Thị trường sửa bột ở việt nam
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Like this? Share it with your network

Share

Thị trường sửa bột ở việt nam

on

  • 15,339 views

 

Statistics

Views

Total Views
15,339
Views on SlideShare
15,339
Embed Views
0

Actions

Likes
1
Downloads
254
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft PowerPoint

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Thị trường sửa bột ở việt nam Presentation Transcript

  • 1. 1.1 n nguyên u trong c.
  • 2. Các doanh nghiệp sản xuất sữa bột của Việt Nam cũngchủ yếu nhập khẩu sữa bột nền từ các quốc gia c đểlàm nguyên liệu phục vụ cho việc sản xuất các sản phẩmsữa bột của mình.%
  • 3. 2.1 Các nuớc xuất khẩu sữa nhiều nhất vào Việt NamTheo Cục Quản lý cạnh tranh, sữa là một trong những mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất và khá ổn định trong các ngành thực phẩm tại Việt Nam, với tỷ suất lợi nhuận tương đối cao.
  • 4. Biểu đồ : Kim ngạch nhập khẩu của top 10 nước xuất khẩu sữa nhiều nhất vào Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2009. (Báo cáo ngành hàng Việt Nam: Sữa – quý 1/2009, Trung tâm thông tin phát triển NNNT – Bộ NN&PTNT.)
  • 5. Kim ngạch nhập khẩu sữa bột liên tục tăng mạnh trong những năm qua. Năm 2007 có gần 7,1 triệu hộp sữa bột được nhập khẩu vào Viêt Nam, đến năm 2008 đã tăng thêm 17,3% lên trên 8,3 triệu hộp…
  • 6.  Theo khảo sát, ngay cả khi sữa nội và ngoài cùng sản xuất từ một nguồn sữa nguyên liệu nhập khẩu, sản phẩm mác ngoại có xu hướng được người tiêu dùng ưa chuộng hơn. Giai đoạn từ 2007-2009, sản lượng bán nhóm sữa bột của các hãng sữa nước ngoài chiếm xấp xỉ 70% toàn thị trường. Theo danh sách các doanh nghiệp nhập khẩu sữa do Tổng cục Hải quan thống kê, năm 2008-2009 có tới 230 doanh nghiệp nhập khẩu sữa bột thành phẩm và sữa bột nguyên liệu. Mặc dù vậy, trên thực tế chỉ một lượng nhỏ các doanh nghiệp có thể tồn tại và mở rộng thị phần. Riêng Abbott, Dutch Lady, Vinamilk, Dumex, Mead Johnson, Nestlé đã chiếm gần 90% thị phần sữa bột tại Việt Nam.
  • 7.  Theo số liệu thống kê của Agroinfo (Trung tâm Thông tin phát triển nông nghiệp - nông thôn), tiêu thụ các sản phẩm sữa tính theo đầu nguời tại Việt Nam tăng khá mạnh trong giai đoạn 1997 - 2009, trong đó, đứng đầu là sữa bột nguyên kem, với tốc độ tăng trưởng bình quân 28,9%/năm (từ 0,07 kg/người (1997) lên 4 kg/người (2009). Tiếp đến là sữa không béo, với mức tăng bình quân xấp xỉ 20%/năm.
  • 8. Bảng 1:Mức tiêu thụ sữa trong nước trong một số năm (Xử lý theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hảiquan) 2000 2005 2006 2007 2008 Dân số(triệu người) 77,63 82,16 83,08 83,99 84,90 Tiêu thụ sữa nội địa(triệu lít quy 628 1004 1056 1239 1257 đổi) Tiêu thụ bình quân(lít/người/năm) 8,09 12,22 12,71 14,75 14,81
  • 9.  Điểm lại trong giai đoạn vừa qua,tình hình tiêu thụ sữa bột tại Việt Nam cũng gặp nhiều biến động. Đáng chú ý hơn cả là việc phát hiện Melamine- một loại hóa chất hữu cơ,gây hại cho sức khỏe, được thêm vào các loại sữa bột nhầm tăng thêm thể tích, vào khoảng cuối năm 2008. Phát hiện này đã khiến việc tiêu thụ sữa bột bị sụt giảm một cách đáng kể. Ngoài ra,sự biến động của giá sữa trong giai đoạn vừa qua,tăng lên rất nhiều,đặc biệt là sữa ngoại,đã ảnh hưởng không ít đến mức tiêu thụ.
