Nghiệp vụ option trong thị trường chứng khoán việt nam
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Like this? Share it with your network

Share

Nghiệp vụ option trong thị trường chứng khoán việt nam

on

  • 1,975 views

 

Statistics

Views

Total Views
1,975
Views on SlideShare
1,975
Embed Views
0

Actions

Likes
0
Downloads
53
Comments
1

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Nghiệp vụ option trong thị trường chứng khoán việt nam Document Transcript

  • 1. LỜI MỞ ĐẦU ******** ừ khi Thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động đến nay đã hơnT 7 năm. Nhìn lại so với các nước trong khu vực như: Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông…Thị trường chứng khoán Việt Nam có thể là còn rất non trẻ. Kể từ lúc chính thức đi vào họat động đến nay,với nhiệm vụ ban đầu mà Ủy Ban Chứng Khóan Nhà Nước Việt Nam đặt ra là Thịtrường chứng khoán cần phải huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các tầng lớp dân cưđáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế đang phát triển, thành tựu màthị trường chứng khoán Việt Nam đạt được không thể nói là nhiều. Kênh huy độngnguồn vốn nhàn rỗi từ các tầng lớp dân cư hiện nay chủ yếu vẫn đè nặng lên vaicác Ngân Hàng Thương Mại, việc ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài” là điều diễn rathường xuyên. Câu hỏi đặt ra là vì sao Thị Trường Chứng Khoán không thể pháthuy được vai trò của nó?Thị trường chứng khóan Việt Nam không thể họat động hiệu quả phát sinh từnhiều nguyên nhân nhưng tựu chung lại phần lớn là do sản phẩm chứng khoán trênthị trường quá ít, không đa dạng phong phú khiến các nhà đầu tư.Không có nhiều lựa chọn cho danh mục đầu tư của riêng mình, thêm vào đó là tâmlý thận trọng vốn có của người Việt Nam trước một hình thức đầu tư khá mới mẻtrong khi chưa có những công cụ hiệu quả giúp những người tham gia trên thịtrường phòng ngừa rủi ro đã khiến cho họ khi tham gia đã dè dặt lại càng dè dặthơn. Do đó để thị trường chứng khóan Việt Nam thật sự phát huy được vai trò củamình, nhà nước cần có chính sách thay đổi thích hợp, nhất là cần quan tâm đến sựtham gia thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài.Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm chúng tôi xin được đưa ra những đềxuất về việc xây dựng Option - một công cụ chứng khóan phái sinh - như là mộtsản phẩm mới nhằm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, tăng khả năngthu hút vốn đầu tư thông qua thị trường, cũng như là một công cụ phòng ngừa rủiro cho thị trường chứng khoán. 1
  • 2. MỤC LỤC Trang Chương I: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN1.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. ...........................................................21.1.1 Khái niệm về thị trường vốn ...................................................................21.1.2.Vai trò của thị trường chứng khoán .......................................................41.1.2.1 Công cụ thanh khoản cho thị trường. ..................................................41.1.2.2 Công cụ đo lường và đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. .............41.1.2.3 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng. ....................................41.1.2.4 Chống lạm phát.....................................................................................51.1.2.5 Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển. .............51.1.2.6 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế. .................................................51.1.3 Các loại chứng khoán lưu thông trên thị trường: ..................................51.2.1 Khái niệm về hợp đồng quyền chọn:.......................................................51.2 HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN: ...................................................................71.2.1 Khái niệm về hợp đồng quyền chọn:.......................................................71.2.2 Vai trò hợp đồng quyền chọn:.................................................................81.2.2.1 Quản lý rủi ro giá cả:............................................................................81.2.2.2 Vai trò định giá quyền chọn .................................................................91.2.2.3 Góp phần thúc đẩy thị trường tài chính phát triển ............................91.3 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG OPTION. ...........................................91.4. OPTION VỀ CHỨNG KHOÁN. ..............................................................101.4.1 Khái niệm: ...............................................................................................101.4.2 Đặc điểm: .................................................................................................101.4.2.1Ngày đáo hạn .........................................................................................111.4.2.2 Giá thực hiện.........................................................................................111.4.2.3 Thuật ngữ .............................................................................................121.4.3.Giao dịch option.......................................................................................131.4.3.1 Những người tạo thị trường .................................................................131.4.3.2 Nhà môi giới trên sàn giao dịch. ...........................................................13 2
  • 3. 1.4.3.3 Nhân viên lưu trữ lệnh .........................................................................131.4.4 Công ty thanh toán hợp đồng Option (OCC):........................................141.4.5 Thực hiện option ......................................................................................15 Chương IITHỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM2.1 ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHN VIỆT NAM TỪ KHI ĐIVÀO HOẠT ĐỘNG ĐẾN NAY. ......................................................................2.1.1 Từ năm 2003 đến nay. .............................................................................192.1.1.1 Về sự quan tâm của nhà nước đối với sự phát triển của TTCK. ........202.1.1.2 Hoạt động của thị trường diễn ra khá suông sẻ. .................................262.1.1.3 TTCK thực sự chưa kênh huy động vốn. ............................................262.2 XÂY DỰNG CÁC CÔNG CỤ CHỨNG KHOÁN PHÁT SINH CHO THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM LÀ MỘT VIÊC LÀM RẤT CẦNTHIẾT HIỆN NAY ..........................................................................................292.2.1 Option là một trong những biện pháp giúp tăng khả năng huy động vốntrong và ngoài nước cho Việt Nam thông qua TTCK: ...................................302.2.2 Option giúp thu hút các nguồn vốn đến từ bên ngoài nước. ..................322.2.3 Các công cụ chứng khoán phái sinh đặc biệt là Option giúp thị trườngchứng khoán Việt Nam hoạt động một cách hiệu quả hơn trong việc cổ phầnhóa các doanh nghiệp nhà nước. .....................................................................332.3 KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁTTRIỂN OPTION CHO THI TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. .....332.3.1 Hạn chế về kinh nghiệm ..........................................................................342.3.2 Tính chủ động chưa cao: .........................................................................352.3.3 Tâm lý thị trường còn e ngại: ..................................................................352.3.4 Hạn chế về pháp lý ..................................................................................36 Chương III 3
  • 4. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG OPTION CHO THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TỪNAY ĐẾN NĂM 2013 ............................................3.1 DỰ KIẾN BƯỚC ĐI HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG OPTION CHO THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. .....................................................373.1.1 Những nguyên tắc, quan điểm trong việ xây dựng Option cho thị trườngchứng khoán Việt Nam. ...................................................................................373.1.2 Dự kiến các bước đi hình thành thị trường Option từ nay đến năm 20133.1.2.1 Giai đọan 1: Chuẩn bị các cơ sở khoa học thực tiễn cần thiết để hình thànhOption , thời gian dự kiến của giai đọan này là 1 năm từ 2008-2009 ..................393.1.2.2 Giai đọan 2: Xây dựng, vận hành thử và hòan thiện thêm các trung tâmgiao dịch. Thời gian dự kiến của giai đọan này là 2009-2011 .............................393.1.2.3 Giai đọan 3: Tiếp tục nâng cao và hòan thiện thêm kỹ thuật vận hànhcũng như cơ sở pháp lý cho họat động của Option trước khi được đưa ra kinhdoanh trên thị trường từ năm 2011-2013 ........................................................403.2 NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNGOPTION............................................................................................................403.3 ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC XÂY DỰNG OPTION CHOTHỊ TRƯỜNG CHỨNG KHÓAN VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN NĂM 2013..403.3.1 Nâng cao tính cạnh tranh của thị trường chứng khóan Việt Nam. ......403.3.2 Tạo nhận thức thị trường .......................................................................403.3.2.1 Tạo nhận thức về thị trường chứng khóan .........................................423.3.2.2 Tạo nhận thức về sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm phái sinh trên thịtrường chứng khoán. ........................................................................................ 423.3.2.3 Đánh thức tâm lý đầu tư của các tầng lớp dân cư ..............................433.3.3 Tăng cung - kích cầu trên thị trường chứng khoán. ..............................443.3.3.1 Tiếp tục đây mạnh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. .......................................................................................................443.3.3.2 Khuyến khích phát triển các công ty cổ phần ..................................... 44 4
  • 5. 3.3.3.3 Có chính sách khuyến khích, thu hút nhiều loại hình doanh nghiệp,nhất là tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia niêm yết trênthị trường chứng khoán ...................................................................................443.3.3.4 Mở rộng hoạt động của các quỹ đầu tư trên thị trường tài chính, tăngcường đào tạo nhân lực cho thị trường chứng khoán, thúc đẩy phát triển thịtrường OTC và thị trường Future cho nông sản Việt Nam. .........................44 Chương I: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN1.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. 1.1.1 Khái niệm về thị trường vốn: Là một phần của thị trường tài chính. Có chức năng cung cấp vốn đầu tưtrung và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế của các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế sử dụng cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mở rộng sảnxuất kinh doanh. Thị trường vốn hay thị trường trung và dài hạn tại các quốc gia phát triểnbao gồm: +Thị trường cho thuê tài chính: là thị trường cho thuê tài sản thiết bị giữamột bên là cho thuê chuyên nghiệp với bên khác là người đi thuê gồm các tổ chứcvà cá nhân có nhu cầu sử dụng tài sản thiết bị để sản xuất kinh doanh hơn là phụcvụ cho nhu cầu công tác quản lý. Thị trường cho thuê tài chính giúp cho các cánhân,tổ chức kinh tế, xí nghiệp…tiếp cận và sử dụng các loại tài sản phù hợp vớinhu cầu của mình làm cho việc kinh doanh hiệu quả hơn. +Thị trường thế chấp: là thị trường cho vay vốn trung dài hạn của các tổchức tài chính với các tổ chức kinh tế giúp thực hiện các dự án đầu tư mở rộng đối 5
