PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ1. Lý do chọn đề tài    Kiểm toán là lĩnh vực đang dần được khẳng định và chiếm vị trí quan trọngtrong n...
k            k                                                            tại AAC trên cơ sởtổng hợp, hệ thống hóa lý luận...
để hệ thống thành           lý luận về đánh giá trọng yếu và rủiro kiểm toán trong kiểm toán BCTC                         ...
+        + Chương III:    -           -           –
:CHƢƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦIRO KIỂM TOÁN TRONG G1.1. Những vấn đề cơ bản về trọng yếu1...
Nói cách khác, trọng yếu xét trong mối quan hệ với nội dung kiểm toán,                                và tính hệ trọng của...
hạn, với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, số gốc có thể là doanh thu thuần;với bảng cân đối kế toán, số gốc có thể là...
o                   kho,…     Đây là một vấn đề rất quan trọng và KTV đặc biệt chú trọng khi xem xét mộtsai lệch có trọng ...
mặt là quy mô và bản chất của vấn đề, từ đó mới đưa ra quyết định hợp lý về tínhtrọng yếu, đảm bảo mục tiêu và chất lượng ...
cuộc kiểm toán, xác định phạm vi, thời gian và các thủ tục áp dụng kiểm toán cụthể.sơ đồ sau:         Bƣớc 1         Bƣớc ...
     Cơ sở xác lập mức trọng yếu        Mức trọng yếu là số tiền sai lệch tối đa có thể chấp nhận được của thông tin,nghĩ...
Cách tính: Có các cách tính nhƣ sau- Chọn tỷ lệ quy định sẵn tƣơng ứng với một giá trị cố định của chỉ tiêu đãđƣợc chọn   ...
Tỉ lệ: các công ty kiểm toán thường xác định mức trọng yếu dựa trên 0.5% -2% tài sản thuần       Sau khi tính toán các chỉ...
Cơ sở xác lập               Số liệu trên BCTC   Tỷ lệ       Số tiền                            (Triệu VNĐ)         (%)    ...
sinh chỉ ảnh hưởng đến các khoản mục trên Bảng CĐKT). Hơn nữa trên bảngCĐKT chứa đựng nhiều khoản mục phản ánh tình hình t...
việc xác lập mức trọng yếu và phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục đượcthực hiện bởi các KTV có nhiều kinh nghiệm và t...
hạn về quản lý và giới hạn về chi phí kiểm toán. Trong mối quan hệ này rủi ro kiểmtoán và chi phí có mối quan hệ tỷ lệ ngh...
Rủi ro tiềm tàng                                                                   Có    Rủi ro kiểm soát                 ...
KTV thường dựa vào kinh nghiệm và sự xét đoán nghề nghiệp của mình đểđánh giá rủi ro tiềm tàng dựa trên những nhân tố chủ ...
nhiều đơn vi phụ thuộc, hoạt động trên địa bàn rộng thì có khả năng cập nhật, tổnghợp số liệu có nhiều sai sót…           ...
Các loại nghiệp vụ có liên quan đến việc thay đổi chính sách kế toán              trong niên độ:       Chính sách kế toán ...
các chính sách này; về những yêu cầu và đề xuất của Ban Giám đốc và của cácthành viên khác có liên quan.      + Quan sát t...
phải dựa vào sự hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, cụ thểlà các thành phần của hệ thống kiểm soát...
- Tuy xử lí dữ liệu bằng phương pháp điện tử, nhưng đơn vị không tách rờigiữa các chức năng như chức năng khai thác và chứ...
. Mục đích của việc đánhgiá này là nhằm lập kế hoạch kiểm toán chi tiết cho từng khoản mục và loại nghiệpvụ trên BCTC.    ...
Tùy theo sự đánh giá của mình về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát kết hợpvới mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được mà KT...
 Mô hình định tính       Dựa trên cơ sở đánh giá của KTV về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát,mức rủi ro phát hiện đượ...
mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với các bộ phận hợp thành của nó được biểu hiệnnhư sau:                              AAR...
được đánh giá để xác định rủi ro phát hiện chấp nhận được. Căn cứ rủi ro phát hiệnchấp nhận được để xác định nội dung, lịc...
 Ở mức độ khoản mục hay bộ phận: việc đánh giá rủi ro trong từng khoảnmục trước hết sẽ chịu ảnh hưởng của mức rủi ro đã đ...
Chính vì thế, khả năng để kiểm toán viên nhận xét không xác đáng về báocáo tài chính là điều luôn có thể xảy ra. Vấn đề đặ...
 Khi kiểm toán cho các công ty mà theo sự hiểu biết của KTV, công ty           đang hoạt động có nhiều rủi ro trong kinh ...
những sai lệch trọng yếu sẽ được giảm xuống thấp ở mức chấp nhận được cũng nhưduy trì sự cân bằng giữa chi phí và chất lượ...
CHƢƠNG II:                                      AAC2.1. Giới thiệu về công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC2.1.1. Lịch sử ...
Ngày 06/01/2008 vừa qua, AAC đã được Hội đồng xét trao giải “ Thương mạiDịch vụ - Top Trade Services 2007 ” - Bộ Thương mạ...
Bản…và có nhiều kinh nghiệm thực tế về kiểm toán và tư vấn tài chính – kế toán-thuế ở Việt Nam và quốc tế, 100% đội ngũ ki...
- Kiểm toán tuân thủ     - Kiểm toán nội bộ     - Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế     - Kiểm toán thông tin t...
doanh để tăng lợi ích của chủ sở hữu công ty. Đối với nhiều cá nhân thuế thu hútđược sự quan tâm ngày càng nhiều hơn. Với ...
Công ty sách thiết bị Gia Lai    Công ty xây lắp Thừa Thiên Huế    Công ty cổ phần kinh doanh nhà Thừa Thiên Huế    …………. ...
Phòng giám đốc      Phòng                   Phòng                                          Phòng       hành               ...
kiểm toán viên và kỹ thuật viên trong công ty. Hiện nay, toàn công ty có 100 nhânviên trong đó khoảng 27 được công nhận ki...
Chịu trách nhiệm trước phó tổng giám đốc và pháp luật Việt Nam- Trưởng, phó phòng: Mỗi lĩnh vực chuyên môn có một trưởng p...
trường kinh doanh, những trường đại học và người có trình độ kinh nghiệm thực tếtrong lĩnh vực kiểm toán và kế toán có thể...
tin và uy tín đối với khách hàng. Quy trình chuẩn bị kiểm toán ở công ty TNHHkiểm toán và kế toán AAC gồm hai giai đoạn là...
giản thì có thể chỉ cần hai nhân viên cho cuộc kiểm toán đó, trong đó có một kiểmtoán viên làm trưởng đoàn.b. Lập kế hoạch...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kê...
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH kiểm toán và kế toán A

4,701 views

Published on

Luận văn: Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
Tham khảo tại: http://luanvan.forumvi.com/t179-topic

Published in: Education
2 Comments
4 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và CAO HỌC (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE: 10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • http://crackidmfree.comcom/crack idmcrack idmfake serial number idmcrack idmIDM was registered with a fake serial number
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
4,701
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
120
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
2
Likes
4
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Giải pháp nâng cao vai trò việc xác lập mức trọng yếu và đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH kiểm toán và kế toán A

  1. 1. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ1. Lý do chọn đề tài Kiểm toán là lĩnh vực đang dần được khẳng định và chiếm vị trí quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù mới ra đời và phát triển trong hơn 15 nămnhưng số lượng các công ty kiểm toán đã ngày càng gia tăng, chứng tỏ nhu cầu đốivới lĩnh vực này ngày càng cao. , Kiểm toán Báo cáo tài chính luôn là dịch vụ truyền thống và chiếm tỷtrọng lớn trong doanh thu của các công ty kiểm toán hiện .dựng một kế hoạch kiểm toán hợp lý góp phần nâng cao chất lượng cũng như hiệuquả của cuđiểm chưa hoàn thiện do đây là một công việc khó và đòi hỏi trình độ phán xét củakiểm toán viên. Được đánh giá là một trong k AAC em đã có cơ hội tiếpxúc, so sánh giữa lý thuyết và thực tế và nhận ra được rất nhiều kiến thức cũng nhưkinh nghiệm quý báu. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “AAC” để cho Luận văn tốt nghiệp của mình.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tàia. Mục tiêu tổng quát: - –
  2. 2. k k tại AAC trên cơ sởtổng hợp, hệ thống hóa lý luận và thực tiển c trọng yếu, rủi rokiểm toán trong kiểm toán BCTC tại AAC.b. Mục tiêu cụ thể: - . - . -3. Đối tƣợng nghiên cứu .4. Phạm vi nghiên cứu của đề tàia. Không gian Đề tài được thực hiện tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AACb. Thời gian Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ ngày 25/01/2011 đến ngày 28/03/20115. Phƣơng pháp nghiên cứua. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu - –
  3. 3. để hệ thống thành lý luận về đánh giá trọng yếu và rủiro kiểm toán trong kiểm toán BCTC .b. Phƣơng pháp thu thập số liệu - - - Tiến hành trao đổi với những người có liên quan đến các vấn đề cần tìmhiểu. Cụ thể là các kiểm toán viên chính, trợ lý kiểm toán hoặc nhân viên trongcông ty khách hàng như kế toán trưởng…c. Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích, xử lý số liệu - - . - Phương pháp so sánh, phân tích để chỉ ra những bất cập trong việc thiết lậpcác trọng yếu và rủi ro kiểm toán tại AAC -6. Kết cấu của khóa luận : - - ( 3 chương) + - –
  4. 4. + + Chương III: - - –
