Your SlideShare is downloading. ×
  • Like
Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết hồ anh tháitruonghocso.com
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Now you can save presentations on your phone or tablet

Available for both IPhone and Android

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết hồ anh tháitruonghocso.com

  • 4,190 views
Published

 

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
No Downloads

Views

Total Views
4,190
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
27
Comments
0
Likes
2

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. Tôi quan niệm tiểu thuyết như một giấc mơ dài. Hồ Anh Thái "Tiểu thuyết như là một giấc mơ ẩn chứa những điều không có thực ởngoài xã hội. Thực chất tiểu thuyết là một câu chuyện bịa đặt nhưng nó cònthật hơn cả sự thực" (Hồ Anh Thái). Với khát vọng kể những câu chuyệnthực hơn cả sự thực ấy, Hồ Anh Thái đã miệt mài trên những trang giấy đểviết lên những câu chuyện của riêng mình về cuộc sống: Phía sau cổngtrời, Cõi người rung chuông tận thế … và gần đây là Mười lẻ một đêm,một tác phẩm gây xôn xao văn giới. Mười lẻ một đêm là một câu chuyện rộng lớn về cuộc sống thể hiệnmột cái nhìn bao quát, khả năng phản ánh và phân tích những tồn tại trongxã hội, một tài bút hài hước kiểu mới của tác giả. Tác phẩm một lần nữakhẳng định vị trí của Hồ Anh Thái, thể hiện những bước tiến dài của ôngtrong nghệ thuật tiểu thuyết. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi khôngtìm hiểu toàn diện về tác phẩm Mười lẻ một đêm mà chỉ giới hạn trongviệc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật của tiểu thuyết để từ đó nhận diện nhữngmảng hiện thực đời sống trong sáng tác của nhà văn, tìm hiểu về phongcách độc đáo của ông. Trước hết, "Trần thuật là một phương thức cơ bản của tự sự, mộtyếu tố quan trọng tạo nên hình thức của tác phẩm văn học. Cái hay, sứchấp dẫn của một truyện ngắn hay tiểu thuyết phụ thuộc rất nhiều vào nghệthuật kể chuyện của nhà văn. (187,18). Vai trò đậm nhạt của trần thuật cònphụ thuộc vào đặc điểm của thể loại, những khuynh hướng phát triển củathể loại ấy. Trong địa hạt của tác phẩm tự sự nói chung và tiểu thuyết nói 1
  • 2. riêng, nghệ thuật trần thuật đóng vai trò tối quan trọng. Nó không chỉ là yếutố liên kết, dẫn dắt câu chuyện mà còn là bản thân của câu chuyện. Khi màcốt truyện không còn đóng vai trò xương sườn, nhân vật bị xoá mờ đườngviền cụ thể thì yếu tố trần thuật là chìa khoá mở ra những cánh cửa củatruyện. Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 đã có những bước phát triển mạnhmẽ theo những khuynh hướng phức tạp khác nhau. Trong đó, khuynhhướng tiểu thuyết tự sự là một trong những khuynh hướng tiêu biểu và cónhiều tác phẩm kết tinh (Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thượng đếthì cười của Nguyễn Khải, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài…) Trong nhữngtrang viết đậm chất tự sự ấy, yếu tố trần thuật đóng vai trò quan trọng vàthực tế đã cho thấy, lối trần thuật mới lạ, đầy cách tân của Bảo Ninh,Nguyễn Khải, Phạm Thị Hoài đã góp phần lớn tạo nên tên tuổi của nhữngnhà văn này. Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh vai trò củayếu tố trần thuật trong tiểu thuyết nói chung và trong tiểu thuyết tự sự nóiriêng. Mười lẻ một đêm ra mắt bạn đọc năm 2006, khi mà tiểu thuyết Việtđã có nhiều những trang viết thành danh, thể hiện rõ lối cách tân mạnh mẽ.Nhưng Hồ Anh Thái vẫn không bị che mờ bởi những tên tuổi cùng thời vàcủa cả chính mình, ông vẫn thể hiện một lối trần thuật riêng, có sự nối tiếpcủa những sáng tạo trước đó của mình và có những bước tiến rõ rệt, thểhiện một văn tài đáng chú ý. Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trongMười lẻ một đêm qua các khía cạnh sau: 1. Sự dịch biến của điểm nhìn trần thuật. 2. Người trần thuật trung tâm và người trần thuật đổi vai. 3. Hợp xướng giọng điệu. 4. Ngôn ngữ trần thuật đa thanh. 2
