Your SlideShare is downloading. ×
Nhập siêu  ở việt nam những tháng đầu năm 2008
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Introducing the official SlideShare app

Stunning, full-screen experience for iPhone and Android

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Nhập siêu ở việt nam những tháng đầu năm 2008

1,080
views

Published on


0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
1,080
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
21
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Lê Trọng Tấn, lớp ĐH23NH6 TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔTÌNH HÌNH NHẬP SIÊU Ở VIỆT NAM NHỮNG THÁNG ĐẦU NĂM 2008 1.Mở đầu Tình hình kinh tế Việt Nam nữa đầu năm 2008 đã trãi qua giai đoạn khó khăn nhất trong suốt thập kỷ phát triển tương đối khá ổn định kể từ cuộc khủng hoảng khu vực năm 1997.Liên tục trong thời gian vừa qua việt nam là tâm điểm quan tâm của của báo chí,các định chế tài chính cũng như các tổ chức nghiên cứu kinh tế trong và ngoài nước.Tuy nhiên nếu khách quan nhìn nhận và đánh giá tình hình Việt Nam trong bối cảnh thế giới thì kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2008 thật sự có những vận động và nổ lực rất lớn và cũng đã có được một số thành công bước đầu mà nổi bậc là tình hình lạm phát trong nước đã bước đầu sụt giảm và đầu tư nước ngoài vẩn đạt mức cao kỷ lục…Mặc dù vậy thì tình hình biến động kinh tế trong nước vẫn còn nhiều phức tạp gây ảnh hưởng đến việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội.trong đó có tình hình nhập siêu tăng cao đạt mức kỷ lục mới trong năm 2008. Theo các số liệu thống kê thì tình hình nhập siêu của nước ta trong nhiều năm liên tiếp đều ở mức cao khoảng 5 tỷ USD nhưng con số này đã tăng đột biến trong năm 2007 và những tháng đầu năm 2008. Cán cân thương mại, xuất khẩu và nhập khẩu Nguồn khả năng chịu đựng thậm hụt cán cân vãng lai-TS Tấn Đức Giá trị xuất khẩu hàng hóa quí I/2008 ước tính đạt 13,03 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước.Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng tăng chủ yếu do giá xuất khẩu tăng cao như: giá dầu thô tăng 64,4%; than đá tăng 51,8%; gạo tăng 35,3%; cà phê tăng 38,4%; cao su tăng 30,3%; hạt tiêu tăng 34,3%, hạt điều tăng 19,6%, chè tăng 37,4%. Nếu tính riêng 8 mặt hàng này, thì giá trị xuất khẩu tăng do giá đã khoảng 1,5 tỷ USD
  • 2. Lê Trọng Tấn, lớp ĐH23NH6 (riêng dầu thô và than đá được lợi khoảng 1,1 tỷ USD do giá xuất khẩu tăng). Giá trị nhập khẩu hàng hóa quí I ước tính đạt gần 20,4 tỷ USD, tăng 62,5% so với cùng kỳ năm trước. Nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng; nguyên, nhiên vật liệu (trừ lúa mỳ giảm mạnh cả lượng và giá trị) và các mặt hàng phục vụ tiêu dùng trong nước đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Một số mặt hàng có giá trị lớn và tốc độ tăng cao như: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,5 tỷ USD, tăng 56,6%; xăng, dầu trên 2,8 tỷ USD, tăng 88,9%; sắt thép 2,4 tỷ USD, tăng 161,9%; điện tử, máy tính và linh kiện 906 triệu USD, tăng 50,5%; chất dẻo 684 triệu USD, tăng 29,8%; ô tô 614 triệu USD, tăng 324,6%. Nhập khẩu trong quí I tăng quá cao so với tốc độ tăng