Your SlideShare is downloading. ×
0 Comments
4 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
6,109
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
222
Comments
0
Likes
4
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ---------- ĐỀ ÁN MÔN HỌC TÀI CHÍNH TIỀN TỆ Đề tài:NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞCỦA NHNN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2011Giáo viên hướng dẫn : T.S. Hồ Hữu TiếnSinh viên thực hiện : Tán Anh KhaLớp : 35K15.2
  • 2. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 2
  • 3. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan rằng Đề án này là do chính em thực hiện trên cơ sở thamkhảo một số giáo trình, tạp chí và một vài đề án, luận án khác.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 3
  • 4. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT. OMO : Open Market Operations-Thị trường mở. NHNN : Ngân hàng nhà nước. CSTT : Chính sách tiền tệ. NHTW : Ngân hàng trung ương. DTBB : Dự trữ bắt buộc. GTCG : Giấy tờ có giá. TCTD : Tổ chức tín dụng. TVC : Lãi suất tái cấp vốn NHTM : Ngân hàng thương mại CD : Chứng Chỉ tiền gửi. BOJ : Ngân hàng Nhật Bản. Fed : Cục dự trữ liên bang BOT : Ngân hàng Thái Lan.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 4
  • 5. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU CHƯƠNG 1 Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng.........................16 Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất.......................................16 CHƯƠNG 2 Bảng 2.1. Số lượng thành viên thị trường mở qua các năm..........................44 Bảng 2.2. Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011...............................................................................................49 Bảng 2.3. Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở..............51 Bảng 2.4. Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm..........52 Biểu đồ 2.1. Lượng tiền NHNN hút ròng 9 tuần liên tục 4/5 đến hết 1/7 /2011..........................................................................................50 Biểu đồ 2.2. Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở.........51 Biểu đồ 2.3. Bơm ròng trên thị trường mở năm 2011 theo tháng.................53 Biểu đồ 2.4. Số dư trên thị trường mở năm 2011 và đầu năm 2012.............54SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 5
  • 6. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến MỤC LỤC......................................................................................................................................................... 1GIÁO VIÊN HƯỚ NG DẪ N : T.S. HỒ HỮ U TIẾ N................................................................1SINH VIÊN THỰ C HIỆ N : TÁN ANH KHA............................................................................1LỚ P : 35K15.2........................................................................................................................... 1DANH MỤ C TỪ VIẾ T TẮ T....................................................................................................... 4DANH MỤ C CÁC ĐỒ THỊ , BẢ NG BIỂ U.................................................................................. 5MỤ C LỤ C....................................................................................................................................... 6NHẬ N XÉT CỦ A GIÁO VIÊN PHẢ N BIỆ N 64.......................................................................7LỜ I MỞ ĐẦ U................................................................................................................................ 8 1. Tính cấ p thiế t củ a đề tài................................................................................................................ 8 2. Mụ c đích nghiên cứ u...................................................................................................................... 8 3. Đố i tượ ng và phạ m vi nghiên cứ u.................................................................................................. 8 4. Phươ ng pháp nghiên cứ u................................................................................................................ 8 5. Kế t cấ u củ a đề án.......................................................................................................................... 9......................................................................................................................................................... 9CHƯƠ NG I.................................................................................................................................. 10 MỘ T SỐ VẤ N ĐỀ CƠ BẢ N VỀ NGHIỆ P VỤ THỊ TRƯỜ NG MỞ CỦ A NGÂN HÀNGTRUNG ƯƠ NG........................................................................................................................... 10 1.1. NGHIỆ P VỤ THỊ TRƯỜ NG MỞ - MỘ T CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀ N TỆ CỦ A NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠ NG.............................................................................................................................................. 10 1.2.3. Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM...................................................................................17 1.2.3.1. Ư u điể m.............................................................................................................................. 17 1.2.3.2. Nhượ c điể m......................................................................................................................... 18 2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂ N NGHI Ệ P VỤ TH Ị TRƯỜ NG MỞ C Ủ A NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚ C VIỆ T NAM........................................................................................................... 36 2.1.1. Sự cần thiết ra đời nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền t ệ c ủa Ngân hàng Nhà nước......................................................................................................................................................36 2.1.1.1. Hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thấp.................................................................................36 2.1.1.2. Sự tồn tại của các thị trường chứng khoán nợ..............................................................................37 2.1.1.3. Xu thế hội nhập kinh tế .................................................................................................................38 2.1.2. Quá trình hình thành và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý c ủa nghiệp v ụ th ị tr ường m ở...................38 2.1.6. Phương thức giao dịch trên thị trường mở.......................................................................................45SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 6
  • 7. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến 2.1.6.1. Phương thức mua bán....................................................................................................................45 2.1.6.1.1. Giao dịch mua và bán hẳn: NHNN sẽ mua hoặc bán các GTCG v ới toàn b ộ th ời h ạn còn l ại c ủa chúng. Sau khi giao dịch, quyền sở hữu GTCG sẽ được chuyển giao từ bên bán sang bên mua và không kèm thoả thuận mua bán lại các GTCG.......................................................................................................46 2.1.6.1.2. Giao dịch bán và cam kết mua lại (giao d ịch có kỳ hạn) đ ược NHNN th ực hiện nh ư sau: .........46 2.1.6.2. Phương thức đấu thầu...................................................................................................................46 2.1.6.2.1. Đấu thầu khối lượng....................................................................................................................46 2.1.6.2.2. Đấu thầu lãi suất.........................................................................................................................46 2.3.2 Đánh giá tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở ...................................................................56DANH MỤ C TÀI LIỆ U THAM KHẢ O.................................................................................... 63NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN.....................................................63NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN........................................................64SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 7
  • 8. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọngtrong quá trình điều hành các hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên, chính sách tiềntệ thực sự có ý nghĩa và thể hiện đúng vai trò vị trí của mình hay không lại phụthuộc vào quá trình sử dụng các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ của ngânhàng trung ương. Để thực hiện vai trò và trách nhiệm đã được quy định tại LuậtNgân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng cáccông cụ tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trườngmở. Sau một thời gian dài chuẩn bị về hàng lang pháp lý, trang thiết bị, nhân lực,… nghiệp vụ thị trường mở đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thứckhai trương vào ngày 12/7/2000. Trải qua hơn 11 năm hoạt động, nghiệp vụ thịtrường mở đã được thực hiện an toàn, góp phần quan trọng vào việc điều tiết vàkiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, cũng như cáccông cụ chính sách tiền tệ khác của Ngân hàng nhà nước, nghiệp vụ thị trường mởđã bộc lộ những hạn chế nhất định. Số lượng các tổ chức tín dụng tham gia ít, doanhsố giao dịch nhỏ, hàng hoá giao dịch chưa nhiều, các quy định về quy trình, xử lýthông tin còn chưa hoàn thiện. Nhận thức được điều dó, em đã lựa chọn đề tài“NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NHNN VIỆT NAMGIAI ĐOẠN 2007 - 2011” để làm đề tài nghiên cứu của Đề án. 2. Mục đích nghiên cứu - Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ, công cụ chính sáchtiền tệ và nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng trung ương. - Phân tích, đánh giá hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhànước Việt Nam từ năm 2007 đến nay. - Một vài Đề xuất góp phần hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở của Ngânhàng Nhà nước Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàngNhà nước Việt Nam trong thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. - Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2007 đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề án, các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụnglà phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phươngSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 8
  • 9. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnpháp phân tích, tổng hợp, thống kê ... Ngoài ra, trong Đề án còn sử dụng một sốbiểu, bảng để minh hoạ. 5. Kết cấu của đề án Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, đề án baogồm 2 chương: Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàngtrung ương Chương 2. Thực trạng sử dụng nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhànước Việt Nam giai đoạn 2007 đến năm 2011. Em xin chân thành cảm ơn TS. Hồ Hữu Tiến và các thầy cô khác trongkhoa TC-NH, Trường ĐHKT Đà Nẵng đã hướng dẫn tận tình và luôn em trongsuốt thời gian làm Đề án. SVTH Tán Anh KhaSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 9
  • 10. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.1. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ - MỘT CÔNG CỤ CHÍNH SÁCHTIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG Tại bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế thị trường, để đạt được các mụctiêu phát triển kinh tế vĩ mô đều phải sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô nhưchính sách tài chính, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại và chínhsách tiền tệ (CSTT). Thông qua việc điều hành các chính sách này để tác động đếncác mục tiêu như tăng trưởng, lạm phát, việc làm … Vì vậy, CSTT đóng vai trò làmột bộ phận quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ môcủa Nhà nước. 1.1.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sử dụng các côngcụ của mình để điều tiết và kiểm soát các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằmđảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế vàduy trì các mục tiêu xã hội hợp lý. Theo nghĩa rộng, CSTT là chính sách điều hành toàn bộ khối lượng tiền tệtrong nền kinh tế nhằm phân bổ một cách hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm thựchiện các mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh tế trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiềnquốc gia. Theo nghĩa hẹp, CSTT là chính sách đảm bảo sao cho khối lượng tiềncung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế và chỉ sốlạm phát nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần thực hiện các mục tiêu kinhtế vĩ mô. NHTW có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định các vấn đề liên quanđến CSTT vì mọi hoạt động của NHTW và hệ thống ngân hàng đều ảnh hưởng đếnhệ thống điều kiện tiền tệ của nền kinh tế được thể hiện qua các chỉ tiêu như khốilượng tiền, tín dụng, lãi suất, tỷ giá … Vì thế công tác xây dựng và điều hành CSTTlà trọng tâm hoạt động của một NHTW. 1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ Nội dung của CSTT thể hiện thông qua việc thiết kế hệ thống mục tiêu củaCSTT trong từng thời kỳ bao gồm các mục tiêu tổng quát và hệ thống mục tiêu điềuhành.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 10
  • 11. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến 1.1.2.1. Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng) Mục tiêu CSTT hầu như thống nhất ở các nước. Sự điều chỉnh lượng tiền cungứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăngtrưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nướccòn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế phát triển đặcthù quốc gia. Tuy nhiên do tính chất mâu thuẫn giữa các mục tiêu nên NHTWkhông thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng thời gian nhất định.Điều này buộc NHTW phải có sự lựa chọn và ưu tiên cho những mục tiêu quantrọng trong từng thời kỳ mặc dù mục tiêu ổn định giá cả luôn là mục tiêu dài hạncủa NHTW. 1.1.2.2. Mục tiêu điều hành Các mục tiêu chính sách trên chỉ là mục tiêu cuối cùng mà các CSTT nhắmtới. Đây là các mục tiêu mang tính định tính nên để tạo điều kiện thuận lợi trong quátrình điều hành CSTT, các NHTW đều xây dựng hệ thống mục tiêu điều hành mangtính định lượng cụ thể hơn. Mục tiêu điều hành là các biến số tiền tệ có tác động mạnh theo một chiềunhất định đến mục tiêu cuối cùng (mục tiêu chính sách) của CSTT. Căn cứ vào sựphát triển và diễn biến của thị trường tiền tệ, NHTW các nước đều lựa chọn cácmục tiêu điều hành của CSTT. Mục tiêu điều hành của CSTT bao gồm mục tiêutrung gian và mục tiêu hoạt động. 1.1.2.2.1 Mục tiêu trung gian NHTW không thể sử dụng các công cụ CSTT tác động trực tiếp và ngay lậptức đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế. Ảnh hướng của CSTT chỉ xuất hiệnsau một thời gian nhất định. Để khắc phục hạn chế này, NHTW của tất cả các nướcthường xác định các chỉ tiêu cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối cùng. Tiêu chuẩn của chỉ tiêu trung gian: (1) Có thể đo lường được một cách chínhxác và nhanh chóng, bởi vì các chỉ tiêu này chỉ có ích khi nó phản ánh được tìnhtrạng của CSTT nhanh hơn mục tiêu cuối cùng; (2) Có thể kiểm soát được để có thểđiều chỉnh mục tiêu đó cho phù hợp với định hướng của CSTT; (3) Có mối liên hệchặt chẽ với mục tiêu cuối cùng. Cả tổng lượng tiền cung ứng và lãi suất đều thoả mãn các tiêu chuẩn trên,nhưng NHTW không thể chọn cả hai chỉ tiêu trên làm mục tiêu trung gian mà chỉ cóthể chọn một trong hai chỉ tiêu đó. Bởi lẽ, nếu đạt được mục tiêu về tổng khối lượngtiền cung ứng thì phải chấp nhận sự biến động của lãi suất và ngược lại. 1.1.2.2.2 Mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều chỉnh củaSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 11
