• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
 

hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

on

  • 11,824 views

Luận văn: hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC...

Luận văn: hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
Tham khảo tại: http://luanvan.forumvi.com/t178-topic

Statistics

Views

Total Views
11,824
Views on SlideShare
11,653
Embed Views
171

Actions

Likes
12
Downloads
0
Comments
1

1 Embed 171

http://luanvan.forumvi.com 171

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel

11 of 1 previous next

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • sao ko dowload dc tai lieu nay nhi cac ban?
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Document Transcript

    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀI.1. Tính cấp thiết của đề tài: Trong điều kiện bước đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới, môi trường kinh doanh ởViệt Nam đã và đang tiến dần đến thế ổn định. Môi trường đó ngày càng rộng mở đã thu hútnhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của các doanhnghiệp. Đi đôi với sự phát triển của doanh nghiệp là sự gia tăng nhu cầu sử dụng thông tin tàichính. Vì vậy, vấn đề trung thực, hợp lý của thông tin trên báo cáo tài chính càng trở nên cấpthiết, nhu cầu về kiểm toán càng trở thành tất yếu. Ở Việt Nam, hoạt động Kiểm toán chính thức ra đời từ năm 1991 với sự hình thành củahai công ty: Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty dịch vụ kế toán Việt Nam(AASC). Cho đến nay, số lượng các công ty kiểm toán đã tăng lên đáng kể và loại hình công tycũng đa dạng hơn bao gồm: công ty TNHH, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nướcngoài... Với chức năng xác minh tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, kiểm toánkhông chỉ đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư, lợi ích của các chủ sở hữu vốn, chủ nợ và củachính bản thân doanh nghiệp mà còn giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội có đượcnhững thông tin kinh tế, tài chính trung thực từ các doanh nghiệp. Một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng mà công ty kiểm toán thường cungcấp cho khách hàng đó chính là kiểm toán báo cáo tài chính. Để hoàn thành tốt mục tiêu kiểmtoán, kiểm toán viên cần kiểm tra, soát xét tất cả các khoản mục và bộ phận cấu thành nên báocáo tài chính. Trong điều kiện thời gian và nguồn lực bị giới hạn, kiểm toán viên không thể tiếnhành kiểm tra chi tiết toàn bộ dữ liệu kế toán. Chính vì vậy, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải ápdụng các kỹ thuật chọn mẫu vào trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính. Cũng như nhiều khía cạnh khác của Kiểm toán, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũngquy định rõ về việc lấy mẫu kiểm toán cũng như các thủ tục lựa chọn khác, tuy nhiên, việc ápdụng các kỹ thuật chọn mẫu nào và thực hiện ra sao còn phụ thuộc và đặc điểm, điều kiện cụthể của từng công ty kiểm toán. Nhận thức được ý nghĩa và vai trò của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tàichính, cộng với mong muốn được đi sâu tìm hiểu thực tế vấn đề này tại một công ty kiểm toáncụ thể, em đã quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫuSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 1
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứctrong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” làm đề tàinghiên cứu cho mình.I.2. Mục tiêu nghiên cứu:I.2.1. Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu chung của đề tài này là tìm hiểu kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tạicông ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC được áp dụng thực tế tại các công ty khách hàng,từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện các kỹ thuật trên.I.2.2. Mục tiêu cụ thể: • Tìm hiểu các lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính. • Tìm hiểu và phân tích các kỹ thuật chọn mẫu mà các kiểm toán viên công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện tại công ty khách hàng, từ đó chỉ ra ưu điểm và hạn chế của các kỹ thuật mà công ty đang áp dụng. • Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong Kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC.I.3. Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu:I.3.1. Câu hỏi nghiên cứu: - Thực trạng việc áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại côngty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC hiện nay như thế nào? - Có những ưu điểm và hạn chế gì trong các kỹ thuật chọn mẫu đang áp dụng tại côngty? - Những biện pháp nào trong công tác chọn mẫu có thể thích hợp và giúp nâng cao hiệuquả công tác kiểm toán báo cáo tài chính của công ty?I.3.2. Giả thiết nghiên cứu: Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kếtoán AAC có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì vậy, cần đưa ra những biện pháp nhằmphát triển và hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu nói chung và kiểm toán báo cáo tài chính nói riêngphù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của công ty.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 2
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh ĐứcI.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:I.4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại Công tyTNHH Kiểm toán và Kế toán AAC.I.4.2. Phạm vi nghiên cứu:  Về không gian:Đề tài được thực hiện tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC .  Về thời gian:Đề tài được thực hiện trong thời gian từ ngày 04/01/2011 đến ngày 15/04/2011.  Về nội dung:Do giới hạn về không gian và thời gian nghiên cứu nên đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu kỹ thuật chọnmẫu tại công ty khách hàng ABC và công ty XYZ.I.5. Phương pháp nghiên cứu:I.5.1. Phương pháp thu thập số liệu: • Thu thập, nghiên cứu các chuẩn mực, chế độ kế toán và kiểm toán Việt Nam hiện hành cùng các tài liệu chuyên khảo có liên quan như giáo trình, sách báo về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC. • Thu thập các tài liệu, hồ sơ năm trước liên quan tới kỹ thuật chọn mẫu trong trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. • Quan sát quá trình các KTV tiến hành chọn mẫu và phỏng vấn KTV về quy trình tiến hành chọn mẫu trong thực tế. • Trực tiếp tham gia quy trình kiểm toán với vai trò Trợ lý Kiểm toán viên.I.5.2. Phương pháp xử lý số liệu: Sau khi thu thập số liệu, người viết tiến hành phân tích, tổng hợp, đối chiếu số liệu cũngnhư vận dụng các kiến thức và kinh nghiệm thực tế có được về kỹ thuật chọn mẫu để từ đó cócái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu.I.6. Cấu trúc của đề tài: Cấu trúc của đề tài bao gồm những nội dung sau:- Phần I : Đặt vấn đềSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 3
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức- Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu, gồm có 4 chương + Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính + Chương 2: Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC + Chương 3: Thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chínhtại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC + Chương 4: Một số biện pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tàichính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC- Phần III: Kết luận và kiến nghịSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 4
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUChương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báocáo tài chính1.1. Khái niệm về chọn mẫu trong kiểm toán: Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các phần tử hoặc đơn vị (gọi là mẫu) từmột tập hợp lớn các phần tử hoặc đơn vị (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu đểsuy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam -VSA 530, lấy mẫu kiểm toán (gọi tắt là lấy mẫu)là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tàikhoản hay một loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần tử đều có cơ hội để được chọn. Lấy mẫu sẽgiúp kiểm toán viên thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các đặc trưng của các phầntử được chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết luận về tổng thể. Trong quá trình thực hiện chọn mẫu, kiểm toán viên thường đặc biệt quan tâm tới tínhhiệu quả của các thủ tục kiểm soát, tính chính xác của quá trình xử lý nghiệp vụ và tính chínhxác của các số dư tài khoản.1.2. Các khái niệm liên quan đến chọn mẫu kiểm toán:1.2.1. Tổng thể: Tổng thể là tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu.Mỗi một phần tử trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể. Trong kiểm toán, tổng thể được hiểu là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên chọn mẫuđể có thể đi đến một kết luận. Ví dụ, tất cả các phần tử trong một số dư tài khoản hay một loạinghiệp vụ cấu thành một tổng thể. Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổngthể con và mỗi nhóm được kiểm tra riêng. Theo mục 36 của VSA 530, kiểm toán viên phải đảm bảo tính phù hợp và đầy đủ củatổng thể. • Phù hợp: Tổng thể phải phù hợp với mục đích của thủ tục lấy mẫu. • Đầy đủ: Tổng thể phải luôn đầy đủ.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 5
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.2.2. Đơn vị lấy mẫu: Đơn vị lấy mẫu là các phần tử riêng biệt cấu thành tổng thể. Ví dụ, các séc trong bảng kênộp tiền, các nghiệp vụ ghi Có trên sổ phụ ngân hàng, Hóa đơn bán hàng hoặc số dư Nợ cáckhoản phải thu khách hàng. Đơn vị lấy mẫu có thể là một đơn vị tiền tệ, một đơn vị hiện vật hoặc số lượng.1.2.3. Cỡ mẫu: Tập hợp các phần tử được chọn ra làm đại diện trong quá trình khảo sát một đặc điểm haymột dấu hiệu nào đó của tổng thể thường gọi là một mẫu. Số phần tử có trong mẫu thường được gọi là kích thước mẫu hay cỡ mẫu, thông thường làkhá nhỏ so với tổng thể chọn mẫu. Mục 41 và 42 của VSA 530 có nêu rằng: Kiểm toán viên phải đảm bảo rủi ro kiểm toándo áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡmẫu. Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi mức rủi ro kiểm toán. Rủi ro có thể chấp nhận được càngthấp, thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn. Cỡ mẫu được xác định theo phương pháp thống kê hoặcxét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên phải khách quan trong mọi trường hợp.1.2.4. Mẫu đại diện: Mẫu đại diện là mẫu mang những đặc trưng của tổng thể. Chẳng hạn, qua kiểm soát nộibộ xác định 3% phiếu chi không có chứng từ gốc đính kèm. Nếu trong hàng ngàn phiếu chi,chọn ra 100 phiếu và kiểm tra thấy có đúng ba lần thiếu chứng từ gốc thì mẫu được chọn là đạidiện.1.2.5.Rủi ro chọn mẫu: Khi chọn mẫu, rủi ro chọn mẫu luôn phát sinh. Rủi ro chọn mẫu là khả năng mà kết luậncủa kiểm toán viên dựa trên kiểm tra mẫu có thể khác với kết luận của kiểm toán viên đạt đượcnếu kiểm tra trên toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục. Nói cách khác, rủi ro chọn mẫu là sựsai khác giữa kết quả mẫu chọn với kết quả thực tế. Có hai loại rủi ro chọn mẫu: • Rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát thấp hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế là có (đối với thử nghiệm cơ bản). Loại rủi ro này ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểm toán, và có thể dẫn đến ý kiến kiểm toán không xác đáng.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 6
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát cao hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc có sai sót trọng yếu trong khi thực tế không có (đối với thử nghiệm cơ bản). Loại rủi ro này ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì nó thường dẫn đến các công việc bổ sung để chứng minh rằng các kết luận ban đầu là không đúng. Rủi ro chọn mẫu có thể giảm bằng cách tăng cỡ mẫu. Nếu tăng kích cỡ mẫu chọn cho tớikhi bằng toàn bộ tổng thể thì rủi ro chọn mẫu bằng không. Tuy nhiên, cỡ mẫu tăng lên đồngnghĩa với chi phí kiểm toán tăng lên, do đó, yếu tố cơ bản trong việc chọn mẫu kiểm toán mộtcách hiệu quả là cần phải cân đối giữa rủi ro chọn mẫu với chi phí do chọn mẫu có kích cỡ lớn.1.2.6.Rủi ro không do chọn mẫu: Rủi ro không do chọn mẫu là rủi ro khi kiểm toán viên đi đến một kết luận sai vì cácnguyên nhân không liên quan đến cỡ mẫu. Nguyên nhân của rủi ro này thường là khả năng (trítuệ và thể lực) của kiểm toán viên. Ví dụ: kiểm toán viên có thể sử dụng thủ tục kiểm toánkhông thích hợp hay kiểm toán viên hiểu sai bằng chứng và không nhận diện được sai sót. Các trường hợp dẫn tới rủi ro không do chọn mẫu thường bao gồm:  Thứ nhất, đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng. Kiểm toán viên có thể đánh giá sai lầm rủi ro tiềm tàng trong đối tượng kiểm toán. Có thể kiểm toán viên cho rằng có ít sai phạm trọng yếu tồn tại trong đối tượng kiểm toán nên họ có xu hướng giảm qui mô công việc cần thực hiện, do đó không phát hiện được các sai phạm.  Thứ hai, đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát. Kiểm toán viên có thể quá lạc quan, tin tưởng vào khả năng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai phạm nên họ có xu hướng giảm khối lượng công việc cần thiết, vì vậy kết quả cũng như trường hợp đánh giá sai về rủi ro tiềm tàng là không phát hiện được tất cả các sai phạm trọng yếu.  Thứ ba, lựa chọn các thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công việc kiểm toán không hợp lý. Kiểm toán viên có thể chọn các thử nghiệm kiểm toán không phù hợp với mục tiêu kiểm toán, ví dụ: gửi thư xác nhận các khoản phải thu theo sổ sách trong khi đó mục tiêu là tìm ra các khoản phải thu chưa ghi sổ. Hoặc có thể đã chọn được các thủ tục thích hợp nhưng việc triển khai các thủ tục đó lại để xảy ra sai sót do hạn chế về năng lực, thể lực hay về thời gian.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 7
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể kiểm soát được rủi ro không do chọn mẫu vàcó khả năng làm giảm rủi ro không do chọn mẫu tới mức có thể chấp nhận được thông qua lậpkế hoạch và giám sát việc thực hiện kế hoạch một cách chu đáo, đồng thời phải thực hiện cácthủ tục kiểm soát chất lượng chặt chẽ và thích hợp đối với công việc kiểm toán.1.3. Yêu cầu đối với chọn mẫu kiểm toán: Chọn mẫu kiểm toán trên cơ sở sử dụng các đặc trưng mẫu để suy rộng cho đặc trưngcủa toàn bộ tổng thể. Như vậy, yêu cầu cơ bản của chọn mẫu là phải chọn được mẫu đại diện. Một mẫu đại diện là mẫu mà các đặc điểm của mẫu cũng giống như những đặc điểm củatổng thể. Trên thực tế, kiểm toán viên không biết mẫu có tính đại diện hay không dù sau đó tất cảcác thử nghiệm đều được thực hiện. Tuy nhiên, kiểm toán viên có thể tăng khả năng đại diệncủa mẫu bằng cách thận trọng khi thiết kế, lựa chọn và đánh giá mẫu.1.4. Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê:1.4.1. Chọn mẫu thống kê: Chọn mẫu thống kê là việc sử dụng kỹ thuật tính toán toán học để tính kết quả thống kêcó hệ thống. Chọn mẫu thống kê có hai đặc điểm sau: - Các phần tử được chọn ngẫu nhiên vào mẫu - Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu bao gồm cả việc định lượngrủi ro chọn mẫu. Chọn mẫu thống kê được khuyến khích sử dụng do có một số ưu điểm sau: • Đòi hỏi có sự tiếp cận chính xác và rõ ràng đối với đối tượng kiểm toán. • Kết hợp chặt chẽ việc đánh giá mối quan hệ trực tiếp giữa kết quả của mẫu chọn với tổng thể trong cuộc kiểm toán. • KTV phải chỉ rõ các đánh giá cụ thể hay mức rủi ro và mức trọng yếu.1.4.2. Chọn mẫu phi thống kê: Chọn mẫu phi thống kê là phương pháp chọn mẫu không có một hoặc hai đặc điểm củaphương pháp chọn mẫu thống kê. Việc lựa chọn mẫu sẽ dựa vào phán xét nghề nghiệp củakiểm toán viên chứ không dựa vào lý thuyết xác suất. Do đó, các kết luận được tiếp cận với cáctổng thể trên một căn cứ phán đoán nhiều hơn.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 8
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.4.3. So sánh chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê: Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê là hai cách tiếp cận chọn mẫu trong kiểmtoán. Hai cách này nếu được áp dụng hợp lý đều có thể cung cấp đủ các bằng chứng có hiệulực.  Giống nhau: Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê đều bao gồm 3 bước: • Bước 1: Lập kế hoạch chọn mẫu. • Bước 2: Thực hiện chọn mẫu và thực hiện kiểm tra mẫu. • Bước 3: Đánh giá kết quả.  Khác nhau: Chọn mẫu thống kê Chọn mẫu phi thống kêChọn mẫu thống kê có thể xác định được Trong chọn mẫu phi thống kê, KTVrủi ro chọn mẫu trong giai đoạn lập kế không xác định được rủi ro chọn mẫu. Cáchoạch về mẫu (Giai đoạn 1) và đánh giá phần tử được chọn vào mẫu là nhữngkết quả (Giai đoạn 3) thông qua việc vận phần tử mà KTV cho rằng sẽ cung cấpdụng các quy tắc toán học. thông tin tốt nhất cho tình huống nghiên cứu. Kết luận về tổng thể sẽ được đưa ra trên cơ sở cân nhắc và phán xét của KTV.1.5. Các phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu:1.5.1. Chọn mẫu xác suất:1.5.1.1. Chọn mẫu ngẫu nhiên: Chọn mẫu ngẫu nhiên là một phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu theo nguyên tắcmỗi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu. Trong chọn mẫu ngẫu nhiên không có sự phân biệt, đối xử giữa các phần tử tổng thể nênchọn mẫu ngẫu nhiên được vận dụng khi các phần tử trong tổng thể được đánh giá là tương đốiđồng đều (về khả năng sai phạm, về quy mô...). Tuy nhiên, mẫu được chọn ngẫu nhiên khôngnhất thiết sẽ là mẫu đại diện vì có khả năng mẫu chọn được không chứa đựng những đặc tínhgiống như đặc tính của tổng thể.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 9
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Chọn mẫu ngẫu nhiên có thể được thực hiện với việc sử dụng bảng số ngẫu nhiên haytheo chương trình máy vi tính.a. Chọn mẫu dựa trên bảng số ngẫu nhiên: Một trong những cách chọn mẫu ngẫu nhiên trực quan nhất là chọn mẫu sử dụng bảng sốngẫu nhiên. Bảng số ngẫu nhiên là một bảng liệt kê ngẫu nhiên các chữ số độc lập, được sắp xếp dạngbảng biểu để làm dễ dàng cho việc lựa chọn các số ngẫu nhiên nhiều chữ số. Bảng này đượcsắp xếp thành các cột và dòng theo kiểu bàn cờ, mỗi số ngẫu nhiên gồm năm chữ số thập phân.Bảng số ngẫu nhiên được xây dựng bởi Hiệp hội Thương mại Liên quốc gia Hoa Kỳ. Ví dụ vềloại bảng này được trình bày trong phụ lục 1. Công dụng đích thực của bảng ngẫu nhiên rất quan trọng – nhằm đảm bảo cho quy trìnhchọn lựa một mẫu ngẫu nhiên. Quy trình chọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên gồm bốn bước sau: Bước 1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất Mục tiêu của định lượng đối tượng kiểm toán là gắn cho mỗi phần tử của tổng thể vớimột con số duy nhất và từ đó ta có thể có được mối quan hệ giữa các số duy nhất trong tổng thểvới bảng số ngẫu nhiên. Thông thường đối tượng kiểm toán (các chứng từ, tài sản...) đã được mã hóa rước bằngcon số duy nhất. Chẳng hạn, có 5000 các khoản phải thu từ khách hàng và được đánh số thứ tựtừ 0001 đến 5000. Khi đó, bản thân các con số thứ tự trên là các đối tượng chọn mẫu. Tuynhiên, trong một số trường hợp kiểm toán viên có thể cần thiết phải đánh số lại cho tổng thể đểcó thể có một hệ thống số duy nhất tương thích với bảng số ngẫu nhiên. Chẳng hạn, nếu cácnghiệp vụ đã được đánh số A-001, B-001,... thì kiểm toán viên có thể dùng các con số để thaythế các ký tự chữ cái và khi đó có thể dãy số mới là 1-001, 2-001... Trường hợp phải đánh số lại cho đối tượng kiểm toán thì nên tận dụng các con số đã cómột cách tối đa để đơn giản hóa việc đánh số. Ví dụ, trong một quyển sổ chứa các khoản mụctài sản kiểm toán gồm 90 trang, mỗi trang gồm 30 dòng. Để có con số duy nhất, có thể kết hợpsố thứ tự của trang với số thứ tự của dòng trên mỗi trang để có số thứ tự từ 0101 đến 9030. Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa bảng số ngẫu nhiên với đối tượng được kiểmtoán đã địnhSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 10
