Dac san Tra Vinh 2014 2 of 2.
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Like this? Share it with your network

Share
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
    Be the first to like this
No Downloads

Views

Total Views
440
On Slideshare
439
From Embeds
1
Number of Embeds
1

Actions

Shares
Downloads
1
Comments
0
Likes
0

Embeds 1

http://www.slideee.com 1

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 101 Huỳnh Tâm Hoài Qua giửa tháng Năm chôm chôm chín rộ. Chi Năm thức sớm lo nấu cơm. Khói nhà bếp pha trộn sương sớm là là quanh khu vườn nhà.Tiếng gà gáy đả tạnh. Đàn vịt xiêm rời tổ dẩn đàn con chim chíp ra vườn sau. Con chó mực sửa gâu gâu khi chị phụ việc bước vào sân nhà kêu chị ơi! em tới. Má ngồi bên chiếc bàn tròn nhà trước vừa nhai trầu vừa nói: Vô đi Hai, chị Năm mầy ở nhà sau. Anh Năm thì lục đục dưới xẻo mương lo đổ thêm dầu vào máy ghe và bỏ những cần xé xuống khoang. Tôi cũng thức sớm ngồi uống tách cà phê tự pha. Hai thằng con trai đứa lên bốn, đứa lên năm còn ngủ say. Đứa con gái mới sinh vài tháng oa oe khóc.Vợ tôi ru khe khẻ. Mùi hương thơm hoa bưởi hoa cam theo cơn gió len vào mái lá thơm ngào ngạt. Con chim chìa vôi vừa hót chuyền trên nhánh cây xoài tượng phía trái trước nhà. Vợ tôi ra khỏi giường khi đứa con nhỏ còn ngủ, lại hỏi tôi: Hôm nay anh muốn đi hái chôm chôm với anh Năm hả? Tôi nói: Ừ! đi phụ với anh chị Năm cho vui nằm nhà buồn quá. Vườn cây lôm chôm Từ ngày về đây đến nay gần hai tháng, tôi chỉ quanh quẩn trong nhà. Bứng vài cây chuối con trồng ở khoảng đất trống bên hè. Đem nhánh mận hồng đào đá chôn xuống đất ở phía sau nhà. Phần lớn trong ngày là nằm võng ôm con hát bắt hoàn từ tân nhạc. “Đâu bóng trăng soi Rặng liểu mơ màng Cung đàn nhỏ lệ tầm dương Ai đó tri âm…biết cùng…(Đêm tàn Bến Ngự) “Còn nước mơ màng mây vẩn vơ Thì còn lão với một con đò Có tiền mua lấy vài chai rượu Nhấp rượu xong rồi lão nói… thơ… “Linh đinh trời rộng sông dài Đò ngang một chuyến lần hồi sớm trưa Chiều rồi nghĩ một chuyến đưa Nằm nghe lá rụng như mưa trên đò Cơm ngày hai bửa cầu no Dám đâu bàn chuyện cơ đồ viễn vông Đời nầy có cũng như không Sớm còn tối mất bận lòng mà chi Rồi qua vọng cỗ. (Ông lão chèo đò) Quen sống ở chợ về đây buồn hiu- buồn hắt…Nhưng được một nỗi là ổn định lại tinh thần sau những năm bị dồn ép, cưởng chế tinh thần… Tôi bây giờ mất hướng tương lai! Cố thu mình lại và bặt đuờng liên hệ với mọi người quen và bạn bè. Về đây tôi tịnh khẩu, tịnh đời với vườn cây tươi mát. Với thiên nhiên trầm lắng… Tôi sống với nội tâm nhiều hơn. Thỉnh thoảng ngồi viết vài bài thơ như là một hình thức thả buồn theo chữ, thả tâm vào vần. Có lúc tôi nghĩ: Mình như một cư sĩ ẩn thân? Một Lã Vọng ngồi câu cho mản kiếp! Bước rẻ xoay ngang một nửa đời Mịt mù phía trước nẻo buông trôi Đồng vọng trống chiên hồi tịnh bặt Phía sau khói nhạt bóng dòng trôi… Con nước đã đổ vào xẻo nhỏ dâng lên cao. Chị Năm đem các vật vụng cần thiết đặt xuống khoang ghe. Má quấn chiếc khăn sọc đỏ quanh cổ, xách chiếc giỏ trầu đi về phía chái để ghe.Tôi cũng rời nhà đi về hướng ấy.Giờ nầy chắc Cậu còn ngủ vì đêm qua nửa khuya tôi nghe Cậu ho hơi nhiều. Dạo nầy Cậu ít đi qua cồn, mọi việc vườn tược anh chị Năm thay thế. Chích em người em vợ sinh kế vợ tôi đi theo chồng làm việc ở miệt Trà Ôn. Vợ chồng lục đục…em buồn ẫm con về ở với cậu má được vài tuần…chắc cũng còn ngủ với thằng con trai trong phòng. Em ít nói, hình như em có tâm sự buồn lắm, nhưng vẫn giử kín không nói ra với ai. Cậu má cũng buồn vì đứa con út có chồng không hạnh phúc. Chiếc ghe được anh Năm chóng ra sông. Đám lục bình nở bông tim tím dạt ra hai phía. Gió lùa mặt sông đưa một vạt mát phả vào mặt vào thân lành lạnh. Chiếc máy ghe bắt đầu nổ. Anh Năm nâng đầu máy lên, chiếc đuôi tôm quậy nước kêu rồ rồ trên mặt nước, anh nhất cao tay cầm thêm…cánh quạt đẩy chiếc ghe nhỏ đi tới dần.
  • 2. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 102 Sóng dạt hai đường gợn cao. Bầy vịt xiêm đang lội nhấp nhô theo lượng sóng, kêu chim chíp. Chiếc ghe ra vàm kinh.Tôi ngồi trước mủi ghe nhìn con sông Cổ Chiên rộng lớn phản chiếu ánh nắng hồng hào như mặt gương. Chiếc thuyền câu của ai đó còn neo đậu ở một gốc phía trái miệng vàm.Tôi thấy lòng mình phiêu phiêu chan hòa với buổi bình minh rực màu tươi mát. Dạo trước có mấy lượt qua cồn nhưng tôi đi với cái cãm giác bâng quơ vì ít ngày lại đi. Bây giờ tôi nghĩ...rồi mình sẽ có nhiều dịp đi và sống với dòng sông nầy từ đây. Tôi ngoái đầu nhìn lại cửa vàm kinh như chiếc đăng lớn sẽ đón nhận lúc tôi lúc về với căn nhà cùng ba đứa con trong tuổi còn khờ dại.Tụi nhỏ lớn lên sẽ tập làm vườn, làm ruộng…khác với đời sống của tôi lúc trước. Một chuổi đời mới sẽ bắt Chiếc ghe vượt qua sông lớn, đi vào xẻo nhỏ len lỏi mấy khúc trái, ngang. Chiếc ghe tấp vào cạnh chiếc cầu dừa.Tôi phụ mang các vật dụng lên chiếc chòi lá nhỏ gần đó. Hôm nay anh chị Tư cũng đến phụ hái chôm chôm. Anh chị vừa đi lại từ phía căn nhà cách đây một mương vườn.Thấy tôi, chi Tư cười và nói: Dượng sáu hôm nay cũng đi phụ bẻ trái há... Anh Tư cười mĩm: Chiều nay tôi với dượng làm vài xị nghe. Chị Tư lườm anh. Má lấy tay quẹt miệng trầu. Má cười với môi trầu đỏ ao nhìn anh Tư và quay sang nhìn tôi. Cây trái miệt vườn Mọi người bắt đầu công việc đi hái trái. Những nhánh chôm chôm oằn say với những chùm đỏ ao. Có nhánh quá nhiều trái phải có cây chỏi để khỏi bị gảy nhánh. Anh Năm chỉ cho tôi bẻ trái sà thấp, còn anh thì dùng chiếc cây dài có đầu kéo cắt nhành trái. Anh đưa nhánh chín vào khớp kéo… anh giựt sợi dây cho chiếc dao cắt nhánh. Chùm chôm chôm chín dính vào ngàm. Anh đưa cần cắt trái xuống gần mặt đất nhả ra. Chị Năm và người phụ việc nhặt đem gom thành đống và lựa trái bỏ vào cần xé. Đôi lúc anh Năm phải leo lên thân đây để bẻ trái. Tôi chỉ đi quanh quẩn từ gốc nầy qua gốc khác bẻ những chùm chôm chôm xà ngang mặt. Vườn rộng có hơn chục công gồm ba liếp dài từ bên nầy cồn chạy tuốt qua ngang bên kia cồn. Cây nào cũng đầy trái. Trong lúc lần mò theo cây hái trái.Tôi thấy một quả mảng cầu ta rớt trên mặt đất phủ đầy lá rụng gần gốc cây chôm chôm tàn rất rộng, quả mãng cầu chín bị chim ăn một gốc. Là dân chợ tôi đâu đành bỏ qua.Tôi men đến để nhặt lấy với ý sẽ đem về ăn.Trong khi bước tới gần, chân tôi đẩy dạt lớp lá khô, con kiến đem to cắn vào ngón chân buốt đau nhói óc.Tôi ngồi xuống bóp ngón chân cho đở nhức. Một nhúm núm gì đó cọng to bằng ngón tay út nhô lên khỏi mặt đất với phần trên như chiếc dù nhỏ chưa mở rộng.Tôi nghĩ chắc là loài núm dại. Bầy kiến đem túa ra.Tôi đành đứng lên bước ra xa đám kiến vì sợ chúng cắn nửa.Tôi đành bỏ ý định nhặt quả mảng cầu đem về. Gần xế trưa tôi và anh Năm dùng đòn khiêng gánh những cần xé chôm chôm gom về chòi lá.Tôi thấy đói cồn cào vì sáng tới giờ tôi chỉ ăn vài quả chôm chôm. Mọi người vẫn còn làm việc.Tôi cũng ráng bóp bụng đói phụ với anh Năm. Má nói: Thôi nghỉ làm…vào chòi ăn cơm…chắc thằng L nó đói rồi đó. Tôi đói meo nhưng vẫn không dám nói gì cả. Anh chị Năm và mọi người rửa tay dưới bờ rạch. Tôi thì vói tay rửa ở mương nước. Mọi người vào chòi ăn cơm. Buổi cơm với ít mắm chưng và tô canh núm. Tôi thấy sao tô canh núm giống núm mình thấy hồi nảy.Tôi cầm chiếc muổng chang canh núm vào chén cơm. Tôi bưng chén đưa vào miệng húp. Ôi! nó ngọt ngào thơm dịu, cọng không dai mà giòn giòn. Tôi nhai nhai cơm hòa với núm, nó ngọt hơn núm rơm và có mùi thơm thơm mà tôi chưa bao giờ nếm qua. Tôi lùa thêm một chén nửa… Mồ hôi ra ướt áo dầm dề. Tôi hỏi má: Núm nầy là núm gì hả má. Má nói: đó là núm mối...khó kiếm lắm đó…hên lắm mới tìm ra được. Chị Tư mầy kiếm được một nhúm hôm qua để dành nấu canh đó. Tôi ngẫm nghĩ rồi nói: Má ơi! hồi nảy còn thấy núm nầy mọc dưới lớp lá khô gần gốc cây chôm chôm già, con tưởng là núm dại. Chị Tư cười nói: Vậy là dượng hên lắm mới tìm được đó. Lúc rảnh nhớ lặt về cho Sáu Chích nấu canh ăn nghe dượng. Tôi định bụng khi xong việc sẽ ra chổ đó hái núm đem về. Gần xế chiều, khi công việc gần xong. Ghe mối tới cân và đổ xuống ghe lớn. Tôi tha thẩn ra chổ cây chôm chôm già hái núm. Lần nầy tôi dùng nhánh khô quẹt lá vẹt sang môt bên… đập đập cho đàn kiến chạy đi xa và nhặt nhanh một rổ núm mối đem về chòi. Chị Năm nói: Chà …
  • 3. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 103 nhiều quá… dượng hên quá tời (trời)… Chị Năm nói chữ tr không được…hình như một số người vùng Chợ Lách nói y như chị. Tôi hay nói giởn với chị “Con tâu tắng... nó nằm ở bụi te”.Chị cười chứ không bao giờ giận tôi. Chị nói: Ở xóm chị ai cũng nói như chị. Chiều tối đó tôi về khoe với vợ là đã tìm được núm mối. Vợ tôi ngạc nhiên hỏi: Đâu… đâu…cho em coi. Tôi bưng rổ núm để lên bàn.Vợ tôi nói núm nầy ăn ngon lắm… mà khó tìm…phải nặng bóng vía mới tìm được. Tôi nghĩ chắc vì ít gò mối nên khó tìm chứ nặng bóng hay hên gì đâu. Mỗi mùa chôm chôm chắc năm nào cũng có núm ăn mà… Vợ tôi nói: Mai em ra chợ mua ít thịt về bầm nấu canh ăn. Ở bên cồn chắc anh ăn canh ròng núm không chứ gì? Tôi nói sao em biết…Tôi chợt nghĩ mình hỏi hơi kỳ… Vợ tôi là dân vườn từ nhỏ mà sao không biết Đúng như lời nói, hôm sau vợ tôi nấu một nồi canh núm với thịt nạt bầm. Một nhúm thịt kho mặn. Chúng tôi có một bửa ăn ngon miệng. Hai thằng con nhỏ mút cơm chang canh núm ăn lả mồ hôi tráng. Tôi nhìn chúng nó với lòng thương cãm vô cùng.Tôi nghỉ đây là lần đầu chúng mới ăn loại canh nầy vì hồi ở bên nội chỉ ăn canh núm rơm thôi. Rồi chúng tôi rời Việt Nam sang định cư ở nước ngoài cả mấy mươi năm mà chưa có lần nào được niếm mùi vị của núm mối. Cái hương vị mà mỗi khi nhớ đến là nước miếng tôi cứ như là muốn ứa ra. Có một bận về lại xóm vàm kinh. Cậu đã mất, má già còm cõi vì năm tháng. Đứa em gái kế vợ tôi bồng con vượt biên và định cư tại Canada từ mấy năm rồi. Mấy cháu nhỏ có gia đình ra ở riêng. Tôi bùi ngùi nhìn khu đất mà căn nhà vợ chồng chúng tôi ở… giờ chỉ là những cụm cây kiểng. Thời gian hơn mười năm đã trôi qua…người vắng…người còn. Thời gian đã vèo bay hút mắt Người xưa cảnh cũ đã đổi thay Hồn quê buồn lắng hoài nhung nhớ Sông nước mênh mông vẫn lớn đầy… Trong dịp về quê lần nầy tôi và vợ tôi qua cồn thăm gia đình anh chị Tư. Căn nhà anh chị đã cất khá khang trang. Tường vôi mái ngói. Khi vợ chồng tôi đến thì mấy đứa nhỏ con của anh chị đang nhổ lông vịt. Chị sẽ nấu nồi cháo vịt, gỏi vịt đãi vợ chồng tôi. Anh Tư dẩn tôi đi thăm vườn cũ. Ba bờ mương vườn bị cắt đi hơn ba công ở phía giáp bên gần bờ sông lớn. Lúc đó anh Năm bán lại phần đất nầy cho người kinh doanh nuôi cá tra để xuất khẩu lấy tiền mua thêm mấy công đất phía sau khu vườn nhà ở. Ba hồ cá với bờ đất cao làm hụt vào sâu bên trong một khoảng tróng cây xanh thuở trước. Tôi nhớ mang máng là cây chôm chôm già nằm trong khu đất bán. Tôi thầm nói: Dàn núm mối đã bị mất rồi! Khu vườn chôm chôm còn lại năm xưa cũng được thay vào các cây nhản. Anh Tư nói: Từ ngày dượng đi đến giờ cậu Năm đã thay mấy lượt cây theo phòng trào: Cà phê, rồi nhản, rồi lại chôm chôm…Khu vườn bây giờ như tạp chũng. Đi được một đổi lâu, anh Tư nói với tôi: Thôi mình quay về nhà nhậu nghe dượng…lâu lâu dượng mới về…lai rai cho vui…Khi quay về lại nhà thì chị Tư đã dọn sẵn bàn ăn. Chúng tôi ngồi vào bàn ăn gỏi vịt trộn bắp chuối và cụng vài ly đế sủi bọt…Một lúc sau chị Tư bưng lên một dỉa xào bốc khói. Chị nói: Hôm nay tôi đãi dượng món nầy rất đặc biệt. Chị đặt dĩa xào trên bàn ngay trước mặt tôi. Tôi kêu… Ồ! Núm mối! Một dỉa núm mối xào với gan mề vịt. Khói bốc xông lên mùi thơm ngào ngạt. Chị nói: Tui biết dượng thích món nầy mà. Anh Tư giục tôi: Cầm đủa gắp một miếng đi dượng. Tôi cầm đủa gắp một miếng núm bỏ vào miệng nhai. Ôi! Mùi hương cũ… mùi hương núm mấy mươi năm mới ăn lại. Anh Tư đưa ly lên ngang mài, tôi cũng cầm ly lên cụng ly với anh. Tôi uống một cái ngót …Khà… khà…Ngon thiệt đó anh Tư! Bây giờ ngồi viết mấy dòng nầy thì…Cậu má không còn nửa. Anh Tư ra đi cách nay mấy năm và chị Tư cũng mới ra đi vài tháng nay. Thời gian không dừng lại. Biến đổi cuộc đời: CònMất tiếp diển. Thế gian là một chuỗi dài biệt ly…nhưng hương nhớ vẫn là một. Khi cảm tính con người chưa mất thì sự hồi nhớ sẽ còn ở trong tâm hồn. Huỳnh Tâm Hoài ( Tháng Bảy Cali-2013)
  • 4. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 104 Vũ Điệu, Vũ Khúc qua Tiếng Đàn của Tú Sinh Ngày xưa mỗi lần anh buông tiếng đàn, Em chen chân vũ điệu cha cha cha Ngày đó eeeem còn ở tuổi mười một Sau đó mình múa vũ điệu rumba. (Rumba) Ngày xưa mỗi lần đánh đàn băn-rô (Banjo) Là em chen chân múa điệu tăng-gô (Tango) Ngày đó em chưa lên tuổi mười bốn Sau đó mình mới nhảy điệu măm-bô (Mambo) Ngày xưa trên sân trường mình múa quạt Em chen chân vào vũ điệu chú lính nhỏ (Tiểu tiểu binh) Ngày đó em còn ở tuổi mười lăm Sau đó mình vũ điệu nón lá. Ngày xưa mỗi lần anh đàn măn-đô (Mandoline) Em chen chân múa điệu dù In-đô (Múa dù Indonésia) Ngày đó em vừa mười sáu trăng tròn Sau nầy mình mới nhảy điệu Slow-rock. Ngày xưa mình nghe tiếng ngủ âm Em chen chân vũ điệu hái trà Ngày đó em vừa lên tuổi mười tám Sau đó mình vũ “khúc ca ngày mùa” Ngày xưa ở quê mình múa Lầm-Thôl Sau đó chúng mình nhảy điệu Slow, Giờ nầy em tuổi lục thập có hơn Thất thập hữu dư còn Rock and Roll. PHỤ CHÚ: Banjo, có 2 loại trên TG, một loại thấy ở VN thùng đàn làm bằng nhôm, trên mặt da trống, đàn Băn-rô ở VN 8 dây, còn đàn ở Âu Mỹ thì 5 dây, thùng đàn bằng dán ép, mặt đàn cũng có da, đàn reo tiếng rất ấm. XIN TRẢ TÔI VỀ TUỔI ẤU THƠ Xin trả tôi về tuổi ấu thơ Nhửng ngày thơ mộng cũa mộng mơ Con đường hàng me ngày cắp sách Sân trường, thầy bạn, đang mong chờ ! Xin trả tôi về tuổi ấu thơ Đường về "Sóc ruộng" đẹp nên thơ Xăn quần lội bắt cua, tát cá Đỉa đeo sợ quá, nhảy lên bờ ! Xin trả tôi về tuổi ấu thơ Mẹ ru con ngủ tiếng ầu ơ Gió lay cành trúc nghe xào xạc Văng vẳng đâu đây tiếng ai hò ! Xin trả tôi về tuổi ấu thơ "Long Bình" con nước chảy lửng lờ Qua cầu đạp xe về "Hoà Thuận" Hái đào lộn hột ở "Đầu Bờ" Xin trả tôi về tuổi ấu thơ Đường lên "Nguyệt hoá" dưới trăng mờ "Ao Bà Om" đêm khuya thanh vắng Hàng cây cổ thụ rể xác xơ Xin trả tôi về tuổi ấu thơ Đường về "Đa Lộc" đẹp như mơ Bắn dơi, hái trái bị "Lục" rượt Xăn quần, xách dép chạy có cờ Xin trả tôi về tuổi ấu thơ Vỉnh Bình quê Mẹ đẹp nên thơ Sáu mươi năm nằm trong ký ức Ngày ấy còn đâu không phai mờ ! Ngày ấy xa rồi xa quá xa Những hình bóng củ mãi trong ta Ngày xưa hoàng thị còn đâu nửa ? Chỉ còn nuối tiếc những ngày qua ! KIM CHUNG Hoàng Vủ
  • 5. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 105 Giáo dục thời Pháp thuộc sản xuất ra nhiều nhân tài: Tôn Thất Tùng, Phạm Biểu Tâm, Ngô Gia Hy, Trần Đại Nghĩa... Vài kỷ niệm của một cựu sinh viên trường thuốc Hà Nội. B.s. Nguyễn Lưu Viên Hồi xưa dưới thời Pháp thuộc toàn cõi Đông Dương (gồm có Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao Miên, Ai Lao) chỉ có một trường thuốc đặt tại Hà Nội với một tên chính thức dài thòng là:" Ecole de Médecine et de Pharmacie de Plein Exercice de l'Indochine", nói tắt là Ecole de Médecine de Hanoi (Trường thuốc Hà Nội ) có một ông giám đốc (directeur) điều khiển. Trường nầy được trường Y Khoa Đại học Paris (Faculté de Médecine de Paris) đỡ đầu nên Paris gởi qua một giáo sư để làm giám đốc trường và hằng năm gởi qua Hà Nội một giáo sư để chủ tọa cuộc thi ra trường, trình luận án và tuyên thệ Hippocrate cho các tân khoa bác sĩ Việt Nam. Vị giáo sư cuối cùng được Paris cử qua Hà Nội là giáo sư Pasteur Valéry Radot, một danh sư của Y Khoa Đại học Paris và là cháu ngoại của nhà thông thái Louis Pasteur. Đến năm 1940, sau khi Pháp thua trong Đệ nhị Thế chiến và bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, sự liên lạc giữa Đông Dương và "mẫu quốc" Pháp không còn dễ dàng nữa thì Trường Thuốc Hà Nội được tự trị với tên chính thức là " Faculté Mixte de Médecine et de Pharmacie de Hanoi ( Y khoa Đại học Hà Nội ) và ông giám đốc trường thuốc được đổi danh xưng là Khoa trưởng Y khoa ( Doyen de la Faculté de Médecine ). Trường Thuốc Hà Nội 1945 – 1954 Từ khi tôi bước chân vào trường ấy (1938) cho đến khi ra trường ấy với danh hiệu trên không còn nữa (9-3-1945), ông giám đốc trường thuốc rồi khoa trưởng y khoa cũng đều là ông Henri Gaillard, một giáo sư chuyên về môn ký sinh trùng học (parasitologie) của Paris gởi qua để điều khiển. Thầy Gaillard rất là "parisien" lúc nào cũng ăn mặc diêm dúa, ăn nói văn hoa. Ngoài việc điều khiển trường về mặt hành chánh ( lúc ấy sinh viên có việc về hành chánh thì liên lạc với ông Sành), Thầy còn dạy hai môn là Ký sinh trùng học (Parasitologie) và Vi trùng học (Bactériologie) cho sinh viên năm thứ 3 có anh Bửu Lư rồi anh Lê Khắc Quyến (sau nầy là khoa trưởng Y khoa Huế) giúp. Cạnh văn phòng hành chánh của Thầy ở trên lầu I của Trường còn có một phòng thí nghiệm ký sinh trùng (Lab. of Parasito) trong đó Thầy nuôi đủ loại muỗi truyền bệnh sốt rét (malaria). Để nuôi (cho ăn) các muỗi ấy Thầy có mướn một người lao công hằng ngày mấy lần thọc tay vào mỗi lồng muỗi để cho muỗi "đốt" cho đến khi no. Thường thường cours của Thầy bắt đầu vào lúc 1 giờ rưỡi trưa (1:30 pm) tức là giờ ngủ trưa ở Việt Nam, mà đề tài ký sinh trùng không có gì hấp dẫn, giọng của Thầy giảng bài lại đều ru ru, rất êm tai, nên ... thỉnh thoảng nghe Thầy đập gậy lên bàn một cái và hét: "Mais réveillez-vous, voyons", thì biết cả lớp đã ngủ gục. Đặc biệt với Thầy là cuối năm đi thi, Thầy hỏi nhiều câu không biết đâu mà rờ. Thí dụ: Có một năm Thầy hỏi anh Hoàng ( bác sĩ Hoàng là anh của ông Lộc, sau này là Thủ tướng VNCH hồi ĐNCH) như sau: Hỏi: Quel est l'animal le plus dangereux que vous connaissez? (Anh biết con thú nào nguy hiểm nhứt? ) Trả lời: Le tigre, monsieur.(Thưa Thầy, là con cọp) - Non, plus petit que ça (Không, nhỏ hơn thế) - La panthère, monsieur (Thưa Thầy là con beo) - Non, beaucoup plus petit; un tout petit animal (không, nhỏ hơn nhiều, một con vật nhỏ xíu hè) - Le serpent, monsieur (Thưa Thầy, là con rắn) - Mais non, je dis un animal à quatre pattes non pas un serpent (Không mà, tôi nói một con thú 4 chân chớ không phải con rắn).
  • 6. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 106 Dần dần thì là... con chuột; vì thầy muốn hỏi lối truyền nhiễm của bệnh dịch hạch (peste,plague). Mà hỏi như vậy đó. Với tôi thì Thầy hỏi: Qu'est-ce que vous sentez quand un serpent vous pique ? (Khi anh bị rắn cắn thì anh thấy cái gì ?). Tôi trả lời: Une douleur, monsieur (Thưa Thầy, tôi thấy đau) Thầy đưa hai tay lên, nói một cách chán nản: Mon Dieu, vous vivez dans un pays infesté de serpents, vous ne pouvez pas faire un pas sans risquer de rencontrer un serpent et vous ne savez pas ce que vous sentez quand un serpent vous pique (Trời ơi, anh sống trong một xứ đầy là rắn; bước đi một bước là có thể gặp rắn mà anh không biết anh thấy cái gì khi bị rắn cắn sao ?) Rốt cuộc là Thầy muốn mình phân biệt hai loại nọc rắn độc: một loại thuộc loại rắn lục (Pit viper venon) có tác dụng vào máu, và một loại thuộc rắn hổ (cobra venon) có tác dụng vào thần kinh. Mà hỏi như vậy đó. Nhưng thầy không ác, rất "fair" hỏi dần dần để đưa mình đến chỗ Thầy muốn, rồi nếu nói được thì cho đậu. Câu chuyện bên lề một: Lúc ấy vào niên khóa 1942-1943 thì phải, một hôm đang theo thầy Massias làm round ở Khu nội thương của Bệnh viện Bạch Mai, thì thấy khoa trưởng Gaillard đến (một chuyện lạ ít khi có). Cùng đi với Thầy có một người Việt Nam tuổi độ sáu mươi, lùn lùn, có vẻ sang trọng, ăn mặc chỉnh tề. Khi đến gần nhóm sinh viên thì Thầy Gaillard nói "Voici Dr. Thinh de Sai Gòn; il était déjà interne quand j'étais encore stagiaire " (Đây là bác sĩ Thinh ở Sài Gòn; ông nầy khi trước đã là nội trú khi tôi còn là sinh viên tập sự). Nghe như vậy bọn sinh viên nể quá, kính cẩn chào; bác sĩ Thinh không nói gì hết, cười cười, cúi đầu chào lại, có vẻ rất hiền hậu. Thầy Massias trong buồng bệnh nhân đi ra, ba người chào hỏi nhau, rồi kéo nhau lên văn phòng. Đây là lần đầu tiên, tôi được gặp bác sĩ Thinh, một đồng nghiệp đàn anh danh tiếng ở miền Nam và cũng là bố của chị Irène Thinh, đầm lai, cao lớn hơn bố, khá đẹp, đang học Dược. Về sau lối năm 1946, chính bác sĩ Thinh đây sẽ là Thủ tướng của Nam kỳ cuốc "Cộng hòa Cố chân chiên" (République de Cochinchine); và sau khi nhận thấy mình đã bị Pháp lừa và lợi dụng, ông đã tự tử bằng cách thắt cổ với một sợi giây điện, trên bàn viết gần đó có quyển sách thuốc còn mở ra ở trang nói về "Thắt cổ" (Pendaison). Nên để ý rằng ông là một bác sĩ mà không dùng độc dược để tự tử cho êm, mà lại dùng dây để thắt cổ như người "tay ngang" (có nhiều ý nghĩa); trước đó còn có can đảm và bình tĩnh để đọc lại sách thuốc xem cái gì sẽ xảy ra cho thân thế mình. Thương hại cho một đồng nghiệp đàn anh lỗi lạc (thời ấy Annamite - Indigène mà đậu được Interne des Hôpitaux de Paris không phải là vừa) thật thà ra làm chánh trị, bị lường gạt và lợi dụng đến nỗi phải quyên sinh. Không biết chị Irène về sau ra sao. Ký Túc Xá Sinh Viên ở Hà Nội Câu chuyện bên lề hai: Thầy Gaillard có một "cô mèo" Việt Nam trẻ và đẹp tên là cô Lý. Thầy thuê cho một căn nhà ở đường Duvigneau gần Nhà Diêm (Société Indochinoise des Allumettes) trong xóm có nhiều sinh viên Nam kỳ. Thì ... quả y như rằng... cô Lý có một "cậu mèo" tên là anh Tấn, người Nam, con nhà giàu, quê ở Rạch Giá, đang học Luật. Mỗi khi thầy đến thăm "mèo" (thường cô Lý được báo tin trước để... " chuẩn bị ") thì anh Tấn tạm "tản cư" qua nhà bên cạnh. Một hôm chắc Thầy "cao hứng lắm" nên đến bất thình lình mà không có báo trước nên... đụng đầu. Anh Tấn kể chuyện lại như sau: "Tao đang nằm trong phòng, nghe tiếng xe hơi đậu lại; tao chồm lên nhìn qua cửa sổ thì thấy ổng đã xuống xe rồi; tao sợ quá vội vàng ôm đồ chạy; ra đến cửa thì gặp ổng bước vào. Thấy tao ổng hơi ngạc nhiên nhưng bình tĩnh nói: "Bonjour jeune homme".Tao cũng cúi đầu chào "Bonjour monsieur rồi chuồn luôn". Tụi nầy nghe chuyện cười quá. Về sau, sau khi Việt Nam độc lập thì Thầy Gaillard về Pháp được phục hồi nguyên chức vị cũ là giáo sư Y khoa Đại học Paris, và không biết Thầy mất lúc nào. Còn cô Lý thì hình như được Quốc trưởng chiếu cố nên vẫn sống phây phây trên nhung lụa ở Đà Lạt. Chỉ có anh Tấn thì tội nghiệp không đỗ đạt gì hết; đến năm 1961 thì tôi có gặp lần cuối cùng
  • 7. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 107 lang thang ở Sài Gòn, nghèo, đói, xì ke. Còn đâu thời oanh liệt của một sinh viên trường Luật mà "chim" được " mèo " của ông khoa trưởng Trường Thuốc ! Tái bút : Tôi không rõ Trường Thuốc Hà Nội thành lập năm nào, chỉ thấy trong quyển sách " Việt Nam Pháp Thuộc Sử 1884-1945" , tác giả Phan Khoang, 1961, ở trang 441, có đoạn nguyên văn như sau: "Trường đại học ra đời thời Toàn quyền Paul Beau (1897-1902) bị Toàn quyền Klobukowski (1902- 1908) bãi bỏ, được Toàn quyền Albert Sarraut (1911-1919) tổ chức lại năm 1918, thật ra chỉ gồm những trường chuyên môn đào tạo một hạng công chức phụ tá người Pháp trong các công sở. Trường Cao đẳng Y Dược mở trước hết, sau thêm trường Cao đẳng Sư phạm, Công chánh, Canh nông, Thú y, Thương mãi, Cao đẳng mỹ thuật. Và, như cụ Phan Khoang nói, lúc ban đầu Trường Thuốc Hà Nội chỉ đào tạo ra y sĩ Đông Dương (Médecins Indochinois) theo một chương trình học 4 (hay 3 ?) năm, để thành những công chức phụ tá cho các bác sĩ y khoa Pháp trong các bệnh viện ở Đông Dương. Rồi về sau trường nầy mới đào tạo ra y khoa bác sĩ (docteur en médecine) với chương trình học 7 năm và luận án, tôi không biết kể từ năm nào, chỉ thấy trong quyển sách "Danh sách Y sĩ Việt Nam 1989" của hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do xuất bản ở Montréal, Canada ở trang 114, có ghi hồi năm 1935 (là năm xa nhứt có được tài liệu), có 12 luận án y khoa. Những chuyện tôi kể ở đây là những chuyện ở Trường Thuốc Hà Nội từ 1938 đến 1945. Đến năm 1945, sau khi quân đội Nhật Bổn đảo chính Pháp ở Đông Dương đêm thứ sáu 9-3, thì Trường Y Dược khoa và Đại học đóng cửa. Ông khoa trưởng và các giáo sư phải chịu cùng một số phận với các Pháp kiều khác là bị Nhựt bổn bắt nhốt làm tù binh. Độ hai tháng sau (lối tháng 5-1945) dưới thời Đế quốc Việt Nam với Hoàng đế Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng kim, thì Trường Y Dược khoa mở cửa lại với cụ Hồ Đắc Di làm khoa trưởng, và tiếp tục luôn như thế dưới thời Việt Minh, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hoạt động được hơn một năm, thì đến ngày 19-19-1946, toàn dân kháng chiến chống Pháp giành độc lập, thì cụ Hồ Đắc Di và Trường cũng như mọi cơ sở khác phải di tản ra chiến khu (Việt Trì, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn. (Lần sau cùng tôi gặp cụ Di là ở Bắc Kạn vào mùa thu năm 1947). Trong lúc đó thì Pháp đã trở lại Hà Nội, và năm 1947 thì Trường Y Dược khoa Hà Nội hoạt động trở lại và được chia ra làm hai cơ sở: một ở Hà Nội (được gọi là section de Hanoi) với Thầy Huard làm khoa trưởng và một ở Sài Gòn (được gọi là section de Saigon) với Thầy Massias làm khoa trưởng. Ở Sài Gòn, trường Y Dược khoa được đặt tại một tư thất (villa) ở đường Testard (sau đổi tên là đường Trần Quí Cáp). Tư thất nầy khi trước là của chị bác sĩ Henriette Bùi (con của cụ Bùi Quang Chiểu, một chính trị gia có tiếng ở miền Nam). Nên để ý rằng lúc ấy trường Thuốc Sài Gòn không có tên là Faculté de Médecine de Saigon mà có tên chính thức là Faculté Mixte de Médecine et de Pharmacie de Hanoi (Section de Saigon) làm cũng như thể là các thầy Pháp có linh cảm trước (trước 28 năm) rằng Hà Nội sẽ chi phối Sài Gòn ?) Sau đó dưới thời Đệ nhứt Cộng Hòa (vào thập niên 60) nhờ sự viện trợ của Mỹ, một trường Y khoa Đại học nguy nga được xây cất trong vùng Chợ Lớn như chúng ta đã biết ... và đã phải vĩnh biệt." Lời nói cuối Tôi kể lại những "chuyện đời xưa" ở Trường Thuốc Hà Nội trên đây là để cho các bạn già nhớ lại mà cười chơi cho vui và các bạn trẻ biết tới mà cười chơi cho vui. Tôi hy vọng đã đạt được mục đích là các bạn già cũng như trẻ đã có dịp cười chơi cho vui. Hơn nữa tôi cũng hy vọng rằng... may ra ... biết đâu ... các bạn trẻ lại không " thương " các bạn già hơn, khi biết được các " anh " đã học thuốc như thế nào, trong hoàn cảnh của một nước Việt Nam còn bị trị, trong thời Đệ nhị Thế chiến thiếu thốn đủ thứ khó khăn mọi bề mà đã "gồng hết mình" để học tập và đã gặp nhiều may mắn (rất rất nhiều may mắn vì đồng khóa PCB với tôi có hơn một trăm (100) sinh viên mà khi lên đến Năm thứ năm chỉ còn độ (30) người cho cả Đông Dương ), để rồi sau này khi mà một mình Việt Nam Cộng Hòa đã có một Trường Thuốc (Sài Gòn ) ... rồi hai Trường Thuốc ( Sài Gòn, Huế ) ... rồi ba Trường Thuốc (Sài Gòn, Huế, Minh Đức) thì có một số bạn già sẵn sàng phục vụ tại các trường ấy để chỉ dẫn các bạn trẻ trên con đường chánh đạo vinh quang nhưng cũng đầy chông gai của Hippocrate Nguyễn Lưu Viên
  • 8. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 108 Chiêu Anh I - Nhơn vật lịch sử Việt Nam 1- Đố: - Đố anh ai đuổi giặc Ân Sử nào đã chép, tháng năm, thời nào ? Đáp: - Trẻ thơ thiệt có tài cao Roi sắt, một ngựa đánh nhào giặc Ân Hùng Vương thứ Sáu phong thần Thiên Vương Phù Đổng ẩn thân về trời Hiển danh Thánh Gióng đương thời Việt Nam con trẻ trên đời mấy ai ! 2- Đố: - Lạc Hồng dân tộc lâu đời Bị Tàu đô hộ khổ người dân ta Đau lòng hận nước thù nhà Thời nào đã có đàn bà làm vua ? Cùng ai giết giặc đuổi xua ? Tên nào tướng giặc đã thua đàn bà ? Đáp: - Tướng Tàu Tô Định gian tà Giết ông Thi Sách chồng bà họ Trưng Thù nhà Trưng Trắc ra quân Phất cờ nương tử diệt quân tham tàn Đuổi quân Đông Hán rỡ ràng Cùng em Trưng Nhị hai nàng lên ngôi Ngàn sau vinh hiển tiếng đời Lĩnh Nam hào khí một thời tranh đua Nữ nhi từng đã làm vua Giặc Tàu Tô Định đã thua đàn bà. 3- Đố: - Nước ta có nữ tướng tài Cỡi voi xung trận là ai ? Miền nào ? Khác đời đặc biệt vì sao ? Giặc nào khiếp sợ ? Vua nào sắc phong ? Đáp: - Bà Triệu nữ tướng đại tài Cỡi voi xung trận ra oai lẫy lừng Giặc Ngô khiếp sợ hãi hùng Nữ nhi chính khí khác hơn thường tình * Vì độc lập đã liều mình Sanh thời Bắc thuộc phá thành Cửu Chân Biệt xưng Nụy Kiều Tướng Quân Phú Điền Thanh Hóa nữ nhân hùng tài Triều Lý Nam Đế sau này Sắc phong Trung Dõng miễu thờ hiển linh * Ghi chú: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể Đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu, cong lưng để làm tì thiếp người ta.” (Trần Trọng Kim, 1964, Việt Nam Sử Lược. Trang 53. Nhà Xuất Bản Trung Việt)
  • 9. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 109 4- Đố: - Đố anh danh tướng vang rền Là ai ? Chống đuổi quân Nguyên chạy dài . Chữ gì thích ở cánh tay ? Văn tài còn có một bài khích quân Nức lòng quân sĩ thêm hăng Cùng nhau ra sức chống ngăn quân thù. Đáp: - Trần Quốc Tuấn – Hưng Đạo Vương Đã từng đánh đuổi quân Nguyên chạy dài. Thích chữ “Sát Đát” vào tay Bài Hịch Tướng Sĩ cạn lời khuyên răn Ba quân hởi dạ đánh hăng Thắng quân Mông Cổ tiếng tăm lẫy lừng. 5- Đố: - Ai người đổi áo giả vua Liều mình chống giặc cho vua thoát nàn ? Đáp: - Đuổi giặc Minh, Bình Định Vương Đối đầu quân địch núi rừng Chí Linh Vua Lê thế yếu ít binh Trùng vi vây khổn lâm tình thế nguy Ba quân chẳng có kế chi Liều mình cứu nước thay y đổi bào Giả vua cùng giặc đánh nhau Lê Lai thiệt mạng cứu vua thoát nàn. 6- Đố: Đố anh lịch sử gần đây Ai người áo vải núi Tây phất cờ ? Từ Nam chí Bắc ngẩn ngơ Chỉ trong mươi bữa, một giờ dẹp xong Binh rồng thẳng tiến Thăng Long Quân Thanh vỡ mật hết mong xâm loàn ? Đáp: Tây Sơn Nguyễn Huệ phất cờ Đống Đa một trận tơi bời quân Thanh Đánh mau, đánh mạnh lừng danh Mồng Năm ăn Tết tại thành Thăng Long. Xuân Giáp Ngọ 2014 Chiêu Anh II – Đồ dùng Đố: 1- Người treo tôi ở giữa nhà Tôi có ba cánh nhưng mà không bay Chậm mau tôi chỉ biết quay Cho người mát mẻ suốt ngày không ngưng. 2- Tôi không có cánh mà bay Xây tường trải gạch nhờ tay tôi làm Nên nhà, cung điện, lầu trang Che mưa đỡ nắng cả làng nhờ tôi. 3- Thân tròn, chưn nhọn, giẹp đầu Tuy là vật mọn đâu đâu cũng cần Ngắn, dài năm một đôi phân Vật treo trang trí dự phần có tôi.