  • 3. 1. Sự dịch biến của điểm nhìn trần thuật. Vấn đề điểm nhìn trần thuật trong văn bản, theo Iu Lôtman "bao giờcũng là vấn đề quan hệ giữa sáng tạo và cái được sáng tạo", nhà văn đặtmình ở vị trí nào để quan sát và thể hiện những nhận suy về cuộc sống. Trong sáng tác của Hồ Anh Thái, điểm nhìn nghệ thuật luôn có sựchuyển hoá. Không có một điểm nhìn cố định, bất biến, duy nhất trong tácphẩm của nhà văn. Điểm nhìn trong "Mười lẻ một đêm" có sự dịch biếntrong không gian, thời gian và từ bên ngoài vào bên trong. Câu chuyện ngay lúc đầu được xác định trong giới hạn không gian là"trong căn hộ trên tầng sáu (7-2) nhưng câu chuyện được kể không giớihạn trong cánh cửa mà xảy ra ở cuộc sống ngoài kia, nhốn nháo và đầynghịch lí. Không gian mở rộng từ khoảng hẹp là thành phố, nông thôn rồirộng hơn là không gian các nước khác như nước Mĩ, các nước Châu Âu. Đókhông chỉ là không gian xã hội bao quát mà còn là không gian riêng tư củanhững gia đình, phòng trà, phòng khách, không gian chính giới, học thuật… Tất cả đều được mở ra cả chiều rộng và chiều sâu. Điều đáng chú ý là điểm nhìn luôn được dịch chuyển linh hoạt, từ toạđộ ban đầu (căn phòng) chuyển đến các không gian rồi quay trở về toạ độcũ, lại tiếp tục dịch chuyển. Tưởng như điểm nhìn ấy có một toạ độ trungtâm : căn phòng và những toạ độ biên, các không gian rộng mở, nhữngkhông gian hẹp khác. Giữa các toạ độ ấy luôn có sự liên kết, song chiếu lẫnnhau. 3
  • 4. Song trùng với sự dịch chuyển của điểm nhìn không gian là sự thayđổi của điểm nhìn thời gian. Thời gian hiện tại, quá khứ, thời gian cuộc đời,thời gian thực và thời gian trong truyện cổ. Điểm nhấn của tác phẩm là sựchuyển hoá linh hoạt giữa thời gian cuộc đời trong tác phẩm. Kết cấu"truyện trong truyện" tạo đà cho sự đan xen thời gian cuộc đời của các nhânvật. Từ người đàn ông (anh), người đàn bà (chị) đến hoạ sĩ trồng chuối hột,người mẹ, giáo sư 1, giáo sư 2… Sự chuyển biến linh hoạt giữa điểm nhìnthời gian cuộc đời tạo nên sự xen kẽ những câu chuyện một cách tự nhiên.Nó cũng thể hiện sự đa phức của mảng hiện thực nhà văn phản ánh. Ở đókhông chỉ có câu chuyện của người kể mà còn câu chuyện của biết bao sốphận, không chỉ có chuyện của quá khứ hay hiện tại mà còn là sự dịchchuyển từ quá khứ đến hiện tại, sự đối sánh từ hiện tại trở về quá khứ … Sự vận động chuyển hoá linh hoạt của điểm nhìn nghệ thuật khôngchỉ diễn ra trong không gian, thời gian, nó còn luôn chuyển hoá giữa điểmnhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong. Sự chuyển hoá điểm nhìn bên ngoàivà bên trong xuất hiện nhiều trong tác tiểu thuyết mở đường của văn họchiện đại sau 1975 như Nỗi buồn chiến tranh, Thiên sứ, Bến không chồng… nhưng đến tác phẩm này, nó có sự khác biệt. Hồ Anh Thái ngay từnhững trang mở đầu tiểu thuyết đã tự giới thiệu sự tham dự của tác giảtrong truyện và đối thoại với bạn đọc " chính xác thì không đúng mười lẻmột ngày nhưng thực sự là bao nhiêu thì độc giả phải theo dõi hết cả cuốnsách thì mới biết được. Chẳng phải tác giả giữ mánh hay giấu bí quyết giatruyền mà cái gì cũng phải tuần tự (7,2). Những lời đối thoại có tính chất 4
  • 5. giáo đầu như thế đã thể hiện rõ điểm nhìn bên ngoài của tác giả khi trầnthuật truyện. Điều này phù hợp với câu chuyện kể chuyển vai theo lốitruyện cổ Nghìn lẻ một đêm. Nhưng điểm nhìn bên ngoài ấy luôn chuyểnhoá, vận động vào điểm nhìn bên trong. Khi tác giả viết, "chị bây giờ là vợông Vip, một nhân vật chỉ mới nghe tên đã biết thế lực đến mức nào. Vợ củamột ông lớn, một mệnh phụ phu nhân, thuộc loại danh gia vọng tộc bắc bậckiêu kì. Tư thế ấy không cho phép dính vào bất kì một nhà nghỉ vớ vẩn nào.Vị trí ấy không cho phép hở hang bất kì một chi tiết riêng tư nà trước mắtngười đời (11, 21) thì đã đã có dịch chuyển điểm nhìn. Người trần thuật ởđây vẫn là tác giả nhưng điểm nhìn đã đặt trong nhân vật để thể hiện nhữngsuy ngẫm, tiếng nói riêng của nhân vật. Và sự chuyển hoá như vậy xuấthiện dày đặc trong tiểu thuyết. Có những đoạn không tách bạch điểm nhìnbên ngoài và bên trong. Bởi vậy mà những lời nhận xét, giễu nhại trong tácphẩm có khi là lời của nhân vật nhưng cũng có lúc lại chính là lời bàn củatác giả. Nhà văn và nhân vật của mình có khi tách bạch có khi lại hoà nhậptrong nhau. Sự di chuyển linh hoạt của điểm nhìn nghệ thuật trong không gian vàthời gian, từ bên ngoài vào bên trong và ngược lại đã khiến cho hiện thựcđược trần thuật được soi sáng từ nhiều góc cạnh, đa chiều hơn. Nhà văn lúclà người ngoài cuộc chứng kiến hết thảy, lúc là người nhập cuộc vào nhânvật, lúc lại không phân định được tiếng nói của nhà văn hay của nhân vật.Điều đó tạo nên sự phức điệu của nhân vật, giọng điệu trần thuật. Trang vănvì thế mà rất hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc một cách mạnh mẽ. 5
