Your SlideShare is downloading. ×

Giathanh.doc

1,354

Published on

cxvcv

cxvcv

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
1,354
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
20
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Giá thành sản phẩm xây lắpTCKT cập nhật: 18/09/2006 Giá thành có hai chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá. Số tiền thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm sẽ bù đắp phần chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó. Tuy nhiên, sự bù đắp các yếu tố chi phí đầu vào mới chỉ là đáp ứng yêu cầu của tái sản xuất giản đơn.Khái niệmGiá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiềntoàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóaphát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan tớikhối lượng xây lắp đã hoàn thành.Giá thành sản xuất sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hóa, phảnánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa đãthực sự chi ra cho sản xuất. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phảiphản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất vàcác khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí laođộng sống.Chỉ tiêu giá thành nếu được xác định một cách chính xác, trung thực có thểgiúp cho các doanh nghiệp cũng như Nhà nước có cơ sở để xem xét, đánh giáthực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đưa ra những biện pháp,đường lối thích hợp cho từng giai đoạn cụ thể.Giá thành có hai chức năng chủ yếu là bù đắp chi phí và lập giá. Số tiền thuđược từ việc tiêu thụ sản phẩm sẽ bù đắp phần chi phí mà doanh nghiệp đãbỏ ra để sản xuất sản phẩm đó. Tuy nhiên, sự bù đắp các yếu tố chi phí đầuvào mới chỉ là đáp ứng yêu cầu của tái sản xuất giản đơn. Trong khi đó mụcđích chính của cơ chế thị trường là tái sản xuất mở rộng tức là giá tiêu thụhàng hóa sau khi bù đắp chi phí đầu vào vẫn phải bảo đảm có lãi. Do đó, việcquản lý, hạch toán công tác giá thành sao cho vừa hợp lý, chính xác vừa bảođảm vạch ra phương hướng hạ thấp giá thành sản phẩm có vai trò vô cùngquan trọng.Phân loại giá thành sản xuất sản phẩmCó rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm. Tùy theo tiêu chí lựa chọn
  • 2. mà giá thành sản phẩm có thể được phân loại thành các trường hợp sau: • Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thànhTheo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán, giáthành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế. • Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở thiết kế kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi công và phân tích định mức.Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sản phẩmxây lắp theo công thức:Giá thành dự toán Giá trị dự toán Lãi định = -sản phẩm xây lắp sản phẩm xây lắp mức Trong đó • Lãi định mức trong XDCB được Nhà nước quy định trong từng thời kỳ • Giá trị dự toán xây lắp được xây lắp được xác định dựa vào đinh mức đánh giá của các cơ quan có thẩm quyền và dựa trên mặt bằng giá cả của thị trường, do đó giá trị dự toán chính o Giá thành kế hoạch: giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. Chỉ tiêu này được xác lập trên cơ sở giá thành dự toán gắn liền với điều kiện cụ thể, năng lực thực tế của từng doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Giá thành kế Giá thành dự Mức hạ Chênh hoạch sản = toán sản phẩm - giá thành + lệch địnhphẩm xây lắp xây lắp dự toán mức Giá thành kếhoạch là căn cứ để so sánh, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành,là mục tiêu phấn đấu hạ giá thành của doanh nghiệp. • Giá thành định mức: Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định
  • 3. mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xây dựng trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành. • Giá thành thực tế: Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.Các phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xácđịnh được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó,điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp. • Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phíTheo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thànhsản xuất và giá thành tiêu thụ. • Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất. Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung. • Giá thành tiêu thụ: (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức • Giá thành Giá thành sản Chi phí quản Chi phí toàn bộ của = xuất của sản + lý doanh + bán sản phẩm phẩm nghiệp hàng Cách phânloại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kế quả kinh doanh củatừng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, donhững hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng vàchi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cáchphân loại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu.--=================================================vai trò và nhiệm vụ của kế toán CPSX và tính GTSP trong các doanh nghiệp
