văn Linh, TP Đà Nẵng Điện thoại: (84).0511. 3655 886 Fax: (84).0511. 3655 887 Logo : E-mail: aac@dng.vnn.vn Webside: http://www.aac.com.vn * Ngoài ra, Công ty đã mở một chi nhánh tại TP. HCM Địa chỉ:, Tầng 5 tòa nhà Hoàng Đan, 47-49 Hoàng Sa, Quận 1, Tp. Hồ ChíMinh Điện thoại: (08) 39102235 Fax: (08) 391023491. Quá trình hình thành và phát triển 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty kiểm toán và kế toán AAC, trước đây là công ty kiểm toán Đà Nẵng-công ty kiểm toán độc lập trực thuộc Bộ Tài chính được thành lập theo quyết địnhsố 194/TC/TCCB ngày 01 tháng 4 năm 1993 và Quyết định số 106 TC/TCCBngày 13 tháng 02 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, là một trong số rất ít cáccông ty kiểm toán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. Việc thành lập công tyđược thực hiện trên cơ sở sáp nhập hai chi nhánh của hai công ty hành nghề kiểmtoán từ năm 1991, đó là: Chi nhánh Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Chinhánh công ty tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) tại khu vực MiềnTrung và Tây Nguyên. Để phù hợp với tình hình mới về sự phát triển công ty, Bộ Tài chính đã cóquyết định số 139/2000/QĐ-BTC ngày 06/9/2000 về việc đổi tên “Công ty kiểmtoán Đà Nẵng – DAC” thành “Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC”.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 23
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Ngày 07/05/2007, Công ty chuyển đổi sở hữu từ Doanh nghiệp Nhà nướcthành Công ty TNHH hai thành viên trở lên theo Quyết định phê duyệt phương ánchuyển đổi số 1335/QĐ-BTC ngày 02/04/2007 của Bộ Tài chính, và đổi tên thành“Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC”. Tháng 09/2008, Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC chính thức trởthành thành viên của hãng kiểm toán quốc tế IGAF Polaris – một tổ chức chuyênngành kiểm toán, kế toán và tư vấn với hơn 200 hãng thành viên có mặt tại 90quốc gia trên thế giới. 1.2. Mạng lưới khách hàng AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loạihình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có quy chế riêngvề việc lựa chọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổchức niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. các tổ chức phát hành và kinhdoanh chứng khoán... Hiện tại AAC đã và đang thực hiện cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn chohơn 1000 khách hàng trên toàn quốc. Theo thống kê của Hội Kiểm toán viên hànhnghề Việt Nam (VACPA) trong năm 2010, AAC nằm trong nhóm 10 Công tykiểm toán có số lượng khách hàng lớn nhất tính trên hơn 160 Công ty kiểm toánđang hoạt động tại Việt Nam. Khách hàng của AAC là các doanh nghiệp, tổ chứcvà cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước; bao gồm hơn 50 Công tyniêm yết trên thị trường chứng khoán, 200 Công ty đại chúng, 150 Công ty có vốnđầu tư nước ngoài và các tổ chức quốc tế 1.3. Đội ngũ nhân viên Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới khách hàng, AAC luôn quan tâm đầu tưphát triển nguồn nhân lực của Công ty. Đội ngũ kiểm toán viên và nhân viênchuyên nghiệp của AAC được liên tục đào tạo và cập nhật các chương trình và nộidung mới về kế toán, kiểm toán, thuế và các chuyên ngành có liên quan. Hơn 15%cán bộ công nhân viên AAC đã hoàn thành chương trình đào tạo cao học tại cáctrường đại học ở Việt Nam và các quốc gia tiên tiến như Úc, Nhật Bản, Ireland,Bỉ…. Hiện nay, AAC là một trong số 10 Công ty kiểm toán trên toàn quốc có sốlượng kiểm toán viên hành nghề đông đảo nhất: hơn 132 nhân viên, trong đókhoảng 31 người đã có chứng chỉ kiểm toán viên cấp quốc gia và sẽ tiếp tục tănglên trong thời gian tới. AAC có 100% đội ngũ kiểm toán viên và trợ lỹ kiểm toán viên cao cấp đượcđào tạo trực tiếp bởi các chuyên gia cao cấp về kiểm toán của Cộng đồng Châu Âuthông qua chương trình hợp tác về kiểm toán và kế toán của dự án EURO –TAPVIET do Cộng đồng Châu Âu tài trợ. Bên cạnh đó, việc cử các kiểm toán viên tham gia các khóa đào tạo, hội thảochuyên đề do IGAF Polaris tổ chức hàng năm góp phần giúp cho các Kiểm toánviên và Chuyên viên của AAC được trang bị, cập nhật các kiến thức mới, kỹ năngthực hành kiểm toán, tư vấn hiện đại và cải thiện khả năng ngoại ngữ. Do đó, với đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp, ý thức trách nhiệm cao, cóđạo đức nghề nghiệp trong sáng đã góp phần giúp AAC từng bước khẳng địnhnăng lực và uy tín của mình trên thị trường kiểm toán Việt Nam.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 24
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com 1.4. Các kết quả đạt được Với những nỗ lực không ngừng của lãnh đạo cũng như tập thể nhân viên,Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC đã gặt hái được những thành tựu đángtự hào, chiếm được lòng tin của khách hàng bằng việc cung cấp những dịch vụchuyên môn đảm bảo chất lượng. Đồng thời, AAC đã có những đóng góp đáng kểtrong việc cộng tác với các Công ty và tổ chức nước ngoài nhằm phát triển sựnghiệp kiểm toán ở Việt Nam. Liên tiếp trong hai năm 2007 và 2008, AAC được Hội đồng trao giải“Thương mại dịch vụ - Top Trade Services”. Năm 2009, AAC được Đài Tiếng nói Việt Nam, Bộ Công thương, Bộ Laođộng Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóaThể thao và Du lịch, … bình chọn và trao cúp vàng “Doanh nghiệp Việt Nam tiêubiểu”. Tháng 10/2009, AAC được Hiệp hội kinh doanh Chứng khoán Việt Nam(VASB), Tạp chí Chứng khoán Việt nam (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), trungtâm thông tin Tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC), Công ty Cổ phầntruyền thông Tài chính Chứng khoán Việt Nam (VNSF media), Công ty Cổ phầnChứng khoán Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VICS), Công ty Cổ phầnVăn hóa Thông tin Thăng Long (TIC.media) trao tặng danh hiệu “Tổ chức kiểmtoán niêm yết uy tín”. Từ nhiều năm nay, AAC được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận đủđiều kiện để kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinhdoanh chứng khoán tại Việt Nam.2. Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động 2.1. Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động của công ty AAC là giúp khách hàng và những ngườiquan tâm bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ, cung cấp cho họ những thông tin đíchthực và cần thiết để tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời đưara các quyết định quản lý phù hợp với thực tiễn. Công ty AAC không ngừng hoạt động nhằm góp phần phát hiện và ngănngừa những rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp được thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. 2.2. Nguyên tắc hoạt động AAC hoạt động theo phương châm “Chất lượng trong từng dịch vụ” và luônđề cao nguyên tắc độc lập, khách quan, trung thực và bí mật số liệu của kháchhàng trong các giao kết dịch vụ, đó cũng chính là lời cam kết của AAC với kháchhàng. Phương châm hoạt động luôn được công ty quán triệt đến tất cả các thànhviên trong công ty và luôn có các biện pháp để các phương châm hoạt động đượctuân thủ nghiêm ngặt trong suốt quá trình hoạt động của công ty.3. Tổ chức bộ máy quản lý công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC 3.1. Sơ đồ tổ chức toàn công ty Công ty đã xây dựng một mô hình quản lý theo các phòng ban chức năng. Mô hìnhnày giảm thiểu chi phí hành chính, giảm các bộ phận trung gian trong quá trình quản lý.Các kế hoạch, chiến lựơc hoạt động của ban giám đốc được phổ biến thẳng xuống cho cácbộ phận thực thi và ngược lại mọi sự phản hồi từ các bộ phận triển khai hoạt động cũngđược Ban giám đốc nắm bắt nhanh chóng.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 25
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Do mục tiêu hoạt động hướng vào khách hàng, công ty thực hiện việc phân chia phòng ban theo mục đích phục vụ khách hàng, mỗi phòng nghiệp vụ sẽ chịu trách nhiệm cung cấp một loại hình dịch vụ nhất định cho khách hàng nhờ đó mà chất lượng dịch vụ cung cấp sẽ đựơc nâng cao do sự am hiểu khách hàng và chuyên môn hoá trong công việc cũng như việc quy trách nhiệm trong quản lý. TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM XDCB ĐỐC BCTC KHỐI PHÒNG TƯ PHÒNG KẾ KHỐI KIỂM VẤN CHI TOÁN KIỂM TOÁN - ĐÀO TẠO NHÁNH HÀNH CHÍNH TOÁN XDCB TP. HCM BCTC BAN KIỂM PHÒNG PHÒNG PHÒNGSOÁT CHẤT KIỂM BAN KIỂM PHÒNG PHÒNG PHÒNG KIỂM KIỂM KIỂM KIỂM KIỂM LƯỢNG TOÁN XDCB SOÁT TOÁN XDCB TOÁN TOÁN TOÁN TOÁN 2 CHẤT 1 BCTC 1 BCTC 2 BCTC 3 BCTC 4 LƯỢNG 3.2. Sơ đồ tổ chức phòng kiểm toán BCTC Trưởng phòng kiểm toán Kiểm toán viên chính Trợ lý kiểm toán SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 26
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com 3.3. Chức năng, nhiệm vụ của các cá nhân, bộ phận  Tổng giám đốc: - Là người đại diện toàn quyền của công ty, chịu trách nhiệm Pháp luật về toàn bộhoạt động của công ty. - Đánh giá rủi ro của hợp đồng kiểm toán liên quan đến hoạt động của công ty. - Duy trì mối quan hệ với các cán bộ cao cấp của công ty. - Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quantrọng cao. - Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã được thực hiện. - Chịu trách nhiệm ký Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý. - Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộc kiểmtoán hoặc ủy quyền lại.  Phó Tổng Giám đốc: - Được phân công ủy quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên quan đến nhân sự,hành chính, khách hàng và các vấn đề về nghiệp vụ. - Chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và Pháp luật về những vấn đềđược phân công và ủy quyền. - Giải quyết những vấn đề liên quan đến chuyên môn của mình.  Giám đốc các khối: - Phụ trách chuyên môn nghiệp vụ, nhân sự, hành chính, tổ chức phối hợp công việcgiữa các nhóm làm việc trên hai lĩnh vực hoạt động Xây dựng cơ bản và BCTC.  Kế toán trưởng: - Là người giúp Tổng giám đốc tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê tàichính và kiểm toán nội bộ, có các quyền và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật như:lập báo cáo tài chính, công khai số liệu tài chính, tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ, hệthống tài khoản kế toán, ghi chép, lưu trữ chứng từ, hồ sơ kế toán đúng theo đặc điểmkinh doanh của công ty. - Chịu trách nhiệm chuẩn bị tất cả những thông tin quản lý, tài chính, lập các kếhoạch về tài chính, dự trù ngân sách và các vấn đề liên quan đến hệ thống kế toán; quảnlý tiền mặt, tính lương, thực hiện công việc thanh toán, quan hệ với ngân hàng, kháchhàng…  Ban kiểm soát chất lượng: - Kiểm soát chất lượng của các Báo cáo kiểm toán trước khi trình lên Tổng giámđốc, Phó tổng giám đốc phê duyệt.  Phòng kiểm toán: - Thực hiện các cuộc kiểm toán BCTC hay XDCB.  Phòng tư vấn đào tạo: - Cung cấp những thông tư, nghị định mới cho toàn công ty, đứng đầu là trưởngphòng, dưới là các nhân viên có nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng, chăm sóc khách hàng,đồng thời các nhân viên này còn có nhiệm vụ dạy lớp kế toán trưởng mà công ty tổ chức,đào tạo các nhân viên mới vào.  Phòng hành chính:SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 27
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com -Phòng hành chính có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ về khách hàng đã được kiểm toánqua các năm, xác định tình hình hoạt động kinh doanh trong kỳ tại công ty.  Chi nhánh Tp Hồ Chí Minh: - Quản lý công việc kiểm toán với những khách hàng tại Tp Hồ Chí Minh.  Trưởng, phó phòng: - Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc và đóng vai trò quan trọngtrong lĩnh vực hoạt động của công ty. Trưởng phòng giữ vai trò lãnh đạo trong ban quảnlý của công ty, họ có chức năng như một cầu nối giữa Tổng Giám Đốc, ban quản lý vàcác nhân viên trong công ty, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến nhân sự, phốihợp hoạt động và đảm nhận các vấn đề về công việc hành chính. - Phó phòng là người tham mưu trực tiếp cho trưởng phòng, thay mặt trưởng phòngđiều hành toàn bộ công việc trong thời gian trưởng phòng đi vắng và thực hiện các côngviệc do trưởng phòng uỷ quyền.  Kiểm toán viên chính: - Giám sát công việc của các trợ lý. - Báo cáo trực tiếp với người quản lý phụ trách một vụ việc kiểm toán. - Xem xét giấy tờ làm việc sơ bộ, hỗ trợ đào tạo nhân viên, sắp xếp nhân sự cho cáccuộc kiểm toán. - Được ký vào các báo cáo kiểm toán theo sự phân công của trưởng phòng.  Trợ lý kiểm toán viên: - Là những người tham gia thực hiện công tác kiểm toán nhưng chưa được Nhànước công nhận trúng tuyển kỳ thi Kiểm toán viên cấp Quốc gia. Tùy vào năng lực thâmniên công tác mà trợ lý kiểm toán viên chia làm ba cấp:  Trợ lý kiểm toán viên cấp 1: là người sau thời gian thử việc ba tháng, được trúng tuyển chính thức vào công ty cho đến một năm sau đó. Theo thông lệ, những người mới tốt nghiệp các trường các trường kinh doanh, các trường đại học và những người có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực kiểm toán và kế toán có thể làm việc cho công ty với tư cách là một trợ lý mới vào nghề.  Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: là người làm việc ở công ty kiểm toán được hai năm chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó.  Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: là người làm việc ở công ty được ba năm, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng đoàn kiểm toán.4. Các loại dịch vụ chuyên ngành 4.1. Kiểm toán Cung cấp các dịch vụ kiểm toán luôn luôn là thế mạnh của AAC. Các dịch vụ kiểmtoán do AAC cung cấp bao gồm: - Kiểm toán báo cáo tài chính - Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế - Kiểm toán hoạt động - Kiểm toán tuân thủ - Kiểm toán nội bộ - Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thoả thuận trước - Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản - Kiểm toán báo cáo dự toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản 4.2. Kế toán - Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán - Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán - Lập các Báo cáo tài chính định kỳSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 28
