Uploaded on

 

More in: Education
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
No Downloads

Views

Total Views
830
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
11
Comments
0
Likes
2

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC II
    • Giới thiệu chung về
    • modun
    • Mục tiêu của modun
    • Học liệu
  • 2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC II
    • Giới thiệu chung về
    • modun
    • Mục tiêu của modun
    • Học liệu
    • Tên modun: Phương
    • pháp dạy học hóa học 2
    • Giới thiệu vắn tắt về
    • modun
    • Cấu trúc của modun
  • 3. Tên modun: Phương pháp dạy học hóa học 2
    • Số tín chỉ: 2
    • Đối tượng: Dành cho sinh viên năm thứ 3.
    • Điều kiện: Sinh viên phải học xong các học phần tâm lý học, giáo dục học, lý luận và phương pháp dạy học đại cương.
  • 4. Giới thiệu vắn tắt về môđun
    • Trình bày về cơ sở lý luận và thực tiễn của bài tập trong dạy học hóa học, phương pháp phân loại bài toán hóa học, các phương pháp giải bài tập hóa học, nghiên cứu về cách thức đánh giá, tuyển chọn và lựa chọn bài tập trong dạy học. Cách sử dụng bài tập trong các giai đoạn của quá trình dạy học. Cách thiết kế và xây dựng một bài tập mới theo lý thuyết grap và tiếp cận modun.
  • 5. Cấu trúc của modun
    • Modun này gồm có 3 tiểu modun:
      • Tiểu modun 1 : Tổng quan về bài tập.
      • Tiểu modun 2 : Sử dụng bài tập hóa học trong dạy học.
      • Tiểu modun 3 : Cách thức xây dựng bài tập hóa học mới
  • 6. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC II
    • Giới thiệu chung về
    • modun
    • Mục tiêu của modun
    • Học liệu
    • Về kiến thức
    • Về kĩ năng
    • Về thái độ
  • 7. Về kiến thức
      • Sau khi học xong modun này thì người học hiểu rõ được vai trò và ý nghĩa của bài tập trong dạy học.
      • Phân tích, đánh giá được tác dụng của bài tập để từ đó sử dụng hiệu quả bài tập trong dạy học.
      • Nắm được quy trình chọn và chữa bài tập cũng như phương pháp xây dựng bài tập mới.
  • 8. Về kỹ năng
      • Phân loại được các bài tập hóa học tùy theo các tiêu chí khác nhau.
      • Đánh giá được tác dụng của bài tập để từ đó có kỹ năng tuyển chọn và sử dụng bài tập hợp lý trong dạy học.
      • Tóm tắt được bài tập theo lý thuyết grap.
      • Giải thành thạo các bài tập hóa học thuộc các dạng cơ bản và điển hình.
      • Biết xây dựng bài tập mới dựa vào bài tập gốc.
  • 9. Về thái độ
      • Đánh giá đúng tầm quan trọng của bài tập nói chung và bài toán nói riêng trong dạy học hóa học.
      • Hăng say, tích cực tham gia các hoạt động, đặc biệt là các hoạt động nhóm.
      • Tự giác nghiên cứu tài liệu ở nhà.
      • Say mê, hứng thú học tập.
  • 10. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÓA HỌC II
    • Giới thiệu chung về
    • modun
    • Mục tiêu của modun
    • Học liệu
    • Nguyễn Xuân Trường (2006), Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông , NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Bích Hiền, Giáo trình : Rèn kĩ năng sử dụng bài tập hóa học trong dạy học , Trường ĐH Vinh.
    • Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà nội.
    • Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
    • Tuyển tập đề thi Olympic 30-4: Hội hóa học Việt Nam.
  • 11. TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Triển khai môđun
  • 12. TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Triển khai môđun
    • Về kiến thức
    • Về kĩ năng
    • Về thái độ
  • 13. Về kiến thức:
    • ◘ Phát biểu được khái niệm bài toán và bài tập.
    • ◘ Phân tích được ý nghĩa của bài toán hoá học trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo ở trường phổ thông.
    • ◘ Phân loại được các bài toán hoá học theo các tiêu chí khác nhau.
    • ◘ Nắm được nguyên tắc, bản chất của các phương pháp giải bài toán hoá học: phương pháp bảo toàn, phương pháp quy đổi, phương pháp đường chéo...
    Mục đích
  • 14. Về kĩ năng :
    • ◘ Giải thành thạo những bài toán cơ bản, điển hình bằng các phương pháp giải toán cơ bản nói trên .
    • ◘ Hợp tác và làm việc theo nhóm.
    • ◘ Tự học, tự nghiên cứu.
    Mục đích
  • 15. Về thái độ:
    • ◘ Tự giác hoàn thành các nhiệm vụ tự học cá nhân.
    • ◘ Tích cực tham gia hoạt động nhóm, tham gia thảo luận.
    • ◘ Góp phần phát triển phong cách làm việc có kế hoạch, tư duy phê phán.
    Mục đích
  • 16. TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Triển khai môđun
    • Chủ đề 1: Khái niệm, ý
    • nghĩa,phân loại bài toán hoá
    • học.
    • Chủ đề 2: Các phương pháp
    • giải bài toán hoá học
  • 17. TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Triển khai môđun
    • Nguyễn Xuân Trường (2006), Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông , NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Bích Hiền, Giáo trình : Rèn kĩ năng sử dụng bài tập hóa học trong dạy học , Trường ĐH Vinh.
    • Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà nội.
    • Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
    • Tuyển tập đề thi Olympic 30-4 : Hội hóa học Việt Nam.
  • 18. TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP
    • Chủ đề 1: Khái niệm , ý nghĩa , phân loại bài toán hoá
    • học
    • Chủ đề 2: Các phương pháp giải bài toán hoá học
  • 19. TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP
    • Đánh giá sau khi học xong tiểu modun.
    • 1.Phân tích vai trò của bài tập hóa học trong dạy học.
    • 2. Dựa vào đặc điểm gì để phân loại bài tập thành bài tập angorit, bài tập ơrixtic, hỗn hợp angorit và ơrixtic.
    • 3. Bài toán ơrixtic có đặc điểm gì?
    • 4. Phân tích những dấu hiệu của mỗi loại phương pháp giải.
    • 5. Giải các bài tập hóa học sau:
    • Bài 1: Hòa tan vừa đủ 6 gam hỗn hợp X gồm 2 kim loại A, B có hóa trị tương ứng là I, II vào dung dịch hỗn hợp 2 axit HNO3 và H2SO4 thì thu được 2,688 lit hỗn hợp khí NO2, SO2 duy nhất ở (dktc) nặng 5,88 gam. Cô cạn dung dịch sau cùng thì thu được m gam muối khan. Tính giá trị m?
  • 20. TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP
    • Bài 2: Hòa tan hoàn toàn 3,34g hỗn hợp 2 muối cacbonat của kim loại hóa trị I và hóa trị II bằng dung dịch HCl dư thu được dung dịch X và 0.896 l khí bay ra ở đktc. Tính m của muối có trong dung dịch?
    • Bài 3 : Cho 7,8 gam hỗn hợp rượu metylic, etylic, propylic. Đem đun nóng với 30 gam axit axetic ( có mặt H2SO4 đặc xúc tác). Tính tổng khối lượng este thu được, biết hiệu suất các phản ứng este hóa đều bằng 80.
    • Bài 4: Cho 8,45g hỗn hợp bột Mg , Fe, Zn vào dung dịch HCl dư và lắc đều cho đến khi phản ứng kết thúc thấy thoát ra 4,48lít khí (đktc). Đun cô cạn hỗn hợp sau phản ứng và nung khan trong chân không thu được khối lượng chất rắn có khối lượng bằng bao nhiêu?
    Môđun
  • 21. Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học
    • Hoạt động 1: Nghiên cứu khái niệm bài tập, bài toán
    • Hoạt động 2: Phân tích ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy học hóa học
    • Hoạt động 3: Phân loại bài tập hóa học .
    Môđun
  • 22. Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học
    • Thông tin phản hồi hoạt động 1 : Phân biệt được khái niệm bài tập và bài toán.
    • Thông tin phản hồi hoạt động 2:
    • + Tìm hiểu về các tác dụng của bài tập hóa học.
    • + Tìm hiểu về chức năng, nhiệm vụ của nó để rút ra kết luận
  • 23. Chủ đề 1 : Hoạt động 1: Nghiên cứu khái niệm bài tập, bài toán
    • Nhiệm vụ 1 : Đọc thông tin cơ bản
    • Thông tin cơ bản
    • Hình thức học: Học cá nhân, học ở nhà
    • Nhiệm vụ 2 : hãy phân biệt bài tập và bài toán hóa
    • học
    1.1.1 Chủ đề 1
  • 24. 1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học.
    • Trong sách giáo khoa và tài liệu tham khảo ở phổ thông hiện nay, thuật ngữ “bài tập” chủ yếu được sử dụng theo quan niệm: Bài tập bao gồm cả những câu hỏi và bài toán, mà khi hoàn thành chúng học sinh vừa nắm được vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm.[M.V.ZUEVA] Bài toán đó là bài làm mà khi học sinh hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành hoạt động sáng tạo, bất luận hình thức hoàn thành bài toán là trả lời miệng hay viết, thực hành, thí nghiệm, bất cứ bài toán nào cũng được xếp vào hai nhóm : bài toán định lượng (có tính toán) và bài toán định tính.
  • 25. 1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học .
    • Bài toán chỉ có thể thực sự là “bài toán” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải”. Vì vậy, bài toán và người học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau
  • 26. 1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học.
    • Sơ đồ cấu trúc của hệ bài toán:
    Hoạt động 1 Những điều kiện Phương tiện giải Những yêu cầu Phép giải BÀI TOÁN NGƯỜI GIẢI
  • 27. Chủ đề 1 : Hoạt động 2: Phân tích ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy học hóa học.
    • Nhiệm vụ 1: Đọc thông tin cơ bản
    • Thông tin cơ bản
    • Hình thức học : làm việc cá nhân
    • Nhiệm vụ 2 : Nêu tác dụng khái quát của bài tập
    • Nhiệm vụ 3 : Phân tích tác dụng của các bài tập sau
    • Hình thức học : thảo luận nhóm
    • Nhiệm vụ 4 : Kết luận về ý nghĩa , tác dụng của bài tập trên.
    • Hình thức học : Thảo luận toàn lớp dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
    1.1.2
  • 28. Chủ đề 1: Hoạt động 2: Phân tích ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy học hóa học.
    • Đánh giá hoạt động 2 : Trên cơ sở kết luận cuối cùng của giáo viên các thành viên tự cho điểm về kết quả làm việc của mình. Sau đó tiến hành chấm chéo.
    • Tự đánh giá Đánh giá lẫn nhau GV đánh giá
    • (họ và tên)
    Chủ đề 1
  • 29. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • Trong quá trình dạy học hoá học ở trường phổ thông không thể thiếu bài toán, bài toán hoá học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy – học, nó giữ một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo: Nó vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Nó cung cấp cho học sinh kiến thức , con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú say mê nhận thức.
    • Bài toán hoá học có những ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt:
  • 30. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • 1.12.1. Tác dụng trí dục.
    • - Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học. Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào giải bài tập thì học sinh mới thực sự nắm được kiến thức một cách sâu sắc.
    • - Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất. Khi ôn tập học sinh dễ rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức. Thực tế cho thấy học sinh rất thích giải bài tập trong các tiết ôn tập.
    • - Rèn luyện kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học … nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh.
    • - Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sản xuất bảo vệ môi trường.
  • 31. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • - Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy. Bài tập hoá học là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển tư duy hoá học của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học. Bởi vì giải bài tập hoá học là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh. Trong thực tiễn dạy học, tư duy hoá học được hiểu là kỹ năng quan sát hiện tượng hóa học, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận thành phần, xác lập mối liên hệ định lượng và định tính của các hiện tượng, đoán trước hệ quả lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình. Trước khi giải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện của đề tài, tự xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thực hiện phép đo… Trong những điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao.
  • 32. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • 1.1.2.2. Tác dụng phát triển.
    • Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độc lập thông minh và sáng tạo. Cao hơn mức rèn luyện thông thường, học sinh phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng bản thân, biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống… thông qua đó, bài tập hoá học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo cho bản thân.
  • 33. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • 1.1.2.3. Tác dụng giáo dục.
    • Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tư tưởng đạo đức. Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho học sinh thấy quá trình phát sinh những tư tưởng về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to lớn, có giá trị của các nhà khoa học tiến bộ trên thế giới. Thông qua việc giải các bài toán còn rèn luyện cho học sinh năng lực độc lập suy nghĩ, tính kiên trì, nhẫn nại, khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, hình thành cách thức cũng như năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Ngoài ra thông qua việc giải bài toán hoá học còn khơi dậy ở các em niềm say mê nghiên cứu, sáng tạo khoa học- một tố chất rất cần thiết cho các chủ nhân tương lai của đất nước
  • 34. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • 1.1.2.4. Tác dụng đánh giá thực trạng nhận thức của học sinh.
    • Bài tập hoá học là phương tiện rất có hiệu quả để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh một cách chính xác. Trong quá trình dạy học, khâu kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá việc nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh có một ý nghĩa quan trọng. Một trong những biện pháp để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình đó là làm bài tập. Thông qua việc giải bài tập của học sinh, giáo viên biết được hiệu quả của việc sử dụng phương pháp cũng như đặc điểm nhận thức của từng học sinh để từ đó có kế hoạch, chiến lược cụ thể cũng như sự điều chỉnh về mặt phương pháp dạy học sao cho hiệu quả dạy học đạt kết quả tốt.
  • 35. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • 1.1.2.5. Bài tập hoá học là phương pháp dạy học hiệu quả
    • Thực tế giảng dạy ở nhà trường phổ thông cho thấy BTHH đáp ứng yêu cầu là một phương pháp dạy học có hiệu quả. Nó có thể tham gia vào các giai đoạn của quá trình dạy học: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập củng cố, vận dụng kiến thức….Trong các bài học nghiên cứu kiến thức mới hay ôn tập GV có thể lựa chọn một vài bài tập nào đó để cho HS tiến hành giải. Thông qua việc giải các bài tập này giúp HS củng cố được kiến thức đã học, nâng cao chất lượng lĩnh hội môn hoá học. Sau đây là một vài ứng dụng cụ thể:
  • 36. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • a. Bài tập hoá học là công cụ để củng cố kiến thức:
    • Bài tập hoá học là một hình thức củng cố, ôn tập hệ thống kiến thức một cách sinh đông và hiệu quả. Khi giải bài tập hoá học, học sinh phải nhớ lại kiến thức đã học, phải đào sâu một khía cạnh nào đó của kiến thức hoặc phải tổ hợp, huy động kiến thức để có thể giải quyết được bài tập. Tất cả các thao tác tư duy đó đã góp phần củng cố, khắc sâu mở rộng kiến thức cho học sinh.