  • 10.  Trong 6 tháng đầu năm 2009, công ty TNHH Dược phẩm 3A đã điều chỉnh giá sản phẩm tăng từ 3.500 – 24.500 đồng/ hộp và hãng sữa NamYang với thương hiệu XO tăng 10% đối với một số sản phẩm. Theo quy định năm 2009, các hãng sữa nhập khẩu tại Việt Nam không có trách nhiệm phải giải trình các yếu tố cấu thành giá bán.Kết quả điều tra mới công bố của Bộ Tài chính, công thức tính giá bán của nhiều hãng sữa chỉ đơn giản là lấy giá nhập khẩu cộng thêm 40-45% lãi gộp.
  • 11.  Theo kết quả khảo sát của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, giá bán lẻ của sữa nhập khẩu cao hơn 46% so với giá sữa sản xuất trong nước.Cụ thể,giá sữa bột loại 400g của nhãn sữa Dielac Alpha tuỳ theo từng độ tuổi mà có mức dao động từ 58.000- 74.000 đồng/hộp và loại 900g dao động từ 137.000- 148.000 đồng/hộp. Sữa Nestle gấu loại 400g dao động từ 54.000- 65.000 đồng/hộp và loại 900g dao động từ 100.000- 120.000 đồng/hộp.Trong khi đó, với các nhãn sữa nhập ngoại thì thường có mức giá tương đương là từ 230.000 đồng/hộp và 420.000 đồng/hộp trở lên.
  • 12. Phân tích về cơ cấu giá sữa trong đợt kiểm tra giá sữa cuối tháng 12/2009, Đoàn thanh tra của Bộ tài chính cho rằng điều dễ nhận thấy là chi phí quảng cáo, tiếp thị đã quá cao. Điều này có nghĩa: Trong khoản tiền mua sữa thì phần phải trả cho quảng cáo là rất lớn. Như vậy là người dân đã phải chi trả quá nhiều tiền cho quảng cáo và một phần cho chất lượng sữa.
  • 13.  Bước vào đầu năm 2010, giá sữa bột nhập khẩu đã tăng từ 7%-10%.Đấy là chưa kể thời điểm cuối năm 2009, giá sữa đã tăng từ 10%-15%. Lý giải về giá sữa tại sao tăng cao và tăng liên tục qua các năm vừa qua, đại diện các Công ty Frieland campia (Cô gái Hà Lan); Mead Johnson, Abbott Việt Nam... cho biết, đó là do VND mất giá so với USD, dẫn đến giá bán sữa bằng tiền Việt tăng.Bên cạnh đó các chi phí như điện nước, xăng dầu đều tăng giá, dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh tăng đội giá sữa lên Tuy nhiên đây chỉ là lý giải của các doanh nghiệp sữa có vốn nước ngoài. Doanh nghiệp sản xuất sữa trong nước không đồng tình với tất cả những lý do trên
  • 14.  Khảo sát của Bộ Công thương thông qua các thương vụ Việt Nam tại nước ngoài cho thấy giá sữa bột nhập khẩu tại Việt Nam cao hơn từ 20% đến 150% so với các thị trường khác. Cụ thể, sữa Ensure Gold của Abbott cao hơn mặt hàng cùng loại ở Thái Lan 20 - 30%, Enfa Grow 3A+ của Mead Johnson cao hơn Thái Lan 60%, Dumex Dugro 1, 2, 3 cao hơn Thái Lan, Malaysia, Indonexia từ 100 đến 150%. Việt Nam có khoảng 72% lượng sữa bột nguyên liệu phải nhập khẩu, trong khi đó một số công ty nước ngoài độc quyền phân phối sản phẩm của mình tại thị trường Việt Nam dẫn đến có điều kiện nâng giá lên cao.
  • 15. Bên cạnh đó hiện các công ty lớn là Abbott, Mead Johnson, Frieland Campia, Dumex,Meiji chiếm tới gần 90% thị phầnCác doanh nghiệp này có hệ thống phân phối rộngkhắp, có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, đã trởthành rào cản ngăn chặn các doanh nghiệp khácthâm nhập thị trường và điều này tạo cơ hội cho họcó điều kiện nâng giá.
  • 16.  Tuy nhiên, không phải hãng sữa nào cũng tranh thủ tăng giá trước thời điểm Thông tư 122 của Bộ Tài chính về việc đăng ký bán các sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi. Hệ thống siêu thị Sài Gòn Co.op Mart cho biết nhận được thông báo cam kết giữ giá đến hết năm từ hãng Mead Johnson.Hãng sữa nội địa Hancofood ,Vinamilk cũng khẳng định không tăng giá sữa đến hết năm. Trao đổi với VnExpress.net, Cục trưởng Cục Quản lý Giá, Bộ Tài chính - Nguyễn Tiến Thỏa cho biết theo quy định từ 1/10/2010, các doanh nghiệp phải đăng ký giá bán đối với các sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi. Trong bảng đăng ký giá, doanh nghiệp phải giải thích rõ cơ cấu giá bán, chi phí, quy trình bán sản phẩm ra thị trường.