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Do đối tượng kiểm toán đã được định lượng bằng các con số cụ thể nên vấn đề đặt ra làlựa chọn các số định lượng tương ứng với số ngẫu nhiên trong bảng. Có thể có 3 trường hợpxảy ra:  Thứ nhất, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5 chữ số như các con số ngẫu nhiên trong Bảng. Khi đó quan hệ tương quan 1 - 1 giữa định lượng đối tượng kiểm toán với các số ngẫu nhiên trong Bảng tự nó đã được xác lập. Việc tìm được số ngẫu nhiên trong bảng có nghĩa phần tử nào trong tổng thể có số định lượng bằng với số ngẫu nhiên đó thì sẽ được chọn vào mẫu.  Thứ hai, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán gồm số lượng chữ số ít hơn 5 chữ số. Chẳng hạn, trong ví dụ nêu ở bước 1, kiểm toán viên cần chọn ra 100 khoản phải thu trong số 5000 khoản phải thu đánh số từ 0001 đến 5000. Các số này là số gồm 4 chữ số. Do vậy, kiểm toán viên có thể xây dựng mối quan hệ với Bảng số ngẫu nhiên bằng cách lấy 4 chữ số đầu hoặc 4 chữ số cuối của số ngẫu nhiên trong Bảng. Nếu trường hợp số định lượng còn ít chữ số hơn nữa thì có thể lấy chữ số giữa trong số ngẫu nhiên.  Thứ ba, các số định lượng của đối tượng kiểm toán có số các chữ số lớn hơn 5. Để thiết lập mối quan hệ giữa số định lượng và số ngẫu nhiên, cần ghép thêm số chữ số còn thiếu vào số ngẫu nhiên cho tương xứng với số chữ số của số định lượng. Khi đó, kiểm toán viên phải xác định cột chính và cột phụ trong bảng, sau đó chọn lấy cột nào trong Bảng làm cột chủ và chọn thêm những hàng số ở cột phụ của Bảng. Chẳng hạn, với số định lượng có 7 chữ số ta cần ghép số ngẫu nhiên ở cột chính với 2 chữ số của số ngẫu nhiên ở cột phụ. Bước 3: Lập hành trình sử dụng Bảng Đây là việc xác định hướng đi của việc chọn các số ngẫu nhiên. Hướng đó có thể dọc(theo cột) hoặc ngang (theo hàng), có thể xuôi (từ trên xuống dưới) hoặc ngược (từ dưới lêntrên). Việc xác định này thuộc quyền phán quyết của kiểm toán viên xong cần được đặt ra từtrước và thống nhất trong toàn bộ quá trình chọn mẫu. Một vấn đề cần phải được đặc biệt quantâm ở đây là lộ trình chọn mẫu phải được ghi chép lại trong hồ sơ kiểm toán để khi một kiểmtoán viên khác có kiểm tra lại việc chọn mẫu thì họ cũng chọn được mẫu tương tự. Bước 4: Chọn điểm xuất phátSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 11
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Bảng số ngẫu nhiên bao gồm rất nhiều trang. Để chọn điểm xuất phát, bảng số ngẫu nhiênnên được mở ra một cách ngẫu nhiên và ngẫu nhiên chọn ra một số trong bảng để làm điểmxuất phát. Khi sử dụng Bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu, có thể có những phần tử xuất hiện nhiềuhơn một lần. Nếu KTV không chấp nhận lần xuất hiện thứ hai trở đi thì cách chọn đó được gọilà chọn mẫu không lặp lại (chọn mẫu thay thế). Ngược lại, chọn mẫu lặp lại (chọn mẫu khôngthay thế) là cách chọn mà một phần tử trong tổng thể có thể được chọn vào mẫu nhiều hơn mộtlần. Trong hầu hết các trường hợp KTV thường loại bỏ các phần tử trùng lắp, hay nói cách kháclà thường sử dụng chọn mẫu thay thế. Mặc dù chọn mẫu thay thế vẫn đảm bảo tính ngẫu nhiênnhưng số lượng phần tử mẫu thực tế khảo sát sẽ giảm đi và lúc đó độ tin cậy của mẫu chọncũng giảm theo.b. Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính: Hiện nay, phần lớn các hãng kiểm toán đã thuê hay tự xây dựng các chương trình chọnmẫu ngẫu nhiên qua máy vi tính nhằm tiết kiệm thời gian và giảm các sai sót trong việc chọnmẫu. Các chương trình chuyên dụng này rất đa dạng, tuy nhiên nói chung vẫn tôn trọng haibước đầu tiên của chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng số ngẫu nhiên là lượng hoá đối tượng kiểmtoán bằng hệ thống con số duy nhất và xác lập mối quan hệ giữa đối tượng kiểm toán đã địnhlượng với các con số ngẫu nhiên. Tuy nhiên, số ngẫu nhiên lại do máy vi tính tạo ra. Thông thường, ở đầu vào của chương trình cần có số nhỏ nhất và số lớn nhất trong dãy sốthứ tự của đối tượng kiểm toán, quy mô mẫu cần chọn và có thể cần có một số ngẫu nhiên làmđiểm xuất phát. Ở đầu ra thường là bảng kê số ngẫu nhiên theo trật tự lựa chọn hoặc theo dãy sốtăng dần hoặc cả hai. Chọn mẫu bằng chương trình máy vi tính có thể loại bỏ được những sốkhông thích hợp, tự động loại bỏ những phần tử bị trùng lắp và tự động phản ánh kết quả vàogiấy tờ làm việc. Song ưu điểm nổi bật nhất vẫn là làm giảm sai sót chủ quan do con người (rủiro không do chọn mẫu) trong quá trình chọn mẫu.1.5.1.2. Chọn mẫu hệ thống: Chọn mẫu hệ thống là cách chọn sao cho chọn được các phần tử trong tổng thể có khoảngcách đều nhau gọi là khoảng cách mẫu (k). Khoảng cách mẫu này được tính bằng cách lấy kíchcỡ tổng thể chia cho kích cỡ mẫu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 12
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Ví dụ, nếu tổng thể có kích cỡ N = 1052 đơn vị và cỡ mẫu cần chọn n = 100 thì khoảngcách mẫu (k) sẽ được tính như sau: k = N/n = 1052/100 = 10,52 (làm tròn thành 10 – thông thường phải làm tròn xuống để cóthể chọn đủ số phần tử mẫu theo yêu cầu). Đơn vị mẫu đầu tiên (m 1) được chọn một cách ngẫu nhiên trong khoảng từ phần tử đầutiên trong tổng thể (x1) đến phần tử cách đó (k-1) vị trí. x1 ≤ m1 ≤ xk Các đơn vị mẫu kế tiếp được xác định theo công thức: mi +1 = m1 +k Giả sử trong ví dụ trên chúng ta chọn mẫu ngẫu nhiên được điểm xuất phát m1 = 5 thì cácđơn vị mẫu kế tiếp theo sẽ là m2 = 15, m3 = 25,... cho đến khi chọn đủ 100 đơn vị mẫu vàm100 = 995. Nguyên tắc của phương pháp này là kể từ một điểm xuất phát ngẫu nhiên được chọn sẽlựa chọn các phần tử cách nhau một khoảng cách cố định. Đơn vị mẫu đầu tiên được chọn ngẫunhiên nên mỗi đơn vị tổng thể ban đầu có cơ hội được chọn ngang nhau. Tuy nhiên, sau khiđơn vị mẫu đầu tiên được chọn, mỗi đơn vị về sau lại không có cơ hội như nhau để được chọnvào mẫu. Ưu điểm chủ yếu của chọn mẫu hệ thống là đơn giản, dễ làm, dễ sử dụng. Tuy nhiên,kiểm toán viên cần tránh thiên vị trong lựa chọn. Để tăng tính đại diện của mẫu, kiểm toán viênsắp xếp tổng thể theo một thứ tự ngẫu nhiên. Dùng nhiều điểm xuất phát cũng là một cách tốtđể hạn chế nhược điểm của cách chọn này. Kinh nghiệm chỉ ra rằng khi ứng dụng phương phápchọn mẫu hệ thống thì cần phải sử dụng ít nhất 5 điểm xuất phát. Khi sử dụng nhiều điểm xuấtphát thì khoảng cách mẫu phải được điều chỉnh bằng cách lấy khoãng cách mẫu hiện tại nhânvới số điểm ngẫu nhiên cần thiết. Ví dụ, ở ví dụ trên khoảng cách mẫu hiện tại là 10 và với sốđiểm xuất phát ngẫu nhiên cần thiết là 5 thì ta có khoảng cách mẫu điều chỉnh là 50 (5 x 10).Năm điểm xuất phát được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến 51. Sau đó, tất cả cáckhoản mục cách nhau một khoảng cách k = 50 sẽ được chọn ra kể từ điểm xuất phát ban đầu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 13
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.5.2. Chọn mẫu phi xác suất: Trong chọn mẫu phi xác suất, các phần tử không có cơ hội như nhau để được lựa chọnvào mẫu. Kiểm toán viên dựa vào nhận định nhà nghề để phán xét và quyết định chọn phần tửnào vào mẫu. Chọn mẫu phi xác suất bao gồm chọn mẫu theo khối (theo lô) và chọn mẫu trực tiếp.1.5.2.1. Chọn mẫu theo khối (theo lô): Chọn mẫu theo khối (theo lô) là việc chọn một tập hợp các phần tử kế tiếp nhau trong mộttổng thể. Trong trường hợp này, phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì các phần tử còn lạicũng được chọn tất yếu. Mẫu được chọn có thể là một khối liền hay nhiều khối rời gộp lại. Việc chọn mẫu theo khối để kiểm toán các nghiệp vụ, tài sản, hoặc khoản mục chỉ đượcáp dụng khi đã nắm chắc tình hình của đơn vị được kiểm toán và khi có số lượng các khối vừađủ. Do đó, trong việc xác định các mẫu cụ thể cần đặc biệt chú ý đến các tình huống đặc biệtnhư: thay đổi nhân sự, thay đổi hệ thống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời vụ của ngànhkinh doanh...1.5.2.2. Chọn mẫu theo nhận định: Chọn mẫu theo nhận định là cách chọn các phần tử mẫu dựa trên các tiêu thức xác lập bởicác kiểm toán viên. Các phần tử trong tổng thể không có xác suất như nhau để được chọn vàomẫu mà kiểm toán viên chủ tâm lựa chọn các phần tử theo các tiêu thức đã xác lập. Các tiêuthức thường được sử dụng bao gồm: • Các phần tử có khả năng sai phạm nhất: khi kiểm toán viên nhận định một số phần tử tổng thể có khả năng sai phạm rõ ràng (ví dụ: khoản phải thu quá hạn thanh toán đã lâu, các giao dịch có giá trị lớn bất thường hay có tính phức tạp cao) thì các kiểm toán viên sẽ chọn ngay các phần tử đó để kiểm tra chi tiết. Cụ thể, nếu các phần tử được chọn để kiểm tra không có sai phạm thì hầu như không có khả năng tổng thể có sai phạm trọng yếu. • Các phần tử có đặc trưng của tổng thể: khi các kiểm toán viên muốn có mẫu đại diện cho tổng thể sẽ sử dụng tiêu thức này. Ví dụ: mẫu các khoản chi tiền mặt có thể bao gồm một số khoản chi tiền mặt của từng tháng, một số khoản chi tiền cho từng loại giao dịch.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 14
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Các phần tử có quy mô tiền tệ lớn: khi mẫu bao gồm các phần tử có quy mô tiền tệ lớn thì rủi ro của kết luận sai lầm do bỏ qua không kiểm tra các phần tử nhỏ sẽ trở thành không đáng kể.1.6. Kỹ thuật phân nhóm trong chọn mẫu kiểm toán:: Kiểm toán viên thường phân tổng thể thành các nhóm trước khi xác định quy mô củamẫu cũng như thực hiện chọn mẫu. Phân nhóm là kỹ thuật phân chia tổng thể thành nhiềunhóm nhỏ hơn (gọi là tổ hoặc tầng) mà các phân tử trong cùng một nhóm có những đặc tínhkhá tương đồng nhau, thường là theo quy mô lượng tiền. Các tổng thể con sẽ được chọn mẫuđộc lập và kết quả của các mẫu được đánh giá một cách độc lập hoặc kết hợp để từ đó suy rakết quả của toàn tổng thể. Nhiệm vụ của kiểm toán viên là phải phân định nhóm một cách rõràng để mỗi đơn vị mẫu chỉ thuộc một nhóm. Việc phân nhóm sẽ làm giảm sự khác biệt trong cùng một nhóm và giúp kiểm toán viêncó thể tập trung vào những bộ phận chứa đựng nhiều khả năng sai phạm. Từ đó sẽ làm tănghiệu quả chọn mẫu vì có thể giảm được quy mô mẫu chọn. Chẳng hạn kiểm toán viên có thểtập trung vào những khoản mục hoặc đơn vị có tính trọng yếu hay có những đặc tính đặc biệtvà bỏ qua những nhóm không quan trọng hoặc không tương thích với mục tiêu kiểm toán. Vídụ, khi lựa chọn các khoản phải thu để xác nhận, kiểm toán viên có thể phân tầng đối với tổngthể và hướng kiểm tra như sau: Bảng 1.1: Ví dụ về phân nhóm trong chọn mẫu kiểm toán Tầng Qui mô Cấu tạo của tầng Chọn mẫu 1 22 Các khoản phải thu có giá trị > 500 triệu Kiểm tra 100% 2 121 Các khoản phải thu có giá trị 100 – 500 Chọn theo nhận triệu định 3 85 Các khoản phải thu có giá trị < 100 triệu Chọn theo bảng số ngẫu nhiên 4 14 Các khoản phải thu có số dư có Kiểm tra 100%1.7. Quy trình chọn mẫu khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát: Chọn mẫu thuộc tính là một phương pháp chọn mẫu thống kê để ước tính tỉ lệ của mộtđặc trưng trong tổng thể, phương pháp này thông dụng, phổ biến và thường xuyên được sửdụng nhất. Trong quá trình áp dụng kỹ thuật này để kiểm tra hệ thống kiểm soát, KTV thườngSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 15
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứccố gắng xác định tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ trong quan hệ với những sai lệchso với những chính sách kiểm toán nội bộ quy định. Vì vậy, ở phần này sẽ trình bày chọn mẫucho thử nghiệm kiểm soát theo phương pháp chọn mẫu thuộc tính. Trong thực hiện chọn mẫu thuộc tính cho kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toánviên thường thực hiện theo trình tự các bước công việc gồm: lập kế hoạch, thực hiện chọn mẫuvà đánh giá mẫu chọn.1.7.1. Lập kế hoạch:1.7.1.1. Xác định các mục tiêu của những thử nghiệm kiểm tra hệ thống kiểm soát: Mục tiêu của chọn mẫu thuộc tính khi áp dụng cho kiểm tra hệ thống kiểm soát là đánhgiá tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ được quy định (đây là cơ sở để kiểm toán viêncó thể dựa vào để giảm rủi ro kiểm soát xuống dưới mức tối đa). Vì vậy, kiểm toán viên cốgắng đánh giá tỉ lệ sai lệch tồn tại cho mỗi hoạt động kiểm soát được lựa chọn cho kiểm tra.Chọn mẫu kiểm toán cho thử nghiệm kiểm soát thường thích hợp khi thực hiện các thủ tụckiểm soát đã để lại bằng chứng về sự thực hiện. Ví dụ: chữ ký của người chịu trách nhiệm xétduyệt cho phép bán chịu trên các hóa đơn bán hàng. Kiểm toán viên có thể kiểm tra một mẫucác hóa đơn bán hàng về tính hợp lệ trong việc bán chịu hàng hóa.1.7.1.2. Xác định sự sai lệch từ chính sách và thủ tục kiểm soát: Đối với việc kiểm tra hệ thống kiểm soát, một sự sai lệch xảy ra xuất phát từ quá trìnhthực hiện hoạt động kiểm soát nội bộ đã được quy định trước. Điều này là rất quan trọng đốivới kiểm toán viên để xác định cái gì sẽ được xem xét là sai lệch.  Ví dụ: Giả sử kiểm toán viên đang thực hiện một thử nghiệm kiểm soát đối với việc đo lườngcác nghiệp vụ bán hàng. Một trong những hoạt động mà kiểm toán viên quyết định thực hiện làrà soát lại các hóa đơn bán hàng đã được kiểm tra bởi một nhân viên kế toán. Việc kiểm tra củanhân viên kế toán này bao gồm: • So sánh số lượng trên mỗi hóa đơn với các chứng từ vận chuyển; • So sánh giá trên mỗi hóa đơn với bảng giá đã được phê chuẩn; • Kiểm tra tính chính xác số học của mỗi hóa đơn; • Ký lên mỗi hóa đơn để khẳng định hóa đơn đã được kiểm tra;SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 16
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Trong khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát này, kiểm toán viên có thể xem một nghiệp vụlà sai lệch nếu bất cứ một hoặc một số điều kiện sai lệch sau đây tồn tại: • Số lượng trên hóa đơn không khớp với chứng từ vận chuyển; • Giá trên hóa đơn không thống nhất với giá trên bảng giá đã phê chuẩn; • Bản sao hóa đơn không có chữ ký của nhân viên kế toán; • Hóa đơn vẫn có những sai sót về mặt số học; Như vậy, khi thực hiện bước công việc này, kiểm toán viên phải lưu ý là các thuộc tính vànhững điều kiện sai lệch cần phải được xác định rõ trước khi thực hiện các thử nghiệm kiểmsoát.1.7.1.3. Xác định tổng thể: Các khoản mục cấu thành số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ tạo nên tổng thể. Bởi vìkết quả chọn mẫu có thể suy rộng cho tổng thể nên KTV cần xác định rõ tổng thể mà từ đó mẫuđược chọn ra là phù hợp với mục tiêu kiểm toán cụ thể. Chẳng hạn, nếu KTV muốn kiểm tra tính hiệu lực của một hoạt động kiểm soát được thiếtkế nhằm khẳng định rằng tất cả các hóa đơn đã được ghi chép một cách đầy đủ (như một khoảndoanh thu) thì họ sẽ không chọn một mẫu từ nhật kí bán hàng, vì tổng thể đó bao gồm cáckhoản doanh thu đã ghi sổ và có thể chúng không bao gồm những hóa đơn chưa được ghi sổ.Thay vào đó, tổng thể được xác định làm cơ sơ chọn mẫu phải là một tổng thể bao hàm tất cảcác nghiệp vụ vận chuyển (như tập hồ sơ lưu các hóa đơn). Tổng thể như vậy được xem là tổngthể hợp lý để có thể phát hiện các sai lệch.1.7.1.4. Xác định đơn vị mẫu: Như đã định nghĩa ở trên, những cá thể trong tổng thể gọi là đơn vị mẫu. Một đơn vị mẫucó thể là một văn bản, một nghiệp vụ hoặc thậm chí có thể một khoản mục trên một dòng. Mỗiđơn vị mẫu tạo nên một phần tử của tổng thể ấy. Đơn vị mẫu này thường được xác định trongquan hệ với hoạt động kiểm soát đang được kiểm tra.  Ví dụ: Khi xem xét hoạt động kiểm soát trong phê chuẩn bán chịu, đơn vị mẫu có thể xác định làcác chứng từ bán hàng bao gồm: đơn đặt hàng của khách hàng, hóa đơn vận chuyển, hóa đơnbán hàng.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 17
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.7.1.5. Xác định kích cỡ mẫu: Trong khi sử dụng phương pháp lấy mẫu thống kê, KTV phải xem xét các nhân tố để xácđịnh kích cỡ mẫu phù hợp. Các nhân tố mà KTV nên xem xét các nhân tố để xác định kích cỡmẫu bao gồm: rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ; tỉ lệ sai lệch chấp nhậnđược; tỉ lệ sai lệch tổng thể mong muốn; quy mô tổng thể.a. Rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ: Rủi ro về độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm rủi ro do độ tin cậy thấp vàrủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, đối với rủi ro về độ tin cậythấp vào hệ thống kiểm soát nội bộ tức là kết quả mẫu làm KTV đánh giá rủi ro kiểm soát làcao hơn so với thực tế, do đó họ sẽ thực hiện các thử nghiệm cơ bản nhiều hơn mức cần thiết.Điều này không mang lại hiệu quả của cuộc kiểm toán. Riêng đối với rủi ro do độ tin cậy caovào hệ thống kiểm soát nội bộ, tức là khả năng kết quả mẫu làm cho KTV đánh giá rủi ro kiểmsoát thấp hơn thực tế, thì họ sẽ giảm các thử nghiệm cơ bản một cách không đúng đắn dẫn đếntính hiệu lực của kiểm toán giảm xuống. Kiểm toán viên sẽ xác định rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ dựavào nhận định nghề nghiêp. Vì kết quả của các thử nghiệm kiểm soát đóng vai trò quan trọngtrong việc xác định nội dung, quy mô và thời gian của các thủ tục kiểm soát khác nên KTVluôn xác định rõ mức rủi ro phải ở mức thấp từ 5% đến 10%. Nói cách khác, nếu mức rủi ro dođộ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ thấp là 5% thì đồng nghĩa với mức tin cậy 95%.b. Tỉ lệ sai lệch chấp nhận được: Kiểm toán viên xác định tỉ lệ sai lệch chấp nhận dựa trên mức rủi ro kiểm soát đã đánh giátheo kế hoạch và mức độ tin cậy dựa vào kết quả đánh giá từ mẫu. Khi mức rủi ro kiểm soát đãđánh giá theo kế hoạch càng thấp (hoặc mức tin cậy dựa vào đánh giá từ kết quả mẫu càng cao)thì tỉ lệ sai lệch cho phép càng thấp. Theo kinh nghiệm của các KTV, tỉ lệ sai lệch cho phép cóthể biến đổi như sau:Bảng 1.2: Tỉ lệ sai lệch chấp nhận được đối với các mức đánh giá rủi ro kiểm soát Mức rủi ro kiểm Mức tin cậy mong Rủi ro về độ tin Tỉ lệ sai lệch cho phépsoát được đánh giá muốn từ thử nghiệm cậy cao vào hệ theo kế hoạch kiểm soát dựa trên thống kiểm soát mẫu nội bộ Thấp Cao 5% - 10% 2% - 6%SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 18
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Trung bình Thấp/Trung bình 10% 7% - 10% Cao Thấp 10% 11% - 20% Tối đa Không Bỏ qua thử nghiệmc. Tỉ lệ sai lệch tổng thể dự kiến: Tỉ lệ sai lệch dự kiến của tổng thể rất quan trọng vì nó đại diện cho tỉ lệ sai lệch mà KTVdự kiến sẽ tìm thấy trong mẫu mà họ chọn ra từ tổng thể. Để ước đoán tỉ lệ sai lệch dự kiến của tổng thể, KTV thường sử dụng kết quả mẫu từ nămtrước (được lưu trong hồ sơ làm việc kiểm toán). KTV cũng có thể ước đoán tỉ lệ này dựa vàokinh nghiệm của mình với các thử nghiệm tương tự đã thực hiện đối với các cuộc kiểm toánkhác, hoặc bằng việc kiểm tra thử một mẫu nhỏ.d. Quy mô tổng thể: Quy mô tổng thể thường có ảnh hưởng nhỏ hoặc không có ảnh hưởng tới kích cỡ mẫuchọn. Nó có ảnh hưởng tới kích cỡ mẫu khi tổng thể là rất nhỏ. Nếu tổng thể chứa đựng hơn5000 đơn vị thì ảnh hưởng của quy mô tổng thể là không đáng kể. Để giúp KTV ứng dụng chọn mẫu thuộc tính mà không cần đến các công thức toán họcphức tạp, phụ lục 2 được xây dựng để hổ trợ cho kiểm toán viên xác định kích cỡ mẫu cho thửnghiệm kiểm soát với mức 5% và 10% rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ.1.7.2. Thực hiện chọn mẫu: Sau khi xác định được qui mô của mẫu cần chọn, KTV sẽ tiến hành việc lựa chọn cácphần tử của mẫu theo phương pháp chọn mẫu đã xác định. Khi chọn các phần tử mẫu, kiểmtoán viên cần phải chọn các phần tử bổ sung nhằm thay thế các phần tử không hợp lệ. Một phầntử không hợp lệ là là phần tử không mang một thuộc tính cụ thể theo yêu cầu. Khi đã chọn được mẫu, kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thủ tục kiểm toán để tìm racác sai phạm của mẫu. Kiểm toán viên cần chú ý tới các dấu hiệu không bình thường, chẳnghạn như biểu hiện của sự gian lận. Các thủ tục kiểm toán được thực hiện giống nhau theo cùngcách thức khi chọn mẫu thống kê hay chọn mẫu phi thống kê. Kiểm toán viên kiểm tra từngphần tử trong mẫu để xác định liệu xem nó có phù hợp với định nghĩa thuộc tính hay không vàduy trì sự ghi chép về tất cả các sai phạm tìm được.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 19