  • 4. xây lắpTCKT cập nhật: 19/10/20061. Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giáthành sản phẩm xây lắpTổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lývà tính đúng, tính đủ giá thành công trình xây lắp cóý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giáthành xây dựng, trong việc kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của chi phí phátsinh ở doanh nghiệp nói chung và ở các tổ đội xây dựng nói riêng. Với chứcnăng là ghi chép, tính toán, phản ánh và giám đốc thường xuyên liên tục sựbiến động của vật tư, tài sản, tiền vốn, kế toán sử dụng thước đo hiện vật vàthước đo giá trị để quản lý chi phí. Thông qua số liệu do kế toán tập hợp chiphí, tính giá thành, người quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giáthành thực tế của từng công trình, hạng mục công trình của quá trình sản xuấtkinh doanh. Qua đó, nhà quản trị có thể phân tích tình hình thực hiện kếhoạch sản phẩm, tình hình sử dụng lao động, vật tư, vốn là tiết kiệm hay lãngphí để từ đó có biện pháp hạ giá thành, đưa ra những quyết định phù hợp vớihoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hạ giá thành sản phẩm màvẫn đảm bảo chất lượng là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp kinh doanhtrên thị trường.Việc phân tích đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ có thểdựa trên giá thành sản phẩm chính xác. Về phần giá thành thì giá thành lạichịu ảnh hưởng của kết quả tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp. Do vậy, tổchức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắpđể xác định nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành cũng nhưlượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm hoàn thành làyêu cầu rất cần thiết đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệpxây lắp nói riêng.Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, tránh tình trạng lãi giả, lỗ thật như mộtsố năm trước đây. Khi nền kinh tế đang trong thời kế hoạch hoá tập trung,các doanh nghiệp hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấptrên cấp, giá thành là giá thành kế hoạch định sẵn. Vì vậy, công tác kế toánchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chỉ mang tính hình thức. Chuyểnsang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được chủ động hoạt động sảnxuất kinh doanh theo phương hướng riêng và phải tự chịu trách nhiệm về kết
  • 5. quả kinh doanh của mình. Để có thể cạnh tranh được trên thị trường, công táckế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp còn phải thựchiện đúng theo những quy luật khách quan.Như vậy, kế toán chi phí sản xuấtvà tính giá thành sản phẩm xây lắp là phần không thể thiếu được đối với cácdoanh nghiệp xây lắp khi thực hiện chế độ kế toán, hơn nữa là nó có ý nghĩato lớn và chi phối chất lượng công tác kế toán trong toàn doanh nghiệp.2. Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xâylắpDo đặc thù của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng nên việcquản lý về đầu tư xây dựng rất khó khăn phức tạp, trong đó tiết kiệm chi phísản xuất, hạ giá thành sản phẩm là một trong những mối quan tâm hàng đầu,là nhiệm vụ hết sức quan trọng của doanh nghiệp. Hiện nay, trong lĩnh vựcxây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng cơ chế đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng.Vì vậy, để trúng thầu, được nhận thầu thi công thì doanh nghiệp phải xâydựng được giá thầu hợp lý, dựa trên cơ sở đã định mức đơn giá xây dựng cơbản do Nhà nước ban hành, trên cơ sở giá thị trường và khả năng của bảnthân doanh nghiệp. Mặt khác, phải đảm bảo kinh doanh có lãi. Để thực hiệncác yêu cầu đòi hỏi trên thì cần phải tăng cường công tác quản lý kinh tế nóichung, quản lý chi phí giá thành nói riêng, trong đó trọng tâm là công tác kếtoán chi phí sản xuất và tính giá thành đảm bảo phát huy tối đa tác dụng củacông cụ kế toán đối với quản lý sản xuất.Trước yêu cầu đó, nhiệm vụ chủ yếu đặt ra cho kế toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm xây lắp là:- Phản ánh đầy đủ, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh.- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tư, chi phí nhâncông, chi phí sử dụng máy thi công và các chi phí dự toán khác, phát hiện kịpthời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí khác ngoài kế hoạch,các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng…trong sản xuất để đề xuất những biệnpháp ngăn chặn kịp thời.- Tính toán hợp lý giá thành công tác xây lắp, các sản phẩm lao vụ hoànthành của doanh nghiệp.- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp theo từngcông trình, hạng mục công trình từng loại sản phẩm lao vụ, vạch ra khả năng
  • 6. và các biện pháp hạ giá thành một cách hợp lý và có hiệu quả.- Xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tácxây dựng đã hoàn thành. Định kỳ kiểm kê và đánh giá khối lượng thi công dởdang theo nguyên tắc quy định.- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng côngtrình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công tổ đội sản xuất…trongtừng thời kỳ nhất định, kịp thời lập báo cáo về chi phí sản xuất, tính giá thànhcông trình xây lắp, cung cấp chính xác kịp thời các thông tin hữu dụng về chiphí sản xuất và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanhnghiệp.Chi phí sản xuất trong ngành kinh doanh xây lắpTCKT cập nhật: 14/09/2006Khái niệmSản xuất gắn liền với quá trình hình thành và pháttriển của loài người. Quá trình sản xuất là sự kếthợp của 3 yếu tố cơ bản: đối tượng lao động, tư liệulao động và lao động sống. Lao động là hoạt độngmột cách có ý thức của người lao động tác độngmột cách có mục đích lên đối tượng lao động và tư liệu lao động, qua quátrình biến đổi sẽ tạo ra sản phẩm, lao vụ. Đó chính là sự tiêu hao ba yếu tốtrên. Trong xã hội tồn tại quan hệ hàng hóa - tiền tệ, hao phí yếu tố nguồn lựccho sản xuất, kinh doanh được biểu hiện dưới hình thức giá trị, gọi là chi phísản xuất, kinh doanh.Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về laođộng sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong một kỳ kinhdoanh nhất định. Chi phí về lao động sống là những chi phí về tiền lương,thưởng, phụ cấp và các khoản trích theo lương của người lao động. Chi phílao động vật hóa là những chi phí về sử dụng các yếu tố tư liệu lao động, đốitượng lao động dưới các hình thái vật chất, phi vật chất, tài chính và phi tàichính.
  • 7. Phân loại chi phí sản xuấtViệc quản lý chi phí sản xuất không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu phảnánh tổng hợp chi phí mà phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt đểphân tích toàn bộ chi phí sản xuất của từng công trình, hạng mục công trìnhhay theo nơi phát sinh chi phí. Dưới các góc độ xem xét khác nhau, theonhững tiêu chí khác nhau thì chi phí sản xuất cũng được phân loại theo cáccách khác nhau để đáp ứng yêu cầu thực tế của quản lý và hạch toán.Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩmCăn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện choviệc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục. Cách phânloại này dựa vào công dụng chung của chi phí và mức phân bổ chi phí chotừng đối tượng. Theo quy định hiện hành, giá thành sản phẩm bao gồm cáckhoản mục chi phí sau : o Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm giá trị thực tế của nguyên liệu, vật liệu chính, phụ hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp và giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp ( không kể vật liệu cho máy móc thi công và hoạt động sản xuất chung. o Chi phí nhân công trực tiếp: gồm toàn bộ tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương trả cho công nhân trực tiếp xây lắp o Chi phí sử dụng máy thi công: bao gồm chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng xây lắp bằng máy. Máy móc thi công là loại máy trực tiếp phục vụ xây lắp công trình. Đó là những máy móc chuyển động bằng động cơ hơi nước, diezen, xăng, điện,...Chi phí sử dụng máy thi công gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời. • Chi phí thường xuyên cho hoạt động của máy thi công gồm: lương chính, phụ của công nhân điều khiển, phục vụ máy thi công. Chi phí nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài (sửa chữa nhỏ, điện, nước, bảo hiểm xe, máy ) và các chi phí khác bằng tiền.
