LỜI NÓI ĐẦU      Gắn liền với công cuộc đổi mới & mở cửa của nước ta, có nhiều yêu cầu cần giảiquyết cùng lúc như: vừa ổn ...
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ                              VÀ CÁC CÔNG CỤ CỦA NÓ1.1   TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁC...
1.1.2     Mục tiêu của chính sách tiền tệ     Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng Trung ương (NHTW...
trong những mục tiêu quan trọng nhất trong Chính sách tiền tệ. Mục tiêu tăng trưởng kinhtế luôn luôn gắn liền với mục tiêu...
khác. Chẳng hạn muốn kiềm chế lạm phát thì sẽ phải chấp nhận nạn thất nghiệp tăng lên...Vì vậy tuỳ theo việc hướng vào mục...
- Chính sách tín dụng:        Thực chất chính sách tín dụng là cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tếquốc dân, th...
lạm phát hoặc kích thích tăng trưởng kinh tế. Đối với các NHTM, với tư cách là người đivay để cho vay, khi vốn khả dụng bị...
1.2.4       Dự trữ bắt buộc     Dự trữ bắt buộc là khoản tiền gửi của các NHTM ở NHTW, mức tiền gửi này dopháp luật qui đị...
thị trường tiền tệ, trong khi đó mua bán các giấy tờ có giá dài hạn có ảnh hưởng rõ rệt tớikhả năng thanh toán của các NHT...
PHẦN II: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ                                         Ở VIỆT NAM2.1 Tình hình kinh tế V...
Giai đoạn 2: Cỗ xe kinh tế bị thắng gấp và phát bệnh: Theo nhận định của cácchuyên gia kinh tế, 5 tháng đầu năm 2008,lạm p...
chỉ đạo, điều hành quyết liệt, thống nhất của Đảng và nhà nước cùng sự đồng thuận caocủa các tầng lớp nhân dân, cán bộ ngà...
Ở Việt Nam, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định cho hai loại tiền gửi: tiền gửi không kìhạn cộng với tiền gửi có kì hạn dư...
hiệu quả, giảm lãi suất cho vay tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các hộ sảnxuất tiếp cận nguồn vốn vay ngân...
11/6/2008, Quyết định 1317/QĐ-NHNN của NHNN đã nâng thêm 2% đưa lãi suất cơ bảnlên mức 14%/năm...(Xem bảng 1)         Bảng...
Bảng 3: lãi suất dự trữ bắt buộc năm 2008                 Lãi suất                                      Quyết định        ...
tranh không lành mạnh để thu hút tiền gửi, làm dịch chuyển tiền gửi giữa các ngân hàng,gây xáo trộn thị trường tiền tệ.   ...
soát, vì thế cần có một biên độ để các tổ chức tín dụng ấn định từ 0,25% tăng dần và hiệnlà 1%. Tùy theo các tổ chức tín d...
hoạt động tín dụng và tổng phương tiện thanh toán ngay từ đầu năm theo mục tiêu tăngtrưởng tối đa 30%.         Đặc biệt vớ...
Sự thành công của TTM đã thu hút ngày càng nhiều tài chính tín dụng tham gia. Nếunăm 2007, TTM có 44 thành viên thì năm 20...
21
PHẦN III: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ                              CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ   •   Chú trọng phát triển ...
chiết khấu cần được điều chỉnh linh hoạt hơn trên cơ sở bám sát diễn biến thị trường vàmục tiêu điều hành chính sách tiền ...
•   Chính sách tiền tệ phải đảm bảo hài hoà giữa mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài          hạn, giữa mục tiêu phát triển ...
Muốn làm được điều này, trước hết Ngân hàng nhà nước cần xem xét thật kỹ lưỡngkhi đưa ra các quyết định về điều hành chính...
LỜI KẾT       Thông qua việc nghiên cứu các công cụ của chính sách tiền tệ và điều tiết vĩ môcủa Ngân hàng trung ương, có ...
4. Giáo trình kinh tế và tài chính công. ĐHKTQD20025. Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ. PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài khoa ...
MỤC LỤC  28
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Bài tập cstt

1,613
-1

Published on

Published in: Education
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
1,613
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
57
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Bài tập cstt

  1. 1. LỜI NÓI ĐẦU Gắn liền với công cuộc đổi mới & mở cửa của nước ta, có nhiều yêu cầu cần giảiquyết cùng lúc như: vừa ổn định vừa phát triển kinh tế trong nước,vừa mở rộng giao lưu,quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứngngày càng lớn dẫn đến sự xác lập quan hệ cung - cầu mới về tiền, trong khi đó vẫn phảitiếp tục ổn định kinh tế Vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự pháttriển chung. Ngày nay, không còn ai có thể phủ nhận rằng: bằng việc điều chỉnh tiền tệ cho phùhợp với nhu cầu của nền kinh tế, là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ chức quản lýcác hệ thống tiền tệ phải tuân thủ & chính sách tiền tệ phải theo đuổi. Sự bùng phát của lạm phát vào những tháng đầu năm 2008 ít nhất cũng mang lại chochúng ta một khía cạnh tích cực - làm cho nhiều người giật mình về vai trò quan trọng củachính sách tiền tệ đối với nền kinh tế. Lý thuyết được thực tiễn làm sáng tỏ. Rõ ràng vớichính sách tiền tệ không thể xem thường hay thờ ơ với nó. Bước vào thế kỉ 21, Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế & công bằng xãhội, vì vậy việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng & điều hành chính sách tiền tệ quốcgia có hiệu quả nhất vẫn là 1 vấn đề khó khăn, phức tạp. Qua quá trình học tập & rèn luyện môn Lý thuyết tài chính tiền tệ, em xin trình bàyĐề án môn học lý thuyết tài chính tiền tệ với đề tài “Chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiệnnay, thực trạng và giải pháp”. Đề án này bao gồm các phần: Phần I: Lý luận chung về Chính sách tiền tệ & các công cụ của Chính sách tiền tệ Phần II: Thực trạng điều hành Chính sách tiền tệ ở Việt Nam. PhầnIII: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng Chính sách tiền tệ. Vì lượng kiến thức còn hạn chế, bài làm còn nhiều sai sót, Em rất mong được sựđóng góp của thầy cô trong tổ bộ môn Lý thuyết Tài chính tiền tệ để Đề án được hoànthiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! 1
  2. 2. PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CÁC CÔNG CỤ CỦA NÓ1.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1.1.1 Khái niệm về Chính sách tiền tệ &Vai trò của chính sách tiền tệ Khái niệm: Chính sách tiền tệ (CSTT) là tổng thể các biện pháp của nhà nước phápquyền nhằm mục đích: - Cung ứng cho nền kinh tế phương tiện thanh toán cần thiết - Tạo ra khuôn khổ tiền tệ cho mối quan hệ kinh tế trong và ngoài nước. Tại mỗi một quốc gia, với tư cách là thiết chế đầu não của toàn bộ hệ thống tài chính& ngân hàng, Ngân hàng trung ương (NHTW) là cơ quan chủ chốt, thiết kế và quyết địnhchính sách tiền tệ. Dù với tên gọi khác nhau (NHTW, NHNN, Hệ thống dự trữ liênbang...), nhưng tất cả chúng đều có chung một tính chất là cơ quan trong bộ máy quản lýNhà nước, độc quyền phát hành tiền, thực hiện nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ,thiết lập trật tự, bảo đảm sự hoạt động an toàn, ổn định và hiệu quả của toàn bộ hệ thốngngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của mỗi đất nước. Hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trung tâm, là “linh hồn” củaNHTW trong lĩnh vực tiền tệ. Điều hành chính sách tiền tệ của NHTW trong nền kinh tếthị trường mang tính chất điều tiết vĩ mô, hướng các tổ chức tín dụng vào thực hiện cácmục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời vẫn đảm bảo tính tự chủ trong hoạt động kinhdoanh của các tổ chức tín dụng. NHTW thường không can thiệp và không ra lệnh trực tiếpvào các quyết địng tác nghiệp của các tổ chức tín dụng mà chủ yếu sử dụng các biện pháptác động gián tiếp để điều chỉnh môi trường và các điều kiện kinh doanh của các tổ chứctín dụng như: khả năng thanh toán, lãi suất chiết khấu, dự trữ, khối lượng tiền cung ứng, tỷgiá... để thông qua đó đạt tối mục tiêu của chính sách tiền tệ. Để điều hành chính sách tiền tệ, NHTW phải hình thành và sử dụng hệ thống côngcụ của nó. Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo cho NHTW khả năng tácđộng có hiệu lực đến các yếu tố tiền đề buộc các tổ chức tín dụng phải tự điều chỉnh hoạtđộng của mình theo hướng chỉ đạo của NHTW nhưng vẫn phải đảm bảo quyền tự chủtrong kinh doanh cũng như sự bình đẳng trong môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng. 2