  • 17. Từ đầu năm 2011 đến ngày 25/2/ 2011, giá nhiều mặt hàng sữa kể cả nhập khẩu và sữa nội đều cùng điều chỉnh tăng giá. Hơn nữa, thông tin sẽ có hãng sữa sẽ tăng giá từ 1/3/2011, làm thị trường lại tiếp tục nóng nên, gia đình có con nhỏ đổ xô đi mua sữa tích trữ, các cửa hàng nhân cơ hội đó tự nâng giá vô tội vạ trước khi giá chính thức áp dụng, gây nhiều bất ổn.
  • 18.  Thực tế, Vinamilk là công ty mở màn điều chỉnh giá đầu tiên trong năm 2011, với việc tăng giá sữa bột các loại lên trung bình 12% kể từ ngày 1/1/2011. Tiếp theo đó, Mead Johnson điều chỉnh giá các sản phẩm Enfagrow, Enfakid khoảng 7-8% từ ngày 10/1/2011. Bước sang tháng 2, Friso điều chỉnh giá hầu hết các sản phẩm sữa Friso từ 5-10% (từ ngày 8/2/2011). Hãng Cô gái Hà Lan (Dutch Lady) cũng đã “nhanh chân” tăng giá hầu hết các sản phẩm sữa bột từ 13-15% (áp dụng từ ngày 8/2/2011).
  • 19.  Thêm nữa, thị trường sữa lại “phát sốt” khi từ ngày 1/3/2011, Công ty 3A công bố sẽ điều chỉnh giá bán các sản phẩm sữa của Abbott khoảng 12% để bù đắp cho sự tăng của tỷ giá ngoại tệ và chi phí tài chính, do sự điều chỉnh tỉ giá đồng Việt Nam và đô la Mỹ trong thời gian qua. Giá bán của Abbott cho công ty 3A tính theo đô la Mỹ là không thay đổi. Các mặt hàng của Abbott đều là các mặt hàng nhập khẩu nguyên lon từ Châu Âu, Hoa Kỳ và Singapore.
  • 20.  Ngoài ra, do từ ngày 1/1/2011, nhà nước tăng thuế nhập khẩu từ 5% lên 10% với các sản phẩm sữa từ châu Âu và Hoa Kỳ,, do đó giá bán các sản phẩm này phải điều chỉnh cộng cả 2 mức tỷ giá ngoại tệ tăng và thuế nhập khẩu tăng là khoảng 17%. Với một số sản phẩm sữa cho trẻ nhỏ thuộc dòng SmartChoice, bao gồm Similac, Similac Gain và Gain IQ, Công ty 3A thông báo bù lỗ để chỉ điều chỉnh giá khoảng 5%, chỉ đủ bù đắp cho thuế nhập khẩu tăng, nhằm hỗ trợ cho người tiêu dùng có thể sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng tiên tiến của Abbot.
  • 21.  Gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã phải điều chỉnh tỷ giá hối đoái liên tục 2 lần trong tháng: tháng 8/2010 phủ tăng thuế nhập khẩu sữa, Trong bối6cảnh đó, việc Chính(khoảng 3%) và 11/2/2011 (tới bao gồm cả ảnh hưởng lớn dưỡng y họchóa nhập nước Dù trước ngày 9,3%), các loại dinh đối với hàng của các khẩu. không thuộc Mỹ và châu của thêm 5% (từ mức 19.500 10%) bắt ASEAN (nhưgiá chính thứcÂu) Vietcombank vẫn là 5% lên đ/1USD 11/2/2011, tỷ đầu từ ngày 1/1/2011 càng làm ảnh hưởng đến giá cả các loại sữa nhập khẩu. tế từ tháng 10/2010, hầu hết các doanh nghiệp nhập khẩu nhưng thực đều phải mua USD ngân hàng với tỷ giá gần như giá của thị trường chợ đen (khoảng 21.000-21.500 đ/USD) do Ngân hàng áp thêm các khoản phí chuyển đổi ngoại tệ, theo đó việc tăng giá của các hàng hóa nhập khẩu là không thể tránh khỏi.
  • 22. 2.1 Chi phí sản xuất kinh doanh 2.1.1 Đầu tư công nghệ, dây chuyền sản xuất 2.1.2 Chi phí nguyên liệu đầu vào 2.1.3 Chi phí bán hàng2.2 Uy tín và chất luợng sản phẩm2.3 Nhu cầu, tâm lý tiêu dùng các sản phẩm sữa2.4 Giá của đối thủ cạnh tranh
