Lời cam kết        Sinh viên : Phạm Thị Thu Mai        Lớp      : KDQT 43      Em xin cam đoan đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh...
Danh mục các bảng                                                                                                         ...
Danh mục các hình                                                                  TrangHình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của...
Mở đầu      1. Lý do chọn đề tài.      Ngành dệt may là ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của nước tanhằm xây dựng nền ...
3. Đối tượng nghiên cứu      Nghiên cứu giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may củaCông ty sang thị trường Mỹ.     ...
Chương I             Lý luận chung về xuất khẩu và sự cần thiết           phải tăng cường xuất khẩu hàng dệt may của      ...
Hoạt động ngoại thương bao gồm hoạt động xuất khẩu và hoạt độngnhập khẩu :      Xuất khẩu là đem các hàng hoá và dịch vụ d...
xuất cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới. Đâylà một trong những yếu tố thúc đẩy sản xuất ph...
2.2. Đối với các doanh nghiệp      Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty. Mục đíchcủa các công ty khi ...
3. Các hình thức xuất khẩu.      3.1. Xuất khẩu trực tiếp.      Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của cô...
- Đại lý: Là các cá nhân hay tổ chức đại diện cho nhà xuất khẩu thựchiện một hay một số hoạt động nào đó ở thị trường nước...
- Đại lý vận tải: Là các công ty thực hiện dịch vụ thuê vận chuyển vànhững hoạt đông liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá...
trị tương đương nên rất phức tập. Vì vậy hiện nay phương thức này hạn chế sửdụng.        - Mua bán đối lưu: Là việc một cô...
3.4.Xuất khẩu tại chỗ.    Là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá không qua biên giới quốc gia màthường là xuất khẩu vào khu vự...
khẩu. Với những mặt hàng bị hạn chế xuất khẩu thì nếu xuất khẩu thì phải xingiấy phép ở các cấp có thẩm quyền.      4.2.Đô...
+ Nhà xuất khẩu sẽ phải cung cấp thông tin về loại hàng vận chuyển,thể tích bao bì…      + Hai bên thoả thuận cước phí của...
- Trình bộ hồ sơ cùng hải quan kiểm hoá ký biên bản và ký vào tờ khaikiểm hoá được thông quan.      4.6.Giao hàng lên phươ...
5.Các biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.      Quá trình kinh doanh luôn đặt ra cho chúng ta rất nhiề...
tận dụng tối đa năng lực sản xuất của mình để mở rộng quy mô sản xuất, làmgia tăng sản lượng sản xuất cung ứng cho nhu cầu...
Phát triển công nghệ được thực hiện bằng nhiều con đường như: tựnghiên cứu và phát triển, nhận chuyển giao công nghệ, mua ...
5.1.3.Chất lượng sản phẩm        Chất lượng là một trong các yếu tố quan trọng tạo lên ưu thế cạnh tranhcủa sản phẩm. Chất...
Ngoài các giải pháp trên, các doanh nghiệp xuất khẩu nên chú ý dặc biệtthời điểm giao hàng. Doanh nghiệp thực hiện điều nà...
- Các tổ chức quốc tế như niên giám thống kê về thương mại quốc tế doliên hợp quốc tế phát hành.      - Các tổ chức chính ...
doanh nghiệp nhanh chóng tìm kiếm được cơ hội kinh doanh và phát hiện rỉuro sớm để né tránh rủi ro thành công.      5.2.2....
5.3.Các giải pháp khác      5.3.1.Giải pháp về vốn.      Nguồn vốn là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh củ...
suất lao động thấp. Năng suất lao động là yếu tố tác động trực tiếp đến khốilượng hàng hoá được tạo ra. Năng suất lao động...
II. Đặc điểm ngành dệt may và các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩuhàng dệt may      1.Đặc điểm ngành dệt may.      ...
Chính vì thế mà hầu hết các quốc gia muốn đẩy mạnh xuất khẩu đều cócác chính sách ưu đãi thuế quan cho các doanh nghiệp.  ...
2.4.Tỷ giá hối đoái.      Khi xuất khẩu, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến mức cầu đối với sảnphẩm của Công ty. Nếu đồng tiền ...
doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài. Chính vì vậy, cả doanh nghiệp và nhànước cần đầu tư cải thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật...
2.Mỹ là thị trường có nhu cầu lớn đối với hàng dệt may.      Với dân số trên 280 triệu người, thu nhập bình quân đầu người...
mà đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ làgì?      Thứ nhất, sự tăng số lượng và giá trị hàng d...
Chương IIthực trạng xuất khẩu hàng dệt may của công ty xuất nhập khẩu dệt may                            sang thị trường m...
2.Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty xuất nhập khẩu dệt may.         2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty                   Hình...
+ Chăm lo đời sống của cán bộ công nhân viên trong Công ty.        + Truyền đạt các thông tin nội bộ của Công ty.        -...
- Đăng ký kinh doanh và kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký phùhợp với mục tiêu và nhiệm vụ của Công ty.      - Xây dựng...
( Xuất nhập khẩu các hàng Dệt may, các chủng loại xơ sợi, vải hàngmay mặc, dệt kim, chỉ khâu, khăn bông...      ( Hàng nôn...
H × 2.2: K i m ng¹ ch xu t kh È h µng d Ö m ay cña c«ng                       nh                           u        t     ...
việc tìm kiếm thị trường mới đặc biệt là thị trường Mỹ, cũng như kinh nghiệm      kinh doanh xuất khẩu.                  2...
may mặc chính của công ty nhưng các tiêu chuẩn cho hàng may mặc là khắtkhe nên công ty đã chuyển hướng sang thị trường Mỹ ...
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng của Công ty VinateximexMặt hàng        Năm 2000            Năm 2001           ...
Châu Âu, Châu á, Châu Phi ồ ạt đổ vào đây tạo nên một Hợp Chủng QuốcHoa Kỳ. Chính vì vậy, dân cư ở đây rất đa dạng về sắc ...
Trong mặt hàng dệt may, người Mỹ khá dễ tính trong việc lựa chọn cácsản phẩm may nhưng lại khó tính đối với các sản phẩm d...
không đẹp không ngon. Vì vậy, hệ thống phân phối cần đảm bảo được điềunày.       Nói chung, khác hẳn với thị trường Nhật- ...
giày dép, túi sách trên khắp cả nước. Lấy giá cả làm yếu tố thu hút khách hànglà chiến lược của các công ty bán hàng giảm ...
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n

534
-1

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
534
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
4
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Tr­êng §¹i häc kinh tõ quèc d©n

  1. 1. Lời cam kết Sinh viên : Phạm Thị Thu Mai Lớp : KDQT 43 Em xin cam đoan đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt maycủa Công ty Xuất nhập khẩu dệt may sang thị trường Mỹ ” là do em tựtìm tài liệu và tự viết dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Anh Minh và sựgiúp đỡ của Công ty Xuất nhập khẩu dệt may. Ký tên 1
  2. 2. Danh mục các bảng TrangBảng 2.1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty XNK dệt may....... 34Bảng 2.2: KNXK theo mặt hàng của Công ty XNK dệt may.......36Bảng 2.3: KNXK hàng dệt may của Công ty sang thị trường Mỹ................. 49Bảng 2.3: KNXK hàng dệt may của Công ty sang thị trường Mỹ........................... 49Bảng 2.5: KNXK hàng dệt may của Công ty sang thị trrường Mỹ theo phươngthức xuất khẩu.................................................................................................52 2
  3. 3. Danh mục các hình TrangHình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty........30Hình 2.2: KNXK hàng dệt may của Công ty XNK dệt may......... 33Hình 2.3: KNXK hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ.......... 48 3
  4. 4. Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài. Ngành dệt may là ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của nước tanhằm xây dựng nền kinh tế hướng ra xuất khẩu. Và thị trường Mỹ là thịtrường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam. Hơn nữa, từ đầu nămnay Mỹ đã xoá bỏ hạn ngạch dệt may cho 150 quốc gia là thành viên củaWTO, Hiệp định dệt may Việt Mỹ đã hết hiệu lực đã tạo ra những thách thứcmới cho ngành dệt may Việt Nam. Thêm vào đó, trong quá trình thực tập tại Công ty Xuất nhập khẩu dệtmay, em nhận thấy hàng dệt may của Công ty xuất khẩu sang thị trường Mỹđạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các thị trường xuất khẩu của Công ty.Từ một thị trường rất nhỏ với KNXK là 4.230 USD năm 2000( chiếm 0,06%Tổng KNXK của Công ty) đến năm 2004 đã vươn lên là thị trường đứng thứhai sau Nhật Bản với KNXK là 2.476.359 USD( chiếm 31,2% tổng KNXKcủa toàn công ty. Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động kinhdoanh xuất khẩu sang thị trường này vẫn có những tồn tại ảnh hưởng đến khảnăng xuất khẩu của Công ty . Trước thực tế trên, em đã lựa chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp:“Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Công ty XNK dệt maysang thị trường Mỹ” 2.Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Công ty XNK dệtmay sang thị trường Mỹ, đặc điểm thị trường Mỹ, các chính sách ảnh hưởngđến dệt may từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệtmay của Công ty sang thị trường Mỹ. 4
  5. 5. 3. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may củaCông ty sang thị trường Mỹ. 4.Phạm vi nghiên cứu Lĩnh vực xuất khẩu của Công ty XNK dệt may sang thị trường Mỹ.Đề tài này gồm ba chương:Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu và sự cần thiết phải tăng cườngxuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường Mỹ.Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Công ty XNK dệtmay sang thị trường Mỹ.Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may củaCông ty XNK dệt may sang thị trường Mỹ trong thời gian tới. Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúpđỡ tận tình của thầy Nguyễn Anh Minh. Thầy đã giúp em cách nhìn nhận vấnđề một cách rõ ràng và lôgic, giúp em tiếp cận vấn đề một cách khoa học. Emxin chân thành cảm ơn thầy đã hướng dẫn em để em hoàn thành đề tài này. Em cũng xin chân thành cảm ơn phòng Kinh doanh tổng hợp - Công tyXNK dệt may đã giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu công việc kinh doanhtrên thực tế và tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài này.Em xin chân thành cảm ơn! 5