  3. 3. 1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng Trung ương (NHTW)thông qua các hoat động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằmphục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định. Trong từng hoàn cảnh cụ thể, đồi với từng quốc gia thì việc đề ra chính sách tiền tệcũng có những điểm khác biệt. Xét về mặt tổng thể chính sách tiền tệ của các quốc gia trênthế giới hướng vào các mục tiêu chủ yếu là: - Công ăn việc làm cao. Mục tiêu của việc làm cao do đó không phai là một con số không thất nghiệp mà làmột mức trên số không phù hợp với việc làm đầyđủ mà tại đó cầu lao động bằng với cunglao động.Người ta gọi đó là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảmphụ thuộc chủ yếu vào tình hình tăng trưởng KT.Tuỳ theo tình hình đó mà NHTW phảivận dụng các công cụ của mình góp phần tăng cường mở rộng đằu tư sản xuất kinhdoanh,đồng thời tham gia tích cực vào sự tăng trưởng liên tục và ổn định,khống chế tỷ lệthất nghiệp không tăng quá mức tự nhiên. - Tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làm cao. Các chínhsách có thể tập trung kích thích đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ.Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng & thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, NHTWcó vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này. NHNN Việt Nam cần bằng mọiphương thức để có thể huy dộng được hầu hết các nguồn vốn nhàn rỗi trong và ngoài nướcđể phục vụ cho mục tiêu này. Mục tiêu từ năm 2000 trở đi tốc độ tăng trưởng hàng nămphải đạt từ 9% - 10%. Đó là mức tăng trưởng cao đòi hỏi sự gia tăng đầu tư hàng năm hàngchục tỉ USD. - Về ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát. Khi giá cả ổn định, lạm phát ở mức thấp thu nhập thực tế của người dân được nângcao, đời sống nhân dân được cải thiện, đầu tư cho nền kinh tế cũng được đảm bảo, tăngtrưởng kinh tế thực dương. Ngược lại, khi lạm phát ở mức cao, thu nhập của người dân bấpbênh, nguy cơ khủng hoảng kinh tế cao. Chính vì vậy mà mục tiêu này được xem là một 3
  4. 4. trong những mục tiêu quan trọng nhất trong Chính sách tiền tệ. Mục tiêu tăng trưởng kinhtế luôn luôn gắn liền với mục tiêu ổn định giá cả kiềm chế lạm phát. - Mục tiêu ổn định lãi suất: Tất cả các quốc gia đều mong muốn một sự ổn định về lãi suất. Vì lãi suất có ảnhhưởng lớn đến đầu tư và tăng trưởng, ảnh hưởng đến các luồng vốn, ngoại tệ.. Chính vìthế, ổn định lãi suất tạo ra thế ổn định cho các lĩnh vực như tín dụng, đầu tư, sự di chuyểnvốn… dẫn đến ổn định chung cho nền kinh tế. Lãi suất chính là một trong những công cụ quan trọng nhất của CSTT. Để cho nềnkinh tế được ổn định đòi hỏi CSTT phải đưa ra một hệ thống lãi suất mềm dẻo đúng đắn,phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường. - Về ổn định thị trường tài chính: Việc tạo ra một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống Ngân hàng & các tổ chức tíndụng có thể hoạt động một cách có hiệu quả và hỗ trợ một cách tốt nhất cho tăng trưởng kinhtế cao, lạm phát thấp, cũng như hạn chế những khuyết tật của hệ thống tài chính là mục tiêuchủ đạo của chính sách tiền tệ. NHTW phải điều hoà hoạt động của hệ thống tài chính trongnước một cách gián tiếp, tăng cường hiệu quả cho nó. Bản thân hệ thống tài chính cũng có những mục tiêu riêng của nó và nhiều khi nhữngmục tiêu này lại đối chọi với các mục tiêu chung của nền kinh tế. Do đó vai trò của CSTTlà làm hài hoà một cách tối ưu giữa các mục tiêu trên, để phục vụ tốt nhất cho lợi ích chungcủa nền kinh tế mà không làm tổn hại hay hạn chế sự phát triển của hệ thống tài chính. - Mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối: Nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia, NHTW thực hiện các nhiệmvụ giao dịch về tài chính và Tiền tệ đối ngoại bằng các phương diện: quản lý ngoại hối, lậpvà theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện các nghiệp vụ hối đoái. Tổchức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước, xây dựng và thống nhất quản lý dự trữngoại hối của đất nước, tiến hành kinh doanh ngoại hối trên thị trường ngoại hối quốc tế.Cần thiết lập mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nhằm tìm kiếm cácnguồn vốn có thể huy động được (viện trợ, vay nợ, vay ưu đãi, thu hút đầu tư, thu hút kiềuhối..). CSTT góp phần nhiều vào việc thực hiện các mục tiêu trên lại mâu thuẫn nhau. Cụthể chỉ có thể đạt được một mục tiêu khi chấp nhận sự cắt giảm nhất định đối với mục tiêu 4
  5. 5. khác. Chẳng hạn muốn kiềm chế lạm phát thì sẽ phải chấp nhận nạn thất nghiệp tăng lên...Vì vậy tuỳ theo việc hướng vào mục tiêu nào là chính mà người ta có thể coi CSTT làchính sách ổn định giá cả, chính sách tạo việc làm, chính sách cân bằng cán cân thanh toánhay chính sách tăng trưởng kinh tế. Để đạt được những mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ NHTW phải xác địnhcác mục tiêu trung gian. Bởi lẽ NHTW sử dụng các mục tiêu trung gian để có thể xét đoánnhanh chóng được tình hình hoạt động của mình phục vụ cho các mục tiêu cuối cùng, hơnlà chờ cho đến khi thấy được kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó. Mục tiêu trung gian làđiều tiết cung tiền thông qua chi phối dòng tiền chu chuyển và khối lượng tiền. Tuỳ theođiều kiện cụ thể của từng nước mà các khối tiền tệ có thể là M1, M2, M3. 1.1.3 Nội dung của chính sách tiền tệ. Xét cho cùng NHTW có thể thực thi hai loại chính sách tiền tệ phù hợp với tình hìnhthực tiễn của nền kinh tế: - Chính sách mở rộng tiền tệ: là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế nhằmkhuyến khích đầu tư phát triển sản xuất tạo công ăn việc làm. Chính sách này được đưa ra trong trường hợp nền kinh tế trì trệ, tăng trưởng thấp. Nótạo ra không khí tiêu dùng mạnh mẽ kích thích đầu tư và tăng trưởng kinh tế. - Chính sách thắt chặt tiền tệ: là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằmkhuyến khích đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế và kiềm chế lạm phát.Chính sách này được đưa ra nhằm ngăn trặn tình trạng phát triển quá nóng của nền kinh tế.Nó tạo ra sự khan hiếm về tiền, sự đắt đỏ về chi phí, làm giảm tốc độ tăng trưởng quánhanh, tạo ra một sự phát triển bền vững. Trong nền kinh tế thị trường, CSTT bao gồm 4 thành phần cơ bản gắn liền với 4kênh dẫn nhập tiền vào lưu thông. Đó là: - Chính sách cung ứng tiền và điều hoà lưu thông tiền tệ:Việc vạch và thực thi CSTT phải khống chế sao cho khối lượng tiền tệ cung ứng trong mộtthời kỳ nhất định phải cân với mức tăng tổng sản phẩm quốc dân danh nghĩa và vòng quaytiền tệ trong thời kỳ đó. 5
  6. 6. - Chính sách tín dụng: Thực chất chính sách tín dụng là cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tếquốc dân, thông qua các nghiệp vụ ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từcác nguồn tiền gửi của xã hội và với một hệ thống lãi suất mềm dẻo, phù hợp với sự vậnđộng của cơ chế thị trường. - Chính sách ngoại hối: Nhằm đảm bảo việc sử dụng co hiệu quả các tài sản có giá trị thanh toán đốingoạiphục vụ cho việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và gia tăngviệc làm trong xã hội, đảm bảo chủ quyền tiền tệ của đất nước. - Chính sách đối với ngân sách nhà nước: Nhằm đảm bảo phương tiện thanh toán cho chính phủ trong trường hợp Ngân sáchnhà nước bị thiếu hụt. Phương thức tối ưu là NHTW cho ngân sách nhà nước vay theo kỳhạn nhất định, dần dần tiến tới loại bỏ hoàn toàn phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngânsách. Ngân sách nhà nước có thể ở ba trạng thái, đó là thâm hụt ngân sách, cân bằng ngânsách & thặng dư ngân sách.1.2 CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA NÓ. 1.2.1 Công cụ tái cấp vốn.Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHTW đối với các NHTM. Khi cấp một khoảntín dụng cho NHTM một mặt NHTW đã tăng lượng tiền cung ứng, mặt khác tạo cơ sở choNHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lực thanh toán cho họ. Các hình thức táicấp vốn ngoài tái chiết khấu bao gồm: - Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. - Cho vay dưới hình thức cầm cố, thế chấp, các chứng từ có giá ngắn hạn. - Cho vay trong thanh toán bù trừ. - Cho vay theo hình thức chỉ định. - Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng. Qua công cụ tái cấp vốn, NHTM là người cho vay cuối cùng, kiểm tra chất lượng tíndụng của các NHTM, bơm tiền ra lưu thông theo mức độ đã được khống chế để kiềm chế 6
