BÀI GIẢNG 9: THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO
I. Định nghĩa: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo bao gồm các công ty làm ra n...
1. Phương pháp đại số
Chú ý: Ta đang xét hành vi của một công ty nên ta biểu diễn số lượng = q.
Mục đích của công ty là tì...
VI. Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
1. Định nghĩa: Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tran...
Trong dài hạn, doanh nghiệp trong ngành có lợi nhuận dương, khuyến khích các doanh nghiệp
khác gia nhập ngành, làm giảm gi...
BÀI GIẢNG 10: THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN BÁN
I. Định nghĩa: Một thị trường độc quyền bán gồm một người bán duy nhất đối diện trư...
Như vậy để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất tại mức sản lượng mà ở đó
MC = MR.
Trên đồ thị, mức giá...
MC sau khi có thuế: MCt = MC+ t
AC sau khi có thuế ACt = AC + t
Biểu diến trên đồ thị đường MC và AC dịch chuyển lên trên ...
Nếu chính phủ không qui định giá thì doanh nghiệp sẽ bán ở mức giá Pm và sản lượng Qm gây
tổn thất cho nền kinh tế. Do đó,...
BÀI GIẢNG 11: THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN VÀ THỊ
TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN NHÓM
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường độ...
Trong dài hạn, các doanh nghiệp cạnh tranh
độc quyền có thể thiết lập bất cứ qui mô sản xuất
nào mà họ mong muốn và nếu họ...
Bài toán: Chúng ta hãy tưởng tượng một thị trấn có hai cư dân (Khôn và Ngoan) sở hữu các
giếng nước để sản xuất nước sạch....
3. Trạng thái cân bằng trong độc quyền nhóm
Mặc dù các nhà độc quyền muốn thành lập Các-ten để thu lợi nhuận độc quyền như...
lãnh án là 20 năm tù. Nhưng nếu cả hai người nhận tội, thì chúng tôi không cần chứng cớ và
không mất thời gian điều tra và...
2.2 Định giá: P &G và Unilever có kế hoạch cùng gia nhập thị trường về nhóm sản phẩm mới.
Giả định những hãng này có điều ...
giá cả. Đó là lý do tại sao giải thích tính cứng nhắc của giá cả là một đặc điểm của thị trường độc
quyền nhóm. Cho dù chi...
Thuế quan thấp
25 ,25 10, 30
Thuế quan cao 30, 10 20,20 tỷ
a. Chiến lược vượt trội của Mỹ là gì? của Mêhico là gì? Hãy giả...
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Kinh tế vi mô - Chương 9,10,11 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền bán, độc quyền nhóm

8,702 views
8,656 views

Published on

Published in: Business
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
8,702
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
145
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Kinh tế vi mô - Chương 9,10,11 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền bán, độc quyền nhóm

  1. 1. BÀI GIẢNG 9: THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO I. Định nghĩa: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo bao gồm các công ty làm ra những sản phẩm như nhau và bán cùng một giá giống nhau. Số lượng sản phẩm sản xuất của mỗi công ty quá nhỏ so với toàn bộ cầu thị trường đến nỗi không một công ty nào gây được ảnh hưởng lên giá thị trường. II. Đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo 1. Các công ty sản xuất những sản phẩm giống nhau 2. Người tiêu dùng có được thông tin hoàn hảo về mức giá mà mọi người bán trong thị trường đưa ra. 3. Rất nhiều người mua và người bán đến mức bất cứ người mua hay người bán đều không thể tác động đến giá cả trên thị trường 4. Lối ra vào ngành hoàn toàn tự do hàm ý tất cả các công ty có khả năng tiếp cận về công nghệ, yếu tố đầu vào là như nhau. III. Đặc điểm của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo 1. Đường cầu: doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo là đường nằm ngang. Biểu thị doanh nghiệp có thể bán bất cứ số lượng sản phẩm nào tại cùng một mức giá. Hình 9.1: Đường cầu thị trường và đường cầu doanh nghiệp 2. Tổng doanh thu (TR) của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp nhận được khi tiêu thụ một số lượng sản phẩm nhất định TR = P.Q. (P là không đổi) 3. Doanh thu biên (MR) doanh thu tăng thêm khi doanh nghiệp bán thêm một đơn vị sản phẩm. MR = ∆TR/∆Q= P 4. Doanh thu trung bình (AR) là doanh thu tính trung bình cho mỗi đơn vị sản phẩm AR= PQ/Q= P. Như vậy doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo có đặc điểm là MR= AR = P. Hay nói cách khác đường doanh thu biên, đường doanh thu trung bình chính là đường cầu. IV. Tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo 37 Đường cầu thị trường P Q P Q P S D Qo P MR,d,AR Đường cầu của doanh nghiệp