  5. 5. :CHƢƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC LẬP MỨC TRỌNG YẾU VÀ ĐÁNH GIÁ RỦIRO KIỂM TOÁN TRONG G1.1. Những vấn đề cơ bản về trọng yếu1.1.1 Khái niệm: – : “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin(một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính. c coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếutính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh h i sử dụngbáo cáo tài chính. Mức trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng và tính chất củathông tin hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Mức trọng yếu làmột ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phảicó. Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét cả trên phương diện định l ng vàđịnh tính.... Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định mức trọng yếu cóthể chấp nhận được để làm tiêu chuẩn phát hiện ra những sai sót trọng yếu về mặtđịnh lượng. Tuy nhiên, để đánh giá những sai sót được coi là trọng yếu, kiểm toánviên còn phải xem xét cả hai mặt định lượng và định tính của sai sót. Ví dụ: Việckhông chấp hành chế độ kế toán hiện hành có thể được coi là sai sót trọng yếu nếudẫn đến việc trình bày sai các chỉ tiêu trê sử dụngthông tin tài chính hiểu sai bản chất của vấn đề; hoặc trong báo cáo tài chính khôngthuyết minh những vấn đề có liên quan đến hoạt động không liên tục của doanhnghiệp.” - –
  6. 6. Nói cách khác, trọng yếu xét trong mối quan hệ với nội dung kiểm toán, và tính hệ trọng của phần nội dung cơ bản của kiểmtoán có ảnh hưởng đến tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối tượng kiểmtoán và việc sữ dụng thông tin đó để ra quyết định. Trên góc độ của người sử dụngthông tin, một cách đơn giản, trọng yếu được hiểu là một thông tin quan trọng vàcần được trình bày nếu có khả năng ảnh hưởng đến các quyết định của người sửdụng. .1.1.2. Đặc điểm1.1.2.1. Về mặt định lƣợng (quy mô) Yếu tố này thể hiện ở quy mô hay tầm cỡ của nghiệp vụ, khoản mục . Nếu một nghiệp vụ, một khoản mục có quy mô lớn đến mứcquyết định bản chất đối tượng kiểm toán thì được coi là trọng yếu, ngược lại cáckhoản mục, nghiệp vụ có quy mô nhỏ, hoặc quy mô lớn mà chưa đủ mức quyết địnhđến nhận thức về đối tượng thì không được coi là trọng yếu. kế toán viên và KTV mong muốn có được một con sốtuyệt đối chỉ dẫn cho họ về trọng yếu. Nhưng điều này là rất khó vì trọng yếu là mộtkhái niệm tương đối hơn là tuyệt đối và trong thực tế rất khó để ấn định một con sốcụ thể về tầm cỡ cho những điểm cốt yếu của nội dung kiểm toán, đặc biệt là khi cócác yếu tố tiềm ẩn. Một con số có thể là trọng yếu với công ty này nhưng khôngtrọng yếu với công ty khác .Bởi vậy, KTV thường quan tâm tới quy mô tương đối hơn quy mô tuyệt đối. . Quy mô tương đối là mối quan hệ tương quan giữa đối tượng cần đánh giávới một số gốc. Số gốc thường khác nhau trong những tình huống cụ thể. Chẳng - –
  7. 7. hạn, với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, số gốc có thể là doanh thu thuần;với bảng cân đối kế toán, số gốc có thể là tổng tài sản các KTV đều cho rằng “tổng hợp các sai phạm mà có tỷ lệ nhỏ hơn 5% so vớigiá trị thu nhập ròng thì được xem là không trọng yếu nhưng nếu lớn hơn 10% thìchắc chắn trọng yếu”. Nhưng có khi KTV sử dụng con số tuyệt đối để đánh giá tínhtrọng yếu. Một con số tuyệt đối là số thể hiện mức quan trọng mà không cần nhắcthêm một yếu tố nào khác. Ví dụ như, một vài KTV cho rằng “một triệu USD hoặcmột con số lớn hơn thì luôn là con số trọng yếu, không cần quan tâm đến vấn đề nàokhác”. Ngoài ra, khi xem xét quy mô trọng yếu, KTV nên cân nhắc cả sự ảnh hưởngluỹ kế của đối tượng xem xét. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 - Tínhtrọng yếu trong kiểm toán: “KTV cần xem xét tới khả năng có nhiều sai sót là tươngđối nhỏ nhưng khi tổng hợp lại có ảnh hưởng trọng yếu tới Báo cáo tài chính, như:một sai sót trong thủ tục hạch toán cuối tháng có thể trở thành một sai sót trọng yếu,tiềm tàng nếu như sai sót đó cứ tiếp tục tái diễn vào mỗi tháng”. Trên thực tế thì có rất nhiều sai phạm k thì trọng yếu, nhưng nếu tất cả các sai phạm thấy sự liên quan và tính hệ thống của sai phạm và khi đó phát hiệntính trọng yếu của chúng.1.1.2.2. Về mặt định tính (tính chất) Yếu tố này thể hiện ở tính hệ trọng, bản chất của nghiệp vụ, khoản mục.Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, KTV đánh giá tính trọng yếu cần tuỳ thuộc vàoloại hình, quy mô doanh nghiệp. Đồng thời cần có sự am hiểu tài chính kế toán, cácquy định pháp luật với doanh nghiệp và dựa vào kinh nghiệm nghề nghiệp củaKTV. Có những trường hợp số tiền chênh lệch thấp, tuy nhiên bản chất của sai lệchnày sẽ làm ảnh hưởng quan trọng đến báo cáo tài chính cũng như quyết định củangười sử dụng nó vì vậy đây vẫn được xem là s : - –
  8. 8. o kho,… Đây là một vấn đề rất quan trọng và KTV đặc biệt chú trọng khi xem xét mộtsai lệch có trọng yếu hay không? Ví dụ như trong quá trình kiểm tra khoản mục ), KTV phát hiện có dấu hiệu xảy ra thông đồng giữakế toán và ) bị chiếm dụng phát hiệnđược giá trị không lớn, nhưng đây là một dấu hiệu có xảy ra gian lận – – chi). Và vì vậy đây được đánh giá là mộtsai phạm trọng yếu. o Sai lệch có tác động dây chuyền và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến báo cáo tài chính. Ví dụ như việc phân bổ không hợp lý chi phí trả trước vào chi phí sản xuấtchung sẽ dẫn đến sự sai lệch về tài sản, giá vốn hàng bán và kết quả hoạt động kinhdoanh. ) o Một sự mô tả không đúng đắn hay không xác đáng về chính sách kế toáncủa doanh nghiệp có thể làm cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu sai về bảnchất các thông tin của đơn vị. Ví dụ như khi đơn vị thay đổi phương pháp tính giá trị hàng xuất kho, nhưngkhông công bố về lý do thay đổi và ảnh hưởng của chúng đến báo cáo tài chính.Điều này sẽ làm cho người sử dụng báo cáo tài chính có sự nhìn nhận không chínhxác về giá vốn hàng bán. Việc nhận định và đưa ra ý kiến kiểm toán phụ thuộc rất nhiều vào các khoảnmục, nghiệp vụ liên quan đến bản chất đối tượng kiểm toán. Vì vậy, khái niệmtrọng yếu đã đặt ra yêu cầu xác định nội dung kiểm toán với nguyên tắc không bỏqua các khoản mục, nghiệp vụ có quy mô lớn và có tính hệ trọng, phản ánh bản chấtđối tượng. Vi phạm nguyên tắc này có nghĩa là không nắm vững nội dung của trọngyếu thì KTV đã tạo ra rủi ro cho cuộc kiểm toán. Do đó, khi đánh giá tính trọng yếucủa một nội dung hay một phát hiện kiểm toán cụ thể, KTV phải xem xét trên cả hai - –
  9. 9. mặt là quy mô và bản chất của vấn đề, từ đó mới đưa ra quyết định hợp lý về tínhtrọng yếu, đảm bảo mục tiêu và chất lượng cuộc kiểm toán. , việc vận dụng khái niệm trọng yếu trong kiểm toán BCTC đòi hỏiKTV phải xem xét cả về mặt định lượng lẫn định tính của đối tượng cần đánh giá,phải sử dụng kỹ năng xét đoán nghề nghiệp của KTV và luôn tuân theo nguyên tắcthận trọng.1.1.3. Sự cần thiết phải xác lập mức trọng yếu Trong kiểm toán báo cáo tài chính, – ) nên KTVkhông thể phát hiện hết mọi sai lệch trong báo cáo tài chính. . : - . - . -1.1.4. Qu Trình tự tiến hành một cuộc kiểm toán gồm 3 giai đoạn là lập kế hoạch kiểmtoán, thực hiện kiểm toán và kết thúc cuộc kiểm toán. Việc đánh giá trọng yếu đượcthực hiện xuyên suốt trong quá trình này. Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV căn cứ vào các thông tin thu thập banđầu về đối tượng kiểm toán để đánh giá sơ bộ mức trọng yếu tổng thể và ước tínhmức độ sai sót có thể bỏ qua cho từng khoản mục. Việc sơ bộ xác lập mức trọngyếu trong giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong việc lập kế hoạch chi tiết cho - –
  10. 10. cuộc kiểm toán, xác định phạm vi, thời gian và các thủ tục áp dụng kiểm toán cụthể.sơ đồ sau: Bƣớc 1 Bƣớc 2: Phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục Sơ đồ 1.1- Qui trình : Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu được thực hiện trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán, mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu chính là giá trị sai lệchtối đa có thể được chấp nhận, nghĩa là với những sai lệch (gian lận hoặc sai sót) nhỏhơn hoặc bằng mức này thì không được coi là trọng yếu và có thể bỏ qua. Mức ướclượng ban đầu về tính trọng yếu được thiết lập cho tổng thể BCTC. Mức này có ảnhhưởng trực tiếp đến việc xây dựng kế hoạch kiểm toán, nếu mức trọng yếu càngthấp thì mức sai sót có thể bỏ qua càng nhỏ. Do đó, KTV phải thiết lập các thủ tụckiểm toán nhiều hơn, cần lấy mẫu kiểm toán nhiều hơn, cần thu thập nhiều bằngchứng hơn để giảm sai lệch tổng thể đến bằng hoặc nhỏ hơn mức trọng yếu đã đượcthiết lập. - –
  11. 11.  Cơ sở xác lập mức trọng yếu Mức trọng yếu là số tiền sai lệch tối đa có thể chấp nhận được của thông tin,nghĩa là nếu sai lệch vượt khỏi số tiền đó sẽ làm người đọc hiểu sai về thông tin.Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung củathông tin cần phải có. Một vài cơ sở thường được các KTV sử dụng khi xác lập mức trọng yếu: o Nếu dựa trên Bảng cân đối kế toán: cõ sở để xác lập mức trọng yếu có thể là nguồn vốn, tổng tài sản hay tổng nợ phải trả. o Nếu dựa trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Cơ sở sẽ là: lãi (lỗ) thuần, doanh thu hay chi phí cho năm tài chính hiện hành hoặc lãi (lỗ) thuần, doanh thu hay chi phí tính trung bình cho một số năm (bao gồm năm hiện hành) nếu những chỉ tiêu này thay đổi đáng kể từ năm này sang năm khác. o Nếu dựa trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Đó là dòng tiền thuần trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, tài chính năm hiện tại hoặc cho một số năm (bao gồm cả năm hiện hành). Dựa trên các chỉ tiêu tài chính đó, đơn vị kiểm toán lựa chọn phương phápthích hợp để xác lập mức trọng yếu  Phƣơng pháp xác lập mức trọng yếu Xem xét tính trọng yếu ở giác độ này, KTV có thể lựa chọn các chiến lượckiểm toán phù hợp trong kế hoạch và chương trình kiểm toán. KTV phải ước tínhtoàn bộ sai lệch có thể chấp nhận được để đảm bảo rằng báo cáo tài chính không cósai lệch trọng yếu. Mức trọng yếu được xác lập trên cở sở xác lập mức trọng yếu được chọn hợplý và tỷ lệ sử dụng cụ thể cho từng cơ sở đã chọn. Tuy nhiên việc lựa chọn tỷ lệ cócác cách khác nhau, thường thì các công ty kiểm toán quy định trong chính sách vềmức trọng yếu của mình. - –