xuất khẩu (62,5% sovới 22,7%) và xu hướng ngày càng doãng ra qua các tháng đã làm gia tăng nhậpsiêu. Giá trị hàng hóa nhập siêu quí I/2008 là 7,4 tỷ USD, bằng 56,5% giá trị xuấtkhẩu hàng hóa và tăng gấp 3,5 lần so với mức nhập siêu của quí I/2007.Tính chung 6 tháng năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 29,7tỷ USD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: khu vực kinh tế trongnước đạt 12,8 tỷ USD, tăng 29,1%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài(không kể dầu thô) đạt 11,3 tỷ USD, tăng 27,4%; dầu thô đạt 5,6 tỷ USD, tăng49%.Tính chung 6 tháng đầu năm 2008, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước tính đạt44,5 tỷ USD, tăng 60,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: khu vực kinh tếtrong nước đạt 30,6 tỷ USD, tăng 69,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt13,9 tỷ USD, tăng 42,7%.Nhập siêu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2008 ước tính đạt 14,8 tỷ USD, bằng 49,8%kim ngạch xuất khẩu, tăng 184,6% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn 0,7 tỷUSD so với mức nhập siêu của cả năm 2007. Tuy nhiên, trong những tháng gần đâynhập siêu đã giảm nhanh, từ mức nhập siêu 3,28 tỷ USD tháng 3 và 3,2 tỷ USDtháng 4 đã giảm xuống còn 1,91 tỷ USD trong tháng 5 và 1,3 tỷ USD trong tháng 6.Mặt khác, nhập siêu chủ yếu là nhập nguyên, nhiên vật liệu từ thị trường các nướctrong khu vực, còn đối với các thị trường khác như EU, Mỹ nước ta vẫn duy trìđược mức xuất siêu. Trong 5 tháng đầu năm 2008, nước ta xuất siêu sang thị trườngEU 1,9 tỷ USD, tăng 26,6% so với xuất siêu 6 tháng đầu năm 2007; xuất siêu sangthị trường Mỹ 3,3 tỷ USD, tăng 10%.2.Nguyên nhânTrước hết, hiển nhiên là nhập siêu bắt nguồn từ việc nhập khẩu nhiều hơn xuấtkhẩu, nhưng vấn đề là ở chỗ, cho dù xuất khẩu cũng đã vượt xa dự kiến, nhưngnhập khẩu còn vượt xa hơn nữa, cho nên nhập siêu càng lớn hơn.
  • 3. Lê Trọng Tấn, lớp ĐH23NH6 Nguồn Việt nam sự thật và những câu chuyên hoang tưởngCụ thể, 6 tháng năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 29,7 tỷUSD, tăng 31,8% so với cùng kỳ năm trước trong khi kim ngạch nhập khẩu hànghoá ước tính đạt 44,5 tỷ USD, tăng 60,3% so với cùng kỳ năm trước con số nàycho thấy rõ ràng mức độ nhập siêu là rất lớnNgoài ra Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, những sản phẩm công nghiệp chủ lực là dệt- may, da - giày, điện tử, chế biến gỗ, nhựa... cho đến nay hầu hết vẫn chỉ là gia công ở công đoạn cuốivới giá trị gia tăng rất thấp, nên lượng ngoại tệ mang về cho nền kinh tế không nhiều và không đủ để bùđắp cho phần giá trị nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất hàng tiêu thụ ở thị trường nội địa. Nguồn thungoại tệ lớn nhất trong những năm qua là xuất khẩu tài nguyên khoáng sản và hàng nông, thủy sản.Nhưng cán cân xuất, nhập khẩu nhiều sản phẩm thuộc nhóm này đã thay đổi, từ thặng dư sang thâm hụt,do số lượng xuất khẩu liên tục giảm sút, trong khi nhập khẩu mỗi năm đều tăng do nhu cầu tiêu thụ trongnước. Các mặtxuất nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam hết quý 2-2008 (tỷ USD) Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Nguồn Tổng Cục Thống KêXin dẫn chứng trường hợp thâm hụt của nhóm hàng lương thực. Bốn đầu năm,Việt Nam thu được 975 triệu đô la Mỹ từ xuất khẩu gạo và hạt điều, nhưng đãphải chi gần 1,036 tỉ đô la Mỹ để nhập lúa mì, dầu ăn và thức ăn gia súc.Trường hợp xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu xăng dầu cũng tương tự. Điều đócho thấy, cơn sốt giá dầu và lương thực trên thị trường thế giới chẳng những