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com - Chuyển đổi các Báo cáo tài chính được lập theo VAS, IAS - Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán 4.3. Tư vấn thuế Các dịch vụ thuế do AAC cung cấp bao gồm: - Đăng ký & kê khai thuế - Tư vấn kế hoạch thuế - Cung cấp các văn bản thuế có liên quan 4.4. Tư vấn quản lý và đào tạo - Đăng ký chế độ kế toán doanh nghiệp - Tư vấn thực hành kế toán - Tư vấn đầu tư & thủ tục cấp phép - Tư vấn thành lập doanh nghiệp - Tư vấn xác định giá trị & cổ phần hoá doanh nghiệp - Tư vấn tổ chức bộ máy kế toán - Tư vấn tài chính - Tổ chức lớp bồi dưỡng kế toán trưởng - Tổ chức lớp thực hành kế toán - Tổ chức lớp chuẩn mực kế toán & kiểm toán - Tổ chức lớp kiểm toán nội bộ - Tổ chức lớp ôn tập & cấp chứng chỉ hành nghề kế toán - Tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức chứng khoán 4.5. Dịch vụ tin học - Cung cấp và tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán và quản lý - Tư vấn việc lựa chọn trang bị các thiết bị tin học - Các dịch vụ khác có liên quan.5. Khái quát quy trình kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểmtoán và Kế toán AAC thực hiện Hiện tại AAC đã áp dụng chương trình kiểm toán mẫu của Hội kiểm toán viên hànhnghề Việt Nam (VACPA), quy trình kiểm toán báo cáo tài chính do công ty AAC thựchiện qua ba giai đoạn sau: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểmtoán. QUẢN LÝ CUỘC KIỂM TOÁN Kế hoạch kiểm toán Thực hiện kiểm toán Tổng hợp, kết luận và lập báo cáo Xem xét chấp nhận khách Kiểm tra hệ thống kiểm soát Tổng hợp kết quả kiểm hàng và đánh giá rủi ro hợp nội bộ [C100-C500] toán [B410] Tổng hợp kết quả kiểm toán đồng [A100] Lập hợp đồng kiểm toán và Phân tích tổng thể báo Kiểm tra cơ bản bảng cân đối kế toán Kiểm tra cơ bản tài PHÙ HỢP VỚI CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM TUÂN THỦ CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM lựa chọn nhóm kiểm toán cáo tài chính lần cuối sản [D100-D800] Tổng hợp kết quả kiểm toán & đánh giá chất lượng [A200] [B420] Tìm hiểu khách hàng và môi Lập và soát xét giấy tờ làm việc trường hoạt động [A300] Lập kế hoạch và xác định rủi ro Thư giải trình của Ban Kiểm tra cơ bản nợ Giám đốc và Ban quản Tìm hiểu chính sách kế toán phải trả [E100-E600] trị [B430-B440] và chu trình kinh doanh quan trọng [A400] Kiểm tra cơ bản Phân tích sơ bộ báo cáo tài Báo cáo tài chính và báo cáo NVCSH và TK ngoài chính [A500] kiểm toán [B300] bảng [F100-F300] Đánh giá chung về hệ thống Kiểm tra cơ bản báo cáo kết Thư quản lý và các tư vấn kiểm soát nội bộ và rủi ro quả hoạt động kinh doanh khách hàng khác [B200] gian lận [A600] [G100-G700] Xác định mức trọng yếu Kiểm tra các nội dung khác Soát xét, phê duyệt và phát [A700] [H100-H200] hành báo cáo [B110] Tổng hợp kế hoạch kiểm Đánh giá lại mức trọng yếu Kiểm soát chất lượng kiểm toán [A800] và phạm vi kiểm toán [A700] toán [B120]SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 29 XÁC ĐỊNH, ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ RỦI RO
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Sơ đồ: Quy trình kiểm toán tại AAC (theo chương trình kiểm toán mẫu của VACPA). 5.1. Lập kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kiểm toán, nhằm tạo racác điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cần thiết khác cho việc kiểm toán. Trongchuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA300 nêu rõ kiểm toán viên cần lập kế hoạch cho côngtác kiểm toán để có thể đảm bảo rằng cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệuquả. Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên cũng là giai đoạn quan trọng trong mỗicuộc kiểm toán, do nó sẽ chi phối đến chất lượng của toàn bộ cuộc kiểm toán, là tiền đềcho những hoạt động kiểm toán của một cuộc kiểm toán, giúp KTV xác định vùng có rủiro cao thông qua đó thiết kế được thủ tục kiểm toán hiệu quả. Kế hoạch kiểm toán phảiđược lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của mộtcuộc kiểm toán, phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn. Việc lập kế hoạchđược một KTV giàu kinh nghiệm thực hiện tuỳ theo quy mô của công ty khách hàng vàphân công nhân sự của ban giám đốc công ty. Quy trình lập kế hoạch kiểm toán ở công tyTNHH Kiểm toán và Kế toán AAC gồm hai giai đoạn là tiền kế hoạch và lập kế hoạch:  Giai đoạn tiền kế hoạch Trong giai đoạn tiền kế hoạch, kiểm toán viên sẽ xem xét khả năng nhận lời mờikhách hàng, việc quyết định có chấp nhận kiểm toán hay không, tìm hiểu lý do khách hàngcó nhu cầu kiểm toán, ký kết hợp đồng kiểm toán và lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiệncuộc kiểm toán.  Xem xét chấp nhận khách hàng: Nếu là khách hàng mới KTV chưa có bất cứ thông tin gì về khách hàng, KTV sẽ phảithận trọng xem xét kỹ tất cả các mặt về tình hình hoạt động, các điểm đặc biệt, cơ cấu tổ chứccủa khách hàng…trước khi chấp nhận kiểm toán nhằm tránh mọi rủi ro có thể xảy trong vàsau cuộc kiểm toán. Cách thức chủ yếu được áp dụng là quan sát và phỏng vấn. Đối với khách hàng AAC đã từng kiểm toán, khi có yêu cầu tiếp tục kiểm toán củađơn vị, KTV sẽ dựa vào hồ sơ làm việc của các năm trước, bản đánh giá khách hàng hàngnăm để xem xét các sự kiện đặc biệt xảy ra trong và sau cuộc kiểm toán năm trước, xemxét việc có chấp nhận kiểm toán hay không, nếu đã có những mâu thuẩn nghiêm trọngxảy ra thì có thể AAC sẽ không tiếp tục kiểm toán cho khách hàng nữa. Nếu chấp nhậnkiểm toán thì có cần phải thay đổi nội dung của hợp đồng kiểm toán hay không. Thông thường, một hợp đồng được đánh giá có mức độ rủi ro cao khi có một trongcác đặc điểm sau đây: • Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán; • Công ty đại chúng; • Công ty không có hệ thống KSNB hiệu quả; • Công ty có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục; • Công ty có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng; • Có nghi ngờ về tính chính trực của BGĐ/Ban Quản trị • BGĐ Công ty có sức ép lớn phải hoàn thành các chỉ tiêu tài chính năm; • Công ty đang có kiện tụng, tranh chấp; • Công ty đang có kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước; • Các năm trước có lãi lớn nhưng năm nay bị lỗ lớn;SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 30
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • BCTC có nhiều khoản nợ phải trả lớn, đầu tư tài chính dài hạn lớn, nhiều hoạt động liên doanh, liên kết…lớn; • Thường xuyên thay đổi HĐQT, BGĐ, Kế toán trưởng, KTV…  Tìm hiểu lý do khách hàng mời kiểm toán Để hiểu rõ hơn về khách hàng và thuận tiện cho công tác kiểm toán, AAC thườngtiến hành tìm hiểu lý do khách hàng mời kiểm toán. Từ đó, AAC có thể xác định đượctầm quan trọng, mục đích và các bước công việc cần làm của mỗi cuộc kiểm toán. Ví dụ,khách hàng mời kiểm toán báo cáo tài chính nhằm mục đích công khai thông tin tài chínhra bên ngoài, hoặc là theo yêu cầu của công ty mẹ ở nước ngoài…  Kí kết hợp đồng kiểm toán Sau quá trình tiếp cận khách hàng để thu thập thông tin về các nhu cầu của kháchhàng, đánh giá khả năng thực hiện, đưa ra các thoả thuận ban đầu và xem xét các khíacạnh cần thiết khác, KTV sẽ tiến hành đánh giá sơ bộ rủi ro của cuộc kiểm toán để xemxét có thể chấp nhận cung cấp dịch vụ cho khách hàng không, nếu rủi ro là có thể chấpnhận được thì hai bên sẽ tiến hành lập hợp đồng kiểm toán, nếu rủi ro được xác định làquá lớn, công ty kiểm toán phải từ chối cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong hợpđồng sẽ quy định cụ thể giá phí, nội dung, thời gian, mức độ kiểm toán, dịch vụ cung cấpvà phân công trách nhiệm. Hợp đồng kiểm toán gồm có • Thư gửi khách hàng về kế hoạch kiểm toán • Danh mục tài liệu cần khách hàng cung cấp • Cam kết về tính độc lập của thành viên nhóm kiểm toán. • Soát xét các yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập và đạo đức nghề nghiệp của KTV.  Lựa chọn nhân viên thực hiện cuộc kiểm toán Tại công ty AAC, việc lựa chọn đội ngũ nhân viên cho một cuộc kiểm toán đượcthực hiện bởi Phó Tổng Giám đốc, dựa vào đặc điểm riêng biệt và lĩnh vực hoạt động củamỗi khách hàng…mà việc chọn số lượng, kinh nghiệm và năng lực của đoàn kiểm toáncho mỗi cuộc kiểm toán là khác nhau. Ví dụ: Để thực hiện kiểm toán tại một công ty có100% vốn nước ngoài, các nhân viên được chọn thực hiện cuộc kiểm toán này phải cókhả năng giao tiếp tiếng Anh tốt để có thể trao đổi với khách hàng và lập báo cáo kiểmtoán bằng tiếng Anh. Đối với những khách hàng có quy mô nhỏ, xét thấy công việc tươngđối đơn giản thì có thể chỉ cần hai KTV cho cuộc kiểm toán đó, trong đó có một KTV làmtrưởng đoàn. Bên cạnh đó, việc lựa chọn các nhân viên kiểm toán đòi hỏi phải có sự cam kết tính độc lập của từng thành viên trong nhóm kiểm toán với khách hàng không có mối quan hệ lợi ích cá nhân hay kinh tế nào có khả năng ảnh hưởng đến tính khách quan, trung thực khi kiểm toán BCTC tại đơn vị khách hàng.  Xây dựng kế hoạch kiểm toán Các công việc trong giai đoạn lập kế hoạch bao gồm:  Thứ nhất, tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động Mục tiêu giúp KTV xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặcnhầm lẫn,qua đó đưa ra cơ sở cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán cho rủi ro sai sóttrọng yếu đã đánh giá.  Thứ hai, tìm hiểu chính sách kế toán và chu trình kinh doanh quan trọng Công việc này giúp KTV xác định và đánh giá chính sách kế toán áp dụng cho cácgiao dịch của chu trình kinh doanh quan trọng; đánh giá việc thiết kế và thực hiện các thủtục kiểm soát của các chu trình kinh doanh quan trọng này; và cuối cùng là xem xét cónên áp dụng các thử nghiệm kiểm soát cho các chu trình này hay không.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 31
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com  Thứ ba, phân tích sơ bộ BCTC Mục tiêu giúp KTV xác định các hệ số tài chính bất thường, các giao dịch và khoảnmục bất thường đồng thời khoanh vùng có nguy cơ sai sót trọng yếu.  Thứ tư, đánh giá chung về hệ thống KSNB và trao đổi với Ban Giám đốc về gian lận KTV tiến hành đánh giá chung để xem hệ thống KSNB có kiểm soát hiệu quả và xửlý thông tin tài chính tin cậy không và xác định các rủi ro gian lận.  Thứ năm, xác định mức trọng yếu kế hoạch Xác định mức trọng yếu áp dụng cho cuộc kiểm toán làm cơ sở cho việc thiết lập kếhoạch và thực hiện kiểm toán.  Cuối cùng, tổng hợp kế hoạch kiểm toán Sau khi thực hiện tất cả các bước công việc trên KTV tiến hành tổng hợp tất cả cácvấn đề cần lưu ý trước khi thực hiện kiểm toán, và đây cũng là công cụ để giao tiếp hiệuquả giữa thành viên Ban Giám đốc và thành viên nhóm kiểm toán. 5.2. Thực hiện kiểm toán Trong giai đoạn này các KTV tham gia kiểm toán bám sát kế hoạch đã lập để thựchiện, trong quá trình thực hiện có thể điều chỉnh bổ sung kế hoạch cho phù hợp. Đó là quátrình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụthể để thu thập bằng chứng kiểm toán, quá trình triển khai một cách chủ động và tích cựccác kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độtrung thực và hợp lý của báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủvà tin cậy. Phương pháp kiểm toán thực hiện trong giai đoạn này phụ thuộc vào kết quả việcđánh giá sơ bộ hệ thống KSNB trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: nếu KTV tiếnhành dựa vào hệ thống KSNB của khách hàng để kiểm toán thì trước hết phải đánh giá lạisự hữu hiệu của hệ thống KSNB, sau đó căn cứ vào kết quả để điều chỉnh các thử nghiệmcơ bản cần phải thực hiện; nếu không dựa vào hệ thống KSNB để kiểm toán thì KTV tiếnhành ngay các thử nghiệm cơ bản đối với các khoản mục, nghiệp vụ (Tài sản, nợ phải trả,nguồn vốn, báo cáo kết quả kinh doanh). Các nội dung cụ thể trong bước này như sau:  Qui định về nhiệm vụ của nhóm trưởng: Nhóm trưởng giữ vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình kiểm toán. thực hiện các nhiệm vụ sau: thảo luận với khách hàng, liên hệ khách hàng để sắp xếp kiểm kê TSCĐ, tổ chức lưu trữ hồ sơ, lập kế hoạch kiểm toán và phân tích hồ sơ, sắp xếp, kiểm tra, đánh giá các thành viên trong nhóm…  Các quy trình nghiệp vụ phát sinh đặc trưng của một doanh nghiệp: Mỗi doanh nghiệp khác nhau có quy trình các nghiệp vụ phát sinh khác nhau. Tuỳ theo tính trọng yếu của vấn đề mà quy định kiểm toán viên nào thực hiện kiểm tra quy trình nào.  Nguyên tắc sắp xếp, đánh số và tham chiếu giấy làm việc: Giấy làm việc phải được sắp xếp, đánh số và tham chiếu phù hợp với quy định chung của công ty nhằm đảm bảo dễ kiểm tra, so sánh và thuận tiện cho việc lưu trữ hồ sơ.  Chỉ mục giấy làm việc.  Các ký hiệu sử dụng thống nhất trên giấy làm việc (xem phụ lục).  Chương trình kiểm toán Kết cấu của một chương trình kiểm toán, bao gồm:  Xác định mục tiêu kiểm toán Xét trên quan điểm kiểm toán viên, mục tiêu kiểm toán là mục tiêu mà chúng ta đặtra nhằm đạt được bằng chứng kiểm toán có hiệu lực về một hay nhiều cơ sở dẫn liệu báocáo tài chính thông qua việc thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp. Cơ sở dẫn liệu báoSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 32
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comcáo tài chính bao gồm: sự đầy đủ, sự tồn tại, sự phát sinh, sự chính xác, sự đánh giá,quyền và nghĩa vụ, sự trình bày và khai báo.  Xác định tài liệu yêu cầu Đó là tất cả những tài liệu cần thiết để kiểm toán trên một khoản mục trên báo cáotài chính. Ví dụ, đối với chương trình kiểm toán vốn bằng tiền, tài liệu yêu cầu bao gồm:biên bản kiểm kê quỹ, xác nhận số dư ngân hàng; sổ quỹ, sổ chi tiết tiền mặt, tiền gửingân hàng, sổ phụ ngân hàng, sổ cái; các chứng từ liên quan đến thu chi tiền mặt và tiềngửi ngân hàng; các tài liệu khác có liên quan.  Thực hiện các thủ tục kiểm toán Đó là tất cả các thủ tục kiểm toán cần thiết để thu được bằng chứng kiểm toán cóhiệu lực chứng minh một khoản mục trên báo cáo tài chính, bao gồm kiểm tra các hoạtđộng kiểm soát, các thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết thông qua các kỹ thuật kiểmtoán như so sánh, tính toán, xác nhận, phỏng vấn, kiểm tra tài liệu, quan sát và kiểm trathực tế. -Các chương trình kiểm toán chi tiết  Chương trình kiểm toán vốn bằng tiền  Chương trình kiểm toán các khoản phải thu khách hàng  Chương trình kiểm toán khoản ứng trước cho người bán  Chương trình kiểm toán thuế giá trị gia tăng được khấu trừ  Chương trình kiểm toán các khoản phải thu khác  Chương trình kiểm toán hàng tồn kho  Chương trình kiểm toán khoản tạm ứng cho nhân viên  Chương trình kiểm toán chi phí trả trước và chi phí chờ kết chuyển  Chương trình kiểm toán tài khoản thế chấp, kí cược, ký quỹ ngắn dài hạn  Chương trình kiểm toán tài sản cố định  Chương trình kiểm toán đầu tư tài chính… 5.3. Kết thúc cuộc kiểm toán Kết thúc kiểm toán là một giai đoạn của quy trình kiểm toán kiểm toán BCTC. Đâylà giai đoạn các kiểm toán viên sẽ tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện kiểm toán, nêu ra ýkiến trao đổi với khách hàng và phát hành báo cáo kiểm toán. Trong giai đoạn này cơ bản có các nội dung:  Trước khi kết thúc cuộc kiểm toán tại văn phòng công ty khách hàng, trưởng nhóm họp các thành viên lại thảo luận và trao đổi những vấn để được ghi trong giấy làm việc đồng thời cùng kế toán khách hàng làm rõ những vấn đề còn khúc mắc cần giải quyết.  Trưởng nhóm lập biên bản trao đổi, họp và trao đổi với ban giám đốc khách hàng và những người có liên quan.  Sử dụng thủ tục phân tích để rà soát lại báo cáo tài chính lần cuối cùng, thống nhất những bút toán điều chỉnh với khách hàng và tiến hành lập báo cáo tài chính (lưu ý: lập báo cáo tài chính là trách nhiệm của khách hàng, việc kiểm toán lập báo cáo tài chính của đơn vị khách hàng vì mục đích dễ dàng theo dõi số liệu, thống nhất mẫu biểu với khách hàng), báo cáo kiểm toán, đóng hồ sơ.  Nhóm trưởng kiểm toán gửi hồ sơ làm việc và bản thảo báo cáo kiểm toán lên phòng kiểm soát, giám đốc kiểm tra phê duyệt và xin ý kiến lãnh đạo (nếu cần).  Phòng kiểm soát có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ nhằm cho cuộc kiểm toán có chất lượng cao hơn, giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra.  Sau khi bản thảo được duyệt, nhóm trưởng lập báo cáo kiểm toán chính thức, viết thư quản lý ký tên và trình lên ban soát xét và giám đốc ký duyệt. Sau đó gửi cho hội đồng quản trị khách hàng.  Kết thúc kiểm toán và lưu hồ sơSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 33
