• Like
Tài liệu tổng hợp ck
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

Tài liệu tổng hợp ck

  • 1,023 views
Published

 

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
No Downloads

Views

Total Views
1,023
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
125
Comments
0
Likes
2

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. 1 KIẾN THỨC CĂN BẢN VỀ CHỨNG KHOÁN CHƯƠNG I:TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Khái niệm Thị trường chứng khoán là gì? Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán còn là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp. Do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi. Phân loại: Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trong thị trường sơ cấp, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành. Thị trường thứ cấp là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. -Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán (Stock exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch. -TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận. Chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
  • 2. 2 - Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng - Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán - Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp - Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể được chia thành các nhóm sau: nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức có liên quan đến chứng khoán. a) Nhà phát hành Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán. Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương. - Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ. b) Nhà đầu tư Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức. c) Các nhà đầu tư cá nhân Các nhà đầu tư có tổ chức Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán Công ty chứng khoán - Quỹ đầu tư chứng khoán
  • 3. 3 d) Các trung gian tài chính Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán Cơ quan quản lý Nhà nước - Sở giao dịch chứng khoán - Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán - Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán - Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán - Các tổ chức tài trợ chứng khoán - Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm... Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản sau: Nguyên tắc công khai - Nguyên tắc trung gian - Nguyên tắc đấu giá Cấu trúc và phân loại cơ bản của thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán những sản phẩm tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, các khoản vay ngân hàng... có kỳ hạn trên 1 năm). Sau đây là một số cách phân loại TTCK cơ bản: a) Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.T · Thị trường sơ cấp Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.
  • 4. 4 · Thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp, đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. b) Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC). c) Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh. · Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi. · Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ. · Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn CHƯƠNG II:CỔ PHIẾU LÀ GÌ? *Khái niệm: Khi một công ty gọi vốn,số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận gọi là cổ phiếu. Như vậy cổ phiếu là chứng thư chứng nhận quyền và lợi ích của cổ đông đối với cổ phần của công ty phát hành.
  • 5. 5 *Phân loại:2 loại -Cổ phiếu thường: thể hiện quyền sở hữu được bỏ phiếu của một công ty cổ phần. Các quyền của cổ đông có cổ phiếu thường: Người sở hữu cổ phiếu thường thông thường được hưởng một số quyền lợi nhất định như sau: - Quyền bỏ phiếu bầu HĐQT. - Quyền nhận cổ tức theo công bố của HĐQT. - Quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phiếu. - Quyền bỏ phiếu cho các vấn đề có ảnh hưởng đến toàn bộ công ty - Quyền kiểm tra sổ sách của công ty - Quyền được chia tài sản khi công ty thanh lý hay giải thể. -Cổ phiếu ưu đãi: Khái niệm: thể hiện quyền lợi sở hữu trong một công ty, những cổ đông nắm loại cổ phiếu này được hưởng một số ưu đãi hơn so với những cổ đông thường. Quyền lợi của cổ đông khi nắm giữ cổ phiếu ưu đãi: Những cổ đông ưu đãi có thể có quyền nhận cổ tức trước cổ đông thường hay có quyền ưu tiên được nhận tài sản trong trường hợp công ty bị giải thể. *Tách,gộp cổ phiếu: Tách và gộp cổ phiếu là việc làm tăng hoặc giảm số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty cổ phần mà không làm thay đổi vốn điều lệ, vốn cổ phần hay toàn bộ giá trị thị trường tại thời điểm tách hoặc gộp cổ phiếu. Tùy theo mục đích của công ty và tình hình thị trường mà công ty có thể tiến hành tách hay gộp cổ phiếu. -Tách cổ phiếu: Tách cổ phiếu sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu đang lưu hành và làm giảm mệnh giá cổ phiếu tương ứng với tỷ lệ tách, do đó giá cổ phiếu trên thị trường cũng sẽ giảm tương ứng và giao dịch được thực hiện dễ dàng hơn.Khi giá cổ phiếu trên thị trường tăng quá cao làm cho các giao dịch sẽ khó thực hiện và điều này sẽ làm giảm tính thanh khoản(khả năng quy đổi thành tiền mặt) của cổ phiếu. Lợi ích khi thực hiện tách CP: -Khi giá cổ phiếu tăng cao trên thị trường thì việc tách cổ phiếu là cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch cổ phiếu. -Sau khi tách giá cổ phiếu thường có xu hướng tăng lên. -Số lượng cổ phiếu được giao dịch trên thị trường tăng lên có thể làm tăng số lượng cổ đông của công ty, qua đó góp phần làm hạn chế khả năng công ty bị thâu tóm.
  • 6. 6 -Gộp cổ phiếu: làm giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành, mệnh giá cổ phiếu tăng lên và giá thị trường của cổ phiếu cũng tăng lên tương ứng với tỷ lệ gộp cổ phiếu. Lợi ích khi thực hiện gộp CP: làm cho cổ phiếu đó có giá trị hơn trên thị trường và qua đó làm tăng tính thanh khoản (khả năng quy đổi thành tiền mặt)của cổ phiếu. CHƯƠNG III:TRÁI PHIẾU LÀ GÌ? 1. Khái niệm Trái phiếu là một loại chứng từ chứng nhận quyền đòi nợ gốc và lãi của trái chủ đối với người phát hành, nó có thể dưới hình thức giấy tờ hay được ghi trên hệ thống điện tử do các công ty, tổ chức hay Chính phủ trung ương, địa phương phát hành. 2. Phân loại a) Trái phiếu công ty Trái phiếu vô danh Tên trái chủ của trái phiếu vô danh không được đăng ký tại công ty phát hành. Trái phiếu này được thanh toán cho những ai mang nó, tức là người chủ sở hữu trái phiếu đó. Trái phiếu vô danh có gắn các cuống phiếu trả lãi, trái chủ xé một cuống phiếu vào ngày trả lãi và gửi cho đại lý của công ty để thanh toán. Trái phiếu ghi tên Tên của trái chủ được đăng ký tại công ty phát hành. Người có trái phiếu này không phải gửi các cuống phiếu cho đại lý thanh toán để nhận phần lãi của mình. Mà thay vào đó, vào ngày đến hạn, người đại lý sẽ tự động gửi cho anh ta một tờ séc trả cho khoản lãi đó. Trái phiếu có thể thu hồi Một số công ty có quy định trong trái phiếu một điều khoản cho phép họ mua lại trái phiếu trước khi đến hạn. Thông thường, công ty chấp nhận trả cho người có trái phiếu theo giá gia tăng tức là, lớn hơn mệnh giá của trái phiếu khi công ty muốn mua lại trái phiếu đó. Trái phiếu có thể chuyển đổi Trái phiếu chuyển đổi cho người sở hữu quyền đổi trái phiếu của anh ta sang một loại chứng khoán nào đó. Chứng khoán này có thể là cổ phiếu ưu đãi hay cổ phiếu thường của công ty phát hành. Trái phiếu bảo đảm Cũng như những người đi vay khác, công ty thường đưa ra một thứ có giá trị làm vật bảo đảm cho các khoản vay. Khi công ty thực hiện điều này, ta nói rằng nó đã phát hành một trái phiếu có bảo đảm. Có một số loại trái phiếu bảo đảm chủ yếu là: Trái phiếu có tài sản cầm cố: một trái phiếu có tài sản cầm cố là việc công ty
  • 7. 7 phát hành thế chấp bất động sản để đảm bảo khả năng thanh toán nợ. Trái phiếu có tài sản thế chấp: công ty phát hành đưa ra các chứng khoán dễ chuyển nhượng mà công ty sở hữu của người khác để bảo đảm cho việc phát hành trái phiếu. Trái phiếu không bảo đảm Một công ty có khả năng tín dụng cao có thể phát hành trái phiếu chỉ trên uy Tín của mình. Những trái phiếu này được gọi là giấy nhận nợ và công ty không thế chấp tài sản làm đảm bảo cho nó. Các chứng khoán nhận nợ do ngân hàng phát hành Các ngân hàng có thể tham gia thị trường với các công cụ ngắn hạn như: Chứng chỉ tiền gửi: cung cấp cho ngân hàng các nguồn vốn để thực hiện cho vay ngắn hạn. Phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng: được phát hành để tài trợ cho buôn bán quốc tế. b) Trái phiếu Chính phủ Để tài trợ cho chi tiêu ngân sách, các chính phủ có thể phát hành trái phiếuthông qua kho bạc nhà nước. Trái phiếu chính phủ có thể là ngắn hạn, trung và dài hạn. Kỳ phiếu kho bạc ngắn hạn Phổ biến nhất là các loại 3 tháng và 6 tháng, các kỳ phiếu ngắn hạn là những công cụ chiết khấu, thường không có mức lãi suất cố định. Các kỳ phiếu ngắn hạn thường được mua bằng một số tiền và người mua sẽ nhận được một số tiền lớn hơn bằng mệnh giá khi đến hạn. Khoản chênh lệch giữa hai số tiền trên gọi là khoản chiết khấu, lãi suất thu được chính là lãi suất chiết khấu Trái phiếu kho bạc trung và dài bạn Các trái phiếu kho bạc trung và dài hạn là các công cụ có kỳ hạn dài hơn kỳ phiếu kho bạc. Trái phiếu trung hạn được phát hành với thời gian đáo hạn từ 1 đến 10 năm. Trái phiếu dài hạn được phát hành từ 10 đến 30 năm. Các trái phiếu trung và dài hạn có mức lãi suất cố định và được trả lãi trên cơ sở nửa năm. Những công cụ này được tính toán trên cơ sở 1 năm 365 ngày mà không phải 360 ngày như đối với các kỳ phiếu ngắn hạn và các công cụ khác c) Trái phiếu địa phương Kỳ phiếu địa phương ngắn hạn Các chính quyền địa phương phát hành những công cụ ngắn hạn để ứng trước nhu cầu về vốn. Những công cụ này được gọi là kỳ phiếu, thường có kỳ hạn 6 tháng hoặc ít hơn. Các kỳ phiếu được phát hành trên cơ sở dự tính trước các khoản thuế gọi là kỳ phiếu ứng trước thuế. Các loại phát hành dựa trên dự tính thu nhập tương lai gọi là kỳ phiếu ứng trước thu nhập. Các kỳ phiếu ứng trước đợi phát hành trái phiếu mới gọi là kỳ phiếu ứng trước cho phát hành trái phiếu.