  6. 6. Chương I Lý luận chung về xuất khẩu và sự cần thiết phải tăng cường xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp việt nam vào thị trường Mỹ I.Tổng quan về xuất khẩu. 1. Khái niệm xuất khẩu. Xuất khẩu là hoạt động ngoại thương đầu tiên giữa các quốc gia trên thếgiới nhằm khai thác lợi thế của mình với các quốc gia khác. Trải qua nhiềunăm đến nay xuất khẩu vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động ngoạithương của mỗi quốc gia. Vậy xuất khẩu là gì? Xuất khẩu được hiểu là hoạt động đưa các hàng hoá và dịch vụ từ quốcgia này sang quốc gia khác nhằm thu lợi nhuận. Dưới giác độ kinh doanh,xuất khẩu là việc bán các hàng hoá và dịch vụ giữa quốc gia này với quốc giakhác, còn dưới giác độ phi kinh doanh (làm quà tặng hoặc viện trợ khônghoàn lại) thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hoá và dịch vụqua biên giới quốc gia. Xuất khẩu là hình thức xâm nhập thị trưòng nước ngoài ít rủi ro và chiphí thấp nhất. Với các nước có trình độ kinh tế thấp như các nước đang pháttriển thì xuất khẩu đóng vai trò rất lớn đối với nền kinh tế và đối với cácdoanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu. 2. Vai trò của xuất khẩu. 2.1. Đối với nền kinh tế. Hoạt động ngoại thương là hoạt động nhằm khai thác những lợi thế vàkhắc phục những bất lợi trong cơ cấu nền kinh tế. Vì vậy, đây là nhân tố cótác động đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế các quốc gia. 6
  7. 7. Hoạt động ngoại thương bao gồm hoạt động xuất khẩu và hoạt độngnhập khẩu : Xuất khẩu là đem các hàng hoá và dịch vụ dư thừa hoặc là có lợi thếhơn để bán cho các nước khác làm cho các bên đều có lợi và làm tăng quy mônền kinh tế thế giới. Còn nhập khẩu là mua hàng hoá và dịch vụ từ các quốcgia khác để khắc phục những yếu kém trong khoa học, công nghệ, quản lý,…hay là đáp ứng nhu cầu mà nền kinh tế trong nước không đáp ứng đựơc. Chính vì vậy, xuất khẩu và nhập khẩu là hai hoạt đông hỗ trợ cho nhauđể cùng thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Trongđó xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu. Xuất khẩu đem lại nguồn thu choquốc gia và cho doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn quan trọng để tái đầu tư vàocác lĩnh vực khác dặc biệt là nhập khẩu, vì ở các nước đặc biệt là các nướcđang phát triển nhu cầu nhập khẩu máy móc và thiết bị lớn nên nhu cầu vềvốn lớn. Mà xuất khẩu mang lại nguồn vốn sở hữu cho quốc gia nên quốc giasẽ chủ động hơn và sẽ không phụ thuộc vào các khoản đầu tư của nước ngoàiđể có thể nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ đáp ứng yêu cầu của quá trinh pháttriển nền kinh tế. Không chỉ vậy, xuất khẩu còn tác động làm chuyển dịch cơ cấu nềnkinh tế và phát triển sản xuất. Sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế sẽ đi từhướng chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế màcông nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn. Sở dĩ như vậy là xuất khẩu sẽ khaithác lợi thế so sánh của quốc gia mình. Do vậy, quốc gia đó sẽ tập trung vàosản xuất những sản phẩm và cung cấp những sản phẩm có lợi trên quy mô lớn(quy mô sản xuất công nghiệp). Điều này dẫn đến, cơ cấu kinh tế sẽ chuyểnhướng sang ngành công nghiệp (trong đó có công nghiệp xuất khẩu) mang lạinhững lợi ích nhiều hơn nhiều nông nghiệp. Còn phát triển sản xuất thể hiện ởcác điểm: Khi tập trung cho xuất khẩu thì phải có sự đầu tư cho khoa học- kỹthuật cũng như trình độ quản lý sản xuất kinh doanh để nâng cao năng lực sản 7
  8. 8. xuất cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới. Đâylà một trong những yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển. Xuất khẩu tạo ra khả năng thị trường tiêu thụ cũng như cung cấp đầuvào cho sản xuất nhằm khai thác tối đa năng lực sản xuất trong nước phục vụnhu cầu của thị trường. Ngoài ra, xuất khẩu còn tạo điều kiện cho các ngành liên quan pháttriển. Vì sản xuất là chuỗi hoạt động tính móc xích với nhau cho nền pháttriển của ngành này sẽ kéo theo sự phát triển của ngành khác. Ví dụ ngànhdệt may xuất khẩu sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành phụ trợ như: trồngbông, nuôi tằm, ngành sản xuất bao bì, nhuộm… Xuất khẩu làm tăng dự trữ ngoại tệ. Nguồn ngoại tệ thu về lớn hơn (haycán cân thanh toán thặng dư) là điều kiện để duy trì sự ổn định của tỷ giá hốiđoái theo hướng có lợi cho xuất khẩu nhưng lại không tổn hao đến nhập khẩuvì vậy sẽ tạo điều kiện phát triển kinh tế. Xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn, việc làm. Hoạt động xuất khẩucàng được đẩy mạnh và không ngừng phát triển về quy mô thì sẽ càng thu hútđược nhiều lao động, như vậy xuất khẩu đã tạo việc làm cho người lao độnggiúp người lao động có thu nhập chính đáng và nâng cao đời sống. Xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoạicủa đất nước. Xuất khẩu là hoạt ra đời sớm nhất trong các hoạt động kinh tế,khi có hoạt động xuất khẩu thì các nước sẽ có quan hệ với nhau trên cơ sở cácbên đều có lợi. Do vậy các quốc gia sẽ xây dựng các quan hệ kinh tế nhằmđẩy mạnh hoạt động này. Hai hoạt động này có mối quan hệ qua lại với nhauvà dựa vào nhau để phát triển. Do đó, các quốc gia sẽ chú trọng phát triểnđồng thời để đảm bảo sự cân xứng tạo điều kiện để phát triển nhanh nhất. Nói chung, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tếcủa các quốc gia, do vậy các quốc gia đều chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu để khaithác tối đa lợi ích của hoạt động này trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 8
  9. 9. 2.2. Đối với các doanh nghiệp Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty. Mục đíchcủa các công ty khi thực hiện hoạt động xuất khẩu là: Tăng doanh số bán hàng: Khi thị trường trong nước trở lên bão hoà thìxuất khẩu là hoạt động làm tăng doanh số bán hàng của công ty khi mở rộngthị trường quốc tế. Đa dạng hoá thị trường đầu ra: Đa dạng hoá thị trường đầu ra sẽ giúpcho công ty có thể ổn định luồng tiền thanh toán cho các nhà cung cấp. Việcđa dạng hoá thị trường sẽ tạo ra nguồn thu cho công ty và từ nguồn thu nàycông ty có thể đầu tư tiếp để tiếp tục đa dạng hoá thị trường tránh sự phụthuộc quá mức vào một thị tường nào đó hay tạo điều kiện và thuận lợi chothị trường đầu vào của doanh nghiệp. Thu được các kinh nghiệm quốc tế: Các nhà kinh doanh và nhà quản lýsẽ tham gia kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh và các nhà quản lý hoạtđộng trong những môi trường kinh tế xã hội, kinh tế, chính trị khác nhau.Điều này đòi hỏi các nhà kinh doanh quản lý phải học hỏi, do đó kiến thứccủa họ sẽ phong phú hơn và qua quá trình hoạt động lý luận sẽ được kiểmchứng trong thực tế. Do vậy, họ sẽ tích luỹ được kiến thức và kinh nghiệmhoạt động của mình qua quá trình kinh doanh quốc tế. Trong đó hoạt độngxuất khẩu là hoạt động mang lại kinh nghiệm với chi phí và rủi ro thấp nhất. Tóm lại, xuất khẩu là hoạt động kinh doanh quốc tế ra đời sớm nhất vàcó chi phí cũng như rủi ro thấp nhất. Do đó, đây là hoạt ở các quốc gia kinhdoanh quốc tế chủ yếu của các công ty ở các quốc gia đang phát triển (vì yếutố về vốn, về công nghệ, về con người còn yếu kém nên xuất khẩu là biệnpháp hữu hiệu nhất trong các hoạt động kinh doanh quốc tế. Xuất khẩu là hoạtđộng đơn giản nhất trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Do đó các giao dịchvà chi phí rủi ro khi có sự biến động về môi trường chính trị, kinh tế, văn hoáxã hội…sẽ thấp nhất so với các hoạt động khác. 9
  10. 10. 3. Các hình thức xuất khẩu. 3.1. Xuất khẩu trực tiếp. Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của công ty cho cáckhách hàng của mình ở nước ngoài. Thông qua hoạt động xuất khẩu trực tiếp, công ty sẽ đáp ứng nhanhchóng và phù hợp nhu cầu của khách hàng ở trong nước và qua đó công tycũng kiểm soát được yếu tố đầu ra của sản phẩm để điều chỉnh yếu tố đầu vàođể mang lại lợi ích cao nhất. Hai hình thức mà công ty sử dụng để thâm nhập thị trường quốc tế quaxuất khẩu trực tiếp là: - Đại diện bán hàng: Là hình thức bán hàng mà người bán không mangdanh nghĩa của mình mà lấy danh nghĩa của người khác (người uỷ thác) nhằmnhận lương và một phần hoa hồng trên cơ sở giá trị hàng hoá bán được. Do đóhọ không phải chịu trách nhiệm chính về mặt pháp lý. Nhưng trên thực tế, đạidiện bán hàng hoạt động như là nhân viên bán hàng của công ty của thị trườngnước ngoài. Công ty sẽ ký hợp đồng trực tiếp với khách hàng ở thị trườngnước đó. - Đại lý phân phối là người mua hàng hoá, dịch vụ của công ty để bántheo kênh tiêu thụ ở khu vực mà công ty phân định . Công ty khống chế phạmvi, kênh phân phối ở thị trường nước ngoài. Còn đại lý phân phối sẽ chịu tráchnhiệm toàn bộ rủi ro liên quan đến việc bán hàng ở thị trường đã phân định vàthu lợi nhuận qua chênh lệch giữa giá mua và giá bán. 3.2. Xuất khẩu gián tiếp: Là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thôngqua trung gian( thông qua người thứ ba). Các trung gian mua bán khôngchiếm hữu hàng hoá của công ty mà trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hoá sangthị trường nước ngoài. Các trung gian xuất khẩu như: đại lý, công ty quản lýxuất nhập khẩu và công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. 10
