• Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
No Downloads

Views

Total Views
13,134
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
88
Comments
0
Likes
2

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. Đề bài: giá trị thẩm mĩ trong bài thơ “chiều tối” của Hồ Chí Minh Bài làm Hồ Chí Minh – vị cha già muôn vàng kính yêu của dân tộc. Chúng ta kính yêu Bác, không chỉbởi sự nghiệp Cách mạng lớn lao mà còn bởi những cống hiến to lớn của Bác cho nền văn học nướcnhà, với những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc.Giản dị và thực tế như cuộc sống đờithường, các tác phẩm của Bác đi vào lòng người rất nhẹ nhàng, sâu sắc, mà khi đọc, ta không thể nàoquên. Và trong các tác phẩm ấy, ta luôn bắt gặp một tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên, yêucon người và cuộc sống. Và ở đó, dù trong bất kì hoàn cảnh nào, con người cũng vượt lên khó khăn,thử thách bằng một ý chí, nghị lực phi thường, một tinh thần thép đáng trân trọng. Nhắc đến những vầnthơ của Bác, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã thực sự rung động trước cái hay, cái đẹp của từng bài thơ,lời thơ, ý thơ, để rồi cảm xúc trào dâng, ông đã viết: ” Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình” “ Vần thơ thép”, những vần thơ mang “chất thép” của con người cộng sản Hồ Chí Minh.“Thép” ở đây là ý chí, là nghị lực, là dũng khí lớn để vượt qua bao và khắc phục những hoàn cảnh khókhăn của một con người vĩ đại. Nhưng dù là “thơ thép”, nhưng những vần thơ của Bác không hề khôkhan, cứng nhắc. Bên trong cái thép ấy, ẩn chứa những giá trị thẩm mĩ, và nhân đạo sâu sắc. Với cáichất tình từ trong cốt tủy, những vần thơ thép của Bác “ vẫn mênh mông bát ngát tình” cũng là mộtđiều dễ hiểu. Ở trong con người, cũng như mỗi tác phẩm của Bác, chất thép và chất tình luôn hòaquyện vào nhau, tạo nên một sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, để chan hòa với mọi vật, cảm thôngcho mọi nỗi đau của nhân loại. Và bài thơ “ Chiều tối” là một dẫn chứng rõ ràng nhất mà chúng ta cóthể thấy được. Bài thơ “ Chiều tối” ghi lại những cảm xúc của Bác trên con đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đếnThiên Bảo vào một buổi chiều, cuối mùa thu năm 1942. Và ngày ấy, bất chợt, Bác ngước mắt nhìn lênbầu trời và thấy cánh chim bay về tổ, mây chậm chạp bay. Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ, Cô vân mạn mạn độ thiên không ; (Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ, Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không; Bài thơ được mở đầu bằng hai câu thơ miêu tả thiên nhiên, vừa gần gũi lại vừa khác lạ. Cũnggiống như trong thi ca cổ điển phương Đông, khung cảnh thiên nhiên trong 2 câu thơ đầu được pháchọa bằng những nét chấm phá. Bác đã không nghiêng về tả, mà chỉ gợi ra một vài nét dể bắt lấy cáihồn của tạo vật. Toàn bộ khung cảnh miền thiên nhiên sơn cước hiện ra rất đơn sơ: không gian rừngnúi âm u hoang vắng, cảnh chim chiều mệt mỏi đang vỗ cánh bay về nơi trú ngụ, những áng mây lẻ loi,lững lỡ trôi giữa tầng không. Thời gian chiều ngả dần về tối là thời gian nghệ thuật quen thuộc trở đitrở lại trong các tác phẩm thi ca. Nghệ sĩ xưa thường mượn thời gian chiều tối để gửi gắm tiếng lòngmình, để nương náu nỗi buồn của mình.Ca dao xưa có câu : Chim bay về núi tối rồihay trong Truyện Kiều : Chim hôm thoi thót về rừng, Đoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành.Rồi buổi chiều nghiêng nghiêng xuống theo đôi cánh chim bé nhỏ trong “Tràng giang” của Huy Cận : Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Câu thơ của Bác mà vì thế cũng gợi ý niệm về không gian vừa gợi ý niệm về thời gian. Tuynhiên, ở đây không phải chim bay trong trạng thái bình thường mà là bay mỏi, bay mải miết cho kịptới chốn ngủ nơi rừng xanh quen thuộc . Cánh chim mỏi mệt hay nhà thơ mỏi mệt lê bước trên chặngđường đi đày giờ đây không biết đâu là chốn dừng chân ? Sự tương đồng ấy dễ tạo nên sự cảm thôngsâu sắc giữa người với cảnh .