    • b. Bài tập hoá học là cách thức để hình thành khái niệm hoá học cơ bản:
    • Trong bài dạy hình thành khái niệm học sinh phải tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới mà học sinh chưa biết hoặc chưa biết một cách chính xác rõ ràng. Giáo viên có thể lựa chọn xây dựng hệ thống bài tập phù hợp để học sinh hình thành khái niệm mới một cách vững chắc.
  • 37. 1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.
    • c. Bài tập hoá học là phương tiện để phát triển kiến thức lý thuyết khi nghiên cứu tài liệu mới:
    • Bài tập hoá học là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc. Việc nghiên cứu một kiến thức mới thường bắt đầu bằng việc nêu vấn đề. Mỗi vấn đề xuất hiện khi nghiên cứu tài liệu mới cũng là một bài tập đối với học sinh. Để làm một vấn đề trở nên mới và hấp dẫn và xây dựng vấn đề nghiên cứu còn có thể dùng cách giải bài tập. Việc xây dựng các vấn đề dạy học bằng bài tập không những sẽ kích thích được hứng thú cao của học sinh đối với kiến thức mới sắp được học mà còn củng cố kiến thức đã có và xây dựng được mối liên quan giữa kiến thức cũ và mới.
    Hoạt động 2
  • 38. Hoạt động 2: Nhiệm vụ 3 : Phân tích tác dụng của các bài tập sau:
    • Anđehit A no, mạch thẳng có CTPT (C 3 H 5 O) n . Xác định CTPT, CTCT của A. Nếu không biết A là hợp chất no, mạch thẳng – có thể xác định được CT của A không? Nếu có hãy trình bày cách biện luận.
    • Sắp xếp các chất sau theo chiều giảm hàm lượng sắt: FeS, FeS 2 , FeSO 4 , Fe 2 (SO 4 ) 3 , FeO, Fe 2 O 3 , Fe 3 O 4 .
    Hoạt động 2
  • 39. Chủ đề 1: Hoạt động 3: Phân loại bài tập hóa học.
    • Nhiệm vụ 1 : Đọc thông tin cơ bản
    • Đọc thông tin cơ bản
    • Hình thức học: làm việc cá nhân.
    • Nhiệm vụ 2 : Phân loại 6 bài tập sau đây theo 6 tiêu chí khác nhau
    Chủ đề 1 1.1.3
  • 40. Hoạt động 3: Nhiệm vụ 2 : Phân loại bài tập
    • Hòa tan hoàn toàn 4,68 g hỗn hợp muối cacbonat của 2 kim loại A và B kế tiếp trong nhóm IIA vào dung dịch HCl thu được 1,12 lít CO 2 ở đktc. Xác định tên kim loại A,B.
    • Hòa tan 3,164 gam hỗn hợp hai muối CaCO 3 và BaCO 3 bằng dung dịch HCl dư thu được 448 ml khí CO 2 (đktc). Tính thành phần % số mol của BaCO 3 trong hỗn hợp ?
    • Tiến hành làm thí nghiệm, quan sát và viết PTHH xảy ra khi cho:
    • a. Cho từ từ dung dịch NaOH vào ống nghiệm chứa CuSO 4 .
    • b. Lọc kết tủa thu được ở thí nghiệm (a), chia làm 2 phần:
    • Phần 1: cho tác dụng với dung dịch HCl
    • Phần 2: cho tác dụng với dung dịch NH 3 dư
    • c. Kết luận gì về tính chất hóa học của Cu(OH) 2 qua thí nghiệm trên?
  • 41. Hoạt động 3: nhiệm vụ 2 : Phân loại bài tập
    • Al là kim loại hoạt động, tham gia nhiều phản ứng hóa học. Nhưng tại sao khi Cho Al tác dụng với axit H 2 SO 4 và HNO 3 đặc, nguội thì không có hiện tượng gì xảy ra?
    • Một hợp chất hữu cơ A khi bị thủy phân trong môi trường axit cho ra một chất B (chất này có xảy ra phản ứng tráng bạc) và chất C (chất này bị oxi hóa cho ra một xeton).
    • Xác định công thức cấu tạo của A. Biết rằng 1 mol A đốt cháy cho ra 4 mol CO 2 - .
    • Có 5 mẫu kim loại Ba, Mg, Fe, Al, Ag. Chỉ dùng hóa chất là dung dịch H 2 SO 4 loãng, có thể nhận biết các kim loại nào. Trình bày phương pháp nhận biết các kim loại đó.
    Hoạt động 3
  • 42. 1.1.3. Phân loại bài tập
    • Trên thực tế, khó có thể có được một tiêu chuẩn thống nhất nào về vấn đề phân loại bài tập hoá học. Nói cách khác, sự phân hoá bài tập hoá học bao giờ cũng mang tính tương đối, vì trong bất kỳ loại bài tập nào cũng chứa đựng một vài yếu tố của một hay nhiều loại khác. Tuy nhiên người ta có thể căn cứ vào những đặc điểm, dấu hiệu cơ bản để phân loại theo: Nội dung, mục đích dạy học, phương pháp cho điều kiện hay phương thức giải, đặc điểm và phương pháp nghiên cứu vấn đề, yêu cầu luyện tập kỹ năng và phát triển tư duy học sinh, mức độ khó dễ…cụ thể:
  • 43. 1.1.3. Phân loại bài tập
    • 1.3.3.2. Phân loại theo mục đích dạy học:
    • - Bài tập đặt vấn đề
    • - Bài tập truyền thụ kiến thức mới
    • - Bài tập hoàn thiện kiến thức
    • - Bài tập bồi dưỡng và phát triển tư duy
    • 1.3.3.3. Phân loại theo cách thức đánh giá kết quả bài tập
    • - Bài tập trắc nghiệm tự luận
    • - Bài tập trắc nghiệm khách quan
  • 44. 1.1.3. Phân loại bài tập
    • 1.3.3.4. Phân loại theo đặc điểm nhận thức của học sinh
    • - Bài tập ơrixtic
    • - Bài tập Algorit
    • - Bài tập kết hợp Ơrixtic và Algorit
    • 1.3.3.5. Phân loại theo các phương pháp giải bài tập
    • - Bài tập lý thuyết
    • - Bài tập thực nghiệm
    • - Bài tập định lượng
    Hoạt động 3
  • 45. Chủ đề 2: Các phương pháp giải bài tập.
    • Hoạt động 1: Nghiên cứu các phương pháp giải bài tập truyền thống.
    • Hoạt động 2: Tìm hiểu về các phương pháp giải bài tập mới .
    • .
    Môđun
  • 46. Chủ đề 2: Hoạt động 1: Nghiên cứu các phương pháp giải bài tập truyền thống.
    • Hình thức : Hoạt động nhóm chuyên gia.
    • Như đã thỏa thuận ở buổi học trước các nhóm được giao nhiệm vụ để nghiên cứu về các phương pháp giải bài tập truyền thống.
    • Nhiệm vụ 1 : Đọc thông tin cơ bản
    • Thông tin cơ bản
    • Hình thức học : học cá nhân, học ở nhà
    • Nhiệm vụ 2 : Làm việc nhóm.
    • Mỗi nhóm nghiên cứu kỹ về một loại phương pháp giải bài tập.
    • Hình thức : Làm việc nhóm: nhóm chuyên gia, làm việc ở nhà.
    1.2.1 Chủ đề 2
  • 47. Chủ đề 2: Hoạt động 1: Nghiên cứu các phương pháp giải bài tập truyền thống.
    • Nhiệm vụ 3 : Thảo luận nhóm.
    • Trao đổi thảo luận để nắm rõ về các nguyên tắc, phương pháp giải bài tập truyền thống khác cùng với các thành viên trong nhóm.
    • Hình thức: thảo luận nhóm tổ hợp (nhóm mới được hình thành bằng cách mỗi nhóm có đầy đủ các thành viên chuẩn bị các phương pháp.
    • Thời gian: 15 phút.
  • 48. Chủ đề 2: Hoạt động 1: Nghiên cứu các phương pháp giải bài tập truyền thống.
    • Nhiệm vụ 4: Đại diện của mỗi nhóm lên trình bày về bản chất, nguyên tắc, dấu hiệu của mỗi phương pháp giải dưới sự điều khiển và hướng dẫn của giáo viên. Sau đó rút ra kết luận cuối cùng.
    • Đánh giá hoạt động 1: Các tổ, nhóm tiến hành đánh giá chéo kết quả của các nhóm bạn.
    • Tự đánh giá Đánh giá lẫn nhau
    Chủ đề 2
  • 49. 1.2.1. Kĩ năng phân loại bài tập
    • Trong quá trình dạy học hoá học ở trường phổ thông việc phân loại và giải các bài tập theo từng loại là việc làm rất quan trọng. Công việc này có ý nghĩa đối với cả giáo viên và học sinh. Việc phân loại các bài tập hoá học, giúp giáo viên sử dụng chúng một cách linh hoạt hơn, phù hợp với mục đích dạy học đặt ra. Ngoài rạ, khi tiến hành phân loại còn giúp cho sinh viên phát triển được tư duy phân tích, tổng hợp và khái quát hóa.
    • Trên thực tế, khó có thể có được một tiêu chuẩn thống nhất nào về vấn đề phân loại bài tập hoá học. Nói cách khác, sự phân loại bài tập hoá học bao giờ cũng mang tính tương đối, vì trong bất kì loại bài tập nào cũng chứa đựng một vài yếu tố của một hay nhiều loại khác. Tuy nhiên người ta có thể căn cứ vào những đặc điểm, dấu hiệu cơ bản để phân loại theo các tiêu chí sau:
  • 50. 1.2.1. Kĩ năng phân loại bài tập
    • a. Phân loại dựa vào mục đích của bài tập hoá học:
    • + Bài tập để củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức và hình thành quy luật của các quá trình hoá học.
    • + Bài tập để rèn luyện kĩ năng.
    • + Bài tập để rèn luyện tư duy lôgic.
    • + Bài tập để rèn luyện năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề.
    • b. Dựa vào yêu cầu của bài tập hoá học
    • + Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
    • + Bài tập xác định thành phần % của hỗn hợp
    • + Bài tập nhận biết các chất
    • + Bài tập bằng hình vẽ
  • 51. 1.2.1. Kĩ năng phân loại bài tập
    • c. Dựa vào nội dung của bài tập hoá học
    • + Bài tập định lượng (bài toán hoá học).
    • + Bài tập lý thuyết
    • + Bài tập thực nghiệm, bài tập có nội dung thí nghiệm.
    • + Bài tập tổng hợp, loại bài tập này có nội dung chứa cả 2 hoặc 3 loại trên.
    • Trong thực tế, dựa vào nội dung kiến thức cơ bản trong chương trình hoá học phổ thông có thể phân loại chi tiết bài tập theo nội dung thành một số dạng bài tập sau:
  • 52. 1.2.1. Kĩ năng phân loại bài tập
    • - Bài tập vô cơ; bài tập hữu cơ; bài tập đai cương…
    • - Bài tập về cấu tạo nguyên tử - liên kết hoá học và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố.
    • - Bài tập tính theo công thức và phương trình hoá học.
    • - Bài tập về chất khí.
    • - Bài tập về xác định tên kim loại.
    • - Bài tập về dung dịch.
    • - Bài tập về axit - bazơ - muối.
    • - Bài tập về phản ứng ôxy hoá - khử.
    • - Bài tập về điện phân.
    • - Bài tập về nhiệt phản ứng - tốc độ phản ứng – cân bằng hoá học.
    • - Bài tập về hoá học hữu cơ.
  • 53. 1.2.1. Kĩ năng phân loại bài tập
    • d. Dựa vào phương pháp giải bài tập hoá học
    • + Bài tập sử dụng phương pháp bảo toàn: bảo toàn khối lượng, bảo toàn electron, bảo toàn điện tích, bảo toàn nguyên tố…
    • + Bài tập sử dụng phương pháp đại số
    • + Bài tập sử dụng phương pháp trung bình
    • + Bài tập sử dụng phương pháp tăng giảm khối lượng
    • + Bài tập sử dụng phương pháp đường chéo
    • + Bài tập sử dụng phương pháp đồ thị
    • + Bài tập sử dụng phương pháp quan sát
  • 54. 1.2.1. Kĩ năng phân loại bài tập
    • e. Dựa vào đặc điểm nhận thức của học sinh khi tiếp nhận bài tập
    • Có 3 dạng:
    • - Bài tập ơrixtic: là loại bài tập chứa đựng các yếu tố sau:
    • + Mâu thuẫn giữa dữ kiện, giả thiết cho và yêu cầu đặt ra của bài toán. Nó thường biểu hiện hoặc là số ẩn nhiều hơn số phương trình lập được, hoặc dữ kiện của bài toán đưa ra dễ gây cho học sinh phán đoán nhầm, hoặc nhiều phương án lựa chọn. Hay nói cách khác đây là một bài tập có nhiều dữ kiện ẩn mà học sinh không dễ gì phát hiện ra được.
    • + Bài tập chứa đựng mâu thuẫn giữa vốn kiến thức, phương pháp giải bài mà học sinh đang có với phương pháp giải bài tập mà học sinh đang tiếp nhận. Có nghĩa là xét về phương diện phương pháp giải, bài tập này hoàn toàn không quen biết đối với học sinh, buộc học sinh phải tự mình tìm ra chương trình giải, cách giải hoàn toàn mới so với trước.
  • 55. 1.2.1. Kĩ năng phân loại bài tập
    • - Bài tập algorit: Là những bài tập tương đối quen thuộc đối với người giải, người giải chỉ cần tái hiện theo lại kiến thức cũ, các kĩ năng và phương pháp giải đã biết trước đấy để tiến hành giải bài toán.
    • - Bài tập kết hợp Ơrixtic và Algorit: là dạng hỗn hợp của 2 dạng bài tập trên.
    • g. Dựa vào hình thức làm bài
    • + Bài tập trắc nghiệm tự luận
    • + Bài tập trắc nghiệm khách quan)
    Hoạt động 1
  • 56. Chủ đề 2: Hoạt động 2 : Tìm hiểu về các phương pháp giải bài tập mới.
    • Hình thức : làm việc các nhân.
    • Nhiệm vụ 1 : Đọc thông tin cơ bản
    • Thông tin cơ bản
    • Nhiệm vụ 2 : Trình bày về đặc điểm, dấu hiệu , nguyên tắc của các phương pháp.