  11. 11. - Đại lý: Là các cá nhân hay tổ chức đại diện cho nhà xuất khẩu thựchiện một hay một số hoạt động nào đó ở thị trường nước ngoài do người ủythác uỷ quyền dựa trên quan hệ hợp đồng đại lý. Đại lý là người thiết lập quan hệ hợp đồng giữa các công ty và kháchhàng ở thị trường ở thị trường nước ngoài. Đại lý không có quyền chiếm hữuvà sở hữu hàng hoá mà chỉ thực hiện một hay một số công việc nào đó chocông ty uỷ thác và nhận thù lao. - Công ty quản lý xuất khẩu: Là các công ty nhận uỷ thác và quản lýcông tác xuất khẩu hàng hoá hoạt động trên danh nghĩa của công ty xuất khẩu.Vì vậy, công ty quản lý xuất khẩu là nhà xuất khẩu gián tiếp. Họ chỉ đảmnhận các thủ tục xuất khẩu và thu phí xuất khẩu. Do vậy, bản chất của công tyquản lý xuất khẩu là thực hiện dịch vụ quản lý và thu khoản thù lao từ hoạtđộng đó. - Công ty kinh doanh xuất khẩu: Là công ty hoạt động như nhà phânphối độc lập có chức năng kết nối các khách hàng nước ngoài với các công tyxuất khẩu trong nước để bán hàng hoá ra thị trường nước ngoài. Bản chất củacông ty kinh doanh xuất khẩu là thực hiện các dịch vụ xuất khẩu nhằm kết nốicác khách hàng nước ngoài với công ty xuất khẩu. Ngoài ra với ưu thế về vồn, mối quan hệ và chính sách vận chuyển nêncông ty còn đảm nhận việc cung ứng các dịch vụ xuất nhập khẩu và thươngmại đối lưu, thiết lập và mở rộng kênh phân phối, tài trợ cho các dự án thươngmại và đầu tư, thậm trí trực tiếp thực hiện sản xuất để bổ trợ một công đoạnnào đó cho sản phẩm như: bao gói, in ấn. Các công ty kinh doanh xuất khẩucó kinh nghiệm về thị trường nước ngoài và có đội ngũ chuyên gia làm dịchvụ xuất khẩu lên có thể cử các chuyên gia này đến hỗ trợ cho các công ty xuấtkhẩu. Công ty kinh doanh xuất khẩu có doanh thu từ doanh nghiệp xuất khẩuvà tự chịu chi phí cho hoạt động của mình. 11
  12. 12. - Đại lý vận tải: Là các công ty thực hiện dịch vụ thuê vận chuyển vànhững hoạt đông liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá như khai báo thuếquan, áp biếu thuế quan, thực hiện giao nhận, chuyên chở và bảo hiểm. Đại lývận tải thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu và kinh doanh nhiều loại hình dịchvụ giao nhận hàng hoá đến tay người nhận. Khi xuất khẩu qua các đại lý vậntải hay các công ty chuyển phát hàng thì các đại lý vận tải và các công ty đókiêm luôn các dịch vụ xuất khẩu liên quan đến hàng hoá đó. Về bản chất, các đại lý vận tải hoạt động như các công ty kinh doanhdịch vụ giao nhận, vận chuyển và dịch vụ xuất nhập khẩu, thậm chí cả dịchvụ bao gói hàng hoá phù hợp với phương thức vận chuyển mua bảo hiểm hànghoá cho hoạt động của họ. 3.3. Buôn bán đối lưu: Kinh doanh xuất khẩu, các công ty xuất nhập khẩu cũng gặp phải vấnđề khó khăn trong vấn đề thanh toán hoặc yêu cầu nhập khẩu hàng hóa củachính đối tác nên công ty xuất khẩu lựa chọn hình thức buôn bán đối lưu. Vậybuôn bán đối lưu là gì? Buôn bán đối lưu được hiểu là phương thức mua bántrong đó hai bên trực tiếp trao đổi các hàng hoá hay dịch vụ có giá trị tươngđương với nhau. Bản chất của buôn bán đối lưu là hoạt động xuất khẩu gắnliền với nhập khẩu. Ưu điểm của hình thức buôn bán đối lưu là giúp cho các công ty ít sửdụng ngoại tệ mạnh để thanh toán nên tiết kiệm được chi phí và hạn chế sựảnh hưởng bất lợi của tỷ giá hối đoái. Xét về khía cạnh thâm nhập thị trường quốc tế có các hình thức buônbán đối lưu sau: - Đổi hàng: Là hình thức trong đó các bên cùng trực tiếp trao đổi hànghoá, dịch vụ này lấy hàng hoá và dịch vụ khác. Xuất khẩu theo hình thức nàythì các công ty xuất khẩu đưa hàng hoá của mình ra thị trường nước ngoàinhưng đồng thời lại nhận từ thị trưòng nước ngoài hàng hoá và dịch vụ có giá 12
  13. 13. trị tương đương nên rất phức tập. Vì vậy hiện nay phương thức này hạn chế sửdụng. - Mua bán đối lưu: Là việc một công ty giao hàng hoá và dịch vụ chokhách hàng ở nước ngoài với cam kết sẽ nhận một số lượng hàng hoá xácđịnh trong tương lai từ khách đó ở nước ngoài. - Mua bồi hoàn: Là hình thức trong đó một công ty xuất khẩu cam kếtsẽ mua lại hàng hoá của khách hàng có giá trị tương đương với khoản màkhách hàng đã bỏ ra. Với hình thức này công ty xuất khẩu không phải xácđịnh loại hàng cụ thể phải mua bồi hoàn trong tương lai nhưng giá trị và đồngtiền thanh toán trong đơn đặt hàng của các công ty xuất khẩu phải tươngđương với giá trị hàng hoá mà công ty đã xuất đi. - Chuyển nợ: Là hình thức mà công ty xuất khẩu có trách nhiệm camkết đặt hàng từ phía khách hàng nước ngoài của công ty cho một công tykhác. Thực chất này hình thức này giúp các công ty xuất khẩu chuyển nhượngtrách nhiệm phải mua những mặt hàng không phù hợp với năng lực kinhdoanh của mình cho các công ty khác có điều kiện hơn. Như vậy các công tyxuất khẩu sẽ dễ dàng tách hoạt động bán hàng với hoạt động mua hàng đểthâm nhập thị trường nước ngoài. Và hiệu quả kinh doanh sẽ tốt hơn khi tráchnhiệm mua hàng từ khách hàng nước ngoài của công ty xuất khẩu đượcchuyển nhượng cho các công ty khác có năng lực kinh doanh mặt hàng đó tốthơn. - Mua lại: Là hình thức mua bán đối lưu trong đó công ty xuất khẩu bánmột dây chuyền hay thiết bị máy móc cho khách hàng ở thị trường nước ngoàivà nhận mua lại sản phẩm được sản xuất từ dây chuyền máy móc đó. Hìnhthức này được sử dụng phổ biến trong các nghành công nghiệp chế biến 13
  14. 14. 3.4.Xuất khẩu tại chỗ. Là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá không qua biên giới quốc gia màthường là xuất khẩu vào khu vực công nghiệp dành riêng cho các công ty kinhdoanh, người nước ngoài. Hình thức nàygiảm chi phí đáng kể do không mất chi phí thuê phương tiệnvận tải, thuê bảo hiểm hàng hoá, không chịu chi phí rủi ro khác như chính trị,các biến động về kinh tế…do vậy lợi nhuận sẽ tăng lên. 3.5.Tái xuất khẩu. Là việc xuất khẩu những hàng hoá đã nhập khẩu vào nước mình nhưngchưa qua chế biến. Các hình thức tái xuất. - Tái xuất: Là hình thức mà nước tái xuất nhập hàng về nước mình vàxuất sang nước khác đã thông qua thông quan xuất khẩu. - Chuyển khẩu: Là hình thức mà nước chuyển khẩu chỉ thu tiền từ nướcnhập khẩu và thanh toán cho nước xuất khẩu còn hàng hoá sẽ xuất khẩu trựctiếp từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu, hay nhập khẩu về của khẩu củanước mình nhưng chưa thông quan đã tiến hành xuất khẩu sang nước khác. 3.6.Xuất khẩu theo nghị định thư. Là hình thức xuất khẩu hàng hoá theo chương trình đã được ký kết theonghị định thư của hai chính phủvà thường là chương trình trả nợ giữa haichính phủ. Hình thức này đảm bảo khả năng thanh toán. 4.Quy trình xuất khẩu. 4.1.Xin giấy phép. Xuất khẩu mang lại những lợi ích cho các quốc gia nên thường thì cácquốc gia khuyến khích xuất khẩu. Tuy nhiên có một số mặt hàng đặc biệt nhưvũ khí, chất nổ, độc dược, các nguyên vật liệu khan hiếm và các mặt hàngthiết yếu ảnh hưởng đến cơ cấu nền kinh tế thì bị hạn chế xuất khẩu hay nhập 14
  15. 15. khẩu. Với những mặt hàng bị hạn chế xuất khẩu thì nếu xuất khẩu thì phải xingiấy phép ở các cấp có thẩm quyền. 4.2.Đôn đốc xin xác nhận thanh toán. Để đảm bảo khả năng thanh toán, nhà xuất khẩu phải đôn đốc nhà nhậpkhẩu thực hiện nghĩa vụ trả tiền hay xác nhận thanh toán để làm bằng chứngvà cam kết cho quá trình thực hiện hợp đồng. Nghĩa vụ này có thể tiến hànhtrước hoặc song song với nghĩa vụ xin giấy phép xuất khẩu. Khi có giấy phépxuất khẩu và xác nhận thanh toán thì mới đủ điều kiện để bước vào thực hiệnhợp đồng xuất khẩu ở các khâu sản xuất, gia công, thu gom hàng hoá. 4.3.Chuẩn bị hàng xuất. Sau khi xin xác nhận thanh toán, công ty xuất khẩu tiến hành chuẩn bịhàng xuất để đảm bảo tiến độ giao hàng đúng thời hạn. Công ty phải chuẩn bị nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất theo lôhàng xuất khẩu, tiến hành tổ chức sản xuất, gia công, chế biến, kiểm tra, đónggói theo đúng yêu cầu của hợp đồng. Hay có thể công ty liên hệ với các đơn vị sản xuất kinh doanh khác đểđặt hàng xuất khẩu đảm bảo chất lượng hàng hoá và tiến độ giao hàng. 4.4.Mua bảo hiểm và thuê vận tải ( nếu có ). 4.4.1.Thuê vận chuyển. Nếu trách nhiệm thuê vận chuyển thuộc về nhà xuất khẩu thì nhà xuấtkhẩu phải thực hiện những nghĩa vụ sau: - Liên hệ với hãng tàu hay đại lý vận tải nhằm lấy lịch trình các chuyếntàu vận chuyển. - Điền vào mẫu đăng ký thuê vận chuyển để thông báo nhu cầu vậnchuyển. Từ đó, đại lý vận tải mới cung cấp đúng nhu cầu của công ty và đảmbảo lịch trình giao hàng của công ty. - Ký hợp đồng thuê vận tải. 15
  16. 16. + Nhà xuất khẩu sẽ phải cung cấp thông tin về loại hàng vận chuyển,thể tích bao bì… + Hai bên thoả thuận cước phí của hàng hoá, thời gian giao nhận, cácđiều kiện thưởng phạt do chậm trễ… - Hai bên thống nhất địa điểm, thời gian tiến hàng giao nhận và thanhtoán cước phí. 4.4.2.Mua bảo hiểm. Trong một số hợp đồng xuất khẩu, người ta phải thực hiện nghĩa vụmua bảo hiểm. - Khi mua bảo hiểm trước tiên phải liên hệ với một công ty bảo hiểmnhằm thu thập thông tin và lấy mẫu đơn xin mua bảo hiểm. - Điền thông tin vào đơn và gửi tới công ty bảo hiểm Sau các nghiệp vụ trên công ty xuất khẩu sẽ ký kết hợp đồng mua bảohiểm với công ty bảo hiểm. 4.5.Làm thủ tục hải quan. Khi xuất khẩu hàng hoá các doanh nghiệp xuất khẩu thường phải làmthủ tục hải quan ở nước mình để tiến hành hoạt động xuất khẩu, chỉ trừ một sốtrường hợp đặc biệt thì người xuất khẩu mới không phải làm thủ tục hải quankhhi tiến hành xuất khẩu hàng hoá. Quy trình làm thủ tục hải quan. - Mua tờ khai hải quan (tờ khai xuất hàng) - Kê khai thuế quan kèm theo bộ chứng từ hàng hoá do chính ngườixuất khẩu lập. - Mang tờ khai đến khai đến cửa khẩu thông quan hàng hoá nộp và xindấu chấp nhận tờ khai. - Đăng ký thời gian và lịch trình cho việc chuẩn bị kiểm tra hàng hoá. 16