  • 4. Lê Trọng Tấn, lớp ĐH23NH6không làm tăng thu nhập mà còn khiến cho tình trạng nhập siêu của Việt Namthêm nặng nề.Do hiệu quả đầu tư kémĐây là vấn đề đáng lo ngại nhất nếu không có những chính sách cải thiện hiệuquả đầu tư thì nó sẽ còn ảnh đến tăng trưởng xuất nhập khẩu của nước ta về lâudài.Vì trong khi đầu tư và sản xuất kém hiệu quả, thì đầu tư, sản xuất càng nhiều,nhập siêu sẽ càng lớn và đến một lúc nào đó nền kinh tế sẽ không còn đủ sức đểbù đắp cho phần thiếu hụt đó.Xin đơn cử một ví dụ:hiệu quả đầu tư giữa doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp trong nước đang cókhoảng cách lớn. Hiện nay, doanh nghiệp FDI đang chiếm gần 40% giá trị sảnxuất công nghiệp và gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong khiđó, tỷ trọng nhập khẩu của khối này lại thấp, chỉ khoảng 44%. Mức đầu tư hàngnăm của doanh nghiệp FDI còn thấp hơn khu vực trong nước nhiều, bình quânchỉ chiếm 14-15% tổng đầu tư toàn xã hội. Năm ngoái, tổng vốn đầu tư của khốidoanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI gần xấp xỉ nhau, nhưng kết quả vềtăng trưởng trong lĩnh vực công nghiệp lại rất khác biệt, chênh lệch đến gần 8điểm phần trăm.Nhập khẩu ít hơn và mức đầu tư hàng năm khá khiêm tốn, nhưng các doanhnghiệp FDI vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sản xuất công nghiệp và xuấtkhẩu. Kết quả đó phần nào cho thấy tình trạng nhập siêu tăng vọt trong thời giangần đây chủ yếu bắt nguồn từ hiệu quả đầu tư và sản xuất kém của nền kinh tế,trong đó đáng ngại nhất là khu vực doanh nghiệp quốc doanh. Do vậy, không thểcho rằng, nhập siêu để phục vụ phát triển sản xuất là cần thiết và không đángngại.Giá cả các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu tăng mạnh trong năm 2007 và nhữngtháng đầu năm 2008 đã đẩy kim ngạch nhập khẩu tăng.”Trong 6 tháng đầu nămgiá xăng dầu nhập khẩu tăng 61,8%, giá sắt thép tăng 29,8%, giá phân bón tăng96%, giá giấy tăng 11,8%, giá chất dẻo tăng 15,4%. Sự tăng giá của 5 mặt hàngnày đã làm cho kim ngạch nhập khẩu tăng thêm trên 4,1 tỷ USD (tương ứng vớimức tăng 14,9% so với kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2007). Nếu loại trừyếu tố tăng giá này thì kim ngạch nhập khẩu 6 tháng tăng 45,7%.” Nguồn Tổng Cục Thống KêTiêu dùng tăng mạnh, trong khi ngành công nghiệp trong nước chưa đủ sức đápứng, nhất là những sản phẩm cao cấp, tất yếu sẽ làm tăng nhập khẩu. Hiện chưacó cuộc điều tra nào để phân tích nguyên nhân của xu hướng tiêu dùng này,nhưng rất có thể đó là hệ quả của cơn sốt giá trên thị trường chứng khoán và địaốc vừa qua.Vốn trong dân còn rất lớn và cần phải huy động nguồn nội lực đó để phát triểnkinh tế. Vấn đề này đã được nói đến rất nhiều trong các cuộc hội thảo trước đây.Trước viễn cảnh có thể làm giàu nhanh chóng qua thị trường chứng khoán và địaốc, không ít người đã đem tài sản cất trữ ra đầu tư. Nhưng thay vì đưa vào cácdự án phát triển kinh doanh, nguồn nội lực đó lại chui vào túi những người “tháo