  • 23.  Yếu tố khoa học công nghệ không những đảm bảo cho sự pháttriển mà còn tạo ra ưu thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Hơn nữa,trong điều kiện hiện nay, khi mà trình độ khoa học công nghệ trên thếgiới đang phát triển với một tốc độ chóng mặt,các doanh nghệp lại cóthêm nhiều cơ hội để đẩy mạnh nâng cao hệ thống khoa học kỹ thuật,dây chuyền sản xuất của mình. Nhằm nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sảnphẩm,…, từ đó mở rộng quy mô sản xuất.
  • 24. Tuy nhiên, hầu hết các thiết bị kỹ thuật đó đều nhập từ nước ngoài, cộng với mức thuế đánh vào các mặt hàng này khá cao nên chi phí bỏ ra để nâng cao hệ thống khoa học kỹ thuật và dây chuyền sản xuất ở các doanh nghiệp là rất lớn. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng giá sữa.
  • 25.  Việc chế biến sữa bột ở nước ta hiện nay vẫn còn rất hạn chế, nguyên liệu bột sữa 100% nhập khẩu từ nước ngoài, sữa tươi và đường đa số là sử dụng nguồn trong nước. Mà hiện nay giá đồng tiền Việt Nam đang tụt giá trong khi đó giá USD lại tăng nên giá bán của sữa bột cũng theo đó tăng lên. Sữa bột được nhập khẩu chủ yếu từ Châu Âu, New zealand, Mỹ, Australia,…Việc phụ thuộc khá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu đã khiến các công ty sản xuất sữa gặp nhiều khó khăn, bởi trong giai đoạn 2007-2009 giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh rồi giảm đột ngột với biến động rất khó biết trước. Mặt khác, do thuế nhập khẩu ở nước ta cao hơn nhiều lần so với các nước khác trên thế giới , gây một sức ép khá lớn lên các doanh nghiệp, do đó muốn không bị thua lỗ các doanh nghiệp phải tiến hành nâng giá bán lên.
  • 26. Bảng 3: Danh sách và tỉ lệ phần trăm về sản lượng nhập khẩu mặt hàng sữa bột nguyên liệu của một số doanh nghiệp các năm 2007, 2008 và 8 tháng đầu năm 2009. (Thống kê và xử lý theo số liệu của Tổng cục Hải Quan.) TT Tên doanh nghiệp Đơn vị 2007 2008 8/2009 1 Công ty CP Sữa Việt Nam- Vinamilk % 55,8 52,9 46,4 2 Công ty TNHH FrieslandCampina % 29,7 34,0 29,8 3 Công ty CP Sửa Hà Nội % 1,5 2,2 1,5 4 Công ty CP TP-DD Đồng Tâm % 0,2 0,1 1,2 5 Công ty TNHH Nestle Việt % 2,5 3,8 1,1 6 Công ty Cp Đại Tân Việt % 7,2 1,9 9,9 7 Công ty TNHH Thế Hệ Mới % 1,8 1,6 3,2 8 Công ty TNHH Than An % 1,0 1,8 2,9 9 Công ty TNHH TM và CNTP Hoàng Lâm % 0,1 0,7 2,4 10 Công ty TNHH DT-PT-NN Hà Nội % 0,0 0,9 1,6
  • 27.  Kết quả thanh tra cho thấy, chi phí bán hàng là khoảng chi phí chiếm tỷ lệ lớn thứ hai trong giá sữa, từ 5%-27% giá vốn, trong đó chi phí quảng cáo, khuyến mại lớn từ 1%- 19,2% . Trong khi đó, thương hiệu uy tín của ngành hàng sữa bột được hình thành chủ yếu từ quảng cáo. Có thể thấy mức độ dày đặc của quảng cáo sữa trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Doanh nghiệp có chi phí quảng cáo ở mức cao hơn mức khống chế ( theo quy định chi phí quảng cáo cho phép ở mức 10%) là Công ty Dutch Lady (19,2%), Vinamilk (12,9%) cũng có khả năng đẩy giá sữa lên cao.
  • 28. Nhân tố này ảnh hưởng không nhỏ đến giá bán sản phẩm sữa bột. Trên thực tế, sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo, uy tín, tạo được lòng tin cho người tiêu dùng thì sẽ cho phép doanh nghiệp có thể định giá bán cao mà không gây ra những phản ứng từ phía người tiêu dùng. Hiện nay những sản phẩm sữa Dielac- Vinamilk, Abbott có chất lượng quốc tế. Đây là điều bắt buộc với sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ em và là quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam. Với một sản phẩm giá nội nhưng chất lượng được chấp nhận ở các quốc gia Châu Âu, Trung Đông….thì người tiêu dùng hoàn toàn có thể tin cậy lựa chọn.