  17. 17. - Trình bộ hồ sơ cùng hải quan kiểm hoá ký biên bản và ký vào tờ khaikiểm hoá được thông quan. 4.6.Giao hàng lên phương tiện vận chuyển. Đối với hàng xuất khẩu nhà xuất khẩu phải tập kết hàng theo đúng quyđịnh tại địa điểm đã xác định trong quy định trong điều kiện và cơ sở giaohàng theo thông báo của hãng vận chuyển. - Sau khi giao hàng lên phương tiện vận chuyển phải có ký xác nhậnvới chủ phương tiện hay đại lý vận tải. Nếu giao hàng trực tiếp cho hãng tàuthì lấy biên lai thuyền phó, nếu giao cho đại lý thì lấy giấy biên nhận của đạilý. - Đổi giấy biên nhận lấy vận đơn làm chứng từ thanh toán. 4.7.Làm thủ tục thanh toán. Muốn thanh toán được tiền hàng nhà xuất khẩu phải chuẩn bị đủ vàđúng bộ chứng từ theo như quy định hay cam kết. Thông thường, bộ chứng từ bao gồm những chứng từ cơ bản sau: - Hoá đơn thương mại. - Phiếu đóng gói. - Vận đơn thương mại. - Các giấy chứng nhận số lượng, chất lượng, do nhà sản xuất hay mộtcơ quan có thẩm quyền cấp. - Giấy chứng nhận xuất xứ. - Thông báo giao hàng, giấy biên nhận gửi hàng. 4.8.Giải quyết khiếu nại ( nếu có ). Sau khi hoàn tất các thủ tục giao hàng tới khách hàng. Nếu có đơnkhiếu nại, khiếu kiện thì nhà xuất khẩu phải giải quyết khiếu nại, khiếu kiện. 17
  18. 18. 5.Các biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Quá trình kinh doanh luôn đặt ra cho chúng ta rất nhiều biện pháp đểgiải quyết các tình huống kinh doanh và đưa hoạt động kinh doanh có hiệuquả. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cũng vậy, nhiệm vụ hàng đầu là đềra các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu sao cho hiệu quả đạt đựơc cao nhất và hạnchế khả năng rủi ro về chi phí. Vậy biện pháp thúc đẩy xuất khẩu của doanhnghiệp được hiểu như thế nào? Có thể hiểu biện pháp thúc đẩy xuất khẩu là cách thức mà doanh nghiệpáp dụng để tăng cường hoạt động xuất khẩu ra thị trường nước ngoài và manglại những lợi ích cho doanh nghiệp hơn nữa trong tương lai. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia kinh doanh trên thị trườngđều phải tính đến lợi ích mà hoạt động kinh doanh mang lại. Chính vì vậy,doanh nghiệp xuất khẩu muốn thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cầc phải chútrọng các nhóm giải pháp sau. 5.1.Nhóm giải pháp liên quan tới cung. Quy luật kinh tế trong kinh doanh là quy luật cung cầu.Với một doanhnghiệp xuất khẩu điều đầu tiên phải chú trọng tới là khả năng cung ứng hànghoá cho thị trường, nhất là khi muốn thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá ra thịtrường nước ngoài. Muốn vậy doanh nghiệp phải tính đến việc mở rộng quymô sản xuất, đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, đa dạng hoásản phẩm và cải tiến mẫu mã sản phẩm cũng như giảm giá thành cho đảm bảokhả năng cạnh tranh. 5.1.1Quy mô sản xuất. Quy mô sản xuất của doanh nghiệp là khả năng sản xuất ra số lượnghàng hoá trong giới hạn khả năng về vốn, nhân lực và công nghệ của doanhnghiệp. Đôi khi, doanh nghiệp chưa có quy mô sản xuất phù hợp với năng lựcsản xuất. Do vậy, trước khi muốn thúc đẩy xuất khẩu thì doanh nghiệp phải 18
  19. 19. tận dụng tối đa năng lực sản xuất của mình để mở rộng quy mô sản xuất, làmgia tăng sản lượng sản xuất cung ứng cho nhu cầu thị trường. Khi mở rộng quy mô sản xuất, doanh nghiệp phải huy động sự đầu tưvề vốn, nhân lực, công nghệ. Doanh nghiệp cần tuyển thêm lao động quản lýcũng như lao động trực tiếp sản xuất. Hai bộ phận này phải kết hợp với nhautạo nên sự thống nhất trong các khâu từ lập kế hoạch tới sản xuất. Tuy nhiên,có nguồn nhân lực tốt chưa đủ, bên cạnh nguồn nhân lực một yếu tố rất quantrọng cho quy trình sản xuất sản phẩm là trang thiết bị máy móc. Do đó,doanh nghiệp cần phải đầu tư vào trang thiết bị máy móc nhà xưởng, nguyênvật liệu đầu vào. Có như vậy các doanh nghiệp mới tạo được sự thống nhấttrong nội bộ để phản ứng với những biến động trên thị trường mà sản phẩmhiện đang và sẽ có mặt. Nhưng không có nghiã là mở rộng quy mô bằng mọicách. 5.1.2.Công nghệ sản xuất Sự phát triển về khoa học kỹ thuật kéo theo sự phát triển về công nghệđã đưa loài người có những thành tựu vượt bậc trong tất cả các lĩnh vực đặcbiệt là lĩnh vực sản xuất. Công nghệ sản xuất ngày càng đang đóng vai tròquan trọng trong quá trình sản xuất trực tiếp của các quốc gia. Công nghệ sảnxuất được hiểu là tất cả các yếu tố dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra. Với vai trò ngày càng lớn, công nghệ sản xuất sẽ đem lại cho doanhnghiệp ưu thế cạnh tranh so với các đối thủ khác. Công nghệ càng cao, cànghiện đại thì hiệu quả sản xuất càng lớn. Công nghệ bao gồm bốn yếu tố: trangthiết bị, kỹ năng con người, thông tin và tổ chức. Do vậy, muốn phát triểncông nghệ doanh nghiệp phải phát triển đồng đều trên tất cả các yếu tố, trongđó yếu tố con người được đánh gía là quan trọng nhất: bởi vì con người đóngvai trò là trung tâm của sự phát triển và tạo ra sự liên kết giữa các yếu tố. 19
  20. 20. Phát triển công nghệ được thực hiện bằng nhiều con đường như: tựnghiên cứu và phát triển, nhận chuyển giao công nghệ, mua bán, cho tặng…Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần chú ý đến các thuộc tính của công nghệnhư tính hệ thống, tính sinh thể, tính đặc thù về mục tiêu và địa điểm, tínhthông tin để phát triển công nghệ một cách hợp lý mang lại hiệu quả cao nhấtcho doanh nghiệp.Và đối với doanh nghiệp xuất khẩu thị trường thế giới vớinhiều đối thủ cạnh tranh doanh nghiệp cần đánh giá được trình độ công nghệsản xuất của họ và xác định được vị trí của mình trên thương trường để cóhướng phát triển công nghệ phù hợp với khả năng( tức là sự hài hòa của bốnyếu tố trang thiết bị, kĩ năng của con người, thông tin và tổ chức) nhưng lạiđáp ứng được một đoạn thị trường mục tiêu cho các sản phẩm đầu ra. Hiện nay, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp xuất khẩu ViệtNam còn lạc hậu, nên phát triển công nghiệp chủ yếu qua con đường chuyểngiao công nghệ. Ngay cả khi nhận chuyển giao công nghệ, một số doanhnghiệp còn chưa đủ khả năng và thông tin để đánh giá hết các thuộc tính củacông nghệ. Ví dụ: đối với tính hệ thống, hầu hết các doanh nghiệp Việt Namđều cho rằng có trang thiết bị hiện đại là đã có công nghệ hiện đại, nhưng họđã lầm. Trang thiết bị hiện đại mà tài năng của con người không được đápứng thì nó cũng chỉ là máy móc thiết bị chết mà thôi. Hay đối với tính sinhthể, một số doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được công nghệ nhập vềđang ở giai đoạn nào trong chu kỳ sống của nó nên thường hay nhập khẩucông nghệ lạc hậu khiến Việt Nam trở thành bãi rác thải công nghiệp. Nhưngtrong tình hình kinh tế- xã hội, khoa học- kỹ thuật hiện nay của Việt Nam thìnhận chuyển giao công nghệ vẫn là hướng đi chính để phát triển công nghệcho các doanh nghiệp, chỉ có điều là khi nhận chuyển giao công nghệ thì cácdoanh nghiệp phải chú ý đến các yếu tố và các thuộc tính của công nghệ. 20
  21. 21. 5.1.3.Chất lượng sản phẩm Chất lượng là một trong các yếu tố quan trọng tạo lên ưu thế cạnh tranhcủa sản phẩm. Chất lượng sản phẩm cao phải đặt trong mối quan hệ với giácả, mẫu mã và các các dịch vụ của doanh nghiệp khi kinh doanh trên thịtrường. Sản phẩm có chất lượng cao, giá cả, mẫu mã phù hợp với thị trườngmục tiêu sẽ tạo ra ưu thế, uy tín riêng của doanh nghiệp về sản phẩm củamình. Các doanh nghiệp xuất khẩu muốn thúc đẩy xuất khẩu thì phải tập trungvào việc nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể cạnh tranh với các sản phẩmcủa các nước khác trên thế giới. Nâng cao chất lượng sản phẩm gắn liền vớisự phát triển công nghệ của doanh nghiệp, và đặc biệt là với yếu tố chi phí.Nâng cao chất lượng với chi phí tối thiểu cho phép là biện pháp mà doanhnghiệp nào cũng muốn nhưng để thực hiện nó là cả một vấn đề. Hiện nay hướng đi cho các doang nghiệp xuất khẩu là áp dụng hệ thốngtiêu chuẩn chất lượng quốc tế để khẳng định chất lượng sản phẩm của mình vàkiểm soát chặt chẽ chi phí sản xuất để đưa ra giá cả hợp lý cho sản phẩm đápứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng 5.1.4.Đa dạng hoá mặt hàng Con người luôn thích đổi mới. Vì vậy, họ cũng luôn luôn thích tiêudùng các sản phẩm đa dạng về mẫu mã chủng loại. Dựa vào tâm lý này, cácdoanh nghiệp cũng cần đa dạng hoá bằng cách tạo nhiều mẫu mã hay sử dụngnhiều chất liệu khác nhau để tạo ra sự khác biệt và phong phú cho sản phẩm.Và để đẩy mạnh công tác này các doanh nghiệp chú trọng nhất đến năng lựccủa đội ngũ thiết kế mẫu mã sản phẩm. Do vậy, đầu tư có hiệu quả nhất đốivới các doanh nghiệp là đào tạo và phát triển đội ngũ thiết kế kết hợp vớicông tác điều tra, nghiên cứu thị trường, xác định xu hướng tiêu dùng để tạo rađược sản phẩm làm hài lòng khách hàng. 21
  22. 22. Ngoài các giải pháp trên, các doanh nghiệp xuất khẩu nên chú ý dặc biệtthời điểm giao hàng. Doanh nghiệp thực hiện điều này sẽ tạo uy tín cho kháchhàng, tạo mối quan hệ lâu dài và mối quan hệ làm ăn 5.2.Các giải pháp liên quan đến cầu 5.2.1.Nghiên cứu mở rộng thị trường Trước khi kinh doanh trên bất kỳ thị trường nào, các doanh nghiệp đềuphải thực hiện các nghiên cứu về thị trường đó. Nghiên cứu thị trường là việcthu thập thông tin và xử lý thông tin giúp các nhà kinh doanh ra quyết định. Môi trường kinh doanh quốc tế ngày càng cạnh tranh gay gắt. Vì vậy,các doanh nghiệp cần thực hiện các nghiên cứu trên thị trường nước ngoài mộtcách thận trọng và tỷ mỷ để đưa ra các quyết định chính xác hơn. Thêm vàođó nó còn giúp các nhà kinh doanh hoạch định các chiến lược Marketing khiđã hiểu rõ hơn về nhu cầu của thị trường hiện tại cũng như tương lai. Khi nghiên cứu thị truờng nước ngoài các doanh nghiệp cần quan tâmđến các yếu tố: quy mô thị trường, tốc độ tăng trưởng, sức mạnh thị trường,khả năng tiêu dùng, kênh phân phối, các vấn đề về luật pháp liên quan đếnnhập khẩu hàng hoá vào thị trường đó. Qua đó, doanh nghiệp xác định đâu làthị trường trọng điểm mà doanh nghiệp nên tập trung mở rộng, những khókhăn và thuận lợi mà doanh nghiệp gặp phải khi kinh doanh. Tiếp đó, doanhnghiệp cần xem xét cụ thể các vấn đề như: đối tượng phục vụ, đặc điểm tiêudùng của thị trường này, khả năng tiêu dùng của các đối tượng, các đối thủcạnh tranh… để xác định được đoạn thị trường mục tiêu trong thị trường trọngđiểm. Để có được các kết luận trên các doanh nghiệp cần có những thông tin.Thông tin có thể được tổng hợp từ nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp. Thôngtin thứ cấp là những thông tin đã được công bố. Các doanh nghiệp có thể thuthập thông tin này từ: 22