  • 6. với dây chuyền công nghệ. Với điều kiện các dự án đầu tư phải tính được hiệu quảkinh tế, có khả năng hòa vốn, trả nợ ngân hàng và tài sản có thế chấp. Tuy nhiêncác dự án đầu tư có hiệu quả cao, mức độ an toàn cao thì ngân hàng cho vay cũngkhông cần có tài sản thế chấp. +Thị trường chứng khoán : theo nghĩa rộng được gọi là thị trường vốn. Ởđây các giấy nợ trung và dài hạn và các cổ phiếu được mua bán. Như vậy thịtrường chứng khoán là thị trường tạo lập và cung ứng thị trường dài hạn cho nềnkinh tế. Các công cụ của thị trường chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu chính phủ,trái phiếu công ty, trái phiếu chính quyền địa phương. Các công cụ trên thị trường vốn có thời gian dài và vô hạn do đó giá của nódao động rộng hơn so với giá của thị trường tiền tệ. Vì vậy nó được coi là chứngkhoán có độ rủi ro cao hơn và vì vậy cơ chế phát hành lưu thông mua bán chúngđược hình thành khá chặt chẽ nhằm hạn chế những biến động và thiệt hại cho nềnkinh tế xã hội. Hình 1.1: Cơ cấu của thị trường chứng khoán Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước (Quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán) Thị trường chứng khoán Thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp (Phát hành chứng khoán) (Giao dịch chứng khoán) 6
  • 7. Thị trường tập trung Thị trường phi tập trung (Sở giao dịch) (OTC)  Thị trường sơ cấp : là nơi mà các chứng khoán được cơ quan phát hành chứng khoán bán cho các nhà đầu tư, không phải là hoạt động mua bán chứng khoán giữa các nhà đầu tư với nhau. Thị trường sơ cấp thực hiện chức năng quan trọng nhất của thị trường chứng khoán là mang nguồn tiền nhàn rỗi đến cho người cần tiền sử dụng, đưa nguồn tiết kiệm vào đầu tư .  Thị trường thứ cấp : là nơi diễn ra các họat động mua bán những chứng khóan đã được phát hành một lần thông qua thị trường sơ cấp. Là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành. 1.1.2.Vai trò của thị trường chứng khoán: 1.1.2.1 Công cụ thanh khoản cho thị trường. Đảm bảo cho việc nhanh chóng chuyển thành tiền mặt các chứng khoán cógiá. Đây chính là các yếu tố quan trọng để thu hút các nhà đầu tư đến với thịtrường chứng khoán, với một thị trường chứng khoán hoạt động càng hữu hiệu thìtính thanh khoản càng cao. 1.1.2.2 Công cụ đo lường và đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Những thông tin doanh nghiệp cung cấp qua đó đánh giá được năng lực sảnxuất của các doanh nghiệp, triển vọng của doanh nghiệp trên thị trường, khả năngsinh lợi hoạt động sản xuất kinh doanh, xu thế phát triển của doanh nghiệp trongthời kì tương lai từ 3-5 năm đã phần nào lượng giá được tích sản phẩm của doanhnghiệp một cách khách quan và khoa học. 1.1.2.3 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng. 7
  • 8. Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tưlành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thịtrường rất khác nhau về tính chất, thờii hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tưcó thể lựa chọn cho loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích củamình. Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiếtkiệm quốc gia. g1.1.2.4 Chống lạm phát. Ngân hàng trung ương với vai trò điều chỉnh hệ thống tiền tệ sẽ tung ranhiều trái phiếu kho bạc bán trên thị trường chứng khoán với lãi suất cao để thuhút bớt lượng tiền lưu hành nhờ đó số tiền sẽ giảm và lạm phát cũng giảm đi. 1.1.2.5 Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển. Những đóng góp của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế hiển nhiênlà rất to lớn. Hiện nay các quốc gia theo cơ chế thị trường đều có tổ chức thịtrường chứng khoán vì đó là công cụ đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tưvà tăng trưởng. 1.1.2.6 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế. Thị trường chứng khoán không những thu hút các nguồn vốn đầu tư nội địamà còn giúp Chính phủ và doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếucông ty ra thị trường vốn quốc tế để thu hút ngọai tệ.Việc thu hút vốn đầu tư nướcngoài qua kênh chứng khoán là an toàn và hiệu quả vì các chủ thể phát hành đượctoàn quyền sử dụng vốn huy động cho mục đích riêng mà không bị ràng buộc bởibất kỳ điều kiện nào của nhà đầu tư nước ngoài . Tuy nhiên thị trường chứng khoán có những nhược điểm của nó. Nó đượccoi là một công cụ nhạy bén và tinh xảo nên những tác động tiêu cực vô cùngnguy hiểm đối với nền tài chính của một quốc gia. 1.1.3 Các loại chứng khoán lưu thông trên thị trường: 8
  • 9. 1.1.3.1 Cổ phiếu: là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữucủa cổ đông, đối với công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu thường trở thành cổđông thường hay cổ đông phổ thông. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là mộttrong những người chủ doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh cũng như gánh chịu mọi rủi ro, hậu quả trong kinhdoanh.Có 2 loại cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. 1.1.3.2 Trái phiếu: là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thểphát hành (Chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chitrả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn.Trên giấy chứng nhận nợ này có ghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi tráiphiếu. 1.1.3.3 Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khóan (Derivatives) +Chứng chỉ thụ hưởng: do công ty tín thác đầu tư hay các quỹ hỗ tươngphát hành để xác nhận quyền lợi của khách hàng là những nhà đầu tư cac nhântrong các quỹ đầu tư nhất định. Chứng chỉ thụ hưởng này có thể được mua bán,giao dịch trên thị trường chứng khoán như các giấy tờ có giá khác. +Chứng quyền(Pre- emptipe): là giấy xác nhận quyền được mua cổ phiếumới phát hành tại mưc bán ra của công ty, các chứng quyền thường được pháthành cho các cổ đông cũ, sau đó có thể đem giao dịch. +Chứng khế (Warrants): là các giấy tờ có giá được phát hành kèm theocác trái phiếu, trong đó xác nhận quyền được mua cổ phiếu theo những điều kiệnnhất định. Một chứng khế gắn với một lọai chứng khoán cho phép người giữ nóđược quyền chuyển đổi chứng khoán này sang chứng khoán khác hoặc sang mộtcông cụ tài chính nào đó khác theo một giá định trước gọi là giá đặt mua trong mộtthời hạn nhất định (thường là kỳ hạn dài hơn chứng quyền ) +Các chứng chỉ phái sinh: là chứng khoán có giá trị phụ thuộc vào các giátrị khác luôn thay đổi trên thị trường. Đây là sản phẩm tài chính cao cấp rất phứctạp, bao gồm các hợp đồng giao sau, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, hợpđồng Swaps. Đáng lưu ý nhất trong các chứng chỉ phái sinh là hợp đồng quyền 9
  • 10. chọn (Option)-là một công cụ phòng chống rủi ro của các nhà kinh doanh chứngkhoán, đồng thời là nghiệp vụ kinh doanh giúp các nhà kinh doanh chứng khoán,các nhà đầu cơ săn lùng lợi nhuận trên thị trường. Trong những năm gần đây, thịtrường giao sau (Future) và quyền chọn (Option) ngày càng trở nên quan trọng vàrất cần thiết cho các nhà kinh doanh và đầu tư. Sư phát triển của chúng gắn liềnvới sự lớn mạnh của các thị trường chứng khóan thế giới. Trong thực tế các thịtrường Future và Option phát triển mạnh và mang tính cạnh tranh cao là nhờ sự đadạng hóa sản phẩm trên thị trường: từ hàng hóa đến tiền tệ, chỉ số S&P 500 haytrái phiếu kho bạc, lãi suất LIBOR …Điều này chứng tỏ rằng thị trường Future vàthị trường Option là những cải tiến rất thành công cho thị trường tài chính và kinhdoanh trên thị trường quốc tế. Việt Nam đang trong quá trình phát triển thị trườngchứng khoán. Do đó việc nghiên cứu và phát triển những công cụ tài chính với thịtrường chứng khoán là việc rất quan trọng cần làm lúc này nhằm đảm bảo cho thịtrường chứng khoán Việt Nam ngày một hoạt động hiệu quả hơn, an toàn và ổnđịnh hơn.1.2 HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN: 1.2.1 Khái niệm về hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua nó có quyền,nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán: + Một số lượng xác định các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán; + Tại (hoặc trước) một thời điểm xác định trong tương lai; + Với một mức giá xác định tại thời điểm ký hợp đồng. Tại thời điểm xác định trong tương lai, người mua quyền có thể thực hiệnhoặc không thực hiện quyền mua (hay bán) các hàng hoá, ngoại tệ hay chứngkhoán. Nếu người mua thực hiện quyền mua (hay bán), thì người bán quyền buộcphải bán (hay mua). Quyền chọn cho phép được mua gọi là quyền chọn mua (call option), quyềnchọn cho phép được bán gọi là quyền chọn bán (put option). 10
  • 11. Quyền chọn mua trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng khôngphải nghĩa vụ, được mua các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán vào một thờiđiểm (kiểu Châu Âu) hay trước một thời điểm (kiểu Mỹ) trong tương lai với mộtmức giá xác định. Quyền chọn bán trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng khôngphải nghĩa vụ, được bán các hàng hoá, ngoại tệ hay chứng khoán vào một thờiđiểm (kiểu Châu Âu) hay trước một thời điểm (kiểu Mỹ) trong tương lai với mộtmức giá xác định. Đối với quyền chọn mua sẽ có người mua quyền chọn mua và người bánquyền chọn mua. Đối với quyền chọn bán, cũng sẽ có người mua quyền chọn bánvà người bán quyền chọn bán. Để có được quyền, người mua quyền (chọn mua hay chọn bán) phải trả mộtkhoản tiền (gọi là giá của quyền chọn) cho người bán quyền. Mức giá này đượcthanh toán ngay khi ký kết hợp đồng quyền chọn. 1.2.2 Vai trò hợp đồng quyền chọn: 1.2.2.1 Quản lý rủi ro giá cả: Option cung cấp một cơ chế hiệu quả cho phép phòng tránh rủi ro và dịchchuyển rủi ro từ những người không thích rủi ro sang những người chấp nhận rủiro để tìm kiếm lợi nhuận. Một ví dụ về sử dụng option để phòng tránh rủ ro: Mộtnhà xuất khẩu cà phê dự đóan rằng sản lượng cà phê thu hoạch được trong batháng tới sẽ rất thấp, do đó có khả năng giá thu mua cà phê trong nước sẽ tăng lênrất nhiều. Để tránh rủi ro giá tăng quá cao vượt ngoài dự tính của mình, nhà xuấtkhẩu sẽ tìm mua một hợp đồng call option cà phê có thời hạn 3 tháng với mức giáthực hiện X mà anh ta cho là được và trả một khoản phí có thể chấp nhận để muaoption đó. Nếu 3 tháng sau, giá mua cà phê S tăng lên như anh ta dự đoán nhà xuấtkhẩu sẽ ngay lập tức thực hiện option mua cà phê với giá đã ký trên hợp đồng vàbán lại trên thị trường thế giới với giá cao hơn để thu về một khoản lợi nhuận: [S- 11