  • 12. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếncông cụ CSTT đồng thời có mối quan hệ chi phối tới các mục tiêu trung gian. Việclựa chọn hệ thống chỉ tiêu thích hợp làm mục tiêu hoạt động có ý nghĩa quan trọngquyết định hiệu quả tác động của CSTT. Hệ thống chỉ tiêu này vừa đóng vai tròphản ánh tình trạng CSTT đồng thời phản ánh dấu hiệu về định hướng CSTT củaNHTW. Các tiêu chuẩn lựa chọn chỉ tiêu làm mục tiêu hoạt động cũng tương tự nhưtiêu chuẩn lựa chọn mục tiêu trung gian, bao gồm: (1) Phải đo lường được nhằmtránh những suy diễn thiếu chính xác làm sai lệch dấu hiệu của CSTT; (2) Phải cómối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ của CSTT; (3) Phải có mối quanhệ chặt chẽ và ổn định với mụcc tiêu trung gian được lựa chọn. Căn cứ vào tiêuchuẩn trên, các chỉ tiêu thường được lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của NHTWbao gồm: lãi suất liên ngân hàng và dự trữ ngân hàng. 1.1.3. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ Để thực hiện CSTT theo các mục tiêu đã xác định trong từng thời kỳ, NHTW sửdụng một số công cụ CSTT nhằm tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãisuất (chi phí) vay vốn. Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởiNHTW nhằm tác động trực tiếp tới các mục tiêu hoạt động, qua đó ảnh hưởng trực tiếphoặc gián tiếp tới mục tiêu trung gian, từ đó đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT. 1.1.3.1. Dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên mộttài khoản tiền gửi tại NHTW trong một thời kỳ nhất định. DTBB được tính trên cơsở tỷ lệ DTBB do NHTW quy định đối với từng loại tiền gửi cấu thành nên nguồnvốn hoạt động của một ngân hàng. Tỷ lệ DTBB do NHTW quy định và được xácđịnh bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng số dư tiền gửi của khách hàng tạiNHTM. Tỷ lệ DTBB được áp dụng có phân biệt đối với các loại tiền gửi có thờihạn khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động của NHTM. DTBB tác động tới cung ứng tiền tệ bằng cách gây ra thay đổi số nhân cungứng tiền tệ. Tỷ lệ DTBB tăng lên sẽ làm giảm số tiền gửi được nâng đỡ bởi mộtmức nhất định của cơ số tiền tệ và dẫn đến việc thu hẹp cung ứng tiền. Mặt khác,tỷ lệ DTBB giảm xuống sẽ dẫn đến một sự tăng lên của cung ứng tiền tệ do việctạo thêm tiền gửi gấp nhiều lần. Việc quy định tỷ lệ DTBB do NHTW quyết địnhtuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của nền kinh tế. 1.1.3.2. Chính sách chiết khấu Chiết khấu là một trong những hình thức cho vay của NHTW đối với các NHTM.Khi cấp một khoản tín dụng cho NHTM, một mặt NHTW đã làm tăng lượng tiền cungứng, mặt khác tạo cơ sở cho các NHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lựcSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 12
  • 13. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnthanh toán của họ. Chính sách chiết khấu bao gồm các quy định về hạn mức chiết khấu, lãi suất chiếtkhấu và điều kiện cho vay của NHTW đối với các ngân hàng. NHTW cho vay ngắn hạntrên cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá của ngân hàng. NHTW kiểm soát công cụ nàychủ yếu bằng cách tác động tới giá cả khoản vay thông qua lãi suất chiết khấu căn cứ vàomục tiêu của CSTT là thắt chặt hay nới lỏng, từ đó tác động tới lượng tiền trong lưuthông. Sự thay đổi về lãi suất chiết khấu được xem là một dấu hiệu thông báo của NHTWtrong định hướng thực hiện CSTT. Các tuyên bố của NHTW về chiều hướng biến độnglãi suất chiết khấu (tăng lên hoặc giảm xuống) có tác dụng hướng dẫn hành vi của thịtrường theo định hướng CSTT. 1.1.3.3. Nghiệp vụ thị trường mở Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động NHTW mua, bán GTCG nhưtín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, chứng chỉ tiền gửi ... trên thịtrường tiền tệ, nhằm làm thay đổi cơ số tiền tệ mà đặc biệt là tiền dự trữ trong hệthống ngân hàng, qua đó tác động đến khối lượng tiền cung ứng. Do vậy, thị trườngnày có khả năng tiếp nhận được một lượng rất lớn nghiệp vụ của NHTW mà khônglàm cho giá cả biến động mạnh. OMO là công cụ CSTT quan trọng của NHTW. Nghiệp vụ này là yếu tố quyếtđịnh quan trọng nhất đối với những thay đổi trong cơ số tiền tệ và đó cũng là nguồngốc chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ. OMO là một trong những cửa ngõ quan trọng để NHTW phát hành tiền vàolưu thông hoặc rút bớt tiền trong lưu thông về thông qua mua hay bán các các loạiGTCG. Qua nghiệp vụ mua bán này NHTW làm tăng hay giảm dự trữ của cácNHTM, tác động đến khả năng tín dụng của các ngân hàng này và từ đó làm tănghay giảm lượng tiền cung ứng. 1.1.3.4. Lãi suất Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện CSTT trong điều khiển mứccung ứng tiền cho nền kinh tế, bởi lẽ lãi suất không trực tiếp làm tăng hay giảm khốilượng tiền tệ trong lưu thông. Sự biến động của lãi suất có thể kích thích hoặc kìm hãmsản xuất. Do vậy, lãi suất là một công cụ quan trọng của NHTW trong thực hiện CSTT. Thông qua chính sách chiết khấu đối với các ngân hàng, NHTW thực hiện quản lýgián tiếp lãi suất cho vay của các ngân hàng đối với nền kinh tế. Khi muốn điều chỉnh lãisuất của các ngân hàng, NHTW điều chỉnh các lãi suất của mình, từ đó tác động đến lãisuất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất huy động,cho vay của các ngân hàng. Ngoài ra, NHTW có thể quản lý trực tiếp lãi suất của cácSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 13
  • 14. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu TiếnTCTD đối với nền kinh tế thông qua quy định các mức lãi suất cụ thể về cho vay và huyđộng. Tuy nhiên hình thức quản lý trực tiếp lãi suất này chỉ phù hợp tại các nước có hệthống tài chính tiền tệ chưa phát triển, và xu hướng chung là giảm dần sự quản lý trựctiếp này. 1.1.3.5. Hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp trực tiếp của NHTW đểkhống chế mức tăng khối lượng tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng chonền kinh tế đảm bảo mức tăng trưởng của tổng phương tiện thanh toán theo mục tiêu đềra. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các ngân hàng phải tôn trọngkhi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Mức dư nợ quy định cho từng ngân hàng căn cứ vàođặc điểm kinh doanh của ngân hàng, trong định hướng cơ cấu kinh tế và trong giới hạntổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian xác định. Hạn mức tín dụng được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khốngchế tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Do vậy cơ chế tác động của nó mang tínháp đặt của NHTW đối với hệ thống ngân hàng. 1.1.3.6. Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là tương quan giữa sức mua của đồng nội tệ và đồng ngoại tệ,hay có thể nói là giá cả của đồng tiền này đo bằng một đồng tiền khác. Tỷ giá vừaphản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại tệ. Đếnlượt mình, tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, có tácđộng mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.Chính sách tỷ giá tác động nhạy bén và mạnh mẽ đến sản xuất, xuất nhập khẩu hànghoá, tình trạng tài chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, vốn đầu tư và dự trữ củaquốc gia. Về thực chất thì tỷ giá không phải là công cụ CSTT bởi lẽ tỷ giá không làmtăng giảm khối lượng tiền trong lưu thông, mà chỉ góp phần thay đổi cơ cấu khốilượng tiền. Tuy nhiên tại nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tếđang phát triển, có mức độ đôla hoá cao, thì tỷ giá được xem là một công cụ bổ trợquan trọng cho điều hành CSTT. 1.2. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNGƯƠNG 1.2.1. Khái niệm Theo cách hiểu chung nhất thì khái niệm “Nghiệp vụ thị trường mở” là hoạtđộng mua bán các GTCG của NHTW với các đối tác được lựa chọn để qua đó tácđộng tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các đối tác này, vì thế có thể ảnhhưởng tới các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế thông qua những ảnh hưởng về mặtSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 14
  • 15. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnlượng và giá cả. Thuật ngữ "Thị trường mở" ở đây được hiểu là một thị trường cótính chất mở, nghĩa là đa dạng về các đối tác tham gia thị trường và đa dạng về cácloại giao dịch trên thị trường. Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) được Ngân hàng Anh áp dụng đầu tiên từnăm 1914 trong nỗ lực tìm kiếm công cụ có hiệu quả hơn để điều chỉnh lãi suất thịtrường theo hướng mong muốn. OMO là một trong các công cụ CSTT có hiệu quả cao và hiện đang được cácnước trên thế giới sử dụng. Mặc dù OMO được sử dụng phổ biến nhưng việc đưa ramột khái niệm chung là không thống nhất. Sự không thống nhất này thể hiện ở sựkhác nhau về hàng hoá giao dịch, các đối tác tham gia thị trường và các loại giaodịch trên thị trường. Các GTCG được sử dụng trên thị trường mở là các GTCG ngắn hạn và dài hạnnhư tín phiếu, trái phiếu chính phủ, tín phiếu NHTW, trái phiếu doanh nghiệp, tráiphiếu ngân hàng v.v.. Các chủ thể của thị trường mở là NHTW và các đối tác chủyếu là các ngân hàng, và có thể là các tổ chức tài chính, tín dụng phi ngân hàng. Xét về mặt hình thức, thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoánnợ cả ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên khác với các khái niệm có phạm vi và loạihình công cụ rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trườngmở ở các nước khác nhau lại khác nhau về phạm vi, loại hình công cụ và thời hạncủa các công cụ giao dịch trên thị trường. Đối với một số nước, hàng hoá giao dịchtrên thị trường mở chỉ gồm các GTCG ngắn hạn và đối tác tham gia chỉ là cácTCTD. Khi đó, thị trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ. Đối với nướckhác như Mỹ, Đức thì các GTCG dài hạn cũng có thể giao dịch, khi đó thị trườngmở bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán. Điều đó có nghĩa là các giớihạn, quy định khác nhau về hàng hoá và đối tác tham gia OMO với NHTW sẽ quyếtđịnh khái niệm cụ thể về thị trường mở ở từng nước. 1.2.2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tácđộng trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãisuất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệcả về mặt giá và mặt lượng. 1.2.2.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tácđộng ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đếntiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) vàtiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác thamSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 15
  • 16. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếngia OMO). Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng NHTW Dự trữ Dự trữ mở Khối MS bán NH rộng cho lượng TD giảm GTCG giảm vay giảm giảm Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngânhàng tại NHTW sẽ giảm xuống tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra.Trường hợp người mua là các khách hàng của ngân hàng thì số tiền mua GTCG sẽlàm giảm số dư tiền gửi của họ tại hệ thống ngân hàng. Kết quả là dự trữ của hệthống ngân hàng giảm sút tương ứng với khối lượng GTCG mà NHTW bán ra. Sựgiảm sút dự trữ của hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm khả năng cho vay của ngânhàng và vì thế khối lượng tín dụng giảm dẫn đến cung tiền sẽ giảm. Ngược lại, khiNHTW thực hiện mua GTCG trên thị trường mở, kết quả làm dự trữ của các ngânhàng tăng lên. Như vậy, khi NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường nó sẽ tác độngđến dự trữ của các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng, từ đó ảnhhưởng đến lượng tiền cung ứng. 1.2.2.2. Về mặt giá - Tác động qua lãi suất Hành vi mua bán GTCG của NHTW trên thị trường mở có thể ảnh hưởng giántiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường sau: Thứ nhất, khi dự trữ của ngân hàng bị ảnh hưởng sẽ tác động đến cung cầuvốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu tiền trungương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất ngắnhạn này, thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, sẽtruyền tác động tới các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính. Tạimột mức lãi suất thị trường xác định, tổng cầu AD của nền kinh tế, và do đó tốc độtăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định. Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất Cung TPKB Giá TPKB LS thị trường tăng giảm tăng tăng NHTW bán Đầu tư TPKB giảm Dự trữ NH Cung của quỹ Lãi suất ngắn Lãi suất thị giảm cho vay giảm hạn tăng trường tăngSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 16
  • 17. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Thứ hai, việc mua bán GTCG sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầuvề loại GTCG đó trên thị trường và giá cả của nó. Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷlệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu khối lượng chứng khoán này chiếm tỷtrọng lớn trong các giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lờicủa nó sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường, và vì thế mà tác động đến tổng cầu ADvà sản lượng. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm giảm dự trữ của hệ thống ngân hàng.Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và sẽ ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãisuất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và tác động vào làm tăng các lãi suất thị trường.Bên cạnh đó khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc trên thị trường mở sẽ làmtăng cung tín phiếu kho bạc trên thị trường, từ đó làm giảm giá của tín phiếu khobạc. Điều này làm ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của tín phiếu kho bạc theo hướngtăng lên, dẫn đến sự chuyển dịch vốn đầu tư sang tín phiếu kho bạc. Để cân bằng lãisuất và hạn chế sự dịch chuyển vốn đầu tư, lãi suất thị trường sẽ tăng lên. Khi lãisuất thị trường tăng lên thì hoạt động đầu tư của các chủ thể đối với nền kinh tế sẽgiảm xuống do tỷ suất sinh lời giảm. Từ đó tổng cầu trên thị trường giảm xuống vàgóp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng. 1.2.3. Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM1.2.3.1. Ưu điểm Nghiệp vụ TTM có nhiều ưu điểm hơn so với các công cụ khác của CSTT: - Nghiệp vụ TTM xảy ra theo sáng kiến của NHTW và vì vậy NHTW kiểmsoát quy mô của nó một cách hoàn toàn. Sự phát triển như vậy không thể đạt đượckhi sử dụng các nghiệp vụ khác, ví dụ cho vay chiết khấu, trong đó NHTW có thểkhuyến khích hoặc cản trở các Ngân hàng vay chiết khấu thông qua việc thay đổi lãisuất chiết khấu, nhưng không thể kiểm soát khối lượng cho vay chiết khấu. - Nghiệp vụ TTM vừa linh hoạt, vừa chính xác. Nó có thể được sử dụng vớibất kì quy mô nào. Nếu NHTW muốn có sự thay đổi nhỏ trong dự trữ hoặc cơ sởtiền tệ, nghiệp vụ TTM có thể giúp nó đạt được mục tiêu này thông qua bán hoặcmua một lượng nhỏ chứng khoán. Ngược lại nếu nó muốn có sự thay đổi rất lớntrong dự trữ hoặc thay đổi tiền tệ, thì công cụ nhiệp vụ TTM cũng mạnh đủ để làmđiều đó thông qua việc mua hoặc bán một lượng CK rất lớn. - Nghiệp vụ TTM có thể dễ dàng đảo ngược. Nếu phạm phải một sai lầm nàođó trong nghiệp vụ TTM, NHTW có thể sửa chữa ngay. Nếu NHTW cho rằng lãisuất vốn liên bang quá thấp do đã mua quá nhiều trên TTM, nó có thể ngay lập tứcsửa đổi tình trạng này bằng cách thực thi việc bán trên TTM.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 17
  • 18. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến - Nghiệp vụ TTM có thể được thực hiện một cách nhanh chóng. Nó không gắnvới bất kỳ độ trễ hành chính nào. Khi NHTW quyết định thay đổi cơ sở tiền tệ hoặcdự trữ, nó chỉ cần ra lệnh cho các CK nhà buôn thực hiện và hoạt động giao dịchngay lập tức được thực hiện.1.2.3.2. Nhược điểm - Vì ảnh hưởng của nghiệp vụ TTM đến cơ số tiền bị triệt tiêu bởi các tác độngngược chiều nên dự trữ của Ngân Hàng không tăng hoặc giảm tương ứng sau cáchoạt động mua, bán CK của NHTW. Chẳng hạn, dòng tiền chảy ngược chiều củavốn, do mất cân đối trong cán cân thanh toán hoặc do số dư tiền gửi ngân sách ởNHTW tăng lên, các hoạt động mua chứng khoán của NHTW nhằm tăng lượng tiềncung ứng sẽ bị triệt tiêu một phần hay toàn bộ. - Các NHTW không phải lúc nào cũng tăng, hay giảm lượng cung ứng tíndụng và đầu tư khi dự trữ tăng lên hay giảm xuống dưới tác động của nghiệp vụTTM. Có nhiều yếu tố ngăn cản NHTM sử dụng tối đa số dự trữ dư thừa cho mụctiêu mở rộng tín dụng như: nhu cầu trả nợ NHTW, nhu cầu sử dụng tiền mặt tănglên... - Khi lãi suất thị trường giảm xuống như là kết quả tất yếu của sự tăng lên củaMB (lượng tiền cung ứng của NHNN tăng thêm hằng năm), không phải lúc nàokhối lượng tín dụng cũng tăng lên tương ứng. Điều này còn phụ thuộc vào khả nănghấp thụ vốn của nề kinh tế, mức độ rủi ro và thiếu ổn định trong môi trường đầu tư. - Như vậy khả năng phát huy hiệu quả tối đa của nghiệp vụ TTM nhiều khikhông phụ thuộc vào NHTW, mà nó còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô,hành vi của công chúng và các quyết định của các NHTM. 1.2.4. Vai trò và sự cần thiết của nghiệp vụ thị trường mở 1.2.4.1. Đối với ngân hàng trung ương Để thực hiện nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, NHTW đã xây dựng và thựcthi các công cụ CSTT nhằm đưa tiền ra và rút tiền về từ lưu thông theo tín hiệu thịtrường. Trong đó, OMO là công cụ CSTT gián tiếp quan trọng nhất tại nhiều quốcgia làm thay đổi cung - cầu tiền tệ dẫn đến thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ.Thông qua việc mua bán GTCG tại thị trường mở, NHTW có thể mở rộng hoặc thuhẹp khối lượng tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng và tác động một cách tốt nhấtđến cơ số tiền tệ, lượng tiền cung ứng. Như vậy, OMO đã tạo điều kiện cho NHTWhạn chế sử dụng các công cụ mang tính trực tiếp trong điều hành CSTT. Bên cạnh mục đích điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, thông quamua bán GTCG trên thị trường mở, NHTW còn cấp tín hiệu cho thị trường về địnhhướng điều hành CSTT trong tương lai là nới lỏng hay thắt chặt. Đặc biệt khi thựcSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 18