  2. 2. 1. Phương pháp đại số Chú ý: Ta đang xét hành vi của một công ty nên ta biểu diễn số lượng = q. Mục đích của công ty là tìm mức xuất lượng (q) có thể tối đa hóa lợi nhuận (Π ) Max (Π(q)) = TR(q) - TC(q) Π = TR - TC <=> Π’(q) = TR’(q) – TC’(q) = 0 Hay MC = MR. Doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận sản xuất tại mức sản lượng mà ở đó MC = MR=P 2. Sử dụng đồ thị Ở mức sản lượng nhỏ hơn Q*, doanh thu biên lớn hơn chi phí biên do đó doanh nghiệp nên tăng mức sản lượng sản xuất. Ngược lại, tại mức sản lượng lớn hơn Q*, chi phí biên lớn hơn doanh thu biên do đó doanh nghiệp nên giảm mức sản lượng. Chỉ có tại Q* thỏa mãn MC= MR = P doanh nghiệp đạt lợi nhuận tối đa. V. Quyết định đóng cửa của doanh nghiệp trong ngắn hạn Các doanh nghiệp không phải lúc nào cũng đạt lợi nhuận trong ngắn hạn. Trong một số trường hợp doanh nghiệp phải chịu lỗ lã. Trong trường hợp này doanh nghiệp sẽ phải đối diện bài toán nên đóng cửa doanh nghiệp hay tiếp tục sản xuất. Nếu doanh nghiệp đóng cửa: Tổng doanh thu của doanh nghiệp là 0 và tổng chi phí biến đổi là 0. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải chịu chi phí cố định không thể thu hồi. Do đó doanh nghiệp sẽ mất đi phần TFC nếu nó quyết định đóng cửa. Doanh nghiệp sẽ đóng cửa nếu lỗ lã từ việc quyết định sản xuất lớn hơn TFC hay doanh thu nhận được từ việc sản xuất nhỏ hơn chi phí biến đổi. Viết dưới dạng công thức ta có TR<TVC. Chia cả hai vế cho Q ta có kết quả doanh nghiệp sẽ đóng cửa khi TR/Q <TVC/Q hay P <AVC.Nghĩa là doanh nghiệp quyết định đóng cửa nếu giá hàng hóa thấp hơn chi phí biến đổi bình quân. Doanh nghiệp sẽ quyết định tiếp tục sản xuất nếu lỗ từ việc quyết định sản xuất nhỏ hơn TFC. Hay TR>TVC. Chia cả 2 vế cho Q ta có doanh nghiệp sẽ tiếp tục sản xuất P>AVC. 38 Hình 9.2: Sản lượng của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo $ MR, D AVC MC AC QQ* Lợi nhuận (π) của doanh nghiệp P
  3. 3. VI. Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo 1. Định nghĩa: Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo cho biết lượng hàng hóa mà người tiêu dùng sẵn sàn mua tại các mức giá khác nhau. Nếu công ty quyết định sản xuất, số lượng sản phẩm được quyết định bởi phương trình P = MC. Do đó MC chính là đường cung ngắn hạn của công ty. Tuy nhiên, tại mức giá P<AVCmin doanh nghiệp không sản xuất do đó phần đường MC nằm dưới đường chi phí biến đổi bình quân không phải là đường cung. Do đó, đường cung ngắn hạn của công ty là phần đường của chi phí cận biên nằm phía trên của đường chi phí biến đổi bình quân. VII. Quyết định trong dài hạn của doanh nghiệp về gia nhập hoặc rời bỏ thị trường. Doanh nghiệp trong dài hạn sẽ rời bỏ thị trường nếu doanh thu nhận được từ việc sản xuất nhỏ hơn tổng chi phí của nó. Hay doanh nghiệp sẽ rời bỏ thị trường nếu giá hàng hóa thấp hơn chi phí sản xuất bình quân. Rời bỏ thị trường nếu TR<TC hay P<AC. Đường cung dài hạn của doanh nghiệp cạnh tranh là phần của đường chi phí cận biên nằm trên đường tổng chi phí bình quân. Nếu giá thấp hơn AC, doanh nghiệp sẽ rời bỏ thị trường. VIII. Đường cung của ngành 1. Ngắn hạn: Cung thị trường với số doanh nghiệp cố định là tổng theo chiều ngang của tất cả các đường cung doanh nghiệp (hay đường chi phí biên) hiện hữu trong ngành. 2.Dài hạn: Mức cung thị trường khi có sự gia nhập và rời bỏ thị trường. Giả định: mọi công ty đều sản xuất với công nghệ như nhau và có khả năng tiếp cận thị trường cung cấp đầu vào cho sản xuất là như nhau. Với giả định này, mọi doanh nghiệp hiện có và doanh nghiệp có khả năng gia nhập thị trường đều có chi phí là giống nhau. 39 AVC MC AC Chi phí Q ACmin AVCmin Nếu P > ACmin doanh nghiệp có lãi và sản xuất Nếu ACmin > P > AVCmin doanh nghiệp bị lỗ nhưng vẫn sản xuất Nếu P < AVCmin doanh nghiệp bị lỗ và ngừng sản xuất Hình 9.3: Quyết định của DN CTHH trong ngắn hạn. AVCmin MR1 = D1 MC AC Tiền QQ1 P1 Q2 P2 AVC MR2 = D2 Hình 9.4: Đường cung ngắn hạn của doanh nghiệp cạnh tranh hoàn hảo
  4. 4. Trong dài hạn, doanh nghiệp trong ngành có lợi nhuận dương, khuyến khích các doanh nghiệp khác gia nhập ngành, làm giảm giá cả và giảm lợi nhuận. Ngược lại, các doanh nghiệp trên thị trường thua lỗ, một số doanh nghiệp rời bỏ thị trường, làm giảm mức cung, do đó giá cả và lợi nhuận tăng. Quá trình gia nhập và rời bỏ kết thúc khi lợi nhận bằng 0. Do đó điểm cân bằng trong dài hạn thỏa mãn P = AC. Trong dài hạn, thị trường chỉ có một mức giá tương ứng với lợi nhuận bằng 0, đó là mức tối thiểu của chi phí trung bình. Như vậy, đường cung trong dài hạn phải là đường nằm ngang ở mức giá này. Lưu ý: Tuy nhiên đường cung trong dài hạn có thể dốc lên do một số nguồn lực sản xuất bị giới hạn về số lượng và các doanh nghiệp phải chịu các chi phí khác nhau. Ví dụ: chi phí khác nhau một phần vì một số người làm việc nhanh hơn người khác và một phần vì số người có cách sử dụng thời gian của mình tốt hơn nhiều người khác. Tại mỗi mức giá cho trước, những người có chi phí thấp có nhiều khả năng gia nhập thị trường hơn những người có chi phí cao. Bài tập 1. Hàm tổng phí của một công ty là TC = 25+10Q +2Q2 . Nếu công ty này là công ty chấp nhận giá và P = 30. a. Mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận là bao nhiêu? b.Tại Q*, lợi nhuận, tổng định phí và tổng biến phí là bao nhiêu? 