  • 10. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 110 4- Chúng tôi luôn có đủ đôi Trong tay khéo léo mọi người dùng tôi Thức ngon, thức dở trên đời Tôi cùng vén gọn người xơi no lòng. 5- Chúng tôi gỗ mít, gỗ me Có bạn loài nhựa cùng phe mặt dày Suốt ngày bằm xắt đọa đày Đành cam thân phận chẳng hề than van. 6- Đội nón đỏ, mặc áo vàng Thân gầy thở khói nhẹ nhàng thơm tho Người dâng Trời Phật chứng cho Còn tôi thân thể ra tro lụn dần. Giải đáp: 1- Quạt trần treo ở giữa nhà Bấm nút ba cánh theo đà chậm lơi Suốt ngày quay tít không ngơi Cả nhà mát mẻ thảnh thơi ngày hè. 2- Đố chi dễ ợt đáp ngay Ai mà chẳng biết cái bay thợ hồ Lầu trang cung điện quy mô Nhờ tay thợ giỏi khéo tô mới thành. 3- Cây đinh lớn nhỏ vài phân Làm nghề thợ mộc rất cần có đinh “Như đinh đóng cột” sự tình Ví von lời hứa đinh ninh chẳng dời. 4- Đôi đũa luôn có đủ đôi Và cơm, vẽ cá có tôi gắp cùng Bữa ăn ngon miệng no lòng Tôi vui phục vụ vẫn không nề hà. 5- Bếp núc luôn có sẵn sàng Một hai tấm thớt để làm thức ăn Sả, hành, tỏi, ớt xắt bằm Đều nhờ tấm thớt dần băm dễ dàng. 6- Nhang thơm nghi ngút lụn dần Người cầu khấn nguyện thắp dâng Phật Trời Niềm tin an ủi lòng người Hương thơm lãng đãng rớt rơi tro tàn. Xuân Giáp Ngọ 2014 Chiêu Anh Tình Cuối Mùa Thu Chút thương nhớ xin gỡi vào trong gối Vẽ cho đầy ảo mộng dưới trời khuya Người thay không tôi trôi vào giấc điệp Những vần thơ không gợi ý chí lìa . . . Khi ta ngồi bên nhau chiều hôm ấy Đôi bàn tay đã đổ lệ hân hoan Ai đâu biết tôi giấu nghìn tiếng vọng Cũa con tim tê lạnh xót xa tràn Tặng cho người một cuối đời tan vỡ Trong tâm hồn tinh khiết một cành hoa Tôi đã ném sau lưng đau đớn cũ Những trong đời khỗ luỵ đắng cay và ... . . .Tôi chờ mãi Nhưng không tin đã thấy Chã ngươi về như sợi khói màu xanh Bỡi nghin dậm trước sau . . .như bão rớt Trên đường đi cánh lớn phủ xây thành Tôi chẵng dám giăng hồn lên toc nữa E sợ chùn những ám ảnh sinh ly! Ai! Đâu biết đươc lòng tôi quá đổi Nghìn đêm về nghe nguồn cội xa khơi TrúcthanhAn
  • 11. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 111 Lịch sử Lập Quốc của Tổ Tiên Việt Nam Vĩnh Thuận Từ lúc con người hiện diện sinh sống hàng trăm ngàn năm trước công nguyên, thì tổ tiên chúng ta đã hiện hữu khai phá giang sơn nầy. Nhưng nếu tính từ khi tổ chức nhà nước được hình thành thì Lịch sử Việt Nam đến nay độ khoảng gần 5000 năm (theo truyền thuyết). Đó là thời các vua Hùng thuộc Họ Hồng Bàng. Cho đến nay, thời kỳ Hùng Vương được các nhà sử học khẳng định là thời kỳ có thật trong lịch sử. Tuy nhiên, không có một tư liệu thành văn nào ghi chép về thời kỳ này cho nên chúng ta tạm bằng lòng với việc “dựng” lại lịch sử bằng các truyền thuyết dân gian, dân tộc học, ngôn ngữ học, địa phương học… kết hợp với kết quả của ngành Khảo cổ học. Vì vậy, nếu đề cập tới thời kỳ Tiền Hùng Vương thì còn khó khăn gấp bội phần. Tuy nhiên, chúng ta cắt nghĩa thế nào về những ghi chép của các sử gia Trung Hoa về một đất nước Việt Thường xuất hiện rất lâu trước thời kỳ Hùng Vương ? Chúng ta cắt nghĩa thế nào về một cố đô Ngàn Hống xuất hiện trước khi có Kinh đô Văn Lang, nhất là khi những ghi chép đó lại xuất hiện trong Ngọc phả Hùng Vương, như một sự truy niệm về kinh đô cũ ? Hùng đồ thập bát diệp Thánh Vương Ngọc Phả cổ truyền (Ngọc phả 18 đời Hùng Vương hiện lưu tại viện Bảo Tàng Hùng Vương) Truyền thuyết về thời kỳ dựng nước Tục truyền, cha của Long Vương là Dương Vương, khi mới mở nước, đi xem phong cảnh núi sông, tìm nơi xây dựng kinh đô. Khi về phương Nam, đến vùng Ngàn Hống, thấy phong cảnh núi non trùng trùng điệp điệp, 99 ngọn (Ngọc phả Hùng Vương ghi là 199 ngọn) cao tận trời xanh, chân núi vờn đến gần cửa Đơn Hay (tức cửa Đan Nhai, tức Cửa Hội) có thế rồng vây hổ chầu, Dương Vương rất lấy làm vừa ý. Vương bèn quyết định đắp thành dưới núi, lấy nơi này làm đô ấp, như vị trí ngày nay thì thành ấy là đất Nội Tả-Hữu Thiên Lộc thuộc Châu Hoan (nay thuộc phạm vi các xã Thiên Lộc, Phúc Lộc, Tùng Lộc thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Dựng xong đô ấp, Dương Vương lại cưỡi thuyền thẳng về hướng Bắc, tiếp tục đi xem phong cảnh đất nước. Thuyền đang đi, bỗng có một người con gái “tóc dài ngài (người) đẹp, da phấn mặt hoa” từ dưới nước nổi lên, tự xưng là Thần Long. Sau khi chào hỏi ân cần, vương mời nàng lên thuyền, đôi bên trò chuyện rất ăn ý. Dương Vương đưa nàng về đô ấp Ngàn Hống và cưới làm vợ. Vương lại tiếp tục tuần thú phương Bắc. Đến vùng núi như ngày nay là Sơn Tây, vương thấy cảnh núi sông thật là hùng vĩ đặc biệt ngã ba Hạc là nơi thủy bộ thuận lợi, xem ra nhiều chỗ ưu việt hơn đất Hoan Châu. Vương bèn cho xây dựng đô ấp mới ở vùng Nghĩa Lĩnh, từ ngã ba Hạc đến vùng núi Hi Cương , làm nơi hành tại. Dương Vương lại lên vùng Hưng Hóa- Tuyên Quang bây giờ, lấy thêm một người con gái họ Mã là nàng Ngọc Nương làm vợ và dựng một cung sở cho nàng ở, cung sở đó là vùng Tiên Cát, gần Việt Trì ngày nay. Vương ở Tiên Cát ít lâu rồi trở về đô ấp Ngàn Hống. Lúc này, nàng Thần Long đã đến ngày mãn nguyệt khai hoa, sinh con trai đầu lòng. Đó là Long Vương, con trưởng của Dương Vương, tức là Vua Hùng thứ nhất, sau này gọi là Hùng Hiền Vương (tức Lạc Long Quân) Khi Long Vương lớn lên, Dương Vương giao cho đô ấp Nghĩa Lĩnh để trông coi việc nước ở phương Bắc. Trong thời gian ở kinh thành Nghĩa Lĩnh, nhân một chuyến đi tuần thú, Long Vương gặp nàng Âu Cơ ở vùng Sơn Tây và lấy làm vợ. Long Vương đưa nàng Âu Cơ về động Hi Cương, còn mình thì ở luôn Phong Châu (gần ngã ba Hạc) làm việc nước. Về sau Long Vương bỏ kinh đô Ngàn Hống, lấy Phong Châu làm kinh đô chính, đặt tên nước là Văn Lang, chia làm 15 bộ. Từ đó cố đô Việt Thường ở Ngàn Hống bị thời gian xóa dần dấu vết. Tuy nhiên, dân tộc ta sau thời kỳ dựng nước chưa được bao lâu thì mất nước. Hơn một ngàn năm Bắc thuộc (từ năm 179 trước Công
  • 12. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 112 nguyên (TCN) đến năm 938), dưới sức mạnh đô hộ và đồng hóa, lịch sử văn hiến của người Việt đã gần như bị bôi xóa mọi dấu vết, không được ghi chép để truyền lại. Cái duy nhất mà kẻ thù không thể xóa được là ký ức của dân ta về lịch sử tổ tiên, ông cha ta. Bởi vậy, suốt một thời gian dài, thời kỳ lập quốc của dân tộc Việt Nam chỉ được phản ánh qua huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết dân gian, và ở thời kỳ tiền sử (trước thời Hồng Bàng) chỉ được ghi nhận, dự đoán thông qua các di tích khảo cổ. Khu vực nay là Việt Nam đã có loài người ở từ thời kỳ Đồ đá cũ, các nhà khảo cổ đã tìm ra các dấu vết con người cư ngụ tại hang Thẩm Hai, Thẩm Khuyên (Lạng Sơn), núi Đọ, Ninh Bình và Nga Sơn, Thanh Hóa cách đây hàng trăm nghìn năm. Thời kỳ này mực nước biển thấp hơn, và Việt Nam khi đó nối liền với bán đảo Malaysia, đảo Java, Sumatra và Kalimantan của Indonesia, với khí hậu ẩm và mát hơn bây giờ. Người Việt cổ khai thác đá gốc (ba-dan) ở sườn núi, ghè đẽo thô sơ một mặt, tạo nên những công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang, nạo... bỏ lại nơi chế tác những mảnh đá vỡ (mảnh tước). Những di tích ở núi Đọ được coi là bằng chứng cổ xưa nhất về sự có mặt của con người tại vùng đất Việt, khi tổ chức xã hội loài người chưa hình thành. Văn hóa Sơn Vi Nền văn hóa đầu tiên dựa vào những di chỉ tìm thấy được đặt tên là thời kỳ văn hóa Sơn Vi, hậu kỳ thời đại đồ đá cũ cách nay khoảng 30 ngàn đến 11 ngàn năm. Sơn Vi là tên một xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên tìm ra những di chỉ của nền văn hóa này, những nhóm cư dân nguyên thủy tại đây đã sinh sống bằng hái lượm và săn bắt trong một hệ sinh thái miền nhiệt - ẩm với một thế giới động vật và thực vật phong phú, đa dạng. Văn hóa Sơn Vi bao trùm các vùng thuộc Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị. Những người nguyên thủy chủ nhân của văn hóa Sơn Vi sống thành từng bộ lạc. Họ sinh sống ngoài trời trên các ngọn đồi hay gò cao ở trung lưu sông Hồng, thượng lưu sông Lục Nam, thượng lưu sông Hiếu. Cách đây 15000-18000 năm trước đây là thời kỳ nước biển xuống thấp. Đồng bằng Bắc Việt bấy giờ kéo dài ra mãi đến tận đảo Hải Nam và các khu vực khác. Đến thời kỳ khoảng 15 nghìn năm trước Công Nguyên (cách đây khoảng 18 nghìn năm) là thời kỳ cuối của kỷ băng hà, nước biển dâng cao dần đến khoảng năm 8000 năm trước đây thì đột ngột dân cao khoảng khoảng 130m (đại Hồng Thủy, Có thể là sự tích Sơn Tinh Thủy Tinh để ám chỉ thời đại nầy chăng ?). Nước biển ở lại suốt thời kỳ này và rút đi vào khoảng 5500 năm trước đây. Ứng với thời kỳ này cùng với các di chỉ khảo cổ cho thấy nước biển đã ngập toàn bộ khu vực đồng bằng sông Hồng ngày nay đến tận Vĩnh Phú trong suốt 3000 năm. Do chính đặc tính về địa chất nầy nên vùng đồng bằng sông Hồng, vịnh Bắc Việt không có điều kiện khai quật nền đất cổ đại ở khoảng 8000 năm trước công nguyên (trước khi có đại hồng thủy) để xác nhận dấu vết của các nền văn minh khác nếu có. Trang sử Việt có một khoảng trống không xác định được từ khoảng năm trước 5500 năm - 18000 năm trước. Văn hóa Hòa Bình Sau thời kỳ văn hóa Sơn Vi là văn hóa Hòa Bình, thuộc thời kỳ đồ đá cũ sang thời kỳ đồ đá mới (cách ngày nay 15.000 năm, kéo dài đến 2.000 năm trước Công Nguyên). Hình minh họa cư dân Văn hóa Hòa Bình Trên vùng đất xen núi đá vôi, thuộc phía Tây châu thổ ba con sông lớn thuộc Bắc Việt, và với không gian rộng lớn, tiêu biểu cho cả vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa. Văn hóa Hòa Bình được ghi nhận là cái nôi của nền văn minh lúa nước, xuất phát từ Đông Nam Á có niên đại trễ
  • 13. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 113 được tìm thấy vào khoảng 15,000 năm trước đây. Do đặt tính địa chất về hồng thủy nên có thể một phần sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Hòa Bình đã chưa bao giờ được nhận ra và tìm thấy. Các nhà khảo cổ đã liên kết sự khởi đầu của nền văn minh người Việt ở cuối thời kỳ Đồ đá mới và đầu thời kỳ đồ đồng (vào khoảng hơn 5700 năm trước Công Nguyên). Các bộ lạc chủ nhân của văn hóa Hòa Bình đã tạo ra nền văn hóa Đông Sơn. Văn hóa Bắc Sơn Là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở thời kỳ sơ thời đại đồ đá mới có niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ một vạn đến tám ngàn năm. Bắc Sơn là đặt theo tên huyện Bắc Sơn, nơi phát hiện đầu tiên những di vật của nền văn hóa này. Di chỉ của văn hóa Bắc Sơn được tìm thấy ở các miền đất thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An... ngày nay. Tính đến năm 1997, đã có 51 điểm văn hóa Bắc Sơn được khai quật. Trong số đó, có 8 địa điểm tìm thấy di cốt người tiền sử. Người nguyên thủy trong nền văn hóa Bắc Sơn cư trú trong hang động, mái đá gần sông, suối. Họ sống bằng săn bắn, hái lượm. Họ cũng bắt đầu canh tác nông nghiệp ở mức độ rất sơ khai. Dụng cụ để sinh hoạt của họ làm bằng đá đẽo hoặc mài và từ tre, gỗ. Các dụng cụ này tỏ ra tinh vi hơn so với dụng cụ của người nguyên thủy thời văn hóa Hòa Bình. Đặc biệt, người nguyên thủy thời văn hóa Bắc Sơn đã biết làm đồ gốm. Họ thích trang sức hơn so với người thời văn hóa Hòa Bình và có nơi cư trú tương đối ổn định hơn. Thời đại đồ đồng đá Là một giai đoạn trong sự phát triển các nền văn hóa của con người, trong đó việc sữ dụng các dụng cụ bằng kim loại đã xuất hiện, đồng thời với việc sử dụng các dụng cụ bằng đá. Trong thời đại nầy các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu vết của nền Văn Hóa Phùng Nguyên. Văn hóa Phùng Nguyên là một nền văn hóa thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm. Phùng Nguyên là tên một làng ở ven sông Thao thuộc làng Phùng Nguyên, xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên tìm ra các di chỉ của nền văn hóa này. Di chỉ văn hóa Phùng Nguyên đã được tìm thấy ở các khu vực Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng và một vài nơi khác trong lưu vực sông Hồng. Tính đến năm 1998, có khoảng 55 địa điểm đã được phát hiện có di chỉ văn hóa đồng dạng với các di chỉ tại Phùng Nguyên, trong đó có 3 địa điểm có di cốt người. Ở những nơi đây, trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, hiện tại chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Đồ trang sức bằng các loại đá, đá bán quý, ngọc được tìm thấy nhiều, đặc biệt là các vòng đá. Ngoài đồ đá, cư dân Phùng Nguyên đã biết chế tạo đồ gốm đặc sắc từ khâu làm đất, tạo dáng cho đến hoa văn trang trí. Cùng thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng ở Việt Nam như văn hóa Phùng Nguyên còn có văn hóa Cồn Chân Tiên (di tích ở xã Thiệu Vân, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Di tích thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng ở lưu vực Sông Mã), nền văn hóa Hoa Lộc (theo tên xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam, nơi phát hiện di chỉ đầu tiên và điển hình vào cuối 1973. Chủ nhân VHHL sống bằng nghề nông, chăn nuôi, săn bắn, đánh cá…), văn hóa của các bộ lạc người nguyên thủy ở lưu vực sông Lam, của các bộ lạc ở thượng lưu sông Mã (huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La), văn hóa Tiền Sa Huỳnh (là một nền văn hóa được xác định ở vào khoảng năm 1000 TCN đến cuối thế kỷ thứ 2 Trung Việt), văn hóa Đồng Nai (Đông Nam Việt). Thời đại đồ đồng Di chỉ văn hóa Đồng Đậu
  • 14. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 114 Văn hoá Đồng Đậu là nền văn hóa thuộc thời kỳ đồ đồng ở Việt Nam cách ngày nay khoảng trên 3.000 năm, sau văn hóa Phùng Nguyên. Tên được đặt theo khu di tích Đồng Đậu ở thị trấn Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nền văn hóa đồ đồng phong phú năm 1962. Người Đồng Đậu sống ngoài trời trên các ngon đồi cao hay gò nổng vùng Trung du Bắc Việt với một nền kinh tế khá ổn định và phát triển dựa trên nông nghiệp trồng lúa và các cây hoa màu. Các dấu tích luyện kim như xỉ đồng, các mảnh khuôn đúc (bằng đá) cho thấy nghề đúc đồng đã có và phát triển thời kỳ này. Tiếp theo Đồng Đậu là Văn hóa Gò Mun ước chừng khoảng từ năm 1.000 - năm 700 TCN, thuộc cuối thời kỳ đồ đồng. Nền văn hóa này được đặt theo tên của địa điểm mà vào năm 1961, các nhà khảo cổ học đã khai quật được nhiều di chỉ của nền văn hóa này tại gò Mun, xã Tứ Xã, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Văn hóa Gò Mun được nhìn nhận như là nền văn hóa tiền văn hóa Đông Sơn. Thời kỳ này, người Việt cổ đã có những chuyển biến rõ rệt về một xã hội phức tạp và giàu có, thúc đẩy việc ra đời nhà nước sơ khai của người Việt. Thời đại đồ sắt Sau thời đại Đồ Đồng là thời đại Đồ Sắt. Trong thời nầy nền Văn hóa Đông Sơn nổi bật vì sản phẩm Trống đồng của nó. Cái tên của văn hóa này xuất phát từ một số hiện vật đồ đồng sắt ở làng Đông Sơn ven sông Mã, thuộc Tỉnh Thanh Hóa do một người câu cá tên Nguyễn Văn Lắm đã ngẫu nhiên tìm được năm 1924, rồi do một viên thuế quan người Pháp tên là L. Paijot yêu khảo cổ, khai quật tìm thấy. Trống đồng Đông Sơn Đến khoảng năm 1200 TCN, sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng trong khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng đã dẫn đến sự phát triển của nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật với các trống đồng, các vũ khí, dụng cụ được khai quật minh chứng cho việc kỹ thuật đúc đồ đồng bắt nguồn từ đây, nhiều mỏ đồng nhỏ xưa đã được khai quật ở miền Bắc Việt Nam. Ở đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy quan tài và lọ chôn hình thuyền, nhà sàn, và bằng chứng về phong tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Xã hội Đông Sơn là một xã hội đã phát triển về nông nghiệp. Cơ cấu xã hội cũng diễn biến nhiều phức tạp có phân chia thành nhiều giai cấp. những khí cụ tìm được cho thấy trong xã hội có phân chia giàu nghèo. Những loại vũ khí mới cho thấy thời Đông Sơn, Ông Cha ta đã phải đối phó với nhiều cuộc chiến tranh nội bộ hoặc chống ngoại xâm. Việc tìm thấy những quan tài hình thuyền cũng như những hình trang trí trên trống đồng như những người chèo thuyền, những chiến sĩ cầm vũ khí cũng như hình những con chim biển chứng tỏ người Đông Sơn đã có những giao tiếp mật thiết với biển hoặc xuất phát từ biển vào. Những di tích của Đông Sơn tồn tại tới đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Tây Lịch trùng hợp với giai đoạn nước ta bị nội thuộc vào bọn Tàu khựa Hán tộc thời Tây Hán. Tới đây thời khuyết sữ của nước ta không còn nửa mà đã có những sử liệu thành văn đa số dựa vào sử liệu Trung Hoa. Nước Xích Quỷ dưới thời Lạc Long Quân Thời Hồng Bàng Theo một số sách cổ sử, các tộc người Việt cổ (Bách Việt) lập quốc đầu tiên ở miền Lĩnh Nam, bao gồm một vùng rộng lớn từ phía Nam sông Trường Giang của Trung Hoa hiện nay đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã ở miền Bắc Việt Nam vào thời Kinh Dương Vương và được đặt tên
  • 15. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 115 là Xích Quỷ. Xích nghĩa là đỏ, chỉ phương Nam. Theo Kinh Dịch, Phương Nam là nơi văn minh. Truyền thuyết nước Xích Quỷ của các tộc người Việt cổ được hình thành từ năm 2879 TCN, phía Bắc giáp hồ Động Đình, phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên - Trung Quốc), phía Đông là biển Đông Hải và phía Nam là nước Hồ Tôn (Chiêm Thành sau này). Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc (từ năm 490 TCN đến năm 221 TCN) do các sức ép từ các vương quốc Sở, Tần ở miền Bắc Trung Hoa và làn sóng người Hoa Hạ chạy tỵ nạn chiến tranh từ miền Bắc xuống nên dần dần các tộc người Việt cổ bị mất dần lãnh thổ, một số bộ tộc Việt bị đồng hóa vào người Hoa Hạ. Cao điểm là vào thời Tần Thủy Hoàng lãnh thổ của Trung Hoa kéo xuống tận ven biển phía Nam Quảng Đông. Thời nầy, Vương quốc của các tộc người Việt cổ có tên nước Xích Quỷ, là một liên bang lỏng lẻo giữa các nhóm tộc Việt khác nhau như Điền Việt ở Vân Nam, Dạ Lang ở Quý Châu, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Triết Giang, Sơn Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt (Tây Âu) ở Quảng Tây, Lạc Việt ở miền Bắc Việt Nam ... Những biến động trong thời kỳ này cũng dẫn tới sự tan rã của nhà nước liên minh của các tộc người Việt, từ thế kỷ 8 trước công nguyên trở đi. Các bộ tộc Việt cư trú tại các khu vực khác nhau ở miền Nam sông Dương Tử đã hình thành nên các nhà nước khác nhau ở từng khu vực cũng như từng thời kỳ như: nước Việt, Văn Lang, Việt Thường, Nam Việt, Âu Lạc, Quỳ Việt, Mân Việt, Đông Việt,... các nhà nước độc lập này từng bước bị các vương triều của người Hoa Hạ ở miền Bắc sông Dương Tử đánh bại thôn tính, hoặc là tự nội chiến với nhau dẫn tới suy yếu. Đến thời kỳ đế chế nhà Hán khoảng thế kỷ 1 TCN các nhà nước Việt đều bị Tàu khựa thôn tính. Nước Văn Lang thời Hùng Vương Nước Văn Lang Vào khoảng thế kỷ 7 trước công nguyên, người Lạc Việt, một trong những nhóm tộc Việt ở phương Nam đã xây dựng nên nhà nước của mình, đó là nước Văn Lang do các vua Hùng cai trị, đóng đô ở Phong Châu (thuộc Phú Thọ ngày nay). Các tài liệu nghiên cứu hiện đại phần lớn đều đồng ý theo ghi chép của Việt sử lược về một vương quốc Văn Lang của người Lạc Việt có niên đại thành lập vào thế kỷ 7 TCN cùng thời Chu Trang Vương (696 TCN - 682 TCN) ở Trung Hoa. Vương quốc này tồn tại khu vực ngày nay là miền Bắc Việt Nam và đã có giao lưu với nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn (Lạc Câu Tiễn) ở khu vực hạ lưu sông Trường Giang. Nhà nước Văn Lang theo thể chế quân chủ chuyên chế. Ở trung ương do vua Hùng đứng đầu. có các Lạc Hầu và Lạc Tướng giúp việc. Ở địa phương chia làm 15 bộ: Việt Thường (越裳), Giao Chỉ (交趾), Chu Diên (朱鳶), Vũ Ninh (武寧), Phúc Lộc (福祿), Ninh Hải (寧海), Dương Tuyền (陽泉), Lục Hải (陸海), Hoài Hoan (懷驩), Cửu Chân (九真), Nhật Nam (日南), Chân Định (真定), Văn Lang (文郎), Quế Lâm (桂林), Tượng Quận (象郡) do Lạc tướng cai quản. Dưới bộ là các làng do Bồ chính cai quản. Nước Âu Lạc Đến thế kỷ thứ 3 TCN, Vào thời cuối các vua Hùng, nạn ngoại xâm càng trở thành mối đe dọa to lớn. Ở phía Bắc, Việt Vương Câu Tiễn sau khi diệt nước Ngô năm 473 trước CN làm bá chủ miền Duyên Hải từ Sơn Đông đến Quảng Đông và đã sai sứ xuống dụ nước Văn Lang nhưng đã bị vua Hùng cự tuyệt. Sự kiện này được các nhà sử học Việt Nam coi là cuộc đụng độ đầu tiên giữa nước ta với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán (Tàu khựa). Truyền thuyết "Họ Hồng Bàng" trong sách Lĩnh Nam chích quái cũng phản ánh phần nào cuộc tiếp xúc và đụng độ của người Việt với người Hoa Hạ ở phương Bắc. Vua Hùng Vương thứ 18 có một người con gái rất xinh đẹp. Vua nước Thục ở về phía Bắc nước Văn Lang sang cầu hôn, Hùng Vương từ chối. Thục Vương đem lòng oán giận, cử binh đánh nhưng bị thua. Khi sắp mất, Thục Vương dặn cháu là Thục Phán phải lo báo thù. Quả nhiên về sau, Thục Phán thừa lúc Hùng Vương không phòng bị, đánh chiếm được nước Văn Lang. Vua Hùng Vương 18
  • 16. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 116 nhảy xuống giếng tự tử (258 trước tây lịch). Sau khi thắng Vua Hùng Vương, Thục Phán, sát nhập lãnh thổ của Âu Việt và Lạc Việt lập ra nước Âu Lạc (218 TCN), đóng đô tại Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay. Ông tự xưng là An Dương Vương. Nước Âu Lạc của An Dương Vương bị Triệu Đà thôn tính năm 179TCN. Nước Nam Việt Cuối thời Tần, Triệu Đà (người nước Triệu - thời Chiến Quốc) là quan úy quận Nam Hải (Quảng Đông ngày nay) nhân khi nhà Tần rối loạn sau cái chết của Tần Thủy Hoàng (210 TCN), đã cát cứ quận Nam Hải, sau đó ông đem quân thôn tính sát nhập các vương quốc Âu Lạc, Mân Việt, quận Quế Lâm lân cận và thành lập nước Nam Việt với kinh đô Phiên Ngung tại Quảng Châu vào năm 207 TCN. Vương quốc Nam Việt trong thời Triệu Đà bao gồm ba quận phía Nam của nhà Tần: Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân. Biên giới phía Bắc là dãy núi Lĩnh Nam, biên giới phía Nam là dãy Hoành Sơn và được chia thành 9 quận (gồm Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam ngày nay) Sau khi nhà Hán của người Hoa Hạ được thành lập, ông đã đứng về phía những bộ tộc Bách Việt còn lại đối kháng lại sự bành trướng xâm lược của nhà Hán. Trong khoảng thời gian một thế kỷ (207-111 TCN), tuy có vua ngoại tộc là người phương Bắc nhưng vương quốc Nam Việt hoàn toàn độc lập tự chủ trước đế chế nhà Hán. Nước Nam Việt thời Triệu Đà Thời Bắc thuộc Là thời gian Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình phương Bắc, Tàu khựa như: Bắc thuộc lần thứ nhất (-111 TCN đến +39): Hán thuộc; Bắc thuộc lần thứ hai (43-541): nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tào Ngụy, nhà Tấn, nhà Tề, nhà Lương; Bắc thuộc lần thứ ba (602-905): nhà Tùy, nhà Đường; Bắc thuộc lần thứ tư (1407- 1427): còn gọi là thời thuộc Minh. Trong thời gian nầy, chỉ có vài thời gian độc lập ngắn ngủi như thời kỳ Hai Bà Trưng (40- 43), thời kỳ nhà Tiền Lý với nước Vạn Xuân (541- 602). Trong suốt các thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại Tàu khựa không ngừng thực hiện bốc lột, đồng hóa người Việt nhằm biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Hoa nay cũng thế). Dưới thời kỳ này người dân Việt phải đóng sưu cao thuế nặng cho triều đình phương Bắc. Ngoài số thuế của nhà nước, một số quan cai trị địa phương cũng tham lam bòn vét thêm của dân không thương tiếc. Cũng có một số quan cai trị nghiêm chỉnh, đứng đắn, nhưng số này rất ít. Nền văn hóa Tàu khựa cũng du nhập vào Việt Nam thời kỳ này. Sĩ Nhiếp, thái thú nhà Hán (187-226) được các nhà nho thời phong kiến coi là có công truyền bá chữ nho và đạo Khổng vào Việt Nam, mở đầu nền nho học của giới quan lại phong kiến ở Việt Nam. Nhiều người Tàu đã di cư đến Việt Nam, họ ở lại, dần dần kết hôn với người Việt và hòa nhập vào xã hội Việt, và con cháu họ trở thành người Việt. Thời Hán thuộc (Bắc thuộc lần thứ Nhất) Năm 111 TCN, nhà Hán sai Lộ Bác Đức xua quân diệt nhà Triệu, chiếm nước Nam Việt và chia đất chiếm được ra làm chín quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Châu Nhai, Đạm Nhĩ, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam có trụ sở tại Long Biên. Riêng đối với quận Nhật Nam, trước khi Lộ Bác Đức đánh bại nhà Triệu-Nam Việt, lãnh thổ Nam Việt chưa bao gồm quận Nhật Nam (từ Quảng Bình tới Bình Định). Quận Nhật Nam chỉ hình thành sau khi các quan cai trị Giao Chỉ người Hán tiến xuống thu phục các bộ tộc phía Nam dãy Hoành Sơn; quân xâm lăng nhà Hán sau đó sáp nhập Nam Việt vào đế chế Hán. Đến năm 106 TCN, nhà Tây Hán đặt Châu Giao Chỉ thống suất 7 quận lục địa (trừ Châu Nhai và Đạm Nhĩ - đảo Hải Nam bị mất từ đây) và đặt Châu trị khắc nghiệt tại Giao Chỉ. Thứ sử đứng đầu Châu và trị sở đóng tại Mê Linh (Hạ Lôi, Mê Linh, Hà Nội), dưới cấp quận có Thái thú cai quản việc dân sự và Đô uý coi việc quân sự. Bên dưới cấp huyện, Tây Hán vẫn tiếp tục cho Lạc Tướng được trị dân theo chế độ cha truyền con nối. Từ thế kỷ 2 TCN cho đến đầu Công nguyên dưới chính sách cai trị lỏng lẻo của nhà Triệu và nhà Tây Hán, cơ cấu tổ chức truyền thống của Âu Lạc mặc dù chịu sự kiềm chế, kiểm soát của chính quyền đô hộ, song về cơ bản không bị
  • 17. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 117 xáo trộn nhiều. Nền văn minh Việt cổ dựa trên mô hình kinh tế văn hoá nông nghiệp lúa nước vẫn tiếp tục được duy trì, phát triển. Đây là nền tảng quan trọng, là sức sống nội tại để người Việt vượt qua những thử thách của các chính sách nô dịch và đồng hoá ngày càng có quy mô, hệ thống của các chính quyền đô hộ trong những giai đoạn sau. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm +40) Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, có nhiều cuộc khởi nghĩa anh dũng, trong đó nổi bật là cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng. Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi (sinh ngày mồng 1 tháng 8 năm Giáp Tuất năm +14), là con gái của Lạc Tướng huyện Mê Linh (thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện. Mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi nấng, dạy cho nghề trồng dâu, nuôi tằm, dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện võ nghệ. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc Tướng huyện Chu Diên (tỉnh Hà Tây ngày nay). Lúc bấy giờ nhà Đông Hán đang cai trị hà khắc nước Việt, viên Thái thú Tô Định là người vô cùng bạo ngược, tham lam. Hai bà cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng Thi Sách bị Tô Định giết chết. Hận giặc hãm hại nhân dân, giết hại chồng mình, Trưng Trắc đã cùng em gái Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở cửa Sông Hát trên Sông Hồng (thuộc địa phận huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) với lời thề trước giờ xuất binh: Một xin rửa sạch nước thù Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng Ba kêu oan ức lòng chồng Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này (Theo Thiên Nam ngữ lục) Hai bà Trưng khởi nghỉa Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được dân chúng khắp nơi ủng hộ, tạo thành sức mạnh như vũ bão, đánh đuổi Tô Định phải bỏ chạy về nước. Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà nhiều cuộc khởi nghĩa địa phương được thống nhất thành phong trào rộng lớn từ miền xuôi đến miền núi. Khởi đầu nổ ra ở quận Giao Chỉ, sau đó là các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và các địa phương khác của vùng Lĩnh Nam bao gồm cả người Việt và các dân tộc khác trong nước Âu Lạc cũ. (tất cả 65 thành trì) Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã đánh chiếm được 65 huyện thành, nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước Việt hồi đó. Cuộc khởi nghĩa thành công, đất nước được hoàn toàn độc lập. Hai bà được suy tôn lên làm vua tước hiệu là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh. Cuộc tiến quân của Hai Bà Trưng Anh hùng dân tộc Trưng nữ Vương đã lập nên và giữ vững nền độc lập, quyền tự chủ dân tộc trong gần 3 năm. Hai Bà Trưng là biểu tượng của ý chí hiên ngang và khí phách quật cường của dân tộc ta; thể hiện truyền thống yêu nước nồng nàn của phụ nữ Việt Nam “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” trong những năm 40 sau công nguyên. Sau đó nhà Hán phái Mã Viện sang đàn áp cuộc khởi nghĩa này. Sau ba năm giành độc lập, cuộc khởi nghĩa bị Mã Viện đàn áp tàn bạo. Do bị cô lập và quân đội chưa tổ chức hoàn thiện nên không đủ sức chống cự lại Mã Viện, Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết trên dòng sông Hát để giữ vẹn khí tiết. Bắc thuộc lần thứ 2 Năm 43, sau khi dẹp tan cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, nhà Đông Hán đã thắt chặt chính sách cai trị tại Giao Chỉ. Về tổ chức bộ máy đô hộ, nhà Đông Hán vẫn đặt chức Thứ sử đứng đầu Giao Chỉ (sau đổi thành Giao Châu). Dưới cấp quận, viên quan đứng đầu vẫn là Thái thú. Tuy nhiên, lúc này Thái thú kiêm coi cả việc dân sự và việc quân sự của một quận. Chức Đô uý chuyên trách việc quân sự trước đây không còn nữa. Ngoài ra, để
  • 18. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 118 giúp việc cho Thái thú, một số chức quan chuyên trách các phần việc cụ thể cũng được đặt ra. Đặc biệt, chính quyền Đông Hán là chính quyền đô hộ đầu tiên đã cố sức vươn xuống cai quản cấp huyện. Danh hiệu Lạc Tướng bị xoá bỏ, thay vào đó, mỗi huyện do một viên Lệnh trưởng được chính quyền Đông Hán bổ nhiệm trực tiếp cai quản. Để thuận lợi hơn cho Lệnh trưởng cai trị các huyện đồng thời triệt tiêu dần quyền lực của các Lạc Tướng cũ của người Việt trên đất bản bộ của mình, nhà Đông Hán đã tiến hành điều chỉnh lại địa giới hành chính, chia tách và đặt thêm một số huyện mới. Mã Viện sau khi đánh bại Trưng Vương đã quyết định chia cắt huyện Tây Vu cũ thành 3 huyện mới là Tây Vu, Phong Khê, Vọng Hải và cắt bớt diện tích huyện Mê Linh... Ách cai trị thắt chặt của nhà Đông Hán còn thể hiện rõ qua việc tăng cường các chính sách bóc lột, nô dịch và đẩy mạnh hàng loạt biện pháp đồng hoá có hệ thống với quy mô ngày càng lớn. Bên cạnh việc vơ vét tài nguyên, của ngon vật lạ để cống nạp về triều đình trung ương, các quan lại tại Giao Châu còn ra sức bóc lột người dân bằng nhiều loại tô thuế và lao dịch. Nhiều diện tích đất đai của công xã người Việt ở Giao Chỉ đã bị các nhóm địa chủ, quan lại từ phương Bắc di cư xuống chiếm đoạt để lập trang trại, đồn điền. Chính quyền cai trị nắm độc quyền nhiều ngành sản xuất như rèn sắt, mua bán muối... Nhà Đông Hán cũng ra sức áp dụng luật Hán trên đất Việt, bắt dân ta phải tuân theo lễ giáo phong kiến Hán, đồng thời cố gắng xóa bỏ tận gốc truyền thống Việt. Tiếp theo sau nhà Hán, các triều đại phong kiến Trung Hoa kế tiếp khác như Đông Ngô, nhà Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, nhà Lương lần lượt thay nhau đô hộ Việt Nam, người Việt cũng đã nhiều lần nổi dậy chống lại sự cai trị của ngoại bang, tuy nhiên tất cả đều không thành công cho mục tiêu dành độc lập. Các cuộc nổi dậy tiêu biểu như khởi nghĩa anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh vào thời thuộc Đông Ngô. Cuộc nổi dậy của anh em Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến từ thời Bắc thuộc Lưu Tống, Nam Tề từ năm 468 đến 485. Lý Bí và Nước Vạn Xuân Lý Bí xuất thân là một hào trưởng, quê ở huyện Thái Bình. Một thời, ông có ra làm việc với chính quyền đô hộ, nhận một chức quan nhỏ: giám quận (kiểm soát quân sự) ở Cửu Đức, Đức Châu. Yêu nước, thương dân, bất bình với bè lũ đô hộ, ông sớm bỏ quan, về quê ở Thái Bình. Vùng quê ông có Tinh Thiều, Con nhà quyền qúi, giỏi văn chương, lặn lội sang kinh đô nhà Lương (Nam Kinh) để xin một chức quan (trước năm 521). Nam triều Trung Quốc cho đến thời Lương, phân biệt tôn ti chặt chẽ giữa quý tộc và hàn môn (bình dân). Lại bộ thượng thư nhà Lương là Sái Tôn bảo họ Tinh thuộc giai cấp hàn môn, không có tiên hiền, chỉ cho Thiều làm Quảng Dương môn lang tức là chân canh cổng thành phía tây kinh đô Kiến Khang. Tinh Thiều lấy thế làm xấu hổ, không nhận chức về quê, cùng Lý Bí mưu tính việc khởi nghĩa, chiêu tập hiền tài. Lý Bí, nhân lòng oán hận của dân; liên kết với hào kiệt các nơi thuộc miền đất Giao Châu nổi dậy chống nhà Lương. Thủ lĩnh Chu Diên (vùng Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội) là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục, phục tài đức Lý Bí đã đem quân theo trước tiên, Phạm Tu cũng là một tướng tài của Lý Bí từ buổi đầu khởi nghĩa. Tháng Giêng năm 542, Cuộc khởi nghĩa bùng nổ. Hào kiệt nhiều nơi nổi dậy hưởng ứng, thanh thế nghĩa quân tăng lên nhanh chóng. Trước thế khởi nghĩa lớn, có sự liên kết giữa các địa phương, Thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư khiếp hãi, không dám chống cự, chạy trốn về Việt Châu (bắc
  • 19. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 119 Hợp Phố) và Quảng Châu. Chưa đầy 3 tháng cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, chính quyền đô hộ bị lật đổ, nghĩa quân đã chiếm được thành Long Biên (Bắc Ninh). Tháng 4 năm 542 vua Lương sai thứ sử Việt Châu là Trần Hầu, thứ sử La Châu là Nịnh Cư, thứ sử An Châu là Lý Trí, thứ sử Ái Châu là Nguyễn Hán, từ 2 phía Bắc Nam Giao Châu cùng tiến đánh nghĩa quân Lý Bí. Cuộc phản kích này của giặc Lương đã hoàn toàn thất bại. Nghĩa quân lại thắng lớn, Lý Bí đã kiểm soát được tới vùng Đức Châu (Hà Tĩnh) ở phía Nam và vùng bán đảo Hợp Phố ở phía Bắc. Tức giận vì thua to, Vua Lương lại sai thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng điều khiển binh mã đi đánh Lý Bí vào mùa Đông năm ấy. Bọn này khiếp đảm không chịu tiến quân, lấy cớ mùa xuân lam chướng, xin đợi mùa thu hẵng khởi binh song vẫn bất đắc dĩ phải động binh (tháng 1/543). Biết giặc lo sợ, Nghĩa quân Lý Bí tổ chức một mặt trận phục kích rộng lớn, chận đánh giặc ngay khi vừa mới tới trên miền cực Bắc Giao Châu. Cuộc chiến diễn ra ở Hợp Phố. Quân giặc, 10 phần chết tới 7,8 phần, bọn sống sót đều tan vỡ bỏ chạy. Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng phải dẫn tàn binh quay về Quảng Châu. Tiêu Tư dâng tờ khải về triều, vu cho Tôn Quýnh, Tử Hùng "giao thông với giặc, dùng dằng không tiến quân". Thấy quân lính bị thiệt hại quá nặng, Lương Vũ Đế xuống chiếu bắt cả 2 tên tướng cầm đầu đem xử tử ở Quảng Châu. Lý Nam Đế khởi nghỉa Sau những thắng lợi cả hai chiến trường biên giới Bắc, Nam. Mùa Xuân, tháng Giêng theo âm lịch (2-544), Lý Bí lên ngôi vua, tự xưng là Lý Nam Đế hiệu là Thiên Đức, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Lý Bí là người Việt Nam đầu tiên tự xưng hoàng đế, bãi bỏ lịch của Tàu, ông cũng đặt cho triều đại mới một niên hiệu riêng là Thiên Đức, (khảo cổ học đã tìm thấy những đồng tiền Thiên Đức đúc thời Lý Nam Đế). Xưng đế, định niên hiệu riêng, đúc tiền riêng, lấy Nam đối chọi với Bắc, lấy Việt đối sánh với Hoa, những điều đó nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vững chắc ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập. Đó là sự ngang nhiên phủ định quyền làm "bá chủ toàn thiên hạ" của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực, và là sự khẳng định dứt khoát rằng nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết giành quyền làm chủ vận mệnh của mình. Lý Nam Đế cũng là người đầu tiên nhận ra vị trí địa lý trung tâm đất nước của miền sông nước Tô Lịch. Hà Nội cổ, từ giữa thế kỷ 6, bước lên hàng đầu của lịch sử đất nước. Nhà nước Vạn Xuân, dù mới xây dựng, cũng bỏ tiền xây một ngôi chùa lớn, sau trở thành một trung tâm Phật giáo và Phật học lớn của Việt Nam. Đó là chùa Khai Quốc, tiền thân của chùa Trấn Quốc ở Hà Nội ngày nay. Ngay cái tên, "chùa Khai Quốc" cũng đã hàm chứa nhiều ý nghĩa! Đầu năm 545, nhà Lương sai Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem 8 vạn quân sang xâm lược nước Vạn Xuân. Chính quyền độc lập lúc này còn non trẻ, lực lượng quốc phòng chưa được phát triển và củng cố. Lý Nam Đế qua kinh nghiệm hai lần đánh thắng giặc xâm lược, vẫn chủ trương chỉ dựa vào quân chủ lực với các thành lũy cố định, đánh dàn trận đối diện nhau nên không địch nổi quân địch đông và mạnh. Lý Nam Đế dẫn 3 vạn quân ra chống giặc ở Chu Diên (Hải Dương, Hưng Yên), bị thua rút về cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Quân Lương do Trần Bá Tiên chỉ huy tấn công chiếm được thành Tô Lịch. Lý Nam Đế lui quân lên giữ thành Gia Ninh (Việt Trì). Giặc bao vây và phá được thành. Lý Nam Đế phải chạy vào miền Khuất Lão (Phú Thọ). Sau một thời gian được nhân dân miền Khuất Lão ủng hộ, Lý Nam Đế lại phục hồi được lực lượng. Tháng 10/546, Lý Nam Đế kéo quân ra vùng hồ Điển Triệt (đầm Vạc, Vĩnh Yên). Một đêm nước sông lên to, chảy mạnh vào hồ, Trần Bá Tiên thừa cơ tiến đánh bất ngờ. Quân Vạn Xuân không kịp phòng bị nên tan vỡ. Các cánh quân khác cũng không chống được giặc phải rút vào