    • Hình thức : Làm việc cả lớp
    1.2.2 Chủ đề 2
  • 57. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • 1.2.2.1. Phương pháp quy đổi
    • a. Phương pháp quy đổi trong giải toán là một phương pháp được áp dụng rất hiệu quả trong dạy học thời gian gần đây. Tuy nhiên hiện nay, các tài liệu viết về phương pháp này còn ít và chưa trình bày rề bản chất của phương pháp nên rất nhiều giáo viên và và học sinh đều ngại sử dụng phương pháp này.
    • Vậy, quy đổi là gì? Đó là một phương pháp biến đổi toán học nhằm đưa bài toán hoá học từ các dữ kiện ban đầu là một hỗn hợp phức tạp về dạng đơn giản hơn, qua đó các phép tính trở nên đơn giản và thuận tiện hơn. Nguyên tắc của phương pháp quy đổi là dựa trên nguyên tắc bảo toàn nguyên tố và bảo toàn điện tích (bảo toàn oxi hoá).
  • 58. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Có nhiều dạng quy đổi khác nhau như:
    • - Quy đổi phân tử:
    • - Quy đổi hỗn hợp gồm nhiều chất thành hỗn hợp ít chất hơn hoặc chỉ có một chất tương đương.
    • - Quy đổi một chất thành nhiều chất.
    • - Quy đổi thành nguyên tử:
    • Là phương pháp quy đổi hỗn hợp nhiều chất phức tạp thành các nguyên tử hoặc đơn chất tương ứng.
    • - Quy đổi tác nhân oxi hoá (hoặc khử)
    • Thay tác nhân oxi hoá (hoặc khử) này bằng tác nhân oxi hoá (hoặc khử) khác (quy về số mol electron trao đổi như nhau).
  • 59. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • b. Dấu hiệu sử dụng phương pháp
    • - Bài toán hỗn hợp, tổng số các chất trong hỗn hợp lớn hơn tổng số các nguyên tố tạo nên hỗn hợp.
    • - Bài toán hỗn hợp các oxit, sunfua của kim loại; xác định thành phần các nguyên tố trong hỗn hợp phức tạp; các hợp chất khó xác định số oxi hóa Cu 2 FeS 2 , Cu 2 FeS 4 .....
  • 60. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • c. Các bước giải :
    • Bước 1:
    • - Quy hỗn hợp về các nguyên tố tạo thành hỗn hợp
    • - Đặt ẩn số thích hợp cho số mol nguyên tử các nguyên tố trong hỗn hợp .
    • Bước 2:
    • - Lập các phương trình dựa vào các định luật bảo toàn: BTNT, BTKL, BT electron .
    • - Lập phương trình dựa vào các dữ kiện khác của bài toán nếu có .
    • Bước 3:
    • Giải hệ các phương trình để tìm ra kết quả.
  • 61. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Ví dụ 1 :
    • Một phôi bào sắt có khối lượng m (g) để lâu ngoài không khí bị oxi hóa thành hỗn hợp A gồm Fe, FeO , Fe 3 O 4 , Fe 2 O 3 có khối lượng 12(g) . Cho A hòa tan hoàn toàn trong dd HNO 3 thu được 2.24 lit khí NO ( sản phẩm khử duy nhất) ở đktc . Tim giá trị của m?
    • Bài giải :
    • Giả sử hỗn hợp A là hỗn hợp gồm Fe và O.
    • Đặt số mol của Fe = x (mol); số mol nguyên tử oxi = y (mol)
    • Quá trình trao đổi electron:
    • Fe + 3e
    • O + 2e
    • + 3e NO
  • 62. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Áp dụng ĐLBT electron ta có:
    • 3x = 2y + 0,3 (1)
    • Áp dụng ĐLBT khối lượng ta có:
    • 56x + 16y = 12 (2)
    • Giải hệ phương trình gồm (1) và (2) ta có :
    • x = 0,12 mol ;y = 0,18 mol. Khối lượng Fe ban đầu : 0,12 x 56 = 10,08 g .
  • 63. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Ví dụ 2:
    • Hoà tan hh gồm FeO, Fe 3 O 4 , Fe 2 O 3 có số mol bằng nhau vào dd HCl dư được dd A. Cho A td với NaOH dư, lọc lấy kết tủa đem nung trong kk đến khối lượng không đổi được 36g chất rắn. Xác định khối lượng hh đã dùng.
    • Bài giải:
    • Quy đổi hỗn hợp trên về một chất là Fe 2 O 3
    • nFe 2 O 3 = 36 : 160 = 0,225
    • 2Fe 3 O 4  3Fe2O3
    • 0,15  0,225 .
    • mhh= 232.0,15 = 34,8g
  • 64. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • 1.2.2.2. Phương pháp đồ thị
    • a. Phương pháp chung
    • Dạng 1 : Thổi từ từ khí CO 2 đến dư vào dung dịch chứa a mol Ca(OH) 2 hoặc Ba(OH) 2 . Sau phản ứng thu được b mol kết tủa.
    • Số mol CO 2 đã phản ứng là: x = b (mol)
    • y = 2a - b (mol).
    Số mol CO 2 a b x a y 2a Số mol kết tủa
  • 65. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Dạng 2 : Rót từ từ dung dịch kiềm đến dư vào dung dịch chứa a mol muối hoặc . Sau phản ứng thu được b mol kết tủa.
    • Số mol đã phản ứng là: x = 3b (mol)
    • y = 4a - b (mol).
    Số mol Al(OH) 3 Số mol a b x 3a y 4a
  • 66. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Dạng 2 : Rót từ từ dung dịch kiềm đến dư vào dung dịch chứa a mol muối hoặc . Sau phản ứng thu được b mol kết tủa.
    • Số mol đã phản ứng là: x = 2b (mol)
    • y = 4a - 2b (mol).
    Số mol Zn(OH) 2 Số mol a b x 2a y 4a
  • 67. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Dạng 3 : Rót từ từ dung dịch axit đến dư vào dung dịch chứa a mol muối hoặc . Sau phản ứng thu được b mol kết tủa.
    • Số mol đã phản ứng là: x = b (mol);
    • y = 4a - 3b (mol).
    Số mol Al(OH) 3 Số mol a b x a y 4a
  • 68. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Dạng 3 : Rót từ từ dung dịch axit đến dư vào dung dịch chứa a mol muối hoặc . Sau phản ứng thu được b mol kết tủa.
    • Số mol đã phản ứng là: x = 2b (mol)
    • y = 4a - 2b (mol).
    Số mol Zn(OH) 2 Số mol a b x 2a y 4a
  • 69. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • b. Các ví dụ
    • Ví dụ 1 : Cho 10 lít (đktc) hỗn hợp A gồm N 2 và CO 2 ở đktc vào 2 lít dung dịch Ca(OH) 2 0,02 M thì thu được 1 gam kết tủa.
    • Tính % CO 2 trong hỗn hợp A theo thể tích..
    • Lời giải
    • * Phương pháp tự luận:
    • Phương trình hoá học của những phản ứng lần lượt xảy ra như sau:
    • CO 2 + Ca(OH) 2  CaCO 3 + H 2 O (1)
    • CO 2 + H 2 O + CaCO 3  Ca(HCO 3 ) 2 (2)
    • Ta có: Số mol Ca(OH) 2 = 2. 0,02 = 0,04 (mol)
    • Số mol CaCO 3 = 1 : 100 = 0,01 (mol)
  • 70. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Trường hợp 1: Chỉ có phản ứng (1)  Ca(OH) 2 dư.
    • Theo phương trình ta có:
    • Số mol CO 2 = Số mol CaCO 3 = 0,01 (mol)
    • = Số mol Ca(OH) 2 < 0,04 (mol).
    • Vậy, A có % CO 2 =
    • Trường hợp 2: Cả phản ứng (1) và (2) đều xảy ra  Ca(OH) 2 hết.
    • Theo phương trình (1):
    • Số mol CaCO 3 (1) = Số mol Ca(OH) 2 = 0,04 (mol).
    •  Số mol CaCO 3 (2) = 0,04 - 0,01 = 0,03 (mol).
    • Theo phương trình (1) và (2):
    • Số mol CO 2 = 0,04 + 0,03 = 0,07 (mol)
    • Vậy, A có % CO 2 =
  • 71. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • * Phương pháp đồ thị:
    • Dựa vào tỷ lệ phản ứng ở phương trình (1) và (2) ta vẽ được đồ thị biểu diễn lượng kết tủa thu được theo lượng đã phản ứng như sau:
    Số mol Al(OH) 3 Số mol 0,08 0,03 0,09 0,24 0,29 0,32
  • 72. 1.2.2.Các phương pháp giải bài tập mới
    • Dựa vào đồ thị ta có ngay:
    • b. Số mol cần có để lượng kết tủa thu được lớn nhất, nhỏ nhất tương ứng là 0,24 và 0,32 (mol).
    • c. Nếu sau phản ứng thu được 2,34 gam kết tủa thì:
    • Trường hợp 1: Số mol = 0,09 (mol).
    • Trường hợp 2: Số mol = 0,29 (mol).
  • 73. TIỂU MÔĐUN II: SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
  • 74. TIỂU MÔĐUN II: SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
    • Về kiến thức
    • Về kĩ năng
    • Về thái độ
  • 75. Về kiến thức:
    • - Xây dựng được cơ chế phép giải bài toán bằng lý thuyết algorit và grap.
    • - Vận dụng có hiệu quả bài tập vào các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học.
    • - Nắm rõ được quy trình giải một bài toán và chữa một bài tập cho học sinh.
    • - Đánh giá và lựa chọn được các bài toán phù hợp với đặc điểm học sinh và tiến trình dạy học.
    Mục đích
  • 76. Về kĩ năng:
    • - Vận dụng thành thạo lí thuyết grap và tiếp cận mô đun vào việc tóm tắt bài toán
    • - Tuyển chọn, phân loại được các dạng bài toán theo các tiêu chí và mục đích khác nhau.
    • - Sử dụng có hiệu quả bài toán vào các giai đoạn của quá trình dạy học.
    • - Phát triển tư duy phân tích, tổng hợp đặc biệt là tư duy phê phán thông qua việc phân tích, đánh giá và lựa chọn bài tập.
    • - Hợp tác và làm việc theo nhóm.
    • - Tự học, tự nghiên cứu.
    • - Phương pháp làm một đề tài nghiên cứu.
    Mục đích
  • 77. Về thái độ:
    • - Có cách nhìn đầy đủ toàn diện hơn về ý nghĩa của bài tập (bài tập là một phương pháp dạy học tichs cực) trong dạy học trên cơ sở đó hình thành cho sinh viên thế giới quan khoa học về cách đánh giá và nhìn nhận vấn đề dưới nhiều góc độ và hoàn thiện hơn trong cuộc sống. Xây dựng niềm say mê đối với nghề nghiệp trong tương lai.
    • - Tự giác hoàn thành các nhiệm vụ tự học cá nhân.
    • - Tích cực tham gia hoạt động nhóm, tham gia thảo luận.
    • - Góp phần phát triển phong cách làm việc có kế hoạch, tư duy phê phán.
    Mục đích
  • 78. TIỂU MÔĐUN II: SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
    • Chủ đề 1: Một số kĩ năng cơ bản.
    • Chủ đề 2: Sử dụng bài tập trong dạy học.
  • 79. TIỂU MÔĐUN II: SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
    • - Nguyễn Xuân Trường (2006), Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông , NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội.
    • - Nguyễn Thị Bích Hiền, Giáo trình : Rèn kĩ năng sử dụng bài tập hóa học trong dạy học , Trường ĐH Vinh.
    • - Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà nội.
    • - Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
    • - Các sách giáo khoa, sách bài tập hoá học lớp 10,11,12.[3]
    • - Tuyển tập các bài toán hóa học nâng cao. NXB trẻ 1997: Trần Thành Huế.
  • 80. TIỂU MÔĐUN II: SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
    • Hoạt động nhóm, thảo luận, tự học, học trên lớp.
  • 81. SỬ DỤNG BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG DẠY HỌC
    • Chủ đề 1: Một số kĩ năng cơ bản.
    • Chủ đề 2: Sử dụng bài tập trong dạy học
    • Đánh giá cuối tiểu môđun
  • 82. Chủ đề 1: Một số kĩ năng cơ bản.
    • Hoạt động 1: Rèn luyện kĩ năng tóm tắt bài toán
    • Hoạt động 2: Rèn luyện kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán .
    • Hoạt động 3: Tìm hiểu quy trình đánh giá, tuyển chọn và lựa chọn bài toán dùng trong dạy học.
    • Hoạt động 4: Nghiên cứu quy trình chữa bài tập cho học sinh.
    Môđun
  • 83. Chủ đề 1: Hoạt động 1: Rèn luyện kĩ năng tóm tắt bài toán
    • Nhiệm vụ 1 : Hãy tóm tắt bài toán sau
    • Hình thức: Hoạt động cá nhân, làm việc tại lớp
    • Nhiệm vụ 2 : Đọc nội dung mục 2.1.1 sau đó tóm tắt lại nội dung bài toán bằng lí thuyết graph.
    • Thông tin mục
    • Hình thức: làm việc nhóm nhỏ tại lớp.
    • Nhiệm vụ 3 : Cử đại diện nhóm lên bảng trình bày về kết quả làm việc của nhóm mình, sau đó thảo luận toàn lớp dưới sự điều khiển, hướng dẫn, chỉnh sửa của giáo viên, sau đó rút ra quy trình, ý nghĩa của phương pháp tóm tắt bài toán bằng lí thuyết graph.
    Chủ đề 1 2.1.1
  • 84. Chủ đề 1: Hoạt động 1: Rèn luyện kĩ năng tóm tắt bài toán
    • Kết quả làm việc của cả lớp (những nội dung đã được giáo viên chỉnh sửa và rút ra kết luận):
    • - Tóm tắt lại bài toán
    • - Quy trình tóm tắt bài toán bằng lí thuyết graph.
    • - Ý nghĩa của việc tóm tắt bài toán bằng graph.
    • Đánh giá hoạt động 1 : Các thành viên cho điểm về kết quả làm việc của bản thân sau đó tiến hành đánh giá chéo lẫn nhau với các thành viên khác trong lớp.
    • Điển tự đánh giá: Điểm bạn đánh giá:
    • Điểm đánh giá của giáo viên:
  • 85. Hoạt động 1: Nhiệm vụ 1 : Hãy tóm tắt bài toán sau
    • Cho m (g) bột sắt ngoài không khí sau một thời gian người ta thu được 12(g) hỗn hợp B gồm : Fe, FeO, Fe 2 O 3 , Fe 3 O 4 . Hoà tan hỗn hợp này bằng dung dịch HNO 3 người ta thu được dung dịch A và 2,24 lit khí NO duy nhất (đktc). Viết phương trình phản ứng, tính m.