  • 29.  Nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa tại Việt Nam tăng trưởng ổn định. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế , người tiêu dùng cũng quan tâm nhiều hơn đến sức khoẻ và sử dụng các sản phẩm sữa bột nhiều hơn. Theo báo cáo của TNS Worldpanel Việt Nam về thị trường sữa Việt Nam năm 2007, sữa bột chiếm 7% giá thị trường.
  • 30.  Bên cạnh đó các yếu tố cấu thành giá sản phẩm sữa bột thì thị hiếu, tâm lý gắn liền giữa giá bán với chất lượng sản phẩm, xu hướng chọn mua loại đắt nhất có thể của người tiêu dùng cũng góp phần làm tăng giá sản phẩm sữa bột. Vì vậy, khi định giá bán, các công ty sữa phải tìm hiểu và phân tích kỹ lưỡng về khách hàng mục tiêu của sản phẩm, đảm bảo sự thích ứng giữa giá cả sản phẩm và khả năng chấp nhận của khách hàng, ngoài ra cần tính toán những tác động vào tâm lý và phản ứng của khách hàng.
  • 31.  Thị trường sữa bột việt nam hiện nay rất náo nhiệt với nhiều thương hiệu trong nước lẫn ngoài nước, quy mô nhỏ, vừa, lớn. Do đó việc cạnh tranh là không thể không xảy ra. Đáng chú ý hơn cả là các doanh nghiệp sữa lớn hiện nay như Vinamilk, Dutch Lady, Abbott Hoa kỳ,….Các doanh nghiệp này đang cạnh tranh với nhau một cách mạnh mẽ,đó là cạnh tranh về giá bán, mẫu mã,khuyến mãi.v.v. Việc cạnh tranh mạnh sẽ thúc đẩy các công ty chú ý hơn để đầu tư cho sản phẩm của mình, do đó cũng góp phần thúc đẩy giá sữa tăng cao.
  • 32. IV. NHỮNG ĐỀ XUẤT NHẰM ỔN ĐỊNH GIÁ SỮABỘT  Để bình ổn giá sữa, trước hết phải đảm bảo tính chất công minh trong việc thống kê giá nhập khẩu của mỗi mặt hàng sữa bột; nguyên nhân tại sao tăng giá ở các doanh nghiệp; đồng thời đảm bảo mức thuế nhập khẩu ổn định, nếu tăng không nên tăng quá mức  Một vấn đề khác, đó là việc các hãng sữa cứ thoải mái quảng cáo sữa này, sữa kia tăng thêm vi lượng mới (tức là tăng chất lượng) vì thế phải tăng giá! Tại sao không có cơ quan có trách nhiệm kiểm tra chất lượng xem việc quảng cáo có đúng không, hay là lừa dối người tiêu dùng để tăng giá? Để khắc phục phải kiểm soát cả việc quảng cáo gắn với kiểm soát về chất lượng sản phẩm
  • 33.  Vấn đề sữa nội của chúng ta chưa đủ sức cạnh tranh; đó là vấn đề về thái độ ứng xử của người tiêu dùng rất tin tưởng vào sữa ngoại, đắt thế nào cũng mua, tạo ra tâm lý “cầu” sẵn sàng mua hàng kể cả giá cao. Vì vậy cần vận dụng tối đa nguồn nguyên liệu trong nước để sản xuất sữa bột; tăng cường phổ biến thông tin giá cả và khuyến khích người tiêu dùng sử dụng hàng Việt trên các phương tiện truyên thông; tích cực nâng cao trình độ mua hàng thông minh cho người tiêu dùng; cố gắng trấn an tâm lý người tiêu dùng khi có biến động trên thị trường, tránh gây hiện tượng hoang mang….
  • 34.  Việc xử lý với giá sữa bằng biện pháp hành chính như hiện nay chưa có hiệu quả. Hơn nữa, Thông tư mới về quản lý giá sữa, đang chờ đợi phê duyệt thì Thông tư 104 về quản lý giá một số mặt hàng, trong đó có sữa, đang bị các doanh nghiệp sữa ngoại vô hiệu hóa bằng "chiêu" kéo dài thời gian giữa các lần tăng giá (hơn 15 ngày) và giảm tỷ lệ tăng (dưới 20%) nhưng tăng làm nhiều lần trong năm. Doanh nghiệp dưới 50% vốn chủ sở hữu Nhà nước không cần đăng ký, kê khai giá.