  • 8. 8 Trái phiếu địa phương trung và dài hạn Thường có một số loại sau: Trái phiếu trách nhiệm chung: được bảo đảm bàng những lực thu thuế của chính quyền địa phương. Trái phiếu bảo đảm bằng thuế cụ thể: được bảo đảm bằng một loại thuế nhất định của địa phương. Trái phiếu thu nhập: được bảo đảm bằng thu nhập từ dự án xây dựng bằng tiền bán trái phiếu. 3. Đặc điểm Mệnh giá: Trên bề mặt của trái phiếu, thường công bố số tiền mà người phát hành cam kết trả cho người có trái phiếu. Số tiền này gọi là mệnh giá của trái phiếu. Ngày đáo hạn: Ngày đáo hạn cũng được ghi trên bề mặt trái phiếu. Đây là ngày người phát hành sẽ thanh toán mệnh giá cho người có trái phiếu. Kỳ hạn của trái phiếu rất đa dạng, có thể lên tới 30 năm hay hơn nữa. Lãi suất: Lãi suất được công bố theo tỷ lệ phần trăm với mệnh giá trái phiếu. Mặc dù lãi suất được tính theo hàng năm nhưng nó được thanh toán nửa năm một lần. 4. So sánh cổ phiếu và trái phiếu a) Xét về phía các nhà đầu tư Trái phiếu Cổ phiếu Vốn gốc giá trị ban đầu Không được đảm bảo Giá cả biến động Nói chung được đảm bảo Thứ tự hoàn trả tiền khi Cty bị phá sản Được hoàn trả sau cùng trong số tài sản còn lại Được ưu tiên trong các hình thức vay nợ thông thường Thời điểm hoàn trả vốn gốc Chỉ khi Cty bị giải thể hoặc phá sản. Thời điểm hoàn trả được xác định vào lúc phát hành Quyền tham gia vào quản lý Công ty Với mỗi cổ phần là một phiếu bầu, cổ đông có thể tham gia vào các quyết định của Cty tại đại hội cổ đông Trừ khi Cty bị phá sản, không được tham gia vào quản lý Cty
  • 9. 9 b)Xét về phía các nhà kinh doanh Cổ phiếu Vốn gốc Hoạt động kinh doanh của Công ty Tham gia vào quản lý kinh doanh Trái phiếu Sau khi phát hành không bị yêu cầu mua lại do đó là khoảng tiền vốn an toàn Tiền cổ tức do đại hội cổ đông quyết định. Do vậy, trường hợp hoạt động kinh doanh của Cty không ổn định, không nhất thiết công ty phải chia tiền cổ tức. Cơ quan ra quyết định cao nhất Cty là đại hội cổ đông. Thông thường có quá nửa số phiếu đồng ý Trái chủ không được tham gia vào quản lý Cty Trừ trường hợp Cty phá sản, tuy nhiên trên thực thì quyết định được thông qua. Phải chuẩn bị tiền hoàn trả khi trái phiếu đáo hạn Dù việc kinh doanh của Cty như thế nào thì vẫn phải trả lãi và vốn gốc theo các điều kiện được quy định khi phát hành. Trái chủ không được tham gia vào quản lý Cty Trừ trường hợp Cty phá sản, tuy nhiên trên thực tế không thể bỏ qua ý kiến của người giữ trái phiếu. 5. Chứng quyền và trái quyền - Chứng quyền: Chứng quyền là một quyền mua hay đặt mua cổ phiếu mới được phát hành tại một giá xác định thường thấp hơn giá thị trường hiện hành theo tỷ lệ thuận với số cổ phiếu mà họ đang sở hữu. Chứng quyền thường có thời hạn ngắn từ 2 tuần đến 30 ngày. Trong thời gian đó người có chứng quyền có thể sử dụng để mua cổ phiếu mới hoặc bán nó trên thị trường Thí dụ: Một công ty có 100.000 cổ phần nay muốn phát hành thêm 10.000 cổ phiếu mới. Khi đó tỷ lệ chuyển đổi là 1/10- tức là cứ có 10 cồ phiếu cũ thì được mua 1 cổ phiếu mới. - Chứng khế:hay trái quyền Một chứng khế gắn với 1 chứng khoán cho phép người giữ nó được quyền mua cổ phiếu thường theo một giá nhất định. Giá xác định trên chứng khế cao
  • 10. 10 hơn giá thị trường hiện hành của cổ phiếu thường. Ví dụ: Một công ty A có cổ phiếu thường đang lưu hành với giá 40$/1 cổ phiếu, chứng khế phát hành cho phép người giữ nó mua cổ phiếu của công ty A Với giá là 60$/1 cổ phiếu vào bất kỳ thời điềm nào cho đến này 31/12/2000. Nếu công ty A đang rất có triển vọng và người ta dự đoán đến năm 2000, giá cổ phiếu của công ty có thể vượt mức 60$ thì chứng khế sẽ rất hấp dẫn. Bởi vậy, người ta thường sử dụng chứng khế đi kèm với trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi để làm cho việc chào bán lần đầu hấp dẫn hơn. Đối với một nhà đầu tư trước khi quyết định lựa chọn đầu tư cổ phiếu hay trái phiếu cần xem xét kĩ môi trường đầu tư.Vậy môi trường đầu tư là gì?Trong chương IV chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về thuật ngữ này! CHƯƠNG IV:MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ 1. Định nghĩa: Môi trường đầu tư là các điều kiện, các yếu tố về kinh tế, xã hội,pháp lý, tài chính, hạ tầng cơ sở và các yếu tố liên quan khác mà trong đó các quá trình hoạt động đầu tư được tiến hành. 2. Các yếu tố tích cực để cổ phiếu tăng Để có giá cổ phiếu tăng cần có các yếu tố tích cực sau: Mức lạm phát duy trì thấp Mức lãi suất tiền gửi giảm Nền kinh tế tăng trưởng một cách ổn định Tỷ giá hối đoái USD ổn định Thị giá cổ phiếu sẽ tăng trong giai đoạn thịnh vượng của chu kỳ thăng trầm kinh tế, cụ thể lúc đó: Các yếu tố sản xuất được tận dụng triệt để Đầu tư tư nhân gia tăng Gia tăng thu nhập của toàn nền kinh tế Thu nhập quốc dân tăng Mức tăng tiêu dùng bị khống chế, mức tích luỹ vốn được khuyến khích. Thị giá cổ phiếu sẽ giảm trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ thăng trầm kinh tế, khi đó: Đầu tư tư nhân chững lại và bị giảm mạnh Doanh lợi của doanh nghiệp bị suy giảm kéo theo Số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng
  • 11. 11 Lượng thất nghiệp cao, tiền tích luỹ giảm mạnh Đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường cấp vốn, do đó Mức lãi suất tiền gửi tăng, gây luồng vốn chuyển từTTCK sang TT tiền tệ. 3. Môi trường vĩ mô a) Môi trường kinh tế: Một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của môi trường đầu tư liên quan đến thị trường chứng khoán là môi trường kinh tế. Chúng ta xem xét môi trường kinh tế qua các mặt: Các chỉ tiêu tổng hợp của nền kinh tế quốc dân GDP, GNP,. ., lạm phát, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, dự trữ ngoại tệ, cân đối ngân sách nhà nước, nợ nước ngoài, tỷ giá hối đoái và một số phân tích kinh tế vĩ mô khác. b) Môi trường xã hội: Môi trường xã hội cũng ảnh hưởng rất sâu rộng đến hiệu quả hoạt động của TTCK. Để xem xét môi trường xã hội ta nên xem xét ở các mặt sau: Chế độ chính trị thế nào? có ổn định hay không? khả năng diễn biến của nó. Năng lực quản lý của đội ngũ lãnh đạo ra sao? Phẩm chất của đội ngũ này thế nào? tình trạng tham ô, hối lộ ra sao? Và hiệu quả của các biện pháp khắc phục. Khả năng thích nghi của hệ thống điều hành chính sách đối với sự biến đổi của thời cuộc & các cam kết của chính phủ đối với các chính sách kinh tế ra sao? Sự ủng hộ của nhân dân vào chế độ như thế nào? vào Đảng lãnh đạo ra sao? Sự ủng hộ quốc tế đối với đảng, với chính phủ cầm quyền ra sao? Tâm lý dân tộc, ý thức của nhân dân trong tiết kiệm và đầu tư thế nào? Các "đối thủ" tham gia thị trường là ai? thủ đoạn, tâm lý của họ ra sao? ….vv. c) Môi trường pháp lý Môi trường pháp lý cũng là điều kiện rất cơ bản để TTCK hoạt động an toàn, hiệu quả. Xu hướng phát triển chung, truyền thống từ trước đến nay là cứ cho thị trường hoạt động và phát triển trước và từ đó đúc rút ra kinh nghiệm và xây dựng hệ thống pháp lý phù hợp sau ở các nước có thị trường chứng khoán truyền thống. Xu hướng thứ hai là thiết lập khung pháp lý cho thị trường chứng khoán trước. Việt nam ta đang theo xu thế sau, vì chúng ta đi sau nên có thể tận hưởng được kinh nghiệm của các nước đi trước và rút ngắn được bước đi. Môi trường pháp lý cũng là yếu tố rất quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chúng ta nên xem xét môi trường pháp lý theo các góc độ như sau: - Hệ thống hành lang pháp lý của thị trường chứng khoán được xây dựng như
  • 12. 12 thế nào? có đủ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người đầu tư không? - Các luật pháp khác liên quan có trùng chéo, mâu thuẫn không? - Khả năng thực thi luật pháp thế nào? - Những mặt khuyến khích, ưu đãi và hạn chế được quy định trong hệ thống pháp luật - Sự ổn định của hệ thống luật pháp, khả năng sửa đổi và ảnh hưởng của chúng đến TTCK. d) Môi trường tài chính Thực ra chúng ta có thể phân tổ môi trưởng tài chính là một bộ phận của môi trường kinh tế nhưng do tầm quan trọng của nó đối với TTCK nên để nó thành một mục riêng. Hệ thống tài chính được coi là cơ sở hạ tầng, hệ thống huyết mạch của nền kinh tế. Nếu hệ thống này trục trặc sẽ ảnh hưởng đến khả năng cung cấp các nguồn năng lượng cho toàn bộ cơ thể kinh tế. Xem xét môi trường tài chính chúng ta nên chú trọng đến các mặt sau: - Nền tài chính quốc gia ra sao? Qua các chỉ tiêu đánh giá đã phân tích ở phần môi trường kinh tế như bội chi ngân sách, dự trữ ngoại tệ, xuất - nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế, nợ quốc gia, nợ tư nhân và doanh nghiệp. - Hoạt động của hệ thống ngân hàng ra sao? có hiệu quả không? Tình hình nợ khó đòi thế nào? - Chính sách về thuế, phí đối với giao dịch, kinh doanh CK thế nào có khuyến khích đầu tư không? hoặc khuyến khích ở lĩnh vực nào, hạn chế ở lĩnh vực nào. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành giao dịch. - Các thị trường vốn khác, như thị trường Leasing, Morgage, bất động sản hoạt động ra sao. Kinh nghiệm Thái Lan cho thấy, do sự phát triển quá mức thành bong bóng của thị trường bất động sản nên đã gây đổ vớ cho nhiều ngân hàng và công ty tài chính và dẫn đến sự suy sụp của TTCK. - Giá trị đồng nội tệ thế nào? chính sách đối với thị trường hối đoái ra sao? - Các quỹ: Bảo hiểm, đầu tư, hưu trí hoạt động thế nào? đây là các nhà đầu tư tiềm năng mà mọi đối tượng đầu tư cần chú ý đến họ. - Lãi suất ngân hàng, lãi suất trái phiếu chính phủ quy định như thế nào - Cân đối tài chính chính phủ, ngân sách.. - Các chính sách tài chính quốc gia khác. - Một số phân tích tình hình tài chính quốc gia khác mà nhà đầu tư có thêm thông tin. e) Môi trường quốc tế Hiện nay, kinh tế của bất cứ nước nào cũng không thể tách rời nền kinh tế thế giới. Xu hướng phân công lao động quốc tế, hợp tác quốc tế ngày càng phát triển. Bởi vậy, điều kiện phát triển nói chung của một quốc gia không thể thoát hẳn môi trường quốc tế. Chúng ta nên xem xét môi trường quốc tế trên các mặt sau:
  • 13. 13 - Tình hình tài chính quốc tế, khu vực ra sao? Đang khủng hoảng? và khả năng ảnh hưởng đến quốc gia mình đang quan tâm. - Quan hệ ngoại giao của chính phủ như thế nào? có được cộng đồng quốc tế ủng hộ không? - Sự ủng hộ của các tổ chức tài chính lớn như IMF, WB, ADB… đối với chính phủ ra sao? - Hợp tác kinh tế quốc tế thế nào? Quan hệ bạn hàng quốc tế trong xuất, nhập khẩu ra sao? có biến đổi gì lớn không? - Những đối thủ cạnh tranh trên thương trường quốc tế và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, quốc gia mình quan tâm. - Quan hệ nợ nần, giải quyết nợ, khả năng trả nợ của quốc gia, doanh nghiệp.Khả năng quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ ra sao? - Cán cân BoP, cán cân thương mại - Tình hình tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán nội địa và ngược lại. - Định mức tín nhiệm của quốc gia trên thị trường quốc tế. - Diễn biến của các thị trường chứng khoán trên thế giới, nhất là các thị trường lớn như New York, Tokyo, London, Hồng Kông, … f) Cơ sở hạ tầng Chúng ta xem xét cơ sở hạ tầng của TTCK trong quá trình đầu tư theo các góc độ sau: - Khối lượng hàng hoá của thị trường. Các chính sách phát triển và khả năng phát triển của nó. - Cơ sở vật chất của thị trường: Địa điểm, mức độ cơ giới hoá, cơ sở thông tin, phương pháp, quy trình giao dịch. - Cơ sở nguồn nhân lực của TTCK: Nhân lực quản lý, nhân lực tư vấn, nhân lực môi giới các công ty chứng khoán. - Hiểu biết và điều hành hệ thống tài chính, khả năng quản lý của chính phủ - Các chi phí trong quá trình giao dịch. - Khả năng thanh toán, thời gian thanh toán. - Hệ thống kiểm toán. - Đánh giá, định mức tín nhiệm. 4. Môi trường vi mô a) Yếu tố ngành Khi phân tích về ngành, các nhà đầu tư thường xem xét chu kì kinh tế và quyết định xem trong giai đoạn hiện tại của nền kinh tế thì ngành nào có mức sinh lợi vượt bậc so với tình hình chung của thị trường. b) Yếu tố doanh nghiệp
  • 14. 14 Khi nhắc đến các yếu tố từ phía doanh nghiệp ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư, ta thường nhắc đến yếu tố nội tại của doanh nghiệp và các thông tin về hoạt động kinh doanh, chia thưởng, cổ tức, dự án mới,…. Giá trị nội tại Yếu tố nội tại của doanh nghiệp thể hiện qua kết quả hoạt động kinh doanh, uy tín của doanh nghiệp, ban quản trị và thương hiệu của doanh nghiệp. Đây là yếu tố nền tảng khi các nhà đầu tư xem xét giá trị của doanh nghiệp. Giá trị của cổ phiếu doanh nghiệp sẽ xoay quanh giá trị nội tại của doanh nghiệp. Và nếu xét về dài hạn thì giá cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ tiến về giá trị nội tại của nó. Việc xem xét giá trị nội tại của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư giá trị. Yếu tố nội tại của doanh nghiệp chính là cơ sở để họ đưa ra quyết định mua bán đối với cổ phiếu của doanh nghiệp đó. Các nhà đầu tư sẽ đánh giá một cơ hội mua vào khi mà giá thị trường của cổ phiếu đang nằm dưới giá trị nội tại kì vọng của doanh nghiệp. Ngược lại, các nhà đầu tư sẽ xem xét bán ra khi giá trị thị trường vượt quá cao so với giá trị doanh nghiệp. Trong giai đoạn hiện tại, rất nhiều cổ phiếu bị định giá thấp. Theo nhiều chuyên gia nhận định thì đây là thời điểm thích hợp cho các nhà đầu tư dài hạn theo trường phái giá trị nên mua vào các cổ phiếu có các chỉ số cơ bản tốt. Để định giá giá trị của một doanh nghiệp, ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau. Phân tích các chỉ số tài chính cũng là một phương pháp phổ biến được các nhà đầu tư sử dụng để đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Thông tin về tăng trưởng kì vọng Đối với những nhà đầu tư ngắn hạn, yếu tố giá trị nội tại doanh nghiệp dường như ít quan trọng hơn những thông tin có sự ảnh hưởng đến kì vọng về thu nhập tương lai của doanh nghiệp như các thông tin về chia thưởng, cổ tức, hay các dự án mới trong tương lai của doanh nghiệp… c) Tâm lý nhà đầu tư Đây có lẽ là yếu tố trực tiếp tác động đến quyết định của nhà đầu tư. Sau khi đã có những phân tích , diễn giải về tất cả các thông tin từ nền kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước , các sự kiện chính trị - xã hội, thông tin về ngành và doanh nghiệp, mỗi nhà đầu tư sẽ đưa ra một quyết định khác nhau tại cùng một thơi điêm. Tùy theo thông tin mà các nhà đầu tư tiếp nhân có chính xác hay không và cách tiếp cận, phân tích mà mỗi kết quả lại khác nhau. Chính điều này làm cho TTCK có những diễn biến lên xuống hằng ngày không thể dự báo chính xác được. Đôi khi nhà đầu tư phản ánh một cách hốt hoảng, thái quá trước những thông tin xấu và lại quá cẩn trọng với những thông tin tốt. Trong TTCK hiện nay thì những thông tin đồn, thông tin sai vẫn tồn tại, chúng góp phần tạo nên những tâm lý lại càng khác nhau giữa những nhà đầu tư. Sự kỳ vọng của nhà đầu tư Các nhà đầu tư khi đầu tư vào một cổ phiếu của một doanh nghiệp, họ dựa trên sự
  • 15. 15 kì vọng vào cổ phiếu đó. Họ phân tích diễn biến trong quá khứ và hiện tại, sau đó đưa ra dự đoán cho tương lai, chính sự kì vọng đó mới là yếu tố quyết định họ có mua hay bán cồ phiếu đó chứ không phải những gì đã diễn ra trong quá khứ hay hiện tại. CHƯƠNG V:PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CK Rủi ro trong đầu tư chứng khoán: Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được định nghĩa là sự dao động của lợi nhuận. Dao động càng cao thì rủi ro càng cao và ngược lại. 2.Phân loại: Rủi ro hệ thống: những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và tất cả mọi loại chứng khoán. Rủi ro thị trường Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi. Rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung. Rủi ro sức mua: Rủi ro sức mua là biến cố của sức mua của đồng tiền thu được. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư. Rủi ro không hệ thống:những rủiro do các yếu tố nội tại gây ra, nó có thể kiểm soát được và chỉ tác động đến một ngành hay tới một công ty, một hoặc một số chứng khoán.
