Your SlideShare is downloading. ×
Alice Bailey - Luận Về Lửa Càn Khôn
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Introducing the official SlideShare app

Stunning, full-screen experience for iPhone and Android

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Alice Bailey - Luận Về Lửa Càn Khôn

3,436
views

Published on

Alice A. Bailey - Luận Về Lửa Càn Khôn (Treatise on cosmic fire)

Alice A. Bailey - Luận Về Lửa Càn Khôn (Treatise on cosmic fire)

Published in: Spiritual

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
3,436
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
111
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. LUẬN VỀ LỬA CÀN KHÔN (A TREATISE ON COSMIC FIRE) ALICE A. BAILEY TẬP I Lucis Publishing Company New York Lucis Press L.T.D London
  • 2. 2 Luận về lửa càn khôn
  • 3. LỜI GIỚI THIỆU Câu chuyện trong nhiều năm về công tác viễn cảm của Chân Sư Tây Tạng với bà Alice A.Bailey được tiết lộ trong tập sách Tự Truyện Dở Dang của bà được xuất bản năm 1951. Sách này nêu ra các trường hợp về lần tiếp xúc đầu tiên của bà với Đức Thầy, trên cõi trần, xảy ra ở California vào tháng 11 – 1919. Công việc của ba mươi năm đã được hoạch định. Khi công việc này đã được hoàn tất, trong vòng ba mươi ngày sau giai đoạn đó, bà Bailey được giải thoát khỏi các hạn chế của thể xác. Quyển Tự Truyện cũng có một số phát biểu của Chân Sư Tây Tạng liên quan đến công việc của Ngài, và một số thông tin về lý do tại sao công việc đó được tiến hành. Vào các giai đoạn ban đầu, công việc có liên quan tới sự quan tâm kỹ lưỡng vào các điều kiện của cõi trần sao cho có thể thuận tiện nhất để giúp cho tiến trình viễn cảm (thần giao cách cảm) được thành công. Nhưng sau nhiều năm, kỹ thuật được hoàn thiện và cơ cấu dĩ thái của bà A. A. B. được điều hợp và hiệu chỉnh một cách khéo léo đến nỗi toàn bộ tiến trình thật sự không cần một chút nỗ lực nào, còn thực tế và sự hữu ích thực tiễn của sự tương tác viễn cảm đã được chứng tỏ là đạt đến trình độ độc nhất vô nhị. Các chân lý thiêng liêng được bàn đến liên quan đến nhiều trường hợp mà cách diễn tả bằng hạ trí cụ thể (thường là với các hạn chế không thể vượt qua của Anh ngữ) đối với các ý tưởng trừu tượng và cho đến bây giờ là các ý niệm về các thực tại thiêng liêng đó hoàn toàn không được hiểu rõ. Giới hạn không thể vượt qua này của chân lý thường được kêu gọi đến sự chú ý của các độc giả quyển sách được tạo ra như thế, nhưng rất thường bị quên đi. Việc luôn luôn nhớ lại điều đó sẽ tạo ra trong các năm sắp đến một trong các yếu tố hàng đầu để ngăn chận sự co cụm lại của giáo lý, nhờ thế khỏi gây ra một sự tôn thờ có tính cách giáo điều và bè phái. VI
  • 4. 4 Luận về lửa càn khôn Quyển sách này, bộ Luận Về Lửa Càn Khôn, được xuất bản lần đầu năm 1925, là quyển thứ ba được ra đời bằng cách kết hợp và đưa bằng chứng hiển nhiên rằng nó sẽ đóng vai trò là phần chủ yếu, và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của các giáo lý trong ba mươi năm qua, tuy rằng cũng có sự sâu sắc và sự hữu ích của các quyển sách được xuất bản trong loạt sách có tựa đề Luận về Bảy Cung hay của bất cứ sách nào khác. Qua lộ trình dài của công việc, các thể trí của Chân Sư Tây Tạng và A.A.B. đã trở nên điều hợp rất chặt chẽ đến nỗi chúng tạo được hiệu quả - xét về các tác phẩm giáo lý có liên hệ - một cơ cấu hợp tác đơn thuần được dự trù. Ngay vào lúc kết thúc, A.A.B. thường nói đến sự ngạc nhiên của bà trước cái nhìn thoáng qua mà bà nhận được qua sự tiếp xúc với thể trí của Chân Sư Tây Tạng, với viễn cảnh vô giới hạn của các chân lý thiêng liêng mà bà không thể có cách nào khác hơn để tiếp nhận, và thường là với một tính chất mà bà không thể diễn tả. Kinh nghiệm này là nền tảng của sự xác quyết thường được công bố của bà nhưng thường thường ít được hiểu biết, đó là mọi giáo lý mà bà đang giúp để tạo ra, thực ra chỉ là A B C của kiến thức huyền bí, và như vậy trong tương lai bà rất sẵn lòng từ bỏ bất luận tuyên bố chính thức nào trong giáo lý hiện hữu, khi bà tìm được giáo lý huyền bí hiện có nào đúng hơn và thâm sâu hơn. Dù trong sáng và sâu sắc như là giáo huấn hiện tại đang hiện hữu trong các sách được xuất bản dưới tên của bà, các chân lý được truyền đạt chỉ có một phần và tuỳ thuộc vào cách khai mở và quãng diễn rằng sự kiện này, nếu được ghi nhớ thường xuyên, sẽ mang lại cho chúng ta một sự bảo vệ thứ hai rất cần có để chống lại tính chất của thể trí cụ thể vốn thường có khuynh hướng tạo ra khuynh hướng bè phái. Vào ngay lúc nỗ lực hợp tác và sau khi xem xét cẩn thận, một quyết tâm được đưa ra giữa Đức Thầy Tây Tạng (D.K.) và A.A.B. rằng bà với tư cách là một đệ tử hoạt động ở ngoại cảnh VII