  • 19. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnhiện OMO thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quantrọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạnchế những biến động của lãi suất thị trường. OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao. OMO do NHTW chủ độngkhởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường docác ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng. Như vậy, NHTW có thểchủ động thực hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết. OMO cóthể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giaodịch. NHTW có thể thực hiện OMO ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCGlớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG. OMO có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệtrực tiếp và các công cụ gián tiếp khác. Các giao dịch OMO có tính hai chiều, quađó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khicông cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông. Mặt khác, với công cụ OMO,NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiềuvào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ TCV. Qua việc tính toán và dựbáo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác đượckhối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông. 1.2.4.2. Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đadạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linhhoạt hơn. Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳhạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70%. Vìvậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốnlinh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thờigian ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăngtrưởng tín dụng. Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bánGTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường. Thông qua thị trườngmở, các ngân hàng có thể sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư vàocác GTCG để thu được lợi tức và đáp ứng nhu cầu dự trữ thứ cấp. Khi cần thiết, cácngân hàng có thể bán lại các GTCG này trên thị trường mở để giải quyết khó khănvề nguồn vốn. Các thành viên tham gia thị trường mở thường là các đối tác có độ tincậy cao, nên việc mua bán GTCG trên thị trường mở có độ an toàn rất cao. Bêncạnh đó, những điều kiện về chủng loại và chất lượng các GTCG được giao dịchtrong OMO sẽ gián tiếp làm thay đổi danh mục đầu tư GTCG của các ngân hàng, từSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 19
  • 20. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnđó cải thiện theo hướng tích cực cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng, làm giảm dựtrữ không sinh lợi và cải thiện bảng tổng kết tài sản của ngân hàng. Ngoài ra, OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của cácTCTD. Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyềnthống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất địnhđể thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG. OMO cũng thúc đẩycác mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường. OMO do các ngân hàng tự nguyện tham gia thực hiện theo các nguyên tắc thịtrường, không mang tính chất bắt buộc như DTBB và cũng không có tác động nhưmột hình thức "đánh thuế" đối với hoạt động của các ngân hàng như DTBB. Lãisuất trên thị trường mở cũng mang tính chất thị trường chứ không bị áp đặt nhưtrong công cụ chiết khấu GTCG của NHTW. Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốntạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh củacác ngân hàng. 1.2.4.3. Đối với nền kinh tế Mặc dù thành viên của OMO chủ yếu là các tổ chức tín dụng, tài chính vàNHTW nhưng OMO cũng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Thông qua việc phát hành, mua bán GTCG trên thị trường mở, các chủ thể củathị trường mở đã làm tăng thêm tính thanh khoản cho các GTCG này. Điều này gópphần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển. Từ đó, tạo điều kiện cho các trunggian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêudùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế. Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thịtrường nội tệ liên ngân hàng. Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sựhoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng. Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vàonền kinh tế thế giới. Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chứctài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêucầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt độngcủa NHTW. Tại các quốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Namá đều sử dụng OMO trong điều hành CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.Chính vì vậy, việc sử dụng OMO là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tếvào khu vực và thế giới. 1.2.5. Thành viên nghiệp vụ thị trường mởSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 20
  • 21. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Thị trường mở là một thị trường có tính chất mở nên các thành viên thị trườngrất đa dạng với các mục đích khác nhau. Nhìn chung, mọi nhà đầu tư đều có thể làđối tác giao dịch với NHTW trong các giao dịch OMO nếu thoả mãn những tiêuchuẩn cụ thể của NHTW ở các nước. Các tiêu chuẩn này nhằm mục đích: (i) Cácđối tác phải đảm bảo độ tin cậy nhất định và (ii) Việc giao dịch với các đối tác phảicó hiệu quả xét trên khía cạnh can thiệp của NHTW. Thông thường, thành viênOMO bao gồm: 1.2.5.1. Ngân hàng trung ương NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường mởtheo các mục tiêu CSTT. NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loạiOMO và tần suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị trường thông qua việc muabán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng để đảm bảo khảnăng thanh toán và gián tiếp tác động đến các lãi suất thị trường theo mục tiêuCSTT. NHTW cũng là người can thiệp thị trường khi cần thiết thông qua thực hiệnchức năng người cho vay cuối cùng nhằm kiểm soát tiền tệ, đảm bảo đủ phươngtiện thanh toán cho các TCTD cũng như nhu cầu tín dụng của nền kinh tế. Như vậy, NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanhmà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo cácmục tiêu xác định của nó. 1.2.5.2. Các đối tác của ngân hàng trung ương 1.2.5.2.1. Các ngân hàng thương mại Các NHTM là thành viên chủ yếu tham gia OMO của NHTW và là đối tácquan trọng của NHTW xét trên 2 phương diện độ tin cậy và tính hiệu quả. CácNHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để đảm bảo khả năngthanh toán và đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để hưởng lãi. Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch OMO có ý nghĩa quan trọngxét trên góc độ hiệu quả CSTT do: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, cómạng lưới hoạt động rộng. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốncho nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn nữa NHTM vừa làngười đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ. 1.2.5.2.2. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Tại một số quốc gia, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được tham giaOMO. Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, quỹ đầu tư, hội tiết kiệm … coi thịtrường mở như là nơi kiếm thu nhập thông qua việc sử dụng vốn nhàn rỗi để muabán các GTCG. 1.2.5.2.3. Các nhà giao dịch sơ cấpSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 21
  • 22. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Các nhà giao dịch sơ cấp tham gia vào OMO với tư cách là người trung giantrong việc mua bán các GTCG giữa NHTW và các đối tác khác. Các nhà giao dịchsơ cấp có thể là các NHTM, công ty chứng khoán, công ty tài chính. Thực tế ởnhiều nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mở được thực hiệnthông qua các nhà giao dịch sơ cấp. Khi đó, NHTW chỉ thực hiện mua bán GTCGvới các nhà giao dịch sơ cấp. Và để thực hiện được vai trò này, các nhà giao dịch sơcấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵnsàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tínphiếu kho bạc. 1.2.6. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở Các loại GTCG được sử dụng trong các giao dịch OMO ở các nước có khácnhau. Tại Anh, Mỹ, OMO được hiểu là nghiệp vụ mua bán các chứng khoán Chínhphủ của NHTW nhưng chủng loại các GTCG của Chính phủ được sử dụng lạiphong phú hơn ở một số nước khác như Nhật Bản, úc, Pháp. Hơn nữa, tại một sốnước chỉ cho phép các GTCG ngắn hạn được sử dụng trong OMO, nhưng tại một sốnước khác thì các GTCG dài hạn cũng được sử dụng làm hàng hoá của OMO. Nhưvậy, OMO không giới hạn cụ thể về chủng loại cũng như thời hạn các GTCG giaodịch, nhưng bao gồm những loại chủ yếu sau: 1.2.6.1. Tín phiếu kho bạc Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm mụcđích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính. Thời hạn của tínphiếu kho bạc thường dưới 12 tháng. Đây là loại hàng hoá chủ yếu của OMO ở hầuhết thị trường mở các nước vì một số lý do sau: (i) Có tính thanh khoản cao, (ii)Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và đáp ứng nhu cầu can thiệp củaNHTW với mức độ và quy mô khác nhau. Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có một số ưu điểm nhất định. KhiNHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thựchiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách vàđược thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưaphát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc đểthực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường. 1.2.6.2. Tín phiếu ngân hàng trung ương Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm côngcụ cho OMO. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở cómột số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTTvà là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụngSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 22
  • 23. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu NHTW để thực thi CSTT sẽ làm cho chiphí hoạt động của NHTW tăng lên, mặc dù NHTW hoạt động không vì mục tiêu lợinhuận. Việc sử dụng tín phiếu NHTW đòi hỏi phải có sự phối hợp nhất định với BộTài chính. Khi NHTW và Bộ Tài chính đồng thời phát hành tín phiếu NHTW và tínphiếu kho bạc, nếu lãi suất chênh lệch thì các đối tác trên thị trường mở sẽ tập trungmua loại tín phiếu có lãi suất cao hơn. Khi đó sẽ có sự phân khúc giữa thị trường tínphiếu kho bạc và thị trường tín phiếu NHTW, làm cho mục đích phát hành cácGTCG này không đạt được và có thể làm giảm hiệu quả tác động của 2 loại hànghoá này. 1.2.6.3. Trái phiếu Chính phủ Trái phiếu chính phủ là giấy nhận nợ dài hạn do Chính phủ phát hành nhằmmục đích huy động vốn cho ngân sách. Mặc dù là GTCG dài hạn có thời hạn lênđến 10-30 năm nhưng trái phiếu Chính phủ được sử dụng khá rộng rãi trong cácgiao dịch OMO ở một số nước bởi tính an toàn, ổn định trong phát hành và khốilượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động trực tiếp giá cả trên thị trường tàichính. 1.2.6.4. Trái phiếu Chính quyền địa phương Tương tự như trái phiếu Chính phủ, nhưng trái phiếu chính quyền địa phươngkhác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường docác chính quyền địa phương lớn phát hành. Sự can thiệp của NHTW thông qua việcmua bán loại trái phiếu này cũng tương tự như trái phiếu Chính phủ. 1.2.6.5. Chứng chỉ tiền gửi Chứng chỉ tiền gửi (CD) là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài chínhphi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng vớimột kỳ hạn và lãi suất nhất định. Thời hạn của CD có thể từ 7 ngày đến 7 nămnhưng thường là ngắn hạn. CD được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ docác nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rúttiền gửi trước hạn. 1.2.7. Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở 1.2.7.1. Các loại giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở Có 2 loại giao dịch trên thị trường mở là giao dịch không hoàn lại (mua bánhẳn) và giao dịch (mua bán) có kỳ hạn. 1.2.7.1.1. Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) là các giao dịch mua bán GTCG củaNHTW theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường. Theo phươngthức này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang choSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 23
  • 24. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu TiếnNHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch. Do vậy tác động củagiao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn. 1.2.7.1.2. Giao dịch mua bán có kỳ hạn Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạmthời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược.Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau mộtthời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó. Repos đảongược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽbán lại vào một ngày xác định trong tương lai. Thông thường, Repos và Repos đảongược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốnkhả dụng của các NHTM một cách linh hoạt. Giao dịch theo hợp đồng Repos thựcchất là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thịtrường cao. Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong OMO do các lýdo: (i) Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởngkhông dự tính trước đến dự trữ ngân hàng, (ii) Chi phí giao dịch thấp hơn các giaodịch mua bán hẳn, (iii) Thích hợp trong trường hợp các định hướng của CSTTkhông hoàn hảo dẫn đến phải sử dụng các giải pháp khắc phục, (iiii) Làm giảm bớtthời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị trường trước các quyếtđịnh hàng ngày của NHTW. 1.2.7.2. Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở Các giao dịch OMO thường được thực hiện thông qua 2 phương thức đấu thầulà đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất. 1.2.7.2.1. Đấu thầu khối lượng Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu với lãi suất được NHTW côngbố trước. NHTW công bố khối lượng tiền cần mua hoặc cần bán bằng phương thứcđấu thầu và ấn định mức lãi suất thực hiện. NHTW công bố điều kiện đặt thầu đểcác thành viên đăng ký số tiền dự thầu trên cơ sở chấp thuận mức lãi suất đã xácđịnh trước. Sau khi mở thầu NHTW sẽ xác định tỷ lệ giá trị đạt thầu và phân bổ chotừng tổ chức tham gia đặt thầu. Việc phân bổ thầu được tiến hành thực hiện như sau: Trước hết toàn bộ sốlượng đăng ký dự thầu được cộng lại với nhau. Nếu tổng khối lượng đặt thầu nhỏhơn hoặc bằng khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì toàn bộ các đơn dự thầuđều được phân bổ theo khối lượng đặt thầu. Nếu tổng khối lượng đặt thầu lớn hơnSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 24
  • 25. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnkhối lượng NHTW chào mua/chào bán thì khối lượng trúng thầu của từng thànhviên được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng đặt thầu của thành viên đó. Các đơndự thầu sẽ được phân bổ như sau: n Tỷ lệ % phân bổ thầu: k = A/ ∑ bi trong đó: i =1 - A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán - n: là tổng số thành viên tham gia dự thầu - bi là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i - k là tỷ lệ phân bổ thầu Trên cơ sở xác định được tỷ lệ k, khối lượng trúng thầu của thành viên thứ i(Wi) được xác định như sau: Wi = k x bi 1.2.7.2.2. Đấu thầu lãi suất Theo phương thức đấu thầu lãi suất thì các thành viên tham gia tự đăng ký sốtiền ứng với mỗi mức lãi suất do tự mình lựa chọn. - Trường hợp NHTW cần cung ứng tiền thêm vào lưu thông thông qua việcmua GTCG, các đơn dự thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân bổ theo cácmức lãi suất từ cao xuống thấp. Nghĩa là những đơn dự thầu ứng với lãi suất cao sẽđược ưu tiên phân bổ trước cho đến khi khối lượng phân phối được sử dụng hết.Nếu tại mức lãi suất thấp nhất được chấp nhận, khối lượng đăng ký dự thầu lớn hơnkhối lượng được phân phối thì quá trình phân bổ như sau: Gọi: - A: là khối lượng NHTW chào mua/chào bán - rt : là mức lãi suất thứ t được đăng ký - b(rt)i là khối lượng đặt thầu của thành viên thứ i ứng với mức lãi suất rt - b(rt) là tổng khối lượng đặt thầu của các thành viên ứng với mức lãi suất rt - rm là mức lãi suất cuối cùng được chấp nhận. Đối với trường hợp NHTW đấu thầu để bơm thêm vốn khả dụng cho hệ thốngngân hàng thì: r1 ≥ rt ≥ rm - k(rm) là tỷ lệ % trúng thầu được phân bổ tại mức lãi suất cuối cùng m −1 A- ∑ b( r ) t =1 tSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 25