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com  Xem xét các sự kiện phát sinh sau cuộc kiểm toán  Xem xét giả thiết hoạt động liên tục Các giấy tờ làm việc cụ thể trong giai đoạn này ở công ty TNHH kiểm toán và kếtoán AAC gồm: Chỉ mục giấy làm việc. Xác nhận bản thảo báo cáo kiểm toán. Trang trình duyệt. Trao đổi với khách hàng khi kết thúc kiểm toán. Danh mục kiểm tra cuối cùng. Bàn luận về thư quản lý. Tổng kết của nhóm trưởng. Tổng kết của các thành viên trong nhóm.II. Thực tế việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trongkiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AACthực hiện1. Thu thập bằng chứng kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 1.1. Thu thập thông tin cơ sở, thông tin về nghĩa vụ pháp lý của kháchhàng Sau khi phân công công việc cụ thể cho từng thành viên nhóm kiểm toán,KTV phụ trách thu thập thông tin cơ sở, thông tin về nghĩa vụ pháp lý của kháchhàng sẽ thực hiện việc này, thường là do KTV chính(trưởng đoàn) thực hiện. Việcphân công được thể hiện trên giấy làm việc như sau: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 1. Tên khách hàng: Công ty A Người lập Ngày Chủ đề: Phân công V.hà 9/3/11 Người kiểm tra Ngày Niên độ: 31/12/2010 M.Phương -111, 138, 334, 351, 338, 151, 466, 244, 461 2. K.Nhung -112, 133, 335, 141, 515, 635, 142, 242 3. Đông - 152→155, 331, 511, 131, 139 4. V.hà - 411, 421, 211, 711, 811, 241 - Tìm hiểu khách hàng - Kiểm tra số dư đầu kỳ Việc thu thập thông tin cơ sở, thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hànglà rất quan trọng vì nó đem lại cho kiểm toán viên sự hiểu biết về hoạt động củakhách hàng, cụ thể: • Ngành nghề và hoạt động kinh doanh • Hệ thống kế toán • Hệ thống kiểm soát nội bộSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 34
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Các bên liên quan • Hình thức sở hữu và nghĩa vụ pháp lý…. Đối với các khách hàng thường niên, tất cả các thông tin này được lưu tronghồ sơ kiểm toán thường trực, nên việc đầu tiên kiểm toán viên cần làm là cập nhậpthông tin nếu có thay đổi. Khối lượng công việc ở giai đoạn này sẽ nhiều nếu nhưkhách hàng là mới đối với AAC, lúc này KTV phải thực hiện các kỹ thuật như: - Phỏng vấn: trao đổi với kiểm toán viên tiền nhiệm, trao đổi với kiểm toánviên nội bộ, phỏng vấn nhân viên, ban giám đốc của khách hàng,… - Kiểm tra tài liệu: xem xét hồ sơ kiểm toán năm trước, xem xét báo cáokiểm toán nội bộ  Đối với khách hàng mới: Ngoài các kỹ thuật nêu trên, KTV còn áp dụng thêm kỹ thuật quan sát,phỏng vấn như sau: o Tham quan nhà xưởng (đặc biệt là các đơn vị khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất): Trưởng đoàn sẽ được người của đơn vị khách hàng dẫn đi tham quan, quan sát trực tiếp hoạt động kinh doanh của đơn vị và tiếp xúc phỏng vấn với một số nhân viên đơn vị như: quản đốc phân xưởng, nhân viên trực tiếp sử dụng máy móc thiết bị…để hiểu biết thêm tình hình sử dụng máy móc thiết bị, công tác bảo vệ tài sản. Điều này tạo điều kiện cho kiểm toán viên phát hiện các vấn đề như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máy móc lạc hậu hay không được phát huy công suất...do đó kiểm toán viên dự đoán được những tài khoản trọng yếu trên Báo cáo tài chính. o Tham quan văn phòng: Sau khi tham quan nhà xưởng (nếu có) trưởng đoàn kiểm toán sẽ tiến hành quan sát phòng làm việc của kế toán, xem xét cơ cấu tổ chức và hoạt động trong phòng kết hợp với phỏng vấn kế toán trưởng. Từ đó đánh giá tình hình hoạt động và thực hiện công tác kế toán tại đơn vị khách hàng.  Đối với khách hàng cũ: Là một khách hàng thường xuyên, nhóm kiểm toán của AAC thường cũng chỉ kiểm tra tài liệu, xem xét những quy chế mới về quản lý tài chính trong đơn vị khách hàng. Các thông tin mà kiểm toán thu được phần lớn không có gì thay đổi so với các thông tin thu thập từ cuộc kiểm toán năm trước. Việc quan sát chỉ mang tính chất xem xét lại hoạt động trong đơn vị có gì thay đổi không so với các lần kiểm toán trước. KTV sẽ yêu cầu Ban Giám đốc công ty khách hàng cung cấp Giấy phép thànhlập và điều lệ công ty (chỉ đối với khách hàng mới), các Bảng khai tài chính gồm:Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyểntiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính và Báo cáo của Ban Giám đốc cam kết tráchnhiệm trong việc chuẩn bị các bảng khai tài chính trình bày trung thực, hợp lý.Đây chính là những bằng chứng quan trọng mà kiểm toán viên cần phải thu thập.Nói chung, việc thu thập kiểu mẫu tài liệu chứng minh tương đối thuận lợi do tàiliệu có sẵn, chi phí để thu thập bằng chứng kiểm toán cũng thấp hơn các phươngpháp khác. Ví dụ, tại công ty CP X là khách hàng cũ của AAC, những thông tin mà KTVthu thập được như sau:SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 35
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Công ty CP X được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa Tổng côngty Sông Đà, công ty Điện lực 3 (nay là Tổng công ty điện lực Miền Trung) và côngty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh theo giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh số 3703000052 ngày 3 tháng 4 năm 2003 của Sở kế hoạch và đầu tưtỉnh Khánh Hòa. Từ khi thành lập đến nay công ty đã bốn lần điều chỉnh giấychứng nhận đăng ký kinh doanh và lần điều chỉnh gần nhất vào ngày 3 tháng 4năm 2010. Công ty hạch toán độc lập, hoạt động sản xuất kinh doanh theo LuậtDoanh nghiệp, điều lệ công ty và các quy định hiện hành có liên quan.  Ngành nghề kinh doanh • Sản xuất và kinh doanh điện năng • Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, thủy điện, công trình điện, kinh doanh bất động sản • Nhà nghỉ, có kinh doanh du lịch và văn phòng cho thuê • Mua bán vật liệu xây dựng, thiết bị xây dựng • Khai thác, chế biến và mua bán đá, cát, sỏi Khi cần thiết, Công ty có thể bổ sung, thay đổi hoặc thu hẹp ngành nghề kinhdoanh và được đại hội đồng cổ đông thông qua.  Nguyên tắc tổ chức và quản lý điều hành của công ty • Công ty hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và tôn trọng pháp luật. • Cơ quan quyết định cao nhất là Đại hội đồng cổ đông. • Đại hội cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị (HĐQT) để quản trị kinh doanh Công ty, và bầu Ban kiểm soát để kiểm soát mọi hoạt động của công ty. • Điều hành hoạt động của công ty là Tổng giám đốc do HĐQT bổ nhiệm. 1.2. Đánh giá chung về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Khi đã có những hiểu biết sơ bộ về thông tin cơ sở và thông tin về nghĩa vụpháp lý của khách hàng, nhóm kiểm toán tiếp tục đánh giá hệ thống kiểm soát nộibộ của khách hàng trên cả ba phương diện: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toánvà các hoạt động kiểm soát. Việc đánh giá sơ bộ HTKSNB nhằm xác định rủi ro kiểm soát của kháchhàng. Rủi ro này nếu được đánh giá thấp thì việc thực hiện các thử nghiệm cơ bảnsẽ được thu hẹp lại, giúp cho kiểm toán viên tiết kiệm thời gian hơn trong giaiđoạn lập kế hoạch này để tập trung vào giai đoạn kiểm toán chính thức. Đánh giá này được thực hiện bằng các thủ tục như phỏng vấn ban kiểm soáttại đơn vị, quan sát phong cách làm việc của Ban giám đốc và các nhân viên trongcông ty, đặc biệt là nhân viên phòng kế toán có thực hiện đúng như thủ tục đưa rahay không?, quan sát xem việc nhập xuất kho có tuân thủ theo đúng quy trìnhkhông?... Bằng việc quan sát, KTV có thể nhìn thấy được sự phân công, phânnhiệm được thực hiện như thế nào, các cách thức lập và luân chuyển chứng từ rasao. Kiểm tra lại việc thực hiện thủ tục kiểm soát nội bộ, ví dụ kiểm tra lại bảngđối chiếu tiền gửi của đơn vị với ngân hàng, xem xét lại biên bản kiểm kê quỹ,kiểm kê hàng tồn kho, đối chiếu lại công nợ để đảm bảo rằng chúng có được đơnvị thực hiện hay không?. Tại AAC, công việc phỏng vấn thường do Trưởng đoànkiểm toán thực hiện. Những hiểu biết của kiểm toán viên về hệ thống kiểm soát nội bộ của Công tyCP X:SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 36
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Tại Công ty, có sự phân công công việc rõ ràng giữa các cán bộ, công nhân viên, Giám đốc ủy quyền thường xuyên cho các Phó giám đốc trong việc quyết định một số lĩnh vực mà họ phụ trách. • Phòng tài chính kế toán có 8 người: 01 kế toán trưởng, 01 kế toán tổng hợp, 05 kế toán chi tiết, 01 thủ quỹ. Tất cả đều có trình độ từ Cao đẳng, Đại học trở lên. • Sổ kế toán và các chứng từ kế toán được thiết lập trên hệ thống máy tính, sổ rõ ràng, sạch sẽ, dễ đọc, dễ hiểu. Tại thời điểm kiểm toán, sổ kế toán và chứng từ đã in sẵn, đóng thành từng tập, từng quyển, đáp ứng công tác lưu giữ hồ sơ, chứng từ kế toán. • Công ty áp dụng chế độ kế toán Việt Nam theo Quyết định số 15/2006/QĐ- BTC của Bộ Tài chính Ban hành ngày 20/03/2006. • Hình thức hạch toán kế toán: Chứng từ ghi sổ. • Niên độ kế toán: theo năm dương lịch.Ví dụ bảng câu hỏi để đánh giá hệ thống KSNB tại công ty ABC(phụ lục 2). KTV còn đánh giá hệ thống KSNB bằng cách tìm hiểu, kiểm tra các chu trìnhkinh doanh quan trọng. Ví dụ về kiểm tra hệ thống KSNB chu trình mua hàng: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Người lập Ngày Chủ đề: kiểm tra hệ thống KSNB chu trình mua Lộc 9/3/2010 hàng Trang Người kiểm tra Ngày ./... Niên độ: 2009 Kim Anh 10/3/2010 Công việc thực hiện Thủ tục Kiểm tra thủ tục chu trình mua hàng và thanh toán Kiểm tra mẫu một nghiệp vụ mua hàng trong năm Tờ trình về việc phê duyệt chủ trương mua hàng Hợp đồng kinh tế Biên bản bàn giao nghiệm thu hàng hóa Chứng từ chuyển tiền Biên bản thanh lý hợp đồng Nhận xét: Quy trình mua hàng tuân thủ đúng theo quy chế quản lý tài chính nội bộ. Việc phê duyệt theo từng giai đoạn được tuân thủ đúng theo quy trình. Kết luận: Hệ thống quy trình mua hàng được tuân thủ chặt chẽ. Việc hoàn thành bảng câu hỏi bằng cách phỏng vấn sẽ giúp cho kiểm toánviên của AAC có cái nhìn toàn diện và hiểu biết về hệ thống KSNB của kháchhàng. Từ đó, giúp kiểm toán viên xác định cách tiếp cận kiểm toán và xác định liệuviệc thực hiện kiểm tra KSNB có phù hợp không. Đồng thời sẽ giúp cho kiểm toánviên tiết kiệm thời gian hơn trong giai đoạn lập kế hoạch này để tập trung vào giaiđoạn kiểm toán chính thức. Tuy nhiên, thực tế, chỉ đối với các cuộc kiểm toán với khách hàng mới thìAAC mới sử dụng bảng câu hỏi này để tìm hiểu, thu thập thông tin về khách hàng.Và mức độ sử dụng cũng không cao vì thường thời gian trung bình một cuộc kiểmcủa AAC tại đơn vị khách hàng chỉ từ 3 - 5 ngày, chính vì vậy sẽ rất hạn chế vềmặt thời gian và hầu hết các cuộc kiểm toán đều thực hiện dựa trên kinh nghiệmcủa kiểm toán viên là chính. Còn khi kiểm toán cho khách hàng thường niên, nhómkiểm toán luôn có những kiểm toán viên đã tiến hành kiểm toán cho khách hàng kỳSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 37
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comtrước. Việc dựa vào kinh nghiệm kiểm toán từ các cuộc kiểm toán từ các cuộckiểm toán trước sẽ giúp KTV nhanh chóng thu được nhiều thông tin về hệ thốngkiểm soát nội bộ của khách hàng. 1.3. Phân tích số liệu Ở giai đoạn này, thủ tục phân tích được vận dụng để phân tích báo cáo tàichính được kiểm toán, nhằm cung cấp cho kiểm toán viên những bằng chứng vềtính hợp lý, thay đổi bất thường, tính liên tục hoạt động, tình hinh kinh doanh củakhách hàng, xác định khu vực nghi ngờ có gian lận, có sai sót. KTV dựa vào báocáo tài chính năm hiện hành và báo cáo tài chính các năm trước để so sánh xem cósự biến động lớn nào ở các chỉ tiêu trên đó qua các năm không. Đồng thời, kết hợpvới sử dụng các bằng chứng thu thập được từ việc thực hiện các kỹ thuật khác như:Bảng tìm hiểu về khách hàng, các tài liệu quan trọng liên quan đến đơn vị… để cóthể đưa ra các ý kiến mang tính xét đoán cá nhân của kiểm toán viên về nhữngbiến động bất thường và mức rủi ro vốn có của các khoản mục trên báo cáo tàichính. Kiểm toán viên AAC sử dụng hai kỹ thuật phân tích là phân tích xuhướng và phân tích tỷ suất.Sau khi lập ra bảng phân tích, kết quả phân tíchthường chỉ được kiểm toán viên ngầm hiểu chứ ít khi ghi ra trên giấy làm việc củamình (xem phụ lục 3).2. Thu thập BCKT trong giai đoạn thực hiện kiểm toán 2.1. Kiểm kê Kiểm kê là một phương tiện trực tiếp của quá trình xác minh sự hiện hữu tàisản, xem tài sản có tồn tại hay không, mang tính chất khách quan, là bằng chứngdạng vật chất nên kỹ thuật kiểm kê cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất.Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà kiểm toán viên có thực hiện kiểm kê haykhông thực hiện kiểm kê. Khi bước vào kiểm toán chính thức, trưởng đoàn kiểm toán sẽ phân công chotừng thành viên trong nhóm chịu trách nhiệm kiểm toán các tài khoản khác nhau.Các thành viên được giao trách nhiệm kiểm toán các tài khoản như: tiền mặt,hàng tồn kho, tài sản cố định hữu hình… sẽ yêu cầu đơn vị cung cấp Biên bảnkiểm kê cho KTV. Nếu hợp đồng kiểm toán của AAC được ký sau ngày kết thúc niên độ, KTVkhông thể có mặt để tham gia trực tiếp vào việc kiểm kê hay chứng kiến kiểm kê.KTV sẽ sử dụng lại Biên bản kiểm kê do đơn vị khách hàng cung cấp như mộtbằng chứng có hiệu lực chứ rất ít khi thực hiện kiểm kê lại vì chi phí chuẩn bị chomột cuộc kiểm kê khá tốn kém và thời gian của cuộc kiểm toán thường bị giới hạn.Còn nếu trường hợp hợp đồng được ký trước khi khách hàng kiểm kê, nếu đượcthông báo lịch kiểm kê, KTV sẽ tham gia kiểm kê. Nếu cảm thấy nghi ngờ hoặckhông tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị thì kiểm toán viên AACcần đề nghị khách hàng hợp tác để thực hiện các thủ tục kiểm toán thay thế. Tạithời điểm thực hiện kiểm toán, KTV yêu cầu kế toán đơn vị in danh mục tài sản cốđịnh, báo cáo nhập xuất tồn, sổ chi tiết tiền mặt sau đó lựa chọn ngẫu nhiên một sốtài sản để kiểm kê thực tế sau đó cộng trừ lùi để xác định số dư tại thời điểm kếtthúc năm. Nếu xảy ra chênh lệch cần phải giải thích nguyên nhân. Đối với các đơnvị không thể thực hiện được thủ tục kiểm toán thay thế cần phải có giấy tờ làmviệc để chứng minh nguyên nhân tại sao không thể thực hiện được và phải lưutrong hồ sơ làm việc.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 38