  • 5. Lời giới thiệu 5 giới, sẽ gánh vác càng nhiều càng tốt trách nhiệm về nghiệp quả trên cảnh giới đó, và như vậy giáo lý sẽ đến được với quần chúng qua chữ ký của bà trên sách. Điều này bao hàm cái gánh nặng ở vị thế lãnh đạo trong lãnh vực huyền bí và sự tấn công và lên án từ phía những người và các tổ chức mà vị thế và các hoạt động của họ thiên về cung Song Ngư và có tính chất độc đoán. Toàn bộ nền tảng mà giáo lý huyền môn dựa vào, ngày nay đang hiện ra trước quần chúng, đã được thoát khỏi các giới hạn và các dại dột của huyền bí, ảo cảm, đòi hỏi và không áp dụng / thi hành được, bởi vị thế đã có của Chân Sư Tây Tạng và A.A.B. Lập trường chống lại sự khẳng định có tính cách giáo điều đã giúp để tạo ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phóng khoáng tâm trí cho các nhà nghiên cứu với việc tiết lộ dần dần Minh Triết Ngàn Đời. Phương pháp xưa cũ để đạt đến chân lý bằng cách chấp nhận uy quyền mới và so sánh chúng với các triết lý đã được lập ra trước đây, trong khi đối với giá trị chắc chắn trong việc luyện trí đang từ từ bị vượt qua. Trong vị trí của nó đang xuất hiện trong cả hai thế giới tôn giáo và triết lý một năng lực mới để chiếm một vị thế khoa học hơn. Giáo lý thiêng liêng sẽ được chấp nhận ngày càng nhiều như là một giả thuyết phải được chứng minh ít ra bởi hệ thống triết học kinh viện, nền móng lịch sử và uy quyền của lịch sử, và thêm nữa bằng các kết quả của hiệu quả của nó trên sự sống đã trải qua và sự hữu ích thực tiễn của nó trong việc giải quyết các vấn đề của nhân loại. Trước đây, giáo lý huyền môn tiên tiến hầu như luôn luôn chỉ có thể nhận được bằng sự chấp nhận thẩm quyền vị đạo sư của môn sinh, các trình độ khác nhau của sự tuân thủ cá nhân đối với vị huấn sư đó và các lời thề giữ bí mật. Khi sự sắp đặt mới mẻ của Kỷ Nguyên Bảo Bình tiến triển, thì các giới hạn này sẽ biến mất. Mối liên hệ cá nhân giữa đệ tử với Đức Thầy vẫn VIII
  • 6. 6 Luận về lửa càn khôn tồn tại, nhưng việc dạy dỗ đệ tử đã được thực hiện trong cách thành lập nhóm. Việc ghi nhận một kinh nghiệm như thế và thực hành phương pháp của kỷ nguyên mới này đã được đưa ra cho công chúng trong quyển sách có tựa Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, sách này đưa ra các giáo huấn cá nhân trực tiếp của Chân Sư Tây Tạng cho một nhóm đệ tử được chọn lựa. Trong bộ Luận Về Lửa Càn Khôn, Đức Thầy Tây Tạng đã đưa ra cho chúng ta những gì mà bà H.P. Blavatsky tiên đoán Ngài sẽ đưa ra, đó là chìa khoá tâm lý học đưa đến Sự Sáng Tạo Vũ Trụ. H.P.B. phát biểu rằng trong thế kỷ 20, một đệ tử sẽ xuất hiện, người đó sẽ đưa ra chìa khoá tâm lý học, cho tác phẩm vĩ đại của chính bà, bộ Giáo Lý Bí Nhiệm, bộ Luận mà Đức Thầy Tây Tạng đã làm việc với bà; và Alice A. Bailey đã làm việc bằng sự nhận thức hoàn toàn về công việc của chính bà theo trình tự này. Tunbridge Wells Tháng 12 – 1950 Foster Bailey
  • 7. Hieán daâng vôùi loøng tri aân daønh cho Helena Petrovna Blavatsky. Vị Đại Đệ Tử Đã Thắp Sáng Ngọn Đuốc Của Bà Ở Đông Phương và Mang Ánh Sáng Đến Âu Châu và Mỹ Châu năm 1875.
  • 8. Trích Phát Biểu của Chân Sư Tây Tạng --***-- Bảo rằng tôi là một đệ tử Tây Tạng ở một trình độ nào đó, thì điều này không giúp cho bạn biết gì nhiều, vì lẽ mọi người đều là đệ tử, từ người tìm đạo thấp thỏi nhất trở đi và lên trên chính Đức Christ nữa. Tôi sinh hoạt trong một thể xác (còn mang xác phàm) giống như bao người khác, trên các biên giới Tây Tạng, và đôi khi (theo quan điểm ngoại môn) điều khiển một nhóm lớn các Lạt Ma Tây Tạng khi ít vướng bận vào các nhiệm vụ. Chính sự việc này khiến người ta đồn đãi rằng tôi là Tu Viện trưởng của Lạt Ma Viện đặc biệt này. Những ai có hợp tác với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (tất cả các đệ tử đích thực đều hợp tác trong công việc này) còn biết tôi bằng một danh xưng và chức vị khác. A.A.B. biết rõ tôi là ai và nhận ra tôi theo hai danh xưng của tôi. Tôi là một huynh đệ của các bạn, kẻ đã bước trên Thánh Đạo xa hơn là đạo sinh bậc trung một ít và do đó đã gánh vác các trách nhiệm lớn lao hơn. Tôi là kẻ đã đấu tranh và mở đường tiến vào một phạm vi ánh sáng rộng lớn hơn là người tìm đạo, tức là kẻ sẽ đọc được đoạn này, và do đó, tôi phải hành động như là kẻ truyền đạt ánh sáng, dù với giá nào. Tôi không phải là kẻ luống tuổi theo số tuổi thường thấy nơi số các huấn sư, tuy nhiên tôi không non trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức của Minh Triết Muôn Thuở nơi nào mà tôi có thể tìm được sự đáp ứng, tôi đã đang làm việc này từ nhiều năm qua. Tôi cũng đã tìm cách để giúp Chân Sư M. và Chân Sư K.H. khi có cơ hội, vì từ lâu, tôi đã liên kết với các Ngài và với công việc của các Ngài. Qua các điều nêu trên, tôi đã nói với bạn nhiều điều, tuy nhiên, đồng thời tôi không nói với bạn điều gì cả, để có thể đưa bạn đến chỗ nghe IX