  • 20. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 120 vùng núi quận Cửu Chân. Cuộc kháng chiến của Lý Nam Đế thất bại. Ông giao binh quyền cho Triệu Quang Phục rồi bị đau ốm mà chết. Triệu Quang Phục vốn là con của một thủ lĩnh vùng Chu Diên, hai cha con là người đầu tiên đem dân binh theo Lý Bí khởi nghĩa. Triệu Quang Phục là một tướng tài được Lý Bí trao binh quyền ủy thác tiếp tục cuộc kháng chiến. Triệu Quang Phục thu thập số binh sĩ còn lại sau trận hồ Điển Triệt lui về lập căn cứ ở vùng đầm lầy Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên). Triệu Quang Phục cho quân đóng rải rác ở các bãi nổi trong đầm lầy được cỏ dại che phủ, ra vào bằng các con đường nhỏ bí mật; ban ngày tắt hết khói lửa, không lộ hình tính, ban đêm đi thuyền ra đánh úp quân Lương. Nhờ cách đánh phù hợp, lực lượng của Triệu Quang Phục dần phục hồi, gây cho địch một số thiệt hại, cuộc kháng chiến được duy trì lâu dài. Năm 548, sau khi nghe tin Lý Nam Đế đã lâm bệnh mà qua đời tại động Khuất Lão, Triệu Quang Phục mới lên ngôi Vương, xưng là Triệu Việt Vương. Việc lên ngôi này chủ yếu là để tạo ra ngọn cờ chính thống cho sự nghiệp tập hợp lực lượng để đánh đuổi quân xâm lăng, dân ta thường gọi là Dạ Trạch Vương. Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục Năm 550, nhân bên nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, quân Lương phải rút đại quân về nước dẹp loạn. Việc Trần Bá Tiên đem quân về Kiến Khang khiến cho tương quan thế lực đôi bên thay đổi theo xu hướng hoàn toàn có lợi cho Triệu Việt Vương. Được thời cơ thuận lợi này, tháng 1 năm Canh Ngọ (550), từ khu căn cứ mới xây dựng ở bãi Tự Nhiên trong đầm Dạ Trạch, Triệu Việt Vương đã bất ngờ tung quân đánh một trận quyết định với kẻ thù. Giặc không cách gì có thể chống đỡ nổi, Dương Sàn thua trận mà chết, quân Lương tan vỡ hốt hoảng tháo chạy về Bắc. Nước ta lại được giải phóng hoàn toàn. Nước Vạn Xuân giữ được độc lập trên nửa thế kỷ nữa. Sóng Bạch Đằng còn vang vang tiếng thét Mồ chôn quân ngoại tặc sử còn ghi Bắc thuộc lần thứ ba: Thời Bắc thuộc lần thứ 3 trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 602 đến năm 905. Năm 602, Tùy Văn Đế sai Lưu Phương đem quân 27 dinh sang đánh nước Vạn Xuân, bức hàng Hậu Lý Nam Đế. Vua đời thứ 3 của Vạn Xuân là Lý Phật Tử quá sợ nên hàng giặc và bị bắt. Việt Nam bị xếp làm một châu của Tùy, gọi là châu Giao (交州). Năm 618, nhà Đường lật đổ nhà Tùy, lập ra nước Đại Đường. Nhà Đường đô hộ Việt Nam gần 300 năm. Trung Quốc đến thời Đường đạt tới cực thịnh, bành trướng ra 4 phía, phía Bắc lập ra An Bắc đô hộ phủ, phía Đông đánh nước Cao Ly lập ra An Đông đô hộ phủ, phía Tây lập ra An Tây đô hộ phủ và phía Nam lập ra An Nam đô hộ phủ, tức là lãnh thổ nước Vạn Xuân. Trong thời kỳ thuộc nhà Đường, đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc của người Việt như khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến, khởi nghĩa Mai Hắc Đế, khởi nghĩa Phùng Hưng và khởi nghĩa Dương Thanh từ cuối thế kỷ 7 đến thế kỷ 9. Từ sau loạn An Sử (756-763), nhà Đường suy yếu và bị mất thực quyền kiểm soát với nhiều địa phương do các phiên trấn cát cứ, không kiểm soát nổi phía Nam. An Nam đô hộ phủ bị các nước láng giềng Nam Chiếu, Chăm Pa, Sailendra vào cướp phá và giết hại người bản địa rất nhiều, riêng Nam Chiếu đã giết và bắt đến 15 vạn người, quân Đường bị đánh bại nhiều lần. Tới năm 866, nhà Đường kiểm soát trở lại và đổi tên gọi là Tĩnh Hải. Các triều đại này cố gắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán, mặc dù người Việt chịu nhiều ảnh hưởng về tổ chức thể chế chính trị, xã hội, văn hóa của Tàu, nhưng người Việt Nam vẫn
  • 21. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 121 giữ được nhiều bản chất nền tảng văn hóa dân tộc vốn có của mình sau một nghìn năm đô hộ. Người Việt cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại Thừa đang phát triển ở Đông Á. Mặc dù lúc đó Đông Nam Á đã chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo Nguyên thủy. Phật giáo Đại thừa được hòa trộn với Nho giáo, Lão giáo và thêm vào đó là các tín ngưỡng dân gian địa phương. Năm 905 Khúc Thừa Dụ một hào trưởng địa phương đã chiếm giữ thủ phủ Đại La và xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt nhân khi nhà Đường suy yếu, đặt nền móng cho Việt Nam giành độc lập. Năm 939 Ngô Quyền xưng vương sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng trước đoàn quân Nam Hán và nước Việt khởi thời tự chủ từ đây. Bắc thuộc lần thứ tư: Thời Bắc thuộc lần 4 hay thời thuộc Minh trong lịch sử Việt Nam từ năm 1407 khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ và chấm dứt năm 1427 khi Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh ra khỏi bờ cõi, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Thời kỳ thuộc Minh chỉ kéo dài 20 năm. Cuối thế kỷ 14 nhà Trần sa sút, Hồ Quý Ly dần dần kiểm soát cả triều đình, ra nhiều biện pháp thanh trừng những người trung thành với triều Trần. Ông lên ngôi vua năm 1400, đặt tên nước là Đại Ngu, bắt đầu thực hiện nhiều cải tổ trong hệ thống chính trị và xã hội. Tuy nhiên, do thực hiện quá nhiều thay đổi trong thời gian ngắn, lại không được nhiều cựu thần nhà Trần cũng như dân chúng ủng hộ, lại thêm tình hình kinh tế và xã hội toàn quốc suy yếu vì nhiều nguyên nhân, nên đất nước rơi vào khủng hoảng. Nhân cơ hội đó, năm 1406 nhà Minh ở Trung Quốc dùng chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” để mang quân sang xâm lược nước Đại Ngu. Nhà Hồ nhanh chóng thất bại hoàn toàn vào giữa năm 1407. Nước Đại Ngu bị tiêu diệt và bị sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ trở lại sau 500 năm độc lập tự chủ. Ngay khi nhà Hồ thất bại, đã có rất nhiều phong trào chống Minh bắt đầu nổi lên. Trong các phong trào chống Minh, lớn nhất là sự nổi dậy của nhà Hậu Trần và khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi. Dù ban đầu lấy chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ” nhưng sau đó nhà Minh lại sai lùng bắt con cháu nhà Trần. Sự nổi dậy của nhà Hậu Trần bắt dầu từ cuối năm 1407 với sự kiện Trần Giản Định Đế lên ngôi. Lực lượng này đã làm chủ từ Thuận Hóa trở ra, tiến ra Bắc và đánh bại quân Minh một trận lớn ở Bô Cô cuối năm 1408. Nhưng sau đó hiềm khích trong nội bộ khiến lực lượng bị suy yếu nghiêm trọng. Cuối cùng đến năm 1413, vua Trùng Quang Đế và các tướng lĩnh bị bắt. Nhà Hậu Trần chấm dứt. Lê Lai liều mình cứu Chúa Sau khi dẹp được nhà Hậu Trần, quân Minh quay sang dẹp các cuộc khởi nghĩa nhỏ khác. Lúc này nhà Minh cho rằng sự bình định ở Giao Chỉ cơ bản đã hoàn thành, nên điều Trương Phụ cùng một phần lớn đạo quân viễn chinh về nước. Việc đánh dẹp và chiếm giữ được giao lại cho các đạo quân phần nhiều gồm binh lính mộ bản xứ và có các chỉ huy là người Việt. Đây có lẽ là lý do sự chiếm đóng của nhà Minh nhanh chóng sụp đổ khi các binh lính người Việt này nổi dậy hoặc hưởng ứng các cuộc nổi dậy sau này. Năm 1418, Lê Lợi dấy binh, bắt đầu khởi nghĩa ở Lam Sơn. Thời gian đầu, quân Lam Sơn gặp nhiều khó khăn ở vùng núi Thanh Hóa. Từ năm 1424, quân Lam Sơn thay đổi chiến thuật: tiến vào Nghệ An, giải phóng toàn bộ vùng đất phía Nam. Sau đó Lê Lợi tiến ra Bắc, đánh bại các đạo quân sở tại và 4 đạo quân viện binh lần lượt sang từ năm 1426 đến 1427. Cuối cùng, tướng nhà Minh là Vương Thông phải xin giảng hòa, rút quân về nước. Người Việt giành lại quyền độc lập tự chủ sau 20 năm. Lê Lợi lên ngôi vua, lập ra nhà Hậu Lê, và kể từ đây nước Việt ta hoàn toàn tự chủ cho đến năm 1975 khi bọn tay sai Tàu khựa xâm lăng miền Nam Việt Nam và hiện đặt nước Việt Nam thêm một lần đô hộ thứ năm hết sức nguy hiểm cho dân tộc ta. Bắc thuộc lần thứ 5 Kể từ khi CSBV chiếm miền Nam Việt Nam ngày 30/4/1975, chúng ta ngày càng thấy lộ rõ tính nô lệ Trung cộng (TC) của những kẻ lãnh đạo đất nước. Cuộc chiến “có tiếng súng” nổ ra ở biên giới Việt-Trung ngày 17 tháng 2 năm 1979 chỉ là sự khởi đầu cho tiến trình Bắc thuộc lần thứ
  • 22. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 122 năm của VC. Cuộc chiến không phải chấm dứt 10 ngày sau đó, mà vẫn tiếp tục dẳn dai dọc theo biên giới mãi cho đến năm 1988 qua sự quy phục hoàn toàn của CS Bắc Việt khi TC tiến chiếm quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hội nghị Thành đô 1990, bán nước cho giặc Và cuộc chiến không tiếng súng bắt đầu. Hiệp ước biên giới được hai bên ký kết (theo lịnh của TC) như sau: - Cột mốc biên giới số 1116 đã được chính thức cấm vào phía Nam Ải Nam Quan và cách ải 280m. - Thác Bản Giốc trở thành một trung tâm du lịch do TC quản lý. - Quan trọng hơn cả là sự hiện diện của người thiểu số Tày dọc theo chiều dài biên giới Việt- Trung tới tận tỉnh Quảng Đông. Người Tày có khuynh hướng thân TC và đã được TC khuyến dụ như là một đạo quân thứ năm của TC một khi có chiến tranh xảy ra. Thật ra, những sự kiện vừa nêu trên có thể nói là kết quả của những mật đàm từ trước, Hội nghị Thành Đô năm ngày 3 và 4 tháng 9 năm1990. Trong quá trình lịch sử, chúng ta thấy rất rõ tham vọng xâm lấn Việt Nam của người Hán đã xảy ra hàng ngàn năm trước và VN đã chịu bốn lần ách đô hộ. Và hôm nay, dưới cuộc chiến không tiếng súng, lại thêm một lần nữa, cuộc đô hộ mới đang xảy ra, thể hiện quyết định của Hội nghị Thành Đô trên và sự hèn hạ với giặc của tập đoàn VC. Tại hội nghị nầy, Việt Nam có Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Đảng CS Việt Nam thời bấy giờ, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Phạm Văn Đồng, cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên Trung Cộng có Tổng Bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng. Hai bên ký kết Kỷ yếu hội nghị đồng thuận bình thường hóa quan hệ hai nước. Cuộc gặp mặt bí mật này không được công bố trong nước cho tới khi “bị” bật mí vào những ngày đầu năm 2013.. Ngày 5/11/1991, Đỗ Mười, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Võ Văn Kiệt, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến Trung Cộng. Ngày 7/11/1991, ký hiệp định mậu dịch Trung – Việt và hiệp định tạm thời về việc xử lý công việc biên giới hai nước đã được ký tại Nhà khách quốc gia Điếu Ngư Đài, Bắc Kinh. Tiếp theo sau, dưới thời Tổng Bí thư cs Lê Khả Phiêu, Việt Nam ký hai Hiệp định biên giới trên bộ và phân chia vịnh Bắc Bộ với Trung Cộng. Theo báo chí “lề phải” của VC, Việt Nam có quan hệ mật thiết “môi hở răng lạnh” với Trung Cộng. Hai nước đều do hai Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cuối cùng, công cuộc thực hiện Bắc thuộc hoàn toàn bằng cách biến Việt Nam thành Nam Việt, một tỉnh theo quy chế tự trị phía Nam thuộc Trung Cộng… và ngôi sao thứ năm trên lá cờ TC đã xuất hiện trong các cuộc giao tiếp hòa đàm giữa TC và VN từ năm 2011… để chờ ngày chính thức công bố tự trị vào năm 2020? (Lá cờ TC với 5 ngôi sao xuất hiện lần đầu tiên trên truyền hình Việt Nam vào ngày 11/10/2011 nhân chuyến viếng thăm TC của Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư cs VN để xác định “16 chữ vàng” một lần nữa là: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”). Bằng chứng bán nước của VC Chính quan hệ mật thiết môi hở răng lạnh của hai đảng cộng sản cộng thêm sự hèn hạ của CS Bắc Việt khiến cho tiến trình Bắc thuộc ngày càng hiện rõ thêm qua nhiều chỉ dấu từ đó đến nay. Tài liệu tham khảo: - Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim. - Nhìn lại sử Việt từ tiền sử đến tự chủ. - Lịch sử lập quốc của VN của nhiều tác giả trên Internet. - Cố đô Ngàn Hống mở đầu thời đại dựng nước của Phan Duy Kha. - Hình ảnh internet. Vĩnh Thuận
  • 23. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 123 Bài viết để kính dâng đến hương hồn Cậu Má. Riêng tặng Chích Chi để kỷ niệm đúng 40 năm vợ chồng. Huỳnh Tâm Hoài Sau năm 1978… khi từ trại tù cải tạo về. Tôi như bước vào một nhà tù lớn hơn. Với sức ép của xã hội mới sau ngày “Giải Phóng”, đời sống của người tù cải tạo bị cày đặt tôi vào khung mới. Ông Phường trưởng là chổ thân quen bạn bè với ba tôi. Ông khuyên tôi nên đăng ký về quê lo sản xuất. Ông nói với tôi; “cháu nên xin về quê ba má cháu đi… trong chánh sách, với diện của cháu là phải tự nguyện xin trước sẽ được chấp thuận theo ý nguyện, còn không thì đến lúc cưởng bách thì khó mà muốn đi đến nơi mình muốn”. Nghe lời giải thích của chú phường trưởng tôi ký vào giấy xin về quê ba má để lo sản xuất. Thật sự khi về quê ba má thì tôi chẳng biết phài làm gì vì ba má tôi là tiểu thương, việc buôn bán bị hạn chế và đóng cửa luôn sau đợt đổi tiền. Thương nghiệp lo phân phối hàng hóa cho dân chúng. Ba má tôi xoay sở mua 6 công đất gần chợ để anh em chúng tôi cày cấy kiếm lúa gạo để ăn. Gia đình đông người với 6 công ruộng làm một vụ mùa thì làm sao đủ ăn và sau vụ mùa thì làm gì…? Gia đình chúng tôi vất vã để kiếm miếng ăn cho đủ căn hộ gồm vợ chồng con cháu hơn 15 người. Sẳn còn một số vốn ba má tôi mua một chiếc xe cũ và vô hợp tác xã giao thông huyện để anh em chúng tôi chạy vạy lo cho miếng ăn gia đình. Nhờ vậy mà sau đợt đỗi tiền mỗi hộ chỉ được $200 cho dù trước đó có bao nhiêu, đã tạm sống với số tiền thu được qua các chuyến chuyên chở hành khách lên xuống từ huyện đến tỉnh. Ba tôi thường than vắn than dài vì cơ ngơi làm ăn gần suốt cuộc đời không còn nửa. Ba cầm cái sổ ký thác ngân hàng Việt Nam Thương Tín có hơn mấy triệu đồng không còn giá trị mà chặc lưởi. Nước mắt ba tôi ứa ra khoé mắt. Má thì luôn an ủi ba và nói với ba: “Ông ơi! Ai cũng vậy mà…chuyện thời cuộc thì phải chịu vậy thôi. Có người còn nhiều hơn nhà mình nửa…!” Khi người TÙ trở về Thời gian trôi qua với những chuyến xe đi khuya về trể, ăn ngủ vất vả và bon chen giành giựt nơi bến xe, tôi bị ngộp thở và đâm buồn chán với đời sống làm phụ xế. Sau khi bàn tính với ba má tôi và gia đình bên vợ. Vợ chồng tôi và hai đứa con được anh vợ tôi đem ghe chở chúng tôi với một mớ đồ đạt cần thiết, thêm vài chục giạ lúa về vàm kinh Bổn Xồ. Thời điễm nầy lúa gạo ở đâu là cho dân ở đó không được di chuyển qua lại hoặc mua bán. Chợ Lách lúc nầy xác nhập vào tỉnh Bến Tre. Tỉnh Bến tre đa số là vườn dừa, huyện Chợ Lách cũng là miệt vườn ít ruộng nên giá lúa ở đây rất cao so với các chổ khác. Anh vợ tôi đề nghị nên xin chuyển một số lúa về Lách để ăn. Vì chuyển hộ nên chúng tôi được cấp chuyển theo quy định một số lúa gạo từ quê tôi sang quê vợ. Tôi bắt đầu sống với miệt vườn từ đây. Căn nhà lá nhỏ được cất bên hong nhà của ông bà nhạc tôi là chổ ở của vợ chồng tôi không lâu lắm nhưng có nhiều kỷ niệm. Tôi bắt đầu tôi thắm thía với cái đêm im thanh vắng của miệt vườn, nghe the thé của tiếng dế và các tiếng côn trùng khác….nghe thoang thoảng mùi hoa cam hoa bưởi…qua kẻ hở vách, nghe những giọt mưa rơi lộp độp trên tàu lá chuối bên hong nhà, nghe tiếng chó sủa người văng vẳng đâu đây. Mỗi buổi sáng không quá vội vả thức dậy mà còn nằm ngâm nghe chim hót ngoài vườn, nghe mọi hương thơm tràn vào thính giác. Tôi có dịp ngâm mình trong giòng kinh mát rượi ngọt ngào. Đời sống êm ả nhưng hơi buồn với người quen sống ở chợ. “Sông Cổ-Chiên bến bờ xanh mướt quá Mặt gương soi đâu mất bụi phong trần” Với người chỉ sống ở chợ như tôi không biết cầm cây cuốc, cây xẻng, cắt cây, mé nhánh…Tôi bắt đầu học làm việc vườn khi theo các anh chị bên vợ đi vét mương, bồi đất, bón phân, cào cỏ, tỉa nhánh khi qua vụ mùa hái trái. Tới vụ mùa trái cây thì hái trái cây quanh khu vườn nhà hoặc qua cồn Phú Đa hái những trái chôm chôm chín đỏ. Chúng tôi ngồi lựa trái cho vào các cần xé to để chờ nhà lái tới thu mua.Tôi biết thế nào là con kiến đất cắn đau nhói khi đi tìm núm mối. Tôi thưởng thức những trái chín trên cây
  • 24. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 124 với hương thơm ngọt lịm. Miệt vườn với bóng che cây trái, với nước ngọt quanh năm làm đời sống của tôi thư thái hơn. Tuy nhiên với người quen sống ở chợ, mỗi sáng với ly cà phê bốc khói với điếu thuốc phì phà thì ở đây hơi khó. Tôi và anh vợ tôi phải đi bộ ra khu chợ ở vàm kinh Bổn Xồ để uống cà phê “cơm cháy” bởi vì cà phê miệt vườn nó túng thiếu chất lượng nên mùi vị chẳng thơm ngon. Nhưng ở đâu thì phải chịu đó… quen dần cà phê “cơm cháy” cũng tạm được. Chúng tôi chọn một quán cà phê uống khá hơn, đó là quán của anh Hai người tàu lớn tuổi độc thân. Tuy nhiên quán lại ở chổ hơi khuất lấp cây vườn. Chúng tôi đành ngồi quán cà phê “cơm cháy” nhưng có khoảng nhìn thoáng mát hơn. Thật ra hậu vị Cà phê là cần, nhưng khung cảnh cũng cần thiết nửa. Quán Càphê “cơm cháy” nhìn ra phía vàm, tầm nhìn được tỏa rộng ra họng vàm với cảnh trời nước nhấp nhô ngoài xa. Ngồi nhâm nhi cà phê, tôi có dịp thả mắt nhìn ra xa xa ngoài vàm kinh với ánh nắng bình minh rực rở lấp lánh màu hoàng nhạt, nghe cơn gió từ hướng vàm thổi vào mát rười rượi, hương thơm các lọài hoa miệt vườn trùm lắng một vùng sương sớm, nhìn những nhánh cây oằn trái với con chim chìa vôi chuyển cành, hót thanh thanh… đã làm tâm hồn tôi có những buổi sáng thư thái êm đềm. Nhà cửa Miệt Vườn Vào thời kỳ “Tự sản, Tự tiêu” các nông sản thực phẫm khộng được tùy tiện xuất tỉnh. Cái khung bó nầy đã làm cho tỉnh Bến Tre nói chung, Chợ Lách nói riêng thiếu lúa gạo. Con nước ngoài sông Cổ Chiên đổ về với lượng nước lớn dâng cao hơn mọi năm. Có nơi bị vở bờ bao cây trái bị thất mùa. Đời sống dân vườn bị chật vật lại khó khăn thêm. Năm đó lại có thêm nạn rầy nâu. Rầy sinh sôi đầy đồng. Thuốc trừ sâu lại không đủ cung cấp. Đất canh tác thì ít lại bị nạn sâu rầy. Đời sống mọi người ở đây đi vào cơn khủng hoảng lương thực. Các gia đình bắt đầu ăn độn cơm khoai hoặc bo bo. Gia đình chúng tôi chưa đến lúc phải thiếu gạo nhưng phải chuẩn bị cho một ngày sẽ đến. Chúng tôi cũng bắt đầu tập ăn độn cơm với chuối hoặc khoai lang. Má vợ tôi rất thương chàng rể chợ như tôi, bà sợ vợ chồng con cái tôi thiếu gạo ăn nên bà len lén mở nấp hủ gạo của gia đình tôi để xem chừng. Tôi biết được điều nầy vì hủ gạo vơi đi một ít là lại thấy vun đầy lên. Má nói với anh chị vợ tôi: “Tao có ba thằng rể nhưng sao tao thương thằng L quá bây…Tôi nghiệp nó dân chợ sung sướng từ nhỏ bây giờ về đây sống kham khổ quá… Ba vợ tôi thì cũng sợ tôi buồn, nên mỗi tối bước qua nhà tôi nằm chổ chiếc giường bên ngoài nói chuyện với tôi. Ông kể đủ thứ chuyện… từ cuộc sống cá nhân gia đình lúc còn nghèo phải đi chăn vịt chạy đồng. Qua năm tháng vất vã mới dành dụm được tiền mua mảnh đất cất nhà nầy với phần đất vườn quanh nhà với vài liếp vườn phía sau cộng thêm gần chục công ruộng. Sau nầy cậu khá giả hơn, mua thêm mấy chục công vườn ở Phú Đa. Nhờ các anh chị lớn cùng phụ lo gánh vác vườn tược, cậu lại mua thêm mấy chục công đất ruộng ở dãi cồn nằm sát sông lớn Cổ Chiên, cách khu nhà Cậu một con rạch chảy về hướng xã Vĩnh Bình. Sau khi anh Ba lập gia đình, Câu cho anh miếng ruộng nầy cùng miếng đất gần nhà để anh chị ba ra sống riêng. Qua các câu chuyện tôi biết được ba vợ tôi rất cần cù và châm lo cho gia đình. Vì quá kham khổ hồi tuổi trẻ nên Cậu bị bịnh lao phổi. Tôi thường nghe Cậu ho húng hắng trong khi nói chuyện đời với tôi mỗi đêm. Cậu bịnh phổi mà điều trị không tới nơi tới chốn vì sợ tốn tiền nhiều nên phổi Cậu bị như gần chai một bên. Cậu thường than vãng: Tiền vợ con làm bao nhiêu cậu xài hết… ngầm ý là tiền thuốc thang điều trị bệnh cho cậu. Trong hoàn cảnh khó khăn kinh tế như hiện giờ Cậu sợ tôi chán nản, có hôm cậu nói: “Trước đây đời sống miệt vườn thoải mái lắm. Nhà Cậu ngoài đất vườn còn có đất ruộng. Ruộng làm một mùa ăn đủ quanh năm. Trái cây quanh nhà đủ cho thức ăn hằng ngày, còn vụ mùa chôm chôm thì dư thùa để mua phân và sấm sửa… Tình trạng nầy chắc tạm thôi con… rồi sẽ qua đi…”. Nghe cậu nói thì tôi cũng biết vì từ ngày cưới vợ đến nay, vợ chồng tôi cũng nhiều lần đem con về ăn Tết hoặc giổ quảy. Thưở ấy… Khi cơn gió chướng thổi... đem cái lành lạnh, hiu hiu về miệt vườn. Sáng sớm sương phủ trùm một vùng trời cây trái với những giọt óng ánh trên tàu lá dừa. Cây cóc gần đó như
  • 25. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 125 trụi lá còn trơ những trái cóc xanh bóng. Cây mận hồng đào xà nhánh với chùm trái đỏ ao. Cây cam, cây quit, cây xoài, chôm chôm cũng oằn trái trên từng nhánh. Dòng sông trong veo gờn gợn cơn sóng nhỏ, dề lục bình tấp lại bên dòng nơi đám chà ven sông cũng bắt đầu nở hoa tim tím. Khung vuờn bây giờ tất cả mọi thứ cây đã đơm hoa kết trái vào mùa. Cây mai già trước sân nhà mà Cậu nảy lá mấy hôm trước đã đơm đầy nụ vàng… Mấy dàn vĩ bánh phòng bánh tráng đặt trên các giàn giá trỏ mình khô chờ các chị vợ tôi xấp vào giá treo trong nhà… Tất cả sẳn sàng cho ngày Tết… ngày Xuân vui chơi hạnh phúc. Dân miệt vườn sống thoải mái: Ăn nhậu, đờn ca hát xướng trong các ngày Tết, các vụ lể lộc, gả cưới rất ròn rả. Mỗi lần về đây là tôi say nhừ với những ly rượu đế sủi bọt, có khi phải giả say để các chú, các anh hoặc các cháu khỏi nài ép. Xung quanh là cây nhà lá vườn, ao cá, mương cá. Khoảng sân- liếp vườn… gà vịt đầy đàn chạy dọc chạy ngang sợ gì mà thiếu mồi. Các chị vợ tôi rất tài giỏi, gà mới kêu oan quắc đó thì có món xào, món luột từ đồ lòng gà vịt cộng với dỉa rau thơm, một xị đế, mấy chung nhỏ… Tôi thích nhất là món gà làm gỏi với cây chuối hột con… Tất cả…! Nâng ly-Uống cái ực cạn ly… Gấp mồi… Khà khà mấy cái…Đã quá chừng…! Đêm đến thì bên chiếu các ông bài cào, xì dách, bên chiếu các bà đánh tứ sắc. Ngoài bàn thì các người ăn nhậu chưa chịu thôi còn nâng ly, có vị nào đó ngà ngà say lớn tiếng cười reo. Đêm qua nhanh… Đêm cạn tình cạn nghĩa bà con lối xóm. Đêm miệt vườn với cơn ngủ ngầy ngật hơi men. Miệt Vườn Miệt vườn không vội vả như miệt chợ bon chen. Miệt vườn gần nhau thân tình chia xớt. Miệt vườn mời giổ đám thì mọi người xách theo một hoặc hai chai đế. Miệt vườn uống rượu xã láng tình thâm. Miệt vườn với ánh đuốc lá dừa quật quờ đi trên đường đất, leo qua cầu cây, đôi khi vì chếch choáng hơi men đã rớt ùm xuống xẻo rạch lò mò bò lên, có khi xỉn quá leo lên bờ không nổi cứ nằm loi ngoi dưới nước chờ bà con nhà gần đó kéo lên. Miệt vườn ngoài vàm kinh những chiếc thuyền câu lúc lắc với chiếc đèn chông mờ mờ đớm nhỏ…Miệt vườn đêm ngủ chập chờn nghe máy đuôi tôm chạy phành phạch ngang nhà. Miệt vườn nghe bình bịt những trái xoài chín bị dơi ăn rớt trước sân. Tôi có một thời gian sống thuở ấy như vậy ở vùng quê miệt vườn Chợ Lách. Miệt vườn bây giờ đang lấn cấn vì miếng ăn bởi hoàn cảnh mới đầy khắc nghiệt. Với hoàn cảnh khó khăn đó, vợ tôi mới sinh thêm đứa con gái được vài tháng lại phải ra ngoài chợ chồm hỗm ở vàm kinh để bán bánh mì thịt. Từ thời con gái cho tới đì làm công chức ở bệnh viện rồi lấy tôi, vợ tôi chưa bao giờ vất vả với miếng ăn như hôm nay. Vợ tôi phải thức sớm lo xếp đặt công việc, cho con bú no để ra chợ và trở về lúc khoảng gần trưa với một mớ thịt cá nhỏ nhoi cho buổi ăn trong ngày. Chợ ở đây nhóm chỉ lưa thưa và tan rất sớm. Tôi ở nhà nằm võng ru giử đứa con nhỏ: Gió mùa thu ba ru con ngủ Má chưa về con bú ngón tay Dỗ con ba hát thật dài Câu thơ dạ cỗ thật mùi hoài lang * “Từ … là từ … phu tướng - Bảo kiếm sắc phong lên đàng - Vào ra luống trông tin chàng - Năm (ơ) canh mơ màng - Em luống trông tin chàng - Vì đâu yến nhạn lìa đôi… í…a…í…a.” Thời gian sau đó, tôi và anh vợ tôi cũng bắt đầu đi buôn với những chuyến ghe lên Vỉnh Long bán trái cây đổi gạo về, có lúc xa hơn nửa… chở trái cây lên Sài Gòn. Tôi bắt đầu với đời sống thương hồ. Những đêm nằm dưới ghe nghe sóng vỗ mạn thuyền lách tách, nghe sương giá trùm người, nghe tiếng máy đuôi tôm xoành xạch đẩy con thuyền đi trên dòng sông bao la nước cuộn chảy. “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ”. Tôi ngồi trước mủi ghe nhìn Sài Gòn từ phía ngoài sông đỗ vào bến Chương Dương. Cuộc đời có những điều không ước muốn mà đến. Sự chìm nổi cuộc đời chẵng hẹn mà bị cuốn vào… Cuộc đời thương hồ lại gảy khúc vì chánh sách “Tự sản, Tự tiêu” càng thắt chặc. Các chốt trạm kiểm soát ở Tiền Giang là những hung thần, sát thủ với người dân sống bằng nghề trên sông nước. Tôi lại sống với những ngày kế tiếp khó khăn với miệt vườn… cho đến khi rời bước
  • 26. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 126 khỏi quê hương. Miệt vườn từ đó ở trong hồn tôi, ký ức tôi một thuở tạm dung nhiều kỷ niệm buồn vui. Sau nầy vợ chồng tôi có dịp trở lại quê thăm gia đình các anh chị và bà con xóm vàm kinh thì đời sống ở đây bây giờ tốt hơn. Các cây cầu bắt qua các mương đã được nối liền. Con đường từ bờ dừa Xã Vĩnh Bình chạy vô tới vàm kinh được đúc bằng xi măng, xe honđa có thể chạy suốt từ ngoài vào bên trong và trãi rộng khắp các nơi. Nhà cửa mới xây thêm nhiều. Khu chợ vàm kinh không còn nửa vì người dân có thề chạy rất nhanh bằng xe Honđa ra Chợ Lách để mua thực phẫm. Xóm vàm kinh và các vùng phụ cận bây giờ có điện. Đa số các nhà dân đã có TV. Nhìn bà con chòm xóm kha khá hơn dạo tôi còn ở đây. Tôi thầm nghĩ xóm miệt vườn sống lại sau thời kỳ bị cái luật quái ác. “Ngăn sông, Cấm chợ” làm khốn khó. Thời gian qua mau quá. Mới đó mà đã gần bốn mươi năm…! Căn nhà gổ ba gian với mái ngói âm dương của cậu má bây giờ được anh vợ thứ năm của tôi ở xây sửa lại bằng gạch với mái tôn chống nhiệt. Đứng trước sân ngoài tôi nhìn bao quát. Căn nhà lá của vợ chồng tôi ngày xưa không còn nửa và thế vào đó là những cây nhản và những chậu cây kiểng. Tôi hồi nhớ lại một thời qua. Bóng dáng cậu má tôi như còn quanh quất đâu đây… Không…! cậu má đã không còn nửa.! Hai ngôi mộ phía sau nhà nằm im lắng. Hồn tôi mơ tưởng, nước mắt tôi tự trào. Tôi nhớ dáng má đi sang nhà tôi thăm hủ gạo, tôi nhớ tiếng ho húng hắng của cậu, tôi nghe như còn âm vang tiếng cậu tôi nói: Tình trạng nầy sẽ tạm thôi con…rồi sẽ qua. Tình trạng xã hôi cũ một thời gian khó nhọc đi qua. Bây giờ cậu má không còn nửa.! Nước mắt chảy bao nhiêu cho đủ nỗi nhớ nhung nầy. Bến Tre ngày trở lại Cuộc đời vợ chồng tôi đã đi qua một con đường dài nhiều gian khó… Bước đầu nơi xứ người với hai bàn tay trắng. Chúng tôi phải chấp nhận đi làm mọi việc để lo cho con cái ăn học và ổn định cơ ngơi gia đình. Rồi mọi chuyện cũng đi qua. Bây giờ thì đời sống vợ chồng bình lặng cùng đám con cháu học hành thành đạt nơi xứ người. Dù sống an cư nơi xứ lạ nhưng tâm hồn tôi vẫn luôn hoài nhớ quê hương và những thăng trầm đi qua cuộc đời: Biến dịch cuộc đời thoáng chốc qua Tựu, tán đẩy đưa cõi ta bà Vô thường một cõi đời dong rủi Mấy nẻo phù vân một kiếp ta * Bản “Dạ Cỗ Hoài Lang” bài vọng cỗ đầu tiên do ông Cao Văn Lầu người Bạc Liêu sáng tác. Huỳnh Tâm Hoài Khi thanh bình Tôi đi trên đường phố Thấy ngổn ngang những hổn loạn đó đây Những người dân héo hắt giửa vòng vây Bọn nón cối bủa đầy trên đường phố Khi thanh bình Bao người đang lố nhố Ngoài cửa sông…bờ biển bỏ quê hương Khi thanh bình Nhiều cửa ngục mở toang Nhốt Tự Do-Dân Chủ …không còn...! Cả nước bị xích xiềng quản thúc Khi thanh bình Người lính buồn …nuốt nhục Vào lao nô “Cải Tạo” đến mút mùa Khi thanh bình Người vợ hiền yếu đuối Gánh đàn con bương chảy kiếm cơm lua Khi thanh bình Mẹ già…già thêm tuổi Che bàn tay nheo nhúm khóc đàn con Khi thanh bình Người khóc ở đầu non Bao năm tháng đã tàn phai nguồn cội Người xa người nghi kỵ hoang mang Khi thanh bình Ai chờ ai trên hoang phế Ngày phục quang cho một nước Việt Nam? Huỳnh Tâm Hoài
  • 27. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 127 HAI CHA CON VÀ CON LỪA Steven Rem Kien Có một người nông dân già và đứa con trai. Ông có một con Lừa. Khi thấy con Lừa nầy lớn và mập béo, người Cha nói với đứa con trai của mình: " Con Lừa nầy bây giờ nó mập béo tốt quá, mình đem nó đi hội chợ bán sẽ được giá cao, nhưng, nếu mình dắt nó đi trên đoạn đường xa từ đây đến chợ tận bờ sông kia, thì e rằng nó sẽ mệt và ốm đi rồi bán sẽ mất giá!, Ba nghĩ là mình nên buộc bốn chân nó lại và lấy cây đòn dài luồn vào giửa rồi mình khiêng nó đi, như vậy con vật khỏi phải đi bộ xa, nó khoẽ, không mất sức và bán sẽ được giá hơn !, thế là, hai cha con " làm theo ý kiến của chính mình "! Dọc đường đi, trước cảnh ngộ nghỉnh như vậy, một nhóm người đi đường hô to và cười lên: " Ô kìa! con vật gì đây ?, con lừa, con ngựa, hay con heo ?- tại sao các người khờ quá vậy ? con lừa là để cưỡi, tại sao không cưỡi mà lại khiêng ?- hai cha con, sau khi suy nghĩ một chút, thấy họ nói có lý, thế là, hai cha con hục hặc tháo giây thừng bỏ và cả hai định leo lên lưng con Lừa, nhưng, vì con vật còn nhỏ và yếu, nên người cha nhường cho thằng con cưỡi, và ông cầm giỏ đồ và giây cương đi theo sau!, hai cha con " làm theo ý kiến của người ngoài "! Tới một chổ nọ, gặp một nhóm người, thấy cảnh như vậy, họ liền la ới ới: " Nầy đứa kia ! Chú mầy cưỡi con lừa nầy đi đâu vậy ? - tôi mang con lừa nầy ra hội chợ bán - " Còn Ông già xách giỏ và cầm giây cương cuốc bộ đàng sau là ai vậy? - đó là Cha của tôi - chú trai ấy trả lời - liền sau đó, thằng con trai kia bị đám đông chửi rủa thậm tệ: thằng con bất hiếu, Cha già lụm cụm mà phải đi bộ, còn mầy trai tráng khoẽ mạnh mà cưỡi trên lưng lừa quá sướng !, đối xử với Cha tệ như vậy đó, hã ? hãy xuống mau để cho Cha già lên cưỡi ! "... Thế là, thằng con trai tuột xuống nhường chổ cho Cha !... Một lần nữa, hai cha con " làm theo ý kiến của người ngoài " ! Đi một đoạn đường nữa tới một giếng nước. Xung quanh giếng có một số cô gái đi mút nước về nhà dùng. Khi thấy Ông già đang cưỡi trên con lừa, thì các cô hét lên: " Trời đất ! Anh Chàng đi phía trước nầy đẹp trai xứng đáng ngồi trên con lừa nầy mới phải chứ, cớ sao để cho Ông già nầy cưỡi, trông giống con khỉ già ngồi trên con lừa trẻ, thôi, xuống đi ông ơi, để Chàng bảnh trai nầy lên thay thế "!... Sau khi nghe những lời chọc quê nầy của các cô gái, thằng con trai ngó mặt Cha rồi nói: " làm sao bây giờ hở Ba ?, mấy cô nói là con phải lên ngồi trên con lừa mới xứng, còn Ba thì trông giống con khỉ già ?, mình tính sao đây, Ba ?..." Người Cha thở dài mệt mõi rồi nói: - Trước tiên, Con cưỡi con lừa, Ba đi bộ, thiên hạ trách con là đứa bất hiếu, một cái sai lầm! Kế đến, Ba lên cưỡi lừa, con đi bộ, họ nói Ba trông giống như con khỉ già ăn ớt ngồi trên lưng lừa, một cái sai lầm nữa !, - Bây giờ Ba tính như vầy: Cả hai cha con mình đều cưỡi trên con lừa, con ngồi trước, Ba ngồi sau, xem họ nói gì nữa? thế rồi, hai cha con leo lên lưng con lừa mà đi tiếp về hướng hội chợ.
  • 28. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 128 Dĩ nhiên, trước khi tới hội chợ thì gặp "trạm kiễm soát" trước. Khi thấy hai cha con nông dân cưỡi trên con lừa non đang đi tới, nhân viên kiễm soát mới hỏi: " hai người cưỡi con lừa nầy đi đâu vậy ?" - "chúng tôi đem con lừa nầy ra hội chợ bán",- Ông già trả lời - Nhân viên kiễm soát nói tiếp: "con lừa nầy còn non, mà hai người lên cưỡi nó, thế nào nó cũng bị gẩy xương sống, làm sao bán được ?"- thế rồi, hai cha con tuột xuống và hai người cùng "khiêng" con lừa đi qua một cánh đồng cỏ cao rậm rạp. Chợt gặp người chủ điền của cánh đồng nầy nói: "Kìa, hai người nầy, làm sao mà " khiêng " con lừa đi đâu vậy?" - người cha trả lời: " Thưa, chúng tôi đem con lừa nầy ra chợ bán !". Bác điền chủ nói tiếp: "À, hai người có "điên" không ? lừa thì để cưỡi, ai mà "khiêng" ?, Vã lại, đồng hoang cỏ rậm rạp nầy toàn là cây có gai nhọn, sẽ cắt chân các người chảy máu xối xã mà coi !...tại sao không cưỡi lên lưng lừa mà đi cho an toàn ?...Ôi, dại ơi là dại " ba " con lừa nầy !!!... Rồi, hai cha con ngoan ngoãn làm theo lời khuyên của ông điền chủ kia mà leo lên con Lừa đi đủng đỉnh hướng về khu hội chợ !... * * * Ở đời, làm sao chúng ta có thể làm vừa lòng mọi người ?, ở rộng người cười, ở hẹp người chê, chín người mười ý ! Ông Bà thường nhắc nhở chúng ta câu nầy: " Nghe lời người khác thì u minh, Nghe lời chính mình thì năm ăn, năm thua " Đây là một tiểu truyện trong bộ truyện ngụ ngôn của người xưa, người viết xin kể lại đây để gọi là: " Lời quê chắp nhặt dong dài Mua vui cũng được một vài trống canh "!* Steven Rem Kien Florida, USA, Sept 6th, 2013 Tham khảo/Chú thích: - From the " Gatiloke " - Gatiloke = Ngụ Ngôn ( Fable ) - From a translation by The Venerable Kong Chhean. - * Kiều- Nguyễn Du. Muộn- Phiền tặng khánh Tháng ngày buồn lắm anh ơi! Sóng tình em tưỡng một đời ngủ yên Anh về khơi lại ưu phiền Rồi quay lưng với bước chân hững hờ Đễ em ngày tháng bơ vơ Đường đi không đến, bến bờ ở đâu?! Nửa đời hồn giá tinh cầu Nửa đời hồn ngũ đỉnh đời hắt hiu Tưỡng anh là giọt nắng chiều Soi trên đời lá với nhiều yêu thương! Bây giờ ngày tháng muộn phiền Nghe đời choáng váng những đêm không người " Tình anh giết chết đời tôi Sóng tình đã nhũ những lời trối trăn" Trang-Đài 091912013 Trái Tim Hốt-Hoảng " Gởi Trang Đài" Trái tim ai đang làm tôi hốt hoảng Quên những ngày tâm tối đã qua mau Nên tôi đã nhủ . . . Hoa về một cụm Nở cơ hồ không vướng chút thương đau! Tặng cho ai những tờ xanh cũa tuổi Trãi quanh đời cho dâu bể ra xa Cho ngất ngây chìm xuống đời quên lãng Cũa chút tình yêu dấu cũa hồn ta Ôi! Tất cã người xưa không trở lại Cho lòng ta bỗng nhẹ bổng như thơ Nghe thoang thoãng hương bay mùi cỏ dại Đến nghin năm sống lại cũng không vừa Thật rạng rỡ ai cười đôi hàng ngọc Lòng thật thà cảm động quá đi thôi Cứ mãi vụng về người không giử lại Một chút gì lóng lánh tợ sao rơi Hồn ai nhẹ bay qua nghin lá cỏ Nhưng hồn ta trỉu nặng những ưu buồn Với sao được bằng đôi tay quá khứ Nên tôi buồn heo hút giữa trời mây Tôi định tâm viết một bài thơ đẹp Ghi chút tình êm nhẹ ở trong tay Ngỡ mai sau nếu có ngày xa cách Nhớ miên man khi đau đớn no đầy.
  • 29. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 129 Ông Xã Năm phụ trách Bánh Xèo Món ăn dân dã Miền Nam Vốn là một nước nông nghiệp và quanh năm trồng lúa nên về môn ẩm thực Việt Nam có rất nhiều món ăn đậm đà bản sắc dân tộc được làm từ gạo. Các món ăn được chế biến từ loại bột gạo như Phở, Bún... đã trở thành món ăn truyền thống của người Việt. Nhưng vẫn còn một món ăn khác mặc dù không được ăn thường xuyên vì công chế biến cầu kỳ nhưng đây cũng là một món ăn ngon và phổ biến khắp ba miền và nó bao gồm đủ các mùi vị truyền thống nhất của người Việt. Đó là bánh xèo hay gọi là ‘rice pan cake’ trong tiếng Anh. Khi xưa, bánh xèo là món ăn dường như chỉ xuất hiện trong bữa ăn gia đình nông thôn. Người ta sử dụng những nguyên liệu sẵn có trong nhà như: gạo, đậu, dừa, tôm tép, các loại rau tự trồng... để làm bánh. Từ hạt gạo, người Việt làm ra hơn 20 loại món ăn khác nhau. Loại ăn ngay có bánh bèo, bánh bò, bánh canh, bánh đúc, bánh hỏi, bánh khọt, bánh cuốn..., các loại gói lá, có thể để dành ăn trong vài ngày có bánh ít, bánh tét, bánh chưng, bánh ú; hình sợi thì có bánh phở, hủ tiếu, bún... Bánh xèo làm từ gạo tẻ, càng đi vào phương Nam, chu vi bánh càng to ra. Phải chăng nó xuất phát từ vựa lúa Nam Việt? Người miệt đồng bằng này lại tỏ ra khoái khẩu với các thứ bánh cũng làm từ lúa gạo như bánh tét, bánh ú hơn. Chúng được gói trong lá chuối, dễ cất giữ mang theo khi ra đồng cày cấy. Bánh Khoái xứ Huế Người Huế gọi đây là “bánh khoái” và khẳng định nó là sản vật của đất kinh kỳ. Nó đúc từ khuôn nhỏ, lòng bánh đệm nhân thịt, nấm, ăn cùng các loại rau thơm sang trọng. Hình dáng, màu sắc bánh đẹp vì là một sản phẩm dùng “tiến vua”. Khu vực miền Trung Việt Nam, ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, bánh xèo lớn bằng một chiếc đĩa vừa, được ăn kèm với bánh tráng. Nên ai cũng cho là nó được truyền từ các toán nghĩa quân thời Tây Sơn. Mỗi tháng 2 ngày, vào mồng 2 hoặc 16 âm lịch, người dân quê lại ăn bánh xèo thay cơm. Cũng làm từ bột gạo ngâm nước nửa ngày rồi đem xay nhuyễn với nhân là các loại tôm, thịt…mà từng vùng đã chế biến thành các món bánh khác nhau rất ngon với hương vị vô cùng phong phú như bánh Khoái ở Huế, bánh Khọt ở Vũng Tàu, bánh Giá ở miền Tây, vùng Nam Trung Phần, nó biến thái thành chiếc “bánh căn”. Khay bánh đúc một lần nhiều khuôn, ít thoa mỡ. Chiếc bánh dày ra, bột có khi trộn trứng, ngậy mùi hành tỏi và các loại hải sản. Không như chiếc bánh khoái, lượng bột dành để đúc ra một chiếc bánh xèo hay bánh căn tương đối bằng nhau. Bánh Khọt Vũng Tàu Tùy từng thời điểm từng vùng mà nhân bánh xèo cũng khác nhau, như món bánh xèo miền Trung thường nhỏ có nhân tôm, hải sản… còn
  • 30. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 130 bánh xèo miền Nam thường to có nhân rất đa dạng thường thì mùa nào thức nấy, ngày thường các bà nội trợ hay dùng giá hoặc củ sắn thái sợi cùng thịt ba chỉ, tép bạc làm nhân. Đến mùa mưa măng mọc, nấm mối nở rộ trong vườn, bánh xèo được thay nhân mới bằng măng tươi thái sợi, nấm mối xào ngon tuyệt cú mèo, đến mùa nước lên điên điển đơm bông, nhân bánh lại rực một màu vàng. Chiếc bánh ở từng vùng cũng khác nhau về kích cỡ và cách làm nhân: bánh xèo Huế, bánh xèo Phan Thiết thường nhỏ, ăn rất giòn. nhưng bánh xèo tại Miền Nam lại khác hẳn, nhất là ai đã về miền Tây thưởng thức chiếc bánh xèo giòn rụm với đủ loại rau chắc khó thể nào quên. Từ Biên Hòa, Sài Gòn xuống tới miệt Cần Thơ, bánh xèo được đúc bằng chảo gang, hình to ra, lòng đựng đầy tôm, thịt, có khi chứa đủ các loại sơn hào - hải vị. Bánh được ăn kèm với đủ loại rau, có thể thêm cả những lá đọt non của xoài, điều, đinh lăng, … Bánh được xé từng mảnh, lót trong chiếc lá cải bẹ xanh để cuốn thay bánh tráng. Với bánh xèo miền Nam, chỉ cần ăn 1-2 bánh là có thể no một bữa, như là phở hay cơm vậy. Bánh Giá Miền Tây Tại thành phố Sài Gòn, trong những năm thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước, bánh xèo chưa phải là một món ăn khoái khẩu phổ biến. Phải từ giữa những năm 80, sau các đợt di dân vào Nam lập nghiệp ồ ạt, cộng với lượng lao động vào làm việc ngày càng đông tại các khu công nghiệp, bánh xèo đã thành một nhu cầu ẩm thực... Những quầy đúc “bánh xèo miền Trung” mọc lên ngày càng nhiều ở khắp các góc đường. Nó vươn ra chiếm lĩnh các hàng quán, chinh phục dần dần nhu cầu ẩm thực của giới thượng lưu! Bánh xèo nổi tiếng nhất ở Sài Gòn hiện nay, ngoài chi nhánh của bà Mười Xiềm Cần Thơ, còn có hệ thống các tiệm “Ăn là ghiền”... Cùng chất bột gạo ngon có pha tí bột nghệ tươi, quan trọng nhất là nhân bánh và nước chấm. Thông thường, phần nhân ngoài thịt ba chỉ, tôm tép, còn có vài loại nấm mối, nấm rơm, giá đậu... Người miền Tây Nam Việt “sáng tạo”, cho thêm củ hũ dừa, ngó sen... Bánh Căn Phan Rang Ngày nay, bánh xèo Việt Nam được biết đến như một món ăn truyền thống đầy sức hấp dẫn, nó đã theo chân người Việt Tỵ Nạn hiện diện trên khắp thế giới và được mọi người ưa thích.Tùy từng miền, bánh xèo có những đặc điểm riêng, mùi vị riêng và được chế biến mỗi nơi khác nhau một chút. Bánh xèo là một loại bánh, có màu vàng đặc biệt với lớp bột dòn bên ngoài, bên trong thì có nhân như thịt, tôm, giá, đậu… có dạng hình tròn rồi được gấp lại thành hình bán nguyệt. Bánh xèo thường được ăn kèm với nước chấm và rau. Qua nhiều năm tháng, bánh xèo mỗi miền đều có sự khác nhau như ở miền Bắc bánh xèo có củ đậu (củ sắn) và khoai môn. Bánh xèo miền Nam thì ăn kèm với nước mắm chua ngọt còn Huế thì nước chấm là nước lèo với nhân có cả thịt nướng. Rau ăn với bánh xèo cũng rất phong phú gồm cải xà lách, cải bẹ xanh non (cải con), rau dấp cá, tía tô, rau húng... Khi ăn bánh xèo người ta thường dùng rau gói cùng với bánh xèo rồi nhúng vào nước chấm để thưởng thức. Sự hòa trộn của nhiều loại hương vị giúp bánh xèo luôn để lại nhiều dư vị cho người ăn, chính điều đó giúp bánh xèo trở thành một món ăn không thể thiếu vào các bữa tiệc lớn ở các vùng quê. Nguồn Gốc Bánh Xèo: Theo nhiều ý kiến, bánh xèo có nguồn gốc lâu đời ở các vùng quê từ miền Trung Việt Nam rồi theo quá trình di dân, người dân đã mang theo cách chế biến món bánh này vào Nam và tùy theo sự hội nhập vào từng địa phương, Bánh Xèo cũng theo đó mà có biến cải đôi chút. Do đó bánh xèo được gắn với nhiều địa danh khác nhau như bánh xèo Miền Trung, bánh xèo Phan Thiết, bánh xèo Núi Cấm, bánh xèo Miền Tây…Cái tên gọi "bánh xèo" cũng làm người ta nghĩ suy có phải rằng tiếng xèo xèo khi đổ làm nên tên gọi của chiếc bánh?