    Hoạt động 1
  • 86. 2.2.1. Các bước tiến hành thiết lập grap nội dung đầu bài toán (tóm tắt bài toán):
    • a. Định nghĩa : grap nội dung đầu bài toán là sơ đồ trực quan diễn tả cấu trúc logic của:
    • + Những điều kiện.
    • + Những yêu cầu (cái cần tìm) của đầu bài toán.
    • + Những mối liên hệ tương tác giữa chúng.[NNQ]
    • Thông thường trong đầu bài toán ban đầu người ta chỉ cho những dữ kiện tối thiểu cần thiết, được ghi thành lời văn của bài toán. Do đó khi lập grap của đầu bài toán, ta sẽ có 2 loại grap: graph thô và graph đủ hay còn gọi graph cơ chế giải bài toán.
  • 87. 2.2.1. Các bước tiến hành thiết lập grap nội dung đầu bài toán (tóm tắt bài toán):
    • * Graph thô là graph mô tả những mối quan hệ giữa các dữ kiện và yêu cầu tường minh; tức là các dữ kiện và yêu cầu xuất hiện một cách rõ ràng trong nội dung bài toán.
    • * Graph đủ hay graph cơ chế giải bài toán là graph mô tả những mối quan hệ giữa các dữ kiện và yêu cầu của bài toán bao gồm cả dữ kiện tường minh lẫn dữ kiện ẩn, cần và đủ để giải bài toán..
  • 88. 2.2.1. Các bước tiến hành thiết lập grap nội dung đầu bài toán (tóm tắt bài toán):
    • b. Các bước tiến hành thiết lập graph nội dung đầu bài toán (tóm tắt bài toán):
    • Trên cơ sở định nghĩa trên chúng tôi đã nghiên cứu và đưa ra algorit của quá trình tóm tắt bài toán bằng lí thuyết graph như sau:
    • Bước 1 : Xác định nội dung của các đỉnh của graph: chọn các kiến thức chốt cần và đủ tức là tất cả các dữ kiện nằm trong đầu bài, kể cả “cái cho” và “cái tìm”, sau đó mã hoá chúng theo một quy ước nhất quán.
    • Bước 2: Dựng đỉnh: đặt các số liệu “cho” và “tìm” của đầu bài toán vào vị trí các đỉnh, dữ kiện “cho” nằm phía trái, “cái tìm” nằm phía phải, hoặc các dữ kiện nằm phía trên, các yêu cầu nằm phía dưới, tuỳ thuộc vào bản chất, đặc điểm của từng bài mà chúng ta sắp xếp cho khoa học và thẩm mĩ.
  • 89. 2.2.1. Các bước tiến hành thiết lập grap nội dung đầu bài toán (tóm tắt bài toán):
    • Bước 3: Lập cung
    • Thực chất là nối các đỉnh với nhau bằng các mũi tên để diễn tả mối liên hệ phụ thuộc giữa các nội dung các đỉnh với nhau, làm sao phản ánh được logic phát triển của bài toán.
    • Bước 4: Hoàn thiện graph: Làm cho graph trung thành với nội dung được mô hình hoá về cấu trúc logic, nhưng lại giúp cho học sinh lĩnh hội được dễ dàng nội dung đó và nó phải đảm bảo tính mỹ thuật về trình bày.
  • 90. 2.2.1. Các bước tiến hành thiết lập grap nội dung đầu bài toán (tóm tắt bài toán):
    • Việc hoàn thiện graph có mục đích làm cho graph trở nên gọn gàng hơn nhưng không làm thay đổi bản chất, nội dung của bài toán. Hay nói cách khác, việc hoàn thiện graph là sắp xếp lại graph sao cho vừa đảm bảo tính thẩm mĩ nhưng đồng thời đảm bảo được tính khoa học của bài toán.
    • Theo các bước trên chúng ta thu được graph thô của bài toán, trên cơ sở của graph thô chúng ta tiếp tục nghiên cứu đề bài toán, tiếp tục phân tích, mổ xẻ và biến đổi các dữ kiện tường minh để làm xuất hiện các dữ kiện ẩn, thể hiện các thao tác biến hóa (phương tiện, hay các phép tính toán) để biến bài toán ban đầu thành những bài toán trung gian, trên cơ sở đó chúng ta thu được graph đủ hay graph cơ chế giải bài toán
    Hoạt động 1
  • 91. Chủ đề 1: Hoạt động 2: Rèn luyện kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán.
    • Nhiệm vụ 1 : Hãy giải bài tập hóa học sau và xác định quá trình của các thao tác tư duy khi tiến hành giải bài toán.
    • Nhiệm vụ 2 : Đọc nội dung 2.2.1 về cơ chế phép giải bài toán, sau đó xác định lại cơ chế giải bài toán hóa học nói trên.
    • Nội dung mục
    • Hình thức : làm việc cá nhân- tại lớp
    • Nhiệm vụ 3 : Thảo luận toàn lớp dưới sự điều khiển của giáo viên để hiểu rõ hơn quá trình của các thao tác tư duy trong khi giải bài toán trên.
    • Kết luận : Kết quả của nhiệm vụ 2 (tương đương phần thông tin phản hồi): Khái niệm về cơ chế phép giải.
    2.1.2
  • 92. Chủ đề 1: Hoạt động 2: Rèn luyện kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán.
    • Nhiệm vụ 4: Trên cơ sở những điều đã lĩnh hội được ở nhiệm vụ 1và nhiệm vụ 2, hãy tiến hành ghi lại các cơ chế phép giải của bài tập hóa học sau.
    • Nhiệm vụ 5 : Đại diện nhóm đứng lên trình bày, giáo viên hướng dẫn, chỉnh lý và rút ra kết luận về cách thức xây dựng cơ chế phép giải bài toán theo lý thuyết grap và algorit.
  • 93. Chủ đề 1: Hoạt động 2: Rèn luyện kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán.
    • Đánh giá hoạt động 1 : Hãy xây dựng cơ chế phép giải các bài toán sau:
    • Bài tâp 1 : Cho 3,0 gam một axit no, đơn chức A tác dụng vừa đủ với dung dịch NaOH. Cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được 4,1 gam muối khan. Hãy tìm CTPT của A.
    • Bài tâp 2 : Bằng phương pháp hóa học, hãy nhận biết từng hỗn hợp chất sau đây:
    • a. Fe + FeO b. FeO + Fe 2 O 3
    • c. Fe + Fe 2 O 3 d. Al + Al 2 O 3
    Chủ đề 1
  • 94. Hoạt động 2 : Nhiệm vụ 1: Hãy giải bài tập hóa học sau và xác định quá trình của các thao tác tư duy khi tiến hành giải bài toán
    • Cho hỗn hợp gồm 0,3 mol Fe, 0,15 mol Fe 2 O 3 , 0,1 mol Fe 3 O 4 tác dụng hết với dung dịch H 2 SO 4 loãng, dư thu được dung dịch A. Cho dung dịch A tác dụng với dung dịch NaOH dư, lọc kết tủa đem nung trong không khí đến khối lượng không đổi thu được m gam chất rắn C. Tính m
  • 95. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • 2.1.2.1. Vai trò của giai đoạn xây dựng cơ chế giải bài toán
    • Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán là một kĩ năng hết sức quan trọng, nó là một kĩ năng cơ bản có tính chất quyết định đến việc giải bài toán tành công hay không thành công, đồng thời nó cũng có tính chất quyết định đến việc rèn luyện các kĩ năng khác, đây có thể nói là nền tảng cho việc sử dụng có hiệu quả bài tập hoá học trong dạy học. Thông thường, khi giải một bài toán, người giải thường giải bài toán bằng kiến thức kinh nghiệm sẵn có của mình, thường tìm dấu hiệu để quy bài toán về một dạng bài toán quen thuộc trước đó, thao tác này thực chất chỉ là một phần thao tác trong tiến trình tìm cơ chế giải bài toán, nếu như vậy sẽ tạo cho học sinh thói quen ỷ lại, chán nản, lúng túng hoặc tâm lí hoang mang khi gặp một bài toán hoàn toàn mới khác so với các dạng bài toán đã gặp trước đó, do vậy khi dạy học các giáo viên chưa khai thác hết được giá trị của bài toán mang lại.
  • 96. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • Bởi thông qua việc tìm cơ chế giải bài toán mà người giải mới nắm được các góc khuất của bài toán, hiểu rõ hơn về tiến trình của tư duy, các thao tác tư duy cần được huy động, các công cụ cần thiết để giải bài toán; xác định được các kiến thức trọng tâm sẽ đạt được thông qua việc giải bài toán, nắm được các dữ kiện ẩn, các chỗ gây hiểu nhầm, trên cơ sở đó mà đánh giá được bài toán. Mặt khác thông qua việc tìm cơ chế giải bài toán mà người giải- sinh viên mới có thể xác định được các kiến thức trọng tâm sẽ đạt được thông qua việc giải bài toán, nắm được các dữ kiện ẩn, các chỗ gây hiểu nhầm, dự đoán được một số vướng mắc, các sai lầm, một số sai sót có thể mắc phải của học sinh trong quá trình giải bài toán trên cơ sở đó hướng dẫn, hình thành cho học sinh tìm cách giải bài toán một cách khoa học mà không phải mò mẫm hoặc dựa trên những tình huống quen thuộc. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh cách thức suy nghĩ hay tư duy để giải quyết một vấn đề.
  • 97. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • Để có thể xây dựng được cơ chế giải bài toán thì người giải phải thực sự hiểu đề và nắm được các phương pháp giải truyền thống cũng như cập nhật được các phương pháp giải mới. Điều này không những giúp cho người giải- sinh viên thực hiện nhanh hơn tiến trình giải bài toán mà còn tạo cho mình một khối kiến thức kinh nghiệm về phương pháp giải nhằm sau này hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng giải toán cho học sinh. Tuy nhiên sẽ không đủ nếu chỉ tập trung vào việc hướng dẫn học sinh giải bài tập bằng các phương pháp sẵn có mà quan trọng là phải biết hướng dẫn các em về phương pháp, cách thức tìm con đường giải quyết yêu cầu đặt ra của bài toán, hay một cách khái quát hơn là con đường, cách thức giải quyết một vấn đề trong học tập.
  • 98. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • 2.1.2.2. Bản chất của cơ chế phép giải bài toán
    • a. Khái niệm về cơ chế phép giải bài toán
    • Theo [NNQ] cơ chế của phép giải bài toán, thực chất là quá trình biến đổi bài toán ban đầu thành chuỗi liên tiếp những bài toán trung gian sơ đẳng hơn, cơ bản hơn, cho đến khi khắc phục được mâu thuẫn giữa điều kiện và yêu cầu của bài toán.
  • 99. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • b. Bản chất của việc tìm cơ chế phép giải bài toán
    • Tìm cơ chế giải bài toán thực chất là quá trình tìm cách khắc phục sự không phù hợp hoặc mâu thuẫn giữa các điều kiện và các yêu cầu của bài toán, biến đổi chúng để cuối cùng đưa chúng đến sự thống nhất. Thông thường, các dữ kiện của bài toán cho không đáp ứng ngay được yêu cầu của bài toán, hay nói cách khác dữc kiện của bài toán còn chưa đủ buộc người giải phải tìm cách biến đổi tập hợp những điều kiện, tìm thêm những số liệu mới, song song với nó người giải còn phải biến đổi các yêu cầu cho đến khi nào các dữ kiện tìm thêm và các yêu cầu tìm thêm tương tác với nhau và tìm được sự phù hợp thì quá trình biến đổi sẽ dừng lại. Đấy cũng chính là thời điểm tìm ra được cách thức giải bài toán, sự mâu thuẫn giữa dữ kiện và yêu cầu của bài toán không còn nữa và cũng là lúc kết thúc việc tìm cơ chế giải bài toán.
  • 100. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • Thực ra quá trình này không phải dễ dàng đối với người giải mà nó thực chất là một con đường tìm kiếm cách thức giải quyết vấn đề hết sức phức tạp, con đường tìm kiếm nó không có sẵn, có lúc thành công cũng có khi thất bại buộc phải tìm cách thức khác, D.Pôlya đã viết về giai đoạn này như sau: &quot;giai đoạn này thường dài lâu và quanh co, ý niệm của chương trình giải có thể được thành hình dần dần, hoặc là sau những lần thử dường như không có kết quả và hững nghi ngờ kéo dài, nó có thể xuất hiện như một ánh chớp...&quot;[NNq]. Chính trong quá trình biến đổi này người giải phải liên tiếp đặt ra các hệ thống câu hỏi để tìm ra các dữ kiện bổ sung và các yêu cầu tìm thêm. Cụ thể trong quá trình biến đổi yêu cầu thì đặt ra các câu hỏi: để tìm được yêu cầu này thì cần có những dữ kiện nào, các dữ kiện được đưa ra tiếp theo sẽ là các yêu cầu mới được biến đổi.
  • 101. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • Cũng tương tự như vậy với sự biến đổi các dữ kiện, chúng ta đặt ra câu hỏi: dữ kiện này có nghĩa là gì, nó tương đương với dữ kiện nào? Trả lời cho câu hỏi đó sẽ là các dữ kiện biến đổi hay có thể gọi là các dữ kiện ẩn của bài toán. . Mặt khác, trong quá trình biến đổi bài toán chúng ta luôn luôn cho các yêu cầu tìm thêm tương tác với các dữ kiện ban đầu hoặc dữ kiện đã được biến đổi của bài toán xem chúng có phù hợp, thoả mãn hay chưa để xác định phương hướng biến đổi tiếp theo cho bài toán. Như vậy, nét bản chất ở đây chính là quá trình biến đổi bài toán bằng cách biến đổi các dữ kiện và các yêu cầu.
  • 102. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • Trong quá trình biến đổi, người giải thường tự hỏi: &quot;bài toán này (hay bộ phận của nó) giống bài toán nào mà ta đã giải?&quot;. Đó là hành động nhận biết, phân loại bài toán và so sánh nó với vốn kinh nghiệm của bản thân. Có thể bắt gặp một trong ba trường hợp sau:
    • - Bài toán đang xét giống hệt một bài toán nào đó mà người giải đã từng giải trước đây, và như thế chỉ việc áp dụng algorit giải dã có sẵn trong kinh nghiệm của người giải; đối với bản thân đây là &quot;bài toán algorit&quot;;
    • - Bài toán hoàn toàn không quen biết đối với người giải, anh ta phải tự mình tìm ra chương trình giải, đây là &quot;bài toán ơrixtic&quot; đối với người giải, nó hoàn toàn ngược lại với bài toán algorit ở trên;
  • 103. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • - Bài toán có thể có một bộ phận nào đó ít hay nhiều giống với bài toán mà người giải đã từng gặp, đó là dạng &quot;bài toán algorit-ơrixtic&quot; đối với người giải.