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.7.3. Đánh giá mẫu chọn:1.7.3.1. Tính toán kết quả chọn mẫu: Xác định các kết quả chọn mẫu trong chọn mẫu thuộc tính có thể được thực hiện bằngchương trình máy tính hoặc các bảng chọn thuộc tính. Kiểm toán viên tính độ sai lệch mẫu và tỉlệ sai lệch cao nhất đã tính toán. Tỉ lệ sai lệch chọn mẫu là số sai lệch được phát hiện trong mẫuchia cho số lượng khoản mục trong mẫu. Tỉ lệ sai lệch chọn mẫu phản ánh ước lượng tốt nhấtcủa KTV về tỉ lệ sai lệch tổng thể. Tỉ lệ sai lệch cao nhất đã tính toán thể hiện giới hạn phía trêncho tỉ lệ sai lệch tổng thể được dựa trên kích cỡ mẫu, số lượng sai lệch, về mức rủi ro theo kếhoạch trong đánh giá rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ.1.7.3.2. Thực hiện phân tích sai lệch: Kiểm toán viên nên đánh giá những khía cạnh chất lượng của các sai lệch được nhậndiện. Điều này có liên quan đến hai vấn đề cần xem xét. • Thứ nhất là bản chất của sai lệch và nguyên nhân của sai lệch. • Thứ hai là KTV nên xem xét những sai lệch này có thể ảnh hưởng như thế nào tới các giai đoạn khác của cuộc kiểm toán.1.7.3.3. Đưa ra kết luận cuối cùng: Trong kết luận về việc ứng dụng chọn mẫu thống kê trong thử nghiệm kiểm soát, KTV sosánh tỉ lệ sai lệch có thể chấp nhận được với tỉ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán. • Nếu tỉ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán thấp hơn tỉ lệ sai lệch chấp nhận được, KTV đưa ra kết luận: có thể tin tưởng và dựa vào hệ thống kiểm soát. • Nếu tỉ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán lớn hơn tỉ lệ sai lệch chấp nhận được, KTV phải kết luận: hệ thống kiểm soát đang hoạt động thấp hơn mức có thể chấp nhận được, cho nên không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, kết luận cuối cùng về rủi ro kiểm soát đối với hệ thống kế toán sẽ được kiểmtra dựa vào những đánh giá mang tính chuyên nghiệp của các KTV từ kết quả chọn mẫu vànhững thử nghiệm kiểm soát có liên quan như phỏng vấn hay quan sát...1.8. Quy trình chọn mẫu khi thực hiện thử nghiệm cơ bản: Thử nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư.Thử nghiệm cơ bản chỉ liên quan đến giá trị các khoản mục. Các thử nghiệm cơ bản được thiếtSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 20
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứckế để phát hiện các gian lận và sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính. Do đó, kỹ thuật lấy mẫucho thử nghiệm cơ bản được thiết kế để ước lượng số tiền sai sót ở một số dư tài khoản. Chọn mẫu kiểm toán cho các thử nghiệm cơ bản cũng được tiến hành qua ba bước chính:Bước 1: 1. Xác định mục tiêu của thử nghiệm 2. Xác định tổng thể 3. Xác định đơn vị mẫu 4. Lựa chọn kỹ thuật chọn mẫu 5. Xác định kích cỡ mẫu 6. Xem xét sự thay đổi trong tổng thể 7. Xác định rủi ro có thể chấp nhận được 8. Xác định sai lệch có thể bỏ qua 9. Xem xét ảnh hưởng của quy mô tổng thểBước 2: 1. Xác định phương pháp chọn lựa các phần tử của mẫu 2. Thực hiện thủ tục kiểm toánBước 3: 1. Tính toán kết quả chọn mẫu 2. Thực hiện phân tích sai sót 3. Đưa ra kết luận cuối cùng Các bước công việc thực hiện chọn mẫu kiểm toán trong thử nghiệm cơ bản được tiếnhành tương tự trong thử nghiệm kiểm soát. Trên thực tế, để thực hiện chọn mẫu kiểm toántrong thử nghiệm chi tiết, kiểm toán viên thường áp dụng kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ. Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ sử dụng lý thuyết chọn mẫu thuộc tính thể hiện kết luậnbằng đơn vị tiền tệ. Trong chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ, mỗi đơn vị tiền tệ là một đơn vị tổngthể. Do vậy, tổng thể sẽ là tổng số tiền lũy tiến của đối tượng kiểm toán. Đặc điểm cơ bản của chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ là nếu khoản mục nào có quy mô tiềntệ càng lớn (chứa đựng càng nhiều đơn vị tổng thể) thì càng có cơ hội được chọn. Tất nhiên, vớiđòi hỏi tính chính xác cao khi xem xét đến tiền tệ, đặc biệt trong trường hợp có nhiều sai lầmtrong tổng thể thì kích cỡ mẫu chọn thông thường cần phải lớn. Tuy nhiên, nếu trường hợp cácSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 21
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứckhoản mục có xu hướng khai giảm giá trị thì việc áp dụng phương pháp chọn mẫu theo đơn vịtiền tệ là không phù hợp. Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ hay được sử dụng vì những lý do sau: • Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ tự động làm tăng khả năng của việc chọn các phần tử có số tiền cao từ tổng thể đang được kiểm toán. Trong các cuộc kiểm toán, KTV thường thực hiện tập trung vào những phần tử này vì nói chung chúng đại diện cho mức rủi ro cao nhất của các sai phạm trọng yếu. • Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ dễ áp dụng, vì nó thuận tiện cho việc sử dụng máy tính. • Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ luôn luôn đem lại một kết luận mang tính thống kê là một số tiền. Tuy nhiên, khi áp dụng chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng có một số hạn chế như: chọnmẫu theo đơn vị tiền tệ từ các tổng thể lớn mà không có sự giúp đỡ của máy tính có thể kémhiệu quả, trong trường hợp các khoản mục không đồng nhất về tính trọng yếu biểu hiện qua sốtiền thì chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ có thể không phát huy tính ưu việt nói trên. Các phần tửcủa tổng thể có số dư ghi sổ là 0 không có cơ hội được chọn trong quá trình chọn mẫu theo đơnvị tiền tệ dù có thể chúng đã bị báo cáo sai, các số dư nhỏ mà bị báo cáo thiếu đáng kể cũng cóít cơ hội được chọn vào mẫu, khả năng các số dư âm không được đưa vào mẫu, ví dụ như cácsố dư Có trong các khoản phải thu hay số dư Nợ của các khoản phải trả... Kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng sử dụng các cách như chọn mẫu dựa theoBảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu dựa trên chương trình máy vi tính và chọn mẫu hệ thống.1.9. Hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu đã thực hiện về kỹ thuật chọn mẫu: Tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC, đề tài về chọn mẫu đã được nghiên cứu.Cụ thể, đó là các đề tài:- Đề tài “Giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty AAC” –Lê Thị Trúc Loan, 2008.- Đề tài “Hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty AAC” - Dương ThịVân Thanh, 2009. Hai đề tài này được thực hiện khi công ty Aac chưa áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kênên các giải pháp được đưa ra nhằm bổ sung các kỹ thuật chọn mẫu thống kê để khắc phụcnhững hạn chế vốn có của chọn mẫu phi thống kê.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 22
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTCtại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” là đề tài đầu tiên tìm hiểu về kỹ thuật chọn mẫucủa trường Đại học Kinh tế Huế. So với các đề tài trước đã được thực hiện, đề tài này có nhữngđiểm mới nhất định: Đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kê – kỹ thuật chọn mẫu CMA – được áp dụng tại công ty từ năm 2010. Đề tài đã đi theo một hướng tìm hiểu và phân tích mới, là đi từ tổng quát đến chi tiết, và nội dung của từng mảng phân tích sẽ kết hợp đi từ lý thuyết sang thực tế. Cách tiếp cận như vậy giúp cho người đọc dễ tiếp cận các nội dung mà người viết muốn truyền tải. Đề tài đã đưa ra được những giải pháp có tính ứng dụng cao, phù hợp với đặc điểm của công ty mà không quá phức tạp để thực hiện. Như vậy, mặc dù nghiên cứu lại một mảng nội dung, đề tài “Thực trạng và giải pháphoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toánAAC” vẫn đạt được những nét mới nhất định. Chính những điểm mới trong nghiên cứu này đãtại ra giá trị cho đề tài.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 23
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh ĐứcChương 2: Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC2.1. Lịch sử hình thành và phát triển: Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. Tên giao dịch bằng tiếng Anh : Auditing and Accounting Company AAC Limited. Trụ sở chính: 217 Nguyễn Văn Linh, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Điện thoại: (84) 0511 3 655 886 Fax: (84) 0511 3 655 887 E-mail : aac@dng.vnn.vn Website : http://www.aac.com.vn Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC (trước đây là Công ty Kiểm toán và Kế toánAAC trực thuộc Bộ Tài Chính) thành lập từ năm 1993 là một trong số rất ít các công ty kiểmtoán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. AAC được thành lập trên cơ sở quyết định số 194/TC/TCCB ngày 01/04/1993 và Quyếtđịnh số 106/TC-BTC ngày 13/02/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, tiền thân là công ty kiểmtoán Đà Nẵng - DAC. Việc thành lập công ty được thực hiện trên cơ sở sát nhập hai chi nhánh của hai công tyhành nghề kiểm toán từ năm 1991, đó là: Chi nhánh Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) vàChi nhánh công ty tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) tại khu vực Miền Trung vàTây Nguyên. Để phù hợp với tình hình mới về sự phát triển công ty, Bộ Tài chính đã có quyết định số139/2000/QĐ-BTC ngày 06/9/2000 về việc đổi tên “Công ty kiểm toán Đà Nẵng – DAC”thành “Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC”. Thực hiện lộ trình chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổ phần hoặcCông ty trách nhiệm hữu hạn, ngày 07/05/2007, “Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC” chuyểnđổi thành “Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kiểm toán và Kế toán AAC”. AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loại hình doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêng về việc lựa chọn và bổnhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổ chức niêm yết trên sàn giao dịchchứng khoán, các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán...SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 24
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Trong quá trình hoạt động công ty đã đạt rất nhiều thành tích, đặc biệt vào những nămgần đây, qua hai năm liền 2007 và 2008 AAC được Hội đồng trao giải “ Thương mại Dịch vụ- Top Trade Services” - Bộ Công Thương bình chọn là một trong 05 công ty kiểm toán hoạtđộng tốt nhất tại Việt nam và được trao giải/cup “Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services”.Giải thưởng này được trao cho những doanh nghiệp tiêu biểu, hoạt động trong 11 lĩnh vựcThương mại Dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO, đã có những đónggóp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và ngành thương mại dịch vụ nóiriêng, trong đó có dịch vụ kế toán, kiểm toán. Trong nhiều năm liền, AAC được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam chấp thuậnđủ điều kiện để kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứngkhoán Việt Nam. Tháng 9/2008, Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC đã trở thành thành viên củahãng Kiểm toán quốc tế Polaris International. Đây được coi là bước ngoặc lớn trong quá trìnhphát triển của công ty.2.2. Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động: Ngay từ khi mới thành lập AAC đã đề ra cho mình phương châm hoạt động là “Độc lập,khách quan, trung thực và bí mật số liệu của khách hàng” và đây cũng là lời cam kết củacông ty đối với mọi khách hàng trên toàn quốc. Với phương châm này nhằm đảm bảo mục tiêuhoạt động của AAC là giúp khách hàng và những người quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp phápcủa mình, cung cấp cho họ những thông tin đích thực và cần thiết để tổ chức điều hành hoạtđộng của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định quản lý phù hợp với thực tiễn. Hoạt động củaAAC nhằm góp phần phát hiện và ngăn ngừa những rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Để đảm bảo uy tín lâu dài và chất lượng chuyên môn của công tác kiểm toán AAC luônthực hiện kiểm toán theo đúng các nguyên tắc, chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam và thông lệkiểm toán quốc tế, phù hợp với những quy định hiện hành về hoạt động kiểm toán của Nhànước Việt Nam.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 25
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức2.3. Nguồn lực:2.3.1. Lao động: AAC xem yếu tố con người là tài sản lớn nhất và quan trọng nhất trong định hướng hoạtđộng của mình, luôn coi trọng việc phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên vàchuyên viên kỹ thuật. Là một trong số ít công ty kiểm toán đầu tiên ra đời và hoạt động tại Việt Nam, hoạt độngcủa AAC không ngừng phát triển và đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường cungcấp dịch vụ chuyên ngành kiểm toán, kế toán, tư vấn tài chính. Có được thành công đó là nhờvào chính sách đầu tư phát triển đội ngũ kiểm toán viên và kỹ thuật viên có năng lực chuyênmôn cao, có đạo đức nghề nghiệp trong sáng. Đến nay, AAC đã xây dựng đội ngũ với 131 cánbộ công nhân viên, trong đó có 31 người được công nhận kiểm toán viên cấp quốc gia, 100%đã tốt nghiệp đại học và trên đại học trong nước và nước ngoài như Úc, Nhật Bản… Trong quátrình thực hiện kiểm toán tại công ty khách hàng, với bản lĩnh nghề nghiệp, hiệu quả công việcvà thiện chí của nhân viên AAC được khách hàng đánh giá cao, góp phần tạo ra mối quan hệhợp tác tốt đẹp và bền vững giữa AAC và khách hàng.2.3.2. Vốn: Là một công ty kiểm toán độc lập với bề dày nhiều năm kinh nghiệm, được phép kiểmtoán mọi loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế với phạm vi hoạt động trên cảnước. là thành viên của Plaris International, một trong những hãng kiểm toán quốc tế lớn trênthế giới có mặt tại 90 nước với hơn 200 thành viên và 300 văn phòng trên toàn cầu. Tình hìnhnguồn vốn của công ty AAC thể hiện qua bảng sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 26
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh ĐứcBảng 2.1: Tình hình nguồn vốn và kết quả kinh doanh của công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC qua 2 năm 2009 và 2010 Năm Năm Chênh lệch Chỉ tiêu 2010 2009 +/- %1. Tổng số vốn điều lệ (ghi trên đăng ký kinhdoanh) 7.000 7.000 0 0,002. Tổng số vốn kinh doanh (vốn chủ sở hữu) 80thực tế 7.882 7.080 2 11,333. Kết quả kinh doanh sau thuế 10 (Lãi +; Lỗ -) 2.403 2.294 9 4,754. Nộp Ngân sách 72 3.757 3.037 0 23,71- Thuế Giá trị gia tăng 35 2.429 2.076 3 17,00- Thuế Thu nhập danh nghiệp 31 801 486 5 64,81- Thuế và các khoản phải nộp khác 527 475 52 10,955. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (%) 8 9 (1) -6. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (%) 34 33 1 -7. Số dư Quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp 57 30 8 274 4 110,95 (Nguồn: Phòng tư vấn đào tạo công ty) Qua bảng trên, có thể thấy vốn và kết quả kinh doanh của công ty năm 2010 so với năm2009 biến động không lớn. Vốn điều lệ của công ty không đổi, vẫn ở mức 7 tỉ đồng. Tuy nhiên,vốn chủ sở hữu thực tế tăng 802 triệu, tương ứng với tăng 11,33%. Kết quả kinh doanh sau thuếtăng nhẹ, từ 2.294 triệu lên 2.403 triệu, tức là tăng 4,75%. Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối vớiNhà nước của công ty cũng được đảm bảo. Số thuế nộp Ngân sách qua 2 năm tăng 720 triệu.Một chỉ tiêu được công ty AAC quan tâm nữa là số dư quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp. TheoThông tư số 64/2004/TT-BTC, các công ty kiểm toán phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghềnghiệp kiểm toán hoặc lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp để tạo nguồn chi trả bồi thườngthiệt hại do lỗi của công ty kiểm toán gây ra cho khách hàng và người sử dụng kết quả kiểmtoán. Công ty AAC không mua bảo hiểm mà tiến hành lập quỹ dự phòng. Qua 2 năm, chỉ tiêunày tăng thêm 304 triệu, tương ứng tăng 110,95 %. Chỉ tiêu này tăng lên cho thấy công ty đãquan tâm đến lợi ích của khách hàng và việc trích lập như vậy đảm bảo cho khả năng có thể bồiSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 27
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcthường thiệt hại của công ty trường hợp có rủi ro xảy ra. Điều này một phần phản ánh uy tín củacông ty. Trong bảng trên, có 2 tỉ suất được đưa ra là lợi nhuận trên doanh thu và lợi nhuận trênvốn. Nhìn chung, qua 2 năm, tỉ suất này không có sự biến động mạnh. Tỉ suất lợi nhuận trêndoanh thu giảm 1% là do mặc dù cả doanh thu và lợi nhuận đều tăng nhưng mức tăng của lợinhuận không bằng mức tăng của doanh thu. Tỉ suất lợi nhuận trên vốn tăng 1% chứng tỏ việcđầu tư tăng vốn của công ty là có hiệu quả. Như vậy, có thể thấy rằng năm 2010, tình hình kinh doanh của công ty ở trong tình trạngổn định. Giai đoạn này, công ty đang mở rộng thị trường và tìm kiếm thêm khách hàng cho nênđạt được kết quả như vậy là một dấu hiệu khả quan, chứng tỏ cho sự phấn đấu không ngừngcủa công ty AAC trong suốt thời gian qua.2.4. Cơ cấu tổ chức quản lý:Bộ máy tổ chức quản lý của công ty AAC được thể hiện qua sơ đồ sau: TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TGĐ KHỐI PHÓ TGĐ KHỔI KIỂM TOÁN KIỂM TOÁN KHỐI PHÒNG PHÒNG KHỔI CN TP. KẾ KIỂM TƯ VẤN KIỂM HỒ CHÍ TOÁN TOÁN ĐÀO TOÁN MINH HÀNH XDCB TẠO BCTC CHÍNH Ban Phòng Phòng Ban Phòng Phòng Phòng Phòng kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm soát toán toán soát toán toán toán toán chất XDCB XDCB chất BCTC BCTC BCTC BCTC lượng 1 2 lượng 1 2 3 4SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 28
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cấp cao nhất trong bộ máy là Tổng giám đốc. Tổng giám đốc sẽ là người đại diện toànquyền của công ty và chịu trách nhiệm trước Pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty. Dưới Tổng giám đốc là Phó Tổng giám đốc các khối, giải quyết cụ thể các vấn đề liênquan đến nhân sự, hành chính, khách hàng, và các vấn đề về nghiệp vụ đồng thời chịu tráchnhiệm trước Tổng Giám đốc và Pháp luật Nhà nước về những vấn đề được phân công và ủyquyền. Cấp thứ ba trong bộ máy là các phòng chức năng và các khối kiểm toán. Công ty AAChiện tại đang có 1 chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh này chị sự quản lý trực tiếpcủa công ty. Dưới các khối kiểm toán là các phòng kiểm toán và ban kiểm soát chất lượng. Hiện nay,khối kiểm toán BCTC có 4 phòng và khối kiểm toán XDCB có 2 phòng. Các phòng kiểm toánnày là nơi cung cấp nhân sự chủ yếu cho các cuộc kiểm toán.2.6. Các loại hình dịch vụ chuyên ngành:  Về lĩnh vực Kiểm toán: Cung cấp các dịch vụ kiểm toán luôn là thế mạnh của AAC. Các dịch vụ kiểm toán doAAC cung cấp đều được lập kế hoạch và tiến hành theo các Quy trình kiểm toán chuẩn doAAC xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ các Chuẩn mực kiểm toán, Quy chế kiểm toán độc lậpvà các quy định hiện hành, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu và vận dụng các Chuẩn mựckiểm toán quốc tế và Thông lệ được chấp nhận chung của Quốc tế. Trong lĩnh vực này, AAC cung cấp dịch vụ về hầu hết các mảng kiểm toán như : • Kiểm toán báo cáo tài chính. • Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế. • Kiểm toán hoạt động. • Kiểm toán tuân thủ. • Kiểm toán nội bộ. • Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thỏa thuận trước.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 29
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản. • Kiểm toán báo cáo dự toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản  Về lĩnh vực Kế toán: Bên cạnh các dịch vụ kiểm toán, AAC còn cung cấp các dịch vụ kế toán. Với việc tuânthủ luật kế toán và các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chất lượng dịch vụ kế toán AAC cung cấpngày càng tăng cao. Hơn thế nữa, AAC còn gia tăng số lượng dịch vụ kế toán làm phong phúthêm sản phẩm cung cấp cho các khách hàng. Đây là một bước phát triển dài của AAC, từngbước đưa thương hiệu của AAC lên tầm cao mới. Các dịch vụ Kế toán do AAC cung cấp bao gồm: • Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán. • Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán. • Lập báo cáo tài chính định kỳ. • Chuyển đổi báo cáo tài chính theo VSA, IAS. • Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán.  Về lĩnh vực Thuế: Đối với các công ty, thuế ngày càng đóng vai trò quan trọng do các quy định về thuếcàng ngày càng trở nên phức tạp. AAC hỗ trợ các khách hàng về việc hoàn thành đúng nghĩavụ thuế với nhà nước đồng thời tận dụng triệt để các lợi thế về thuế trong hoạt động kinh doanhđể gia tăng lợi ích của các chủ sở hữu công ty. Các dịch vụ Thuế do AAC cung cấp bao gồm: • Tư vấn việc áp dụng chính sách thuế. • Tư vấn công tác kê khai và quyết toán thuế. • Tư vấn về các thủ tục hoàn thuế và khiếu nại về thuế. • Hỗ trợ việc cập nhật thông tin về thuế và thuế quan.  Về lĩnh vực tư vấn Tài chính và Quản lý: Để đáp ứng được nhu cầu về thị trường ngày càng cao đối với các doanh nghiệp là quảnlý tài chính AAC đã đẩy mạnh việc cung cấp các dịch vụ tư vấn đề này. Thông qua việc cungSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 30