  7. 7. lạm phát hoặc kích thích tăng trưởng kinh tế. Đối với các NHTM, với tư cách là người đivay để cho vay, khi vốn khả dụng bị đe dọa thì NHTW là chỗ dựa, là vị cứu tinh của họ.Tuy nhiên vì quyền quyết định vay hay không vay là của NHTM nên NHTW không thểnắm chắc được kết quả của sự điều tiết. 1.2.2 Lãi suất tín dụng Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện CSTT trong việc điều khiểnmức cung ứng tiền cho nền kinh tế, nó không trực tiếp làm tăng hay giảm khối lượng tiềntệ trong lưu thông nhưng có thể kích thích hoặc kìm hãm sản xuất, vì vậy nó là một côngcụ rất lợi hại. Với công cụ này có thể áp dụng cơ chế điều hành gián tiếp hoặc trực tiếp. Cơ chế điều hành gián tiếp: Thông qua cơ chế tái cấp vốn của NHTW đối với các tổchức tín dụng, NHTW thực hiện quản lý gián tiếp lãi suất cho vay của các NHTM đối vớinền kinh tế. Cơ chế điều hành lãi suất này được áp dụng phổ biến đối với các nền kinh tếcó hệ thống tài chính phát triển. Cơ chế điều hành trực tiếp: Thông qua các hình thức quản lý lãi suất của các tổ chứctín dụng đối với nền kinh tế, như quy định các mức lãi suất về tiền gửi, cho vay, khung lãisuất, trần lãi suất cho vay, biên độ chênh lệch lãi suất bình quân. Nhìn chung trong các nềnkinh tế phát triển, lãi suất ngày càng được tự do hoá, còn các nước có hệ thống tài chínhchưa phát triển, các quy định mang tính quản lý trực tiếp được áp dụng phổ biến hơn và xuhướng chung là ngày càng giảm dần sự quản lý trực tiếp này. 1.2.3 Hạn mức tín dụng: Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp một cách trực tiếp mang tínhhành chính của NHTW, được sử dụng để khống chế tổng lượng tiền để cung ứng cho nềnkinh tế, mang tính áp đặt của NHTW đối với hệ thống ngân hàng. Qua sử dụng hạn mức tín dụng, NHTW nhằm điều chỉnh khả năng tạo tiền của cácNHTM phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế. Bằng việc quy định hạn mức tín dụng, NHTW có thể kiểm soát khá chặt chẽ tổnglượng tiền cung ứng. Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phương tiện trongnền kinh tế tăng cao và các công cụ khác tỏ ra kém hiệu quả. Tuy nhiên, hiệu quả điều tiếtcủa công cụ này không cao vì nó thiếu linh hoạt. 7
  8. 8. 1.2.4 Dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc là khoản tiền gửi của các NHTM ở NHTW, mức tiền gửi này dopháp luật qui định bằng một tỷ lệ nhất định so với các khoản nợ của ngân hàng. Thông quaviệc thay đổi mức dự trữ bắt buộc NHTW tác động tới việc cung cấp tiện tệ cho nền kinhtế quốc dân. Nếu NHTW tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên thì khả năng tín dụng của NHTM sẽgiảm xuống. Mặt khác, để bù lại phần lãi suất đó (do quỹ tiền gửi NHTW không được tínhlãi ) các ngân hàng phải tăng lãi suất tín dụng do vậy mức tín dụng cung ứng cho nền kinhtế sẽ giảm xuống. Việc tăng lên hay giảm xuống quỹ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hoặctăng lương tiền cung ứng cho nền kinh tế qua cơ chế tạo tiền của hệ thống ngân hàng. Vìvậy đó là một công cụ tiềm tàng của CSTT. Ngoài ra dự trữ bắt buộc còn đảm bảo việcthanh toán thường xuyên của các NHTM. Điểm lợi chính của công cụ này là nó tác động đến tất cả các ngân hàng như nhau vàcó tác dụng đầy quyền lực đến cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên khi dự trữ bắt buộc không đượctrả lại, chúng tương đương với một khoản thuế và có thể dẫn đến hiện tượng phi trung gianhoá. Mặt khác bự trữ bắt buộc thiếu tính mềm dẻo bởi sẽ rất vất vả để thực hiện đượcnhững thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi dự trữ bắt buộc. Một điểmbất lợi khác nữa của việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát việc cung ứng tiền tệ là việctăng dự trữ bắt buộc cói thể gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh khoản của các NHTM,gây ra tình trạng không ổn định cho các ngân hành. Chính vì vậy công cụ dự trữ bắt buộcthường không được khuyến khích và ít được sử dụng. 1.2.5 Nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua và bán các giấy tờ có giá (như cổ phiếu,trái khoán, công trái...) do NHNN trên thị trường tiền tệ và trong chừng mực hạn chế nhấtđịnh cả trên thị trường vốn. Đây là môt trong những công cụ rất quan trọng được nhiềuNHNN của các nước sử dụng có hiệu quả CSTT. Bằng việc bán các giấy tờ có giá cho các NHTM với lãi suất hấp dẫn, NHTW thu hồitiền từ lưu thông làm giảm lượng tiền cung ứng, đồng thời khả năng cho vay của cácNHTM cũng giảm và già trị tín dụng tăng lên. Ngược lại, Bằng việc mua các giấy tờ cógiá, NHTW cung cấp tiền cho các NHTM để cho vay, làm gia tăng lượng tiền cung ứngtrên thị trường. Điều quan trọng ở đây là thời hạn cuả các giấy tờ có giá. Việc mua bán cácgiấy tờ có giá ngắn hạn chủ yếu nhằm mục đích cân bằng giao động của tỷ lệ lãi suất trên 8
  9. 9. thị trường tiền tệ, trong khi đó mua bán các giấy tờ có giá dài hạn có ảnh hưởng rõ rệt tớikhả năng thanh toán của các NHTM. Đây được coi là công cụ quan trọng nhất của chính sách tiền tệ vì nó có những ưuđiểm hơn hẳn so với các công cụ khác: - Phát sinh theo ý tưởng chủ đạo của NHNN trong đó NHNN hoàn toàn kiểm soátđược khối lượng giao dịch. - Là công cụ linh hoạt và có tính chính xác cao giúp NHNN luôn luôn thay đổi đượctình thế của mình khi mắc phải sai lầm. - Nghiệp vụ này có thể sử dụng được ở bất kì một mức độ nào khi có yêu cầu căn cứvào khối lượng các loại giấy tờ có giá bán ra. - Nghiệp vụ thị trường mở có thể tiến nhanh chóng không gây những chậm trễ vềmặt hành chính và ít tốn kém về mặt chi phí. Tuy nhiên, khi NHTW mua bán chứng khoán trên thị trường thì vẫn phải phụ thuộcvào người mua bán (các NHTM). Và để sử dụng được nghiệp vụ này thì phải có sự pháttriển khá cao của của cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt, tiền trong lưu thông phần lớnnằm trong tài khoản của ngân hàng, đòi hỏi thị trường tài chính phải tương đối phát triển.Hay nói cách khác, nghiệp vụ thi trường mở chỉ đạt được hiệu quả trong điều kiện có mộtthị trường chứng khoán thứ cấp sôi động, một thị trường liên Ngân hàng, thị trường tiền tệhoạt động sôi động. 1.2.6 Tỷ giá hối đoái Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bénvà hết sức mạnh mẽ đến sản xuất, xuấtnhập khẩu hàng hoá, tình trạng tài chính tiền tệ , cán cân thanh toán quốc tế, thu huts vốnđầu tư, dự trữ của đất nước.Về thực chất, tỷ giá không phảI là công cụ của chính sách tiềntệ bởi lẽ tỷ giá không làm tăng hay giảm lượng tiền trong lưu thông. Tuy nhiên, có nhiềuquốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, đang chuyển đổi,lại coi tỷgiá là công cụ bổ trợ quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ. Các phương pháp điều hành tỷ giá gồm có chính sách hối đoái, quỹ dự trữ bình quânhối đoái, phá giá tiền tệ, nâng giá tiền tệ, chính sách lãi suất chiết khấu 9