2. Một doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo có số liệu về chi phí sản xuất trong ngắn hạn như sau: Q 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 TC 1500 2500 3400 4300 5100 6100 7300 8600 10100 11900 13900 a. Tính AVC, AFC, AC và MC b. Xác định điểm đóng cửa. Ở những mức giá nào thì doanh nghiệp tiếp tục sản xuất? c. Xác định ngưỡng sinh lời. Ở những mức giá nào thì doanh nghiệp có lời. d. Nếu giá thị trường P= 1800đ/sp, doanh nghiệp sẽ sản xuất ở mức sản lượng nào để tối đa hóa lợi nhuận? Tổng lợi nhuận đạt được? e. Nếu giá thị trường P = 1000đ/sp. Doanh nghiệp sẽ sản xuất ở xuất lượng nào? Xác định phần lỗ nếu có. 3. Giả sử chi phí biên của một hãng cạnh tranh được cho bởi MC = 3+2Q. Nếu giá thị trường sản phẩm của hãng là 9 ngàn đồng. a. Mức sản lượng nào hãng sẽ sản xuất b. Thặng dư sản xuất của hãng là bao nhiêu? 40
  5. 5. BÀI GIẢNG 10: THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN BÁN I. Định nghĩa: Một thị trường độc quyền bán gồm một người bán duy nhất đối diện trước nhiều người mua. II. Đặc điểm của thị trường 1. Chỉ có duy nhất một người bán. 2. Sản phẩm của doanh nghiệp là riêng biệt hay nói cách khác nó có rất ít sản phẩm thay thế gần gũi cho nó. 3. Lối ra vào ngành là hoàn toàn bị phong tỏa. Các hàng rào của sự gia nhập xuất phát từ 3 nguồn chính như sau: - Độc quyền do chính phủ tạo ra. (có thể là do luật định, hay do mục đích chính trị). - Do duy nhất một doanh nghiệp sở hữu nguồn lực duy nhất. - Chi phí sản xuất của doanh nghiệp nào đó trở lên có hiệu quả hơn so với nhà sản xuất khác. Dạng độc quyền này được gọi là độc quyền tự nhiên. III. Đặc điểm của doanh nghiệp độc quyền bán 1. Đường cầu: Doanh nghiệp độc quyền bán là doanh nghiệp duy nhất cung ứng sản phẩm trên thị trường do đó đường cầu của doanh nghiệp độc quyền chính là đường cầu thị trường. Đường cầu độc quyền có hình dạng là đường dốc xuống. Đường cầu dốc xuống hàm ý nếu doanh nghiệp độc quyền quyết địn h nâng giá bán thì số lượng sản phẩm bán ra sẽ giảm xuống và ngược lại. Đường cầu là dốc xuống do đó MR<P. Điều này có thể chứng minh bằng đại số MR = ∆TR/∆Q = ∆(PQ)/ ∆Q = (∆P.Q+∆Q.P)/∆Q= P + (∆P/∆Q)Q = P+P (∆P/∆Q)(Q/P)= P +P(1/Ed) (vì Ed <0 do đó ta có MR <P). 2. Đường doanh thu biên (MR). Nếu đường cầu của doanh nghiệp độc quyền là một đường thẳng có dạng: P = b – a.Q thì doanh thu biên MR của doanh nghiệp độc quyền được xác định như sau: MR = TRQ’ = [(b – a.Q)Q]’ = b – 2a.Q. Biểu diễn trên đồ thị đường doanh thu biên có độ dốc gấp 2 lần độc dốc đường cầu và có cùng điểm cắt với trục tung. IV. Tối đa hóa lợi nhuận của nhà độc quyền bán 1. Nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận Lợi nhuận nhà độc quyền Π = TR – TC. Tối đa hóa lợi nhuận Πmax  Π’= 0  MC = MR. 41 Hình 10.1: Đường cầu D và đường doanh thu biên MR của doanh nghiệp độc quyền Q $ ền DMR b Π Q TRmax D MR Hình 10.2: Quyết định mức sản lượng của doanh nghiệp độc quyền Q $ I P* C Q* AC K MC
  6. 6. Như vậy để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất tại mức sản lượng mà ở đó MC = MR. Trên đồ thị, mức giá mà thị trường độc quyền bán là P*, mức sản lượng Q*. Lợi nhuận biểu diễn là hình KP*CI. 2. Qui tắc định giá trong thực tế Chúng ta biết rằng giá và lượng được lựa chọn sao cho doanh thu biên bằng với chi phí biên, nhưng trong thực tế doanh nghiệp rất khó có thể xác định về doanh thu bình quân và doanh thu biên của hãng mình. Các nhà quản lý biết đường chi phí biên của hãng đối với một khoảng sản lượng nhất định. Do đó, trên thực tế chúng ta muốn chuyển đổi điều kiện doanh thu biên bằng với chi phí biên bằng một qui tắc định giá đơn giản (qui tắc ngón tay cái) có thể sử dụng dễ dàng hơn trong thực tế. Để làm được điều này, chúng ta viết lại biểu thức của doanh thu biên MR = ∆TR/∆Q = ∆(PQ)/ ∆Q = (∆P.Q+∆Q.P)/∆Q= P + (∆P/∆Q)Q = P+P (∆P/∆Q)(Q/P)= P +P(1/Ed) Vì mục tiêu của hãng là tối đa hóa lợi nhuận nên từ điều kiện doanh thu biên bằng chi phí biên ta có: P+P/Ed =MC  P-MC = P/(-Ed)  (P-MC)/P = -1/Ed Ta có thể viết phương trình xác định giá tối ưu như sau )/1(+1 = Ed MC P Do đó: Vì Ed < 0 nên nhà độc quyền bán ấn định giá cao hơn chi phí biên và khả năng định giá cao hơn chi phí biên của nhà độc quyền bán tùy thuộc vào độ co giãn của cầu. 3. Đo lường mức độ độc quyền: Chỉ số Lerner về quyền lực thị trường (L) dao động từ 0 (đối với công ty cạnh tranh) đến 1 đối với nhà độc quyền bán có cầu co giãn đơn vị. L = (P-MC)/P = -1/Ed Nhận xét - Hệ số co giãn của cầu theo giá càng lớn thì thế lực độc quyền càng giảm - Trong thị trường cạnh tranh hoàn toàn P=MC => L = 0, thể hiện doanh nghiệp cạnh tranh hoàn toàn không có thế lực thị trường. V. Tác động của thuế đối với nhà độc quyền bán 1. Thuế đơn vị: Giả sử chính phủ đánh thuế tiêu thụ đặc biệt (t) đối với nhà độc quyền bán. Có nghĩa là chính phủ qui định mức thuế là t đơn vị tiền với mỗi đơn vị sản phẩm bán ra. Khi chính phủ đánh thuế đơn vị, tổng chi phí của doanh nghiệp tăng bằng đúng lượng thuế. Do đó, tổng chi phí sau thuế được viết: TCt = TC+ t.Q 42 Hình 10.3: Chính sách thuế theo sản lượng ACt MCt D MR Q Tiền MC P* Q* AC Pt Q