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Sau đây là một số ví dụ về kết quả kiểm kê: Ví dụ 1: Biên bản kiểm kê do đơn vị khách hàng cung cấp.CÔNG TY CP ABC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM BÌNH ĐỊNH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN KIỂM KÊ VẬT TƯ HÀNG HÓA Đến 0h ngày 01 tháng 01 năm 2011Hôm nay, ngày 01 tháng 01 năm 2011. Ban kiểm kê tài sản tiến hành kiểm kê tài sản có đến 0h ngày 01/01/2011 như sau:BAN KIỂM KÊ GỒM CÓ 1. Bà: Lê Thị Chưa Giám đốc Trưởng ban 2. Ông: Nguyễn Ngọc Trân Trưởng phòng VT-TB Ủy viên trực 3. Bà: Đoàn Thị Minh Thọ Kế toán trưởng Phó ban 4. Ông: Đống Văn Thọ Trưởng phòng TC Ủy viên 5. Bà: Nguyễn Lê Thị Thùy Duyên Phó phòngVT-TB Ủy viên 6. Bà: Phạm Thị Hồng Kế toán tài sản Ủy viên 7. Ông: Hồ Ngọc Ảnh Thủ kho Ủy viênSau khi kiểm kê chúng tôi gồm có vật tư hàng hóa như sau: S Tên vật tư hàng Đ Đơn Theo sổ sách Theo kiểm kê Chênh lệch Ghi T hóa V giá T T Số Thành tiền Số Thành tiền Số Thành tiền lượng lượng lượng VẬT LIỆU 608,845,686 924,685,266 25,931 315,839,580 Vật liệu chính 247,199,924 563,039,504 1 Nhựa kg 10,552 18,710 197,437,191 44,641 513,276,771 25,931 315,839,580 2 Đá bụi M3 20,321 17 345,454 17 345,454 3 Cát M3 40,000 47 1,880,000 47 1,880,000 4 Thép tấm kg 10,952 115.3 1,262,766 115.3 1,262,766 Nhiên liệu 31,278,760 31,278,760 1 Dầu Fo lít 8,341 3,750 31,278,760 3,750 31,278,760 Vật liệu khác 193,736,029 193,736,029 1 Thuốc nổ kg 30,721 864 26,542,800 864 26,542,800 2 Kíp điện cái 3,856 2,336 9,008,464 2,336 9,008,464 TỔNG CỘNGKiến nghị của tổ kiểm kê:……………………………………………………………………………… Hội đồng kiểm kê ký tên Ví dụ 2: Do kí hợp đồng kiểm toán trước ngày 31/12 nên KTV đã tham giachứng kiến kiểm kê tiền mặt tại công ty CP X:SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 39
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comCÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC D132 40/68Tên khách hàng: công ty Cp X Tên Ngày Người lập CT v.hà 6/1/11Ngày khóa sổ: 31/12/2010 Người soát xét 1 Người soát xét 2Nội dung: PHIẾU CHỨNG KIẾN KIỂM KÊ TIỀN MẶTĐịa điểm kiểm kê: phòng TCKT công tyThời điểm kiểm kê: 16h30 ngày 6 tháng 1 năm 2011Đại diện DN tham gia kiểm kê:- Ông Lê Thế Thắng Phó phòng kế toán công ty- Ông Nguyễn Văn Quý Kế toán xí nghiệp- Bà Phạm Thị Phúc Thủ quỹ Stt Loại tiền Số lượng (tờ) Số tiền (đ) 1. 500.000đ 300 150.000.000 2. 200.000đ 150 30.000.000 3. 100.000đ 60 6.000.000 4. 50.000đ 10 500.000 5. 20.000đ 3 60.000 6. 10.000đ 7. 5.000đ 8. 2.000đ 1 2.000 9. 1.000đ 10. 500 đ 11. 200 đ 12. 100 đ Các loại giấy tờ khác (ngân phiếu, 18 séc.....) Séc Tổng cộng (1) 186.562.000 Số liệu theo sổ quỹ (2) 186.561.976 Đến Phiếu thu số 04/12 ngày 31/12/2010 Và Phiếu chi số 25/12 ngày 30/12/2010 Chênh lệch (1) – (2) 24SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 40
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comLý do chênh lệch: Tiền lẻ Xác nhận của DN Kiểm toán viên (Đã chứng kiến kiểm kê) Trong trường hợp sử dụng kỹ thuật kiểm tra vật chất, các bằng chứng đượccoi là có hiệu lực chính là các biên bản kiểm kê có đầy đủ các chữ ký và phù hợpvới các qui định về mẫu biểu. Tuy nhiên, bằng chứng kiểm kê này cũng có thể trởnên vô hiệu nếu qui trình kiểm kê không được thực hiện một cách đúng đắn. Đặcbiệt, đối với các tài khoản có số dư lớn, có tính trọng yếu cao thì việc kiểm kê màkhông có sự chứng kiến của KTV là coi như không có tác dụng. Lúc đó, để thuthập bằng chứng phục vụ cho việc kiểm toán, KTV bắt buộc phải tiến hành kiểmkê lại. Cần lưu ý rằng kiểm kê tài sản là nhiệm vụ của đơn vị, kiểm toán viên chỉtham gia chứng kiến kiểm kê do đó không cần phải tham gia kiểm kê tất cả cácloại tài sản mà chỉ cần quan sát quy trình kiểm kê của đơn vị đã hợp lý chưa, có dễdẫn đến sai sót, gian lận không. Nếu xét thấy quy trình kiểm kê của đơn vị đượcthực hiện một cách khoa học, nghiêm túc KTV chỉ cần lựa chọn ngẫu nhiên một sốtài sản trong danh mục để kiểm kê (việc lựa chọn này có thể tuỳ thuộc vào xétđoán chủ quan của KTV). 2.2. Xác nhận Về mặt cơ sở lý luận, thư xác nhận được phân thành hai loại là thư xác nhậndạng đóng và thư xác nhận dạng mở. Tại AAC, thư xin xác nhận được phân theohai kiểu: thư xác nhận có số dư và thư xác nhận không có số dư. Trong đó, • Thư xác nhận dạng không để trống (dạng Non-Blank) ghi rõ số cần xác nhận (phụ lục 4). • Thư xác nhận dạng để trống (dạng Blank) không ghi rõ số cần xác nhận mà yêu cầu người nhận ghi rõ số cần xác nhận hoặc có ý kiến khác vào thư xác nhận (phụ lục 5). Gởi thư xác nhận thương dùng để thực hiện mục tiêu kiểm toán là sự chínhxác, hay sự tồn tại, và sử dụng đối với các tài khoản như: tiền gởi ngân hàng,phải thu, phải trả, hàng gởi bán. Bằng chứng thu thập được từ xác nhận được coi là có giá trị nhất, vì đây làcách thức lấy ý kiến của bên thứ ba về một tình trạng hay khoản mục nào đó củacông ty khách hàng. Các thông tin thu được hầu hết là khách quan và chính xác,đảm bảo được tính hiệu lực để làm cơ sở đưa ra các kết luận về vấn đề đang kiểmtoán. Việc gởi thư xác nhận dạng nào thì tùy thuộc vào ý kiến của KTV và mứctrọng yếu của khoản mục. Thư xác nhận không có số tiền thường sử dụng trongtrường hợp KTV không tin tưởng vào số liệu của đơn vị. Do đó thư xác nhận dạngnày có độ tin cậy cao hơn. Tuỳ vào đặc điểm của từng khách hàng mà AAC có những thao tác xác nhậnphù hợp. Việc gởi thư xác nhận cũng như kiểm kê, tất cả đều phải thực hiện trướckhi KTV chính thức tiến hành kiểm toán tại công ty khách hàng. Sở dĩ như vậy vìđể đảm bảo rằng các kết quả xác nhận số dư phải có đầy đủ trước KTV quyết đinhvề các thử nghiệm chi tiết. Nếu các số dư đều được bên thứ ba xác nhận là khớp thìSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 41
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comKTV sẽ có cơ sở giảm bớt các thử nghiệm chi tiết để tiết kiệm thời gian và chi phí.Còn nếu có sự sai lệch thì KTV sẽ phải đặc biệt chú ý để tìm ra nguyên nhân củasự sai lệch đó. Đối với những khách hàng là khách hàng cũ được AAC kiểm toánnăm thứ hai liên tiếp thì việc kiểm tra số dư đầu kỳ được kiểm tra thông qua báocáo kiểm toán năm trước nên không cần phải gửi thư xác nhận. Còn đối với nhữngkhách hàng đây là năm đầu tiên mà AAC tiến hành thực hiện kiểm toán thì để đảmbảo cho số dư đầu kỳ với các khoản công nợ và tiền gửi chính xác thì được AACgửi thư xác nhận. Đối với kiểm tra số dư cuối kỳ thì luôn được gửi thư xác nhậncho các khoản công nợ hay tiền gửi ngân hàng dù đây là năm đầu tiên hay là nămtiếp theo của kiểm toán mà AAC thực hiện. Việc gửi thư xác nhận đến bên thứ ba sẽ được kiểm toán viên AAC thựchiện như sau:B1: Thu thập danh sách đối tượng công nợ và ngân hàng cần gửi thư xác nhậnB2: Chọn đối tượng cần gửi xác nhận: Đối với các doanh nghiệp lớn, từ danh sáchđược khách hàng cung cấp, nếu các công nợ hay tài khoản ngân hàng có số lượngquá lớn thì kiểm toán viên sẽ lựa chọn một số công nợ hay tài khoản ngân hàng đểgửi thư xác nhận, việc lựa chọn công nợ nào tùy thuộc vào ý kiến chủ quan củaKTV. Đối với nợ phải thu thường có xu hướng khai khống nên KTV sẽ chọnnhững đối tượng có nợ phải thu có số dư lớn, còn đối với nợ phải trả lại có xuhướng khai thiếu nên KTV sẽ chọn những đối tượng có số phát sinh lớn, hoặc cuốikỳ không có số dư để gởi thư xác nhận.B3: Lấy tên giao dịch đầy đủ và địa chỉ: kiểm toán viên AAC yêu cầu đơn vịkhách hàng cung cấp tên giao dịch đầy đủ và địa chỉ của bên thứ ba được chọn đểgửi thư xác nhận.B4: Lập thư xác nhận: Sau khi thu thập các thông tin về bên thứ ba, KTV sẽ điềntên địa chỉ của bên thứ ba vào thư xác nhận theo mẫu sẵn có của công ty AAC.B5: Gửi thư xác nhận: Khi đã lập xong thư xác nhận, KTV tiến hành gửi thư xácnhận đến bên thứ ba yêu cầu họ xác nhận. Việc gửi thư này kiểm toán viên AACthường gửi qua đường bưu điện. Trước khi gởi thư KTV thường gởi Fax trước chobên thứ ba.B6: Nhận thư phúc đáp, kiểm tra và lưu thư: Sau khi nhận được thư phúc đáp từ bên thứ ba, KTV sẽ dùng Thư xác nhậncông nợ hay tài khoản ngân hàng đã được phúc đáp đó đem đối chiếu với số dưtrên sổ sách của đơn vị khách hàng. Trường hợp thư xác nhận được bên thứ baphúc đáp nhưng có xảy ra chênh lệch thì KTV sẽ tìm hiểu nguyên nhân chênh lệchbằng cánh phỏng vấn những người có liên quan... Sau khi phỏng vấn mà vẫnkhông có đầy đủ bằng chứng tin cậy thì chệnh lệch đó được xem la sai sót. Và cuốicùng KTV sẽ lưu thư xác nhận được phúc đáp trên vào hồ sơ làm việc. KTV phải thực hiện các thủ tục thay thế hoặc phải tiếp tục điều tra, phỏng vấnkhi: • Không nhận được thư phúc đáp • Thư phúc đáp xác nhận số nợ khác với số dư của đơn vị được kiểm toán Ví dụ, đối với khoản phải trả người bán KTV có thể sử dụng kiểm toán thaythế là kiểm tra các khoản thanh toán phát sinh sau ngày kết thúc niên độ hoặc kiểmtra chứng từ chứng minh tính hiện hữu của nghiệp vụ mua hàng(hợp đồng, hóađơn, phiếu giao hàng…).SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 42
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Tuy những bằng chứng mà thủ tục xác nhận mang lại có giá trị thuyết phụccao song các kiểm toán viên AAC luôn luôn lưu ý rằng việc xác minh một sốkhoản công nợ chỉ chứng minh được khả năng trả nợ hay thu nợ, bằng chứng cóthể có độ tin cậy thấp nếu có sự dàn xếp và thỏa thuận giữa công ty khách hàng vàbên thứ 3. Một số ví dụ về gởi thư xác nhận. CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Người lập Ngày Chủ đề: TK 131 duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà ./... Chọn mẫu gởi thư xác nhận  gởi thư xác nhận đối với các đối tượng Số tiền 1. Cty Cp đầu tư phát triển đô thị và KCN sông Đà 24.990.000.000 2. Cty Cp đầu tư phát triển Vân Phong 7.140.000.000 3. Cty Cp tư vấn xây dựng điện 4 630.000.000 (dư nợ) 4. UBND tỉnh Khánh Hòa- tiền thuê đất Cam Ranh 35.700.000.000 (dư nợ) CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP H Người lập Ngày Chủ đề: TK 331 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 ./... Xác định công nợ lớn cuối năm Cty CP xây dựng thương mại Quảng Hưng 1.081.605.000 AC Cty Công trình giao thông 473 2.784.211.227 AC Cty CP kinh doanh nhà TTH 1.034.085.370 AC Hà Thị Diệu Hồng 2.679.733.960 AC Nguyễn Văn Vinh 1.394.259.746 AC Các đối tượng khác nghĩa vụ nợ đã được xác nhận qua đối chiếu hoặc thanh toán sau ngày kết thúc niên độ. 2.3. Quan sát, phỏng vấn Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán này, kỹ thuật quan sát phỏng vấn đượckiểm toán viên AAC thực hiện mọi lúc mọi nơi khi có vấn đề nghi vấn hoặc cũngcó thể là ngẫu nhiên.  Quan sát: Trong quá trình kiểm toán, quan sát là kỹ thuật mà hầu như các kiểm toánviên AAC đều không thể hiện trên giấy làm việc, vì vậy rất khó nhận ra sự áp dụngcủa nó trong giai đoạn này. Tuy nhiên, đôi khi kỹ thuật này cũng được kiểm toánviên thể hiện trên giấy làm việc. Ví dụ: việc quan sát quá trình kiểm kê tài sảncố định tại Công ty Cổ Phần ABC được kiểm toán viên thể hiện chung trên giấy tờlàm việc như sau: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Người lập Ngày Chủ đề: Tài sản cố định Nguyễn Thanh 17/3/2010 D740 Liêm Trang Người kiểm tra Ngày 2./... Niên độ: 31/12/2009 Tr.Hiền 18/3/2010SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 43
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Mục tiêu: - TSCĐ hữu hình, XDCB dở dang là có thực, thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Quan sát thực tế TSCĐ: - Tham gia kiểm kê thực tế TSCĐ cuối kỳ, đảm bảo rằng việc kiểm kê được thực hiện phù hợp với các thủ tục và chệnh lệch giữa số thực tế và kế toán được xử lý thích hợp. → Đơn vị thực hiện kiểm kê đầy đủ và phù hợp Ngoài ra, kiểm toán viên AAC có thể quan sát một cách ngẫu nhiên bất kỳnơi nào. Cụ thể như: quan sát máy móc, trang thiết bị của đơn vị…để nhìnnhận về sự hiện hữu, mới cũ của chúng. Đối với các kiểm toán viên có kinhnghiệm thì quan sát là sự bổ sung rất cần thiết cho các kỹ thuật khác. Ví dụ: khikiểm toán tại Công ty TNHH A, một kiểm toán viên AAC được trưởng đoàn kiểmtoán giao kiểm toán khoản mục tài sản cố định. Vì, tại thời điểm kiểm kê tài sản cốđịnh kiểm toán viên không thể có mặt để trực tiếp chứng kiến kiểm kê. Nhưngbằng kỹ thuật quan sát, kiểm toán viên đã phát hiện tại phòng kế toán thiếu mộtmáy Photocopy so với biên bản kiểm kê và sổ sách kế toán. Kiểm toán viên phỏngvấn kế toán thì được biết máy photocopy đã được mang đi sửa chữa và qua việckiểm tra lại chứng từ, sổ sách kiểm toán viên phát hiện kế toán trong đơn vị chưahề ghi tăng chi phí sửa chữa, mặc dù chi phí đó đã thực sự phát sinh. Từ đó kiểmtoán viên đã đề nghị kế toán trong đơn vị điều chỉnh bổ sung. Qua đó, ta có thể thấy kỹ thuật quan sát tuy không được thể hiện rõ ràngtrong quá trình kiểm toán, nhưng tầm quan trọng của kỹ thuật này là một điềukhông thể phủ nhận. Quan sát đem đến cho kiểm toán viên những bằng chứngđáng tin cậy, cái nhìn thực tế về đơn vị, nhất là trong quá trình đánh giá hệ thốngkiểm soát nội bộ.  Phỏng vấn: Nếu ở giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên AAC dùng kỹ thuật phỏng vấnđể đánh giá sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng, thì ở giaiđoạn này cũng bằng kỹ thuật phỏng vấn, kiểm toán viên sẽ đi vào đánh giá chi tiếthệ thống kiểm soát nội bộ hoặc đánh giá rủi ro kiểm soát… đối với từng khoảnmục, chu trình. Nhưng khác với giai đoạn lập kế hoạch, Bảng câu hỏi được xâydựng trong giai đoạn này có thể là Bảng câu hỏi với câu trả lời “Yes/No” hoặcngười được phỏng vấn sẽ trả lời câu hỏi theo sự hiểu biết của mình và kiểm toánviên AAC sẽ hệ thống và ghi lại câu trả lời đó vào Bảng câu hỏi nói trên) về nộidung đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi ro kiểm soát… của các tài khoản đó. Việc làm trên sẽ giúp kiểm toán viên AAC đưa ra được kết luận về hệ thốngkiểm soát nội bộ của chu trình là tốt hay chưa tốt, rủi ro kiểm soát ở mức cao haythấp …và đưa ra ý kiến thực hiện kiểm tra cơ bản ở mức độ nào. Bảng đánh giá tính hoạt động hữu hiệu của các thủ tục KSNB của chu trìnhbán hàng, phải thu, thu tiền (xem phụ lục 6). Việc sử dụng bảng câu hỏi như trên kiểm toán viên AAC thường áp dụng vớicác đơn vị khách hàng có qui mô hoạt động lớn, cơ cấu tổ chức của bộ máy kếtoán phức tạp… Còn đối với những khách hàng có quy mô hoạt động nhỏ, bộ máykế toán đơn giản hoặc có quy mô lớn nhưng mới đi vào hoạt động được mộtkhoảng thời gian tương đối ngắn, bộ máy kế toán chưa ổn định và chưa có quyđịnh rõ ràng về quy chế kiểm soát nội bộ thì kiểm toán viên AAC chỉ thực hiệnphỏng vấn trực tiếp kết hợp với một số kỹ thuật khác mà không cần sử dụng bảngcâu hỏi để giảm bớt khối lượng công việc của kiểm toán viên. Sở dĩ AAC có thểSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 44