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứccấp các dịch vụ tư vấn có hiệu quả và các khóa học cập nhật các kiến thức mới nhất, AAC đãtham gia thành công vào việc giúp các khách hàng của mình thích ứng với môi trường mới. Các dịch vụ tư vấn Tài chính và Quản lý do AAC cung cấp bao gồm: • Tư vấn thành lập và quản lý doanh nghiệp. • Tư vấn thiết lập cơ chế tài chính nội bộ. • Tư vấn việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán – tài chính cho phù hợp với yêu cầu quản lý. • Soát xét báo cáo tài chính. • Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa hoặc phá sản doanh nghiệp. • Thẩm định tình hình tài chính và giá trị tài sản tranh chấp, kiện tụng. • Tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán tài chính và kế toán quản trị. • Tư vấn việc trang bị trang thiết bị tin học, cài đặt hệ thống thông tin.  Về lĩnh vực Đào tạo và Tuyển dụng: Nhằm đáp ứng cho các doanh nghiệp có đội ngũ kế toán với chất lượng cao, AAC thường xuyên mở các lớp đào tạo nhằm bồi dưỡng kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng này. Các dịch vụ tư vấn Đào tạo và Tuyển dụng do AAC cung cấp bao gồm: • Tổ chức lớp bồi dưỡng kế toán trưởng. • Tổ chức lớp thực hành kế toán. • Tổ chức lớp chuẩn mực kiểm toán & kế toán. • Tổ chức lớp kiểm toán nội bộ. • Tổ chức lớp ôn tập & cấp chứng chỉ hành nghề kế toán. • Tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức chứng khoán.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 31
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Chương 3: Thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểmtoán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC 3.1. Khái quát chung về quy trình kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểmtoán và kế toán AAC: Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính ở công ty TNHH kiểm toán và kế toán AACgồm 3 giai đoạn: Lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán Thực hiện kiểm toán Kết thúc kiểm toán Sơ đồ 3.1: Quy trình kiểm toán BCTC tại công ty AAC3.1.1. Lập kế hoạch kiểm toán: Theo VSA 300, lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cầnthực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiệncần thiết khác cho kiểm toán. Trong giai đoạn này, kiểm toán viên sẽ thu thập các bằng chứngkiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ để đưa ra ý kiến của mình về BCTC của khách hàng.Không những thế, lập kế hoạch kiểm toán còn giúp hạn chế được những sai sót và nâng caochất lượng của cuộc kiểm toán, tạo dựng được niềm tin và uy tín đối với khách hàng. Tại Côngty Kiểm toán và Kế toán AAC, quy trình lập kế hoạch kiểm toán được thể hiện ở sơ đồ sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 32
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Khách hàng Tìm hiểu thông tin Tìm hiểu Hệ thống kế toán hay cập nhật thông tin Hệ thống kiểm soát nội Ký kết hợp đồng kiểm bộ toán Phân tích báo cáo tài chính Tham chiếu cuộc kiểm toán năm trước Kế hoạch kiểm toán Tài liệu và thông tin yêu cầu khách hàng lập Kiểm tra KH kiểm toán Sơ đồ 3.2: Quy trình lập kế hoạch kiểm toán tại AAC3.1.2. Thực hiện kiểm toán: Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứngvới đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đó là quá trình triển khaimột cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiếnxác thực về mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứngkiểm toán đầy đủ và tin cậy.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 33
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Kết cấu của một chương trình kiểm toán, bao gồm:  Xác định mục tiêu kiểm toán: Xét trên quan điểm kiểm toán viên, mục tiêu kiểm toán là mục tiêu mà chúng ta đặt ranhằm đạt được bằng chứng kiểm toán có hiệu lực về một hay nhiều cơ sở dẫn liệu báo cáo tàichính thông qua việc thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp. Cơ sở dẫn liệu báo cáo tài chínhbao gồm: tính đầy đủ, tính hiện hữu, tính chính xác, đánh giá, sở hữu và trình bày.  Xác định tài liệu yêu cầu: Là tất cả những tài liệu cần thiết để kiểm toán trên một khoản mục trên báo cáo tài chính.Ví dụ, đối với chương trình kiểm toán vốn bằng tiền, tài liệu yêu cầu bao gồm: biên bản kiểmkê quỹ, xác nhận số dư ngân hàng; sổ quỹ, sổ chi tiết tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, sổ phụ ngânhàng, sổ cái; các chứng từ liên quan đến thu chi tiền mặt và tiền gửi ngân hàng; các tài liệu kháccó liên quan.  Thực hiện các thủ tục kiểm toán: Bao gồm kiểm tra các hoạt động kiểm soát, các thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết thôngqua các kỹ thuật kiểm toán như so sánh, tính toán, xác nhận, phỏng vấn, kiểm tra tài liệu, quansát và kiểm tra thực tế. Các chương trình kiểm toán chi tiết tại AAC bao gồm: - Chương trình kiểm toán chung; - Chương trình kiểm toán vốn bằng tiền; - Chương trình kiểm toán các khoản phải thu khách hàng; - Chương trình kiểm toán hàng tồn kho; - Chương trình kiểm toán các khoản phải trả người bán; - Chương trình kiểm toán tài sản cố định; - .....3.1.3. Hoàn thành cuộc kiểm toán: Kết thúc kiểm toán là giai đoạn các kiểm toán viên sẽ tổng kết toàn bộ quá trình thực hiệnkiểm toán, nêu ra ý kiến trao đổi với khách hàng và phát hành báo cáo kiểm toán.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 34
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức3.2. Chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát:3.2.1. Giới thiệu về quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát do công ty TNHHkiểm toán và kế toán AAC thực hiện: Các thử nghiệm kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộvới đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệulực. Thực tế, tại công ty AAC, các thử nghiệm kiểm soát rất ít được thực hiện. Thông thường,với các khách hàng kiểm toán năm đầu tiên, kiểm toán viên của công ty sẽ thực hiện kiểm trahệ thống kiểm soát nhằm đánh giá liệu hệ thống kiểm soát nội bộ có được thiết kế và vận hànhcó hiệu quả hay không từ đó làm cơ sở cho cuộc kiểm toán năm sau. Quá trình thực hiện thửnghiệm kiểm soát chủ yếu để thu thập các bằng chứng về sự thiết kế và vận hành của hệ thốngkiểm soát nội bộ, cách thức tổ chức công tác kế toán, hạch toán và lưu chứng từ nhằm phục vụcho việc tiến hành các thử nghiệm chi tiết phù hợp. Kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát do công ty AAC thực hiện được trình bàydưới đây là kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê. Quy trình chọn mẫu khái quát có ba bước cơ bản,đó là: lập kế hoạch, thực hiện chọn mẫu và đánh giá kết quả mẫu chọn.3.2.1.1. Lập kế hoạch chọn mẫu: Lập kế hoạch chọn mẫu giúp kiểm toán viên có cái nhìn tổng quát để tiến hành chọn mẫu.Tại AAC quá trình lập kế hoạch bao gồm các công việc là xác định mục tiêu kiểm toán, xácđịnh các sai phạm, xác định tổng thể, xác định cỡ mẫu. a. Xác định mục tiêu thử nghiệm kiểm soát: Tại Công ty AAC, khi bắt đầu một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên sẽ tiến hành tìm hiểuvề các thủ tục kiểm soát mà công ty khách hàng thực hiện, từ đó đánh giá về hệ thống kiểm soátnội bộ của đơn vị. Nếu hệ thống KSNB được xem là thiết kế và vận hành có hiệu quả, thì kiểmtoán viên sẽ tiến hành các thử nghiệm kiểm soát với các mục tiêu cụ thể. Các mục tiêu này sẽđược xác định dựa trên hiểu biết về thủ tục kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng mà KTVvừa thu thập được. Chẳng hạn, thủ tục kiểm soát nội bộ của chức năng nhận hàng trong chutrình mua hàng là thủ kho phải có trách nhiệm kiểm tra và ký tên vào Phiếu nhận hàng/Phiếunhập kho khi nhận hàng từ bộ phận nhận hàng đến kho, như vậy, KTV phải đặt ra mục tiêukiểm toán là phải kiểm tra dấu vết của việc ký nhận lên các phiếu có liên quan.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 35
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức b. Xác định các sai phạm: Tại AAC, cơ sở để các kiểm toán viên xác định sai phạm là những quy định về thủ tụcKSNB của doanh nghiệp. Theo đó, những phần tử, dấu hiệu được kiểm tra không phù hợp vớicác đặc điểm đã được quy định thì được kết luận là sai phạm. Có thể thấy là việc xác định saiphạm như vậy mới chỉ tuân theo quy định chung tương đối, chưa rõ ràng. Do đó, trong một vàitrường hợp việc kiểm tra các phần tử của mẫu là chưa chính xác, có thể bỏ sót hoặc xác định saicác sai phạm. c. Xác định tổng thể chọn mẫu: Từ các mục tiêu kiểm toán ở trên, kiểm toán viên sẽ xác định tổng thể để tiến hành chọnmẫu. Mẫu được chọn sẽ là đối tượng mà KTV sẽ tiến hành kiểm tra và thu thập bằng chứngkiểm toán. d. Xác định cỡ mẫu: Phương pháp mà AAC áp dụng là chọn mẫu phi thống kê nên việc xác định cỡ mẫukhông dựa trên công thức thống kê mà hoàn toàn dựa vào nhận định của bản thân kiểm toánviên khi làm việc trực tiếp với khách hàng. Chính vì vậy, cỡ mẫu sẽ được ước tính sao cho đảmbảo được quy mô mẫu là đủ lớn. Việc ước tính như vậy hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm nghềnghiệp của kiểm toán viên. Thông thường, đối với những khách hàng kiểm toán năm đầu tiên,cỡ mẫu được chọn sẽ lớn hơn đối với các khách hàng cũ, có độ tin cậy nhất định và nghiệp vụphát sinh ít biến động qua các năm. Vì cỡ mẫu khá lớn nên có thể làm giảm rủi ro do chọn mẫu.Tuy nhiên, điều này lại không mang lại ưu điểm của chọn mẫu là giảm chi phí và tiết kiệm thờigian.3.2.1.2. Thực hiện chọn mẫu: Tại công ty AAC, phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu là phi xác suất. Theo đó,các phương pháp mà công ty thường sử dụng gồm: chọn mẫu theo khối, chọn mẫu theo nhậnđịnh. a. Chọn mẫu theo khối: Chọn mẫu theo khối là phương pháp được các KTV của công ty sử dụng nhiều nhất. Mẫuđược chọn thường là các khối nghiệp vụ phát sinh theo thời gian như tháng hoặc quý. Ưu điểmcủa việc làm này là giúp KTV có thể kiểm tra tính liên tục của nghiệp vụ phát sinh đồng thờiSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 36
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcviệc tìm kiếm chứng từ cũng đơn giản hơn, tiết kiệm được thời gian vì nếu phần tử đầu tiêntrong khối được chọn thì các phần tử còn lại cũng được chọn tất yếu. Khi thực hiện chọn mẫu theo khối, KTV thường chọn khối các tháng có nghiệp vụ phátsinh nhiều, có thể là các tháng cuối năm hoặc các tháng theo mùa kinh doanh tùy đặc điểm cụthể của đơn vị. Lúc này, cỡ mẫu chính là số lượng các phần tử được chọn trong khối. b. Chọn mẫu theo nhận định: Theo khái niệm nêu trên, mẫu được chọn theo nhận định sẽ dựa trên các tiêu thức đượcxác lập bởi các KTV. Tại công ty AAC, tiêu thức thường được sử dụng nhất là lựa chọn cácphần tử có quy mô tiền tệ lớn. Chẳng hạn, khi chọn mẫu các phiếu chi để kiểm tra sự phê duyệt,KTV sẽ lựa chọn các phiếu chi có giá trị lớn theo một mức nhất định tùy thuộc quy mô đơn vị.Lúc đó, rủi ro của kết luận sai lầm do bỏ qua không kiểm tra các phần tử có giá trị nhỏ sẽ trởthành không đáng kể. Hai phương pháp chọn mẫu này có ưu điểm chung là dễ dàng thực hiện, có thể tiết kiệmđược thời gian, nhược điểm lớn nhất là mẫu được chọn có thể là một mẫu thiên lệch. Tuy nhiên,thông thường thì các KTV của công ty xác định cỡ mẫu khá lớn nên mẫu được chọn vẫn có thểđảm bảo tính đại diện cho tổng thể.3.2.1.3. Đánh giá mẫu chọn: Sau khi đã chọn được mẫu, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra các phần tử, xác định cácsai phạm và tổng hợp các sai phạm. Tuy nhiên, việc tổng hợp sai phạm từ mẫu chỉ cho phépKTV ước lượng sai sót của tổng thể một cách định tính chứ không phải là định lượng. Tuynhiên việc đánh giá chủ yếu dựa trên sai phạm phát hiện trên mẫu vẫn được AAC vẫn áp dụngvới lý do cỡ mẫu được chọn là khá lớn. Trên đây là khái quát về chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát được thực hiện bởi côngty AAC, tuy nhiên đối với từng khách hàng khác nhau, việc thực hiện chọn mẫu có những điểmkhác biệt về cỡ mẫu hay phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu nhưng nói chung việcchọn mẫu chủ yếu dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên và nguyên tắc cỡ mẫuđược chọn phải lớn.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 37
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức3.2.2. Thực tế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát tại công ty kháchhàng: Để minh họa cho việc chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát, em sẽ lấy ví dụ là công tykhách hàng ABC. Công ty TNHH ABC là Công ty TNHH có hai thành viên trở lên được thành lập theoGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3302080285 ngày 21 tháng 07 năm 2003 của Sở Kếhoạch và Đầu tư Tỉnh Quảng Nam. Từ khi thành lập đến nay, Công ty đã 3 lần điều chỉnh Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh và lần gần nhất vào ngày 14 tháng 08 năm 2007. Công ty làđơn vị hạch toán độc lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Điều lệ Công ty và các quy địnhpháp lý hiện hành có liên quan. Ngành nghề kinh doanh của đơn vị: - Tư vấn khảo sát, lập dự án đầu tư, lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật, Thiết kế bản vẽ thi công- Tổng dự toán, Giám sát, Thẩm định hồ sơ thiết kế, lập hồ sơ mời thầu và thẩm định hồ sơ thầucác công trình: đường dây và trạm biến áp đến 110KV, Điện năng công nghiệp và dân dụng,các công trình Bưu chính viễn thông, Xây dựng dân dụng và công nghiệp, Giao thông, Thủylợi; - Xây lắp đường dây và Trạm biến áp đến 110KV, điện năng công nghiệp và dân dụng,các công trình Bưu chính Viễn thông (cột ăng ten, cống bể cáp, cáp quang, mạng ngoại vi,truyền dẫn vi ba, thiết bị chuyển mạch, thiết bị vô tuyến,…), Xây dựng dân dụng và côngnghiệp, Giao thông, Thủy lợi, cấp thoát nước, các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị và côngcộng, Xăng dầu, Hệ thống chống sét, phát thanh truyền hình, cơ điện lạnh; - San lấp mặt bằng - Mua bán vật liệu xây dựng, Vật liệu và thiết bị điện - Dịch vụ viễn thông - Kinh doanh xăng dầu - Sửa chữa các thiết bị điện công nghiệp - Dịch vụ lữ hành nội địa, Khách sạn - Gia công cơ khí, Chế tạo tủ bảng điện - Đầu tư và cho thuê cơ sở hạ tầng viễn thông, Tư vấn và môi giới bất động sảnSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 38
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Để làm rõ cho kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát, em sẽ lấy ví dụ về vậndụng kỹ thuật chọn mẫu trong chương trình kiểm toán tiền mặt và hàng tồn kho.3.2.2.1. Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trình kiểm toán tiền mặt: a. Đối với các khoản thu tiền mặt: • Thủ tục kiểm soát: Công việc thu tiền tại công ty khách hàng do kế toán thanh toán và thủ quỹ thực hiện. Cáccông việc kiểm soát cần thiết bao gồm: - Kế toán thanh toán phải tiến hành đối chiếu các chứng từ gốc kèm theo (HĐBH, ĐĐH)trước khi lập phiếu thu. - Phiếu thu phải được đánh số thứ tự, ghi đầy đủ các thông tin, và có đầy đủ chữ ký. Sauđó chuyển cho kế toán trưởng soát xét và giám đốc ký duyệt rồi chuyển cho thủ quỹ. - Thủ quỹ căn cứ vào phiếu thu được duyệt sẽ tiến hành thu tiền và ghi sổ nhập quỹ trướckhi ký tên và yêu cầu người nộp ký tên. - Một liên phiếu thu thủ quỹ giữ lại để ghi sổ quỹ, một liên giao cho khách hàng và mộtliên lưu tại nơi lập phiếu. - Cuối ngày, thủ quỹ chuyển phiếu thu cho kế toán ghi sổ. • Phương pháp chọn mẫu Khi đã tìm hiểu được các thủ tục kiểm soát của công ty ABC về nghiệp vụ thu tiền mặt,KTV sẽ tiến hành chọn mẫu các phiếu thu để kiểm tra sự tồn tại của các thủ tục đó. Nhữngphiếu thu nào không đảm bảo những yêu cầu trên, như là không đủ chữ ký, không đủ nội dunghoặc ghi không đúng số tiền so với chứng từ gốc... thì được xem là sai phạm. Mẫu các phiếu thu được các KTV chọn theo khối, bao gồm các phiếu thu tháng 6 vàtháng 12, sở dĩ chọn như vậy vì đây là 2 tháng phát sinh các nghiệp vụ thu tiền lớn, là thời giancông ty thu hồi công nợ nhiều. b. Đối với các khoản chi tiền mặt: • Thủ tục kiểm soát: - Phiếu chi chỉ được lập khi đã có Biên bản nhận hàng; các chứng từ mua hàng đã đượckiểm tra đối chiếu, số tiền trên hoá đơn đã được kiểm tra, đối chiếu lại và đã được duyệt chi. - Các phiếu được đánh số trước và ghi sổ theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, đồng thời phải ghiđịnh khoản trên phiếu chi.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 39
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức - Phiếu chi được lập thành 3 liên và phải có đầy đủ chữ ký của người lập phiếu, kế toántrưởng, giám đốc, thủ quỹ mới được xuất quỹ. - Khi ký duyệt chứng từ, kế toán trưởng kiểm tra, đối chiếu các chứng từ liên quan vàkiểm tra định khoản ghi trên chừng từ. - Thủ trưởng đơn vị trước khi ký chứng từ chi, kiểm tra lại các chứng từ liên quan đếnkhoản chi và ký nháy vào hoá đơn đã thanh toán. Các hoá đơn mua hàng đã được thanh toánđược đóng dấu “Đã thanh toán”. - Phiếu chi được lập thành 3 liên, liên 1 lưu nơi lập phiếu, liên 2 giao cho người nhận tiền,liên 3 kế toán quỹ dùng để ghi sổ quỹ và sau đó chuyển cho kế toán thanh toán để ghi sổ kếtoán. • Phương pháp chọn mẫu Công ty ABC lưu trữ chứng từ thu - chi tiền mặt và chứng từ ngân hàng chung với nhautheo từng tháng. Tổng thể mà KTV xác định để chọn mẫu là toàn bộ các phiếu chi của đơn vị.Chính vì vậy, KTV quyết định chọn theo khối các phiếu chi quý 3 để kiểm tra số thứ tự của cácphiếu chi xem có liên tục không cũng như các phiếu chi có được ghi nhận đầy đủ hay không.Sở dĩ chọn khối các phiếu chi quý 3 để kiểm tra vì tại công ty ABC, quý 3 là thời gian có sốlượng các nghiệp vụ chi tiền lớn nhất, cho nên khả năng sai sót xảy ra là lớn hơn các quý cònlại. Để kiểm tra xem các phiếu chi của đơn vị có đầy đủ chữ ký và phê duyệt cũng như đãđược đánh dấu “Đã thanh toán”, KTV sẽ chọn theo khối các phiếu chi tháng 11 và tháng 12 vìtừ đầu tháng 11, công ty khách hàng có sự thay đổi về nhân sự bộ máy kế toán, KTV nghi ngờrằng có thể xảy ra sai sót ở 2 tháng này do kế toán thanh toán mới chưa nắm bắt nội dung côngviệc và có thể bỏ sót các chữ ký trên phiếu chi. • Đánh giá kết quả mẫu: Sau khi kiểm tra mẫu chọn các nghiệp vụ thu và chi tiền mặt, KTV nhận thấy: mẫu chọncác phiếu thu và phiếu chi bao gồm các phiếu thu và phiếu chi hợp lệ, đúng với các yêu cầu củathủ tục kiểm soát. Trên cơ sở đó kết luận lại hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ thutiền mặt là hoạt động hiệu quả như đánh giá ở khâu lập kế hoạch kiểm toán.3.2.2.2. Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trình kiểm toán hàng tồn kho: a. Đối với hàng nhập kho trong kỳ:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 40
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Thủ tục kiểm soát: - Nghiệp vụ mua hàng phải xuất phát từ bộ phận có nhu cầu, bộ phận này sẽ viết phiếu đềnghị mua hàng, sau đó phiếu đề nghị mua hàng sẽ được chuyển cho người có thẩm quyền duyệtxét. Đơn đặt hàng chỉ được thực hiện khi có chữ ký và đóng dấu của người duyệt xét. Để kiểmsoát tốt hơn việc đặt hàng, doanh nghiệp quy định cho mỗi bộ phận có nhu cầu một mẫu phiếuđề nghị mua hàng riêng và trên mỗi phiếu đề nghị mua hàng được đánh số thứ tự. - Phiếu nhập kho phải đính kèm với bản phô tô chứng từ vận chuyển và bản phô tô củahoá đơn mua hàng, phiếu đề nghị mua hàng để tiện việc theo dõi, đối chiếu số liệu. - Phiếu nhập kho phải ghi đầy đủ các nội dung trên phiếu cũng như có đủ chữ ký củanhững người liên quan. - Tổ chức hệ thống kế toán đảm bảo các nghiệp vụ nhập kho được ghi chép chính xác vàđầy đủ. • Phương pháp chọn mẫu Tại công ty ABC phiếu nhập kho được lưu riêng theo từng tháng, kiểm toán viên xác địnhtổng thể chọn mẫu là các phiếu nhập kho trong kỳ. Sau khi chọn mẫu tình cờ 30 phiếu nhập kho mỗi tháng, kiểm toán viên tiến hành kiểmtra sự xét duyệt của các chứng từ, kiểm tra việc ghi chép bằng cách so sánh số liệu trên cácchứng từ giao nhận với các hóa đơn bán hàng, đồng thời đối chiếu các hóa đơn này qua cáckhâu luân chuyển của đơn vị cho đến khi được thể hiện trên sổ cái, đảm bảo rằng các nghiệp vụnày đã hoàn tất và được ghi nhận đầy đủ. - Kiểm tra mẫu chọn các đơn hàng trong tháng 9 vì đây là tháng hàng nhập nhiều nhấttrong năm xem có chữ ký của trưởng phòng bán hàng ký duyệt hay không. - Kiểm tra tình cờ 20 phiếu giao hàng trong tháng 10 xem số thứ tự có đúng không, kháchhàng có ký vào hay không. - Kiểm toán viên tiến hành chọn mẫu trực tiếp từ sổ chi tiết các nghiệp vụ nhập kho có giátrị trên 30 triệu đồng ở từng tháng, nhập kho có giấy đề nghị mua hàng được xét duyệt chưa, cóhóa đơn đính kèm hay không, có đầy đủ các chữ ký hay không. b. Đối với hàng xuất kho trong kỳ: • Thủ tục kiểm soát:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 41