  • 5. Lê Trọng Tấn, lớp ĐH23NH6chạy” trước khi bong bóng chứng khoán và địa ốc xì hơi. Theo các doanh nghiệpngành ô tô và điện tử, nhu cầu tiêu thụ ô tô và hàng điện tử cao cấp tăng vọttrong hai năm gần đây là nhờ có những người làm giàu từ thị trường chứngkhoán và đất đai.Ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế đối với hàng hoá nhập khẩu thêm vào đó làsức cạnh tranh của sản xuất trong nước còn thấp nên khi nước ta thực hiện camkết mở cửa sâu rộng hơn trong tiến trình hội nhập vào kinh tế khu vực và toàncầu thì nhiều mặt hàng không đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu giảm khithuế nhập khẩu giảm.Khi cắt giảm thuế nhập khẩu thì một lượng lớn hàng hoánhập khẩu sẻ tràn vào nước ta làm cho tổng kim ngạch nhập khẩu tăng mạnhtrong khi đó thì hàng hoá trong nước còn rất là yếu kém không thể cạnh tranhvới những mặt hàng này làm cho tổng kim ngạch nhập khẩu tiếp tục giatăng.chẳng hạn trong 6 tháng đầu năm 2007 đã có một số mặt hàng nhập khẩucủa ta do thực hiện cắt giảm thuế theo thông lệ của WTO nên đã góp phần làmcho KNNK đối với những mặt hàng này tăng theo. Đó là: nguyên liệu dệt may,giầy dép đã tăng 658 triệu USD so với cùng kỳ năm 2006; điện tử, máy tính vàlinh kiện tăng 365 triệu USD; ô tô và linh kiện tăng 128 triệu USD...Do tăng mạnh các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, với một lượng vốn lớn như thếđỗ vào Việt Nam thì nhu cầu mua sắm các yếu tố đầu vào sản xuất tăng nhanhkéo theo nhập khẩu tăng mạnh là chuyên không thể tránh khỏi.tuy nhiên đâycũng là tín hiệu đáng mừng cho tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt nam trongtương lai.FDI đăng ký trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt 31,6 tỷ USD, gấp 3,7 lầncùng kỳ năm trước, vượt 48% so với mức FDI 21,3 tỷ USD của cả năm 2007.Dự kiến FDI đăng ký cả năm 2008 có thể lên đến 45 tỷUSD (gấp hơn 2 lần sovới năm 2007). Mặc dù giải ngân FDI 6 tháng mới chỉ đạt 5 tỷ USD, chiếm tỷtrọng 16% so với số vốn đăng kýnhưng đã cao hơn 2,3 lần cùng kỳ năm trước(mức giải ngân của 6tháng đầu năm 2007 là 2,2 tỷ USD) và bất động sản vẫnđang là kênh rót vốn hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(t ỷ USD) Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(tỷ USD) Vốn đăng ký Vốn giải ngân 35 31.6 30 25 21.3 20 15 10 10.2 6.8 6.6 5 4.5 4.1 5 3.1 2.5 32.6 3.2 .7 2 2.9 3.3 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 6T- 2008
  • 6. Lê Trọng Tấn, lớp ĐH23NH6 Nguồn Tổng Cục Thống KêTổng số vốn ODA được ký kết tính đến ngày 19/6/2008 đạt 1313 triệu USD,bằng 71% cùng kỳ năm trước, bao gồm: vốn vay 1217 triệu USD, vốn viện trợkhông hoàn lại 96 triệu USD. Giải ngân vốn ODA 6 tháng đầu năm ước tính đạt1100 triệu USD, bằng 58% kế hoạch năm, bao gồm: vốn vay 970 triệu USD, vốnviện trợ không hoàn lại 130 triệu USD. Trong số các dự án sử dụng vốn vay, cácdự án thuộc ngành điện, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn có tiếnđộ giải ngân nhanh hơn tiến độ của các dự án trong lĩnh vực phát triển đô thị, ytế, giáo dục, tài chính