  • 16. 16 Rủi ro kinh doanh Rủi ro kinh doanh là do tình trạng hoạt động của công ty, khi có những thay đổi trong tình trạng này công ty có thể sẽ bị sút giảm lợi nhuận và cổ tức. Rủi ro tài chính Rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạt động của mình.Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốn của một công ty. Sự xuất hiện của các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra cho công ty những nghĩa vụ trả lãi. Xác định mức bù rủi ro: R=i+p+b+f+m+o Trong đó: i = mức lãi suất thực lãi suất không rủi ro p = mức bù rủi ro sức mua b = mức bù rủi ro kinh doanh f = mức bù rủi ro tài chính m = mức bù rủi ro thị trường o = mức bù rủi ro khác. Đánh giá rủi ro và mức sinh lời kì vọng:
  • 17. 17 CHƯƠNG VI:SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN Khái quát hai thị trường chứng khoán Việt Nam Sở giao dịch chứng khoán là gì? Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor) hoặc thông qua hệ thống máy tính. Một số nét hình thành- phát triển: Ngày 11/07/1998, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) được thành lập. Đến ngày 20/07/2000 , Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh(HOSE) chính thức ra đời. Ngày 28/07/2000, bắt đầu giao dịch với 2 cổ phiếu đầu tiên được niêm yết là REE và SAM với mức vốn hóa là khoảng 270 tỷ đồng. Trải qua 10 năm phát triển, TTCK Việt Nam đã trải qua rất nhiều giai đoạn thăng trầm và thật sự đã trở thành kênh huy động vốn hiệu quả của các doanh nghiệp, đồng thời đem đến cơ hội đầu tư sinh lợi cho các dòng tiền nhàn rỗi. Tính đến cuối năm 2010, TTCK Việt Nam đã có mức vốn hóa đạt 726.000 tỷ đồng với hơn 663 mã cổ phiếu được niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán. Chỉ số chứng khoán Việt Nam Chỉ số chứng khoán Việt Nam ký hiệu là VN - Index. VN - Index xây dựng căn cứ vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết. Với hệ thống chỉ số này, nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường một cách tổng quát. VN - Index được tính theo công thức sau: VN-Index =( P1i x Q1i )x100/Poi x Qoi Trong đó: + P1i : Giá hiện hành của cổ phiếu i + Q1i: Khối lượng đang lưu hành của cổ phiếu i
  • 18. 18 + Poi : Giá của cổ phiếu i thời kỳ gốc + Qoi : Khối lượng của cổ phiếu i tại thời kỳ gốc Thành viên của Sở giao dịch Thành viên của SGDCK (sau đây gọi tắt là thành viên) là công ty chứng khoán được SGDCK chấp thuận giao dịch chứng khoán qua hệ thống giao dịch của SGDCK. Các nhà đầu tư khi mua bán chứng khoán trên SGDCK đ ều phải thông qua các thành viên của SGDCK, vì chỉ có thành viên của SGDCK mới được quyền giao dịch, mua bán chứng khoán trên sàn giao dịch của SGDCK. Quyền lợi: Thành viên có các quyền sau: - Được giao dịch chứng khoán tại TTGDCK hoặc SGDCK. - Sử dụng hệ thống giao dịch và các dịch vụ do TTGDCK cung cấp. - Thu các loại phí cung cấp dịch vụ cho khách hàng theo quy định của pháp luật. - Đề nghị TTGDCK làm trung gian hòa giải khi có tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán. - Được rút khỏi thành viên sau khi được TTGDCK chấp thuận. Nghĩa vụ: Thành viên có các nghĩa vụ sau: - Tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh chứng khoán của Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK). - Chịu sự kiểm tra, giám sát của TTGDCK. - Nộp phí thành viên, phí giao dịch, phí sử dụng hệ thống giao dịch. - Nộp các khoản đóng góp lập quỹ hỗ trợ thanh toán. - Báo cáo TTGDCK về: tình hình hoạt động và tình hình tài chính tháng, quý,năm. Niêm yết Chứng khoán Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ ti êu chuẩn vào đăng ký và giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung.Tổ chức niêm yết là tổ chức phát hành được phép niêm yết chứng khoán tại thị trường giao dịch tập trung. *Mục đích - Thiết lập quan hệ hợp đồng giữa SGDCK với tổ chức phát hành có chứng khoán niêm yết, từ đó quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức phát hành trong việc công bố thông tin, đảm bảo tính trung thực, công khai và công bằng. - Nhằm mục đích hỗ trợ thị trường hoạt động ổn định, xây dựng lòng tin của công chúng đối với thị trường chứng khoán bằng cách lựa chọn các chứng khoán có chất lượng cao để giao dịch. - Cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin về các tổ chức niêm yết.
  • 19. 19 - Giúp cho việc xác định giá chứng khoán được công bằng trên thị trường đấu giá vì thông qua việc niêm yết công khai, giá chứng khoán được hình thành dựa trên sự tiếp xúc hiệu quả giữa cung và cầu chứng khoán. Phân loại -Niêm yết lần đầu (Intial Listing) Niêm yết lần đầu là việc cho phép chứng khoán của tổ chức phát hành được đăng ký niêm yết giao dịch chứng khoán lần đầu tiên sau khi phát hành ra công chúng khi tổ chức phát hành đó đáp ứng được các tiêu chuẩn về niêm yết. -Niêm yết bổ sung (Additional Listing) Niêm yết bổ sung là quá trình chấp thuận của Sở giao dịch chứng khoán cho một công ty niêm yết được niêm yết các cổ phiếu mới phát hành với mục đích tăng vốn hay vì mục đích khác như sáp nhập, chi trả cổ tức, thực hiện các trái quyền hoặc thực hiện các trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu -Thay đổi niêm yết (Chưange Listing) Thay đổi niêm yết phát sinh khi công ty ni êm yết thay đổi tên chứng khoán giao dịch,khối lượng, mệnh giá hoặc tổng giá trị chứng khoán được niêm yết của mình. -Niêm yết lại (Relisting) Là việc cho phép một công ty phát hành được tiếp tục niêm yết trở lại các chứng khoán trước đây đã bị huỷ bỏ niêm yết vì các lý do không đáp ứng được các tiêu chuẩn duy trì niêm yết. - Niêm yết cửa sau (Back door Listing) Là trường hợp một tổ chức niêm yết chính thức sáp nhập, liên kết hoặc tham gia vào hiệp hội với một tổ chức, nhóm không niêm yết và kết quả l à các tổ chức không niêm yết đó lấy được quyền kiểm soát tổ chức niêm yết. f. Niêm yết toàn phần và niêm yết từng phần (Dual listing & Partial listing) Niêm yết toàn phần là việc niêm yết tất cả các cổ phiếu sau khi đ ã phát hành ra công chúng trên một Sở giao dịch chứng khoán trong nước và ngoài nước. .*Thủ tục niêm yết: Bước 1: Sở giao dịch thẩm định sơ bộ Bước 2: Đệ trình bản đăng ký lên UBCKNN Bước 3: Chào bán ra công chúng Bước 4: Xin phép phát hành Bước 5: Thẩm tra niêm yết chính thức Bước 6: Niêm yết Cơ chế 60-10-15: Hoạt động giao dịch Chứng khoán Quy trình giao dịch chứng khoán 1.Mở tài khoản giao dịch: Tài khoản giao dịch hiện nay có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau như: - Tài khoản tiền mặt (Cash account)
  • 20. 20 Đây là loại tài khoản mà các khoản thanh toán phát sinh sẽ được thực hiện bằng tiền mặt. - Tài khoản bảo chứng (Margin account) Khi mua với một tài khoản bảo chứng, khách hàng chỉ phải trả một phần tiền và công ty chứng khoán sẽ cho vay phần c òn lại. 2. Đặt lệnh giao dịch Việc ra lệnh có thể đ ược thực hiện theo hình thức ra lệnh trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại, telex, fax hay hệ thống máy tính điện tử tuỳ thuộc v ào sự phát triển của thị trường.Khi nhận được lệnh, nhân viên môi giới phải kiểm tra tính chính xác của các thông số trên lệnh. Phiếu lệnh mua và lệnh bán thông thường được in bằng hai màu mực khác nhau để dễ phân biệt, trên phiếu lệnh thông thường bao gồm các nội dung chủ yếu sau: - Phiếu lệnh mua hay bán. - Các thông tin về khách hàng (Họ và tên, mã số tài khoản, số chứng minh nhân đân, số hộ chiếu). - Loại chứng khoán mua hoặc bán (thường ghi mã chứng khoán đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán). - Khối lượng. - Giá…. 3. Chuyển phiếu lệnh đến phòng giao dịch công ty chứng khoán. 4.Chuyển lệnh đến người môi giới tại Sở giao dịch chứng khoán. 5. Chuyển lệnh đến bộ phận khớp lệnh. 6. Khớp lệnh và thông báo kết quả giao dịch. Đến giờ ra chốt giá giao dịch, SGDCK sẽ thông báo kết quả giao dịch sẽ được chuyển đến trung tâm lưu ký và thanh toán bù tr ừ chứng khoán cũng như tại các công ty chứng khoán thành viên. 7.Báo cáo kết quả giao dịch về công ty chứng khoán: Phòng giao dịch sẽ ghi vào phiếu lệnh của các khách hàng có giao dịch ở phần kết quả giao dịch nội dung: số lượng; giá cả và thời gian. 8. Xác nhận giao dịch và làm thủ tục thanh toán 9. Thanh toán và hoàn tất giao dịch: Trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán tiến hành so khớp kết quả giao dịch do SGDCK cung cấp và báo cáo k ết quả giao dịch của các công ty chứng khoán để tiến hành thanh toán bù trừ. Cách xem bảng CK điện tử: - Mã CK: tên của công ty niêm yết được viết tắt hoặc lấy ngắn gọn bởi các chữ cái đầu (có thể lấy theo chữ cái đầu viết bằng Tiếng Anh, Tiếng Việt hoặc tên viết tắt). Ví dụ: ABT - Tên công ty là CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẢN
  • 21. 21 BẾN TRE. Tên viết tắt là: AQUATEX BENTRE. Như vậy mã ABT lấy các chữ cái sau (chữ đậm): AQUATEX BENTRE. - Trần: giá trần của mã chứng khoán đó (nhà đầu tư chỉ được phép đặt lệnh với giá tối đa bằng hoặc nhỏ hơn giá này) - Sàn: giá sàn của mã chứng khoán đó (nhà đầu tư chỉ được phép đặt lệnh với giá tối thiểu bằng hoặc lớn hơn giá này) - TC: giá tham chiếu của mã chứng khoán đó (từ giá tham chiếu này cộng thêm 5% thì ra giá trần, và trừ đi 5% thì ra giá sàn) - Dư mua: những lệnh còn chờ mua chưa được khớp + Giá 3, KL 3; Giá 2, KL 2; Giá 1, KL 1: KL là khối lượng, Giá 1 là giá đang có lệnh chờ mua cao nhất (tốt nhất) tương ứng với khối lượng ngay bên cạnh, rồi đến Giá 2 là giá chờ mua cao tiếp theo và cuối cùng là Giá 3 - Giá khớp: mức giá gần nhất vừa khớp lệnh - KL khớp: khối lượng gần nhất vừa khớp lệnh tương ứng với Giá khớp bên trái mà mình vừa nói - +/-: giá khớp thay đổi so với cột TC. Được tính bằng cách lấy cột Giá khớp trừ đi cột TC. - Dư bán: những lệnh còn chờ bán chưa được khớp + Giá 3, KL 3; Giá 2, KL 2; Giá 1, KL 1: KL vẫn là khối lượng, ở bên cột dư bán này thì Giá 1 là giá đang có lệnh chờ bán thấp nhất (tốt nhất) tương ứng với khối lượng ngay bên cạnh, rồi đến Giá 2 là giá chờ bán thấp tiếp theo và cuối cùng là Giá 3 - Tổng KL: Tổng khối lượng đã được khớp từ đầu phiên đến thời điểm hiện tại - Mở cửa: mức giá đã khớp sau khi kết thúc phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa - Cao nhất: mức giá đã được khớp cao nhất từ đầu phiên đến thời điểm hiện tại