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức - Trưởng phòng bán hàng có trách nhiệm phê duyệt đơn hàng. Do khách hàng của côngty khá đa dạng kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau cho nên trưởng phòng bán hàng phảitrực tiếp phê duyệt đơn đặt hàng để đảm bảo cung cấp đủ lượng hàng theo yêu cầu của kháchhàng. Khi phê duyệt trưởng phòng sẽ ký trên đơn đặt hàng làm bằng chứng cho sự phê duyệtđó. - Khi có lệnh bán hàng, bộ phận bán hàng sẽ trực tiếp làm phiếu xuất kho. Người lậpphiếu ký để xác nhận việc lập phiếu, giám đốc ký và kế toán trưởng ký để phê duyệt việc xuấtbán, thủ kho ký để xác nhận việc xuất kho, khách hàng ký để xác nhận việc nhận đúng và đủhàng. - Phiếu xuất kho hàng bán phải có đính kèm lệnh bán hàng, bản phô tô đơn đặt hàng đãđược phê duyệt, phiếu xuất kho vật tư phải có đính kèm giấy đề nghị xuất vật tư đã được phêduyệt để tiện việc theo dõi, đối chiếu số liệu. - Phiếu xuất kho được lập thành 3 liên, liên gốc lưu lại tại bộ phận bán hàng, 1 liên thủkho giữ để ghi thẻ kho, 1 liên chuyển cho bộ phận kế toán để theo dõi hàng tồn kho. - Tổ chức hệ thống kế toán đảm bảo các nghiệp vụ xuất kho được ghi chép chính xác vàđầy đủ. • Phương pháp chọn mẫu KTV tiến hành chọn mẫu theo khối các phiếu xuất kho trong tháng 2 và tháng 6. Đây là 2tháng mà lượng xuất kho nhiều nhất trong năm. Kiểm toán viên kiểm tra xem các phiếu xuấtkho được đánh số liên tục hay không đồng thời cũng kiểm tra xem trên phiếu xuất có đầy đủcác nội dung cũng như là chữ ký hay không. Việc chọn khối các phiếu xuất kho tháng 2 vàtháng 6 là theo nhận định của kiểm toán viên, tuy nhiên có thể các tháng khác cũng xảy ra saiphạm. Sau đó, KTV sẽ chọn từ 12 tháng mỗi tháng 30 phiếu xuất kho để kiểm tra xem các đơnđặt hàng đính kèm phiếu xuất kho đã được phê duyệt và có chữ ký của người phê duyệt haykhông, đồng thời kiểm toán viên còn kiểm tra luôn số liệu giữa phiếu xuất kho với các chứng từkèm theo xem đã khớp đúng chưa. • Đánh giá kết quả mẫu:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 42
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Từ việc kiểm tra mẫu chọn các nghiệp vụ hàng nhập kho và xuất kho trong kỳ, KTV đưara nhận xét là các bước công việc cũng như quy trình thực hiện trong chu trình hàng tồn kho làkhá tốt. Kết luận rằng có thể tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty ABC.  Nhận xét của người viết: Trong thử nghiệm kiểm soát, KTV tiến hành chọn mẫu phi thống kê để kiểm tra hệ thốngkiểm soát cũng như xác định tính hiệu quả của hệ thống KSNB. Tuy việc chọn mẫu phi thốngkê như vậy xuất phát từ những phán đoán của KTV, và rủi ro chọn mẫu không được xác địnhtrước nhưng do KTV của công ty AAC thường chọn mẫu với cỡ mẫu khá lớn cho nên có thểlàm giảm rủi ro chọn mẫu đến mức thấp. Việc làm này sẽ tốn nhiều thời gian, công sức và chiphí hơn cho nên mục đích của cuộc kiểm toán không đạ được. Ngoài ra, một vài trường hợp,KTV chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát dựa vào giá trị của chứng từ. Vì mục đích của thửnghiệm kiểm soát là đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng chứ không quan trọngsố tiền là bao nhiêu, cho nên việc làm này là chưa phù hợp. Do vậy cần phải dựa vào số lượngchứng từ sổ sách cần kiểm tra.3.3. Chọn mẫu trong thử nghiệm chi tiết: Trong thử nghiệm chi tiết, các KTV của công ty AAC áp dụng phương pháp chọn mẫuphi thống kê và thống kê. Chọn mẫu phi thống kê là phương pháp quen thuộc và phổ biến màcác KTV đã sử dụng trong nhiều năm qua. Riêng chọn mẫu thống kê, cụ thể hơn là chọn mẫutheo phương pháp giá trị tiền tệ lũy kế (Cumulative Monetary Amount – CMA), là một phươngpháp mới được áp dụng trong chương trình kiểm toán mẫu từ năm 2010. Vì vậy, trong phầnnày, em sẽ trình bày cả hai phương pháp chọn mẫu mà công ty AAC hiện đang áp dụng trongthử nghiệm chi tiết.3.3.1. Chọn mẫu phi thống kê trong thử nghiệm chi tiết:3.3.1.1. Giới thiệu về quy trình chọn mẫu do công ty TNHH Kiểm toán và kế toán AACthực hiện: Kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê trong thử nghiệm chi tiết cũng gồm ba bước cơ bản là:lập kế hoạch, thực hiện chọn mẫu và đánh giá kết quả mẫu chọn. Trong ba bước này, nội dungcủa lập kế hoạch chọn mẫu và đánh giá kết quả mẫu chọn tương tự như trong thử nghiệm kiểmsoát, nên ở phần này, em chỉ trình bày nội dung của phần thực hiện chọn mẫu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 43
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Tại công ty AAC, phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu trong thử nghiệm chi tiếtbao gồm: chọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng, chọn mẫu theo khối, chọn mẫu theo nhận định. a. Chọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng: Tại công ty AAC, hầu hết các khoản mục khi vận dụng kỹ thuật chọn mẫu để kiểm trađều được KTV sử dụng phương pháp chọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng. Căn cứ vào tính chấtvà đặc điểm phát sinh của từng loại khoản mục mà KTV có cách chọn nghiệp vụ đối ứng phùhợp, tuy nhiên, thường thì KTV sẽ chọn các nghiệp vụ đối ứng với chi phí để kiểm tra. Có thểnói đây là cách gián tiếp kiểm tra sự phát sinh chi phí có hiệu quả. Bởi vì, ở tất cả các công tykhách hàng đều không lưu chứng từ chi phí riêng mà lưu theo từng khoản mục phát sinh có liênquan như tiền mặt, tiền gửi, chứng từ nhập kho... Cho nên, chọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng sẽthuận tiện và tiết kiệm được thời gian tìm kiếm chứng từ vì số lượng các nghiệp vụ liên quanđến chi phí là rất lớn. Đây là phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu khá đặc trưng củaAAC. b. Chọn mẫu theo khối: Tương tự như trong thử nghiệm kiểm soát, đây cũng là phương pháp lựa chọn các phần tửkhá phổ biến trong các thử nghiệm chi tiết mà AAC thực hiện. Cách thức chọn khối cụ thể sẽphụ thuộc vào nhận định của kiểm toán viên và tính chất phát sinh nghiệp vụ. Phổ biến thì KTVcông ty AAC hay chọn theo khối thời gian, như vậy sẽ dễ dàng và tiết kiệm thời gian trong việctìm kiếm chứng từ. Như đã đề cập ở trên, vì ở đây KTV đang tiến hành chọn mẫu theo khối nêncỡ mẫu sẽ không được xác định trước mà chỉ sau khi KTV xác định được khối nghiệp vụ cầnkiểm tra thì đó chính là cỡ mẫu. c. Chọn mẫu theo nhận định: Nếu trong thử nghiệm kiểm soát, chọn mẫu theo nhận định chỉ được xác lập dựa trên mộttiêu thức cụ thể, đó là lựa chọn các phần tử có quy mô tiền tệ lớn thì trong thử nghiệm chi tiết,chọn mẫu theo nhận định được sử dụng phổ biến theo nhiều tiêu chí khác nhau. Đó có thể làchọn mẫu theo giá trị các phần tử, chọn mẫu tình cờ các nghiệp vụ và chọn mẫu theo phán đoánnghề nghiệp của KTV. • Chọn mẫu theo giá trị của phần tử Theo phương pháp này, mẫu được chọn sẽ gồm những nghiệp vụ có số tiền theo mộtmức nhất định, phụ thuộc quy mô và đặc điểm kinh doanh của công ty khách hàng. Khi thựcSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 44
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứchiện chọn mẫu, KTV cũng có thể kết hợp với chọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng để lựa chọn. Vídụ cụ thể sẽ được trình bày ở phần thực tế vận dụng. • Chọn mẫu tình cờ các nghiệp vụ: Thông thường, các KTV sẽ dựa vào sổ chi tiết hoặc các chứng từ để chọn tình cờ cácnghiệp vụ phát sinh. Các nghiệp vụ sẽ được chọn ra từ 12 tháng và không tuân theo một quyđịnh hay tính chất nào cả. Chính vì vậy, chọn mẫu theo phương pháp này thường k có tính đạidiện, và việc kiểm tra chỉ làm cơ sở cho KTV thực hiện các thủ tục kiểm tra bổ sung chứ khôngthể dùng kết quả kiểm tra từ mẫu để suy rộng cho tổng thể. • Chọn mẫu theo phán đoán nghề nghiệp Trong thử nghiệm chi tiết, KTV của công ty sử dụng kinh nghiệm nghề nghiệp đưa raphán xét để chọn mẫu kiểm tra nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí. Nếu là kiểm toán kháchhàng cũ, KTV sẽ dựa vào sai phạm của những năm trước để phán đoán ra các đối tượng thườngxảy ra sai sót, từ đó đưa ra nhận định phù hợp. Trong một tổng thể nhất định đã được xác định trước, KTV hoặc sẽ xác định các phần tửcó khả năng xảy ra sai phạm, các phần tử phát sinh bất thường (như khoản phải thu quá hạnthanh toán đã lâu, các giao dịch có giá trị lớn bất thường hay có tính phức tạp cao...), hoặc KTVsẽ xác định các phần tử mang đặc trưng của tổng thể (như các phiếu chi tiền mặt chi cho từngloại giao dịch...). Một cách phổ biến cũng được áp dụng như trong thử nghiệm kiểm soát là chọn mẫu cácphần tử có quy mô tiền tệ lớn. Tiêu thức này được sử dụng chủ yếu nhất, vì rủi ro của việc kếtluận sai lầm do bỏ qua không kiểm tra các phần tử có giá trị nhỏ sẽ trở thành không đáng kể.3.3.1.2. Thực tế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu do tại công ty khách hàng: Trong thử nghiệm kiểm soát, KTV sẽ xác định những thủ tục kiểm soát của đơn vị, từ đóđưa ra phương pháp chọn mẫu phù hợp. Trong thử nghiệm chi tiết, do yêu cầu phải kiểm tra chitiết và cụ thể các nghiệp vụ phát sinh đối với từng khoản mục nên KTV sẽ xác định mục tiêukiểm toán cần đạt được để từ đó đề ra được hướng kiểm tra và lựa chọn các phần tử của mẫumột cách phù hợp. Chính vì vậy, trong phần phân tích thực tế vận dụng chọn mẫu trong thửnghiệm chi tiết dưới đây, em sẽ đi theo trình tự từ mục tiêu kiểm toán đến xác định hướng kiểmtra và cách lựa chọn mẫu, sau đó sẽ đưa ra đánh giá về mẫu được chọn. a. Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trình kiểm toán tiền mặt:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 45
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Mục tiêu kiểm toán: - Số dư tiền mặt là có thực tại ngày lập bảng cân đối kế toán. - Tất cả các nghiệp vụ thu – chi tiền mặt đều được ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác,đúng thời điểm vào sổ sách. - Tất cả các nghiệp vụ thu – chi tiền mặt được ghi nhận đúng thời điểm và thực sự phátsinh. - Các nghiệp vụ đối ứng chi phí phải hợp lý hợp lệ. Đây là mục tiêu để kiểm toán viênkiểm tra gián tiếp các khoản mục chi phí. • Hướng kiểm tra và lựa chọn các phần tử của mẫu: Sau khi đã xác định được các mục tiêu kiểm toán đối với khoản mục tiền mặt, KTV sẽtiến hành xác định hướng kiểm tra đối với từng mục tiêu. Hướng kiểm tra đó có thể là hướngxuôi (từ sổ sách đến chứng từ) hoặc hướng ngược (từ chứng từ đến sổ sách). Chọn hướng kiểmtra nào là tùy vào điều kiện cụ thể và kinh nghiệm của KTV. Hướng kiểm tra sẽ được KTVtrình bày cụ thể ở phần thực hiện trên giấy làm việc, căn cứ vào hướng kiểm tra này, KTV sẽxác định tổng thể và tiến hành chọn mẫu. Tại công ty khách hàng ABC, việc chọn mẫu và kiểm tra mẫu đối với khoản mục tiềnmặt được thực hiện như sau: - Để đạt được mục tiêu số dư tiền mặt là có thực, KTV cần thực hiện đối chiếu số liệu trênbiên bản kiểm kê quỹ với số liệu trên sổ cái và bảng cân đối kế toán. Tại công ty ABC, định kỳhàng tháng bộ phận kế toán đều tổ chức kiểm kê quỹ nhằm theo dõi cụ thể số lượng tiền mặttồn tại quỹ là bao nhiêu đồng thời hạn chế rủi ro thủ quỹ có thể tận dụng số tiền tại quỹ để phụcvụ mục đích riêng. Tuy nhiên, KTV chỉ cần đối chiếu số liệu trên biên bản kiểm kê quỹ tại ngày31/12/2010, là ngày kết thúc niên độ của năm được kiểm toán. - Vì công ty ABC có thể xuất sổ kế toán từ phần mềm kế toán Bravo sang Excel nênKTV quyết định chọn hướng kiểm tra xuôi, dựa vào sổ chi tiết TK 111 mà đơn vị cung cấp đểchọn mẫu theo nghiệp vụ đối ứng để kiểm tra. Các nghiệp vụ đối ứng được chọn bao gồmnghiệp vụ chi tiền đối ứng chi phí và hàng nhập kho. Các TK được chọn đối ứng là các tàikhoản chi phí như TK 627, TK 641, TK 642..., TK 241, TK 242, TK 142, các TK kho như TK152, TK 156... Sở dĩ chọn các TK kho vì ở công ty ABC lưu chứng từ nhập kho kèm với chứngtừ chi tiền mặt. Về mặt giá trị, KTV xác định giá trị các khoản chi đối ứng chi phí tại công tySVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 46
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcnày là 3.000.000 đồng, giá trị 3.000.000 đồng này được xác định dựa trên sự xét đoán của kiểmtoán viên. Theo nhận định của kiểm toán viên khi nhìn vào sổ chi tiết tài khoản tiền mặt thì sốlượng các nghiệp vụ này chiếm khoảng 35% tổng số nghiệp vụ chi tiền nhưng lại chiếm số tiềnđến khoảng 70% tổng số tiền phát sinh. Cách chọn này giúp kiểm toán viên có thể tập trung vàoviệc kiểm tra các nghiệp vụ chi tiền có giá trị lớn thường dễ xảy ra sai phạm. Tuy nhiên, cần lưuý là cũng có những trường hợp có thể xảy ra sai phạm với những khoản chi tiền nhỏ hơn3.000.000 đồng. Sau khi xác định phương pháp chọn mẫu, mẫu được chọn gồm các phần tửnhư sau: - Tiếp theo KTV sẽ chọn hướng kiểm tra là từ chứng từ đến sổ sách, tiến hành chọn mẫu những nghiệp vụ chi tiền có giá trị từ 20.000.000 đồng trở lên. Một mặt để kiểm tra xem các nghiệp vụ này có được ghi sổ chính xác, kịp thời không, mặt khác, kiểm tra xem những hóa đơn này có hình thức thanh toán thể hiện như thế nào. Bởi vì điều này có liên quan đến việc có được khấu trừ thuế giá trị gia tăng hay không. Theo TT129/2008/TT-BTC, những hóa đơn giá trị trên 20.000.000 chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào khi có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. - KTV đọc lướt qua sổ chi tiết để phát hiện những nghiệp vụ bất thường (về giá trị hoặctài khoản đối ứng hoặc diễn giải) và các nghiệp vụ mang tính chất đặc thù của khách hàng. Cácnghiệp vụ bất thường là các nghiệp vụ thu tiền đối ứng thu nhập khác, phải thu khác và cácSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 47
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcnghiệp vụ chi tiền đối ứng với chi phí khác, phải trả khác. Kiểm toán viên chọn toàn bộ cácnghiệp vụ loại này để kiểm tra vì số lượng loại nghiệp vụ này trong kỳ thường phát sinh khôngnhiều. Sau đó, KTV tiến hành đối chiếu với chứng từ gốc để kiểm tra việc trình bày các nghiệpvụ đó có đúng và phù hợp hay không. • Đánh giá kết quả mẫu: Sau khi thực hiện chọn mẫu và làm các thủ tục kiểm tra mẫu, kiểm toán viên ghi chúđược các sai phạm như sau: Từ những sai phạm trên, KTV sẽ ghi chú vào giấy làm việc rồi chuyển cho nhóm trưởngduyệt và tổng hợp vào biên bản trao đổi với khách hàng. Cần lưu ý lại rằng vì đây là chọn mẫu phi thống kê nên kết quả các sai sót trong mẫu kiểmtoán viên không suy rộng cho tổng thể mà chỉ sử dụng để đưa ra nhận xét và kết luận về khoảnmục kiểm toán. Điều này có phần không phù hợp bởi vì có thể sai phạm còn xảy ra ở các phầntử mà kiểm toán viên chưa kiểm tra. Nhưng do cỡ mẫu là khá lớn nên AAC vẫn chấp nhậncách thực hiện này. b. Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trình kiểm toán khoản phải thu: Cũng áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê trong thử nghiệm chi tiết, nhưng đối vớichọn mẫu trong khoản mục phải thu khách hàng có điểm khác so với chọn mẫu trong khoảnmục tiền mặt. Đối với khoản mục tiền mặt, tổng thể được chọn là tất cả các nghiệp vụ phát sinhtrong kỳ. Tuy nhiên, đối với khoản mục phải thu khách hàng, ngoài việc kiểm tra các nghiệp vụđối ứng chi phí, nghiệp vụ bất thường, KTV còn phải quan tâm tới sự chính xác của số dư cuốikỳ của tài khoản, xem số dư đó có thực sự tồn tại không và của những đối tượng nào. Lúc này,tổng thể không còn là những nghiệp vụ phát sinh trong kỳ nữa, mà chính là các khoản phải thucuối kỳ. Quy trình chọn mẫu khoản mục phải thu khách hàng được trình bày như sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 48
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Mục tiêu kiểm toán: -Số dư khoản phải thu phải tồn tại tại ngày lập bảng cân đối kế toán. -Tất cả các khoản phải thu phải được ghi chép đầy đủ, chính xác, các khoản phải thu được ghi chép là thực sự phát sinh. -Các khoản dự phòng được tính toán hợp lý để giá trị thuần của nợ phải thu khách hàng gần đúng với giá trị thuần có thể thực hiện được. -Các khoản dự phòng được lập đầy đủ để bù đắp những khoản lỗ tiềm tàng do không thu hồi được khoản phải thu khó đòi • Hướng kiểm tra và lựa chọn các phần tử của mẫu: - Để đạt được mục tiêu số dư khoản phải thu phải tồn tại tại ngày lập bảng cân đối kếtoán, KTV quyết định kiểm tra biên bản đối chiếu công nợ cuối kỳ do công ty khách hàng cungcấp. Do hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng được đánh giá là khá tốt nên kiểm toán viênchấp nhận các biên bản khách hàng cung cấp là bằng chứng kiểm toán. Từ bảng tổng hợp côngnợ TK 131 – Phải thu khách hàng, KTV sẽ tiến hành đối chiếu với các biên bản xác nhận côngnợ cuối kỳ. Tại thời điểm kiểm toán, công ty ABC vẫn chưa cung cấp đầy đủ biên bản đốichiếu xác nhận công nợ mà mới chỉ tiến hành xác nhận đối với một số khách hàng, chưa xácnhận đầy đủ những khách hàng có số dư lớn. Số dư còn lại chưa được đối chiếu, KTV sẽ tiến hành thủ tục kiểm toán thay thế là chọntoàn bộ để gửi thư xác nhận. Sở dĩ chọn toàn bộ vì số lượng đối tượng công nợ cuối kỳ ít và sốdư là khá lớn, số dư nhỏ nhất 12.290.933 đồng, nên KTV cho rằng không thể bỏ qua. Sau khi có phản hồi từ phía khách hàng về thư xác nhận công nợ, KTV thấy có sự chênhlệch của đối tượng khách hàng A là 101.165.144đ (Số liệu sổ sách là 697.114.622đ đồng, sốliệu xác nhận là 595.949.478 đồng). Nguyên nhân là do công ty ABC đã xuất hóa đơn ghi nhậndoanh thu trong năm 2010 nhưng phía công ty A chưa nhận được hóa đơn nên chưa hạch toánchi phí và công nợ. Thực tế việc ghi nhận doanh thu này là phù hợp nên công ty ABC khôngcần điều chỉnh gì. - Cách thức chọn mẫu kiểm tra khoản mục phải thu khách hàng cũng tương tự như đốivới khoản mục tiền mặt. Kiểm toán viên sẽ chọn theo nghiệp vụ đối ứng với chi phí có giá trịtrên 3.000.000 đồng để kiểm tra chứng từ phát sinh nghiệp vụ có hợp lý, hợp lệ, đầy đủ chứngtừ quy định hay không.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 49
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Ở đây, mặc dù phần lớn các nghiệp vụ phát sinh sẽ đối ứng với khoản mục doanh thu.Tuy nhiên, KTV không tiến hành kiểm tra các nghiệp vụ này là do KTV sẽ tham chiếu đối vớikhoản mục doanh thu. Các chứng từ phát sinh nghiệp vụ đã được kiểm tra khi KTV khác tiếnhành kiểm tra khoản mục này. Đây là cách kiểm toán tham chiếu AAC sử dụng để giảm bớtkhối lượng công việc thực hiện cũng như thời gian kiểm toán. - Để đạt được mục tiêu các khoản phải thu được phản ánh bằng giá trị có thể thu hồiđược, KTV cần kiểm tra việc trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi của khách hàng. Việckiểm tra cần căn cứ vào thông tư 228/2009/TT-BTC ngày 7/12/2009 của Bộ tài chính về việctrích lập dự phòng để từ đó có thể tính toán lại khoản dự phòng cần lập và so sánh với số liệukhách hàng đã lập và trích vào phí trong kỳ. • Đánh giá kết quả mẫu: Sau khi kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên không thấy sai phạm nào xảy ra khi thực hiệnkiểm tra mẫu khi đó kiểm toán viên kết luận đồng ý với số liệu của đơn vị. c. Kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong chương trình doanh thu bán hàng: • Mục tiêu kiểm toán: - Các nghiệp vụ bán hàng được phản ánh trên sổ sách là thực sự phát sinh. - Mọi nghiệp vụ bán hàng đều được ghi chép đầy đủ. - Doanh thu được hạch toán đúng niên độ. - Các nghiệp vụ phát sinh được cộng dồn và hạch toán chính xác. • Hướng kiểm tra và lựa chọn các phần tử của mẫu: Từ các mục tiêu đã được xác định như trên, KTV sẽ xác định hướng kiểm tra cụ thể cũngnhư cách thức chọn mẫu và kiểm tra mẫu phù hợp cho từng mục tiêu. - Để đảm bảo được mục tiêu về sự phát sinh và ghi chép đầy đủ, hướng kiểm tra được xácđịnh là đi từ sổ sách đến chứng từ. Do tính chất của khoản mục doanh thu là không có số dư,cho nên tổng thể chọn mẫu được xác định là toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh trong kỳ. Vì sốlượng các nghiệp vụ bán hàng là rất lớn, công thêm việc phải kiểm tra tính liên tục của việc ghichép vào sổ sách nên KTV quyết định chọn mẫu theo khối để tiến hành kiểm tra. Dựa vào đặc điểm kinh doanh của công ty ABC là có lượng hàng bán ra lớn nhất vào cáctháng của quý 3 và 4 nên KTV quyết định chọn mẫu theo 2 khối này để kiểm tra. Phương phápkiểm tra như sau: KTV sẽ tiến hành kiểm tra đối chiếu giữa sổ sách với hóa đơn bán hàng vàSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 50