  • 26. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến B(rm) k(rm) = Trên cơ sở xác định được tỷ lệ k(r m), khối lượng trúng thầu của thành viên thứi (Wi) tại mức lãi suất rm được xác định như sau: W(rm) = k(rm) x b(rm) - Trường hợp NHTW cần hút tiền từ lưu thông về thông qua việc bán GTCGthì các quy trình diễn ra ngược lại. Trên thế giới có hai phương thức đấu thầu lãi suất là đấu thầu theo kiểu Mỹ vàđấu thầu theo kiểu Hà Lan. Nếu đấu thầu theo kiểu Mỹ thì tất cả các mức lãi suất đãđăng ký trong phạm vi đặt thầu đều thực hiện theo đúng mức lãi suất đã đăng ký.Nếu đấu thầu theo kiểu Hà Lan thì tất cả lượng đặt thầu được xác định cùng mức lãisuất đạt thầu. 1.2.8. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự vận hành nghiệp vụ thị trường mởcủa Ngân hàng trung ương OMO là một công cụ CSTT có tính chất tự nguyện theo các nguyên tắc thịtrường và linh hoạt nên sự vận hành của OMO phụ thuộc nhiều vào các yếu tố xuấtphát từ bản thân NHTW và từ các thành viên thị trường. 1.2.8.1. Nhân tố chủ quan 1.2.8.1.1. Dự báo về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng Với vai trò tổ chức, xây dựng và điều hành các hoạt động OMO, trên cơ sở dự báocác diễn biến tiền tệ, tình hình vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, NHTW quyết địnhthời điểm, khối lượng chào mua-bán GTCG, thời hạn và phương thức giao dịch OMOnhằm điều tiết thị trường tiền tệ theo mục tiêu đã xác định. Khi dự báo vốn khả dụng dư thừa trong ngắn hạn, NHTW sẽ thực hiện các phiênchào bán GTCG hoặc phát hành tín phiếu NHTW nhằm thu hút và hấp thụ vốn khả dụngdư thừa của hệ thống ngân hàng. Trường hợp dự báo vốn khả dụng thiết hụt thì NHTWsẽ thực hiện chào mua GTCG hoặc chứng chỉ tiền gửi để cung ứng vốn cho hệ thốngngân hàng. Vì vậy, việc quyết định thực hiện các phiên giao dịch OMO và kết quả giaodịch OMO phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác của việc dự báo vốn khả dụng của hệthống ngân hàng. Nếu việc dự báo vốn khả dụng của NHTW phù hợp với thực tế diễnbiến thị trường thì khả năng tham gia phiên giao dịch OMO của các ngân hàng sẽ caohơn. Nếu dự báo sai hoặc ngược chiều thì kết quả giao dịch OMO sẽ rất thấp hoặc khôngcó đối tác nào khác tham gia giao dịch OMO. 1.2.8.1.2. Các quy định về nghiệp vụ thị trường mở Nhìn chung, nghiệp vụ thị trường mở rất đa dạng về hình thức giao dịch, hàng hoáSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 26
  • 27. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếngiao dịch, tần suất giao dịch, đối tác giao dịch, kỳ hạn giao dịch. Các quy định về OMOnày đều có tác động nhất định đến sự vận hành của OMO. Hiện nay, OMO thường được NHTW thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:NHTW mua hẳn hoặc bán hẳn GTCG, NHTW mua hoặc bán có kỳ hạn các GTCG,NHTW phát hành tín phiếu NHTW, cầm cố các chứng chỉ tiền gửi, cho vay không cóbảo đảm hoặc hoán đổi ngoại tệ. Việc quyết định sử dụng các hình thức nào phụ thuộcvào thực tế diễn biến thị trường và sự phát triển của NHTW và hệ thống ngân hàng tàichính. Hình thức mua bán có kỳ hạn GTCG là hình thức giao dịch OMO chủ yếu tạinhiều NHTW xuất phát từ tính linh hoạt của hình thức này và tiết kiệm chi phí giao dịch.Hơn nữa, NHTW sử dụng hình thức này có thể khắc phục dễ dàng các sai lầm của mình.Bên cạnh đó, hàng hoá của OMO thường là các GTCG có thu nhập cố định (lãi suất cốđịnh) và tính thanh khoản cao như chứng khoán của chính phủ, tín phiếu NHTW. Vấn đềnổi lên gần đây là sự thiếu hụt các GTCG đủ điều kiện giao dịch trên thị trường mở củacác ngân hàng, xuất phát từ quy mô thị trường trái phiếu chính phủ nhỏ. Ngoài ra, cácgiao dịch hoán đổi ngoại tệ cũng chỉ được thực hiện tại một số quốc gia. Một quy định nữa của NHTW cũng tác động đến sự vận hành OMO là quy định vềđối tác tham gia thị trường. Tại nhiều quốc gia, chỉ có các ngân hàng mới được giao dịchtrên thị trường mở. Tuy nhiên tại Ấn Độ và Ba Lan thì các đối tác chủ yếu lại là các nhàgiao dịch sơ cấp. Tại Hàn Quốc thì ngân hàng, công ty tín thác và đầu tư, công ty chứngkhoán cũng là các đối tác trên thị trường mở. Chính vì vậy, quy định về đối tác thị trườngmở của NHTW tác động rất lớn tới sự sôi động và quy mô hoạt động của thị trường. 1.2.8.2. Các nhân tố khách quan 1.2.8.2.1. Trình độ phát triển của thị trường tiền tệ quốc gia OMO là công cụ có tính chất tự nguyện theo các nguyên tắc thị trường, không cótính chất bắt buộc. Chính vì vậy, hoạt động OMO không chỉ phụ thuộc vào NHTW màcòn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng, sự tham gia thịtrường và nhu cầu giao dịch của các ngân hàng. Các ngân hàng tham gia OMO nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản và mục tiêu lợinhuận từ việc kinh doanh GTCG. Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của mình, các ngânhàng có thể thực hiện việc bán các GTCG, vay từ các tổ chức tài chính, tín dụng kháctrên thị trường vốn hoặc vay từ NHTW. Việc giao dịch trên thị trường mở phụ thuộc vàokhả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng thông qua thị trường tiền tệ vàthường được lựa chọn cuối cùng bởi vì các lý do phi kinh tế. Khả năng tìm kiếm cácnguồn vốn khác của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của thị trườngtiền tệ quốc gia. Chính vì vậy, nếu ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của mìnhSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 27
  • 28. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếntrên thị trường tiền tệ qua việc huy động các nguồn vốn mới, bán các tài sản, vay cácngân hàng khác, … hoặc thông qua các công cụ khác thì việc giao dịch OMO tại NHTWsẽ giảm thiểu. Khi đó khả năng tác động của OMO sẽ bị hạn chế. 1.2.8.2.2. Hàng hoá thị trường mở do các ngân hàng nắm giữ Để tham gia thị trường mở, nhất là khi cần bổ sung nguồn vốn, các ngân hàng phảinắm giữ một lượng hàng hoá nhất định về cả khối lượng và chủng loại phù hợp với điềukiện và nhu cầu giao dịch của NHTW. Chỉ khi các hàng hoá nắm giữ của ngân hàng phùhợp với nhu cầu giao dịch của NHTW thì các ngân hàng mới có thể tham gia giao dịchOMO. Khi thực hiện giao dịch OMO, NHTW thường yêu cầu sử dụng các GTCG có độrủi ro rất thấp và tính thanh khoản cao. Chính vì vậy, các GTCG do Bộ Tài chính haychính NHTW phát hành thường được NHTW ưu tiên chấp thuận. Các GTCG nàythường được nắm giữ bởi các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh, quy mô lớn hoặcnguồn vốn dồi dào. Bên cạnh đó, NHTW cũng chấp thuận các GTCG khác như: GTCGdo Chính phủ các nước phát triển phát hành, GTCG do chính quyền địa phương pháthành hoặc GTCG do các tổ chức tín dụng, tài chính có độ tín nhiệm cao phát hành. Chính vì vậy, danh mục GTCG được chấp thuận sử dụng trong giao dịch OMOcàng đa dạng thì các ngân hàng cũng có thêm sự lựa chọn trong cơ cấu đầu tư GTCGnhằm đảm bảo tính thanh khoản và khả năng sinh lợi. 1.3. KHẢO CỨU SỰ VẬN HÀNH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞCỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚIVIỆT NAM 1.3.1. Sự vận hành OMO của NHTW các nước phát triển 1.3.1.1. Ngân hàng Nhật Bản Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) là NHTW của Nhật Bản, có một quá trình lịch sửthực hiện mua bán GTCG khá lâu năm từ thời kỳ trước chiến tranh. Tuy nhiên lúcđầu các hoạt động OMO được thực hiện rất hạn chế trong những trường hợp ngoạilệ để hỗ trợ cho hoạt động tái cấp vốn của BOJ. Đến tháng 11/1962, BOJ bắt đầu thực hiện mua bán GTCG một cách linh hoạthơn cùng với việc áp dụng hạn mức tín dụng nhằm đa dạng hoá các công cụ điềuhành CSTT, đồng thời ổn định thị trường tiền tệ. Thông qua các hoạt động mua bánGTCG trên thị trường mở, BOJ cung ứng khối lượng tiền cần thiết cho phát triểnkinh tế thay cho việc cung ứng tiền qua kênh TCV như trước đây. Dần dần OMO đãtrở thành một trong các công cụ CSTT được BOJ sử dụng thường xuyên và ngàycàng quan tọng trong thực thi CSTT. Hàng hoá được sử dụng đầu tiên trong OMO là các GTCG có tính thanhSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 28
  • 29. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnkhoản cao như trái phiếu và tín phiếu Chính phủ. Hiện nay ngoài các chứng khoánChính phủ, BOJ còn sử dụng các trái phiếu công ty làm hàng hoá cho các giao dịchnày. Tuy nhiên, đến nay thị trường tín phiếu, trái phiếu Chính phủ vẫn là cơ sở quantrọng cho các hoạt động của thị trường mở của Nhật Bản. Đặc biệt là trên thị trườngđấu thầu tín phiếu, trái phiếu Chính phủ, BOJ được phép thực hiện vai trò là ngườimua cuối cùng. Điều này giúp cho BOJ luôn có công cụ chủ động điều hoà thịtrường tiền tệ mà không nhất thiết phải phát hành tín phiếu NHTW. Ban đầu phương thức giao dịch được áp dụng trong OMO của BOJ là giaodịch mua bán có kỳ hạn thông qua các hợp đồng mua lại theo lãi suất cố định. Suađó phương thức giao dịch được chuyển sang thực hiện trên cơ sở mua bán GTCGtheo giá thị trường, thông qua hình thức đấu thầu nhằm nâng cao khả năng điềuchỉnh lãi suất trên thị trường. Việc tổ chức đấu thầu không chỉ được thực hiện theođịnh kỳ mà BOJ còn tổ chức đấu thầu nhanh, trong đó khối lượng GTCG màNHTW cần mua được xác định và thực hiện ngay trong một ngày. Điều này gópphần nâng cao tính linh hoạt của thị trường. Đối tác của BOJ chủ yếu là các ngân hàng. Ban đầu BOJ thực hiện mua bánGGCG trực tiếp với các ngân hàng. Hiện nay, BOJ đã thực hiện các giao dịch OMOchủ yếu thông qua các nhà giao dịch sơ cấp và chỉ giới hạn trong phạm vi các ngânhàng mà không bao gồm các trung gian tài chính phi ngân hàng và các doanhnghiệp. Vì vậy, tác động của OMO tại Nhật Bản không mạnh như tại các NHTWcủa các nước phát triển khác trên thế giới. 1.3.1.2. Cục dự trữ liên bang Mỹ Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed, NHTW của Mỹ) bắt đầu thực hiện OMO từcuối những năm 1920. Khi đó, OMO được sử dụng như một công cụ hỗ trợ thựchiện cho vay chiết khấu của Fed. Nhưng đến nay, OMO được coi là công cụ CSTTlinh hoạt, có hiệu quả và quan trọng nhất của Fed vì hoạt động OMO có tính chấtquyết định đến sự thay đổi dự trữ của hệ thống ngân hàng và lãi suất thị trường. Đểđiều hành OMO, Fed đã thành lập Uỷ ban nghiệp vụ thị trường mở (FOMC). Theođịnh kỳ 6 tuần/lần, FOMC họp bàn phân tích các diễn biến kinh tế - tiền tệ và cácyếu tố ảnh hưởng để đưa ra các quyết định về mục tiêu tăng trưởng M1, M2 và lãisuất liên ngân hàng định hướng, lãi suất chiết khấu từ đó quyết định khối lượngGTCG giao dịch trên thị trường mở, phương thức giao dịch và thời hạn giao dịch. Fed lựa chọn những chứng khoán có tính thanh khoản và độ an toàn cao làmcông cụ thực hiện OMO nhằm đạt được mục tiêu điều tiết vốn khả dụng của hệthống ngân hàng một cách có hiệu quả nhất. Chứng khoán Chính phủ Mỹ (đặc biệtlà tín phiếu kho bạc) là công cụ chủ yếu được sử dụng trong các giao dịch OMO doSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 29
  • 30. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếncó khối lượng giao dịch trên thị trường lớn, có tính thanh khoản và độ an toàn cao.Thời hạn của các chứng khoán Chính phủ được giao dịch trên thị trường khá đadạng, từ dưới 01 năm đến trên 10 năm. Đối tác giao dịch chủ yếu của Fed là các ngân hàng. Tuy nhiên hầu hết cácgiao dịch OMO thực hiện thông qua các nhà giao dịch chứng khoán chính phủchuyên nghiệp (ngân hàng). Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà Fed áp dụng hình thức mua bán hẳn hoặcmua bán có kỳ hạn, thông qua hình thức đấu thầu lãi suất. Các giao dịch mua bánhẳn thường được sử dụng khi việc dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữcủa các NHTM như khối lượng tiền ngoài lưu thông, khả năng chi tiêu của Chínhphủ … cho thấy mức dự trữ cần được tiếp tục điều chỉnh trong một thời gian dài.Ngoài ra khi cần tăng dự trữ, bên cạnh việc mua hẳn, Fed có thể sử dụng thêm hìnhthức cho trả trước hạn các chứng khoán. Thực chất cả 2 nghiệp vụ mua bán hẳn vàthanh toán trước hạn chứng khoán đều có tác động giống nhau. Trong trường hợp dự báo cho thấy cần thay đổi tạm thời dự trữ của các ngânhàng, hoặc không dự báo được chính xác mức độ cũng như thời hạn biến động củadự trữ, Fed có thể thực hiện phương thức mua bán có kỳ hạn ngắn thông qua cáchợp đồng Repos, với thời gian thường không quá 15 ngày. 1.3.2. Sự vận hành OMO của Ngân hàng Thái Lan Ngân hàng Thái Lan (BOT, NHTW của Thái Lan) thực hiện OMO thông quamua bán GTCG với các thành viên (bao gồm các NHTM, tất cả các định chế tàichính khác và một số DNNN). Hàng hoá sử dụng trong các OMO bao gồm các chứng khoán chính phủ, tínphiếu NHTW và trái phiếu DNNN được Bộ Tài chính bảo lãnh phát hành và đượcgửi tại NHTW. Tại Thái Lan, do số dư trái phiếu chính phủ giảm mạnh trong mộtvài năm qua từ tình trạng ngân sách nhà nước bội thu và nhiều trái phiếu chính phủđã được thanh toán trước hạn nên BOT đã mở rộng giao dịch bằng chứng khoánkhác và tự phát hành tín phiếu NHTW để tạo điều kiện thuận lợi cho OMO. Phương thức giao dịch OMO chủ yếu của BOT là các giao dịch có kỳ hạnthông qua các hợp đồng repo. Thậm chí đã có thời gian BOT dựa hoàn toàn vàohình thức giao dịch mua bán có kỳ hạn thông qua các hợp đồng mua bán lại trên thịtrường thứ cấp mà không thực hiện các hoạt động OMO trên thị trường sơ cấp.Nhưng sau này, khi số dư trái phiếu chính phủ giảm mạnh, BOT cũng thực hiệnviệc đấu thầu tín phiếu NHTW trên thị trường mở. Do thị trường tiền tệ có quy mô nhỏ và tính cạnh tranh giữa các thành viên sovới các nước phát triển, phạm vi hoạt động OMO của BOT tương đối rộng. Mặc dùSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 30
  • 31. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnvậy, sự hạn chế về hàng hoá cũng như sự phát triển thị trường chưa hoàn hảo làmcho tác động có thể thiệp của BOT thông qua OMO còn hạn chế. Hiện nay, hoạtđộng OMO của BOT vẫn còn hai hạn chế chủ yếu: Thứ nhất là, BOT chưa thực hiện OMO năng động vơi mục đích thay đổi mứcdự trữ của các ngân hàng theo các mục tiêu của CSTT, mà chủ yếu thực hiện OMOnhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường. Thứ hai là, quy mô và mức độ biến động của các luồng vốn quốc tế ngày càngtăng khiến cho BOT tăng cường quy mô hoạt động OMO nhằm bù đắp lại nhữngbiến động của các nhân tố khác gây ra đối dự trữ của các ngân hàng (mà cụ thể lànhằm bù đắp lại việc bơm/hút đồng Baht của Quỹ ổn định tỷ giá). Khác với các nước khác, thị trường tài chính Thái Lan bị ảnh hưởng mạnh bởinguồn vốn đầu tư nước ngoài. Để đảm bảo CSTT độc lập, BOT phải sử dụng OMOmột cách tích cực để điều chỉnh luồng vốn này. Một sự điều tiết có hiệu quả trongtrường hợp này đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ hoạt động có thể thiệp củaNHTW trên thị trường mở với chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá. Đây là vấnđề mà BOT đang phải đương đầu, để đảm bảo tính hiệu quả của CSTT. Hiện nay, Thái Lan đang thực hiện hai chiến lược nhằm tăng cường hiệu quảhoạt động của OMO: Trước tiên, BOT đưa ra thêm nhiều công cụ thực hiện OMO nhằm tăng cườngkhả năng can thiệp của NHTW cả thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối. Chẳnghạn BOT đã phát hành các tín phiếu NHTW vào các ngày thứ sáu hàng tuần. Danhmục các GTCG đủ điều kiện sử dụng trên thị trường mua lại sẽ được mở rộng baogồm cả các trái phiếu của các DNNN không được Bộ Tài chính bảo lãnh phát hành.Nghiệp vụ swap cũng được coi như một phương tiện khác để thực hiện việc bơmhay rút tiền Baht thông qua sử dụng USD. Thứ hai, BOT coi việc thiết lập một hệ thống các nhà giao dịch sơ cấp nhưmột kênh bổ sung thực hiện thị trường mở. Theo kế hoạch, bước đầu, BOT sẽ cólựa chọn một số các NHTM, các công ty tài chính và các công ty chứng khoán thựchiện vai trò các đối tác không chính thức mua bán các GTCG với NHTW. Chứngkhoán được giao dịch giữa NHTW và các đối tác này sẽ giới hạn, chỉ gồm chứngkhoán chính phủ, trái phiếu NHTW và các trái phiếu DNNN. Trong giai đoạn này,các định chế tài chính thực hiện vai trò các nhà giao dịch sơ cấp không chính thứcsẽ không phải chấp nhận thực hiện nghĩa vụ cụ thể nào. Tuy nhiên, các hoạt độngkinh doanh và tạo lập thị trường của các đối tác này sẽ được đánh giá làm cơ sở lựachọn tiếp các nhà giao dịch sơ cấp chính thức. Khi được chỉ định chính thức, cácnhà giao dịch sẽ phải chấp nhận các nghĩa vụ nào đó như tham gia đều đặn vào cácSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 31
  • 32. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnphiên đấu thầu trái phiếu NHTW hàng tuần và thực hiện vai trò tạo lập thị trườngđối với trái phiếu Chính phủ và trái phiếu NHTW thông qua việc sẵn sàng chào giáhai chiều đối với BOT và các đối tượng khác (gồm các thể chế tài chính và các nhàđầu tư tư nhân) và cung cấp thông tin thị trường theo yêu cầu của NHTW. 1.3.3. Sự vận hành OMO của Ngân hàng quốc gia Ba Lan Ba Lan là một quốc gia thuộc khối Đông Âu, đã và đang chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường. Ba Lan cũng đang chuẩn bị gia nhập khối EU và thực hiện nhữngcải cách quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng. Cũng như các quốc gia khác, công cụOMO trở thành công cụ chính của NBP trong thực thi CSTT. Việc phát hành tín phiếu NBP vào năm 1990 là hình thức đầu tiên của OMO.Các giao dịch đảo ngược (repo và repo đảo ngược) được NBP đưa vào sử dụng vàonăm 1993, khi thị trường tiền gửi liên ngân hàng tại Ba Lan đã phát triển. Lúc nàyNBP đã có thể thực hiện các giao dịch nhằm bổ sung hoặc hấp thụ vốn cho hệ thốngngân hàng. Sau một thời gian, do nguồn vốn của các ngân hàng gia tăng nên giaodịch cung ứng vốn của NBP đã ngừng lại. Giao dịch repo cuối cùng thực hiện vàongày 27/01/1995. Kể từ đó, NBP chỉ thực hiện các giao dịch nhằm hấp thụ vốn dưthừa từ hệ thống ngân hàng. NBP cũng đã từng nhận tiền gửi từ nền kinh tế trong thời kỳ từ tháng 9 đếntháng 12/1997 và đây là một công cụ ngoại lệ trong OMO. Việc nhận tiền gửi củaNBP đã làm gia tăng lãi suất huy động tiền gửi của hệ thống ngân hàng. Hiện nayNBP thực hiện các hình thức của OMO như sau: - Các giao dịch hấp thụ vốn như bán hẳn, bán có kỳ hạn tín phiếu kho bạc vàtrái phiếu kho bạc, phát hành tín phiếu NBP; - Các giao dịch bổ sung vốn như mua đảo ngược, mua hẳn tín phiếu kho bạc,trái phiếu kho bạc. Mặc dù quy định về thời hạn giao dịch khá rộng nhưng NBP chủ yếu sử dụnghình thức phát hành tín phiếu NBP với thời hạn 14 ngày trong các giao dịch thịtrường mở. Hiện nay, các giao dịch bổ sung vốn không được sử dụng do nguồn vốncủa hệ thống ngân hàng liên tục gia tăng. Bên cạnh đó, các giao dịch đảo ngược hayhoặc bán hẳn tín phiếu kho bạc không được thực hiện do NBP không nắm giữ cácGTCG này. Nguyên nhân là do NBP chỉ có thể mua các GTCG này trên thị trườngmở do việc tài trợ thâm hụt ngân sách của NBP kể cả việc mua trực tiếp các GTCGdo kho bạc phát hành đã bị cấm thực hiện theo quy định tại Hiến pháp của Ba Lan. Từ tháng 9/2000, NBP đã bán các trái phiếu kho bạc hiện đang nắm giữ. Đâylà các trái phiếu mà NBP mua được từ các giao dịch trước khi thay đổi quy định vềviệc tài trợ ngân sách của NBP, được thực hiện trong tháng 9 và tháng 12/1999.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 32