  • 6. 2. Người trần thuật trung tâm và người trần thuật đổi vai. Hồ Anh Thái không xưng tôi như trong các truyện tự sự mà xưng làtác giả và đối thoại với độc giả ngay từ những trang truyện dầu tiên của tiểuthuyết. Sự công khai vị trí của người viết và người đọc thể hiện nhà văntham dự vào câu chuyện một cách khách quan và mời gọi người đọc cùngtham dự. Tác giả là nhân vật trong tác phẩm, người kể câu chuyện được chứngkiến, người trần thuật trung tâm hàm ẩn. Các nhân vật cũng lần lượt kểnhững câu chuyện của riêng mình, chuyển vai trần thuật liên tục. Điều nàyvừa giống lại vừa khác nhân vật kể chuyện trong truyện cổ Nghìn lẻ mộtđêm. Nếu như trong truyện cổ, nàng Chahrazahe là người kể câu chuyệnchính, là sườn chung cho câu chuyện và các nhân vật còn lại là nhữngngười "kể chuyện dây chuyền" đứng lên kể những câu chuyện cổ khác thìtrong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, vai kể tác giả, người đàn ông, người đànbà là những vai kể ban đầu, khơi mở, có thể xem là những vai trần thuậttrung tâm, những người trần thuật còn lại là những người trần thuật đổi vai.Nếu như sự dịch chuyển điểm nhìn trong không gian, thời gian luôn có sựhướng tâm về không gian trong nhà chung cư, thời gian hiện tại thì nhân vậttrần thuật cũng có sự chuyển vai hướng tâm về người đàn ông (anh) vàngười đàn bà (chị). Nhưng sự chuyển đổi không theo trật tự tuyến tính cũng 6
  • 7. không theo kiểu vòng tròn mở kết duy nhất như trong câu chuyện cổ Nghìnlẻ một đêm mà có dịch dịch biến linh hoạt, cắt ngang liên tưởng tuỳ hứng. Điểm nhấn của những nhân vật trần thuật là những nhân vật khôngtên, không mặt. Nhân vật được gọi theo ngôi nhân xưng thứ 3: anh, chị,theo chức danh xã hội, nghề nghiệp như hoạ sĩ trồng chuối hột, ông Vip, làthằng bé hàng xóm, người cá, giáo sư I, giáo sư II … Đó là sự xóa nhoànhững đường viền nhân vật. Con người được định danh qua những cái bênngoài mình, là địa vị xã hội, nghề nghiệp chứ không phải do đặc điểm riêng(tên cũng là một đặc điểm riêng khu biệt con người). Nó đặt ra vấn đề sựnhạt nhoà của cá thể trong xã hội. Cuộc sống hiện đại với sự xoay vòng củavô vàn những chuỗi vấn đề khác nhau khiến con người không đủ thời gianvà cũng không đủ quan tâm để nhớ đền một cái tên, chỉ nhớ đến vị trí ôngVip, vợ ông Vip, hoạ sĩ, hàng xóm… Nó cũng đặt ra tính cách tiêu biểu củangười hiện đại : sự thực dụng. Ngay cả việc ghi nhớ cũng rất thực dụng, chỉnhớ đến những điều có liên quan thiết thân với mình và bỏ qua nhữngđường nét khác. Một tên gọi không có giá trị, chỉ vị trí của người mang têngọi ấy mới có liên quan đến người ghi nhớ. Vì vậy mà xu hướng chung củacon người thời hiện đại là ghi nhận về địa vị, chức năng, nghề nghiệp củanhau. Điều này gợi đến chi tiết trong Thương nhớ đồng quê của NguyễnHuy Thiệp, nhân vật cô gái đến từ thành phố- Quyên - không sao nhớ đượctên của Nhâm, người đưa cô đi chơi suốt những ngày ở quê những lại nhớchính xác mức tăng giá của các mặt hàng. Hồ Anh Thái và Nguyễn Huy 7
  • 8. Thiệp đã gặp nhau trong cách nhìn về kiểu loại con người trong xã hộiđương đại. Sự xoá nhoà tên gọi còn như một cách định danh chung cho conngười của thời đại mới, bộ đồng phục chung của từng lớp người trong xãhội. Sự vận động phức tạp, chuyển biến nhanh chóng của xã hội không tạonên những cá thể có đặc điểm riêng mà phân loại con người thành nhữngtiểu loại mà nếu chỉ phác hoạ một chân dung ta sẽ có thể gặp đặc điểmchung của những con người thuộc tiểu loại đó. Giáo sư I, giáo sư II là chândung của một số những trí thức trong xã hội, không cập nhật tri thức nhưngluôn háo danh, hãnh tiến hay chân dung của hoạ sĩ trồng chuối hột cũng làsự phác hoạ về một lượng người làm nghệ thuật trong thời đại mới, tài năngvà sự sáng tạo không phải là yếu tố hàng đầu làm nên tên tuổi của họ màchính là sự nhạy bén, khả năng phân tích thời thế, thị trường. Sự xuất hiện của nhân vật trần thuật trung tâm và nhân vật trần thuậtđổi vai cho thấy những sáng tạo riêng của nhà văn. Và những đặc điểm củanhân vật trần thuật cho thấy người trần thuật trong tác phẩm vừa giữ vai tròdẫn chuyện, kể chuyện vừa là trung tâm của câu chuyện. Qua xây dựngnhân vật trần thuật, Hồ Anh Thái đã thể hiện phần nào cách nhìn nhận, đánhgiá về cuộc sống còn người thời hiện đại. 8