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứccác chứng từ có liên quan (như đơn đặt hàng, vận đơn...) về các nội dung như: đối chiếu tênngười mua hàng, quy cách sản phẩm, số lượng, giá cả,... kiểm tra độ chính xác về mặt toán họcvề việc nhân ngang cộng dọc các số liệu trên hóa đơn…để chắc chắn rằng tất cả các khoảndoanh thu được ghi nhận một cách chính xác và có thật. Bên cạnh việc đối chiếu, so sánh giữa nghiệp vụ bán hàng trên sổ chi tiết với hoá đơn tàichính, kiểm toán viên thực hiện đối chiếu giữa tổng doanh thu phát sinh và tờ khai thuế hàngtháng. Để đảm bảo doanh thu kê khai trong tờ khai thuế và sổ kế toán khớp đúng, kiểm toánviên chọn toàn bộ doanh thu trong 12 tháng đối chiếu với tờ khai. Phương pháp này là phươngpháp phổ biến mà kiểm toán viên thường áp dụng khi kiểm tra tính chính xác của tài khoảndoanh thu, bởi nó dễ dàng được thực hiện và vẫn đảm bảo được mục tiêu kiểm toán. Cũng nhằm đảm bảo mục tiêu trên, KTV sẽ đọc lướt qua sổ chi tiết doanh thu của cácquý còn lại để phát hiện các nghiệp vụ bất thường và tiến hành kiểm tra các nghiệp vụ đó. Cácnghiệp vụ bất thường là các nghiệp vụ phát sinh có của doanh thu đối ứng với chi phí. Thực tế,các nghiệp vụ này phát sinh ít nên KTV chọn kiểm tra toàn bộ các nghiệp vụ này bằng cách đốichiếu với các chứng từ có liên quan để xem xét việc ghi nhận doanh thu có hợp lý hay không. - Chọn toàn bộ các khoản điều chỉnh doanh thu, rồi tiến hành kiểm tra so sánh và đốichiếu với chứng từ kèm theo xem thực sự có phát sinh hay không. Toàn bộ các khoản điềuchỉnh doanh thu: các khoản thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, giảm giá hàng bán, chiết khấuthương mại hay hàng bán bị trả lại đều đưuọc kiểm tra bằng cách đối chiếu với chứng từ gốc đểxem xét các khoản giảm trừ doanh thu có được phản ánh chính xác và phát sinh trong kỳ haykhông. - Để đảm bảo doanh thu và các khoản thu nhập khác được hạch toán đúng niên độ, KTVthực hiện thủ tục cut-off, là kiểm tra việc phân chia niên độ, bằng cách lấy hóa đơn cuối cùngcủa năm 2010 và hóa đơn đầu tiên 2011 xem có liên tục không, đồng thời kiểm tra các hợpđồng, hồ sơ kèm theo. Tại công ty ABC, hóa đơn cuối của năm 2010 là tại ngày 30/12/2010, số hóa đơn 001605.Hóa đơn đầu tiên của năm 2011 là hóa đơn ngày 01/01/2011, số hóa đơn 001606. Sau đó, KTV chọn các nghiệp vụ phát sinh từ 01/01/2011 đến 10/01/2011 kiểm tra cáchợp đồng, hồ sơ kèm theo, phát hiện bút toán ngày 02/01/2011 doanh thu công trình nhà làmviệc cho công ty B, số tiền 315.165.144 đồng đã có biên bản nghiệm thu hoàn thành, xác nhậnSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 51
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứckhối lượng tại ngày 22/12/2010 nhưng đến thời điểm 02/01/2011 mới xuất hoán đơn ghi nhậndoanh thu. KTV mở rộng mẫu kiểm tra đến ngày 31/01/2011 thấy không có sai phạm nào khác. • Đánh giá kết quả mẫu: Căn cứ vào kết quả mẫu thì KTV kết luận doanh thu công trình nhà làm việc cho công tyB đã có hồ sơ đầy đủ để ghi nhận doanh thu năm 2010 nhưng đơn vị lại ghi nhận vào năm 2011là chưa phù hợp. KTV đưa ra kết luận là đề nghị đơn vị điều chỉnh.  Nhận xét của người viết: Cũng như trong thử nghiệm kiểm soát, chọn mẫu phi thống kê trong thử nghiệm chi tiếtcũng được thực hiện dựa trên những phán xét và kinh nghiệm làm việc của KTV. Kết quả chọnmẫu không được suy rộng cho tổng thể. Việc thực hiện như vậy của các KTV là chưa phù hợp,tuy nhiên, do cỡ mẫu được chọn là khá lớn rủi ro chọn mẫu có thể giảm xuống. Vì vậy, hiện tại,công ty AAC vẫn chấp nhận cách làm này.3.3.2. Chọn mẫu theo phương pháp giá trị tiền tệ lũy kế (Cumulative Monetary Amount– CMA):3.3.2.1. Giới thiệu về kỹ thuật CMA: Kỹ thuật CMA (Cumulative Monetary Amount) là kỹ thuật chọn mẫu đại diện thống kê,thường được áp dụng để kiểm tra các tài khoản có các nghiệp vụ phản ánh bằng giá trị tiền tệ.Theo phương pháp này, tất cả các nghiệp vụ trong một số dư tài khoản đều có khả năng đượcchọn như nhau. CMA là phương pháp chọn mẫu thống kê hệ thống nên CMA đảm bảo được: - Tính ngẫu nhiên của điểm xuất phát. - Tính hệ thống của các điểm chọn, đó là khoảng cách giữa hai điểm chọn được gọi làbước nhảy và ký hiệu là J. Mục tiêu của kỹ thuật CMA là tất cả các đơn vị tổng thể đều có cơ hội được lựa chọn,điều này có được do trong kỹ thuật CMA sử dụng một bước nhảy cố định từ một điểm xuấtphát ngẫu nhiên. * Nguyên tắc chọn mẫu CMA: a. Các khái niệm và công thức được sử dụng:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 52
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức - Giá trị ghi sổ của tổng thể kiểm tra (P): sau khi KTV đã xác định được tổng thể chọnmẫu, thì tổng giá trị tiền tệ lũy tiến của tổng thể được chọn chính là giá trị ghi sổ của tổng thểdùng để kiểm tra. - Mức trọng yếu chi tiết (MP): hay còn gọi là mức trọng yếu thực hiện, được xác định dựavào mức trọng yếu tổng thể. Có nhiều chỉ tiêu để xác định mức trọng yếu tổng thể, tùy vào loạihình cty, tình hình tài chính cũng như các vấn đề liên quan khác mà KTV quyết định chọn ratiêu chí phù hợp. Mức trọng yếu chi tiết này được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch. Ví dụ: Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu cho các chỉ tiêu gốc thường được sử dụng tạicông ty AAC: + Lợi nhuận sau thuế: 5% - 10% + Doanh thu: 0,1% - 0,5% + Tổng tài sản: 0,2% - 1% + Tài sản ngắn hạn hoặc vốn chủ sở hữu: 2% - 5% + Nợ phải trả: 1% - 5% Từ mức trọng yếu tổng thể như trên, KTV sẽ suy ra mức trọng yếu chi tiết, thông thường,mức trọng yếu chi tiết được xác định từ 50% - 75% mức trọng yếu tổng thể. - Mức độ đảm bảo (R): hay còn gọi là chỉ số tin cậy. Chỉ số tin cậy là xác suất để số ướclượng (dựa trên việc kiểm tra chọn mẫu) bao hàm toàn bộ sai sót trong tổng thể, được sử dụngtrong chọn mẫu thống kê. Để xác định mức độ đảm bảo R, các KTV của công ty AAC căn cứ vào nhận định nghềnghiệp và ma trận định hướng R. (Phụ lục 4) - Bước nhảy (J): J = MP / R - Quy mô mẫu (N): được xác định theo công thức sau: N=P/J - Số ngẫu nhiên: là giá trị bất kỳ nhỏ hơn R. b. Nguyên tắc chọn mẫu: - Lấy một điểm lựa chọn cho một giá trị tương ứng nhỏ hơn J, hay chính là giá trị số ngẫunhiên (Random starting point) phải nhỏ hơn J.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 53
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức - Mỗi phần tử sẽ được lựa chọn nếu giá trị lũy kế tại đó bằng hoặc lớn hơn điểm lựa chọn. - Nếu sau khi tăng thêm 1 lần giá trị J mà giá trị luỹ kế vẫn lớn hơn điểm lựa chọn thì tiếptục cộng thêm J cho tới khi giá trị lũy kế nhỏ hơn điểm lựa chọn thì mới chuyển sang so sánhphần tử tiếp theo. Tiếp tục thực hiện như trên cho đến khi chọn đủ mẫu. Lưu ý: Vì là chọn mẫu theo phương pháp giá trị tiền tệ lũy tiến nên kỹ thuật CMA khôngchọn phần tử bằng 0 hoặc giá trị âm.3.3.2.2. Thực tế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu CMA: Tại công ty ABC, kỹ thuật chọn mẫu CMA không được áp dụng. Vì vậy, trong phần thựctế vận dụng kỹ thuật chọn mẫu CMA, em sẽ lấy ví dụ về công ty khách hàng XYZ để minhhọa. Công ty cổ phần XYZ được thành lập từ việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theoQuyết định số 104/2004/QĐ- UB ngày 01/04/2004 của Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ngãi.Công ty là đơn vị hạch toán độc lập, hoạt động sản xuất kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăngký kinh doanh số 3403000029 ngày 14 tháng 04 năm 2004 của Sở Kế hoạch và Đầu tư TỉnhQuảng Ngãi, Luật Doanh nghiệp, Điều lệ Công ty và các quy định pháp lý hiện hành có liênquan. Từ khi thành lập đến nay Công ty đã 4 lần điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh và lần điều chỉnh gần nhất vào ngày 14/05/2010. Ngành nghề kinh doanh chính: - Nhập khẩu và kinh doanh các loại phân bón thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng;nhiên liệu xăng dầu và vật liệu xây dựng; - Xuất khẩu nông sản, lâm sản; - Mua bán thức ăn chăn nuôi. a. Đối với khoản mục hàng tồn kho: • Xác định các chỉ tiêu đưa vào chương trình: - Mức trọng yếu chi tiết: việc xác định mức trọng yếu thường do KTV chính (trưởng đoànkiểm toán) xác định ngay trong giai đoạn lập kế hoạch. Ở công ty ABC, chỉ tiêu được lựa chọnđể xác định mức trọng yếu tổng thể là doanh thu. Sở dĩ chọn doanh thu để xác định mức trọngyếu là vì công ty XYZ muốn đạt được mức doanh thu theo kế hoạch đã đề ra trong Nghị quyếtĐại hội cổ đông.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 54
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Theo Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại ngày 31/12/2010, doanh thu bán hàng vàcung cấp dịch vụ của công ty cổ phần XYZ là: 191.833.402.086 đồng. Tỉ lệ sử dụng để ướclượng mức trọng yếu cho doanh thu là 0,1% - 0,5%. Ở công ty XYZ, tỉ lệ ước lượng được KTVchọn là 0,5%. Mức trọng yếu chi tiết được lấy bằng 75% mức trọng yếu tổng thể. Ta có:Giá trị tiêu chí được lựa chọn Mức trọng yếu tổng thể Mức trọng yếu thực hiện 191.833.402.086 959.167.010 719.375.258 - Mức độ đảm bảo (R): dựa vào ma trận xác định mức độ đảm bảo, ta thấy, ban đầu, tronggiai đoạn lập kế hoạch hệ thống KSNB của đơn vị được đánh giá là hoạt động có hiệu quả,đồng thời, KTV xác định là tồn tại rủi ro phát hiện trong quá trình kiểm toán, cho nên, mức độđảm bảo R được xác định bằng 1,7. - Bước nhảy (J): được xác định theo công thức. Trong chương trình chọn mẫu CMA,bước nhảy J sẽ được tính tự động sau khi đã nhập các số liệu yêu cầu. - Số ngẫu nhiên: được xác định là một số bất kỳ nhỏ hơn bước nhảy J. • Thực hiện chọn mẫu: Chọn mẫu CMA thường áp dụng với những công ty thương mại, có số lượng nghiệp vụphát sinh là lớn. Việc kiểm tra chi tiết hàng tồn kho em đã nêu ở phần chọn mẫu phi thống kênên ở đây em chỉ nêu ra cách chọn mẫu đối với hàng nhập và xuất kho. - Đối với hàng nhập kho: Đầu tiên, KTV cần xác định tổng thể cần chọn mẫu, tổng thể tại công ty ABC được xácđịnh là tất các các nghiệp vụ nhập kho trong kỳ. Đây là công ty thương mại nên số lượng hàngnhập xuất trong kỳ là rất lớn. Sau đó, KTV điền các thông tin vào các ô nhập trong chươngtrình CMA theo yêu cầu. Theo chương trình, KTV chỉ nhập dữ liệu vào các ô có màu trắng, cácthông tin còn lại chương trình sẽ tự động tính toán. KTV sẽ nhập giá trị tài khoản trên BCTC vào ô B4, giá trị này sẽ được lấy trên Bảng cânđối kế toán tại ngày 31/12/2010. Tại ô B4, giá trị cần điền là: 25.281.757.869. Giá trị tổng thể ở ô D5 chính là tổng số tiền lũy tiến của các nghiệp vụ. Giá trị này sẽ bằng120.118.947.592. Từ bảng tính toán mức trọng yếu đã được xác định ở trên, KTV sẽ điền lần lượt các giá trịvào chương trình. Tại ô B5 sẽ là mức trọng yếu chi tiết, MP sẽ bằng 719.375.258.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 55
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Mức độ đảm bảo R được xác định là 1,7. Bước nhảy J sẽ được tự động tính toán, KTVkhông cần xác định giá trị này. Sau đó, cần chọn một số ngẫu nhiên phù hợp, số ngẫu nhiên nàylà một giá trị bất kỳ nhỏ hơn bước nhảy J. Bảng tính toán CMA theo chương trình như sau: - Giải thích công thức: + Tại cột E (Sub-Total), lấy ví dụ cho ô E11, các ô còn lại trong cột xem tương tự: E11=D11+H10 Trong đó: D11 là giá trị của nhiệp vụ, H10 là số ngẫu nhiên. Khi số ngẫu nhiên thay đổibất kỳ sao cho nhỏ hơn bước nhảy J, số mẫu được chọn không thay đổi, vẫn là 340 phần tử.Tuy nhiên các phần tử được chọn sẽ khác nhưng vẫn đảm bảo được tính ngẫu nhiên của cácphần tử. + Tại cột F (Number of Selections), lấy ví dụ cho ô F11, các ô còn lại trong cột xemtương tự: F11= IF(E11>0;ROUND(E11/G11+0,5;0);0) Nếu giá trị tại ô E11 là một số lớn hơn 0, đồng thời, lấy giá trị (E11/G11 + 0,5) làm trònlên sẽ ra một số khác 0, thì phần tử đó sẽ được chọn. Số khác 0 này luôn là số dương, vì E11 vàG11 luôn là số dương, giá trị của số khác 0 này càng lớn, tính đại diện cho mẫu càng cao.Ngược lại, thì kết quả trả về là 0, tức là phần tử đó không được chọn.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 56
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức + Tại cột G (Bước nhảy J), lấy ví dụ cho ô F11, các ô còn lại trong cột xem tương tự: J=423.161.196 Đây là giá trị bước nhảy, và giá trị này không thay đổi. + Tại cột H (Selection remainder), lấy ví dụ cho ô H11, các ô còn lại trong cột xem tươngtự: H11=E11-(F11*G11)Giá trị trong ô này sẽ được dùng để so sánh với giá trị của nghiệp vụ tiếp theo. Quan sát hình trên, ta thấy, giá trị tổng thể tại ô D2003 chính là giá trị cần điền vào D5.Sau khi đã điền đầy đủ các thông tin, ấn nút “Chọn mẫu”, chương trình sẽ tính ra số mẫu đượcchọn (cỡ mẫu), và số mẫu này sẽ được làm tròn lên nếu là một số lẻ. Đối với hàng nhập kho tại công ty ABC, số mẫu được chọn là 284 phiếu nhập. Sau khi đãxác định được mẫu cần chọn, KTV sẽ tiến hành kiểm tra chi tiết trên mẫu này và ghi chú vàocột F, các nghiệp vụ được tô đỏ là các nghiệp vụ sai phạm mà KTV đã lưu ý. Mẫu được chọn của hàng nhập:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 57
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức - Đối với hàng xuất kho: Ở công ty XYZ, việc kiểm tra hàng xuất kho không tập trung vào việc kiểm tra chứng từmà chủ yếu kiểm tra giá xuất kho và giá trị tồn kho cuối kỳ. Vì vậy, KTV sẽ chọn mẫu phithống kê theo giá trị các phần tử một vài nghiệp vụ xuất bán để kiểm tra sự phù hợp về mặtchứng từ với các nội dung về số lượng xuất bán hay giá xuất bán... Đối với hàng xuất kho tạicông ty XYZ, KTV quyết định chọn các phiếu xuất có giá trị lớn hơn 100.000.000 đồng từtháng 2 và tháng 6, là 2 tháng bắt đầu bước vào mùa vụ cũng là 2 tháng có lượng hàng xuất bánlớn nhất trong năm. Việc tính giá xuất kho là do chương trình Excel thực hiện nên KTV có độ tin tưởng khácao. Từ đó, KTV quyết định chọn mẫu 11 hàng hóa có lượng nhập, xuất và tồn trong kỳ là lớnkiểm tra việc xác định giá trị tồn kho cuối kỳ. Giá trị tồn cuối kỳMặt hàng Ghi chú của KTV Số lượng Thành tiềnUrea Phú Mỹ 307.536 2.273.851.228 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 58
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh ĐứcUrea In Do Rin 716.624 5.645.783.782 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánNPK 16-16-8 Philip 339.200 2.900.339.710 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánUrea PRC chữ A 114.885 899.241.728 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánUrea TQ Bao Phú Mỹ 102.730 738.341.480 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánSA Nhật 15.800 64.704.762 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánDAP Korea 148.380 1.691.162.689 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánNPK 20-20-15 BĐ 36.699 382.962.144 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánNPK 20-0-10 BĐ 25.850 178.683.260 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánNPK 16-16-8 HP 21.850 150.751.763 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toánKaly 308.628 2.489.070.232 Đã kiểm tra, đồng ý số liệu tính toán • Đánh giá kết quả mẫu: Từ việc kiểm tra mẫu chọn hàng nhập kho và xuất kho, KTV đưa ra các kết luận sau: - Đối với hàng nhập kho: một số trường hợp nhập hàng nhưng hóa đơn sai mã số thuế.Xét thấy sai sót chủ yếu là ở đối tượng người bán “Công ty phân lân Ninh Bình”. Từ đó, KTVquyết định mở rộng kiểm tra chi tiết sang TK 331 – Phân lân Ninh Bình để kiểm tra vì tất cảhàng nhập của công ty ABC đều được hạch toán qua TK 331 để theo dõi. - Đối với hàng xuất kho: đơn vị tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền,việc tính giá đều đúng trên 11 phần tử của mẫu. Việc tính giá này được thực hiện một cách hệthống trên chương trình Excel nên KTV có độ tin tưởng cao vào việc tính giá và kết luận rằngđơn vị đã tính đúng giá xuất kho trong kỳ. b. Đối với khoản mục doanh thu: • Xác định các chỉ tiêu đưa vào chương trình: - Mức trọng yếu chi tiết: tương tự như trên, MP = 719.375.258 - Mức độ đảm bảo (R): Dựa vào ma trận xác định mức độ đảm bảo ở trên, ta thấy, ban đầu, trong giai đoạn lập kếhoạch hệ thống KSNB của đơn vị được đánh giá là hoạt động có hiệu quả, đồng thời, KTV xácSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 59
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcđịnh là tồn tại rủi ro phát hiện trong quá trình kiểm toán, cho nên, mức độ đảm bảo R được xácđịnh bằng 1,7. - Bước nhảy (J): được xác định theo công thức. Trong chương trình chọn mẫu CMA,bước nhảy J sẽ được tính tự động sau khi đã nhập các số liệu yêu cầu. - Số ngẫu nhiên: được xác định là một số bất kỳ nhỏ hơn bước nhảy J. • Thực hiện chọn mẫu: Các thao tác thực hiện chọn mẫu theo chương trình CMA áp dụng cho doanh thu tươngtự như cho hàng nhập kho. Theo đó, mẫu được chọn ra như sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 60
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Việc kiểm tra chi tiết mẫu chọn này tương tự như kiểm tra chi tiết trong chọn mẫu phithống kê, bởi vì thực chất mục đích của chọn mẫu là chọn ra được một mẫu đại diện, còn thaotác trên mẫu sẽ tuân theo quy trình cụ thể áp dụng cho khoản mục doanh thu như đã trình bày ởtrên. • Đánh giá kết quả mẫu: Sau khi kiểm tra mẫu chọn, KTV nhận thấy một số trường hợp đơn vị ghi nhận doanh thuvận chuyển đã xuất hóa đơn sai thuế suất quy định. Mức thuế suất đúng là 10% trong khi đơn vịchỉ xuất 5%. Từ đó, KTV quyết định kiểm tra tất cả các trường hợp xuất kho ghi nhận doanhthu vận chuyển. Sau khi kiểm tra, KTV phát hiện ra đơn vị đã xuất sai thuế suất ở tất cả các hóađơn của dịch vụ vận chuyển. Nguyên nhân được tìm hiểu là theo thông tư TT13 ngày22/01//2009 của BTC quyết định giảm 50% thuế suất cước vận chuyển và TT này chỉ áp dụngcho năm 2009 chứ không áp dụng cho năm 2010, trên thực tế đơn vị đã áp dụng cho năm 2010nên dẫn đến việc xuất sai hóa đơn. KTV ghi kết luận là đề nghị đơn vị điều chỉnh.  Nhận xét của người viết: Việc chọn mẫu theo chương trình CMA cho thấy công ty AAC đã áp dụng chọn mẫuthống kê vào kiểm toán. Việc chọn mẫu, đánh giá kết quả mẫu là hoàn toàn có cơ sở và dựatrên những công thức tính toán toán học. Từ kết quả mẫu thu được, KTV có thể suy rộng chotổng thể hoặc điều chỉnh hướng kiểm tra mở rộng sao cho chính xác và phù hợp hơn. TuySVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 61
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcnhiên, trong quá trình thực hiện, chương trình CMA cũng gặp phải những hạn chế nhất định.Điều này nếu không được khắc phục có thể ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc kiểm toán.Việc đi sâu phân tích những hạn chế này sẽ được trình bày rõ ở phần sau.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 62
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trongkiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toánAAC4.1. Đánh giá về thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tàichính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC: Trong quá trình thực hiện kiểm toán tại công ty khách hàng, các KTV công ty AAC ápdụng kỹ thuật chọn mẫu cả trong thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm chi tiết. Trong thửnghiệm kiểm soát, phương pháp mà KTV thực hiện là chọn mẫu phi thống kê, còn trong thửnghiệm chi tiết, ngoài chọn mẫu phi thống kê, KTV còn sử dụng phương pháp chọn mẫu thốngkê. Trong quá trình thực hiện, cả hai phương pháp này đều bộc lộ những ưu điểm và hạn chếnhất định.4.1.1. Ưu điểm của kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong kiểm toán BCTC do công ty AACthực hiện: * Đối với thử nghiệm kiểm soát: Công ty AAC đã dựa vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động, tình hìnhtài chính và các thủ tục kiểm soát nội bộ của khách hàng để quyết định phương pháp chọn mẫusát với tình hình thực tế của khách hàng, từ đó có thể chọn ra phương pháp chọn mẫu phù hợpvới mục tiêu kiểm toán của mình. Phương pháp chọn mẫu do AAC thực hiện là phương pháp chọn mẫu phi thống kê. Đâylà phương pháp chọn mẫu cho phép kiểm toán viên vận dụng được khả năng phán đoán nghềnghiệp của mình để lựa chọn các phần tử trong tổng thể. Bằng những hiểu biết về hệ thốngkiểm soát nội bộ, KTV sẽ khoanh vùng và tập trung vào những khoản mục có rủi ro cao, dễ xảyra sai sót. Do đó, có thể giảm bớt khối lượng công việc cũng như xác suất các phần tử chứađựng khả năng sai phạm nghiêm trọng. Bên cạnh đó, phương pháp chọn mẫu phi thống kê không cần sử dụng các công thức toánhọc phức tạp để xác định cỡ mẫu cũng như là để khái quát về tổng thể mà chủ yếu là dựa trênkinh nghiệm nghề nghiệp của KTV để phán đoán, cho nên, công việc chọn mẫu sẽ được tiếnhành một cách dễ dàng, không phức tạp cũng như không tốn nhiều thời gian.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 63