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comthực hiện như vậy vì lúc này kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro kiểm soát là caovà phải tăng việc thực hiện các thử nghiệm cơ bản. Tuỳ thuộc vào từng khách hàngđặc thù mà Bảng câu hỏi của AAC có thể bổ sung hoặc rút ngắn các nội dungkhông cần thiết. Ví dụ: Khi kiểm toán khoản mục hàng tồn kho cho khách hàng là công tyTNHH Y, kiểm toán viên muốn biết chu trình sản xuất que hàn điện như thế nào,kiểm toán viên đã phỏng vấn nhân viên đơn vị và được thể hiện trên giấy làm việcnhư sau:CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty TNHH Y Người lập Ngày Chủ đề: chu trình sản xuất Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: Năm 2010 …/…Thép duỗi thẳng, kéo nhỏ theo yêu cầu sản xuất tẩm thuốc Cắt ngắn Đóng gói Thành phẩm Sấy nóngNhận xét: chu trình sản xuất trên một dây chuyền liên tục  không có sản phẩm dở dang. Ví dụ khi kiểm toán TK 211 qua kỹ thuật kiểm tra tài liệu, KTV phát hiện saisót như sau:CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty TNHH Y Người lập Ngày Chủ đề: tk 211 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: Năm 2010 …/…Kiểm tra chi tiếtCT 43/12 tăng TSCĐ máy cắt HD4-HPA 12KV số tiền 803.384.153(ngày 31/12)Quyết định tăng TS: 803.834.153Chênh lệch: 450.000  Đề nghị điều chỉnh Khi đó, để biết sai phạm này là gian lân hay sai sót, KTV đã tiến hành phỏngvấn kế toán TSCĐ và được biết sai phạm này là do sai sót trong ghi chép của kếtoán, và đơn vị đã điều chỉnh. 2.4. Xác minh tài liệu Xác minh tài liệu là kỹ thuật đươc kiểm toán viên sử dụng nhiều nhất trongquá trình kiểm toán chính thức, nó chiếm khối lượng lớn trong tổng thời gian củamột cuộc kiểm toán. Tại AAC, xác minh tài liệu cũng được chia thành hai cáchsau: - Từ chứng từ gốc lên sổ sách kế toán. - Từ sổ sách kế toán kiểm tra ngược về chứng từ gốc. Hai kỹ thuật này sẽ được kiểm toán viên sử dụng xen kẽ nhau, nhưng thườngthì kiểm tra từ sổ sách kế toán ngược về chứng từ gốc là cách mà các kiểm toánviên AAC sử dụng nhiều hơn. Khi cuộc kiểm toán chính thức bắt đầu, sau khiSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 45
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comđược trưởng phân công nhiệm vụ kiểm toán các tài khoản, từng thành viên tiếnhành kiểm tra tài khoản như sau:  Trước hết, kiểm toán viên sẽ đối chiếu số dư đầu kỳ. • Với đơn vị khách hàng là khách hàng cũ, từ báo cáo tài chính kỳ này do đơn vị khách hàng cung cấp, kiểm toán viên sẽ đối chiếu số dư đầu kỳ này với số dư cuối kỳ của báo cáo kiểm toán kỳ trước do chính AAC kiểm toán. • Còn với khách hàng là khách hàng mới thì kiểm toán viên có thể thu thập bằng chứng kiểm toán về số dư đầu kỳ bằng cách xem xét hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên kỳ trước. Từ hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên kỳ trước, kiểm toán viên AAC sẽ lấy số dư cuối kỳ của tài khoản trên báo cáo tài chính phát hành sau kiểm toán kỳ trước, đem đối chiếu với số dư đầu kỳ của báo cáo tài chính kỳ này mà đơn vị vừa cung cấp. Trong trường hợp này, kiểm toán viên năm nay cần lưu ý đến năng lực chuyên môn và tính độc lập của kiểm toán viên năm trước. Nếu báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên năm trước không chấp nhận toàn phần thì kiểm toán viên năm nay phải lưu ý đến những nguyên nhân không chấp nhận toàn phần của ý kiến kiểm toán năm trước. Khi báo cáo tài chính năm trước chưa được kiểm toán hoặc đã được kiểm toán nhưng kiểm toán viên năm nay không thoả mãn sau khi đã thực hiện các thủ tục kiểm tra mà không thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, thì kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung, ví dụ như với tài khoản phải thu kiểm toán viên có thể lấy số dư cuối kỳ bên nợ cộng số phát sinh bên có trừ số phát sinh bên nợ trong kỳ sẽ ra được số dư đầu kỳ và đối chiếu với bảng cân đối phát sinh của đơn vị xem có khớp không. Đối với hàng tồn kho đầu năm, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung bằng cách giám sát kiểm kê thực tế trong năm hoặc cuối năm nay, đối chiếu số lượng, giá trị nhập, xuất từ đầu năm đến thời điểm kiểm kê thực tế và tính ra hàng tồn kho đầu năm. Đối với số dư tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu, phải trả cũng có thể thực hiện thủ tục xác nhận số dư đầu năm của người thứ ba. Từ cách đối chiếu trên kiểm toán viên sẽ xác định được việc kết chuyển số dưcuối kỳ trước sang đầu kỳ này có chính xác hay không, xem xét các số dư đầu kỳđã được phản ánh theo chế độ kế toán được áp dụng trong kỳ trước và được ápdụng nhất quán trong kỳ này không. Việc kiểm tra số dư đầu kỳ thường do trưởng đoàn thực hiện, và được thểhiện trên giấy làm việc như sau:CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty TNHH Y Người lập Ngày Chủ đề: kiểm tra số dư đầu năm Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: Năm 2010 …/…Phương pháp: Đối chiếu số dư đầu kỳ với số dư cuối kỳ trên báo cáo kiểm toán của kỳ kế toán liền trước. Kết luận: Tất cả đều khớp  Đồng ý số liệu đơn vị Công việc kiểm tra số dư đầu kỳ này cũng có thể do KTV phụ trách khoảnmục nào sẽ tiến hành kiểm tra khoản mục đó. Ví dụ: KTV thực hiện đối chiếu sốdư đầu kỳ Tiền và các khoản tương đương tiền và thể hiện trên giấy tờ làm việcnhư sau:SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 46
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Người lập Ngày D140 Chủ đề: TK 111 A.Nhung 19/4/2010 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2009 ĐX Lộc 23/4/2010 2/5 Mục tiêu: - Đảm bảo tiền mặt là có thực; thuộc quyền sở hữu của đơn vị - Hạch toán chính xác và đầy đủ, đúng niên độ. - Trình bày trên BCTC phù hợp với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Các thủ tục kiểm toán I. Thủ tục kiểm toán 1. Kiểm tra các nguyên tắc kế toán áp dụng: - Có thực hiện việc mở sổ kế toán quỹ tiền mặt; - Ghi chép hằng ngày liên tục theo đúng giá trị thực tế và trình tự phát sinh các khoản thu, chi; → Đơn vị áp dụng các nguyên tắc kế toán so với năm trước và phù hợp với quy định hiện hành. 2. Đối chiếu số dư đầu kỳ: SDĐK - Số dư tại ngày 31/12/2008 559.420.736 - Số liệu tại 01/01/2009 559.420.736 CL 0 → Khớp SDĐK  Sau khi kiểm tra số dư đầu kỳ, kiểm toán viên sẽ kiểm tra số liệu trên tài khoản đó. • Trước tiên, từ Bảng cân đối số phát sinh do đơn vị khách hàng cung cấp kiểm toán viên tiến hành đối chiếu với sổ cái. Việc đối chiếu tiến hành như sau: trên BCĐSPS sẽ thể hiện số dư đầu kỳ,phát sinh Nợ, phát sinh Có và số dư cuối kỳ của tất cả các tài khoản đơn vị kháchhàng sử dụng hạch toán. KTV chịu trách nhiệm kiểm toán từng tài khoản nào sẽtiến hành đối chiếu số liệu của tài khoản đó trên BCĐSPS với sổ cái của tài khoảnđó. Xem thử các số dư và số phát sinh trên BCĐSPS và Sổ cái đã khớp đúng haychưa.Nếu công ty khách hàng có sử dụng bảng kê chứng từ thì để thuận tiện choviệc kiểm tra chứng từ sau đó, KTV cũng phải đối chiếu giữa các bảng kê và sổ cáiđể đảm bảo bảng kê có thể được sử dụng để làm căn cứ để kiểm tra lên chứng từgốc. • Tiếp đến, kiểm toán viên sẽ đi vào kiểm tra chi tiết chứng từ Từ Sổ cái, sổ chi tiết hoặc bảng kê chứng từ của đơn vị khách hàng kiểm toánviên sẽ kiểm tra chứng từ gốc của các nghiệp vụ trên sổ xem các nghiệp vụ phátsinh đó có đầy đủ chứng từ đi kèm hay không, số tiền trên hóa đơn chứng từ đãphản ảnh đúng hay chưa... Đối với những tài khoản có các nghiệp vụ phát sinh ít,kiểm toán viên sẽ kiểm tra chứng từ toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh đó. Trên thựctế các thành viên trong đoàn kiểm toán không thể kiểm tra hết tất cả các chứng từphát sinh trong kỳ được, bằng các kỹ thuật chọn mẫu khác nhau mỗi thành viên sẽchọn các nghiệp vụ tiêu biểu để kiểm tra. Cụ thể như, chọn các nghiệp vụ có sốtiền lớn (theo xét đoán của kiểm toán viên) để kiểm tra, các nghiệp vụ phát sinhvới nội dung tương tự thì kiểm tra điển hình một vài nghiệp vụ. Trong trường hợpSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 47
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comđơn vị khách hàng có thể cung cấp sổ tổng hợp đối ứng của từng tài khoản thì việckhoanh vùng kiểm tra trở nên tương đối dễ dàng. Khi xem qua sổ tổng hợp đốiứng, KTV sẽ xác định được những nghiệp vụ lạ, bất thường và đặt trọng tâm chúý. Ví dụ 1: KTV được phân công trách nhiệm kiểm toán tài khoản tiền mặt sẽxem xét đối chiếu các sổ sách là biên bản kiểm kê quỹ, sổ chi tiết, sổ cái, bảng cânđối kế toán và các chứng từ có liên quan. Kết quả thể hiện trên giấy làm việc nhưsau: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty TNHH C Người lập Ngày Chủ đề: TK 111 M.Phương 16/3/11 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 V.Hà 17/3/11 1/… SĐK: 96.302.249 PSN: 21.616.190.151 PSC: 21.609.343.654 SCK: 109.148.746 Khớp kiểm kê quỹKết luận: - Chi nộp phạt làm hư dây cáp ngầm 500.000 (PC 61/2) - Chi phạt do sử dụng đất chưa được phép 6.000.000 (PC 43/12) Được hạch toán chi phí 642 → Đề nghị hạch toán vào 811 và loại trừ khi tính thuế TNDNCÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty TNHH C Người lập Ngày Chủ đề: TK 111 M.Phương 16/03/11 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 2/…Phương pháp: - Đối chiếu số liệu sổ cái, sổ chi tiết và Biên bản kiểm kê - Kiểm tra PS Có – Chi phí - Kiểm tra nghiệp vụ lạ (nếu có)Thực hiện kiểm toán: 1. Đối chiếu số liệu giữa sổ cái, sổ chi tiết và Biên bản kiểm kê 1.1 Đối chiếu chi tiết và tổng hợp Sổ chi tiết 109.148.746 Sổ cái 109.148.746 CL 0 → Khớp số liệu chi tiết và tổng hợp.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 48
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com 1.2 Đối chiếu sổ sách và kiểm kê Số liệu sổ sách tại ngày 31/12/2010: 109.148.746 Số kiểm kê thực tế tại ngày 31/12/2010 109.148.500 → Chênh lệch 246 đ do số lẻ trong thanh toán. → Khớp số liệu sổ sách và kiểm kê. 2. Kiểm tra nghiệp vụ:Chứng từ Nội dung TKĐƯ Stiền Ghi chúPC 03/01 Chi phí công 627 2.201.818 → Thiếu giấy đi tác 133 58.182 đường.PC 10/11 Thanh toán công tác 627 2.763.636 → Thiếu giấy đi phí Đà Nẵng 133 276.364 đường.PC 29/11 Chi phí mua mực in 627 4.040.000 → không MST, địa chỉ người bán. 3. Kiểm tra nghiệp vụ bất thường → Đọc lướt qua sổ cái, không phát hiện ra những nghiệp vụ bất thường về giá trị, về tài khoản đối ứng, về bản chất nghiệp vụ. 4. Kiểm tra việc áp dụng tỉ giá → Đơn vị không giao dịch bằng ngoại tệ, chỉ có VNĐ → Không thực hiện việc đánh giá CLTG ngoại tệ cuối kỳ 5. Kiểm tra cutoff các khoản thu chi → Kiểm tra mẫu các HDTC T12/2009 và T1/2010 → Các nghiệp vụ phát sinh các khoản thu, chi đều được ghi nhận đúng kỳ. 6. Kiểm tra trình bày khoản mục tiền trên BCTC→ Đơn vị trình bày đúng theo quy định hiện hànhVí dụ 2: khi kiểm toán TK 141, KTV phát hiện một số vấn đề sau: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP XYZ Người lập Ngày Chủ đề: Tk 141 Duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà 2./... 1. Một số khoản công nợ tồn tại từ đầu kỳ, trong kỳ không phát sinh  Đề nghị đơn vị kiểm tra, xử lý. 2. Công nợ tạm ứng của ông Đỗ Thanh Khiết không còn làm việc tại công ty  Đề nghị theo dõi trên TK 1388, xem xét việc thu hồi để lập dự phòng. 3. Đơn vị chưa đối chiếu công nợ tạm ứng tại ngày 31/12/10  Đề nghị bổ sung.Ví dụ 3: kiểm toán TK 211 tại công ty TNHH Y:CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC 5. Tên khách hàng: Công ty TNHH Y Người lập Ngày Chủ đề: HTK Người kiểm tra Ngày Niên độ: Năm 2010 Đối chiếu số liệu giữa NXT kho với số liệu sổ cái và BCĐPSSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 49
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com NXT sổ cái CĐSPS 152 34.361.385.764 34.361.385.764 153 34.398.988.423 15.943.953 15.943.953 156 21.658.706 21.658.706 34.398.988.423 34.398.988.423 Kết luận: số liệu trên báo cáo NXT đơn vị không theo dõi riêng 152, 153, 156 Lưu ý đơn vị Ví dụ 4: khi kiểm toán khoản mục TSCĐ tại công ty CP ABC, đầu tiên KTV sẽkiểm tra tính hợp lý của việc xác định thời gian sử dụng hữu ích của tài sản.CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Người lập Ngày Chủ đề: Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: Năm 2010 …/…Công việc:Kiểm tra tính hợp lý của việc xác định thời gian sử dụng hữu ích của tài sản.Thực hiện: Khoản mục: Thời gian KH: Máy móc thiết bị 3-6 Phương tiện vận tải, truyền dẫn 6-10 Thiết bị, dụng cụ quản lý 3-5Kết luận: Đơn vị khấu hao TSCĐ năm 2010 phù hợp với quyết định 203/BTC Khi thực hiện kiểm tra các TS tăng trong năm, vì lí do trong năm nghiệp vụ tăngTSCĐ phát sinh ít nên KTV sẽ tiến hành kiểm tra toàn bộ nghiệp vụ: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP ABC Người lập Ngày Chủ đề: Tài sản cố định Nguyễn Thanh 17/3/2010 D740 Liêm Trang Người kiểm tra Ngày 3/ Niên độ: 31/12/2009 Tr.Hiền 18/3/2010 Thực hiện: - Chọn các tài sản tăng trong năm để tiến hành kiểm tra chứng từ gốc có liên quan; đối chiếu với kế hoạch, thủ tục mua sắm TSCĐ và sự phê duyệt của BGĐ. *Do trong năm các nghiệp vụ phát sinh ít nên kiểm tra 100% nghiệp vụ phát sinh: 1. Tăng giá trị TSCĐ cửa hàng Nam Thượng (N211/241) 316.187.990 → Biên bản bàn giao đưa vào sử dụng ngày 01/07/2009 2. Tăng giá trị TSCĐ cửa hàng Vỹ Dạ 115.088.788 → Biên bản bàn giao đưa vào sử dụng ngày 01/01/2009 3. Tăng giá trị TSCĐ_Hầm bồn (trạm bơm xăng dầu) 58.228.795 → Biên bản bàn giao đưa vào sử dụng ngày 01/11/2009 Đối với những tài khoản có số lượng nghiệp vụ phát sinh trong kỳ quá lớn thìkiểm toán viên không thể nào kiểm tra toàn bộ 100% chứng từ của toàn bộ nghiệpvụ phát sinh được, vì một cuộc kiểm toán luôn bị giới hạn bởi thời gian. Chính vìvậy, khi kiểm tra các tài khoản có nghiệp vụ phát sinh lớn, kiểm toán viên sẽ chọnSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 50
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.commẫu để kiểm tra. Hiện tại, ở AAC có sử dụng chương trình chọn mẫu qua hệ thốngmáy tính: “ chương trình chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ (CMA)”, được thể hiệntrong ví dụ sau: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP Y Người lập Ngày Chủ đề: HTK Duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà 2./... 2.Kiểm tra các nghiệp vụ mua hàng trong kỳ • TK 152 Sử dụng phương pháp chọn mẫu theo CMA BẢNG CHỌN MẪU Giá trị tài khoản trênBCTC 37.388.058.708 Mức trọng yếu chi tiết (MP) 888.046.021 Tổng thể 37.388.058.708 R 2,0 J 444.023.011 Số mẫu được chọn 85 Số ngẫu nhiên 10.000.000 (làm tròn lên) Kết quả chọn mẫu do kiểm toán viên chọn kết hợp với chương trình chọn mẫu CMA: Chứng từ Diễn giải Số tiền Check 1 2 3 07/06 Nhập kho than-Cty than Miền Trung 2.329.760.952    22/07 Ttoán tiền dầu (đốt chạy thử lò hơi) 170.549.100    … 08/12 Phí vận chuyển sắn-Tân Lộc Xanh 2.051.312.500    14/12 Mua sắn lát nhập kho-Cty Foodinco 421.426.702    Chú thích: (1): Kiểm tra chứng từ gốc: hóa đơn, hợp đồng kinh tế…đảm bảo nghiệp vụ phát sinh được ghi nhận chính xác. (2): Kiểm tra sự hợp lý ghi nhận khoản mục này vào chi phí. (3): Kiểm tra hạch toán. CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP P Người lập Ngày Chủ đề: HTK Duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà 2./... 2.3 Kiểm tra lập dự phòng giảm giá HTK Trong năm không có mặt hàng tồn kho nào lỗi thời, hư hỏng hoặc mất giá Đơn vị không trích lập dự phòng giảm giá HTK là phù hợp. 2.6 Kiểm tra tính đúng kỳ Chọn mẫu các nghiệp vụ nhập kho đối với HTK phát sinh trước và sau 15 ngày lập báo cáo Chỉ tiêu Ngày Hóa Đơn Ngày phiếu nhập kho Ngày sổ kế toán Kết quả PN 5603 15/12/2010 16/12/2010 16/12/2010 Trùng khớp PN 6909 22/12/2010 22/12/2010 23/12/2010 Trùng khớp PN 6701 23/12/2010 25/12/2010 25/12/2010 Trùng khớp PN 7010 28/12/2010 30/12/2010 30/12/2010 Trùng khớp Kết luận: Trong tháng 01/2011, đơn vị không phát sinh nghiệp vụ mua công cụ dụng cụ. Các nghiệp vụ mua nguyên liệu, vật liệu của đơn vị được phản ánh đúng kỳ.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 51