  12. 12. Cách tính: Có các cách tính nhƣ sau- Chọn tỷ lệ quy định sẵn tƣơng ứng với một giá trị cố định của chỉ tiêu đãđƣợc chọn Theo cách này, để tính ra mức trọng yếu, cần có các tỷ lệ thích hợp tươngứng với từng chỉ tiêu tài chính được lựa chọn làm cơ sở. Và tùy thực trạng hoạtđộng tài chính tại từng đơn vị khách hàng, tùy mục đích của người sử dụng thôngtin mà KTV lựa chọn chỉ tiêu tài chính cho phù hợp. + Lợi nhuận trước thuế: Được áp dụng khi đơn vị có lãi ổn định. Lợi nhuận là chỉ tiêu được nhiềuKTV lựa chọn vì đó là chỉ tiêu được đông đảo người sử dụng báo cáo tài chính quantâm, nhất là cổ đông của các công ty. Tỉ lệ: các công ty kiểm toán thường xác định mức trọng yếu dựa trên 5% -10% lợi nhuận trước thuế. + Doanh thu bán hàng: Được áp dụng khi đơn vị chưa có lãi ổn định nhưng đã có doanh thu ổn địnhvà doanh thu là một trong những nhân tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạtđộng. Tỉ lệ: các công ty kiểm toán thường xác định mức trọng yếu dựa trên 0.5%-1% doanh thu. + Tổng tài sản Được áp dụng khi đối với các công ty có khả năng bị phá sản, có lỗ lũy kếlớn so với vốn góp. Người sử dụng có thể quan tâm nhiều hơn về khả năng thanhtoán thì việc sử dụng chỉ tiêu tổng tài sản là hợp lý. Tỉ lệ: các công ty kiểm toán thường xác định mức trọng yếu dựa trên 0.25% -1% tổng tài sản + Tổng tài sản thuần Được áp dụng khi đơn vị trong giai đoạn chuẩn bị sản xuất kinh doanh, chưacó doanh thu, không có lỗ lũy kế lớn. - –
  13. 13. Tỉ lệ: các công ty kiểm toán thường xác định mức trọng yếu dựa trên 0.5% -2% tài sản thuần Sau khi tính toán các chỉ tiêu trên sẽ lấy giá trị trung bình để làm mức trọngyếu tổng thể cho BCTC. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, để thận trọng,KTV thường xác lập mức trọng yếu tổng thể ban đầu thấp hơn mức chỉ đạo chungcủa công ty. Việc thiết lập mức trọng yếu tổng thể thấp hơn sẽ đồng nghĩa với việclàm tăng thêm khối lượng công việc kiểm toán, tăng thêm chi phí nhưng điều đó lạilàm giảm đi mức độ rủi ro kiểm toán.- Tỷ lệ đƣợc chọn tùy theo khoảng giá trị của cơ sở xác lập mức trọng yếu Dùng 1 chỉ số tài chính nhưng sẽ có một khoảng giá trị để chọn.Thí dụ:Theo cách này, mức tỷ lệ % được áp dụng là một chuỗi giá trị chứ không là một giátrị cố địnhVí dụ: ta có các mức Lợi nhuận trước thuế và tỷ lệ % tương ứng như sau:Lợi nhuận trước thuế Tỷ lệ< 100.000.000 VNĐ 10%100.000.000 – 500.000.000 VNĐ 9%500.000.000 - 1.000.000.000 VNĐ 8%1.000.000.000 – 2.000.000.000 VNĐ 7%2.000.000.000 – 3.000.000.000 VNĐ 6%>3.000.000.000 VNĐ 5% Ưu điểm của cách này là KTV có thể linh hoạt lựa chọn mức tỷ lệ % khác nhau tùy vào sự xét đoán nghề nghiệp- Mức trọng yếu có thể đƣợc lựa chọn từ nhiều giá trịCách thức của phương pháp này là sử dụng các chỉ tiêu khác nhau trên báo cáo tàichính nhân với các tỷ lệ tương ứng, sau đó sẽ xác định Mức trọng yếu bằng cáchchọn số lớn nhất, số nhỏ nhất hoặc số bình quân. Ví dụ minh họa: - –
  14. 14. Cơ sở xác lập Số liệu trên BCTC Tỷ lệ Số tiền (Triệu VNĐ) (%) (Triệu VNĐ)Tổng tài sản 30.000 1 300Doanh thu thuần 20.000 0.5 100LN trước thuế 2.000 10 200Tùy theo sự xét đoán và kinh nghiệm của từng KTV mà mức trọng yếu cho tổng thểBáo cáo tài chính sẽ là:  Số lớn nhất: 300 (triệu VNĐ)  Số nhỏ nhất: 100 (triệu VNĐ)  Số bình quân: 200 (triệu VNĐ) Trong thực tế thì KTV thường sử dụng số nhỏ nhất hoặc số bình quân và rấtít trường hợp dùng số lớn nhất vì nguyên tắc thận trọng. 2: từng khoản mục trên BCTC (TE– Tolerable Errors) Sau khi xác lập được mức trọng yếu ban đầu cho tổng thể BCTC, KTV tiếnhành phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục trên BCTC. Mức phân bổcho từng khoản mục chính là mức trọng yếu cho từng khoản mục đó, đây chính làmức sai lệch tối đa có thể được bỏ qua vì theo xét đoán của KTV thì mức sai lệchấy không ảnh hưởng trọng yếu đến tính trung thực và hợp lý của khoản mục. Việc phân bổ mức trọng yếu tổng thể cho từng khoản mục là rất cần thiết, vìđó là cơ sở để xác định số lượng bằng chứng đẩy đủ và thích hợp để hình thành nêný kiến của KTV cho từng khoản mục và trên cơ sở đó để tổng hợp đánh giá vềnhững sai lệch trên toàn bộ BCTC có trọng yếu hay không. KTV có thể phân bổ mức trọng yếu tổng thể cho các khoản mục trên bảngCĐKT và trên báo cáo kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, phần lớn các sai lệch của cácchỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh đều ảnh hưởng tương ứng đến các chỉ tiêutrên bảng CĐKT (vì theo nguyên tắc ghi sổ kép, hầu hết các nghiệp vụ kinh tế phátsinh có liên quan đến các khoản mục trên Báo cáo kết quả kinh doanh đều liên quanđến các khoản mục trên Bảng CĐKT nhưng lại có những nghiệp vụ kinh tế phát - –
  15. 15. sinh chỉ ảnh hưởng đến các khoản mục trên Bảng CĐKT). Hơn nữa trên bảngCĐKT chứa đựng nhiều khoản mục phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệpnhưng số lượng tài khoản kế toán phản ánh trên bảng CĐKT thường ít hơn số lượngtài khoản phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh nên KTV thường phân bổ mứctrọng yếu cho các khoản mục trên bảng CĐKT. Việc phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu được thực hiện theo haichiều hướng mà các gian lận và sai sót có thể xảy ra. Đó là sai lệch do ghi khống(số liệu trên BCTC lớn hơn thực tế) và ghi thiếu (số liệu trên BCTC nhỏ hơn thựctế). Chẳng hạn, phân bổ mức ước lượng trọng yếu ban đầu cho khoản mục “Tiềnmặt” là 10.000 đồng, thì khi kiểm toán nếu phát hiện thiếu hoặc thừa dưới 10.000đồng thì cũng đều được xem là không trọng yếu. Mức trọng yếu phân bổ cho từng khoản mục thường được thực hiện trênnhững cơ sở chủ yếu sau: + Mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát mà KTV đánh giá sơ bộ chokhoản mục. Nếu mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá là caođối với một khoản mục nào đó thì khoản mục đó được phân bổ mức sai lệch có thểbỏ qua là thấp và ngược lại. + Kinh nghiệm của KTV về những sai sót và gian lận đối với khoản mụcđó. Chẳng hạn, qua kiểm toán các đơn vị khác cùng ngành nghề hoặc kết quả kiểmtoán của năm trước chỉ ra rằng một khoản mục nào đó ít có sai lệch thì KTV sẽphân bổ mức sai lệch có thể bỏ qua lớn và ngược lại. + Chi phí kiểm toán cho từng khoản mục. Nếu khoản mục nào đòi hỏi việcthu thập bằng chứng tốn nhiều chi phí hơn thì phân bổ mức sai lệch có thể bỏ qualớn hơn và ngược lại. + Căn cứ vào chính sách phân bổ mức trọng yếu tổng thể cho từng khoảnmục trên BCTC. Như vậy, việc phân bổ mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho từngkhoản mục trên BCTC là tùy thuộc rất lớn vào sự xét đoán nghề nghiệp của KTV vàchính sách của từng công ty kiểm toán. Nếu việc phân bổ này là hợp lý thì sẽ gópphần tăng cường hiệu quả và giảm thiểu được rủi ro của cuộc kiểm toán. Do vậy, - –
  16. 16. việc xác lập mức trọng yếu và phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục đượcthực hiện bởi các KTV có nhiều kinh nghiệm và trình độ, như các trưởng đoàn kiểmtoán hoặc được sự soát xét của các thành viên Ban Giám đốc trước khi áp dụng.1. : : – : “Rủi ro kiểm toán: Là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ýkiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn cónhững sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát vàrủi ro phát hiện.” Rủi ro kiểm toán thường xảy ra theo hướng: báo cáo tài chính có những saiphạm trọng yếu, nhưng kiểm toán viên không phát hiện được, do đó đưa ra ý kiếnchấp nhận toàn bộ đối với báo cáo tài chính. Rủi ro kiểm toán luôn tồn tại do khả năng thực tế của kiểm toán viên, do giớihạn về thời gian và chi phí kiểm toán. Những người sử dụng thông tin tất nhiên chỉchấp nhận mức rủi ro kiểm toán thấp, từ đó đòi hỏi kiểm toán viên phải nỗ lực trongcông việc để có được một mức rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được. Nếu kiểmtoán viên mong muốn một tỷ lệ rủi ro kiểm toán thấp, có nghĩa là kiểm toán viênđòi hỏi một mức độ chắc chắn cao hơn của kết quả kiểm toán, hay nói cách khác,lượng bằng chứng cần thu thập phải tăng lên và chi phí kiểm toán sẽ tăng theo. Mức độ rủi ro kiểm toán dự kiến cao hay thấp quyết định khối lượng côngviệc kiểm toán phải tiến hành. Vì vậy, cần phải tiến hành nghiên cứu các thành phầncủa rủi ro kiểm toán, xem xét tác động của thành phần này đến khối lượng côngviệc kiểm toán cần phải tiến hành, cũng như đến trình tự và các thủ pháp kiểm toánthích hợp cần phải tiến hành. Trong thực tế, rủi ro kiểm toán thường xẩy ra do giới - –