  • 9. Trích phát biểu của Chân Sư Tây Tạng 9 theo tôi một cách mù quáng và tôn sùng cuồng nhiệt mà người tìm đạo giàu tình cảm bảy tỏ với vị Guru và Chân Sư, Đấng mà cho đến nay, y chưa có thể giao tiếp được. Người tìm đạo cũng sẽ không tạo được sự tiếp xúc theo mong ước cho đến khi nào y chuyển lòng tôn sùng do tình cảm thành việc phụng sự không ích kỷ cho nhân loại - chớ không phải cho Đức Thầy. Các sách do tôi viết, được đưa ra mà không đòi hỏi được chấp nhận. Chúng có thể đúng hoặc không đúng - hữu ích hoặc không hữu ích. Chính bạn mới có thể xác nhận sự chính xác của chúng do thực hành đúng và do luyện được trực giác. Cả tôi lẫn A.A.B. đều không quan tâm bao nhiêu đến việc xem các sách đó như là các tác phẩm tạo ra do linh hứng, hoặc được người nào đó nói đến chúng (một cách háo hức) như là công trình của một trong các Đức Thầy. Nếu các sách này trình bày chân lý theo cách nào mà chân lý đó lại theo đúng trình tự đã được đưa ra trong các giáo lý trên thế giới, nếu điều trình bày trong các sách đó nâng cao được đạo tâm và ý chí phụng sự từ cõi tình cảm lên cõi trí (là cõi mà các Chân Sư có thể hoạt động) thì bấy giờ chúng đã đạt được mục tiêu. Nếu giáo huấn này tạo được sự đáp ứng nơi các thể trí giác ngộ của kẻ hành đạo trên thế gian và giúp cho trực giác của y loé sáng, thì bấy giờ hãy chấp nhận giáo lý đó. Bằng không thì thôi. Nếu các phát biểu này đáp ứng với bằng chứng sau rốt hay là được cho rằng đúng dưới sự thử thách của Định Luật Tương Ứng, bấy giờ chúng mới có giá trị. Nhưng nếu không được như thế thì đạo sinh đừng chấp nhận những gì đã được đưa ra. Tháng 8 – 1934 X
  • 10. LỜI NÓI ĐẦU Bộ “Luận Về Lửa Càn Khôn” này nhắm vào năm mục tiêu: Thứ nhất: cung cấp một phác thảo thu gọn và nòng cốt cho một hệ thống về Vũ Trụ học, triết học và tâm lý học mà có lẽ có thể dùng được cho một thế hệ với cương vị là một nguồn tham khảo và một sách giáo khoa, và có thể dùng làm một khung sườn mà theo đó giáo huấn tỉ mỉ hơn có thể được kiến tạo sau này, khi trào lưu vĩ đại của học thuyết tiến hoá tuôn chảy vào. Thứ hai: để diễn tả những gì thuộc nội tâm bằng các thuật ngữ có thể hiểu được, và để đưa ra giai đoạn tiến tới kế tiếp trong việc tìm hiểu tâm lý học đích thực. Chính việc giải thích mối liên hệ hiện có giữa Tinh Thần với Vật Chất, mối liên hệ này biểu lộ dưới hình thức tâm thức. Người ta cũng thấy rằng Bộ Luận này trước tiên bàn đến khía cạnh trí tuệ đến tâm thức và bàn đến tâm lý học cao siêu, và ít bàn đến vật chất theo như chúng ta biết về nó trên cõi trần. Nguy hại liên quan đến việc đưa ra thông tin về đủ loại năng lượng của chất liệu nguyên tử thì quá lớn, và cho đến nay, nhân loại còn quá ích kỷ không thể giao phó cho các sức mạnh này. Qua công việc có thể có của các nhà khoa học, con người đã tìm ra tri thức cần thiết với mức nhanh chóng thích hợp. Trong sách này, tầm quan trọng sẽ được đặt vào các mãnh lực này, chúng chịu trách nhiệm cho sự biểu lộ ra bên ngoài của một Thái Dương Thượng Đế và của một con người và chỉ trong tiết thứ nhất mà sự chỉ dẫn được đưa ra về bản chất của các năng lượng này vốn được ràng buộc chặt chẽ vào cõi trần. Thứ Ba: cho thấy sự phát triển có mạch lạc của tất cả những gì được tìm thấy bên trong một Thái Dương hệ; chứng XII
  • 11. Lời nói đầu 11 minh rằng mọi sự vật đều tồn tại và tiến hoá (từ hình hài thấp nhất của sự sống ở mức kết khối nặng nhất, lên tới biểu lộ bền dai nhất và cao siêu nhất) và mọi hình hài đó chỉ là biểu hiện của một Sự Hiện Tồn kỳ diệu và thiêng liêng. Sự biểu lộ này được tạo ra bởi sự phối hợp của hai trạng thái thiêng liêng qua ảnh hưởng của một trạng thái thứ ba, và tạo ra sự biểu lộ mà chúng ta gọi là một hình tướng, thúc đẩy nó bắt đầu chu kỳ tiến hoá của nó trong thời gian và không gian. Như vậy hình hài được tạo ra ở điểm mà nơi đó trở thành một môi trường thích hợp cho sự biểu hiện của thiên nhiên về những gì mà ta gọi là Thượng Đế. Thứ tư: đưa ra thông tin thực tiễn liên quan đến các điểm tập