  10. 10. PHẦN II: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM2.1 Tình hình kinh tế Việt Nam Năm 2008, trước sự suy thoái của nền kinh tế thế giới và cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu, lạm phát tăng cao, không nền kinh tế nào không bị tác động, chỉ nhiều hayít, sớm hay muộn mà thôi, Việt Nam không phải là ngoại lệ. Kinh tế Việt Nam cũng chịutác động không ít và bắt đầu thực sự bước vào giai đoạn khó khăn. Trong quý I năm 2008với mục tiêu tăng trưởng GDP 9% nhưng đã giảm còn 6,5%; biên độ giá của các mặt hàngdao động mạnh, lãi suất ngân hàng liên tục thay đổi, giá dầu giảm ở mức thấp nhất trongvòng 3 năm qua,…tất cả những biến đổi đó tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam nóichung và doanh nghiệp nói riêng. Nhìn lại diễn biến nền kinh tế Việt Nam năm 2008, cácnhà phân tích chia nền kinh tế ra ba giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc trưng về mục tiêu vàchính sách kinh tế khá rõ nét. Cụ thế: Giai đoạn 1: Cỗ xe kinh tế phi nước đại và ủ bệnh: Năm 2007, Việt Nam đạt đượcnhững thành tựu kinh tế ấn tượng. Theo Tổng cục Thống kê ngày 31/12/2007, tổng sản phẩmtrong nước (GDP) ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2-8,5%). Khốilượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ước đạt 461,9 nghìn tỷ đồng,bằng 40,4% GDP (đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) và tăng 15,8% so với năm 2006. Vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so vớinăm 2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong đó vốn cấp phép mới là 17,86 tỷ USD. Nềnkinh tế Việt Nam năm 2007 có sự tăng trưởng toàn diện trong hầu hết các lĩnh vực. Tuy nhiênđây là dấu hiệu của nền kinh tế tăng trưởng nóng. Trước những thay đổi mạnh mẽ về luồngvốn, tác động từ bên ngoài như vậy, Chính phủ đã triển khai các biện pháp và các công trình đểđạt các mục tiêu đề ra: việc phân cấp quá mức cho chính quyền địa phương cấp tỉnh về đầu tư(trong nước và ngoài nước), việc cấp đất, mở khu công nghiệp... đã tạo ra những chồng chéovà dư thừa về quá nhiều công trình đầu tư vào sân golf, bất động sản, nhà máy thép, nhà máylọc dầu lớn nhỏ. Các tập đoàn kinh tế nhà nước đã nhanh chóng đa dạng hóa đầu tư sang cáclĩnh vực như chứng khoán, đầu tư tài chính, bất động sản, thậm chí cả tham gia lập các ngânhàng thương mại. Chưa bao giờ trong một thời gian ngắn các tập đoàn lại đua nhau thành lậpnhiều công ty con, công ty cháu, công ty liên kết nhanh đến như vậy. Tương tự, các công tyđầu tư tài chính, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán cũng xuất hiện một cách ồ ạtnhư thế. Điều tất yếu phải đến đã đến là cung tín dụng tiếp tục tăng trên 50%, lạm phát tăngvọt lên 25%, nhập siêu vượt quá mức an toàn, thị trường chứng khoán sụt giảm kỷ lục, bongbóng thị trường bất động sản bị vỡ. 10
  11. 11. Giai đoạn 2: Cỗ xe kinh tế bị thắng gấp và phát bệnh: Theo nhận định của cácchuyên gia kinh tế, 5 tháng đầu năm 2008,lạm phát chính là vấn đề nổi cộm nhất đối vớikinh tế Việt Nam. Chính phủ đã đưa ra một loạt các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát.Lãi suất cơ bản được nâng lên, dự trữ bắt buộc với lãi suất rất thấp được áp đặt, tín phiếubắt buộc được phân bổ, biện pháp hạn chế tín dụng hà khắc được áp đặt lên các ngân hàngthương mại, cắt giảm đầu tư... Tất cả biện pháp này gây ra gánh nặng lớn cho các ngânhàng thương mại cũng như doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nguyên nhân năm 2007, tổng dư nợcho vay tăng tới 53,8%, cao gấp rưỡi tốc độ tăng vốn huy động và cao gấp trên 6 lần tốc độtăng GDP. Năm tháng đầu năm 2008, dư nợ cho vay tăng 18%, cao gấp trên 4 lần tốc độtăng vốn huy động và cao gấp khoảng 2,5 lần tốc độ tăng GDP. Vào thời điểm này, cácngân hàng thương mại phải đối mặt với vấn đề thanh khoản, dẫn đến cuộc chạy đua lãi suấtdiễn ra quyết liệt giữa các ngân hàng. Các quan hệ thị trường bị thu hẹp rõ rệt bởi sự canthiệp hành chính, đặc biệt là các quyết định về tăng, giảm thuế nhập khẩu, về hạn ngạch, vềgiá xăng dầu... liên tục được đưa ra (có thời kỳ đạt tốc độ bình quân sáu quyết định lớn,nhỏ một tuần). Giai đoạn 3: Tập trung chữa bệnh:Bắt đầu từ quí 3/2008, một sự cộng hưởng ngoài ýmuốn giữa hiệu lực của các biện pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ với tác động của cuộckhủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu đã xuất hiện. Giá hàng loạt nguyên vật liệutrên thế giới giảm mạnh khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm dần và chỉ số giá của hai tháng10 và 11 lần lượt giảm thấp hơn tháng trước. Trong khi đó, xuất khẩu giảm cả về kim ngạchlẫn khối lượng, đối mặt với những khó khăn dồn dập từ các nước nhập khẩu (về tín dụng, khảnăng thanh toán, sức mua, giảm giá). Nhiều doanh nghiệp đã phải giãn thợ, giảm công suất,thu nhập của người lao động càng khó khăn hơn. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán sụtgiảm và đầy biến động, tín dụng bị thu hẹp, số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa đãxuống mức thấp nhất và khó có thể đạt mục tiêu hoàn thành cổ phần hóa trong hai năm nữavào năm 2010.2.2 Chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay. Chính sách tiền tệ của NHNN là tổng hoà các giải pháp đảm bảo ổn định đồng tiền và thịtrường tiền tệ, góp phần giải quyết các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế. Chúng ta sẽ tiến hànhnghiên cứu chính sách tiền tệ ở Việt Nam 2 năm 2008-2009. Kế hoạch phát triển kinh tế,xã hội nước ta trong hai năm 2008-2009 được thực hiệntrong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động khó lường. Sự lên xuống thất thường của giá dầuthô,diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với thiên tai dịchbệnh đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của nước ta trong năm qua. Nhờ sự 11
  12. 12. chỉ đạo, điều hành quyết liệt, thống nhất của Đảng và nhà nước cùng sự đồng thuận caocủa các tầng lớp nhân dân, cán bộ ngành, các tập đoàn kinh tế…nền kinh tế nước ta đãtừng bước vượt qua khó khăn thách thức, kiềm chế và đẩy lùi được lạm phát, an sinh xãhội được đảm bảo, nhiều vấn đề bức xúc xã hội được giải quyết. Trong giai đoạn này mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định kinh tế vĩ mô và đảmbảo sự tăng trưởng cao của nền kinh tế. Gia tăng tốc độ phát triển là mục tiêu chính tronggiai đoạn này, mục tiêu kinh tế vĩ mô bao hàm nghĩa rộng hơn so với mục tiêu kiểm soát,ổn định kinh tế, tốc độ tăng trưởng đồng đều trong các năm, tỷ lệ lạm phát giao độngkhông quá mạnh. Cố gắng đạt cán cân thanh toán quốc tế từ thiếu hụt tới cân bằng và tiếntới thặng dư. Đảm bảo trạng thái cân bằng ngân sách, tăng thu giảm chi nhất là các khoảnchi điều hành để tập trung cho đầu tư công cộng. Một số nội dung chính trong điều hành các công cụ chính sách tiền tệ trong hai năm2008-2009:2.2.1 Hạn mức tín dụng: Đây là công cụ được coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầu của thời kỳđổi mới hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rểttong việc chống lạm phát. Tuy nhiên từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dần vai trò của nótrong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán vì lạm phát có xu hướnggiảm và thấp dần; mặt khác nhu cầu vốn của nền kinh tếngày càng tăng và cần phải mởrộng tín dụng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Do đó trong quý 2 năm 2008,NHNN đã không áp dụng công cụ này như một công cụ thường xuyên để điều hành chínhsách tiền tệ (mặc dù có thể coi nó như một giải pháp tình thế khi càn thiết). Công cụ này sẽ được xoá hoàn toàn khi thị trường tiên tệ ổn định, thị trường vốn pháttriển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả. Hạn mức tín dụng 30% năm 2008 đã góp phần tăng thêm sự méo mó của việc phânbổ nguồn lực, khiến cho dòng vốn không lưu chuyển một cách thông suốt đến những nơicần vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Nếu quá thiên về mức tăng dư nợ tín dụng so với hạn mức chung trong điều hành vĩmô, sẽ không chỉ làm mất đi cơ hội tiếp cận vốn của những doanh nghiệp có khả năng kinhdoanh hiệu quả (kể cả doanh nghiệp kinh doanh bất động sản), mà còn tạo cơ hội tăngtrưởng nóng cho những tổ chức tín dụng không hội đủ các chuẩn mực an toàn cần thiết,gây nên rủi ro cho toàn hệ thống.2.2.2 Dự trữ bắt buộc: 12