  17. 17. hạn về quản lý và giới hạn về chi phí kiểm toán. Trong mối quan hệ này rủi ro kiểmtoán và chi phí có mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Rủi ro đạt tới toán Mức rủi ro kiểm Rủi ro mong muốn Bằng chứng kiểm toán (Chi phí) 11.2.2. Các bộ phận của rủi ro kiểm toán Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều giaiđoạn bằng các bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xácđịnh tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại. Để nghiên cứu và đánh giá cácnhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán, người ta phân chia rủi ro kiểm toán thànhba bộ phận là rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện – ). Hìnhdưới đây thể hiện các bộ phận của rủi ro kiểm toán: - –
  18. 18. Rủi ro tiềm tàng Có Rủi ro kiểm soát HTKSNB có phát hiện được hay không? Không Rủi ro phát hiện KTV phát hiện được bằng các thủ tục kiểm toán hay không? Không Rủi ro kiểm toán Ý kiến sai rủi ro cấu thành1.2.2.1. Rủi ro tiềm tàng a) Khái niệm Theo VSA số 400 về “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” thì: “Rủiro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mụctrong BCTC chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù cóhay không có HTKSNB” (3, tr.163). Như vậy, rủi ro tiềm tàng là xác suất tồn tại những sai phạm trọng yếu trênbáo cáo tài chính do các vấn đề bất thường tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh,trong môi trường kinh doanh hay trong bản chất các khoản mục. Đây là yếu tố rủi romang tính khách quan, thuộc về bản chất của đối tượng kiểm toán, các hoạt độngkiểm soát, kiểm toán không tạo ra nó. b) Nhân tố ảnh hƣởng - –
  19. 19. KTV thường dựa vào kinh nghiệm và sự xét đoán nghề nghiệp của mình đểđánh giá rủi ro tiềm tàng dựa trên những nhân tố chủ yếu sau: Xét trên toàn bộ báo cáo tài chính: Đặc điểm nhân sự của Ban Giám đốc: Sự liêm khiết, trình độ và kinh nghiệm của Ban Giám đốc cũng như sự thayđổi thành phần Ban quản lý trong niên độ kế toán. Trong đó đặc biệt lưu ý đến vaitrò và đặc điểm của người lãnh đạo cao nhất, vì đây là người có quyền quyết địnhphần lớn các chính sách của doanh nghiệp và có ảnh hưởng trọng yếu đến hầu hếtcác hoạt động của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp được lãnh đạo bởi một ngườithiếu trung thực, có những biểu hiện gian lận; hoặc doanh nghiệp đó thường xuyênthay đổi nhân sự trong Ban Giám đốc thì KTV phải đánh giá rủi ro tiềm tàng ở mứcđộ cao. Đặc điểm nhân sự của phòng kế toán: Trình độ và kinh nghiệm của Kế toán trưởng, của các thành viên chủ yếutrong phòng kế toán có liên quan trực tiếp đến quá trình tập hợp, xử lý và cung cấpthông tin trên BCTC. KTV cần xem xét, đánh giá liệu Ban Giám đốc và Kế toán trưởng doanhnghiệp có bị áp lực phải công bố BCTC sai sự thật. Chẳng hạn, doanh nghiệp thựctế kinh doanh thua lỗ liên tục, mất khả năng thanh toán không được các ngân hàngtruyền thống tiếp tục cho vay nên dự kiến phát hành trái phiếu để huy động vốn.Với áp lực này thì có khả năng dẫn đến việc trình bày BCTC sai sự thật về các chỉtiêu doanh thu, chi phí, lãi lỗ và khả năng thanh toán các khoản nợ. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, như: Quy trình công nghệ, cơ cấuvốn, các đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa vụ… có ảnh hưởngđến mức độ rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp. Chẳng hạn, một doanh nghiệp cóquy trình công nghệ lạc hậu thì khả năng trình bày giá vốn hàng tồn kho là thànhphẩm sản xuất có thể không đúng theo nguyên tắc thận trọng; một doanh nghiệp có - –
  20. 20. nhiều đơn vi phụ thuộc, hoạt động trên địa bàn rộng thì có khả năng cập nhật, tổnghợp số liệu có nhiều sai sót… Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Những biến động về kinh tế, cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thịtrường bán cũng tác động đến rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp. Một doanh nghiệphoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, mất dần thị phần thì KTV phảiđánh giá rủi ro tiềm tàng là rất cao để thiết lập các thủ tục kiểm toán. Xét tại các khoản mục: Kết quả của các lần kiểm toán trước: Việc đánh giá rủi ro trên từng khoản mục số dư tài khoản và loại nghiệp vụcó thể tham khảo theo kết quả của các lần kiểm toán trước đó. Nếu số dư một tàikhoản nào đó mà năm trước cho thấy có quá nhiều sai lệch thì năm nay rủi ro tiềmtàng của khoản mục này trên BCTC phải được xác định là rất cao. Vì có thể nhữngsai phạm của năm trước vẫn chưa thể khắc phục được. Các ước tính kế toán: Các khoản mục số dư và loại nghiệp vụ có liên quan đến các ước tính kếtoán, như: Các khoản dự phòng, khấu hao TSCĐ, phân bổ, trích trước chi phí…thường được thực hiện trên cơ sở xét đoán chủ quan của người quản lý và điều hànhdoanh nghiệp nên có nhiều khả năng chứa đựng những rủi ro tiềm tàng trên cáckhoản mục này. Vì vậy, KTV nên đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng đối với cáckhoản mục số dư và loại nghiệp vụ này là cao nhằm tăng cường phát hiện ra sai sót. Mức độ dễ mất mát, biển thủ tài sản: Các loại tài sản nhạy cảm với sự gian lận, như: Tiền mặt; vàng bạc, đá quí;các loại tài sản nhỏ gọn, dễ vận chuyển và có giá trị lớn thì khả năng dễ bị trộm cắplà rất cao nên KTV cần xác định rủi ro tiềm tàng đối với số dư của các khoản mụcnày là rất cao. Các loại nghiệp vụ bất thường: Đối với các nghiệp vụ bất thường có khả năng xảy ra sai sót nhiều hơn cácloại nghiệp vụ thường xuyên. Vì việc xử lý đối với loại nghiệp vụ này có thể dothiếu kinh nghiệm nên dẫn đến sai sót. - –
  21. 21. Các loại nghiệp vụ có liên quan đến việc thay đổi chính sách kế toán trong niên độ: Chính sách kế toán của doanh nghiệp thường ảnh hưởng trọng yếu đến tìnhhình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, người ta có thể đưara một chính sách kế toán không đúng với thông lệ chung để trình bày sai sự thật vềcác khoản mục có liên quan trên BCTC. Vì vậy, khi có sự thay đổi về chính sách kếtoán thì KTV cần đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng là cao đối với các khoản mục cóliên quan.c) Trách nhiệm của KTV KTV không tạo ra và không kiểm soát rủi ro tiềm tàng, họ chỉ có thể đánhgiá chúng dựa vào một số nguồn thông tin như kết luận của cuộc kiểm toán trước,thông tin chung về ngành nghề kinh doanh, các chính sách tài chính.... Việc đánhgiá rủi ro tiềm tàng thường được bắt đầu với việc xem xét xem KTV đã biết nhữnggì về công việc kinh doanh và bản chất kinh doanh của một đơn vị. Điều này có thểchứa đựng bất cứ thông tin gì, từ kiến thức về kế hoạch chiến lược của một công tylớn đến những thông tin về từng loại nghiệp vụ của một đơn vị nhỏ. Nó cũng baogồm những hiểu biết về ngành nghề mà công ty đang hoạt động. Nếu KTV không lýgiải được những vấn đề về bản chất kinh doanh của khách hàng, họ có thể sẽ khôngnhận biết và không xác định được những khu vực rủi ro quan trọng. : + Phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn trên cơ sở các câu hỏi đã được thiết lập phù hợp chonhững đối tượng quản lý và các nhân viên kế toán có liên quan nhằm thu thậpnhững thông tin cần thiết cho việc đánh giá rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp. Cáccâu hỏi đặt ra nhằm thu thập các thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh; vềnhân sự của Ban Giám đốc và của phòng kế toán, về những áp lực bất thường đốivới Ban Giám đốc và Kế toán trưởng; về các chính sách kế toán và sự thay đổi của - –
  22. 22. các chính sách này; về những yêu cầu và đề xuất của Ban Giám đốc và của cácthành viên khác có liên quan. + Quan sát thực tế: Việc quan sát thực trạng, quy trình và quá trình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp sẽ giúp cho KTV có những hiểu biết cần thiết trong việc đánh giá rủiro tiềm tàng của doanh nghiệp. + Phân tích sơ bộ BCTC và xem xét các tài liệu khác có liên quan: KTV phân tích sơ bộ BCTC kết hợp với các chỉ tiêu về kế hoạch kinh doanhđể có được cái nhìn khái quát về tính hình tài chính và xu hướng hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp. Đồng thời xem xét các tài liệu khác có liên quan, như: Cácqui chế tài chính nội bộ, các biên bản họp của chủ sở hữu (hội đồng cổ đông, hộiđồng thành viên hoặc các chủ phần hùn); biên bản thanh tra, quyết toán thuế… đểdự đoán những rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp.1.2.2.2. Rủi ro kiểm soáta) Khái niệm Rủi ro kiể rủi ro xảy ra sai sót trọng yếutrong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặctính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hếthoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời.” Rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị nó tồntại khách quan đối với KTV. Vấn đề đặt ra là KTV phải có những biện pháp đểđánh giá nó một cách thích hợp. Đây là rủi ro luôn tồn tại và khó tránh khỏi vì những hạn chế vốn có của hệthống kiểm soát nội bộ.b) Các nhân tố ảnh hƣởng Vì rủi ro kiểm soát phát sinh từ hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nộibộ nên các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị cũng chính là cácnhân tố ảnh hưởng đến rủi ro kiểm soát. Do vậy, để đánh giá rủi ro kiểm soát KTV - –