  23. 23. - Các tổ chức quốc tế như niên giám thống kê về thương mại quốc tế doliên hợp quốc tế phát hành. - Các tổ chức chính phủ thường cung cấp các thông tin về quy địnhxuất nhập khẩu, các tiêu chuẩn chất lượng, quy mô thị trường. - Các hiệp hội thương mại và thương nghiệp như hiệp hội Pasta,Onionphát hành các ấn phẩm nhằm cập nhật các sự kiện giúp các nhà kinh doanhquốc tế tìm kiếm cơ hội kinh doanh và né tránh rủi ro. - Các tổ chức dịch vụ cung cấp thông tin dịch vụ về văn hoá và các điềukiện về tài chính. Internet và trang web cập nhật các thông tin về thị trườngnhư: giá cả sản phẩm, mặt hàng, các chiến lược marketing. Thông tin sơ cấp là những thông tin chưa được công bố. Các nhà kinhdoanh sử dụng loại thông tin này để hiểu sâu hơn về thị trường mà thông tinthứ cấp mang lại. Các doanh nghiệp có được thông tin này bằng cách tự thu thập hoặcthuê các thông tin điều tra thị trường. Các phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: - Qua hội chợ và các phái đoàn thương mại để đánh giá được về đối thủ cạnh tranh, sản phẩm và xác định được cơ hội kinh doanh. - Phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn nhóm cho phép các doanh nghiệp đánhgiá được hành vi, thái độ của người tiêu dùng. - Các cuộc điều tra: là nghiên cứu thông tin về người tiêu dùng thông qua việc sử dụng bảng câu hỏi viết. Phương pháp này cho phép thu thập được khối lượng thông tin lớn. - Quan sát môi trường: Là quá trình liên tục thu thập, phân tích, xử lý thông tin cho các mụctiêu chiến lược và chiến thuật. Nó cho phép thu thập các thông tin chi tiết vềmôi trường kinh doanh mà công ty đang hoạt động hay sắp thâm nhập. Đây làphương pháp phức tạp nhất vì thông tin được cập nhật liên tục nên giúp chô 23
  24. 24. doanh nghiệp nhanh chóng tìm kiếm được cơ hội kinh doanh và phát hiện rỉuro sớm để né tránh rủi ro thành công. 5.2.2.Xúc tiến, quảng bá về sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trườngnước ngoài Người tiêu dùng sẽ mua sản phẩm của bạn nếu như họ biết đến tên tuổicủa bạn. Bởi vậy, khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài, các doanh nghiệpcần tạo ra hình ảnh riêng biệt về sản phẩm của mình, giới thiệu nó đến vớingười tiêu dùng. Niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệplà yếu tố thúc đẩy lượng tiêu dùng tăng lên. Do đó, nó là điều kiện tốt để mởrộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Các biện pháp mà doanh nghiệp thường áp dụng để tiến hành xúc tiến,quảng bá sản phẩm của mình: - Tham gia các hội chợ, triển lãm. - Quảng cáo sản phẩm, hình ảnh qua các phương tiện như: qua báo chí,truyền hình, qua mạng. - Tài trợ cho các hoạt động xã hội. - Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về sản phẩm, về doanh nghiệp. - Khuyến mại sản phẩm và tổ chức dùng thử sản phẩm tại nơi côngcộng hoặc tại gia đình. - Thông qua hệ thống kênh phân phối nước sở tại để quảng bá sản phẩmvà hình ảnh của mình. Có thể nói hoạt động xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm xây dựngthương hiệu, quảng bá thương hiệu của công ty trên thị trường thế giới. Điềunày giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp khi môi trường cạnhtranh ngày càng gay gắt. 24
  25. 25. 5.3.Các giải pháp khác 5.3.1.Giải pháp về vốn. Nguồn vốn là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, muốn thúc đẩy xuất khẩuthì cần vốn để mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vào công nghệ, nâng cao chấtlượng sản phẩm, đa dạng hoá mặt hàng và để đầu tư cho nghiên cứu mở rộngthị trường, cho công tác xúc tiến và quảng bá sản phẩm, hình ảnh của côngty…Tóm lại, vốn cần cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghịêp. Nhưng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp lại có hạn nên doanh nghiệpcần huy động nguồn vốn bên ngoài để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu củamình. Nguồn vốn bên ngoài có thể huy động từ các ngân hàng, các tổ chức tíndụng trong nước và ngoài nước, từ các quỹ hay từ người dân. Có vốn rồi thì việc quan trọng là phải sử dụng nguồn vốn như thế nàocho hiệu quả như: đạt vòng quay của vốn nhanh, tỷ suất lợi nhuận trên vốncao và hạn chế rủi ro, thất thoát về vốn. Có như vậy doanh nghiệp mới đảmbảo hiệu quả kinh doanh và mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trường. 5.3.2.Về nhân lực. Con người vừa là người thực hiện vừa là mục tiêu của các hoạt độngkinh doanh. Vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách nhân lực đúng đắn tạonên lợi thế cạnh tranh của mình. Doanh nghiệp cần có chính sách tuyển dụng,đào tạo và phát triển hợp lý để bồi dưỡng nguồn nhân lực. Vấn đề tuyển dụng nhân lực: Các doanh nghịêp cần lên kế hoạch xácđịnh xem doanh nghiệp thiếu và yếu ở bộ phận nào, có cần thiết phải tuyểndụng bên ngoài không? Trong vấn đề sử dụng nhân lực, các doanh nghiệp cần quan tâm đếnmột vấn đề hết sức quan trọng đó là năng suất lao động. Đây là vấn đề mà rấtnhiều doanh nghiệp Việt Nam không chú ý đến khi sử dụng nhân lực nên năng 25
  26. 26. suất lao động thấp. Năng suất lao động là yếu tố tác động trực tiếp đến khốilượng hàng hoá được tạo ra. Năng suất lao động càng cao thì khối lượng hànghoá cũng như khối lượng công việc được giải quyết càng nhiều. Năng suất laođộng phụ thuộc vào các yếu tố như thời gian lao động, trình độ lao động vàcông cụ lao động. Thời gian lao động càng nhiều thì khối lượng sản phẩm tạora càng lớn nhưng trình độ lao động càng cao thì chưa chắc đã đạt được điềunày. Bởi trình độ lao động phải phù hợp với vị trí công việc mà người laođộng đảm nhận thì mới đem lại hiệu quả. Do đó, doanh nghiệp cần tuyểndụng nhân lực phù hợp với vị trí mà họ sẽ đảm nhận. Doanh nghiệp cần phântách các mức độ công việc đòi hỏi trình độ nào để tuyển dụng cho đúng người,đúng việc. Song hành cùng chính sách tuyển dụng nhân lực, các doanh nghiệp cầncó chính sách đào tạo và phát triển nhân lực. Đào tạo là quá trình làm thay đổi hành vi và thái độ của người lao độngnhằm tăng cường khả năng đạt được mục tiêu của doanh nghịêp. Còn pháttriển nhân lực là quá trình người lao động thu thập các kỹ năng, tích luỹ kinhnghiệp và rèn luyện thái độ cần thiết để có vị trí cao hơn trong công việc. Các công ty kinh doanh xuất khẩu trên thị trường thế giới cần xây dựngcác chương trình đào tạo với nội dung về các vấn đề như: môi trường, đặcđiểm văn hoá, đào tạo về ngôn ngữ, cách thức làm ăn với người nước ngoài.Đào tạo phải gắn liền với phát triển nguồn nhân lực để duy trì và thu hút độingũ lao động có kỹ năng, có kinh nghiệp trung thành với doanh nghiệp. Tóm lại, để đẩy mạnh xuất khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu cần huyđộng tất cả các nguồn lực, thực hiện tốt công tác quản trị mới đem lại hiệuquả kinh doanh cao. Tuy nhiên, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể mànên tập trung vào vấn đề trọng điểm để thực hiện mục tiêu là đẩy mạnh xuấtkhẩu. 26
  27. 27. II. Đặc điểm ngành dệt may và các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩuhàng dệt may 1.Đặc điểm ngành dệt may. Ngành dệt may là một trong các ngành đáp ứng nhu cầu cơ bản của conngười ( ăn, mặc, ở ). Chính vì vậy, đây là ngành ra đời và phát triển rất sớm.Từ thế kỷ thứ 17, với sự tiến bộ của khoa học – kỹ thuật đã đưa ngành nàysang giai đoạn phát triển mới: giai đoạn sản xuất đại trà trên các dây chuyềnsản xuất công nghiệp. Đến nay, ngành dệt may đã thành công không chỉ đápứng nhu cầu mặc của con người mà cao hơn là đáp ứng nhu cầu làm đẹp củacon người. Dệt may là ngành mà sản phẩm của nó thuộc nhóm sản phẩm tiêu dùngthiết yếu nên khả năng tiêu dùng là rất lớn. Nó cũng là ngành công nghiệp nhẹ,sử dụng nhiều lao động. Mà lao động lại không đòi hỏi trình độ cao nên khôngcần nhiều vốn để đầu tư. Mặt khác, khả năng thu hồi vốn nhanh nên đây làngành phù hợp với các nước đang phát triển nơi có nhiều lao động, trình độlao động thấp, vốn ít. 2.Các yếu tố tác động đến xuất khẩu hàng dệt may. 2.1.Thuế quan. Thuế quan là các khoản thu của nhà nước đánh vào hàng hoá và dịchvụ mang mục đích lợi nhuận. Đối với hoạt động xuất khẩu, thuế quan ảnhhưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường vì thuế quan sẽđẩy giá cả của hàng hoá nên cao. Riêng mặt hàng dệt may, thì thuế quan là yếu tố tác động mạnh đến khảnăng xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp. Với mặt hàng này, giá trị trênmột sản phẩm thấp nếu áp thuế cao và chịu nhiều loại thuế sẽ đẩy giá hàng lêncao và lượng tiêu dùng sẽ giảm đi. 27