  • 9. 3. Hợp xướng giọng điệu. Giọng điệu trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầutrong nghệ thuật tự sự. Đại văn hào Lep Tônxtôi đã từng nhận xét " Cái khónhất khi bắt tay viết một tác phẩm mới không phải chuyện đề tài, tài liệu màphải lực chọn một giọng điệu thích hợp". Như vậy cái quan trọng khôngphải là viết về những cái gì, mức độ phức tạp của những vấn đề được trìnhbày trong tác phẩm mà chính là cách thể hiện, thái độ của nhà văn về nhữngđiều mình thu nhận từ cuộc sống. Hồ Anh Thái là một "người kể chuyện có duyên" và có giọng đặc sắcriêng. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng tạo của cái duyên vàđặc sắc ấy chính là giọng điệu trần thuật. Ngay từ những trang viết đầu tiên,nhà văn đã tạo chú ý về một lối kể chuyện hài hước sâu sắc riêng. Và đếnnhững tác phẩm đạt độ chín nghệ thuật như Bốn lối vào nhà cười, Cõingười rung chuông tận thể, Mười lẻ một đêm … nhà văn đã khẳng địnhđược phong cách riêng của mình. Trong sáng tác của Hồ Anh Thái luôn có sự tham dự của dànhợp xướng giọng điệu, hài hước, giễu nhại, trữ tình, triết lí … Sự hoàđiệu của các giọng khác nhau tạo nên một lối kể chuyện nhiều bè,những cách nhìn nhận khác nhau về cuộc sống của nhà văn. Trong tác phẩm này, hài hước, giễu nhại là chủ âm của bè giọng điệu.Hài hước được hiểu như một kiểu giọng vui đùa pha trò, cười cợt và châmbiếm nhẹ nhàng chừng mực với mọi hiện tượng đời sống. Nó xuất hiệnnhiều trong các tiểu thuyết sau 75. Điều đó xuất phát từ những đổi thay củaxã hội, bởi "tiếng cười chỉ tồn tại thực sự trong một quan hệ dân chủ, bìnhđẳng giữa nhà văn và đối tượng chiếm lĩnh của văn học, đó là sự xóa bỏ 9
  • 10. khoảng cách sử thi, phi huyền hoặc, phi thành kính. Nó đem lại cho nhà vănđiểm tựa có cơ sở thực tiến, điểm tựa tâm lí để chống lại thói quen lí tưởnghoá thi vị hoá, giản đơn và dễ dãi" (20, 9). Nếu như tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một chuỗi cườidài thì Mười lẻ một đêm cũng là một tràng cười liên thanh. Tiếng cười cótính chất bao quát những bình diện trong cuộc sống. Nó thể hiện qua giọngnhại "vỡ Gia Lâm chạy về Thái Hà lập căn cứ địa mới, vỡ Thái Hà chạy vềHoàng Quốc Việt lập lại chiến khu (8,2) hay "đa dạng hoá và đa phươnghoá. Đấy là phương châm của người đàn bà lấy chống không biết mệt này",ở sự nhầm lẫn của ngôn từ "Tìm cho tớ xem ông trồng chuối họt ở đau?Nộm hoa chuối à, tớ biết một nơi nhậu có nộm hoa chuối đậm đà khó quên,đến nhà hàng ở Láng Hạ nhé(14,2) hay là sự hiểu nhầm "ngon không? chỉtay vào đĩa thịt chó. Hồng Kông hiểu ngay. Ô gút gút. Bốn ông Việt Nam rộlên theo gút gút. Đấy hiểu nhau rồi, dễ thế. Hồng Kông khen thêm một tiếngngon dilisớt. Nó bảo sốt sốt cái gì? Thịt chó không chấm sốt. Đồ ngu. Cóthế mà thông ngôn không đầu sỏ vẫn vui. (35,2). Ngôn ngữ bị chia cắt, hiểunhầm tạo ra khoảng đứt gãy ý niệm. Mỗi người theo đuổi một suy nghĩriêng, cách hiểu riêng và đến cuối cùng họ vẫn không hiểu được nhau. Giọng mỉa mai châm biếm là một cung bậc cao hơn của giọng cườicợt, thể hiện rõ thái độ của tác giả. Nhà văn mỉa mai những công trình xâydựng nửa vời, " Công trình hiện đại nào ở xứ này cũng có cái không đồngbộ. Chung cư có thang máy sang trọng, có hệ thống dịch vụ bài bản. Nhưngtình trạng mùa hè thiếu điện thiếu nước sao cũng có lúc trục trặc thangmáy, cư dân từ tần hai đến tầng chín đều phải leo bộ lên đỉnh Evơrit. Saotránh được lúc nước không bơm lên được tầng cao. Gọi xe chở nước đếnmya thì chỉ tầng hai trở xuống mua được nước, các tầng trên phải mang xômang chậu xuống mà xách lên hay sao?" (23,2), tình trạng du học sinh 10
  • 11. "Con học trong nước không ra gì là cho du học, sang đấy trường giỏi, thầygiỏi nó sẽ giỏi" (149,2), tình trạng xã hội nhốn nháo. Nhà văn đặc biệt dành nhiều trang viết bàn luận về thực trạng nghệthuật, về hội hoạ: " Vẽ hoạ tiết âm dương. Vẽ thời trang thương nhớ đồngquê, gầu nước đen, gầu nước đèn dầu tường đất. Vẽ thế được một lúc thì tựthấy tranh mình có chiều sâu triết học, có cảm xúc cội nguồn quêhương."(31,2) nghệ thuật sắp đặt " Cả nhóm làm hội hoạ sắp đặt. Cả nhómlàm hội hoạ biểu diễn. Bày mấy cái chậu nhựa trên vỉa hè. Treo lủng lẳngtrên mỗi chậu một cái nón. Rôi cầm vòi nước tưới lên nón cho rơi mưaxuống chậu. Thế là hoành chỉnh một tác phẩm."(31.2), điện ảnh: "Đạo diễnchủ nhiệm mỗi người xây được biệt thự mua được cả trang trại nhờ làmphim. Chỉ có điều phim là ra không ai xem. Điên mới xem. Một câu chuyệngiả tạo từ đầu đến đuôi. Những triết lý cao thượng giả dối, Những nhân vậtra vào phim như đi chợ bất chấp lôgic, vài tự nhiên ra mất hút.(137,2) …Không chỉ nêu lên những vấn đề tồn tại, bằng giọng mỉa mai châm biếmpha triết lí, Hồ Anh Thái còn khái quát lên bệnh của số đông những ngườilàm nghệ thuật: "mắc bệnh hoang tưởng nghệ sĩ, mình còn chẳng biết mìnhlà ai, thì thế giới xung quanh đều chỉ nhìn qua một màn sương mù của kẻlệch lạc "(138.2). Đó là một cái nhìn thẳng thắn và có chiều sâu suynghiệm. Những ảo tưởng, hư danh không làm sáng lên tên tuổi của nhữngngười làm nghệ thuật mà chỉ đẩy họ đi sâu hơn vào con đường mù mờ vềcuộc sống. Không chỉ tập trung mổ xẻ những vấn đề của giới nghệ sĩ, Hồ AnhThái còn tập trung châm biếm giới giới trí thức. Từ những vấn đề như hộithảo quốc tế, "hội thảo của ta tổ chức, một trường một viện đứng ra làm hộithảo kéo vào được một vài nghiên cứu sinh nước ngoài đang sống ở ViệtNam đến lập tức được điềm nhiêm đi kèm chữ quốc tế. Tính chất hội thảođã khác(185,2), đến việc làm luận văn, viết sách, phong hàm. Nhà văn bóc 11