  • 31. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 131 Chiếc cối xay bột làm bánh xèo, gồm hai khối đá mang hình tượng hai bộ phận sinh dục “âm” và “dương”. Các vật tổ này vốn được thờ phượng trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào Chăm cũng như các dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ vùng Nam Đảo. Lá bánh hình tròn, khi chuẩn bị ăn, người dân miền Trung đều cuộn bánh lại thành từng cuốn hình ống tròn, xếp bên cạnh những đĩa nguyên lá. Biểu tượng âm dương trông rõ mồn một. Như vậy dân tộc đầu tiên sáng tạo ra món bánh xèo có thể là người Chăm. Ngày xưa, giải đất Chăm Pa, Lâm ấp kéo dài đến tận Châu Ô, Châu Rí dưới chân giải Hoành Sơn, bà con đã biết làm thủy lợi, trồng lúa nước rất sớm. Về sau, văn hóa người Việt và đồng bào Chăm càng hòa quyện. Vậy có thể là bánh khoái, bánh xèo đã ra đời đầu tiên từ giải đồng bằng ven biển miền Trung vậy. Bánh xèo Ngày nay trong các nhà hàng sang trọng bánh xèo được sáng tạo nên nhiều loại nhân khác nhau: nấm kim châm, hải sản, phi lê gà...cũng hấp dẫn không kém. Với chiếc bánh xèo đầy màu sắc lẫn mùi vị đó khi ăn lại được cuốn trong các loại rau xanh và chấm với nước mắm chua ngọt, trong có để cà rốt và củ cải trắng ngâm giấm. Rau xanh đủ loại, đủ thành phần từ trong vườn, dưới ruộng và cả ven sông: đọt lụa, lá cách, lá điều, đọt xoài, đọt cóc, đinh lăng, quế nước, sà lách, cải bẹ xanh, các loại rau thơm: tía tô, quế, húng lũi, húng cây... Ðể làm được cái bánh xèo cho khéo là cả một nghệ thuật. Bánh có màu đặc biệt là sắc vàng của nghệ, thêm vị béo, hương thơm của nước cốt dừa, mép ngoài của bánh mỏng và giòn. Cái để lại dấu ấn cho bữa ăn bánh xèo chính là các loại rau lá để ăn với bánh. Từ cái vị chát chát, chua chua của đọt xoài non, bằng lăng, đến cái mùi hăng hăng của cải xanh con, dấp cá, rau thơm ... Người Huế còn thêm chuối chát, khế và trái vả xắt mỏng nhằm bổ sung hương vị chua chua, nhẩn nhẫn trong đĩa rau sống. Phần nước chấm, thông thường ngoài hòa trộn nước trái chanh, ớt, tỏi, nhiều quán còn pha khuấy chút bột đậu phụng, bột mè rang. Nghệ thuật pha chế nước châm gần như là một bí truyền. Hương vị đồng quê tinh khiết gần như đọng lại khá lâu, làm người ăn nhớ mãi. Bánh xèo có ngon hay không là yếu tố bột. Rõ ràng muốn có bánh xèo ngon thì phải có gạo ngon, gạo đặc sản. Đem gạo ngâm trước nửa ngày mới đưa vào xay bằng chiếc cối đá. Ngày nay người ta có thể xay bột bằng máy động cơ, nhưng thực tế cho thấy xay thủ công bằng cối đá lại cho ra loại bột đổ bánh xèo ngon nhất. Tại các đô thị, người ta có thể khuấy tạo ra bột nước từ loại bột khô có bán sẵn. Nhưng loại bột này chỉ cho ra loại bánh nhão, ăn không ngon bằng. Cách làm bánh xèo Nguyên liệu: - Bột bánh xèo: 1 gói 400 g - ½ lít nước lọc - 200 ml bia (bí quyết làm cho bánh dòn lâu) - 50 ml nước cốt dừa. - một thìa café muối, - một thìa café bột nghệ, - Tôm: 150 g - Thịt ba chỉ: 150 g - Nấm hương: 10 cái - Hành lá - Giá đậu: 100 g - Cà rốt: 1 củ - Đậu xanh cà vỏ: 50 g - Dầu ăn, nước mắm, ớt, rau diếp, rau thơm các loại. Cách làm: Thứ 1: Cho gói bột bánh xèo vào thao sạch cùng 1 thìa cà phê bột nghệ, 1 muổng cà phê muối. Đổ 500 ml (nửa lít) nước vào thao cùng hành lá thái nhỏ và 200 ml bia. Thêm 50ml nước cốt dừa. Đánh đều cho bột và các thứ trộn đều, sau đó để yên khoảng 30 phút trước khi đổ bánh.
  • 32. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 132 Thứ 2: Tôm, thịt rửa sạch. Thịt thái mỏng, nấm hương ngâm nở, cắt bỏ chân thái sợi. Thứ 3: Cho 1 ít dầu ăn vào chảo rồi cho thịt vào xào tiếp đến cho tôm vào xào cùng nấm hương. Nêm ½ thìa bột nêm rồi cho tôm thịt ra bát. Thứ 4: Đậu xanh vo sạch, ngâm nước khoảng 30 phút rồi cho vào chõ hấp chín. Giá đậu rửa sạch để ráo, cà rốt gọt vỏ bào sợi. Thứ 5: Tráng đều 2-3 dá bột bánh xèo, vừa tráng vừa cầm tay cầm của chảo lắc đều để hỗn hợp bánh xèo đều khắp chảo. Thứ 6: Xếp lên bề mặt một vài con tôm, thịt, thêm đậu xanh, giá đậu, cà rốt rồi đậy kín nắp chảo. Thứ 7: Đun lửa lớn từ 3-4 phút dùng dá sạn gấp bánh xèo làm đôi, rán đến khi phần vỏ vừa ý thì tắt bếp gắp bánh xèo ra đĩa. Thứ 8: Lần lượt làm như vậy cho đến khi hết bột bánh và phần nhân. Bánh xèo dùng kèm với nước mắm ớt chua ngọt, cà rốt và các loại rau ăn kèm. Chúc bạn thành công với món bánh xèo và thưởng thức một bửa ăn vui vẻ.
  • 33. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 133 Với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm Thư cho một Bác Sĩ trẻ TỪ VĂN THỌ dịch "Thư cho một Bác Sĩ trẻ" là một trong những bài viết ngắn hiếm hoi của chính Bác Sĩ Tom Dooley (Thomas Anthony Dooley III, January 17, 1927- January 18, 1961) qua hình thức một bức thư. Mục đích của người dịch là chỉ muốn giới thiệu đến các bạn trẻ VN, nhất là con em Trà Vinh chúng ta, tư tưởng và những cống hiến nhân đạo cao quí của một Y Sĩ đã suốt đời tận tụy hy sinh cho đồng loại. Và để các bạn trẻ Trà Vinh của chúng ta nhận rỏ cái nhân sinh quan của một nhân vật từng là một biểu tượng chống cộng sản tích cực. Từ Văn Thọ Đôi dòng về Tom Dooley: Thomas Anthony Dooley III ra đời vào Jan. 17, 1927 tại St. Louis, Missouri và lớn lên trong một gia đình Catholic Irish-American. Ông học tại St. Louis University High School và sau đó ghi danh học tại University of Notre Dame trong 1944 và sau đó gia nhập vào Hải quân Hoa Kỳ trong chương trình corpsman, phục vụ bệnh viện Hải quân ở New York. Năm 1946 ông trở lại Notre Dame tiếp tục học, vào năm 1948 về học tại St. Louis University Medical School. Khi ông tốt nghiệp năm 1953, sau khi tiếp tục năm cuối ở trường y khoa, ông xin tái ngũ vào Hải Quân. Ông đã hoàn tất trách nhiệm của mình ở các căn cứ Camp Pendleton, California và sau đó tại Yokosuka, Nhật Bản. Trong 1954 ông được chỉ định lên chiến hạm USS Montague du hành sang Việt Nam để di tản người tỵ nạn CS từ Bắc vào Nam Việt Nam. Trong khi Dooley làm việc nhiệt thành trong những trại tỵ nạn tại Hải Phòng, Tom đã trở thành là cái đích quan tâm của nhiều nhân vật quan trọng Việt-Mỹ và Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc. Tom Dooley đã được lựa chọn như là một biểu tượng của sụ hợp tác Việt-Mỹ và đã được khuyến khích viết về kinh nghiệm của mình trong các trại tỵ nạn. Trong 1956 cuốn sách của ông, Delivery US from Evil, được phát hành, từ đó hình thành Tom Dooley như là một nhân vật chống cộng tích cực ở Hoa Kỳ. Trong một cuộc lưu diển quảng cáo cho các quyển sách, Dooley đã bị cáo buộc và bị điều tra về việc can dự vào các hoạt động "Đồng tính luyến ái", và đã bị buộc phải rời binh chủng Hải quân vào tháng Ba 1956. Câu chuyện bị buộc phải từ bỏ quân đội có thể được tìm thấy trong cuốn Conduct Unbecoming: Gays and Lesbians in the US Military, VietNam to Persian Gulf của Randy Shilts. Passage to Freedom 54 Sau khi rời Hải Quân, Dooley đã đi Lào để thiết lập các trạm y tế và bệnh viện dưới sự tài trợ của Ủy Ban Cứu Nguy quốc tế. Dooley lập Tổ Chức Hợp Tác Quốc Tế Y Tế (MEDICO). Dưới sự bảo trợ của MEDICO, ông xây dựng bệnh viện ở Nam Tha, Mường Sing và Ban Houei Sa, Vương Quốc Ai Lao. Cũng trong giai đoạn thời gian nầy, ông đã viết hai cuốn sách," The Edge of Tomorrow" và "The Night". Người ta đã nhớ và ghi nhận những thành tích về những kinh nghiệm nhân đạo phong phú và bao la của ông tại Lào.
  • 34. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 134 Lể hội ở Lào Trong 1959 Dooley trở về Hoa Kỳ để điều trị chứng bệnh ung thư, ông chết vào tháng January 18, 1961 về chứng bệnh malignant melanoma. Theo sau cái chết của ông, Tổng Thống John F. Kennedy đã trích dẫn mẩu mực của Dooley khi ông cho phát động chiến dịch "the Peace Corps". Ông đã được các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, Lào và Cao Miên và Hải Quân Hoa Kỳ trao nhiều huy chương cao quí về những cống hiến nhân đạo của ông và ông cũng đã được Quốc Hội Hoa Kỳ trao Congressional Gold Medal sau khi ông qua đời. Đã có những nổ lực vinh danh theo sau cái chết của ông để được phong thánh như là một vị thánh Tử Đạo của Giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã. * * * Vương Quốc Lào, Bản Mường Sing Bart thân mến, Đêm đã khuya, tôi đang ngồi viết thư cho bạn trong căn nhà nhỏ ở bản Mường Sing, cao hơn, trên những ngọn đồi thấp, dưới chân dãy núi Phou San, Xiang Khoang (Xiêng Khoang), miền Bắc nước Lào. Những ngọn đèn dầu đang lập loè, réo rít trước tôi và, gió lớn đang thổi xuống thung lung âm u, tạt mạnh vào những cây dừa, cây sứ trắng. Cả mặt đất như in vết rạn nứt đáng thương của vũ trụ và dường như Mường Sing đang trãi qua trận lũ lục trong cơn mưa mùa. Sự cuồng nộ đang nổ bùng của cơn bảo miền nhiệt đới là lý do tạo thành những thảm kịch tang thương mà xứ Lào nghèo khổ thường gánh chịu. Dế, ếch và côn trùng, muông thú đang gào thét, rên rỉ vang động cả rừng sâu. Đất cao nguyên Lào không yên tỉnh chút nào. Tom & Bé gái VN Nhưng, tôi cảm thấy rất an bình trong lúc viết thư cho bạn. Dường như tôi có cảm giác như vừa mới gặp bạn ở đâu đây, có lẽ bên ngoài giảng đường trường Y Khoa. Chúc, tôi đưa tay ra và nói: "Chúc mừng, Bart. Chúc mừng bạn đã tốt nghiệp Y Khoa. Chúc mừng bạn là một tân Y Sĩ". Nhưng, kèm với lời chúc mừng của tôi, tôi mong muốn truyền vào tâm trí bạn một vài ý tưởng để bạn có thể nghiền ngẩm trong những năm nội trú sắp đến. Bốn năm tại trường Y Khoa đã ở phía sau bạn. Việc đã qua là sự kiện mở đầu. Ông, bà, cha, mẹ và thầy cô, đã trao cho bạn nhiều kiến thức rồi. Hãy khôn khéo áp dụng những điều học hỏi đó cho kẽ khác. Bạn chuyên cần làm việc và được học hỏi khá sâu rộng, nhưng bởi vì bạn không bị bó buộc phải hành xử cái kiến thức mà bạn có được, cái đó không có nghĩa là bạn còn đang ở trong trạng thái yên bình để hoàn thành những hy vọng ở tương lai. Bạn sẽ chẳng bao giờ thực hiện nó được. Với tư cách là một Y Sĩ, bạn có một tiềm năng phi thường. Có nhiều điều vinh dự đang chào đón bạn, và dành cho bạn nếu bạn thích lựa chọn những điều cao thượng đó. Tôi thấy có khá nhiều công việc phù hợp với khả năng và kiến thức của bạn, tuy còn mấy năm nửa trước mặt, thì, vẩn còn kịp lúc cho bạn thực hành, và vẩn còn kịp lúc cho bạn vào đời. Hãy nhớ rằng, thời điểm ngẩu nhiên của lịch sử, sẽ cần đến bạn nhiều hơn. Và, nó sẽ đẩy lùi tính do dự, và kích thích lòng dũng cảm của bạn. Hãy đứng thẳng lên và thét to: "Đây là thời đại của tôi, nhiệm vụ của tôi đúng vào thời điểm nầy!". Và hãy đi tìm chổ đứng thích ứng đó. Trạng thái mãn nguyện toàn bộ trong hưởng thụ vật chất chỉ có thể dành riêng cho trâu, bò hoặc chỉ có thể dành cho chim muông, cầm thú mà không thể gán cho con người được. Hãy đi tìm những điều gì thanh cao hơn, mà đừng ngấp nghé cho đúng một vị thế xã hội kinh tế vật chất thực sự bảo đảm cho một cuộc sống sung túc. Hãy đi tìm điều gì ở phía bên kia căn nhà lầu hai tầng có garage hai xe. Hãy nhận thức cho sâu sắc hơn, và quan tâm gần gủi hơn đến những dữ kiện trọng đại trong thời đại của bạn, của chúng ta. Tiềm năng của bạn phải gắn liền với bổn phận cao cả, và nay, thế giới đang cần đến những hành động đó. Tinh thần hành động nhân ái.
  • 35. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 135 Những nguyên lý được phô bày, những ước vọng được biểu lộ, chưa đủ! Hãy ghi nhớ kỹ điều này. Tom & đội ngũ Bạn là một Y Sĩ. Trạng thái hảnh diện là một Y Sĩ đó cũng là một niềm vui. Còn nhiều vấn đề quan trọng khác dành cho bạn hơn là những tri thức về y học, về côn trùng và về dược liệu. Tất cả kiến thức bạn thâu thập được tất nhiên đã tự nó tinh lọc thành những đức tin nào đó; lòng tin của bạn có thể còn tản mác, còn thô thiển và chưa được trui rèn cho hoàn thiện, nhưng bạn cũng đã có những đức tin nào đó ở trong lòng bạn rồi. Bạn đã được giáo dục thuần thục, tay bạn sắc bén tinh xảo, trí óc bạn uyên thâm, thị kiến bạn tinh anh. Bạn biết sự khổ đau của loài người. Bạn thông thạo thuật chửa trị cái đau như thế nào cho phù hợp với đức tính "Từ Bi". Bạn cũng biết rõ sự hửu hiệu của dược phẩm và nhất là thấu hiểu tường tận ý nghĩa của câu "con bệnh có một chứng bệnh" hơn là "chứng bệnh nằm trong con bệnh". Bạn có khả năng phân biệt được sự đau khổ và sự vinh quang của kẻ khác. Bạn còn sở hửu nhiều điều cao cả hơn là cái kiến thức của nghệ thuật hàn gắn vết thương. Bạn có thể làm nhiều điều khác hơn là những thử nghiệm ở phòng thí nghiệm và việc mổ xẽ hay chửa bệnh sán khí ở các bệnh viện. Cái đặc tính biểu hiện cao đẹp nhất của bạn là ở lảnh vực y khoa, tất nhiên và tối thiết cho tinh thần nhân ái của bạn. Học làm thế nào để tận dụng cho được từng sớ thịt và tự đáy lòng từ tâm của bạn. Có nhiều sự việc cần cho cách sinh hoạt hơn là tình trạng tồn tại. Niềm tin là một điều gì rất cao nhã nhưng phải đặt niềm tin đó vào thực tiển mới là tiêu chuẩn thực sự cho sự vửng bền. Vị trí của một y sĩ là một trạng thái hạnh phúc, là một trạng thái hưng phấn, và là một trạng thái đầy tiềm lực phi thường cho công việc từ thiện. Bạn sẽ phạm một vấn tội về sự chểnh mảng, là, không thể hiện lên được hết cái năng lực mà nó đang hiện hữu nơi bạn. Là một y sĩ, bạn phải là một nhân tố của thế hệ thời đại của bạn. Sự tách rời và sự thờ ơ đối với sự vụ nhân đạo trên thế giới tràn đầy đau khổ, tang tóc nầy, nay đã hoàn toàn lùi vào quá khứ và không còn tồn tại nửa. Bạn có thể, không chỉ là một y sĩ hoặc không chỉ là một nhà nghiên cứu y học, và hoặc không chỉ là một thầy giáo suông mà thôi; con người phải cùng kê vai sát cánh, gánh vác lấy những trách nhiệm cho đồng loại. Và, đối với một con người có những tài năng đặc biệt như bạn, điều này là một yêu sách biệt lệ, đây là điều thách thức mới của bạn. Người ta mong mỏi con người cần phải hội nhập bằng hành động và khát vọng hiện thực những điều hay, lẽ phải mà mình từng ôm ấp trước tiên hết. Bạn có đủ tư cách, không chỉ hội nhập vào mà thôi, nhưng, có lẽ bạn sẽ phải lảnh đạo những hoạt động cho một phân đoạn nào đó của thế giới ngày nay. Công việc của một y sĩ, lúc thì chửa bệnh, lúc thì trấn an làm yên lòng, và lúc nào cũng an ủi con người. Bạn phải tận dụng những bản năng của ý chí, và của tâm hồn, song song với năng khiếu y học của bạn. Việc này sẽ giúp củng cố nền hòa bình mong manh của thế giới. Giờ khám bệnh Bart, còn một năm nội trú nửa ở phía trước bạn. Và sau đó, sự chọn lựa thành một y sĩ thường trú để được đào tạo thêm phần chuyên khoa hoặc y sĩ hành nghề tư? Tôi hiểu bạn đã bị phiền toái với một ít do dự: "Tôi sẽ là một chuyên gia với những năm và những năm của nhiều luyện tập hoặc tôi sẽ đi vào phòng khám bệnh tư ngay?".
  • 36. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 136 Tôi sẽ mạo muội cho là, bạn sẽ chọn đời sống của một y sĩ toàn khoa. Có nhiều nơi trên thế giới cho các y sĩ chuyên khoa, nhưng cái thế giới đang bị bóp méo và quỵ nát nầy của chúng ta cũng cần nhiều y sĩ nông thôn trong ngay cả một số xứ sở kém văn minh, nghèo khó, và làng mạc xa xôi hẻo lánh mà dân chúng tại nơi đó thiếu học, thiếu ăn, và thiếu thốn cả trăm bề. Với tư cách là một y sĩ, nơi nào sẽ là sự chọn lựa của bạn? Nhu cầu cho bạn ở khắp nơi, nhưng quả địa cầu quá thiên lệch về một bên, chính ngay cả trong sự phân phối các thầy thuốc! Hầu như ở khắp các góc cạnh nào tại nước Mỹ đều có y sĩ sẳn sàng. Với quỹ phúc lợi của cựu chiến binh, quỹ an sinh xã hội, chương trình công đoàn lao động, nhóm dự án sức khoẻ kỹ nghệ, và tất cả các quỹ hay chương trình khác, thật khó khăn cho một công dân Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ nào không thể tìm ra được một sự chăm sóc y tế nếu họ muốn làm một vài nổ lực nhỏ nhoi nào đó. Sơn Nữ Lào Tôi đang sống ở Lào. Trước khi có bệnh xá MEDICO của chúng tôi, thung lũng nầy đã chẳng có gì khác hơn là ma thuật, phép gọi hồn, phép phù thuỷ và hình tượng đất sét v.v... Dân làng đã nuốt máu khỉ, mạng nhện, răng cọp, bùa chú và nước cốt cổ trầu cau. Họ chẳng bao giờ có hy vọng cải thiện sức khoẻ vì thiếu sự trợ giúp y tế, thuốc men từ bên ngoài thế giới gọi là văn minh. Ngày nay, dân bản Mường Sing có thuốc tốt, có sự trợ giúp qua lòng trắc ẩn từ một số ít người Mỹ giàu lòng từ thiện, được giaó dục và nhất là có một bệnh xá 25 giường, nhỏ nhắn, xinh xinh. Thế kỷ Hai Mươi ở Mường Sing là vậy đó!!! Bạn có biết rằng, theo thống kê của Cơ Quan Y Tế Liên Hiệp Quốc*, Congo với 18 triệu dân và không có được một y sĩ nào người bản xứ cả. Nam Việt Nam, 11 triệu dân, có khoảng 180 y sĩ; Cambodia, 5 triệu dân, 7 y sĩ; Lào 3 triệu dân, 1 y sĩ. Những thống kê của các quốc gia Á-Phi khác thì cũng xít xoát ngang nhau. Dù đôi khi, điều nầy được gọi như "thời đại của nhún vai", tôi không tin rằng bạn sẽ phát biểu như vài người đã nói "Vậy thì sao? Đó không phải là vấn đề của tôi". Bạn hiểu, Bart, bạn và tôi là những kẻ thừa tự của mọi thời đại. Chúng ta có nhửng gia tài cao quí về nghệ thuật, âm nhạc, văn chương, và một nền y học tiến bộ riêng biệt của chúng ta. Chúng ta được sinh ra và lớn lên trong tự do, trong hòa bình, trong hạnh phúc, và trong một xứ sở phồn vinh. Chúng ta có công lý được luật pháp bảo vệ chặc che một cách bình đẳng. Nhưng, chúng ta đã tha thứ cái khía cạnh khác xấu xa của cái di sản của chúng ta. Chúng ta cũng thừa hưởng sự căm hờn được những kẽ vô trách nhiệm trước chúng ta nuôi dưởng. Chúng ta cũng có cái tài sản của sự ngược đải, sự thoái hóa, và sự mất nhân tính của những kẽ đui mù vì thiên kiến, vì vô ý thức, và vì bực tức riêng tư. Đối với con người, cũng như bạn, và tôi, chúng ta may mắn có được một sự giáo dục phong phú hơn nhiều người, đây là một tài sản đặc biệt, và cũng là một thách đố cho chúng ta. Để chấp nhận cái xấu cũng như điều tốt, và cũng để đáp ứng lại sự thách thức nầy, đó là một đặc ân, và cũng là một trách nhiệm của chúng ta. Hãy hân hoan đưa tay đón nhận nó đừng ngại ngùng, sợ hải. Bart, riêng tôi, tôi tin rằng cái phạm trù độc nhất của sự thách thức nầy, đối với các chàng y sĩ trẻ, đòi hỏi chúng ta phải đầu tư một ít cuộc đời của chúng ta trong việc thực hành y học trên những mảnh đất, cánh đồng xa lạ nào đó. Tôi nói "một ít" chứ không phải là cả đời người. Nhưng, có thể, chúng ta dâng hiến một năm hoặc hai. Nó có thể là một yếu tố cho sự trưởng thành của một con người, một sự biến thái của một y sĩ ở thời đại nhiểu nhương nầy cần có. Bạn đã mài mòn đủng quần hết trường đại học nầy đến trường y khoa nọ, hết thư viện nầy đến viện nghiên cứu khác; chức vụ y sĩ thực tập nội trú
  • 37. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 137 đang chờ đón bạn, hoặc có thể bạn sẽ là y sĩ thường trú; và rồi hãy đến các quốc gia đang phát triển trên địa cầu trong một giai đoạn nào đó. Hãy mang theo hành trang, y cụ, thuốc men nhưng thật ra mà nói, phần cao quí và lớn hơn cả là phải mang theo tinh thần nhân ái của bạn. Hãy mang theo nhiệt tình, thiên hướng, nghị lực của tuổi thanh xuân, và sự cống hiến của bạn để giúp cho kẽ khổ đau và bệnh tật. Hãy mang theo đức tính phóng khoáng tự nguyện kỳ diệu và niềm tin của bạn trong thánh thiện. Cũng hãy mang theo một ý niệm của khí sắc khôi hài, dừng quên nó, lẽ dĩ nhiên, bạn sẽ cần đến những cái dí dỏm, những câu pha trò đó khi mái nhà bị dột, khi những bệnh nhân nốc ráo cả liều lượng thuốc trong lần đầu tiên hoặc những thầy mo trét phẩn bò vào băng vải đã được khử trùng. Cũng hãy mang theo cái tinh thần phiêu lưu chỉ đáng giá vài xu mà cha ông khai sáng của chúng ta đã chất chứa sẳn trong tiềm thức của chúng ta. Hãy sống qua một thời gian nào đó trong những thung lũng xa xôi như Mường Sing của tôi. Hãy đầu tư một ít đời sống của bạn để đích thân trả lời sự thách thức của ngày hôm nay, sự thừa hưởng cái di sản lổi thời của những năm tháng xa xưa. Khám bệnh trả gà Có nhiều khó khăn hơn cho những ngành nghề khác khi muốn đi vào và làm việc tại một đất nước xa lạ. Dân chúng và chính quyền sở tại luôn ngờ vực và e dè; vì họ đã sẳn có một ít nghi ngờ, ngay chính cả y sĩ cũng vậy. Cũng có nhiều người chưa hẳn tin tôi không phải là một nhân viên CIA hoặc một tu sĩ Dòng Tên trá hình. Nhưng mảnh bằng M.D. cũng sẽ mở ra được nhiều ngỏ ngách khác. Bạn sẽ được phép đi đến những vùng chưa phát triển nầy, và có thể xây dựng lên một bệnh xá nho nhỏ xinh xinh. Hãy khêu lên và mang những ngọn lửa nhiệt tình và lòng hướng thiện của tinh thần nhân ái đến cho những người mà trước đây họ đã biết chẳng bao nhiêu đến những hiện tượng thân ái nầy trong con người phương Tây của chúng ta. Đời sống dân bản Mường Sing của tôi, đúng hơn chỉ là những lời oán than, kinh động của những nỗi thống khổ triền miên trước khi bệnh xá Medico được dựng lên. Họ chỉ biết uốn cong mình xuống trước những người phương Tây trong tính cách khống chế người dân thuộc địa, và có lẽ, người phương Tây đã khai thác, và thâu tóm được những tài nguyên, của cải gì mà người dân bản địa có được. Sự chăm sóc y tế cùng thuốc thang của bạn sẽ có tác dụng và ảnh hưởng thập bội. Bạn sẽ tìm thấy rằng, chỉ có giới y sĩ với những đặc tính của tâm hồn nhân ái, mới sẽ giúp bạn thống hợp được con người. Lòng nhân đạo giản đơn biến những giãi đất sơ khai ở châu Á và châu Phi trở thành quan trọng hơn cho mổi người Mỹ chúng ta. "Quyền lợi bản thân càng đơn sơ làm tình người càng sinh động". Có thể, bạn đang nghẩm nghĩ: "Tom, tôi chúa ghét cái giọng điệu thăm dò theo phương cách nầy lắm nghen! Nhưng nó có ăn thua gì đến tôi đâu?". Chúng ta, ai cũng đều có một ít vị kỷ, bạn biết mà! Đúng, bạn đúng lắm, Bart! Có lẽ, chúng ta cần một chút cảnh giác về con người mà họ cho là hoàn toàn không vị kỷ. Bạn có nhiều cơ hội "ăn thua đủ" lắm chứ, bằng cách đầu tư một phần đời nào đó của bạn vào công việc ở đây, như Mường Sing của tôi, bằng cách ký thác một hoặc hai năm thời gian của bạn, và bạn sẽ mang về cùng bạn, vào phòng khám bệnh của bạn một sự thành tựu có nhiều ý nghĩa cao siêu, và được gắn chặc với một kinh nghiệm nhân sinh chan chứa. Sự thành tựu của bạn sẽ nằm phía bên kia khung trời nhỏ hẹp của lục địa, và của tập quán. Những thành tựu của bạn sẽ nằm ở trên một phạm vi rộng lớn hơn, dọc theo những chân trời bao la, bát ngát của sự an bình trên toàn thế giới. Và, lúc nào bạn cũng nhận thức và hảnh diện rằng bạn đã trao đi một mảnh nhỏ đời sống của bạn vì lợi ích của nhiều người. Nhân loại, ai cũng có ước vọng được hoà nhập chính bản thân mình vào trong những điều gì cao thượng hơn là những điều gì xấu xa. Bạn sẽ thực hiện điều nầy một cách hoàn mỹ, và sẽ giúp đạt cho được cái triển vọng khôn nguôi nầy mà ngày nào đó, tất cả con người của tất cả màu da sẽ học
  • 38. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 138 để sống cùng nhau trong thanh bình, hạnh phúc. Tôi không tin rằng sự thực hiện nầy có thể đạt được ở ngay chính trong phòng khám bệnh tư nào đó. Bạn bao giờ cũng là một người có vẻ yếm thế, và tôi mường tượng ra bạn đang âm thầm cằn nhằn: "Đồng ý, Tom, anh đã nêu rõ quan điểm của anh, nhưng để đánh mất một năm hoặc hai cho một vấn đề tâm linh được gọi là sự thực hiện nào đó mà tôi không hiểu biết một tí gì đến công việc đó cả". Cuối cùng, tôi chỉ có thể nhắc nhở bạn rằng lịch sử nhân loại thường tái diễn bất tận lời ta thán, mà, con đường duy nhất cho con người thâu đạt được cái hạnh phúc riêng tư của mình, là phấn đấu đem cái hạnh phúc đó đến cho kẻ khác. Và, bạn có thể đáp lại: "Gớm! Lại là thuyết thần bí âm u của Dooley nửa rồi"? Lịch sử cũng chứng tỏ, Bart, con người hiếm khi học được những bài học của lịch sử, nhưng phải học ở chính họ và cho họ. Hãy đến miền Đông Nam Á, Lào, Cambodia, Nam Việt Nam. Và học… Bạn có thể làm việc trong các chương trình, dự án hiện có. Các chương trình nầy sẽ giúp bạn trang trãi tài chính đủ để bạn sống và làm việc, và tránh cho bạn khỏi mang nợ, dù, có lẽ, không được dư dả cho lắm. Họ sẽ điều hành bộ phận tìm kiếm và cung cấp y cụ, dược phẩm và phương tiện để bạn có thể tiến hành công việc chửa trị của bạn được dể dàng, thuận lợi hơn. Bart, bạn có rảnh rang vào năm tới không? Ngày hôm nay đòi hỏi cần phải có một đặc tính trọng đại sâu sắc hơn trên "tình huynh đệ" cho con người. Tất cả mọi ngành nghề phải tìm ra cho được những phương cách cao cả để hành xử điều nầy. Đối với một y sĩ thì đường đi không khó. Mổi một người thầy thuốc phải thấu triệt và tin tưởng vào tình thân hữu tận cội nguồn của vấn đề yêu thương. Khái niệm nầy đã không quá quan trọng vào thời cha ông của chúng ta. Nó đang ở đây, ngay giờ nầy "Tình huynh đệ" tồn tại, và bất diệt cũng như sự quan hệ Cha Con của Chúa. Và chúng ta đừng bao giờ quên lảng nó. Tôi không tin "Tình huynh đệ" là một điều gì xúc cảm và ngọt ngào qua đầu môi chót lưởi. Nó là động cơ có hiệu lực và mạnh mẻ, mang con người lại với nhau vì con người. Nếu chúng ta không thể hiện lên được hết việc cô động ý nghĩ nầy, thì việc tích cực nào củ chúng ta sẽ thực hiện cũng chẳng ăn thua gì. Y sĩ biết rỏ tính chất giống nhau của mọi người. Xã hội không cần những sự đoàn kết khác của người da trắng, hoặc của người Mỹ, hoặc của người Đức, hoặc của người da đen. Hoặc thêm một sự tan rả của con người hóa thành nhiều xu hướng dị biệt. "Tình huynh đệ" sẽ là một động lực hợp nhất "NGƯỜi VỚI NGƯỜI". Tom đang khám miệng Lòng ái quốc đơn thuần cũng chưa đủ. Các quốc gia phải hệ thuộc vào một thế giới rộng lớn hơn, với một chân trời bao la hơn cái tình yêu nước thu hẹp lại của một đất nước đơn thuần nào. Các quốc gia phải chung lưng đâu cật làm việc cùng nhau, dân tộc nầy tương trợ cho dân tộc khác một vài điều gì mình có thể. Đây là một bộ phận của tình huynh đệ. Á châu và Phi châu cần cái cuốc, cái xuổng, máy ủi, ống tiêm và thuốc men để xóa bỏ dốc cao ngăn cách của sự nghèo đói, của bất công, của dốt nát và của bệnh tật. Là một y sĩ, bạn có những ống tiêm đó. Chúng ta phải làm điều gì mà chúng ta có thể, như người nầy giúp người khác. Chúng ta, những người Mỹ trẻ tuổi, phải mang theo cái vở kịch Tự Do thật sự từ cái tệ nạn, cũng như các hành động ngược đãi nhân danh Tự Do mà chúng ta đã nhận được từ quá khứ để hướng cái ý nghĩa Tự Do đó vào tương lai. Đối với dân tộc khác, chúng ta có sự Tự Do, và chúng ta cần phải giúp những người mà họ chẳng có một thứ gì, thì làm gì mơ đến hai tiếng Tự Do. Ngọn đèn sắp cạn dầu, đang leo lét, lập lòe kêu lách tách. Dooley cần làm một vòng bệnh xá Medico để xem xét, chuyện trò, an ủi và khuyên nhủ con bệnh của mình, vậy xin ngưng thư cho bạn ở đây và sẽ tiếp tục vào ngày mai. Troøn moät ngaøy ñaõ troâi qua keå töø khi toâi baét ñaàu vieát thö cho baïn. Sáng nay, tại bệnh xá, chúng tôi đã khám cho 78 bệnh nhân. Mổi một điều, từ cơn sốt rét nóng cao độ cho đến một
  • 39. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 139 bác nông phu già nua cằn cỗi dẫn một con lừa đến yêu cầu chúng tôi khâu vá lại vết đứt ở cạnh đuôi con lừa. Chúng tôi đã cho con bệnh sốt rét thuốc Chloroquine, và vá lại chổ rách ngay mông lừa với chỉ khâu cở số 2. Vài thằng cu bị tiêu chảy, mắt sưng lên vì nhiểm trùng, và một trường hợp tóc của một cô ả có chí. Những y tá thiện nguyện của tôi bận bịu nhổ vài cây răng, bạn cũng biết răng cỏ không phải là nghề nghiệp sở trường của tôi. Các cu cậu cũng gào khóc toáng lên đúng y chang như các nhô con ở Mỹ. Các bà cô cũng phàn nàn ỏm tỏi lên vì phải đứng chờ trong hàng quá lâu để đến lượt mình cũng chẳng khác gì các cô bà nhiểu chuyện bên Mỹ mình. Tôi không thấy có những dị biệt gì sâu xa giửa các dân tộc khác màu da cả. Tôi đã trải qua hơn 6 năm sống ở giửa các sắc dân khác nhau và bao giờ cũng khám phá ra những nét tương đồng có nhiều ảnh hưởng hơn những nét dị biệt. Đó là những sinh hoạt thường nhật của bệnh xá Medico ở Mường Sing. Mổi một sinh mạng cũng quí báu cùng cực như một sự sinh tồn ở khắp mọi nơi. Để đúc kết những gì tôi đã viết, Bart, tôi tin rằng là một y sĩ trẻ tuổi, càng sớm càng tốt, khi bạn kết thúc năm nội trú, bạn nên trải qua một năm hoặc hai trên những cánh đồng khô cằn, khốn khó chẳng hạn như mảnh đất Mường Sing của nước Lào hiền hòa nầy. Bạn nên sử dụng tay nghề và tâm hồn của bạn như một sợi dây cáp rắn chắc để trói buộc con người lại cùng với nhau. Đường vào bản xa Càng gian khổ, càng trui rèn con người thành rắn chắc, sắc bén hơn. Tại sao không thể sử dụng những yếu tố khác? Nhiều công cụ cần phải được bổ sung để phá vỡ những bức tường sai lầm mà nó đã ngăn cách chúng ta; Y học là một, mà khi nó được bao bọc bằng cái nguyên lý tất nhiên của tinh thần nhân ái; sự yêu thương, và lời nói dịu dàng là những lợi khí thường nhật của nghề chửa bệnh hơn những ngành nghề khác. Lòng từ ái, và tính kiên trì tế nhị có thể là những vủ khí hiệu nghiệm nhất để đấu tranh chống lại cơn phẩn nộ của xã hội. Khám bệnh cho người nghèo khổ Con người hình thành xã hội. Quốc tế tính chỉ là một sự kết tựu của những cá thể. Mổi một con người, ai cũng có khát vọng được thực thi những điều gì có tên gọi là tình nhân loại. Cái giá trị nhân bản toả ra một sự thách thức đặc biệt cho bạn, trong khi mà không có một sự tương quan mật thiết nào giữa người và người hơn sự quan hệ thân ái giữa y sĩ và bệnh nhân. Hãy mang theo mọi năng khiếu của trình độ và ý chí nhiệt thành của tâm hồn một y sĩ trẻ đến các thung lũng xa xôi hẻo lánh như thung lũng Mường Sing của tôi, và bạn sẽ mang về cùng bạn một sự phong phú về kiến thức, một nghị lực phi thường cùng một phần thưởng nhân sinh cao quí vô cùng. Hãy dâng hiến một ít đời sống của bạn cho kẻ khác. Sự hiến dâng đó không phải là một sự hy sinh mà nó là một kinh nghiệm hưng phấn của một y sĩ trẻ nhiệt thành, bởi vì nó chỉ là một nổ lực mảnh liệt thích ứng với một mục tiêu có nhiều ý nghĩa cao cả nhất. Vậy, đi theo với lời chúc mừng tốt nghiệp, tôi gởi lời ao ước của tôi, mong bạn sẽ sử dụng chính bản thân bạn như là một nhân tố cho sự đoàn kết trong nền hoà bình mong manh của thời đại hôm nay. Và, bạn sẽ am tường cái hạnh phúc sẽ đến với bạn bằng việc phụng sự cho kẻ khác, những người bất hạnh, họ chẳng có thứ gì. Thành thật chúc bạn những điều tốt đẹp nhất, Mường Sing, cơn mưa mùa 1957 Thomas A. Dooley * Theo thống kê của Cơ Quan Y Tế Liên Hiệp Quốc Năm 1953.