  • 33. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu TiếnNBP bán các GTCG này là một hình thức giao dịch OMO cấu trúc nhằm giảm bớtsự dư thừa nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Từ tháng 2/2002, giao dịch OMO cơbản - hình thức phát hành tín phiếu NBP thời hạn 28 ngày (và 14 ngày kể từ01/01/2003), được thực hiện vào ngày thứ 6 hàng tuần. Khối lượng phát hành tínphiếu NBP được xác định trên cơ sở tình hình thị trường và nhu cầu thanh toán củahệ thống ngân hàng. Kể từ khi Ban điều hành CSTT được thành lập vào năm 1998,NBP bắt đầu đưa vào áp dụng lãi suất tham chiếu, được xác định từ lãi suất tínphiếu NBP thời hạn 28 ngày. Kể từ năm 2003, lãi suất tham chiếu được xác định từlãi suất tín phiếu NBP thời hạn 14 ngày. Quy mô phát hành tín phiếu NBP đượccông bố trên mạng Reuters. Các nhà giao dịch thị trường tiền tệ và Quỹ bảo hiểmngân hàng có thể mua các tín phiếu này tại thị trường sơ cấp, trong khi các NHTMchỉ có thể mua các tín phiếu trên thị trường thứ cấp. Sau khi gia nhập Liên minh châu Âu, NBP trở thành một thành viên của hệthống NHTW châu Âu (ESCB). Vì vậy, NBP phải điều chỉnh các công cụ CSTTcủa mình phù hợp với quy định của ESCB. Lý do điều chỉnh xuất phát từ thực tếtình trạng dư thừa vốn của hệ thống ngân hàng Ba Lan và sự thay đổi trong địa vịpháp lý của NBP. Sự khác biệt trong công cụ OMO của NBP và ESCB xuất phát từtình trạng dư thừa vốn do đó NBP không sử dụng các giao dịch TCV ngắn hạn (14ngày) và dài hạn (3 tháng) mà chỉ thực hiện các giao dịch hấp thụ vốn. Trong các giao dịch dài hạn, NBP không loại trừ việc sử dụng các công cụ cóthời hạn dài hơn. Vì vậy, NBP đã phát hành tín phiếu NBP thời hạn 3 tháng nhằmphù hợp với quy định về công cụ thời hạn 3 tháng của ECB. Ngoài ra NBP đã thựchiện các giao dịch bán hẳn đối với trái phiếu kho bạc với toàn bộ thời hạn còn lạicủa trái phiếu. 1.3.4. Một số kiến nghị đối với Việt Nam Qua thực tế sử dụng công cụ OMO của NHTW một số nước trên thế giới nêutrên với các trình độ phát triển khác nhau, chúng ta có thể rút ra một số kiến nghịđối với việc vận hành OMO để điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng trongđiều kiện cụ thể của Việt Nam như sau: Thứ nhất, tuỳ theo điều kiện cụ thể của nền kinh tế và mức độ phát triển củathị trường tài chính của từng quốc gia để vận dụng và xử lý linh hoạt công cụ OMOtrong điều tiết và kiểm soát lượng tiền cung ứng nhằm thực thi CSTT. Công cụOMO ngày càng được sử dụng phổ biến tại các quốc gia có trình độ phát triển khácnhau và vai trò đang ngày càng quan trọng. Tại hầu hết các quốc gia hiện nay, côngcụ OMO đều được sử dụng với các hình thức và mức độ khác nhau. Điều này chứngtỏ sự ưu việt của công cụ này trong điều hành CSTT. Tại các quốc gia phát triểnSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 33
  • 34. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnnhư Mỹ, Nhật Bản, công cụ này được sử dụng phổ biến và chủ yếu. Còn tại TháiLan, công cụ này đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện. Tại Ba Lan, NBP đãvà đang thực hiện công cụ này và điều chỉnh nhằm phù hợp với quy định củaNHTW châu Âu. Chính vì vậy, việc áp dụng công cụ OMO tại Việt Nam vào năm 2000 là mộtbước đột phá trong xây dựng và điều hành CSTT của Việt Nam, trong điều kiện cácthị trường tài chính tiền tệ chưa thực sự phát triển. Thứ hai, cần phối kết hợp sử dụng hài hoà công cụ OMO với các công cụ kháctrong quá trình thực thi CSTT để thực hiện các mục tiêu CSTT cụ thể trong từng thờikỳ. Tuy công cụ OMO là loại công cụ được sử dụng phổ biến trong thực thi CSTTnhưng không thể giải quyết được tất cả các tình huống của thị trường. Chính vì vậy,NHTW các nước đã lựa chọn các công cụ khác như swap, tỷ giá, lãi suất của BOT,chiết khấu của Fed … để phối hợp sử dụng. Tại Ba Lan, bên cạnh OMO, NBP cũng sửdụng các công cụ khác như DTBB, tín dụng Lombard, công cụ tiền gửi cuối ngày,chính sách lãi suất. Cùng với OMO, các công cụ này đã hình thành nền hệ thống côngcụ CSTT và đảm bảo thực hiện có hiệu quả CSTT trong các tình huống. Thứ ba, về các loại hàng hoá giao dịch trên thị trường mở. Nhìn chung tất cả cácquốc gia đều xem các loại chứng khoán của Chính phủ như tín phiếu kho bạc, tráiphiếu kho bạc, trái phiếu chính quyền địa phương và tín phiếu NHTW là các loại hànghoá chủ yếu trong các giao dịch OMO. Đây cũng là điều dễ hiểu bởi vì các loại GTCGnày nhìn chung có thời hạn ngắn, có khối lượng đủ lớn để NHTW có thể can thiệp vàcó tính thanh khoản cao. Bên cạnh đó, một số loại GTCG của các doanh nghiệp lớn,có uy tín, đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc được Bộ Tài chính bảolãnh cũng được phép giao dịch. Đối với Thái Lan, do nhiều trái phiếu Chính phủ đượcthanh toán trước hạn nên BOT đã mở rộng sang sử dụng các loại GTCG khác và tựphát hành tín phiếu NHTW để giao dịch. Như vậy, việc lựa chọn và quyết định chủng loại hàng hoá cho giao dịch thịtrường mở tuỳ thuộc vào tình hình và điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Tuy nhiên,các loại chứng khoán của Chính phủ vẫn là hàng hoá chủ yếu và không thể thiếu tại bấtkỳ một quốc gia nào. Các loại GTCG do các doanh nghiệp phát hành cũng có thể đượcgiao dịch nếu như đủ uy tín và có tính thanh khoản cao. Thứ tư, đối tác giao dịch của NHTW trong các hoạt động OMO. Trong giai đoạnđầu thì BOJ chỉ giao dịch với các TCTD, sau đó chuyển sang giao dịch với các nhàgiao dịch sơ cấp. BOT còn thành lập các nhà giao dịch sơ cấp gồm các ngân hàng,công ty tài chính, công ty chứng khoán như là một kênh giao dịch bổ sung. NBP chỉSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 34
  • 35. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếngiao dịch với các nhà giao dịch thị trường và Quỹ Bảo hiểm ngân hàng trên thị trườngsơ cấp. Đối tác giao dịch chủ yếu của Fed là các ngân hàng. Như vậy, khi hệ thốngngân hàng đủ lớn mạnh và có thể tác động tới thị trường tài chính thì NHTW vẫn ưathích lựa chọn các ngân hàng làm các đối tác giao dịch chủ yếu. Còn nếu thị trường tàichính chưa thực sự phát triển như trong trường hợp của Thái Lan thì NHTW sẽ mởrộng các đối tác giao dịch nhằm tăng cường khả năng tác động tới thị trường.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 35
  • 36. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂNNGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆTNAM Luật NHNN Việt Nam có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1998 đã tạo cơ sởpháp lý quan trọng cho NHNN Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới hoạt độngngân hàng trong thiên niên kỷ mới, trong đó có đổi mới về các công cụ CSTT. Theoquy định tại Điều 9, Điều 16 và Điều 21 Luật NHNN, nghiệp vụ thị trường mở làmột công cụ thực hiện CSTT quốc gia, theo đó: “OMO là nghiệp vụ mua, bán cácGTCG ngắn hạn do NHNN thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện CSTTquốc gia.” 2.1.1. Sự cần thiết ra đời nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chínhsách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước 2.1.1.1. Hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thấp Nhìn chung, công tác điều hành CSTT của NHNN giai đoạn 1995-2000 đãđem lại những thành công đáng kể khi nhìn vào các chỉ số phản ánh sự biến độngcủa các mục tiêu vĩ mô: tỷ lệ lạm phát ở mức một chữ số, tốc độ tăng trưởng kinh tếđạt bình quân 8,6%/năm. Tuy nhiên nếu quan niệm rằng mục tiêu hàng đầu của CSTT là ổn định giá trịđồng tiền thì mục tiêu này chưa được thực hiện tốt. Tỷ lệ lạm phát biến động tươngđối mạnh và khó dự đoán. Đặc biệt từ năm 1996, mặc dù tổng phương tiện thanhtoán vẫn tăng liên tục nhưng chỉ số giá cả, tiếp đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế, vẫncó xu hướng giảm ở các tháng đầu năm 1996, 1997, 1998 và 1999. Điều này chứngtỏ sự hạn chế trong hiệu quả tác động của các công cụ CSTT của NHNN, thể hiệnsự thiếu chủ động, linh hoạt và khả năng truyền dẫn tác động chậm chạp. Hoạt động TCV bước đầu đã hình thành cơ chế cho vay bù đắp sự thiếu hụttạm thời về nguồn vốn của NHNN đối với các ngân hàng, tạo ra kênh cung ứng vốntin dụng ngắn hạn có kiểm soát của NHNN. Tuy nhiên, việc TCV mới chỉ thực hiệnchủ yếu tại 4 NHTMNN và hơn 70% các khoản vay dành cho mục tiêu chỉ định.Hiệu lực tác động của công cụ này thấp, không có tác dụng kích thích nhu cầu tiềntệ của các TCTD và tác động tới lãi suất thị trường. Nguyên nhân chủ yếu do lãisuất TCV được quy định cứng nhắc, xa rời lãi suất thị trường và chỉ điều chỉnhnhằm phù hợp với lãi suất thị trường hơn là điều tiết thị trường.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 36
  • 37. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Bên cạnh đó, do NHNN không quy định phải tính DTBB đối với tiền gửi cókỳ hạn trên 12 tháng nên khả năng kiểm soát và điều tiết M2 của NHNN còn hạnchế. Việc trả lãi tiền gửi vượt DTBB đã không khuyến khích cả TCTD tận dụng tốiđa nguồn vốn. Thêm vào đó việc quản lý vốn khả dụng của các NTHM còn yếu,chưa chủ động trong dự báo dẫn đến tình trạng có thời kỳ các NHTM để dự trữ dưthừa nhiều, hạn chế các hoạt động của thị trường tiền tệ, nhất là hoạt động cho vayngắn hạn hoặc qua đêm giữa các ngân hàng, có lúc gây ra thiếu phương tiện thanhtoán trầm trọng. Các công cụ hiện hành không cho phép NHNN có thể điều chỉnh linh hoạtlượng vốn khả dụng trong điều kiện dư thừa. Tình trạng dự trữ dư thừa không mongmuốn tại các ngân hàng bắt đầu từ năm 1994 và kéo dài đến năm 2000 là cho cácngân hàng phải chịu áp lực mạnh về chi phí vốn, đồng thời giảm hiệu quả tác độngcủa CSTT, đặc biệt công cụ TCV. Các công cụ này tỏ ra thiếu chủ động trong việcđiều chỉnh lượng tiền cung ứng. Điều này thể hiện rõ trong hai năm 1998-1999 khitrần lãi suất cho vay liên tục giảm nhưng khối lượng tín dụng không tăng tươngứng, đồng thời giá cả và sản lượng giảm liên tục. Hiệu quả của CSTT thấp còn bởi vì chúng chỉ tác động được qua kênh truyềndẫn duy nhất là kênh tín dụng của hệ thống ngân hàng. Các kênh tác động khác nhưlãi suất và thị trường tài chính chưa phát huy do thị trường tiền tệ và chứng khoánchưa hoạt động. Vì vậy, tác động của CSTT trong giai đoạn này chủ yếu thông quatác động về khối lượng. Để khắc phục nhược điểm này, bên cạnh việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiệncác công cụ hiện có cũng như kênh truyền dẫn tác động, việc đưa vào áp dụng cáccông cụ CSTT gián tiếp có khả năng tác động đến lãi suất và khối lượng vốn củanền kinh tế là cấp thiết. Một trong những công cụ đó là nghiệp vụ thị trường mở.Chính vì vậy, sự hình thành thị trường mở trở thành mục tiêu của NHNN trong việchoàn thiện công cụ CSTT trong giai đoạn này. 2.1.1.2. Sự tồn tại của các thị trường chứng khoán nợ Trước năm 1990, nền kinh tế Việt Nam được tài trợ từ các trung gian tài chínhmà chủ yếu là các ngân hàng. Từ đầu thập niên 1990s, tình trạng này đã được cảithiện. Nhiều người có nhu cầu vốn đã bắt đầu làm quen với hình thức huy động vốntrực tiếp từ công chúng trên cơ sở sử dụng các GTCG với các thời hạn khác nhau.Đây là điều kiện nền tảng cho hoạt động thị trường mở. Các thị trường chứng khoánnợ (ngắn hạn và dài hạn) đã ra đời và phát triển, đó là thị trường trái phiếu chínhphủ, trái phiếu doanh nghiệp.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 37
  • 38. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Trái phiếu chính phủ đã trở thành nguồn bù đắp chi tiêu ngân sách phổ biến từnăm 1994 khi Chính phủ bắt đầu phát hành tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc vàtrái phiếu công trình. Từ năm 1995, tín phiếu kho bạc đã bắt đầu được phát hànhtheo hình thức đấu thầu tại NHNN với số lượng trúng thầu ngày càng tăng. Lượngtín phiếu kho bạc trúng thầu qua NHNN đã tạo cơ sở tiền đề về hàng hoá ban đầucho hoạt động thị trường mở sau này. Bên cạnh trái phiếu chính phủ, một số chứngkhoán nợ của doanh nghiệp cũng được phát hành, trong đó chủ yếu là các kỳ phiếungân hàng. Tuy nhiên các giao dịch đối với trái phiếu doanh nghiệp là nhỏ bé và tựphát. Mặc dù thị trường giao dịch trái phiếu chưa phát triển nhưng cũng đã tạo ranhững điều kiện tiền đề cho sự vận hành của thị trường mở. 2.1.1.3. Xu thế hội nhập kinh tế Xu hướng toàn cầu hoá các hoạt động thương mại và tài chính đã ảnh hưởngđến các chính sách kinh tế vĩ mô và các công cụ CSTT ở hầu hết các nước trên thếgiới. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Xu hướng toàn cầu hoá tất yếu dẫn đếntrào lưu liên minh khu vực và tự do hoá các thị trường tài chính khu vực. Trào lưunày đòi hỏi các công cụ CSTT phải đảm bảo mối liên hệ linh hoạt giữa các cân bằngnội và cân bằng ngoại. Nghiệp vụ thị trường mở, với cơ chế hoạt động chủ yếu dựavào thị trường, là công cụ CSTT thích hợp nhất tại hầu hết các quốc gia. Thông quaOMO, NHTW có thể tác động trức tiếp và nhanh chóng đến các mục tiêu hoạtđộng. Bên cạnh đó, OMO đang trở thành một công cụ CSTT phổ biến ở các quốcgia phát triển và đang phát triển. Đây là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việchọc hỏi kinh nghiệm và tổ chức hoạt động của thị trường mở tại Việt Nam. 2.1.2. Quá trình hình thành và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nghiệpvụ thị trường mở 2.1.2.1. Khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời của nghiệp vụ thị trường mở Bên cạnh các điều kiện vĩ mô về tiền tệ ngân hàng cho sự ra đời của nghiệp vụthị trường mở thì việc thiếu cơ sở pháp lý hợp lý và đồng bộ sẽ hạn chế hoạt độngvà phát triển của thị trường mở. Về cơ bản, hành lang pháp lý cần thiết cho hoạtđộng thị trường mở phải bao gồm các lĩnh vực sau: Giới hạn phạm vi thị trường, cáccông cụ của thị trường, quy định về phát hành GTCG, cơ chế hoạt động của thịtrường thứ cấp, quy chế hoạt động can thiệp của NHNN, quản lý vốn khả dụng củaNHNN. Cho đến tháng 3/2000, về cơ bản, hệ thống văn bản pháp lý làm cơ sở chosự ra đời và hoạt động của OMO đã hình thành. Cụ thể: Thứ nhất, khung pháp lý về phạm vi thị trường và công cụSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 38
  • 39. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Theo quy định tại Điều 21 Luật NHNN: "NHNN thực hiện OMO thông quaviệc mua bán tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các loạiGTCG ngắn hạn trên thị trường tiền tệ để thực hiện CSTT quốc gia." Như vậy, thịtrường mở chỉ giới hạn trong phạm vi thị trường tiền tệ, ngụ ý rằng các giao dịch thịtrường mở phải có thời gian dưới 12 tháng và các loại GTCG giao dịch cũng phảiđáo hạn trong vòng 1 năm. Ngoài ra, Luật NHNN cũng đã cụ thể hoá các loại công cụ (GTCG) giao dịchthông qua OMO là tín phiếu KBNN, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và cácloại GTCG ngắn hạn khác do Thống đốc quy định cụ thể. Thứ hai, khung pháp lý về việc phát hành các giấy tờ có giá - hàng hoá của thịtrường Để cung cấp hàng hoá cho thị trường, một số loại GTCG đã được phát hành.Hệ thống pháp lý về việc ban hành các GTCG này đã được hoàn thiện, như: - Quy chế phát hành tín phiếu NHNN ban hành theo Quyết định số362/1999/QĐ-NHNN1 ngày 08/10/1999 của Thống đốc; - Quy chế phát hành trái phiếu chính phủ theo Nghị định số 72/CP ngày26/7/1994 của Chính phủ và Quyết định số 01/2000/QĐ-TTg ngày 13/01/2000 củaThủ tướng Chính phủ; - Pháp lệnh thương phiếu tháng 2/1999; - Luật Thương mại năm 1997. Thứ ba, khung pháp lý về thị trường thứ cấp NHNN đã ban hành nhiều văn bản quy định về các giao dịch thứ cấp nhằm tạotính thanh khoản cho các GTCG trên và thị trường thứ cấp, như: - Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường nội tệ liên ngân hàng theoQuyết định số 136 QĐ/NH2 ngày 20/7/1993 của Thống đốc; - Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng theoQuyết định số 101/1999/QĐ-NHNN13 ngày 26/3/1999 của Thống đốc; - Quy chế về nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu của NHNN đối với các ngânhàng theo Quyết định 356/1999/QĐ-NHNN14 ngày 06/10/1999 của Thống đốc. Thứ tư, khung pháp lý về hoạt động can thiệp của NHNN trên thị trường mở Quy chế nghiệp vụ thị trường mở được ban hành theo Quyết định85/2000/QĐ-NHNN14 ngày 09/3/2000 của Thống đốc. Quy chế này hướng dẫnthực hiện giao dịch trên thị trường mở, nghiệp vụ thanh toán, lưu ký, … và sự canthiệp của NHNN trên thị trường. NHNN cũng đã thành lập Ban điều hành nghiệp vụthị trường mở để quyết định tất cả các vấn đề liên quan. Thứ năm, khung pháp lý về quản lý vốn khả dụngSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 39