  • 12. trần chân dung trí thức, "chỉ có duy nhất hai ông nói tiếng Việt trong mộthội thảo nói tiếng Anh" hay "nhà văn hoá lớn đang vục đầy vào ăn. Nhaichòm chọp. chèm, chẹp (…) Cả một vùng bán kính một mét quanh chỗ ôngngồi, món ăn đã bị cày bừa lật gạt bốc bải ngổn ngang (174,2). Những nétđiểm qua không bàn luận nhưng thể hiện rõ sự châm biếm sâu sắc. Biệnpháp đối lập được sử dụng triệt để để phản ánh nét hào nhoáng bên ngoài vàsự sa đọa bên trong, hư danh và bản chất thực. Lời kết cho những bức tranhbiếm hoạ là sự ngậm ngùi, bất lực, "từ lúc nào chị đã từ bỏ ý nghĩ sửa sangthế giới. Người ta phải sửa sang chính mình cho phù hợp với thế giới. Chịlàm sao sửa sang được cái tính tham ăn của Gs 1 (…) làm sao sửa được cáihám danh làm thơ viết nhạc của GS2, cả cái tính tính sờ hiện vật của Gs 2nữa (175, 2). Nhân vật người đàn bà, trước đó còn là một người rất hăng háitham gia hoạt động xã hội, dũng cảm và nhiệt tình xung phong làm côngviệc không ai muốn là đi lập biên bản nhà văn hoá có thói quen đái bậynhưng rồi sau đó chính nhân vật cũng phải ngậm ngùi đầu hàng. Sự ngậmngùi ấy thể hiện sự bất lực, cả những xót xa và cay đắng. Một con người vớisức lực cá thể không làm sao xoay chuyển được những thói tật đang ăn sâutrong con người. Lớp nghệ sĩ và trí thức đều có tính thị dân rõ nét, không làm sao gộtrửa được những thói tật ấy để có thể xứng với vị trí thực của mình trong xãhội. Những điều đó đã tồn tại một thời gian dài và bùng phát trong thời đạimới. Những câu chuyện ấy không phải bạn đọc giờ mới được nghe nhưngbạn đọc vẫn thấy thích thú, hấp dẫn. Bởi không chỉ phơi trần sự thực, nhàvăn còn phân tích, bóc tách, chỉ ra những bệnh trầm kha hiện tồn, bệnh sĩdiện hão, bênh hoang tưởng, bệnh tự tôn ... Bằng giọng điệu cười cợt, châmbiếm, nhà văn đã hạ bệ tất thảy những vỏ ngoài hào nhoáng để bóc táchhiện thực trần trụi của mọi vấn đề, phản ánh chân thực hiện trạng của cuộcsống, con người. 12
  • 13. Câu hỏi của nhân vật người đàn bà (chị) trong tác phẩm . " nhưngthực tế hơn có phải là bằng lòng với thế giới sẵn có? Và chấp nhận? (175,2) như là khoảng lặng suy ngẫm. Dù đã tự thừa nhận sự bất lực của mìnhnhưng trong thâm tâm vẫn luôn trở trăn suy nhẫm. Câu hỏi không chỉ là sựtự vấn mà còn là sự mời gọi câu trả lời trong lòng người đọc. Sự mời gọitham dự ấy như là điểm tựa của tác phẩm. Dù sao thì giữa cuộc sống vậnhành đảo điên của mọi giá trị này, con người vẫn tỉnh táo để nhận ra bảnchất thực của nó, hoài nghi về những giá trị ảo để thức nhận về mình. Song hành với giọng điệu mỉa mai, châm biếm ấy là những khoảnglặng trữ tình. Trữ tình xen vào những câu chuyện kể tạo nên một khúc vĩthanh ấn tượng, đặc biệt là chuyện về người cá. Có lẽ đây là câu chuyệnđậm màu sắc cổ tích nhất trong tác phẩm. Mọi chuyện như được sắp đặtmột cách tình cờ, cuộc gặp gỡ của cô tiên kể chuyện cố tích và người cá,mối tình chưa biết mặt đã yêu của cô tiên và bố của người cá … Sự tình cờđưa đẩy để họ trở thành những mảnh ghép nối của một gia đình nhỏ. Baobọc trong không khí của câu chuyện là sự sáng trong của tâm hồn người cá,sự yêu thương của người đàn bà và người đàn ông. Nhưng cái kết của câuchuyện cổ thời hiện đại ấy là không có màu sắc thần tiên. Cuối cùng, ngườicá chết vì kiệt sức sau một thời gian dài ngâm mình trong bể bơi. Người cálại không hề biết bơi và chết vì nước. Đó là một nghịch lí đau xót của cuộcsống hiện đại. Người mẹ kế yêu thương của người cá lại quên bẵng đứa concủa mình vì đắm chìm với mối tình cũ. Người bố yêu thương nó thì mảimiết cùng chuyến công tác và thậm chí còn không ở bên cạnh nó trongnhững giây phút cuối cùng. Gia đình yêu thương tan biến. Những thanh âmtrong trẻo, hạnh phúc nhất trong tác phẩm cuối cùng đã đứt vỡ. Đến những phút cuối đời, người cá vẫn "đòi nghe chuyện kể", thằngCá thỉnh thoảng lại hỏi xem con chó có đến không?". Nó vẫn mơ hồ về sựthật của cuộc sống bởi luôn được bao bọc bởi những câu chuyện cổ tích. 13