  7. 7. MC sau khi có thuế: MCt = MC+ t AC sau khi có thuế ACt = AC + t Biểu diến trên đồ thị đường MC và AC dịch chuyển lên trên bằng đúng khoản thuế. Sau khi có thuế doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất tại mức sản lượng Qt và định mức giá là Pt. 2.Thuế cố định. Mức thuế này không phụ thuộc vào mức sản lượng mà doanh nghiệp sẽ sản xuất. Khoản thuế này được coi như là chi phí cố định, nó không ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp trong việc quyết định sản xuất bao nhiêu sản phẩm và bán ở mức giá bao nhiêu. Do đó doanh thu của doanh nghiệp không đổi và lợi nhuận giảm bằng đúng lượng thuế mà chính phủ thu được. VI. Kinh tế học phúc lợi của độc quyền bán Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả trên thị trường được xác định theo chi phí biên MC (P = MC), còn trong thị trường độc quyền hoàn toàn giá cả được định cao hơn chi phí biên MC (P* > MC). Nghĩa là người tiêu dùng phải trả giá cao hơn nếu có độc quyền và kết quả là người tiêu dùng phải tiêu dùng một số lượng sản phẩm ít hơn so với cạnh tranh hoàn hảo. Đứng trên góc độ của toàn xã hội, liệu như vậy có làm cho xã hội tốt hơn không? Để trả lời câu hỏi này chúng ta xem xét và so sánh thặng dư của người tiêu dùng và của nhà sản xuất trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền hoàn toàn. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo: Thặng dư tiêu dùng CS1= SAPcE Thặng dư sản xuất PS1=SBPcE Phúc lợi xã hội ròng NSB1=SAPcE+SPcBE= SABE Trong điều kiện độc quyền hoàn toàn: Thặng dư tiêu dùng CS2=SAFP* Thặng dư sản xuất PS2=SBP*FK Phúc lợi xã hội ròng NSB2=CS2+PS2=SABKF Tổn thất xã hội của độc quyền DWL = NSB1-NSB2=SFEK Rõ ràng, độc quyền làm giảm phúc lợi xã hội ròng hay nói cách khác xã hội bị tổn thất một phần lợi ích. Do vậy, chính phủ luôn có những biện pháp hành chính hoặc kinh tế nhằm hạn chế độc quyền như: luật chống độc quyền, qui định mức giá tối đa chuyển đổi hình thức sở hữu…Tuy nhiên, sự can thiệp của chính phủ đem lại lợi ích hay làm tồi hơn thì đó còn là một điều tranh cãi. Dưới đây là ví dụ về sự can thiệp của chính phủ trong việc đối phó với độc quyền tự nhiên. VII. Chính sách đối phó với độc quyền tự nhiên Có bao giờ ta thích độc quyền hơn? Có, nếu như có thể chỉ ra rằng một ngành độc quyền sẽ có chi phí thấp hơn một ngành cạnh tranh, thì quả thực có thể tốt hơn cho chúng ta khi chỉ có một nhà sản xuất duy nhất. Khi nào những trường hợp này có thể tồn tại? Đó là trong trường hợp một ngành có lợi thế theo qui mô. 43 Hình 10.4: Tổn thất xã hội do độc quyền F K E MR $ D QQc Pc MC B A P*
  8. 8. Nếu chính phủ không qui định giá thì doanh nghiệp sẽ bán ở mức giá Pm và sản lượng Qm gây tổn thất cho nền kinh tế. Do đó, chính phủ có thể áp dụng biện pháp qui định giá để loại bỏ được tổn thất gây ra bởi sức mạnh độc quyền. Mức giá lý tưởng là mức giá mà doanh nghiệp có thể đạt được trong ngành cạnh tranh là Pc và sản lượng là Qc. Nhưng tại mức giá này doanh nghiệp độc quyền bị thua lỗ và phải ngừng kinh doanh. Trong trường hợp này chính phủ phải trợ cấp cho doanh nghiệp độc quyền. Một số nhà kinh tế cho rằng phương án tốt nhất đưa ra trong trường hợp này đó là xác định mức giá Pr, tại mức này chi phí bình quân bằng doanh thu bình quân. Khi đó hãng không thu được lợi nhuận độc quyền nhưng vẫn tiếp tục kinh doanh. Việc qui định giá trong thực tế rất khó khăn do chính phủ khó có thể xác định được mức giá Pc hay Pr trên thị trường vì đường cầu và đường chi phí luôn thay đổi khi các điều kiện thị trường biến đổi. Chính vì vậy những qui định về độc quyền thường dựa trên tỷ lệ lãi thu được từ vốn. Chính phủ xác định mức giá cho phép để doanh nghiệp có được tỷ lệ lợi nhuận mà chính phủ cho rằng như thế là cạnh tranh và công bằng. Nhưng khi thực hiện qui định về tỷ lệ lợi nhuận cũng gặp khó khăn trong việc xác định tỷ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp và thế nào là một tỷ lệ lợi nhuận công bằng. Bài tập 1. Nhà độc quyền bán có hàm cầu là: Q = 41 – P. Hàm chi phí là TC = 2 + 8Q + ½Q2 Hãy tính mức giá và sản lượng của nhà độc quyền nếu như mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. 2. Biết hàm cầu thị trường và đường chi phí của doanh nghiệp độc quyền như sau: P = -1/4Q + 280. TC = 1/6Q2 + 30Q + 15000. Xác định sản lượng, giá cả, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp nếu mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. 44 MC AC MC AC AR MR AR MR $/Q Löôïng Aán ñònh giaùtaïi Pr cho xuaát löôïng lôùn nhaát coùtheåcoù; lôïi nhuaän vöôït troäi baèng khoâng. Qr Pr Aán ñònh giaùtaïi Pr cho xuaát löôïng lôùn nhaát coùtheåcoù; lôïi nhuaän vöôït troäi baèng khoâng. Qr Pr PC QC Neáu giaùñöôïc quy ñònh laøPC, coâng ty seõloãvaøra khoûi ngaønh. PC QC Neáu giaùñöôïc quy ñònh laøPC, coâng ty seõloãvaøra khoûi ngaønh. Pm Qm Khoâng bòquy ñònh, nhaøñoäc quyeàn baùn seõsaûn xuaát Qm vaøtính giaùPm. Pm Qm Khoâng bòquy ñònh, nhaøñoäc quyeàn baùn seõsaûn xuaát Qm vaøtính giaùPm. Quy ñònh giaùcuûa chính phuû ñoái vôùi moät nhaøñoäc quyeàn töïnhieân