  • 12. (X+p)]*Q. Còn nếu như trên thực tế giá cà phê không tăng lên quá cao như anh tadự đóan, việc thực hiện option theo tính tóan sẽ cho một chi phí cao hơn chi phímua bên ngoài thì thay vì sử dụng option để mua cà phê, anh ta sẽ có thể khôngthực hiện option (chịu mất khỏan phí đã bỏ ra mua call option) mà mua cà phêtheo giá ngòai thị trường . Một ví dụ khác sử dụng option chấp nhận rủi ro để kiếm lợi nhuận: một nhàđầu tư chứng khoán dựa theo những đấu hiệu trên thị trường để phân tích về tìnhhình biến động giá của cổ phiếu một công ty Z và dự đóan rằng trong vòng batháng tới giá cổ phiếu của công ty này sẽ giảm mạnh, do đó anh ta sẽ tìm cáchkiếm lợi nhuận từ sự duy đoán này bằng cách mua một hợp đồng put option bánmột số lượng Q cổ phiếu công ty Z mặc dù hiện tại anh ta chưa có hoặc chỉ có mộtlượng rất ít cổ phiếu của công ty này. Ba tháng tới nếu tình hình biến động giá cổphiếu đúng như anh ta dự đoán, nhà đầu tư sẽ mua cổ phiếu công ty Z trên thịtrường với giá rất thấp và sau đó thực hiện hợp đồng put option bán lại số lượngcổ phiếu trên với giá cao hơn đã ký để có một khỏan lợi nhuận. Còn nếu như giácổ phiếu không như anh ta suy đóan và việc thực hiện option sẽ dẫn đến một kếtquả kinh doanh không có lợi thì anh ta có thể hủy bỏ option, không thực hiện nónữa . 1.2.2.2 Vai trò định giá quyền chọn Hợp đồng quyền chọn phản ánh sự biến động giá của hàng hóa cơ sở. Dođó khi thị trường chứng khoán thay đổi thì việc định giá hợp đồng quyền chọn làviệc cần làm để giảm bớt rủi ro. 1.2.2.3 Góp phần thúc đẩy thị trường tài chính phát triển Thị trường quyền chọn cho phép các nhà đầu tư kinh doanh đạt được một tỷsuất sinh lợi cao, chính điều này hấp dẫn mạnh các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm từđó hình thành nên các quỹ đầu tư mạo hiểm (Mutual fund), góp phần giúp huyđộng thêm được nhiều nguồn lực tài chính từ xã hội. Bên cạnh đó việc tham gia thịtrường không đòi hỏi một chi phí quá lớn do đó cho phép các nhà đầu tư có thể dễdàng tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường một cách dễ dàng. 12
  • 13. Việc dễ dàng tham gia trên thị trường Future và Option sẽ khuyến khích,thu hút được nhiếu nhà sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp xuất khẩu, các nhà đầutư trong và ngoài nước tham gia tích cực hơn trên thị trường chứng khoán, thúcđẩy thị trường chứng khoán phát triển và sôi động hơn với các lợi ích của công cụchứng khoán phái sinh.1.3 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG OPTION. Giao dịch đầu tiên của thị trường quyền chọn bán và quyền chọn mua bắtđầu ở Châu Âu và Mỹ từ đầu thế kỷ 18. Những năm đầu thị trường hoạt động thấtbại vì nạn tham nhũng. Một trong những người bị liên quan là nhà môi giới cóquyền chọn về một loại cổ phiếu nhất định đã ăn hối lộ để giới thiệu cổ phiếu chokhách hàng của họ. Thị trường option của hiệp hội các nhà môi giới và kinh doanh quyền chọnchịu áp lực của hai yếu tố. Một là thị trường thứ cấp, người mua option không cóquyền bán cho bên khác trước ngày đáo hạn. Hai là không có kỹ thuật nào ngườibán option sẽ thực hiện hợp đồng nếu người bán không thực hiện thì người muaphải tốn một khoảng chi phí kiện tụng. Hiện nay thị trường chứng khoán có mặt khắp nơi trên thế giới.1.4. OPTION VỀ CHỨNG KHOÁN. 1.4.1 Khái niệm: Các thị trường giao dịch option về chứng khoán ở Mỹ là CBOE, PHLX,AMEX, PSE và NYSE. Các loại option giao dịch trên 500 loại chứng khoán khácnhau. Một hợp đồng quyền chọn trao cho người nắm giữ quyền được mua hoặcbán là 100 cổ phiếu với giá thực hiện xác định. Độ lớn hợp đồng thì tùy thích bởivì cổ phiếu thì thường được trao đổi nhiều lô (mỗi lô 100 cổ phiếu). 1.4.2 Đặc điểm: Một option trao đổi trên thị trường là một hợp đồng option kiểu Mỹ để muahay bán 100 cổ phiếu. Các chi tiết của hợp đồng như ngày đáo hạn, giá thực hiện,những gì xảy ra khi công bố cổ tức, nhà đầu tư nắm giữ vị thế trong bao lâu…đãđược nêu rõ trên thị trường. 13
  • 14. 1.4.2.1 Ngày đáo hạn: Yếu tố này có tác động rõ ràng hơn đến quyền chọn kiểu Mỹ (cả mua vàbán), nếu như thời gian còn lại cho đến lúc đáo hạn càng dài thì giá của quyềnchọn sẽ càng cao. Xét với hai quyền chọn giống nhau về cá yếu tố khác ngoại trừthời gian cho đến ngày đáo hạn. Người sở hữu quyền chọn có thời gian dài hơn rõràng có nhiều thời gian để lựa chọn thực hiện quyền hơn người sở hữu quyền chọnngắn hơn. Với quyền chọn kiểu Châu Âu, thời gian đến ngày đáo hạn không thực sựcó ảnh hưởng đến giá quyền chọn do cả 2 quyền nói trên đều chỉ có thể thực hiệnở thời cùng một thời điểm là ngày đáo hạn. Thậm chí trong nhiều trường hợpquyền chọn ngắn hơn có thể có giá cao hơn, chẳng hạn như hai quyền chọn muacó chung mọi đặc tính, một quyền sẽ đáo hạn trong 1 tháng nữa, quyền còn lại đáohạn trong 2 tháng. Nếu cổ phiếu có trả cổ tức và thời điểm thanh toán là 6 tuầnnữa, thì do tác động của việc trả cổ tức, quyền chọn đáo hạn trong 1 tháng hơn sẽcó giá cao hơn. 1.4.2.2 Giá thực hiện Giá thực hiện còn được gọi là giá điểm là mức giá tại đó tài sản trong mộtquyền chọn có thể được mua hoặc bán. Đối với option chứng khoán giá thực hiện thường được đặt cách nhau từngkhoảng là 3/2$, 5$ hoặc 10$(ngoại trừ khi có sự phân chia chứng khoán hoặc cổtức, thì khoảng cách được rút ngắn hơn). Qui tắc thường được nhiều trung tâmgiao dịch làm theo là sử dụng khoảng cách 3/2$cho giá thực hiên khi giá cổ phiếuthấp hơn 25$, khoảng cách 5$ khi giá cổ phiếu nằm trong khoảng 25-200$ vàkhoảng cách 10$ khi giá cổ phiếu lớn hơn 200$. Ví dụ khi giá một cổ phiếu là 12$thì ta có thể trông chờ option được giao dịch là 10,12 và 15$; khi giá cổ phiếu là100 chúng ta có thể hi vọng giá thực hiện là 90,95,100,105 và 110$. Khi một ngày đáo hạn mới được đặt ra hai mức giá thực hiện gần nhất vớigiá cổ phiếu hiện hành thường được chọn để trao đổi. Nếu một trong hai số đó gầnsát với giá cổ phiếu hiện tại thì mức giá thực hiện gần thứ ba với giá cổ phiếu hiện 14
  • 15. hành có thể cũng được chọn. Nếu giá cổ phiếu dịch chuyển ra ngoài dãy số giớihạn giữa hai mức giá thực hiện cao nhất và thấp nhất giao dịch thường đượcoption giới thiệu có giá thực hiện mới. ví dụ như giá cổ phiếu là 53$ khi bắt đầugiao dịch với option tháng 10. Đầu tiên call option và put option sẽ được đề nghịvới giá thực hiện là 50 và 55$. Nếu giá cổ phiếu tăng đến 55$ thì giá thực hiệnđược đề nghị là 60$,nếu giá giảm xuống 50$ thì giá thực hiện được đề nghị là45$... 1.4.2.2 Thuật ngữ: Với một tài sản đã cho tại một thời điểm bất kì có thể có nhiều optionkhác nhau được giao dịch. Hãy xem xét một cổ phiếu có 4 ngày đáo hạn và 5mức giá thực hiện. Nếu call option và put option giao dịch mỗi ngày đáo hạn vớimỗi mức giá thực hiện tổng cộng sẽ có 40 hợp đồng khác nhau. Tất cả optioncùng kiểu sẽ tạo thành một nhóm option (option class). Ví dụ các call option trêncổ phiếu IBM là một lớp trong khi các put option trên cổ phiếu IBM là một nhómkhác. Một loại option(option series) bao gồm tất cả các option của một nhóm đãcho với cùng ngày đáo hạn và giá thực hiện. Nói cách khác, một loạt option ý nóilà một hợp đồng riêng biệt được giao dịch. Call option tháng 10 trên 50 cổ phiếuIBM là một loạt option. Option còn gắn với một loạt thuật ngữ như là: vùng hái ra tiền(in themoney), điểm hòa vốn (at the money), vùng mất tiền (out of the money). Optionở vùng hái ra tiền là một option mang lại cho người nắm giữ một dòng lưu kimdương nếu thực hiện ngay lập tức. Tương tự option ở điểm hòa vốn dẫn đến dònglưu kim bằng zero và option ở vùng mất tiền sẽ dẫn đến dòng lưu kim âm nếuthực hiện ngay. Không tính đến chi phí giao dịch thì option ở vùng hái ra tiềnluôn luôn được thực hiện vào ngày đáo hạn nếu trước đó nó chưa được thực hiện. 15
  • 16. Giá trị nội tại của option được định nghĩa là mức tối đa của zero và giá trịsẽ có của option nếu option được thực hiên ngay. Một option hái ra tiền kiểu Mỹphải có giá trị ít nhất là bằng giá trị nội tại của nó, bởi vì người nắm giữ có thểnhận ra giá trị nội tại bằng cách thực hiện ngay. Thông thường giải pháp tối ưucho người nắm giữ option ở vùng hái ra tiền là chờ đợi hơn là thực hiên ngay. Vìvậy option còn được cho là có giá trị thời gian(time value). Có thể nghĩ rằng giátrị của một option là tổng giá trị nội tại và giá trị thời gian của nó 1.4.3.Giao dịch option: Một trung tâm giao dịch có một thành viên là những người có chỗ ngồi ởtrung tâm. Mỗi chỗ ngồi cho phép thành viên đến sàn giao dịch của trung tâm đểgiao dịch với các thành viên khác. 1.4.3.1 Những người tạo thị trường Nhà tạo lập thị trường chịu trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của công chúngđối với quyền chọn. Khi một công chúng nào đó muốn mua (bán) một quyền chọnvà không có thành viên nào trong công chúng muốn bán (mua) quyền chọn đó, nhàtạo lập thị trường sẽ thực hiện vụ giao dịch đó. Chênh lệch giá mua - bán là chi phí giao dịch đáng kể đối với những ngườiphải giao dịch với nhà tạo lập thị trường. 1.4.3.2 Nhà môi giới trên sàn giao dịch. Nhà môi giới trên sàn thực hiện các giao dịch cho công chúng. Nếu mộtngười nào đó muốn mua hoặc bán một quyền chọn thì phải thiết lập một tài khoảntại công ty môi giới. Công ty này phải thuê một nhà môi giới trên sàn hoặc có hợpđồng hợp tác với một nhà môi giới độc lập trên sàn giao dịch hoặc là nhà môi giớisàn giao dịch của một công ty đối thủ. Nhà môi giới trên sàn thực hiện các lệnh của những người không phải làthành viên và nhận một mức lương thuần hoặc là nhận hoa hồng trên mỗi lệnhthực hiện được. 16
  • 17. 1.4.3.3 Nhân viên lưu trữ lệnh. Ví dụ, nếu lệnh giới hạn để mua ở mức $3 của bạn là giá hỏi mua cao nhất,và nhà tạo lập thị trường đang yết giá chào bán thấp nhất là $3,10, nhà tạo lập thịtrường sẽ lựa chọn giữa chấp nhận giá hỏi mua của bạn và bán quyền chọn với giá$3 hoặc chờ đợi cho đến khi có mức hỏi mua $3,05 hay cao hơn. Nếu không aimua với giá $3,05 trong vòng một khoảng thời gian hợp lý, nhà tạo lập thị trườngsẽ chọn thực hiện lệnh mua của bạn với giá $3. Nếu nhà môi giới của bạn có các lệnh khác cần thực hiện, nhân viên OBOsẽ nhận lệnh của bạn và nhập vào hệ thống máy tính cùng với tất cả các lệnh giớihạn khác của công chúng. Nhà tạo lập thị trường được thông tin về giá tốt nhất của các lệnh giới hạn.Nếu các điều kiện thay đổi đến mức có ít nhất một nhà tạo lập thị trường sẵn sàngniêm yết ở mức giá giới hạn của bạn, nhân viên OBO sẽ thực hiện lệnh giới hạncủa bạn. Nếu nhà môi giới của bạn có các lệnh khác cần thực hiện, nhân viên OBOsẽ nhận lệnh của bạn và nhập vào hệ thống máy tính cùng với tất cả các lệnh giớihạn khác của công chúng. Nhà tạo lập thị trường được thông tin về giá tốt nhất của các lệnh giới hạn.Nếu các điều kiện thay đổi đến mức có ít nhất một nhà tạo lập thị trường sẵn sàngniêm yết ở mức giá giới hạn của bạn, nhân viên OBO sẽ thực hiện lệnh giới hạncủa bạn. 1.4.4 Công ty thanh toán hợp đồng Option (OCC): Thực hiện nhiều chức năng cho thị trương option nhằm đảm bảo rằng ngườiphát hành option sẽ hoàn thành nghĩa vụ của họ theo các điều kiện của hợp đồngoption và lưu trữ tất cả các báo cáo của của tất cả vị thế mua và bán. OCC có mộtsố thành viên và tất cả giao dịch option phải được thanh toán thông qua các thànhviên. Nếu nhà môi giới không phải là thành viên của OCC thì họ phải dàn xếp đểthanh toán với mọi giao dịch với một thành viên. Các thành viên được yêu cầuphải có một số vốn tối thiểu nhất định và đóng góp thành lập một quỹ đặc biệt để 17