  • 40. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 140 Hoàng-Yến Anh nhớ về thăm em Mùa xuân này anh nhé ! Hoa vàng xưa chớm nụ Chiều Xuân nào nhớ nhung Bướm trắng như màu áo Nghe ret lạnh mùa Đông Anh nhớ về thăm em không ? Anh về thăm em đi ! Cho lòng trai ấm lại Cho tình thôi lang thang Cho hồn không bơ vơ Cho rét mướt cắt da Mùa Đông phương xa Không còn làm anh băng giá Ngồi cô đơn Nghe Xuân về Mơ gót chân bé nhỏ Nhớ mùa Xuân năm trước Anh còn ở lại nhà Tình nghèo Vá manh áo rét làm quà Đêm giao thừa Anh kể chuyện em nghe.. Bếp lửa reo sôi Mắt vợi khung trời Âm thầm nhìn em như muốn nói : Rằng anh xây mộng hãi hồ , Mơ tình viễn khách bên bờ đại dương ! Vai gầy khoát áo phong sương , Làm người cô lữ đứng buồn thế nhân.. Trời phương xa có vui không ? Tình phương xa có đợi chờ không ? Cho Anh xin chút hành trang nhỏ bé : Hàng mi xanh , Mắt chưa vương màu địa ngục Tà áo trắng , Ấp ủ lòng trinh ... Rồi nếu cuộc đời tha phương Có như trùngdương lênh đênh bát ngát Tình Anh , Mơ về một chiếc phao diễm tuyệt : Nụ cười Em Nụ cười bằng mắt của những người con gái hải đảo Anh nhớ về thăm Em , Mùa Xuân nầy Anh nhé ! Em bằng lòng Đếm nắng vàng qua song cửa Uống thời gian làm kẻ đợi chờ Người lữ hành cô độc So vai đi dưới làn mưa xuân lất phất Ngày xưa... Sân ga buồn rưng rưng trong ngày phai! Màu nắng chiều lung linh mắt ai ! Bóng dáng gầy gò Nàng nữ sinh bé nhỏ Ngoan như con cừu non Nhưng kiêukỳ hơn một nàng Côngchúa Tình vui nở chờ Anh như trẻ vòi chiếc bánh Về đi anh ! Cho mùa Xuân kết hoa đăng ngày hội Cho phốphường lên tiếng nhạc yêu đời Cho xanh niềm tưởng nhớ Cho sầu thôi lỡ ghé trên mi Cho người thôi lỡ khóc Tình nghèo Quê Hương ! Hoàng-Yen (nguyên quán Trà-Vinh)
  • 41. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 141 Tiền Vĩnh Lạc Năm 2011, nhân kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca thành đạo, một Đại Hội Phật Giáo Thế Giới được long trọng tổ chức tại New Delhi, Thủ Đô nước Ấn Độ. Đại Hội quy tụ 3.000 đại biểu đến từ các nước Á, Âu, Mỹ, Úc. Tôi cũng được hân hạnh tham dự Đại Hội trong phái đoàn Úc 36 người, gồm có 2 vị Tăng, 8 vị Ni và 26 Phật tử do Hòa Thượng Viện Chủ Tu Viện Vạn Hạnh ở Canberra tổ chức và hướng dẫn. Đoàn hành hương sau khi dự Đại Hội Phật Giáo Thế Giới đã đi viếng các Phật tích quan trọng ở Ấn Độ, Népal và Bhutan. Chuyến hành hương kéo dài 22 ngày. Nay tôi xin kể lại tóm tắt cho bà con, thân hữu nghe chơi cho vui về những Phật tích mà Đoàn chúng tôi đã đến viếng, dẫu biết rằng từ trước tới nay đã có rất nhiều sách báo tường thuật những cuộc hành hương trên đất nước Ấn Độ huyền bí với đầy đủ chi tiết và nhiều sử liệu quý báu. Bồ Đề Đạo Tràng Ngày thứ Năm 01/12/2011, Đoàn ra phi trường New Delhi đáp máy bay đi Varanashi, xưa gọi là Bénarès (Ba-la-nại), một trong những thành phố xưa nhứt của thế giới. Máy bay chỉ bay khoảng một tiếng đồng hồ thì tới Varanashi. Rời phi trường, Đoàn đổi qua xe bus đi Bodhi Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Chiều hôm đó, Đoàn đi bộ qua Bồ Đề Đạo Tràng. Đường không tráng nhựa, bụi quá. Qua cổng thì tới một sân rộng, chung quanh và bên lối đi là những hàng quán bán đủ thứ vật dụng, nhiều nhứt là hàng lưu niệm, đồ thờ cúng như chuông, tượng, xâu chuỗi, lá bồ đề khô, v.v... và đặc biệt là y phục Ấn Độ, khăn choàng màu sắc rất đẹp, giá quá rẻ so với giá cả bên Úc. Đại Tháp Bồ Đề là một công trình kiến trúc hình tháp cao, bốn phía chạm trổ rất công phu, mỹ thuật. Mọi người đều cổi giày, kính cẩn chấp tay, niệm danh hiệu Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đi vòng quanh tháp, rồi đến trước cội Bồ Đề ở phía sau Đại Tháp tụng kinh, lạy Phật. Khách hành hương các nước đến nườm nượp, gồm nhiều sắc tộc, nói nhiều thứ tiếng, tụng kinh, niệm Phật với nhiều nghi thức khác nhau, hết sức thành kính, xúc động được đến tận cây Bồ Đề nơi Thái Tử Tất- Đạt-Đa đã viên thành Đại Nguyện cách nay đúng 2.600 năm. Thánh tích này được gọi là “nơi Phật Thành Đạo”. Khách hành hương tuy đông, nhưng rất trật tự. Từng đoàn chia nhau ngồi chung quanh Đại Tháp, hoặc trước cội Bồ Đề, tụng kinh, lạy Phật theo nghi lễ của nước mình. Đoàn này đi thì đoàn khác đến, liên tục, không dứt. Nhiều người đi quanh Đại Tháp, đi một bước lạy một lạy, mỗi lạy nằm sát đất, hai tay thẳng ra trước, hai chân thẳng ra sau. Lại có nhiều người ngồi tĩnh tọa phía sau Đại Tháp, trong những chiếc mùng nhỏ để tránh muỗi. Tháp Đại Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng Các đoàn hành hương, sau khi làm lễ ở cội Bồ Đề hoặc quanh Đại Tháp, đều xếp hàng trật tự, nối đuôi nhau vô Chánh Điện bên trong Đại Tháp để lạy Phật. Quang cảnh tôn nghiêm lạ thường... Đêm đã khuya, chúng tôi tập họp đủ, rồi đi bộ về khách sạn. Nhiều đạo hữu còn nán lại, lựa mua quà, nhiều nhứt vẫn là những chiếc khăn quàng tuyệt đẹp... Ngày 02/12/2011, thứ Sáu. Theo chương trình thì hôm nay sẽ có ít nhứt 3.000 Tăng, Ni, Phật tử đến tụng kinh, lạy Phật tại Đại Tháp Bồ Đề Đạo Tràng. Vì vậy mới 5 giờ sáng, Đoàn Phật tử
  • 42. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 142 Úc Châu đã vào tới Đại Tháp, vì sợ tới trễ sẽ không còn chỗ ngồi làm lễ. Tới nơi đã phải xếp hàng theo các đoàn khác. Vô bên trong, đã thấy nhiều đoàn đến từ trước, tốp đi nhiễu quanh Đại Tháp, tốp ngồi tụng kinh hoặc tham thiền. Phật tử đến từ khắp thế giới, đoàn thì tụng kinh theo Nam Tông, Nguyên Thủy, đoàn thì theo nghi thức Bắc Tông, Thiền Tông, bằng đủ thứ ngôn ngữ khác nhau. Quang cảnh chung vô cùng náo nhiệt mà trật tự, đầy âm thanh, màu sắc, không bút mực nào tả xiết... Cây Bồ Đề dưới chân Đại Tháp Trường Đại Học Nalanda - Vườn Trúc Lâm Rời Bồ Đề Đạo Tràng với bao luyến tiếc, Đoàn lên xe bus trở lại Varanashi. Thành phố Varanashi nằm bên bờ sông Hằng, đã có cách nay trên 5.000 năm, là thành phố xưa nhứt của nước Ấn Độ, hiện nay có khoảng 1.100.000 dân. Đoàn tới viếng di tích Nalanda University, thành lập vào khoảng Thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch, cách Bồ Đề Đạo Tràng 62 cây số. Ngày xưa, đây là Trường Đại Học đầu tiên của thế giới, cũng là Đại Học vĩ đại nhứt vào thời đó. Trên một vùng đất rộng, xây nhiều công trình kiến trúc đồ sộ, với vô số phòng ốc, đủ chỗ cho 10.000 tăng sinh tu học, cùng với 2.000 giáo sư. Vua A Dục đã cho xây dựng nhiều tu viện, trong đó có một tu viện chánh Nalanda rất lớn gần đó. Vào đời nhà Đường, Thầy Huyền Trang từ Trung Quốc sang có đến ngụ một thời gian tại tu viện này cùng với hàng ngàn tăng sinh đến từ các nước Phật Giáo trên thế giới. Cũng từ Đại học Nalanda này, Ngài Huyền Trang đã thỉnh nhiều kinh sách Phật Giáo Đại Thừa đem về Trung Quốc. Đến cuối Thế kỷ thứ 7, quân Hồi Giáo từ Trung Đông qua tàn phá, chư tăng bỏ chạy lánh nạn, số chạy không kịp bị giết sạch. Thư viện bị đốt, cháy 6 tháng trời mới hết. Ngày nay, Đại Học Nalanda chỉ còn lại một số tường dày bằng đá ong, nhiều phòng ốc chỉ còn lại chân tường hơn ngàn năm nắng táp mưa sa... Khu Đại Học Nalanda xưa quá rộng, Đoàn chỉ viếng một vài phế tích đổ nát mà thôi. Di tích Trường Đại Học Nalanda Di tích Đại Tu Viện Nalanda Rời Nalanda, Đoàn tới viếng Vườn Trúc Lâm. Vườn khá rộng, sạch sẽ, lối đi, cây cảnh được chăm sóc kỹ. Giữa vườn có hồ nước độ chừng 1.000 mét vuông, nước trong xanh, ngày xưa Đức Phật vẫn xuống tắm rửa nơi đây. Chung quanh còn vài bụi trúc, chứng tích của Trúc Lâm Viên ngày xưa? Đoàn đi viếng quanh hồ, trong khung cảnh yên tịnh, hưởng không khí trong lành, hồi tưởng tới Đức Bổn Sư... Di tích Bảo Tháp Sariputta tại Nalanda
  • 43. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 143 Khu rừng Sáu Năm Khổ Hạnh Ngày 03/12/2011, thứ Bảy. Ăn sáng xong, Đoàn lên xe đi viếng khu rừng nơi Thái Tử Tất- Đạt-Đa tu khổ hạnh 6 năm. Phải đi bộ lên một ngọn đồi cao. Các bác cao niên (trong số có Thiện Chơn là ... tui, 83 tuổi, người già nhứt trong Đoàn) phải ngồi võng cho người ta khiêng lên. Võng là một cái mâm vuông bằng cây, mỗi bề chừng 8 tấc, bốn góc có bốn sợi dây gai cột túm vô giữa một cây đòn bằng cườm tay, hai người vác đòn khiêng lên, khá vất vả. Khách ngồi xếp bằng trên mâm võng lắc lư, phải bám chặt kẻo té! Lên xuống phải trả 400 Ru-pi, một số tiền khá lớn, nhưng đáng công lắm (1 ký lô gạo giá 15 Ru-pi). Lên tới nơi đã thấy nhiều đoàn hành hương khác tới trước mình. Từng đoàn ngồi trước hang động, được cho là nơi Thái Tử Tất-Đạt-Đa đã ngồi tu khổ hạnh. Đoàn nào cũng đọc kinh, niệm Phật. Lễ xong, được cổi giày chun vô động lạy Phật. Hồi tưởng 6 năm Thái Tử tu khổ hạnh nơi rừng thẳm, núi cao này, ban ngày quá nóng, ban đêm lạnh thấu xương, chịu đói, chịu khát, ... không ai mà không xúc động. Khổ hạnh lâm Vì có hẹn trước, Đoàn phải trở về chùa Miến Điện trước 9 giờ sáng để phát chẩn cho hơn 2.000 người nghèo, già yếu, tàn tật. Mấy hôm trước, Thầy Trưởng Đoàn có họp toàn Đoàn để bàn mấy việc: cúng dường các chùa, làm việc từ thiện, tiền “boa”, thù lao cho nhân viên khách sạn, tài xế và lơ xe bus, phát tiền cho người ăn xin dọc đường, v.v... Thầy đề nghị mỗi người tùy hỷ góp một số tiền cho các khoản đó, gom chung, giao cho một thủ quỹ giữ, Thầy sẽ tùy trường hợp mà chi cho có trật tự. Mọi người đều hoan nghinh ý kiến của Thầy, rồi mỗi người góp vài trăm đô Úc, được một số tiền khá rộng rãi. Thầy đã nhờ người quen đổi ra tiền nhỏ Ru-pi, đựng đầy nhóc một ba lô ! Về tới chùa Miến Điện, thấy chùa đã cất một cái trại che tạm, đủ rộng để 2.000 người ngồi chồm hổm chờ nhận quà. Trong trại đã đầy người, bên ngoài còn cả ngàn người tới trễ, cửa chùa đã đóng, không vô được, nói năng, xô đẩy ồn ào, thấy tội quá. Mỗi người được 50 Ru-pi (1 đô Úc), người già được 100 Ru-pi, người tàn tật được 200 Ru-pi. Số tiền thật ít ỏi, nhưng nghe nói có đoàn khác còn cho ít hơn! Hầu hết các đoàn hành hương đều có cho người nghèo. Có lẽ cũng vì vậy mà ở Bồ Đề Đạo Tràng, cũng như ở các Phật tích khác, người ăn xin quá đông. Không ăn xin thì biết làm gì để sống qua ngày? Xã hội Ấn Độ vẫn còn phân chia giai cấp, khoảng cách giữa giàu nghèo quá lớn... Vườn Lộc Uyển Ngày Chủ Nhựt, 04/12/2011, Đoàn lên xe đi Vườn Lộc Uyển, cách Bồ Đề Đạo Tràng 120 cây số. Đây là nơi Đức Phật “chuyển Pháp Luân”, giảng về Tứ Diệu Đế cho năm anh em Kiều Trần Như nghe. Vườn rất rộng, còn phế tích của nhiều chùa xưa, bị quân Hồi Giáo tàn phá vào cuối Thế kỷ thứ 7, nay chỉ còn lại những chân tường dày bằng đá ong. Đoàn đi vòng quanh vườn, mới biết sau khi Phật giảng Tứ Diệu Đế tại đây, đã có rất nhiều tăng sĩ đến xây chùa để tu. Bên trong Vườn Lộc Uyển, tức là Vườn Nai, người ta còn nuôi vài ba mươi con nai, chính ra là con hươu sao mà chúng ta vẫn thấy trong sở thú Sài Gòn. Vài người trong Đoàn mua dưa leo do trẻ em Ấn Độ bán, cho nai bu lại ăn ngon lành. Đoàn lại đến một cái tháp rất lớn bằng đá xanh, đường kính ước chừng 20 mét, không kể bề mặt cũng bằng đá xanh xây chung quanh tháp. Tháp này cũng do vua A Dục xây. Tháp rất kiên cố, quân Hồi Giáo không thể phá nổi. Đoàn chấp tay niệm danh hiệu Đức Bổn Sư, đi nhiễu ba vòng, rồi ngồi lại dưới chân tháp, tụng kinh, lạy Phật. Các đoàn hành hương khác từ khắp nơi trên thế giới cũng lần lượt đến, càng lúc càng đông, tiếng tụng kinh, niệm Phật không dứt. Vườn Lộc Uyển Có một điều ngộ là ở các Phật tích, trẻ em ăn xin khi gặp các đoàn hành hương Việt Nam thì chìa tay xin tiền, miệng niệm “Nam Mô A Di Đà
  • 44. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 144 Phật”. Còn khi gặp đoàn hành hương người Hoa thì chúng nó niệm “A Mi Tà Phù”! Rời Vườn Lộc Uyển, Đoàn lên xe đi Vaishali (Tỳ-Xá-Ly), trên xứ Népal, gần biên giới Ấn Độ. Làm thủ tục nhập cảnh xong, 11 giờ khuya Đoàn mới tới chùa Kiều Đàm, chùa Ni Việt Nam. Chùa rất lớn, xây trên một miếng đất rộng, kiến trúc kiểu các chùa ở Việt Nam. Lại có mấy dãy phòng cho khách hành hương trọ với giá phải chăng, tăng thu nhập cho chùa, mà cũng rất tiện cho khách hành hương đến thăm đất Phật.Chùa đãi đoàn Phậttử ViệtNam món búnbò Huế, ngon tuyệt. Ngày 05/12/2011, thứ Hai. Sáng ra, Đoàn viếng quanh chùa Kiều Đàm, thấy Chánh Điện, phòng ốc rất quy mô, tuy còn đang xây dựng dở dang. Trong khuôn viên chùa đã xây một cái tháp tròn, rất lớn, nhiều từng, nơi để cốt và thờ Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát. Đoàn đến viếng một ngôi tháp do dân địa phương xây bằng đất sét. Vua A Dục xây thêm một lớp gạch bọc bên ngoài. Các nhà khảo cổ đã khai quật nơi đây, tìm được xá lợi của Phật và một số vật dụng xác định là của Phật. Đến 10 giờ, Đoàn lên xe đi Kushinaga (Câu-Thi-Na), nơi Phật nhập niết bàn. Đường hẹp, xấu, qua nhiều xóm đông đúc, xe chạy thật chậm, cho nên trời tối mịt Đoàn mới tới chùa Linh Sơn, của Việt Nam, ở Kushinaga, gần nơi Phật nhập niết bàn. Hiện nay chùa chưa có Trụ Trì. Đêm đó Đoàn nghỉ tạm bên chùa Tây Tạng, trả 1.500 Ru-Pi một phòng 3 giường. Tháp Phật Nhập Niết Bàn Ngày 06/12/2011, thứ Ba. Sáng sớm, mọi người ăn qua loa tại chùa Tây Tạng rồi qua ngôi tháp xây để kỷ niệm nơi Phật nhập niết bàn. Đoàn thành kính chấp tay đi nhiễu nhiều vòng quanh tháp, niệm danh hiệu Đức Bổn Sư. Đoàn vô bên trong tháp, có một tượng Phật Thích Ca nằm nghiêng bên mặt, duỗi thẳng hai chân, tay trái để thẳng theo thân mình, đầu gối lên bàn tay mặt. Pho tượng dài khoảng 6 mét. Đoàn ngồi trước tượng Phật tụng kinh, lễ lạy. Các đoàn Phật tử các nơi lần lượt tới rất đông. Mỗi đoàn đem theo một tấm mền bằng lụa hoặc gấm rất đẹp, đắp lên tượng Phật rồi mới chen nhau ngồi tụng kinh với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đoàn này ra thì đoàn khác vô, không ngớt. Các tấm mền sau khi cúng sẽ đem về nước, cắt nhỏ ra, phát cho mỗi người có đi hành hương một mảnh nhỏ đem về thờ, làm kỷ vật quý. Đoàn Úc vô tháp khoảng 30 phút đã thấy có hơn mười tấm mền gấm trải lên mình Đức Phật. Tháp Phật Nhập Niết Bàn và Bồ Đề Đạo Tràng là hai nơi trong “Tứ Động Tâm” khiến cho các Phật tử có thiện duyên đến đất Phật phải cảm động mãnh liệt hơn hết, kế đó mới tới Lâm Tỳ Ni và Vườn Lộc Uyển. Chung quanh các Phật tích quan trọng bậc nhứt này, hầu hết các nước theo Phật Giáo đều có xây chùa theo kiến trúc đặc thù của nước mình. Nhiều chùa có xây thêm phòng trọ để đón khách hành hương. 8 giờ 25, đoàn trở lại chùa Linh Sơn để phát tiền cho 300 người nghèo. Tháp Niết Bàn Đặc biệt, tại chùa Linh Sơn có một toán trẻ mồ côi (12-15 tuổi) đồng ca bài “Hôm nay Thầy về đây...” rất đúng giọng, đúng nhịp, phát âm tiếng Việt thật rõ. Nếu mình không nhìn, chỉ nghe hát, có thể tưởng là các em Việt Nam hát. Trong Đoàn, ai cũng khen và thấy thích thú. Thầy Trưởng Đoàn vui vẻ thưởng tiền cho các em. Sau đó, Đoàn trở qua chùa Tây Tạng lấy hành lý. 10 giờ 30, Đoàn lên xe bus đi Sravasti (Xá Vệ Thành). Đường xa, xe dằn xóc ; nhớ lại đường xá bên Âu Châu, Úc Châu quá tốt, xe chạy 100 cây số/giờ mà thấy còn chậm! Tối hôm đó Đoàn nghỉ ở chùa Miến Điện, trên từng 2, không có nước nóng. Ở Népal trời lạnh lắm, không có nước nóng thật là khổ! Tịnh Xá Kỳ Hoàn Ngày 07/12/2011, thứ Tư, Đoàn đi viếng Tịnh Xá Kỳ Hoàn, nơi Đức Phật đã an cư 24 mùa mưa cùng với các đại đệ tử của Ngài. Ngày xưa, ngôi tịnh xá này lớn nhứt ở Ấn Độ, có đủ liêu phòng, nhà giảng, nhà ăn, tăng phòng đủ cho Đức Phật và 1.250 vị đệ tử của Ngài an trú. Vườn rất rộng. Lối đi sạch sẽ, hàng rào được cắt xén kỹ lưỡng. Đoàn cổi giày để bên ngoài, kính cẩn đi vào nơi Đức Phật thường ngụ. Nhiều đoàn hành hương đã tới trước, đang tụng kinh, lạy Phật. Di tích các tự viện rất nhiều, nhưng chỉ còn những chân tường dày bằng đá ong. Tất cả các bờ tường, chân tường, đều trải đầy hoa tươi, nhiều nhứt là hoa vạn thọ và
  • 45. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 145 hoa hồng, do các đoàn hành hương dâng cúng. Nếu gom hoa lại, chắc phải chở đầy cả mấy xe tải lớn! Chúng tôi rất bồi hồi cảm động khi đến “liêu phòng” của Đức Phật. Nơi Phật nằm nghỉ là một khoảng trống trên lớp đá ong, chỉ rộng bằng một cái giường đơn. Các đoàn hành hương khác cũng lũ lượt tới, cũng đủ các sắc tộc, nhiều nhứt là người Á Châu. Đoàn chúng tôi ngồi tụng kinh, lạy Phật tại nơi xưa kia là liêu phòng của Phật, rồi bước ra, nhường chỗ cho các đoàn khác. Tịnh Xá Kỳ Hoàn rộng lắm. Theo truyền thuyết thì một trưởng giả giàu có là ông Tu Đạt, thường được gọi là “Cấp Cô Độc” (vì ông thường hay giúp đỡ, trợ cấp cho người nghèo khó, cô độc), đã mua lại của Thái Tử Kỳ Đà (Jeta) với điều kiện trải vàng lên phần đất muốn mua. Vì không thể trải vàng lên mấy gốc cây cho nên đất là của Ngài Cấp Cô Độc, còn cây là của Thái Tử Kỳ Đà, nên vườn Kỳ Hoàn còn có tên là “Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên”. Tâm bố thí, cúng dường của Ngài Cấp Cô Độc đúng là “vô tiền khoáng hậu”, trước Ngài không có ai, sau Ngài chắc cũng không ai có đủ vàng mà cúng dường như Ngài. Vườn Cấp Cô Độc Đoàn ra cây Bồ Đề do Ngài Cấp Cô Độc trồng đã hơn 2.500 năm. Gốc cây này lớn lắm, cành lá sum sê, che mát cả một vùng. Để tưởng nhớ mười vị đại đệ tử của Phật và Ngài Cấp Cô Độc, Đoàn chúng tôi đồng ngồi dưới bóng cây bồ đề này, tụng một thời kinh trước khi ra xe đi Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) và Lumbini (Lâm Tỳ Ni). Tối hôm đó, Đoàn nghỉ tại khách sạn Tibet, chăn ấm, nệm êm, đầy đủ tiện nghi. Vườn Lâm Tỳ Ni - Thành Ca Tỳ La Vệ Sáng ngày thứ Năm 08/12/2011, Đoàn tới chùa Việt Nam do thầy Huyền Diệu sáng lập và trụ trì. Thầy có Phật sự phải đi vắng. Cảnh chùa trang nghiêm, khuôn viên rất rộng, vườn hoa có trang trí nhiều tượng thú: voi, khỉ, hạc, ... Chúng tôi thấy hai cặp chim hồng hạc đang múa rất lạ và đẹp. Chim hồng hạc lớn hơn con cò Jabiru của Úc, tiếng kêu rất lớn, nhưng trầm chớ không thanh. Nghe nói gần chùa có rừng rậm, có hồ nước, nhiều hồng hạc sinh sống ở đó. Bốn con hồng hạc này có lẽ thích chùa Việt Nam nên tới ở luôn. Khu vườn Lâm Tỳ Ni Đoàn đến vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật giáng sanh, vua A Dục có xây một ngôi tháp để kỷ niệm. Nhưng chúng tôi không biết đích xác nơi Hoàng Hậu Maya vịn cành cây nào lúc sanh Thái Tử Tất-Đạt-Đa. Ngày nay, trên khắp thế giới, cứ tới ngày mùng Tám tháng Tư âm lịch thì Phật tử đến chùa cử hành lễ Phật Đản rất long trọng. Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày Phật Đản là ngày lễ trọng đại nhứt của Phật giáo, nên luân phiên tổ chức lễ mỗi năm ở một nước khác nhau. Đoàn được đi viếng cổ thành Ca Tỳ La Vệ của vua Tịnh Phạn, nơi sanh trưởng của Thái Tử Tất-Đạt-Đa. Theo sử thì vua Tịnh Phạn đã xây cho Thái Tử không phải một, mà là ba cung điện nguy nga: Cung Điện Mùa Xuân, Cung Điện Mùa Hạ và Cung Điện Mùa Đông. Cung Điện Mùa Hạ xây bằng cẩm thạch, chung quanh là vườn hoa và những hồ nước, vòi phun nước làm cho cung điện này lúc nào cũng tươi mát. Thành Ca Tỳ La Vệ chẳng biết xưa kia hùng cường, trù phú ra sao mà hôm nay điêu tàn, hoang vắng như vậy. Thành quách kiên cố, lâu đài nguy nga, cung điện tráng lệ của ngày xưa nay chỉ còn lại những chân tường dày bằng đá ong “trơ gan cùng tuế nguyệt”, khiến cho khách hành hương trông thấy phải “cau mặt với tang thương”... Đoàn rất tiếc không có đủ thời giờ để đi thăm hai ngôi mộ của vua Tịnh Phạn và của Hoàng Hậu Maya, cách đó chừng vài ba cây số, nhưng
  • 46. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 146 phải đi bộ băng đồng, băng ruộng. Nghe nói hai ngôi mộ này vẫn còn, có lẽ đã được sửa chữa, tu bổ nhiều lần. Di tích thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) ở Nepal Sau đó, Đoàn ra phi trường để đi Kathmandu, thủ đô của Népal. Đoàn chia làm hai tốp để lên hai chiếc máy bay của hãng AGNI AIR, vì máy bay nhỏ, hai chong chóng, chỉ có khoảng 30 ghế ngồi. Lần đầu tiên đi máy bay nhỏ, tôi cũng hơi lo! Nhưng máy bay bay êm quá, ngồi vững như bàn thạch, mà bay rất cao, không thua Boeing hay Airbus. Lúc đó đã về chiều, dưới đất đã bắt đầu hoàng hôn mà máy bay vẫn bay trong nắng gắt. Chúng tôi nhìn qua cửa sổ thấy nắng rọi trên dãy núi Himalaya một màu vàng kim quá đẹp! Dãy Himalaya dài hơn 2.800 cây số, máy bay bay dọc theo núi tuyết ở tít đàng xa, ai nấy đều trầm trồ, thích thú. Bay khoảng một tiếng đồng hồ thì tới Kathmandu, hai chiếc máy bay đáp xuống nhẹ nhàng, êm ru! Sau khi làm thủ tục và lấy hành lý, xe bus đưa Đoàn tới khách sạn Tibet, 5 sao. Népal - Kopan Monastery Ngày 09/12/2011, thứ Sáu. Sáng sớm, đoàn đi viếng Kopan Monastery, một tu viện lớn nhứt của Népal. Xe chạy vòng vèo lên đèo, đường đất hẹp, rất hiểm trở. Tu viện nằm trên đỉnh núi, còn chìm trong mù sương giá lạnh. Sân chùa rộng, cây cảnh đẹp. Giữa không khí trong lành, yên tịnh, khách hành hương có cảm tưởng như đang ở cảnh Bồng Lai (Nói vậy chớ tôi nào biết cảnh Bồng Lai ra làm sao!). Chúng tôi chia nhau đi viếng chung quanh tu viện và lần lượt vô Chánh Điện, trang trí theo phong cách riêng của Népal, đầy màu sắc, nhưng rất trang nghiêm. Nhiều Phật tử đang ngồi thiền, có đủ màu da: trắng, vàng, nâu, đen, ... Vài giờ sau, chúng tôi xuống núi để qua Ni Viện Kopan, nơi tu học của hơn 300 Tỳ Kheo Ni. Cũng như hầu hết các tu viện ni ở Việt Nam, Ni Viện Kopan được chăm sóc vén khéo từ ngoài sân đến trong Chánh Điện. Đoàn vô Chánh Điện lạy Phật, rồi theo lời mời của vị Trụ Trì, ngồi hai bên lối đi giữa để dùng trà. Bốn vị Ni trân trọng tiếp khách, người xếp tách, dĩa, người rót trà, người mời bánh. Bánh bằng bột giòn như bánh neo, ngon lắm. Còn trà thì tuyệt diệu, ai có dùng trà Tây Tạng thì biết. Trà thơm, có mùi quế, có pha sữa, lại hơi béo! Vị nữ Trụ Trì giới thiệu sơ lượt tiểu sử và sự tu học của ngôi Ni viện quan trọng này, rồi mời đoàn qua viếng cơ sở làm nhang trầm của chùa. Vài người trong đoàn mua nhang Népal về làm quà. Népal - Kopan Monastery Rời Ni Viện Kopan, Đoàn đến viếng Buddha Stupa, một cái tháp vĩ đại, có cửa ở bốn hướng. Chung quanh Tháp Lớn là một con đường rộng, có mấy cảnh chùa trang nghiêm, chen lẫn với hàng trăm gian hàng bán đồ lưu niệm. Đoàn lên Tháp, đi vòng quanh xem cảnh, rồi xuống cho mấy bà đi mua quà về biếu bà con. Du khách, khách hành hương rất đông, mua bán rộn rịp, dường như người ta tới Tháp này để thỏa tánh tò mò hơn là để lễ kính, tưởng nhớ đến Đức Phật. Đoàn hành hương Úc vô nhà hàng bảng hiệu ghi bằng tiếng Pháp “Café du Temple” để ăn trưa. Khung cảnh dễ chịu, thức ăn vừa miệng, giá cả phải chăng, ai nấy hài lòng. Vậy người Pháp cũng thường tới viếng Tháp Phật nên mới có “Café du Temple” này? Xứ Népal nằm dưới chân dãy Himalaya, giữa Ấn Độ và Trung Quốc, có diện tích 147.181 cây số vuông. Dân số khoảng 23 triệu, có tiếng nói riêng, chữ viết riêng, giống như chữ Ấn Độ. Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn) là một dãy núi dài 2.800 cây số, bề ngang trung bình khoảng 300 cây số. Núi cao, từ 5.000 mét trở lên thì đóng tuyết quanh năm. Đỉnh cao nhứt là Everest, 8.846 mét. Kathmandu là Thủ Đô của Népal, ở độ cao 1.300 mét. Dân số năm 1998 được 419.000 người. Nhìn chung quanh chỉ thấy núi non. Nhà cửa san sát, không có nhà chọc trời. Chúng tôi ở
  • 47. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 147 Kathmandu chưa đầy ba ngày, chỉ biết thành phố này như người mù rờ voi mà thôi. Bhutan, xứ chùa Phật Sau khi ăn trưa tại Hotel Tibet, Đoàn trả phòng, ra xe bus, lên phi trường để đáp máy bay đi Paro, gần Thủ Đô Thimpu (Thimphu) của nước Bhutan. Bay hơn một tiếng đồng hồ thì tới Paro. Phi trường Paro ở giữa một thung lũng dài, bốn bề là núi, chỉ có máy bay loại nhỏ mới đáp xuống dễ dàng. Bhutan, một nước nhỏ ở dưới chân núi Himalaya, nằm giữa Tây Tạng và Ấn Độ, là một vùng rừng núi với diện tích 47.000 cây số vuông, dân số chỉ có 1.670.000 người (năm 1998). Người Bhutan nói tiếng Tây Tạng. Nhà cửa, đất đai trồng trọt đều ở dưới các thung lũng. Giao dịch bằng tiền Ngultrum của Bhutan, song song với đồng Ru-pi của Ấn Độ. Vua và Hoàng Hậu nước Bhutan ngày nay Từ ngàn xưa, ở vùng rừng núi này dân cư rất thưa thớt. Các tu sĩ Phật Giáo từ Tây Tạng, Népal, Ấn Độ đến cư ngụ để tu hành. Đến Thế kỷ thứ 17, một tông phái Phật Giáo Tây Tạng mới thống nhứt Bhutan. Năm 1865, người Anh nắm chủ quyền ở Bhutan. Đến năm 1907, Bhutan mới có vị vua đầu tiên là Ugyen Wangchuck, với sự đồng thuận của người Anh. Mãi tới năm 1971, Bhutan mới được độc lập và được gia nhập Liên Hiệp Quốc trong năm đó. Vị vua hiện thời là Ngài Jigme Khesar Namgyel Wangchuck, vừa thành hôn với Hoàng Hậu Ashi Jetsun Pema Wangchuk hôm 13/10/2011. Ngài là vị vua thứ năm của Bhutan. Tháng này ở Bhutan ban đêm lạnh 0oC, nhưng khách sạn có máy sưởi điện, chúng tôi đắp chăn bông dày ngủ rất ngon. Ngày 11/12/2011, Chủ Nhựt. Ông chủ công ty du lịch, một vị tiến sĩ người Bhutan, hướng dẫn đoàn suốt ba ngày ở Bhutan, rất chu đáo: trước tiên, ông dẫn Đoàn đi viếng Chùa Ông Hổ trên một ngọn đồi cao. Phải đi bộ 900 mét đường dốc nên nhiều người chỉ ở lại chân núi chơi. Một toán nhỏ lên một đoạn đường rồi cũng trở xuống, vì hai tuần qua đi bộ đã oải quá rồi! Đoàn tới viếng một chùa xưa của Bhutan, xây dựng từ Thế kỷ thứ 12. Nhiều chuông có khắc bài chú Án Ma Ni Bát Di Hồng kiểu Tây Tạng treo thành một vòng quanh chùa. Phật tử đi ngang chuông thì lấy tay xoay cho lăn tròn. Trong chùa, ngoài tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn thờ nhiều tượng Quan Âm Thập Nhứt Diện, Nghìn Tay Nghìn Mắt. Đoàn chỉ lạy Phật chớ không tụng kinh. Đoàn được hướng dẫn qua một chùa khác cũng rất xưa, không lớn lắm. Hướng dẫn viên có giới thiệu tên chùa bằng tiếng Bhutan, tôi không ghi được. Bên ngoài, dưới một mái che có treo một cái Đại Hồng Chung lớn, cao cỡ 2,50 mét, cũng có khắc bài chú Án Ma Ni Bát Di Hồng. Chuông này cũng không bao giờ đánh, Phật tử chỉ lấy tay xoay rồi đi vòng quanh, vừa đi vừa niệm chú theo phong cách Tây Tạng. Chùa này do Hoàng Thái Hậu hiện nay bảo trợ, tu bổ và cúng dường hàng tháng để cho chư tăng chỉ lo tu, không phải bận tâm về mặt tài chánh. Xe đưa Đoàn đến một nhà hàng sang trọng ở Thimpu dùng cơm trưa. Thimpu đẹp đẽ, yên tịnh, không có nhà chọc trời. Nhà phố san sát, kiến trúc gần như một kiểu nhau. Xe cộ không nhiều, người đi lại thong dong, không hối hả như ở các thành phố Âu, Mỹ. Không thấy bóng dáng cảnh sát, tôi chưa phải nghe tiếng còi rùng rợn của xe cảnh sát, xe cứu thương. Dường như người Bhutan sống giản dị, ít cạnh tranh với nhau. Họ ăn mặc giống nhau, gần như đồng phục. Đàn ông mặc áo tay dài, phần trước tay áo là một khúc hàng hay vải màu trắng chừng hai tấc, trăm người như một. Trong khách sạn có treo hình năm ông vua Bhutan của năm đời Wangchuck, ăn mặc y như thường dân, không khoác “long bào” như các “Thiên tử” Trung Quốc hay VN. Phụ nữ ăn mặc kín đáo, váy dài tận gót. Chúng tôi nhìn quanh, thấy bảng hiệu cơ quan nhà nước hay tiệm buôn đều sơn một màu xanh
  • 48. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 148 dương giống nhau, chỉ viết chữ, không có hình, không có trang trí gì đặc biệt để hấp dẫn khách. Đoàn được đi thăm Hoàng Cung và Nhà Quốc Hội Bhutan. Đoàn không được vinh dự yết kiến Vua Bhutan như dự trù vì Ngài bận đi công tác đột xuất ở nước ngoài. Trước đây, Vua nghe nói có Đoàn Phật tử Việt Nam từ bên Úc qua, Ngài rất muốn tiếp Đoàn đại biểu người Việt đi dự Hội Nghị Phật Giáo Toàn Thế Giới năm 2011. Hoàng Cung là một lâu đài rộng lớn, kiến trúc đẹp nhưng đơn giản, không quá đồ sộ, thâm nghiêm như Hoàng Cung của Trung Quốc. Sân rộng, chung quanh có nhiều hoa cảnh. Xe của Đoàn ngừng nơi quy định, rồi mọi người tự do đi thẳng vô cửa chánh. Không ai xét hỏi giấy tờ. Mọi người lần lượt bước qua cửa dò võ khí rồi lên cầu thang để lên lầu. Riêng tôi thấy cầu thang vừa dài, vừa cao, ngán lên quá nên ở từng dưới chơi. Khi mọi người ra đủ, Đoàn cám ơn, từ biệt nhơn viên Hoàng Cung rồi ra xe. Đoàn chỉ ngắm nhìn tòa Nhà Quốc Hội Bhutan chớ không vào xem, nghĩ rằng bên trong cũng chỉ có những văn phòng, phòng họp Hạ Viện, Thượng Viện như Nhà Quốc Hội của các nước khác. Xứ Bhutan huyền bí 5 giờ rưỡi 30 chiều hôm đó, Đoàn được mời xuống hội trường của khách sạn xem trình diễn văn nghệ cổ truyền Bhutan. Diễn viên trang phục đẹp. Nữ diễn viên ăn mặc kín đáo, ca, hát, múa thật nhẹ nhàng. Nhạc cụ dân tộc cũng tương tợ như nhạc cụ các nước Triều Tiên, Trung Hoa, Nhựt Bổn, Việt Nam. Âm nhạc ngũ cung, êm dịu chớ không quá ồn ào, cuồng loạn như loại nhạc “xập xình” của các nước Âu, Mỹ... Không có nhảy nhót tưng bừng, la hét om sòm, không có “múa minh họa” vô duyên! Khán giả thấy vui và thoải mái. Đoàn văn nghệ có bán DVD, hầu như mỗi người trong Đoàn đều mua một dĩa, giá 20 USD. Ngày 12/12/2011 thứ Hai. Buổi sáng, đoàn đến viếng một ngôi tháp do Hoàng Thái Hậu mới xây. Các công trình của vua A Dục thực hiện từ hơn hai ngàn năm trăm năm nay lại được tiếp nối. Sau đó, Đoàn tới viếng một cảnh chùa Tây Tạng, trong lúc hàng trăm vị tăng đang hành lễ trong tiếng nhạc Tây Tạng. Đoàn ngồi dự lễ trong 15 phút, rồi đi quanh Bảo Điện trang trí đầy màu sắc rực rỡ theo phong cách Tây Tạng. Giữa Bảo Điện có tượng Phật Thích Ca rất lớn, có Ngài A Nan và Ngài Ma Ha Ca Diếp đứng hầu hai bên. Lại có hai hàng tượng cao cỡ 2 mét rưỡi, thờ 10 vị Đại Đệ Tử của Đức Bổn Sư. Chúng tôi thành kính lễ lạy rồi ra xe. Rời chùa Tây Tạng, Đoàn đi viếng một tượng Phật Thích Ca thật lớn trên núi. Xe chạy vòng vèo lên đèo, một bên là vách núi, một bên là vực sâu, rất hiểm trở. Nhìn xuống thung lũng thấy nhà cửa chi chít, kiến trúc một kiểu giống nhau, trông rất vui mắt. Có những dòng suối nước trong chảy giữa các thung lũng, rất nên thơ. Lên tới nơi, mới thấy tượng Phật này bằng đồng, lớn lắm. Nghe nói từ chân bệ tới đỉnh đầu Đức Phật đo được 69 mét. Tượng Phật ngồi trên một bệ thật rộng, bên trong bệ vừa có bàn thờ Phật, vừa làm hội trường. Tượng chưa khánh thành nên khách hành hương chưa được vào bên trong. Nghe nói có một vị tăng tìm thấy vị trí rất tốt nên đã đi các nơi, vận động tài chánh để xây tượng Phật trên núi. Một tỷ phú người Hoa ở Singapore phát tâm cúng dường cho đủ 80% chi phí. Chánh phủ Bhutan đảm trách phần còn lại, chủ yếu là xây một con đường từ dưới thung lũng lên núi, xe đã bò lên lúc nãy. Lúc Đoàn chúng tôi lên tới nơi thì công nhân đang đập đá, làm một sân rộng dưới tượng Phật để làm chỗ đậu xe. Ước lượng sân rộng cả mẫu Tây, rất bằng phẳng. Chiều hôm đó, Đoàn đến Bhutan National Library. Sách bằng tiếng Anh rất ít. Trong Đoàn không có ai đọc được chữ Bhutan, chữ Népal, chữ Ấn Độ, coi như bị mù chữ hết thảy! Đặc biệt, có một phòng lưu trữ sách cổ, từng cuốn được gói trong một tấm lụa đẹp. Người Bhutan sống đơn giản. Chúng tôi không thấy bảng “Cấm hút thuốc” trên xe bus, trong nhà hàng hay ở các nơi công cộng, vì không có ai hút thuốc? Tuy nhiên, trong các khách sạn cũng có bán thuốc lá và rượu mạnh cho khách du lịch. Nước Bhutan không có lò sát sinh. Người Bhutan theo Phật Giáo, không giết thú vật để ăn thịt, trừ những trường hợp hiếm hoi. Thức ăn làm
  • 49. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 149 từ thịt được nhập từ Ấn Độ, Népal. Lương thực, rau cải, trái cây sản xuất dư dùng. Bột phấn talc, gỗ, trái cây bán ra nước ngoài để thu ngoại tệ, cùng với kỹ nghệ du lịch bắt đầu phát triển. Lể hội văn hóa Bhutan Bhutan là một nước còn nghèo. Để so sánh mức giàu nghèo của các nước, các nhà kinh tế thường căn cứ vào chỉ số GDP (Gross Domestic Product, tức là Tổng Sản Phẩm Nội Địa tính theo đầu người). GDP của Bhutan năm 1995 chỉ có USD 1.260, khá hơn nhiều nước ở Phi Châu. Nhưng một học giả người Bhutan đã đề xuất một cách so sánh khác: tính chỉ số GNH: Gross National Happiness, tạm dịch là Chỉ Số Hạnh Phúc Quốc Dân, căn cứ vào các yếu tố sau đây : Trong 1.000 dân thì có bao nhiêu người mù chữ, người thất nghiệp, người không có nhà cửa phải ngủ ngoài đường, người đang ở trong tù, người tàn tật, người mắc bịnh tâm thần, người nghiện rượu, người phải uống thuốc an thần mỗi ngày, người tự tử mỗi năm, người bị bắn, giết mỗi năm, bao nhiêu trẻ mồ côi, v.v...? Trong 100 đám cưới thì có bao nhiêu cặp sẽ ly dị? Trong nước có chiến tranh, nội chiến, nguy cơ khủng bố? Nguy cơ động đất, sóng thần, hạn hán, đói kém, lụt lội, bão tố, ...? v.v... Nếu tính theo cách này thì Bhutan là một trong những nước có chỉ số GNH cao, còn siêu cường quốc Hoa Kỳ có thể có chỉ số GNH thấp hơn nhiều! Dẫu sao, chỉ mới đến Bhutan có mấy ngày mà riêng tôi đã rất có cảm tình với đất nước và con người Bhutan. Nguyện sao cho ông bành trướng Trung Quốc đừng dòm ngó tới mảnh đất Bhutan an lành, hạnh phúc này... Paro - New Delhi Ngày 13/12/2011, thứ Ba. Ở Bhutan lạnh quá, ai cũng mong trở về New Delhi ấm hơn. Mới 6 giờ 30 sáng, xe bus đưa Đoàn tới phi trường Paro ở dưới thung lũng. Cũng đi máy bay nhỏ, hai chong chóng. Từ Paro, phi cơ bay trên độ cao 10.000 mét. Loa trên phi cơ cho hay nhiệt độ bên ngoài là 47 độ âm (-47oC ). Bay dọc theo dãy núi Hymalaya, tuyết phủ một màu trắng xóa, quá đẹp. Loa cho biết tên các đỉnh núi cao, đặc biệt giới thiệu ngọn Everest cao nhứt hoàn cầu: 8.846 mét. Everest là mục tiêu lý tưởng của những nhà leo núi. Nhiều người đã lên được tới đỉnh. Nhiều người khác bị sa chân rớt xuống hố sâu, không lấy xác lên được, đành bỏ cho băng tuyết vùi lấp, cho tới nay thây cũng còn nguyên, không sình thúi. Biết đâu vài trăm năm sau, khoa học tiến bộ, người ta có thể trục xác lên và làm cho những nạn nhân đó sống lại? Mong thay! Chuyến bay từ Paro về New Delhi dọc theo dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ là chuyến bay thú vị nhứt của tôi từ trước tới nay. Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ New Delhi – Bangkok – Sydney – Darwin Thai Airways phục vụ rất tốt. Tiếp viên ăn mặc đẹp, lễ phép, chấp tay vái chào, cám ơn khách mỗi khi lên, xuống máy bay. Thức ăn chay, lại hạp khẩu vị, ai nấy đều hài lòng. Tới phi trường Bangkok, Đoàn được nghỉ khoảng một tiếng đồng hồ, rồi lên máy bay, cũng của Thai Airways, bay thẳng về Sydney. Chúng tôi chia tay ở đây. Chuyến hành hương Ấn Độ, Népal, Bhutan kỳ thú mãi lưu lại trong tôi kỷ niệm tuyệt vời dưới chân núi tuyết... Viết xong ngày 20/04/2012 Tiền Vĩnh Lạc T.B: Suốt cuộc hành hương, tôi ghi trong một cuốn sổ nhỏ những điều tôi nghe ba chớp ba nhoáng trên xe, chắc có ít nhiều chỗ lầm lẫn, bà con cô bác có thấy xin vui lòng lượng thứ. Tôi thành thật cám ơn quý vị. TVL
  • 50. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 150 Lời giới thiệu về Tác Giả: Cùng làng quê với Soạn giả lão thành Viễn Châu, Trương thái Hòa, sinh trưởng tại xã Đôn Châu, quận Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Vượt biên năm 1985 và định cư tại thành phố Vancouver, BC, Canada. Bài vọng cổ Cô Bán Hàng Bông, Tác giả viết cách đây khoảng 2 tháng và gỡi về cho soạn giả Viễn Châu để nhuận sắc. Được soạn giả Viễn Châu khen hay, bài nầy Tác giả có nhắc một số địa danh của tỉnh Trà Vinh, còn bài Hương Tình Phụ TG mới viết, khen gà nhà Trai Trà Vinh đẹp, Anh Hoà nhã ý gởi ĐSTV chọn đăng trước, sau đó Anh sẽ gỡi cho các báo khác. Trương Thái Hòa thường xuyên viết bài đăng trên web site Hoa Lan Việt Nam (hoalanvietnam.org), chủ đề đặt tên cho các loài hoa lan quý hiếm, tháng nầy web site HLVN có đăng bài vọng cổ của Anh, tựa Tình Hoa Lan. Phone của Tác Giả: nhà 604 259 8790, cel 778 855 2133. Tác giả: Trương Thái Hòa. Nói lối: Xe lăn bánh hướng về miền Tây sông nước. Hương lúa đòng đòng thơm ngát bay xa. Xe dừng bánh nơi thị trấn Cái Bè. Cô bán hàng bông tươi cười đón khách. CA VỌNG CỔ: 1- Em bán hàng bông trông chờ khách đến, mua hộ giùm em một mớ... cam sành, Cam ngọt quít ngon hương vị của Cái Bè, em bán hàng bông nhưng cửa tình em khép lại, để chờ người viễn xứ tha hương; mười tám năm trời biền biệt nhớ thương, người ra đi nhưng em vẫn đợi chờ. mái tóc bây giờ điểm bạc gió sương, má đỏ môi hồng đã tàn phai theo năm tháng. 2- Cây bưởi sau nhà đã mấy mùa đôm bông kết trái là bấy lâu em vẫn đợi anh về, ngõ trước hàng cau em buột chặt với dây trầu, dàn bầu kia em trồng chung với dây bí, hoa trắng hoa vàng như tình bạn lứa đôi; chút hương xưa em còn giử mãi, chiếc áo bụi mờ em cất kỷ trong rương, ly rượu tân hôn em chưa uống cạn, giọt lệ tình sao cứ mãi tuôn rơi. 3- cây cầu yêu đã mấy mùa gẩy nhịp người tình xưa chưa dịp bắc qua sông, cơn bảo tình đi qua đời con gái, để gió đông về thổi lạnh trái tim côi. cây so đủa trổ bông vào mùa gió chướng, rạng trâm bầu rợp bóng lối mòn xưa; lấy trang giấy em định viết mấy dòng thơ nhưng chỉ ngại thơ tình không đến, sương khuya thấm lạnh vai gầy, tiếng gà gáy sáng trăng treo trên cành. Cô bán hàng bông tươi cười đón khách. Nói lối: Ánh trăng lên cao khỏi hàng so đủa. Tiếng dế kêu văng vẵng giửa đêm khuya. Thôn xóm chìm đắm dưới ánh trăng vàng Lòng thổn thức mơ màng trong đêm vắng. CA VỌNG CỔ. 5- em gánh cam sành trên con đường đê lối mòn ra chợ, sông Tiền giang lấp lánh dưới
  • 51. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 151 ánh... trăng vàng. nước bạc phù sa tuôn chảy ra đồng. Cái Bè quê hương hai mùa mưa nắng, quả cam sành hương ngọt của tình quê; chuyến xe về Rạch Miễu Bến Tre, lối rẽ qua Trà Vinh miền quê hương em đó. Đôn Châu đất cũ người xưa, Ngã Ba Long Hiệp Phước Hưng Chợ Giồng. 6- Cây đa đầu làng sầu ai cây đỗ lá, hay cây sầu đời muốn về thế giới cùng trăng, con sáo bay xa sáo quay về tổ, người không thương người tội lắm người ơi, gió mùa đông gió luồn qua kẻ vách, ngọn đèn dầu hiu hắt lúc canh khuya, chiếc áo rách vai em ngồi khâu vá, nhưng em không biết làm sao vá mối tình đầu; Em đây bán trái cam sành. Tình riêng cất giử để dành cho anh. Dầu cho vật đổi sao vời. Lòng em vẫn mãi một đời thủy chung. Tác giả: Trương Thái Hòa. Ngâm Thơ Em đi để lại tình cay đắng. Khoảng trống tình riêng thiếu vắng ai. Làm sao quên được người tình củ. Để khỏi hồn đau tim nghẹn ngào. Ca Vọng Cổ. 1- Tôi khép mình để nhìn chiếc phi cơ cất cánh, chở người yêu về nơi xa lạ tình đôi ta theo làn khói… xa vần. kẻ ở người đi không nói ra lời , nhìn chiếc phi cơ khuất vần trông tầm mắt tim ngẹn ngào dòng lệ tuôn rơi; xuân về ai nấy rộn rả niềm vui còn tôi thì âm thầm điếm bước, anh đã mất đi mộng ước ban đầu, tiếng nói nụ cười với làn môi hồng má đỏ. 2- Trái tim ơi hảy qên đi duyên tình củ nhưng tim nầy cứ mãi rung động với mối tình đầu, nay tôi chỉ còn làm bạn với cây đàn, đêm nay dưới ánh trăng vàng giọt lệ hai hàng tôi dạo lên bản đoạn tình ca; tình theo làn gió bay xa, làm tôi nhớ mãi đôi ta ngày nào, em đi để lại nổi buồn vô tận, ngôn ngữ tình đánh mất kể từ đây. ( Lý Con Sáo và Trăng Thu Dạ khúc ) Em... ra đi Gió thoảng hương tình bay xa Chuyện mình một thoáng đi qua Tim đau buốt nghẹn ngào Người đi bỏ lại mối tình đầu Con thuyền rời xa bến sông thương, Sao vấn vương khổ đau lòng riêng. Chiều tà nhìn xa khói sương mãi đứng đây quên đi hoàng hôn. Ca Vọng Cổ. 5- Mộng sắt cầm kể từ đây không còn nữa, kiệu cưới xe hoa trở thành mơ ước.. xa vời, còn lại giấc chiêm bao của kẻ tình sầu, mình không lỗi hẹn nhưng tại vì nghèo, nên chiếc thuyền đành rời bến đi xa; Tình theo ảo giác phù hoa, Để cơn bảo táp đi qua đời người, Suối kia tuôn chảy từ nguồn, Người đi kẻ ở lệ tuôn dâng trào. 6- Hò hơ... trai nào đẹp bằng trai Trà Vinh sông Cữu, gái nào lam lũ cho bằng gái Bến Tre, ai qua Bến Lức Thị Nghè cho xin nhắn gỡi, hò hơ... cho xin nhắn gỡi đôi lời nhớ thương, đường Thanh Lệ hàng me xanh rợp bóng, xóm Tri Tân cây Phượng Vĩ vẫn đôm bông, rẩy bắp Đầu Bờ đã trổ cờ khoe trái sao cô gái năm xưa biền biệt không về; làm sao cất được hương tình, lâu lâu tôi mỡ ngưỡi mùi hương xưa, Thuyền rời bến đổ đi xa, Bến thương vẫn đợi lòng ta u buồn. Trương Thái Hòa
  • 52. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 152 Tiền Lạc Quan Trong muông thú, có lẽ ngựa đã được thuần hóa sớm nhất, cách đây hơn 5,500 năm, và là loài thú phục vụ con người đắc lực nhất trong mọi sinh hoạt. Hầu như dân tộc nào, quốc gia nào cũng dùng ngựa. Người ta khai thác đặc tính chạy nhanh, sức kéo, sức dẽo dai, bền bỉ của ngựa để dùng ngựa chủ yếu trong việc di chuyển và chuyên chở trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày, cũng như trong chinh chiến. Ngựa còn được dùng trong các môn chơi thể thao như cưỡi ngựa, đua ngựa, ... Immortal Horses Ngựa trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày Trong số những loài thú được dùng để cưỡi và kéo xe như bò, trâu, dê, chó (kéo những xe trợt tuyết), lạc đà (ở những vùng sa mạc), v.v..., có lẽ con ngựa là loài thú được sử dụng chủ yếu trong việc di chuyển và chuyên chở từ ngàn xưa cho đến ngày nay (và có lẽ mãi về sau) ở hầu hết các nơi trên thế giới. Người ta cưỡi ngựa để di chuyển nhanh hơn, dùng ngựa để chuyên chở được nhiều hàng hóa, vật dụng hơn, cũng như dùng ngựa để kéo xe, chở được nhiều người hoặc nhiều hàng hóa, đồ đạc cùng một lúc. Hình ảnh con ngựa và các loại xe do ngựa kéo đều có thể được tìm thấy trong nhiều truyện tích, truyền thuyết, văn chương, ... của hầu hết các dân tộc thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Trong Truyện Thần Thoại Hy Lạp, rất nhiều vị thần được mô tả là mang thân hình ngựa gọi là “Immortal Horses” (xin tạm dịch là “Ngựa Thần Bất Tử”). Một số các vị Thần này có nhiệm vụ kéo xe (chariot) cho những vị Thần khác. Thí dụ Ngựa Bay Pegasos và Pegasoi là những “Ngựa Thần Bất Tử” mang thân hình ngựa có thêm hai cánh trên lưng; xe vào ngày 23 tháng Chạp mỗi năm. Việc di chuyển, đi lại trên Thiên Đình cũng phải dùng ngựa. Tôn Ngộ Không hồi ở trên Thiên Đình làm chức giữ ngựa, nhiệm vụ cũng tương tự như quản lý, điều hành, “service”xe cộ (fleet) của một cơ quan hay công ty ngày nay. Do truyện tích này mà thuở trước ở Việt Nam, ở các chuồng ngựa người ta thường nuôi một con khỉ, tin rằng khỉ sẽ trông chừng ngựa, giữ cho ngựa luôn mạnh khỏe, không bị bệnh hoạn thình lình, ... Có nhiều loại xe ngựa, có thể do một hay nhiều con ngựa kéo. Ở Việt Nam không hiểu vì sao mà xe do một con ngựa kéo, thường để chở hành khách được gọi là “xe thổ mộ”. Các xe do hai con ngựa kéo được gọi là xe song mã, xe do bốn con ngựa kéo là xe tứ mã, ... Xe do ngựa kéo nói chung chỉ gọi nôm na là “xe ngựa” chớ không dùng tiếng Hán Việt là “mã xa”. Sau này, người ta còn dùng từ ngữ “ngựa” như những tiếng lóng, thí dụ “ngựa sắt” để chỉ chiếc xe đạp (khi xưa gọi là “xe máy”), “ngựa già” chỉ những chiếc xe đạp hay xe gắn máy hai bánh cũ kỹ... vì người ta cưỡi những chiếc xe hai bánh này giống như cưỡi ngựa. Ngựa phi đường xa
  • 53. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 153 Khi máy hơi nước và động cơ nổ được phát minh, và sau đó xe hơi được sản xuất, các từ ngữ mới xuất hiện. Đơn vị đo lường sức kéo của các máy chạy bằng hơi nước, động cơ nổ, hay xe cộ, máy móc, … là “sức ngựa” hay “mã lực”, tiếng Anh “horsepower” (hp), tiếng Pháp “cheval vapeur” (cv). Một “mã lực”tương đương 750 Watts. Xe có động cơ 2 mã lực gọi là xe hai ngựa, không thể gọi là “xe song mã” được. Thí dụ xe Citroën 2CV của Pháp sản xuất từ năm 1948 – 1990 được gọi tắt là xe “deux chevaux” vì có động cơ 2cv (deux chevaux-vapeur). Có người nói chơi rằng lái xe hơi còn dễ hơn đánh xe ngựa, vì điều khiển xe hơi, bấm nút nào thì máy xe chạy thế ấy, còn đánh xe ngựa thì con ngựa có thể muốn “chứng” lúc nào cũng được, không chịu chạy thì rắc rối! Nhưng “ngựa chứng là ngựa hay” Trong đời sống hằng ngày có nhiều vật dụng hình dáng giống con ngựa nên cũng được gọi là “ngựa”, như bộ ngựa hay bộ ván ngựa trong các nhà ở làng quê (có nhiều loại: ngựa giữa là bộ ván kê ở giữa căn nhà 3 gian, ngựa bên dành cho hương chức không được kê ở giữa nhà, ngựa gõ: bộ ván bằng cây gõ hay cây gụ), cái ngựa: cái bàn dùng để xắt thuốc rê, có lẽ cũng tương tự như chân kê bộ ván ngựa, bây giờ không còn ai dùng. Có những vật dụng có hình dạng như những bộ phận trên thân thể ngựa hay đồ dùng cho ngựa, thí dụ như vành móng ngựa trong tòa có hình chữ U như cái móng ngựa. Đứng trước vành móng ngựa là bị “khởi tố” coi như “khổ tới” rồi! Ở Âu Châu, người ta tin rằng khi đi đường lượm được một cái móng ngựa (horseshoe, fer à cheval) là một điềm hên, nếu móng ngựa còn dính những cây đinh thì còn hên nhiều hơn nữa! Do đó cái móng ngựa là một “Porte- bonneur” của người Tây phương, đem về treo trước nhà để “lấy hên” và có thể xua đuổi được ma quỷ. Về màu sắc thì có màu cứt ngựa, không có màu “phân ngựa”. Tóc thì có “pony tail” (tóc đuôi ngựa), nhưng tiếng Việt người ta nói “tóc đuôi gà”: Chị kia bới tóc đuôi gà… “Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương ăn nói mặn mà có duyên” hay: “Con bé nhà kia nó lấy ai? Thưa rằng nó lấy chú Hai Mai. Đuôi gà cô ả coi xinh gái. Trứng cá anh chàng cũng đẹp trai.”(Tú Xương), chớ không nói “tóc đuôi ngựa” hay “tóc đuôi lừa” (để gieo vần bằng ở cuối câu!): “Một thương tóc bỏ đuôi lừa”! (Tóc đuôi gà: đầu tóc bới còn chừa phần đuôi thả ngọn giỏng lên; Tóc đuôi ngựa: không bới, mà cột tụm lại như đuôi ngựa, vòng ra sau) Lại cũng có những loài động vật và thực vật có hình dạng giống như những bộ phận trong thân thể ngựa hay móng ngựa, như cây mã đề lá giống hình móng ngựa, cây dái ngựa trái giống như cái ... dái con ngựa, cây mã tiền, cây ké đầu ngựa, con sam tiếng Anh là horseshoe crab vì giống hình cái móng ngựa, con cá ngựa (seahorse) đầu giống y như đầu ngựa, v.v... Quân Cờ Tướng
  • 54. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 154 Ngựa trong chinh chiến Bàn cờ tướng tàu có lẽ đã có từ thời Đế Thích và cờ vua (chess – còn gọi là “cờ quốc tế”) được biết đã có từ Thế Kỷ thứ 6. Trong các bàn cờ này đều có hai quân “Mã” hoặc “Knight”. Điều này cho thấy từ rất xa xưa người ta đã dùng ngựa trong chinh chiến. Một điều trùng hợp thú vị là vị trí quân “Mã” và quân “Knight” trên hai loại bàn cờ như nhau: sắp ở hàng thứ nhất, vị trí thứ hai sau quân “Xa” hoặc quân “Rook”, đối xứng ở hai bên bàn cờ, nước đi đều xéo theo hình chữ nhật, và “ăn” quân cờ đối thủ tương tự như nhau; nhưng trong cờ tướng Tàu, quân “Mã” có thể bị một quân khác nằm giữa “cản đầu ngựa”, trong khi trong cờ vua, quân “Knight” không bị “cản đầu ngựa”. Quân cờ vua Có thể nói vai trò của ngựa rất quan trọng trong lịch sử chiến tranh của loài người. Có lẽ ngựa đã được sử dụng trong chiến tranh giữa các bộ lạc ở khắp nơi trên thế giới từ thời đại đồ đồng khoảng hơn 3,000 năm trước Tây Lịch. Trong tiếng Việt có rất nhiều từ ngữ và thành ngữ về ngựa dùng trong chiến chinh, như chiến mã: ngựa chiến, binh mã, kỵ binh hay quân kỵ là binh chủng cưỡi ngựa, “chiêu binh mãi mã”, “đơn thân độc mã”: “một mình một ngựa”, “anh hùng mã thượng”, v.v... Nói đến kỵ binh phải kể đến vó ngựa của quân Mông Cổ hùng mạnh và dân tộc Mông Cổ có tài cưỡi ngựa rất giỏi. Con Ngựa Thành Troy Vào khoảng Thế Kỷ thứ 12 trước Công Nguyên, quân Hy Lạp đánh chiếm được Thành Troy, kết thúc cuộc chiến "Trojan War" kéo dài hơn 10 năm nhờ đóng một con ngựa gỗ khổng lồ gọi là “Trojan Horse”, giấu binh sĩ trong bụng ngựa, ban đêm chun ra để nội công ngoại kích. Truyền thuyết này đã được ghi lại trong Văn Học Hy Lạp qua hai tác phẩm bằng thơ Iliad và Odyssey của Homer. Thành ngữ “Da ngựa bọc thây” cũng nói lên sự hy sinh của loài ngựa trong chiến tranh thuở xưa. Ở hầu hết các thành phố lớn trên thế giới, nhất là các thành phố ở các nước Âu Châu, có nhiều tượng đài các vị tướng lãnh và những vị anh hùng đã từng xông pha trận mạc và có công trạng với đất nước, dân tộc, hầu hết các tượng đều cưỡi ngựa. Có giả thiết cho rằng tư thế của tượng con ngựa có liên quan đến số phận – tức nguyên nhân qua đời của vị anh hùng hay tướng lãnh được tạc tượng: - Ngựa hỏng cả hai chân trước: vị anh hùng hay vị tướng lãnh tử trận, hy sinh ngoài mặt trận. - Ngựa chỉ có một chân hỏng mặt đất: vị anh hùng hay tướng lãnh bị thương ngoài mặt trận, khi về mới qua đời vì bị thương tích nặng. - Nếu cả bốn chân ngựa đều chạm mặt đất: vị tướng này đã qua đời tự nhiên vì già yếu hay vì bệnh chớ không tử thương vì chiến trận. Tượng Trần Nguyên Hãn gảy một chân (ảnh chụp cuối tháng 7/2013) Tuy nhiên điều này cũng chưa được xác định chính xác và có lẽ chỉ được quy ước ở các nước Âu Châu. Ở Sài Gòn có Tượng Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt cầm roi sắt ở Ngã Sáu và Tượng Trần Nguyên Hãn ở bồn binh trước Chợ Bến Thành (Công Trường Quách Thị Trang), gần đây được biết Tượng đài Trần Nguyên Hãn, tượng con ngựa đã bị gãy một chân sau!