  • 40. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Quy chế quản lý vốn khả dụng được ban hành theo Quyết định số37/2000/QĐ-NHNN1 ngày 24/01/2000 của Thống đốc. Đây là yếu tố nền tảng chohoạt động OMO và hoạt động TCV của NHNN. Nó xác định lượng vốn khả dụngthừa thiếu hàng ngày làm căn cứ để quyết định chiều hướng và mức độ can thiệpcủa NHNN trên thị trường mở. Như vậy, để chuẩn bị cho công cụ OMO triển khai hoạt động, NHNN đã banhành nhiều văn bản pháp lý liên quan, không những trực tiếp quy định về công cụnày như quy chế về OMO, thành lập Ban điều hành OMO, quy trình thực hiệnOMO, hạch toán giao dịch OMO, chế độ thông tin báo cáo, … mà còn ban hànhquy định về những vấn đề liên quan đến công cụ này như quy chế quản lý vốn khảdụng, quy chế lưu ký GTCG ngắn hạn, quy trình đấu thầu tín phiếu kho bạc, ..Thông qua các quy định này, NHNN đã hướng dẫn cụ thể việc tổ chức và thực hiệncác giao dịch trên thị trường mở, tạo điều kiện cho các TCTD nắm bắt và triển khaithực hiện. Hệ thống các văn bản pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của thị trườngmở đã cơ bản đầy đủ và sẽ hoàn thiện trong tương lai. Các quy định này đảm bảohoạt động thị trường mở trôi chảy từ khâu phát hành GTCG đến giao dịch GTCGcũng như cơ sở để xác định mức độ can thiệp thị trường của NHNN. 2.1.2.2. Quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động củanghiệp vụ thị trường mở Sau một thời gian chuẩn bị, nghiệp vụ thị trường mở chính thức được NHNNkhai trương và đưa vào vận hành vào ngày 12/7/2000, đánh dấu một bước tiến quantrọng của NHNN trong việc chuyển sang điều hành CSTT bằng các công cụ giántiếp. Trong thời gian 5 năm triển khai thực hiện, NHNN cũng đã tiến hành sửa đổikịp thời các văn bản nhằm thúc đẩy sự hoạt động của thị trường như sửa đổi quychế hoạt động OMO vào các năm 2001, 2002, 2003 và 2004; quy chế lưu ký GTCGđược sửa đổi năm 2004, ... 2.1.2.2.1. Quy chế về nghiệp vụ thị trường mở Để tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai công cụ OMO tại Việt Nam, ngày09/3/2000, Thống đốc đã ban hành Quy chế hoạt động nghiệp vụ thị trường mở kèmtheo Quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN (gọi tắt là Quy chế 85). Theo đó, OMO lànghiệp vụ mua bán các GTCG ngắn hạn giữa một bên là NHNN với một bên là cácTCTD là thành viên của thị trường mở trên thị trường tiền tệ để thực hiện CSTTquốc gia. Các GTCG ngắn hạn được giao dịch ở thị trường mở bao gồm tín phiếukho bạc, tín phiếu NHNN và các loại GTCG ngắn hạn khác do Thống đốc quy định.Quy chế 85 cũng quy định về các giao dịch trên thị trường mở, phương thức giaoSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 40
  • 41. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếndịch, phương thức đấu thầu, điều kiện tham gia thị trường mở, các loại GTCG đượcgiao dịch thông qua thị trường mở, quy trình tham gia OMO. Tuy nhiên, việc quy định về hình thức giao dịch đấu thầu lãi suất, ngày thanhtoán, lãi suất mua hoặc bán, khối lượng mua hoặc bán ... tại Quy chế 85 chưa phùhợp nên NHNN đã tiếp tục sửa đổi, bổ sung bằng các Quyết định số 1439/2001/QĐ-NHNN ngày 20/11/2001 và Quyết định số 877/2002/QĐ-NHNN ngày 19/8/2002.Theo đó, “Đấu thầu lãi suất là việc xác định lãi suất trúng thầu của các TCTDtham gia OMO trên cơ sở lãi suất dự thầu của các TCTD và khối lượng GTCGNHNN cần mua hoặc bán.” và “Ngày thanh toán là ngày đấu thầu, các TCTD trúngthầu thực hiện giao, nhận GTCG và thanh toán với NHNN.”. Bên cạnh đó, NHNNcũng quy định thẩm quyền của “Ban điều hành OMO quyết định thông báo hoặckhông thông báo khối lượng GTCG NHNN cần mua hoặc cần bán trước mỗi phiênđấu thầu”trong phương thức đấu thầu lãi suất. Sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NHNN được ban hành,NHNN đã ban hành Quyết định số 1085/2003/QĐ-NHNN ngày 16/9/2003 và côngvăn số 1511/NHNN-TD ngày 28/12/2004 để sửa đổi, bổ sung một số quy định tạiQuy chế nghiệp vụ thị trường mở. Theo đó, “NHNN thực hiện OMO thông qua việcmua bán ngắn hạn tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và các loại GTCG khác vớiTCTD trên thị trường tiền tệ để thực hiện CSTT quốc gia.” Bên cạnh đó, cuối năm2005, Thống đốc ban hành Quyết định số 1909/QĐ-NHNN ngày 30/12/2005 chophép trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu Quỹ hỗ trợ phát triển đượcphép giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở. Chủng loại GTCG được giao dịchtrên thị trường mở cũng được mở rộng, ngoài những GTCG ngắn hạn như tín phiếukho bạc, tín phiếu NHNN còn bao gồm cả những GTCG dài hạn như trái phiếu khobạc, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán, công trái, trái phiếu côngtrình trung ương và các loại GTCG khác do Thống đốc quy định. Ngoài ra, NHNNcũng đã sửa đổi các quy định liên quan đến thời gian thực hiện nghiệp vụ, các mẫubiểu đi kèm … nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các TCTD khi tham gia thịtrường mở. Để khắc phục những hạn chế và tiến dần tới chuẩn hóa các quy định của Ngânhàng Nhà nước trong các giao dịch liên quan đến GTCG, Thống đốc đã ban hànhQuyết định số 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 về ban hành Quy chế nghiệpvụ thị trường mở, thay thế tất cả các quy định trước đó.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 41
  • 42. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến 2.1.2.2.2. Quy chế quản lý vốn khả dụng Để quyết định việc “bơm”, “hút” tiền qua thị trường mở, NHNN cần phải căncứ vào thực trạng vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng. Vì vậy việc quản lý và dựbáo vốn khả dụng nhằm phục vụ cho điều hành CSTT là hết sức cần thiết. Theo Quy chế quản lý vốn khả dụng kèm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-NHNN ngày 24/01/2000 của Thống đốc, vốn khả dụng là số tiền gửi của các TCTD(gồm tiền gửi DTBB, tiền gửi thanh toán và các loại tiền gửi khác) tại NHNN. Trêncơ sở tính toán, phân tích và dự báo sự thay đổi về vốn khả dụng, NHNN sẽ xácđịnh mức vốn khả dụng cần duy trì của các TCTD để đảm bảo thực hiện CSTT, từđó đưa ra các giải pháp để can thiệp đến vốn khả dụng của các TCTD thông qua cáccông cụ CSTT. NHNN dự báo vốn khả dụng của các TCTD trên cơ sở xác định các nhân tốảnh hưởng đến vốn khả dụng, như: cung cầu ngoại tệ trên thị trường tiền tệ và sựcan thiệp của NHNN; diễn biến thu chi ngân sách nhà nước; doanh số phát hành vàthu hồi tiền mặt của NHNN; nhu cầu vay và khả năng huy động vốn của cácNTHM, … Kết quả dự báo vốn khả dụng của các TCTD được sử dụng làm cơ sởthực hiện OMO và dự đoán cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ để điều hành CSTT. Như vậy, việc tính toán và dự báo diễn biến vốn khả dụng là cơ sở cho việcđiều hành OMO nói riêng và CSTT nói chung của NHNN. 2.1.3. Bộ máy tổ chức điều hành nghiệp vụ thị trường mở Để tổ chức và điều hành OMO, NHNN cũng đã hình thành được một bộ máytổ chức và triển khai hoạt động thị trường mở tại NHNN bao gồm Ban điều hànhOMO do một Phó Thống đốc làm trưởng ban. Bên cạnh đó, một số bộ phận tại cácVụ Cục cũng được thiết lập và hoàn thiện nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực vềcon người, trang thiết bị để xây dựng và hoàn thiện hoạt động thị trường mở. 2.1.3.1. Ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở Ban điều hành OMO trực tiếp chỉ đạo điều hành toàn bộ hoạt động OMO tạiViệt Nam. Trưởng ban điều hành là 1 Phó Thống đốc. Ban điều hành có 1 phótrưởng ban thường trực là Vụ trưởng Vụ CSTT, 1 phó trưởng ban là Giám đốc Sởgiao dịch NHNN. Các uỷ viên Ban điều hành OMO là đại diện lãnh đạo các Vụ Tíndụng, Vụ Quản lý ngoại hối và Sở Giao dịch. Thư ký ban là chuyên viên của VụCSTT và Sở giao dịch. Mọi vấn đề từ chủ trương định hướng đến các quyết định cụ thể trong từngphiên hay các sáng kiến cải tiến cơ chế, quy chế, quy trình kỹ thuật đều được Banđiều hành bàn bạc tập thể và Trưởng ban quyết định trên cơ sở các ý kiến đã thốngnhất. Việc điều hành OMO đã ngày càng mang tính thị trường, các quyết định muaSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 42
  • 43. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnvà bán GTCG với các phương án đấu thầu, xét thầu cụ thể đối với từng phiên đềuđược Ban điều hành cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở xem xét tình hình vốn khả dụngcủa hệ thống các TCTD, xu hướng lãi suất thị trường và mục tiêu điều hành CSTTcủa NHNN. Bên cạnh việc chỉ đạo sát sao các Vụ, Cục liên quan chủ động nghiên cứu đổimới cơ chế, quy chế về OMO, Ban điều hành đã tổ chức một số đợt tập huấn, hộinghị sơ kết hàng năm để hướng dẫn các văn bản mới, tiếp thu kịp thời các kiếnnghị, đề xuất góp phần hoàn thiện công cụ OMO. Đồng thời thông qua một số đợtkhảo sát trong nước và nước ngoài, Ban điều hành đã kịp thời có các đề xuất về đổimới hoạt động OMO, phát triển các nghiệp vụ thị trường tiền tệ và việc điều hànhCSTT của NHNN nói chung. 2.1.3.2. Các phòng, bộ phận liên quan Để triển khai những nghiệp vụ mới phục vụ cho OMO, một số bộ phận tại cácVụ, Cục của NHNN đã được thiết lập và hoàn thiện. 2.1.3.2.1. Bộ phận quản lý vốn khả dụng thuộc Vụ Chính sách tiền tệ Xây dựng và hoàn thiện Quy chế quản lý vốn khả dụng; trực tiếp thu thập cácthông tin để dự báo sự biến động về vốn khả dụng trên thị trường, đề xuất với Banđiều hành về định hướng hoạt động OMO, cũng như khối lượng, lãi suất và phươngthức giao dịch của từng phiên đấu thầu, qua đó hỗ trợ đắc lực cho Ban điều hànhđưa ra những quyết sách phù hợp. 2.1.3.2.2. Phòng Nghiệp vụ thị trường tiền tệ thuộc Sở Giao dịch Xây dựng các quy trình thực hiện OMO, trực tiếp thực hiện các quy trình thủtục đấu thầu, xét thầu theo quyết định của Ban điều hành. 2.1.3.2.3. Phòng Thị trường tiền tệ và bảo lãnh thuộc Vụ Tín dụng Thực hiện xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, quy chế cho hoạt động OMO vàcác thị trường tiền tệ liên quan. 2.1.3.2.4. Một số phòng ban khác - Phòng Kế toán, Phòng Thanh toán điện tử liên ngân hàng, Phòng Ngân quỹ… tại Sở Giao dịch thực hiện các nghiệp vụ hạch toán, thanh toán, lưu ký GTCG … - Phòng Kỹ thuật I, Phòng Kỹ thuật II, Phòng Quản lý thông tin thuộc CụcCông nghệ tin học ngân hàng thực hiện thiết kế cài đặt chương trình phần mềm ứngdụng, trang bị phần cứng, đường truyền kết nối, xử lý các vấn đề kỹ thuật trong việcthực hiện OMO qua mạng máy tính. 2.1.4. Các thành viên tham gia thị trường mở Các thành viên tham gia thị trường mở tại Việt Nam bao gồm NHNN và cácTCTD có đủ điều kiện theo quy định của NHNN.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 43
  • 44. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến 2.1.4.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam NHNN tham gia thị trường mở với tư cách vừa là người tổ chức và điều hànhthị trường mở vừa là thành viên. NHNN là cơ quan xem xét và chứng nhận tư cáchthành viên cho các TCTD đủ điều kiện. 2.1.4.2. Các đối tác của Ngân hàng nhà nước Việt Nam Theo quy định hiện hành về OMO, thành viên tham gia OMO chỉ là cácTCTD thành lập và hoạt động theo Luật các TCTD và có đủ các điều kiện sau: (i)Có tài khoản tiền gửi tại NHNN, (ii) Có đủ phương tiện cần thiết để tham gia OMO,và (iii) Có đăng ký tham gia OMO. Trong điều kiện (ii), đòi hỏi các TCTD phải có đầu tư cơ sở vật chất ban đầuđể tham gia giao dịch trên thị trường mở như máy tính để giao dịch, nối mạng vớiSở giao dịch NHNN, chương trình phần mềm giao dịch … Đối với các TCTD cóquy mô lớn thì có thể đầu tư các thiết bị mạng theo kỹ thuật tiên tiến để giao dịch.Đối với những TCTD có quy mô nhỏ thì có thể giao dịch với NHNN thông qua việctruyền file với chi phí thấp. Khi OMO bắt đầu hoạt động vào tháng 7/2000, có 20 TCTD được công nhậnlà thành viên tham gia OMO. Số lượng thành viên thị trường mở tăng dần qua cácnăm, nhưng với tốc độ chậm, chỉ 1-2 thành viên mỗi năm. Đến ngày 31/12/2005 đãcó 29 TCTD được công nhận là thành viên tham gia OMO, gồm 05 NHTMNN, 14NHTMCP, 07 chi nhánh NHNg, 01 ngân hàng liên doanh, 01 công ty tài chính vàQuỹ Tín dụng nhân dân trung ương. Đây có thể coi là những thành viên năng độngnhất trên thị trường tiền tệ, góp phần quan trọng vào việc điều hoà vốn cho thịtrường, truyền dẫn vốn từ NHTW đến các TCTD thiếu vốn nhưng không có đủ cácđiều kiện để tham gia OMO. Bảng 2.1. Số lượng thành viên thị trường mở qua các năm Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Số lượng thành viên Năm Năm Năm Năm Năm Năm OMO 2000 2001 2002 2003 2004 2005 1. NHNN 1 1 1 1 1 1 2. NHTM nhà nước 4 4 4 5 5 5 3. NHTM cổ phần 9 10 10 11 13 14 4. NH nước ngoài 4 4 5 5 6 7 5. NH liên doanh 1 1 1 1 1 1 6. TCTD phi ngân hàng 1 1 1 1 1 1 7. Quỹ TDNDTW 1 1 1 1 1 1 Tổng 21 22 23 25 28 30 Như vậy, hiện nay chỉ có các TCTD mới có thể là thành viên thị trường mở.Quy định về điều kiện thành viên OMO hiện nay là phù hợp với giai đoạn phát triểnSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 44
  • 45. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnđầu của thị trường mở tại Việt Nam, điều kiện phát triển của thị trường tiền tệ ViệtNam và năng lực quản lý điều hành của NHNN. 2.1.5. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở Khi thị trường mở bắt đầu hoạt động vào tháng 7/2000, các loại GTCG đượcgiao dịch trên thị trường mở là tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và các loạiGTCG ngắn hạn khác do Thống đốc quy định cụ thể trong từng thời kỳ. Đây lànhững GTCG có tính an toàn rất cao và hầu như không bị rủi ro. Để có thể giao dịchđược trên thị trường mở, các GTCG này phải thoả mãn các điều kiện sau: (i) Có thểgiao dịch được; (ii) Được phát hành bằng đồng Việt Nam; (iii) Đã đăng ký tạiNHNN theo quy định và (iv) GTCG được mua, bán hẳn phải có thời hạn còn lại tốiđa là 90 ngày. Các quy định về GTCG như trên là rất chặt chẽ nhằm hạn chế tối đacác rủi ro trên thị trường mở. Điều này phù hợp với thời kỳ phát triển ban đầu củathị trường mở tại Việt Nam. Để phù hợp với quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtNHNN, NHNN đã bổ sung các GTCG được giao dịch trên thị trường mở. Theo đó,các loại GTCG dài hạn như trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư do ngân sách trungương thanh toán, công trái, trái phiếu công trình trung ương đã được chấp thuậngiao dịch. Hàng hoá giao dịch của thị trường mở lúc này bao gồm tín phiếu khobạc, tín phiếu NHNN, trái phiếu kho bạc, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ươngthanh toán, công trái, trái phiếu công trình trung ương và các loại GTCG khác doThống đốc quy định. Việc mở rộng các loại GTCG được chấp thuận giao dịch đãtạo điều kiện thúc đẩy hoạt động của thị trường mở sôi động hơn và khối lượng muabán GTCG nhiều hơn. Nhìn chung, các loại hàng hoá (GTCG) giao dịch trên thị trường mở được "lựachọn" cẩn thận nhằm đảm bảo độ an toàn và tính thanh khoản cao. Hiện nay chỉ cácGTCG do ngân sách trung ương hoặc NHNN thanh toán mới được giao dịch trên thịtrường mở. Bất kỳ một loại GTCG nào khác, kể cả chứng chỉ tiền gửi hay GTCG doTCTD, chính quyền địa phương phát hành, đều chưa được giao dịch. 2.1.6. Phương thức giao dịch trên thị trường mở 2.1.6.1. Phương thức mua bán Giao dịch OMO giữa NHNN và các thành viên được thực hiện theo 2 phươngthức sau:SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 45
  • 46. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến 2.1.6.1.1. Giao dịch mua và bán hẳn: NHNN sẽ mua hoặc bán các GTCGvới toàn bộ thời hạn còn lại của chúng. Sau khi giao dịch, quyền sở hữu GTCG sẽđược chuyển giao từ bên bán sang bên mua và không kèm thoả thuận mua bán lạicác GTCG. 2.1.6.1.2. Giao dịch bán và cam kết mua lại (giao dịch có kỳ hạn) đượcNHNN thực hiện như sau: - Trường hợp NHNN bán các GTCG mà mình đang nắm giữ cho các thànhviên kèm theo một cam kết sẽ mua lại các GTCG này sau một thời gian nhất định.Đến thời hạn NHNN sẽ mua lại GTCG và thanh toán tiền mua cho các TCTD. - Ngược lại, các thành viên bán GTCG cho NHNN kèm theo cam kết sẽ mualại GTCG này sau một thời gian nhất định. Đến thời hạn các thành viên sẽ mua lạicác GTCG và thanh toán tiền mua cho NHNN. Như vậy, quyền sở hữu GTCG tạm thời chuyển giao giữa NHNN và cácTCTD thành viên trong một thời gian nhất định. Thực chất đây là một hình thức tíndụng giữa NHNN và các TCTD có bảo đảm bằng GTCG. 2.1.6.2. Phương thức đấu thầu Các giao dịch mua bán trong OMO giữa NHNN và các thành viên đều đượcthực hiện thông qua hình thức đấu thầu. Việc tổ chức đấu thầu các giao dịch trên thịtrường mở thể hiện rõ tính thị trường trong quan hệ giữa NHNN và các TCTD.NHNN áp dụng 2 hình thức đấu thầu sau: 2.1.6.2.1. Đấu thầu khối lượng Khi thực hiện đấu thầu khối lượng, việc mua bán GTCG thực hiện như sau: Thứ nhất, NHNN sẽ thông báo khối lượng và lãi suất các loại GTCG cần muacần bán cho các thành viên thị trường mở. Thứ hai, Các thành viên đặt thầu khối lượng các loại GTCG cần mua hoặccần bán theo lãi suất do NHNN thông báo. Thứ ba, NHNN xét thầu và phân bổ khối lượng trúng thầu theo nguyên tắc: - Trường hợp khối lượng dự thầu của các thành viên nhỏ hơn hoặc bằng khốilượng NHNN cần mua hoặc bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên làkhối lượng mà các thành viên đó đặt thầu. - Trường hợp khối lượng dự thầu của các thành viên lớn hơn khối lượngNHNN cần mua hoặc bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên được phânbổ tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các thành viên đó và được làm tròn đến10 triệu đồng. 2.1.6.2.2. Đấu thầu lãi suất Khi thực hiện đấu thầu lãi suất, việc mua bán GTCG thực hiện như sau:SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 46