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Nhưng trong thực tế khi đi kiểm toán, ít khi kiểm toán viên AAC dùng đếnchương trình chọn mẫu này. Chủ yếu KTV sẽ chọn mẫu theo ý kiến chủ quan củamình. Ví dụ: Đối với TK 111, có rất nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ, dođó kiểm toán viên thường chọn các nghiệp vụ có số tiền phát sinh từ 2.000.000đtrở lên để kiểm tra chứng từ, chú ý đến các nghiệp vụ phát sinh Có. Đối với TK331, kiểm toán viên chú trọng đến các nghiệp vụ thanh toán bằng tiền mặt, nếu cácnghiệp vụ thanh toán từ 20.000.000đ trở lên thì sẽ chuyển khoản (TK112) chứkhông thanh toán bằng tiền mặt…. 2.5. Tính toán Tại AAC, tính toán là kỹ thuật được kiểm toán viên sử dụng xuyên suốt trongquá trình kiểm toán chính thức. Kỹ thuật tính toán thường được áp dụng khikiểm toán các tài khoản, nghiệp vụ mang những đặc thù về số học, ví dụ như:khấu hao, chi phí trả trước (phân bổ), chi phí lãi vay hay các nghiệp vụ thanhtoán gồm nhiều chứng từ, hoá đơn... Việc tính toán của kiểm toán viên AAC được thể hiện như thế nào trên giấytờ làm việc là tùy vào từng tài khoản.  Đối với các tài khoản số liệu tính toán đơn giản thì kiểm toán viên sẽ thể hiện trên giấy tờ làm việc.  Còn những tài khoản mà việc tính toán phức tạp thì kiểm toán viên sẽ sử dụng máy tính cá nhân đã được trang bị các phần mềm tiện ích để tính toán lại số liệu. Vì thế ít được kiểm toán viên thể hiện cụ thể trên giấy tờ làm việc. Ví dụ như: muốn tính toán lại xem việc tính khấu hao của đơn vị đã đúng hay chưa, thay vì ngồi tính lại bằng tay thì kiểm toán viên sẽ dùng phần mềm Excel nhập số liệu và công thức vào bảng do kiểm toán viên thiết kế, từ đó kiểm toán viên sẽ nhanh chóng tìm được kết quả. Với kết quả vừa tính được đem đối chiếu với bảng khấu hao của đơn vị, kiểm toán viên sẽ đưa ra được ý kiến về tính chính xác về mặt số liệu của đơn vị. Ngoài ra, kiểm toán viên còn tính toán lại số liệu trên chứng từ như: tínhtoán lại khoản thành tiền trên hóa đơn, mức thuế suất, tổng cộng trên phiếunhập-xuất kho... Sau đây là một vài ví dụ về kỹ thuật tính toán của AAC trong quá trính kiểmtoán chính thức: Ví dụ 1: kiểm tra tính giá mặt hàng đèn đồng tại công ty CP P CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP P Người lập Ngày Chủ đề: HTK Duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà 2./... • Kiểm tra tính giá HTK Thực hiện kiểm tra phương pháp tính giá đối với 2 mã hàng là NOCE30.5*30.5*1(đá Noce Honed 30.5*30.5*1) và DONG(đèn đồng). Dựa trên sổ chi tiết của 2 mã hàng trên để tính đơn giá xuất kho, so sánh với giá xuất kho theo phương pháp bìn quân gia quyền của đơn vị. Kết luận: phương pháp tính giá được thực hiện nhất quán. CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AACSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 52
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Tên khách hàng: Công ty CP P Người lập Ngày Chủ đề: HTK Duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà 2./... Đảm bảo phương pháp tính giá HTK Mã vật tư: DONG(đèn đồng) SỔ CHI TIẾT VẬT LIỆU, DỤNG CỤ(SẢN PHẨM, HÀNG HÓA) Từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2010 Ngày Số ct Diễn Giá SL Tiền nhập SL Tiền xuất Tồn Số dư Check ct giải nhập xuất kho Tồn đầu kỳ 02/01 001A/01/PN Nhập 745.00 330 245.850.00 330 245.850.00 vật 0 0 0 tư cho dự án 05/12 006/012/PX Xuất 745.00 2 1.490.00 328 244.360.00  đèn 0 0 0 đồng lắp cho nhà mẫu CD1 Nhập 330 245.850.00 2 1.490.00 xuát 0 0 trong kỳ Tồn 745.00 328 244.360.00 cuối 0 0 kỳ Đơn giá nhập bình quân  745.000 745.000  đơn giá xuất Ví dụ 2: tính dự phòng phải thu khó đòi và đánh giá chênh lệch tỉ giá công nợ tạicông ty CP XYZ CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP XYZ Người lập Ngày Chủ đề: Tk 131 Duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà ./... 1. Kiểm tra dự phòng các khoản nợ khó đòi và chi phí dự phòng Công nợ khó đòi công ty TNHH Việt Phú Số dư nợ khó đòi 922.078.000 Quá hạn từ 10/08 (quá hạn 1-2 năm: 50%) Dự phòng cần trích lập 461.039.000 2. Thu thập danh sách các khoản khách hàng trả tiền trước Tên KH SD có HĐ Cty TNHH Lê Hiền 7.351.414.320 HĐ 0211  Cty Lê Hiền đặt cọc tiền hàng. 3. Kiểm tra đánh giá và xử lý chênh lệch tỷ giá các khoản phải thu, Kh trả trước có gốc ngoại tệ tại thời điểm cuối kỳ Công nợ ngoại tê Cty CP thép Đông Nam Á SD ngoại tệ 317.698,078 * 17.941 5.699.821.253 SD trên sổ sách 5.870.742.821SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 53
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com CL 170.921.568  Đề nghị đơn vị hạch toán phần chênh lệch tỷ giá do đánh giá cuối kỳ Nợ tk 413/ có tk 131 170.921.568 2.6. Quy trình phân tích Thông thường, các thủ tục phân tích rất ít được thực hiện đầy đủ ở AAC. Tuynhiên, có một điều không thể phủ nhận là các thủ tục phân tích sẽ giúp các kiểmtoán viên nhận ra các sai sót tổng quát một cách nhanh chóng, giúp tiết kiệm thờigian và công sức để thực hiện các thử nghiệm chi tiết. Mỗi thành viên trong đoànkiểm toán phụ trách khoản mục của mình tiến hành phân tích sơ bộ số liệu trên cáckhoản mục đó. Thường thì các thủ tục phân tích chỉ được thực hiện trong đầu,KTV ít khi ghi ra giấy làm việc. KTV thường phân tích số liệu kỳ này với kỳ trướcđể tìm hiểu có biến động nào là quá lớn hay không, phân tích tỷ trọng tài sản, cácloại chi phí. Còn với những chỉ tiêu tính phức tạp, do không có chương trình xử lýsố liệu chuẩn nên các kiểm toán viên thường bỏ qua bước tính này để dành thờigian cho việc xác minh tài liệu. Ví dụ 1: tại công ty D, KTV ước tính khấu hao TSCĐ và so sánh với số khấuhao của đơn vị: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP D Người lập Ngày Chủ đề: Tk 214 Duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà 2./... Xem xét chính sách khấu hao TSCĐ : nhà máy thủy điện năm 2009 thời gian khấu hao 10 năm, năm 2010 là 12,5 năm. Do thay đổi thời gian KH làm cho chi phí KH giảm 8.258.212.086 đ so với khung KH cũ. Ước tính KH năm 30.051.712.116 30.046.808.795 CL 4.903.321 Ví dụ 2: phân tích khoản phải thu khách hàng tại công ty CP N và công tyC.V: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP N Người lập Ngày Chủ đề: Tk 131 Duy 6/1/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 v.hà 2./... Thủ tục phân tích: Phải thu khách hàng năm nay tăng 8.516.428.836 đ tương ứng với tỉ lệ 50,41% do trong năm có thêm một số khách hàng mới với mục đích đẩy mạnh sản lượng bán nên công ty nới lỏng chính sách thanh toán hơn cho khách hàng. Khách hàng ứng trước năm nay giảm so với năm 2009 số tiền 605.508.144 đ tương ứng với tỉ lệ 89,83%. Nguyên nhân chính là do đã giao hàng cho các khách hàng ứng trước năm 2009. CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP C.V Người lập Ngày Chủ đề: Tk 131 m.hà 22/2/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 Phương 23/2/2011 /... 1. So sánh số dư năm trước 31/12/2009 31/12/2010 %SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 54
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Dck 131 2.805.196.325 4.885.221.324 74% Ps 511 9.686.929.587 32.524.389.827 235% Tốc độ tăng doanh thu> tốc độ tăng của SDCK 131→ OK 2. Kiểm tra phân tích Năm 2010 cty không trích lập dự phòng phải thu khó đòi, năm 2009 cũng ko lập Do cty có chính sách bán hàng và thu hồi công nợ không quá 45-60 ngày Chấp nhận việc không trích lập dự phòng đv các khoản nợ phải thu khách hàng. Ví dụ 3: phân tích tình hình tăng, giảm TSCĐ tại công ty CP C.V, thể hiện trên giấy làm việc như sau: CÔNG TY KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC Tên khách hàng: Công ty CP C.V Người lập Ngày Chủ đề: Tk 211 Huy lâm 15/3/2011 Người kiểm tra Ngày Trang Niên độ: 31/12/2010 Lan hương 16/3/2011 /... Công việc: So sánh, phân tích tình hình tăng, giảm của số dư TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, đánh giá tính hợp lý của các biến động lớn. Thực hiện: Năm trước Năm nay Biến động Tỷ lệ TK 211 5.638.147.874 9.411.446.939 3.773.299.065 66.9% TK 213 --- 2.940.000.000 2.940.000.000 100% Giải thích biến động: - TSCĐ vô hình tăng trong năm là quyền sử dụng đất không thời hạn. Lô 05B1-1 và 06B1-1 khu dân cư 04 Nguyễn Tri Phương, phường Hòa Cường Bắc, Quận Hải Châu, tp Đà Nẵng. - TSCĐ hữu hình tăng trong năm là giá trị máy móc thiết bị, phương tiện vận tải mua sắm trong năm - Trong năm đơn vị không giảm tài sản. Ví dụ 5: Bảng phân tích khoản mục doanh thu của Công ty K Chênh lệch tươngChỉ tiêu Năm 2010 Năm 2009 Chênh lệch tuyệt đối đốiDoanh thu 154.422.268.509 108.548.122.303 45.874.146.200 42%Giá vốn 102.653.937.840 84.687.110.772 17.966.827.030 21%Lãi gộp 51.768.330.669 23.861.011.531 27.907.319.130 117%Giá vốn/ Doanh 66,48% 78,02%thu Nhận xét: Theo báo cáo kết quả kinh doanh, qua phân tích ta thấy doanh thu tăng đến 42%, nhưng giá vốn chỉ tăng 21% (tỷ lệ giá vốn/doanh thu năm 2010 chiếm chỉ 66.75%, trong khi tỷ lệ giá vốn/doanh thu năm 2009 chiếm tới 78.02%), đó là nguyên nhân khiến lãi gộp tăng đến 117%. Doanh nghiệp giải thích doanh thu tăng nhờ có sự mở rộng quy mô sản xuất. Tóm lại, các kiểm toán viên của AAC hầu như sử dụng phân tích để định hướng cho các thử nghiệm cơ bản. Tuy nhiên, vì kỹ thuật này đòi hỏi rất nhiều SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 55
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comkinh nghiệm và đầu óc phán đoán, gần như chỉ có các kiểm toán viên trưởng đoànáp dụng. Thực tế cho thấy phân tích vẫn đang là một kỹ thuật được các kiểm toánviên chú trọng phát triển.3. Tổng hợp các BCKT thu thập được trong giai đoạn kết thúc kiểm toán Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV sẽ tiến hành soát xét các sự kiệnxảy ra sau ngày kết thúc niên độ, thu thập thư giải trình của ban giám đốc, lập bảngtổng hợp kết quả kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán. Mẫu thư giả trình của Ban Giám đốc ( phụ lục 7). Tiếp theo KTV sẽ lập biên bản trao đổi tổng hợp hết những sai sót mà kiểmtoán viên phát hiện được trong quá trình kiểm toán (Biên bản trao đổi đính kèmphụ lục 8). Sau đó đoàn kiểm toán sẽ tiến hành họp với phòng kế toán và ban giámđốc công ty để trao đổi những sai sót đó và phòng kế toán sẽ quyết định có đồng ýđiều chỉnh với những sai sót đó không, dựa vào đó kiểm toán viên sẽ tổng hợpnhững sai số kiểm toán không điều chỉnh. Sau khi đã thoả thuận những gì cần điềuchỉnh thì biên bản trao đổi là căn cứ để kiểm toán viên phát hành báo cáo kiểmtoán.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 56
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com PHẦN 3MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KỸ THUẬT THU THẬPBẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AACI. Nhận xét về kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báocáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện Hiện nay số lượng các công ty kiểm toán độc lập trong nước tăng nhanh.Trước tình hình đó, công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC luôn cố gắngkhông ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, mà đặc biệt là dịch vụ kiểm toán đượcbiết đến như là thế mạnh của công ty. Qua quá trình thực tập, nghiên cứu hồ sơ kiểm toán tại công ty, tìm hiểu vềviệc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng trong quá trình kiểm toán BCTC docông ty AAC thực hiện, em đã đúc kết được một số nhận xét chính về thực tế ápdụng các kỹ thuật của công ty AAC như sau:1. Ưu điểm Quy trình kiểm toán tại AAC được xây dựng khá chặt chẽ và khoa học. Côngty đã áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán theo đúng chuẩn mựckiểm toán Việt Nam, KTV linh hoạt và sáng tạo trong vận dụng các kỹ thuật thuthập bằng chứng kiểm toán nhằm đạt được một cuộc kiểm toán hiệu quả. Tuỳthuộc vào từng giai đoạn của cuộc kiểm toán và từng khách hàng mà KTV lựachọn các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán sao cho phù hợp. Cụ thể: - Mọi thủ tục kiểm toán đều được lập riêng cho từng khoản mục trên Báo cáotài chính với mục đích thu thập bằng chứng cho từng mục tiêu kiểm toán riêngbiệt. Việc thiết kế chương trình kiểm toán theo hướng chi tiết hóa các thủ tục kiểmtoán đã giúp cho kiểm toán viên dễ dàng tiếp cận các kỹ thuật thu thập bằng chứngkhác nhau để hạn chế những rủi ro tương ứng. - Trong các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên của AAC thường phối hợp vớinhau để giảm thiểu các công việc mà người khác đã làm. Ví dụ khi kiểm toánkhoản mục doanh thu bán hàng, KTV có thể dựa vào kết quả kiểm toán khoản mụcHàng tồn kho trong việc xác định số lượng hàng bán ra, trên cơ sở đó ước tínhđược doanh thu bán hàng trong kỳ. Mặt khác, kết quả kiểm toán doanh thu bánhàng cũng được sử dụng khi kiểm toán thuế giá trị gia tăng đầu ra bởi giữa doanhthu bán hàng và thuế giá trị gia tăng đầu ra có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. - Đối với kỹ thuật quan sát - phỏng vấn: KTV đã thực hiên phỏng vấn theotừng giai đoạn rất rõ ràng và cụ thể, đã thiết lập được các bảng câu hỏi rất chitiết và tập trung được toàn bộ các vấn đề được coi là quan trọng có thể ảnh hưởngđến BCTC được kiểm toán từ đó có thể đánh giá được rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểmsoát, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát sau này.Đồng thời việc quan sát sơ bộ đã giúp kiểm toán viên AAC có được cái nhìn banđầu về doanh nghiệp, thuận tiện cho việc thực hiện các kỹ thuật thu thập bằngchứng tiếp theo cũng như đi vào kiểm toán chính thức. Không chỉ thực hiện khibước đầu trong giai đoạn lập kế hoạch mà việc quan sát, phỏng vấn này đã đượcthực hiện rất linh hoạt trong suốt quá trình kiểm toán, nhất là giai đoạn thực hiệnkiểm toán chính thức, đôi khi có thể được thực hiện do nhu cầu phát sinh khi kiểmtoán viên quan sát thấy những dấu hiệu bất thường, có nhiều vấn đề phát sinh cầnSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 57