trung năng lượng vốn có trong các thể dĩ thái của Thái Dương Thượng Đế, tức Đại Thiên Địa, và của con người tức Tiểu Thiên Địa. Vì lớp nền bằng chất dĩ thái vốn là chất liệu thực sự nằm bên dưới mọi dạng thức hữu hình quen thuộc, nên một số cuộc cách mạng lớn lao sẽ được mang lại trong các lãnh vực khoa học, y khoa và hoá học. Chẳng hạn việc nghiên cứu y khoa, sau rốt sẽ được bắt đầu theo một quan điểm mới và việc thực hành y khoa sẽ được thành lập dựa vào sự hiểu biết về các định luật phát xạ, các dòng từ lực và các trung tâm lực nằm trong các thể của con người và các liên hệ của chúng đối với các trung tâm lực và các luồng thần lực của Thái Dương Hệ. Thứ năm: đưa ra một số thông tin mà từ trước đến giờ không được phổ biến ra bên ngoài về vị trí và công việc của vô số các sinh linh hữu tình vốn hợp thành bản thể của biểu lộ ngoại cảnh; nêu ra bản chất của các Huyền Giai các Đấng Cao Cả, các Ngài tạo ra bằng chính chất liệu của các Ngài tất cả những gì nhìn thấy được và nhận biết được, và các Ngài chính là Linh Hoả và nguyên nhân của tất cả các hiện tượng
  • 12. 12 Luận về lửa càn khôn về nhiệt, hơi ấm, sự sống và chuyển động trong vũ trụ. Theo cách này, tác động của Lửa trên Nước, của Nhiệt trong Vật Chất, dù là xét về mặt đại thiên địa hay tiểu thiên địa, cũng sẽ được giải quyết và một ít ánh sáng được chiếu rọi vào Định Luật Nhân Quả (Luật Karma) và ý nghĩa của nó trong Thái Dương hệ. Để tổng kết vần đề, giáo lý trong sách này sẽ có khuynh hướng đưa đến sự mở rộng về tâm thức, và sẽ mang lại một nhận thức đầy đủ, dưới hình thức một nền tảng tạm đủ, về mặt khoa học lẫn tôn giáo, cho sự giải thích đó đối với các tiến trình của thiên nhiên vốn được đưa ra cho chúng ta qua các trí tuệ của Chân Sư thuộc mọi thời đại. Tiến trình đó sẽ có khuynh hướng mang lại một phản ứng có thiện cảm với một hệ thống triết học, hệ thống này sẽ nối liền cả về Tinh Thần lẫn Vật Chất, đồng thời chứng minh sự hợp nhất bản thể của ý niệm về khoa học và tôn giáo. Hiện giờ, cả hai có phần nào tách rời nhau, còn chúng ta chỉ mới bắt đầu dò dẫm bằng con đường trí tuệ của chúng ta lối thoát ra khỏi các hố sâu của cách diễn dịch theo vật chất. Tuy nhiên, đừng nên quên rằng, dưới Định Luật Tác Động và Phản Tác Động, giai đoạn dài của tư tưởng duy vật đã là một giai đoạn cần thiết cho nhân loại, bởi vì thuyết huyền bí của Thời Trung Cổ (1 ) đã dẫn chúng ta đi quá xa vào hướng ngược lại. Hiện giờ chúng ta đang có khuynh hướng tiến đến một quan điểm thăng bằng hơn, và người ta hy vọng rằng bộ luận này có thể tạo thành một phần của tiến trình mà nhờ đó sự thăng bằng được đạt đến. 1 Thời Trung Cổ (Middle Ages): giai đoạn của lịch sử Châu Âu, kéo dài từ lúc biến mất Đế quốc La Mã (Năm 476 của Công Nguyên) đến lúc sụp đổ thành Constantinople (1453). (Tự Điển La Rousse 1995)
  • 13. Lời nói đầu 13 Khi nghiên cứu bộ luận này, đạo sinh nên ghi nhớ vài điều: a. Đó là khi bàn đến các đề tài này, chúng ta quan tâm tới bản thể (essence) của những gì hiện ra ngoại cảnh, với khía cạnh bên trong của biểu lộ, đồng thời với việc xem xét về lực và năng lượng. Hầu như không thể rút gọn các quan niệm như thế thành các công thức cụ thể và diễn tả các quan niệm đó theo một cách sao cho chúng có thể trở thành hiểu được đối với thường nhân. b. Đó là khi chúng ta dùng các từ ngữ, các nhóm từ và diễn tả bằng thuật ngữ của cách nói hiện đại, tất nhiên toàn bộ vấn đề trở nên bị hạn chế và bị làm cho nhỏ lại, vì lẽ đó nhiều chân lý bị mất đi. c. Đó là tất cả những gì trong bộ luận này được trình bày trong một tinh thần không giáo điều, mà chỉ với tư cách một đóng góp cho khối ý tưởng dựa vào chủ đề các cội nguồn thế giới và cho dữ liệu đã được tích luỹ về bản chất của con người. Điều hay nhất mà con người có thể đưa ra như là một giải đáp cho vấn đề thế giới, tất yếu phải khoác lấy một hình thức kép và sẽ minh chứng qua một cách sống phụng sự tích cực, có khuynh hướng việc cải thiện các điều kiện chung quanh và qua một trình bày về một hệ thống vũ trụ nào đó hay kế hoạch vốn sẽ tìm cách giải thích càng nhiều càng hay về các tình trạng như chúng được thấy hiện hữu. Luận cứ mà con người đưa ra hiện nay đến từ nền tảng của các nguyên nhân được biết rõ và đã được chứng minh, và bỏ lại các nguyên nhân không được biết đến hoặc chưa giải thích được, vì các nguyên nhân ăn sâu này phải được coi như là đang tạo ra các nguyên nhân đã thấy và biết, mọi giải đáp mà cho đến nay vẫn thất bại và sẽ tiếp tục thất bại trong mục tiêu của chúng.