  13. 13. Ở Việt Nam, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định cho hai loại tiền gửi: tiền gửi không kìhạn cộng với tiền gửi có kì hạn dưới một năm và tiền gửi có thời hạn 1 năm đến 2 năm, trongđó tỷ lệ dự trữ bắt buộc so với tiền gửi có kì hạn từ 1 đến 2 năm thấp hơn. Ngoài ra tỷ lệ dự trữbắt buộc còn được quy đinh khác nhau đối với những loại ngân hàng khác nhau có thể theoquy mô, tính chất hoạt động.Ngày 16/1/2008,Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam đã kí quyêt định về việc tăngthêm 1% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi nhằm rút bớt tiền từ lưu thông, chủđộng kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng phù hợpvới các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Vấn đề lạm phát vào thời điểm đầu năm 2008 là điểm nóng của kinh tế vĩ mô ViệtNam.Việc NHNN cùng lúc thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ chống lạm phát thông quacông cụ sử dụng các công cụ CSTT, trong đó có việc tăng và mở rộng diện đối tượng tiềngửi tại NHTM phải trích dự trữ bắt buộc vào thời điểm đó tuy gây khó khăn cho tiềm lựcmở rộng tín dụng của các NHTM, nhưng là rất cần thiết và kịp thời để góp phần quyết địnhtrong các nỗ lực của chính phủ về chủ trương kiểm soát lạm phát ngay từ đầu năm 2008. Đến năm 2009, lạm phát đã được kiểm soát, nhưng nền kinh tế rơi vào đà tăng trưởnggiảm nên từ 1/3/2009, NHNN đã quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửibằng VND của các tổ chức tín dụng đồng thời giữ nguyên lãi suất cơ bản VND. Mục đíchcủa việc thực hiện các giải pháp này là nhằm ổn định thị trường tiền tệ, lãi suất, tỷ giá vàhỗ trợ vốn khả dụng cho các tổ chức tín dụng có điều kiện mở rộng huy động huy độngvốn và tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế, kể cả việc cho vay đối với các dự án đầutư theo chương trình kích cầu của chính phủ. Năm 2008 do phải thực hiện các chính sách tiền tệ nhằm vùa chống lạm phát vừangăn đà suy giảm kinh tế nên các ngân hàng thương mại gặp khó khăn và ngân hàng nhànước đã hỗ trợ bằng cách trả lãi cao hơn cho dự trữ bắt buộc bằng VND. Tuy nhiên trongnăm 2009 tình hình đã khả quan hơn cho phép ngân hàng giảm lãi suất.2.2.3 Tái cấp vốn : Ngày 3/11/2008 NHNN đã quyết định số 2561/QĐ-NHNN về lãi suất tái cấp vốn, lãisuất tái chiết khấu,lãi suât cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và chovay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN Việt Nam đối với các ngânhàng, theo đó lãi suất tái cấp vốn giảm từ 14% năm xuống 13% năm; lãi suất tái chiết khấugiảm từ 12% xuống 11% năm; lãi suất cho vay qua đêm xuống từ 14% xuống 13% năm.Mục đích của việc thực hiện các giải pháp nêu trên là nhằm tạo điều kiện cho các tổ chứctín dụng đảm bảo khả năng huy động vốn và thanh toán, hoạt động kinh doanh an toàn, 13
  14. 14. hiệu quả, giảm lãi suất cho vay tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các hộ sảnxuất tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển. Tuy nhiên hiện nay hiệu lực can thiệp của công cụ này đến thị trường tiền tệ chưa caovà mối liên hệ giữa công cụ tái cấp vốn và tổng phương tiện thanh toán chưa rõ ràng. Thời gian hoàn thành một đề nghị cho vay cầm cố một giấy tờ cấp vốn (GTCG) củaNHNN còn dài. Đối với đề nghị vay vốn của các ngân hàng có trụ sở chính tại Hà Nội thì thờigian thực hiện từ khi nhận đủ hồ sơ đến khi vay vốn thường không quá 2 ngày làm việc, nhưngđối với các ngân hàng không có trụ sở chính tại Hà Nội thì thời gian này thường bị kéo dài ra,có khi lên tới 5 ngày làm việc. Đây là một trong những hạn chế cơ bản của công cụ này, làmgiảm tính chất hỗ trợ khẩn cấp của công cụ tái cấp vốn để bổ sung hỗ trợ cho ngân hàng. Ngoài ra sự quan tâm và hiểu biết của hệ thống NHTM tới nghiệp vụ tái cấp vốnkhông đồng đều và nhìn chung chưa cao. Các ngân hàng thường xuyên tiếp cận nguồn vốnnày chỉ là bốn NHTM Nhà nước có trụ sở tại Hà Nội. Về cơ bản không có nhiều khác biệt giữa hình thức chiết khấu có thời hạn và hìnhthức cầm cố GTCG có thời hạn.2.2.4 Công cụ lãi suất. Tháng 3/2008, Ngân hàng Nhà nước công bố loạt biện pháp cụ thể triển khai chỉđạo của Thủ tướng Chính phủ về kiềm chế lạm phát. Trọng tâm của những giải pháp trênlà ổn định lãi suất trên thị trường, mở hướng linh hoạt hơn cho tỷ giá, giải tỏa bớt áp lựcngoại tệ và vốn VND tại các ngân hàng thương mại và hạn chế tín dụng tăng trưởng nóng. Sau khi áp trần lãi suất huy động VND 12%, Ngân hàng nhà nước tiếp tục có mứctrần mới cho lãi suất trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở từ 9% – 10%. Trường hợptính thanh khoản của các thành viên có vấn đề, Ngân hàng nhà nước này sẽ vào cuộc hỗtrợ. Ngoài ra, với kế hoạch phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, ngân hàng nàokhó khăn về vốn sẽ được xem xét lùi thời hạn sau 17/3/2008, tùy từng trường hợp cụ thể. Trong chính sách điều chỉnh lãi suất, Ngân hàng nhà nước luôn thận trọng và đưara các mức độ điều chỉnh lãi suất cơ bản cho phù hợp. Những tháng đầu năm 2008, diễn racuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng thương mại. Nguyên nhân là do các ngân hàngthương mại đang thiểu thanh khoản trầm trọng. Trước tình hình đó, Ngân hàng nhà nướcđã ra Quyết định 305/QĐ-NHNN ngày 30/01/2008, lãi suất cơ bản sau 25 tháng giữ ổnđịnh ở mức 8,25%/năm tăng lên 0,5%/năm, chuyển sang mức 8,75%/năm. Sau hơn 3 thángthực hiện, đến 19/5/2008, lãi suất cơ bản vọt lên 12%/năm và chưa đầy 1 tháng sau, ngày 14
  15. 15. 11/6/2008, Quyết định 1317/QĐ-NHNN của NHNN đã nâng thêm 2% đưa lãi suất cơ bảnlên mức 14%/năm...(Xem bảng 1) Bảng 1: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản từ tháng 12/2005 - đến tháng6/2008 Lãi suất Quyết định Ngày thực hiện 1317/QĐ-NHNN ngày 14%/năm 11/06/2008 10/6/2008 1099/QĐ-NHNN ngày 12%/năm 19/05/2008 16/5/2008 305/QĐ-NHNN ngày 8.75%/năm 01/02/2008 30/1/2008 1746/QĐ-NHNN ngày 8,25%/năm 01/12/2005 1/12/2005 Trong điều kiện tiền quá nhiều trong lưu thông thì việc sử dụng các công cụ chínhsách tiền tệ để giảm lượng tiền thừa là hoàn toàn đúng xét cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Sựcan thiệp quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước cho thấy được chính kiến cũng như sự quyếttâm của toàn hệ thống ngân hàng trong việc kiềm chế lạm phát. Cuộc chạy đua lãi suấtcũng bắt đầu có dấu hiệu chững lại sau một loạt các quyết định của Ngân hàng nhà nướctrong việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ. Lãi suất cơ bản giảm xuống từ14%/năm còn 8,5%/năm. (Xem bảng 2). Bảng 2: Diễn biến Lãi suất cơ bản năm 2008 Lãi suất CB Quyết định Ngày thực hiện 8,5% 3161/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 22/12/2008 10% 2948/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 05/12/2008 2808/QĐ--NHNN ngày 11%/năm 21/11/2008 20/11/2008 12%/năm 2559/QĐ-NHNN ngày 3/11/2008 05/11/2008 13.0%/năm 2316/QĐ-NHNN ngày 20/10/2008 21/10/2008 14%/năm 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008 11/06/2008 - Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì lần lượt tăng lên: 3,5%/năm; 5%/năm;10%/năm, sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm. (Xem bảng 3). 15
  16. 16. Bảng 3: lãi suất dự trữ bắt buộc năm 2008 Lãi suất Quyết định Ngày thực hiện DTBB 3162/QĐ-NHNN ngày 8,5%/năm 22/12/2008 19/12/2008 2950/QĐ-NHNN ngày 9%/năm 5/12/2008 3/12/2008 2321/QĐ-NHNN ngày 10%/năm 21/10/2008 20/10/2008 2133/QĐ-NHNN ngày 5,0%/năm 01/10/2008 25/9/2008 1907/QĐ-NHNN ngày 3,5%/năm 01/9/2008 29/8/2008 Tất cả những quyết định trên đều hướng đến việc tăng thêm khả năng cho các ngânhàng thương mại trong việc mở rộng “hầu bao” cho vay đối với nền kinh tế. Ngay sau đó,mặt bằng lãi suất mới được thiết lập, các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm lãi suất.Ngày 01/12, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển thiết lập mặt bằng lãi suất mới với mức thấpnhất là 11,4%/năm; ngày 05/12, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũngcông bố lãi suất thấp nhất của mình là 11%/năm; ngày 10/12, ngân hàng thương mại Xuấtnhập khẩu Việt Nam giảm lãi suất cho vay với doanh nghiệp, ngắn hạn còn 13,2%/năm,giảm 1,2%/năm so với cuối tháng 11… Tháng 12/2008, lãi suất cho vay phổ biến ở mức 13-14%/năm. Động thái giảm lãisuất của các ngân hàng là một giải pháp tích cực cho doanh nghiệp, nhất là các doanhnghiệp vừa và nhỏ, giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn để duy trì và mở rộngsản xuất. Về cơ chế lãi suất, lãi suất huy động vốn sẽ áp dụng ở mức hợp lý phù hợp vớichính sách lãi suất thực dương theo cơ chế thị trường và các quy định của Ngân hàng Nhànước trong từng thời kỳ, ấn định các mức lãi suất, cơ cấu lãi suất huy động vốn, phù hợpvới thông lệ và mặt bằng lãi suất thị trường đối với từng kỳ hạn. Trong thời gian tới, các ngân hàng thương mại sẽ không được áp dụng các hìnhthức khuyến mãi bằng tiền và hiện vật đối với người gửi tiền như là một hình thức cạnh 16