  • 55. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 155 Ngày nay ngựa vẫn còn được sử dụng trong quân đội và những ngành khác như trong ngành cảnh sát, kiểm lâm ... Đại Phá Quân Thanh Ngựa trong các môn chơi thể thao và đánh cá Ở Sài Gòn trước đây có Câu Lạc Bộ cưỡi Ngựa gọi là Hội Kỵ Mã (Cercle Hippique Saïgonnais) gần Vườn Tao Đàn, có nhiều môn thể thao như cưỡi ngựa, đua ngựa, ngựa nhảy rào... Hầu như nước nào cũng có môn đua ngựa và đánh cá ngựa. Ở Sài Gòn có Trường Đua Phú Thọ, bán vé cá ngựa mỗi chiều Chủ Nhật. Ở Úc và Tân Tây Lan có TAB (Totalisator Agency Board) www.tab.com.au, cơ quan quản lý các cuộc đua ngựa và bán vé đánh cá ngựa, báo hằng ngày đều có đăng những cuộc đua ngựa trên toàn quốc, người ta có thể cá ngựa online hay tại các chi nhánh TAB, các câu lạc bộ hay các quán nhậu (pub) ... Tại những nơi này đều có TV thu hình trực tiếp các cuộc đua ngựa. Ngựa đua Người dân Úc rất hâm mộ cuộc đua ngựa chung kết “Melbourne Cup” được tổ chức vào đầu tháng 11 mỗi năm tại Flegmington Racecourse, ngày này gọi là “Melbourne Cup Day”, ở Tiểu Bang Victoria là Public Holiday, người ta bận quần áo đẹp, đội nhiều kiểu mũ kỳ lạ để theo dõi và đánh cá cuộc đua ngựa này. Ở các Tiểu Bang và Lãnh Thổ khác của Úc, tuy ngày “Melbourne Cup” không được nghỉ nhưng người ta cũng tạm ngừng công việc để tổ chức ăn uống nhậu nhẹt, uống Champagne, theo dõi cuộc đua “Melbourne Cup” và đánh cá ngựa. Các Tiểu Bang và Lãnh Thổ này cũng bắt chước tổ chức ngày đua ngựa vòng chung kết, như ở Bắc Úc là ngày Thứ Hai đầu tiên trong tháng 8 gọi là “Picnic Day”, được nghỉ “public holiday” để dân chúng đi coi đua ngựa Darwin Cup, Tiểu Bang Nam Úc có Adelaide Cup Day, Tasmania có Devonport Cup Day, Launceston Cup Day. Ngoài ra còn nhiều môn thể thao có dùng ngựa như Polo, môn cưỡi ngựa đánh banh bằng gậy. Bầy ngựa Ngựa trong Văn Học và một số thành ngữ, tục ngữ, ca dao về ngựa - Nói về ngôn ngữ, Văn Học, hầu như trong tất cả các ngôn ngữ đều có rất nhiều từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ về ngựa. Hình ảnh con ngựa cũng được tìm thấy trong văn chương, truyện tích của hầu hết các dân tộc trên thế giới. Trong tiếng Việt, có rất nhiều từ ngữ, thành ngữ và tục ngữ liên quan đến việc sử dụng ngựa để di chuyển và chuyên chở, trong đời sống hằng ngày cũng như trong chinh chiến. - Nói về màu sắc của ngựa, có nhiều từ ngữ chỉ màu sắc của lông ngựa, như ngựa bạch hay bạch mã là ngựa có lông màu trắng, ngựa kim có bộ lông trắng mốc, có câu đối: “Ngựa kim ăn cỏ chỉ; Chó vá cắn thợ may”, ngựa đạm có lông màu vàng lợt, ngựa séo lông xám đỏ, ngựa tía lông đỏ hun, v.v... Riêng ngựa ô có bộ lông màu đen, có lẽ được dành riêng đặc biệt để “đưa nàng về dinh”, như bài dân ca Lý Ngựa Ô đã "mách"! Ngựa ô có lẽ trùng hợp với các loại xe hơi sang trọng thuở trước, đều sơn màu đen bóng dùng để đưa đón mấy bà đầm(!?). - Về động từ "chạy", có lẽ trong tất cả các loài thú, chỉ có con ngựa là có nhiều động từ dùng để diễn tả những cách chạy, như: ngựa kiệu, ngựa phi
  • 56. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 156 nước kiệu, ngựa phi nước đại, ngựa sải, ngựa tế... như lời hát “ngựa phi, ngựa phi đường xa, tiến lên đường cát trắng, trắng xóa...” trong bài Ngựa phi đường xa của Lê Yên, hay trong câu ca dao: “Rồng chầu ngoài Huế, “Ngựa tế Đồng Nai, “Nước sông trong chảy lộn nước sông ngoài, “Thương người xa xứ lạc loài tới đây. - Nói về sự nhanh nhẹn, mau chóng, người ta cũng ví với ngựa chạy, thí dụ những câu châm ngôn như “Một lời đã hứa, ngựa tứ khó theo”, “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” – ngựa đã nhanh rồi mà lời nói ra còn truyền lan nhanh hơn nữa!.., những câu ví như “Nhanh như ngựa chạy trạm”, “Tâm viên ý mã” ví lòng người không bao giờ yên định như con vượn hay nhảy nhót không bao giờ ngồi yên một chỗ, cũng như ý tưởng của con người luôn thay đổi, ý tưởng vừa nảy ra lại biến mất, luôn thay đổi bởi những ý tưởng khác thật nhanh. Bị "quất ngựa truy phong" thì coi như không thể nào đuổi theo kịp! ... - Nói về thời gian, người ta ví thời gian qua rất nhanh như ngựa chạy: “Ngựa qua cửa sổ” hay “Bóng câu qua cửa sổ”, “ngựa cửa sổ, kiến đầu cành”...Trong Văn Học có nhiều văn thơ lấy ý này: “Người đời dường ngựa qua song “Xuân qua thu lại, má hồng dễ phai ... (Nguyễn Hữu Hào, Truyện Song Tinh) “Ngựa qua cửa sổ bao lâu “Kịp toan kiếm chốn bán sầu mua vui - Nhiều thành ngữ và nhiều câu thơ văn trong Văn Học Việt Nam mô tả cảnh sinh hoạt hằng ngày thời xưa, khi ngựa được sử dụng để di chuyển và chuyên chở trong đời sống hằng ngày như trong Truyện Kiều có câu “Ngựa xe như nước áo quần như nêm”, Bà Huyện Thanh Quan có câu“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”, tưởng nghĩ đến người xưa không còn nữa nhưng dấu vết ngựa xe vẫn còn như trong thành ngữ “Mã tích xa trần”. “Ngựa anh đi trước võng nàng theo sau” tả cảnh “vinh quy bái tổ”, vừa đỗ Trạng Nguyên được cưỡi ngựa thật là vinh dự, sang cả. Mặc dù ngày nay ngựa không còn được dùng làm phương tiện di chuyển và vận chuyển chủ yếu, nhất là trong các thành phố lớn, nhưng nhiều thành ngữ vẫn được dùng để chỉ những sinh hoạt này, như “chốn ngựa xe” tức chốn thị thành đông đúc, “lên xe xuống ngựa” nói đến những tầng lớp quý phái, sang cả, giàu có. Con Ngựa rất hữu ích và có nhiều “công trạng” đối với loài người, nên trong Lục súc tranh công con Ngựa đã kể công của mình và khinh khi năm loài thú nuôi kia: “Thú như tao ai dám phen lê “Tao đã từng đi quán về quê “Đã ghe trận đánh Nam dẹp Bắc “Mỏi gối nưng phò xã tắc “Mòn lưng cúi đội vương công” “Ngày ngày chầu chực sân rồng “Bữa bữa dựa kề loan giá “Ông Cao Tổ năm năm thượng mã “Mới dựng lên cơ nghiệp Lưu gia “Ông Quan Công sáu ải thoát qua “Vì cậy có Thanh Long Xích Thố “Đã nhiều phen ngăn thành thủ phủ “Lại ghe phen đột pháo, xung tên “Đường xa xôi ngàn dặm quan san “Ngựa phi đệ một giờ liền thấu “Các chú được ăn no nằm ngủ “Bởi vì ta cần cán giữ gìn “Khắn khắn lo nhà trị nước yên “Chốn chốn đặng nông bô lạc nghiệp Các chú những nằm trong xó bếp, Tài các ngươi ở chốn quê mùa. Đừng đừng buông lời nói khật khù Bớt bớt thói chê bai giớn giác, “Nếu ta chẳng trông lo việc nước “Giặc đến nhà ai để chúng bây Lục súc tranh công - Ngựa là tài sản quý giá cho nên có tục ngữ “Tái Ông mất ngựa”, sao không nói “Tái Ông mất trâu”? Khi xưa trâu dùng để cày ruộng cũng là tài sản quý giá vậy! Thí dụ có những câu như “Nhịn thuốc mua trâu, nhịn trầu mua ruộng” ... - Nói về sự đoàn kết, có các tục ngữ như “Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn”, “Một con ngựa đau, cả tầu không ăn cỏ” ... - Nói về sự khôn ngoan của loài ngựa, có thể kể một số thành ngữ như “Ngựa quen đường cũ”, “ngựa Hồ chim Việt” hay câu đối “Hồ mã tê Bắc phong ; Việt điểu sào Nam chi”, ý nói về nỗi nhớ quê hương.
  • 57. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 157 Trong Quốc-Văn Giáo-Khoa Thư cũng có bài nói về sự khôn ngoan của ngựa. Xin trích nguyên văn: Con ngựa khôn ngoan (bài 45) Một người Mường cứ mỗi tháng hai phiên đem các đồ vật ra chợ bán. Người ấy cưỡi ngựa, hai bên mình ngựa đeo hai cái giỏ đựng hàng, đàng trước cổ đeo một cái bị, hễ bán được đồng tiền nào lại bỏ ngay vào đấy. Một hôm, người Mường đi qua nhà kia, bán được ít mộc nhĩ (nấm mèo), rồi nhảy lên mình ngựa đi, nhưng thúc thế nào con ngựa cũng không chịu đi. Người ấy lại phải nhảy xuống, để xem con ngựa làm sao. Khi nhìn đến cái bị thì sực nhớ ngay lại rằng bán mộc nhĩ quên chưa lấy tiền. Chắc con ngựa biết thế vì nó chưa nghe thấy tiếng tiền bạc bỏ vào bị. Quả nhiên, lúc đòi tiền bỏ vào bị rồi, thì con ngựa lại rảo bước đi ngay. Thế nó có khôn ngoan không? (Quốc-Văn Giáo-Khoa Thư, Lớp Sơ Đẳng – Rectorat de 1948 L’université Indochinoise) Người Mường cởi Ngựa đi bán hàng Loài ngựa rất quý giá, hữu ích và có nhiều công trạng đối với loài người như vậy mà tội nghiệp thay! Trong nhiều ngôn ngữ, kể cả trong tiếng Việt, người ta dùng từ ngữ “ngựa” và những từ ngữ chỉ bà con dòng họ của ngựa như con la, con lừa để ám chỉ những đặc tính xấu xa hay không mấy tốt của con người. Thí dụ “đầu trâu mặt ngựa” hay “ngưu đầu mã diện” chỉ “bọn quỷ sứ, cô hồn các đảng”. Nhiều tiếng chửi bới, mắng nhiếc dùng chữ “ngựa”, như “đĩ ngựa”, “ngựa bà” là tiếng gọi miệt thị một người đàn bà không đứng đắn, động từ “ngựa” có nghĩa là đi rong, thường dành cho đàn bà, ... Con la bị coi là bướng bỉnh, lì lợm, ngu ngốc: “ngu như lừa”, “lư minh khuyển phệ” (lừa kêu chó sủa), chỉ văn chương chữ nghĩa dở không ra gì cả. Tiếng Anh và Pháp có nhiều thành ngữ như “stubborn like a mule”, “Âne bâté”, “l’âne flatte l’âne”, “l’âne vêtu de la peau de lion” (lừa mang da sư tử), tương tự như thành ngữ “Cáo mượn oai hùm” hay “Hồ giả hổ uy”, “Dương chất hổ bì” (bên ngoài mặc da hổ nhưng thực chất bên trong là con dê)... Trong tiếng Anh cũng có nhiều thành ngữ liên quan đến ngựa như “eat like a horse” nghĩa là ăn rất nhiều, tương tự như “Nam thực như hổ”, ngược lại là “eat like a bird” tương tự như “Nữ thực như miêu”. Mã đáo thành công ( nguồn: internet) Trong tiếng Việt cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác, còn rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao, điển tích... có liên quan đến ngựa, không thể nào chép hết được, vậy để tạm kết thúc bài viết, tôi xin chép một vài câu ca dao liên quan đến ngựa và xin chúc tất cả quý độc giả năm mới đều được “Mã đáo thành công”. “Đùng đùng ngựa chạy qua truông “Mảng mê con đĩ luông tuồng bỏ em. “Con ngựa đi Bắc về Nam, “Mạnh ăn nên phải mạnh làm mạnh lo. “Ngựa chạy đường dài, ngựa dông đuôi phướn “Ngựa chạy đường chẹt, ngựa uốn đuôi rồng. “Ngựa hay nào sợ đường dài “Em không học thói bất tài, bội phu. Tiền Lạc Quan
  • 58. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 158 Hạt CHIA Một thức ăn quí giá trong tương lai BS Truờng Xuân Gần đây hạt Chia cũng đuợc phổ biến trên chương trình Oprah bởi BS tim mạch Mehmet Oz và BS Andrew Weil chuyên về tuổi thọ cũng khen ngợi hạt Chia là một môn thuốc rất tốt để phòng những chứng bệnh nan y hiện nay đang lan tràn ở Mỹ. Vậy thì Chia là gì? Chia là một loại thảo mộc đã đuợc nguời Aztec, Maya thuần hóa từ cả ngàn năm về truớc và đem trồng làm thực phẩm dành riêng cho các chiến si ra trận hoặc phải đi làm công tác ở xa. Salvia hispanica, thường gọi là CHIA Chia có tên khoa học là Salvia Hispaniola thuộc loại Lamiaceae tức cùng loại với các loại thảo mộc dùng làm gia vị như loại húng quế, bạc hà (mint). Hạt Chia rất nhỏ trông như các hạt mè hoặc hạt é (basil). Loại húng quế (Ocimum basilicum) cũng đuợc dùng trong nuớc uống tại các nuớc Đông Nam Á tức là nuớc hạt é (basil seed). Những thí nghiệm sơ khởi cho thấy là hạt Chia khi đuợc pha với nuớc thì có thể nở lớn gấp 12 lần và tạo nên một lớp gel mềm do chất xơ hoà tan (soluble fiber). Nhờ lớp gel, chất đuờng trong bao tử đuợc thấm chậm và đều hơn nên trị số glycemic index thấp giúp tránh đuợc bệnh tiểu đuờng. Nhờ chất gel nên việc biến duỡng của chất đuờng điều hòa hơn và giúp cho việc điều trị bệnh tiểu đuờng tốt hơn và tránh đuợc nạn mập phi. Nhiều nguời sau khi uống một ly nuớc pha 1 muỗng lớn hạt Chia thì không bị đói cả nửa ngày. Nhờ có nhiều chất xơ tan và không tan (soluble và insoluble fiber) nên hạt Chia giúp tránh đuợc nhiều chứng bệnh đuờng ruột, kể cả ung thu ruột già. Về chất đạm protein thì hạt Chia có khá nhiều và dễ tiêu hơn là protein từ thịt ra và giúp cơ thể phục hồi mỏi mệt hoặc sau khi bị thương hay giúp cho phụ nữ có nhiều sữa. Đặc biệt nhất là hạt Chia có nồng độ lipid rất cao, nhất là loại lipid Omega 3, gấp 3 lần những loại hạt khác như hạt gai (flax seed) hay lấy ra từ cá hồi (salmon). Chia cũng có nhiều chất linolein acid, rất quan trọng cho việc biến duỡng của protein và các hormone trong cơ thể. Ngoài ra còn một số khoáng chất quan trọng như calcium, boron và nhiều loại hóa chất gọi là “long chain triglycerides” chống lại bệnh đau tim nhờ bảo vệ các thành mạch máu. Một lợi điểm của hạt Chia là dễ xử dụng. Chỉ cần pha 1 muỗng lớn với nuớc cam, chanh hay sữa đậu nành rồi để lâu khỏang 30 phút thì hạt sẽ nở ra trông giống như nuớc hạt é (Hiện nay chưa có khảo cứu về công dụng của nuớc hạt é nhưng có lẽ cũng có một vài lợi điểm giống như hạt Chia).
  • 59. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 159 Có rất nhiều cách để dùng hạt Chia như rắc trên sà-làch, rắc trên thực phẩm cho trẻ em, pha với yogurt, sherbet hay với bánh ngọt, bánh mì.. Các bác sĩ William Anderson và Wayne Coates (Đại học Arizona) sau khi nghiên cứu tường tận về lịch sử cũng như công dụng của hạt Chia đều công nhận là loại thực phẩm này sẽ là một trong những thức ăn quý giá nhất trong tương lại. Hiện nay các hãng chế biến thực phẩm dinh dưỡng như Akins, GNC cũng đang chế tạo nhiều loại hạt Chia và các loại thỏi năng lượng (energy bar) để bán trên thị truờng cho những nguời quan tâm đến sức khỏe bản thân chống lại những chứng bệnh mãn tính ở Mỹ. Trong khi đó thì tại những bộ lạc da đỏ như Apache, Navajo, Pima… tại Arizona thì tình trạng mập phì đã lên tới mức khủng khiếp ví dụ như bộ lạc Pima có tỷ lệ bị tiểu đuờng cao nhất thế giới với 90 % những nguời trên 50 tuổi bị bệnh. Nguyên do chỉ vì họ đã bị tiêm nhiễm lối ẩm thực quá dư thừa của nếp sống “văn minh” của Mỹ trong thời đại cao kỹ. Bộ lạc Tarahumara nhờ sống biệt lập trong khu vực Copper Canyon trong rặng núi Sierra Madre xa cách với thế giới bên ngoài nên vẫn duy trì nếp sống lành mạnh đã có từ ngàn xua như chạy bộ đuờng truờng và dinh duỡng bằng hạt Chia nên đã tránh đuợc tai họa kể trên..truớc khi họ bị tiêm nhiễm bởi những thói xấu do du khách đem lại! Lịch sử phát hiện hạt “Chia” Năm 1994 đánh dấu một biến cố lạ lùng nhất trong lịch sử thể thao đuờng truờng ở Mỹ. Vào năm đó tại Mỹ có tổ chức giải chạy đua siêu Marathon ( Ultramarathon) gian khổ nhất thế giới tức là giải Leadville 100 tại vùng núi cao nhất của tiểu bang Colorado. Giải này đuợc thành lập vào năm 1982 do nhà thám hiểm Ken Chlouber bày ra để thử thách mức chịu đựng tối đa của con người. Chặng đuờng kéo dài 100 dặm và ở trên cao độ 10,000 bộ và qua nhiều con đèo dốc hết sức nguy hiểm, khó khăn. Chỉ có những thể thao gia có một thể chất cực kỳ dai sức mới có thể tham dự và đuợc yểm trợ bởi một toán chuyên viên đặc biệt nhất với những phuong tiện tối tân. Ngày cả những siêu lực sĩ như Dean Karnazes (nguời thắng giải Ultramarathon 300 dặm tại California ) hoặc Lance Armstrong cũng không chịu nổi sau khi thử thách lần đầu tiên. Nói chung giải Leadville 100 có thể ví như chạy 4 khúc marathon ( 26 dặm) liên tục trong đó 2 khúc chạy trong đêm tối, leo 26 con đèo cao và ở trên một cao độ mà các phi cơ phải đuợc pressurized. Vì thế chỉ những lực si có một thể chất vô cùng sắt thép mới dám tham dự giải Leadville 100 và phần thuởng chẳng có gì ngoài một chiếc thắt lưng bằng bạc mà thôi. Họ chạy Leadville 100 vì lý do yêu chạy bộ ngoài ra không vì một lý do gì khác! Cooper Canyon Marathon t ại Colorado Vào năm 1994, nhà thám hiểm Rick Fisher có sáng kiến mời 5 nguời thổ dân da đỏ thuộc bộ lạc Tarahumara tham dự giải Leadville 100. Những nguời này sống trong rặng núi Sierra Madre occidental sau khi đất
  • 60. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 160 đai của họ bị nguời Mễ và Tây Ban Nha chiếm mất. Ken truớc đó đã sang thám hiểm vùng này và thấy tại đây có một bộ lạc da đỏ vẫn còn sống trong thời kỳ sơ khai và có lệ hay chạy đua đuờng truờng mà không hề mệt mỏi. Ken có sáng kiến mời họ tham dự giải Leadville 100 để so sánh họ với những lực sĩ tài giỏi nhất của nuớc Mỹ. Từ truớc đến nay trong nhiều lần giải nhất đều về tay nữ lực sĩ Ann Treason nhờ đuợc tập luyện vô cùng kỹ luỡng. Nhưng năm 1994 đã có sự xuất hiện của 5 nguời da đỏ từ Mexico, ăn mặc lạ lùng với áo choàng trên vai và chân đi đôi dép râu làm bằng vỏ xe như dép Bình Trị Thiên ! Kết quả là trong 5 giải đầu thì nhóm Tarahumara chiếm 3 và nguời đoạt giải nhất là một nguời Tarahumara đã 55 tuổi, trong khi Ann Treason chiếm hạng nhì. Sau đó những nguời Tarahumara không tham dự Leadville 100 nữa và trở về đời sống bình thuờng. Ký giả Christopher McDougall của hãng AP và chủ biên của tạp chí Men’Health đã sang tận nơi nghiên cứu bí quyết của nguời Tarahumra và ông đã viết lại đời sống bí hiểm của những “siêu nhân” này như thế nào và nhờ thế ông đã tìm ra đuợc một loại thực phẩm sẽ làm đảo lộn phép dinh duỡng tại Mỹ trong những năm tới mà ông viết trong cuốn sách best seller “Born to run”. Hạt CHIA bán trên thị trường Kinh nghiệm bản thân. Bản thân tôi đã dùng hạt Chia trên 2 tháng nay thì thấy hiệu quả tốt: việc đi cầu mỗi buổi sáng khi thức dậy rất nhuận trường, và gần như đi sạch ruột vì hột Chia có chất trơn (như hột é từ cây rau quế) Hạt chia nở to và thấm tất cả nước vào nên mặc dầu tôi ăn với sữa đậu nành 2 cup nước mà không bị bàng quang (bọng đái) làm phiền trong việc đi tiểu; đây là điểm then chốt để có cơ hội uống nhiều nước mà không bị đầy bụng và hối hả đi tiểu, do đó giúp thận bớt làm việc. Tôi cũng có giới thiệu cho nhiều người bị tiểu đường thấy rất hay, và người cao máu uống hột Chia xong khoảng 1 giờ đo máu thấy áp huyết xuống thấp hơn. Muốn mua hột chia có nhiều cách: 1. đến tiệm Whole Food, hỏi người bán hàng Chia seeds ( đọc là KIA Seeds) (13$/1 lbs) 2. đặt mua trên AMAZONE ON LINE rẻ hơn rất nhiều. (6$/1lb, không có cước phí nếu mua trên 25$). 3. ở Costco gia rẻ , $13.99 1 bao (2 Pounds = 32 oz) Hạt Chia, thuốc truờng sinh bất lão Từ hơn 25 năm qua, Y học Mỹ đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đi tìm nguyên nhân của những chứng bệnh gây tử vong là bệnh đau tim và ung thư. Hoa CHIA Ai cũng biết là tập thể dục đều đặn, tinh thần thoải mái ổn định là tốt nhưng tất cả đều đồng ý là dinh duỡng đúng phép là quan trọng nhất ! Nhưng hiện nay các thống kê đều không lấy gì làm khả quan vì 60 % dân chúng Mỹ bị béo mập, 30% mập phì (mập bệnh- morbid obesity). Mỗi năm 1 triệu ruỡi nguời bị
  • 61. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 161 một cơn đau tim, nuớc Mỹ dẫn đầu thế giới về ung thư ruột già (colorectal cancer) và cơn khủng hoảng y tế hiện nay cũng do những nguyên nhân kể trên mà ra. Trong khi đó thì một khảo cứu của Y si đoàn AMA năm 1961 cho biết là 97 % các truờng hợp sơ cứng động mạch vành có thể tránh đuợc nhờ dinh duỡng đúng phép. Nuớc Mỹ tiêu xài nhiều nhất thế giới về y tế nhưng đứng hàng thứ 37 về chất luợng chỉ vì nạn mập phì quá cao và nan giải. Những cuộc khảo sát tiếp theo trên nguời dânTarahumara cho thấy là bí quyết của họ là họ hay ăn một loại hạt mang tên là Chia mỗi khi họ chạy đua đuờng truờng. Lịch sử ghi lại là hạt Chia truớc đây đuợc coi là nòng cốt của nền văn minh Aztec và Maya và là thực phẩm chính của những chiến sĩ khi ra trận.. Nhiều nguời chỉ cần ăn 1 nắm hạt Chia cũng đủ sức đi bộ hàng chục cây số mà không biết mệt. Gần đây hạt Chia cững đuợc phổ biến trên chuong trình Oprah bởi BS tim mạch Mehmet Oz và BS Andrew Weil chuyên về tuổi thọ cùng khen ngợi hạt Chia là một môn thuốc rất tốt để phòng những chứng bệnh nan y hiện nay đang lan tràn ở Mỹ. Hạt Chia trông giống như hạt é Những món ăn, thức uống ngon và bổ dưỡng với hạt Chia Món ngon cùng hạt Chia, Hạt Chia là một loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe, và bởi vì nó là thực phẩm nên chúng ta có thể thưởng thức với nhiều cách khác nhau và dất dễ dùng. Hạt Chia trông giống như hạt é, hạt vừng, nếu nếm thử thì thấy không có mùi vị gì, tuy nhiên cũng nhờ đặc điểm này mà có thể trộn hạt Chia vào rất nhiều loại nước uống, yaourt, salad… vẫn không làm thay đổi hương vị gốc của món chính. Trong bài này viết rõ hơn về cách sử dụng hạt Chia, cách bảo quản cũng như những “thực đơn” thông dụng để dùng hạt Chia hàng ngày mà không ngán. Cách dùng và liều lượng dùng Mỗi ngày dùng 1 đến 2 muỗng cafe hạt Chia trộn vào các món ăn, thức uống sẽ giúp giữ gìn và cải thiện sức khỏe cả về thể lực lẫn trí lực. Cần lưu ý là hạt Chia cũng tạo cảm giác no nên với người cần giảm cân thì nên dùng trước bữa ăn, còn người muốn tăng cân hay trẻ em độ tuổi phát triển thì nên dùng sau bữa ăn để không ảnh hưởng đến khẩu phần. Nên bảo quản hạt Chia ở nơi khô thoáng, mát mẻ giống như các loại hạt ngũ cốc. Nếu bạn dùng gói lớn, có thể cho vào một lọ lớn để dành, cùng một lọ nhỏ ăn dần và khi nào hết lại cho thêm vào. Những món ăn, thức uống ngon và bổ dưỡng với hạt Chia
  • 62. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 162 Có rất nhiều cách để trộn hạt Chia hoặc bột Chia vào các món ăn, thức uống. Dưới đây là một số món thông dụng: 1. Nước hạt Chia: Cách dễ dàng và nhanh nhất là cho 1 muỗng hạt Chia vào 1 ly nước và khuấy đều từ 30 đến 60 giây. Sau khi khuấy, CHIA hấp thu nước và mềm ra, lúc này bạn có thể uống. Làm tương tự với bất kỳ loại nước trái cây đóng sẵn hoặc nước trái cây ép. Dùng 1 cái phễu để trên miệng chai, cho hạt CHIA vào, vặn nắp lắc đều. Bạn có thể uống chai nước CHIA này khi ở ngoài trời, đi làm hoặc đi học. 2. Nước trái cây hạt chia: cho 1 muỗng hạt CHIA vào ly nước trái cây như nước táo, bưởi, cam…, khuấy đều, để trong tủ lạnh 15 phút rồi… ực ực. 3. Sinh tố hạt Chia: cho 1-2 muỗng hạt Chia vào ly sinh tố, trộn đều, để 15 phút rồi thêm đá bào và xơi. 4. Cà phê/ca cao hạt Chia: dù uống nóng hay lạnh, bạn đều có thể cho hạt Chia vào món uống yêu thích và để khoảng 15 phút. 5. Yaourt – nước quả hạt Chia: 80ml nước ép hoa quả (táo, lựu, xoài, cam, mơ…) + 1 muỗng súp hạt Chia => chờ 15 phút để tạo gel. Sau đó trộn đều nước gel hạt Chia này với một hũ yaourt trắng, đảm bảo sẽ rất ngon. Đây cũng là một món ngon miệng và bổ dưỡng cho các bé. Cũng có thể làm gel hạt Chia để sẵn trong tủ lạnh, mỗi lần dùng xúc 2 muỗng trộn vào kem, yaourt, váng sữa…, rất là ngon mà không phải chờ đợi gì. Cách làm rất đơn giản giống như trong clip lấy từ youtube. 6- Nước chanh và hạt chia Chuẩn bị: 1 chén nước nhỏ, hạt CHIA, 1 trái chanh, đường. Cho 1 muỗng canh hạt CHIA vào chén nước. Dùng muỗng khuấy nhẹ nhàng để các hạt không dính lại với nhau. Để yên trong vòng 10 phút. Thêm 2 muỗng café nước chanh tươi và 2 thìa café đường, trộn đều và dùng. Có thể chuẩn bị ly nước chanh đường rồi cho hỗn hợp CHIA gel vào uống. 7. Bánh hạt Chia: xay hạt Chia (hoặc mua bột hạt Chia) trộn vào hỗn hợp bột mì, trứng, sữa… để làm bánh. 8. Thịt nướng hạt Chia: trộn vài muỗng hạt Chia vào nước sốt ướp thịt và quét lên thịt trước khi nướng. 9. Trứng chiên hạt Chia: trứng + chút rau hẹ hoặc bina thái nhuyễn + 2 muỗng hạt Chia đánh tan đều rồi đem chiên. 10. Súp hạt Chia: cho 2-3 muỗng hạt chia vào các loại súp vừa nấu. 10. Salad hạt Chia: trộn 2-3 muỗng hạt Chia vào món salad và đảo đều.