  • 14. 14 Luận về lửa càn khôn d. Đó là mọi cố gắng để diễn đạt bằng ngôn từ những gì phải được cảm nhận và còn tồn tại (lived) ngõ hầu được hiểu một cách trung thực, nhất định phải được chứng minh là một đau khổ không cần thiết. Tất cả những gì có thể được nói đến, sau rốt sẽ chỉ là các phát biểu từng phần của Đại Chân Lý hãy còn bị che giấu, và phải được đưa ra cho độc giả và người nghiên cứu dưới hình thức chỉ là một giả thuyết thích hợp và là một giải thích gợi ý. Đối với nhà nghiên cứu đã mở trí và người đang lưu giữ được hồi ức trong trí rằng chân lý được tiết lộ từng nấc một, thì điều hiển nhiên là cách diễn đạt chân lý đầy đủ nhất chỉ có thể có được vào bất cứ một lúc nào sẽ được nhận ra sau này chỉ là một phần của một tổng thế, và sau này vẫn còn được nhận ra chỉ là các phần nhỏ của một sự thật và như vậy trong chính nó là một sự lệch lạc của thực tại. Bộ luận này được đưa ra với hy vọng rằng nó có thể tỏ ra hữu ích cho tất cả những người đi tìm chân lý có tâm trí mở rộng, đồng thời nó cũng có giá trị cho tất cả các nhà sưu khảo vào Cội Nguồn bên trong của tất cả những gì biểu lộ hữu hình ra bên ngoài. Nó nhắm vào việc cung cấp một kế hoạch hợp lý thuộc cơ tiến hoá của Thái Dương Hệ và nhắm vào việc nêu ra cho con người cái phần mà con người phải tham dự với tư cách một đơn vị nguyên tử trong một Tổng Thể vĩ đại và có kết hợp. Trong công cuộc xoay chuyển bánh xe tiến hoá, đoạn này của Giáo Lý Bí Nhiệm xuất hiện trước thế gian mà không đòi hỏi nào về cội nguồn của nó, hiệu quả tuyệt đối của nó hoặc là độ chính xác trong chi tiết của các phát biểu của nó. Không một quyển sách nào lấy được bất cứ gì từ các đòi hỏi hoặc các tuyên ngôn có tính cách giáo điều đối với giá trị thẩm quyền của cội nguồn đem lại linh hứng của nó. Nó sẽ đứng vững hoặc là rơi một mình vào cái nền tảng của chính XV
  • 15. Lời nói đầu 15 cái giá trị tồn tại bên trong của chính nó, dựa vào giá trị của các gợi ý được tạo ra, và sức mạnh của nó để thúc đẩy sự sống tâm linh và sự thấu hiểu về mặt trí tuệ của người đọc. Nếu bộ luận này có trong nó bất cứ chân lý nào và bất cứ sự thực nào, thì nó sẽ làm tròn công việc của nó một cách hiển nhiên và tất yếu, ấy là mang được thông điệp của nó, và như vậy đến được tâm và trí của các nhà tìm kiếm chân lý ở khắp nơi. Nếu nó không có được chút giá trị nào, và không có được căn bản sự thật nào, thì nó sẽ không còn hiện hữu nữa và sẽ chết, hiển nhiên là thế. Tất cả những gì được đòi hỏi từ nơi nhà nghiên cứu bộ luận này, là một sự tiếp cận với tinh thần đồng cảm, một sự sẵn lòng xem xét các quan điểm được đưa ra cùng với sự trung thực và thành tâm về tư tưởng, nó sẽ có khuynh hướng đưa đến sự phát triển trực giác, đến sự chẩn đoán thiêng liêng, và một sự phân biện vốn sẽ đưa đến việc bác bỏ điều giả và chấp nhận điều chân. Ở đây, các lời của Đức Phật được đánh giá cao sâu nhất, có được chỗ đứng của nó, và trở thành một kết luận thích hợp cho các nhận xét mở đầu này : Đức Phật có nói: Rằng chúng ta đừng nên tin vào một điều gì được nói ra chỉ vì nó được nói mà thôi; đừng tin vào các truyền thống vì chúng đã được truyền xuống từ thời xa xưa; đừng tin vào các đồn đãi như thế; cũng không tin vào các câu viết của các vị thánh, vì các thánh đó đã viết ra các câu ấy; cũng đừng tưởng rằng chúng ta có thể nghi ngờ khi được một Thiên Thần gợi hứng nơi chúng ta (nghĩa là, trong những gì được cho là có chứa hứng cảm tâm linh); cũng đừng tin vào các suy đoán được rút ra từ một giả định không cẩn trọng nào đó mà chúng ta có thể đưa ra; cũng như không vì những gì có vẻ như một sự tương đồng tất yếu; cũng không chỉ dựa vào
  • 16. 16 Luận về lửa càn khôn thẩm quyền của các huấn sư hoặc các bậc thầy của chúng ta. Nhưng chúng ta phải tin khi nào bài viết, lý thuyết hoặc châm ngôn được chứng thực bằng chính lý lẽ và ý thức của chúng ta. Để kết luận, Ngài nói: “Vì lẽ đó, ta khuyên con đừng nên tin chỉ vì con đã nghe, mà hãy nên tin vào ý thức của con, rồi hãy hành động cho thật phù hợp với điều đã biết”. Giáo Lý Bí Nhiệm III, 401 Mong cho đây là thái độ của mọi độc giả của Bộ “Luận Về Lửa Càn Khôn” này. Alice A. Bailey Ghi chú: Các cước chú của toàn thể Bộ Luận này, Bộ “Giáo Lý Bí Nhiệm” của bà H.P.Blavatsky, có ghi rõ bằng các chữ đầu S.D. Các trang qui chiếu thuộc về “Ấn bản Thứ ba có duyệt lại” Minh giải của người dịch về tựa sách Sở dĩ chữ “cosmic” ở đây được dịch ra “Càn Khôn là vì theo vua Phục Hi (Fohi), quẻ Càn ( ) tượng trưng trời, quẻ Khôn ( ) tượng trưng đất. Đây là vũ trụ, trong có chứa bầu trời và trái đất của chúng ta, tức là Vũ trụ thu hẹp trong Thái Dương Hệ của chúng ta, khác với vũ trụ bao la, có đến 100 tỉ thiên hà, mỗi thiên hà chứa ít nhất 100 tỉ mặt trời (Giai Điệu Bí Ẩn của Trịnh Xuận Thuận, nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật, Hà Nội, 2000). Quả vậy, các sự việc được Chân Sư D.K bàn đền trong BỘ Luận này hầù hết chỉ nằm trong phạm vi Thái Dương Hệ chúng ta mà thôi. XVI
  • 17. LỬA “Giáo lý nội môn nói gì về Lửa ?” Lửa là hình ảnh hoàn hảo nhất và không bị pha trộn, trên Trời cũng như dưới thế, của Ngọn Linh Hoả Duy Nhất. Đó là sự sống và cái chết, Cội nguồn và Kết thúc của mọi đối tượng vật chất. Đó là Chất Liệu Thiêng Liêng”. Giáo Lý Bí Nhiệm I, 146. Địa cầu của chúng ta và con người chúng ta đều là sản phẩm của Ba Loại Lửa. GLBN II, 258. Lửa và Ngọn Lửa huỷ diệt thân thể của một La Hán; tinh hoa của các Ngài biến Ngài thành bất tử. GLBN I, 35 Ba Loại Lửa I. Lửa Bên Trong hay Lửa do Ma Sát “Có nhiệt bên trong và nhiệt bên ngoài trong mọi nguyên tử, hơi thở của Cha (Tinh Thần) và hơi thở (hay nhiệt) của Mẹ (vật chất) “ GLBN I, 112 II. Lửa của Trí Tuệ hoặc Lửa Thái Dương “Lửa tri thức đốt hết mọi hành động trên cõi trần của ảo tưởng, do đó những người có được Lửa đó và được giải phóng thì được gọi là “Lửa”. GLBN I , 114 III. Lửa Tinh Thần hay Lửa Điện “Hỡi đệ tử, hãy ngẩng cao đầu, ngươi sẽ thấy ánh sáng duy nhất hoặc vô số ánh sáng bên trên ngươi, đang bừng cháy trong bầu trời tối đen nửa đêm hay không?” “Hỡi Thiên Thần Đạo Sư, con cảm nhận được Ngọn Lửa duy nhất; con thấy vô số linh quang tách rời đang chiếu sáng trong đó”. GLBN I, 145