  9. 9. BÀI GIẢNG 11: THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN NHÓM Thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường độc quyền hoàn toàn như đã nghiên cứu ở trên không tồn tại trong thực tế, mà chỉ có những loại thị trường gần với hai loại thị trường đó. Phổ biến là những loại trung gian giữa hai loại trên, đó là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và tùy theo mức độ cạnh tranh nhiều hay ít mà chúng được phân thành: thị trường cạnh tranh độc quyền và thị trường độc quyền nhóm. A. Thị trường cạnh tranh độc quyền I. Đặc điểm của thị trường cạnh tranh độc quyền: Số lượng người tham gia trên thị trường tương đối lớn nên quyết định của doanh nghiệp này không gây ra những ảnh hưởng lớn đến quyết định của doanh nghiệp khác. Điểm khác biệt rõ nét của loại thị trường này với thị trường cạnh tranh hoàn hảo là sản phẩm được mua bán trên thị trường có sự khác biệt nhất định mà người tiêu dùng có thể phân biệt được. Sự khác biệt của các sản phẩm thông thường thể hiện qua nhãn hiệu sản phẩm, kiểu dáng, bao bì… tuy nhiên chúng có thể thay thế tốt cho nhau. Sự gia nhập hay rút lui khỏi thị trường này tương đối dễ dàng. II. Doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh độc quyền: Vì có sự khác biệt giữa sản phẩm của các doanh nghiệp nên doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền định giá cho sản phẩm của mình, nghĩa là đường cầu đối với sản phẩm của mỗi doanh nghiệp dốc xuống. Tuy nhiên, sản phẩm của các doanh nghiệp lại dể dàng thay thế cho nhau nên cầu đối với sản phẩm của doanh nghiệp co dãn nhiều theo giá. Mỗi doanh nghiệp trong thị trường này cũng luôn ưu tiên cho mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì vậy họ phải sản xuất ở mức sản lượng có MR = MC. III. Cân bằng trong thị trường cạnh tranh độc quyền: 1. Cân bằng ngắn hạn: Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp không đủ thời gian để thay đổi qui mô sản xuất và để các doanh nghiệp mới tham gia vào ngành. Những doanh nghiệp riêng lẻ có thể thực hiện những thay đổi nhỏ trong giá cả và mức sản lượng trên đường cầu của mỗi doanh nghiệp thông qua việc quảng cáo, chất lượng và kiểu dáng sản phẩm. Tuy nhiên, những thay đổi về giá cả và sản lượng của mỗi doanh nghiệp phải tuân theo nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận. Nghĩa là, mỗi doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận cực đại khi thị trường đạt cân bằng ngắn hạn. Ngoài ra, cũng vì có sự khác biệt về sản phẩm nên mức giá và sản lượng tối ưu trong ngắn hạn của mỗi doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau và do đó không tồn tại một mức giá cân bằng trên thị trường, mà giá cả cân bằng lập thành một nhóm không có nhiều cách biệt. 2. Cân bằng dài hạn: 45 π D MR Hình 11.1: Cân bằng ngắn hạn mỗi DN cạnh tranh độc quyền thu lợi nhuận tối đa Q Tiền MC P* AC* Q* πmax AC
  10. 10. Trong dài hạn, các doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền có thể thiết lập bất cứ qui mô sản xuất nào mà họ mong muốn và nếu họ thu được lợi nhuận kinh tế thì sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp khác tham gia vào ngành. Sự gia nhập của các doanh nghiệp mới làm đường cầu về sản phẩm của mỗi doanh nghiệp bị dịch chuyển lại về phía tay trái do thị phần của mỗi doanh nghiệp bị thu hẹp lại. Quá trình này diển ra cho đến khi đường cầu của mỗi doanh nghiệp tiếp xúc với đường chi phí trung bình AC. Ở mức sản lượng tối đa hóa lợi nhuận, giá cả bằng chi phí trung bình AC nên các doanh nghiệp đều có lợi nhuận kinh tế bằng 0 (như hình 11.2). Tuy nhiên, vì mỗi doanh nghiệp có đường cầu dốc xuống một ít và chi phí sản xuất khác nhau nên có một số doanh nghiệp có sản phẩm nổi trội hơn. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể đặt mức giá hơi khác biệt và thu được một lợi nhuận kinh tế nhỏ. B. Thị trường độc quyền nhóm I.