  23. 23. phải dựa vào sự hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, cụ thểlà các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ Rủi ro kiểm soát luôn tồn tại vì hệ thống kiểm soát nội bộ luôn tồn tại nhữngyếu kém, nguyên nhân là do - Môi trường kiểm soát bị chi phối bởi mục đích của nhà quản lý - Chỉ kiểm soát được các nghiệp vụ thông thường, không kiểm soát được cácnghiệp vụ bất thường - Khả năng sai phạm của con người như kiêm nhiệm, gian lận luôn có thểxảy ra - Có sự thông đồng giữa bên trong và bên ngoài. Nguyên nhân của rủi ro kiểm soát bắt nguồn từ môi trường kiểm soát yếukém của đơn vị, thiếu các thủ tục kiểm soát hoặc thủ tục kiểm soát không hữu hiệunhư thiết kế. Ở bất kỳ đơn vị nào, dù đã đầu tư rất nhiều trong thiết kế và vận hànhhệ thống, thì vẫn không thể có một hệ thống kiểm soát nội bộ hoàn toàn hữu hiệu.Bởi lẽ ngay cả khi có thể xây dựng được một hệ thống hoàn hảo về cấu trúc, tínhhữu hiệu thật sự của nó vẫn tùy thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức là phụthuộc vào năng lực làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng nhân sự…Nói cáchkhác, hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý giúphạn chế tối đa những sai phạm chứ không thể đảm bảo tuyệt đối các sai phạm khôngxảy ra. Riêng tại các đơn vị xử lí số liệu trong môi trường tin học, tuy có nhữngthuận lợi như sẽ ít gặp sai lầm trong tính toán, số tổng cộng và số dư được cập nhậtthường xuyên, tiết kiệm thời gian, nhân lực… nhưng bên cạnh đó lại xuất hiện cácrủi ro kiểm soát khác với môi trường thủ công, thí dụ như là: - Kế toán viên cố tình nhập liệu sai nên kết quả sai, - Lập trình sai lầm sẽ gây tác động dây truyền đến các số liệu khác khi xử lítự động - –
  24. 24. - Tuy xử lí dữ liệu bằng phương pháp điện tử, nhưng đơn vị không tách rờigiữa các chức năng như chức năng khai thác và chức năng kiểm soát - Việc bảo mật chưa tốt nên thường không ngăn chặn được người ngoài thâmnhập vào hệ thống thông tin. Thí dụ như đơn vị không sử dụng các mật khẩu; khôngquan tâm bảo vệ phòng máy tính, hay các phầm mềm đĩa từ… Do đó, đòi hỏi kiểm toán viên phải có sự hiểu biết cần thiết về môi trường tinhọc và ảnh hưởng của nó để đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộtrong môi trường tin học.c) Trách nhiệm của KTV KTV không tạo ra và cũng không kiểm soát được rủi ro kiểm soát, KTV chỉcó thể đánh giá hệ thống KSNB của đơn vị mạnh hay yếu sau khi tìm hiểu và đưa ramức rủi ro kiểm soát. Đánh giá rủi ro kiểm soát chính là đánh giá tính hiệu quả củahệ thống kiểm soát nội bộ đối với việc phát hiện và ngăn ngừa các gian lận, sai sótquan trọng trong báo cáo tài chính.- : + Về môi trường kiểm soát: KTV phải tìm hiểu về nhận thức, quan điểm, sự quan tâm và hoạt động củacác thành viên Ban quản lý, đặc biệt là Giám đốc doanh nghiệp. Tìm hiểu chứcnăng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ phận quản lý, kiểm soát, kiểm toán nộibộ; tìm hiểu các chính sách về nhân sự, về cơ chế tài chính nội bộ của doanh nghiệpvà những vấn đề khác có liên quan. + Về hệ thống kế toán: KTV phải tìm hiểu các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu, về tổ chức công tác kếtoán, qui trình kế toán và những vấn đề nhân sự (trình độ, kinh nghiệm, tính liêmkhiết của Kế toán trưởng và nhân viên kế toán). + Về thủ tục kiểm soát: KTV phải tìm hiểu các thủ tục kiểm soát mà doanh nghiệp đã thiết lập. Quađó, có thể phát hiện ra những thủ tục còn thiếu mà theo đó có thể gia tăng khả năngnghi ngờ về rủi ro kiểm soát… - –
  25. 25. . Mục đích của việc đánhgiá này là nhằm lập kế hoạch kiểm toán chi tiết cho từng khoản mục và loại nghiệpvụ trên BCTC. Nếu HTKSNB được thiết lập và vận hành một cách có hiệu quả cho một loạinghiệp vụ nào đó thì mức độ rủi ro kiểm soát đối với loại nghiệp vụ này được đánhgiá là thấp và ngược lại.1.2.2.3. Rủi ro phát hiệna) Khái niệm Theo chu Rủi ro phát hiện làrủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáotài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toánviên và công ty kiểm toán không phát hiện được.” Đây là rủi ro mang tính chủ quan của KTV. Rủi ro phát hiện có nguyên nhânbắt nguồn trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản đãđược thực hiện. Thông thường mức rủi ro phát hiện sẽ giảm xuống nếu KTV tăngcác thử nghiệm chi tiết trên số dư hoặc nghiệp vụ, mở rộng phạm vi kiểm tra hoặctăng cường cỡ mẫu của các thử nghiệm.b) Các nhân tố ảnh hƣởng - Do chọn mẫu: rủi ro do chọn mẫu mà mẫu không đại diện cho tổng thểđược kiểm toán, việc này dẫn đến kết luận của KTV dựa trên kết quả mẫu khác vớikết quả của tổng thể. - Không do chọn mẫu: rủi ro kiểm toán vẫn có thể xảy ra cho dù KTV đãkiểm tra 100% số dư và nghiệp vụ, đó là do KTV đã sử dụng sai hoặc không phùhợp phương pháp kiểm toán hoặc giải thích sai, nhận định sai về kết quả kiểm tra.c) Trách nhiệm của KTV - –
  26. 26. Tùy theo sự đánh giá của mình về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát kết hợpvới mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được mà KTV sẽ điều chỉnh rủi ro phát hiệnsao cho đảm bảo rủi ro kiểm toán vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Chẳng hạn như:nếu rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức cao, KTV sẽ phảigiảm rủi ro phát hiện xuống rất thấp KTV có trách nhiệm thực hiện các thủ tục thu thập bằng chứng kiểm toán đểquản lý và kiểm soát rủi ro phát hiện Để xác định mức rủi ro phát hiện cho phé, kiểm toán viên thường dựa vàomối quan hệ giữa các loại rủi ro mà chúng ta sẽ đề cập tiếp theo đây.1.2.3. Mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm tóan luôn tồn tại do giới hạn về trình độ thực tế của KTV, thờigian và chi phí kiểm toán, kỹ thuật chọn mẫu.... Để cuộc kiểm toán có hiệu quả vàđáp ứng được nhu cầu của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính, KTV phảinỗ lực để có được rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được. Trên cơ sở mức rủi rokiểm toán mong muốn đó, KTV phải xác định được mức rủi ro phát hiện có thểchấp nhận được sau khi đánh giá đúng các rủi ro mà KTV không thể điều chỉnh đólà rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát tồn tại độc lập khách quan đối với cácthử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên nên chúng khác biệt với rủi ro phát hiện.Tuy nhiên, chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro phát hiện mà kiểm toán viên cầnđạt được. Cụ thể là, mức độ rủi ro phát hiện mà kiểm toán viên cần đạt được tỷ lệnghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là hai loại rủi ro mang tính khách quanđối với KTV và việc đánh giá nó mang tính chủ quan, dựa trên kinh nghiệm và nhậnđịnh xét đoán của KTV.Trong thực tế, KTV có xu hướng đánh giá các mức rủi ro làcao, thấp, trung bình, hoặc sử dụng tỷ lệ % cụ thể. Mối quan hệ giữa ba bộ phận rủi ro này được thể hiện thông qua 2 dạng môhình định tính và định lượng. - –
  27. 27.  Mô hình định tính Dựa trên cơ sở đánh giá của KTV về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát,mức rủi ro phát hiện được xác định theo ma trận sau: Đánh giá của KTV về rủi ro kiểm soát Cao Trung bình Thấp Cao Tối thiểu Thấp Trung bình Đánh giá của KTV về Trung bình Thấp Trung bình Cao rủi ro tiềm tàng Thấp Trung bình Cao Tối đa Ma trận rủi ro Trong ma trận rủi ro trên thì rủi ro phát hiện được căn cứ trên rủi ro tiềm tàngvà rủi ro kiểm soát tương ứng. Vùng tô đậm thể hiện mức độ của rủi ro phát hiện.Ví dụ: rủi ro tiềm tàng KTV đánh giá là cao, rủi ro kiểm soát cũng cao thì rủi rophát hiện được đánh giá là tối thiểu để giữ cho rủi ro kiểm toán đạt ở mức độ có thểchấp nhận được và ngược lại.Trong đó: Mỗi loại rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều được chia thành 3 mức: Cao - trung bình - thấp. Loại rủi ro phát hiện được chia thành 5 mức: Cao nhất – cao - trung bình - thấp - thấp nhất. Ma trận này cũng thể hiện quan hệ tỷ lệ nghịch giữa rủi ro phát hiện với rủiro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.  Mô hình định lƣợng Bên cạnh phương pháp định tính như ma trận ở trên, người ta còn sử dụng tỷlệ % cụ thể, gọi là mô hình định lượng mức rủi ro kiểm toán. Theo mô hình này, - –
  28. 28. mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với các bộ phận hợp thành của nó được biểu hiệnnhư sau: AAR = IR x CR x DR Trong đó: AAR (Audit risk): là rủi ro kiểm toán chấp nhận đƣợc IR (Inherent risk): là rủi ro tiềm tàng CR (Control risk): là rủi ro kiểm soát DR (Detection risk): là rủi ro phát hiệnTừ đó, rủi ro phát hiện được xác định như sau AAR DR = IR * CR Tuy nhiện, đây không phải là công thức thuần túy về mặt toán học mà là môhình dùng để hỗ trợ giúp KTV trong việc phán đoán và xác định mức độ sai sót cóthể chấp nhận được để làm cơ sở thiết kế các thủ tục kiểm toán và điều hành cuộckiểm toán Quy trình của mô hình này đƣợc vận dụng nhƣ sau: Bước 1: Thiết lập một mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được cho từnghợp đồng kiểm toán. Mức rủi ro này sẽ được áp dụng cho hoặcloại nghiệp vụ quan trọng. Bước 2: Tiến hành đánh giá rủi ro tiềm tàng cho tổng thể báo cáo tài chínhvà cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọngnghiệp vụ quan trọng. Bước 4: Dựa vào rủi ro kiểm toán, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đã - –