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Trong thử nghiệm kiểm soát, việc kiểm tra của KTV sẽ thiên về việc đánh giá về các saiphạm để đưa ra kết luận về hệ thống KSNB hơn là phân tích thống kê tần suất xảy ra của sai sótđể suy ra cho tổng thể. Trong trường hợp này thì áp dụng chọn mẫu phi thống kê vào TNKS làphù hợp hơn. * Đối với thử nghiệm chi tiết: Trong thử nghiệm chi tiết, tại công ty AAC thực hiện đồng thời hai phương pháp chọnmẫu phi thống kê và chọn mẫu thống kê. Ưu điểm của hai phương pháp này là: - Chọn mẫu phi thống kê: cách thức mà KTV thường thực hiện là chọn mẫu theo nghiệpvụ đối ứng và chọn mẫu dựa vào giá trị các phần tử. Chọn mẫu theo các nghiệp vụ đối ứng, thường là đối ứng chi phí, là phương pháp lựachọn mà KTV áp dụng cho hầu hết các khoản mục. Với cách chọn này, KTV vừa kiểm tra trựctiếp tài khoản đang làm việc, vừa kiểm tra gián tiếp sự hợp lý và hợp lệ của các khoản mục chiphí. Do đó, có thể giảm bớt khối lượng công việc cần thực hiện, rút ngắn được thời gian chocuộc kiểm toán. Chọn mẫu dựa vào giá trị của các phần tử, tức là chọn các nghiệp vụ, số dư có khoản tiềnlớn hơn một giá trị nhất định. Cách chọn như vậy sẽ làm cho các phần tử có số tiền càng lớn thìchắc chắn càng được chọn vào mẫu. Điều này giúp KTV tập trung vào các phần tử có giá trịlớn là các phần tử có nhiều khả năng xảy ra sai phạm. Một ưu điểm nữa trong phương pháp chọn mẫu phi thống kê do AAC thực hiện là rủi rochọn mẫu của công ty luôn ở mức thấp do công ty thường chọn mẫu với cỡ mẫu lớn, một sốtrường hợp công ty còn chọn toàn bộ để kiểm tra. Việc chọn mẫu lớn này của AAC còn giúpkiểm toán viên có thể làm thoả mãn thêm một nhu cầu kiểm toán nữa của khách hàng, đó làđiều chỉnh và hoàn thiện các sai sót về mặt chứng từ trước khi các cơ quan chức năng vào kiểmtra doanh nghiệp. Có thể nói rằng, chọn mẫu lớn hoặc gần như toàn bộ là một ưu điểm nổi bậttrong vấn đề chọn mẫu của AAC. - Chọn mẫu thống kê: hiện tại AAC đang áp dụng là phương pháp chọn mẫu theo giá trịtiền tệ lũy kế (CMA). Đây là một trong những kỹ thuật chọn mẫu thống kê được sử dụng phổbiến trong thử nghiệm chi tiết. Vì là chọn mẫu thống kê nên quá trình chọn mẫu được thực hiệntrên cơ sở tính toán các công thức toán học. Ưu điểm của phương pháp này có thể thấy rõ đó làđịnh lượng được rủi ro chọn mẫu, từ đó có thể đánh giá kết quả mẫu và suy rộng cho tổng thể.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 64
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh ĐứcViệc áp dụng phương pháp chọn mẫu CMA là một bước tiến lớn cho công tác chọn mẫu tạicông ty AAC. Bởi vì trước đây, các KTV chủ yếu chọn mẫu theo nhận định với cỡ mẫu khálớn, do đó, không đảm bảo được mục tiêu của cuộc kiểm toán là tiết kiệm thời gian và chi phí.4.1.2. Hạn chế của kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong kiểm toán BCTC do công ty AACthực hiện: Bên cạnh những ưu điểm trên, kỹ thuật chọn mẫu được áp dụng tại công ty AAC vẫn tồntại những hạn chế sau: - Chọn mẫu phi thống kê: đây là phương pháp phổ biến được các KTV sử dụng ở cáccông ty khách hàng có quy mô vừa và nhỏ, tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là khôngđịnh lượng được rủi ro chọn mẫu. KTV chỉ căn cứ vào nhận định nghề nghiệp để chọn mẫu đểtiếp cận với tổng thể. Do vậy, rủi ro chọn mẫu hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, trình độ vàkinh nghiệm của KTV. Từ chỗ không định lượng được rủi ro chọn mẫu, KTV quyết định giảmrủi ro bằng cách chọn cỡ mẫu khá lớn. Việc chọn mẫu với cỡ mẫu khá lớn như vậy khôngmang lại những ưu điểm và mục đích thiết yếu của chọn mẫu là giảm chi phí và tiết kiệm thờigian. Qua thực tế thực hiện, có thể thấy nguyên nhân của việc chọn mẫu với cỡ mẫu lớn nhưsau: + Khách hàng của công ty đa số là có quy mô không lớn, do đó KTV chủ yếu chọn mẫuvới cỡ mẫu lớn và một vài trường hợp có thể kiểm tra toàn bộ. + Việc chọn mẫu lớn, gần như là kiểm tra toàn bộ mà AAC thực hiện xuất phát từ yêucầu của công ty khách hàng. Ban giám đốc đơn vị khách hàng muốn công ty kiểm toán phảilàm kỹ để có thể có được một báo cáo tài chính chính xác cũng như để họ có thể đánh giá nănglực của kế toán trong công ty nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán, bên cạnh đó có thể làm thoảmãn thêm một nhu cầu kiểm toán của khách hàng đó là điều chỉnh và hoàn thiện các sai sót vềmặt chứng từ, sổ sách trước khi các cơ quan có thẩm quyền vào kiểm tra doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện chọn mẫu, KTV của công ty chưa có sự kết hợp giữa chọn mẫutrong thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm chi tiết có cùng chung tổng thể chọn mẫu. Chính vìvậy, sẽ mất nhiều thời gian để thực hiện chọn mẫu riêng biệt cho từng thử nghiệm. Ngoài ra, quá trình chọn mẫu do AAC thực hiện còn có mặt hạn chế trong việc ghi chépquy trình chọn mẫu trên giấy làm việc. Kiểm toán viên chỉ ghi lại trên giấy làm việc các sai sótSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 65
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcphát hiện khi kiểm tra mẫu, không thể hiện các yếu tố như tổng thể chọn mẫu, số phần tử củamẫu, kỹ thuật chọn mẫu áp dụng hay phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu của quy trìnhchọn mẫu. Hạn chế này sẽ làm ảnh hưởng đến việc kiểm soát chất lượng cho cuộc kiểm toán. - Chọn mẫu thống kê: ngoài những ưu điểm nêu trên chương trình chọn mẫu CMA cũnggặp phải những hạn chế cần được khắc phục. Thực chất của phương pháp chọn mẫu này làchọn mẫu theo đơn vị tiền tệ, vì vậy quy mô tiền tệ được chú ý nhiều. Điều này có nghĩa là cácnghiệp vụ có giá trị tiền tệ lớn thì cơ hội được chọn vào mẫu cao hơn trong khi sai phạm có thểnằm trong những phần tử có giá trị nhỏ. Ngoài ra, những trường hợp xuất hiện các giá trị âm(các bút toán điều chỉnh, hay dư Nợ của khoản phải trả hoặc dư Có của khoản phải thu) sẽkhông được đưa vào mẫu khi chọn mẫu bằng chương trình CMA. Hơn thế nữa, một công việc quan trọng mà các KTV cần thực hiện khi tiến hành chọnmẫu CMA là phải đánh giá cụ thể mức rủi ro và mức trọng yếu. Mà việc đánh giá các yếu tốnày phụ thuộc nhiều vào nhận định và kinh nghiệm làm việc của KTV.4.2. Giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu áp dụng trong kiểm toán báo cáo tàichính do Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC thực hiện: Hiện tại công ty AAC đang sử dụng đồng thời kỹ thuật chọn mẫu thống kê và phi thốngkê. Cả hai kỹ thuật này đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, tùy vào từng trường hợp,điều kiện cụ thể để áp dụng một cách phù hợp. Tuy nhiên, sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kêcó xác suất đem lại một mẫu đại diện và có thể suy rộng kết quả mẫu cho tổng thể là cao hơn.Vì vậy, em xin đưa ra một vài giải pháp cụ thể sau để góp phần hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫutrong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán AAC :4.2.1. Sử dụng chọn mẫu thuộc tính trong thử nghiệm kiểm soát: Các lý thuyết về chọn mẫu thuộc tính trong thử nghiệm kiểm soát đã được trình bày ởphần trên, vì vậy, ở phần này, em xin đưa ra cách thức vận dụng chọn mẫu thuộc tính trong quátrình thử nghiệm kiểm soát. Xác định các thuộc tính và định nghĩa các sai phạm cho từng khoản mục: Kiểm toán viên căn cứ vào thủ tục kiểm soát của đơn vị khách hàng để xác định các thuộc tính và trên cơ sở đó để định nghĩa sai phạm.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 66
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Khoản ST Các thuộc tính Sai phạm mục T 1 Phiếu thu, phiếu chi có đủ chữ ký Phiếu thu, phiếu chi không đầy đủ như trong quy định của công ty. chữ ký như trong quy định của công ty 2 Phiếu chi phải được đính kèm cùng Phiếu chi không có chứng từ gốcTiền mặt các chứng từ gốc hợp lệ. kèm theo hoặc chứng từ gốc không hợp lệ. 3 Phiếu thu, phiếu chi phải ghi đầy Phiếu thu, phiếu chi không ghi đủ đủ các nội dung trên phiếu. các nội dung trên phiếu. 1 Đơn đặt hàng phải được trưởng Đơn đặt hàng không có chữ ký xét phòng bán hàng phê duyệt và ký duyệt của trưởng phòng bán hàng. xác nhận phê duyệt.Phải thu 2 Hóa đơn bán hàng phải được đính Hóa đơn bán hàng không đính kèmkhách kèm với đơn đặt hàng đã được xét với đơn đặt hàng đã được phêhàng duyệt. duyệt. 3 Có danh sách các khách hàng được Các KH được xét duyệt bán chịu xét duyệt bán chịu và hạn mức tín không nằm trong danh sách khách dụng cụ thể. hàng được phép bán chịu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 67
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Khoản ST Các thuộc tính Sai phạm mục T 1 Đơn hàng phải được trưởng phòng Đơn hàng không có sự phê duyệt. kinh doanh phê duyệt và ký xác nhận nếu chấp nhận đơn hàng. 2 Phiếu xuất kho có đính kèm lệnh Phiếu xuất kho không đính kèm bán hàng, bản phô tô đơn đặt hàng một trong các chứng từ sau: lệnh đã được phê duyệt, bản phô tô hóa bán hàng, bản phô tô đơn đặt hàng, đơn bán hàng hay giấy đề nghị xuất bản phô tô hóa đơn bán hàng, giấy vật tư. đề nghị xuất vật tư.Hàng tồn 3 Phiếu xuất kho, nhập kho phải ghi Phiếu nhập kho, xuất kho không ghikho đầy đủ nội dung, có đủ các chữ ký. đủ các nội dung, không đủ các chữ ký quy định. 4 Phiếu nhập kho phải đính kèm với Phiếu nhập kho không có đính kèm bản phô tô chứng từ vận chuyển, bản phô tô chứng từ vận chuyển bản phô tô của hoá đơn mua hàng hoặc không đính kèm với bản phô và bản phô tô phiếu đề nghị mua tô hoá đơn mua hàng, không có hàng được phê duyệt. giấy đề nghị mua hàng được duyệt. 1 Giấy đề nghị mua hàng của các bộ Giấy đề nghị mua hàng không chữ phận đưa lên phải có sự ký duyệt ký phê duyệt của ban giám đốc. Phải trả của ban giám đốc.cho người bán Hóa đơn mua hàng phải đính kèm Hóa đơn mua hàng không đính kèm 2 bảng báo giá, giấy đề nghị mua giấy đề nghị mua hàng, bảng báo hàng. giá.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 68
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Khoản ST Các thuộc tính Sai phạm mục T 1 Hóa đơn bán hàng ghi đầy đủ các Hóa đơn bán hàng không ghi đầy nội dung trên hóa đơn. đủ nội dung trên hóa đơn. 2 Có chữ ký xác nhận của nhân viên Hóa đơn trên cùi gốc không có chữ kiểm tra, so sánh giá trên hóa đơn ký xác nhận của nhân viên kiểm tra. lưu tại cùi hóa đơn. Doanh 3 Hóa đơn bán hàng có đính kèm Hóa đơn bán hàng không đính kèm thu đơn đặt hàng đã được phê duyệt và đơn đặt hàng đã được phê duyệt và chứng từ vận chuyển. chứng từ vận chuyển. 4 Các nội dung trên hóa đơn bán Các nội dung trên hóa đơn bán hàng hàng phải khớp đúng với nội dung có sự sai lệch so với nội dung trên trên đơn đặt hàng và chứng từ vận đơn đặt hàng và chứng từ vận chuyển. chuyển. Xác định hướng kiểm tra thử nghiệm kiểm soát và xác định tổng thể chọn mẫu: STT Khoản các Hướng kiểm tra Tổng thể được chọn mẫu mục thuộc tính Kiểm tra các phiếu thu, phiếu chi có Toàn bộ các phiếu thu, phiếu chi 1 đủ chữ ký như đã quy định không. từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2010. Tiền Kiểm tra phiếu chi có đính kèm Toàn bộ phiếu chi từ ngày 2 mặt chứng từ gốc không. 01/01/2010 đến ngày 31/12/2010. Kiểm tra phiếu thu, phiếu chi có ghi Toàn bộ các phiếu thu, phiếu chi 3 đủ các nội dung trên phiếu không từ ngày 01/01/2010 đến ngày 31/12/2010. Kiểm tra đơn đặt hàng có được phê Toàn bộ đơn đặt hàng từ ngày 1 duyệt và ký xác nhận phê duyệt 01/01/2010 đến ngày 31/12/2010. không. Khoản Kiểm tra hóa đơn bán hàng có đính Toàn bộ hóa đơn bán hàng từ phải thu kèm với đơn đặt hàng hay không. ngày 01/01/2010 đến ngày 2 khách 31/12/2010. hàng Kiểm tra khách hàng được xét duyệt Danh sách toàn bộ các khách 3 bán chịu có nằm trong danh sách hàng được phê duyệt bán chịu có khách hàng không. ghi thời gian bán chịu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 69
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức STT Khoản các Hướng kiểm tra Tổng thể được chọn mẫu mục thuộc tính Kiểm tra đơn đặt hàng có chữ ký Toàn bộ đơn đặt hàng từ 1/1/2010 phê duyệt của trưởng phòng kinh đến ngày 31/12/2010. 1 doanh không. Kiểm tra phiếu xuất kho có đính Toàn bộ phiếu xuất kho từ ngày Hàng kèm các chứng từ đã quy định 1/1/2010 đến ngày 31/12/2010. 2, 3 tồn kho không. Phiếu xuất kho có ghi đầy đủ các nội dung trên phiếu hay không. Phiếu nhập kho có đính kèm các Toàn bộ phiếu nhập kho từ ngày 3, 4 chứng từ gốc quy định không. Phiếu 1/1/2010 đến ngày 31/12/2010. nhập kho có ghi đầy đủ các nội dung trên phiếu hay không. Kiểm tra sự phê duyệt của giấy đề Toàn bộ giấy đề nghị mua hàng Khoản 1 nghị mua hàng. từ ngày 1/1/2010 đến ngày phải trả 31/12/2010. người Kiểm tra hoá đơn mua hàng có được Toàn bộ hoá đơn mua hàng mua bán 2 đính kèm đầy đủ giấy đề nghị mua hàng từ ngày 1/1/2010 đến ngày hàng và bảng báo giá. 31/12/2010. Kiểm tra xem hoá đơn có được ghi 1 rõ đầy đủ các yếu tố trên hoá đơn không. Doanh Kiểm tra hóa đơn có chữ ký của Toàn bộ hoá đơn bán hàng từ 2 ngày 1/1/2010 đến ngày thu người kiểm tra hay không. Kiểm tra hóa đơn có đính kèm đơn 31/12/2010. 3 đặt hàng và phiếu vận chuyển hay không. Xác định cỡ mẫu: Ở bước này, em xin lấy ví dụ minh họa cho việc xác định cỡ mẫu của khoản mục tiền mặttại công ty khách hàng ABC trên. Trong chọn mẫu thuộc tính, để xác định cỡ mẫu cần xác định được bốn yếu tố: rủi ro vềđộ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ, tỉ lệ sai lệch chấp nhận được, tỉ lệ sai lệch tổng thểdựu kiến và quy mô tổng thể. - Rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ: mức rủi ro này luôn được xácđịnh phải nằm trong khoảng từ 5% - 10%. Ở công ty ABC, mức rủi ro này được các KTV nhậnSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 70
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcđịnh là 10%, tức là mức tin cậy vào hệ thống KSNB là 90%. Sở dĩ chọn mức 10% là vì dù cácquá trình kiểm soát nội bộ đã khảo sát được chứng minh là hiệu quả, tuy nhiên vẫn còn một sốnhược điểm có thể ảnh hưởng đến quá trình kiểm soát. - Tỉ lệ sai lệch chấp nhận được: mức rủi ro kiểm soát ban đầu được các KTV đánh giá làthấp, cho nên, dựa vào bảng 1.1, ta thấy tỉ lệ sai lệch chấp nhận được là trong khoảng từ 2% -6%. Từ đó, có thể suy ra tỉ lệ sai lệch chấp nhận được cho từng thuộc tính trong khoản mục tiềnmặt như sau: Khoản mục Thuộc tính Đánh giá về tầm quan trọng Xác định mức TDR của thủ tục kiểm soát Thuộc tính này tương đối quan 6% 1 trọng Thuộc tính này quan trọng. 3% Tiền mặt 2 Thuộc tính này tương đối quan 6% 3 trọng - Tỉ lệ sai lệch tổng thể dự kiến: Theo lý thuyết, KTV có thể sử dụng kết quả mẫu của năm trước hoặc kiểm toán viên cóthể ước đoán tỉ lệ này dựa vào kinh nghiệm của mình với các thử nghiệm tương tự đã thực hiệnvới cuộc kiểm toán khác, hoặc bằng kiểm tra mẫu nhỏ. Ở đây, tỉ lệ sai phạm dự kiến của tổngthể được dựa trên kết quả của những năm trước, được sửa đổi tăng nhẹ do sự thay đổi nhân sựkế toán. Các mức tỉ lệ có thể xuất hiện là 1%, 2%, 3%, 4%. Khoản mục Thuộc tính Tỷ lệ sai phạm tổng thể dự kiến 1 2% 2 1% 3 2% Tiền mặt - Quy mô tổng thể: yếu tố này không cần xét đến vì ở đây quy mô tổng thể là lớn nên ảnhhưởng đến cỡ mẫu không đáng kể. - Xác định cỡ mẫu: Sau khi đã có đủ các yếu tố trên, căn cứ vào phụ lục 2, KTV sẽ xácđịnh được cỡ mẫu như sau: Tỉ lệ sai lệch Tỉ lệ sai lệch Rủi ro về độ tin Thuộc tổng thể dự chấp nhận cậy cao vào Cỡ mẫu tính kiến được HTKSNB 1 2 6 10 88 2 1 3 10 176SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 71
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức 3 2 6 10 88 Như vậy, đối với thuộc tính 1 và 3 của khoản mục tiền mặt, KTV sẽ chọn mẫu là 88 phầntử để kiểm tra, còn thuộc tính thứ 2 sẽ được kiểm tra với mẫu chọn là 176 phần tử.  Lựa chọn các phần tử của mẫu: Đối với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, kiểm toán viên có thể sử dụng phương phápchọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống và chọn mẫu bằng máy tính. Ở đây,KTV lựa chọn các phần tử của mẫu bằng cách chọn mẫu hệ thống được thực hiện trên Excel,giúp cho việc chọn mẫu dễ dàng hơn và tiết kiệm được thời gian. - Đối với thuộc tính 1 và 3, tổng thể là toàn bộ các phiếu thu và phiếu chi phát sinh từngày 1/1/2010 đến ngày 31/12/2010. Tại công ty ABC, trong năm 2010 có tất cả 2278 phiếuchi và 77 phiếu thu phát sinh. Như vậy, kích cỡ của tổng thể sẽ là: 2278 + 77 = 2355 đơn vị, tức là N = 2355 Cỡ mẫu: n = 88 Suy ra, khoảng cách mẫu là: k = N/n = 2355/88 = 26,7 Kết quả này sẽ được làm tròn xuống 26 để chọn đủ số phần tử theo mẫu yêu cầu. Để tăng tính ngẫu nhiên cho mẫu được chọn, ta sẽ sử dụng 4 điểm xuất phát. Khi đó,khoãng cách mẫu điều chỉnh sẽ là: k’ = 26 x 4 = 104 Lúc này, 4 điểm xuất phát ngẫu nhiên sẽ có giá trị từ 1 đến 104. Sử dụng các hàm trongExcel, ta có:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 72
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Ở các ô B2, C2, D2, E2 là các điểm xuất phát thứ 1, 2, 3, 4 được chọn ngẫu nhiên từ 1đến 104. Từ các ô này, sao chép công thức xuống các ô còn lại bằng cách cộng thêm khoãngcách mẫu k’ = 104 sao cho đủ 88 đơn vị trong mẫu. Từ các giá trị này, KTV sẽ đối chiếu với tổng thể để chọn ra các phiếu thu và phiếu chitương ứng. Lưu ý rằng, các giá trị này sẽ là số thứ tự của các phiếu thu và phiếu chi chứ khôngphải là số chứng từ theo quy định của đơn vị khách hàng. Sau khi đối chiếu, mẫu các phiếu thu và phiếu chi được chọn sẽ như sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 73
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Theo các giá trị ở bảng trên, các phiếu thu và phiếu chi lần lượt được chọn là: PT1, PC1,PC15, PC58... - Đối với thuộc tính thứ 2, cách thức chọn mẫu được tiến hành tương tự. Tổng thể là toànbộ các phiếu chi phát sinh từ ngày 1/1/2010 đến ngày 31/12/2010. Tại công ty ABC, trong năm2010 có tất cả 2278 phiếu chi. Kích cỡ tổng thể: N = 2278 Kích cỡ mẫu: n = 176 Suy ra, khoảng cách mẫu là: k = N/n = 2278/176 = 12,9 Kết quả này sẽ được làm tròn xuống 12 để chọn đủ số phần tử theo mẫu yêu cầu. Sau đó,các bước thực hiện chọn mẫu được tiến hành như trên.  Kiểm tra các phần tử của mẫu và suy rộng tổng thể Kiểm toán viên sẽ tiến hành kiểm tra các phần tử của mẫu về các thuộc tính đã được xácđịnh.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 74
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Kết quả kiểm tra mẫu được tổng hợp và căn cứ vào phụ lục 3 để xác định giới hạn xuấthiện trên của sai phạm: Tỉ lệ sai Tỉ lệ Rủi ro về Giới hạn lệch sai độ tin cậy xuất hiện tổng lệch Cỡ mẫu Số sai Mô tả các thuộc tính cao vào trên của thể cho phạm KTKSNB sai phạm dự phép (%) (%) kiến (%) (%) 1. Phiếu thu, phiếu chi có đủ chữ ký như trong 2 6 10 88 1 4,8 quy định của công ty. 2. Phiếu chi phải được đính kèm cùng các 1 3 10 176 2 3,3 chứng từ gốc hợp lệ. 3. Phiếu thu, phiếu chi phải ghi đầy đủ các nội 1 6 10 88 0 2,8 dung trên phiếu. Sau khi đã suy ra được giới hạn xuất hiện trên của sai phạm dựa vào phụ lục 3b, KTV sosánh giới hạn xuất hiện trên với tỉ lệ sai lệch cho phép. Các thuộc tính 1 và 3 có giới hạn xuấthiện trên nhỏ hơn tỉ lệ sai lệch cho phép, cho nên KTV nhận thấy các thuộc tính này là có thểtin tưởng được. Đối với thuộc tính thứ 2 cần phân tích sai sót như sau: Thuộc Số lượng Ảnh hưởng đến cuộc kiểm Bản chất của các sai sót tính các sai sót toán và nhận xét khác Kết quả là trong thử nghiệm cơ Các trường hợp này là hóa đơn bản cần kiểm tra kỹ tính hợp lệ 2 2 mua lẻ không ghi tên khách hàng. của các chứng từ đính kèm với phiếu chi.4.2.2. Kết hợp giữa chọn mẫu phân tầng TS và chọn mẫu CMA trong thử nghiệm chitiết: Như đã nói ở trên, chương trình chọn mẫu CMA có hạn chế lớn đó là khả năng cho mộtmẫu không đại diện vì chọn chủ yếu những nghiệp vụ có giá trị lớn, ngoài ra, việc xác định cỡmẫu chịu ảnh hưởng của việc tính toán mức trọng yếu chi tiết và mức độ đảm bảo. Việc thiếtlập này không chính xác thì mẫu chọn không có tính đại diện và rủi ro chọn mẫu có thể tăngSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 75