  • 14. Người cá như một thanh âm lạc lõng trong chuỗi bản nhạc xô bồ. Cuộcsống đầy nhưng toan tính bon chen, những điều giả trá không thể dung nạpđược một tâm hồn quá đỗi trong trẻo và mù nhoà về cuộc sống như thế. Cáichết của nó như là một qui luật đào thải nghiệt ngã của hiện thực cuộc sống.Cái chết của người cá phần nào đó giống với cái chết của nhân vật đứa trẻ 2tuổi trong Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái) hay sự ra đi củabé Hon trong Thiên sứ (Phạm Thị Hoài). Những nhân vật ấy đều ra đi khichỉ mới là những đứa trẻ. Dường như sự sáng trong, thánh thiện đến mù mờvề cuộc sống không thể tồn tại trong xã hội đầy những biến động đổi thay,đầy những toan tính vụ lợi này Sự ra đi hiểu theo một cách khác thì có ýnghĩa như là sự bảo tồn của cái đẹp. Tâm hồn sáng trong ngây thơ củangười cá sẽ vĩnh tồn trong lòng người đọc. Nếu như giọng điệu hài hước, châm biếm như là một phương thức đểphản ánh cuộc sống, giọng trữ tình là một nốt lặng để nhìn về những điềutốt đẹp hiện tồn thì giọng chiêm nghiệm triết lí là những thông điệp, nhữngngẫm suy của nhà văn đối thoại với bạn đọc. Nhà văn thường gửi những ngẫm suy về cuộc sống qua các nhân vật,đặc biệt là nhân vật người đàn bà : "Từ lúc nào chị đã từ bỏ ý nghĩ sửa sangthế giới. Người ta phải sửa sang chính mình cho phù hợp với thế giới". Đólà sự thức nhận về chân lí của một thời đại. Một thời gian dài con người ảotưởng về khả năng vẫn xoay vũ trụ, khả năng lay chuyển cả thế giới, cả xãhội đều là những anh hùng, vĩ nhân. Cái tôi rạn vỡ, hoài nghi, hiểu về giớihạn của mình mới là cái tôi thực của con người thời đại mới. Nhà văn thức nhận đầy xót xa về cuộc đời : "nhưng những điều rốtcuộc mà đời người mang theo hình như bao giờ cũng nhiều chất ngụngôn"(261,2). Chất cổ tích luôn ít hơn chất ngụ ngôn, đó mới là bản chấtthực của cuộc sống, đời người. Tiểu thuyết này được viết theo lối nhại lạicâu chuyện cổ nổi tiếng Nghìn lẻ một đêm nhưng kết truyện lại phủ định 14
  • 15. chất cổ tích của cuộc đời mà nhấn mạnh chất ngụ ngôn. Đó là một sự đốithoại trở lại, một sự nhìn thẳng vào hiện thực của cuộc sống. Giọng điệu triết lí không phải lúc nào cũng được khái quát thànhcâu văn phơi bày trên trang giấy mà đôi khi nó còn ẩn sau câu chữ.Qua sự lắp ghép những câu chuyện, nhà văn thể hiện quan niệm về số phậncủa con người trong xã hội: con người được định vị bằng những tiêu chuẩnbên ngoài. Các nhân vật đều nối kết với nhau bằng phương tiện truyềnthông: điện thoại di động hoặc internet. Người đàn ông và người đàn bà hẹnnhau qua điện thoại, liên lạc cầu cứu mọi người qua điện thoại và khi nó hếtpin, họ như lạc vào ốc đảo. Khi chia tay, số điện thoại bị cắt đứt thì họ cũngkhông thể nào liên hệ được. Ngay cả vợ của người đàn ông cũng không haybiết gì về chồng của mình, vẫn tưởng anh chết và chỉ biết thực sự về ngườichồng khi anh gọi điện về thông báo. Như vậy, thông tin cơ bản và phổbiến nhất về một số phận, một con người chính là dãy số điện thoại. Và khikhông thể biết về những dãy số ấy, con người như lạc hẳn ra khỏi thế giới,không liên kết được với bất cứ một ai. Chưa lúc nào sự định vị con ngườilại chính xác và cũng mong manh như thế. Lúc hiện hữu qua lời bộc bạch của nhân vật, lúc thì ẩn sau câu chữ,giọng triết lí tạo thành một mạch liên kết chặt chẽ các mảng hiện thực, thểhiện chiều sâu của tác phẩm. Các giọng điệu không tồn tại như những âm giai tách biệt mà luôn cósự đan cài với nhau. Giọng chủ đạo của tác phẩm là giọng cười cợt châmbiếm và sự tham gia, đan xen của giọng trữ tình và giọng chiêm nghiệmtriết lí tạo nên sự phức hợp, thể hiện cách nhìn nhận đánh giá nhiều chiềucủa tác giả về hiện thực. Nhà văn không đưa ra lời phán truyền chân lí cũngkhông mở ra sự lựa chọn những con đường giải quyết những vấn đề ngổnngang trong xã hội mà chỉ là sự quan sát, phơi bày, đánh giá, đúc rút thànhnhững qui luật … Vai trò dẫn đường, người đi tìm chân lí của nhà văn đã bị 15
  • 16. mờ nhoà, thay vào đó là hình ảnh một nhà văn tham dự, đứng ngang hàngvới nhân vật để đối thoại với bạn đọc. 4. Ngôn ngữ trần thuật đa thanh. Barktin đã viết "ngôn ngữ trong tiểu thuyết mang tính biện chứng vànhiều lời, giống như lòng của con sông, nơi mọi thứ ý nghĩa, hình ảnh,dụng ý và gợi ý đều lẩn lộn vào nhau và vẩn lên mặt nước". Lời nhận xétấy rất xác đáng với tác phẩm này của Hồ Anh Thái. Nét đặc sắc của ngônngữ trần thuật trong tiểu thuyết này chính là sự pha trộn của các hệlời. Trước hết là sự xâm nhập của ngôn ngữ đối thoại của nhân vật trongngôn ngữ trần thuật. Một số những đoạn tiêu biểu trong tác phẩm này như"Ngon không? Chủ tay vào đĩa thịt chó, Ô gút gút (35, 2) Hay "Bà già vẫnliên tục nhầm chìa khoá, rủng rẻng thì có tiếng một thằng bé. Bà ơi, chú ấyđi rồi, vừa đi xong, Bà già ngừng