  • 18. có thể sử dụng khi bất cứ thành viên không thể đảm bảo nghĩa vụ thanh toán hợpđồng option do bị mất khả năng chi trả. Khi mua option người mua phải thanh toán đầy đủ vào buổi sáng của ngàylàm việc kế tiếp. Quỹ được kí gửi tại OCC. Người phát hành option duy trì tàikhoản kí quỹ với nhà môi giới. Nhà môi giới duy trì tài khoản kí quỹ với nhà môigiới. Nhà môi giới duy trì tài khoản kí quỹ với thành viên của OCC để thanh toáncác giao dịch của họ. Thành viên của OCC lại duy trì một tài khoản kí quỹ vớiOCC. Mức kí quỹ yêu cầu là mức bắt buộc của OCC đối với thành viên của nó.Nhà môi giới có thể yêu cầu mức kí quỹ cao hơn đối với khách hàng,nhưng khôngthể yêu cầu mức thấp hơn. 1.4.5 Thực hiện option: Khi nhà đầu tư thông báo cho người môi giới thực hiện option nhà môi giớisẽ thông báo cho các thành viên của OCC để thanh toán cho giao dịch. Thành viênnày đưa ngay lệnh đến cho OCC. OCC chọn ngẫu nhiên một thành viên có vị thếngắn hạn đang sẵn sàng thực hiện trên cùng option. Thành viên được chọn chọnmột nhà đầu tư đặc biệt đã phát hành option. Nếu là call option nhà đầu tư nàyđược yêu cầu bán chứng khoán theo giá thực hiện. Nếu là put option nhà đầu tưnày được yêu cầu mua chứng khoán theo giá thực hiện. Như vậy là nhà đầu tư đãchuyển nhượng. Khi option thực hiện lợi ích để ngỏ giảm đi một hợp đồng. Vào ngày đáo hạn của hợp đồng tất cả option ở vùng hái ra tiền sẽ đượcthực hiện trừ chi phí giao dịch quá cao làm mất đi toàn bộ lợi nhuận từ option.Một số công ty môi giới sẽ tự thực hiện option cho khách hàng của họ vào ngàyđáo hạn khi nó phù hợp với lợi ích của khách hàng. Nhiều thị trường cũng có quitắc thực hiện option ở vùng hái ra tiền lúc đáo hạn. 18
  • 19. Kết LuậnCó thể nói sự phát triển thị trường theo hướng ngày càng mở hơn của nền kinh tếViệt Nam trong những năm gần đây đang đặt ra những yêu cầu bức thiết về sựphát triển các công cụ phòng ngừa rủi ro vừa cho cả thị trường hàng hóa lẫn thịtrường tài chính, tiền tệ nhằm giúp các nhà sản xuất, đầu tư phòng ngừa rủi rocũng như kinh doanh kiếm lời từ những biến động giá cả. Hợp đồng quyền chọnOption là một công cụ hứa hện những cơ hội phát triển bền vững, phụ hợp với sựphát triển mang tính quôc tế. Option không những là một công cụ quan trọng đối 19
  • 20. với các nhà kinh doanh, sản xuất mà còn góp phần làm sôi động thêm sự phát triểncủa thị trường chứng khoán nước nhà trong những năm tới đây. 20
  • 21. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆTChương II: NAM2.1 ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHN VIỆT NAM TỪ KHI ĐIVÀO HOẠT ĐỘNG ĐẾN NAY. 2.1.1 Từ năm 2003 đến nay. Trong mỗi chúng ta giờ đây thì ai cũng có thể biết thị trường chứng khoánnhư thế nào. Và thực tế chúng ta thấy rằng TTCK từ năm 2003 đến giữa năm 2006thì không tốt và sốt cho mấy. Cho đến từ cuối năm 2006 và đến đầu 2008 thìTTCK quá sốt làm cho các nhà đầu tư ồ ạt đổ xô vào thị trường. Vì là thị trườngcòn non trẻ nên TTCK Việt Nam như hiện nay được thể hiện như sau: ***Diễn biến thị trường chứng khoán năm 2007 Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2007 đánh dấu sự tăng trưởngmạnh về giá trị giao dịch, số lượng và giá trị các đợt IPOs, số lượng nhà đầu tư vàcác công ty chứng khoán. Nếu tính đến cuối năm 2006, cả nước có 106.393 tàikhoản giao dịch chứng khoán, tăng 191,49% so với năm 2005, thì trong năm 2007số lượng tài khoản giao dịch là trên 327.000 tài khoản. Bên cạnh đó, thị trường lạichứng kiến sự ra đời và đi vào hoạt động của hàng loạt các công ty chứng khoán,từ chỉ có 22 công ty chính thức đi vào hoạt động vào cuối năm 2006 thì tính đếncuối năm 2007, tổng số công ty chứng khoán đã hoạt động hiện nay lên đến hơn62 công ty và hàng chục hồ sơ đang chờ cấp phép. ***Số lượng Công ty chứng khoán và Tài khoản giao dich Nguồn: SSC và HBBS Mặc dù số lượng các công ty chứng khoán và tài khoản giao dịch của cácnhà đầu tư tăng mạnh thì ngược lại việc cung cấp nguồn hàng vẫn còn nhiều bấtổn. Trong 6 tháng đầu năm 2007 chỉ có duy nhất một cổ phiếu mới niêm yết là cổphiếu RCL của CTCP Địa ốc Chợ Lớn lên sàn Hà Nội ngày 14/6. Tổng cộng hiệncó 677 loại chứng khoán đang giao dịch trên cả 2 sàn giao dịch chứng khoán niêmyết (150 Cổ phiếu trên HOSE và 129 Cổ phiếu trên HaSTC), 03 chứng chỉ quỹ và 21
  • 22. 375 loại trái phiếu. Nếu tính đến cuối năm 2006, tổng giá trị vốn hóa thị trườngkhoảng 217 nghìn tỷ đồng, bằng 22,7% GDP; thì đến nay, mức tổng vốn hóa nàyđã đạt 491 nghìn tỷ đồng (tương đương 43% GDP tính theo giá thực tế). Bên cạnhđó, dư nợ thị trường trái phiếu đạt hơn 194 nghìn tỷ đồng (tương đương 17%GDP), vượt dự kiến của UBCKNN là tổng giá trị vốn hóa thị trường đạt 30% GDPđến năm 2010. +HOSE Sở GDCK TP.HCM (HOSE): Năm 2007, Chỉ số Vn – Index bắt đầu ở mức751,77 điểm và liên tục tăng trong thời gian này, Vn – Index đã vượt mốc 1.000điểm vào ngày 19/01 với 1.023,05 điểm và đạt mức cao nhất là 1.170,67 điểm vàongày 12/3. Chỉ riêng trong 3 tháng đầu năm 2007, VN-Index tăng mạnh với tốc độtăng trưởng bình quân là 16,41%/tháng và giá trị giao dịch bình quân lên đến hơn1.000 tỷ đồng/phiên. Trong đó, riêng tháng 1/2007 đã đạt tốc độ tăng trưởng38,25%/tháng. Tuy nhiên, kể từ giữa tháng 3, VN-Index bắt đầu sụt giảm mạnh vàthường xuyên tăng, giảm với biên độ lớn. Ngày 24/4/2007, VN - Index chạm đáyở mức 905,53 điểm, giảm 22,65% so với mức cao nhất. Từ cuối tháng 4 đến nửađầu tháng 5, chỉ số VN-Index phục hồi mạnh, tuy nhiên vẫn không thoát khỏichiều hướng đi xuống của thị trường Trong cả quý II về chỉ số cũng như khốilượng và giá trị giao dịch. Vn - Index một lần nữa chạm đáy mới 890,02 điểm vàongày 20/08. Thị trường bắt đầu phục hồi trong tháng 9, Vn – Index đạt đỉnh1106,06 điểm vào ngày03/10. Sau thời điểm này, do những đợt IPO dồn dập vàsắp đến thời điểm hiệu lực của Chỉ thị 03, thị trường bắt đầu đi xuống với giá trịgiao dịch sụt giảm, VN – Index “lao dốc” đến ngày 28/12 chạm mức 927,02 điểm.Khép lại cả năm 2007, với Vn – Index tăng 174,25 điểm, tăng 23%.7 +HaSTC TTGDCK Hà Nội (HaSTC): Hastc - Index luôn biến động song song cùngchiều với sự biến động của Vn - Index, Chỉ số HASTC-Index tăng trưởng liên tụcvà rất mạnh trong quý I năm 2007. Trong phiên giao dịch ngày 19/03, HASTC-Index đạt kỷ lục cao nhất kể từ khi hoạt động là 459,36 điểm, tăng 216,47 điểm 22
  • 23. tức tăng 89,12% so với đầu năm. Tuy nhiên, kể từ nửa cuối tháng 3, chỉ sốHaSTC-Index bắt đầu giai đoạn điều chỉnh giảm. Hastc – index chạm đáy 246,47điểm vào ngày 22/08. Qua thời điểm này, cùng với sự phục hồi của Vn -index,Hastc - Index cũng phục hồi mạnh mẽ đạt đỉnh 393,59 điểm vào ngày 01/11. Quađỉnh này, Hastc - index liên tục điều chỉnh giảm. Ngày 28/12, Hastc – index đạt325,55 điểm. Như vậy, qua 1 năm hoạt động nhộn nhịp, hastc tăng 81,65 điểm,tương đương 33,75%. +OTCDo ảnh hưởng từ thị trường chính thức, thị trường OTC cũng tăng trưởng mạnhmẽ và sôi động suốt quý I, hầu hết cổ phiếu đều tăng giá. Trong đó , nhóm cổphiếu của các Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần tiếp tục tăng giá mạnh và được thumua nhiều nhất, tiếp đó là cổ phiếu dầu khí, điện, vận tải… Tuy nhiên, kể từ đầutháng 03/2007, cổ phiếu OTC bắt đầu đợt điều chỉnh giảm và kéo dài đến gần cuốitháng 12/2007, có thời điểm nhộn nhịp trở lại vào tháng 10/2007. Tại thời điểmhiện nay, giá cổ phiếu đã giảm khá mạnh, nhưng vẫn còn một số chứng khoán cótính thanh khoản tốt, trong đó có cổ phiếu ngân hàng (mặc nhóm cổ phiếu ngânhàng đã mất giá khoảng 40% - 60% so với cuối tháng 2, đầu tháng 3/2007). Doảnh hưởng của Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN, giá cổ phiếu trên thị trường OTC giảmkhá mạnh và giao dịch hết sức trầm lắng. Tính đến thời điểm hiện nay, chỉ thị 03vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến thị trường OTC khiến cho nhà đầu tư bị sức ép phảibán cổ phiếu để trả nợ ngân hàng. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của các đợt IPO lớn(Đạm phú mỹ, Vietcombank, Sabeco) khiến thị trường không thể tiêu thụ hết dẫnđến tâm lý thận trọng của các nhà đấu tư. Trong 6 tháng đầu năm 2007, các nhàđầu tư đểu mong chờ các đợt IPO nên hạn chế lượng tiền tham gia đầu tư. Trong 6tháng cuối năm, Do sự sôi động của của thị trường bất động sản và thị trườngvàng, nhiều nhà đầu tư đã rút bớt lượng vốn chuyển sang thị trường này, dẫn đếnnguồn cung tiền một lượng tiền khá lớn của các nhà đầu tư tổ chức đang chờ đợigiá cổ phiếu sẽ tiếp tục giảm để mua vào cũng như chờ đợi các đợt IPOs lớn. 2.1.1.1 Về sự quan tâm của nhà nước đối với sự phát triển của TTCK. 23
  • 24. Không ai có thể phủ nhận rằng thị trường chứng khoán có vị trí rất quantrọng đối với nền kinh tế của nước ta hiện nay. Các doanh nghiệp cổ phần đanghình thành, phát triển ngày một nhiều hơn, xu thế của các doanh nghiệp Nhà nướclà cổ phần hoá. Công ty cổ phần và cổ phần hoá sẽ giúp cho các doanh nghiệp cókhả năng huy động vốn một cách thuận lợi, có động lực tốt hơn trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của mình. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu thị trường chứng khoáncủa chúng ta mất đi hoặc không phát huy được chức năng quan trọng của nó đốivới nền kinh tế. Gần đây có nhiều ý kiến cho rằng Nhà Nước đang ưu tiên việc chống lạmphát lên hàng đầu còn việc phát triển thị trường chứng khoán đang là thứ yếu. Nhànước ưu tiên chống lạm phát lên hàng đầu vì lợi ích của hơn 80 triệu dân còn thịtrường chứng khoán niêm yết mới chỉ có hơn 300.000 tài khoản giao dịch chưađáng để Nhà nước coi trọng. Tuy nhiên nghĩ kĩ lại rằng thì suy nghĩ như vậy là cònquá phiên diện, tại sao chúng ta không nghĩ rằng cần phải coi trọng cả 2, tại saokhông vừa phải ngăn chặn lạm phát vừa phải giữ gìn, bảo vệ, phát triển thị trườngchứng khoán. Một điều có thể thấy là trong thời gian qua Nhà nước đang ưu tiên các biệnpháp nhằm ngăn chặn lạm phát hơn là các biện pháp giữ gìn thị trường chứngkhoán. Nhà nước đã lựa chọn biện pháp thắt chặt tiền tệ để hạn chế lạm phát tuynhiên có thể thấy các biện pháp đó chưa mang lại nhiều hiệu quả trong công tácchống lạm phát, tỉ lệ lạm phát vẫn còn cao và chưa có nhiều dấu hiệu được ngănchặn. Lạm phát chưa được ngăn chặn nhưng tác hại của các biện pháp chống lạmphát thì đang dần biểu hiện. Có thể ví như con bệnh được uống thuốc nhưng chưamang lại hiệu quả chữa bệnh mà những liều thuốc đó đang làm cho con bệnh thêmmệt mỏi vì những tác dụng phụ của thuốc, giống như việc chúng ta uống quá nhiềuthuốc Tây Y trong thời gian dài vậy. Tác hại thứ nhất dễ nhận thấy của các biệnpháp chống lạm phát đó là làm cho thị trường chứng khoán thêm lạnh và tác hại dễ 24
  • 25. thấy thứ 2 đó là việc huy động vốn của các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khókhăn vì thị trường chứng khoán khủng hoảng, tiền tệ bị thắt chặt nhằm chống lạmphát, việc kinh doanh lúc nào cũng cần vốn vậy mà nhiều doanh nghiệp của chúngta đang trở nên khó xoay sở trong tình trạng hiện nay. Vậy tình trạng khó khăn đócủa doanh nghiệp liệu có tốt cho nền kinh tế của chúng ta hay không. Nói về vấn đề 80 triệu dân hay 300.000 tài khoản, điều này lẽ ra không cầnphải cân nhắc vì nếu chỉ chú ý tới 80 triệu dân không thôi mà bỏ rơi 300.000 tàikhoản có nghĩa chúng ta bỏ rơi thị trường chứng khoán và như vậy có nghĩa là làmcho nền kinh tế đi vào trì trệ vậy thì có đáp ứng được yêu cầu 80 triệu dân. Chúngta không nên tách biệt các thành phần trong nền kinh tế ra để rồi chọn người này,bỏ rơi người kia hay là thế nào đó. Điều mà Nhà nước và người dân cần chú ý tớilà phải làm sao để phát triển nền kinh tế, tạo cuộc sống ấm no cho tất cả mọi ngườidân. Vì vậy Nhà Nước cần có những chính sách tổng thể và nhìn về lâu dài chứkhông nên chỉ đưa ra những chính sách, biện pháp ngắn hạn, chụp giật, thiênlệch.Những chính sách đưa ra phải nhằm tới mục tiêu cao nhất là tạo điều kiệnthuận lợi cho kinh tế phát triển. Vậy tại sao chúng ta không cố gắng để vừa ngănchặn lạm phát vừa bảo vệ, phát triển thị trường chứng khoán phát triển ổn định,chính khi thị trường chứng khoán ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngsản xuất kinh doanh làm tăng nguồn cung hàng hoá và từ đó có thể ngăn chặn lạmphát. Nếu một nền kinh tế mà hoạt động phát triển sản xuất kinh doanh thuận lợi,ổn định thì có phải suy nghĩ quá nhiều về lạm phát nữa không. Thị trường chứng khoán sơ cấp thực hiện việc huy động vốn cho doanhnghiệp còn thị trường chứng khoán thứ cấp là nơi các chứng khoán được giao dịchnhằm tạo điều kiện cho dòng vốn trong nhân dân đưa vào thị trường thuận lợi hơn.Nếu thị trường chứng khoán thứ cấp bị què quặt, ốm yếu thì chức năng huy độngvốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán sẽ khó mà thực hiện được từ đóảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp làm chậm đi 25