  • 18. MỤC LỤC Trang (Anh ngữ) Các định đề mở đầu .............................................................3 Các Đoạn Thiền Kinh ...........................................................11 Tiết Một Các Nhận Xét Mở Đầu ........................................................37 I. Lửa trong Đại Thiên Địa .................................................37 II. Lửa trong Tiểu Thiên Địa ...............................................45 III. Lửa trong Biểu Lộ .......................................48 Đoạn A . Lửa Nội Tại của các Thể ....................................55 I. Ba Vận Hà ........................................................................55 II. Hoả tinh linh và Hoả Thiên Thần ...............................65 Đoạn B. Cung Phàm Ngã và Lửa Thứ Nhất ...................69 I. Công việc của ba cung II. Cung phàm ngã và các nguyên tử thường tồn ..........71 III. Cung phàm ngã và Luật Nghiệp quả .......................73 Đoạn C. Thể Dĩ Thái và Prana ......................................77 I. Bản chất của thể dĩ thái ........................................77 1. Mục đích thể dĩ thái – Mô tả ....................................78 2. Tám phát biểu .......................................81 II. Bản chất của Prana .......................................87 1. Prana thái dương ......................................90 2. Prana hành tinh ......................................91 3. Prana của hình hài ......................................93 III. Chức năng của thể dĩ thái ......................................97 1. Đó là nơi tiếp nhận prana ......................................97 2. Đó là nơi đồng hoá prana ......................................99 3. Đó là nơi truyền prana .........................................101 4. Các xáo trộn của thể dĩ thái .....................................104
  • 19. Mục lục 19 IV. Dĩ thái trong Đại Thiên Địa và Tiểu Thiên Địa ..........111 1. Hành Tinh Thượng Đế và các dĩ thái .....................111 2. Dĩ thái vũ trụ và thái dương hệ ..............................116 3. Mục đích che chở của thể dĩ thái ............................122 V. Sự chết và thể dĩ thái ........................................128 Đoạn D – Kundalini và xương sống ..................................134 I. Kundalini và ba tam giác ........................................135 1. Trong đầu ........................................135 2. Trong cơ thể ........................................135 3. Ở chót xương sống ........................................135 II. Việc đi lên của Kundalini ........................................139 Đoạn E - Chuyển động trên cõi trần và cõi cảm dục .......141 I. Các nhận xét mở đầu ........................................141 II. Các hiệu quả của chuyển động quay ..........................152 III. Các tính chất của chuyển động quay .........................157 IV. Chuyển động quay và biểu tượng học ......................159 V. Chuyển động và các trung tâm lực ...........................161 1. Bản chất các trung tâm lực .........................................163 2. Các trung tâm lực và các cung ...................................173 3. Các trung tâm lực và Kundalini ...............................183 4. Các trung tâm lực và các giác quan .........................185 5. Các trung tâm lực và điểm đạo ................................207 Đoạn F - Định Luật Tiết Kiệm ........................................214 I. Hiệu quả của Định Luật Tiết Kiệm trong vật chất ....214 II. Các định luật phụ của Định Luật Tiết Kiệm ..............219 1. Định Luật Rung Động .........................................219 2. Định Luật Thích Nghi ...........................................219 3. Định Luật Đẩy ............................................ 219 4. Định Luật Ma Sát ............................................. 219 Tiết Hai
  • 20. 20 Luận về lửa càn khôn Các câu hỏi mở đầu ................................................223 I. Liên hệ gì của Con với Mặt Trời ? .................................225 II. Sự tiến hoá là gì và nó nối tiếp như thế nào? ...............231 III. Tại sao Thái Dương hệ tiến hoá theo đường lối nhị nguyên ? .................................................................................. 237 IV. Tâm thức là gì và vị trí của nó trong hệ thống là gì?... 243 V. Có sự tương đồng trực tiếp giữa một Thái dương hệ, một hành tinh, một con người và một nguyên tử hay không ?...245 VI. Trạng thái trí tuệ là gì ? Ai là con của Trí Tuệ ? ....... 259 VII. Tại sao có sự tiến hoá theo chu kỳ ? ........................ 273 VIII. Tại sao có sự hiểu biết cả công truyền và bí truyền ?.. 285 IX. Mối liên hệ gì giữa: a/ 10 hệ thống- b/ 7 hành tinh thánh thiện- c/ 7 dãy trong một hệ thống – d/ 7 bầu hành tinh trong một dãy – e/ 7 cuộc tuần hoàn trên một bầu hành tinh – f/ 7 căn chủng và phụ chủng. Đoạn A - Bản chất của Manas hay là Trí Tuệ ...............308 I. Ba biểu lộ của trí tuệ ........................................308 II. Vài định nghĩa của Manas hay trí tuệ .....................309 1. Manas là nguyên khí thứ năm ................................309 2. Manas là điện .......................................310 3. Manas là cái tạo ra sự cố kết .......................................332 4. Manas là chìa khoá đưa đến giới thứ 5 trong thiên nhiên ..................................................................................................334 5. Manas là tổng hợp của 5 cung .................................. 336 6. Manas là Ý chí thông tuệ hay thiên ý của một Đấng 337 Đoạn B. Manas dưới hình thức một yếu tố vũ trụ, thái dương hệ và con người. ....................................................... 342 I. Cội nguồn của manas hay trí tuệ ..............................343 1. Manas vũ trụ ..............................................................343 a. Tiến trình biệt ngã hoá .........................................343