  29. 29. được đánh giá để xác định rủi ro phát hiện chấp nhận được. Căn cứ rủi ro phát hiệnchấp nhận được để xác định nội dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ bản. Ví dụ: Kiểm toán viên đang đánh giá rủi ro liên quan khoản mục nợ phải thu củamột doanh nghiệp đang hoạt động trên lĩnh vực xuất khẩu với các giả định sau: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, các khoản nợ phải thu của cácđối tác nước ngoài khó có thể thu hồi, do đó, kiểm toán viên đã đánh giá mức rủi rotiềm tàng của khoản mục này cao 70% Tuy nhiên, qua tìm hiểu, kiểm toán viên nhận thấy hệ thống kiểm soát nội bộtại doanh nghiệp hoạt động hữu hiệu, có khả năng loại bỏ được 90% các sai sót, dođó, mức rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá là 10% Mức rủi ro kiểm toán mà kiểm toán viên đánh giá là 5% Sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán, ta có : DR = 5% / (70% * 10%) = 70% Điều này có nghĩa là kiểm toán không cần phải tiến hành nhiều thử nghiệmcơ bản để thu thập bằng chứng kiểm toán liên quan đến khoản mục nợ phải thu màvẫn có thể duy trì rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được 5%.1.2.3. Phƣơng pháp đánh giá rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán cần được đánh giá ở hai mức độ tổng thể báo cáo tài chínhvà từng khoản mục:  Ở mức độ toàn bộ báo cáo tài chính: việc đánh giá rủi ro kiểm toán được tiếnhành dựa trên những thông tin thu thập được về đặc điểm và tình hình hoạt độngkinh doanh, kinh nghiệm kiểm toán, các nhân tố về rủi ro tiềm tàng ở mức độ báocáo tài chính, sự xuất hiện của những nhân tố làm gia tăng khả năng gian lận và saisót cũng như các hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định. Kết quả đánhgiá là cơ sở để kiểm toán viên xác định chiến lược chung của cuộc kiểm toán cũngnhư cân nhắc về mức rủi ro phát hiện chấp nhận được ở mức độ khoản mục. - –
  30. 30.  Ở mức độ khoản mục hay bộ phận: việc đánh giá rủi ro trong từng khoảnmục trước hết sẽ chịu ảnh hưởng của mức rủi ro đã được đánh giá đối với toàn bộbáo cáo tài chính. Sau đó, kiểm toán viên dựa trên hiểu biết của mình về tình hìnhkinh doanh cũng như tính chất của khoản mục để đánh giá mức rủi ro tiềm tàng củacác khoản mục Kết quả đánh giá hai loại trên sẽ là cơ sở để kiểm toán viên thiết kế các thửnghiệm cơ bản sao cho rủi ro phát hiện được duy trì ở mức phù hợp. Khi đánh giárủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đối với khoản mục cần lưu ý các điểm sau:  Có thể kết hợp đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát vì trênthực tế hai loại rủi ro này có quan hệ mật thiết với nhau.  Việc đánh giá hai loại rủi ro này cần tiến hành trên từng cơ sở dẫn liệucủa khoản mục.1.2.4. Sự cần thiết phải đánh giá rủi ro kiểm toán Đánh giá rủi ro kiểm toán là việc kiểm toán viên và công ty kiểm toán xácđịnh mức độ rủi ro kiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp, bao gồm đánh giá rủi rotiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Rủi ro kiểm toán được xác định trướckhi lập kế hoạch và trước khi thực hiện kiểm toán (VSA 400). Chúng ta đã biết rủi ro kiểm toán luôn tồn tại trong bất kì cuộc kiểm toán nàodo những hạn chế tiềm tàng, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như:  Kiểm toán viên thường chỉ lấy mẫu để kiểm tra, chứ không kiểm tra toàn bộ.  Bất kì hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng đều có những hạn chế tiềm tàng, chẳng hạn như luôn có khả năng các nhân viên sẽ thông đồng để đánh cắp tài sản.  Việc thu thập các bằng chứng kiểm toán là do kiểm toán viên cần dựa vào đó để thuyết phục, chứ không phải nhằm chứng minh số liệu của báo cáo tài chính là tuyệt đối chính xác.  Quá trình kiểm toán luôn đòi hỏi sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên, vì vậy luôn có khả năng là có những sai phạm không được phát hiện. - –
  31. 31. Chính vì thế, khả năng để kiểm toán viên nhận xét không xác đáng về báocáo tài chính là điều luôn có thể xảy ra. Vấn đề đặt ra là phải đánh giá hợp lý cácloại rủi ro để có những phản ứng thích hợp, giảm thiểu các thiệt hại cho kiểm toánviên và công ty kiểm toán cũng như đảm bảo tính hợp lý trong việc lập kế hoạch vàthực hiện cuộc kiểm toán. Do đó, ý nghĩa của việc đánh giá rủi ro kiểm toán là rấtlớn, mang lại lợi ích thiết thực trong tất các các giai đoạn của cuộc kiểm toán, nhấtlà trong giai đoạn đầu tiên của cuộc kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ giúpkiểm toán viên:  Giới hạn phạm vi công việc kiểm toán ở mức độ cần thiết để vừa tiết kiệmđược thời gian vừa đảm bảo chất lượng kiểm toán với mức phí hợp lý và cạnh tranh.  Xác định được những khoản mục hoặc nhóm nghiệp vụ chứa rủi ro cao, từđó tập trung nguồn lực để thỏa mãn các mục tiêu kiểm toán. Hơn nữa, việc đánh giá rủi ro kiểm toán là một quy định bắt buộc của chuẩnmực mà các công ty kiểm toán phải tuân theo: “Kiểm toán viên phải sử dụng khảnăng xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định cácthủ tục kiểm toán nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống tới mức có thể chấp nhậnđược” (VSA 400 - đoạn 2).1.2.5. Vận dụng khái niệm rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểmtoán Vào giai đoạn lập kế hoạch, KTV cần đánh giá rủi ro kiểm toán đối với tổngthể báo cáo tài chính. Ở giai đoạn này, việc đánh giá rủi ro kiểm toán được tiếnhành dựa trên những thông tin thu thập được về đặc điểm của tình hình hoạt độngkinh doanh, môi trường kiểm soát của khách hàng, sự xuất hiện của những nhân tốlàm gia tăng gian lận và sai sót, chẳng hạn như:  Khi kiểm toán cho các công ty cổ phần có yết giá trên thị trường chứng khoán, vì báo cáo kiểm toán được sử dụng rộng rãi nên KTV cần khống chế rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được ở mức thấp nhằm hạn chế khả năng xảy ra sai sót gây ra ảnh hưởng đến nhiều người sử dụng; - –
  32. 32.  Khi kiểm toán cho các công ty mà theo sự hiểu biết của KTV, công ty đang hoạt động có nhiều rủi ro trong kinh doanh, đang gặp khó khăn về tài chính, KTV phải khống chế tỷ lệ rủi ro kiểm toán ở mức thấp vì khả năng gặp rủi ro khi kiểm toán cho công ty này là rất lớn. Việc đánh giá rủi ro kiểm toán ở giai đoạn này giúp cho KTV và công tykiểm toán xác định được tỷ lệ rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được và hình thànhnên chiến lược kiểm toán chung đối với từng khách hàng . Sau khi đã đánh giá rủi ro kiểm toán ở mức độ toàn bộ báo cáo tài chính vàhình thành nên chiến lược kiểm toán chung, KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm toán chotừng khoản mục hay từng bộ phận, thậm chí cho những nhóm nghiệp vụ phát sinh(nếu thấy cần thiết). Việc đánh giá này chỉ liên quan đến một vài khoản mục, bộphận nhất định. Nhưng việc đánh giá này rất cần thiết vì dựa vào sự đánh giá nàyKTV sẽ thiết kế nên chương trình kiểm toán phù hợp làm cơ sở cho việc tiến hànhkiểm toán sau này.1.3. Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm tóan Trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, việc xácđịnh mức trọng yếu có ý nghĩa rất lớn đối với việc đánh giá rủi ro kiểm toán. Nếumức trọng yếu (mức sai sót có thể chấp nhận được) tăng lên thì rủi ro kiểm toán sẽgiảm xuống. Nói cách khác, khi nào KTV tăng giá trị sai sót có thể bỏ qua, lúc đókhả năng có sai lệch trọng yếu sẽ giảm và rủi ro kiểm toán rõ ràng sẽ giảm. Ngượclại, nếu giảm mức sai sót có thể chấp nhận được, lúc đó rủi ro kiểm toán sẽ tăng lên. Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, kiểm toán viên cần phải cân nhắc đếnnhững nhân tố có thể gây ra sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính. Không có mộtquy định hay nguyên tắc nhất quán nào trong việc xác lập mức trọng yếu, do đó,kiểm toán viên cần phải sử dụng sự hiểu biết cũng như xét đoán nghề nghiệp đểthực hiện công việc này. Việc xem xét khả năng xảy ra sai sót trọng yếu ở cáckhoản mục cũng như nhóm nghiệp vụ cụ thể sẽ giúp cho kiểm toán viên khoanhvùng được những khu vực cần phải điều ra xem xét; thiết kế nội dung, thời gian vàphạm vi các thủ tục kiểm toán sao cho cuối cùng rủi ro báo cáo tài chính còn có - –
  33. 33. những sai lệch trọng yếu sẽ được giảm xuống thấp ở mức chấp nhận được cũng nhưduy trì sự cân bằng giữa chi phí và chất lượng kiểm toán. Với ý nghĩa đó,việc vận dụng khái niệm trọng yếu và rủi ro kiểm toán trongquá trình kiểm toán là một vấn đề quan trọng. Tuy nhiên, để có thể vận dụng tốt cáckhái niệm này nhằm nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của cuộc kiểm toán, mộtyêu cầu được đặt ra đó là: kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải có phươngpháp xác lập mức trọng yếu và quy trình đánh giá rủi ro hiệu quả và thích hợp vớinhững khách hàng khác nhau. - –
  34. 34. CHƢƠNG II: AAC2.1. Giới thiệu về công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên giao dịch bằng tiếng Anh : Auditing and Accounting Company AAC Limited Trụ sở chính : 217 Nguyễn Văn Linh. TP Đà Nẵng Điện thoại : (84) 0511 3 655 886 Fax : (84) 0511 3 655 887 E-mail : aac@dng.vnn.vn Website : http://www.aac.com.vn Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC (trước đây là Công ty Kiểm toán vàKế toán AAC trực thuộc Bộ Tài Chính thành lập từ năm 1993) là một trong số rất ítcác công ty kiểm toán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. AAC là công ty kiểmtoán độc lập trực thuộc Bộ Tài chính được thành lập trên cơ sở quyết định số194/TC/TCCB ngày 01/04/1993 và Quyết định số 106/TC-BTC ngày 13/02/1995của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Tiền thân là công ty kiểm toán DAC, trên cơ sở sápnhập hai chi nhánh kiểm toán tại thành phố Đà Nẵng. AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loạihình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêngvề việc lựa chọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổchức niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. Năm 2008 cũng là năm thứ hai AACđược Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam chấp thuận đủ điều kiện để kiểmtoán các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán tạiViệt Nam theo Quyết định số 02/2008/QĐ-UBCK ngày 02/01/2008. - –