  • 26. sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy để ổn định và phát triển nền kinh tế thì Nhànước phải hết sức tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển, sự pháttriển ở đây không nên hiểu nhầm là nâng chỉ số thị trường tăng cao mà nó baogồm nhiều yếu tố khác nữa. Sự phát triển của thị trường phải được đánh giá trênnhiều phương diện như: Cơ chế giao dịch thuận lợi, khoa học, tiên tiến, hiện đạikhông kém tầm quốc tế, thu hút được sự quan tâm đông đảo của quần chúng nhândân, thu hút được nhiều người dân có vốn tham gia đầu tư vào thị trường, tínhthanh khoản của thị trường phải cao, việc mua – bán được tiến hành dễ dàng từ đóthuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện các chiến lược đầu tư của mình vào thị trường,cơ chế thông tin thực sự minh bạch, khách quan, chính sách quản lý của Nhà Nướcphải thực sự khách quan, công bằng, hoạt động giám sát thị trường phải thực sự cóhiệu quả và được đề cao để tạo ra một thị trường lành mạnh, không tiêu cực, thịtrường phải có sự phân hoá, chọn lọc giữa những doanh nghiệp kinh doanh tốt vàkhông tốt thể hiện đúng trong giá cổ phiếu chứ không đánh đồng hoặc phản ánhquá sai lệch trong giá cổ phiếu trước tình hình kinh doanh của doanh nghiệp từ đómới có thể giúp đồng vốn đi vào thị trường biết chọn lọc và phát huy tác dụng đốivới những doanh nghiệp kinh doanh tốt, vốn hoá thị trường chiếm tỉ trọng lớntrong nền kinh tế…và có như vậy thì chỉ số thị trường mới tăng trưởng và pháttriển ổn định và thực sự trở thành “Phong vũ biểu” của nền kinh tế. Một điều có thể khẳng định rằng thị trường chứng khoán Việt Nam còn rấtkém phát triển. Vốn hoá thị trường chưa cao, điều này do nguyên nhân khách quanlà thị trường còn mới hình thành, cùng với thời gian thì vốn hoá thị trường sẽ tăngcao dần vào chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế. Sự kém phát triển của thị trườngcòn thể hiện trong sự yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý của cáccơ quan Nhà Nước, một phần có thể đổ lỗi cho thị trường còn non trẻ, nhân lực cótrình độ còn thiếu…Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng các cơ quan Nhà Nướccòn chưa thực sự nhìn nhận hết tầm quan trọng của thị trường chứng khoán từ đóchưa thực sự đầu tư, nghiên cứu phát triển thị trường. Một sự yếu kém nữa mà có 26
  • 27. lẽ nhà đầu tư ai cũng nhận thấy đó là các cơ chế hoạt động, cơ chế giao dịch củathị trường. Thị trường chứng khoán là thị trường tài chính cao cấp, nó đã hình thành vàphát triển có lịch sử hàng trăm năm. Các nền kinh tế, các chuyên gia tài chính trênthế giới đã có rất nhiều thời gian để nghiên cứu, phát triển nó vì vậy thị trườngchứng khoán đã thực sự phát triển thịnh vượng trên hầu hết các quốc gia trên thếgiới. Ở nước ta thị trường hình thành chưa lâu, tuy nhiên không phải vì vậy màchúng ta cho phép nó yếu kém, lỏng lẻo trong hoạt động, không nên quá đổ lỗi chonhững yếu kém hiện nay là do thị trường còn non trẻ. Điều cần phải bàn tới chínhlà các hoạt động của Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền. Nhà nước đã chưa nắm hết tầm quan trọng của thị trường chứng khoán. Tạisao một thị trường có giá trị đến hàng chục tỉ USD mà Nhà nước lại không thể đầutư vài trăm triệu USD cho hệ thống giao dịch thật sự hiện đại không kém tầm thếgiới để cho đến nay đã hình thành được hơn 7 năm mà tình trạng nhập lệnh vẫnnhập nhằng, thiếu minh bạch, nghẽn lệnh…Một thị trường có tầm quan trọng đốivới nền kinh tế như vậy tại sao Nhà Nước không đầu tư vào nhân lực, dành nhiềunhân lực, dành thời gian, kinh phí cho hoạt động nghiên cứu phát triển thị trường.Các chính sách của Nhà Nước đều tính toán rất chậm chạp, khi đưa vào thực thicũng chậm chạp không kém đến cả Luật chứng khoán, một văn bản pháp lý vôcùng cần thiết cho hoạt động của thị trường mà cũng phải đến năm 2007 mới cóhiệu lực. Các công cụ cần thiết trên thị trường giúp thị trường phát triển ổn định lẽra phải được tính toán và cố gắng đưa vào càng sớm càng tốt thì lại có lộ trình dàilê thê chẳng hạn như nghiệp vụ bán khống, tại sao các cơ quan chức năng khôngtính toán để đưa vào thị trường sớm hơn. Trong khi chính sách cần đưa ra muộnhơn để ưu tiên nhà đầu tư, kích thích thị trường phát triển như việc đánh thuế thunhập từ kinh doanh chứng khoán thì lại bị đưa ra quá sớm, không thích hợp về thờiđiểm. Thị trường chứng khoán quan trọng như vậy tại sao các quy định xử phạt vi 27
  • 28. phạm không đủ mạnh chẳng làm ai sợ,công tác kiểm tra giám sát hoạt động củacác chủ thể tham gia thị trường cũng quá thiếu và yếu để chính những điều đó làmthị trường phát triển thiếu lành mạnh, vậy Nhà Nước đang ưu tiên điều gì trongcông tác của mình mà không thực sự chú tâm tới thị trường chứng khoán. Suốt giai đoạn từ khi hình thành cho đến đầu 2006 khi thị trường còn trầmlắng, có thể thấy sự chậm chạp trong các biện pháp, chính sách xây dựng,pháttriển thị trường. Cho đến giai đoạn thị trường tăng trưởng mạnh và đến thời điểmhiện nay thì vẫn chưa thấy các cơ quan Nhà nước có những hoạt động mạnh mẽ,nhanh chóng để xây dựng thị trường. Giai đoạn thị trường tăng trưởng nóng thìcác cơ quan chức năng lại quá chú tâm vào việc tăng nguồn cung vào thị trường,đưa ra hàng loạt tiến trình IPO, cổ phần hoá trong khi lại thiếu sự quan tâm đếnhoạt động xây dựng cơ sở vật chất hiện đại cho hoạt động giao dịch, thiếu quantâm xây dựng hệ thống thông tin minh bạch, đầy đủ cho thị trường,cho mở rộngthêm nhiều công ty chứng khoán rồi gần như thả nổi hoạt động của họ trong khi họlà một bộ phận vô cùng quan trọng cho sự phát triển của thị trường. Nhà nước đãquá chú ý đến việc tăng vốn hoá thị trường mà chưa tính đến công tác xây dựng thịtrường để đáp ứng điều đó để rồi giờ đây đành phải gác lại nhiều tiến trình IPO. Thiết nghĩ rằng giờ đây thì kiềm chế lạm phát là công việc rất quan trọng vìtác hại của lạm phát đến nền kinh tế là rất lớn, nhưng không phải vì vậy mà bỏ rơithị trường chứng khoán. Mong rằng Nhà nước cần coi trọng cả 2, vừa phải kiềmchế lạm phát nhưng cũng phải tăng cường mạnh mẽ hơn nữa việc bảo vệ, xâydựng, phát triển thị trường. Thị trường chứng khoán đóng vai trò vô cùng quantrọng đối với nền kinh tế vì thế mong rằng Nhà nước sẽ có chính sách đầu tư thíchđáng cho sự phát triển của nó, nếu Nhà nước có thể đầu tư 1 tỷ USD cho dự án nàođó thì thiết nghĩ dự án đó là xây dựng một thị trường chứng khoán tiên tiến, hiệnđại không kém thị trường chứng khoán ở nhiều nước trên thế giới. Điều đó sẽ làm 28
  • 29. thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành một kênh huy động vốn ổn định, thuậntiện cho nền kinh tế giúp nền kinh tế tăng trưởng và phát triển tốt. 2.1.1.2 Hoạt động của thị trường diễn ra khá suông sẻ. Đó là một thời đã qua của TTCK diễn ra khá suông sẻ nhưng trong bối cảnhnhư hiện nay thì đó là một điều hoàn toàn trái ngược. Nhà đầu tư bỏ sàn, thịtrường chao đảo với VN-INDEX gần 1200 xuống dưới 400 như hiện nay. 2.1.1.3 TTCK thực sự chưa kênh huy động vốn. TTCK đã mất hai năm để tăng từ 500 điểm lên hơn 1.000 nhưng chỉ mất cómột năm để quay về mốc 500 điểm. Sự biến đổi quá nhanh chóng đã khiến cho cảnhững nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư chuyên nghiệp lẫn những nhà quản lý trở taykhông kịp. +Kết quả huy động èo uột Theo thông tin từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), từ đầu nămđến nay, Ủy ban chỉ cấp phép phát hành thêm cổ phiếu huy động vốn cho 28 côngty và một ngân hàng với giá trị hơn 3.000 tỉ đồng theo mệnh giá. Trong đó, 8 côngty đã xin hoãn phát hành sau khi được cấp phép. Bức tranh vào quí 4-2007 lại hoàn toàn đối lập khi UBCKNN cấp phép chotổng cộng 73 công ty và ngân hàng phát hành thêm tổng cộng 1,36 tỉ cổ phần vớitổng giá trị là 13.600 tỉ đồng theo mệnh giá. Điều đáng nói là trong quí 1 năm nay, các công ty chỉ thu được 73,5 tỉ đồngtừ việc phát hành 5,8 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu, đấu giá được 1,68 triệucổ phần thu về 79 tỉ đồng, và 2,47 triệu cổ phần được bán trong các đợt IPO thu về78,5 tỉ đồng. Như vậy, tổng lượng vốn huy động được từ TTCK trong quí 1 chỉ đạt231 tỉ đồng, bằng khoảng 7,7% so với số lượng đăng ký (tính theo mệnh giá). Sự ảm đạm của TTCK từ đầu năm đến nay đã gây khó khăn cho các doanhnghiệp muốn huy động vốn qua kênh này. Ngay cả những công ty có tên tuổi cũng không tránh khỏi thất bại khi huyđộng vốn qua TTCK. Sabeco và Habeco là hai ví dụ rõ ràng nhất. Tổng công ty 29
  • 30. Bia, Rượu, Nước giải khát Hà Nội (Habeco) chỉ bán được 4,38 trệu cổ phần trongsố 34,77 triệu cổ phần đưa ra đấu giá trong đợt bán đấu giá cổ phần lần đầu racông chúng (IPO) cuối tháng 3. Trước đó, Tổng công ty Bia, Rượu, Nước giảikhát Sài Gòn (Sabeco) cũng thất bại trong đợt IPO khi chỉ bán được 60% lượng cổphần chào bán. Nhiều chuyên gia trong ngành nói sự thất bại của hai đợt IPO mà trước đórất được mong đợi là do định giá khởi điểm quá cao, tuy nhiên yếu tố tâm lý thịtrường cũng là một nguyên nhân mà ít ai phủ nhận. Không chỉ tránh phát hành thêm cổ phiếu, các doanh nghiệp cũng ngạiniêm yết trên sàn. Một cán bộ của Sở giao dịch chứng khoán TPHCM cho biết từđầu năm đến nay đã cấp phép niêm yết cho khoảng mười công ty nhưng công tynào cũng chần chừ chưa muốn lên sàn để tránh bị như Tổng công ty cổ phần bảohiểm Bảo Minh, chưa có phiên nào tăng điểm từ sau khi niêm yết tại sàn TPHCMvào cuối tháng 4. Tuy nhiên, dù không muốn thì ba tháng sau khi được cấp phép,các công ty trên đều buộc phải niêm yết. Không chỉ các doanh nghiệp tránh huy động vốn qua TTCK mà ngay cảnhững đơn vị có trách nhiệm cũng khuyến khích các doanh nghiệp hạn chế hoạtđộng này. UBCKNN vào đầu tháng 1 đã ra một văn bản kêu gọi các doanh nghiệp cókế hoạch phát hành thêm cổ phiếu huy động vốn nên cân nhắc lại cho phù hợp vớitình hình thị trường và sẽ tạo điều kiện cho những công ty đã được cấp phép hoãnviệc phát hành. Và không biết do ủy ban muốn hạn chế tối đa nguồn cung cho thịtrường hay các doanh nghiệp thực sự không dám huy động vốn qua TTCK màtrong suốt hai tháng qua, không có một giấy phép phát hành cổ phiếu nào đượccấp. +Đòi hỏi phải linh hoạt Công ty cổ phần Pan Pacific vừa tuyên bố hủy bỏ việc phát hành thêm 7,2triệu cổ phiếu để huy động vốn do giá của công ty rớt quá mạnh. Ông Nguyễn VănKhải, Tổng giám đốc công ty, cho biết Pan Pacific đang phải cân đối lại nguồn 30