    • Cho nên khi gặp một trong hai dạng bài toán ơrixtic hay algorit-ơrixtic, quá trình biến đổi bài toán (xây dựng cơ chế phép giải bài toán) sẽ rơi vào một trong hai trường hợp sau:
    • - Trường hợp 1: trong quá trình biến đổi đã chuyển được bài toán ban đầu thành một bài toán thuộc một trong các dạng quen thuộc trước đó đã gặp, lúc này bài toán đã được chuyển từ bài toán dạng ơrixtic thành bài toán dạng algorit, lúc này sự biến đổi tiếp theo của bài toán thực chất là vận dụng các phương pháp giải đã biết trước đó để tiếp tục biến đổi chúng (sự biến đổi bài toán tiếp theo được dựa vào algorit giải bài toán quen thuộc đã biết).
  • 104. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • - Trường hợp 2: trong quá trình biến đổi bài toán không chuyển về được dạng bài toán quen thuộc dã biết trước đó, khi đó người giải tiếp tục biến đổi cho đến khi nào các dữ kiện được biến đổi đáp ứng được yêu cầu đặt ra của bài toán thì thôi.
    • Kinh nghiệm cho thấy rằng sự biến đổi nên bắt đầu từ sự biến đổi từ yêu cầu của bài toán.
    • Do vậy, có thể nói quá trình xây dựng cơ chế giải bài toán thực chất là quá trình phát biểu nội dung bài toán n lần. Mỗi lần phát biểu nội dung bài toán tương ứng với một lần biến đổi dữ kiện và yêu cầu bài toán. Theo chuỗi sự biến đổi từ đầu bài toán thì mức độ bài toán sẽ biến đổi dần từ khó đến dễ.
  • 105. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • 2.1.2.3. Lập grap của algorit xây dựng cơ chế phép giải bài toán
    • Dựa trên cơ sở nghiên cứu bản chất của cơ chế phép giải bài toán, chúng tôi đã xây dựng được algorit các bước xây dựng cơ chế phép giải và lập ra graph của algorit xây dựng cơ chế giải bài toán như sau nhằm tăng tính khái quát, trực quan, dễ hiểu và dễ sử dụng.
    • a. Algorit các bước xây dựng cơ chế phép giải bài toán
    • Bước 1: biến đổi yêu cầu
    • Bước 2: cho yêu cầu vừa được biến đổi tương tác với dữ kiện đã cho của bài toán. Nếu đáp ứng được (hay còn gọi là phù hợp) thì đi đến kết luận về phương pháp giải bài toán. Nếu không phù hợp thì tiếp tục thì chuyển sang bước thứ 3.
  • 106. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • Bước 3: tiếp tục biến đổi yêu cầu tìm thêm ở bước trên và cho tương tác với dữ kiện tìm thêm, nếu không thoả mãn thì tiếp tục biến đổi chúng và kiểm tra sự tương tác giữa chúng cho đến khi nào thoả mãn thì dừng lại.
    • Thực chất ở bước thứ 2 và bước thứ 3 đã tạo nên một vòng lặp về cấu trúc hoạt động.
    • b. Lập grap của algorit xây dựng cơ chế phép giải bài toán.
    • Nếu như algorit của việc xây dựng cơ chế phép giải bài toán nhằm chỉ ra các bước cần thực hiện để tìm ra cơ chế phép giải bài toán thì grap của algorit xây dựng cơ chế giải bài toán là sơ đồ trực quan diễn tả các bước cần thực hiện đã được mã hoá để tìm ra cơ chế phép giải bài toán. Vậy grap của algorit xây dựng cơ chế phép giải bài toán như sau:
  • 107. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • Hình 2.2.2.1: mô tả quá trình biến đổi bài toán trong khi giải.
    Bài toán Dữ kiện Yêu cầu Kết luận về lời Thoả mãn Tương tác với nhau Phát biểu lại BT Không thoả mãn thì tiếp tục biến đổi
  • 108. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán BT END Thoả mãn Tương tác với nhau Không thoả mãn thì biến đổi lần I (i=1 n)
  • 109. 2.1.2. Kĩ năng xây dựng cơ chế giải bài toán
    • d) Algorit giải
    • Khi đã lập được algorit xây dựng cơ chế phép giải bài toán, chúng ta dễ dàng lập được algorit giải bài toán bằng cách đi ngược lại algorit tìm cơ chế giải bài toán. Lúc này chúng ta sẽ biên soạn được qui trình các bước giải, ở mỗi bước thực hiện những phép biến đổi nào để đi đến đáp số. Đó là algorit của chương trình giải.
    • Grap giải và algorit giải bài toán gắn bó hữu cơ với nhau, grap giải là cơ sở khách quan để xác định algorit tương ứng của nó. Không những thế grap còn cho phép ta tính toán được mức độ phức tạp và khó khăn của chương trình giải một bài toán nhất định, căn cứ vào cấu trúc của grap giải.
    Hoạt động 2
  • 110. Chủ đề 1: Hoạt động 2: Nhiệm vụ 4:Xác định cơ chế phép giải của bài tập hóa học sau
    • Để m gam bột sắt (A) ngoài không khí, sau một thời gian biến thành hỗn hợp (B) có khối lượng 12 gam gồm Fe, FeO, Fe 3 O 4 , Fe 2 O 3 . Cho B tác dụng hoàn toàn với dung dịch HNO3 thấy sinh ra 2,24l khí NO duy nhất ở đktc. Tính m.
    • Hình thức : hoạt động nhóm.
    Hoạt động 2
  • 111. Chủ đề 1: Hoạt động 3: Tìm hiểu quy trình đánh giá, tuyển chọn và lựa chọn bài toán dùng trong dạy học.
    • Nhiệm vụ 1: Làm việc toàn lớp.
    • Phân tích tác dụng của bài toán hóa học sau.
    • Nhiệm vụ 2 : Đề xuất quy trình đánh giá và tuyển chọn một bài tập dùng trong dạy học.
    • Hình thức: Hoạt động nhóm.
    • Nhiệm vụ 3 : Thảo luận toàn lớp dưới sự điều khiển của giáo viên và rút ra kết luận.
    • Kết quả của nhiệm vụ 3: Quy trình đánh giá và tuyển chọn bài toán.
    Chủ đề 1
  • 112. Hoạt động 3: Nhiệm vụ 1: Phân tích tác dụng của bài toán hóa học sau
    • Cho 0,4 mol Cu và 0,1 mol Fe 3 O 4 phản ứng hoàn toàn với 400 ml dd HCl 2M thu được dd A và chất rắn B. Cho A tác dụng với dd AgNO 3 dư được m gam kết tủa. Tính giá trị của m?
    Hoạt động 3 Hoạt động 4
  • 113. Chủ đề 1: Hoạt động 4: Nghiên cứu quy trình chữa bài tập cho học sinh.
    • Hình thức: làm việc toàn lớp.
    • Nhiệm vụ 1 : Giả sử bạn là một giáo viên, bạn hãy chữa bài tập hóa học trên cho học sinh.
    • Nhiệm vụ 2: Thảo luận chung toàn lớp: góp ý chung về quy trình chữa bài tập của bạn dưới sự điều khiển của giáo viên và rút ra quy trình chữa bài tập.
    Chủ đề 1
  • 114. Chủ đề 2: Sử dụng bài tập trong dạy học
    • Hoạt động 1: Nghiên cứu việc sử dụng bài tập trong dạy học nội khóa.
    • Hoạt động 2 : Nghiên cứu các dạng bài tập dùng trong dạy học ngoại khóa: bồi dưỡng kiến thức, phát triển tư duy cho học sinh.
    Môđun
  • 115. Chủ đề 2: Hoạt động 1: Nghiên cứu việc sử dụng bài tập trong dạy học nội kh
    • (Công tác chuẩn bị cho hoạt động 1: Mỗi cá nhân đọc tài liệu của giáo viên giao tìm hiểu về các biện pháp sử dụng bài tập để phát triển tư duy cho học sinh. Tìm hiểu về việc sử dụng bài tập hóa học vào các giai đoạn của quá trình dạy học.
    • Hình thức : Làm việc ở nhà.)
    • Nhiệm vụ 1: Trao đổi, thảo luận với các bạn trong nhóm về kết quả làm việc ở nhà bao gồm các nội dung:
    • Ý nghĩa của các giai đoạn trong quá trình dạy học: giai đoạn đặt vấn đề, giai đoạn nghiên cứu nội dung bài mới, giai đoạn hoàn thiện kiến thức, giai đoạn bồi dưỡng và phát triển tư duy.
    • Nhiệm vụ 2 : Đọc thông tin cơ bản 2.2.1 và đề xuất một số bài toán dùng để đặt vấn đề trong dạy học, nêu đặc điểm của bài toán, giải thích rõ lí do vì sao lại chọn nội dung bài toán đó.
    • Thông tin cơ bản
    • Hình thức : hoạt động nhóm
    2.2.1 Chủ đề 2
  • 116. Chủ đề 2: Hoạt động 1: Nghiên cứu việc sử dụng bài tập trong dạy học nội khóa.
    • Nhiệm vụ 3: Cùng giáo viên thảo luận để rút ra đặc điểm của các bài toán dùng để đặt vấn đề trong dạy học, ý nghĩa của việc sử dụng bài toán. Lấy ví dụ chứng minh.
    • Nhiệm vụ 4: Đọc thông tin cơ bản 2.2.2, sau đó thảo luận cùng với các bạn trong nhóm về các nội dung: ý nghĩa của việc sử dụng bài tập trong khi nghiên cứu tài liệu mới, khi hoàn thiện kiến thức, về đặc điểm của các bài tập có thể vận dụng vào các giai đoạn này, hãy lấy một số ví dụ chứng minh.
    • Đọc thông tin cơ bản
    • Hình thức : thảo luận nhóm
    • Nhiệm vụ 5 : Phân tích tác dụng của các bài tập sau, chỉ rõ phạm vi sử dụng nó trong quá trình dạy học.
    • Hình thức: hoạt động nhóm
    2.2.2 Chủ đề 2
  • 117. 2.2.1.Sử dụng bài toán dùng để đặt vấn đề trong dạy học
    • a. Ý nghĩa của bước đặt vấn đề trong dạy học hóa học.
    • Bước đặt vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong dạy học hóa học. Đây là bước có mục đích tạo tâm thế, động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Thông qua nó mà tao được sự chú ý, kích thích được nội lực của người học hay nhu cầu về mặt nhận thức đối với người học. Chính vì vậy nếu làm tốt bước này, thì ở bước nghiên cứu hay giải quyết vấn đề sẽ kích thích được nội lực của người học làm cho người học tham gia một cách tích cực, tự giác hơn đồng thời giáo viên có thể biến quá trình học tập thành quá trình tự học- tự nghiên cứu, do vậy, mà học sinh vừa lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, nhớ lâu kiến thức vừa học hỏi được cách thức giải quyết vấn đề một cách khoa học.
  • 118. 2.2.1.Sử dụng bài toán dùng để đặt vấn đề trong dạy học
    • b. Đặc điểm của bài toán dùng đặt vấn đề trong dạy học.
    • Bài toán dùng để đặt vấn đề trong dạy học phải là một bài toán ơrxtic, đó là những bài toán có xuất hiện mâu thuẫn về mặt nhận thức đối với người tiếp nhận (đối với học sinh) lẫn phương pháp giải. Đây là bài toán tìm tòi chứ không phải là bài toán tái hiện và nó có các đặc điểm sau:
    • - Bài toán phải xuất hiện từ cái quen thuộc, cái đã biết và vừa sức đối với người học.
    • - Bài toán nêu vấn đề không có đáp số đã chuẩn bị sẵn. Tức là, phải chứa đựng một chướng ngại nhận thức mà người giải phải tìm tòi phát hiện chứ không thể dùng sự tái hiện hay sự thực hiện các thao tác đơn thuần nào đó để tìm ra lời giải.
  • 119. 2.2.1.Sử dụng bài toán dùng để đặt vấn đề trong dạy học
    • Mâu thuẫn nhận thức trong bài toán tìm tòi cần được cấu trúc lại một cách sư phạm để thực hiện được đồng thời cả hai tính chất trái ngược nhau (vừa sức, xuất phát từ cái quen biết và không có lời giải chuẩn bị sẵn). Cấu trúc này có tác dụng kích thích học sinh tìm tòi và phát hiện (dựa vào tình huống có vấn đề).
    Hoạt động 1
  • 120. 2.2.2. Xây dựng hệ thống bài tập dùng khi nghiên cứu tài liệu mới.
    • a. Ý nghĩa của việc dùng bài tập trong giai đoạn nghiên cứu tài liệu mới.
    • Bài tập hóa học được sử dụng là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, khi trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc. Việc nghiên cứu một kiến thức mới thường bắt đầu bằng việc nêu vấn đề. Mỗi vấn đề xuất hiện khi nghiên cứu tài liệu mới cũng là một bài tập đối với học sinh. Để làm một vấn đề trở nên mới và hấp dẫn và xây dựng vấn đề nghiên cứu còn có thể dùng cách giải bài tập. Việc xây dựng các vấn đề dạy học bằng bài tập không những sẽ kích thích được hứng thú cao của học sinh đối với kiến thức mới sắp được học, mà còn tạo ra khả năng củng cố kiến thức đã có và xây dựng được mối liên quan giữa kiến thức cũ và mới đồng thời phát triển được tư duy cho học sinh thông qua hoạt động giải bài toán.
  • 121. 2.2.2. Xây dựng hệ thống bài tập dùng khi nghiên cứu tài liệu mới.
    • b. Đặc điểm của các bài tập dùng khi nghiên cứu tài liệu mới.
    • Nếu bài toán dùng trong khi đặt vấn đề trong dạy học phải là một bài toán ơrixtic thì bài toán dùng trong giai đoạn nghiên cứu tài liệu mới là “bài toán algorit, hoặc algorit-ơrixtic”. Việc giải bài toán đối với học sinh không quá khó khăn về mặt thuật toán, thường học sinh chỉ cần tái hiện lại các kiến thức và các kĩ năng tính toán, các phương pháp giải mà mình đã có để giải bài toán, hoặc sẽ giải được sau khi nghiên cứu xong tài liệu mà giáo viên cho, song điểm nổi bật là chính trong quá trình giải bài toán hoặc sau khi kết thúc giai đoạn giải bài toán mà học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Nó thường được thể hiện ở những điểm sau:
  • 122. 2.2.2. Xây dựng hệ thống bài tập dùng khi nghiên cứu tài liệu mới.