  28. 28. Chính vì thế mà hầu hết các quốc gia muốn đẩy mạnh xuất khẩu đều cócác chính sách ưu đãi thuế quan cho các doanh nghiệp. 2.2.Hạn ngạch Đối với ngành dệt may, hạn ngạch luôn luôn là một vấn đề nan giải.Hạn ngạch khống chế số lượng hàng dệt may xuất khẩu,và hạn chế chủng loạihàng dệt may sang một thị trường. Đây là biện pháp bảo hộ của các quốc gianhằm bảo vệ ngành dệt may trong nước và kiểm soát được số lượng hàng dệtmay nhập vào nước mình. Ngày nay, hội nhập kinh tế đang diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ nên việc ápđặt hạn ngạch dệt may đang dần được bãi bỏ như: - WTO sẽ bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho các nước thành viên kể từ ngày01/01/2005. - EU và Canada sẽ bãi bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam từ ngày01/01/2005. Việc bãi bỏ hạn ngạch dệt may giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩudệt may có cơ hội cạnh tranh bình đẳng nhưng nó cũng làm gia tăng mức độcạnh tranh trong ngành này. Bởi thế, các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may cầnchuẩn bị hành trang cho mình để dành chiến thắng trong cuộc chiến cạnhtranh. 2.3.Trợ cấp xuất khẩu. Trợ cấp xuất khẩu là biện pháp mà nhà nước áp dụng để hỗ trợ cho hoạtđộng xuất khẩu của các doanh nghiệp bằng cách hỗ trợ cho các chi phí đầuvào sản phẩm nhằm giảm giá thành đầu ra của các sản phẩm xuất khẩu. Ví dụnhư: để hỗ trợ xuất khẩu cho ngành dệt may nhà nước đã đầu tư để phát triểncác vùng trồng bông, phát triển các trung tâm nghiên cứu khoa học, giảm thuếnhập khẩu cho các hàng hoá phục vụ cho ngành dệt may. Sự hỗ trợ của nhànước dưới nhiều khía cạnh nhưng mục đích cuối cùng là giúp các doanhnghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. 28
  29. 29. 2.4.Tỷ giá hối đoái. Khi xuất khẩu, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến mức cầu đối với sảnphẩm của Công ty. Nếu đồng tiền của mỗi nước giảm giá so với đồng tiền củacác nước khác thì giá cả hàng hoá xuất khẩu của nước đó trên thị trường thếgiới trở nên rẻ hơn so với hàng hoá của các nước khác. Sự giảm giá này giúpcho hàng hoá xuất khẩu của nước đó hấp dẫn các khách hàng trên thế giới vàlàm gia tăng số lượng hàng hoá xuất khẩu của nước đó. Ngược lại, nếu đồngtiền của một nước tăng giá so với đồng tiền của các nước khác thì giá cả hànghóa của nước đó trở nên đắt đỏ hơn so với hàng hoá xuất khẩu của các nướckhác làm giảm khả năng tiêu dùng dẫn đến việc hạn chế xuất khẩu hàng hoácủa nước đó. 2.5.Các chính sách hỗ trợ khác. 2.5.1. Ưu đãi về vốn. Doanh nghiệp luôn luôn ở tình trạng thiếu vốn. Vốn vay sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư nhanh chóng, đảm bảo thời cơ kinhdoanh. Mặt khác, lãi suất vay thấp sẽ giúp giảm chi phí tài chính cho cácdoanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Do đó, nhà nước nên có cácchính sách ưu đãi về vốn như cho vay lãi xuất thấp và tạo nhiều nguồn vaycho doanh nghiệp. 2.5.2.Cơ sở vật chất kỹ thuật. Trong các đơn vị sản xuất, cơ sở vật chất - kỹ thuật của doanh nghiệpsẽ tác động đến năng suất lao động, chất lượng hàng hoá và chi phí kinhdoanh. Nếu như cơ sở vật chất – kỹ thuật tốt sẽ giúp nâng cao năng suất laođộng, chất lượng hàng hoá, và giảm chi phí kinh doanh. Ngoài ra, đối với cácquốc gia, hệ thống cơ sở hạ tầng mà lạc hậu, đường xá không tốt làm mấtnhiều thời gian vận chuyển từ nơi sản xuất đến cảng. ở Việt Nam, có tìnhtrạng thiếu cảng nước sâu nên hàng hoá Việt Nam phải gom lại ở Đài Loanhoặc Singapo để chuyển lên tàu lớn gây nhiều phiền hà và bất tiện cho các 29
  30. 30. doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài. Chính vì vậy, cả doanh nghiệp và nhànước cần đầu tư cải thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình. III. Sự cần thiết phải tăng cường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vàothị trường Mỹ. 1.Việt Nam có lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may. Việt Nam là nước đang phát triển và ở trình độ thấp, công nghệ thì lạchậu và thường phải nhập khẩu từ nước ngoài, trình độ lao động thấp. Nhưnglực lượng lao động lại rất đông đảo chiếm trên 50% dân số. Với đặc điểm này,thì phát triển ngành dệt may sẽ rất phù hợp với Việt Nam. Bởi ngành dệt maykhông đòi hỏi công nghệ quá cao cũng như cần sử dụng số lượng lớn lao độngphổ thông. Mặt khác, giá cả lao động cũng như giá cả của các dịch vụ khác ởViệt Nam cũng thấp hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển khác nênViệt Nam có thể sản xuất và cạnh tranh trên đoạn thị trường các sản phẩmbình dân. Hơn nữa, trong cơ cấu kinh tế Việt Nam nông nghiệp đóng vai trò chủđạo trong nền kinh tế. Điều này tạo điều kiện cho việc phát triển nguồnnguyên vật liệu đầu vào cho ngành dệt may. Hiện nay, Việt Nam đang pháttriển vùng trồng bông ở Tây Nguyên với sự liên kết hỗ trợ kỹ thuật của cácnước trồng bông nổi tiếng như: Hoa Kỳ, úc để có được năng suất và chấtlượng bông cao. Với những thế mạnh và đặc điểm riêng biệt như vậy, phát triển ngànhdệt may xuất khẩu tập trung vào đoạn thị trường các sản phẩm bình dân làhướng đi mà các doanh nghiệp Việt Nam đã lựa chọn. Đến nay, Việt Nam vẫnđang tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may với sự đầu tư theo chiều sâunhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường thế giới. 30
  31. 31. 2.Mỹ là thị trường có nhu cầu lớn đối với hàng dệt may. Với dân số trên 280 triệu người, thu nhập bình quân đầu người khoảng36.000 USD, tốc độ tăng trưởng năm 2004 là trên 4%, Mỹ được coi là thịtrường tiêu dùng khổng lồ. Kim ngạch nhập khẩu dệt may khoảng 60 tỷ USDmỗi năm, Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới bằng cảEU và Nhật Bản cộng lại. Mức sống của người dân Mỹ cũng rất đa dạng nên tiêu dùng hàng dệtmay cũng có nhiều loại khác nhau từ hàng chất lượng cao với những hãng nổitiếng đến hàng bình dân. Sức tiêu dùng hàng dệt may của dân Mỹ cũng dẫnđầu thế giới và gấp 1,5 lần EU – thị trường tiêu dùng hàng dệt may lớn thứ haithế giới. Theo điều tra cho thấy, một người phụ nữ Mỹ hàng năm mua trungbình 54 bộ quần áo. Do đó, thị trường Mỹ mở ra cơ hội cho tất cả các nướcxuất khẩu hàng dệt may. Mặt khác, trong ngành dệt may của Mỹ thì chủ yếu tập trung vào sảnxuất các mặt hàng cao cấp với công nghệ hiện đại, trình độ lao động cao đápứng nhu cầu của người tiêu dùng có mức thu nhập cao nên một đoạn thị trườngrộng lớn là hàng dệt may bình dân bị bỏ ngỏ. Khoảng trống của đoạn thịtrường này được bù đắp bởi hàng gia công, sản xuất từ các nước đang pháttriển nhập khẩu vào Mỹ. Chính vì sức hút mạnh mẽ của nhu cầu tiêu dùng lớn về hàng dệt may nên Mỹ là thị trường màu mỡ cho hàng dệt may của các nước đổ vào. 3.Những lợi ích của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào thịtrường Mỹ đối với Việt Nam. Dệt may là mặt hàng trọng điểm và đang dẫn đầu về tỷ trọng đóng gópcho nền kinh tế quốc dân. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may là chiếnlược quan trọng trong ngành công nghiệp nhẹ của Việt Nam. Mặt khác, thịtrường Mỹ là thị trường hấp dẫn nhất cho mặt hàng này. Vậy những lợi ích 31
  32. 32. mà đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ làgì? Thứ nhất, sự tăng số lượng và giá trị hàng dệt may vào thị trường Mỹgiúp cho Việt Nam thu được lợi nhuận trong kinh doanh và gia tăng thị phần ởthị trường Mỹ. Năm 2004, Việt Nam đứng thứ 5 trong các nước xuất khẩuhàng dệt may vào Mỹ. Thứ hai, xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu. Do đó, đẩy mạnhxuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho nhập khẩu nhiều hàng hoá hơn để Việt Nam cóthể hiện đại hoá nền kinh tế, nhập khẩu những hàng hoá mà không có hay đắthơn ở trong nước và người tiêu dùng có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọnhàng hoá. Thứ ba, thúc đẩy xuất khẩu dệt may sẽ kéo theo sự phát triển của cácngành liên quan như: trồng bông, sản xuất vải, nhuộm, v.v… Thứ tư, đẩy mạnh xuất khẩu dệt may vừa tận dụng được nguồn laođộng dồi dào, giá rẻ cũng như nguồn nguyên liệu rẻ ở Việt Nam vừa tạo thêmcông ăn việc làm cho người lao động. Thứ năm, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may giúp cho các doanh nghiệptăng thêm khả năng đầu tư vào đổi mới công nghệ, tiếp thu những thành tựumới của khoa học – công nghệ Thứ sáu, nó còn giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam học hỏi đượckinh nghiệm buôn bán quốc tế ở thị trường có mức độ cạnh tranh cao. Thứ bảy, nó giúp tăng cường mối quan hệ giưa hai nước không chỉ trênlĩnh vực kinh tế mà còn cả các lĩnh vực khác cũng như mở rộng quan hệ vớicác nước khác trên thế giới. Với những lợi ích nêu trên thì đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may ViệtNam sang thị trường Mỹ là chiến lược hàng đầu của ngành dệt may Việt Namtrong thời gian tới. 32
  33. 33. Chương IIthực trạng xuất khẩu hàng dệt may của công ty xuất nhập khẩu dệt may sang thị trường mỹ. I.GiớI THIệU Về Công ty xuất nhập khẩu Dệt May. 1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty. Do yêu cầu của quá trình kinh doanh của Tổng Công ty Dệt May ViệtNam, Bộ Công Nghiệp đã ra quyết định số 37/2000/QĐ- BCN ngày 8/6/2000về việc thành lập Công ty Xuất Nhập Khẩu Dệt May và Hội đồng Quản TrịTổng công ty Dệt May Vịêt Nam đã ra quyết định số 346/QĐ-HĐBT ngày22/06/2000 phê chuẩn điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Xuất nhậpkhẩu Dệt May. Công ty là doanh nghiệp nhà nước, là Công ty con của Tổng Công TyDệt May Việt Nam, có tên giao dịch quốc tế là Vinatex Import – ExportCompany(Vinateximex). Địa chỉ : 32 Tràng Tiền Trụ sở chính: 57B- Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tổng số người lao động là 121 người Tuy mới thành lập năm 2000 nhưng Công ty đã có nền tảng từ Ban xuấtnhập khẩu của Tổng Công Ty tách ra nên đã có sự chuẩn bị, tập dượt vềnghiệp vụ chuyên môn, quản lý trước khi thành lập chính thức. Chính vì vậy,Công Ty là đơn vị hạch toán phụ thuộc của Tổng Công Ty Dệt May ViệtNam, có tư cách pháp nhân không đầy đủ theo pháp luật, có quyền và nghĩavụ theo luật định, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh, cócon dấu riêng, tài khoản riêng. Đến nay, công ty đã đi vào hoạt động được gần5 năm và đang trên đà lớn mạnh. 33