Đặc điểm của thị trường độc quyền nhóm: Chỉ có một số ít các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau Có rào cản trong việc gia nhập ngành Sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất có thể có sự khác biệt như ôtô, máy bay, điện thoại hoặc có thể không có sự khác biệt như thép. Các doanh nghiệp độc quyền nhóm phụ thuộc lẫn nhau về việc định giá cho sản phẩm, bởi vì họ biết rằng bất cứ sự điều chỉnh giá cả nào về sản phẩm của họ cũng gây nên những phản ứng trong chính sách giá của các doanh nghiệp còn lại. Tại sao trong thị trường độc quyền nhóm lại có rào cản? Các hãng đang ở trong thị trường có thể hành động chiến lược để ngăn chặn sự gia nhập của hãng mới. Tính kinh tế theo qui mô làm cho nhiều hãng cùng tồn tại trong một thị trường là không có lợi. Bằng phát minh sáng chế hoặc khả năng sử dụng công nghệ có thể loại trừ những đối thủ cạnh tranh tiềm năng II. Hành vi của doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm 1. Ví dụ về thị trường nhị quyền Để hiểu hành vi của doanh nghiệp độc quyền nhóm, chúng ta hãy xem xét một thị trường độc quyền nhóm chỉ có hai thành viên, gọi là thị trường nhị quyền. Nhị quyền là hình thức đơn giản nhất của độc quyền nhóm. Tuy nhiên, các thị trường độc quyền nhóm với ba hay nhiều thành viên hơn cũng phải gặp vấn đề tương tự như thị trường nhị quyền, do vậy việc xem xét thị trường nhị quyền là điểm xuất phát hữu ích đối với chúng ta. 46 D MR Hình 11.2: Cân bằng dài hạn mỗi DN cạnh tranh độc quyền thu lợi nhuận kinh tế = 0 Q Tiền MC P* Q* AC
  11. 11. Bài toán: Chúng ta hãy tưởng tượng một thị trấn có hai cư dân (Khôn và Ngoan) sở hữu các giếng nước để sản xuất nước sạch. Bạn hãy xem xét xem liệu mỗi cư dân quyết định bơm bao nhiêu nước đưa ra thị trấn để bán với mức giá thị trường (Để đơn giản hóa ta giả định hai cư dân này có thể bơm nước mà khôngmất chi phí gì nghĩa là MC = 0). Bảng 11.1 cho thấy biểu cầu về nước của thị trấn. Cột đầu tiên biểu thị tổng lượng cầu, Cột thứ 2 biểu thị giá, cột thứ 3 biểu thị tổng doanh thu bằng giá nhân với lượng bán. Do không mất chi phí bơm nước nên tổng doanh thu của hai nhà sản xuất đúng bằng tổng lợi nhuận của họ. Bảng 11.1 Biểu cầu về nước sạch Lượng (thùng) Giá (ngàn đồng) Tổng doanh thu (tổng lợi nhuận) 0 12 0 10 11 110 20 10 200 30 9 270 40 8 320 50 7 350 60 6 360 70 5 350 80 4 320 90 3 270 100 2 200 110 1 110 120 0 0 2. Cạnh tranh, độc quyền và Các-ten Trong thị trường cạnh tranh: Hãng cạnh tranh sẽ cung ứng tại mức sản lượng mà ở đó P = MC = 0. Do vậy, giá cân bằng của nước sẽ là 0 và lượng cân bằng của nước là 120 thùng. Trong thị trường độc quyền: doanh nghiệp độc quyền sẽ cung ứng ở mức sản lượng mà ở đó tối đa hóa lợi nhuận. Bảng 11.1 cho thấy tổng lợi nhuận sẽ đạt mức cao nhất tại mức sản lượng 60 thùng và giá là 6 ngàn đồng. Trong thị trường độc quyền nhóm: Khả năng thứ nhất là Khôn và Ngoan có thể câu kết được với nhau thỏa thuận về lượng nước sản xuất và giá bán. Sự thỏa thuận như vậy giữa các doanh nghiệp về sản lượng và giá cả được gọi là sự cấu kết, còn nhóm các doanh nghiệp hành động thống nhất được gọi là Các- ten. Khi các- ten được hình thành, thị trường trên thực tế giống như đối với độc quyền do một công ty cung ứng. Nghĩa là nếu Khôn và Ngoan có thể câu kết với nhau thì cả hai sẽ sản xuất ở mức sản lượng 60 thùng và bán ở mức giá là 6 ngàn đồng. Nếu Khôn và Ngoan đồng ý chia 2 phần bằng nhau thì mỗi người sẽ sản xuất 30 thùng và bán với mức giá là 6 ngàn đồng, qua đó mỗi người sẽ được 180 ngàn đồng. 47
  12. 12. 3. Trạng thái cân bằng trong độc quyền nhóm Mặc dù các nhà độc quyền muốn thành lập Các-ten để thu lợi nhuận độc quyền nhưng điều đó thường khó xảy ra. Trên thực tế, đạo luật chống độc quyền nghiêm cấm thỏa thuận công khai giữa các nhà độc quyền nhóm. Ngòai ra, sự tranh cãi giữa các thành viên của Các-ten về việc phân chia nhiều khi làm thỏa thuận giữa họ không thể thực hiện được. Do vậy chúng ta xem xét điều gì xảy ra nếu như Khôn và Ngoan có quyết định độc lập về lượng nước sản xuất. Trên thực tế, nếu không có sự ràng buộc nào kết cục độc quyền rất khó xảy ra. Để biết tại sao, chúng ta hãy giả định rằng Khôn dự đoán Ngoan chỉ sản xuất 30 thùng (một nửa sản lượng độc quyền). Khôn sẽ lập luận “nếu Ngoan sản xuất 30 thùng, mình sản xuất 40 thùng kết quả là Ngoan được số tiền là 150 ngàn đồng, mình sẽ được số tiền là 200 ngàn đồng. Tuy rằng lợi nhuận thị trường giảm nhưng lợi nhuận của ta lại cao hơn, vì ta có phần lớn hơn”.Và tất nhiên là Ngoan cũng lập luận tương tự. Kết cục là cả Khôn và Ngoan đều cung ứng 40 thùng trên thị trường và lợi nhuận mỗi bên nhận được là 160 ngàn đồng. Lô gíc về lợi ích cá nhân làm sản lượng của thị trường nhị quyền cao hơn sản lượng độc quyền nhưng thấp hơn so với sự phân bổ trên thị trường cạnh tranh. Kết cục mà Khôn và Ngoan mỗi người sản xuất 40 thùng được gọi là cân bằng Nash. Cân bằng Nash là tình huống trong đó các chủ thể kinh tế tương tác với nhau, mỗi người lựa chọn một chiến lược tốt nhất cho mình khi biết được chiến lược mà người khác đã chọn. Tóm lại: Khi các doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm chọn mức sản lượng để tối đa hóa lợi nhuận, sản lượng của họ sẽ lớn hơn Giá của nhà độc quyền nhóm thấp hơn giá độc quyền nhưng cao hơn giá cạnh tranh (bằng chi phí cận biên). 