  • 63. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 163 Cô gái quá giang trong đêm mồng một Tết Phạm Tín An Ninh Chiếc thuyền nhỏ mang theo hơn năm mươi người, một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của Nauy trên đường từ Nhật sang Singapore cứu vớt. Hai ngày sống trên tàu chúng tôi có cảm giác như đang ở trên một thiên đàng. Tất cả đều được tận tình hỏi han chăm sóc. Chúng tôi cảm thấy vừa mừng vừa xót xa khi nhận ra thế gian này vẫn còn có đầy ấp tình người. Họ là những kẻ xa lạ, không cùng màu da, màu tóc, không cùng ngôn ngữ, mà lòng thông cảm yêu thương họ đã dành cho chúng tôi lớn lao biết đến dường nào. Trong lúc những “người anh em” cùng một nhà thì lại hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng để phải đành lòng bỏ nước mà đi. Với ân tình đó chúng tôi chọn Vương quốc Nauy là quê hương thứ hai để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại. Thuyền vượt biên Sau gần một năm ở trại tị nạn, gia đình chúng tôi được đi định cư. Khi bầu đoàn thê tử như một bầy nai vàng ngơ ngác bước xuống phi trường Oslo, được nhiều người đón tiếp, trong đó lại có cả mấy ông nhà báo và đài truyền hình nhà nước phỏng vấn, quay phim. Gốc nhà quê, nên tôi cũng chẳng biết họ quay phim để làm cái gì. Trước khi về nhà, chúng tôi còn được mời vào một nhà hàng Tàu, và tha hồ gọi bất cứ thức ăn nào mình thích. Đến khi bước vào ngôi nhà, được bà trưởng phòng xã hội trao cho một chùm chìa khóa, dẫn đi một vòng xem phòng ốc đã được trang trí xong nội thất, cái bếp và cả cái tủ lạnh có sẵn đầy đủ thức ăn nước uống, một cái TV màu. Mọi thứ đều mới tinh. Sáu đứa con và hai đứa cháu họ của tôi thì ngồi mân mê mấy cái bàn học, và mấy cái ba lô có đầy đủ sách vở trong đó. Trước khi ra về bà giới thiệu chúng tôi một cô nhân viên của bà, và một cô giáo ở lại hướng dẫn chúng tôi xử dụng mọi thứ tiện nghi trong nhà, và mỗi ngày sẽ đến đưa gia đình chúng tôi đi mua sắm, khám bệnh, làm răng, còn cô giáo thì đặc trách lo việc học hành cho mấy đứa nhỏ. Khi tất cả ra về, tôi nằm dài dưới sàn nhà và chợt khám phá ra rằng mình quả là may mắn được đến định cư ở một nước Bắc Âu xa lạ nhưng thơ mộng và có quá rộng tấm lòng này, mà lúc xuống biển ra đi chắc chẳng có ai bao giờ nghĩ tới. Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Nauy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Nauy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu châu, và đã can đảm dắt theo sáu đứa con và hai đứa cháu nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ, ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến
  • 64. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 164 bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến. Hình ảnh Thuyên Nhân trên TV Cũng vì cái chương trình phóng sự bất ngờ này, mà sau đó, mỗi ngày gia đình chúng tôi phải tiếp nhiều người khách không mời, và nhận đủ thứ quà. Trong số đó, đặc biệt có một người đàn bà Việt Nam, mà lúc bà mới bước vào nhà, chúng tôi cứ tưởng là người Nhật, hay là người Tàu gì đó, khi nhìn thấy cái vẻ quí phái đặc biệt của bà. Tôi nghĩ có lẽ không có người Việt Nam nào sống ở cái xứ Bắc Âu xa lạ này từ lâu để có được nét đẹp của một người con gái đông phương pha lẫn âu tây ở cái tuổi còn trẻ như bà. Sau đó tôi bất ngờ thú vị khi bà tự giới thiệu tên là Huyền-Trân Thomassen, hiện là giảng sư môn nhân chủng xã hội học tại trường đại học Oslo, chồng bà là người Nauy, hiện đang làm đại sứ tại Mexico. Bà không muốn bỏ nghề bà yêu thích, hơn nữa bà vẫn còn tiếp tục nghiên cứu về ngành này, nên không theo chồng mà ở lại Nauy với hai đứa con. Lúc nhỏ bà theo cha sang sống ở Thụy Sĩ, khi cha bà là đại sứ của VNCH tại đó. Người chồng của bà, cũng thuộc một gia đình có truyền thống ngoại giao. Cha của ông cũng một thời là đại sứ của Nauy tại Thụy Sĩ. Hai người con của hai ông đại sứ quen nhau từ khi học chung một trường trung học và làm đám cưới sau khi tốt nghiệp đại học tại thủ đô Bern, một năm trước khi miền Nam Việt Nam thất thủ. Tôi rất ngưỡng mộ người đàn bà trẻ này. Rời Việt nam từ lúc 12 tuổi, nhưng bà nói tiếng Việt rất lưu loát, hiểu biết rất nhiều về văn học Việt nam, từ truyện Kiều của Nguyễn Du, đến bài thơ Hai Sắc Hoa TyGôn của TTKH. Điều đặc biệt hơn hết là bà rất quí mến và giúp đỡ tận tình người đồng hương. Gia đình tôi cũng mang nặng khá nhiều ơn nghĩa của bà. Những ngày sống hạnh phúc ở quê người, nhìn con cái ngày một lớn lên và đang có cả một bầu trời xanh bao la trước mặt, lúc nào tôi cũng chạnh lòng nhớ lại cái thời mình khốn khó và những bạn bè xưa. Tôi thấy mình nợ nần nhiều người mà không biết làm sao trả được. Trong số này, người mà tôi thường nghĩ tới nhiều nhất và ân hận chẳng giúp được điều gì là Nguyễn Thượng Tâm, người đồng đội và cũng là đứa em kết nghĩa của tôi. * * * Tâm ra trường sau tết Mậu Thân. Về trình diện đơn vị tôi khi vừa tròn 18 tuổi. Mặc dù còn rất trẻ, nhưng được đào tạo từ lúc còn nhỏ tại trường Thiếu Sinh Quân nổi tiếng ở Vũng Tàu nên Tâm là một hạ sĩ quan gương mẫu trong kỷ luật và gan dạ trong chiến trường. Tâm hiền lành và rất ít nói. Nhưng không phải vì vậy mà tôi trở thành thân thiết với Tâm và hai thằng kết nghĩa anh em, nếu không có buổi sáng mồng một Tết năm 1969, khi đơn vị chúng tôi tạm dừng quân trong một ngôi làng hoang đổ nát nằm sâu giữa những động cát nơi giáp ranh hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy lúc trước. Dù đang hành quân, nhưng biết hôm đó là mồng một Tết, tôi thức dậy thật sớm, thay bộ đồ trận mới, đi một vòng chúc tết anh em. Ngày đầu năm, nằm giữa một khu hoang tàn không một bóng người, chắc ai cũng chạnh lòng nhớ tới gia đình. Chiếc radio từ một căn lều poncho nào đó đang phát ra tiếng hát nỉ non của ca sĩ Duy Khánh, trong bản nhạc Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân, làm lòng tôi càng thêm lắng xuống. Đến
  • 65. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 165 cuối ngôi làng, tôi bỗng giật mình khi nghe tiếng sụt sùi. Lại gần tôi mới nhận ra Tâm. Anh ta đang quì lạy trước một cái bàn thờ được kê bằng cánh cửa sổ của căn nhà nào sập xuống. Trên bàn thờ dã chiến, tôi thấy có mấy cái hoa rừng cắm trong cái bi đông nước, hai bát cơm bằng gạo sấy và một lon guigoz có lẽ chứa nước trà hay canh nấu bằng lá giang hay lá tàu bay gì đó. Tâm khấn vái một lúc, quay lại bất ngờ nhận ra tôi. Tâm đưa tay chào và cũng như mọi khi, không nói một lời nào. Có lẽ Tâm biết là tôi đã đứng im lặng ở đây từ lâu lắm. Tôi bước tới nắm chặt tay Tâm, kéo anh đứng lên. Tâm vội rút tay ra lau nước mắt. Tôi đến trước bàn thờ vái một vái, rồi vỗ vai Tâm: - Em cúng bố mẹ à. Sao đầu năm mà buồn quá vậy em. - Không, bố em còn ở ngoài Bắc, em không biết là còn sống hay đã chết. Mẹ em thì đã qua đời lúc em còn bé lắm. Nhà em ở tận Ý Yên, nhưng bố em đi làm xa, nên phải gởi hai anh em em xuống nhà ông chú ở Hà Nội học, rồi theo gia đình chú ấy xuống tàu há mồm vào Nam luôn. - Còn anh của em bây giờ ở đâu? Tôi hỏi - Anh ấy chết rồi. Anh là sĩ quan thủy quân lục chiến, tử trận đúng ngày mồng một tết Mậu Thân ở ngay Sài gòn. Hôm nay là giổ đầu của anh ấy. - Anh em tên gì? - Nguyễn thượng Minh, khi chết anh vừa mới lên trung úy. Tôi giật mình. Cái tên Nguyễn thượng Minh làm tôi nhớ ngay đến một thằng bạn cùng tên hồi còn tiểu học. Tôi hỏi Tâm: - Vậy có phải em là cháu của thầy giáo Nguyễn Thượng Cầu? - Dạ phải, nhưng chú Cầu đã chết lâu rồi. Tâm trả lời rồi nhìn tôi ngạc nhiên. Năm 1954, tôi đang học lớp nhì trường huyện Vạn Ninh. Nhập học được vài tháng, thì thầy hiệu trưởng Nguyễn công Tố dắt ba đứa học trò lạ vào lớp giới thiệu với cô giáo Kiệt rồi dặn dò đám học trò chúng tôi: - Hôm nay trường nhận thêm những em học trò mới, trong đó có ba em vào lớp này. Tất cả các em phải biết yêu thương và giúp đỡ những người bạn này, vì họ đã vừa phải bỏ quê hương, gia đình ngoài miền Bắc, dicư vào đây. Đó cũng là lời kêu gọi của Ngô Thủ Tướng. Hai thằng con trai và một đứa con gái cúi đầu chào cô giáo rồi quay xuống chào chúng tôi bằng thứ tiếng lạ hoắc khó nghe. Thằng lớn con nhất được cô Kiệt chỉ cho ngồi dãy bàn cuối lớp, ngay phía sau tôi. Lên tàu há mồm di cư vào Nam 1954 Đến giờ ra chơi, bọn tôi bu quanh “phỏng vấn” nó đủ điều. Tên nó là Nguyễn Thượng Minh. Nó và thằng em nhỏ hơn bốn tuổi, nhà ở quê, mẹ chết sớm, ông bố đi làm xa, nên phải gởi anh em nó xuống Hà Nội ở nhà ông chú để học hành, hơn nữa ông lại là thầy giáo. Khi có lệnh di cư, ông chú không liên lạc được bố nó, nên dắt hai anh em nó xuống tàu há mồm vào Nam luôn, rồi được chính quyền phân phối đến định cư ở quê tôi, Vạn Giã, cùng với hơn mười gia đình khác. Nó bảo vài hôm nữa ông chú nó cũng sẽ được sắp xếp cho vào dạy lớp ba trường này, thay cho một ông thầy thuyên chuyển đi nơi khác. Nó lầm lì ít nói, chắc ngại cái tiếng Bắc Kỳ xa lạ của nó. Nhưng không phải vì điều đó mà làm cho tôi ghét nó, và đã có nhiều lần đánh lộn với nó nữa. Lý do chính là nó đánh bi rất giỏi, giành mất giải quán quân của tôi trong lớp. Nó đánh bi khác với chúng tôi. Chúng tôi để viên bi lên đầu ngón tay giữa rồi bắn đi, còn nó đặt viên bi trong lòng bàn tay và bắn đi bằng ngón tay cái. Vậy mà nó ăn tôi sạch túi. Bọn tôi bảo là nó ăn gian, không được chơi kiểu bắc kỳ của nó mà phải chơi theo kiểu trung kỳ của bọn tôi. Nhập gia phải tùy tục. Nó cô đơn một mình nên chịu thua, phải trả lại
  • 66. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 166 cho tôi tất cả viên bi nó thắng ngày hôm đó. Vậy mà hai hôm sau nó chơi trở lại, dĩ nhiên với cái kiểu hoàn toàn mới lạ với nó, nhưng nó vẫn thắng tôi oanh liệt. Cuộc đấu bi này bây giờ không phải chỉ giữa cá nhân hai thằng: tôi với nó, mà giữa hai miền nam-bắc, cho nên học trò trai gái cả trường bu quanh làm khán giả. Tôi thua trắng tay, mất luôn chức vô địch từ lớp năm đến bây giờ. Dĩ nhiên là tôi ức lắm. Điều ghê gớm hơn nữa, là chỉ có cuối tháng đầu tiên nó đứng hạng ba trong lớp, lên nhận bảng danh dự sau tôi, nhưng kể từ tháng thứ nhì trở đi nó đều chiếm hạng nhất. Tôi đâm ra hận nó, có nó là tôi mất tất cả. Mấy lần tôi nhại tiếng Bắc chọc quê nó, nó cũng chỉ cười, tôi nghe lời xúi của lũ bạn, bảo nó rờ sau “đít” coi có còn tòn ten cọng rau muống nào không, nó chỉ im lặng. Có lần bọn tôi xô nó ngã, nó chỉ cười, đứng dậy rồi phủi bụi trên áo quần. Tôi thua nó, nhưng cố làm ra vẻ tự mãn: “nó vẫn chỉ là một anh hùng cô đơn, không có ai chơi với nó”. Để viên bi lên đầu ngón tay giữa rồi bắn đi Đùng một cái nó nghỉ học. Chẳng có ai biết lý do. Nhưng rồi vài ngày sau nó tới trường, nhưng không phải để học mà để bán bánh mì và cà rem. Cô giáo và bạn bè hỏi, nó khóc và bảo là bà thím, sau khi cãi vã với chú nó một trận, không nuôi hai anh em nó nữa, nó phải tự “khắc phục” để còn nuôi một thằng em nhỏ. Hôm đó bọn tôi nhiều thằng cũng khóc theo với nó. Chờ cho tất cả vào lớp, tôi ở nán lại chỉ để ôm nó và nói một lời xin lỗi về những điều đã qua. Nó nhìn tôi thân thiện, và bảo là nó chưa hề để tâm tới điều ấy. Tôi “tâm phục khẩu phục” nó. Nó còn nhỏ mà thông minh và thánh thiện hơn tôi nhiều. Tôi bèn làm ngay một cuộc “quảng cáo” cho bánh mì và cà rem của nó, vì vậy hôm nào nó mang mọi thứ tới trường là bán sạch ngay trong giờ ra chơi buổi sáng. Sau đó tôi còn kêu gọi một cuộc lạc quyên giúp nó: gạo, tiền xu, tiền cắc, áo quần, có thằng còn mang tới cho nó cả buồng chuối và một trái mít nữa. Rồi nó cũng được chính quyền giúp đỡ, tôi nghĩ như thế, nên vài tuần sau nó trở lại lớp học, và chỉ bán bánh mì trong giờ ra chơi. Nó vẫn học giỏi, vẫn đứng đầu lớp, nhưng lần này nó không còn là anh hùng cô đơn nữa mà nó có đông đảo bạn bè, mà thằng thân nhất chính là tôi. Ông chú nó, thầy giáo Nguyễn thượng Cầu, cũng đã vào trường dạy lớp ba, nhưng bây giờ anh em nó không còn ở chung với ông chú nữa, mà chỉ đến thăm ông vào những cuối tuần. Có khi nó dắt tôi đi theo. Vì vậy tôi mới bíết ông thầy, chú nó sợ bà vợ Bắc kỳ còn hơn sư tử, nên chẳng dám bênh vực nhiều anh em nó, mặc dù ông rất đau lòng xót xa khi bọn nó phải dọn ra ở ké nhà một gia đình người di cư khác. Tôi mất mẹ, cha tôi cũng đi làm xa, nên tôi thông cảm hoàn cảnh của Minh, nên thường đưa anh em nó về nhà ông bà nội tôi và chơi với đám anh em họ hàng của tôi. Khi xong tiểu học, tôi vào Nha Trang học trung học, cũng là lúc phải chia tay nó. Bởi Minh cũng vừa theo một số người di cư vào tận khu định cư Phước Tỉnh nào đó ở trong Nam, người ta bảo trong ấy làm ăn khấm khá hơn ở quê tôi nhiều lắm. Từ đó, tôi không gặp lại nó, mặc dù trong ký ức tuổi ấu thơ của tôi, lúc nào hình ảnh nó cũng in lên đậm nét. Không ngờ hôm nay, giữa chiến trường xa xôi
  • 67. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 167 này tôi lại bất ngờ gặp lại thằng em duy nhất của Minh, và lòng tôi lắng xuống khi biết nó cũng từng là lính đánh giặc và đã hy sinh đúng ngày này năm trước: ngày mồng một Tết. Cái ngày mà lời chúc Tết của ông Hồ Chí Minh trên đài phát thanh Hà Nội chính là cái mật lệnh “Tổng Công Kích Tết Mậu Thân” để giết hại bao nhiêu người vô tội, đặc biệt hàng vạn người ở Huế bị chôn sống. Cũng là cái ngày người ta nhận diện được bọn trí thức, sinh viên phản trắc, đã giết hại bao nhiêu thầy, bạn của chính mình. Sau đó, tôi rút Tâm về làm việc bên cạnh tôi, phụ tránh toán quân báo gồm toàn những người lính trẻ. Chúng tôi yêu thương nhau như anh em. Rồi vào một đêm trăng sáng, dưới sự chứng giám của đất trời, tôi đã nhận Tâm là đứa em kết nghĩa, sau lần Tâm liều mình cứu tôi thoát chết trong một cuộc phục kích ở Thiện Giáo. Đổi lấy sự an toàn cho tôi, Tâm phải mất hai ngón tay của bàn tay trái và nằm bệnh viện hơn một tháng để được giải phẩu lấy một mãnh đạn nằm trong sâu trong thanh quản. Sau khi xuất viện, Tâm phát âm tương đối khó khăn. Được hội đồng giám định y khoa xếp vào loại không còn khả năng chiến đấu, Tâm có thể chọn về một đơn vị hành chánh hay tiếp vận nào mà Tâm thích, nhưng Tâm một mực chối từ và nằng nặc đòi trở lại đơn vị cũ. Tâm xác nhận là mình vẫn còn khả năng chiến đấu, hai ngón tay của bàn tay trái và giọng nói khó khăn một chút không gây trở ngại nhiều cho một người lính chiến trường. Cuối cùng Tâm được toại nguyện. Tôi vừa vui mừng vừa cảm động khi Tâm trở về trình diện. Tâm bảo sống chết gì em cũng muốn ở bên anh. Vì gia đình em có còn ai nữa đâu. Đơn vị này là gia đình của em. Tôi sắp xếp cho Tâm một công việc tạm thời ở hậu cứ để tiếp tục chửa bệnh. Chỉ sau vài tháng giọng nói của Tâm gần trở lại bình thường. Tâm nghe lời tôi xin vào khóa Sĩ Quan Đặc Biệt ở Thủ Đức. Tâm được ưu tiên thu nhận vì gốc TSQ. Ra trường đúng vào mùa hè đỏ lửa 1972, Tâm lại xin trở về đơn vị cũ, lúc này đang ngày đêm nằm trong lửa đạn ở mặt trận Kontum. Năm tháng sau, tôi bị thương, được tản thương về Quân y viện Pleiku nằm điều trị gần một tháng. Xuất viện, được điều về Phòng Hành Quân. Cả tháng tôi không gặp lại Tâm, nhưng ngày nào chúng tôi cũng liên lạc trên hệ thống vô tuyến. Cuối năm 1973, chiến trường lắng dịu. Tâm xin phép về Sài gòn cưới vợ. Vợ Tâm là cô bạn nhỏ ngày xưa trong cùng một viện mồ côi. Bây giờ là cô giáo. Hai người gặp lại và tình yêu nẩy nở trong thời gian Tâm học ở trường Thủ Đức. Cả vợ chồng tôi đều có mặt trong ngày cưới, và làm chủ hôn bên họ nhà trai. Đám cưới xong, tôi vận động xin cho vợ Tâm được chuyển lên dạy tại một trường tiểu học nằm trong thành phố Pleiku, để vợ chồng được gần gũi nhau hơn. Đầu tháng 3/1975 Ban Mê Thuột thất thủ, bản doanh Bộ Tư lệnh SĐ 23 BB bị tràn ngập sau một phi vụ bắn nhầm. Ông Tư Lệnh Phó cùng ông tỉnh trưởng Đắc Lắc bị bắt. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 44 được trực thăng vận nhảy xuống đầu tiên ở Phước An, quận duy nhất còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm vừa ngăn chặn địch quân tràn xuống Khánh Dương theo Quốc lộ 21, vừa tái chiếm thị xã Ban Mê Thuột khi tình hình cho phép. Tâm có mặt trong toán quân đầu tiên này. Tôi không gặp được Tâm nhưng có liên lạc nói chuyện vài lần trong máy vô tuyến. Tâm rất đau lòng khi phải bỏ vợ và đứa con gái ba tuổi trên Pleiku, trước khi gởi gấm cho anh trung sĩ tiếp liệu đại đội cố dắt theo cùng đoàn quân triệt thoái về tỉnh lộ 7, bây giờ không biết ra sao. Cuộc triệt thoái phá sản trên Liên Tỉnh Lộ 7
  • 68. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 168 Tâm khẩn khoản nhờ tôi tìm mọi cách liên lạc và giúp vợ con mình. Tôi lấy cái tình anh em kết nghĩa mà thề với Tâm là tôi sẽ cố gắng hết sức mình. Không ngờ, đó là một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, đã làm mất biết bao nhiêu sinh mạng, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam. Ra tận Tuy Hòa, đứng đón dòng người tả tơi, nét mặt còn đậm nỗi kinh hoàng, họ vừa trải qua và chứng kiến biết bao nhiêu cái chết thê thảm để được đến bên này bờ con sông Ba nhuộm máu, tôi nghĩ là tôi chẳng còn có cơ hội nào gặp lại vợ con Tâm. Trở lại Khánh Dương, đúng lúc Phước An thất thủ và đơn vị của Tâm đã phải tan hàng, tôi gặp lại vị chỉ huy của Tâm ở Dục Mỹ, ông xác nhận là trung úy Nguyễn Thượng Tâm đã nằm lại trên đỉnh đồi Chu Cúc, khi chiến đấu tới viên đạn cuối cùng rồi tự sát trước một biển người của địch quân tràn lên chiếm giữ. * * * Hơn sáu tháng định cư ở Nauy, cả nhà tôi lúc nào cũng miệt mài để sớm hội nhập vào quê hương mới. Thời gian qua nhanh quá. Mới đây mà chúng tôi cũng đã tập tành tổ chức ngày lễ Giáng Sinh và ăn cái tết Tây đầu tiên theo truyền thống của Nauy. Sau đó bận bịu đi học đi làm, và cũng chẳng có cuốn lịch Âm lịch nào để biết ngày nào là Tết Ta, Nguyên Đán. Một buổi tối vợ chồng tôi đang ngồi cãi nhau về thời điểm giao thừa để thắp một nén hương tưởng nhớ ông bà, thì điện thoại reo. Bà Huyền-Trân Thomassen gọi, mời cả nhà chúng tôi tối mai lên ăn tết với gia đình, chồng bà từ Mexixo cũng mới trở về. Bà cho biết bây giờ đã là sáng mồng một Tết bên Việt Nam. Thì ra, chúng tôi tệ quá, mới rời khỏi Việt Nam hai năm mà không còn nhớ ngày tết và tổ chức mừng Tết như bà. Tôi cám ơn và nhận lời bà xong, vội vàng thắp mấy nén hương tạ tội ông bà. May mắn ngày mai là thứ bảy. Bà biết gia đình chúng tôi có tới mười người mà chỉ có một cái xe Ford vừa nhỏ vừa cũ, nên bà đặt một chiếc taxi tám chỗ ngồi lại đón chúng tôi. Bà xã tôi chỉ huy bầy con gái trên chiếc taxi, còn tôi lái xe chở đám con trai chạy theo sau. Trời thật lạnh, tuyết rơi trắng cả bầu trời. Chúng tôi phải chạy gần một tiếng đồng hồ mới tới nhà bà. Bà ở trong một ngôi biệt thự khá xinh, cách trường đại học Oslo, nơi bà dạy, chừng năm phút lái xe. Trong phòng khách bà trang trí giống như tết ở Việt Nam, đặc biệt có cả một cành mai thật to (một loài hoa Bắc Âu nở hoa vào mùa đông, nhìn giống như hoa mai) trong một cái bình sứ lớn, nằm ở giữa nhà. Chồng bà rất phúc hậu, và nói được một ít tiếng Việt. Khi giới thiệu ông với chúng tôi bà đùa: - Hoàng đế Chế Mân của tôi đây. - Không, tôi là Trần Khắc Chung. Ông vừa đưa tay bắt tay tôi vừa đùa. Ông ta khá am tường về lịch sử Việt Nam. Ông cũng biết khá nhiều và có những nhận định khá công bình về cuộc chiến Việt Nam. Ông cho biết là lúc cuộc chiến Việt Nam đang ác liệt, khi ấy ông là trưởng ban ngoại giao của Quốc Hội Nauy, đã phản đối kịch liệt những nhóm tả khuynh và đặc biệt là những nhận định và việc làm của ông Olaf Palma, Thủ tướng Thụy Điển, người đã hô hào ủng hộ Bắc Việt và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận cho binh lính Mỹ đào ngũ đến dung thân ở nước ông. Khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhìn hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, ông vừa kịp phản tỉnh thì cũng bị ám sát chết. Bữa ăn còn có cả dưa hành, thịt kho và bánh chưng. Tôi phục bà và thấy xốn xang nhớ những ngày tết lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà. Ăn uống xong, bà còn lì xì bì thơ màu đỏ cho mấy đứa con và mấy đứa cháu của tôi. Tôi
  • 69. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 169 đành phải ngượng ngùng xin lỗi vì không chuẩn bị kịp quà cáp cho hai đứa con của bà. Nhưng bà rất khéo léo, khi bảo sự có mặt của gia đình chúng tôi trong thời khắc đặc biệt này đã là một món quà vô giá, rất có ý nghĩa cho mẹ con bà. Tôi thay mặt gia đình cám ơn, chúc tết ông bà và gia đình. Tôi cũng nói lên lòng ngưỡng mộ của chúng tôi đối với một người đã xa quê hương lâu ngày và lập gia đình với một người ngoại quốc mà vẫn còn giữ được truyền thống và bản sắc văn hóa Việt Nam, trong lúc một số người mới chân ướt chân ráo sang đây đã vội tập tành thành người bản xứ, muốn quên hết nguồn cội của mình. Chia tay bà lúc gần mười hai giờ đêm. Đường sá vắng tanh. Tuyết vẫn rơi kín bầu trời. Không quen lái xe trên tuyết, tôi chạy thật chậm. Khi đến trước khu đại học Blindern, tôi thấy có một người đứng dưới tàng cây thông, đưa tay đón. Tôi dừng xe lại. Một cô gái chạy tới xin quá giang về nhà, vì cô dự tiệc tối ra, đã gọi taxi khá lâu mà không thấy tới. Tôi bảo đứa con trai lớn của tôi ra ngồi ở băng sau, nhường ghế trước cho cô gái. Khi cô lễ phép chào tôi, và bắt tay mấy cậu con và cháu của tôi ngồi ở băng sau, tự giới thiệu tên Anita rồi ngồi lên ghế, tôi mới nhận ra cô gái gốc Á đông, nhưng phát âm tiếng Nauy và điệu bộ hoàn toàn như người bản xứ. Một cô gái chạy tới xin quá giang Tôi ngạc nhiên khi thấy cô đang run vì lạnh. Cô chỉ mặc một cái áo khoác mỏng. Tôi dừng xe, cởi cái áo choàng bằng lông cừu choàng qua vai cô. Gương mặt cô bé xinh xắn dễ thương, nhưng phảng phất buồn. Tôi hỏi cô bé đến từ nước nào. Cô cho biết cô được cha mẹ nuôi người Nauy nhận mang về đây lúc chưa tròn ba tuổi, nên cô chẳng biết gì. Sau này lớn lên, cô mới được cha mẹ nuôi kể lại là cô được Cơ quan Bảo Trợ Nhi Đồng LHQ nhận từ một viện mồ côi ở Việt Nam vào năm 1975. Ông bà xin nhận cô làm con nuôi từ Cơ quan này. Cô bé rất mong muốn được trở lại Việt nam một lần, để biết nơi mình sinh ra và nhờ người tìm lại tông tích, mồ mả của cha mẹ ruột. Cô sẽ xây mộ cho ông bà. Cha mẹ nuôi có hứa sẽ đưa cô về sau khi cô học xong trung học, và khi nào việc xin visa vào Việt Nam dễ dàng hơn. Nhà cô không xa nơi tôi ở, có lẽ không quá hai mươi phút lái xe. Cô chỉ ngôi nhà nằm ở lưng chừng đồi Khi qua hết mấy khu rừng thông thanh vắng, cô chỉ ngôi nhà lớn nằm lưng chừng trên một ngọn đồi, bảo tôi dừng lại phía dưới. Cô sẽ đi lên bằng con đường tắc. Cô cám ơn tôi, cởi trả lại tôi cái áo choàng. Cô hỏi xin tôi một mảnh giấy, viết địa chỉ xong rồi đưa lại cho tôi. Cô mời tôi đến Lễ Phục Sinh ghé lại nhà cô chơi. Vì chỉ còn một ngày nữa cô phải đi London tiếp tục theo học một năm chương trình trao đổi học sinh. Cha mẹ nuôi của cô rất thích nói chuyện với người Việt Nam, nhất là những người đã từng tham gia cuộc chiến. Tôi hứa với cô là thế nào tôi cũng đến thăm cô cùng ông bà cha mẹ nuôi tốt bụng. Về nhà, khi kể lại chuyện cô bé quá giang cho vợ và mấy cô con gái nghe, tôi mới nhận ra một điều: sao tôi lại có duyên với những người mồ côi đến thế. Suốt cả đêm hôm ấy tôi nằm trằn trọc nghĩ đến thân phận mình và nhớ thật nhiều đến Nguyễn Thượng Tâm, người mà tôi đã từng nhận làm đứa em kết
  • 70. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 170 nghĩa, nhưng mãi đến bây giờ vẫn chưa làm tròn được lời thệ ước của mình. * * * Ðến Lễ Phục Sinh, nhớ lời hẹn, tôi rủ bà xã và hai cô con gái lớn đến thăm cô Anita. Bây giờ là đầu tháng tư mà tuyết vẫn còn rơi trắng cả bầu trời. Nhờ ban ngày nên tôi thấy rõ nhà cô hơn. Ngôi nhà có dáng của một lâu đài, cổ kính, sang trọng. Chung quanh là một hàng thông. Chủ ngôi nhà chắc đã trọng tuổi và giàu có. Ngần ngừ một lúc, tôi bấm chuông. Đúng như tôi nghĩ, người mở cửa là một bà già khoảng trên bảy mươi, nhưng còn khỏe mạnh và nói năng vui vẻ lịch thiệp. Bà ngạc nhiên nhìn tôi, và hỏi tôi đến có việc gì bất ngờ mà bà không được báo trước. Tôi xin lỗi, giới thiệu tên mình và cho bà biết là tôi có hẹn với cô Anita, con gái của bà, đến thăm cô ấy và vợ chồng bà. Có lẽ cô Anita quên, không kể chuyện lại với bà. Bà tròn mắt ngạc nhiên: - Anita nào? vì đứa con gái duy nhất của chúng tôi đã chết rồi mà. Bây giờ đến lượt tôi ngơ ngác. Tôi kể cho bà nghe chuyện tôi gặp cô Anita trước cổng trường đại học hồi tháng hai, và cho cô quá giang về đây lúc nửa đêm. Bà mời tôi vào nhà, chỉ cho tôi tấm ảnh treo trên vách. - Đây chính là cô Anita mà tôi đã gặp, trước khi cô trở lại London để tiếp tục học. Tôi nói to như để xác nhận với bà. - Bà nhìn tôi sụt sùi hai dòng nước mắt. - Ðúng rồi, sau lần về thăm nhà và cũng để khám bệnh ấy, thay vì trở lại trường, con tôi phải vào bệnh viện, do một mảnh đạn nằm sâu trong tim từ lúc cháu ba tuổi, và cháu qua đời sau đó một tuần. Trước đây, bác sĩ có khám và chụp hình, nhưng bảo mảnh đạn nằm ở một vị trí khá an toàn, và rất nguy hiểm nếu phải giải phẩu. Không ngờ cháu lại chết vì chính mảnh đạn từ thời chiến tranh này. - Bà ra nhà sau lên tiếng gọi ông chồng, kể cho ông nghe câu chuyện tự nãy giờ. Ông đến chào tôi, và bảo tôi chờ ông bà mặc áo lạnh rồi sẽ dẫn tôi ra nghĩa trang, nằm không xa ở phía sau nhà, thăm ngôi mộ cô con gái. Ngôi mộ phủ đầy tuyết trắng. Bà đưa tay phủi lớp tuyết trên tấm bia, hàng chử khắc sâu trên bia: ANITA NGUYEN HILDE. Nhìn tấm ảnh trên mộ bia, tôi có cảm giác dường như cô cũng đang nhìn tôi mỉm cười. Tôi đứng trước mộ, chấp hai tay khấn nguyện một đôi điều. Ông bà chủ nhà sụt sùi, bảo với tôi đó là cô con gái duy nhất mà ông bà hết lòng thương quí. Từ khi cô ta qua đời, ông bà chẳng còn thiết tha bất cứ thứ gì trên cõi đời này nữa. Đưa tôi trở lại nhà, ông châm củi thêm vào lò sưởi, rót mời tôi một tách cà phê nóng. Ông bảo nếu cô không chết thì mùa hè này ông bà sẽ đưa cô về thăm quê hương nguồn cội ở Việt Nam. Riêng cha mẹ ruột của cô thật sự đã chết trong chiến tranh rồi. Dường như vừa nhớ lại một điều gì, ông đứng lên bước tới kệ sách, quay lại nói vói tôi: Trong hồ sơ của con tôi, người ta có ghi chú: Khi hấp hối, mẹ cháu có trăn trối nhờ người mang nó về một viện mồ côi mà bà quen. Bà có để trong túi áo quần của đứa con một tấm hình khi vợ chồng bà làm đám cưới. Sau tấm hình có ghi tên và đơn vị của ba cháu. Đó cũng là dấu tích duy nhất về gốc gác của cô con gái nuôi yêu dấu của chúng tôi. Tôi chưa kịp hỏi, ông đã đưa cho tôi tập album, và chỉ cho tôi một tấm ảnh đen trắng ngã màu vàng sậm, được dán ngay ở trang đầu. Nhìn tấm ảnh, tôi giật thót cả người, như đang bị mộng du vào một cõi xa xăm nào đó: hai người trong tấm ảnh chính là vợ chồng Nguyễn Thượng Tâm, người em mồ côi kết nghĩa mà chúng tôi đã lạc mất nhau trong những ngày cuối của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Phạm Tín An Ninh
  • 71. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 171 TCN - Có phải Đức “cụt”, Đại úy dù đấy không ? Thiệu đây. Thiệu cũng ở nhẩy dù, ngày trước thường đi với Tùng, Phát, Nhân. Nhóm tụi mình 5 đứa, có một thời mài mòn gót giầy trên đường Tự Do từ La Pagode đến Majestic, nhớ không ? Bao nhiêu năm rồi mà mày vẫn thế. Vẫn Django như thưở nào. Ê ! đứng dậy, đi nhậu mầy! Thiệu cố gợi thêm một vài kỷ niệm nữa nhưng Đức vẫn im lặng. Anh thản nhiên duỗi dài chiếc chân lành lặn gác lên ống quần của chiếc chân cụt, những ngón tay của cánh tay lành lặn kẹp điếu thuốc lá, thỉnh thoảng đưa lên môi nhắp nhắp. Chỗ anh dựa lưng là hàng rào của nhà ga xe lửa dơ bẩn đầy ruồi nhặng rác rưởi và tàn thuốc. Thiệu biết rõ bạn đã nhận ra mình nhưng chắc có vấn đề. Không lấy thế làm buồn, anh không ngần ngại ngồi bệt xuống bên cạnh, quàng tay qua cổ bạn, nắn bóp chiếc vai gầy. Phe phẩy ống tay áo của cánh tay cụt đuổi ruồi, Đức há miệng ngáp rồi nhắm mắt vờ tọa thiền. Tôn trọng bạn, Thiệu cũng không nói thêm lời nào. Cả hai cứ giữ tư thế đó không biết bao lâu. Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng. Thiệu từ Mỹ về đưa đám người anh ruột vừa qua đời. Ngay ngày đầu tiên anh đã tình cờ nhìn thấy Đức khi chiếc xe Taxi chở anh bị kẹt cứng giữa rừng xe đủ loại gần nhà ga. Anh tự hẹn sẽ phải trở lại tìm bạn sau tang lễ. Đây là lần thứ ba về VN. Lần nào anh cũng có cảm tưởng mình là một người ngoại quốc ngay trên đất nước mình. Tuy ở Mỹ gần hai chục năm nhưng công việc trong hãng xưởng không đòi hỏi phải nói nhiều nên tiếng Anh của anh chỉ đủ ăn đong. Tất cả mọi chuyện giao dịch, chợ búa, mua sắm đều có người VN phục vụ vì thế sống trên đất Mỹ nhưng Thiệu vẫn thấy mình giống như một “Ba Tầu Chợ Lớn trong khu Chợ lớn”. Về VN anh ăn mặc rất xuềnh xoàng, nói tiếng Việt, âm hơi quê của dân miền Bắc, nhưng đi đâu cũng bị nhận diện là Việt kiều. Có người quen nói với anh rằng Việt kiều có “mùi” khang khác, không dấu được. Anh cười ruồi, cho rằng khéo tưởng tượng. Bây giờ anh mới thấy có lý khi bỗng nhiên Đức mở miệng nói trống không: - Ông Việt kiều vinh quy bái tổ. Hừm…hừm…tốt, tốt. Đi chỗ khác tìm lọng rước vài nàng về dinh mà trả thù dân tộc. Đất nước này chỉ có chỗ cho ăn mày, không có chỗ cho ông Việt kiều bảnh chọe. - Đức! Tao là bạn mày. Tại sao mày nói vậy ? Mấy chục năm rồi nhưng tính tao có đổi thay đâu. Ừ, tao không dấu mày, tao ở Mỹ về nhưng tao không phải là loại “Việt kiều yêu nước” như mày nghĩ. Tao là một người VN có hộ khẩu ở nước ngoài. Mày biết đó, người ta cắt hộ khẩu của tao ở đây khi tao đi tù về, tao phải tìm cách mưu sinh thoát hiểm chứ. Tao chỉ là thằng thợ tiện ở xứ người chứ có làm cha chú gì đâu mà vinh quy bái tổ. Chưa bao giờ tao nhận Hoa Kỳ làm quê hương. Tao là người VN. Đất nước này là của mọi người VN, kể cả những thằng nguỵ như mày và tao. Tổ quốc VN không của riêng ai. Tổ quốc VN ở trong máu thịt của tao, không ai có quyền tước bỏ. Đức đã trầm ngâm lại càng trầm ngâm. Anh móc bao thuốc, xoóc xoóc rất thiện nghệ, một điếu lòi khỏi miệng bao vừa đủ để lấy răng cắn kéo ra. Thiệu mò túi áo bạn, tìm hộp quẹt, châm lửa. Đức nhưóng mắt lên, nhìn thẳng vào mặt bạn, bỗng chửi thề: – Đ.M thằng con trai nhảy dù. Nhảy dù_ _ nhảy dù, cố gắng !_ _ cố gắng ! Biết bạn mình đã vui vẻ trở lại, Thiệu ôm chầm lấy bạn, lắc mạnh: – Nhẩy dù _ nhẩy dù, chỉ biết_ _ chạy bộ, không biết _ đi xe. Nhẩy dù _ nhẩy dù, một ngày _ là bạn, một đời_ _ là bạn.
  • 72. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 172 Cả hai ôm nhau, đấm nhá nhau, cùng phá lên cười nắc nẻ. Đức lấy tay gỡ chiếc kính cận thị xậm màu, dụi mặt vào vai áo của cánh tay cụt. Thiệu cũng xúc động như bạn, nói như mếu: – Nhẩy dù _nhẩy dù, không biết_ _ khóc nhè, chỉ biết _ sụt sịt. Thôi, để tao đỡ mày dậy, tụi mình lại đi bụi đời như ngày xưa. Sống với nhau được phút nào thì cố tận hưởng phút ấy. Tụi mình đã già. Đừng để phí thời gian. Tao chỉ ở chơi với mày ngày hôm nay thôi. Ngày mai lại phải về Mỹ để tiếp tục kiếp trâu cày. Quán vắng. Những lon bia, những tràng cười sảng khoái. Đôi bạn có biết bao nhiêu chuyện để hàn huyên. Hỏi thăm nhau tin tức từng người bạn cũ. - Thế còn mày? Tại sao mày không về quê sống với ông bà già mà lại chấp nhận sống ở vỉa hè ? Dẫu sao cha mẹ cũng vẫn là chỗ tựa vững chắc nhất trong mọi hoàn cảnh. Có cha mẹ nào bỏ con bao giờ đâu. - Chuyện của tao dài như truyện dài nhiều tập. Từ từ tao sẽ kể. Mày hãy nói về mày trước đi. - Tao…ơ. Đơn giản lắm. Trình diện học tập ở trường Taberd rồi được đưa đi nhốt trong các trại tù Long Khánh, Suối máu Hàm Tân, và sau cùng là Hóc Môn. Ở tù khoảng 6 năm. Ra tù không hộ khẩu, không việc làm. Sống lây lất nhờ chợ trời. Tối lẻn về ngủ tại nhà ông anh ruột ở bên quận 8 mà tao vừa đưa đám hôm qua. Móc nối được với một tên anh chị bến tầu, hắn gởi đám “canh me” nhét lên chiếc tầu vượt biên. Biển êm sóng lặng, sau 3 ngày 4 đêm tới Bidong Mã Lai. Ăn cơm Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc được 13 tháng thì qua Mỹ. Hội nhà thờ bảo lãnh. Được cho học nghề Tool & Die rồi đi làm. Lâu lâu bị layoff, xin trợ cấp thất nghiệp. Hết hạn thì vác đơn tìm việc chỗ khác. Cái vòng luẩn quẩn cứ như thế kéo dài đến gần hai chục năm. Không giàu có nhưng cũng không đến nỗi mạt rệp. Cái thằng đế quốc sừng sỏ nhất thế giới không dám để ai chết rét chết đói trên đất nước nó nên tao vẫn sống nhăn răng để được gặp lại mày ngày hôm nay. Chuyện vợ con ư ? Thứ đồ xa sỉ phẩm không bao giờ tao nghĩ tới nữa. Lúc ở đảo, ghép form với một em độc thân có hai con để cùng đi Mỹ. Chịu đựng nhau được gần mười năm thì rã. Tiêu tán hết môt gia tài nhỏ. Ở giá từ đó. Gãi mãi chỗ lăn tăn chán chê thì cách đây vài năm duyên trời dung dủi gặp một bà nạ giòng làm nghề tóc, quen từ hồi chuyển đến nhà mới. Thỉnh thoảng rủ nhau đi ăn cơm chiều, rồi tối rủ nhau về nhà…gãi ngứa cho nhau. Cũng xong ! Tao chỉ còn ở ngoài quậy được ít năm nữa là phải đáo Nursing Home. Còn mày sao ? Thật ra tao vẫn chưa biết gì nhiều về mày trước 75. Đi chơi với nhau nhưng tao không dám đụng đến những vấn đề tế nhị nên không hỏi. Bây giờ nếu muốn mày có thể nói. - Mày nhớ cái thời các ông tướng trẻ làm loạn trên chính trường không ? Lúc đó tao là một trong những sinh viên tranh đấu của Đại Học Huế. Những con cừu non như tụi tao bị tổ chức nằm vùng khai thác triệt để. Chúng lợi dụng lòng nhiệt thành và máu nóng của tuổi trẻ, thổi phồng một cuộc cách mạng xã hội, xô đẩy tụi tao vào những cuộc biểu tình bạo động nguy hiểm. Tao bỏ học và thi rớt liên tiếp 2 năm nên không đủ điều kiện để được tiếp tục hoãn dịch. Bị chính quyền bắt lính và đưa đi thụ huấn quân trường Đồng Đế, trừng phạt tội ngu xuẩn, rồi được gắn một chiếc “cánh gà chiên bơ”. Tao vào nhảy dù, được cho đi học khóa bổ túc sĩ quan, tham gia đủ mọi cuộc hành quân lớn nhỏ của binh chủng. Lần cuối trở về, không chết nhưng bỏ quên một cánh tay và một ống chân ở hỏa ngục Đông Hà cho chó sói gậm. Mạ tao khóc, em tao khóc nhưng tao không khóc. Tao chỉ nghẹn ngào khi được biết mối tình tưởng như vô vọng của tao trước đó thật ra là một mối tình đáng lẽ phải tuyệt đẹp. Nga, người con gái tao thầm yêu, vào Tổng Y Viện Duy Tân thăm lúc toàn thân tao đầy băng bó, ẻn thú thật tình yêu chân thành giành cho tao ngay từ phút đầu gặp gỡ. Vì cả hai đều nhút nhát, hiểu lầm nên tụi tao đã đánh mất cơ hội. Tao đã làm lỡ làng đời tao và tao cũng phá vỡ duyên phận đời nàng, dù ẻn hứa sẽ chờ đợi tao vô thời hạn.
  • 73. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 173 Đó là mối tình lớn và duy nhất trong đời tao. Suốt đời, tao không còn yêu ai. Nghe nói ẻn cũng thế. Để tránh cái thế khó xử cho người con gái đương độ xuân thì, tao để lại cho ẻn trái tim rỉ máu mà đạn thù bắn không thủng, vào Saigon sống lang thang và gặp tụi mày. - Ừ, ngày đó miền Nam đang sôi động với chiến cuộc nhưng Saigon vẫn đèn xanh đèn đỏ và nhạc vàng. Một lần tao, thằng Tùng, thằng Phát và thằng Nhân đã ngà ngà, ghé vào “Quán Gió” trên đường Võ Tánh kiếm ly café giải nghể. Quán nhỏ, tối, có dàn nhạc dã chiến để các ca sĩ tài tử tự diễn. Có một giọng ca khàn đục, nhừa nhựa khói thuốc, uể oải cất lên từ một người lính dù cao gầy, hai nách cặp đôi nạng gỗ, dáng đứng rất Django, một cánh tay cụt một chiếc chân cụt, áo bỏ ngoài quần, không lon lá, nón béret đỏ vắt cầu vai, mắt đeo kính cận đen. Tao nhớ mãi lời hát: Xin cho mây che đủ phận người Xin cho tôi một sáng trời vui Xin cho tôi đến tận nụ cười Cho tôi quên một nấm mộ tươi Xin cho tôi xin vạn lần rồi Một góc này chỉ biết rong chơi Xin cho tôi yên phận này thôi Xin cho tôi yên ngủ một ngày Xin cho đêm không có đạn bay Xin cho chim góp nhạc về trời Xin cho tôi là kiếp của mây Xin cho tôi ra khỏi cuộc đời Để bao giờ trời đất yên vui Xin cho tôi xin lại cuộc đời Cho tôi đi xây lại chuyện tình Cho tôi đi nâng dậy hòa bình Cho tôi đi qua tận gập ghềnh Nhìn giòng máu trong tim anh Cho tôi xin tay mẹ nồng nàn Cho tôi nghe chân trẻ rộn ràng Cho quê hương giấc ngủ thật hiền Rồi từ đó tôi yêu em Xin cho tôi nguyên vẹn hình hài Cho tôi nghe lời hát cỏ cây Xin cho tôi quên phận tù đầy Xin cho tôi là thoáng rượu cay Xin cho tôi xin cả cuộc đời Một hôm nào trẻ hát trong nôi Xin cho tôi xin chỉ một ngày Đó chính là mày. Một thằng lính bụi như tụi tao. Thú thật với mày lúc đó tao muốn vò nát xé rách cái màn đêm bao quanh, cào cấu da thịt, tự hành xác cho thật đau đớn. Mày đã đưa tao đến chỗ tận cùng của cảm giác. Sau đó mày tìm đến bàn tụi tao, kéo ghế ngồi như đã quen biết từ lâu. Tự giới thiệu Đức cụt, quan ba dù. Chữ “cụt” mày nói thật tự nhiên, có một chút hãnh diện. Thằng Nhân quan ba tầu bay chỉ từng đứa giới thiệu, Thiệu quan một Trinh Sát dù, Tùng quan hai TĐ81/BCND LLĐB, Phát quan hai TQLC. Tụi mình thân nhau thật dễ dàng. Năm đứa kéo nhau đi uống tiếp ở bar Crazy Horse trên đường Tự Do. Thấy một thằng Mỹ trắng to lớn đang đùa giỡn nham nhở với đám chiêu đãi viên, tao nổi điên xô ghế đá bàn đấm cho cu cậu một cú trời giáng rồi đá ra khỏi bar. Tội nghiệp cu cậu, không dám đánh trả chỉ thụ động đỡ đòn. Lần đó tao bị nhốt tù TTM ba ngày và lãnh năm củ. - Nhớ rồi. Mấy tháng sau đó con chuồn chuồn sắt của thằng Nhân bị B40 bắn rơi. Tao đưa vợ nó đến Phi đoàn 247 Trực thăng Biên Hòa để được hướng dẫn đi nhận xác. Nó cháy đen, mỡ vàng ứa ra từ những vết nứt, chân tay co rút quắp lại trong thế ngồi, không nhận diện được mặt mũi. Vợ nó, mắt lạc thần, thẫn thờ ôm cứng xác chồng, cho đến lúc tẩm liệm vẫn không khóc. Chị biết cái ngày phải đến đã đến. Ngưới ta bằng lòng cho chị được mang xác về thăm nhà 24 giờ. Chỉ 24 giờ phép rồi phải trả nó vĩnh viễn về đơn vị mới cùng với các chiến hữu đã giã từ vũ khí và với giun dế của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Tao chưa thấy một phụ nữ nào can đảm như vợ nó. Chị là một cựu hoa khôi Trưng Vương. Yêu nó chị bỏ cả học bổng du học New Zealand, chấp nhận ở lại làm chinh phụ rồi quả phụ. Nghe nói bây giờ chị là Giáo Sư đại học ở Pháp, vẫn đẹp não nề và nhất định không tái giá. Đêm đó, tao thức canh quan tài. Nhìn vợ nó, áo xô trắng, đầu quấn khăn tang, tay vân vê chiếc áo bay của chồng, xúc cảm trào dâng trong tao. Vịn vai chị, tao hát nho nhỏ : Hôm nay đi nhận xác chồng Say đi để thấy mình không là mình Hôm nay đi nhận xác anh Cuồng si thuở ấy, hiển linh bây giờ Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ Như môi góa phụ nhạt mờ vết son Tình ta không thể vuông tròn Say đi mà tưởng như còn người yêu Phi cơ đáp xuống một chiều
  • 74. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 174 Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa Dài hơi hát khúc thương ca Thân côi khép kín trong tà áo đen Chao ôi! thèm nụ hôn quen Chong đèn, hẹn sẽ đêm đêm đợi chờ Bây giờ anh phủ mầu cờ Bây giờ anh phủ mầu cờ Em không nhìn được xác chàng Anh lên lon giữa hai hàng nến trong Mùi hương cứ tưởng hơi chàng Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu Tao chưa dứt bài hát thì chị bật òa lên khóc nức nở. Nước mắt ứ đọng từ bao lâu tuôn trào, ướt đẫm áo chồng. Tao cũng không cầm được nước mắt, lọc cọc nhảy ra ngoài trốn cái không khí thê lương. Buổi sáng hôm sau có mày và Phát. Tùng bận hành quân không liên lạc được. Sau đợt kinh cầu siêu của vị Sư già, Phát lấy ly rượu cúng chia mỗi thằng uống một hớp, còn lại định đổ lên nắp quan tài thì vợ Nhân giật lấy uống cạn rồi úp ly. Chị nói, em uống thay cho Nhân đây, em say giùm cho Nhân nhé, Nhân ơi, em muốn say mãi đừng tỉnh. Chị khuỳnh tay y hệt dáng điệu thằng Nhân, nói với tụi mình bằng giọng trầm chậm rãi đúng giọng của thằng Nhân, tụi bay làm gì đến nhà tao đông thế, em ơi mở chai Hennessy rót cho mấy thằng bạn trời đánh của anh đi, anh đang bay không được phép uống rượu. Thiệu ạ, tao lạnh mình vì ngỡ thằng Nhân nhập xác vợ hoặc giả chị đã hóa điên hóa dại rồi chăng. Cả ba thằng thắp nhang vái nó, rồi giơ tay lên trán chào kiểu nhà binh trước di ảnh, cùng hẹn tái ngộ một ngày nào đó khi “tới số”. Tội nghiệp thằng Phát, không biết giờ này ở đâu ? Không ai biết rõ tin tức của nó sau ngày gãy súng. Phường khóm đồn rằng nó vượt trại tù và bị bắn chết nhưng không được xác nhận. Có lẽ nó và thằng Nhân quanh quẩn đâu đây bên cạnh mình mà mình không thể thấy không chừng? Thằng Tùng sướng nhất, ông chú nó nói, qua Mỹ nó học Dược và trở thành “ông Dược Sĩ”. Mày có gặp nó ở Mỹ không ? Không thấy mặt mũi nó bén mảng về VN. - Nó tuyệt tích giang hồ từ lâu. Thằng Tùng vui lắm. Nó kể mỗi lần mày nhậu la de và khi bắt đầu lè nhè ngâm nga, tui xin các bạn đừng cười, tui đi tháo nước trong người tui ra, là nó biết điều đứng dậy, cho mày kẹp cổ thay đôi nạng dẫn đi toilet. Nó phải kéo fermeture quần cho mày, móc thằng nhỏ ra cầm cho mày đái, xong phải vẩy vẩy trước khi nhét vào lại trong quần. Nó nói đào của nó mà biết được chắc sẽ khóc thét lên vì mày không mấy khi cho nó được đi rửa tay… - Sau 1975, chuyện tình của tao tưởng rằng hợp nhưng rồi lại tan. Nga tìm đến tao, rủ vượt biên. Thất bại. Tao không có chân chạy khi bị bể bãi nên thoát. Du kích, công an mải xua bắt những người cố trốn chạy, bỏ quên tao. Nga bị bắt, được cán bộ bảo lãnh ra, rồi lấy hắn. Tao bị ném vào lòng hè phố từ đó. Tao sống sót và “trưởng thành” bất đắc dĩ từ cái xã hội đen kinh khiếp ấy. Không có mùi vị chua chát nào của cuộc đời mà tao không nếm qua. Tao không sợ vì tao chẳng còn gì để sợ. Nếu tao nói với một tên đầu gấu hoặc đại bàng nào đó, tao muốn ăn thua đủ thì nó biết tao nói thật và chào thua, mặc dù chỉ với một cú đấm nó có thể hóa kiếp tao nhưng không đứa nào dám thử. Tao liều mạng nên tụi nó không đổi mạng. Công an phường hành hạ tao chán rồi cũng buông tha. Có một thời gian dài chân tao bị đau nhức không cựa quậy được. Tao muốn tự giải thoát. Nhưng nợ trần gian không dễ quịt nên chưa được gặp Lucifer. Vào bệnh viện đa khoa quận nhất, bị đuổi ra vì không có sổ khám bệnh. May gặp một ông Bác Sĩ mới học tập cải tạo về nhận là thân nhân. Mày biết Y Sĩ Đại Úy Tuấn, có bằng huấn luyện viên dù, trước ở bệnh xá Đỗ Vinh không? Ổng kết nghĩa anh em với tao sau đó và giúp đỡ tao tận tình. Tao không có tiêu chuẩn được mua tại các hiệu thuốc quốc doanh nên ổng bỏ tiền túi mua các loại thần dược giảm đau rất đắt ở các nhà thuốc tư. Tội nghiệp, ổng nặng gánh gia đình, lại không khá giả, phải cưu mang tao nữa nên đôi khi phải cầu viện các bạn bè ở nước ngoài. Những tên thuốc như Oxycodone, Morphine, Codeine…không xa lạ gì với tao. Bị chân hành hạ và phải uống thuốc với liều lượng mỗi ngày mỗi tăng, tao đã bao lần làm ổng phải vò đầu bứt tóc vì ổng biết tao dùng thuốc không theo chỉ định và đã nghiện lậm. Thương ổng tao thề không uống thuốc nữa, nhưng khi thấy tao quằn quại đánh vật với cơn đau thì chính ổng lại đưa thuốc cho tao uống. Ngày ông đi HO qua Mỹ tao lết ra tận Tân Sơn Nhất tiễn. Tao đã mất một người anh, một ân nhân và một người bạn chân thành. Không thuốc, tao sa vào thế giới mới, thế giới của những con ma chích choác. Ông Tuấn từ
  • 75. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 175 bên Mỹ nghe tin buồn lắm, gởi thơ về khuyên nhủ và nhờ một đàn em trong nghề, BS Châu, đến tìm tao và bắt tao đi cai. Chết lên chết xuống, nhập viện xuất viện không biết bao nhiêu lần, cuối cùng với sự kiên nhẫn bền bỉ, BS Châu đã giúp tao thành công. - Tao mừng cho mày đã gặp được những “Lương Y như huynh đệ” chứ không phải thứ “Luơng Y như từ mẫu ghẻ”. Họ tốt quá làm tao đâm ra có mặc cảm tội lỗi vì xưa nay đã chẳng bao giờ nghĩ đến cái bổn phận hay trách nhiệm của những người Việt Nam may mắn sau cuộc chiến. Có ai muốn mua một cái chân hoặc một cánh tay của tao với giá bạc triệu đô la tao cũng không bán. Có ai gắn cho tao lon Đại tướng để đổi lấy một chiếc chân cụt, tao cũng không ham. Ấy thế mà mày đã tặng không cho đời một cánh tay và một ống chân, để trở thành người tàn phế cùng khổ nhất của xã hội. Đời thật bất công với mày. Có mấy ai còn nhớ đến những “anh hùng què cụt đui mù sứt mẻ” đã vác thập tự giá cho họ? Chưa đủ ô nhục, mày còn được đương nhiên đại diện cho toàn gia họ Ngụy, trong và ngoài nước, nhận lãnh những đòn thù của tiểu nhân quất trên tinh thần và thân xác què quặt của mày. Đời sống vật chất dư thừa chỉ làm cho tao no thân ấm cật, ích kỷ. Tao có xin lỗi mày ngàn lần thì mày cũng không nhận, tao biết, bởi vì mày vẫn còn giữ cái khí khái của một quân nhân. Mày đã chấp nhận mọi hoàn cảnh tệ mạt nhất mà không xin xỏ lòng thương hại. Sống trong một môi trường nặng trĩu hận thù đầy kỳ thị, và trong một thân thể chỉ còn lại một nửa, tao không hiểu làm sao mày có thể sống sót đến ngày nay. Tình huynh đệ chi binh - Đó cũng là nhờ anh em phế binh tụi tao luôn luôn nâng đỡ tinh thần nhau, cùng chia đói chia no trong tình huynh đệ chi binh. Một thằng ngã có mười thằng nâng. Tụi tao vẫn hiên ngang chống nạng đi thẳng ngửng mặt nhìn trời. Có người hỏi tụi tao, thương binh bộ đội cầm lựu đạn đi các hàng quán “xin đểu”, làm ăn rất khấm khá, tại sao tụi mày không bắt chước? Cái tay cụt, cái chân què của thằng bộ đội hay của thằng nguỵ có gì khác, ai hỏi giấy ? Tụi tao không làm được, dù có cầm lựu đạn giả đe dọa. Đồng bào mình mà mày, nỡ nào kiếm sống bằng khủng bố. Hèn lắm. Đức dẫn bạn đến vườn Tao Đàn, chọn một gốc cây cổ thụ phía đường Nguyễn Du, trải tấm giấy dầu, bỏ cặp nạng sau lưng, ngồi xuống. Thiệu ngồi đối diện, cách hơi xa một chút. Đức hát vu vơ một vài câu rồi bắt đầu đi vào bài bản. Những bản nhạc thời chiến đưa Thiệu về với quá khứ, nhắc bao kỷ niệm. Anh ngả người nhắm mắt, chống tay ra sau, nuốt từng lời ca của bạn. Đức hát say mê. Giọng rất chuyên nghiệp và truyền cảm, anh có âm vực rất rộng, xuống thấp lên cao rất ngọt, không bị gãy. Tiếng láy tròn trịa. Độc đáo hơn nữa, anh biết giả tiếng đàn guitar. Âm thanh phát ra từ cổ họng nghe hệt tiếng đàn điện. Nghe có tiếng vỗ tay lộp bộp, Thiệu mở mắt. Có vài người khách đứng hai bên anh. Họ lần lượt bước lên bỏ tiền vào túi áo Đức. Một người khách để tiền kẹp dưới chiếc nạng gỗ, anh không nhận. Biết điều ông khách xin lỗi, nhặt lên bỏ lại vào túi Đức. Trọn một ngày đi chơi với bạn, Thiệu hơi mệt vì không quen cái nóng ẩm và ô nhiễm khó chịu của Saigon. Tuy nhiên anh rất vui. Lúc từ giã cả hai đều bịn rịn. Anh hứa kỳ tới sẽ ở chơi lâu hơn để nghe cho hết truyện dài nhiều tập của bạn. Đức nói, chân tao bây giờ yếu lắm, không thể đứng hoặc ngồi lâu, tao không thể lên phi trường tiễn mày được. Thôi chúc mày đi thượng lộ bình an. * * * Về Mỹ, Thiệu vẫn nhớ lời hứa. Anh thương bạn đã già mà vẫn phải lê lết trên vỉa hè, trong công viên. Trước mắt, nó phải có một chiếc xe lăn, anh thầm nghĩ, sau đó mới tính tới chuyện khác. Thiệu bỏ ra hẳn một tuần lễ tìm kiếm một chiếc xe lăn thích hợp cho bạn. Anh tham khảo ý kiến của các Bác Sĩ VN chuyên khoa về phục hồi và vật lý trị liệu. Họ giới thiệu, cho anh chi tiết để so sánh giữa những tiện lợi và bất tiện lợi của hai loại electric wheelchair và electric scooter.