  • 21. Mục lục 21 b. Phương pháp khai mở ..........................................348 2. Manas hành tinh .....................................350 a. Tâm thức và sự hiện tồn .........................................350 b. Ý chí và thiên cơ an bài .........................................353 3. Manas con người .....................................355 a. Con người và Hành Tinh Thượng Đế ..................356 b. Thượng Đế của hệ thống Địa cầu .........................360 c. Kim Tinh và dãy Địa cầu ........................................367 4. Manas và dãy Địa Cầu ....................................378 a. Dãy Địa cầu và các Chân Thần lâm phàm .............379 b. Giới thứ tư và Huyền Giai Hành Tinh .................386 c. Một tiên đoán .........................................389 d. Tóm tắt ........................................393 II. Vị thế của Manas ........................................395 1. Manas và Karma ......................................395 2. Manas và mục tiêu nghiệp quả ..................................397 III. Giai đoạn hiện tại của sự phát triển manas ..............401 1. Trong các hành tinh ......................................402 2. Trong hệ thống ......................................408 3. Trên Địa Cầu ......................................412 IV. Tương lai của manas .......................................417 1. Các đặc điểm của manas hay trí tuệ ........................418 a. Sự phân biện .......................................418 b. Hoạt động đã an bài .......................................421 c. Tính thích nghi ......................................423 2. Phát triển của trí người .....................................424 a. Hiệu quả của cung ......................................427 b. Con vật, con người và các cung .............................457 c. Loại nghiệp quả ......................................469 3. Manas trong các cuộc tuần hoàn cuối .......................475
  • 22. 22 Luận về lửa càn khôn a. Tiến trình chuyển hoá .....................................475 b. Tổng hợp ......................................498 Đoạn C . Cung Chân Ngã và Lửa Thái Dương ..........504 I. Bản chất của thể Chân Ngã hay thể nguyên nhân .....505 1. Hợp thành bởi sự tiếp xúc của hai Lửa ...................505 2. Được tạo ra vào lúc biệt ngã hoá ..............................506 II. Bản chất của các nguyên tử thường tồn ....................507 1. Mục tiêu của chúng .......................................507 2. Vị trí của chúng trong thể Chân Ngã .......................510 a. Nguyên tử thường tồn thể tình cảm ..................510 b. Tam giác nguyên tử ........................................513 3. Loa tuyến và cung chân ngã .......................................515 a. Thành phần của nguyên tử thường tồn .............515 b. Các cõi và năng lượng Lửa ..................................518 c. Ba loại Lửa ........................................522 4. Tóm lược ......................................530 III. Hoa Sen Chân Ngã .......................................536 1. Luân Xa hay các trung tâm năng lượng ....................537 a. Các trung tâm lực ........................................537 b. Thể nguyên nhân ........................................538 2. Hoa Sen mười hai cánh ........................................538 a. Ba cánh hoa kiến thức ........................................539 b. Ba cánh hoa bác ái .........................................540 c. Ba cánh hoa hy sinh ........................................541 3. Tóm lược Đoạn D – Hình tư tưởng và Hoả tinh linh ....................550 I. Hình tư tưởng ........................................551 1. Chức năng của hình tư tưởng .................................551 a. Đáp ứng với rung động ........................................552 b. Cung cấp các hiện thể cho các ý tưởng ...................556
  • 23. Mục lục 23 c. Thi hành các mục tiêu đặc biệt ................................560 2. Các định luật về tư tưởng .......................................567 a. Ba định luật cấp vũ trụ .........................................567 b. Bảy định luật cấp thái dương hệ ............................569 II. Các hình tư tưởng và thiên thần ..................................601 1. Thần cai quản Lửa, Agni .........................................601 a. Agni và Thái Dương Thượng Đế ............................601 b. Agni và cõi trí ........................................604 c. Agni và ba loại Lửa ........................................606 2. Hoả thiên thần, các vị Kiến Tạo Vĩ Đại ......................612 a. Các phát biểu mở đầu .......................................612 b. Chức năng của các thiên thần ................................620 c. Thiên thần và các cõi .........................................627 3. Các Thái Dương Thiên Thần, các Agnishvattas .........679 Dẫn nhập ............................................679 A. Về nguyên khí thứ năm ..................................689 a. Xét về mặt vũ trụ ......................................689 b. Xét về mặt vật hoạt luận ......................................693 c. Thái Dương Thiên Thần và Nguyên Khí thứ Năm ..................................................................................................698 B. Về sự biệt ngã hoá ....................................707 a. Công việc của Thái Dương Thiên Thần ................707 b. Biệt ngã hoá và các giống dân ..............................714 c. Phương pháp biệt ngã hoá ......................................717 d. Các Avatara, bản chất và công việc của các Ngài 721 e. Biệt ngã hoá, một hình thức điểm đạo ...................729 C. Về sự luân hồi ....................................732 a. Luân hồi về mặt vũ trụ, hành tinh và con người 732 b. Bản chất của chu kỳ qui nguyên ........................734 c. Các kiểu mẫu luân hồi của con người ................744