  34. 34. 2.Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty xuất nhập khẩu dệt may. 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty gi¸m ®èc phã gi¸m ®ècPhßng Phßng Phßng Phßng Phßng Phßng Phßng Phßng T µi KÕ Kinh Xu t Kinh xócchÝnh ho¹ch Tæ chøc doanh Xu t nhËp nhËp doanh tiÕn vµ ThÞ Hµnh XNK khÈu khÈu VËt t­ ph¸t KÕ Tæng DÖt triÓn to¸n tr­ êng chÝnh h îp DÖt May May d ù ¸n C¸c cöa hµng vµ trung t© m 2.2.Chức năng của các phòng ban. - Giám đốc Công ty là đại diện pháp nhân có quyền cao nhất trong Công ty, do Tổng công ty bổ nhiệm và bãi nhiệm, chịu trách nhiệm trước Tổng công ty. - Các phó giám đốc : điều hành các hoạt động của Công ty trong các lĩnh vực theo sự phân công của Giám đốc và pháp luật. - Phòng tổ chức hành chính : + Quản lý nhân sự, sắp xếp các hoạt động trong Công ty. 34
  35. 35. + Chăm lo đời sống của cán bộ công nhân viên trong Công ty. + Truyền đạt các thông tin nội bộ của Công ty. - Phòng kế hoạch thị trường : + Tham mưu và xây dựng, theo dõi việc thực hiện các kế hoạch củaTổng công ty và Nhà nước giao. + Thống kê, tìm hiểu các công tác thị trường, tìm hiểu khách hàng, xúctiến quan hệ đối ngoại. - Phòng kế toán tài chính : + Lập kế hoạch, theo dõi, hướng dẫn các mặt công tác về tài chính. + Kế toán, lập báo cáo thống kê theo định kỳ nộp cho các cơ quan chủquản. +Thực hiện đầy đủ mọi quy định của Nhà nước về công tác tài chính. - Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp, phòng xuất nhập khẩumay,phòng xuất nhập khẩu dệt và phòng kinh doanh vật tư trực tiếp kinhdoanh các đối tượng được giao và chịu trách nhiệm trước lãnh đạo Công ty vềhoạt động của mình. - Phòng xúc tiến và phát triển dự án: Cung cấp thiết bị dệt cho các đơnvị, ủy thác các dự án của tổng công ty giao. - Cửa hàng và các trung tâm : Kinh doanh theo các ngành nghề quy định và chịu trách nhiệm trướcGiám đốc Công ty về các hoạt động được giao. 3. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu và ngành nghề kinh doanh củaCông ty 3.1.Chức năng, nhiệm vụ của Công ty. - Tự chủ kinh doanh theo phân cấp, uỷ quyền của Tổng công ty, chịusự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Tổng công ty. 35
  36. 36. - Đăng ký kinh doanh và kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký phùhợp với mục tiêu và nhiệm vụ của Công ty. - Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch hàng năm của Công ty phùhợp với nhiệm vụ do Tổng công ty giao và đáp ứng được đầy đủ các nhu cầucủa thị trường. - Ký kết và tổ chức thực hiện các Hợp đồng kinh tế đã ký kết với cácđối tác, các công ty có quan hệ làm ăn. - Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với người lao động theo quy địnhcủa Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn, đảm bảo cho người lao động đượctham gia vào quản lý Công ty. - Thực hiện chế độ báo cáo thống kê, báo cáo định kỳ theo quy định củaTổng công ty và Nhà nước, chịu trách nhiệm trước Tổng công ty và Pháp luậtvề tính xác thực của nó. - Tổ chức công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học côngnghệ, tổ chức công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công nhân viên trongCông ty. - Thực hiện đúng các quy định về quản lý vốn, quản lý tài sản và cácquỹ, các chế độ về kế toán, hạch toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác doTổng công ty và các cơ quan chức năng khác của Nhà nước quy định, chịutrách nhiệm trước Tổng công ty và Pháp luật về tính xác thực của các hoạtđộng tài chính trong Công ty. - Chịu trách nhiệm nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có)trực tiếp cho Nhà nước tại địa phương theo quy định của Pháp luật. 3.2 Ngành nghề kinh doanh chính của công ty: ( Công nghiệp Dệt may, xuất nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị phụ tùng,hoá chất, thuốc nhuộm, hàng công nghệ thực phẩm và các sản phẩm cuối cùngcủa ngành Dệt may. 36
  37. 37. ( Xuất nhập khẩu các hàng Dệt may, các chủng loại xơ sợi, vải hàngmay mặc, dệt kim, chỉ khâu, khăn bông... ( Hàng nông lâm, hải sản, thủ công mỹ nghệ, ô tô xe máy, các mặt hàngcông nghiệp tiêu dùng khác... ( Trang thiết bị văn phòng, thiết bị tạo mẫu thời trang... ( Phương tiện vận tải, vật liệu điện, điện tử, cao su... ( Kinh doanh kho vận, kho ngoại quan, uỷ thác trong việc mua bánxăng dầu... (Theo quyết định về ngành nghề kinh doanh số 448/QĐ - HĐQT rangày 10/8/2000 của Tổng công ty Dệt may Việt Nam). II. Khái quát về hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Công ty xuất nhậpkhẩu dệt may. 1.Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng dệt may của Công ty xuất nhậpkhẩu dệt may. Dệt may là mặt hàng xuất khẩu chính của công ty. Vì vậy, ngay từ khithành lập, công ty đã chú trọng đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này. Kim ngạchxuất khẩu hàng dệt may của công ty được thể hiện ở dưới biểu đồ sau: Đơn vị: 1000 USD 37
  38. 38. H × 2.2: K i m ng¹ ch xu t kh È h µng d Ö m ay cña c«ng nh u t ty X N K d Ö m ay t 9000 7936 8000 7326 6880 7000 6373 6000 5485 5000 Kim ng¹ch Kim ng¹ ch 4000 3000 2000 1000 0 2000 2001 2002 2003 2004 N¨m Nguồn: phòng Kế hoạch-Thị trường. Vinateximex. Qua biểu đồ ta thấy, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may giảm trong giaiđoạn 2000- 2002, năm 2001 giảm so với năm 2000 là 7,95%, năm2002 giảmsút mạnh so với năm 2001( giảm 16,18% ). Sự giảm sút về kim ngạch xuấtkhẩu hàng dệt may của công ty trong những năm này là do sự biến động vềthị trường. Năm 2001- 2002, thị trường lớn nhất của công ty là Nhật Bản( luôn chiếm trên 50% giá trị xuất khẩu hàng dệt may của công ty ) bị suythoái nên ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu của công ty sang thị trường này. Mặtkhác, những năm này công ty cũng mới được tách ra từ một ban của Tổngcông ty dệt may Việt Nam nên vẫn chưa có kinh nghiệm đối phó với sự thayđổi này. Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của công ty đã tăngmạnh, so với năm 2002 tăng 33,56% và năm 2004 tăng 8,3% so với năm2003. Sự tăng trưởng trở lại về kim ngạch xuất khẩu của công ty với tốc độcao là do sự khôi phục của thị trường Nhật Bản, sự nỗ lực của công ty trong 38
  39. 39. việc tìm kiếm thị trường mới đặc biệt là thị trường Mỹ, cũng như kinh nghiệm kinh doanh xuất khẩu. 2.Thị trường xuất khẩu Hàng dệt may của công ty được xuất khẩu đi khoảng 40 quốc gia trên thế giới nhưng thị trường chủ yếu là EU, Nhật Bản và hiện nay, Mỹ là thị trường đang có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong kim ngạch xuất khẩu của công ty. Để thấy rõ hơn ta xem số liệu ở bảng dưới đây: Bảng 2.1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty Vinateximex Thị trường Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 GT Tỉ GT Tỉ GT Tỉ GT Tỉ GT Tỉ (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (%) (%) (%) (%) (%) Nhật Bản 3.517.041 51,12 3.349.757 52,56 2.812.494,2 51,28 3.258.431 44,48 3.297.011 41,54 EU 3.029.670 44,04 2.688.360 42,18 2.059.842 37,55 2.441.797 33,33 927.286,5 11,68 Mỹ 4.230 0,06 19.398 0,3 272.492 4,97 1.255.304,6 17,13 2.476.359 31,2Thi trường khác 329.059 4,78 315.485 4,96 340.172 6,2 370.467,4 5,06 1.235.343,5 15,58 Tổng 6.880.000 100 6.373.000 100 5.485.000 100 7.326.000 100 7.936.000 100 KNXK Nguồn: Phòng kế hoạch- Thị trường. Vinateximex. Nhật Bản là thị trường luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu của công ty. Trong giai đoạn 2000-2002, thị trường Nhật Bản chiếm trên 50% và trong 2 năm 2003, 2004 thị trường Nhật Bản chiếm trên 40%. Ta thấy, thị trường này có xu hướng giảm trong 2 năm gần đây. Từ năm 2000 đến 2004, tỉ trọng đóng góp của thị trường này giảm từ 51,12% xuống 41,54%. Đứng thứ hai trong thị trường xuất khẩu của công ty là thị trường EU. Năm 2000, thị trường EU đạt 3.029.670 USD chiếm 44,04% nhưng đến năm 2001 nó chỉ chiếm 42,18%, năm 2002 là 37,55%, năm 2003 là 33,33% và đến năm 2004 thị trường này chiếm 11,68% tương ứng với 927.286,5 USD. Sự giảm sút mạnh mẽ về tỉ trọng của thị trường này trong cơ cấu thị trường xuất khẩu là do thị trường này là thị trường khó tính và là thị trường thị trường 39
  40. 40. may mặc chính của công ty nhưng các tiêu chuẩn cho hàng may mặc là khắtkhe nên công ty đã chuyển hướng sang thị trường Mỹ và các thị trường khác. Thị trường Mỹ là thị trường dễ tính, tiêu dùng với khối lượng lớn hàngdệt may. Do đó, hàng dệt may các nước thi nhau đổ vào trong đó có ViệtNam. Đặc biệt sau Hiệp định dệt may Việt Nam- Hoa Kỳ thì hàng dệt mayViệt Nam vào Hoa Kỳ có lợi thế hơn về giá cả ( do thuế giảm ). Bởi vậy,chiến lược của công ty là đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này. Năm 2000,tỉ trọng của thị trường Mỹ trong cơ cấu thị trường xuất khẩu rất nhỏ chiếm0,06% ( tương ứng 4.230 USD). Năm 2001, tỉ trọng của thị trường này tănglên chút ít nhưng vẫn nhỏ chiếm 0,304%( tương ứng với 19.398 USD) và năm2002 là 4,97%. Nhưng sang đến năm 2003, tỉ trọng của thị trường này tăngvọt lên, chiếm 17,13%( 1.255.304,6 USD). Đến năm 2004, tỉ trọng của thịtrường mỹ là 31,2% tương ứng 2.476.359 USD đưa Mỹ trở thành thị trườnglớn thứ hai trong thị trường xuất khẩu của công ty. Đa dạng hoá thị trường là chiến lược xuyên suốt của công ty ngay từkhi thành lập. Bên cạnh những thị trường truyền thống là Nhật Bản, EU, côngty đã đẩy mạnh công tác tìm kiếm thị trường mới ở Châu á, Châu Mỹ và ChâuPhi nên tỉ trọng của các thị trường khác cũng tăng từ 4,808% năm 2000 lênđến 15,58% năm 2004. Sự đa dạng trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của công ty giúp công tytránh được rủi ro do phụ thuộc quá mức vào một thị trường nào đó. Tuy nhiên,công ty vẫn cần duy trì các thị trường truyền thống- nơi mà công ty đã amhiểu và có kinh nghiệm kinh doanh.3.Mặt hàng dệt may xuất khẩu Công ty chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng may như áo jacket, sơ mi,quần và mặt hàng dệt: dệt kim và khăn bông. Kim ngạch xuất khẩu theo mặthàng của công ty được thể hiện qua bảng số liệu sau: 40