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứclên. KTV bằng nhận định nghề nghiệp của mình và những kết quả từ việc đánh giá hệ thốngkiểm soát nội bộ để đưa ra những chỉ tiêu này. Tuy nhiên, đây là một quá trình quan trọng đượcthực hiện ngay từ khi bắt đầu cuộc kiểm toán, cho nên muốn có được những chỉ tiêu này mộtcách chính xác nhất phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến năng lực của KTV. Để khắc phục hạn chế về khả năng cho một mẫu không đại diện, em xin đưa ra giải phápkết hợp giữa chọn mẫu phân tầng TS và chọn mẫu CMA. Nội dung của phương pháp này làphân khoản mục thành nhiều tầng khác nhau từ đó tiến hành chọn mẫu theo chương trìnhCMA. Như vậy, mẫu được chọn sẽ có tính đại diện cao hơn vì tránh được sự thiên lệch dochọn các phần tử, nghiệp vụ có giá trị lớn, đồng thời sẽ kiểm tra được các phần tử có giá trị âmhoặc bằng 0. Kỹ thuật chọn mẫu phân tầng TS là phương pháp chọn mẫu đại diện thống kê, phân bổcác mẫu sẽ chọn theo từng phần trên tổng số các nghiệp vụ phát sinh dựa trên số lượng mẫu sẽchọn. Khi sử dụng kỹ thuật này, số dư chọn mẫu (tổng thể chọn mẫu) của mỗi tầng sẽ được xácđịnh trên tổng của một nhóm các nghiệp vụ được phân tầng (tách ra khỏi số dư chung toàn bộ).Tổng số mẫu chọn của tầng nghiệp vụ sẽ bằng tổng số mẫu được chọn của số dư tài khoản đó. * Nguyên tắc chọn mẫu kết hợp: - Xác định các chỉ tiêu: P, MP, R, J để đưa vào chương trình CMA đối với khoản mục cần thực hiện chọn mẫu. - Tổng thể được phân thành 3 tầng: + Tầng 1: Các phần tử có giá trị âm. Tầng 1 được chọn để kiểm tra riêng. Tổng giá trịtầng này gọi là P1. + Tầng 2: Các phần tử lớn hơn bước nhảy J. Tầng 2 sẽ được lựa chọn toàn bộ. Tổng giátrị tầng này gọi là P2. + Tầng 3: Các giá trị còn lại lớn hơn 0 và nhỏ hơn bước nhảy J. Tầng 3 sẽ được đưa vàochương trình CMA để chọn mẫu với các chỉ tiêu MP, R, J là không đổi. Tổng thể mới lúc nàysẽ được tính như sau: P3 = P – (P1 + P2)SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 76
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Việc kết hợp như vậy có thể làm giảm cỡ mẫu, trong khi đó vẫn đảm bảo được tính trọngyếu (nằm vào các phần tử có giá trị lớn) mà không bỏ qua việc kiểm tra các phần tử có giá trịnhỏ và các phần tử có giá trị âm. Để thấy rõ hơn ưu điểm của việc kết hợp giữa hai kỹ thuậtchọn mẫu này, em xin đưa ra một ví dụ minh họa đối với khoản mục doanh thu tại công tyABC. Sở dĩ chọn công ty này vì trên thực tế, khoản mục doanh thu tại công ty này chưa đượcthực hiện chọn mẫu bằng phương pháp chọn mẫu thống kê. Các chỉ tiêu được xác định như sau: - Giá trị tổng thể: P = 48.232.706.690 (gồm 62 nghiệp vụ phát sinh trong năm 2010). - Mức trọng yếu chi tiết: MP = 522.436.252 Mức trọng yếu chi tiết tại công ty ABC được xác định trong giai đoạn lập kế hoạch, trêncơ sở lấy chỉ tiêu tổng tài sản với tỉ lệ ước tính mức trọng yếu là 1%. Mức trọng yếu chi tiếtbằng 75% mức trọng yếu tổng thể.Giá trị tiêu chí được lựa chọn Mức trọng yếu tổng thể Mức trọng yếu thực hiện69.658.166.978 696.581.669 522.436.252 - Mức độ đảm bảo: R = 1,7 - Bước nhảy: J = MP/R = 307.315.442 * Tổng thể được chia làm 3 tầng: - Tầng 1: Các nghiệp vụ có giá trị âm, gồm 3 nghiệp vụ. P1 = - 39.402.410 - Tầng 2: Các nghiệp vụ có giá trị lớn hơn bước nhảy J, gồm 22 nghiệp vụ, P2 =45.305.544.513 - Tầng 3: Các nghiệp vụ có giá trị lớn hơn 0 và nhỏ hơn bước nhảy J, gồm 37 nghiệp vụcòn lại, P3 = 2.966.564.590 * Chọn mẫu bằng chương trình CMA: Điền các chỉ tiêu vào chương trình, ta có:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 77
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Cỡ mẫu bằng 10, tức là có 10 phần tử được chọn ra từ 37 phần tử theo chương trìnhCMA. Mẫu được chọn ra như sau: Như vậy, đối với khoản mục doanh thu tại công ty ABC, KTV sẽ kiểm tra tổng cộng 35phần tử. Trong đó, 3 phần tử có giá trị âm là nghiệp vụ điều chỉnh giảm doanh thu, 22 phần tửcó giá trị lớn và 10 phần tử được chọn ra từ chương trình CMA. Cách chọn này vẫn đảm bảođược tính trọng yếu vì các khoản mục có giá trị lớn (P2 = 45.305.544.513) chiếm 94% giá trịcủa tổng thể ban đầu và các nghiệp vụ bất thường làm giảm doanh thu đều được kiểm tra toànbộ. Trong khi đó, các phần tử có giá trị nhỏ hơn vẫn được chọn mẫu để kiểm tra dựa trên cáccông thức toán học nên có thể định lượng được rủi ro chọn mẫu này. Với ví dụ nêu trên, nếu chọn mẫu theo chương trình CMA với tổng thể ban đầu P =48.232.706.690 thì cỡ mẫu tính được là 157. Quá trình chọn như sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 78
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Mẫu được chọn như sau: Sở dĩ cỡ mẫu lớn như vậy là do chịu ảnh hưởng của tổng thể, công ty ABC có doanh thuchủ yếu là từ việc xây dựng công trình, cho nên giá trị mỗi hóa đơn là rất lớn. Khi xác định chỉtiêu “Number of Selection”, chương trình CMA căn cứ vào giá trị của hóa đơn. Hóa đơn có sốtiền càng lớn, giá trị “Number of Selection” càng cao. Giá trị này càng cao thì tính đại diện củanghiệp vụ trong mẫu càng lớn. Mặc dù vậy nhưng cỡ mẫu lớn thì số phần tử được chọn vàoSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 79
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcmẫu càng nhiều, như ví dụ trên thì gần như là toàn bộ các hóa đơn đều được chọn, điều này làmcho mục tiêu của việc chọn mẫu không được đảm bảo, không tiết kiệm được thời gian và chiphí cho cuộc kiểm toán. Hơn thế nữa, một hạn chế thấy rõ khi chỉ chọn bằng CMA là khôngbao gồm các nghiệp vụ có giá trị âm, và mẫu trên đã bỏ qua việc kiểm tra các phần tử có giá trịnhỏ do không được chọn vào mẫu. Lúc này, tính đại diện của mẫu chọn đã bị ảnh hưởng. Từ những phân tích trên, có thể thấy được sự cần thiết của việc kết hợp giữa chọn mẫuphân tầng TS và CMA để khắc phục được những hạn chế có thể gặp phải khi thực hiện chọnmẫu theo chương trình CMA.4.2.3. Kết hợp chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản: Một vấn đề cơ bản luôn được đặt ra đối với các cuộc kiểm toán là phải tiến hành các thủtục kiểm toán sao cho vừa tiết kiệm được thời gian và chi phí vừa đảm bảo được hiệu quả củacuộc kiểm toán. Như đã trình bày ở phần thực trạng, tại công ty AAC, các thử nghiệm kiểmsoát và thử nghiệm chi tiết thường có sự tách biệt. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, khi màcác mục tiêu kiểm toán có thể cùng chung một tổng thể chọn mẫu thì KTV nên có sự kết hợpcác các mục tiêu kiểm toán này với nhau để có thể có chung tổng thể chọn mẫu, từ đó sẽ có sựkết hợp giữa chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm chi tiết để thực hiện thửnghiệm đôi trên mẫu chung được chọn. Nếu thực hiện được như vậy sẽ giúp KTV tiết kiệmđược thời gian chọn mẫu mà vẫn đạt được các mục tiêu kiểm toán. Sau đây, em xin đưa ra mộtgiải pháp có thể kết hợp để chọn mẫu như sau: Khi thực hiện thử nghiệm kiểm kiểm soát và thử nghiệm chi tiết một khoản mục cụ thể,chẳng hạn khoản mục tiền mặt, kiểm toán viên sẽ đưa ra các mục tiêu kiểm toán khác nhau. Đốivới những mục tiêu cùng chung tổng thể chọn mẫu, KTV sẽ tiến hành chọn một mẫu chungcho các mục tiêu và từ đó tiến hành kiểm tra kết hợp các thủ tục cần thực hiện trong thử nghiệmkiểm soát và thử nghiệm chi tiết. Khi đó xảy ra hai trường hợp sau: - Nếu ở hai thử nghiệm cỡ mẫu được xác định là như nhau thì việc kiểm tra được tiếnhành bình thường. - Nếu ở hai thử nghiệm cỡ mẫu được xác định khác nhau thì cỡ mẫu chung sẽ là cỡ mẫulớn hơn. Điều này sẽ đảm bảo cho mục tiêu của cả hai thử nghiệm đều được thực hiện. Tuynhiên, trong quá trình kiểm tra thì số phần tử được kiểm tra cho từng thử nghiệm là căn cứ vàoSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 80
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứccỡ mẫu được xác định trước cho chứ không phải kiểm tra toàn bộ mẫu chung được chọn cho cảhai thử nghiệm do cỡ mẫu của hai thử nghiệm ban đầu là khác nhau. * Quá trình thực hiện cụ thể như sau, ở đây sẽ xét đến trường hợp cỡ mẫu trong hai thửnghiệm là khác nhau: Đối với thử nghiệm kiểm soát các nghiệp vụ chi tiền, KTV xác định mục tiêu kiểm toánlà các phiếu chi phải có đủ các chữ ký như đã quy định. Tổng thể chọn mẫu là toàn bộ phiếu chitiền trong năm 2010. Cỡ mẫu được xác định là 200 phiếu chi. Đối với thử nghiệm chi tiết đối với nghiệp vụ chi tiền, kiểm toán viên xác định mục tiêukiểm toán là các nghiệp vụ chi tiền được ghi chép đầy đủ và có được đính kèm các chứng từgốc hay không. Khi đó tổng thể chọn mẫu là toàn bộ phiếu chi trong năm 2010. Cỡ mẫu đượcxác định là 250 phiếu chi. Như vậy, với tổng thể chung là toàn bộ phiếu chi trong năm 2010, cỡ mẫu chung sẽ chọnlà cỡ mẫu lớn hơn, tức là 250 phần tử. Kiểm toán viên sẽ tiến hành chọn 250 phiếu chi để tiếnhành kiểm tra, các cách thức chọn ra mẫu gồm 250 phần tử như vậy đã được trình bày ở cácphần trên nên ở phần này em không nhắc lại. Từ đó, để thực hiện thử nghiệm kiểm soát, KTVsẽ chỉ kiểm tra 200 phiếu chi trong mẫu, đối với thử nghiệm chi tiết kiểm toán viên kiểm trangoài 200 phiếu chi kiểm tra trong thử nghiệm kiểm soát còn kiểm tra thêm 50 phiếu chi cònlại trong mẫu. Điều đó có nghĩa là, sẽ có 150 phiếu chi trong mẫu sẽ được kiểm tra đôi, 50phiếu chi sẽ được kiểm tra riêng cho thử nghiệm chi tiết. Việc lựa chọn ra 200 phiếu chi trong250 phiếu để tiến hành các thủ tục thử nghiệm kiểm soát sẽ hoàn toàn ngẫu nhiên. Ưu điểm của cách làm này có thể được thấy rõ, đó là làm giảm một khối lượng lớn côngviệc cho KTV trong khi vẫn đảm bảo được các mục tiêu kiểm toán. Bởi vì, thay vì chọn mẫuhai lần cho hai thử nghiệm với số lượng mẫu mỗi lần chọn là 200 phiếu chi và 250 phiếu chi,KTv chỉ phải chọn mẫu 1 lần với cỡ mẫu chung là 250, do đó sẽ tiết kiệm được thời gian củaviệc chọn mẫu. Từ mẫu kiểm tra này, khi phát hiện các sai phạm, KTV có thể thống kê như sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 81
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Thử nghiệm Thử nghiệm chi tiết kiểm soát Phiếu Mục tiêu: Mục tiêu: Sự đầy đủ của các nghiệp vụ chi tiền và các chứng từ chi PC phải đính kèm phải có đủ các chữ ký. Diễn giải TKĐƯ Số tiền Ghi chúPC 12/1 PC 23/5 X Chi tạm ứng 141 3.500.000 Chưa ghi sổ.Đề nghị đơn vị bổ sungPC 46/8 X Mua văn phòng 642 2.200.000 Thiếu hóa đơn tài chính. phẩm Đề nghị đơn vị bổ sungPC 23/9 PC 87/9 Tổng 2 5.700.000 Dấu X thể hiện sai phạm trong thử nghiệm kiểm soát.4.2.4. Thiết kế giấy làm việc cho quá trình chọn mẫu. Như đã trình bày ở phần hạn chế, trong quá trình thực hiện chọn mẫu trong thử nghiệmkiểm toán, kiểm toán viên chỉ thể hiện trên giấy làm việc bảng tổng hợp các sai phạm phát hiệntrong mẫu mà không thể hiện các yếu tố khác của quá trình chọn mẫu như: kỹ thuật chọn mẫu,phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu, tổng thể chọn mẫu, cỡ mẫu... Chính vì vậy, vớihạn chế này làm ảnh hưởng đến việc đánh giá chất lượng của cuộc kiểm toán. Để khắc phụcđược hạn chế trên, em đưa ra giải pháp về việc quy định trình bày trên giấy làm việc cho quytrình trình chọn mẫu. Giấy làm việc cho quá trình chọn mẫu gồm 2 phần, phần 1 trình bày tóm tắt các yếu tốcủa quá trình thiết kế mẫu và đánh giá kết quả mẫu, phần 2, bảng tổng hợp các sai phạm củacác phần tử trong mẫu. Việc thiết kế giấy làm việc như vậy giúp cho quá trình kiểm tra việc tiếnhành chọn mẫu cũng như quá trình tham khảo hồ sơ làm việc ở các cuộc kiểm toán sau thuậntiện hơn. Đồng thời, giấy làm việc cho quá trình chọn mẫu của từng khoản mục phải đính kèm vớicác giấy làm việc khác của các khoản mục đó. Với chọn mẫu phi thống kê áp dụng trong cả thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm chi tiết,thì mẫu được chọn phụ thuộc vào nhận định của KTV, cho nên KTV cần ghi rõ cách thức lựaSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 82
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức chọn các phần tử vào mẫu để từ đó làm căn cứ đánh giá việc chọn mẫu và để cho những KTV khác khi đọc giấy làm việc có thể hiểu được cách thức mà KTV tiền nhiệm đã tiến hành.  Đối với chọn mẫu thống kê trong thử nghiệm kiểm soát: Yêu cầu giấy làm việc phải trình bày cụ thể các nôi dung sau: - Tên khách hàng - Khoản mục kiểm toán - Mục tiêu kiểm toán - Tổng thể chọn mẫu - Xác định cỡ mẫu - Phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu - Các trường hợp có là kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính, cần trình bày thêm các hệ số liên quan đến việc xác định cỡ mẫu như: rủi ro về độ tin vậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ, tỉ lệ sai lệch tổng thể dự kiến, tỉ lệ sai lệch cho phép. - Tổng hợp các sai phạm trong mẫu - Đánh giá kết quả mẫu Giấy làm việc của qui trình chọn mẫu thuộc tính thống kê trong thử nghiệm kiểm soát: CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN - AAC Tên khách hàng: Công ty ABC Người lập: Ngày C1 Chủ đề: Qui trình chọn mẫu TNKS/ TK111. Người kiểm tra: Ngày Trang: .. ………....../.... Niên độ: .Mục tiêu: Xem xét tính hiệu quả của quá trình kiểm soát nội bộ đối với các nghiệp vụ thu và chi tiền.Tổng thể: 2355 phiếu thu và phiếu chi từ ngày 1/1/2010 đến hết ngày 31/12/2010.Kỹ thuật chọn mẫu: Kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính thống kê.Phương pháp chọn các phần tử của mẫu: Sử dụng chương trình chọn mẫu hệ thống. SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 83
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Giới hạn Rủi ro về xuất Tỉ lệ sai Tỉ lệ sai độ tin cậy hiện lệch tổng lệch cho Cỡ mẫu Số sai Mô tả các thuộc tính cao vào trên của thể dự phép phạm KTKSNB sai kiến (%) (%) (%) phạm (%)1. Phiếu thu, phiếu chi cóđủ chữ ký như trong quy 2 6 10 88 1 4,8định của công ty.2. Phiếu chi phải được đínhkèm cùng các chứng từ 1 3 10 176 2 3,3gốc hợp lệ.3. Phiếu thu, phiếu chi phảighi đầy đủ các nội dung 1 6 10 88 0 2,8trên phiếu. Kết luận: 1/ Ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán: Các thuộc tính 1,3 có thể tin tưởng được, còn thuộc tính 2cần lưu ý kiểm tra kỹ tính hợp lý và đầy đủ của các chứng từ gốc đính kèm với phiếu chi đối với thửnghiệm cơ bản. 2/ Đưa ra ý kiến với khách hàng: Mỗi trường hợp sai sót cần được thảo luận với khách hàng và tưvấn khách hàng để cải thiện quá trình kiểm soát nội bộ đối với các nghiệp vụ thu và chi tiền.  Đối với chọn mẫu thống kê trong thử nghiệm kiểm soát: Công ty AAC áp dụng kỹ thuật chọn mẫu CMA hoặc kết hợp giữa chọn mẫu phân tầng TS với chọn mẫu CMA nên có thể in dữ liệu trực tiếp từ máy tính. Tuy nhiên, việc chọn mẫu vẫn phải được thiết kế trên giấy làm việc với các nội dung sau: - Tên khách hàng - Khoản mục kiểm toán - Mục tiêu kiểm toán - Hướng kiểm tra - Tổng thể chọn mẫu - Các yếu tố liên quan đến việc xác định cỡ mẫu sử dụng trong chương trình như: mức trọng yếu chi tiết MP, mức độ đảm bảo R, bước nhảy J, số ngẫu nhiên. - Tổng hợp các sai phạm trong mẫu SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 84
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức - Suy rộng tổng thể và đánh giá kết quả kiểm tra Lưu ý rằng giấy làm việc phải được đính kèm các tài liệu liên quan đến việc chọn mẫu như các dữ liệu được in ra từ chương trình CMA... Giấy làm việc của quy trình chọn mẫu CMA trong thử nghiệm chi tiết: CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN - AAC Tên khách hàng: Công ty ABC Người lập: Ngày C1 Chủ đề: Quy trình chọn mẫu TNCT/ TK 511. Người kiểm tra: Ngày Trang: .. ………....../.... Niên độ: . Mục tiêu: - Các nghiệp vụ bán hàng được phản ánh trên sổ sách là thực sự phát sinh. - Mọi nghiệp vụ bán hàng đều được ghi chép đầy đủ. - Doanh thu được hạch toán đúng niên độ. - Các nghiệp vụ phát sinh được cộng dồn và hạch toán chính xác. Tổng thể: Tổng giá trị tiền tệ lũy tiến của khoản mục doanh thu. Kỹ thuật chọn mẫu: Kỹ thuật chọn mẫu thống kê Phương pháp chọn các phần tử của mẫu: Sử dụng chương trình chọn mẫu CMA. Các yếu tố dùng để xác định cỡ mẫu: Chỉ tiêu P MP R J Giá trị 48.232.706.690 522.436.252 1,7 307.315.442 Thực hiện chọn mẫu: in dữ liệu chi tiết đính kèm. Kiểm tra và đánh giá kết quả mẫu: thực hiện kiểm tra trên mẫu và ghi chú trên Excel, sau đó indữ liệu ra đính kèm. Kết luận: 1. Các mục tiêu kiểm toán được đảm bảo. SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 85
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊIII.1. Kết luận: Đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báocáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” được thực hiện đã đạt đượcnhững kết quả nhất định. Trước hết, đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề về lý luận liên quan đếnkỹ thuật chọn mẫu từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác nhau. Điều này giúp cho các tác giảnghiên cứu sau có thể hình dung và khái quát được quá trình mà người viết tiến hành việc thựchiện đề tài. Những lý luận đó là những tiền đề cơ bản để đi sâu nghiên cứu kỹ thuật chọn mẫutại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC, bao gồm: các khái niệm liên quan đến kỹ thuậtchọn mẫu, các phương pháp chọn mẫu, các phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu và quytrình chọn mẫu được thực hiện trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán. Chính những lý luậnnày đã làm cơ sở cho việc phân tích sự vận dụng của kỹ thuật chọn mẫu vào kiểm toán BCTCtại công ty khách hàng ABC và XYZ. Khi đi vào phân tích thực trạng vận dụng kỹ thuật chọnmẫu, đề tài đã tập trung vào việc tìm hiểu trong từng quy trình của cuộc kiểm toán với từng kỹthuật chọn mẫu được áp dụng bao gồm cả chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê. Qua quá trình tìm hiểu và phân tích thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu, đề tài đã chỉra được những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện. Trên cơ sở chỉ ranhững hạn chế, đề tài cũng đã nêu ra được những giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫutrong kiểm toán BCTC mà công ty AAC đang thực hiện. Những giải pháp này được đưa ra saukhi người viết đã tìm hiểu về thực tế vận dụng cho nên mang tính ứng dụng cao, phù hợp vớiđặc điểm cụ thể của công ty AAC. Các giải pháp mà đề tài tập trung đưa ra là tăng cường sửdụng chọn mẫu thống kê trong cả thử nghiệm kiểm soát lẫn thử nghiệm cơ bản. Trong thửnghiệm kiểm soát nên sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuộc tính có sự vận dụng của máy tính(chương trình Excel) để tiết kiệm thời gian cho cuộc kiểm toán. Trong thử nghiệm chi tiết, trêncơ sở áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kê là kỹ thuật CMA, đề tài đã đưa ra được giải pháp làkết hợp giữa chọn mẫu phân tầng TS và chọn mẫu CMA. Sự kết hợp này có thể tránh cho việcgặp phải những hạn chế vốn có của chương trình chọn mẫu CMA mà công ty hiện đang ápdụng. Ngoài ra, đề tài cũng nêu ra được những giải pháp nhằm tiết kiệm thời gian và tạo ra sựthuận lợi trong quá trình thực hiện chọn mẫu như kết hợp chọn mẫu trong thử nghiệm kiểmsoát với thử nghiệm chi tiết và thiết kế giấy làm việc cho quá trình chọn mẫu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 86
    • Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Qua việc khái quát những nội dung mà đề tài đã thực hiện, người viết nhận thấy các mụctiêu nghiên cứu được đề ra đã đạt được: • Các lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính đã được tìm hiểu và hệ thống hóa. • Tìm hiểu và phân tích được các kỹ thuật chọn mẫu mà KTV công ty AAC áp dụng tại công ty khách hàng, từ đó chỉ ra ưu điểm và hạn chế của các kỹ thuật mà công ty đang áp dụng. • Đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC.III.2. Kiến nghị: Bên cạnh những kết quả đạt được đã nêu trên, đề tài “Thực trạng và giải pháp hoànthiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán vàKế toán AAC” vẫn còn gặp phải những thiếu sót do những hạn chế nhất định về điều kiện thờigian và không gian. Đề tài mới chỉ nêu ra được một số giải pháp trên cơ sở nhận thức có hạn vềlý thuyết chọn mẫu cũng như một vài kinh nghiệm trong quá trình tham gia thực tế kiểm toáncùng các KTV của công ty. Do vậy, để hoàn thiện được đề tài, em rất mong nhận được ý kiếnđóng góp của các thầy cô giáo trong Khoa và người đọc. Trong tương lai, nếu có điều kiện tiếp tục nghiên cứu đề tài về kỹ thuật chọn mẫu tại côngty AAC, em rất mong những người viết sau có thể đi sâu nghiên cứu hơn nữa để có thể đề xuấtnhững giải pháp mới, phù hợp hơn với tình hình, đặc điểm cụ thể của công ty khách hàng. Điềunày không chỉ góp phần hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu tại công ty AAC, mà còn đưa ra đượcnhững ứng dụng có tính thực tiễn cao của lý thuyết chọn mẫu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 87