  17. 17. tranh không lành mạnh để thu hút tiền gửi, làm dịch chuyển tiền gửi giữa các ngân hàng,gây xáo trộn thị trường tiền tệ. Tháng 9/2008, NHNN ban hành một số quyết định trong điều hành chính sách tiềntệ. Theo đó, NHNN giữ nguyên lãi suất cơ bản là 14%/năm nhưng tăng lãi suất tiền gửi dựtrữ bắt buộc đối với nội tệ tại NHNN từ 1,2% lên 3,6%/năm. Với động thái này, có thể thấyrõ việc ưu tiên cho kiềm chế lạm phát đang được tiếp tục thực hiện. Những quyết địnhtrên cho thấy, NHNN vẫn kiên trì thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, ưu tiên cho kiềmchế lạm phát hơn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy chỉ số CPI tháng 8/2008 chỉ còn ởmức tăng 1,56%, thấp hơn rất nhiều mức tăng của các tháng trước đó nhưng nhiều phântích cho rằng, mức tăng CPI trong 12 tháng qua vẫn còn rất cao và việc kiềm chế lạm phátvẫn phải được tiếp tục, không lơ là. Với quyết định nói trên, có thể dự đoán rằng trong 8tháng đầu năm, dư nợ cho vay của các Ngân hàng Thương mại và Tổ chức tín dụng vẫn ởmức cao mà trong điều hành, NHNN thấy cần phải tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để hạn lượngtiền lưu thông, kìm hãm việc mở rộng tín dụng. Bởi lẽ, bình quân 3 ngân hàng thương mạinhà nước (không tính Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long và ngân hàngthương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam) có tổng số dư tiền gửi là 200.000 tỷ đồng,trong đó tiền gửi nội tệ giả sử bình quân của mỗi ngân hàng là 150.000 tỷ đồng, thì tiền gửidự trữ bắt buộc tăng thêm đối với mỗi ngân hàng là 1.500 tỷ đồng. Ngoài ra, NHNN vẫngiữ nguyên lãi suất này. Ngược lại, NHNN tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc tiền gửinội tệ lên gấp 3 lần mức trước đó. Quyết định này cũng có ý nghĩa tác động tới việc giảmchi phí huy động vốn, tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay. Vìvới một lượng dự trữ bắt buộc, lãi suất mà ngân hàng được hưởng cao gấp ba lần mức hiệnhành (quyết định tăng lãi suất dự trữ bắt buộc có hiệu lực từ 1/9/2008).Phản ứng tức thì đốivới quyết định trên của Ngân hàng nhà nước, các ngân hàng thương mại nhà nước vàVietcombank đã có quyết định điều chỉnh lãi suất cho vay vốn nội tệ đối với khách hànggiảm từ 0,5%-1,0%/tháng so với trước.2.2.5 Công cụ tỷ giá. Trong chính sách điều hành tỷ giá, lần thứ hai liên tiếp Ngân hàng Nhà nước nớirộng biên độ kể từ đầu năm 2008. Từ ngày 10/3 tới, tỷ giá giao dịch bình quân trên thịtrường liên ngân hàng nới thêm ±0,25% (tăng từ ±0,75% lên ±1%). Đây là một động tháicho thấy chính sách tỷ giá đang cởi mở hơn, phản ánh thị trường sát hơn trong thời giantới. Ngày 26/7/2008, Ngân hàng Nhà nước đã có một loạt quyết định quan trọng liên quanđến điều hành ngoại tệ và lãi suất. Việt Nam điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt có kiểm 17
  18. 18. soát, vì thế cần có một biên độ để các tổ chức tín dụng ấn định từ 0,25% tăng dần và hiệnlà 1%. Tùy theo các tổ chức tín dụng, và dựa trên quan hệ cung – cầu để ấn định. Việc mởbiên độ là để tạo điều kiện linh hoạt hơn cho các tổ chức tín dụng. Chủ trương nới biên độlên 2% đã được Chính phủ cho phép và Ngân hàng nhà nước quyết định thực hiện. Cùngvới mở rộng biện độ, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng là phải niêm yết,mua – bán đúng với giá Ngân hàng Nhà nước công bố và cộng thêm biên độ +/-2%; khôngđược dùng đồng tiền thứ ba để tính ra tỷ giá VND với USD gây xáo trộn và không trungthực về tỷ giá. Năm 2009, tình hình tài chính tiền tệ tương đối ổn định, Ngân hàng nhà nước thựchiện phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tỷ giá. Mục tiêu điều hành chínhsách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2009 là tiếp tục duy trì ổn định để tạo lòngtin đối với thị trường, góp phần khôi phục sự phát triển, ổn định kinh tế vĩ mô, chủ độngngăn chặn suy giảm kinh tế. Ngân hàng nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để giữổn định ở mức phù hợp, nhằm tạo điều kiện tối đa hỗ trợ xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu,đảm bảo cán cân thanh toán quốc tế bền vững, đồng thời hạn chế tâm lý kỳ vọng tỷ giá sẽtăng cao, giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh ổn định.Bên cạnh đó,Ngân hàng nhà nước phối hợp cùng Bộ Công Thương quản lý chặt chẽ vàkhông để nhập siêu ở mức cao nhằm tránh ảnh hưởng tới cán cân thanh toán quốc tế và gâykhó khăn cho công tác điều hành tỷ giá. Tiếp tục kiên trì mục tiêu điều hành tỷ giá linhhoạt trong ngắn hạn, tương đối ổn định trong dài hạn giúp kiềm chế lạm phát và khôi phụcổn định kinh tế vĩ mô là chủ trương của Ngân hàng nhà nước. Bên cạnh đó, yếu tố lạm pháttăng cao cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam, trong khi đó,các công cụ kiềm chế lạm phát lại khiến cho việc duy trì tỷ giá để hỗ trợ sức cạnh tranh đốimặt với những giới hạn nhất định. Vì thế, Ngân hàng nhà nước sẽ phối hợp chặt chẽ giữachính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá. Nhằm tạo điều kiện thực hiện tốt việc điều hành tiền tệ, tránh sự thiếu hụt “độtngột“ vốn thanh toán của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng cườngphối hợp với Bộ Tài chính thực hiện chuyển số dư tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại ngânhàng thương mại hiện nay về Ngân hàng Nhà nước theo một lộ trình nhất định trong năm2008. Đối với cơ chế cho vay, Ngân hàng Nhà nước sẽ rà soát để chỉnh sửa, bổ sung cáccơ chế về tín dụng, cho vay đầu tư và kinh doanh bất động sản, trích lập và sử dụng dựphòng rủi ro tín dụng, cho vay đối với nông nghiệp, nông thôn để kiểm soát chặt chẽ các 18
  19. 19. hoạt động tín dụng và tổng phương tiện thanh toán ngay từ đầu năm theo mục tiêu tăngtrưởng tối đa 30%. Đặc biệt với hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán, Ngân hàng nhànước cho phép các ngân hàng thương mại tiếp tục thực hiện theo quy định tại Quyết địnhsố 03/2008/QĐ-NHNN ngày 1/2/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.2.2.6 Nghiệp vụ thị trường mở : Năm 2008 được coi là một năm điều hành thành công CSTT của NHNN Việt Namtrong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những khó khăn nội tại của nền kinh tế.Đóng góp vào thành công đó phải kể đến việc sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụCSTT, trong đó có vai trò quan trọng của nghiệp vụ thị trường mở thể hiện qua doanh sốgiao dịch tăng gần 150% so với năm 2007. Điều hành linh hoạt TTM đã góp phần kiểmsoát lạm phát thành công, đảm bảo khả năng thanh khoản cho các tổ chức tín dụng và sựbền vững cho các hệ thống ngân hàng. Năm 2008 sở giao dịch NHNN đã tổ chức 402 phiên giao dịch TTM, tăng 47 phiênso với năm 2007. Mua GTCG chiếm đến 64,67% tổng phiên giao dịch với doanh số trúngthầu chiếm đến 91,42%. Không chỉ tăng số phiên giao dịch, doanh số giao dịch cũng tăngkỉ lục so với năm 2007, trong đó chủ yếu là giao dịch mua có kì hạn. Trong khi đó, giaodịch bán hẳn chỉ còn 76.837 tỷ đồng, giảm 4,6 lần so với năm 2007. Những con số trên phần nào phản ánh sự nhộn nhịp trên thị trường tiền tệ. Quý Inăm 2008, trên thị trường mở vẫn diễn ra cả 2 phiên giao dịch mua bán xen kẽ nhau nhưngcác tài chính tín dụng chủ yếu tham gia mua. Trước tình hình các NHTM chạy đua tăng lãisuất huy động để thu hút vốn trên thị trường, NHNN đã áp dụng các biện pháp mạnh nhưkhống chế lãi suất huy động tối đa, nâng lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu. Trong 2 thángđầu năm 2008, NHNN áp dụng cả hai phương pháp đấu thầu lãi suất và đấu thầu khốilượng. Nhưng đến giữa tháng 2/2008, do lãi suất đặt thầu và thắng thầu bắt đầu tăng cao,NHNN chỉ sử dụng phương thức đấu thầu khối lượng với lãi suất được thống nhất nhằmtạo định hướng cho thị trường. Sang quý II/2008 khi nguồn vốn trên thị trường ngày càngkhan hiếm, để đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, NHNN một mặt thựchiện thắt chặt tiền tệ, mặt khác vẫn cung cấp thanh khoản cho tài chính tín dụng qua kênhTTM. Lượng vốn bơm ra trên thị trương mở thời kì này chiếm đến 99,65% tổng khốilượng giao dịch thành công trên thị trường mở. TTM đã trơr thành công cụ hữu hiệu củaNHNN cũng như tài chính tín dụng trong thời kì này. 19