  • 76. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 176 Đức là dân của đường phố nhưng lại có những giới hạn của thể chất, tay đã run, chân rất yếu, nên hơi khó chọn lựa. Cuối cùng anh ra ngân hàng vét gần hết tiền trong trương mục tiết kiệm, quyết định mua chiếc electric wheelchair vì dễ xử dụng bằng những ngón tay, giữ thăng bằng tốt hơn, ghế ngồi tự động điều chỉnh độ cao thấp, và có thể bật ngửa lưng tựa ra phía sau kéo dài chân tựa ra phía trước làm thành một ghế nằm khá thoải mái. Thiệu sửa sọan cho một chuyến đi mới, chọn ngày đến VN đúng sinh nhật của Đức. ** * Sau gần 23 tiếng đồng hồ cưỡi mây lướt gió, chiếc máy bay của hãng hàng không United thả hành khách xuống phi trường TSN đúng hẹn. Làm thủ tục nhận lãnh hàng khá lâu. Về đến nhà nguời anh thì đã quá trưa. Thiệu tắm rửa sơ sài, thay quần áo ngắn. Anh mang chiếc xe lăn đến một nhà hàng trên đường Phạm Ngũ Lão chuyên tổ chức tiệc sinh nhật, nhờ nhân viên gói hộ. Đặt một phòng nhỏ phía trong kín đáo, hàng chữ “mừng sinh nhật Đức cụt” đơn giản được chọn, giăng ngang cửa. Xong xuôi anh thả bộ đến khu nhà ga tìm Đức. Không gặp bạn, anh đi quanh quẩn hỏi thăm. Gã lái xe ôm nhanh nhẩu đề nghị anh lên xe, tìm giúp. Hơn một giờ chạy cùng khắp thì thấy Đức đứng dựa góc tường phía sau hông nhà thờ Đức Bà. Anh vừa hút thuốc vừa hát vu vơ không thành lời. Khán thính gỉa của anh là một đám trẻ bụi đời. Có nhiều tiếng lao sao, tiếng con nhỏ bán vé số rõ nhất: - Chú hát bài “anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương” đi chú. Hôm trước chú hát bài ấy có ông khách mua cho con một tập vé số mà hổng nhận vé, biểu con đưa cho chú nhưng chú sỉn quá con sợ tụi xóm Chà lại móc túi chú nên hôm nay con mới đưa. Chú hát đi rồi con đưa, bài đó hay lắm đó chú. Đức không chần chừ hát liền. Con bé trông hơi lem luốc nhưng có đôi mắt sáng tròn xoe nổi bật trên khuôn mặt thanh tú dễ nhìn. Nó chống cằm ngồi nghe như người lớn. Thiệu lẳng lặng đến ngồi sau nó, hôn lên mái tóc khét mùi nắng, nói: - Cháu ơi, chú mua cho cháu 2 tập vé số. Một tập chú tặng cho cháu, giữ lấy đừng bán, chờ ngày xổ, nếu may mắn sẽ đổi đời, mai mốt biết đâu cháu sẽ trở thành hoa hậu? Một tập cháu mang cho chú Đức nói với chú có một người khách hâm mộ tiếng hát của chú muốn mời chú đi ăn cơm chiều nay. Chú cũng mời tất cả các cháu ở đây đi luôn. Cả bọn vỗ tay reo mừng, nhưng có 3 đứa cúi mặt lững thững bỏ đi. Thiệu gọi giật lại, hỏi lý do. Cả 3 im lặng. Gặng mãi, đứa lớn nhất trả lời lí nhí, tụi con mắc đi bán, nếu không đủ tiền mang về tối nay má đánh đòn đau lắm. Thiệu an ủi, các cháu đừng lo, còn thiếu bao nhiêu chú sẽ bù đắp, cứ đi chơi chung với các bạn, chịu không ? 3 đứa quệt nước mắt, gật đầu. Cả bọn kéo nhau lên ngồi chật cứng chiếc xe Taxi minivan Mercedes 10 chỗ. Tên tài xế tỏ vẻ khó chịu. Thiệu làm bộ không chú ý, ra lệnh lái thẳng đến nhà hàng Phạm Ngũ Lão. Một đứa biết đọc chữ reo lên: - Tụi bay ơi, coi kìa, hôm nay là ngày sinh nhật của chú Đức cụt. Chú Đức sướng quá ta ! Con bé bán vé số có đôi mắt sáng ra vẻ sành sỏi: - Chú Việt kiều này là bạn chú Đức đó tụi bay. Mấy chú công an hổng ưa chú Đức nhưng tụi mình ai cũng thương chú hết. Hôm nào có tiền chú còn bao tao uống nước mía, nước xí muội, nước đá chanh nữa. Chú biểu tao là con gái nuôi của chú đó. - Con nhỏ này xí xọn, bộ tụi tao không biết chú Đức, chỉ có mình mày biết chú thôi hả? Tao còn biết có mấy ông sang lắm có xe hơi mời chú mà chú chê đó tụi bay. Bữa tiệc không có món gì đặc biệt nhưng tất cả ăn rất ngon miệng. Các đĩa đồ ăn được thanh toán gọn sạch, không một chút dư thừa. Đến phần cuối, cắt bánh, lũ trẻ reo hò như ong vỡ tổ. Đức cảm động vịn bàn đứng dậy cầm dao, tay run run không cắt nổi miếng bánh. Thiệu hô lên: - Con gái nuôi của Bố Đức đâu, cầm tay giúp Bố cắt bánh coi. Đức định nói một vài lời gì đó, nhưng Thiệu dơ một ngón tay lên miệng suỵt suỵt: - Có một thằng lính họ Ngụy chịu ơn trời biển của Đại Úy, đã giải vận hạn cho nó và họ hàng Nguỵ nhà nó bằng cách hy sinh một cánh tay và một cái chân cúng dường cho ma quỷ để tất cả giữ được toàn vẹn thân thể, có một món quà muộn màng gửi đến Đ/U, mong Đ/U hoan hỉ nhận. Thùng quà được mang ra. Đức xé bao giấy, gục mặt trên chiếc xe lăn, lắp bắp: - Thiệu, Thiệu có phải tao đang nằm mơ không ? Thiệu dậy thật sớm, bắt xe ôm đến nhà ga. Anh tò mò muốn xem khuôn mặt bạn mình lúc còn
  • 77. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 177 ngái ngủ nên ẩn mình sau một gốc cây kín đáo thật gần để quan sát. Thùng quà được khui ra… Đức dậy còn sớm hơn anh, đang tập xử dụng mọi chức năng của chiếc xe lăn chưa bao giờ mơ tưởng. Anh điều khiển cho xe chạy lui chạy tới, quay phải quay trái, quay nửa vòng, quay trọn vòng, thử đủ kiểu, giống một đứa trẻ thử đồ chơi. Trời còn se lạnh nhưng anh vã mồ hôi. Mệt, anh ngừng lại, hút một điếu thuốc, ngửa mặt lên trời thở khói. Khuôn mặt sáng lên bởi những tia nắng trong vắt đầu ngày xuyên qua từ cành lá. Thiệu đọc được trên đó nét rạng rỡ. Niềm hạnh phúc đến bất chợt, anh hít một hơi mạnh sảng khoái. Anh biết bạn anh cũng thế. Đức ơi, tao đang chia xẻ hạnh phúc với mày đây. Cái hạnh phúc sao nhỏ bé và mong manh quá. Có phải nó là giọt sương đang đọng trên chiếc lá kia, long lanh như hạt kim cương óng sắc, nhưng chỉ một chốc thôi sẽ tan thành nước ? Tao sợ, tao sợ. Tao cầu nguyện cho hạnh phúc ở lại với mày. Tao là thằng hoang đạo nhưng tao tự hứa sẽ đi lễ chủ nhật này. Sẽ xưng tội, sẽ dâng lời cầu nguyện cho mày. Sẽ làm tất cả những gì Thiên Chúa muốn để cho mày được sống bình an hết kiếp này. Mày phải có một đường đi mới không tăm tối, mày cần phải có một lòng tin. Con “đường bác đi” người ta “tử tế” nhường cho mày hãy để lại phía sau, lấp nó đi đừng để cho người khác dẫm nữa. Hay là tao sẽ lôi cổ mày vào nhà thờ với tao hoặc tao sẽ hộ tống mày tới cửa chùa, đến với Đức Phật mà mày từng nói Mạ mày rất sùng kính ? Đức ơi, làm ơn dễ dãi một chút, kéo được mày đi đến chốn ấy thì cũng khó như bảo cô dâu đừng trang điểm trong ngày cưới. Không biết đang nghĩ gì, bỗng nhiên Đức giơ cánh tay không cụt lên cao, rồi vỗ đùi, nhe răng cười hí hửng như đứa trẻ được kẹo. Thiệu mỉm cười, nói với mình, thằng con trai cười khó có cảm tình quá, ngày mai chắc phải đưa nó tới Nha sĩ gắn hai chiếc răng khuyết, cho nó có nụ cười Fernandès dễ thương hơn. Ra khỏi chỗ nấp, Thiệu len lén đứng sau chiếc xe lăn, hét vào tai bạn làm Đức giật mình suýt té xấp: – Đức cụt ! Nhẩy dù _, không thích _ bia ôm, chỉ thích _ café. Đi uống café với tao ! Nắng lên rất nhanh, chan hòa, ấm áp, không đuổi kịp bước chân và bánh xe reo vui của đôi bạn. Viết ngày 10 tháng giêng năm 2009 (Cám ơn Milou đã ngoan ngoãn, không phá Bố ) TCN Thi Nhân và Vận Nước Nhà thơ thà lỡ cuộc chơi trăng, Giặc Bắc xâm lăng nước nhục nhằn Vác bút thi nhân vào cuộc chiến. Chống giặc ngoại thù dụng kỹ năng Đánh động lòng dân cùng cứu nước, Quét sạch nội thù diệt ác căn Non nước bình yên Xuân trở lại, Rượu nồng thi sĩ đón chờ trăng Phương Nam Chặng Cuối Con Đường Đấu Tranh Giai Cấp của Cọng Sản Đấu tranh giai cấp dằng dai Quá khứ hiện tại tương lai thế nào? Xưa kía trí, phú, địa, hào Việt cọng bức tử quăng vào mồ ma ! Bấy giờ đến lượt đảng ta, Giai cấp thống trị hóa ra tội đồ. Chúng là một lũ cuồng nô Ngồi trên dân tộc cơ đồ nát tan ! Đảng viên là hạng vua quan Nhân dân bị trị trăm ngàn đắng cay. Đấu tranh giai cấp kéo dài, Các ông chủ đỏ đến ngày cáo lui. Nhân dân thắng lợi mừng vui, Đảng ta thất bai ngậm ngùi ra đi. Phương Nam
  • 78. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 178 Đồng Hương Trà Vinh Quy Tiên Trong Năm 2013 * Bà Võ Thành Liêm nhũ danh Lê Thi Muôn là hôi viên của hôi Trà Vinh đã từ trần ngày 28 tháng 10 năm 2013 tại Santa Ana California. Hưởng thọ 79 tuổi. * Bà Maria Nguyễn Thị Đức Là phu nhân của Ông Nguyễn Văn Thành (Ông Thành là thành viên sáng lập, Phó Hội Trưởng, kiêm Thủ Quỷ) đã qua đời lúc 4:50 chiều ngày 12 tháng 9 năm 2013 tại Westminster, California USA. Hưởng thọ 69 tuổi. * Cụ Dương Vĩnh Trường Hội Viên Thường Trực của Hội Aí Hữu Trà Vinh, Cựu Đại Úy Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 2 Thiết Đoàn 9 kỵ Binh SĐ21B.B. Sinh ngày 21 tháng 6 năm 1942 tại Trà Vinh, Việt Nam. Từ trần lúc 9:30AM thứ 4 ngày 3 tháng 7 năm 2013 tại Garden Grove Hospital. Hưởng thọ 72 tuổi. * Ông Lê Văn Thiên Lý Là Trưởng Nam của Đồng Hương Hội Viên Lê Văn Cường và Huỳnh Thị Nhị, đã mệnh chung vào ngày 20 tháng 6 năm 2013 tại Sacramento California. Hưởng Dương 44 tuổi. * Thầy Nguyễn quang Hiền Cựu Giáo Sư, cựu giám học Trung Học Vĩnh Bình, đã tạ thế ngày 30 tháng 03 năm 2013 tại California USA (nhằm ngày 19 tháng 02 năm Quý Tỵ) hưởng thọ 79 tuổi. * Bà Quả Phụ Lý Văn Tư, nhủ-danh DIỆP-THỊ-HAI, Pháp danh Thông Phước là thân mẩu cuả anh LÝ ĐĂNG KHOA.Từ trần ngaỳ 2/6/2013 tại bệnh viện Anaheim Medical Center, California, USA. Hưởng thọ 90 tuổi. * Bà Võ Thị Tình, Pháp Danh Quảng Nghĩa, Thân mẫu của Đồng Hương Huỳnh Kim Tiến và là Nhạc Mẫu của Đồng Hương Võ Văn Diệu; Tạ thế ngày 28 tháng 12 năm 2012 nhầm ngày 16 tháng 11 năm Nhâm Thìn tại Saigon ( VN) - Hưởng thọ 96 tuổi. BÁI BIỆT NHẠC MẪU Bà Võ Thị Tình sanh năm 1916 tại Làng Đức Mỹ tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nề nếp và lễ giáo. Bà là con thứ Tư trong 9 chị em , Bà sánh duyên cùng Ông Huỳnh Văn Niên ở làng Đại Phước ( Trà Vinh) và trở thành goá phụ từ năm 1965. Ông Bà có tất cả bảy người con. Ở tuổi chín mươi sáu, qua bốn thế hệ, bà có thêm 20 cháu nội và ngoại cùng 25 đứa cháu cố ( chắt). Bảy người con và 45 cháu chắt hiện đang sống rải rát khắp thế giới, do đó Bà Võ Thị Tình đương nhiên trở thành Mẹ, Bà Nội, Bà Ngoại và Bà Cố Quốc Tế từ quê nhà Việt Nam đến Úc Châu, Âu Châu và Mỹ Quốc Bái Biệt NHẠC MÂU VÕ THỊ TÌNH Kính dâng nhạc mẫu mấy lời quê Goá phụ tòng phu thủ tiết thề Tứ đức chu toàn tình phụ mẫu Tam tòng trọn vẹn đạo phu thê Tuổi trời chín sáu, bao dâu biển Cháu chắt bốn lăm tỏa tứ bề Dưỡng dạy bảy con đều thịnh đạt Một đời vất vả : Mẹ, Hiền Thê ! Con Rể Võ Văn Diệu kính bái
  • 79. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 179
  • 80. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 180
  • 81. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 181
  • 82. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 182
  • 83. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 183
  • 84. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 184
  • 85. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 185
  • 86. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 186
  • 87. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 187 Tường Trình Tài Chánh Permit # 2615976 dated: 6.22.2004 Treasurer : Nguyễn Văn Thành Niên Liễm và Ủng Hộ năm 2013 TRÍCH ĐOẠN SỔ TÀI CHÁNH Chúng tôi xin chân thành cám ơn quý đồng hương mạnh thường quân, hội viên đã trực tiếp gởi cash hay gởi qua bưu điện chi phiếu để ủng hộ và đóng niên liễm hằng năm. Tại văn phòng, chúng tôi có sổ cái để ghi nhận theo thứ tự từ số 1 và cho đến nay là số 514. Năm 2013 khởi từ số Và ngay trong sổ nầy chúng tôi cũng ghi cập nhật diễn tiến tiền quỷ chi xuất, trích in để bà con tường lãm. Tiếp tục vô sổ sau ngày họp 26 tháng 8 năm 2012. 426 Tiền Hè dư sau khi chi phí $310 427 Võ Tr Hiếu & Đỗ T. Nguyệt PA $30 NL 428 Steven R Kiên & Nancy Kim FL$300NLUH 29-8-2012Deposit Cash+7Check=(310$+510$)=820$ 429. Nguyễn Văn Vui CA $20 NL 430 Dương Thị Định CA $20 NL 431 Võ Phụng Sơn CA Check $20 NL 432 Trần C. Lộc & Phương T Châu CA $40 NL 433 Tô Nguyên Và Lệ CA Check $40 NL 434 BS Trung Chĩnh CA Quảng cáo $100 QC 435 Hồ Văn Phong Indoo cash $20 NL 436 Trần bá Phước Australia NL+UH $100 437 Lý Tuấn Hiền OR check $20 NL 438 Đăng Thị Ngọc KS check $20 NL 439 Hưa Ngọc Danh Canada NL+UH $50 440 Trương Thái Hòa Canada NL+UH $50 441 Trần T Anh (Chương Trần) TX $30$ UH báo 442 Kiên Rệm FL UH+NL & mua 3ĐS $100 443 Ô Bà Trương Loan (DDC Trương Loan) Redland CA check UH+NL $100 444 Lê Trung Trinh TX cash $100 UH 445. Cường Đ Âu VA NL+ ĐS $30 446. Nguyễn Thanh Sơn TX NL+UH $30 447 Đỗ Minh Nghĩa Canada NL+UH $50 448. Huỳnh Khắc Sử Canada NL+UH $100 Ngày 6/2/2013 Deposit 15 check = $ 848 449. Lê Thị Muôn (bà Võ Thành Liêm) $20 NL 450 Cường Đức Âu VA cash $30 UH 451 Hồ Phát check UH & quảng cáo $300 452 Kiên Rệm FL UH tiệc Xuân $200 453 La Tấn MI cash NL+UH $25 454 Trần Nguyệt Viên CA cash $20 NL 455 Nguyễn Ánh Nhựt UH tiệc Xuân $100 456. Võ Trung Chí Pháp cash $100 UH 457 Bà Dương ChiêuAnh UC mua 3ĐS $100 458 Huỳnh Ngọc Cấm CA NL+UH $30 459 Phan Thỏa Thanh KS NL+UH $70 460 Kiên Bé OR check UH+NL $50 461 BS Tiêu Khải CA QC & 5 Đ S $150 Ngày 7/3/ 2013 deposit 7 check = $790 462 BS Bành Văn Tỷ Canada (HKSử) $100 463 Thảo Văn Lê AR NL+2 ĐS $70 464. Nguyễn Duy Tưởng TN NL-UH $35 465 Đoàn Hiếu Khỏe KS NL+UH $50 466 Bane Ly FL check $20 NL 467. Phan Trung Nghĩa OK NL+UH $50 468. Trần Loan San Diego CA check $20 NL 469. Kim Quang CA check Quảng cáo $200 470. Kim Hoa CA cash Quảng cáo $100 471. Kim Sa TX check $20 NL 472. Văn Bút CA cash Quảng cáo $150 473 Trường Việt Ngữ CA cash QC $100 474 Sách bán lẽ : Văn bút $70$, Phước Hạnh $35, Tự Lực 21$ cộng chung cash $126 475 Trần Kim Được VA cash $20 NL 476. Trần Thị Anh OR check $20 NL 477. Huỳnh Ngọc Hiêu TX check $20 NL 478. Đ/T Huỳnh Văn Chính GA check $20 NL Ngày 28/3 năm 2013 Deposit 11 check + $515 Cộng thu tiền cash là + $1241 Chi cho ba cái phân ưu ( Bà Võ thị Tình, Bà Lê Lý Hảo, Bà Võ Văn Cao)… - $176 Tem thư mời & cước phí gởi đặc san - $529.68 Cộng Chi: - $705.68 Tiền cash còn giữ là + $535.32 Năm nay 25 bao lì xì 50$ do Anh Vui xuất Bông hồng cũng Anh Vui xuất Anh Vui nhớ đến họp để trả khoản tiền nầy. Ngoài ra, Anh Chị khác có chi khoản nào thì đến họp lúc 10 giớ ngày 31/3/2013 tính Văn phòng nhận tiếp theo và vô sổ cái như sau: 479. Ngô Thiết Hùng CA Cash $20 NL 480. Tiền tiệc Xuân còn dư Anh Thành $ 660
  • 88. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 188 gồm có ( $590 cash + $70 Check) 481. Thủy Lệ Châu TN Check $20 NL 482. Golden Jade Jewelry CA Check $100 QC 483. Võ Đăng Cao San Diego NL+UH $100 484. Đoàn Hữu Huy CA Cash $204 NL 485. Uông Bình Chương WA NL+UH $100 486. Câu Ký Water CA Check $100 QC Ngày12/4/2013 deposit $590 cash và 6 check (70+20+100+100+100+100=490) total=$1080 Còn số tiền cash văn phòng giữ là 535$ ( chưa trả tiền lì xì và bông hồng cho Anh Vui) 487. Phan Hiền Thảo Cypress TX NL+UH $50 488. Lê Văn Út WA Check $20 NL 489. Lý Tuấn Hiền OR Check $20 NL 490. Trần Sinh Mến FL Cash NL+UH $25 491. Trần Bá Phước Australia NL+UH $100 492. Trần Đắc Vĩnh ILL NL+UH $40 493. Trần Tự Quí NY NL+UH $50 Balance Account on 05-14-13 là $4,313,24 494 Trần Sinh San Diego NL+UH $40 495 Nguyễn Văn Ai TX NL+UH $50 496 Huỳnh Văn Thì sacramen $130 (Lê Văn Cường $20$ NL, Nguyễn Thái Lai $20 NL, Phan Vĩnh Thành $20 NL,Huỳnh văn Thì $20 +$50UH) 497 Steven Kiên Rệm FL UH Hè Check $100 498 Bonaventura Nguyễn (Nguyễn Văn Thượng) Alameda Check UH Hè +KH $100 499. Kiên Rệm FL Mua Đ/S+UH $50 500 Nguyễn Ánh Nhựt CA UH HÈ$ $50 501 Dương V Văn Corona UH Hè+KH $50 502 Quách Thành Triệu MA NL+Đ/S $50 503 Ngoc Diệp Sadler CA NL + UH $50 504 Nguyễn Thu Hà NY NL+UH $100 Ngày 29/7/2013 deposit tổng cộng $810 505. TiêuKTrung&ThuThúyTXmuaĐ/S+NL $100 506. Thạch Nhâm FL NL+UH Check $50 507 Võ Văn Diệu CA Cash $1675+ check $50 508 Dương Ngọc Cầm OR Check $20 509 Trần Đức Hảo (Australia) NL+UH $50 510 Lâm Quang (Trần Văn Ẩn) TN $35NL+UH Thu tại văn phòng từ 3/28/ đến 11/20 là: $2525.32 Anh Vui $56 ($50 lì xì + 6$ bông hồng giấy) Anh Diệu $200 (mua vật dụng yễm trợ) Bác Thành $129 (Receip heo quay) Anh Thành $273 ( $190 huy chương+$65Tiền Thưởng+cái bàn 5ft 38$-20$) Anh Nhựt $400 (100$ huy chương 100$ heo 200$ giấy mực) Văn Phòng 391.85 Phân ưu Dương Vĩnh Trường 63$ Phân ưu Bà Lý Văn Tư 63$ Tem thư mời Hè, cước phí gởi đặc san; mua, Gởi báo cho các tác giả $255.85 Tổng cộng là $1439.85 (Quý vị sau đây cho free Hội: Thomas Trung: Pizza và nước uống Kiên Phi Bằng: bao nhảy thi Chị Hải Đường: ủng hộ thùng đựng nước đá Trúc Bolsa Auto repair ủng họ 4 pizza 40$ cho Hè Tiền còn lại: $1085.47 Ngày 24 tháng 8/2013 Emerald Bay Restaurant (Deposit nhà hàng mùng 10Tết ) $200 Ngày 16 tháng 9/2013 Ph/U Bà Maria Nguyễn Thị Đức (Báo Người Việt) $63 Ngày 19/9/2013 Vòng hoa tang $100 Còn lại: 1085.47 – 363 = $722.47 Balance on October 15, 2013 $4,660.24 511. Chu Tiểu Trà Canada Check $20$ NL 512. BS Trung Chỉnh QC Đ/S 2014 $100 513. Võ T.Hoàng Anh (France) NL+UH $100 514 Quan Hồ WA NL+UH Cash $ 50 515 Trần Bá Kiết Germany NL+UH $70 Euro 516 Đoàn Công Danh WA NL+UH $ 30 Niên Liễm & Ủng Hộ tại hội XUÂN & HÈ 2013 Hội Xuân 2013 01 Nguyễn-thị-kim-Chi NL+UH $30 02 Nguyễn-văn-Thành NL+UH $15 03 Hàng-công-Thành NL $20 04 Thomas Huỳnh NL $20 05 Tuyết-Nguyễn NL $20 06 Nguyễn-văn-Vui NL $20 07 Kiều-Trương NL $20 08 Đổ-thành-Phẩm NL $20 09 Lý-Đăng-Khoa NL+UH $25 10 Giang-thoại-Khanh UH $15 11 Ngô-thị-Rạng NL+UH $25 12 Hồ-thị-Tỳ NL+UH $100 13 Giang-lệ-Châu NL $20 14 Cam-mộng-Hoàng NL $20 15 Võ-văn-Diệu NL $20 16 Phạm-thị-My NL+UH $25 17 Ô. Bảy Niên NL $20 18 Huỳnh-long-Thăng NL+UH $45 19 Bằng-Kiên NL $20 20 Hùng-Kiên NL $20 21 Trương-sỉ-Phương NL $20 22 Hà-kim-Danh UH $15 23 Châu-Muội NL+UH $75 24 Trần-trọng-Lành NL $20 25 Phạm-Thị-Diệu-ChiUH $5 Hè 2013 01 Hùng-Ngô NL $20 02 Giáp-Trần NL $20
  • 89. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 189 03 Tuyết-Nguyễn NL $20 04 B.Hàng-công-Thành NL $20 05 Hàng-mỹ-Lệ Chung 06 Tôn-thất-Di bốn $100 07 Lê-hàng-cẩm-Lệ người 08 Nguyễn-cường (5+6+7+8) 09 Nguyễn-thị-Phụng UH $10 10 Nguyễn-Duật NL $20 11 Hàng-châu-Trinh NL $20 12 Hồ Thị Tỳ UH $100 13 Nguyễn Văn Thành (UH giải KH 30) $40 14 Nga-Nguyễn UH $10 15 Anh Thọ UH $10 16 Giang-lệ-Châu UH $70 17 Trần Sinh UH 1 máy ảnh giải Lô Tô 18 Anh Trúc (auto Blolsa) UH 3 hộp Pizza 19 Kiều-Trương UH $20 20 Vui-Nguyễn UH $10 21 Văn-cửu-Long UH $10 22 Phát-Cuả NL+UH $50 23 Phát-Cuả NL $20 24 Thomas UH $10 25 Bằng Kiên UH $30 26 Đổ-thành-Phẩm UH+NL $40 27 Trần-Xiều NL $20 28 Danh-Nguyễn NL+UH $20 29 Bùi-Hải-Đường NL $20 30 Bảo-Nguyễn NL $20 31 Hồ-chí-Hoà NL+UH $30 32 Dũng + Mỹ-Vân HU $20 33 Huỳnh-văn-Lang NL $20 34 Trần Văn Niên NL $20 35 Lê-ngọc-Hân NL+UH $50 36 Võ-văn-Bê NL+UH $30 37 Huỳnh-kim-Tiến NL+UH $50 38 Tạ-văn-Tám (C.N) NL $20 39 Lý-hồng-Hoa NL $20 40 Tăng-đông-Sanh NL $20 41 Nguyễn-văn-Dụng NL $20 42 Nguyễn-bích-Ngân NL+UH $30 43 Đoàn-duy-Đạt NL $20 44 Huỳnh-văn-Sáng UH $10 45 Ngô-hồng-Phước NL $20 46 Cam-mộng-Hoàng NL+UH $40 47 Trần-ngọc-Lang NL+UH $30 48 Trương-sỉ-Phương UH $10 49 Hà-kim-Danh UH $20 50 Huỳnh T..MỹXuân UH $20 51 Tạ-Hiêm UH $20 52 Tạ-Thảo UH $20 53 Tạ-Phú UH $20 54 Dinh-Nguyễn UH $20 55 Phượng UH $20 56 Tuyết UH $20 57 Thận-Phạm UH $20 58 Thạch-Tạo NL $20 59 Giang Lệ Châu UH $20 60 Đàm-Muối Nhỏ UH $20 61 Huỳnh-Hạnh UH $30 62 Lâm-Khiên UH $20 63 Trịnh-hảo-Tâm NL+UH $40 64 Phạm Gấm UH $50 65 Quốc-Việt UH $20 66 Trung, Hằng UH $40 67 Nguyễn-thúy-Hiền 68 Nguyễn-thúy-Hạnh UH (67+68+69) $100 69 Nguyễn-huy-Hiếu 70 Kiên-Đạt UH $30 71 Huỳnh-thị-Cơ UH $40 72 Văn-mỹ-Hằng UH $20 73 Quách-văn-Đệ UH $20 74 Thanh UH $20 75 Cô Ba UH $20 76 Lê-ngọc-Điệp UH $200 Tiền là cái vật chi chi Tiền là tờ giấy số ghi rõ ràng Có tiền phú quý giàu sang Không tiền lắm kẻ cơ hàn điêu linh Có tiền lắm kẻ chung tình Không tiền nó đá cho mình quay lơ Có tiền kẻ đợi người chờ Không tiền bạn hữu thờ ơ chẳng nhìn Có tiền đầy đủ họ hàng Không tiền cô bác bàng hoàng chơi vơi Có tiền thỏa thích ăn chơi Không tiền làm toát mồ hôi cả ngày Có tiền sáng xỉn chiều say Không tiền bụng đói suốt ngày nằm phơi Có tiền lầu phố xe hơi Không tiền nằm ngủ chao ôi đói lòng Có tiền cưới vợ gả chồng Không tiền thì ông tơ hồng không se Có tiền anh nói em nghe Không tiền anh nói em chê anh nghèo Không tiền cuộc sống gieo neo Không tiền cam phận tèo teo một mình.
  • 90. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 190 Mỹ phát hành giấy bạc 100 đôla mới Nước Mỹ bắt đầu lưu hành tờ 100 đôla mới từ ngày Thư Ba 8/10/2013 sau hơn hai năm trì hoản. Người Mỹ đã mất hơn 10 năm thiết kế nên tờ tiền này. Lúc đầu, họ định tung tờ tiền vào lưu thông từ tháng 2/2011. Tuy nhiên, các nhà chức trách phát hiện ra một lỗi in ấn khiến một số tờ tiền bị nhàu, có nếp gấp nên họ phải in lại và hoãn kế hoạch phát hành đến nay. Tờ giấy bạc mệnh giá 100 USD là tờ giấy bạc phổ biến nhất thế giới mà Mỹ in ấn. Theo ước tính, một nửa đến hai phần ba trong số các tờ 100 USD từng được in ra - trị giá khoảng 8 tỷ USD - được sử dụng ở bên ngoài nước Mỹ. Cũng vì thế, đây là tờ đôla Mỹ bị làm giả nhiều nhất. Các cọc tiền 100 USD mới chuẩn bị được đưa vào lưu hành từ hôm 10/8/2013 . Ảnh: NYT Tờ bạc này vẫn sẽ mang những đặc điểm truyền thống từ lâu nay, nhưng cũng sẽ có những nét mới nhằm ngăn chặn tình trạng làm giả. Giống như tờ 100 đôla hiện thời, tờ bạc mới sẽ mang chân dung của Benjamin Franklin, một nhà lãnh đạo trong cuộc Cách mạng Mỹ hơn hai thế kỷ trước. Mặt sau sẽ có hình Hội trường Độc lập ở thành phố Philadelphia. Theo một viên chức từ Cục Dự trữ Liên Bang, quyết định sản xuất tờ tiền 100 USD mới nhằm đối phó với nạn tiền giả đang ngày một tinh vi. Mặc dù vậy, loại tiền mệnh giá 100 USD cũ, dù được in ở bất kỳ thời điểm nào vẫn luôn có giá trị lưu thông như nhau. Những tờ bạc mới với những chi tiết bảo mật trên tờ tiền sẽ khiến người dùng chỉ cần mất một vài giây là phân biệt được thật giả. Cũng sẽ có con số "100" in màu vàng ở góc, và bên cạnh ảnh của ông Franklin có một cây bút lông ngỗng màu vàng nâu cùng với một lọ mực màu đồng. 100 US đô la mặt trước 100 UD đo la mặt sau Bên trong lọ mực có in hình chiếc Chuông Tự do Philadelphia và nó thay đổi màu sắc từ nâu sẫm sang màu lục tùy theo góc nhìn tờ bạc. Ngoài ra còn có một vạch an ninh màu xanh in theo chiều dọc tờ bạc với con số "100" và Chuông Tự do nhỏ hơn, màu xanh sẫm hơn. Trong 10 năm qua, Mỹ đã thiết kế lại hết tất cả tiền tệ của mình ngoại trừ tờ bạc mệnh giá 1 và 2 đô la. Thống kê mới nhất của Fed đưa ra hồi 31 Tháng Mười Hai, 2012, cho thấy, trong số tiền giấy đang được sử dụng, có tổng cộng 10.3 tỉ tờ: $1, 8.6 tỉ tờ $100 và 7.4 tỉ tờ $20, rồi sau đó đến các tờ $5, $10, $50 và $2. Khoảng 75% tổng số tiền $1,000 tỉ hiện đang được sử dụng là tiền $100, đa số người ngoài nước Mỹ sở hữu. Nguồn: Internet
  • 91. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 191
  • 92. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 192
  • 93. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 193
  • 94. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 194
  • 95. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 195
  • 96. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 196
  • 97. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 197
  • 98. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 198
  • 99. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 199 Sách 'Hai Mươi Năm Chiến Sự Nhẩy Dù' phát hành Bài và hình: Nguyên Huy/Người Việt Trưa hôm Chủ Nhật, 7 tháng 11 vừa qua, hai Mũ Ðỏ Võ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên đã ra mắt cuốn sách tâm huyết của mình “Hai Mươi Năm Chiến Sự” của binh chủng Nhẩy Dù tại hội trường của nhật báo Người Việt Ðộc giả đã nối nhau mua sách “Hai Mươi Năm Chiến Sự” của Nhẩy Dù sau buổi ra mắt sách. Bốn niên trưởng Nhẩy Dù trong đó có cựu Ðại Tá Lê Văn Phát, lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn III Nhẩy Dù, và gần hai trăm Mũ Ðỏ đã đến chia vui cùng hai tác giả. Ðồng tác giả Nguyễn Hữu Viên đã mở đầu buổi ra mắt sách, gửi lời cảm ơn nhật báo Người Việt và anh em chiến hữu đã giúp cho cuộc ra mắt sách này được hoàn hảo. Ông nói: “Ðây là những khích lệ lớn lao cho chúng tôi cố gắng hơn nữa trong thời gian tới.” Bốn chiến hữu và một “hậu duệ” đã lần lượt được ban tổ chức mời lên phát biểu ý kiến. Cựu Lữ Ðoàn Trưởng Lê Văn Phát thấy rằng: “Sư Ðoàn Nhẩy Dù là một đơn vị tổng trừ bị của QLVNCH, thiện chiến và từng tham dự hầu hết các trận đánh quan trọng trong cuộc chiến VN, nhưng cho đến nay lại chưa có một cuốn sách nào viết đầy đủ về những chiến tích ấy. Nay Võ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên đã làm được việc này giúp cho tuổi trẻ hiểu được những hy sinh của thế hệ cha anh.” Nhà văn Phan Nhật Nam nhận định rằng: “Chiến tranh VN đã bắt đầu được dư luận khắp nơi nhìn lại chính xác hơn. Nên chúng ta phải viết lại những kỳ tích mà người lính Nhẩy Dù đã thực hiện được, cho dù đã muộn.” Nhà văn Phan Nhật Nam cũng đề nghị nên tham khảo thêm những tài liệu phía cộng sản trong những trận đánh ấy để có cái nhìn chính xác hơn. Ðồng thời các tác giả cũng nên điều chỉnh viết thêm về chính trị trong các trận đánh ấy vì đó là mặt thật của cuộc chiến tranh VN. Người lính Dù “ăn to nói lớn” Phạm Ðình Cung sau khi ca ngợi việc làm của hai tác giả, đã thốt lên: “Cho dù thế nào cũng không bỏ anh em. Những người đang chống đối các anh là những người không đi lính mà chỉ ăn trợ cấp, đi biểu tình chống các anh.” Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, người thanh niên trong thời đại chiến chinh, vì “thi rớt nên phải du học” cho biết cảm nghĩ “vì không có mặt trong cuộc chiến này nên trong lòng luôn cảm thấy biết ơn, phải tri ơn những hy sinh của những người lính trong QLVNCH.” Thế hệ trẻ Tạ Ðức Trí, nghị viên thành phố Westminster và hiện đang dẫn đầu số phiếu tái cử trong cuộc bầu cử 2 tháng 11 vừa qua cũng phát biểu rằng: “Lớn lên sau chiến tranh nhưng khi qua đến Hoa Kỳ, được biết và tìm hiểu mới rõ được những hy sinh to lớn của thế hệ cha anh. Ðó là niềm tin và niềm tin ấy đã thúc đẩy tuổi trẻ chúng tôi tiến bước.” Kết thúc buổi ra mắt sách, đồng tác giả Võ Trung Tín tâm tình: “Viết cuốn sách này chúng tôi cố gắng giữ sự trung thực để đền đáp những sự hy sinh cao cả của người lính VNCH để cho chúng ta được sống như ngày nay. Nhân dịp này chúng tôi xin được cảm ơn tất cả những bạn bè thân hữu, chiến hữu khắp nơi, đã thuận cho phỏng vấn, góp thêm ý kiến trong khi soạn thảo cuốn sách này.” Nhìn chung, toàn cảnh cuộc ra mắt sách này có một điểm độc đáo là tất cả những người lên phát biểu ý kiến đều rất ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa. Có lẽ ai nấy đều nghĩ rằng lính Dù VNCH là những chiến sĩ thường đánh nhanh, rút gọn đã gây không ít kinh hoàng lẫn thán phục cho địch quân, cho nên đã không dài dòng. MC Ðinh Quang Anh Thái khi dẫn chương trình có kể một câu chuyện rằng lần đi Ðông Âu công tác, anh có gặp một thanh niên, tên Nông Ðình Bửu gốc miền Bắc đang sống tại đây, lúc nào cũng thấy anh này mặc bộ quân phục Nhẩy Dù của VNCH. Lân la tìm hiểu thì được biết thanh niên này rất ngưỡng phục người lính Dù VNCH. Niềm ao ước của anh là có thêm được bộ đồ Dù mới để thay đổi.
  • 100. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 200
  • 101. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 201 ĐẶC SAN TRÀ VINH XUÂN GIÁP NGỌ – Năm 2014 Võ Trung Tín Thạch Bông Văn Tường Võ Văn Diệu Nguyễn Văn Vui Nguyễn Văn Nhựt Huỳnh Văn Luận Từ Văn Thọ Huỳnh Kim Tiến – Ngô Văn Thành Trương Bạc Xuổl & Kiên Phi Bằng Với Sự đóng góp bài vở của: Anh Ba Phước Hưng BS Nguyễn Lưu Viên Chu Tiểu Trà Dương Chiêu Anh Hoàng Yến HtH Huệ Tường Huỳnh Khắc Sử Huỳnh Tâm Hoài Kiên Lý Kiên Rẹm Steven Kim Chung Hoàng Vũ Lâm Thanh Lê Võ Lucky Nguyễn Nguyễn Minh Cần Nguyên Nhung Nguyễn Thái Lai Nguyễn Văn Nhựt Nguyễn Văn Thành Nguyễn Vũ Anh Tuấn Ông Xã Năm Phạm Chinh Đông Phạm Tín An Ninh Phương Nam TCN Thanh Nguyên Tiền Anh Thư Tiền Lạc Quan Tiền Vĩnh Lạc Trần Quang Hải Trần Thế Phong Tructhanhan Trương Thái Hòa Tú Rệu Tú Sinh Từ Văn Thọ Tường Lam Văn Tường Vĩnh Thuận Vĩnh Trường Võ Vĩnh Kim Tòa soạn: 9242 Bolsa # B Westminster CA 92683 Tel: 714-856-9202 Trang Web: aihuutravinh.com or Travinhhaingoai.com Email: pvotin@gmail.com
  • 102. Đặc San Trà Vinh N ăm Giáp Ngọ - 2014 trang 202