  • 8. • Chi phí tạm thời: chi phí sửa chữa lớn máy thi công (đại tu, trung tu...), chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán, bệ, đường ray chạy máy....). Chi phí tạm thời của máy có thể phát sinh trước (hạch toán trên TK 142, 242) sau đó phân bổ dần vào TK 623. Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí sử dụng máy thi công trong kỳ (do liên quan đến việc sử dụng thực tế máy móc thi công trong kỳ). Trường hợp này phải tiến hành trích trước chi phí (hạch toán trên TK 335) o Chi phí sản xuất chung: phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trường xây dựng bao gồm: lương nhân viên quản lý đội, công trường, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ quy định (19 %) trên tiền lương của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển xe, máy thi công và nhân viên quản lý đội, khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội o Chi phí bán hàng: gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ trong kỳ o Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến quản trị kinh doanh và quản trị hành chính trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà không tách được cho bất cứ hoạt động hay phân xưởng, công trường nào.Phân loại chi phí theo yếu tố chi phíĐể phục vụ cho việc tập hợp và quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầuthống nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh,chi phí được phân theo yếu tố. Cách phân loại này giúp cho việc xây dựng vàphân tích định mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và phân tích dựtoán chi phí. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chiathành các yếu tố: o Chi phí nguyên liệu, vật liệu : gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu, phục tùng thay thế, công cụ dụng cụ ...sử dụng trong sản xuất kinh doanh o Chí phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất o Chi phí nhân công: tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương phải trả cho công nhân viên chức o Chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp phải trả cho cán bộ công nhân viên
  • 9. o Chi phí khấu hao TSCĐ: tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng trong sản xuất kinh doanh. o Chi phí dịch vụ mua ngoài: toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho sản xuất kinh doanh o Chi phí bằng tiền khác: toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.Theo cách này, doanh nghiệp xác định được kết cấu tỷ trọng của từng loạichi phí trong tổng chi phí sản xuất để lập thuyết minh báo cáo tài chính đồngthời phục vụ cho nhu cầu của công tác quản trị trong doanh nghiệp, làm cơsở để lập mức dự toán cho kỳ sau.Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm lao vụ hoànthànhTheo cách này chi phí được phân loại theo cách ứng xử của chi phí hay làxem xét sự biến động của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi. Chi phíđược phân thành 3 loại o Biến phí: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng công việc hoàn thành, thường bao gồm: chí phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí bao bì, ….Biến phí trên một đơn vị sản phẩm luôn là một mức ổn định o Định phí: là những khoản chi phí cố định khi khối lượng công việc hoàn thành thay đổi. Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì định phí lại biến đổi. Định phí thường bao gồm: chí phí khấu hao TSCĐ sử dụng chung, tiền lương nhân viên, cán bộ quản lý, …. o Hỗn hợp phí: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí và định phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí. Hỗn hợp phí thường gồm: chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp...Cách phân loại trên giúp doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch, kiểm tra chiphí, xác định điểm hòa vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí, tìm raphương hướng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.Phân loại chi phí theo cách thức kết chuyển chi phí
  • 10. Theo cách thức kết chuyển, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chiathành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. • Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua • Chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ hoặc được mua nên được xem là các phí tổn, cần được khấu trừ ra từ loại nhuận của thời kỳ mà chúng phát sinh.Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh xây lắpTCKT cập nhật: 19/10/20061. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.Đối tượng kế toán chi phí sản xuất xây lắp là phạm vigiới hạn chi phí sản xuất xây lắp cần được tập hợpnhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêucầu tính giá thành.Để xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất xây lắp trong cácdoanh nghiệp, trước hết phải căn cứ vào các yếu tố tính chất sản xuất và quitrình công nghệ sản xuất giản, đặc điểm tổ chức sản xuất, yêu cầu và trình độquản lý, đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp.Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các loại chi phí được tập hợp trongmột thời gian nhất định nhằm phục vụ cho việc kiểm tra phân tích chi phí vàgiá thành sản phẩm. Giới hạn tập hợp chi phí sản xuất có thể là nơi gây ra chiphí và đối tượng chịu chi phí.Trong các doanh nghiệp xây lắp, với tính chất phức tạp của công nghệ và sảnphẩm sản xuất mang tính đơn chiếc, có cấu tạo vật chất riêng, mỗi côngtrình, hạng mục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối tượnghạch toán chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công trình, hoặc cóthể là đơn đặt hàng, bộ phận thi công hay từng giai đoạn công việc. Tuynhiên trên thực tế các đơn vị xây lắp thường hạch toán chi phí theo côngtrình, hạng mục công trình.