ngân hàng.giải phápNhư đã nói ở phần nguyên nhân thì nhập siêu là do nhập khẩu lớn hơn xuất khẩunên về mặt giải pháp xin trích dẩn một số biện pháp do chính phủ đề ra như sau:Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩuĐây là biện pháp vừa có tính cơ bản lâu dài, vừa có tính cấp bách trước mắt đểkiềm chế nhập siêu, sẽ tiến hành đồng bộ theo 5 hướngMột là, thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng, tăng giá trị hàng hóa xuấtkhẩu đối với các mặt hàng truyền thống, các mặt hàng sản xuất do bị hạn chế vềcơ cấu (diện tích, năng suất, thời tiết...) không có điều kiện tăng nhiều về khốilượng, trong đó đặc biệt chú ý đến các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản.Hai là, tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, thiết bị,đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có kim ngạch lớn, có khả năngtăng trưởng cao, những mặt hàng có đóng góp quan trọng cho việc thực hiện kếhoạch xuất khẩu cũng như giải quyết nhiều công ăn việc làm, góp phần ổn địnhxã hội như các sản phẩm chế biến, công nghiệp chế biến: dệt may, giầy dép, đồgỗ, linh kiện điện tử, sản phẩm nhựa, dây cáp điện...Ba là, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường, đẩy mạnhsản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có tiềm năng, không bị hạn chế về khả năngsản xuất, sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước như: hàng thủ công mỹ nghệ,sản phẩm cao su, hàng thực phẩm chế biến, hoá mỹ phẩm, sản phẩm cơ khí, dịchvụ phần mềm...Bốn là, tập trung khai thác theo chiều sâu đối với các thị trường xuất khẩu truyềnthống, thị trường xuất khẩu trọng điểm đi đôi với việc phát triển các thị trườngcó chung đường biên giới với Việt Nam thông qua việc xem xét điều chỉnhnhững quy định không phù hợp hạn chế xuất khẩu thời gian qua.Năm là, rà soát và phát hiện các mặt hàng có khả năng sản xuất và không hoặcchưa bị hạn chế về thị trường như đồ nhựa các loại, sản phẩm cơ khí và va li, túixách, mũ ô dù.Bên cạnh đó cần xây dựng đề án đẩy mạnh xúc tiến thu hút các tập đoàn kinh tếlớn ở nước ngoài vào Việt Nam đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu; tăng thêmnguồn lực cho hoạt động xúc tiến; cho doanh nghiệp vay vốn thu mua nguyênliệu cho sản xuất hàng xuất khẩu và kinh doanh xuất khẩu; áp dụng lãi suất vayhợp lý đối với hoạt động xuất khẩu; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trọng
  • 7. Lê Trọng Tấn, lớp ĐH23NH6lĩnh vực hoàn thuế và thủ tục hải quan, tạo thuận lợi tối đa cho xuất khẩu, nhất làđối với những mặt hàng nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu như thuỷ sản, hạtđiều...Thực hiện các giải pháp giảm nhập khẩuNhằm hạn chế nhập khẩu, giảm thâm hụt cán cân thương mại, cần tập trung thựchiện nghiêm túc và hiệu quả Nghị quyết số 10/2008NQ-CP của Chính phủ ngày17 tháng 4 năm 2008 về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Cụ thể là:- Đối với nhóm mặt hàng cần nhập khẩu và nhóm mặt hàng nhập khẩu cần kiểmsoát: Đây là nhóm quan trọng, thiết thực phục vụ cho sản xuất và đầu tư, nhưngvẫn phải tính đến khả năng giảm nhập khẩu hợp lý ở 2 nhóm này thông qua việclập các đoàn kiểm tra liên ngành về việc sử dụng các mặt hàng nhập