    • - Bài tập hóa học phải được xây dựng trên cơ sở kiến thức đã học để HS có thể giải được nhưng đồng thời đó cũng là con đường đi đến kiến thức mới.
    • - Điều quan trọng nhất những thông tin đưa ra phải mang một tình huống để HS phải suy nghĩ, hạn chế đưa ra những bài tập quá đơn giản có tính nhắc lại hoặc xem sách để trả lời.
    • - Bài tập hóa học ở đây có thể là bài tập trắc nghiệm khách quan hay tự luận: Câu hỏi trả lời, bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thực nghiệm, bài tập thực tiễn ...
  • 123. 2.2.2. Xây dựng hệ thống bài tập dùng khi nghiên cứu tài liệu mới.
    • c. Sử dụng bài tập trong dạy bài học bài mới ở trường THPT
    • - Sử dụng bài tập hóa học như một công cụ để tìm kiếm kiến thức vì vậy người GV đóng vai trò rất quan trọng từ khâu thiết kế bài tập đến việc khai thác bài tập như thế nào để HS nhận ra được kiến thức cần hướng đến. Ở đây, GV cần đưa HS vào tư thế của một nhà nghiên cứu.
    • - Bài tập hóa học có thể đưa ra ở dạng phiếu học tập hoặc có thể đưa ra dưới hình thức máy chiếu hoặc cũng có thể là câu hỏi bằng lời rất đơn giản dễ sử dụng hoặc một bài tập thực nghiệm.
    • - Bài tập hóa học dùng trong dạy học bài mới phải kết hợp với hình thức hoạt động nhóm thì mới phát huy hết tính tích cực của HS.
  • 124. 2.2.2. Xây dựng hệ thống bài tập dùng khi nghiên cứu tài liệu mới.
    • - Cách tổ chức dạy học:
    • + GV chia ra làm nhiều nhóm, chọn nhóm trưởng.
    • + Phát phiếu học tập hoặc dùng máy chiếu, đối với những bài tập có nhiều câu hỏi nhỏ thì ta nên chiếu từng câu nhỏ để HS giải quyết tránh đưa một lúc nhiều câu hỏi nhỏ làm cho HS lúng túng.
    • + Phát dụng cụ hóa chất thí nghiệm cho từng nhóm (nếu có).
    • + Các nhóm thảo luận việc độc lập dưới sự hướng dẫn và giám sát của GV.
    • Sau một thời gian, nhóm nào hoàn thành trước sẽ lên bảng báo cáo kết quả.
    • GV cho HS nhận xét và bổ sung để hoàn chỉnh bài tập.
  • 125. 2.2.2. Xây dựng hệ thống bài tập dùng khi nghiên cứu tài liệu mới.
    • - Ưu điểm của việc dùng bài tập hóa học để dạy bài mới: Có thể dùng ở bất kỳ trường nào mà không phụ thuộc quá nhiều vào cơ sở vật chất.
  • 126. 2.2.3. Bài tập dùng khi hoàn thiện kiến thức.
    • a. Vai trò của giai đoạn hoàn thiện kiến thức.
    • Hoàn thiện kiến thức có nghĩa là làm sáng tỏ thêm biểu tượng về vật thể và hiện tượng nghiên cứu bằng cách phân biệt, so sánh, đối chiếu chúng, làm chính xác sâu sắc thêm các khái niệm bằng cách tách riêng những dấu hiệu, bản chất, thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm và khái quát hơn nữa các kiến thức đã thu được; làm sáng tỏ các định luật, các quan điểm cơ bản của thuyết cấu tạo chất, việc điều khiển các phản ứng hóa học.[NNQ]
    • Vì vậy, giai đoạn hoàn thiện kiến thức hết sức quan trọng nó góp phần khắc sâu độ bền kiến thức cho học sinh, nếu chúng ta chỉ làm tốt việc học sinh tiếp thu tốt kiến thức mà không để ý đến giai đoạn này chẳng khác gì hiện tượng đầu voi đuôi chuột, kiến thức sẽ dễ bị bào mòn, mặt khác một điều nữa cũng không kém phần quan trọng đó là giúp cho học sinh biết vận dụng kiến thức đã học vào một tình huống mới
  • 127. 2.2.3. Bài tập dùng khi hoàn thiện kiến thức.
    • b . Đặc điểm các bài toán trong hoàn thiện kiến thức.
    • - Mang tính khái quát, tổng hợp nhiều kiến thức.
    • - Có tính suy luận, dùng nhiều thao tác phán đoán.
    • - Cần sử dụng nhiều tao tác tư duy, có phân tích, biện luận.
    • Có thể là các bài tập:
    • + Giải thích hiện tượng.
    • + Nhận biết.
    • + Tách.
    • + Điều chế.
    • + các bài toán tính toán.
  • 128. 2.2.3. Bài tập dùng khi hoàn thiện kiến thức.
    • c.. Nguyên tắc xây dựng các bài tập củng cố kiến thức.
    • Bài tập hóa học để củng cố là một bộ phận trong hệ thống bài tập hóa học nói chung, nên trước hết phải căn cứ vào các nguyên tắc chung của việc xây dựng bài tập mới. Điểm khác biệt ở đây là các bài tập không chỉ đơn thuần là đòi hỏi tái hiện kiến thức cũ, ở đây học sinh vừa phải tái hiện kiến thức cũ vừa phải vận dụng nó để giải quyết một tình huống mới chưa quen biết hay có thể là một tình huống đã gặp. Nhưng trong một hoàn cảnh mới, có nghĩa là khi học sinh giải được xong một bài tập loại này thì học sinh không chỉ nhớ mà hiểu các kiến thức đã học và tự rút ra (hay lĩnh hội) được những kiến thức mới mà tại thời điểm làm bài tập các em chưa biết.
  • 129. 2.2.3. Bài tập dùng khi hoàn thiện kiến thức.
    • Bài tập hóa học là một hình thức củng cố, ôn tập hệ thống hóa kiến thức một cách sinh động và hiệu quả. Khi giải bài tập hóa học, HS phải nhớ lại kiến thức đã học, phải đào sâu một khía cạnh nào đó của kiến thức hoặc phải tổ hợp, huy động kiến thức để có thể giải quyết được bài tập. Tất cả thao tác tư duy đó đã góp phần củng cố, khắc sâu mở rộng kiến thức, giúp cho HS hình thành được các kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình giải BT hóa học.
    Hoạt động 1
  • 130. Hoạt động 1: Nhiệm vụ 5: Phân tích tác dụng của các bài tập sau, chỉ rõ phạm vi sử dụng nó trong quá trình dạy học
    • Bài 1: Tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng và viết các PTHH xảy ra:
    • TN1: Cho Al 2 O 3 tác dụng với dung dịch NaOH dư.
    • TN2: Cho Al 2 O 3 tác dụng với dung dịch HCl dư.
    • a. Nêu hiện tượng xảy ra ở 2 thí nghiệm trên.
    • b. Kết luận gì về tính chất hóa học của Al 2 O 3 qua thí nghiệm trên?
    • Bài 2: Hoàn thành các phương trình phản ứng oxi hóa - khử theo các sơ đồ sau. Hãy xác định các chất oxi hóa, chất khử và nêu vai trò của HNO3 loảng trong các phản ứng đó.
    • HI + HNO 3 (l) I 2 + NO + ........
    • FeS + HNO 3 (l) H 2 SO 4 + N 2 O + ........
    • Zn + HNO 3 (l) NH 4 NO 3 + ........
  • 131. Hoạt động 1: Nhiệm vụ 5: Phân tích tác dụng của các bài tập sau, chỉ rõ phạm vi sử dụng nó trong quá trình dạy học
    • Bài 3: Hỗn hợp X gồm benzen, phenol và anilin. Hãy trình bày phương pháp hóa học để lấy riêng từng chất nguyên chất.
    • Bài 4: Giải thích vì sao nước clo, nước gia ven có tính tẩy màu?
    • Bài 5: Hoàn thành sơ đồ phản ứng sau. Từ đó cho biết phương pháp điều chế CuO và tính chất hóa học của CuO.
    Hoạt động 1
  • 132. Chủ đề 2: Hoạt động 2 : Nghiên cứu các dạng bài tập dùng trong dạy học ngoại khóa: bồi dưỡng kiến thức, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Nhiệm vụ 1 : Trao đổi, thảo luận với các bạn trong nhóm về kết quả làm việc ở nhà bao gồm các nội dung:
    • Các biện pháp, các dạng bài tập dùng để phát triển tư duy cho học sinh.
    • Nhiệm vụ 2 : Đại diện của nhóm đứng lên trình bày về các biện pháp bồi dưỡng kiến thức, phát triển tư duy cho học sinh thông qua bài tập hóa học, các thành viên khác còn lại lắng nghe đánh giá, góp ý kiến để hoàn thiện nội dung: Sử dụng bài tập dùng để phát triển tư duy cho học sinh.
    • Nhiệm vụ 3: Đọc thông tin cơ bản 2.2.4, sau đó đề xuất một số bài tập dùng để bồi dưỡng kiến thức, phát triển tư duy cho học sinh.
    • T hông tin cơ bản
    2.2.4 Chủ đề 2
  • 133. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • a. Đặc điểm bài toán có thể dùng để phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi.
    • Những bài toán có thể đánh giá, phân loại trình độ học sinh, đặc biệt là để phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về hoá học là những bài toán có tính chất Ơrixtic. Đó là các bài toán chứa đựng mâu thuẫn giữa vốn kiến thức, phương pháp giải bài mà học sinh đang có cùng với các dữ kiện của bài toán với yêu cầu của bài toán. Có nghĩa là xét về phương diện phương pháp giải, bài tập này hoàn toàn không quen biết đối với học sinh, buộc học sinh phải tự mình tìm ra chương trình giải, cách giải mới so với trước.
  • 134. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Song nếu việc giải bài toán kết thúc thì học sinh sẽ nhận thức được tri thức mới: có thể là một khái niệm kiến thức mới, cũng có thể là một phương pháp giải bài tập mới, cũng có thể là những kiến thức mở rộng, khắc sâu những nội dung đã được học;... hình thành được cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. Vì vậy, học sinh thường có được niềm vui sướng của sự nhận thức thông qua việc giải bài tập.
    • Nó thường biểu hiện hoặc là số ẩn nhiều hơn số phương trình lập được, hoặc dữ kiện của bài toán đưa ra dễ gây cho học sinh phán đoán nhầm, hoặc nhiều phương án lựa chọn trong cách giải bài toán, hoặc bài toán có nhiều cách giải... Hay nói cách khác đây là một bài tập có nhiều dữ kiện ẩn mà học sinh không dễ gì phát hiện ra được.
  • 135. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • b. Các dạng bài tập có thể dùng để bồi dưỡng học sinh giỏi
    • * Bài tập có nhiều cách giải.
    • Ví dụ : Hoà tan 10gam hỗn hợp 2 muối Cacbonnat kim loại hoá trị 2 và 3 bằng dung dịch HCl dư thu được dung dịch A và 0,672 lít khí (đktc).Hỏi cô cạn dung dịch A thu được bao nhiêu gam muối khan?
    • Bài giải :
    • Cách 1: (sử dụng phương pháp tăng giảm khối lượng)
    • Ta gọi hai kim loại có hoá trị 2 và 3 lần lượt là X và Y, ta có phản ứng:
    • XCO 3 + 2HCl -> XCl 2 + CO 2 + H 2 O (1)
    • Y 2 (CO 3 ) 3 + 6HCl -> 2YCl 3 + 3CO 2 + 3H 2 O (2).
  • 136. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Số mol chất khí tạo ra ở chương trình (1) và (2) là:
    • Theo phản ứng (1, 2) ta thấy cứ 1 mol CO 2 bay ra tức là có 1 mol muối Cacbonnat chuyển thành muối clorua và khối lượng tăng 71 - 60 = 11 (gam) ( ).
    • Số mol khí CO 2 bay ra là 0,03 mol do đó khối lượng muối khan tăng lên:
    • 11 . 0,03 = 0,33 (gam).
    • Vậy khối lượng muối khan thu được sau khi cô cạn dung dịch.
    • m (muối khan) = 10 + 0,33 = 10,33 (gam).
  • 137. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Cách 2: (sử dụng định luật bảo toàn khối lượng)
    • Theo (1) và (2):
    • Số mol HCl = 2lần số mol CO 2 = 2.0,03= 0,06 mol
    • Số mol H 2 O = số mol CO 2 = 0,03 mol
    • Gọi m là khối lượng muối khan thu được khi cô cạn dung dịch A, áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:
    • mXCO 3 + mY 2 (CO 3 ) 3 + mHCl = mXCl 2 + mYCl 3 + mCO 2 + mH 2 O
    •  10 + 0,06.36,5 = m + 0,03(44 + 18)
    •  m = 10,33 gam
  • 138. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • *Bài tập có cách giải nhanh
    • Ví dụ: ( Đề TSĐH, khối A- 2008)
    • Cho 11,36g hỗn hợp gồm Fe, FeO, Fe 2 O 3 và Fe 3 O 4 phản ứng hết với dung dịch HNO 3 loãng dư, thu được 1,344 lít khí NO ( sản phẩm khử duy nhất ở điều kiện tiêu chuẩn) và dung dịch X. Cô cạn dung dịch X thu được m gam muối khan, giá trị m là:
    • A. 35,50g B. 34,36g C. 49,09g D. 38,72g
    • Bài giải:
    • Ta quy hỗn hợp về hai chất Fe và Fe 2 O 3 có số mol tương ứng là x và y.
    • Ta có hệ phương trình:
  • 139. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Fe + 4HNO 3  Fe(NO 3 ) 3 + NO + 2H 2 O
    • 0,06 0,06 0,06
    • Fe 2 O 3 + 6HNO 3  2Fe(NO 3 ) 3 + 3H 2 O
    • 0,05 0,1
    •  m = (0,06 + 0,1) x 242 = 38,72(g)
  • 140. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • *Các bài toán có tính chất biện luận :
    • Việc giải các bài toán có tính chất biện luận không những rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá mà còn giúp học sinh rèn luyện và phát triển ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, cách trình bày một vấn đề...