  20. 20. Sự thành công của TTM đã thu hút ngày càng nhiều tài chính tín dụng tham gia. Nếunăm 2007, TTM có 44 thành viên thì năm 2008 đã tăng lên 56 tài chính tín dụng; trong đócó 35 tài chính tín dụng có giao dịch thường xuyên trên TTM, tăng 66,67% so với nămtrước. Đặc biệt, nếu trước đây các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ tham gia giao dịchbán GTCG thì nay đã tham gia cả mua và bán.2.3. Nhận xét chung Có thể nói, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, chính sách tiền tệ thông qua điều hànhlãi suất tiền gửi và lãi suất dự trữ bắt buộc kịp thời đã giúp ngân hàng thương mại vượt quađược thời kỳ sóng gió. Hiện nay, cơ bản các ngân hàng hoạt động ổn định, lãi suất huyđộng và lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đã dần trở lại gầnnhư cuối năm 2007. Trước bối cảnh phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước, trong 6 tháng đầu năm2008, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có những phản ứng kịp thời, sử dụng đồng bộ vàquyết liệt về điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát có hiệu quả vàổn định kinh tế vĩ mô. Các công cụ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt để hút tiềntừ lưu thông nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế, điều hành linh hoạt tỷgiá theo tín hiệu thị trường. Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường công tác thanh tra, giámsát hoạt động của thị trường ngoại hối và của các tổ chức tín dụng, hạn chế tăng trưởng tíndụng quá nóng có thể gây mất an toàn hệ thống của các tổ chức tín dụng. Đến cuối năm2008 và sang năm 2009, để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền tệ thắtchặt được chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng. Bên cạnh những thành công đã đạt được hoạt động điều hành chính sách tiền tệ củaNgân hàng nhà nước còn tồn tại một số khiếm khuyết. Đó là: định hướng thực hiện các giảipháp là đúng nhưng liều lượng, thời gian tiến hành chưa thích hợp, nhuần nhuyễn. Liềulượng quá nhiều, căng thẳng cùng một lúc, trong điều kiện thanh khoản của các ngân hàngđang ở mức thấp vì cho vay dễ dãi từ các năm trước dồn cho bất động sản, chứng khoán.Đồng thời với đó, các ngân hàng thương mại lại phải mua trái phiếu Ngân hàng nhà nước,tăng dữ trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu… đã tạo một áp lực lớn, làm tình hình hơi rối vàlãi suất tiền gửi cứ đua nhau lên. Ngoài ra, sự phối hợp giữa chính sách tài khoá, chínhsách đầu tư, xuất nhập khẩu lại chưa được phối hợp đồng thời. 20
  21. 21. 21
  22. 22. PHẦN III: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ • Chú trọng phát triển các công cụ của chính sách tiền tệ vì đây là những phương tiệnhữu hiệu giúp cho chính sách tiền tệ được thực thi có hiệu quả.  Đối với công cụ nghiệp vụ thị trường mở. - Cơ sở pháp lý cho hoạt động của thị trường cần được rà soát lại để kịp thời điềuchỉnh theo hướng tạo điều kiện để thu hút thành viên tham gia thị trường mở. - Ngân hàng nhà nước cần nghiên cứu để tiếp tục mở rộng thêm nhiều loại hànghoá như: các loại trái phiếu, các chứng khoán do tổ chức tín dụng nhà nước phát hành… cóthể sử dụng trong các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở. - Chất lượng công tác dự báo, điều hành thị trường cần từng bước hoàn thiện trêncơ sở nâng cao trình độ cán bộ dự báo, cải tiến chế độ cung cấp thông tin trong và ngoàingành với sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị Ngân hàng nhà nước, các tổ chức tín dụng,các Bộ ngành liên quan. - Đẩy mạnh tiến độ hiện đại hoá hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Đây là cơ sởđể nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiệp vụ thị trường mở.  Đối với công cụ dự trữ bắt buộc. Để nâng cao hiệu quả điều tiết của công cụ này, Ngân hàng nhà nước cần có các giảipháp hoàn thiện công cụ theo hướng mở rộng khả năng kiểm soát tiền tệ của ngân hàngnhà nước và khuyến khích các tổ chức tín dụng sử dụng vốn linh hoạt và hiệu quả. Một sốnội dung cần xem xét điều chỉnh đối với dự trữ bắt buộc như xem xét không trả lãi cho tiềngửi vượt dự trữ bắt buộc và trả lãi cho tiền dự trữ bắt buộc. - Mở rộng diện gửi tiền phải dự trữ bắt buộc từ 12 tháng lên 24 tháng. - Tỷ lệ dự trữ bắt buộc cần được điều chỉnh linh hoạt hơn, phối hợp đồng bộ với việcđiều chỉnh đối với các công cụ khác như tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở.  Đối với công cụ tái cấp vốn. Công cụ tái cấp vốn cần được hoàn thiện theo hướng thực hiện vai trò là công cụ cấptín dụng ngắn hạn của Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng nhà nước cung ứng phương tiệnthanh toán cho các ngân hàng thương mại và thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng.Quy chế tái cấp vốn cần được tiếp tục hoàn thiện, quy định rõ từng hình thức tái cấp vốn:tái chiết khấu, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn, cho vay có bảo đảmbằng cầm cố thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn… Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái 22
  23. 23. chiết khấu cần được điều chỉnh linh hoạt hơn trên cơ sở bám sát diễn biến thị trường vàmục tiêu điều hành chính sách tiền tệ.  Đối với công cụ hỗ trợ như lãi suất, tỷ giá. Đứng trước xu hướng hội nhập quốc tế, việc điều hành lãi suất, tỷ giá cần được thựchiện linh hoạt theo hướng tiến tới mục tiêu tự do hoá. Việc điều hành lãi suất cần tiếp tụcgắn liền với điều hành tỷ giá. Riêng đối với tỷ giá, thay cho việc gắn đồng Việt Nam vớiđồng USD, tỷ giá chính thức gắn với rổ tiền tệ (gồm USD và các đồng tiền khác như Nhật,NEI, khối EU và các nước trong khu vực). Hơn nữa, Ngân hàng trung ương cần có cácbiện pháp tiếp tục phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để tỷ giá thực sự do các lựclượng thị trường quyết định. • Tăng cường sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và các chính sách khác trong hoạtđộng điều tiết kinh tế vĩ mô. Như chúng ta đã biết, chính sách tiền tệ là một bộ phận quan trọng của chính sáchkinh tế tài chính của nhà nước, nhằm kiểm soát khối lượng tiền cung ứng, đảm bảo ổn địnhhệ thống tiền tệ trong nền kinh tế. Nhưng chính vì là một chính sách kinh tế vĩ mô, chínhsách điều tiết khối lượng tiền, trong quá trình thực thi chính sách này, có thể dẫn đến mâuthuẫn với các chính sách kinh tế khác. Do vậy, cần có sự kết hợp giữa chính sách tiền tệvới các chính sách kinh tế khác, nhằm tránh những tổn thất cho nền kinh tế. Khi chính sáchtiền tệ hoạt động không hiệu quả, sẽ ảnh hưởng đến các chính sách khác. • Điều hành chính sách tiền tệ phải có những đổi mới. Thứ nhất phải làm đồng bộ những chính sách đã có, kể cả những chính sách mớibổ sung (khuyến khích xuất khẩu, tiêu dùng, đầu tư, chống suy giảm kinh tế…) từ đó cầnphải nới chính sách tiền tệ, tăng vốn vào những nơi, dự án tạo ra xuất khẩu, việc làm, hàngtiêu dùng, thậm chí cả tín dụng cho tiêu dùng. Tiếp tục tính đến bài toán giảm lãi suất, đơngiản thủ tục hành chính để doanh nghiệp tiếp cận được vốn và sử dụng vốn này. • Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt. Chính sách tiền tệ linh hoạt là chính sách thực hiện đồng bộ các công cụ chính sáchtiền tệ, kết hợp hài hòa, linh hoạt giữa điều hành tỷ giá và lãi suất, tăng cường phối hợp vớicác bộ, ngành để bảo đảm nhất quán giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là giữa chínhsách tiền tệ và chính sách tài khóa; nâng cao hiệu quả công tác thống kê, dự báo, phản ứngkịp thời trước những diễn biến kinh tế, tiền tệ trong nước và quốc tế; bảo đảm tính thanhkhoản của các tổ chức tín dụng 23