khẩu có kimngạch lởn như (sắt thép, phôi thép, máy móc...) để đề xuất các biện pháp giảmcầu và hạn chế nhập khẩu, thông qua chính sách thuế và các biện pháp phi thuế,kiểm soát chặt chẽ hiệu quả các dự án đầu tư, nhất là các dự án đầu tư công;khuyến khích tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng; điều hành chính sách tàikhoá theo hướng tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, nâng cao hiệu quả vốn đầu tưtừ ngân sách; phấn đấu giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách, triệt để thực hành tiếtkiệm trong sản xuất, xây dựng, tiêu dùng; đẩy mạnh sản xuất, sử dụng hiệu quánguyên liệu trong nước thay thế hàng nhập, nhất là tại các dự án, các công trìnhlớn...thì mới có khả năng giảm nhập siêu vì tỷ trọng khối này chiếm tới hơn 90%kim ngạch nhập khẩu.- Đối với nhóm mặt hàng hạn chế nhập khẩu: Nhóm này chỉ chiếm khoảng 6-7%tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu nhưng lại là những mặt hàng nhạy cảm nên cầntăng cường quản lý chặt nhập khẩu, nhất là những mặt hàng tiêu dùng chưa thiếtyếu. Để giảm nhập khẩu nhóm hàng này có thể áp dựng các biện pháp như nângthuế suất thuế nhập khẩu tới trần của khung thuế suất theo cam kết; nâng thuếtiêu thụ đặc biệt; nộp thuế nhập khẩu trước khi nhận hàng; kiểm soát chặt chẽviệc cấp tín dụng và bảo lãnh cho vay nhập khẩu hàng trả chậm, đồng thời tăngcường tuyên truyền người dân triệt đê thực hành tiết kiệm, tích cực sử dụng hàngtrong nước.Với tất cả các biện pháp trên hy vọng sẽ kiềm chế được tình hình nhập siêu ởmức hợp lý (theo tính toán tại thời điểm giá dầu thô hiện nay dao động 110- 120USD/thùng phấn đấu đưa tỷ lệ nhập siêu cả năm 2008 khoảng 30% so với 2007).Tuy nhiên vẫn cần nhấn mạnh thêm rằng, nếu giá cả thế giới tiếp tục tăng cao thìtỷ lệ nhập siêu có thể thay đổi.Về công tác quản lý thị trường- Chủ động bằng mọi biện pháp nắm chắc tình hình cung cầu hàng hoá, lượnghàng dự trữ của các đơn vị kinh doanh đối với 10 mặt hàng thiết yếu: lươngthực, xăng dầu, phân bón, thuốc chữa bệnh, sắt thép, xi măng, than, đường, giấy,muối.
  • 8. Lê Trọng Tấn, lớp ĐH23NH6- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các quy định của pháp luật vềgiá, niêm yết giá và bán theo giá niêm yết; xử lý kịp thời các trường hợp lợidụng tình hình khó khăn để đầu cơ, ép giá, găm hàng gây mất ổn định thị trườngđối với các cơ sở kinh doanh bán lẻ, các chợ, cửa hàng, cửa hiệu, siêu thị, trungtâm thương mại.- Kiểm tra việc thực hiện đo lường hàng hoá (cân, đong, đóng gói hàng hoá),chất lượng hàng hoá, ghi nhãn hàng hoá của các cơ sở sản xuất kinh doanh bánbuôn, bán lẻ đề phát hiện các thủ đoạn gian lận về giá hoặc lợi dụng đo lường,đóng gói để tăng giá.- Kiểm tra các biểu hiện của hành vi đầu cơ (mua vét hàng hoá), dự trữ hàng hoáquá mức; kinh doanh không đúng ngành nghề, mặt hàng; bịa đặt loan tin khôngcó cơ sở để tăng giả; kiểm tra các biểu hiện liên kết chiếm lĩnh vị trí độc quyềnđể tăng giá, ép giá...- Phối hợp chặt chẽ với cơ quan Quản lý giá và các ngành chức năng của địaphương tổ chức các đoàn kiểm tra đối với các đơn vị kinh doanh có quy mô lớnđể xác định khung giá, mức giá, cơ cấu giá hợp lý đối với một số mặt hàng thiếtyếu nêu trên.