  • 11. Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng đã được qui định hợplý có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất vàphục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất.Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp sử dụng đểtập hợp và phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giới hạn của mỗiđối tượng kế toán chi phí. Trong các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu dùng cácphương pháp tập hợp chi phí sau:- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục côngtrình: chi phí sản xuất liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thìtập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó.- Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng: các chi phí sản xuất phátsinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặthàng đó. Khi đơn đặt hàng hoàn thành, tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặthàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế của đơn đặthàng đó.- Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công: phươngpháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực hiệnkhoán. Đối tượng hạch toán chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công như tổ độisản xuất hay các khu vực thi công. Trong từng đơn vị thi công lại được tậphợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí như hạng mục công trình.Trong các doanh nghiệp xây lắp, mỗi đối tượng có thể áp dụng một hoặc mộtsố phương pháp hạch toán trên. Nhưng trên thực tế có một số yếu tố chi phíphát sinh liên quan đến nhiều đối tượng, do đó phải tiến hành phân bổ cáckhoản chi phí này một cách chính xác và hợp lý cho từng đối tượng.Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trongdoanh nghiệp xây lắpTCKT cập nhật: 19/10/2006 Trong tổng chi phí sản phẩm xây lắp thì chi phí nguyên vật liệu chính chiếm một tỷ trọng lớn. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí của
  • 12. những loại nguyên vật liệu cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trịlớn và có thể xác định một cách tách biệt rõ ràng cụ thể cho từng sảnphẩm. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí về nguyên vậtliệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời, vật liệu luânchuyển tham gia cấu thành nên thực thể sản phẩm xây lắp. Chi phínguyên vật liệu được tính theo giá thực tế khi xuất dùng, còn có cả chiphí thu mua, vận chuyển từ nơi mua về nơi nhập kho hoặc xuất thẳngđến chân công trình.Trong xây dựng cơ bản cũng như các ngành khác, vật liệu sử dụng cho côngtrình, hạng mục công trình nào thì phải được tính trực tiếp cho công trình,hạng mục công trình đó dựa trên cơ sở chứng từ gốc theo giá thực tế của vậtliệu và số lượng thực tế vật liệu đã sử dụng. Cuối kỳ hạch toán hoặc khi côngtrình đã hoàn thành, tiến hành kiểm kê số vật liệu còn lại tại công trình đểgiảm trừ chi phí vật liệu đã tính cho từng hạng mục công trình, công trình.Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chiphí, không thể tổ chức kế toán riêng được thì phải áp dụng phương phápphân bổ gián tiếp để phân bổ cho các đối tượng liên quan.Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu haotheo hệ số, trọng lượng, số lượng sản phẩm...Công thức phân bổ như sau: Tổng chi phí vật liệu Tiêu thức Chi phí vật liệu cần phân bổ phân bổ của phân bổ cho = x Tổng tiêu thức lựa từng đối từng đối tượng chọn để phân bổ của tượng các đối tượng *Chứng từ sửdụng:- Hoá đơn bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng- Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho.- Giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi.- Hoá đơn mua bán… Vật liệu mua về có thể nhập kho hoặc có thể xuất thẳng cho công trình.Trường hợp các đơn vị thi công tự đi mua vật tư thì chứng từ gốc là hoá đơn