4. Qui mô của thị trường độc quyền nhóm ảnh hưởng đến kết cục thị trường như thế nào? Khi số lượng nhà cung cấp trong thị trường độc quyền độc quyền nhóm tăng lên, thị trường độc quyền nhóm ngày càng trở nên giống thị trường cạnh tranh. Mức giá tiến dần đến chi phí cận biên và sản lượng tiến đến mức có hiệu quả đối với xã hội. III. Lý thuyết trò chơi và kinh tế học của sự hợp tác Lý thuyết trò chơi nghiên cứu hành vi con người trong các tình huống chiến lược. Ở đây, tình huống chiến lược để chỉ tình huống mà trong đó khi đưa ra quyết định hành động, mỗi người phải tính đến phản ứng của người khác đối với hành động của mình. Trong thị trường độc quyền nhóm lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà doanh nghiệp đó sản xuất mà còn phụ thuộc vào số lượng của doanh nghiệp khác trong ngành. Khi ra quyết định sản xuất, mỗi doanh nghiệp trong độc quyền nhóm cần quan tâm đến quyết định của mình ảnh hưởng như thế nào đến quyết định sản xuất của doanh nghiệp khác. Vì vậy, lý thuyết trò chơi đặc biệt hữu ích cho việc tìm hiểu hành vi của các nhà độc quyền nhóm. 1. Tình trạng lưỡng nan của người tù Tình trạng lưỡng nan của những người tù là câu chuyện giữa hai phạm nhân vừa bị cảnh sát bắt. Gọi họ là Cường và Thọ. Cảnh sát có đủ chứng cứ để kết tội Cường và Thọ đã phạm một tội nhỏ là đánh bạc. Vì tội này mỗi người sẽ bị kết án là 1 năm tù. Ngòai ra, cảnh sát còn nghi ngờ rằng họ cùng nhau thực hiện một vụ cướp ngân hàng nhưng thiếu chứng cớ rõ ràng để qui tội lớn này cho họ. Cảnh sát hỏi cung Cường và Thọ trong các phòng riêng biệt và thỏa thuận với từng người như sau: “Hiện nay chúng tôi có thể giam giữ anh trong 1 năm. Tuy nhiên, nếu anh nhận tội cướp ngân hàng và tố cáo đồng phạm, thì anh được miễn tội và tha bổng. Đồng thời, đồng phạm của anh bị 48
  13. 13. lãnh án là 20 năm tù. Nhưng nếu cả hai người nhận tội, thì chúng tôi không cần chứng cớ và không mất thời gian điều tra và vì vậy mỗi anh sẽ nhận bản án là 8 năm tù”. Bảng 11.2 Tình thế lưỡng nan của những người tù Cường Thuù nhaän Im lặng Thuù nhaän -8,-8 0,-20 Im lặng -20,0 -1,-1 Cả Cường và Thọ đều tính toán rằng • Nếu thú nhận, ít nhất 0 năm tù và nhiều nhất là 8 năm tù • Nếu im lặng, ít nhất là 1 năm tù và nhiều nhất là 20 năm Vì vậy, chiến lược thống trị của cả A và B là thú tội kết cục là cả hai phải đi tù 8 năm. Song đây là kết cục bất lợi đối với họ. Nếu cả hai cùng im lặng, họ có thể được lợi vì mỗi người chỉ phải ngồi tù 1 năm do tội đánh bạc. Do mỗi người chỉ theo đuổi lợi ích riêng mình, nên cả hai đều bị thiệt. Chiến lược thống trị là một chiến lược tối ưu của một người chơi, bất kể đối phương hành động như thế nào tội phạm đã gây ra một kết cục bất lợi cho mỗi người. 2. Độc quyền nhóm trong tình thế lưỡng nan của những người tù 2.1 Quảng cáo: Khi hai doanh nghiệp quảng cáo để thu hút cùng một nhóm khách hàng, họ gặp phải những vấn đề tương tự như trong tình trạng lưỡng nan của những người tù. Ví dụ chúng ta xem xét quyết định của hai công ty thuốc lá là 555 và Marlboro. Giả sử nếu không công ty nào quảng cáo, họ sẽ chia đôi thị trường. Nếu cả hai cùng quảng cáo, họ cũng chia đôi thị trường nhưng lợi nhuận thấp hơn vì công ty nào cũng phải chịu chi phí quảng cáo. Song nếu một công ty quảng cáo trong khi công ty còn lại không quảng cáo thì công ty quảng cáo sẽ thu hút được khách hàng từ công ty còn lại. Do đó ta có thể giả định ma trận biểu diễn lợi nhuận của doanh nghiệp với mỗi tình huống như sau: Bảng 11.3 Trò chơi quảng cáo 555 Quảng cáo Khoâng quảng cáo Quảng cáo 3 tỷ , 3tỷ 5 tỷ, 2 tỷ Khoâng quảng cáo 2 tỷ, 5 tỷ 4 tỷ, 4 tỷ Bảng 11.3 cho biết lợi nhuận của hai công ty phụ thuộc vào hành động của họ như thế nào. Bạn có thể thấy rằng quảng cáo là chiến lược vượt trội đối với cả hai công ty. Như vậy, cả hai công ty đều quảng cáo, mặc dù cả hai có lợi nếu không ai quảng cáo. 49 MarlboroThọ
  14. 14. 2.2 Định giá: P &G và Unilever có kế hoạch cùng gia nhập thị trường về nhóm sản phẩm mới. Giả định những hãng này có điều kiện chi phí và cầu giống nhau, và mỗi hãng phải quyết định về giá có tính đến đối thủ cạnh tranh của mình. Ở bảng 11.4 cho chúng ta lập một ma trận bảng số về lợi nhuận của P&G tương ứng với các mức giá khác nhau mà các hãng và đối thủ có thể đặt. Giả sử cả P&G và đối thủ cạnh tranh đều đặt mức giá thấp thì lợi nhuận của thu được của hai hãng là 12.000 USD/1 tháng. Nếu cả hai cùng định mức giá cao thì lợi nhuận cao hơn giả định ở mức 20.000USD/1 tháng. Nếu P&G định mức giá cao và Unilever định mức giá thấp thì Ulilever sẽ chiếm được thị phần lớn và có lợi nhuận cao. Ngược lại, P&G định mức giá thấp, Unilever định mức giá cao thì lợi nhuận thu được của P&G sẽ lớn hơn Unilever. Bảng 11.4: Trò chơi định giá (đơn vị: ngàn USD) Unilever