  41. 41. Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng của Công ty VinateximexMặt hàng Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 GT Tỉ GT Tỉ GT Tỉ GT Tỉ GT Tỉ (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (USD) trọng (%) (%) (%) (%) (%)May mặc 2.435.316 35,4 2.837.602 44,52 2.223.000 40,23 2.649.000 36,16 2.715.000 34,2Dệt kim 121.615 1,77 41.296 0,65 169.185 3,08 1.030.000 14,06 842.590 10,62Khăn bông 3.468.533 50,41 3.235.857 50,77 2.765.000 50,4 3.230.000 44,1 3.975.000 50,08Hàng hoá khác 845.536 12,42 258.245 4,06 327.815 6,29 417.000 5,68 403.410 5,1Tổng KNXK 6.880.000 100 6.373.000 100 5.485.000 100 7.326.000 100 7.936.000 100 Nguồn: Phòng kế hoạch- Thị trường. Vinateximex. Khăn bông và may mặc là mặt hàng dệt may xuất khẩu chính của công ty trong đó khăn bông là mặt hàng chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu của công ty. Mặt hàng này công ty chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Đứng thứ hai trong kim ngạch xuất khẩu của công ty là hàng may mặc. Các mặt hàng may mặc xuất khẩu chủ yếu của công ty là áo jacket, áo sơ mi nam, quần và một số quần áo khác. Thị trường xuất khẩu chính và truyền thống cho mặt hàng may mặc là EU. Nhưng 2 năm trở lại đây ( từ 2003 ) thì thị trường Mỹ lại là thị trường đang mở rộng đối với mặt hàng này. Dệt kim là mặt hàng mà công ty quyết tâm khôi phục từ năm 2002. Vì vậy, giá trị xuất khẩu của mặt hàng này cũng tăng lên đáng kể từ năm 2003: năm 2002, đạt 169.185 USD chiếm 3,08% nhưng đến năm 2003, giá trị xuất khẩu dệt kim đạt 1.030.000 USD chiếm 14,06% kim ngạch xuất khẩu của công ty, năm 2004 đạt 842.590 USD chiếm 10,62%. Nhìn chung, hàng dệt may là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty trong đó khăn bông, may mặc, dệt kim là 3 loại mặt hàng chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu của toàn công ty. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may là mục tiêu chính trong hoạt động xuất khẩu của công ty. III.Những đặc điểm của thị trường Mỹ tác động đến nhập khẩu hàng dệt may. 1.Đặc điểm tiêu dùng Từ thế kỷ thứ 16 người Châu Âu đã khám phá ra Châu Mỹ và cũng từ đó Mỹ được coi là mảnh đất của tự do, là miền đất hứa. Dòng thác nhập cư từ 41
  42. 42. Châu Âu, Châu á, Châu Phi ồ ạt đổ vào đây tạo nên một Hợp Chủng QuốcHoa Kỳ. Chính vì vậy, dân cư ở đây rất đa dạng về sắc tộc, tôn giáo và phongtục tập quán. Nét đa dạng này cũng tạo nên tập quán tiêu dùng đa dạng. Với ngườiMỹ, mua sắm là thói quen phổ biến nhất. Những lúc rảnh rỗi hay muốn thưgiãn sau những giờ làm việc, người Mỹ thường đến các cửa hàng, siêu thị đểmua những vật dụng cần thiết và những thứ mà họ thích. Các cửa hàng cũnglà nơi mà người dân có thể trò chuyện và mở rộng quan hệ xã hội của mình. Theo người Mỹ, mua sắm là yếu tố kích nền kinh tế phát triển. Muasắm càng nhiều thì sẽ làm gia tăng sản xuất và dịch vụ. Với mặt hàng dệt may, Mỹ là nước tiêu dùng hàng dệt may lớn nhất thếgiới. Hàng năm, người Mỹ tiêu dùng mặt hàng này gấp 1,5 lần người ChâuÂu- thị trường tiêu dùng hàng dệt may thứ hai thế giới. Theo điều tra, một nămphụ nữ Mỹ mua 54 bộ quần áo. Trong phong cách ăn mặc, người Mỹ thường chú trọng đến yếu tố tựnhiên, bình thường. Với người Mỹ, sự thoải mái trong cách ăn mặc là ưu tiênhàng đầu. Bởi vậy, khi làm việc, nam giới thường mặc những chiếc sơ mi vàquần âu vải sợi bông rộng thoáng còn nữ giới thì mặc váy với chất liệu cogiãn. Còn trong cuộc sống hàng ngày, quần bò áo thun là phong cách ăn mặcđặc trưng nhất. ở mọi nơi trên đất Mỹ, bạn cũng có thể bắt gặp phong cách ănmặc này. Nhịp sống ở Mỹ rất khẩn trương và họ tiêu dùng các sản phẩm cũng rấtkhẩn trương. Một số sản phẩm mà họ chỉ sử dụng trong một thời gian ngắnmặc dù chưa hỏng nhưng nó đã cũ hoặc là họ không thích thì họ sẽ mua chomình những thứ mới. Khi đã đi mua thì họ sẽ mua sắm hàng loạt nhất là quầnáo. Họ thích mua những quần áo độc đáo nhưng phải tiện lợi. Sau đó nếu thấyhết mốt hoặc cũ thì họ lại đem cho và lại đi mua đồ mới. 42
  43. 43. Trong mặt hàng dệt may, người Mỹ khá dễ tính trong việc lựa chọn cácsản phẩm may nhưng lại khó tính đối với các sản phẩm dệt. Người Mỹ thíchvải sợi bông, không nhàu, rộng và có xu hướng thích các sản phẩm dệt kimhơn. Một đặc điểm trong điều kiện tự nhiên của Mỹ ảnh hưởng đến tiêu dùnghàng dệt may là khí hậu Mỹ rất đa dạng. Khí hậu đặc trưng của Mỹ là khí hậuôn đới, không quá nóng về mùa hè và không quá lạnh về mùa đông. Bên cạnhđó, Mỹ còn có khí hậu nhiệt đới ở Hawaii và Florida, khí hậu hàn đới ởAlaska, cận hàn đới trên vùng bờ tây sông Mississipir và vùng khí hậu khô tạibình địa Tây Nam, nhiệt độ giảm thấp vào mùa đông tại vùng Tây Bắc nên cầnchú ý sự khác biệt về địa lý khi sản xuất sản phẩm phục vụ cho người dân ởđây. Hiện nay, Mỹ là nước giàu nhất thế giới với thu nhập bình quân khoảng36.000 USD cộng với thói quen tiêu dùng nhiều, Mỹ là thị trường hấp dẫn đốivới các mặt hàng nói chung và mặt hàng dệt may nói riêng. Tuy nhiên, ở Mỹmức thu nhập cũng rất đa dạng tạo nên thị trường cũng rất đa dạng và thườngchia làm ba phân đoạn. Đó là đoạn thị trường thượng lưu có thu nhập caochuyên tiêu dùng hà lư ng dệt may có chất lượng cao, có nhãn hiệu nổi tiếng;đoạn thị trườngtrung u tiêu dùng các mặt hàng cấp trung bình và đoạn thịtrường dân nghèo tiêu dùng các mặt hàng cấp thấp. Sự đa dạng trong thu nhậpcũng là điều kiện cho các nước xác định đoạn thị trường phù hợp với năng lựccủa mình. Tiêu dùng với khối lượng lớn nên giá cả là yếu tố hấp dẫn nhất đối vớingười Mỹ. Họ thích được giảm giá, khi giảm giá họ sẽ mua được nhiều hànghơn mà vẫn không phải tốn nhiều tiền. Sau giá cả là chất lượng hàng hoá vàhệ thống phân phối sẽ là lựa chọn tiếp theo cho việc tiêu dùng sản phẩm.Người Mỹ coi thời gian là tiền bạc nên con người ở đây luôn luôn chạy đuavới thời gian. Mọi thứ ở Mỹ đều cần nhanh, tiện lợi nhưng không có nghĩa là 43
  44. 44. không đẹp không ngon. Vì vậy, hệ thống phân phối cần đảm bảo được điềunày. Nói chung, khác hẳn với thị trường Nhật- thị trường khó tính nhất thếgiới, thị trường Mỹ là thị trường tương đối dễ tính. Sự đa dạng trong sắc tộc,tôn giáo, thu nhập và đặc biệt là tâm lý chuộng tự do cá nhân của người Mỹđã đem lại một thị trường tiêu dùng khổng lồ nhưng lại không quá cầu kỳ vàyêu cầu khắt khe về sản phẩm như Châu Âu. 2. Kênh phân phối ở Mỹ có nhiều loại công ty lớn, vừa và nhỏ, các công ty này có cáckênh thị trường khác nhau. Các công ty lớn thường có hệ thống phân phốiriêng và tự chịu trách nhiệm từ khâu nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phốivà tự nhập khẩu. Còn các công ty vừa và nhỏ thì chỉ chịu trách nhiệm ở cácgiai đoạn nhỏ trong chuỗi giá trị. Với hàng dệt may, Mỹ nhập khẩu chủ yếu qua các nhà bán buôn vớinhững đơn hàng lớn từ 50- 100 có khi đến cả triệu lô ( mỗi lô có 12 sảnphẩm). Sau đó, các nhà bán buôn sẽ phân phối đến các nhà bán lẻ khác. Cáccửa hàng siêu thị là phổ biến nhất trong hệ thống phân phối hàng hoá của Mỹ.Ví dụ như tập đoàn Jc Penney- một trong những tập đoàn siêu thị và bán lẻlớn nhất ở Mỹ với 1.100 siêu thị và 2.200 cửa hàng bán lẻ trên khắp nước Mỹ.Tại đây các mặt hàng tiêu dùng đều có mặt để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùngcủa người dân trong đó quần áo và dụng cụ gia đình chiếm chủ yếu. Trong hệthống siêu thị lại được phân ra các siêu thị cao cấp phục vụ các mặt hàng chấtlượng cao, giá cả cao và các siêu thị bình dân có đủ các loại mặt hàng với sốlượng lớn, doanh thu lớn do phục vụ được nhiều tầng lớp. Ngoài ra, ở Mỹ còn có các công ty chuyên doanh có hẳn hệ thống cáccửa hàng chuyên bán các sản phẩm may mặc có chất lượng cao, có nhãn hiệunổi tiếng với giá cả cao hay các công ty bán lẻ quốc gia chuyên bán quần áo, 44
  45. 45. giày dép, túi sách trên khắp cả nước. Lấy giá cả làm yếu tố thu hút khách hànglà chiến lược của các công ty bán hàng giảm giá. So với giá ở các siêu thị bìnhdân thì ở các cửa hàng này người tiêu dùng sẽ mua được các sản phẩm với giárẻ hơn nhiều. Và các cửa hàng bán lẻ với giá rẻ nhất thường bán những hànghoá không có nhãn hiệu nổi tiếng hay nhập khẩu thẳng từ các nước giá rẻ ởChâu á, Nam Mỹ. Hình thức bán hàng đang được phát triển mạnh ở Mỹ là bán hàng quabưu điện, qua ti vi, qua mạng hay bán hàng theo catologue, qua các hội chợ,triển lãm để nhận đơn hàng. Sau đó, người bán hàng sẽ giao hàng đến tận tayngười mua. Hình thức này đã đáp ứng cho những người ngại đi mua haykhông có thời gian mua sắm nhưng giá cả sẽ cao hơn. 3. Chính sách thương mại của Mỹ ảnh hưởng đến nhập khẩu dệt may. 3.1. Thuế quan Thuế nhập khẩu tuỳ thuộc vào phân loại sản phẩm theo hệ thống thuếđiều hoà của Hoa Kỳ mà cơ quan thuế sẽ tính cho các sản phẩm. Từ sau khihiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết ( saunăm 2000) Việt Nam được hưởng quy chế tối huệ quốc MFN, thuế quan đốivới hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã giảm từ 40%xuống còn 20%. Như vậy, giảm thuế quan làm cho giá hàng dệt may xuấtkhẩu của Việt Nam và Hoa Kỳ giảm rất nhiều và góp phần nâng cao khả năngcạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam. Loại thuế mà bất kỳ doanh nghiệp nào ở quốc gia nào cần chú ý nhất làthuế chống bán phá giá và thuế đối kháng. Thuế chống bán phá giá(antidumping duties- Ads ) là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu để bán ởHoa Kỳ với giá thấp hơn giá trị đúng của thị trường ( tức là thấp hơn giá bìnhthường ở nước sản xuất và nước sản xuất là nước có nền kinh tế thị trường ).Còn thuế đối kháng ( countervailing duties- CVDs ) là thuế đánh vào hàng 45

×