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comtìm hiểu, nhưng các nhân viên của AAC đã biết cách vận dụng rất hiệu quả mặcdù chưa có sự chuẩn bị kỹ từ trước. - Đối với kỹ thuật xác nhận: AAC đã có lập các mẫu thư xác nhận phù hợpcho từng mục đích và trường hợp (mẫu thư xác nhận đã có điền sẵn số dư và mẫuthư xác nhận đề nghị điền vào số dư). Đồng thời, kiểm toán viên đã rất linh độngtrong các tình huống, ví dụ: khi không nhận được xác nhận hay xác nhận khôngkhớp thì KTV sẽ thực hiện các thủ tục bổ sung. - Xác minh tài liệu rất chi tiết, giúp kiểm toán viên phát hiện nhiều sai sóttrong quá trình kiểm toán chính thức. - Áp dụng kỹ thuật tính toán phù hợp với từng đối tượng. Trong mỗi cuộckiểm toán, các nhóm kiểm toán đều được trang bị ít nhất một máy vi tính xách tay,sử dụng phần mềm ứng dụng Excel đối với các tài khoản phải tính toán nhiều vàphức tạp. Do đó, kỹ thuật tính toán luôn được sử dụng hiệu quả và mang lại kếtquả chính xác, nhanh chóng, phục vụ cho cuộc kiểm toán, từ đó giúp kiểm toánviên tiết kiệm được thời gian. - AAC cũng có quy định rõ việc phân công nhiệm vụ của mỗi thành viêntrong quá trình kiểm toán. Theo đó, ở những khoản mục cần phải thực hiện cácphép tính toán, kiểm tra phức tạp thì sẽ được giao cho nhóm trưởng hoặc là nhữngngười có kinh nghiệm thực hiện, các thành viên còn lại sẽ thực hiện kiểm tra, tínhtoán ở những khoản mục có cách tính toán đơn giản, ít xảy ra sai sót. Do đó, hiệuquả của cuộc kiểm toán sẽ được nâng cao và hạn chế được tối đa rủi ro kiểm toáncó thể xảy ra. - Ngoài ra, việc thu thập bằng chứng kiểm toán mang lại hiệu quả cũng mộtphần nhờ vào việc những qui định về cách thức trình bày, lưu trữ các hồ sơ đượccung cấp. Các bước thực hiện trong kỹ thuật tính toán cũng phải được ghi lại rõràng. Mỗi kiểm toán viên sẽ chịu trách nhiệm thu thập các loại bằng chứng liênquan đến tài khoản mình phụ trách và đánh tham chiếu. Những qui định này đãgiúp cho việc sử dụng bằng chứng được thuận tiện hơn. Ngoài ra, các hồ sơ làmviệc còn được sử dụng cho các cuộc kiểm toán những năm tới, vì vậy trình bàymột cách rõ ràng sẽ tạo điều kiện để kiểm toán viên năm sau dễ nắm bắt tình hình.2. Hạn chế Bên cạnh những ưu điểm mà Công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AAC đãđạt được, thì cũng có những hạn chế không kém phần đáng quan tâm đến. Có thểvì các lợi ích khác nhau, các doanh nghiệp cố tình che giấu các sai sót cũng nhưgian lận dẫn đến những khó khăn không nhỏ trong việc thu thập bằng chứng củakiểm toán viên. Bên cạnh đó sự thiếu hợp tác của bên thứ ba cũng gây khó khăntrong việc xác nhận số dư. Sự cạnh tranh về phí kiểm toán của các công ty kiểmtoán ít nhiều cũng mang lại những hạn chế nhất định trong việc thu thập bằngchứng. Mặt khác áp lực về công việc và thời gian dẫn đến việc thu thập bằngchứng của kiểm toán viên phần nào đấy giảm tính thuyết phục. Cụ thể: - Với kỹ thuật quan sát phỏng vấn, các bảng câu hỏi nhằm đánh giá về hệthống kiểm soát nội bộ, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát…không phải ở bất kỳcuộc kiểm toán nào cũng được các kiểm toán viên AAC thực hiện. Có rất nhiềucuộc kiểm toán, KTV đã bỏ qua những công việc này, khiến cho cuộc kiểm toánkhông tập trung ngay được vào vấn đề trọng tâm từ giai đoạn lập kế hoạch. Từ đó,SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 58
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comKTV sẽ không khoanh vùng được rủi ro, tốn nhiều thời gian và gặp nhiều khókhăn trong việc đi vào kiểm toán chính thức. - Đối với kỹ thuật kiểm kê, kiểm toán viên AAC hầu như chỉ sử dụng Biênbản kiểm kê của khách hàng. Vì các lí do khác nhau mà rất ít khi KTV tham giakiểm kê tại ngày kết thúc niên độ với khách hàng hay kiểm kê lại sau ngày kết thúcniên độ. Đây là do sức ép bởi thời gian kiểm toán, do tốn kém thời gian và chi phí.Vì vậy, mặc dù trong kiểm toán, còn có nhiều kỹ thuật thay thế như xác minh tàiliệu… Tuy nhiên chất lượng bằng chứng thu thập của kiểm toán viên trong quátrình kiểm toán sẽ giảm sút. - Kỹ thuật phân tích: trong hầu hết các cuộc kiểm toán việc phân tích ít khiđược kiểm toán viên AAC thể hiện trên giấy làm việc, và đa phần chỉ có trưởngđoàn kiểm toán tiến hành phân tích, vì thế các thành viên khác trong đoàn kiểmtoán sẽ không có thông tin nào của việc phân tích này. Mặc dù, khi thành viên nàophụ trách khoản mục nào cũng có sự phân tích nào đó cho khoản mục mình kiểmtoán song mức độ áp dụng các kỹ thuật này còn nhiều hạn chế. Thường chỉ sửdụng các phương pháp về phân tích xu hướng để thấy sự biến động của các chỉtiêu. Từ đó tìm nguyên nhân của sự biến động đó. Đôi lúc trong quá trình kiểmtoán, nhân viên chưa thực sự biết rõ hết được sự biến động, sự mâu thuẫn giữa cácchỉ tiêu trên báo cáo tài chính, dẫn đến xác suất KTV không phát hiện được các saisót, gian lận trên BCTC sẽ tăng lên. Hầu như trong tất cả các cuộc kiểm toán, kỹthuật phân tích chỉ được sử dụng theo xét đoán, suy luận của KTV. - Ở mỗi cuộc kiểm toán, việc lựa chọn các tài liệu cần thu thập và tiến hànhkiểm tra các tài liệu đó lại phụ thuộc vào sự xét đoán riêng của KTV. Vì vậy, rủi rokiểm toán có thể xảy ra trong trường hợp kiểm toán viên nhận định sai hoặc thiếuvề mức trọng yếu của các tài liệu liên quan đến các khoản mục trên BCTC. - Kỹ thuật quan sát chủ yếu được thực hiện theo chủ quan của từng nhân viênkiểm toán và đôi lúc là do ngẫu nhiên trong quá trình kiểm toán. Do đó, hiệu quảmà kỹ thuật này đem lại trong mỗi cuộc kiểm toán thường là khác nhau và tuỳthuộc nhiều vào khả năng quan sát của kiểm toán viên, ít thể hiện trên giấy làmviệc. - Thực tế, khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính nếu đơn vị đã tiến hànhxác nhận số dư cuối kỳ công nợ với các bên liên quan thì kiểm toán viên của AACkhông thực hiện kỹ thuật xác nhận nữa mà chỉ thu thập các bản xác nhận đó, kiểmtra tính khớp đúng và có đầy đủ tính pháp lý thì chấp nhận với kết quả đó và lưubản photo vào hồ sơ làm việc của mình. Rủi ro kiểm toán sẽ cao nếu trường hợp cósự thông đồng giữa đơn vị được kiểm toán với một hoặc nhiều các bên liên quantrong việc xác nhận số dư đó. Thêm vào đó, trong thư xác nhận hàng gởi ở bên thứba của khoản mục HTK, AAC chỉ chú trọng đến việc kiểm tra số lượng hàng gởichứ không chú trọng đến việc kiểm tra đến chất lượng hàng gởi, điều này sẽ viphạm cơ sở dẫn liệu “Đánh giá” đối với khoản mục HTK. - Phương pháp chọn mẫu mà AAC thường áp dụng nhiều hơn là phương phápchọn mẫu phi thống kê. Do đó kiểm toán viên chỉ căn cứ vào nhận định nghềnghiệp của mình để từ kết quả của mẫu suy rộng kết quả của tổng thể. Việc suyrộng ra kết quả tổng thể không sử dụng công thức toán học thống kê nào, cũng nhưkhông định lượng được rủi ro chọn mẫu. Căn cứ vào phán đoán của kiểm toán viênđể đưa ra kết luận tổng thể do đó có một phần hạn chế là rủi ro chọn mẫu phụSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 59
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comthuộc hoàn toàn vào năng lực, trình độ và kinh nghiệm của kiểm toán viên. Cũngvới phương pháp chọn mẫu phi thống kê mà AAC thực hiện này thì cỡ mẫu quálớn. Tuy cỡ mẫu lớn sẽ giảm được rủi ro của việc chọn mẫu tuy nhiên sẽ tốn nhiềuthời gian để kiểm tra và chi phí cao. Mặc dù có chương trình phần mềm chọn mẫunhưng ít KTV áp dụng. Chọn mẫu thống kê bằng chương trình chọn mẫu CMAphụ thuộc vào nguồn dữ liệu kế toán có được kết xuất ra Excel hay không. Vàquan trọng hơn, là nó phụ thuộc vào việc xác định mức trọng yếu và mức độ đảmbảo R của KTV. Nếu như KTV mắc sai lầm ở việc xác định 2 yếu tố này thì việcchương trình chọn ra các phần tử của mẫu để kiểm tra chi tiết sẽ không có ý nghĩa. - Chưa áp dụng được nhiều kỹ thuật thu thập bằng chứng cho giai đoạn kếtthúc kiểm toán.II. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểmtoán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán và Kếtoán AAC thực hiện Có thể nói, kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán có vai trò vô cùng quantrọng đối với sự thành công của cuộc kiểm toán và rộng hơn là sự phát triển củacông ty kiểm toán. Hoàn thiện các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán, để cóđược bằng chứng kiểm toán có chất lượng với chi phí giảm, từ đó nâng cao chấtlượng kiểm toán, là cách để công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC vươn ramở rộng thị trường, khẳng định thương hiệu của mình trong cộng động các công tykiểm toán. Với kiến thức được học tập ở trường và những nghiên cứu của mình, quađợt thực tập, nghiên cứu tài liệu tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AACvừa qua, em xin được đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện hơn việc áp dụng cáckỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC.1. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán 1.1. Kiến nghị về xác định mức độ trọng yếu, rủi ro và số lượng bằngchứng kiểm toán cần thu thập. KTV đánh giá mức độ trọng yếu thông qua việc ước lượng ban đầu về mứctrọng yếu, sau đó sẽ thực hiện phân bổ mức trọng yếu đó cho các bộ phận. Nhưngtrên thực tế, đối với những khách hàng nhỏ KTV thường bỏ qua bước này hoặcđánh giá mức trọng yếu một cách khái quát và không thể hiện nó trên giấy tờ. Điềunày cũng sẽ gây cản trở đối với việc thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầyđủ nhất. Do đó KTV cần thực hiện đánh giá mức trọng yếu đối với tất cả các kháchhàng theo như chương trình kiểm toán mẫu để đảm bảo cho những BCKT thu thậplà đầy đủ và hợp lý. Các thông tin mà KTV thu thập ban đầu về khách hàng thường sơ sài. Do vậymà việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là khó khăn. 1.2. Kiến nghị về áp dụng thủ tục phân tích Thủ tục phân tích trong kiểm toán là phương pháp kiểm toán khá hiệu quả vàít tốn kém. Thông qua thực hiện các thủ tục phân tích, KTV sẽ có cái nhìn tổngquát về tình hình hoạt động của đơn vị. Từ đó sẽ xác định được các khoản mụctrọng yếu. Trên thực tế, KTV thường chỉ thực hiện các thủ tục phân tích một cáchđơn giản, như phân tích sự biến động của kỳ này với kỳ trước. Vì vậy việc đưa rakết luận cũng chưa thật chính xác. Thông qua thủ tục phân tích, KTV có thể thấyđược tính hợp lý của các chỉ tiêu, và có thể xem xét được mối quan hệ giữa các chỉSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 60
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com tiêu tài chính và phi tài chính. Ngoài ra, KTV không chỉ thể hiện phân tích tài chính qua các bảng mà có thể thể hiện các chỉ tiêu qua các đồ thị để quan sát và thấy sự biến động của chúng một cách dễ dàng. Từ đó, KTV có thể đưa ra các kết luận và dự đoán một cách hợp lý cho các khoản mục. Theo chuẩn mực kiểm toán số 520 - Quy trình phân tích, khi thực hiện thủ tục phân tích, KTV cũng cần xem xét tính độc lập và độ tin cậy của các dữ liệu tài chính và nghiệp vụ, ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ. Cần tăng cường các thủ tục phân tích về mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính cũng như các thủ tục phân tích đánh giá khái quát tình hình tài chính của đơn vị trong kế hoạch và chương trình kiểm toán.  Sử dụng các tỷ suất thể hiện hiệu quả hoạt động. Khi sử dụng kỹ thuật phân tích, KTV nên phân tích hiệu quả hoạt động của đơn vị khách hàng qua các tỷ suất như sau: Khả năng sinh lời trên doanh thu Lợi nhuận Doanh thu Khả năng sinh lời trên tài sản (ROA) Lợi nhuận trước thuế Tổng tài sản bình quân Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu(ROE) Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu bình quân Khả năng sinh lời kinh tế của tài sản (RE) Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay Tổng tài sản bình quân Với những chỉ tiêu này, KTV có thể xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong năm kiểm toán. Qua đó, rút ra các nhận xét phục vụ cho quá trình kiểm toán của mình. Minh họa tại công ty Q: Chỉ tiêu 2008 2009 20101. Doanh thu thuần 64,298,943,068 46,465,624,583 46,220,419,8122. Lợi nhuận trước thuế 8,365,585,260 6,306,725,790 8,416,540,7103. khả năng sinh lời trên doanh thu (2:1) 13.01% 13.57% 18.21%4. Lợi nhuận sau thuế 6.274.188.945 4.730.044.343 6.312.405.5335. chi phí lãi vay 0 401.812.573 193.686.0006. tổng ts bình quân 67,178,670,642 70,566,227,220 53,513,408,7677. VCSH bình quân 11,018,009,788 14,238,012,720 18,050,709,8018. Tỉ suất sinh lời kinh tế(RE=(2+5)/6) 12,45% 9,51% 16,09%9. Tỉ suất sinh lời TS(ROA=2/6) 12,45% 8,94% 15,73%10. Khả năng sinh lời VCSH(ROE=4/7) 56,94% 33,22% 34,97% KTV thấy khả năng sinh lời trên doanh thu tăng dần qua 3 năm, tốc độ tăng ngày càng nhanh, chứng tỏ khả năng tạo ra lợi nhuận càng lớn. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp giảm mạnh vào năm 2009, và tăng đột biến vào năm 2010, thể hiện qua các chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tài sản và tỷ suất sinh lời kinh tế, KTV có thể kết luận đây là một dấu hiệu tốt vì chứng tỏ tình hình kinh doanh hoạt động của doanh nghiệp đang diễn biến theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, dưới góc độ kiểm toán thì sự việc nào cũng có khả năng chứa đựng rủi ro. Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu tăng lên có thể hàm chứa những khả năng sai phạm như: Khai khống doanh thu hay khai thiếu chi phí nhằm tăng lợi nhuận. Khi đó, kiểm toán SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 61
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comviên sẽ phải kết hợp với việc phân tích xu hướng đối với hai chỉ tiêu lợi nhuận vàdoanh thu trên. Từ những biến động tăng hoặc giảm có được đó, kiểm toán viên cóthể đưa ra kết luận rằng liệu trong trong doanh nghiệp sẽ có khả năng có sai phạmnào (khai khống doanh thu hay khai thiếu chi phí). Như vậy, điều này sẽ giúp kiểmkhoanh vùng được rủi ro kiểm toán và đưa ra các quyết định về các thử nghiệm chitiết.  Sử dụng các tỷ suất phân tích rủi ro. Thực tế tại AAC, KTV cũng đã sử dụng một số tỷ suất phân tích rủi ro như:hệ số khả năng thanh toán hiện hành, hệ số khả năng thanh toán nhanh và hệ sốthanh toán bằng tiền (hay còn gọi là khả năng thanh toán tức thời). Nhưng bêncạnh những tỷ suất trên vẫn còn một số tỷ suất phân tích rủi ro mà kiểm toán viênAAC có thể áp dụng như sau: Đòn bẩy kinh doanh % thay đổi của lợi nhuận % thay đổi của doanh thu Đòn bẩy tài chính % thay đổi của ROE % thay đổi của LNTT& lãi vay Khi đòn bẩy kinh doanh hay đòn bẩy tài chính càng cao thì chứng tỏ rủi rokinh doanh hay rủi ro tài chính càng lớn. Vì vậy: - Đối với đòn bẩy kinh doanh, tỷ suất này có thể giúp kiểm toán viên xem xét về mức độ rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải khi kinh doanh và đầu tư. Đặc biệt, với các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực mới hoặc mới vào ngành thì việc đo lường mức độ rủi ro này là rất quan trọng. Vì nhờ vào đó, KTV có thể nắm bắt được khả năng sai phạm khi doanh nghiệp đang gánh chịu nhiều áp lực về rủi ro. - Còn đòn bẩy tài chính được xem là công cụ hỗ trợ đắc lực trong trường hợp đơn vị có tỷ suất nợ cao (nợ phải trả nhiều hơn vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn). Nếu kiểm toán các doanh nghiệp có đặc điểm này, kèm theo đòn bẩy tài chính cao thì khả năng sai phạm về thanh toán, các khoản vay hay nợ phải trả khác có thể phát sinh, vì doanh nghiệp đang chấp nhận một mức độ rủi ro khá lớn, mà đến một lúc nào đó, doanh nghiệp có thể tìm cách hạn chế rủi ro bằng những hành vi cố ý. Minh họa tại công ty Q: 2008 2009 2010Doanh thu 64,298,943,068 46,465,624,583 46,220,419,812Lợi nhuận 8,365,585,260 6,306,725,790 8,416,540,710% thay đổi doanh thu -27,74% -0,53%% thay đổi lợi nhuận -24,61% 33,45%Độ lớn ĐBKD 113% -2%Chi phí lãi vay 0 401.812.573 193.686.000Đòn bẩy tài chính 1 1,06 1,02 Nhận xét: năm 2009, đòn bẩy kinh doanh lớn, 1% thay đổi doanh thu dẫn đến113% thay đổi lợi nhuận, nhưng sang năm 2010, có sự bất thường, cứ giảm 1%doanh thu lại làm lợi nhuận tăng 2%. Còn đòn bẩy tài chính thì không biến độngđáng kể. Vì vậy cần đặt biệt chú ý kiểm tra khoản mục doanh thu.  Sử dụng phân tích hệ số nợ và hệ số tự tài trợ.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 62