  • 31. vốn, dừng thực hiện các dự án còn nằm trong kế hoạch cần vốn lớn và chỉ ưu tiêncho những dự án đã triển khai đến giai đoạn cuối. Pan Pacific không phải là trường hợp cá biệt. Hàng loạt các công ty đang bếtắc trong việc tìm nguồn vốn để phát triển các dự án của mình. Công ty Đầu tư và Thương mại thủy sản (Incomfish) trong đại hội cổ đônggần đây đã thông báo dừng đợt phát hành 24 triệu cổ phiếu và sẽ ủy quyềncho hội đồng quản trị lựa chọn các tổ chức tín dụng để tìm nguồn vốn vay cho cácdự án của mình. Bên cạnh đó, Incomfish sẽ tạm dừng các dự án đã được thông quatại đại hội bất thường vào tháng 8-2007 bao gồm hai nhà máy chế biến cá đônglạnh tại TPHCM và tỉnh Phú Yên và các dự án bất động sản tại TPHCM. Tổng giám đốc một công ty chứng khoán tại TPHCM cho biết nhiều côngty đang lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn trong giai đoạn hiện nay khi khôngthể vay vốn của ngân hàng và cũng không thể huy động vốn qua TTCK. Đối vớinhững công ty bất động sản, phương thức đang được áp dụng hiện nay là các côngty trong và ngoài nước liên doanh, liên kết với nhau để góp vốn thực hiện các dựán. Còn đối với các công ty thuộc những ngành chuyên biệt, vị tổng giám đốcnày chỉ lắc đầu. Ông cho biết không ủng hộ việc hạn chế nguồn cung cho thịtrường hiện nay của UBCKNN bởi vì có nhiều công ty làm ăn thực sự có hiệu quảvà đang rất cần vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Công ty ông hiện đang tưvấn cho một công ty phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá bằng mệnhgiá và cổ đông nước ngoài để huy động vốn cho xây thêm nhà máy. Hồ sơ đã nộplên ủy ban 5 tháng vẫn chưa thấy hồi âm mà theo quy định, phải có câu trả lờitrong 30 ngày sau khi nhận hồ sơ. “Ủy ban Chứng khoán nên có câu trả lời rõ ràng có ngừng hẳn việc cấpphép phát hành hay không để công ty chứng khoán dễ hơn trong việc tư vấn chokhách hàng”, vị giám đốc nói. Đã qua rồi thời TTCK là kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanhnghiệp, giờ đây là cảnh sàn chứng khoán vắng tanh, nhà đầu tư giao dịch nhỏ giọt 31
  • 32. và giá cổ phiếu đổ dốc mỗi ngày. Giải pháp duy nhất cho các doanh nghiệp hiệnnay có lẽ là thắt lưng buộc bụng chờ đến ngày chứng khoán hồi phục.2.2 XÂY DỰNG CÁC CÔNG CỤ CHỨNG KHOÁN PHÁT SINH CHO THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM LÀ MỘT VIÊC LÀM RẤT CẦNTHIẾT HIỆN NAY. 2.2.1 Option là một trong những biện pháp giúp tăng khả năng huy độngvốn trong và ngoài nước cho Việt Nam thông qua TTCK: Có thể ví công cụ option như là một tấm đệm hiệu quả cho một kế hoạchđầu tư. Vậy vì sao mà nó được ví như vậy? Thực tế, đã có nhiều nhà đầu tư bị thua lỗ trong thời gian qua, điển hình làcác nhà đầu tư cá nhân nhỏ ít vốn, phải cầm cố tài sản, phải đi vay và thiếu kinhnghiệm cũng như kiến thức đầu tư. Biểu đồ giao dịch trên thị trường cho thấy, khigiá cổ phiếu ở đỉnh cao nhất, là lúc có nhiều người mua vào nhất. Khi thị trường đixuống mạnh, họ đứng trước nguy cơ thua lỗ lớn, và phải bán tháo hàng loạt. Thịtrường lại càng xuống dốc hơn nữa. Câu hỏi đặt ra là liệu có biện pháp nào để phòng ngừa rủi ro hay bảo vệ lợinhuận cho các nhà đầu tư? Chứng khoán phái sinh là một giải pháp khá hữu hiệu được sử dụng từ lâutại các thị trường chứng khoán phát triển. Trên thế giới hiện nay, việc sử dụngcông cụ phái sinh đã trở nên rất phổ biến nhằm đa dạng hóa đầu tư, phòng ngừarủi ro và tạo lợi nhuận. Chứng khoán phái sinh (Hợp đồng phái sinh) là những công cụ được pháthành dựa trên cơ sở các chứng khoán gốc và giá trị của nó phụ thuộc vào sự biếnđộng giá của các chứng khoán gốc. Có bốn dạng phổ biến của chứng khoán pháisinh: Hợp đồng kỳ hạn (Forward), Hợp đồng quyền chọn (Options), Hợp đồngtương lai (Futures), Hợp đồng hoán đổi (Swaps). 32
  • 33. ***Tổng giá trị của công cụ phái sinh được sử dụng trên thị trườngOTC của thế giớiĐơn vị: tỷ Đôla Mỹ Công cụ Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng 6/2005 12/2005 6/2006 12/2006 6/2007 Kỳ hạn và 88 112 147 166 240 hoán đổi Quyền chọn 284 470 523 686 876 Một trong những công cụ phái sinh được nhiều nhà đầu tư chứng khoántrên thế giới quan tâm là quyền chọn (options), do đặc tính khá linh hoạt của côngcụ này. Nhà đầu tư có quyền thực hiện hoặc không thực hiện quyền mà mình đãmua hoặc bán. Quyền chọn là một công cụ bảo hiểm về giá khá hiệu quả trước sự biếnđộng mạnh của thị trường. Thị trường chứng khoán vốn chẳng bao giờ dễ dự đoán, điều đó càng đúngvới một thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ và chứa đựng nhiều yếu tốbất ổn như hiện nay. Gần đây, người ta nói nhiều về niềm tin của các nhà đầu tưvới TTCK Việt Nam, nhưng tạo niềm tin không phải là đảm bảo cho Index luônluôn đi lên (bất khả thi), mà thiết nghĩ cần tạo ra cho các nhà đầu tư những côngcụ tài chính cần thiết để bảo hiểm, để đa dạng hóa cách thức đầu tư, giảm rủi ro,và mở ra các cơ hội mới tìm kiếm lợi nhuận cho chính họ. Và sử dụng option thì nhà đầu tư sẽ an tâm hơn khi ra một quyết định đầutư vào các thị trường mà nhà đầu tư cảm thấy thích hợp và thực sự là thị trườngvừa qua đã chứng minh được điều đó. 2.2.2 Option giúp thu hút các nguồn vốn đến từ bên ngoài nước. Một điều không thể phủ nhận là Việt Nam đang trong quá trình tiến tới hộinhập với nền kinh tế thế giới một cách tòan diện và sâu sắc trên các lĩnh vực:thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm. Trong quá trình hội nhập, Việt 33
  • 34. Nam sẽ chắc chắn sẽ thu được những lợi ích kinh tế to lớn đồng thời cũng sẽ đốimặt với không ít khó khăn và thử thách. Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc mởrộng cửa hơn nữa với thế giới ở tất cả các lĩnh vực nhất là trong lĩnh vực kinh tếvà để gia nhập WTO thực sự đem lại lợi ích. Việt Nam cần xây dựng cho mìnhmột hệ thống pháp luật, khung pháp lý chặt chẽ nhằm đảm bảo một môi trườngđầu tư lành mạnh, cạnh tranh công bằng trong tất cả mọi ngành, mọi lĩnh vực. Riêng về lĩnh vực tài chính, khi gia nhập WTO, chúng ta phải gánh chịu sựcạnh tranh từ các tổ chức nước ngòai nhất là các tổ chức cung cấp các dịch vụ tàichính hiện đại. Bên cạnh vịệc mở cửa phát triển thị trường tài chính, Việt Nam cầnphải xem xét tìm ra cho mình một cơ cấu tài chính hợp lý. Một cơ cấu tài chínhhợp lý sẽ huy động các nguồn lực tài chính cần thiết cho quá trình phát triển kinhtế và phân bổ chúng tới những khu vực sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính này.Hơn thế nữa cơ cấu tài chính cũng có ảnh hưởng đáng kể tới sự ổn định kinh tếthông qua việc tạo ra các khoản nợ, tới việc thực hiện các mục tiêu xã hội thôngqua quá trình hình thành và phân phối thu nhập. Việt Nam đang tiến tới quá trình hội nhập với nền kinh thế giới như đã nóiở trên sẽ không tranh thủ được tối đa những lợi ích của việc hội nhập nếu khôngthể thu hút được tối đa và sử dụng hiệu quả nguồn vốn bên ngòai và công cụ tốtnhất để có thể huy động được những nguồn vốn khổng lồ ấy không khác gì hơn làthị trường chứng khóan. Để có thể thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài thamgia vào thị trường chứng khóan, ngòai những chính sách thóang và sạch, Việt Namcần phải quan tâm đến sản phẩm trên thị trường. Nếu chỉ có một số chứng khóan đang có hiện nay trên thị trường, việc thuhút được các nhà đầu tư nước ngoài là một điều khó khăn đã từ lâu, các thị trườngchứng khóan mang tầm vóc quốc tế trên thế giới đã cho ra rất nhiều sản phẩm pháisinh bên cạnh các sản phẩm chính thống của thị trường chứng khóan như các hợpđồng Option, Future, Forward, Swap…các công cụ này không chỉ làm phong phúthêm, đa dạng hóa thêm sản phẩm trên thị trường mà chúng còn là những công cụ 34
  • 35. rất hữu ích cho các nhà đầu tư trong việc phòng ngừa rủi ro biến động giá cả củachứng khoán, tỷ giá trên các thị trường tiền tệ cũng như chứng khóan. Đối với Việt Nam, Option đã được Chính phủ cho phép thực hiện tại mộtsố ngân hàng như: Eximbank.Citibank từ năm 2003 và hiện nay đã có 6 ngân hàngthực hiện nghiệp vụ này trong khi chưa hề có thị trường hối đoái chính thức nào.Lợi ích từ việc thực hiện Option tiền tệ đã cho thấy phần nào những lợi ích của cáccông cụ phái sinh ở nước ta. Vật tại sao chúng ta không xây dựng một Optionchứng khóan cho thị trường chứng khóan Việt Nam trong khi đã có sẵn một thịtrường chứng khóan hoạt động tương đối ổn định để thu hút các nguồn vốn đến từbên ngoài? 2.2.3 Các công cụ chứng khoán phái sinh đặc biệt là Option giúp thịtrường chứng khoán Việt Nam hoạt động một cách hiệu quả hơn trong việccổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Ngoài việc phát triển các công cụ chứng khoán phái sinh để thu hút nguồnvốn trong và ngoài nước ra, việc hình thành option cho thị trường chứng khóanViệt Nam một phần nào đó trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhànước, giúp thị trường chứng khóan họat động một cách thật hơn, mang tính thịtrường hơn. Có thể nhận thấy trong các thành phân kinh tế, các hình thức doanh nghiệpở nước ta hiện nay, tuy chiếm số lượng không nhiều nhưng công ty cổ phần là mộtloại hình doanh nghiệp họat động hiệu quả và có nhiều ưu điểm phù hợp với giaiđọan phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay nhất. Với ưu thế vốn được huy động từcác tầng lớp dân cư dưới hình thức cổ phần. Công ty cổ phần có đủ khả năng trangbị cho mình những dây chuyền sản xuất hiện đại và tiên tiến, áp dụng những côngnghệ hiện đại tạo ra những sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần giúp nó hoạt động hiệuquả hơn so với một số mô hình doanh nghiệp khác. Hiện nay, nhu cầu huy độngvốn từ bên ngoài của các công ty là rất lớn, để có thể thực hiện điều này, không cóloại hình nào hợp hơn là công ty cổ phần. Do đó, việc chuyển đổi loại hình doanh 35
  • 36. nghiệp nhất là doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần là một xuhướng, bước đi đang được khuyến khích hiện nay ở nước ta. Tuy nhiên, kể từ khi nước ta bắt đầu hình thành tiến trình cổ phần hóadoanh nghiệp nhà nước cho đến nay số lượng doanh nghiệp nhà nước được cổphần hóa vẫn còn rất ít, tiến trình cổ phần hóa cũng diễn ra chậm. Việc cổ phầnhóa diễn ra chậm phát sinh từ nhiều nguyên nhân, trong đó thị trường chứng khoánđóng vai trò không kém phần quan trọng. Để có thể đây nhanh được tốc độ cổphần hóa doanh nghiệp cả về số lượng lẫn chất lượng, thị trường chứng khóanViệt Nam cần phát huy tối đa vai trò định giá của mình.2.3 KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC TRONG VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁTTRIỂN OPTION CHO THI TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. Đối với những nước có một thị trường cổ phiếu tích cực, thì việc mở cửa thịtrường cho các nhà đầu tư nước ngoài là một bước đi quyết đoán đồng nghĩa vớiviệc chấp nhận các rủi ro gia tăng. Để có thể hạn chế bới những rủi ro cho các nhàđầu tư nước ngoài lẫn trong nước khi tham gia vào thị trường tài chính vốn rất dễđổ vỡ này, xây dựng Option cho thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là mộtgiải pháp. Tuy nhiên, đối với Việt Nam hiện nay, quá trình xây dựng các công cụphái sinh sẽ gặp không ít thách thức lớn phải kể đến trong số đó là : 2.3.1 Hạn chế về kinh nghiệm : Việt Nam chỉ mới bước vào vào nền kinh tế thị trường được hơn 15 năm,do vậy kiến thức và kinh nghiệm của chúng ta về thị thị trường vốn còn rất ít. Việcgiáo dục chuyên môn cũng như phổ cập những nhận thức chung trong các tầng lớpdân cư là một điều hết sức cần thiết, tạo tiền đề căn bản cho việc tạo lập và pháttriển một thị trường sản phẩm tài chính cao cấp. Thực tế cho thấy nhận thức củacông chúng về đầu tư thị trường chứng khoán còn rất hạn chế. Đối tượng có chút ítkiến thức về chứng khoán, thị trường chứng khoán chủ yếu là cán bộ công nhânviên trong các doanh nghiệp, các đơn vị. Tuy nhiên họ cũng chưa thấy hết được lợi ích khi tham gia thị trường chứngkhoán, thị trường chứng khoán vẫn còn là một thuật ngữ hết sức mới mẻ đối với 36