  • 22. 22 - Thấp nhất: mức giá đã được khớp thấp nhất từ đầu phiên đến thời điểm hiện tại - NN mua: nước ngoài mua, hiển thị tổng cộng khối lượng mà nhà đầu tư nước ngoài đã mua • Lưu ý: - Các bạn thấy cột Mở cửa mà không thấy cột Đóng cửa đúng không? Giá đóng cửa chính là giá hiển thị ở cột Giá khớp sau 10h30’ (thời điểm kết thúc phiên khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa đó) - Màu sắc: + Giá hiển thị màu tím tương đương với giá trần + Giá hiển thị màu xanh nhạt tương đương với giá sàn + Giá hiển thị màu vàng tương đương với giá tham chiếu + Giá hiển thị màu xanh lá cây tương đương với việc giá tăng so với giá tham chiếu + Giá hiển thị màu đỏ tương đương với việc giá giảm so với giá tham chiếu Tương tự màu sắc hiển thị như trên với mũi tên tăng giá (màu xanh lá cây), mũi tên giảm giá (màu đỏ) và gạch ngang đứng giá (màu vàng). - Đơn vị giá '1,000 đồng': như vậy ABT có giá TC = 42.5 * 1,000 đồng = 42,500 đồng - Đơn vị khối lượng '10 cổ phiếu': như vậy ABT có Tổng KL = 2927 * 10 = 29270 cổ phiếu - Một số tính năng hay của các bảng giá: + Đưa mã chứng khoán bạn quan tâm lên đầu bảng cho tiện theo dõi: bạn kích đúp vào những mã chứng khoán cần theo dõi (bảng Phú Gia) + Tìm nhanh mã chứng khoán: ví dụ bạn cần tìm mã VNS, để khỏi mất công cuộn lên cuộn xuống để tìm thì trên bàn phím bạn ấn các phím 'V', 'N', 'S' (bảng Phú Gia) + Để biết tên tổ chức niêm yết tương ứng với mã chứng khoán: để biết một mã chứng khoán là của tổ chức nào thì bạn hãy di chuột đến mã đó. Phương thức giao dịch: Phương thức khớp lệnh:
  • 23. 23 1.Phương thức giao dịch: được hệ thống giao dịch thực hiện trên cơ sở khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán của khách hàng theo nguyên tắc xác định giá thực hiện như sau: - Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất. - Nếu có nhiều mức giá thỏa m ãn điều kiện nêu trên thì m ức giá trùng hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn. - Nếu vẫn có nhiều mức giá thỏa mãn điều kiện thứ hai thì mức giá cao hơn sẽ được chọn. Nguyên tắc khớp lệnh Thứ nhất: Ưu tiên về giá Thứ hai: Ưu tiên về thời gian Thứ ba: Ưu tiên về khách hàng Thứ tư: Ưu tiên về khối lượng 2.Phương thức thoả thuận Phương thức thoả thuận là phương thức giao dịch trong đó các thành viên tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch. Công ty Chứng khoán Khái niệm: Công ty chứng khoán là công ty c ổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng khoán theo giấy phép kinh doanh chứng khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cấp. Phân loại: 1.Công ty chứng khoán chuyên doanh: Do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong từng lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Mô hình này được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ,Nhật, Hàn Quốc. 2.Công ty chứng khoán đa năng Tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ tài chính. Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán: Nghiệp vụ môi giới: Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, hoặc đại diện bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng phí. Nghiệp vụ tự doanh: Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua, bán chứng khoán cho chính mình. Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành: việc công ty chứng khoán có chức năng bảo lãnh (sau đây gọi tắt l à tổ chức bảo lãnh) giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục tr ước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành.
  • 24. 24 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các l ời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng. Quản lý danh mục đầu tư: Đây là nghiệp vụ quản lý vốn ủy thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng. Các nghiệp vụ khác: Lưu ký chứng khoán: Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽ theo dõi tình hình thu lãi, c ổ tức của khách hàng và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Nghiệp vụ tín dụng (cho vay ký quỹ): cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho khách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp cho khoản vay đó. Nghiệp vụ quản lý quỹ: công ty chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán. Công ty chứng khoán được thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư. Nhà môi giới Chứng khoán: Người môi giới là người nối kết và giúp thực hiện yêu cầu của người mua, kẻ bán. Họ làm việc hưởng lương của công ty chứng khoán và được bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán, hay khách hàng của công ty, trên sàn giao dịch. CHƯƠNG VII:PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN TRÁI PHIẾU,CỔPHIẾU Phân tích và lựa chọn Cổ phiếu,trái phiếu: -Cổ phiếu và khả năng sinh lợi của nó: Khi đầu tư vào cổ phiếu, người đầu tư kỳ vọng vào mức chi trả cổ tức và khả năng gia tăng giá trị của nó trên thị trường để mang lại nguồn lợi lớn cho người nắm giữ cổ phiếu. Giá cổ phiếu thường xuyên dao động trên thị trường, vấn đề quan trọng là bạn phải chọn được thời điểm mua hoặc bán thích hợp nhất. -Trái phiếu và nguồn lợi từ đầu tư trái phiếu:
  • 25. 25 Đầu tư vào trái phiếu, bạn có được sự an toàn hơn là cổ phiếu. Bởi vì bạn luôn nhận được vốn và lãi kể cả trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ hoặc giải thể thì người có trái phiếu sẽ được thanh toán trước người sở hữu cổ phiếu. Khi lãi suất thị trường tăng cao hơn lãi suất trái phiếu thì giá trái phiếu sẽ giảm xuống và ngược lại.Trong kinh doanh trái phiếu bạn cần quan tâm đến hai vấn đề đó là xu hướng lên xuống của lãi suất thị trường và uy tín của tổ chức phát hành. Tóm lại, việc lựa chọn loại chứng khoán để đầu tư sẽ dễ dàng hơn nếu bạn có ý tưởng rõ: 1 Đầu tư vì sự an toàn vốn 2 Đầu tư vì thu nhập 3 Đầu tư để tăng vốn Hệ thống các phương pháp chọn lựa chứng khoán 16 Nguyên tắc lựa chọn trái phiếu,cổ phiếu: 1.Doanh lợi mỗi cổ phần của công ty trong quý hiện tại tăng ít nhất 25%. 2. Nếu nó là một cổ phiếu đã xoay vòng turnaround stock, một cổ phiếu đã phát triển nhưng bị chậm lại và sau đó lại tiếp tục phát triển nó cần có hai quý tăng mạnh mẽ trong doanh lợi, hoặc một quý tăng với một khối lượng lớn để doanh lợi một năm của nó trở lại đỉnh cao cũ. Nếu doanh lợi hai hay nhiều quý gần đây đã đi lên, hãy xem xét liệu doanh lợi một năm của nó đã gần hoặc trên mức đỉnh của hai năm trước hay chưa. Cũng quan trọng khi cần xem xét sự thống nhất trong doanh lợi ước tính của hai năm tới có tăng hay không. 3. Xem xét liệu công ty có doanh số bán tăng mạnh trong sáu tới mười hai quý gần đây hay không? 4. Lợi nhuận biên trước thuế của quý vừa rồi có gần mức đỉnh của nó chưa?Có một xu hướng tăng trong tỷ suất lợi nhuận biên vài quý vừa qua hay không? Và tỷ suất lợi nhuận của nó đã là tốt nhất trong các công ty cùng lĩnh vực hay không? 5. Tìm kiếm những công ty có lợi nhuận biên trước thuế trên 18%. 6. Tìm kiếm những công ty có tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ đông từ 20% tới 50% hoặc hơn thế nữa.
  • 26. 26 7. Xem xét mức Doanh số + Lợi nhuận + Lợi nhuận vốn cổ đông có sắp hạng A hoặc B? Tốt nhất nên tìm kiếm nhưng công ty thuộc tốp 40% có mức phát triển doanh số, lợi nhuận, và lợi nhuận vốn cổ đông tốt nhất. 8. Khối lượng cổ phiếu mà hội đồng quản trị cũng như các viên chức cao cấp của công ty sở hữu cũng là một khía cạnh tế nhị cần xem xét. Khối lượng này càng nhiều càng tốt. Chúng sẽ là bằng chứng bảo đảm sự tận tâm của ban giám đốc. 9. Cổ phiếu cần nằm trong những mức giá có "chất lượng".Giá cả chính là sự phản ánh chất lượng của cổ phiếu, và chất lượng không thể tới với những loại cổ phiếu rẻ tiền. 10. Xem xét cổ phiếu có thuộc những ngành đang phát triển như bán lẻ, máy tính, thuốc, giải trí... hay không? Nó có thuộc một trong năm nhóm ngành đang phát triển nhất không? 11. Dòng tiền của thị trường đang chảy vào đâu, những công ty có thị vốn lớn hay những công ty có thị vốn nhỏ hơn. Hãy đi theo những dòng chảy ấy,không nên kháng cự lại xu hướng của thị trường trong trường hợp này. 12. Thị trường đang quan tâm tới những khu vực kinh tế nào nhất? Tiêu dùng hay công nghệ cao?Hãy tìm các công ty có các sản phẩm thực sự cần thiết và được ưa thích một cách rộng rãi.Đồng thời cũng xem xét xem các sản phẩm của công ty được sử dụng lâu dài hay nhanh chóng được thay đổi để bảo đảm sự duy trì và phát triển doanh số bán của công ty. 14. Những đơn đặt hàng của công ty có thể phát triển không? Tỷ lệ thị phần của công ty là bao nhiêu? Khả năng phát triển thị phần của công ty được trông chờ ở mức nào? 15. Cổ phiếu cũng cần có một, hai quỹ đầu tư lớn hoạt động tốt mua vào trong thời gian gần đây. Đây là một sự kiểm tra gián tiếp bởi vì các quỹ đầu tư hoạt động tốt sẽ làm những cuộc nghiên cứu kỹ càng trước khi mua một loại cổ phiếu. 16. Bạn có thực sự hiểu rõ ràng và tin cậy vào công cuộc kinh doanh của công ty? Bạn đã từng thấy hay sử dụng những sản phẩm hoặc dịch vụ của nó chưa? Bạn càng hiểu biết về công ty bao nhiêu, bạn càng có niềm tin về nó bấy nhiêu. Sáu nguyên tắc chọn thời điểm mua cổ phiếu 1. Kiểm tra đồ thị mỗi ngày để nhận ra những loại cổ phiếu đang hình thành những mô hình kiểu mẫu, và đang được đặt dưới sự tích luỹ những vụ mua chuyên nghiệp, mức giá của chúng cũng cần phải gần điểm mua thích hợp. Người ta thường tiếp tục mua thêm khi giá tăng khoảng 2% tới 3% so với điểm mua ban đầu. Nếu giá cổ phiếu rớt dưới giá mua 8%, hãy bảo vệ bản thân khỏi những thua lỗ lớn hơn bằng cách bán cổ phiếu ngay lập tức. 2. Bạn cần phải nhìn thấy một khối lượng giao dịch tăng hơn 50% trong ngày bạn bắt đầu mua, khi giá chứng khoán phá vỡ những mức giá cũ trong một mô hình cơ bản.