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Hệ số nợ và hệ số tự tài trợ dùng để phân tích về tình hình vốn chủ của doanhnghiệp. Hệ số nợ Nợ phải trả Tổng tài sản Hệ số tự tài trợ Vốn chủ sở hữu Tổng tài sản Hai hệ số này có quan hệ mật thiết với nhau theo đẳng thức “Hệ số tự tài trợ= 1 – Hệ số nợ”. Khi hê số tự tài trợ cao (tức: vốn chủ sở hữu > Nợ phải trả) chứngtỏ một nhận định rằng doanh nghiệp có tính tự chủ cao, ít phụ thuộc vào các khoảnnợ bên ngoài nên áp lực thanh toán không cao. Song do vốn chủ nhiều nên việckiểm toán để chứng minh cho quyền sở hữu vốn chủ này cũng được tiến hànhnhiều hơn. Như vậy, KTV sẽ đi xem xét tính pháp lý của vốn chủ để đảm bảo tìnhhình doanh nghiệp đúng như những gì báo cáo tài chính thể hiện. Mặt khác nếunhư hệ số nợ cao sẽ gây ra nhiều vấn đề hơn mà kiểm toán viên cần phải xem xéttiếp. Hệ số này cao thể hiện đơn vị đang phải vay vốn nhiều, chịu nhiều áp lực vềthanh toán nên khả năng xảy ra gian lận trong khoản mục nợ phải trả là điều cóthể. Kiểm toán viên nên thực hiện chi tiết nhiều hơn ở các khoản mục này. Minh họa tại công ty Q: Chỉ tiêu 2008 2009 20101 Nợ 71,458,869,182 38,370,448,904 32,554,949,0282 Vốn CSH 14,238,012,720 17,065,123,634 19,036,295,9683 Tổng NV 85,696,881,902 55,435,572,538 51,591,244,9964 Tỉ suất nợ 83.39% 69.22% 63.10%5 Tỉ suất tự tài trợ 16.61% 30.78% 36.90% Ở đây, ta thấy tỉ suất nợ cao, do đó cần chú ý kiểm tra khoản mục nợ phải trảvà chi phí lãi vay. 1.3. Thực hiện thu thập, cập nhật thông tin từ bên ngoài Các bằng chứng kiểm toán do KTV AAC thu thập chủ yếu là do khách hàngcung cấp, việc thu thập bằng chứng từ bên thứ ba độc lập chỉ dừng lại thông qua việcgửi thư xác nhận. Vì vậy để có thêm những bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao,KTV nên tiến hành thu thập các bằng chứng từ các nguồn bên ngoài như: thu thập ýkiến chuyên gia, thu thập thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng… Nhữngthông tin đó sẽ giúp KTV có cái nhìn tổng quát hơn về đơn vị được kiểm toán. Việclàm này không tốn nhiều thời gian và chi phí, nhưng lại đem lại hiệu quả cao trongquá trình tiến hành kiểm toán, KTV có những hiểu biết về khách hàng trong mối quanhệ tương quan với thị trường, pháp luật, đối thủ cạnh tranh, nhà đầu tư… qua đó nhậndiện được những vấn đề bất thường trong hoạt động kinh doanh của đơn vị kháchhàng.2. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán 2.1. Kiến nghị về thực hiện chương trình kiểm toán của KTV Chương trình kiểm toán được xây dựng cụ thể đối với từng khoản mục kiểmtoán. Trong quá trình kiểm toán, trưởng nhóm sẽ phân công công việc theo từngkhoản mục cho các kiểm toán viên. Các KTV mặc dù đã được phân công theo từngkhoản mục song vẫn có sự trùng lặp hay bỏ sót khi tiến hành kiểm toán. Điều nàygây nên sự lãng phí thời gian. Do vậy, KTV có thể phân công công việc theo chuSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 63
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comtrình kiểm toán. Như vậy sẽ có thể tiết kiệm thời gian và giảm thiểu chi phí, hơnthế nữa cũng sẽ đạt được hiệu quả cao trong công việc. Hơn thế nữa, việc đối chiếu số liệu, chứng từ giữa các phòng ban ít khi đượcthực hiện. KTV thường chỉ kiểm tra ở phòng kế toán. Điều này rất dễ gây ra sự bỏsót trong quá trình kiểm toán. Vì thế, ngoài việc kiểm toán tại phòng kế toán, KTVcó thể phỏng vấn và hỏi thêm các phòng ban khác. 2.2. Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Thường khi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, KTV sẽ dựa vào bảng câuhỏi được thiết kế trong chương trình kiểm toán. Bảng câu hỏi này là chung chomọi loại hình doanh nghiệp. Và điều này đã gây ra sự không hợp lý, mỗi doanhnghiệp có những đặc thù riêng, các câu hỏi có thể sẽ là không chính xác đối vớidoanh nghiệp đó. Khách hàng sẽ trả lời những câu hỏi đó mang xu hướng tốt lêncho doanh nghiệp mình. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh giárủi ro và kiểm soát nội bộ có quy định: “Nội dung, lịch trình và phạm vi của cácthủ tục tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ có thể thay đổi tuỳtheo các điều kiện”. Do vậy, KTV có thể điều chỉnh các câu hỏi cho phù hợp với từng loại hìnhdoanh nghiệp, và thực hiện các câu hỏi mở để có thể đánh giá về hệ thống kiểmsoát nội bộ một cách chính xác hơn. Tăng cường việc sử dụng các Bảng câu hỏi đểđánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát ở mức tối đacó thể. 2.3. Hoàn thiện kỹ thuật kiểm kê Công ty AAC đang sử dụng chương trình kiểm toán mẫu của Hội kiểm toánviên hành nghề VACPA, nhưng vẫn chưa áp dụng triệt để các biểu mẫu màVACPA đưa ra. Việc thể hiện quan sát kiểm kê trên giấy tờ làm việc của kiểmtoán viên AAC còn rất hạn chế. Kỹ thuật kiểm kê tại công ty AAC phần lớn là việcchứng kiến kiểm kê hoặc sử dụng biên bản kiểm kê mà khách hàng đã lập sẵn. Lýdo chính cũng do hạn chế về thời gian và chi phí. Đối với việc kiểm kê mà chínhAAC thực hiện cũng được tiến hành tương đối tốt song chưa đạt tới mức hiệu quảcao như ưu điểm kiểm tra vật chất đem lại. Đối với mỗi khoản mục khác nhau thìcông việc kiểm kê cũng được thực hiện khác nhau. Kiểm kê luôn phải được thực hiện theo quy trình gồm 3 bước sau Chuẩn bị kiểm kê. Thực hiện kiểm kê Kết thúc kiểm kê2.4. Hoàn thiện việc lấy xác nhậnSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 64
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 - Bằng chứng kiểm toán, kỹthuật này thường được đánh giá cao trong quá trình thu thập bằng chứng kiểmtoán. Kỹ thuật này có thể giúp KTV xác minh tính chính xác của thông tin như:xác nhận tiền gửi ngân hàng, khoản phải thu, hàng gởi đi bán.... Trên thực tế, việcgửi thư xác nhận không được tiến hành theo đúng quy trình để có được độ tin cậycao, KTV thường tin tưởng vào các xác nhận đã được đơn vị thực hiện. Các doanhnghiệp trong quá trình kiểm toán thì lại không có đủ các bản xác nhận công nợcuối năm. Mà khoản mục công nợ đóng vai trò khá quan trọng. Trước hết cần nângcao nhận thức cho tất cả KTV và bên liên quan về tầm quan trọng của bằng chứngtừ bên thứ ba độc lập. Thêm vào đó, cần tăng cường việc thực hiện gửi thư xácnhận tích cực với các đối tác có ảnh hưởng trọng yếu (có thể gửi thư nhiều lần, gọiđiện trực tiếp để thúc giục thậm chí cử nhân viên đến tận nơi lấy thư xác nhận nếucần thiết và có thể). Khi xác nhận hàng gởi ở bên thứ ba, ngoài việc xác nhận số lượng, chủng loạihàng hóa thì xác nhận phẩm chất hàng hóa cũng là một điều hết sức quan trọng bởivì điều này ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu sự đánh giá, ảnh hưởng đến việc trích lậpdự phòng đối với hàng gởi ở bên thứ ba. Mẫu thư xác nhận hàng gởi của bên thứba mà AAC đưa ra chưa đề cập đến việc xác nhận phẩm chất hàng hóa, ví dụ nhưxem hàng hóa có bị mất phẩm chất không. Do đó, AAC cần xây dựng mẫu thư xácnhận trong đó có phần yêu cầu bên thứ ba xác nhận về phẩm chất hàng hóa mà họđang nắm giữ. KTV cũng cần thu thập các tài liệu để tiến hành xác nhận công nợ của các kháchhàng lớn, hoặc các khách hàng có số dư công nợ lâu. Tuy nhiên việc xác nhận côngnợ này thường bị hạn chế do chi phí của nó lớn, mà lại mất khá nhiều thời gian. 2.5. Hoàn thiện kỹ thuật phân tích Khi đi vào giai đoạn thực hiện kiểm toán chính thức, kiểm toán viên AACthường chỉ sử dụng kỹ thuật phân tích dừng lại ở mức phân tích biến động số dưcuối kỳ của tài khoản, và sau đó thường đi vào việc kiểm tra chi tiết chứng từ, sổsách, và chính vì vậy việc nhìn nhận ban đầu về khoản mục còn hạn chế dẫn đếnviệc kiểm toán thường kéo dài và mang lại ít hiệu quả hơn. Sau đây em xin bổsung một vài biện pháp nhằm hoàn thiện nhược điểm này:  Kiểm tra sự biến động về tỷ trọng Tỷ trọng tài sản i Gía trị thuần của tài sản i Tổng tài sản * 100% Tỷ trọng nguồn vốn i Nguồn vốn i Tổng tài sản (hoặc Tổng nguồn vốn) * 100% Tỷ trọng tài sản, nguồn vốn là chỉ tiêu chung nhất để đánh giá cơ cấu tài sảnvà nguồn vốn của doanh nghiệp. Đồng thời, bằng việc so sánh các chỉ tiêu nàygiữa các năm, kiểm toán viên có thể nhìn thấy chiều hướng biến động và dự đoánđược những khả năng về sai phạm có thể có. Minh họa tại công ty Q: Năm 2010 Năm 2009 So sánh 10/09SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 65
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Tỷ trọng tiền & tương đương tiền 9,48% 5,10% 1,86 Tỷ trọng hàng tồn kho 52,14% 50,23% 1,04 Tỷ trọng khoản phải thu 12,38% 14,00% 0,88 Tỷ trọng các khoản đầu tư tài chính 0,10% 0,11% 0,91 Tỷ trọng tài sản cố định 25,90% 30,46% 0,85 Sau khi áp dụng công thức phân tích tỷ suất KTV có kết quả như bản trên.Với bảng trên, sự biến động của khoản mục tiền và tương đương tiền và khoảnmục tài sản cố định là rõ ràng hơn cả. Kiểm toán viên cần tập trung phát hiệnnhững gian lận và sai sót có thể có ở hai khoản mục này. Ngoài ra cần tập trungkiểm tra khoản mục hàng tồn kho và khoản phải thu vì 2 khoản mục này chiếm tỉtrọng đáng kể trong tổng tài sản. Ngoài ra, tại AAC khi đi vào kiểm toán các khoản mục cụ thể, trưởng đoànkiểm toán nên giao việc phân tích các khoản mục cho cá nhân chịu trách nhiệmphân tích. Vì như vậy thì cá nhân chịu trách nhiệm sẽ nắm bắt được cụ thể tìnhhình của khoản mục đó, từ đó có những quyết định đúng đắn khi đi vào kiểm trachi tiết nghiệp vụ. Đưa việc phân tích hệ số đo lường hiệu quả hoạt động như: Vòng quay cáckhoản phải thu, Vòng quay hàng tồn kho, Vòng quay vốn lưu động… vào cùng vớiphân tích tỷ trọng của khoản mục. Tức là, kiểm toán viên AAC thường phân tíchcác hệ số đo lường hiệu quả hoạt động trong phân tích tình hình chung của Báocáo tài chính ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Điều này là chưa thực sự hợp lý.Vì thế, KTV nên chuyển việc phân tích trên kết hợp với việc phân tích khác tronggiai đoạn thực hiện kế hoạch (trước khi đi vào kiểm tra chi tiết nghiệp vụ). 2.6. Hoàn thiện kỹ thuật quan sát Trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính do AAC thực hiện, kỹ thuật quansát được sử dụng trong suốt cuộc kiểm toán. Tuy nhiên, vẫn còn mang tính chấtchủ quan của người quan sát và đôi lúc do ngẫu nhiên trong quá trình thực hiệnkiểm toán. Do đó, AAC nên quy định rõ ràng việc sử dụng kỹ thuật quan sát trongtừng giai đoạn của cuộc kiểm toán, và tập cho các nhân viên AAC có kỹ năng quansát tốt, phán đoán các trường hợp có thể xảy ra liên quan đến các khoản mục trênbáo cáo tài chính khi quan sát một hiện tượng nào đó, khi đó cuộc kiểm toán sẽ trởnên tối ưu hơn và sẽ mang lại hiệu quả rất cao.  Quan sát tổng thể địa bàn hoạt động, cách thức tổ chức sản xuất…của đơn vị để có được cái nhìn tổng quát về quy mô, tình hình hoạt động của đơn vị.  Quan sát tổ chức bộ máy của đơn vị, đặc biệt là bộ máy kế toán, xem xét thái độ làm việc và cách làm việc của nhân viên trong đơn vị để có thể đánh giá sơ bộ về sự tồn tại và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị.  Thực hiện quan sát thái độ của người được phỏng vấn trong quá trình phỏng vấn khách hàng để có thể đánh giá được độ trung thực của đại diện đơn vị và độ tin cậy của thông tin kiểm toán viên nhận được.3. Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán Tăng cường việc áp dụng thủ tục phân tích trong giai đoạn này, và trình bàytrên giấy làm việc. Kiểm toán viên có thể kết hợp công việc xem xét các khoản nợ tiềm tàngtrong khi xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ kế toán cũng nhưSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 66
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comđánh giá khả năng hoạt động liên tục của khách hàng. Khi xem xét các khoản nợtiềm tàng, KTV cần xem xét trên các khía cạnh: xem xét liệu những khoản nợ tiềmtàng có được xác định đầy đủ hay không, xem xét tới quy mô số tiền khoản côngnợ này, xem xét liệu các khoản công nợ ngoài dự kiến có được hạch toán và thuyếtminh hợp lý không. Các thủ tục kiểm toán có thể thực hiện: Trao đổi với người quản lý đơn vị về khả năng có các khoản nợ tiềm tàngchưa được khai báo. Do người quản lý đơn vị có thể chưa hiểu hết các yêu cầu vềcông khai thông tin trên báo cáo tài chính, nên KTV cần mô tả rõ về bản chất cáckhoản nợ tiềm tàng cần khai báo, đồng thời yêu cầu người quản lý cung cấp mộtvăn bản giải trình xác định là đã khai báo đầy đủ các khoản nợ tiềm tàng mà doanhnghiệp đã xác định được. Gửi thư yêu cầu luật sư hay tư vấn pháp lý của doanh nghiệp cung cấp thưgiải trình về các vụ kiện đang xét xử, đánh giá của luật sư về khả năng doanhnghiệp phải bồi thường và ước tính giá trị thiệt hại. Đọc các biên bản họp cổ đông, họp hội đồng quản trị, ban giám đốc… để tìmdấu hiệu của các vụ kiện hoặc các vấn đề bất lợi khác. Đọc các hợp đồng, khế ước vay, hợp đồng thuê và các thông báo từ cơ quanthuế và cơ quan nhà nước khác.Thu thập thông tin về các khoản bảo lãnh nợ chođơn vị khác từ xác nhận của ngân hàng. Qua mỗi cuộc kiểm toán cụ thể, Công ty cần nâng cao kiểm soát chất lượnghoạt động kiểm toán bằng cách tiến hành khảo sát mức độ thỏa mãn dịch vụ kiểmtoán từ phía khách hàng; lưu trữ thông tin này vào hồ sơ kiểm toán. Công việc này,một mặt giúp cho Công ty nắm bắt được yêu cầu từ phía khách hàng, hiểu rõ hơnvề chất lượng dịch vụ công ty đang cung cấp mặt khác làm cơ sở kiểm tra, nângcao hiệu quả, chất lượng dịch vụ cho các năm kiểm toán về sau. Công ty có thểthiết kế mẫu Bảng câu hỏi đánh giá sự thỏa mãn của khách hàng về chất lượngdịch vụ đang cung cấp. Ngoài ra, công ty nên tiến hành việc thực hiện chuyên môn hóa theo từngphòng ban, mỗi phòng ban sẽ xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu về ngành nghềmà mình phụ trách, như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tinvà sử dụng các thông tin đó trong quá trình thực hiện kiểm toán. Đồng thời nângcao trình độ KTV. Thông qua Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam công ty có thể trao đổivới các công ty kiểm toán khác về chuyên môn và các vấn đề về đào tạo, hợp táckiểm toán. KẾT LUẬNSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 67
    • Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Sau thời gian thực tập tại công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC cùng vớisự nghiên cứu cơ sở lý luận các tài liệu kiểm toán liên quan đến kỹ thuật thu thậpbằng chứng kiểm toán, đã giúp em học hỏi được rất nhiều kiến thức về kiểm toáncũng như củng cố thêm kiến thức kế toán. Thu thập và đánh giá bằng chứng kiểmtoán diễn ra trong suốt cuộc kiểm toán, là cơ sở chứng minh cho các báo cáo kiểmtoán, nó có một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình kiểm toán cũng như rabáo cáo. Mặc dù đã cố gắng hết mình để tham khảo tài liệu, học hỏi những người đitrước, cũng như được sự hướng dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn nhưng vớithời gian thực tập và khả năng có hạn nên đề tài khó có thể tránh khỏi những thiếusót. Rất mong nhận được sự thông cảm của thầy cô. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chịtrong công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC và sự hướng dẫn nhiệt tình của côgiáo Th.S Đoàn Nguyễn Trang Phương đã giúp em hoàn thành đề tài này.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 68