  • 37. đa số người dân Việt Nam. Công chúng đầu tư chưa quen, thậm chí còn khôngquan tâm đến thị trường. Họ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tâm lý, hành động theođám đông chứ không dựa trên những cân nhắc, phân tích chủ quan. Thị trường chứng khóan thiếu vắng các nhà đầu tư chuyên nghiệp như côngty quản lý quỹ, quỹ đầu tư. Hiện nay cũng có nhiều nhưng xét trên bình diệnchung vẫn rất ít. Các định chế tài chính khác thì đặt vấn đề an tòan vốn là trên hếtnên phần lớn chỉ tham gia vào đấu thầu trái phiếu chính phủ trên thị trường sơcấp. Chính sự thiếu hiểu biết của đại bộ phận nhà sản xuất, xuất nhập khẩu vàthậm chí của các nhà làm luật về lợi ích của thị trường chứng khóan cũng như cáccông cụ phái sinh của thị trường này là một trở ngại trong việc phát triển thịtrường hợp đồng quyền chọn ở nước ta . 2.3.2 Tính chủ động chưa cao: Hệ thống doanh nghiệp nhà nước còn mang nặng tư tưởng của cơ chế kếhọach hóa tập trung còn trông chờ vào nguồn vay ưu đãi, không muốn huy độngvốn thông qua thị trường chứng khóan với nhiều lý do như: năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp nhìn chung còn yếu, chính sách vĩ mô chưa tạo được độnglực khuyến khích doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Quy mô nhỏ, vốn ítlà đặc trưng của các doanh nghiệp tư nhân. Tiềm lực tài chính nhỏ nên năng lựccạnh tranh quốc tế thấp đó cũng là một trong số những nguyên nhân vô cùng quantrọng làm ảnh hưởng đến chất lượng chứng khoán niêm yết trên thị trường, nhữngsố liệu khả quan năm 2007 cho thấy 20% doanh nghiệp nhà nước làm ăn có lãithực sự, 40% không hiệu quả, bấp bênh và 40% còn lại thuộc diện thua lỗ triềnmiên ..Một thực tế có thể nhận thấy khá rõ ở các doanh nghiệp Việt Nam là khithua lỗ thường đổ lỗi do thị trường biến động theo hướng không thuận lợi trongkhi không tạo dựng cho mình những biện pháp phòng vệ riêng. Chính vì sự thiếuchủ động khi đối phó với các biến động thị trường của các doanh nghiệp như thếsẽ tạo ra không ít khó khăn khi đưa Option vào thị trường chứng khoán. 37
  • 38. 2.3.3 Tâm lý thị trường còn e ngại: Chính sự hạn chế về kinh nghiệm (và cả sự thiếu hiểu biết trên cũng làmphát sinh sự e ngại về việc các tổ chức đầu cơ quốc tế có thể lũng Đoạn thị trường,chẳng hạn bằng cách tạo cơn sốt ảo về giá để kiếm lời. Tâm lý chung của ngườiViệt Nam hiện nay chưa quen với thuật ngữ đầu cơ (speculation), thậm chí cònnhiều nhầm lẫn, đánh đồng đầu cơ và tiêu cực, trong khi việc phát triển thị trườngOption đòi hỏi phải có sự tham gia đông đảo của các nhà đầu cơ. Xét một cáchthực chất, họat động đầu cơ đóng vai trò như chất bôi trơn cần thiết của hoạt độngthị trường Option. Chính các nhà đầu cơ là những người chấp nhận rủi ro để kiếmlợi nhuận, góp phần quan trọng làm tăng tính thanh khỏan của thị trường và làmcho việc tham gia thị trường dễ dàng hơn, thu hút thêm nhiều người tham gia. Mặcdù vậy, trên thực tế có rất cơ sở cho sự e ngại này nếu xây dựng được một cơ chếhợp lý để vận hành và phát triển thị trường. Thực tiễn kinh nghiệm thế giới ngàynay đã minh chúng rằng khi thị trường phát triển đến một độ nhất định, sự lũngđoạn thị trường hiếm khi xảy ra và nếu có thì đa số các trường hợp sẽ được kếtthúc bằng sự thất bại của những tổ chức lũng đoạn thị trường. Bên cạnh đó, nhiềunghiên cứu thực nghiệm chứng minh rằng biến động giá cả trên thị trường giaongay thường giảm đi cùng với sự ra đời của thị trường các công cụ phái sinh. Biếnđộng giá cả thị trường tạo điều kiện hoạt động đầu cơ phát triển chứ không phảingược lại. 2.3.4 Hạn chế về pháp lý: Sự hạn chế về kinh nghiệm, tính chủ động chưa cao, tâm lý e ngại dẫn đếnchưa có một cơ chế pháp lý nào bào đảm sự ra đời và hoạt động lành mạnh của thịtrường công cụ phái sinh. Cũng chưa có quy định pháp lý nào cho phép các nhàsản xuất, các công ty xuất nhập khẩu được tham gia vào các giao dịch quản lý rủiro trên thị trường quốc tế. Thực tế Việt Nam cho thấy, việc xây dựng một môitrường pháp lý đồng bộ và lành mạnh vẫn luôn là một vấn đề bức xúc không chỉđối với hoạt động này mà còn đối với hầu hết các hoạt động kinh tế khác. 38
  • 39. Sự phức tạp trong khâu tổ chức: rõ ràng Option là một sản phẩm tài chínhcao cấp nên việc xây dựng và phát triển thị trường giao dịch các sản phẩm tàichính này là hòan toàn không phải là điều đơn giản, nhất là đối với một thị trườngchứng khóan có quy mô còn nhỏ bé và chưa mang tính chuyên nghiệp cao như thịtrường chứng khóan Việt Nam hiện nay. Kết LuậnTrong giai đọan công nghiệp hóa hiện nay, cơ cấu tài chính cần chuyển dịch theohướng dựa vào thị trường. Đối với một nền kinh tế thị trường chưa thật sự pháttriển như ở Việt Nam hiện nay, để có thể huy động đủ các nguùon lực tài chínhcần thiết và phân bổ chúng cho những đơn vị có hiệu suất sử dụng cao nhằm đạtđược các mục tiêu tăng trưởng đề ra trong khi khả năng quản ly thuế còn thấp,không thể không phát triển mạnh khu vực tài chính bao gồm các tổ chức tài chính,thị trường chứng khoán, các tổ chức đàu tư nước ngoài. Việc nâng cao hiệu quảhoạt động của thị trường chứng khoán phụ thuộc không chỉ từ sự quan tâm củanhà nước mà còn từ sự nhiệt tình tham gia của những người dân về số lượng vàchất lượng của các sản phẩm trên thị trường chứng khoán nhằm kéo họ về với thịtrường là một việc làm rất cần thiết. Một trong những sản phẩm thị trường chứngkhoán Việt Nam nên hình thành và phát triển chính đầu tiên trong quá trình đadạng hóa sản phẩm trên thị trường là Option chứng khóan với những ưu điểm nổitrội của nó so với các sản phẩm phái sinh khác . 39
  • 40. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG OPTIONChương III:CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆTNAM TỪ NAY ĐẾN NĂM 2013Trong đề tài này, nhóm chúng tôi xin được đề xuất việc xây dựng và đưaoption chứng khoán thực hiện từ nay đến năm 2013 xuất phát từ những điềukiện khách quan cũng như chủ quan như sau:  Thứ nhất, từ nhu cầu huy động vốn trên thực tế ;  Thứ hai, đến năm 2013, về cơ bản thị trường OTC đã được hình thành và phát triển;  Thứ ba, thị trường Future cho hàng nông sản Việt Nam hiện nay cũng đang được chính phủ quan tâm và đang trong bước đầu được nghiên cứu xây dựng đưa vào họat động trong thực tế.3.1 DỰ KIẾN BƯỚC ĐI HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG OPTION CHO THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. 3.1.1 Những nguyên tắc, quan điểm trong việ xây dựng Option cho thịtrường chứng khoán Việt Nam. Lộ trình tự do hóa các dịch vụ tài chính trong tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế là một vấn đề rất rộng lớn và phức tạp bao gồm mọi lĩnh vực. Trong quátrình đi vào xây dựng Option cho thị trường chứng khoán Việt Nam thì hơn baogiờ hết việc chuẩn bị sẳn sàng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo việc xây dựng vàphát triển một nền tài chính hiệu quả và an tòan. Trên quan điểm an toàn là trênhết, khi đi vào xây dựng nghiệp vụ Option thì chúng ta phải xét đến tính cơ độngcủa vốn trong dịch vụ tài chính tác động đến an ninh tài chính của quốc gia. Xây dựng Option trên quan điểm ưu tiên bảo vệ người đầu tư và kháchhàng: kinh nghiệm từ các nước đang phát triển cho thấy trong quá trình tự do hóatài chính, khi các sản phẩm tài chính trong nước chưa được đa dạng và phổ biếnthì vấn đề phổ cập những kiến thức cơ bản đến với người dân nhằm bảo vệ quyềnlợi cho các nhà đầu tư trở thành một vấn đề rất quan trọng và bức thiết. Option vốn 40
  • 41. là một sản phẩm tài chính cao cấp do đó nhà nước cần giúp các nhà đầu tư cũngnhư những người sử dụng Option trang bị cho mình một kiến thức cơ bản để nhậnthức được đầy đủ những rủi ro sẽ gặp phải khi sử dụng lọai sản phẩm này. Để cóthể làm được những công việc này đòi hỏi Chính phủ phải có những quy địnhthống nhất phù hợp với thông lệ quốc tế trong các vấn đề như lừa dối quyền tự docá nhân và tính minh bạch thông tin. Xây dựng Option đòi hỏi phải ổn định chính sách tiền tệ. Một chính sáchtiền tệ không nhất quán bên cạnh những bất cập về chính sách tài khóa có thểchâm ngòi cho một cuộc lạm phát. Trong điều kiện của các nước có nền kinh tếđang phát triển việc điều hành chính sách tỷ giá chưa được linh họat sẽ gây nênnhững tiền hàng cung cấp tín dụng bừa bãi chủ yếu là cho các ngành kinh doanhbất động sản với lãi suất thấp. Điều này làm cho giá bất động sản tăng cao, kéotheo giá tiêu dùng của tòan bộ nền kinh tế tăng lên. Khi nên kinh tế bong bóng đổvỡ thì hoạt động ngân hàng là nơi đầu tiên gánh chịu nhiều thiệt hại nhất bởi lẽ hệthống ngân hàng sẽ gánh chịu nhiều các khỏan nợ xấu. Trong tình huống này nàycó khả năng dẫn đến một cuộc khủng hoảng toàn diện trong hệ thống ngân hàng vàtrong cả nền kinh tế - một vòng tiền tệ lẫn quẫn - chính sách tiền tệ lỏng lẽo, lạmphát, khủng hỏang trong hệ thống ngân hàng luôn luôn tồn tại mà khó tìm ra đượclối thoát. Muốn xây dựng một chính sách tiền tệ ổn định Chính phủ phải đảm bảocác điều kiện tiên quyết sau: +Phải đưa các yếu tố thị trường để điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô.Thay thế những kiểm soát tiền tệ trực tiếp sang gián tiếp như các nghiệp vụ thịtrường mở, tái chiết khấu, hoán đổi ngoại tệ. +Lãi suất phải được tự do hóa từng bước theo một trình tự thận trọng. Đầutiên là quy tắc lãi suất thực dương, sau đó là tự do hóa lãi suất tiền gửi, lãi suấttheo nguyên tắc thỏa thuận. Lộ trình tự do hóa lãi suất phảo đồng hành với trình tựđiều hành chính sách tỷ giá một cách linh họat hơn nữa . 3.1.2 Dự kiến các bước đi hình thành thị trường Option từ nay đến năm2013 41
  • 42. Quá trình xây dựng Option có thể chia làm ba giai đọan : 3.1.2.1 Giai đọan 1: Chuẩn bị các cơ sở khoa học thực tiễn cần thiết đểhình thành Option , thời gian dự kiến của giai đọan này là 1 năm từ 2008-2009 Như đã nói ở trên, Option là một loại sản phẩm tài chính rất phức tạp. Vìvậy, trước khi đưa Option ra thị trường chứng khoán, UBCKNN cũng như các banngành liên quan cần phải chuẩn bị một cơ sở pháp lý khá chặt chẽ và hợp lý để cóthể kiểm sóat được tình hình đưa Option ra thị trường .Để có thể xây dựng mộtkhung pháp lý chặt chẽ và hợp lý, Chính phủ và nhà nước cần tham khảo vànghiên cứu các chính sách trong từng giai đoạn thích hợp của các nước có bốicảnh kinh tế cũng như chính trị tương tự như Việt Nam để có thể rút ra cho mìnhnhững bài học kinh nghiệm cũng như từ đó đề ra những chính sách mang tính thựctiễn và thống nhất, không cần phải sửa đổi nhiều lần khi được thực thi. 3.1.2.2 Giai đọan 2: Xây dựng, vận hành thử và hòan thiện thêm các trungtâm giao dịch. Thời gian dự kiến của giai đọan này là 2009-2011 Trong giai đọan này, Nhà nước và Chính phủ cần thực hiện những công táccần thiết nhất để phổ cập những kiến thức cơ bản về các nghiệp vụ kinh doanhOption đến mọi tầng lớp nhân dân. Việc phổ cập kiến thức cần tiến hành một cáccó kế hoạch và theo một trình tự hợp lý. Đối tượng đầu tiên nhà nước cần quantâm đến là các nhà đầu tư hiện đang tham gia trên thị trường chứng khoán, cáccông ty chứng khoán, những nhà môi giới chứng khoán và những thành viên, nhânviên khác trong bộ máy quản lý nhà nước có liên quan đến thị trường chứng khoán.Việc xây dựng, vận hành thử và hòan thiện các trung tâm giao dịch mới là mộttrong những biện pháp cần thiết để có thể đưa Option nói riêng và các giao dịchchứng khoán trên thị trường chứng khoán nói chung được gần gũi hơn với côngchúng. Trọng tâm của giai đoạn này là cần cố gắng bằng mọi cách đưa Optioncũng như các sản phẩm khác trên thị trường chứng khoán đến với khách hàng, dođó cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn nghiệp vụ, giao dịch thử cũng như 42