  • 47. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Thứ nhất, Ban điều hành OMO sẽ dự kiến khối lượng GTCG cần mua/bántrong phiên đấu thầu. Khối lượng dự kiến cần mua/bán có thể thông báo hoặc khôngthông báo trước mỗi phiên đấu thầu cho các thành viên tham gia dự thầu. Thứ hai, TCTD dự thầu theo các mức lãi suất và khối lượng GTCG cầnmua/bán ứng với các mức lãi suất đó. Lãi suất đặt thầu được tính theo tỷ lệ %/năm. Thứ ba, NHNN tổ chức xét thầu theo các bước và nguyên tắc sau: - Các mức đặt thầu được xếp theo thứ tự lãi suất giảm dần (trường hợp NHNNmua GTCG) và theo thứ tự tăng dần (trường hợp NHNN bán GTCG). - Lãi suất trúng thầu là lãi suất đặt thầu thấp nhất (trường hợp NHNN muaGTCG) hoặc lãi suất đặt thầu cao nhất (trường hợp NHNN bán GTCG). - Khối lượng trúng thầu của thành viên là khối lượng của các mức dự thầu cólãi suất bằng hoặc cao hơn mức lãi suất trúng thầu (trường hợp NHNN mua) hoặccó lãi suất bằng hoặc thấp hơn lãi suất trúng thầu (trường hợp NHNN bán). - Trường hợp tại mức lãi suất trúng thầu, tổng khối lượng đặt thầu của cácTCTD vượt quá khối lượng GTCG mà NHNN cần mua/bán thì khối lượng GTCGtrúng thầu của các TCTD tại mức lãi suất trúng thầu được tính theo tỷ lệ thuận vớikhối lượng đặt thầu của TCTD tại mức lãi suất đó và được làm tròn đến 10 triệuđồng. Nếu tại mức lãi suất trúng thầu, TCTD có nhiều loại GTCG cần mua/bán thìNHNN xét thầu xác định theo thứ tự ưu tiên như sau: + GTCG đăng ký bán hoặc mua có khối lượng lớn hơn, + GTCG có thời hạn bán hoặc mua ngắn hơn (trường hợp mua hoặc bán hẳn), + Thời hạn còn lại của GTCG ngắn hơn. Để xác định lãi suất áp dụng từng mức trúng thầu cho TCTD sau khi đã xácđịnh được khối lượng trúng thầu, NHNN áp dụng 2 phương pháp xác định lãi suấtnhư sau: - Phương pháp tính lãi suất trúng thầu theo lãi suất thống nhất (phương phápHà Lan): Toàn bộ khối lượng GTCG trúng thầu được tính thống nhất theo mức lãisuất trúng thầu. - Phương pháp tính lãi suất trúng thầu theo lãi suất riêng lẻ (phương phápMỹ): Từng mức khối lượng trúng thầu được tính tương ứng với mức lãi suất TCTDđặt thầu. TCTD dự thầu ở mức lãi nào thì khi trúng thầu ở mức lãi suất đó sẽ đượcáp dụng để tính giá mua bán GTCG. 2.2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦANGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 ĐẾN NĂM 2011. Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, NHNN tiến hành đưa công cụ OMO vào hoạtđộng. Đây là một bước tiến mới trong điều hành CSTT của NHNN theo hướng từSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 47
  • 48. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnsử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ gián tiếp, để phù hợp với thông lệquốc tế và sự phát triển của đất nước. Nó đã mở ra một kênh cung ứng và điều tiếtvốn khả dụng của các TCTD cho NHNN và tạo điều kiện cho các TCTD sử dụnglinh hoạt các loại GTCG của mình. Công cụ OMO liên tục được NHNN cải tiếntrong những năm qua và dần trở thành một công cụ CSTT chủ yếu của NHNN. Phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thực hiện các nghị quyết của Chính phủ,trong khoảng thời gian gần 5 năm qua, từ năm 2007 đến năm 2011, Ngân hàng Nhànước (NHNN) đã có những biện pháp khá linh hoạt trong điều hành chính sách tiềntệ (CSTT) từ “thắt chặt” cho đến “nới lỏng” trong khoảng thời gian 2007 - 2008nhằm giảm thiểu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Sau đó, CSTTđược chuyển sang thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát, từ tháng 11/2010 đến nay,được tiếp tục điều hành theo hướng thắt chặt, thận trọng. Trong Báo cáo tình hìnhkinh tế - xã hội năm 2011 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, Thủtướng Chính phủ đã kết luận mục tiêu phát triển của năm 2012 là: Về chỉ tiêu lạmphát: phấn đấu kiềm chế lạm phát dưới 10%.Về chỉ tiêu tăng tổng sản phẩm trongnước (GDP): tăng GDP khoảng 6 - 6,5%. Để chủ động ứng phó với diễn biến phứctạp của tình hình và tập trung cho nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ đềnghị điều hành theo phương án tăng trưởng khoảng 6%, khi có điều kiện thuận lợisẽ phấn đấu để đạt mức 6,5%. Về bội chi ngân sách nhà nước và nợ công: bội chingân sách nhà nước bằng 4,8% GDP. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012 dự kiếntăng khoảng 12 - 13% so với năm 2011; nhập siêu 11,5 - 12% tổng kim ngạch xuấtkhẩu.- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội: Năm 2012 bằng khoảng 33,5 - 34%GDP. Để thực hiện các mục tiêu trên NHNN đã có hàng loạt các biện pháp quyếtliệt và đúng đắn để ngăn ngừa suy thoái kinh tế và dần lấy lại đà phục hồi cho nềnkinh tế Việt Nam trong giai đoạn giảm thiểu tác động của khủng hoảng tài chính thếgiới, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội, tăng trưởng kinh tế bền vững tronggiai đoạn hiện nay. Đối với riêng năm 2011, thực hiện Nghi quyết 11 của Chínhphủ, NHNN đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%; tổng phươngtiện thanh toán khoảng 15 16%; ưu tiên vốn tín dụng cho phát triển sản xuất, kinhdoanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ vàvừa. Cùng với đó, NHNN điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiềntệ để đảm bảo kiềm chế lạm phát, trong đó đặc biệt là nghiệp vụ thị trường mở đãđược sử dụng khá có hiệu quả để đảm bảo mục tiêu thực hiện chính sách, trực tiếplà lãi suất, thanh khoản cho các TCTD và cho nền kinh tế,...SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 48
  • 49. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến 2.2.1. Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở Thống kê từ đầu năm nay đến hết tháng 3/2011, NHNN đã bơm ra thị trườngmở 1.285.146 tỷ đồng, trong khi hút về 1.202.214,1 tỷ đồng. Như vậy, mức bơmròng đạt 82.931,9 tỷ đồng. Số liệu cụ thể được thể hiện tổng hợp qua bảng dướiđây: (Xem bảng 1). Qua bảng 1 cho thấy trong tháng 4/2011, NHNN cũng đã bơm ra thị trườngmở 519.695,7 tỷ đồng và hút về 453.002,7 tỷ đồng. Mức bơm ròng là 66.693 tỷđồng. Trong 2 tuần đầu tháng 4/2011 (từ 4/4 đến 15/4), sau khi nâng lãi suất thịtrường mở từ 12% lên 13%, NHNN liên tục bơm tiền qua thị trường này nhưng vớikhối lượng dè chừng. Nhu cầu vay trên thị trường mở vẫn lớn khi tỷ lệ đăng kí/chào thầu ở mức gần 230%. Bảng 2.2: Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng đầu năm 2011 Đơn vị tính: Tỷ đồngSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 49
  • 50. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Tháng Cung ứng Hút về Cung ứng ròng 1 501.749 345.483 156.266 2 314.493 345.338,8 -30.845,8 3 468.904 511.392,3 -42.488,3 4 519.695,7 453.002,7 66.693 5 353.381,9 425.139,5 - 71.757,6 6 141.838,4 206.649,7 - 64.811,3 Tổng 2.300.062 2.287.006 13.056 (Nguồn: Ngân hàng Nhà nước) Trong tháng 5/2011, NHNN đã hút ròng khoảng 71.757,6 tỷ đồng.Việchút ròng trên thị trường mở ngoài thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát như bìnhthường, còn để trung hòa một khối lượng lớn tiền mà NHNN đã bỏ ra mua khoảngtrên 2 tỷ USD bổ sung cho quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Cụ thể, chỉ riêng trongkhoảng thời gian cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2011, thông qua mua thêm 1 tỷ USDbổ sung quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia. Về mặt lý thuyết, NHNN đã cung ứng thêmra lưu thông gần 21.000 tỷ đồng. Việc trung hòa, hay hút bớt tiền từ lưu thông vềsau khi cung ứng ra mua ngoại tệ được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau, nhưngchủ lực vẫn là thị trường mở. NHNN tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ với quyết tâm kiềm chế lạm phát,thể hiện đó là trong tháng 6/2011, NHNN bơm 141.838,4 tỷ đồng và hút về206.649,7 tỷ đồng, như vậy, NHNN đã hút ròng 64.811,3 tỷ đồng qua kênh ngiệpvụ thị trường mở. Điều đáng chú ý tuần thứ 2 từ 6/6 đến 10/6, NHNN hút ròng vềtới 20.334 tỷ đồng, mức cao nhất kể từ giữa tháng 2 đến nay. Như vậy, trong quý 2năm 2011, NHNN đã bơm ra thông qua nghiệp vụ thị trường mở: 1.014.916 tỷ đồngvà hút về: 1.084.791,9 tỷ đồng, NHNN đã hút ròng 69.875,9 tỷ đồng. Tổng hợp 6tháng đầu năm 2011, NHNN đã bơm ra thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở là2.300.062 tỷ đồng, hút về 2.287.006 tỷ đồng, mức bơm ròng là 13.056 tỷ đồng.Tính từ 4/5 đến hết 1/7 /2011, NHNN đã có 9 tuần hút ròng liên tục trên OMO vớisố tiền lên đến 482.165,5 tỷ đồng. Biểu đồ 2.1 cho thấy rõ vấn đề này.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 50
  • 51. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Biểu đồ 2.1: Lượng tiền NHNN hút ròng 9 tuần liên tục 4/5 đến hết 1/7 /2011 (tỷ đồng) (Nguồn: NHNN) Với quy mô, doanh số và tính linh hoạt trong hoạt động của thị trường mở nhưnói trên, nên tính đến cuối tháng 6/2011, nhìn chung, thanh khoản hệ thống ngânhàng vẫn trong trạng thái ổn định và khá dồi dào. Thanh khoản ngân hàng tốt là mộtcơ sở để giảm lãi suất, tuy vậy, muốn lãi suất có thể thực sự giảm thì cần tín hiệu rõràng của giảm lạm phát. Qua bảng 2 cho thấy từ năm 2008, NHNN đã bơm ròng 100.685 tỷ đồng;năm 2009, cũng bơm ròng tới 122.830 tỷ đồng; năm 2010, bơm ròng 294.304 tỷđồng, trong khi đó, 6 tháng đầu năm 2011, chỉ bơm ròng 13.056 tỷ đồng. Điều nàythể hiện NHNN quyết tâm thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhằm mục đíchkiềm chế lạm phát. Bảng 2.3: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở Đơn vị tính: tỷ đồngSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 51
  • 52. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Biểu đồ 2.2: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở (đvt: tỷ đồng) Nguồn Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Nhìn vào biểu đồ 2 ta có thể thấy lượng tiền NHNN bơm ra giảm dần trong 6tháng đầu năm 2011. Lãi suất NVTTM (hay lãi suất OMO) tính đến hết tháng6/2011, vẫn được giữ nguyên ở mức 15%/năm. Việc thắt chặt tiền tệ thông qua hútròng trên nghiệp vụ thị trường mở của NHNN cùng các chính sách điều tiết vĩ môkhác đã có những kết quả bước đầu khi CPI tháng 6/2011 CPI tăng 1,09%, giảm sovới mức tăng 2,21% của tháng 5/2011 đã mang lại tín hiệu đáng mừng cho nền kinhtế. Bảng 2.4: Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm Đơn vị: tỷ đồngSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 52
  • 53. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Qua bảng số liệu 3 cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN đã thựchiện 241 phiên giao dịch mua có kỳ hạn. Để đảm bảo khả năng thanh khoản cho cácTCTD nên NHNN chỉ chào các phiên giao dịch mua có kỳ hạn và chủ yếu là kỳhạn ngắn, chỉ có 7 ngày và tất cả các phiên đều đấu thầu khối lượng. Các chủ thể tham gia thị trường trong 6 tháng đầu năm 2011cũng tăng mạnh,gần như các chủ thể đăng ký tham gia thị trường, nếu có đủ điều kiện đều được giaodịch và đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời. Các chủ thể tham gia gồm: 05 NHTM Nhànước, 32 NHTMCP, 01 ngân hàng liên doanh, 07 chi nhánh ngân hàng nước ngoài,04 công ty tài chính. Doanh số giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở liên tục tăng, năm sau caohơn năm trước theo cả hai chiều mua và bán. Năm 2008, tổng doanh số trúng thầulà 1.036.066 tỷ đồng, đến cuối năm 2010, tổng doanh số trúng thầu là 2.108.715 tỷđồng. Trong các hình thức giao dịch thị trường mở thì hình thức NHNN mua cácGTCG - “bơm” tiền ra là chủ yếu, có thời điểm là 100% trong tổng doanh số trúngthầu như 6 tháng đầu năm 2009 và năm 2010. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2011,NHNN lại “hút” là chủ yếu, (tháng 5 và 6); NHNN chỉ bơm ra khoảng 13.056 tỷđồng. Điều này cho thấy thị trường mở là một “kênh” cung ứng hoặc thu hút tiền vềquan trọng của NHNN nhằm thực hiện mục tiêu của CSTT. Khối lượng giao dịchtrong từng phiên cũng ngày càng tăng từ bình quân 2.577 tỷ đồng/phiên năm 2008lên 3.240 tỷ đồng/phiên năm 2010 và 9.544 tỷ đồng/phiên năm 2011. Trong năm2008, trước những biến động bất thường của thị trường, nhằm đáp ứng khả năngthanh toán cho các TCTD doanh số giao dịch có phiên là 10.000 15.000 tỷ đồng,sang năm 2010, gần đến thời điểm cuối năm, doanh số giao dịch, có phiên là 20.000tỷ đồng, những tháng đầu năm 2011, có phiên giao dịch lên đến 25.000 tỷ đồng.Như vậy, khi các TCTD thiếu hụt nghiêm trọng vốn khả dụng thì thị trường mởthực sự là “phao” hỗ trợ cho các TCTD này, bảo đảm khả năng thanh toán cho cácTCTD trong trường hợp thị trường có những biến động đột xuất. Điều này đã gópphần ổn định thị trường tiền tệ ngay tức thì, đáp ứng yêu cầu điều tiết vốn khả dụngcủa các thành viên tham gia thị trường mở.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 53
  • 54. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Biểu đồ 2.3 : Bơm ròng trên thị trường mở năm 2011 theo tháng (tỷ đồng) Sang tháng 8 năm 2011, NHNN thực hiện bơm – hút cân bằng trên thị trườngmở. Mỗi ngày chỉ có 1 phiên, vừa bơm vừa hút trung bình 1000 tỷ đồng. Thị trườngmở không còn là kênh huy động vốn ngắn hạn của các NHTM giữ giấy tờ có giá.Trong tháng Chín, việc NHNN liên tục bơm ròng trên thị trường mở đồng thời kéodài kỳ hạn lên gấp đôi được xem như biện pháp hỗ trợ thanh khoản cho các NHTMsau khi phải hạ lãi suất huy động. Kết quả là khoảng 28 ngàn tỉ đồng đã được bơmròng qua OMO trong tháng 9.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 54
  • 55. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Biểu đồ 2.4: Số dư trên thị trường mở năm 2011 và đầu năm 2012 (Nguồn: Vietcombank) Trong tháng đầu năm 2012, NHNN đã kiểm soát lượng cung tiền M2 với mứctăng chỉ 0,74% so với cuối năm 2011, trong khi đây luôn là tháng có nhu cầu cao vềtiền mặt. Trên thị trường mở, sau khi bơm ròng hơn 83 nghìn tỷ đồng vào hệ thốngngân hàng trong tháng 1 nhằm tăng tính thanh khoản cho các ngân hàng trong dịpTết, qua đó khiến số dư trên thị trường này tăng lên tới hơn 145 nghìn tỷ đồng. Trong gần 3 năm trở lại đây, NHNN chủ yếu thực hiện đấu thầu khối lượngvới khối lượng được công bố trước trong những phiên chào mua. Khối lượng giaodịch bình quân trong từng phiên tăng dần trong các năm chứng tỏ nghiệp vụ thịtrường mở ngày càng đóng vai trò quan trọng tác động đến tổng lượng tiền trongnền kinh tế (M2). Lãi suất trên thị trường mở cũng có nhiều biến động: nếu năm 2008, mua cókỳ hạn 7 ngày lãi suất bình quân là 12,82%/năm, 14 ngày là 13,12%/năm, thì năm2009, đã giảm xuống tương ứng là 7,23%/năm và 7,51%/năm và năm 2010 tươngứng 8,35%/năm và 7,69%/năm. Trong tháng 1/2011, lãi suất mua có kỳ hạn 7 ngàyđã tăng lên 10%/năm, từ ngày 22/2, tăng lên 12%, 1/4 là 13%, ngày 4/5, đã đượcđẩy lên mức 14%/năm, không dừng ở đó, ngày 17/5, NHNN đã nâng lãi suất trênthị trường mở lên 15%. Đây là lần thứ 8, NHNN điều chỉnh mức lãi suất trên thịtrường mở kể từ tháng 1/2010. Từ ngày 4/7/2011, lãi suất trên nghiệp vụ thị trườngmở đã giảm nhẹ xuống 14%/năm. Điều này cho thấy năm 2008 và 2011 nền kinh tếcó lạm phát cao, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến tình hìnhthanh khoản của các NHTM khó khăn, đặc biệt là các NHTM cổ phần quy mô nhỏ.Trước diễn biến đó, NHNN sử dụng linh hoạt thị trường mở, kết hợp với cho vay táicấp vốn để hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM có khó khăn về thanh khoản.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 55
  • 56. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến Như vậy, tất cả những sự điều chỉnh trên đều cho thấy quyết tâm kiềm chế lạmphát mà hiện nay đang được Chính phủ đang ưu tiên hàng đầu. Có thể nói, trongnăm 2011, NHNN đã sử dụng linh hoạt, thận trọng, có hiệu quả các công cụ CSTTtrong đó có nghiệp vụ thị trường mở, phục vụ tốt mục tiêu điều hành chính sách tiềntệ của mình. 2.3.2 Đánh giá tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 2.3.2.1 Kết quả đạt được: Thứ nhất, trong năm 2011 nói riêng và giai đoạn 2008- 2011 nói chung,NHNN điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả công cụ nghiệp vụ thị trường mở.cùng với các công cụ chính sách tiền tệ khác, bước đầu đã kiềm chế lạm phát vàthực hiện có hiệu quả các mục tiêu khác của CSTT. Lượng tiền cung ứng và rút vềcủa thị trường mở có sự phối hợp chặt chẽ với các công cụ khác của CSTT nhằmphát tín hiệu điều hành CSTT. Cùng với thị trường mở, NHNN vẫn duy trì các côngcụ khác của CSTT như chính sách tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc. Do vậy, trong cácthời điểm cụ thể, thị trường mở được điều hành linh hoạt, góp phần tạo sự phối hợpchặt chẽ với các công cụ CSTT khác nhằm đạt được mục tiêu CSTT. Thứ hai, qua nghiệp vụ thị trường mở; NHNN đã điều tiết linh hoạt vốn khảdụng cho các TCTD. Nghiệp vụ thị trường mở có vai trò quan trọng trong việc điều tiết cung cầu vềvốn ngắn hạn cho các TCTD nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,đời sống của các chủ thể trong nền kinh tế. Có thể nhận thấy nghiệp vụ thị trườngmở Việt Nam đã góp phần nhất định trong quá trình phát triển kinh tế đất nước,nhất là trong điều kiện hiện nay. Sau khi thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và Nghị quyết11 của Chính phủ, kết quả ban đầu đạt được rất khả quan. Tăng trưởng tín dụngđang đi đúng với mục tiêu đề ra. Đặc biệt, trong điều kiện phải thực hiện mục tiêukiềm chế lạm phát thì tín dụng đã được tập trung ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất.Riêng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu tăng trưởng tín dụng đã đạt 25%(trong khi tăng chung chỉ là 6,92%). Đối với khu vực phi sản xuất, nếu như cuốinăm 2010, tỷ trọng tín dụng chiếm 18,87% thì đến cuối năm 2011, chỉ còn chiếm16,91%. Rõ ràng, kết quả thực hiện nhiệm vụ đang đi đúng hướng theo mục tiêuđiều hành của Chính phủ và NHNN. Thứ ba, sự thay đổi lãi suất nghiệp vụ thị trường mở làm tăng khả năng điềutiết lãi suất thị trường của NHNN Việt Nam Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở sẽ tác động đến lượng tiền cung ứng, từ đótác động đến lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường mở được điều hành linh hoạtSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 56