  35. 35. Ngày 06/01/2008 vừa qua, AAC đã được Hội đồng xét trao giải “ Thương mạiDịch vụ - Top Trade Services 2007 ” - Bộ Thương mại bình chọn là một trong 06công ty kiểm toán được nhận giải cup “Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services2007”. Giải thưởng này được trao cho những doanh nghiệp tiêu biểu hoạt độngtrong 11 lĩnh vực Thương mại dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhậpWTO, đã có những đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nóichung và ngành thương mại dịch vụ nói riêng, trong đó có dịch vụ kế toán, kiểmtoán. Giải thưởng “Top Trade Service 2007” một lần nữa góp phần làm phong phúthêm bảng thành tích mà AAC đã đạt được trong những năm qua, đặc biệt là tăngcường vị thế, uy tín và thương hiệu của AAC trên thị trường dịch vụ kiểm toán vàkế toán. Tháng 9/2008, Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC đã trở thành thànhviên của hãng Kiểm toán quốc tế Polaris International. Đây được coi là bước ngoặclớn trong quá trình phát triển của công ty.2.1.2. Phƣơng châm hoạt động và phƣơng hƣớng phát triển AAC hoạt động theo phương châm: độc lập, khách quan, trung thực và bí mật sốliệu của khách hàng, đó cũng chính là lời cam kết của công ty đối với mọi kháchhàng trên toàn quốc. Mục tiêu hoạt động của AAC là giúp khách hàng và những người quan tâm bảovệ quyền lợi hợp pháp của mình, cung cấp cho họ những thông tin đích thực và cầnthiết để tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra các quyết địnhquản lý phù hợp với thực tiễn. Hoạt động của AAC nhằm góp phần phát hiện vàngăn ngừa những rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp được thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. AAC thực hiện kiểm toán theo đúng các nguyên tắc, chuẩn mực Kiểm toán ViệtNam và thông lệ kiểm toán quốc tế. Phù hợp với những quy định hiện hành về hoạtđộng kiểm toán của Nhà nước Việt Nam. AAC có đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp, chất lượng cao, uy tín. Đạo đứcnghề nghiệp và ý thức trách nhiệm cao. Không những thế AAC còn có hệ thống độingũ kiểm toán được đào tạo có hệ thống ở Việt Nam, Anh, Bỉ, Pháp, Úc, Nhật - –
  36. 36. Bản…và có nhiều kinh nghiệm thực tế về kiểm toán và tư vấn tài chính – kế toán-thuế ở Việt Nam và quốc tế, 100% đội ngũ kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán viêncao cấp của AAC được đào tạo trực tiếp từ các chuyên gia cao cấp về kiểm toán củacộng đồng châu âu thông qua chương trình hợp tác kiểm toán và kế toán của dự ánEURO- TAPVIET do cộng đồng châu âu tài trợ. Ngoài ra, nhân viên của AAC cònđược đào tạo chuyên sâu bởi các chương trình đào tạo trên đại học về tài chính kếtoán, luật ở Việt Nam và các nước khác nên suốt quá trình phát triển công ty tạodựng được lòng trung thành của khách hàng, các nhà đầu tư ở khắp nơi. Nhờ có độingũ kiểm toán chất lượng cao, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp trongsáng nên quá trình hoạt động AAC chưa hề xãy ra sai sót, rủi ro cho khách hàng,AAC luôn được các nhà đầu tư, các cơ quan chức năng tín nhiệm và đánh giá caovề chất lượng phục vụ.2.1.3. Các dịch vụ của công ty Công ty kiểm toán và kế toán AAC được cấp giấy phép hoạt động trong việccung cấp các dịch vụ về kiểm toán, kế toán, tư vấn tài chính và quản lý, dịch vụ đàotạo và tuyển dụng, dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ tin học. Trong các dịch vụ đượcphép cung cấp thì công ty chủ yếu hoạt động ở ba lĩnh vực là kế toán, kiểm toán vàtư vấn tài chính và quản lý – đây là những hoạt động thường xuyên và đem lạidoanh thu chính cho công ty; trong đó kiểm toán là hoạt động chính của công ty.a. Dịch vụ kiểm toán : Đây là hoạt động chính mang lại doanh thu cho công ty, và nhờ hoạt động kiểmtoán công ty được biết đến như là một công ty hàng đầu của Việt Nam trong lĩnhvực kiểm toán, được nhiều khách hàng tín nhiệm và hợp tác. Trong lĩnh vực kiểm toán, công ty cung cấp dịch vụ về hầu hết các mảng kiểm toánnhư: - Kiểm toán báo cáo tài chính - Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành (kiểm toán xây dựng cơbản) - Kiểm toán báo cáo quyết toán dự toán - Kiểm toán hoạt động - –
  37. 37. - Kiểm toán tuân thủ - Kiểm toán nội bộ - Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế - Kiểm toán thông tin tài chính trên cơ sở thủ tục thoả thuận trước Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán xây dựng cơ bản là haimảng chính trong lĩnh vực kiểm toán.b. Dịch vụ hỗ trợ tuyển dụng đào tạo: Thế giới hiện nay đang thay đổi từng phúttừng giây để có được thành công mỗi người phải biết nắm bắt từng cơ hội đồng thờiphải biết kiểm soát các rủi ro. Thông qua việc cung cấp các nghiệp vụ tư vấn hiệuquả và các khóa học cập nhật các kiến thức mới nhất. AAC đã tham gia thành côngvào việc giúp các khách hàng của mình thích ứng với môi trường mới. Các dịch vụ tư vấn và đào tạo do AAC cung cấp bao gồm Đăng ký chế độ kế toán doanh nghiệp Tư vấn thực hành thuế Tư vấn đầu tư và thủ tục cấp phépe Tư vấn thành lập doanh nghiệp Tư vấn xác định giá trị và cổ phần hóa doanh nghiệp Tư vấn tổ chức bộ máy kế toán Tư vấn tài chính Tổ chức lớp chuẩn mực kiểm toán và kế toán Tổ chức lớp kiểm toán nội bộ Tổ chức lớp ôn tập và cấp chứng chỉ hành nghề kế toán Tổ chức lớp bồi dưỡng kế toán trưởng Tổ chức lớp thực hành kế toán Tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức chứng khoán.c. Dịch vụ tƣ vấn thuế: Đối với các công ty, thuế ngày càngthuế ngày càng phức tạp. Thông qua đội ngũ các chuyên gia am hiểu về các sắc thuếvà tận tâm. AAC sẵn sàng hộ trợ các khách hàng hoàn thành đúng các nghĩa vụ thuếvới nhà nước đồng thời tận dụng triệt để các lợi thế về thuế trong hoạt động kinh - –
  38. 38. doanh để tăng lợi ích của chủ sở hữu công ty. Đối với nhiều cá nhân thuế thu hútđược sự quan tâm ngày càng nhiều hơn. Với khả năng của mình AAC giúp kháchhàng của mình có đầy đủ sự tự tin hoàn thành nghĩa vụ thuế của nhà nước cũng nhưđảm bảo được giá trị tài sản của mình. AAC sẵn sàng bảo vệ khách hàng trong mọitrường hợp tranh chấp xãy ra. AAC luôn nỗ lực để xây dựng uy tín của chính mình,niềm tin đối với khách hàng không chỉ vì khách hàng, vì nhà nước mà còn vì cộngđồng. Các dịch vụ thuế AAC cung cấp bao gồm: Đăng ký và kê khai thuế Tư vấn kế hoạch thuế Cung cấp các văn bản thuế có liên quanDịch vụ tin học: Đây là lĩnh vực khá mới và chưa thực sự mạnh trong hoạt độngcủa công ty. Trong hoạt động này, công ty cung cấp dịch vụ: Cung cấp và tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán và quản lý Tư vấn việc lựa chọn trang bị các thiết bị tin học Các dịch vụ khác có liên quan.2.1.4. Khách hàng chính của công ty Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC là công ty kiểm toán lớn nhất miềntrung hiện nay. Với đội ngũ nhân viên tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệmcao đã tạo nên hình ảnh công ty uy tín trong tâm trí khách hàng và được chính phủ,Bộ ngành đánh giá cao. Mạng lưới khách hàng của công ty trải dài khắp cả nước từnam ra bắc với nhiều loại hình kinh doanh và quy mô khác nhau.  Doanh nghiệp trong nước gồm có: Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 (CIENCO) Tổng công ty xây dựng Miền Trung Tổng công ty XNK xây dựng Việt Nam (VINACONEX) Các công ty thuộc Bộ giao thông vận tải Công ty xổ số kiến thiết Quảng Ngãi, Kon Tum, Phú Yên Công ty điện Gia Lai - –
  39. 39. Công ty sách thiết bị Gia Lai Công ty xây lắp Thừa Thiên Huế Công ty cổ phần kinh doanh nhà Thừa Thiên Huế ………….  Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Công ty giày Rieker Công ty liên doanh khoáng sản Bimal Bình Định Công ty liên doanh ô tô Tanda Công ty liên doanh giấy Việt Nhật (VIJACHIP) Công ty liên doanh dăm gỗ Bình Định (BINHDINHCHIP) Công ty phụ tùng xe DaerYang Công ty Daiwa Việt Nam Công ty TNHH dinh dưỡng động vật EH Bình Định Việt Nam Công ty TNHH AVSS Công ty Sinaran Việt Nam …………………………..  Các dự án quốc tế: Dự án ngân hàng VIE 90/05- Ngân hàng thế giới Dự án KCB cung cấp thiết bị y tế Nhật Bản Dự án 334/9513A “Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em”- CORDAID Dự án xây dựng trung tâm cắt may Nhật Bản…2.1.5. Tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC2.1.5.1. Tổ chức bộ máy quản lý - –