  • 43. tổ chức các cuộc thi chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp đến các nhà đầu tưkhông chuyên và quan trọng nhất là tầng lớp sinh viên. 3.1.2.3 Giai đọan 3: Tiếp tục nâng cao và hòan thiện thêm kỹ thuật vậnhành cũng như cơ sở pháp lý cho họat động của Option trước khi được đưara kinh doanh trên thị trường từ năm 2011-2013 Trong giai đọan này, Chính phủ và Nhà nước cần tích cực quan tâm đếnviệc sữa đổi, bổ sung các cơ sở pháp lý, luật thuế, điều kiện tham gia kinh doanh,mua bán Option trên thị trường cũng như các thủ tục hành chính về quản lý ….Sựđiều chỉnh bổ sung này cần được tạo ra từ những kinh nghiệm trong quá trình vậnhành thực tế của giai đoạn hai. Chỉ những luật được xây dựng dựa trên thực tế phátsinh mới có thể cho được một hiệu quả tốt khi được đưa ra thực thi trên thị trường.3.2 NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNGOPTION. Để có thể xây dựng và phát triển thị trường Option, cần có những yêu cầu cơbản sau: Đảm bảo tính cạnh tranh cao trên thị trường. Phát triển khả năng chuẩn hóa mặt hàng cơ sở. Tính thanh khảon của thị trường. Để có thể đáp ứng được những yêu cầu cơ bản trên, Việt Nam cần thiết phảilập cho mình một kế họach hành động cụ thể với những bước đi thận trọng và cẩnthận. Dưới đây chúng tôi xin được đề xuất một số công tác thị trường chứng khoánViệt Nam nhất phải làm để có thể phát huy được vai trò và nhiệm vụ của mìnhtrong việc huy động và phân phối các nguồn lực tài chính.3.3 ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC XÂY DỰNG OPTION CHOTHỊ TRƯỜNG CHỨNG KHÓAN VIỆT NAM TỪ NAY ĐẾN NĂM 2013. 3.3.1 Nâng cao tính cạnh tranh của thị trường chứng khóan Việt Nam. Một trong những động thái cần làm trước mắt là Việt Nam phải đưa thịtrường chứng khoán trở thành một thị trường mang tính cạnh tranh cao và côngbằng, việc làm này cũng là nhằm đáp ứng được yêu cầu cơ bản đâu tiên ở trên. Để 43
  • 44. có thể thực hiện được yêu cầu này cần thiết phải đưa thị trường chứng khoán ViệtNam đi vào xu thế hội nhập. Ngày nay, các thị trường tài chính trên thế giới đã và đang nhanh chóng hộinhập thành một thị trường toàn cầu duy nhất. Dù đang ở vạch xuất phát nào, dichuyển theo những tốc độ ra sao thì tất cả đều bị lôi cuốn vào tiến trình hội nhậptài chính. Thị trường chứng khoán - một bộ phận của thị trường tài chính cũngkhông nằm ngòai xu thế này. Được xem là một cấu trúc hạ tầng của nền kinh tế thị trường, đồng thời làmột ngành kinh tế, bản thân thị trường chứng khoán là một sản phẩm du nhập.Đây là một chuyên ngành có thực tế đúc kết từ hàng trăm năm, được vận hànhtheo quy chuẩn cao. Nó hiện thân đồng thời với sự xuất hiện của loại hình công tycổ phần (công ty cổ phần đại chúng). Mục tiêu, đối tượng phục vụ nơi đâu cũnggiống nhau dù ở Mỹ hay Trung Quốc. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc xxây dựng thị trường các côngcụ phái sinh trong đó có Option là việc hết sức cần thiết. Tuy nhiên với quy mô thịtrường còn nhỏ bé như hiện nay, để xây dựng Option cho thị trường chứng khoánViệt Nam thì việc làm cấp bách đầu tiên là phải nâng cao tính cạnh tranh của thịtrường, tăng cung kích cầu cho thị trường, làm cho thị trường sôi động thu hút cácnhà đầu tư trong và ngoài nước từng bước đưa thị trường chứng khoán hòa mìnhvào dòng chảy của thị trường tài chính trong khu vực Đông Nam Á nói riêng vàChâu Á nói chung được coi là giải pháp tối ưu nhất. Chúng ta cần đưa thị trườngchứng khoán Việt Nam vào quỹ đạo của hội nhập với những sự chuẩn bị sau:  Các tổ chức phát hành phải tự chuẩn bị chu đáo và tích cực các điều kiện để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh thông qua các chiến lược đổi mới công nghệ, chiến lược đầu tư và tổ chức quản lý để khi mở cửa thị trường vốn, mục tiêu huy động vốn cho phát triển các daonh nghiệp phải được ưu tiên nhất. Rút bài học kinh nghiệm của khủng khoảng kinh tế năm 1997, chúng ta cần tránh để không bị rơi vào khủng hoảng nợ, khuyến khích các doanh nghiệp thu hút vốn dài hạn ở thị trường tài 44
  • 45. chính quốc tế hơn là thu hút vốn nước ngòai ngắn hạn từ thị trường trong nước. Khuyến khích người Việt Nam dùng hàng Việt Nam, nhưng phải là hàng chất lượng cao. Muốn như vậy các định chế tài chính phải được củng cố vững mạnh và có công nghệ hiện đại đủ sức cạnh tranh với các dịch vụ tài chính và các định chế tài chính nước ngoài ở Việt Nam.  Nhà nước một mặt hỗ trợ thị trường chứng khoán trong nước, như khuyến khích vay dài hạn trong nước, hạn chế vay nước ngoài, mặt khác thông qua thông qua ngân hàng nhà nước kiểm soát luồng vốn vào ra cũng như giám sát chặt chẽ ngăn chặn từ xa việc đầu cơ quốc tế.  Thi hành chính sách tỷ giá và đồng tiền chuyển đổi thận trọng vừa đủ mức kinh họat cho thị trường chứng khoán Vệt Nam phát triển và đảm bảo được sự ổn định và kiểm soát được lưu lượng vốn trong và ngoài nước.  Phối hợp họat động với các chương trình giám sát nhằm củng cố và tăng cường thị trường vốn .  Cải thiện cơ cấu quản lý, tính minh bạch và công khai thông tin tài chính của các công ty thành viên.  Thiết lập cơ chế niêm yết chế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thị trường vốn ASIAN.  Tạo thuận lợi cho tiến trình chu chuyển vốn qua đầu tư biên giới.  Thúc đẩy chứng khoán hóa, thiết lập mạng lưới cộng tác viên và hợp tác giữa các trung tâm nghiên cứu đào tạo với các thành viên ASIAN.  Chuẩn bị khuôn khổ cho việc phát triển thị trường trái phiếu ASIAN. 3.3.2 Tạo nhận thức thị trường Vấn đề tạo nhận thức về thị trường ở đây được đề cập trên hai khía cạnh:tạo nhận thức về thị trường chứng khoán và tạo nhận thức về sản phẩm phái sinhtrên thị trường chứng khoán. 3.3.2.1 Tạo nhận thức về thị trường chứng khóan 45
  • 46. Như đã nói ở trên, một trong những khó khăn trước mắt của thị trườngchứng khoán Việt Nam hiện nay là vấn đề về sự hiểu biết của đa số tầng lớp dâncư về thị trường chứng khoán. Một thị trường chứng khoán sẽ không thể pháttriển được nếu như có quá ít người quan tâm và tham gia vào thị trường. Có thểnói nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự thờ ơ của người dân đối vói thị trường chứngkhoán Việt Nam chủ yếu bắt đầu từ một số lý do sau:  Thứ nhất, người dân không tin tưởng vào việc đầu tư trên thị trường chứng khoán. Sư không tin tưởng bắt đầu từ tâm lý thận trọng vốn có của dân tộc Việt Nam, bên cạnh đó thì mức độ hiểu biết về các công cụ dịch vụ tài chính hiện đại của người dân Việt Nam cũng là một nguyên nhân khiến người dân không tin vào thị trường. Nếu nhìn lại quá khứ ta có thể dễ dàng nhận thấy hình thức cất trữ tiền bạc mà người dân Việt Nam hay sử dụng phổ biến nhất vẫn là vàng và đôla. Việc đem gửi tiền ngân hàng chỉ thật sự phổ biến khoảng hơn 10 năm gần đây, còn đối với thị trường bảo hiểm thì chỉ cần 5 năm gần đây mới tạo được sự tin tưởng của người dân.  Thứ hai, tỷ suât sinh lợi trên thị trường chứng khoán Việt Nam gần đây chưa thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Có thể nói tâm lý thận trọng là tâm lý vốn có cúa người Việt Nam, tuy nhiên trong thực tế vẫn rất nhiều nhà đầu tư thích tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh đầy rủi ro nhưng đem lại lợi nhuận cao. Những người này không chọn các hình thức đầu tư an toàn, họ sẵn sàng gia nhập một thị trường đầy biến động để thi thố tài năng của mình. Do đó để thu hút được thu hút được những nhà đầu tư này cần tạo ra một thị trường các sản phẩm phái sinh. 3.3.2.2 Tạo nhận thức về sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm phái sinh trênthị trường chứng khoán. Thị trường tài chính ở đây chính là thị trường giao dịch các công cụ tàichính phái sinh, là những sản phẩm tài chính hiện đại hình thành và giao dịch dựa 46
  • 47. trên nền tảng giao dịch các tài chính cơ sở như hàng hóa, ngoại tệ, chứng khoán,và các chỉ số chứng khoán. Vì các công cụ tài chính phái sinh là các sản phẩm giaodịch trên thị trường giống như các sản phẩm khác, muốn tung ra thị trường phảitạo được nhận thức của người tiêu dùng về loại sản phẩm đó. 3.3.2.3 Đánh thức tâm lý đầu tư của các tầng lớp dân cư Hầu như tâm lý của người Việt Nam đều sợ rủi ro, do đó nếu tạo được thịtrường phái sinh thì sẽ tạo cho họ một công cụ để phòng ngừa rủi ro từ đó pháttriển thị trường. 3.3.3 Tăng cung - kích cầu trên thị trường chứng khoán. 3.3.3.1 Tiếp tục đây mạnh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhànước. Việc đẩy mạnh một cách có chất lượng các doanh nghiệp nhà nước cổ phầnhóa sẽ thúc đẩy hơn nữa sự tham gia của các nhà đầu tư, khi đó nguồn cung của thịtrường sẽ dồi dào tạo ra sự lựa chọn đa dạng cho nhà đầu tư. 3.3.3.2 Khuyến khích phát triển các công ty cổ phần Giải pháp này tạo điều kiện cung cứng hàng hóa cho thị trường chứngkhoán và số lượng hàng hóa này sẽ được phân bổ rộng rãi cho các tầng lớp dân cư,giúp thị trường giao dịch thường xuyên và sôi động hơn. 3.3.3.3 Có chính sách khuyến khích, thu hút nhiều loại hình doanhnghiệp, nhất là tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia niêmyết trên thị trường chứng khoán. Việc đưa càng nhiều doanh nghiệp lên niêm yết một mặt vừa tăng cung chothị trường vừa đảm bảo cho thị trường phái sinh phát triển . 3.3.3.4 Mở rộng hoạt động của các quỹ đầu tư trên thị trường tàichính, tăng cường đào tạo nhân lực cho thị trường chứng khoán, thúc đẩyphát triển thị trường OTC và thị trường Future cho nông sản Việt Nam. Các giải pháp này phải tiến hành đồng bộ và nhất quán với nhau. Vì phạmvi nghiên cứu đề tài có hạn nên nhóm chúng tôi không đi sâu vào phân tích từng 47
  • 48. giải pháp. Đây là những giải pháp cơ bản và cần thiết để phát triển thị trườngOption. Kết Luận Với các biện pháp được kiến nghị chúng ta hoàn toàn tin rằng nghiệp vụOption có thể sớm thực hiện ở thị trường chứng khoán Việt Nam. Cái lợi của thịtrường các công cụ phái sinh trong đó có Option là điều mà ai cũng thấy đượcnhưng làm sao để đưa vào vận hành ở thị trường chứng khoán Việt Nam thì thiếtnghĩ cần có sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành, các nhà đầu tư. Đặc biệt cầnphải coi trọng yếu tố con người trong vận hành thị trường tài chính vì con người làyếu tố quan trọng nhất làm nên thành công. 48
  • 49. TÀI LIỆU THAM KHẢO1. “Giáo trình phân tích và đầu tư chứng khoán”, PGS.TS BÙI THỊ KIÊMYẾN.(năm 2007)2. “Giáo trình thị trường chứng khoán”, PGS.TS BÙI KIÊM YẾN(năm2007)3. “The Stock Option Nightmare”, Thomas G.Donlan-Barron”s(2/2004)4. “Tài chính doanh nghiệp hiện đại”, PGS.TS Trần Ngọc Thơ, NXBTHỐNG KÊ năm 20075.Và các trang web: www.vietstock.com.vn www.phantichcophieu.vn www.wikipedia.com www.optionmarket.com www.investopedia.com www.fed.org/onlinemag/july03/comentary www.ssc.gov.vn 49
  • 50. 50