  • 27. 27 3. Những mô hình cơ bản là "tách và tay cầm", "đụng đáy hai lần", "đáy bằng". Nếu mô hình không phải bất cứ cái nào trong ba mô hình trên, thông thường nó hay có thiếu sót và có khuynh hướng thất bại. 4. Chỉ nên mua những loại cổ phiếu có chỉ số sức mạnh tương đối trên 80.Hãy tránh xa những cổ phiếu có sức mạnh tương đối dưới 70. Đồng thời hãy xem xét chỉ số sức mạnh tương đối có hình thành một xu thế đi lên rõ ràng hay không. 5. Cố gắng thêm vào danh mục đầu tư của bạn những loại cổ phiếu đang hoạt động tốt nhất, đồng thời giảm bớt, hay bán hẳn những cổ phiếu đang hoạt động tồi. Nên nhớ rằng cổ phiếu trong những mô hình cơ bản và gần mức giá cao của nó thì tốt hơn những cổ phiếu đang gần những mức giá thấp gần đây. 6. Kiểm tra những đồ thị hàng tháng để tìm xem liệu cổ phiếu có hình thành những mô hình cơ bản dài hạn trong khoảng thời gian vài năm hay không. Cổ tức Lợi tức CP (hay gọi là cổ tức) là khoản tiền mà các công ty trích ra từ lợi nhuận để trả cho cổ đông. Người ta thường tính cổ tức trên một cổ phiếu. Tỷ suất cổ tức: là một tỷ lệ phần trăm giữa cổ tức và thị giá cổ phiếu. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ cổ tức bạn sẽ nhận được so với số tiền bạn phải trả để mua cổ phiếu. ➣Ví dụ, nếu bạn nhận được 2 đôla Mỹ hàng năm từ mỗi cổ phiếu và thị giá cổ phiếu là 50 đôla thì tỷ suất cổ tức sẽ là 4%. Lợi tức CP, nhất là chi trả cổ tức của một TCPH, thường có xu hướng: muốn tạo khả năng và duy trì mức cổ tức cao để tạo lòng tin cho nhà đầu tư, mặc dù tình hình - sản xuất kinh doanh tốt xấu, có khi đều không có sự phân biệt; hoặc có khi, vào những lúc thu hẹp hoạt động, nhưng chi trả cổ tức có thể vẫn cao, cho dù thu nhập giảm, và theo đó lợi nhuận giảm, do TCPH muốn duy trì mức trả cổ tức ngang bằng mức cổ tức trong thời kỳ kinh doanh phát đạt. CHƯƠNG VIII:PHÂN TÍCH CƠ BẢN Khái niệm:Phân tích cơ bản là việc phân tích bản cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển của công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán. Việc phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán dưới giá trị hay trên giá trị hiện hành. 1. Bản cáo bạch là gì? Bản cáo bạch chính là một lời mời hay chào bán để công chúng đầu tư đăng ký hoặc mua chứng khoán của công ty phát hành. Bản cáo bạch bao gồm mọi thông tin liên quan đến đợt phát hành. Do đó, thông tin đưa ra trong Bản cáo bạch sẽ gắn với các điều khoản thực hiện lời mời hay chào bán. 2. Tại sao cần phải đọc Bản cáo bạch
  • 28. 28 Bản cáo bạch là một tài liệu rất quan trọng.Với tư cách là một nhà đầu tư, Bản cáo bạch là phương tiện giúp bạn đánh giá mức độ sinh lời và triển vọng của công ty trước khi bạn quyết định có đầu tư vào công ty hay không. Một quyết định thiếu thông tin có thể làm bạn phải trả giá đắt. I-Phân tích vĩ mô Trong phân tích vĩ mô, cần quan tâm đến tình hình kinh tế, chính trị - xã hội trong phạm vi quốc tế và quốc gia 1-Phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội quốc tế Nền kinh tế quốc tế có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và của quốc gia, có những tác động trực tiếp đến hoạt động của thị trường chứng khoán. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, yếu tố quốc tế cần được xem xét trong quá trình phân tích đầu tư chứng khoán. Các vấn đề có tính quốc tế cần lưu ý trong quá trình phân tích chứng khoán là: mức tăng trưởng kinh tế và các vấn đề chính trị 2-Phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội quốc gia a)Môi trường chính trị - xã hội Thay đổi chính trị làm cho nhiều quy định và sự kiểm soát của Chính phủ trong một số ngành được thắt chặt và một số quy định trong các ngành khác lại được nới lỏng,từ đó có những tác động lớn tới kết quả kinh doanh của mỗi ngành, mỗi công ty và rất khó có thể khẳng định việc thắt chặt hay nới lỏng này sẽ tạo ra các tác dụng tích cực hay tiêu cực cho nền kinh tế. Môi trường pháp luật cũng là yếu tố cơ bản gây tác động tới thị tr ường chứng khoán. b)Các điều kiện kinh tế vĩ mô Các điều kiện kinh tế vĩ mô cần quan tâm trong phân tích chứng khoán là: tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ lệ thất nghiệp,tỷ lệ lạm phát, lãi suất, tỷ giá mức thâm hụt ngân sách quốc gia, chính sách của Chính phủ trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ. Tuy nhiên, có 3
  • 29. 29 nhân tố vĩ mô cơ bản nhất tác động trực tiếp tới hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán, đó là: t ỷ giá hối đoái, lãi suất và tỷ lệ lạm phát. - Tỷ giá hối đoái: khi nhà đầu tư nhận định rằng đồng nội tệ có thể bị phá giá trong thời gian tới thì nhà đầu tư đó sẽ quyết định không đầu t ư vào chứng khoán hoặc sẽ tìm cách thay thế chứng khoán bằng tài sản ngoại tệ để phòng ngừa giá trị chứng khoán bị suy giảm. -Lạm phát và lãi suất: lãi suất là nhân tố tác động tới mức giá chứng khoán và lãi suất yêu cầu của nhà đầu tư khi đầu tư vào chứng khoán. c) Các dự đoán về tình hình kinh tế chính trị và xu hướng thị trường Môi trường kinh tế vĩ mô có vai trò quan trọng quyết định xu thế chung của thị tr ường chứng khoán. Thông thường, khi nền kinh tế đang ở trong giai đoạn tăng trưởng và thịnh vượng thì nền thị tr ường chứng khoán phát triển và ngược lại. II-Phân tích ngành: Triển vọng của một ngành trong môi trường kinh doanh quyết định kết quả mà mỗi công ty có thể có được, vì vậy phân tích ngành nên được tiến hành trước khi phân tích công ty. Những lý do khiến ta phải phân tích hoạt động toàn ngành trước khi phân tích từng loại chứng khoán riêng lẻ là: - Tại một thời điểm nào đó, lợi suất của các ngành sẽ khác nhau, do đó khi phân tích ngành, nhà đầu tư sẽ chọn được những ngành có lợi suất cao để đầu tư. - Ngay trong một ngành thì lợi suất thu nhập cũng không ổn định. Một ngành hoạt động tốt tại một thời điểm nào đó thì cũng không có nghĩa nó sẽ hoạt động tốt trong tương lai. Vì vậy, phải luôn theo dõi động thái hoạt động toàn ngành để tìm cơ hội đầu tư và rút vốn đầu tư đúng lúc. - Vào cùng một thời điểm, các ngành khác nhau sẽ có mức rủi ro khác nhau. Do đó, cần đánh giá mức độ rủi ro của ngành để xác định mức lợi suất đầu tư tương xứng cần phải có. - Rủi ro của mỗi ngành có sự biến động không nhiều theo thời gian, do vậy có thể phân tích mức rủi ro từng ngành trong quá khứ để dự đoán rủi ro của nó trong tương lai.
  • 30. 30 III- Phân tích doanh nghiệp: Phân tích báo cáo tài chính là việc làm quan trọng đối với các nhà đầu tư, mục đích phân tích các báo cáo tài chính là nhằm đánh giá: - Khả năng sinh lợi của tổ chức phát hành. - Khả năng thanh toán các khoản nợ: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. - Tiềm năng phát triển trong tương lai. Việc phân tích các báo cáo tài chính cần tiến hành đồng bộ theo cả chiều dọc và chiều ngang : - Phân tích báo cáo tài chính theo chiều dọc: nghĩa là tính toán các tỷ lệ của doanh nghiệp và so sánh kỳ này với kỳ trước để thấy xu hướng thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp và thấy được động thái phát triển của doanh nghiệp. - Phân tích báo cáo tài chính theo chiều ngang : là phân tích cần có sự so sánh kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy được tình hình tài chính doanh nghiệp tốt hay xấu so với doanh nghiệp cùng ngành. Số liệu được lấy để phân tích báo cáo tài chính được lấy từ 3 loại báo cáo chính sau: - Bảng cân đối kế toán. - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. + Phương pháp phân tích: (1) Phương pháp phân tích tỉ lệ →Tính toán các chỉ tiêu tài chính theo tỉ lệ →So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp: - Giữa kì này với kì trước - Giữa chỉ tiêu kế hoạch với thực hiện - Với chỉ tiêu trung bình ngành. (2) Phương pháp tách đoạn: tách 1 chỉ tiêu tổng hợp thành nhiều chỉ tiêu cấu thành bộ phận có mối quan hệ nhân quả. Thu nhập sau thuế Thu nhập sau thuế ---------------------- = ---------------------- x ----------------- x ------------------ Vốn CSH Doanh thu Phân tích các chỉ tiêu tài chính Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản Vốn CSH
  • 31. 31 Phân tích các chỉ số tài chính sẽ cho thấy mối quan hệ đầy đủ ý nghĩa hơn giữa các giá trị riêng lẻ trong báo cáo tài chính. Nếu như một con số riêng lẻ trong một báo cáo tài chính không thực sự nói lên nhiều điều, thì một chỉ số tài chính riêng lẻ cũng có giá trị rất thấp nếu chúng ta không xét nó trong mối tương quan với các chỉ số khác. Từ những chỉ số được phân tích, chúng ta sẽ có những so sánh quan trọng nhằm xem xét kết quả hoạt động của công ty trong mối tương quan với toàn bộ nền kinh tế, lĩnh vực ngành, các nhà cạnh tranh chủ yếu trong phạm vi ngành, kết quả hoạt động trước đây của công ty. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình thanh toán Hệ số = Tổng giá thanh trị tài toá sản n Tổng nợ chu ng Hệ số thanh toán chung phản ánh 1 đồng nợ được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản của doanh nghiệp. Hệ số than h toán nợ dài hạn = Giá trị TSCĐ và ĐTD H Tổng nợ dài hạn Hệ số thanh toán nợ dài hạn phản ánh 1 đồng nợ dài hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản dài hạn của doanh nghiệp. Hệ số than h toán nợ ngắn hạn = Giá trị TSLĐ và ĐTN H Tổng nợ
  • 32. 32 ngắn hạn Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn phản ánh khả năng của doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn bằng các TSLĐ của doanh nghiệp. Hệ số = TSLĐ và ĐTNH – than hàng tồn kho h Tổng nợ ngắn hạn toán nhanh nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán nhanh nợ ngắn hạn đo lường khả năng mà lượng tiền sẵn có vào ngày lập bảng cân đối kế toán và lượng tiền mà doanh nghiệp hi vọng có thể chuyển đổi được từ đầu tư tài chính và các khoản phải thu để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn. Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn và tình hình tài sản Hệ số nợ = Hệ số tự tài trợ Tổng nợ phải trả Tổng nguồn vốn = Tổng vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn Nhìn chung hệ số tự tài trợ cao phản ánh doanh nghiệp rất chủ động về vốn trong kinh doanh. Tuy nhiên tùy theo đặc điểm ngành nghề kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà có kết cấu nguồn tài trợ và cơ cấu tài sản khác nhau. Do vậy không thể dựa vào từng chỉ tiêu mà có những đánh giá xác đáng về doanh nghiệp. Tỉ trọng vốn cố định = Giá trị TSCĐ và ĐTDH Tổng tài sản Tỉ trọng vốn lưu = Giá trị TSLĐ
  • 33. 33 định và ĐTN H Tổng tài sản Các chỉ tiêu phản ánh quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn - Quan hệ giữa TSCĐ và nguồn dài hạn Nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu (Vcsh) + Nợ dài hạn (Nợdh) Nếu TSCĐ > Nguồn dài hạn chứng tỏ nguồn tài trợ không hợp lý, doanh nghiệp dễ lâm vào tình trạng thiếu và mất khả năng thanh toán do dùng nguồn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn. - VLĐ thường xuyên = Vcsh + Nợdh - Giá trị còn lại của TSCĐ (VCĐ) - Vốn lưu động thuần = TSLĐ và ĐTNH - Tổng nợ ngắn hạn. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản Vòng qu ay hàng tồ n kh o Số ngày 1 vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán Giá trị hàng hóa tồn kho bình quân Giá trị hàng hóa tồn kho bình quân Giá trị hàng bán bình quân 1 ngày