    • Ví dụ 1 : Hợp chất A ( C 9 H 11 NO 2 ) là dẫn xuất của benzen tác dụng được với axit và bazơ. Biết: A+ HNO 2  B (C 9 H 10 O 3 ); Đun B với H 2 SO 4 đặc  C (C 9 H 8 O 2 ); C phản ứng với dung dịch thuốc tím đun nóng trong dung dịch H 2 SO 4 loãng cho D (C 8 H 6 O 4 ) và D có tính đối xứng cao.
    • Biện luận tìm CTCT của A,B,C,D. Viết phương trình phản ứng xảy ra.
  • 141. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Giải :
    • A (C 9 H 11 NO 2 ) là dẫn xuất của benzen phản ứng được với HNO 2 tạo ra B (C 9 H 10 O 3 )  A chứa nhóm –NH 2 .
    • B (C 9 H 10 O 3 ) đun với H 2 SO 4 đặc  C ( C 9 H 8 O 2 ) Đây là phản ứng tách nước của rượu tạo ra hợp chất có liên kết đôi.
    • C (C 9 H 8 O 2 ) + KMnO 4 + H 2 SO 4  D ( C 8 H 6 O 4 ): đây là phản ứng oxihóa cắt mạch. D có tính đối xứng cao  D có các nhóm thế ở vị trí para của nhau.
  • 142. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh. Vậy:
  • 143. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
  • 144. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • * Dạng các bài toán đòi hỏi có kĩ năng quan sát và thực hành thí nghiệm tốt :
    • Thông qua việc học sinh có thể quan sát tốt các hiện tượng, công thức hoá học, phương trình hoá học mà phát hiện ra các vấn đề mấu chốt của bài toán. Sở dĩ cần phải rèn luyện kĩ năng này cho học sinh vì việc quan sát là điểm khởi đầu cho tư duy, đó là con đường của sự nhận thức: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Do vậy, song song với việc sử dụng các bài tập lí thuyết, các bài tập có tính chất định lượng cần tăng cường sử dụng các bài tập thực nghiệm nhằm rèn kĩ năng quan sát, kĩ năng thực hành cũng như năng lực vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn.
  • 145. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Ví dụ 1 : Sắp xếp các chất sau theo chiều giảm hàm lượng sắt: FeS, FeS 2 , FeSO 4 , Fe 2 (SO 4 ) 3 , FeO, Fe 2 O 3 , Fe 3 O 4 .
    • Nhận xét: Với học sinh thông thường khi giải bài tập này sẽ đi tính toán hàm lượng % sắt trong các chất, trên cơ sở đó để sắp xếp. Tuy nhiên với học sinh có sự quan sát tinh tế có thể nhận ra rằng về mặt khối lượng 1 nguyên tử S bằng 2 nguyên tử O, từ đó thấy được tỷ lệ Fe so với nguyên tố khác tương ứng với các chất trên là:
    • 1Fe: 1O; 1Fe:1,5O; 1Fe: 1,3O; 1Fe: 2O; 1Fe:4O; 1Fe: 6O; 1Fe:9O;
    • FeO Fe 2 O 3 Fe 3 O 4 FeS, FeS 2 , FeSO 4 , Fe 2 (SO 4 ) 3 ,
  • 146. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Ví dụ 3 : Tiến hành một thí nghiệm như hình vẽ (H1): Bình cầu chứa khí A có cắm ống dẫn khí vào chất lỏng B. Khi mở khóa K chất lỏng B phun vào bình cầu.
    • 1, Hãy xác định khí A là khí nào trong số các khí sau đây: H 2 , N 2 , CH 4 , C 2 H 4 , C 2 H 2 , NH 3 , HCl, CO 2 , SO 2 , H 2 S, Cl 2 , CH 3 NH 2 khi chất lỏng B là:
    • a) H 2 O b) Dung dịch NaOH
    • c) Dd Br 2 trong nước; d) Dd Br 2 trong CCl 4
    • 2, Xác định khí A trong bình cầu ở hình (H 1 ) trong mỗi trường hợp:
    • Chất lỏng B phun lên có màu hồng khi B là nước có pha phenolphtalein.
    • Chất lỏng B phun lên không màu khi B là dung dịch NaOH có pha phenolphtalein
  • 147. 2.2.4. Một số bài tập dùng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển tư duy cho học sinh.
    • Nhận xét:
    • Giải bài tập này đòi hỏi học sinh
    • hiểu và có kỹ năng phân tích thí nghiệm:
    • Nước trong bình B sẽ phun lên bình A
    • khi khí trong bình A tan được trong dung
    • dịch B,vì sự hoà tan sẽ làm giảm số mol
    • khí trong bình và do đó làm giảm áp suất.
    • Từ đó, căn cứ vào tính chất vật lý và tính chất
    • hóa học để xác định được các khí trong mỗi trường hợp:
    • 1, a) NH 3 , HCl, CH 3 NH 2 b) HCl, H 2 S, SO 2 , CO 2 , Cl 2
    • c) C 2 H 4 , C 2 H 2 , SO 2 , H 2 S d) C 2 H 4 , C 2 H 2
    • 2, a) NH 3 , CH 3 NH 2 b) HCl, H 2 S, CO 2 , SO 2 , Cl 2 .
    Hoạt động 2 K H1
  • 148. Đánh giá cuối tiểu modun
    • 1. Cho bài tập hóa học sau: hãy đưa ra quy trình chữa bài tập sau cho học sinh.
    • Thông tin : Hỗn hợp A gồm hai kim loại X, Y có hóa trị không đổi. Oxi hóa hoàn toàn 15,6 gam hỗn hợp trong ôxi dư thu được 28,4 gam hỗn hợp 2 ôxit. Nếu lấy 15,6 gam hỗn hợp A hòa tan hoàn toàn trong dd hỗn hợp HCl và H 2 SO 4 loãng thu V lít khí ở đktc, tìm V?
    • Bài tập trên có thể sử dụng vào giai đoạn nào của quá trình dạy học? Vì sao?
    • 2. Làm bài tập nghiên cứu: xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập dùng để phát triển tư duy cho học sinh trong dạy học hóa học.
    Môđun
  • 149. TIỂU MÔĐUN III: XÂY DỰNG BÀI TẬP MỚI
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
  • 150. TIỂU MÔĐUN III: XÂY DỰNG BÀI TẬP MỚI
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
    • Về kiến thức
    • Về kĩ năng
    • Về thái độ
  • 151. Về kiến thức:
    • - Hiểu được tác dụng của việc rèn luyện kỹ năng xây dựng bài tập mới.
    • - Nắm được cách thức xây dựng bài tập mới. Từ đó vận dụng vào việc xây dựng một số bài tập hóa học mới phù hợp với mục đích dạy học đặt ra.
    Mục đích
  • 152. Về kĩ năng:
    • - Xây dựng được các bài tập mới nhờ vận dụng lý thuyết grap và tiếp cận modun.
    Mục đích
  • 153. Về thái độ:
    • - Ý thức được vai trò của việc xây dựng bài tập mới trong dạy học.
    • - Tham gia tích cực vào hoạt động nhóm.
    • - Có ý thức say mê nghiên cứu.
    • - Hiểu được sự tác động qua lại và sự biến đổi của thế giới tự nhiên thông qua sự biến đổi và xây dựng bài tập hóa học mới.
    Mục đích
  • 154. TIỂU MÔĐUN III: XÂY DỰNG BÀI TẬP MỚI
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
    • Chủ đề 1 : Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan.
    • Chủ đề 2: Xây dựng bài tập trắc nghiệm tự luận
  • 155. TIỂU MÔĐUN III: XÂY DỰNG BÀI TẬP MỚI
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
    • Nguyễn Xuân Trường (2006), Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông , NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội.
    • Nguyễn Thị Bích Hiền, Giáo trình : Rèn kĩ năng sử dụng bài tập hóa học trong dạy học , Trường ĐH Vinh.
    • Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà nội.
    • Nguyễn Cương (2007), Phương pháp dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
    • Các sách giáo khoa, sách bài tập hoá học lớp 10,11,12.[3]
  • 156. TIỂU MÔĐUN III: XÂY DỰNG BÀI TẬP MỚI
    • Mục đích
    • Cấu trúc
    • Học liệu
    • Phương pháp học tập
    • Triển khai môđun
    • Làm việc các nhân, tự học, tự nghiên cứu, làm việc theo nhóm.
  • 157. XÂY DỰNG BÀI TẬP MỚI
    • Hoạt động 1: Tìm hiểu vê ̀ cách thức xây dựng một bài tập trắc nghiệm khách quan .
    • Hoạt động 2: Tìm hiểu quy trình xây dựng bài tập trắc nghiệm tư ̣ luận mới dựa vào bài tập gốc
    • Hoạt động 3: Tìm hiểu vê ̀ quy trình xây dựng bài tập trắc nghiệm tư ̣ luận hoàn toàn mới .
    Môđun
  • 158. Hoạt động 1: Tìm hiểu về cách thức xây dựng một bài tập trắc nghiệm khách quan.
    • Nhiệm vụ 1 : Trên cơ sở sự chỉ đạo hướng dẫn của giáo viên, các học viên chuẩn bị ở nhà các nội dung nghiên cứu: các nguyên tắc, quy trình xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan theo các nội dung sau:
    • + Nguyên tắc biên soạn.
    • + Yêu cầu về sư phạm.
    • + Quy trình biên soạn
    • + Đánh giá về câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
    • Đọc thông tin cơ bản thông tin 3.1.1.1, 3.1.1.2, 3.1.1.3
    • Thông tin cơ bản , ,
    • Hình thức : Làm bài tập nghiên cứu (dạng cá nhân).Làm việc tại nhà.
    3.1.1.1 3.1.1.2 3.1.1.3
  • 159. Hoạt động 1: Tìm hiểu về cách thức xây dựng một bài tập trắc nghiệm khách quan.
    • Nhiệm vụ 2 :
    • Trình bày báo cáo của mình trước tập thể lớp. Các thành viên còn lại trong lớp theo dõi, góp ý, bổ sung. Sau khi trình bày dưới sự điều khiển của giáo viên. Sau đó tổng hợp lại ý kiến và rút ra kết luận.
    Môđun
  • 160. 3.1.1.1. Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng xây dựng bài tập mới.
    • Cho đến nay, các bài tập hoá học dùng cho học sinh THCS có trong sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo...của nhiều nhà xuất bản khác nhau có một số lượng rất lớn và thực tế chúng ta khó thể khai thác hết các tài liệu đó để đưa vào rèn luyện kĩ năng giải bài tập cho học sinh. Tuy nhiên, vấn đề xây dựng những đề bài tập hoá học mới vẫn đóng vai trò quan trọng làm cho thực tiễn dạy học trở nên sinh động, thiết thực hơn và phát huy được sự chủ dộng, sáng tạo của giáo viên và học sinh trong quá trình giải quyết các bài tập hoá học. Một trong các nội dung các kĩ năng cần rèn luyện cho sinh viên đó là kĩ năng xây dựng bài tập mới, việc rèn luyện cho sinh viên kĩ năng này sẽ giúp cho sinh viên tạo tính chủ động, linh hoạt trong việc lựa chọn, sử dụng bài tập trong dạy học sao cho phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng dạy học.
    Hoạt động 1
  • 161. 3.1.1.2. Cơ sở để xây dựng một bài tập mới
    • Để xây dựng một bài tập hoá học mới cần dựa vào các vấn đề sau:
    • * Dựa vào mục đích dạy học:
    • - Mục đích trí dục: là những kiến thức mà học sinh cần lĩnh hội, củng cố, rèn luyện trong quá trình học tập.
    • - Mục đích phát triển: Những thao tác tư duy, những kĩ năng cần phải rèn luyện cho học sinh như: tư duy khái quát hoá, tư duy trừu tượng hoá, phân tích- tổng hợp...
    • - Mục đích giáo dục: những thái độ tích cực, những thói quen tốt, những quan niệm về cuộc sống,..cần phải hình thành cho học sinh.
  • 162. 3.1.1.2. Cơ sở để xây dựng một bài tập mới
    • * Dựa vào một số sai lầm thường gặp ở học sinh:
    • Trong quá trình giải bài tập học sinh thường mắc phải những lỗi như: hiểu sai vấn đề, làm trầm trọng hoá một số vấn đề đơn giản, hay sự quên nhất thời kiến thức của học sinh, hoặc sự nhầm lẫn trong tính toán của học sinh, giáo viên có thể dựa vào những sai lầm này của học sinh để xây dựng bài tập theo đúng mục tiêu mà mình đề ra.
    Hoạt động 1
  • 163. 3.1.1.3. Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
    • a. Khái niệm về TNKQ
    • Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Gọi là “khách quan” vì cách cho điểm hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào người chấm.
    • b. Kỹ thuật biên soạn câu trắc nghiệm khách quan
    • * Giai đoạn chuẩn bị
      • Xác định mục tiêu:
    • Xác định mục tiêu muốn kiểm tra - đánh giá cho rõ ràng. Cần phân chia nội dung chương trình thành các nội dung cụ thể và xác định tầm quan trọng của từng nội dung đó để phân bố trọng số. Các mục tiêu phải được phát biểu dưới dạng những điều có thể quan sát được, đo được để đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được của kiến thức, kĩ năng.
  • 164. 3.1.1.3. Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
    • - Lập bảng đặc trưng:
    • Sau khi phân chia nội dung chương trình thành nội dung dạy học cụ thể, người ta tiến hành lập bảng đặc trưng bằng cách dùng ma trận hai chiều để phân bố câu hỏi theo trọng số nội dung và mục tiêu cần kiểm tra. Phân loại từng loại câu hỏi trắc nghiệm theo hai chiều cơ bản: Một chiều là chiều các nội dung quy định trong chương trình và chiều kia là chiều các mục tiêu dạy học hay các yêu cầu kiến thức, kĩ năng, năng lực của học sinh ... cần đạt được sau khi phải kiểm tra lại các nội dung hay các mục tiêu của câu hỏi. Số lượng câu hỏi tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi loại mục tiêu và mỗi loại nội dung.
  • 165. 3.1.1.3. Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
    • - Tuỳ theo nội dung dạy học và mục tiêu dạy học mà chúng ta chọn loại câu hỏi như câu hỏi có nội dung định tính, định lượng, câu hỏi có nội dung hiểu, biết, vận dụng... Cần chọn ra những câu hỏi có mức độ khó, phù hợp với yêu cầu đánh giá và mức độ nhận thức của học sinh.
    • - Ngoài ra, giáo viên phải chuẩn bị đủ tư liệu nghiên cứu, tài liệu tham khảo để có kiến thức chuyên môn vững chắc, nắm vững nội dung chương trình, nắm vững kỹ thuật biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
  • 166. 3.1.1.3. Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
    • *Giai đoạn thực hiện
    • - Xây dựng ma trận 2 chiều.