  • 57. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếntrong khoảng giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu để định hướng lãi suấtthị trường, phát tín hiệu về quan điểm điều hành CSTT trong từng thời kỳ thể hiệnrõ vai trò của lãi suất thị trường mở trong việc hỗ trợ NHNN điều tiết lãi suất thịtrường. Sự thay đổi lãi suất nghiệp vụ thị trường mở trong năm 2011 thể hiện sự bámsát lãi suất thị trường và vận động cùng chiều, phối hợp chặt chẽ giữa lãi suất cơbản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất thị trường mở, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất chiếtkhấu là cơ sở để các chủ thể trong nền kinh tế đưa ra quyết định đầu tư, sản xuấtkinh doanh phù hợp... Thứ tư, công tác dự báo vốn khả dụng của NHNN đã có nhiều cải thiện, kếtquả dự báo trong kì dự báo là 1 tháng không có nhiều sai lệch về tổng thể, nhưngtrong dự báo biến động hàng ngày còn nhiều sai số. Tuy nhiên, do việc thực hiệnchào mua được thực hiện 2 phiên một ngày, nên việc chỉnh sửa sai lệch dự báođược tiến hành nhanh chóng. Thứ năm, các chủ thể tham gia nghiệp vụ thị trường mở đã tăng lên về sốlượng và đa dạng về loại hình, xuất phát từ nhu cầu vốn khả dụng năm 2011 và cácđiều kiện tham gia thị trường của các TCTD, cho thấy các TCTD có đủ điều kiện đãtham gia và đều có khả năng trúng thầu. Điều này càng khuyến khích các TCTDnắm giữ GTCG và tăng tính cạnh tranh trên thị trường. 2.3.2.2 Một số hạn chế Thứ nhất: NHNN còn gặp nhiều khó khăn trong điều hành nghiệp vụ thịtrường mở nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng, điều này ảnh hưởng bởi: Hoạtđộng nghiệp vụ thị trường mở không mang tính bắt buộc, vì vậy, số lượng thànhviên tham gia thị trường mỗi phiên cũng khiêm tốn: hai năm 2008 - 2009 khoảng 50- 60% các TCTD được công nhận là thành viên thị trường mở; năm 2010, các thànhviên tham gia tích cực hơn, có phiên số lượng thành viên tham gia là 40; năm 2011,các thành viên tham gia cao nhất trong một phiên đã lên tới 44 thành viên. Thứ hai: Chính sách tiền tệ đa mục tiêu kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăngtrưởng kinh tế, do vậy, việc bơm tiền qua nghiệp vụ thị trường mở vẫn phải nằmtrong chỉ tiêu lượng tiền cung ứng tăng thêm được Chính phủ phê duyệt. Do đó,phần nào làm giảm tính chủ động trong điều hành nghiệp vụ thị trường mở củaNHNN Việt Nam. Thứ ba: Dự báo cung - cầu vốn khả dụng của NHNN đôi khi chưa thật chínhxác. Sai số trong dự báo thường không đồng đều nên khó khắc phục. Các dự báo cóthời gian trên 1 tháng tuy đã được thực hiện, nhưng không thường xuyên và chỉmang tính dự báo về xu hướng và ước đoán theo dãy số liệu lịch sử và NHNN chưaSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 57
  • 58. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếncó hệ thống theo dõi kịp thời, đầy đủ. Thư tư: Khả năng hỗ trợ vốn khả dụng chưa đáp ứng được yêu của tất cả cácTCTD tham gia thị trường. Thực tế năm 2011, đã có 49 thành viên tham gia thịtrường, song tham gia giao dịch thường xuyên chủ yếu là các TCTD có quy mô lớnvới ưu thế về điều kiện giao dịch. Các TCTD quy mô nhỏ hoặc chưa quan tâm, hoặcđiều kiện tham gia thị trường yếu nên không thường xuyên tham gia thị trường. Dovậy, khi thiếu vốn khả dụng tạm thời họ phải vay trên thị trường tiền tệ liên ngânhàng với lãi suất cao, từ đó gây xáo trộn trên thị trường tiền tệ. Còn nhiều bất cậptrong việc điều hành lãi suất nghiệp vụ thị trường mở. Thời gian qua, NHNN Việt Nam đã điều hành linh hoạt lãi suất nghiệp vụ thịtrường mở gắn với lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu để định hướng lãi suấtthị trường, phát tín hiệu trong điều hành chính sách tiền tệ. Thực tế cho thấy vẫn cóthời điểm, NHNN lúng túng trong việc điều tiết lãi suất trên thị trường mở trongmối quan hệ với các loại lãi suất khác. Những năm gần đây và đặc biệt trong năm2011, NHNN thực hiện đấu thầu khối lượng với lãi suất công bố, điều này cũng hạnchế phần nào khả năng cạnh tranh của các TCTD. 2.3.2.3. Nguyên nhân 2.3.2.3.1. Thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ và chínhsách tài khóa. Hiệu quả của chính sách tiền tệ cần dựa trên cơ sở có sự phối hợp đồng bộ vớichính sách tài khóa. Mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát góp phầnthúc đẩy phát triển kinh tế phụ thuộc vào việc xây dựng và điều hành các chính sáchcủa quốc gia. Việc bội chi ngân sách có xu hướng gia tăng qua các năm đã tácđộng, làm hiệu quả của chính sách tiền tệ bị sụt giảm. 2.3.2.3.2 Giấy tờ có giá tham gia thị trưởng mở chưa đa dạng. Theo Quyết định số 11/QĐ-NHNN ngày 06/01/2010 đã có sự thay đổi quyđịnh tỉ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá (GTCG) tại thời điểm định giá và giáthanh toán trong giao dịch mua bán có kì hạn giữa NHNN và các tổ chức tín dụng.Tuy nhiên, trong Quyết định này, danh mục giấy tờ có giá tham gia thị trường mởchưa được mở rộng. Việc quy định thứ tự ưu tiên GTCG trong xét thầu nhằmkhuyến khích các TCTD đầu tư dự trữ thanh khoản vào các GTCG có tính thanhkhoản cao đã gây khó khăn cho các TCTD nhỏ nắm không nhiều trái phiếu Chínhphủ. 2.3.2.3.3. Cơ chế điều hành lãi suất còn có những hạn chế nhất định. Tháng 6/2001, NHNN cho phép tự do hóa lãi suất tín dụng ngoại tệ; tháng6/2002, tự do hóa lãi suất nội tệ. Tuy nhiên, NHNN Việt Nam vẫn điều hành chínhSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 58
  • 59. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnsách lãi suất theo cơ chế kiểm soát trực tiếp, ban hành nhiều loại lãi suất khác nhaunhư lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu,... Trong năm 2011,các loại lãi suất này đã tăng và đã phát tín hiệu điều hành CSTT thắt chặt, nhưngchưa thực sự phát huy hiệu quả vai trò kích thích giảm nhu cầu tiền tệ. Mặt khác,các loại lãi suất trên do NHNN công bố nên mang nặng tính hình thức, vì vậy, tấtyếu ảnh hưởng đến lãi suất thị trường mở. Mặt khác, trong giao dịch trên thị trường mở, số lượng thành viên tham giagiao dịch còn hạn hẹp nên lãi suất thị trường mở chưa phản ánh đúng quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường. 2.3.2.3.4 Thu thập và xử lý thông tin còn nhiều khó khăn. Với tần suất giao dịch bình quân 1 - 2 phiên/ngày đòi hỏi thông tin về nhu cầuvốn khả dụng của các TCTD, nhu cầu vay vốn, mặt bằng lãi suất phải được cập nhậtliên tục hàng ngày, hàng giờ tới ban điều hành thị trường. Tuy nhiên, NHNN vẫnchưa có hệ thống theo dõi kịp thời và đầy đủ các hoạt động trên thị trường tiền tệ.Việc theo dõi, dự báo vốn khả dụng còn có những khó khăn nhất định nên độ chínhxác chưa cao. Điều này xuất phát chủ yếu từ thị trường tiền tệ liên ngân hàng chưaphát triển. 2.3.3 Một số đề xuất Một là: Về cơ sở pháp lý: NHNN nên giải quyết một số vấn đề hiện đang cản trở sự phát triển nghiệp vụthị trường mở, đó là: cho phép đa dạng hóa kỳ hạn giao dịch, tiến tới đưa ra giaodịch mua, bán kỳ hạn qua đêm để thúc đẩy thị trường mở hoạt động linh hoạt và kịpthời, sau đó bổ sung phương thức giao dịch hoán đổi ngoại tệ nhằm linh hoạt hơntrong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng. Đối với quy chế quản lý vốn khả dụng, cần điều chỉnh theo hướng cho phéplinh hoạt các hình thức thu thập thông tin, nội dung thông tin phù hợp với chế độbáo cáo thông tin, lộ trình hiện đại hóa công nghệ ngân hàng,những thay đổi tronghoạt động ngân hàng và nền kinh tế và trách nhiệm của đơn vị cung cấp thông tin. Hai là: Nên xác định nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò chủ yếu trong điềutiết tiền tệ của NHNN, được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các công cụkhác của CSTT nhằm đạt mục tiêu CSTT. Mặt khác, nghiệp vụ thị trường mở xácđịnh rõ mục tiêu là điều tiết linh hoạt vốn khả dụng cả toàn hệ thống TCTD. Muốnthực hiện được yêu cầu này cần phải: + Đảm bảo qui định của nghiệp vụ thị trường mở phù hợp với thông lệ quốc tếvà điều kiện thị trường tiền tệ Việt Nam trong từng thời kỳ . + Từng bước thử nghiệm việc hình thành lãi suất định hướng để nâng cao hiệuSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 59
  • 60. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnquả điều tiết tiền tệ của nghiệp vụ thị trường mở. + Tăng cường sự phối hợp đồng bộ hơn nữa với các công cụ khác của CSTTđể có những ứng phó phù hợp trước diễn biến kinh tế trong nước và quốc tế. + Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận thị trường nhằm nâng cao hiệu quảnghiệp vụ thị trường mở. Ba là: Đa dạng hóa và tăng tính hấp dẫn của các hàng hóa giao dịch trên thịtrường mở. + Trong điều kiện nghiệp vụ thị trường mở ngày càng tham gia nhiều hơntrong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, do đó, cần đa dạng hóa các hàng hóa giaodịch trên thị trường mở nhằm tạo những cơ hội tốt cho các thành viên trong việc lựachọn GTCG để tham gia giao dịch. Muốn vậy, cần bổ sung các qui định vào chứngchỉ tiền gửi vào trong Luật Các công cụ chuyển nhượng để tạo cơ sở pháp lý choviệc phát triển loại GTCG này. Cần hoàn thiện cơ sở pháp lý để thương phiếu có thểđược giao dịch trên thị trường mở. Bổ sung thêm các loại GTCG khác tham gia giaodịch trên thị trường mở như trái phiếu do NHNN phát hành, trái phiếu do công ty cóuy tín phát hành. Việc bổ sung này đòi hỏi phải có bước đi phù hợp trong cơ sở xâydựng các quy định chặt chẽ để đảm bảo lợi ích của các bên tham gia + Cần tăng tính hấp dẫn các GTCG đang giao dịch. Đối với tín phiếu Kho bạcNhà nước, có thể bổ sung thêm các kỳ hạn phát hành là 30, 60 ngày thay vì chỉ cócác kỳ hạn đang phát hành hiện nay là 91,183 và 273 và 364 ngày, với lãi suất linhhoạt, sát lãi suất thị trường nhằm tăng tính thanh khoản cho hàng hóa khi tham giathị trường. Bốn là: NHNN cần hoàn thiện công tác dự báo hiệu quả hoạt động nghiệp vụthị trường mở. Từ thực tiễn điều hành hoạt động nghiệp vụ thị trường mở cho công tác dự báohiệu quả hoạt động nghiệp vụ thị trường mở là rất quan trọng đảm bảo được độchính xác cao khi điều tiết lượng tiền cung ứng. Công tác dự báo hiệu quả phải đảm bảo nguồn số liệu chính xác, đầy đủ baogồm: số lượng tiền cung ứng, dự trữ, nhu cầu vốn của các TCTD, cho vay chínhphủ, cho vay các TCTD, lãi suất liên ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởngkinh tế,... Hệ thống số liệu phải được thu thập theo ngày, xác định cả trong quá khứ,hiện tại và tương lai. Nguồn số liệu từ NHNN, Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính vàcác TCTD,... Phải xây dựng mô hình dự báo, tuy nhiên, việc quyết định mô hình cần có sựtham vấn và có kiểm định để đảm bảo đưa ra kết quả phân tích tốt nhất, cần phải cóđội ngũ chuyên gia đảm nhiệm công tác thống kê, phân tích, xử lý mô hình và đưaSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 60
  • 61. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiếnra kết quả báo cáo ban điều hành phục vụ cho công tác điều hành hoạt động nghiệpvụ thị trường mở trong ngắn và dài hạn. Đội ngũ chuyên gia phải là những cán bộcó kiến thức về kinh tế lượng, kinh tế vĩ mô, công nghệ tin học để có thế đưa ra cáckết quả đáp ứng yêu cầu. Năm là: Rà soát lại các lỗ hổng trong hệ thống thông tin của NHNN Để tăng tính bảo mật dữ liệu, từ đó hướng tới chấp nhận hoàn toàn các chữ kíđiện tử. Hiện nay, mặc dù bản đăng ký mua bán GTCG và hợp đồng, phụ lục hợpđồng đều được ký duyệt chữ ký điện tử trên mạng nhưng Sở Giao dịch NHNN yêucầu phải có chữ ký của lãnh đạo NHTM trên bản in để chuyển tiền, không chấpnhận chữ ký điện tử và chữ ký cấp phòng của NHTM được uỷ quyền. Tất nhiên,quy định này còn cần ở cấp độ cao hơn như Luật phải cho phép thực hiện chữ kýđiện tử! Sáu là: Phải có đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ giỏi để điều hành thịtrường. Trước tiên cần phân định rõ cán bộ triển khai công việc mang tính nghiệp vụhàng ngày, đội ngũ chuyên gia là người trực tiếp điều hành, hoạch định chiến lượclàm công tác tham mưu lãnh đạo. Đối với cán bộ nghiệp vụ, cần tuyển chọn cán bộ từ khâu thi tuyển, sau đó cókế hoạch bồi dưỡng chuyên sâu, phân công vị trí công tác phải đảm bảo số lượng vàchất lượng công việc. Đối với cán bộ quản lý cần sắp xếp, quy hoạch, bồi dưỡngtheo từng vị trí công tác. Muốn vậy, NHNN phải có quỹ hỗ trợ đào tạo với nguồnkinh phí cố định hàng năm được phê duyệt các nguồn tài trợ khác từ bên ngoài. Bảy là: Định kỳ nên tổng kết, đánh giá tình hình hoạt động của các thànhviên tham gia thị trường mở. Để hoạt động thị trường mở đảm bảo khả năng điều tiết lượng tiền cung ứng,đáp ứng yêu cầu mục tiêu CSTT cũng như khả năng hỗ trợ vốn khả dụng cho cácTCTD NHNN cần: Hàng quý, 6 tháng, 1 năm, nên lấy ý kiến thành viên tham gia thị trường về:kế hoạch tham gia thị trường trong tương lai, kết quả đạt được, những khó khăn,vướng mắc trong quá trình tham gia thị trường mở và những đề xuất đối với nghiệpvụ thị trường mở. Định kỳ hàng năm, NHNN chủ động xem xét, đánh giá kỹ hơn, cụ thể hơnvới ý kiến tham gia rộng rãi về tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của cácthành viên tham gia thị trường. Việc đánh giá có thể chia ra các nhóm TCTD thamgia với các tiêu chí phù hợpSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 61
  • 62. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến KẾT LUẬN Nghiệp vụ thị trường mở là một công cụ gián tiếp linh hoạt và hữu hiệu trongthực thi CSTT. Tại các nước phát triển, OMO có ý nghĩa hết sức quan trọng vàđược sử dụng chủ yếu trong điều tiết lượng tiền cung ứng và lãi suất thị trường. Ởcác nước đang phát triển, OMO ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng khi cácđiều kiện thực hiện đã và đang chín muồi. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoànthiện công cụ OMO có ý nghĩa thực tiễn tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Với kết cấu gồm 2 chương và 64 trang, đề án “ NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤTHỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NHNN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2011” đã tậptrung nghiên cứu, giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về nghiệp vụ thị trườngmở và thực tiễn hoạt động nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam trong thời gian từ năm 2007 đến nay. Đề án đã hoàn thành các nhiệm vụ sau: Thứ nhất, đề án đã hệ thống hoá một số nội dung cơ bản về chính sách tiền tệ,các công cụ CSTT nói chung và công cụ OMO nói riêng. Ngoài ra, tác giả còn đềcập một số kinh nghiệm vận hành OMO của NHTW một số nước với các trình độphát triển kinh tế khác nhau, từ đó rút ra các kinh nghiệm có thể áp dụng tại ViệtNam trong giai đoạn hiện nay và sắp tới. Thứ hai, đề án đã tiến hành phân tích, đánh giá hoạt động OMO của NHNNViệt Nam từ khi đưa vào hoạt động đến nay và trên nhiều khía cạnh như: khuôn khổpháp lý, tổ chức và điều hành nghiệp vụ, hàng hoá giao dịch trong thị trường mở,các thành viên thị trường, lãi suất thị trường mở, tần suất giao dịch, doanh số giaodịch …. Thứ ba, bên cạnh đó, tác giả cũng đã đánh giá những ưu điểm và những hạnchế của hoạt động OMO từ khi triển khai đến nay; phân tích những nhân tố ảnhhưởng và các nguyên nhân hạn chế để từ đó rút ra những vấn đề nổi bật cần phảinghiên cứu giải quyết trong thời gian tới và khẳng định cần có giải pháp hoàn thiệnnghiệp vụ thị trường mở để đảm bảo thực hiện hiệu quả các mục tiêu chính sáchtiền tệ quốc gia. Do kiến thức còn hạn hẹp, nhất là về NHTW và CSTT, nên đề án không thểtránh khỏi những khiếm khuyết và hạn chế. Rất mong được sự quan tâm, góp ýcủa các thầy cô giáo để đề án được hoàn thiện hơn.SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 62
  • 63. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng trung ương – Học viện ngân hàng. 2. Tiền tệ và hoạt động ngân hàng – Lê Vinh Danh – NXB chính trị quốc gia 1997. 3. Phân tích thị trường tài chính – David Blacke – NXB Tp Hồ Chí Minh. 4. Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại – David Cox. 5. Tiền tệ ngân hàng và hoạt động tài chính – Frederic S. Mishkin. 6. Tạp chí ngân hàng số 9/2001, 6/2001, 10/2002, 3/2003. 7. Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng số 2, số 3, số 4 năm 2001. 8. http://www.sbv.gov.vn 9. http://vneconomy.vn/p0c6/tai-chinh.htm 10. http://ndhmoney.vn/web/guest/dau-tu/tai-chinh-tien-te/tai-chinh-ngan-hang 11. http://www.gso.gov.vn 12. Các đề tài, luận án, bài báo,...khác có liên quan .SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 63
  • 64. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪNSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 64
  • 65. Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆNSVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 65

×