  40. 40. Phòng giám đốc Phòng Phòng Phòng hành kiểm toán Phòng kiểm tư vấn chính BCTC toán XDCB đào tạo Công ty đã xây dựng một mô hình quản lý theo các phòng ban chức năng. Môhình này giảm thiểu chi phí hành chính, giảm các bộ phận trung gian trong quá trìnhquản lý. Các kế hoạch, chiến lược hoạt động của ban giám đốc được phổ biến thẳngxuống cho các bộ phận thực thi và ngược lại mọi sự phản hồi từ các bộ phận triểnkhai hoạt động cũng được Ban giám đốc nắm bắt nhanh chóng.2.1.5.2. Tổ chức về nhân sự Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC là loại hình doanh nghiệp dịch vụnên tài sản lớn nhất của công ty chính là con người. AAC luôn xem yếu tố conngười là nhân tố quyết định và quan trọng trong định hướng kinh doanh của mình.Vì thế, AAC chú trọng nhiều đến việc đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên, luôntạo điều kiện cho các nhân viên trau dồi học hỏi lẫn nhau và nâng cao chất lượngcủa các kiểm toán viên trong công ty. AAC là một trong số các công ty kiểm toán rađời và hoạt động tại Việt Nam, hoạt động của AAC không ngừng phát triển vàkhẳng định được vị thế của mình trên thị trường cung cấp dịch vụ kiểm toán, kếtoán và tư vấn tài chính. Hiện nay, AAC là công ty kiểm toán lớn nhất miền trungvới chất lượng dịch vụ luôn đáp ứng yêu cầu của mọi khách hàng trong toàn quốc.Có được thành công như hiện nay là một quá trình đầu tư và phát triển của đội ngũ - –
  41. 41. kiểm toán viên và kỹ thuật viên trong công ty. Hiện nay, toàn công ty có 100 nhânviên trong đó khoảng 27 được công nhận kiểm toán viên quốc gia, 100% tốt nghiệpđại học và trên đại học.- Tổng giám đốc công ty: Là người đại diện của công ty trước Bộ trưởng bộ tàichính và cơ quan pháp luật về toàn bộ quá trình hoạt động của công ty. Tổng giám đốc sẽ đánh giá rủi ro của hợp đồng kinh tế liên quan đến hoạt động của công ty, duy trì mối quan hệ với cán bộ cao cấp của công ty Chịu trách nhiệm giải đáp các thắc mắc về kế toán và kiểm toán có tầm quan trọng Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã thực hiện ký báo cáo kiểm toán và thư quản lý Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc cuộc kiểm toán hoặc ủy quyền lại- Phó tổng giám đốc: AAC có 2 phó tổng giám đốc làm việc trong lĩnh vực báo cáotài chính và xây dựng cơ bản. Được phân công ủy quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên quan đến nhân lực, hành chính, kế hoạch và các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ - –
  42. 42. Chịu trách nhiệm trước phó tổng giám đốc và pháp luật Việt Nam- Trưởng, phó phòng: Mỗi lĩnh vực chuyên môn có một trưởng phòng và một phóphòng. Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc và đóng vai trò quantrọng trong lĩnh vực hoạt động của công ty. Trưởng phòng giữ vai trò lãnh đạo trongban quản lý của công ty, họ có vai trò như cầu nối giữa tổng giám đốc, ban quản lývà các nhân viên trong công ty, chịu trách nhiệm liên quan đến các vấn đề nhân sự,phối hợp hoạt động và đảm nhận các vấn đề về công việc hành chính. Trưởngphòng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo môi trường làm việc đầy tính chuyênnghiệp, chất lượng chuyên môn cao, góp phần phát triển tối đa nguồn nhân lực củacông ty.Phó phòng là người tham mưu trực tiếp cho trưởng phòng, thay mặt cho trưởngphòng điều hành toàn bộ công việc trong thời gian trưởng phòng đi vắng và thựchiện các công việc do trưởng phòng ủy quyền.- Ban quản lý: Bao gồm các trưởng phó phòng kiểm toán và tư vấn tài chính– kếtoán và một số kiểm toán viên tiêu biểu của công ty. Mỗi người chịu trách nhiệmphụ trách một số khách hàng cụ thể do tổng giám đốc chỉ nhiệm sau khi tham khảoý kiến của các trưởng phòng.- Kiểm toán viên chính: Là người được cấp phép hành nghề hoặc giấy chứng nhậnhành nghề tương đương. Chịu trách nhiệm giám sát công việc của các trợ lý kiểmtoán. Báo cáo trực tiếp với người quản lý phụ trách một số công việc kiểm toán. Xem xét giấy tờ làm việc sơ bộ, hổ trợ đào tạo nhân viên, sắp xếp nhân sựcho cuộc kiểm toán. Có trách nhiệm cao khi làm kiểm toán, cách ứng xữ linh hoạt, khéo léotrong công việc.- Trợ lý kiểm toán viên: Là người tham gia công việc kiểm toán nhưng chưa đượccông nhận trúng tuyển kỳ thi kiểm toán viên cấp quốc gia. Tùy theo năng lực vàthâm niên công tác trợ lý kiểm toán viên được chia thành ba loại: Trợ lý kiểm toán viên cấp 1: là người thử việc sau thời gian là 3 tháng,được trúng tuyển chính thức vào công ty cho đến 1 năm sau đó và chưa trúng tuyểnkỳ thi kiểm toán viên cấp quốc gia. Theo thông lệ, những người mới tốt nghiệp các - –
  43. 43. trường kinh doanh, những trường đại học và người có trình độ kinh nghiệm thực tếtrong lĩnh vực kiểm toán và kế toán có thể làm việc cho công ty với tư cách là trợ lýmới vào nghề. Trợ lý kiểm toán viên cấp 1 được phân công thực hiện công việcdưới sự chỉ dẫn nghiệp vụ của một kiểm toán viên khác và hiếm khi chịu tráchnhiệm trước giám đốc công ty. Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: là người làm việc ở công ty kiểm toán được 2năm, chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó. Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: là người làm việc ở công ty được 3 năm, cónhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng đoàn kiểm toáncho công ty cho những công ty nhỏ.2.1.6. Quy trình kiểm toán BCTC tại công ty kiểm toán và kế toán AAC: Để đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũngnhư để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho lập báocáo kiểm toán của kiểm toán viên. Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính ở công ty TNHH kiểm toán và kế toánAAC gồm ba giai đoạn:  Chuẩn bị kiểm toán  Thực hiện kiểm toán  Kết thúc cuộc kiểm toán2.1.6.1. Chuẩn bị kiểm toán: Chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của quá trình kiểm toán, có vị trí vôcùng quan trọng trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính. Chuẩn mực kiểm toán300 nêu rõ: kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán kiểmtoán để có thể đảm bảo được cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách có hiệuquả. Lập kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập các bằng chứng kiểm toánđầy đủ và có giá trị làm căn cứ để kiểm toán viên đưa ra ý kiến đưa ra ý kiến củamình về BCTC của khách hàng. Không những thế, công việc này còn giúp hạn chếđược những sai sót và nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán, tạo dựng được niềm - –
  44. 44. tin và uy tín đối với khách hàng. Quy trình chuẩn bị kiểm toán ở công ty TNHHkiểm toán và kế toán AAC gồm hai giai đoạn là tiền kế hoạch và lập kế hoạch.a. Tiền kế hoạch: Các công việc trong giai đoạn tiền kế hoạch bao gồm việc quyết định có chấpnhận kiểm toán hay không, tìm hiểu lý do khách hàng có nhu cầu kiểm toán, lựa chọnđội ngũ nhân viên thực hiện cuộc kiểm toán và ký kết hợp đồng kiểm toán.  Quyết định thực hiện kiểm toán: - Nếu là khách hàng mới thì AAC phải thận trọng xem xét kỹ tất cả các mặt vềtình hình hoạt động, các điểm đặc biệt, cơ cấu tổ chức của khách hàng…trước khi chấpnhận kiểm toán nhằm tránh mọi rủi ro có thể xảy trong và sau cuộc kiểm toán. - Đối với khách hàng AAC đã từng kiểm toán thì công ty chỉ xem xét các sựkiện đặc biệt xảy ra trong và sau cuộc kiểm toán năm trước, nếu đã có những mâuthuẩn nghiêm trọng xảy ra thì có thể AAC sẽ không tiếp tục kiểm toán cho kháchhàng nữa.  Tìm hiểu lý do khách hàng mời kiểm toán: - Để hiểu rõ hơn về khách hàng và thuận tiện cho công tác kiểm toán, AACthường tiến hành tìm hiểu lý do khách hàng mời kiểm toán. Từ đó, AAC có thể xácđịnh được tầm quan trọng, mục đích và các bước công việc cần làm của mỗi cuộckiểm toán. Ví dụ, khách hàng mời kiểm toán báo cáo tài chính nhằm mục đích côngkhai thông tin tài chính ra bên ngoài, hoặc là theo yêu cầu của công ty mẹ ở nướcngoài…  Lựa chọn nhân viên thực hiện cuộc kiểm toán: Tại công ty AAC, việc lựa chọn đội ngũ nhân viên cho một cuộc kiểm toánđược thực hiện bởi các trưởng phòng, dựa vào đặc điểm riêng biệt và lĩnh vực hoạtđộng của mỗi khách hàng…mà việc chọn số lượng, kinh nghiệm và năng lực củađoàn kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán là khác nhau. Ví dụ: Để thực hiện kiểm toán tại một công ty có 100% vốn nước ngoài, cácnhân viên được chọn thực hiện cuộc kiểm toán này phải có khả năng giao tiếp tiếngAnh tốt để có thể trao đổi với khách hàng và lập báo cáo kiểm toán bằng tiếngAnh…Đối với những khách hàng có quy mô nhỏ, xét thấy công việc tương đối đơn - –
  45. 45. giản thì có thể chỉ cần hai nhân viên cho cuộc kiểm toán đó, trong đó có một kiểmtoán viên làm trưởng đoàn.b. Lập kế hoạch kiểm toán Các công việc trong giai đoạn lập kế hoạch bao gồm:  Tìm hiểu thông tin hay cập nhật thông tin: Khách hàng, hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ  Phân tích báo cáo tài chính  Tham chiếu cuộc kiểm toán năm trước  Kế hoạch kiểm toán  Tài liệu và thông tin yêu cầu khách hàng cung cấp cho cuộc kiểm toánHoạt động này bao gồm các nội dung sau:  Bản ghi nhớ kế hoạch kiểm toán – B1  Các điểm cần lưu ý của năm trước – B2  Hợp đồng kiểm toán – B3  Tìm hiểu về khách hàng – B4  Chương trình xem xét hệ thống kế toán – B5  Phân tích tóm tắt hệ thống kiểm soát nội bộ - B6  Các thủ tục phân tích theo kế hoạch – B7  Ghi chú những thảo luận về kế hoạch kiểm toán – B8  Tài liệu và thông tin đề nghị khách hàng lập – B9  Kiểm tra kế hoạch kiểm toán – B102.1.6.2. Thực hiện kiểm toán: Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toánthích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đó làquá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểmtoán nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý của báocáo tài chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy. Nội dung cơ bản của giai đoạn thực hiện kiểm toán ở công ty TNHH kiểm toánvà kế toán AAC: - –

×