    • - Cá nhân viết câu hỏi
    • - Trao đổi, thảo luận, đánh giá lại để đưa ra câu hỏi cuối cùng
    • - Làm đề trắc nghiệm thử.
    • - Trắc nghiệm thử
    • - Phân tích kết qủa trắc nghiệm thử dựa vào các tiêu chí về độ khó, độ phân biệt, độ giá trị của câu hỏi, độ tin cậy.
    • - Chọn lọc, chỉnh lí lại câu hỏi để đưa vào ngân hàng câu hỏi.
    • - Lập đề thi từ ngân hàng đề
    • - Tổ chức thi
    • - Chấm thi và phân tích kết quả
  • 167. 3.1.1.3. Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
    • * Một số lưu ý khi soạn thảo:
    • - Bản sơ thảo câu hỏi nên được soạn trước một thời gian trước khi kiểm tra.
    • - Số câu hỏi ở bản sơ thảo đầu tiên có nhiều câu hỏi hơn số câu hỏi cần dùng trong bài kiểm tra.
    • - Mỗi câu hỏi nên liên quan đến mục tiêu nhất định. Có như vậy, câu hỏi mới có thể biểu diễn mục tiêu dưới dạng đo được hay quan sát được.
    • - Mỗi câu hỏi phải được diễn đạt rõ ràng, không nên dùng các cụm từ có ý nghĩa mơ hồ như: “thường thường”, “đôi khi”, “có lẽ”, “có thể” ... Vì như vậy học sinh thường đoán mò câu trả lời từ cách diễn đạt câu hỏi hơn là vận dụng sự hiểu biết của mình để trả lời câu hỏi.
  • 168. 3.1.1.3. Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
    • - Mỗi câu hỏi phải mang đầy đủ ý nghĩa chứ không tuỳ thuộc vào phần trả lời chọn lựa để hoàn tất ý nghĩa.
    • - Các câu hỏi nên đặt dưới thể xác định hơn là thể phủ định.
    • - Tránh dùng nguyên văn những câu trích từ sách hay bài giảng.
    • - Tránh dùng những câu có tính chất “đánh lừa” học sinh.
    • - Tránh để học sinh đoán được câu trả lời dựa vào dự kiện cho ở những câu hỏi khác nhau.
    • - Các câu hỏi nên có độ khó vừa phải khoảng từ 40 % ữ 60 % số học sinh tham gia làm bài kiểm tra trả lời được.
  • 169. 3.1.1.3. Xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
    • - Nên sắp đặt các câu hỏi theo thứ tự mức độ khó dần và câu hỏi cùng loại được xếp vào một chỗ.
    • - Các chỗ trống để điền câu trả lời nên có chiều dài bằng nhau.
    • - Phải soạn thảo kỹ đáp án trước khi cho học sinh làm bài kiểm tra và cần báo trước cho học sinh cách cho điểm mỗi câu hỏi.
    • - Trước khi loại bỏ câu hỏi bằng phương pháp phân tích thống kê, phải kiểm tra lại câu hỏi cẩn thận, tham khảo ý kiến đồng nghiệp, chuyên gia vì đôi khi câu hỏi đó cần kiểm tra - đánh giá một mục tiêu quan trọng nào đó mà chỉ số thống kê không thật sự buộc phải tuân thủ để loại câu hỏi đó.
    Hoạt động 1
  • 170. Hoạt động 2: Tìm hiểu quy trình xây dựng bài tập trắc nghiệm tự luận mới dựa vào bài tập gốc
    • Nhiệm vụ 1: Xác định vai trò của việc xây dựng bài tập trắc nghiệm tự luận mới.
    • Hình thức : Hoạt động các nhân, tự học trên lớp.
    • Nhiệm vụ 2: Đọc thông tin cơ bản 3.1..1, 3.1.2.2 Thông tin cơ bản ,
    • Nhiệm vụ 3: Cho bài tập hóa học sau.
    • Hãy biến đổi bài toán thành 1 số bài toán mới. Sau đó đề xuất một số cách thức xây dựng bài tập mới.
    • Nhiệm vụ 4 : Sau khi nghe giáo viên giới thiệu về quy trình xây dựng một bài toán mới dựa vào bài tập gốc ban đầu. Hãy tiến hành xây dựng bài tập mới dựa vào bài tập gốc của nhiệm vụ 3. Biến đổi theo 3 mức độ: khó hơn, dễ hơn, tương đương với bài tập ban đầu.
    3.1.2.1 3.1.2.2
  • 171. Hoạt động 2: Tìm hiểu quy trình xây dựng bài tập trắc nghiệm tự luận mới dựa vào bài tập gốc
    • Nhiệm vụ 5: Tự đánh giá lại bài làm của mình sau khi nghe giáo viên sữa chữa, chỉnh lý. Từ đó rút ra kết luận cuối cùng.
    • Kết luận: Quy trình xây dựng một bài tập mới dựa vào bài tập gốc ban đầu.
    • Nhiệm vụ 6: Cho điểm đánh giá về kết quả làm việc của bản thân và tiến hành đánh giá chéo với các thành viên khác trong lớp.
    • Tự đánh giá Người khác đánh giá
    • Giáo viên đánh giá
    Môđun
  • 172. Nhiệm vụ 3: . Hãy biến đổi bài toán sau thành 1 số bài toán mới. Sau đó đề xuất một số cách thức xây dựng bài tập mới.
    • Để m gam bột sắt (A) ngoài không khí, sau một thời gian biến thành hỗn hợp (B) có khối lượng 12 gam gồm Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3. Cho B tác dụng hoàn toàn với dung dịch HNO3 thấy sinh ra 2,24l khí NO duy nhất ở đktc. Tính m.
    Hoạt động 2
  • 173. 3.2.2.1. Xây dựng bài tập mới dựa vào bài tập gốc có sẵn.
    • Bước 1: Chọn bài tập gốc :
    • Bài tập gốc là những bài toán sơ đẳng, cơ bản hoặc điển hình.
    • Ví dụ : Chọn bài tập sau làm bài tập gốc.
    • Cho m (g) bột sắt ngoài không khí sau một thời gian người ta thu được 12(g) hỗn hợp B gồm: Fe, FeO, Fe2O3, Fe3O4. Hoà tan hỗn hợp này bằng dung dịch HNO3 người ta thu được dung dịch A và 2,24 lit khí NO duy nhất (đktc). Viết phương trình phản ứng, tính m.
  • 174. 3.2.2.1. Xây dựng bài tập mới dựa vào bài tập gốc có sẵn.
    • Bước 2: Lập Graph đầu bài toán.
    • Graph nội dung đầu bài toán làm cơ sở cho việc xác định các mô đun.
    • Lập grap nội dung đầu bài toán: là sơ đồ trực quan diễn tả cấu trúc logic của:
    • + Những điều kiện.
    • + Những yêu cầu (cái cần tìm) của đầu bài toán.
    • + Những mối liên hệ tương tác giữa chúng
    • Khi tiến hành lập Grap đầu bài toán cần đảm bảo các yêu cầu sau:
    • - Làm cô đọng súc tích, giản lược bài toán ngắn gọn hơn.
  • 175. 3.2.2.1. Xây dựng bài tập mới dựa vào bài tập gốc có sẵn.
    • - Phản ánh đầy đủ bản chất của bài toán trong đó có đầy đủ các dữ kiện tường minh (là các dữ kiện tối thiểu, cần thiết mà bài toán cho được ghi thành lời trong bài toán), các dữ kiện ẩn (là những dữ kiện được suy luận, tìm thêm dựa trên những giả thuyết của bài toán, nó không được thể hiện rõ ràng bằng lời văn trong bài toán). Trên cơ sở của các nguyên tắc đó chúng ta có thể lập Grap nội dung đầu bài toán theo các bước như sau:
    • B1: Chọn đỉnh:
    • - Xác định nội dung của các đỉnh của grap: Để lựa chọn các nội dụng của các đỉnh của Grap chúng ta lựa chọn các kiến thức chốt của bài toán, bao gồm các dữ kiện và các yêu cầu, tức là những “cái cho” và “cái phải tìm
  • 176. 3.2.2.1. Xây dựng bài tập mới dựa vào bài tập gốc có sẵn.
    • B2: Mã hoá đỉnh : Trên cơ sở nội dung các đỉnh đữ được lựa chọn tiến hành mã hoá chúng thật súc tích theo một quy ước nhất quán bằng cách số hoá, công thức hoá, các kí hiệu...
    • B3: Dựng đỉnh: đặt các số liệu “cho” và “tìm” của đầu bài toán vào vị trí các đỉnh trên một mặt phẳng.
    • Lưu ý : Khi dựng đỉnh thì các dữ kiện “cho” nằm phía trái mũi tên, “cái phải tìm” nằm phía phải mũi tên.
    • B4: Lập cung : Thực chất là nối các đỉnh với nhau bằng các mũi tên để diễn tả mối liên hệ phụ thuộc giữa các nội dung các đỉnh với nhau, làm sao phản ánh được logic phát triển của bài toán. Thông thường, các chất đứng trước hay trên mũi tên là những chất tham gia, các chất sau mũi tên là hay trên mũi tên là những chất được tạo thành, hay kết quả của một quá trình. Trên các cung diễn tả các yêu cầu, hoặc các nhiệm vụ của các chất trong các đỉnh đứng trước mũi tên.
  • 177. 3.2.2.1. Xây dựng bài tập mới dựa vào bài tập gốc có sẵn.
    • Thông thường trong đầu bài toán ban đầu người ta chỉ cho những dữ kiện tối thiểu cần thiết, được ghi thành lời văn của bài toán. Do đó khi lập grap của đầu bài toán, ta sẽ có 2 loại grap:
    • * Grap thô: chỉ chứa những dữ kiện tường minh được ghi trong lời văn của bài toán ban đầu.
    • * Grap đủ: chứa tất cả những dữ kiện tường minh và ẩn tàng, cần và đủ để giải bài toán.
    • Người ta có thể dựa vào lời văn ban đầu của bài toán mà lập grap thô trước rồi bổ sung thêm dữ kiện ẩn để có grap đủ.
    • B5: Hoàn thiện grap:
    • Làm cho grap trung thành với nội dung được mô hình hoá về cấu trúc logic, nhưng lại giúp cho học sinh lĩnh hội được dễ dàng nội dung đó và nó phải đảm bảo tính mỹ thuật về trình bày.
    Hoạt động 2
  • 178. 3.1.2.2. Xây dựng bài tập hoàn toàn mới.
    • Bước 1: Xác định mục đích cần đạt được khi sử dụng bài tập:
    • - Xác định kiến thức cần cung cấp, củng cố cho học sinh
    • - Xác định kĩ năng tính toán và viết phương trình phản ứng
    • - Xác định năng lực tư duy, thái độ.
    • Lưu ý: trong các mục đích trên thì cần chọn lựa mục đích nào được ưu tiên nhất để lấy làm cơ sở xây dựng bài toán.
    • Bước 2 : Trên cơ sở các mục đích vừa xác định ở trên, xác định nội dung hóa học chính của bài từ đó chọn lựa các quá trình hóa học phù hợp với nội dung, kiến thức, kĩ năng...cần rèn luyện cho học sinh.
  • 179. 3.1.2.2. Xây dựng bài tập hoàn toàn mới.
    • Bước 3: Lập grap câm của bài toán.
    • Grap câm là Grap mới chỉ cho biết một phần nội dung các đỉnh: tức là mới chỉ cho biết công thức của chất chưa cho biết số liệu hoặc ngược lại, hoặc mới chỉ cho biết nội dung các cung mà còn khuyết nội dung các đỉnh. Hay nói cách khác graph câm là một graph mới chỉ cho biết một cách chung nhất quá trình đó diễn ra khái quát như thế nào chứ chưa cho biết một cách tường minh rõ ràng.
    • Bước 4: Lập grap đủ của bài toán
    • Hoàn thiện graph câm để có được graph đủ của bài toán bằng cách dựa vào bản chất của quá trình hóa học mà bổ sung các số liệu tương ứng với các chất hoặc các chất trong các đỉnh hoặc cung sao cho đảm bảo tính khoa học. Sau đó xác định các dữ kiện và yêu cầu của bài toán.
  • 180. 3.1.2.2. Xây dựng bài tập hoàn toàn mới.
    • Bước 5: Phát biểu nội dung bài toán trên cơ sở graph vừa lập được.
    • Lưu ý : sau khi xây dựng được một bài toán hoàn toàn mới, nếu cần thay đỏi mức độ của bài toán mà vẫn giữ nghuyên nội dung hóa học cơ bản của bài toán, chúng ta có thể tiến hành xây dựng một bài toán mới dựa vào bài toán vừa được xây dựng bằng cách xem bài toán vừa xây dựng được là một bài toán gốc. Cứ như vậy, chúng ta sẽ xây dựng được một hệ thống đa cấp của bài toán phù hợp nhất với đối tược và mục đích dạy học.
    Hoạt động 2
  • 181. Hoạt động 3: Tìm hiểu về quy trình xây dựng bài tập trắc nghiệm tự luận hoàn toàn mới.
    • Nhiệm vụ 1 : Điền các thông tin lĩnh hội được từ sự truyền thụ, truyền đạt của giáo viên về bài tập trắc nghiệm tự luận hoàn toàn mới.
    • Nhiệm vụ 2 : Cho grap câm sau. Hãy tiến hành xây dựng các bài tập mới.
    • Hình thức : làm việc nhóm.
    • Nhiệm vụ 3: Thảo luận chung cả lớp dưới sự điều khiển của giáo viên để rút ra kiến thức mới từ bài làm của mình
    • Nhiệm vụ 4 : Hãy xây dựng một bài tập mới có thể dùng để hoàn thiện đào sâu kiến thức chương Nitơ- photpho lớp 11.
    Môđun
  • 182. Nhiệm vụ 1:
    • Bước 1: Xác định mục đích dạy học.
    • Bước 2: Xây dựng grap câm (biểu thị quá trình hóa học cơ bản để xây dựng bài tập hóa học cơ bản) phù hợp với mục đích dạy học đặt ra ở trên
    • Bước 3: Từ grap câm chuyển về grap thô (bổ sung các dữ kiện và xác định yêu cầu, lực chọn dữ kiện):
    • Bước 4: Phát biểu nội dung bài toán và có thể xem đó là bài tập gốc.
    • Bước 5: Tiếp tục biến đổi nội dung bài toán dựa vào bài tập gốc đã xác định được (nếu cần).
    Hoạt động 3
  • 183. Nhiệm vụ 2 : Cho grap câm sau. Hãy tiến hành xây dựng các bài tập mới Hoạt động 3
  • 184.