  • 2. Câu thơ thứ hai tiếp tục phác họa không gian, thời gian và tâm trạng: “ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không” Hình ảnh chòm mây gợi cho ta nhớ đến câu thơ của Nguyễn Khuyến trong bài Thu điếu “ Tầng mây lơ lửng tầng xanh ngắt” Vẫn là một thi liệu quen thuộc nhưng mây trong thơ Bác không gợi lên sự khắc khỏi, mơ hồ củacon người trước hư không mà là một chòm mây cô đơn. Nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình" được sử dụngthành công khiến người đọc không chỉ cảm nhận được tiếng nói của tâm trạng con người. Người đọckhông chỉ cảm nhận được sự nhọc nhằn, mệt mỏi của người tù mà còn thấy được cả nỗi cô đơn, buồnkhổ của người tù trong cảnh ấy. Ở câu thơ thứ hai này, bản dịch đã dịch khá hay và uyển chuyểnnhưng đã bỏ sót chữ “cô” và chưa thể hiện được hết ý nghĩa của 2 từ “mạn mạn” nên đã làm mất đi vẻđơn độc và nhịp bay chầm chậm của những đám mây. Đó không chỉ là một chòm mây bình thường màlà một chòm mây cô đơn, lẻ loi, lững lờ trôi chầm chậm giữa bầu trời. Hai câu thơ thấm thía một nỗi buồn vì cảnh buồn mà người buồn. Cánh chim bay về tổ gợi niềmước mong xum họp, chòm mây đơn độc trôi chầm chậm về phía trời xa gợi nỗi đau về thân phận lênhđênh nơi đất khách. Sống trong hoàn cảnh đó bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ được bộc lộ rõràng hơn bao giờ hết, trong nỗi buồn người đọc vẫn thấy ở đó một ý trí và nghị lực, một phong tháiung dung và sự tự do hoàn toàn về tinh thần của nhà thơ chiến sĩ HCM. Người ta nhận ra tư thế ngườitù - tư thế của một con người luôn ngẩng cao đầu với một ý chí, nghị lực mạnh mẽ, với một tâm hồnrộng mở đón nhận vạn vật vào trong lòng mình. Hai câu đầu diễn tả nỗi buồn, sự cô đơn của người tùnhưng không gợi cảm giác bi luỵ bế tắc mà vẫn hé mở bản lĩnh, ý chí, nghị lực phi thường của ngườitù cách mạng.Nếu trong hai câu thơ đầu, cảnh vật hiện ra trong những nét chấm phá, phần nào mang tính chất ước lệcổ điển thì sang đến hai câu thơ này bằng bút pháp tả thực, Bác đã dựng lên một bức tranh cs tươi vui,khỏe khoắn. Thời gian từ chiều muộn đã chuyển sang tối, cảm xúc con người không còn thoáng buồnnữa mà đã thấy vui: “ Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng” (Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng.) Hình ảnh cô gái xay ngô đã trở thành hình ảnh trung tâm tạo nên sự vui tươi khỏe khoắn chobức tranh. Thực ra, trong những bài thơ vịnh cảnh chiều hôm nổi tiếng thời xưa cũng thấp thoáng hìnhbóng con người: “Lom khom… mấy nhà” nhưng ở đó có người mà thiếu vắng sự sống, hình ảnh conngười chỉ tôn thêm cái hùng vĩ, hoang sơ của đất trời, thiên nhiên. Còn ở đây, trong bài thơ của Bác,hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung khỏe khoắn, sống động đem lại chút hơi ấm, hạnh phúccho con người, làm giảm đi cái không khí âm u lạnh lẽo của núi rừng heo hút. Tác giả sử dụng thànhcông cấu trúc lặp liên hoàn : ma bao túc, bao túc ma. Hoạt động xay ngô lặp đi lặp lại diễn tả vòngtuần hoàn của cối xay ngô. Ở đó người ta nhận ra nhịp điệu trôi chảy của thời gian nhưng điều kì diệuchính ở chỗ nhịp điệu của thời gian hoà cùng nhịp điệu trong cuộc sống lao động của con người. Nhịpthời gian trở thành nhịp của sự sống. Tứ thơ của Hồ Chí Minh có sự vận động mạnh mẽ, tự nhiên màkhỏe khắn Cảm xúc thẩm mĩ có khả năng phản ánh đươc những giá trị không mang tính thực dụng. Đó là giátrị tinh thần, tình cảm. Nó vượt ra khỏi khuôn khổ của sự vui sướng chỉ thỏa mãn những nhui cầuthuần túy bản năng sinh lý hay thực dụng. Cảm xúc thẩm mĩ là cảm xúc vô tư không vụ lợi. Do đó cảmxúc thẩm mĩ trở thành biểu tượng rất quan trọng của sự phát triển tính người trong con người với tưcach là thuộc tính giống loài ở nhân cách con người. Bức tranh chiều tối đến đây không buồn bã, thêlương, ảm đạm mà tràn đầy sự sống ấm áp tươi sáng, từ nỗi buồn thương đến niềm tin vui thể hiện mộthồn thơ luôn hướng về ánh sáng, sự sống và tương lai. Câu thơ thứ ba của bản dịch thơ dịch thừa chữtối. Bài thơ không có từ tối nhưng thời gian tối của bức tranh được gợi ra từ chính hình ảnh "lò thanrực hồng". Có một sự đối lập tương phản giữa ánh sáng của lò than với bóng tối của xóm núi. Chỉ cầnnhìn lò than đỏ, người ta cũng nhận ra bóng tối đã về bao trùm vạn vật. Bút pháp "vẽ mây nảy trăng"được sử dụng thành công. Hình ảnh “lò than rực hồng” được đánh giá là “điểm ngời sáng trong thơ”.
  • 3. Với chữ “hồng”, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, xóa tan đi những mệt mỏi, uể oải, vội vã,nặng nề được diễn tả trong ba câu thơ đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xongngô tối. Nó là nhãn tự của bài thơ, nó cân lại bài thơ, chỉ một chữ thôi, với 27 chữ khác nặng đến mấyđi chăng nữa. Tưởng như tất cả cảnh vật đã rất buồn và chìm đi trong bóng tối khi mà người tù cũng đãmỏi mệt. Nhưng không, chỉ bằng một từ “hồng” nhà thơ đã xóa sạch đi đêm tối bao trùm và ánh sángmàu hồng đã bao phủ toàn bộ bài thơ. Tất cả sự mỏi mệt, vội vã, sự nặng nhọc mà tác giả đã diễn tả ởtrên không còn nữa; thay vào đó là niềm vui, là sự hân hoan hướng về phía ánh sáng nơi có “ Cô emxóm núi xay ngô tối”.Phải chăng đấy còn là sự khao khát của con người xa quê, hướng về cuộc sốngvà sự sinh hoạt bình thường mà đầm ấm của gia đình.Với câu cuối cùng, tất cả còn lại chỉ là một màuhồng; màu hồng làm sáng không gian, soi rõ hình ảnh của”cô em xóm núi” đang miệt mài lao động,phải chăng, đó cũng là màu hồng của tư tưởng Bác, là cái tình mênh mông, bát ngát mà Bác dành chocon người, cho cảnh vật.Một tâm hồn, một con người, một cuộc đời luôn yêu tất cả, chỉ quên mình. Đó là con người vĩ đại,sốnghết mình, vì con người; vì vậy, khi làm thơ, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt, thơ Bác vẫn là “vần thơthép “, “Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”. - HẾT -