  24. 24. • Chính sách tiền tệ phải đảm bảo hài hoà giữa mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn, giữa mục tiêu phát triển ổn định và mục tiêu thu hút vốn, khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế. • Cần nâng cao tính mềm dẻo, linh hoạt của các công cụ của chính sách tiền tệ để đáp ứng nhu cầu quản lý nền kinh tế, bên cạnh việc sử dụng các công cụ trực tiếp phải không ngừng tăng vai trò của các công cụ gián tiếp. trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, chúng ta đang trong lộ trình tự do hoá thương mạidẫn đến tự do hoá tài chính, nguồn vốn đầu tư nước ngoài không ngừng gia tăng đòi hỏichính sách tiền tệ phải có nhiều đối sách kinh tế mới có thể đảm bảo được sự ổn định củanền kinh tế, tránh được những cú sốc và hạn chế rủi ro từ bên ngoài. • Nâng cao vai trò của Ngân hàng trung ương trong lĩnh vực điều hành, quản lý tiềntệ, giám sát các hoạt động tín dụng, tăng cường năng lực của Ngân hàng trung ương về tổchức, thể chế, pháp luật và cán bộ. • Thực thi chính sách tiền tệ hướng tới lạm phát, giải pháp hữu hiệu để bình ổn kinhtế.Mục tiêu lạm phát được lượng hoá bằng một con số hay một biên độ dao động của lạmphát và đặt tỷ lệ lạm phát cho một số năm hoặc nhiều năm trong tương lai. Việc hình thànhmục tiêu lạm phát hàm ý xây dựng một chỉ số lạm phát cụ thể, nghĩa là phải có sự công bốvề chỉ số lạm phát và được xem như mục tiêu ổn định giá cả trong tương lai.Chính sách tiền tệ thể hiện tính rõ ràng, minh bạch và linh hoạt. Tính rõ ràng, minh bạchthể hiện mục tiêu lạm phát phải được chuyển đến công chúng một cách rõ ràng, minh bạchvà hiệu quả. Do đó, Ngân hàng trung ương nên có một khuôn khổ tốt cho dự báo lạm phát,có những hiểu biết nhất định về kênh truyền dẫn giữa công cụ của chính sách tiền tệ và lạmphát, qua đó mới biết được độ trễ thời gian giữa việc điều chỉnh các công cụ chính sáchtiền tệ với ảnh hưởng của nó tới tỷ lệ lạm phát. Trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ, lạm phát dự báo được sử dụng nhưmục tiêu trung gian chủ yếu của chính sách tiền tệ, do vậy cần xác định rõ một cơ chế dẫntruyền của các công cụ chính sách tiền tệ hướng tới lạm phát trong tương lai. • Duy trì quan điểm điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, kiểm soát tiền tệ chặtchẽ nhằm ổn định tiền tệ, ổn định vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 24
  25. 25. Muốn làm được điều này, trước hết Ngân hàng nhà nước cần xem xét thật kỹ lưỡngkhi đưa ra các quyết định về điều hành chính sách tiền tệ. Ví dụ, trong tình kinh tế nhưhiện này, thì lựa chọn công cụ nào là hợp lý, mức thay đổi dự trữ bắt buộc, hạn mức tíndụng là bao nhiêu thì phù hợp. Mọi quyết định của Ngân hàng nhà nước có thể khiến chonền kinh tế phát triển hay đi xuống. Vì vậy, thận trọng trong việc ra quyết định là hoàntoàn cần thiết. Do đó, Ngân hàng nhà nước cần chú ý tới việc điều hành lãi suất dựa trênquan điểm giữ ổn định lãi suất huy động và cho vay trên thị trường nhằm hạn chế nhữngtác động tiêu cực. Đầu tiên cần điều chỉnh các mức lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãisuất chiết khấu phù hợp với sự biến động của thị trường. Ngoài ra, công cụ dự trữ bắt buộccần được sử dụng trong việc kiểm soát sự gia tăng của tín dụng và bảo đảm cân đối hợp lýgiữa nguồn vốn nội tệ và ngoại tệ. Ngân hàng trung ương cần kiểm soát tăng trưởng tíndụng phải kết hợp đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của mình. 25
  26. 26. LỜI KẾT Thông qua việc nghiên cứu các công cụ của chính sách tiền tệ và điều tiết vĩ môcủa Ngân hàng trung ương, có thể thấy chính sách tiền tệ ngày càng trở thành một bộ phậnquan trọng trong hệ thống chính sách vĩ mô của các quốc gia. Nhất là trong quá trình hộinhập kinh tế như hiện nay, chính sách tiền tệ lại càng trở nên cần thiết. Toàn cầu hoá đặt ranhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia, trong đó có những vấn đề đặt ra cho chínhsách tiền tệ. Đó là làm sao để đảm bảo cho đất nước tham gia hội nhập, đẩy mạnh tăngtrưởng và phát triển kinh tế bền vững mà vẫn đảm bảo giữ ổn định giá trị đồng nội tệ, kiềmchế lạm phát, tạo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp. Với những thành tựu của chính sáchtiền tệ ở Việt Nam đạt được trong thời gian qua, đã đem lại những hi vọng và sự tin tưởngcủa người dân vào đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, đó cũng là cơsở để hoàn thiện chính sách tiền tệ trong tương lại. Tuy nhiên, vấn đề cần đặt ra hiện nay làphải làm sao giữ vững mục tiêu và quan điểm điều hành chính sách tiền tệ của Đảng vàNhà nước trong giai đoạn mới, điều đó đòi hỏi Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần thực thịmột chính sách tiền tệ linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể và có sự phối hợp với các chínhsách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá, chính sách thu nhập, chính sách kinh tếđối ngoại. Làm được tốt những điều đó, chính sách tiền tệ sẽ thực sự phát huy được vai tròđiều tiết của mình, và trở thành một công cụ hữu hiệu để bình ổn kinh tế, thúc đẩy tăngtrưởng và phát triển. Với sự khái quát về lý thuyết cũng như thực trạng hoạt động của chính sách tiển tệthông qua sự điều tiết của Ngân hàng trung ương hiện nay hi vọng sẽ tạo cho bạn đọc mộtcái nhìn xác thực hơn về hoạt động của Ngân hàng trung ương. Bên cạnh những ý kiếnđóng góp chủ quan nhằm nâng cao vai trò của Ngân hàng trung ương đối với sự điều tiếtnền kinh tế vĩ mô, trên tinh thần cầu thị, rất mong được sự đóng góp ý kiến từ phía cácbạn. Cuối cùng em xin được chân thành cảm ơn cô giáo đã hướng dẫn giúp đỡ em hoànthành đề án này. Hà Nội, tháng 12 năm 2009 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. Các nguyên lý tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính. Trần Viết Hoàng, Cung Trần Việt. NXB Thống Kê 2008. 2. Đổi mới chính sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam. TS Nguyễn Thu Thảo. NXB Chính trị quốc gia. 2. Đánh giá quản lý nhà nước về tài chính tiền tệ. NXB Lao Động 3. Giáo trình kinh tế vĩ mô. Đại học kinh tế quốc dân 2000 26
  27. 27. 4. Giáo trình kinh tế và tài chính công. ĐHKTQD20025. Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ. PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài khoa NH-TC ĐHKTQDchủ biên 2007.6. Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương 1/20007. Lý thuyết tài chính tiền tệ. Nguyễn Đăng Dờn. NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 2009.8. Nghiệp vụ ngân hàng trung ương. PGS.TS. Hoàng Xuân Quế khoa NH-TC NXB thống kê 2003.9. Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương. Nguyễn Đăng Dờn. NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 2009.10. Thông tin tài chính số 19 tháng 10/2009.11. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính. Prederic s.mishkin. NXB khoa học và kỹ thuật.12. Tiền tệ và ngân hàng. PGS Lê Văn Tề, TS Ngô Hướng. NXB Thống kê 2000.13. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 3/2004 và số 6/2003.14. Văn kiện đại hội Đảng 9. NXB Chính trị quốc gia 2001.15. www.vneconomy.vn16. www.saga.vn17. www.thesaigontimes.vn18. www.taichinhvietnam.com19. www.sbv.gov.vn 27
  28. 28. MỤC LỤC 28

×