  • 34. 34 Vòng quay hàng tồn kho phản ánh trong 1 kì, hàng tồn kho luân chuyển được bao nhiêu lần. Số ngày của 1 vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày từ khi mua nguyên vật liệu, hàng hóa đến khi bán được hàng. Trường hợp vòng quay hàng tồn kho tăng song phản ánh xu hướng tài chính không tốt (sau khi bán, hàng khan hiếm, giá cả đầu vào tăng, không có hàng bán…). Vòng quay các khoả n phải thu = Doanh thu bán chị u tron g kì Phải thu bìn h quâ n Kỳ thu = Phải thu tiền bình bình quân quân Doanh thu bán chịu bquân 1 ngày Kì thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để chuyển các khoản phải thu từ người mua thành tiền. Kỳ tha nh toá n (ph ải trả) bình = Phải trả bình quân Doanh thu mua chịu bquân 1 ngày
  • 35. 35 quâ n Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần VLĐ bình quân Các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và phân phối thu nhập Chỉ số lợi nhuận / doanh thu (doanh lợi) Chỉ số lợi nhu ận/ tài sản (ROA) Chỉ số lợi nhuậ n/ vốn CSH (ROE) = = = Lợi nhu ận sau thuế Doa nh thu thuầ n Lợi nhuận sau thuế Tổng vốn bình quân Lợi nhuậ n sau thuế Tổng vốn CSH bình
  • 36. 36 quân ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu khác trên thị trường. Thông thường ROE càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn, vì tỉ số này cho thấy được khả năng sinh lời của công ty so với các công ty khác. Thu nhập ròng một cổ phiếu thườn g (EPS) Tài sản ròng một cổ phiếu thường (NAV) = Lợi nhuận ròng cổ tức cổ phiếu ưu đãi Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành = Tổng tài sản Tổng nợ Tổng mệnh giá CPU Đ Tổng khối lượng cổ phiếu thườn g đang lưu hành
  • 37. 37 Cổ tức một cổ phiếu thường (DPS/ DIV) Hệ số chi trả cổ tức (DPS / EPS) = = Thu nhập ròng - Cổ tức CPUĐ Thu nhập giữ lại Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành Tổng cổ tức đem chia cho cổ phiếu thường Lợi nhuận ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi Hoặc Hệ số chi trả cổ tức = 1 – tỉ lệ thu nhập giữ lại Hệ số chi trả cổ tức thường được tuyên bố tại đại hội cổ đông thường niên, nói lên cổ tức của cổ đông chiếm bao nhiêu phần trăm trong thu nhập, nó cũng nói lên chính sách chia cổ tức của công ty. Chính sách này có thể thay đổi theo từng thời kì và do đó nó phản ánh chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Suất cổ tứ c hi ện hà nh = Cổ tức 1 cổ phiếu thường (DPS) Thị giá cổ phiếu thường
  • 38. 38 Suất cổ tức hiện hành phản ánh thu nhập của nhà đầu tư tính trên vốn thực anh ta phải bỏ ra để có được cổ tức tương ứng. Các chỉ tiêu về triển vọng phát triển của công ty Hệ số = 1 - hệ số thu chi nhập trả giữ cổ lại tức (b) Hệ số thu nhập giữ lại là 1 yếu tố quan trọng nói lên sự tích lũy của công ty cho tương lai, góp phần vào tốc độ phát triển của công ty sau này. Hệ số giá / thu nhậ p (P/E) = Thị giá cổ phiếu (market price Pm) Thu nhập ròng của một cổ phiếu (EPS) P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho mỗi đồng thu nhập. Chỉ số thị giá / thư giá (M/ B) = Thị giá cổ phiếu (market price Pm) Giá trị sổ sách 1 CP thường
  • 39. 39 Chỉ tiêu này cho biết giá cổ phiếu đang bán trên thị trường đắt hơn, rẻ hơn hay bằng mệnh giá. Tương tự như P/E, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ công ty được đánh giá có triển vọng phát triển trong tương lai. Tốc độ tăng trưởng (growt h rate) Kết hợp phân tích các chỉ tiêu tài chính = Tỉ lệ thu nhập giữ lại (b) x ROE Sử dụng mô hình Dupont  Hệ số lợi nhuận ròng × Vòng quay tổng tài sản = Lợi nhuận trên đầu tư Hay Thu nhập ròng/ Doanh thu × Doanh thu/Tài sản = Thu nhập ròng / Tài sản.  Lợi nhuận trên đầu tư × Đòn bẩy tài chính = Lợi nhuận trên vốn cổ phần  Hay Thu nhập ròng / Tài sản × Tài sản / Vốn cổ phần = Thu nhập ròng / Vốn cổ phần CHƯƠNG IX:PHÂN TÍCH KỸ THUẬT KHÁI NIỆM: là việc nghiên cứu hành vi của nhà đầu tư và tác động của các hành vi này vào khả năng biến động giá chứng khoán. Dữ liệu chủ yếu cần để thực hiện phân tích kỹ thuật là lịch sử giá chứng khoán và khối lượng giao dịch trong một khoảng thời gian nhất định. Các dữ liệu này giúp quý vị xác định xu hướng thị trường, dự đoán biến động giá và các tín hiệu Mua, tín hiệu Bán để đưa ra quyết định đầu tư sáng suốt và có khả năng đem lại kết quả cao. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH KỸ THUẬT Lý thuyết DOW Chỉ số trung bình:là việc nghiên cứu hành vi của nhà đầu tư và tác động của các hành vi này vào khả năng biến động giá chứng khoán. Dữ liệu chủ yếu cần để thực
  • 40. 40 hiện phân tích kỹ thuật là lịch sử giá chứng khoán và khối lượng giao dịch trong một khoảng thời gian nhất định. Các dữ liệu này giúp quý vị xác định xu hướng thị trường, dự đoán biến động giá và các tín hiệu Mua, tín hiệu Bán để đưa ra quyết định đầu tư sáng suốt và có khả năng đem lại kết quả cao. Ba xu thế chính của thị trường: Xu thế cấp 1: Đó là xu thế chung đi lên hoặc đi xuống kéo dài trong một vài năm.Mỗi đợt giá tăng cao hơn đợt tăng giá lần trước thì xu thế cấp một được gọi là thị trường con bò tót.Ngược lại,mỗi đợt giá giảm lại thấp hơn đợt giá giảm lần trước gọi là thị trường con gấu. Xu thế cấp 2: Đó là các phản ứng ngắt quãng điều chỉnh các đợt tăng hay giảm giá ở thị trường cấp 1 kéo dài trong 3 tuần và đưa đến giảm giá 1/3 so với đợt giảm giá lần trước ở thị trường cấp 1. Xu thế cấp 3: Đó là những biến động nhỏ thường kéo dài khoảng 6 ngày. ƯU ĐIỂM: Được sử dụng nhanh,rộng và dễ áp dụng. Áp dụng cho nhiều chu kỳ thời gian,không phụ thuộc vào các báo cáo tài chính. Nhiều loại công cụ được dùng để phân tích,phối hợp yếu tố tâm lý và nhiều nguyên nhân kt sau biến động giá. NHƯỢC ĐIỂM: Dễ phụ thuộc vào cảm xúc cá nhân. Tập trung vào những khái niệm có thể xảy ra chứ không phải chắc chắn. Một số kỹ thuật phân tích hành động dựa trên phép thống kê và toán học phức tạp. *So sánh Phân tích cơ bản và Phân tích kỹ thuật:
  • 41. 41 Phân tích kỹ thuật Bỏ qua giá trị nội tại của cổ phiếu Tập trung tất cả vào tính thời điểm,xác định khi nào thì mới cân bằng cung cầu thay đổi. Là quá trình đưa ra quyết định thông qua nghiên cứu thị trường. Xem xét cung cầu ảnh hưởng như thế nào đến giá từ đó nghiên cứu giá thay đổi như thế nào Xác định khi nào thì giá biến động. Trả lời câu hỏi:thời điểm?hành động gì?(mua và bán) Linh hoạt và có khả năng thích ứng do bao quát bức tranh,theo đuổi tất cả các thị trường trong nhiều bối cảnh khác nhau. Dễ và nghiên cứu Phân tích cơ bản Gỉa định các thông tin được công bố hoàn hảo và thị trường phản ứng một cách hợp lý. Bỏ qua vai trò của tâm lý,do đó bỏ qua tính thời điểm đặc biệt trong ngắn hạn. Là quá trình đưa ra quyết định bằng cách xác định giá trị nội tại của chứng khoán,hàng hóa…(vi mô,vĩ mô,doanh nghiệp…) Xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến cung cầu từ đó nghiên cứu nguồn gốc các thay đổi về giá. Xác định điều gì sẽ ảnh hưởng đến giá. Trả lời câu hỏi:cái gì?tại sao cổ phiếu nào? Có xu hướng chuyên môn hóa vào một nhóm nhân tố nào đó nên sẽ không linh hoạt. Lĩnh vực nghiên cứu
  • 42. 42 nhanh,nhiều nhà phân tích kỹ thuật không cần quan tâm đến hoạt động KD của doanh nghiệp. MỘT SỐ DẠNG THỨC ĐỒ THỊ 1.Đường xu thế: 2.Điểm đột phá: quá rộng,thời gian nghiên cứu dài.
  • 43. 43 3.Dạng thức giao dịch:
  • 44. 44 4.Cận dưới:
  • 45. 45 5.Cận trên:
  • 46. 46 6.Mức hỗ trợ,mức kháng cự: 7.Đầu và vai:
  • 47. 47 8.Lá cờ:
  • 48. 48 *Các chỉ báo kỹ thuật cơ bản:  chỉ số xu hướng giá: gồm 4 loại  Chỉ số Báo hiệu Giá đảo chiều: Parabolic SAR (PSAR) Parabolic SAR là chỉ số hướng biến động giá có thể giúp nhà đầu tư xác địnhkhi nào thì bán cổ phiếu. SAR được viết tắt bởi “Stop And Reverse” tức là “DừngVà Đổi chiều”. khi nhà đầu tư quan sát thấy giá cắt đường Parabolic SAR, khi đó
  • 49. 49 quývị có thể xem xét bán cổ phiếu. Quý vị có thể hình dung chỉ số này như một côngcụ kỹ thuật để cắt lỗ trong đầu tư của mình. Cũng giống như dải Bollinger, nhà đầu tư nên để các tham số định dạng chuẩnkhi vẽ chỉ số này. Chúng ta hãy xem chỉ số này được dùng thế nào. Đường Parabolic SAR saukhi chuyển hướng từ phía trên hay phía dưới giá cổ phiếu nó sẽ tiến gần và dịchchuyển sát hơn với đường giá cổ phiếu cho đến khi cắt đường này. Đường Parabolic SAR sẽ trượt về phía bên kia đường giá cổ phiếu và quay lại bắt đầu một kịch bản tương tự. Khi nhà đầu tư dùng đường Parabollic SAR như một chỉ số cắt lỗ, nhà đầu tư sẽ không bao giờ giữ cổ phiếu đó khi biết rằng chỉ số này đang cho bạn biết là bạn nên bán cổ phiếu. Tuy nhiên, chỉ số này cũng có hạn chế của nó đó là nó có thể làm bạn bán cổ phiếu trong lúc nó chỉ là một tín hiệu tạm thời giảm giá trước khi tiếp tục tăng cao hơn trước Ví dụ :như là trường hợp của cổ phiếu của AAPL diễn ra trong tháng 11 như trong biểu đồ sau:
  • 50. 50 Đường trung bình trượt MA Các chỉ số trung bình động là trong những công cụ phân tích kỹ thuật ra đời sớm nhất và phổ biến MA : một chỉ số trung bình động là giá trung bình của một chứng khoán tại thời điểm nhất định. Khi tính toán một chỉ số trung bình, cần xác định thời gian để rính giá trung bình Phương pháp làm san bằng sự biến động bằng việc chậm thời gian. MỤc đích là để xác hoặc chỉ ra tín hiệu xu hướng cũ kết thúc hay xu hướng mới bắt đầu và theo dõi sự tiến triển của nó MA giản đơn (simple MA ) là chỉ số trung bình giản đơn bằng cách cộng tất cả các giá chứng khoán trong “ n “ khoảng thời gian gần nhất rồi chia cho “ n “ Khi ta tính ra được chỉ số MA nếu nó nhỏ hơn giá chứng khoán hiện tại vậy đó là tín hiệu mua, và ngược lại. Kết hợp 2 đường MA :
  • 51. 51 + Đường MA ngắn hạn là 10 ngày và là đường bám sát với dường giá nhạy cảm với biến động thị trường + Đường MA dài hạn là 25 ngày, đường này ở đây giả định là đường đầu tư dài dạn ít nhạy cảm với biến động thị trường. MA ngắn hạn hữu dụng khi xu hướng thị trường đảo chiều liên tục. MA dài hạn hoạt động tốt hơn trong khi thị trường có xu hướng được giữ vững. khi đó, nếu MA ngắn hạn cắt lên trên đường MA dài hạn báo hiệu xu hướng tăng giá  mua vào cổ phiếu , nếu như đường MA ngắn hạn cắt xuống dưới đường MA dài hạn thì khi đó ta thấy xu hướng giảm giá và se bán cổ phiếu, điều quan trọng như 2 đướng cách xa sẽ có hiện tượng đảo chiều giá.  Một số đường MA cơ bản: - SMA : Đường trung bình trượt giản đơn - WMA: Đường trung bình trượt tuyến tính có trọng số - EMA : Đường trung bình trượt theo hệ số mũ - VMA : Đường trung bình trượt biến đổi