tay, không tiếp tục nỗ lực mở cửa nữa.,Mày thấy chú ấy đi rồi à. vâng cháy thấy (39,2). Những đoạn xâm nhập loạingôn ngữ như vậy xuất hiện đậm đặc trong tác phẩm. Lời trần thuật và lờinhân vật hoà lẫn vào nhau. Đối thoại tuy không phân vai cụ thể nhưngngười đọc vẫn có thể phân biệt dễ dàng lời thoại của nhân vật trong tácphẩm. Không chỉ có lời đối thoại, cả những dòng độc thoại nội tâm củanhân vật cũng hoà vào ngôn ngữ trần thuật. "Ngày thứ năm và ngày thứ sáuthì bắt đầu ngộ. Ta có thể vắng. Ta có thể chết hẳn. Và mọi việc dù hệ trọngđến đâu cũng có thể làm mà không có ta" (38,2). Ngôn ngữ trần thuậtkhông chỉ mang ý nghĩa là lời kể, dẫn dắt câu chuyện mà còn là lời củachính nhân vật được đề cập đến. Điều này cũng đồng nghĩa với việc xoá 16
  • 17. nhoà ranh giới giữa người kể chuyện và nhân vật trong chuyện, tất cả đềucùng một vị trí trong truyện kể. Sự hoà trộn còn thể hiện sự gia tăng tốc độ của ngôn ngữ. Ngôn ngữthoại giữa các nhân vật liền mạch với nhau thể hiện tốc độ trao đổi ngônngữ nhanh và gọn. Hầu như nhân vật không phải xưng danh và cũng khôngdùng những đại từ để trao đổi. Người đọc khi theo dõi những đoạn thoại lẫntrong đoạn trần thuật cảm nhận rất rõ những cuộc trao đổi chớp nhoáng, chỉchú trọng lấy thông tin mà nhẹ phần bộc lộ thái độ, tình cảm. Nó thể hiện rõnhịp sống hiện đại gấp gáp và thực dụng Thứ hai là sự phức hợp của hệ lời. Hồ Anh Thái đã sử dụng hầu hếtcác hệ lời trong xã hội để đưa vào tác phẩm: ngôn ngữ văn chương, ngônngữ thị dân, ngôn ngữ chuyên ngành, ngôn ngữ Việt và cả tiếng Anh đượcViệt hoá. Điều đáng chú ý trong tác phẩm này là ngôn ngữ đời sống, ngônngữ thị dân chiếm vị trí áp đảo các ngôn ngữ khác. Ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống là hai đường tròn đồng tâmcó sự qui tụ gặp gỡ nhưng cũng có sự gián cách. Các nhà văn hiện đại rấtchú ý đưa ngôn ngữ cuộc sống vào tác phẩm tạo tính chân thực rõ nét củatác phẩm. Hồ Anh Thái chọn ngôn ngữ thị dân làm điểm nhấn trong trangviết của mình. Những từ ngữ như: điên lắm, khỉ thật, không xong rồi…xuất hiện với tần suất lớn trong lời đối thoại. Thêm vào đó, cấu trúc câutrong tác phẩm cũng có xu hướng thị dân hoá, "mới chỉ cách đây dăm nămthôi, Cách đây dăm năm chị chưa lây được ông Vip, tuổi ba mươi tư chưamột lần lấy chồng bị xem là gái già. Khách khứa đến nhà chơi hỏi bao giờlập gia đình, để mặc cho mẹ trả lời (46,2). Hay "Chịu. Chịu tức là khôngthua nhưng mặc kệ. Chán chẳng buôn nói. Từ nay anh ả muốn làm gì tuỳ ý"(67,2) " nàng chẳng ghen đời nàng giai hơi bị sẵn, hét giai này có giaikhác" (77,2). Điều đáng chú ý là nếu như nhà văn đi trước như Vũ TrọngPhụng hay Nguyên Hồng sử dụng kiểu ngôn ngữ này để nêu lên đặc điểm 17
  • 18. của tầng lớp dưới thì Hồ Anh Thái lại dùng kiểu ngôn ngữ thị dân để phảnánh những nhân vật thuộc tầng lớp trí thức, nghệ sĩ. Đó là một phương cáchgiễu nhại và đồng thời cũng phản ánh thực trạng của một bộ phận conngười trong thời đại, thể hiện cách nhìn nhận đánh giá của nhà văn về conngười, không đánh giá qua vị trí văn hoá trong xã hội mà qua bản chấtvăn hoá. Cũng sẽ rất lí thú khi ta làm một phép so sánh sơ lược giữa ngôn ngữtrần thuật trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài với tác phẩm này. Sự khácbiệt rõ nét nhất là sự đối lập của ngôn ngữ nhiều tầng bậc, thuật ngữ trongThiên sứ và ngôn ngữ thị dân giản đơn trong Mười lẻ một đêm. Nhưng dùphân li thành hai đối cực như vậy những xét về bản chất thì cả hai loại ngônngữ trần thuật này đều thể hiện xu thế hiện đại hoá ngôn ngữ kể chuyện.Phạm Thị Hoài đi theo con đường sử dụng lối ngôn ngữ biểu tượng, nhiềutầng bậc thể hiện tính đa thanh, nhiều liên tưởng đậm chất phương Tây. CònHồ Anh Thái thì xoá mờ ranh giới ngôn ngữ văn chương và cuộc sống, tạora một lối ngôn ngữ dễ hiểu gần với ngôn ngữ báo chí, thể hiện rõ xu hướngđơn giản hoá, rõ ràng và mạch lạc hoá của ngôn ngữ thời đại mới. Hiểu theonghĩa này, đó là một cách nhà văn đối thoại trở lại với tiểu thuyết truyềnthống, thể nghiệm một lối văn khác biệt, đậm dấu ấn cá nhân. Một đặc điểm đáng chú ý nữa của ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩmlà ngôn ngữ nhại. Nhại "theo nghĩa của từ gốc trong tiếng Hi Lạp(paroidia) là "một bài hát được hát cùng với một bài khác". Trong văn học,nhại là hình thức phê bình châm biếm hoặc là hình thức chế giễu khôi hàibằng cách bắt chước phong cách và bút pháp. Ngôn ngữ nhại có tính chấtgiải thiêng, tạo ra tiếng cười Ngôn ngữ nhại đã xuất hiện nhiều và gây được tiếng vang trongsáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài … Loại hình này cũngxuất hiện trong một số những sáng tác trước của Hồ Anh Thái như Cõingười rung chuông tận thế, Bốn lối vào nhà cười và trong tác phẩm mới 18