Giá thấp Giá cao Giá thấp 12 ,12 21, 3 Giá cao 3, 21 20,20 tỷ Cân bằng Nash trong tình huống này là cả 2 công ty sẽ lựa chọn phương án định giá thấp, mỗi bên sẽ có lợi nhuận 12.000 USD. 3. Kết cục hợp tác trong trò chơi lặp lại Tình trạng lưỡng nan của người tù cho thấy sự hợp tác rất khó khăn. Nhưng phải chăng điều đó không thể thực hiện được? Không phải tất cả toàn bộ tội phạm đều khai ra đồng phạm của mình khi bị cảnh sát hỏi cung. Các-ten thỉnh thoảng vẫn duy trì được các thỏa thuận mang tính cấu kết, cho dù động lực cá nhân có khả năng gây ra trở ngại. Lý do thường thấy để lý giải tại sao những người tham gia cuộc chơi có thể giải quyết tình trạng lưỡng nan của người tù là họ tham gia trò chơi không phải nhiều lần mà là một lần. Quay lại tình huống giữa Khôn và Ngoan trong trường hợp trò chơi lặp lại hàng tháng. Cả hai sẽ đạt được kết cục tốt hơn nếu hợp tác được duy trì. Nếu một bên bội ước thì bên kia sẽ trả đũa bằng cách sản xuất mức sản lượng cao. Trong trường hợp này, người tham gia cuộc chơi quan tâm đến lợi nhuận trong tương lại, họ bỏ qua lợi nhuận thu được 1 lần do bội ước. Khi trò chơi được lặp lại, các doanh nghiệp thấy rằng bội ước là không có lợi cho cả hai nên họ quyết định hợp tác với nhau. Trên thực tế, hai người chơi hoàn toàn có khả năng đạt được kết cục hợp tác. IV. Chính sách công cộng đối phó với độc quyền nhóm Hợp tác trong thị trường độc quyền nhóm gây bất lợi cho toàn xã hội vì nó dẫn đến sản lượng quá thấp còn giá thì quá cao. Nhà hoạch định chính sách tìm cách buộc doanh nghiệp độc quyền nhóm cạnh tranh, chứ không được cấu kết với nhau bằng đạo luật chống độc quyền. V. Ứng dụng tình thế lưỡng nan của những người tù vào việc định giá trong độc quyền nhóm 1. Mô hình đường cầu gãy Vì hợp tác là khó duy trì, nên các doanh nghiệp đều mong muốn có sự ổn định, nhất là ổn định 50 P&G
  15. 15. giá cả. Đó là lý do tại sao giải thích tính cứng nhắc của giá cả là một đặc điểm của thị trường độc quyền nhóm. Cho dù chi phí giảm hay nhu cầu giảm thì doanh nghiệp cũng không giảm giá vì có thể gây ra hiểu lầm và chiến tranh giá cả sẽ tái diễn. Trong thị trường độc quyền nhóm, các doanh nghiệp tin tưởng rằng khi họ thực hiện chiến lược giảm giá để tăng thị phần thì lập tức các doanh nghiệp khác cũng sẽ thực hiện chiến lược giảm giá theo vì các doanh nghiệp khác biết rằng nếu không làm như vậy họ sẽ bị mất thị phần trên thị trường. Đồng thời, họ cũng tin rằng nếu họ thực hiện một chiến lược tăng giá thì các doanh nghiệp khác sẽ không tăng giá theo vì những doanh nghiệp này biết rằng tăng giá là dại dột và thị phần sẽ rơi vào tay của doanh nghiệp khác. Như vậy, đối với các doanh nghiệp trong thị trường độc quyền nhóm, họ phải đối diện với một đường cầu gãy khúc. Đường cầu gãy khúc của doanh nghiệp làm cho đường doanh thu biên MR bị đứt đoạn ngay tại điểm gãy khúc này. (Như hình 11.3) Điều này giải thích tại sao trong độc quyền nhóm giá cả lại mang tính cứng nhắc. Nếu chi phí biên của một doanh nghiệp nào đó tăng từ MC lên MC’ thì doanh nghiệp vẫn sản xuất ở mức sản lượng Q* và bán với mức giá P*. Lưu ý: Mô hình truyền thống này chỉ đúng khi các doanh nghiệp trong thị trường có qui mô và khả năng như nhau. 2. Phát tín hiệu giá và chỉ đạo giá Một trong những trở ngại chính của việc định giá cấu kết ngầm là các hãng khó thống nhất được với nhau về mức giá. Sự thống nhất trở lên phức tạp khi cầu thay đổi và chi phí thay đổi. Khi gặp vấn đề này, đôi khi dạng cấu kết ngầm được phát ra. Ví dụ một hãng thông báo rằng nó tăng giá và hy vọng rằng các đối thủ sẽ coi đây là tín hiệu và sẽ tăng giá theo. Nếu các đối thủ làm như thế thì kiểu chỉ đạo giá đã được thiết lập. Theo cách này, các hãng giải quyết được vấn đề thống nhất giá. Bài tập 1. Hãy phân loại các thị trường sau đây thành cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền và cạnh tranh độc quyền. Hãy giải thích câu trả lời của bạn a. Nước sạch đóng chai b. Dịch vụ điện thoại địa phương c. Son môi d. Gạo 2. Đặc điểm nào của hàng hóa bán ra làm cho doanh nghiệp cạnh tranh độc quyền khác với doanh nghiệp độc quyền? 3. Hãy xem xét mối quan hệ thương mại giữa Mỹ và Mêhico. Giả sử nhà lãnh đạo của hai nước tin vào kết quả khách nhau của các chính sách thương mại như sau Mỹ Thuế quan thấp thuế quan cao 51 D MR Hình 11.3: Đường cầu gãy khúc và mức giá cứng nhắc trong độc quyền nhóm Q Tiền MC’ P* Q* MC
  16. 16. Thuế quan thấp 25 ,25 10, 30 Thuế quan cao 30, 10 20,20 tỷ a. Chiến lược vượt trội của Mỹ là gì? của Mêhico là gì? Hãy giải thích? b. Cân bằng Nash của chính sách thương mại là gì? c. Trong năm 1993, quốc hội Mỹ đã phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) trong đó Mỹ và Mêhico thỏa thuận cùng cắt giảm hàng rào thương mại. Liệu các kết quả được trình bày ở đây có biện minh cho cách tiếp cận chính sách thương mại đó không? 52

×