  • 52. 52 - TMA : Đường trung bình trượt hồi quy theo thời gian Đường trung bình trượt giản đơn Đường Trung bình trượt Giản đơn: Simple Moving Average (“SMA”) là một chỉ số phản ánh xu hướng giá, chỉ số này loại bỏ các biến động lớn của giá chứng khoán hàng ngày và tạo ra đường giá chứng khoán mềm mại hơn. Cũng như các chỉ số kỹ thuật khác, đường trung bình trượt giản đơn được xây dựng dựa trên giá chứng khoán và do đó nó có độ trễ so với mức giá chứng khoán hiện tại. Tuy nhiên, thông tin này cung cấp những tín hiệu cực kỳ hữu ích. Nhà đầu tư có thể xây dựng đến 3 đường trung bình trượt giản đơn trên một biểu đồ và cũng có thể thay đổi khung thời gian cho mỗi đường. Ví dụ, nếu muốn hiển thị 3 đường trung bình trượt giản đơn trên một biểu đồ, quý vị có thể chọn khung thời gian 30, 50 và 200. Điều này có nghĩa là đường trung bình trượt giản đơn đầu tiên (với khung thời gian 30) trung bình hóa biến động của giá chứng khoán cho khoảng thời gian 30 ngày vừa qua, đường trung bình trượt giản đơn thứ hai trung bình hóa biến động của giá chứng khoán cho 50 ngày vừa qua và tương tự là đường trung bình trượt giản đơn thứ ba trung bình hóa giá chứng khoán trong 200 ngày vừa qua. Việc sử dụng những đường trung bình trượt là cách dễ nhất để xác định hướng biến động giá của giá chứng khoán. Nếu trung bình trượt đang nhích lên có nghĩa là chứng khoán đó có chiều hướng đi lên. Ngược lại, nếu trung bình trượt đi xuống dưới, giá chứng khoán có chiều hướng giảm. Dĩ nhiên, khung thời gian của đường trung bình trượt ảnh hưởng lớn thông tin phản hồi và mức độ giao động của đường trung bình trượt. Một đường trung bình trượt có khung thời gian ngắn hơn – ví dụ như trung bình trượt giản đơn 30 ngày sẽ phản ánh biến động giá chứng khoán trong thời gian gần đây nhiều hơn so với một đường trung bình trượt có khung thời gian dài hơn chẳng hạn như trung bình trượt giản đơn 200 ngày. Nhà đầu tư có thể xem trong biểu đồ
  • 53. 53 phía dưới của cổ phiếu AAPL. Trung bình trượt 30 ngày thể hiện bằng màu đỏ thể hiện sự biến động giá gần đây nhất nhiều hơn so với đường trung bình trượt 200 ngày có màu xanh. Cũng theo biểu đồ này thì đường trung bình trượt giản đơn 30 ngày có xu hướng đi xuống trong khi đường trung bình trượt giản đơn 200 ngày có xu hướng đi lên Đường trung bình trượt mũ EMA - EMA của một loại chứng khoán được tính bằng cách cộng một phần giá ngày hôm nay với giá trị SMA ngày hôm qua của chính loại chứng khoán đó theo một tỷ trọng nào đó. - EMA = today’s close*0.09 + yesterday’s SMA*0.91 - Nhiều nhà đầu tư không quen với việc sử dụng tỷ lệ phần trăm, ta có công thức chuyển đổi sau: 2 Tỷ lệ phần trăm= ----------------------thời kỳ trễ +1 Biên độ Biến động Giá Bollinger Bands
  • 54. 54 Dải Biên độ biến động giá Bollinger tạo ra một vùng bao phủ xung quanh đường Trung bình Trượt Giản đơn (“SMA”). Dải biên độ Bollinger được xác định dựa trên mức biến động (volatility) của giá chứng khoán. Khi giá chứng khoán biến động mạnh, dải Bollinger sẽ phình to hơn và ngược lại khi giá chứng khoán biến động ít hơn, dải Bollinger sẽ dần thu hẹp lại. Trong các biểu đồ phân tích kỹ thuật, dải Bollinger được xây dựng với các thông số ngầm định là 20 và 2. Tức là dựa trên Đường Trung bình Trượt giản đơn 20 ngày và khoảng rộng của dải là 2 lần của độ lệch chuẩn (standard deviation). Quý vị nên giữ nguyên các thông số ngầm định này khi khi sử dụng chỉ số này. Hơn nữa, khi hiển thị chỉ số dải Bollinger trên biểu đồ, nhà đầu tư nên hiển thị cả đường SMA 20 ngày do đó quý vị có thể hiển thị sự tương tác giữa dải Bollenger và đường SMA 20 ngày. Rất nhiều nhà đầu tư sử dụng dải Bollinger để dự đoán mức độ biến động giá cổ phiếu và xác định khi nào đường trung bình trượt giản đơn SMA sẽ đổi chiều. Ví dụ, nếu quý vị phát hiện thấy hai đường biên dải Bollinger dịch chuyển ra xa nhau và bắt đầu di chuyển theo hai hướng đối lập và quý vị biết rằng giá cổ phiếu vừa biến động mạnh. Để xác định khi nào thì biến động giá cổ phiếu đó chấm dứt, quý vị có thể quan sát đến đường biên dải Bollinger mà đang dịch chuyển cùng hướng với giá chứng khoán. Khi dải này bắt đầu chuyển hướng và có xu hướng hội tụ với dải đối lập, tức là sự biến động của giá cổ phiếu hiện tại đang mất dần sức mạnh. Quý vị có thểm tham khảo tình huống của AAPL trong giữa tháng 2
  • 55. 55 Chỉ số dao động giá Chỉ số lưu lượng tiền: Money Flow Index (“MFI”) là một chỉ số biến động giá thể hiện bằng một đường dịch chuyển lên xuống trong biên độ từ 0 đến 100. Càng gần 100 thì chỉ số càng mạnh và càng gần về 0 thì chỉ số càng yếu. Đây là một chỉ số rất hữu ích vì nó phản ánh cả biến động giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch. Chỉ số Lưu lượng Tiền MFI giúp quý vị xác định “sức mạnh” của biến động giá cổ phiếu và do đó quý vị có thể phán đoán khi nào thì xu hướng tăng hay giảm kết thúc. Cơ sở lý thuyết của chỉ số này là có nhiều nhà đầu tư nhảy vào giao dịch khi giá bắt đầu dịch chuyển, có thể là do nhà đầu tư rất thích cổ phiếu này và do đó xu hướng sự dịch chuyển sẽ có khả năng tiếp diễn trong tương lai. Ngược lại nếu có ít nhà đầu tư nhảy vào mua bán cổ phiếu khi giá bắt đầu dịch chuyển, thì có lẽ cổ phiếu ít được nhà đầu tư quan tâm và khả năng xu hướng giá tiếp tục dịch chuyển là thấp. Do chỉ số này đo lường cả biến động giá và khối lượng, chỉ số Lưu Lượng Tiền MFI cho phép quý vị biết là nhà đầu tư dang quan tâm nhiều hay ít đến cổ phiếu. Nếu nhà đầu tư quan tâm nhiều, quý vị sẽ có nhiều sự tự tin hơn trong giao dịch. Ngược lại nếu nhà đầu tư quan tâm ít, quý vị có thể xem xét lại giao dịch của mình.
  • 56. 56 Ví dụ, khi quy vị thấy giá cổ phiếu đang tăng trong khi Chỉ số Dòng Tiền MFI thì lại giảm – như trường hợp của cổ phiếu HOV vào cuối năm 2005 – quý vị có xác định được là nhà đầu tư đang mất dần sự quan tâm đến sự gia tăng giá cổ phiếu này. Và như vậy, bản thân giá cổ phiếu có thể không đủ động lực để nó tiếp tục tăng Chỉ số Williams %R Chỉ số Williams %R là một chỉ số biến động giá. Chỉ số này tương tự như Chỉ số Tỷ lệ Thay đổi ROC và chỉ số Sức mạnh Tương đối RSI. Chỉ số này bao gồm một đường đơn dịch chuyển lên xuống trong biên độ 0 và 100. Chỉ số Williams %R so sánh giá đóng cửa cửa phiên giao dịch gần đây nhất với khoảng giá giao dịch trong quá khứ:   Nếu giá đóng cửa gần đây nhất càng gần với mức giá cao nhất của khoảng giá trong quá khứ thì đường Williams %R sẽ càng gần với cực trên của khoảng dao động. Ngược lại, nếu giá đóng cửa gần đây nhất gần đáy của khoảng giá trong quá khứ, đường Williams %R sẽ gần đáy của khoảng giao động.
  • 57. 57 Bất cứ lúc nào đường Williams %R mà nằm trên 80 hoặc dưới 20 thì giá cổ phiếu đều được xem là biến động thái quá (“over-extended”). Khi quý vị quan sát thấy tình huống này, thì có khả năng cao giá cổ phiếu sẽ đảo chiều. Chỉ số Williams %R tạo ra các tín hiệu Mua và Bán khi nó di chuyển ra khỏi vùng biến động thái quá (trên 80 hoặc dưới 20) và quay trở lại vùng giữa của khoảng giao động – như quý vị có thể quan sát với trường hợp của Home Depot (HD) trong biểu đồ dưới đây Chỉ số Tỷ lệ Thay đổi ROC Chỉ số Tỷ lệ Thay đổi ROC là chỉ số biến động giá, nó dịch chuyển qua lại đường trung tâm zero line (Mốc số 0). Chỉ số này được tính toán để cho quý vị biết giá chứng khoán đã dịch chuyển bao xa so với mức giá cũ. Quý vị có thể xác định khoảng cách tích toán khi quý vị lựa chọn các thông số khi vẽ chỉ số này trên biểu đồ. Cơ sở lý thuyết của chỉ số này là giá chứng khoán chỉ có thể dịch chuyển theo một chiều hướng và phải dừng lại để lấy sức. Giá có thể lấy sức bằng một trong hai cách:  Nó có thể quay trở lại vị trí xuất phát ban đầu bắt đầu khi dịch chuyển; hoặc
  • 58. 58  Đợi để giá chứng khoán phản ánh thông tin và dữ liệu lịch sử. Dù theo cách nào đi chăng nữa thì hành động này được minh họa trong Chỉ số Tỷ lệ Thay đổi. Khi giá chứng khoán bắt đầu dịch chuyển mạnh đi lên hoặc đi xuống, Chỉ số Tỷ lệ Thay đổi sẽ dịch chuyển ra xa từ đường trung tâm (Zero Line: Mốc số 0). Sau đó, giá sẽ dừng biến động, Chỉ số Tỷ lệ Thay đổi dịch chuyển về Mốc số 0. Bây giờ chúng ta hãy xem một tình huống cụ thể. Nếu quý vị quan sát thấy nếu Chỉ số Tỷ lệ Thay đổi đang ở mức cực cao hay cực thấp, thì tức là biến động giá lớn đã xảy ra và quý vị có thể xem xét chưa nên vội vã thực hiện giao dịch. Nếu quý vị quan sát thấy Chỉ số Tỷ lệ Thay đổi bắt đầu dịch chuyển ra khỏi Mốc số 0, hoặc chuyển hướng từ điểm cực cao hay cực thấp và bắt đầu dịch chuyển theo hướng đối nghịch – như là trường hợp của GE vào cuối Tháng 11 và đầu tháng 2 – quý vị có thể xem xét sớm thực hiện giao dịch. Chỉ số Stochastic Chậm và Nhanh - Chỉ báo Stochastic (Stoc) là chỉ số căn bản cho khuynh hướng của thị trường. Trong giai đọan tăng giá (bull market) thì chỉ số này đi lên, còn trong giai đọan giảm giá (bear market) thì chỉ số này đi xuống.
  • 59. 59 - Chỉ số này được cấu tạo bởi 2 đường: %K , %D và được tính tóan như sau: %K = (giá hiện hành - giá thấp n) / (giá cao n - giá thấp n) Với n là số phiên giao dịch trong giai đọan đang xét (mặc định thường dùng là 14) %D = (%K x + %K x-1 + %K x-2) / 3 Là trung bình 3 phiên của %K, trong đó x là số phiên hiện hành. - Có 2 dạng stochastic: đường nhanh (fast stochastic), đường chậm (low stochastic). Đường nhanh ảnh hưởng cực kỳ đến giá trong khi đó đường chậm chỉ đơn thuần là kết quả cân bằng của đường nhanh. - Chì số stochastich được giới hạn từ 0 đến 100, nhưng phần lớn nó nằm quanh vị trí 20-80, nó phản ảnh các vùng quá bán (oversold) và vùng quá mua (oversbought). Đôi khi nó nằm ở những vùng 25-75 là những vùng hết sức nguy hiểm để thực hiện mua và bán vì ở tại những vùng này thường không có nhiều thông tin hỗ trợ. Cách sử dụng chỉ báo Stochastic: đây là 1 trong những chỉ số dùng để nhận biết sự đảo chiều của thị trường. 1. Thông thường những vùng overbought/oversold là những vùng chỉ báo có sự biến động. Tín hiệu bán khi chỉ báo stoc tăng mạnh lên trên 80 và cho tín hiệu mua khi stoc rơi xuống dưới 20. 2. Khi fast stochastic (%K) các low stochastic (%D) và hướng từ dưới lên sẽ cho tín hiệu mua, việc này có hiệu quả cao khi nằm trong vùng dưới 20. Tương tự, khi %K cắt %D từ trên xuống sẽ cho tín hiệu bán, điều này có hiệu quả cao khi nằm trong vùng trên 80. Quy vị cũng có thể xác định tín hiệu MUA BÁN khi hai đường %K và %D của Chỉ số Stochastic chậm giao cắt nhau.   Khi đường %K cắt lên phía trên đường %D, chỉ số này thể hiện tín hiệu Mua. Ngược lại khi đường %K cắt xuống dưới đường %D, cho ta biết tín hiệu Bán. Các tín hiệu Mua Bán này sẽ mạnh hơn khi:
  • 60. 60   Các điểm giao cắt nằm trong vùng trên mức 80% hoặc dưới mức 20% hoặc Khi đường %K vừa mới nằm trong một trong những vùng đó – như trường hợp của Wal-Mart Stores (WMT) ở biểu đồ phía dưới. Khi Chỉ số Stochastic Chậm di chuyển lên hay xuống, quý vị có thể phán đoán được về cảm nhận (sentiment) của nhà đầu tư trên thị trường. Khi chỉ số này trên mức 80, hay dưới mức 20 báo hiệu là giá chứng khoán đã bị biến động quá mức và có khả năng cao là giá chứng khoán sẽ sớm đảo chiều. Đường Stochastic Nhanh cũng tương tự như đường Stochastic Chậm. Tuy nhiên, đường này có xu hướng dịch chuyển lên xuống nhanh hơn nhiều. Và do đó nó tạo ra nhiều tín hiệu mua bán hơn do có sự biến động lớn. Đường Hội nhập và Phân ly Giá MACD Đường Trung bình Trượt Hội tụ và Phân kỳ: Average Convergence and Divergence (“MACD”) là một chỉ số biến động giá nhưng nó không dịch chuyển trong một khoảng xác định. Đường Trung bình Trượt Hội tụ và Phân kỳ MACD được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa hai đường trung bình trượt giá. MACD được hiển thị bằng hai đường và một biểu đồ dạng cột. Hướng và độ cao của biểu đồ được xác định dựa trên hướng và khoảng cách giữa hai đường MACD.