  • 19. nhất này thì nó xuất hiện đậm đặc hơn. Ngôn ngữ nhại quân sự, "vỡ GiaLâm chạy về Thái Hà lập căn cứ địa mới, vỡ Thái Hà chạy về Hoàng QuốcViệt lập lại chiến khu" (8,2), nhại các thuật ngữ thông dụng " đa dạng hoávà đa phương hóa. Đây là phương châm của người đàn bà lấy chồng khôngbiết mệt này", nhại ngôn ngữ chuyên ngành, "bốn tháng đẻ con như giốngngắn ngày. Lúa chiêm lức mùa đến độ , dùng giống ngắn ngày để trăng vụ(70, 2). Đó như là một phương cách phá bỏ để tạo lập. Sự xuất hiện đậmđặc của ngôn ngữ nhại trong tác phẩm thể hiện lối tư duy phán xét của nhàvăn, sự hoài nghi về các giá trị được sắp đặt trước. Ngôn ngữ nhại còn gópphần tạo ra tiếng cười, chủ đích là cười chế giễu, phê phán. Một tác dụngnữa của ngôn ngữ nhại là biên độ phản ánh cuộc sống được mở rộng. Lớpngôn ngữ này có thể động chạm đến nhiều vấn đề trong xã hội trong mộtlượng từ ngữ hạn chế, khơi dậy nhiều suy ngẫm trong lòng bạn đọc. Trong văn xuôi đương đại, ngôn ngữ đang có những biến chuyển rấtmạnh mẽ, diễn tả dòng chảy mãnh liệt, phức tạp của đời sống xã hội và tâmhồn con người. Hồ Anh Thái đã nắm bắt được dòng chuyển vận đó, "biếtvượt qua sự du dương của ngôn ngữ và tình trạng tha hoá để sáng tạo ramột cấu trúc ngôn ngữ khá lạ, một thứ ngôn ngữ không bằng phẳng mà lổnnhổn một cách cố ý, điều này khiến cho hình ảnh trong tác phẩm gần hơnvới hơi thở của cuộc sống". (34,8) 19
  • 20. Những yếu tố trần thuật nêu trên đều có sự tác động qua lại, chi phốilẫn nhau để tạo nên những đặc sắc riêng của nghệ thuật trần thuật trong tácphẩm. Qua đó thể hiện tài bút sắc sảo đến độ chín của nhà văn. Đồng thờicũng thể hiện những tư tưởng, quan niệm của nhà văn về cuộc sống, conngười, về nghệ thuật và người nghệ sĩ đích thực. Hồ Anh Thái không nhữngphủ nhận những giá trị cũ mà còn phủ nhận cả những sáng tạo của bạn thânđể tạo nên những sáng tạo mới. Ngòi bút sắc sảo kể lại chuyện muôn đời vềcuộc sống, con người, chuyện mà biết bao những cây bút khác đã kể đếnquen mòn nhưng vẫn hấp dẫn lạ thường. Nếu như văn học hiện đại giai đoạn trước tự hào với những cây bútkể chuyện xuất sắc như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng thì văn học giai đoạnnày có triển vọng tiêu biểu là Hồ Anh Thái. Thời gian sẽ phủ định haykhẳng định nhận xét ấy? Câu trả lời vẫn đang còn ở phía trước. Và Hồ AnhThái vẫn đang còn một khoảng thời gian ở phía trước để tiếp tục vùi lấp vàgieo hạt. 20
  • 21. TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Hồ Anh Thái, Bốn lối vào nhà cười, NXB Đà Nẵng, 1998.2. HồAnh Thái, Mười lẻ một đêm, NXB Đà Nẵng, 20063. Hồ Anh Thái, Cõi người rung chuông tận thế NXB Hội Nhà Văn, 1999.4. Hồ Anh Thái, Tự sự 265 ngày NXB Hội Nhà Văn, 20015. Hoàng Trinh, Phương Tây, văn học và con người, NXB Hà Nội, 1999.6. Lê Bá Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử ,Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, 2006.7. M.Bartin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và dịch từ nguyên bản tiếng Nga, NXB Hội Nhà văn, 2003.8. Nguyễn Thị Bình, Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (khảo sát trên nét lớn) NXB GD, 2007.9. Nguyễn Hữu Tâm, Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, Luận án thạc sĩ, ĐH Sư phạm Hà Nội, 200610. Nguyễn Đăng Điệp, Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc, Http://talawas. org11. G.N.P ôxpeelôp, Dẫn luận nghiên cứu văn học, NXBGD,1998. 21
  • 22. 12. Phan Trọng Thưởng Trương Đặng Dung, Nguyễn Ngọc Thiện...Lý luận và phê bình văn học - đổi mới và phát triển, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Khoa học xã hội, 200513. Phạm Thị Hoài, Thiên sứ Tiểu thuyết số 1 / - Tp. Hồ Chí Minh,NXB Trẻ, 1989.14. Phạm Thị Hoài, Man Nương, NXB Hợp Lưu, 1998.15. Phạm Thị Hoài, Nhà văn thời Hậu Đổi Mới, Http:// www.talawas. org,10.2.200416. Phương Lựu chủ biên, Lí luận văn học, NXB Văn học, 1997.17. Thuỵ Khuê, Hậu hiện đại, Http://talawas. org18. Trần Đăng Suyền, Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, NXB Văn học, 2000.19. Trần Thị Mai Nhi, Văn học hiện đại- văn học giao lưu và gặp gỡ, NXB 22
  • 23. MỤC LỤC 1Mở đầuPhần nội dung 3 1. Sự dịch biến của điểm nhìn trần thuật. 2. Người trần thuật trung tâm và người trần thuật đổi vai. 5 3. Hợp xướng giọng điệu. 8 4. Ngôn ngữ trần thuật đa thanh. 15Kết luận 19Thư mục tham khảo 21 23
  • 24. 24