  • 13. kiêm phiếu xuất kho của người bán. Phiếu xuất kho và chứng từ liên quannhư hoá đơn vận chuyển tạo thành bộ chứng từ được chuyển về phòng kếtoán làm số liệu hạch toán.*TK sử dụng: Tài khoản 621 dùng để tập hợp chi phí nguyên vật liệu dùngcho sản xuất phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản tập hợpchi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Kết cấu TK 621 như sau:Bên Nợ: Trị giá gốc thực tế của nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho sảnxuất sản phẩm xây lắp.Bên Có: Trị giá nguyên liệu vật liệu sử dụng không hết nhập kho, Kếtchuyển chi phí NVL vào TK 154- Chi phí SXKD dở dangTK 621 không có số dư cuối kỳ. Tài khoản này được mở chi tiết cho từngcông trình, hạng mục công trình.- Căn cứ vào đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và giá trị vật liệu sử dụng,kế toán ghi:Nợ TK 621: Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp.Nợ TK 133: VAT được khấu trừ (nếu có). Có TK 152: nguyên vật liệu. Có TK 111, 112, 331…- Cuối kỳ hạch toán và hoàn thành hạng mục công trình kế toán và thủ khokiểm kê số vật liệu còn lại chưa dùng để ghi giảm trừ chi phí vật liệu đã tínhcho từng đối tượng hạch toán chi phí.- Nếu nhập lại kho nguyên vật liệu, giá trị vật liệu còn có thể chưa sử dụnghết, giá trị phế liệu thu hồi kế toán ghi:Nợ TK 152: Vật liệu, nguyên liệu Có TK 621: Chi phí NVL trực tiếp- Cuối kỳ căn cứ vào giá trị kết chuyển hoặc phân bổ nguyên vật liệu cho
  • 14. từng hạng mục công trình, kế toán ghi:Nợ TK 154: Chi phí SXKD dở dang Có TK 621: Chi phí NVL trực tiếpThông qua kết quả hạch toán chi phí vật liệu tiêu hao thực tế theo từng nơiphát sinh, cho từng đôí tượng chịu chi phí thường xuyên kiểm tra đối chứngvới định mức và dự toán để phát hiện kịp thời những lãng phí mất mát hoặckhả năng tiết kiệm vật liệu, xác định nguyên nhân, người chịu trách nhiệm đểxử lý hoặc khen thưởng kịp thời. Ta có thể thấy quá trình hạch toán qua sơ đồ sau: SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾPĐặc điểm sản xuất xây lắp có ảnh hưởng đến kế toán CPSX và tính GTSPtrong các doanh nghiệp xây lắpTCKT cập nhật: 11/10/2006Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chấtcông nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốcdân. Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích luỹ cùng vớivốn đầu tư của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơbản.
  • 15. So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế- kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo rasản phẩm của ngành. Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp.Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc... có quy môlớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xâylắp lâu dài...Do đó, việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phảilập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công). Quá trình sản xuất xây lắpphải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủiro phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp.Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủđầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp khôngthể hiện rõ.Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xemáy, thiết bị thi công, người lao động...) phải di chuyển theo địa điểm đặt sảnphẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vậttư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mấtmát hư hỏng...Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàngiao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phứctạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiềugiai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các côngviệc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môitrường như nắng, mưa, lũ lụt...Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý,giám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế,dự toán.Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Công tác kế toánvừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của mộtdoanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hìnhdoanh nghiệp xây lắp.
  • 16. Chi nhánh Hà Nội : B6 - BT2, Mỹ Đình 2, Từ Liêm, Hà Nội. Tel : 08.3911.8551 - 08.3911.8552 - 0903.034.381 - 091.8755.356 Thời gian mở trang: 0.093 giây. Số lần truy cập CSDL: 22© Copyright 2000-2009 CLB Tài chính kế toán TP. Hồ Chí Mình. All right reserved. Diễn đàn BBtoNuke 2.0.21 © 2006 Nuke Cops Được phát triển từ phpBB 2.0.21 © 2001-2006 phpBB Group

×