  • 61. 61 MACD là chỉ báo thị trường rất phổ biến khi sử dụng công cụ phân tích kỹ thuật. Nó được cấu thành bởi 3 thành phần chính.    1. Đường MACD: EMA (12): Đường trung bình giá trong 12 phiên gần nhất Trừ EMA (26): Đường trung bình giá trong 26 phiên gần nhất 2. Đường tín hiệu MACD: là đường EMA (9) của đường MACD 3. Đường biểu đồ MACD: là MACD trừ đi đường tín hiệu MACD Chỉ báo MACD là công cụ rất có hiệu quả và nhiều tác dụng. Có 3 cách chính khi sử dụng chỉ báo MACD: - Sự giao cắt của đường trung bình giá. Biểu đồ MACD Sự phân kỳ của MACD MACD và sự giao cắt của đường trung bình giá (MA) Phương pháp sử dụng đầu tiên này là sự nghiên cứu hiện tượng giao cắt của các đường trung bình giá.
  • 62. 62 - Khi đường trung bình ngắn hạn EMA (12) cắt và nằm trên đường trung bình dài hạn EMA (26), điều này tương đương với đường MACD cắt và nằm trên đường zero. - Khi đường trung bình ngắn hạn EMA (12) cắt và nằm phía dưới đường trung bình dài hạn EMA (26), điều này tương đương với MACD cắt và nằm phía dưới đường zero. Tín hiệu mua: Tín hiệu mua xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía trên đường zero. Tín hiệu bán: Khi MACD cắt và nằm phía dưới đường zero thì tín hiệu bán xuất hiện Những tín hiệu cảnh báo này thường xuất hiện rất trễ. Nếu sử dụng sự giao cắt của đường tín hiệu và đường MACD thì tín hiệu mua bán sẽ xuất hiện sớm và nhanh hơn. Tín hiệu mua: Xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía trên đường tín hiệu của MACD. Tín hiệu bán: xuất hiện khi đường MACD cắt và nằm phía dưới đường tín hiệu của MACD. MACD và sự giao cắt của các đường trung bình là một trong những cách sử dụng kỹ thuật chỉ báo MACD. Sử dụng biểu đồ MACD và sự phân kỳ của MACD là 2 phương pháp quan trọng để đưa ra những cảnh báo đảo chiều.
  • 63. 63 Biểu đồ MACD Biểu đồ MACD là 1 dạng khá đơn giản, nó nói lên sự khác biệt giữa đường MACD và đường tín hiệu của MACD Có 2 điều quan trọng nằm trong biểu đồ MACD: - Hội tụ: Biểu đồ MACD co rút lại, điều này mang ý nghĩa là có sự thay đổi hướng đi của đường giá đang chậm lại. Đường MACD có khuynh hướng tiến gần với đường tín hiệu của MACD. - Phân kỳ: Biểu đồ MACD giãn ra hoặc là tăng độ cao(không kể chiều âm hay dương), điều này mang ý nghĩa làm cho hướng đi của xu hướng giá tăng lên nhanh và chắc chắn.
  • 64. 64 Khi đường giá di chuyển theo xu hướng giá một cách mạnh mẽ thì biểu đồ MACD sẽ tăng độ cao. Khi biểu đồ MACD không tăng độ cao nữa hoặc nó bắt đầu co rút lại thì thị trường lúc đó có khuynh hướng suy giảm nhẹ và cảnh báo có nhiều khả năng đường giá sẽ có đảo chiều trong thời gian sắp tới. Tín hiệu mua: Khi biểu đồ MACD nằm dưới đường zero và bắt đầu hội tụ về hướng đường zero. Tín hiệu bán: Khi biểu đồ MACD nằm trên đường zero và bắt đầu hội tụ về hướng đường zero.
  • 65. 65 Lưu ý: Biểu đồ MACD không chỉ cho ra các tín hiệu mua bán khá chắc chắn mà còn được sử dụng cho việc cảnh báo khả năng thay đổi hướng đi của đường giá. Chỉ số Sức mạnh Tương đối về Giá Biểu đồ chỉ số RSI (Relative Strength Indicator) - Sức mạnh tương đối Chỉ số RSI dùng để đo sức mạnh hoặc độ yếu tương đối của một loại chứng khoán khi nó tự so sánh với chính nó trong một khoảng thời gian nhất định (thường dùng là 14 ngày). RSI là một công cụ đo dao động (oscillator) có biên trên và biên dưới dao động 0-100 (Phần dưới cùng của biểu đồ trên: RSI – 14 ngày). Đường trung bình nằm giữa màu xám 50. Biểu đồ RSI có các đường chính đáng chú ý sau: Đường 50 ở giữa, là một dấu hiệu nhận biết chứng khoán sắp tăng giá hay giảm giá. Nếu đường RSI tăng vượt qua đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng tăng giá (Bullish). Ngược lại, nếu đường RSI giảm xuống
  • 66. 66 dưới đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng giảm giá (Bearish). Ở đây ta nhấn mạnh là kỳ vọng vì biểu đồ thể hiện quá khứ của cổ phiếu. Khi xác lập xu thế mới sẽ làm cho các nhà đầu tư tin tưởng tăng (hoặc giảm). Đường 70 phía trên được coi là ngưỡng lỗ mua (overbought) nghĩa là đã mua lỗ quá nhiều so với mức cân bằng của thị trường. Khi đó, nhà đầu tư sẽ bán bớt ra để trở về mức cân bằng làm cho giá giảm xuống). Thường khi đường RSI rớt xuống dưới ngưỡng 70, đó là dấu hiệu giá chứng khoán đó sắp giảm. Đường 30 ở dưới được coi là ngưỡng lỗ bán (oversold) nghĩa là lượng bán ra quá nhiều làm giá giảm xuống thấp hơn so với giá cân bằng. Nhà đàu tư sẽ mua thêm để đẩy giá lên). Thường khi đường RSI từ dưới lên và vượt ngưỡng 30, đó là dấu hiệu giá chứng khoán đó sắp tăng.
  • 67. 67 Nguyên tắc mở giao dịch : BUY khi đường RSI cắt xuống dưới 30, hình thành đáy và sau đó quay lên cắt qua 30. Ngược lại, SELL khi đường RSI cắt lên trên 70, tạo thành đỉnh và sau đó quay xuống cắt qua 70. Ưu điểm : RSI là một công cụ rất tốt để dựa vào đó bạn có thể xác nhận tín hiệu mở giao dịch của bất kỳ hệ thống giao dịch đơn giản hay phức tạp. RSI cho bạn tín hiệu mở giao dịch tốt nhưng cơ hội giao dịch không thường xuyên. Khuyết điểm : cần phải quan sát theo dõi, vẫn có tín hiệu lỗi. Đề nghị sử dụng cùng các công cụ khác.
  • 68. 68 RSI vượt xuống 50 xuất hiện mô hình Đỉnh Cầu Vai Tín hiệu bán khi RSI vượt xuống 50 Tín hiệu mua khi RSI vượt lên 50
  • 69. 69 CÁC CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH KỸ THUẬT Quy mô thị trường Quy mô thị trường được dùng để đo lường sức mạnh được dùng để đo lường đang thăng tiến hay suy giảm
  • 70. 70 TRIN là tỷ số của quy mô cổ phiếu suy giảm bình quân so với quy mô cổ phiếu thăng tiến bình quân TRIN = ố á đã ă ứ ố ượ ổ ế đã ă á ∶ ố ∶ ố ượ á đã ị ứ ổ ế đã á ả TRIN > 1 thị trường lên TRIN < 1 thị trường xuống Độ RỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG Độ rộng của thị trường là chỉ báo về số lượng các cổ phiếu lên giá và số lượng các cổ phiếu xuống giá trong mỗi ngày giao dịch. Chỉ báo này giải thích nguyên nhân sự đổi hướng của các chỉ số chứng khoán Khối lượng Cổ phiếu Giao dịch Khối lượng cho biết có bao nhiêu cổ phiếu được giao dịch trong một khoảng thời gian nhất định. Có rất nhiều nhà đầu tư cho rằng khối lượng là nơi các nhà đầu tư tổ chức (institutional investors) để lại dấu chân của mình trên thị trường. Khối lượng có thể giúp quý vị xác nhận sức bật của biến động giá.   Nếu có nhiều nhà đầu tư đang mua hoặc bán - và nó sẽ phản ánh bằng con số về khối lượng giao dịch – quý vị có thể biết rằng có sự biến động giá vững chắc. Ngược lại, nếu có một số lượng hạn chế nhà đầu tư đang mua và bán cổ phiếu, quý vị biết rằng biến động giá cổ phiếu rất yếu ớt. Quý vị có thể quan sát sự tăng giảm của khối lượng giao dịch tăng hay giảm qua xem xét chiều cao của biểu đồ cột về khối lượng. Cột biểu đồ càng cao thì càng có nhiều khối lượng giao dịch trong kỳ đó. Khối lượng + Đường Trung bình Trượt MA giúp quý vị xác định xu hướng. Khi quý vị quan sát thấy đường Khối lượng Trung bình Trượt đang đi lên, quý vị biết được rằng ngày càng có nhiều nhà đầu tư đang quan tâm đến và “gom” cổ phiếu – và đây là tín hiệu thị trường đang ấm (Con Bò tót: Bull) . Khi quý vị quan sát thấy đường khối lượng trung bình trượt đang đi xuống, quý vị có thể phán đoán được là dần dần có ít nhà đầu tư quan tâm và đây là tín hiệu thị trường ảm đạm (Con Gấu: Bear).
  • 71. 71 Quý vị không chỉ nên ra quyết định mua bán dựa trên một chỉ số khối lượng. Tuy nhiên nó giúp quý vị xác nhận những tín hiệu mua bán khác trong lúc đang quan sát giá qua biểu đồ Còn yếu tố cũng rất quan trọng la tổng khối lượng bán khống, đó là yếu tố khi chưa có quyền sở hữu, người bán khống dự đoán rằng giá cổ phiếu trong tương lai sẽ giảm đi, nên hiên nay họ vay chứng khoán của nhà môi giới để giao cho người mua. Sau đó, nếu đúng như dự đoán, giá cổ phiếu giảm di đến thời hạn mua cổ phiếu để trả lại cho nhà mô giới với giá thấp hơn, họ được hưởng sự chênh lệch giá. Tổng khối lượng án khống tăng lên, theo dự đoán của bán khống giá thị trường sẽ giảm đi. Mặc khác, khi giao dịch bán khống được tất toán, mức cầu phát sinh do việc mua cổ phiếu sẽ đẩy giá lên. Giao dịch lô lớn Giao dịch lô lớn của nhà đầu tư có tổ chức có tính chất dẫn dắt thị trường :
  • 72. 72 Nếu giao dịch lô lớn do người mua khởi xướng khiến cho giá thị trương tăng lên. Nếu giao dịch lô lớn do người bán khởi xướng sẽ giao dịch giá xuống. Tỷ lệ giá lên / giá xuống của giao dịch lô lớn: + nếu > 1 : xu thế giá lên + nếu < 1 : xu thế giá xuống CHƯƠNG X:DANH MỤC ĐẦU TƯ Khái niệm: một tập hợp gồm ít nhất hai loại chứng khoán trở lên. Mục đích cơ bản nhất của việc xây dựng và quản lý một danh mục đầu tư là đa dạng hoá nhằm tránh các khoản thua lỗ quá lớn. Vì sao cần quản lý danh mục đầu tư? - Thứ nhất, đa dạng hoá danh mục đầu tư là nhu cầu của người đầu tư, có trường hợp giá cả của mọi chứng khoán được định giá đúng nhưng mỗi chứng khoán vẫn chứa đựng rủi ro và những rủi ro này có thể san sẻ thông qua việc đa dạng hoá danh mục đầu tư. - Thứ hai, việc lựa chọn danh mục đầu tư phải tính đến ảnh hưởng của thuế. Quy trình quản lý danh mục đầu tư: -Thứ nhất, xác định mục tiêu đầu tư. - Thứ hai, xây dựng các chiến lược phù hợp. với mục tiêu bao gồm việc lập các tiêu chuẩn và phân bổ đầu tư. - Thứ ba, giám sát theo dõi những diễn biến giá cả tương đối. - Thứ tư, điều chỉnh danh mục đầu tư phù hợp với diễn biến của thị trường và mục tiêu của người đầu tư. CHƯƠNG XI:QUỸ ĐẦU TƯ Khái niệm: Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các
  • 73. 73 loại tài sản khác. Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác. Tại sao nhà đầu tư sử dụng quỹ đầu tư? Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ bởi 05 yếu tố: o Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư o Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận o Được quản lý chuyên nghiệp o Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền o Tính năng động của quỹ đầu tư. Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng danh mục đầu tư của quỹ. Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư. Các loại hình quỹ đầu tư Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại hình quỹ đầu tư căn cứ theo các tiêu chí phân loại khác nhau. 1. Căn cứ vào nguồn vốn huy động: + Quỹ đầu tư tập thể (quỹ công chúng) Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên
  • 74. 74 nghiệp của đầu tư mang lại. + Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên) Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ. 2. Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn: + Quỹ đóng Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động. Hình thức quỹ đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là Quỹ đầu tư VF1 do công ty VFM huy động vốn và quản lý. + Quỹ mở Khác với quỹ đóng, tổng vốn cũa quỹ mở biến động theo từng ngày giao dịch do tính chất đặc thù của nó là nhà đầu tư được quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch. Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Do việc đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại ở các nước có nền kinh tế và thị trường chứng khoán phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có mặt tại Việt Nam. 3. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ: + Quỹ đầu tư dạng công ty Quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước. Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác. Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của UBCKNN, quỹ đầu tư không có tư
  • 75. 75 cách pháp nhân. + Quỹ đầu tư dạng hợp đồng Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô hình quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ. GIÁ TRỊ TIỀN TỆ