  • 24. 24 Luận về lửa càn khôn d. Sự tái lâm sau này của Đấng Avatar ................747 e. Sự thôi thúc và sự luân hồi ...................................760 f. Hoạt động của các Pitris ...................................773 g. Công việc kiến tạo hình hài ...................................783 h. Luân hồi và Karma ..................................791 D. Về việc kiến tạo thể nguyên nhân ...........................807 a. Các nhận xét mở đầu ..................................807 b. Tiến hoá của các cánh hoa ..................................816 c. Các tên gọi của hoa sen chân ngã ........................840 d. Các cánh hoa và các trung tâm lực dĩ thái .........857 e. Điểm đạo và các cánh hoa ..................................868 4. Hoả tinh linh, các nhà kiến tạo thứ yếu ....................887 a. Mở đầu ................................887 b. Các tinh linh cõi trần ................................889 c. Tinh linh và các dĩ thái ................................910 d. Tinh linh và tiểu thiên địa ................................936 III. Con người, một kẻ sáng tạo trong chất trí .................947 1. Sáng tạo các hình tư tưởng ..................................947 2. Tạo ra hình tư tưởng trong ba cõi thấp ..............958 IV. Con người và các hoả chơn linh ..............................963 1. Trạng thái ý chí và sự sáng tạo ............................963 a. Điều kiện của nhà huyền thuật .......................964 b. Xây dựng các hình tư tưởng .............................968 c. Ý nghĩa huyền linh của ngôn từ ......................977 2. Bản chất của huyền thuật ...............................982 a. Ma thuật và huyền linh thuật .........................984 b. Cội nguồn của ma thuật .............................989 c. Các điều kiện đối với huyền linh thuật ..........993 3. Mười lăm qui luật cho huyền thuật ....................996 a. Sáu qui luật đối với cõi trí .............................997
  • 25. Mục lục 25 b. Năm qui luật đối với cõi cảm dục ...................1008 c. Bốn qui luật đối với cõi trần .............................1021 Đoạn E - Chuyển động trên cõi trí ..................................1027 I. Các nhận xét mở đầu ..........................................1027 II. Bản chất của chuyển động này ..................................1032 III. Các kết quả hoạt động của nó .................................1039 1. Định luật về sự mở rộng ...................................1040 2. Định luật về sự trở về của Chân Thần ...............1046 3. Định Luật về sự tiến hoá thái dương ................1054 4. Định Luật về bức xạ ...................................1060 IV. Sự trở lại của bánh xe ..........................................1083 V. Chuyển động và khía cạnh kiến tạo hình hài 1. Chuyển động và thể trí 2. Chuyển động trong thể nguyên nhân ................1109 VI. Các hậu quả của chuyển động tổng hợp ....................1128 1. Các nhận xét mở đầu ...................................1128 2. Nguyên nhân của biểu lộ có chu kỳ ....................1132 3. Tạo ra khoen nối hình tam giác ...........................1152 4. Tạo ra mối liên hệ giữa ba trung tâm lực ............1155 Đoạn F - Định Luật Hút .......................................................1166 I. Các định luật phụ ..........................................................1168 1. Định Luật về Ái Lực Hoá học .................................1168 2. Định Luật về Tiến Bộ ...............................................1168 3. Định Luật về Tính Dục .............................................1168 4. Định Luật về Từ Điển ...............................................1169 5. Định Luật về Phát xạ ................................................1170 6. Định Luật về Liên Hoa..............................................1171 7. Định Luật về Màu sắc ..............................................1171 8. Định Luật về Trọng Lực .....................................1172 9. Định Luật về Ái Lực Hành Tinh .............................1172
  • 26. 26 Luận về lửa càn khôn 10. Định Luật về Hợp Nhất Thái Dương ....................1173 11. Định Luật về các Trường Phái ................................1173 II. Các hậu quả của Luật Hút .........................................1185 1. Sự liên kết .................................................................1185 2. Tạo hình tướng ..........................................................1186 3. Sự thích nghi của hình hài với sự sống .................1188 4. Sự hợp nhất tập thể ...................................1211 III. Các liên hệ của nhóm .........................................1213 1. Ba liên hệ về nguyên tử ....................................1215 2. Bảy định luật cho công việc tập thể ......................1216 3. Hai mươi mốt phương pháp tương tác .................1222 Tiết Ba Lửa Điện của Tinh Thần Đoạn A. Một vài nguyên tác cơ bản ...................................1229 Đoạn B. Bản chất Bảy Vũ Trụ Đạo .....................................1241 Đoạn C. Bảy Đoạn Kinh huyền bí ......................................1267 Mục lục .................................................................................1285 CÁC LƯỢC ĐỒ 1. Tiến hoá của vật chất trang 56 2. Thượng Đế của một Thái dương hệ 94 3. Cấu tạo của con người 117 4. Pleroma 226 5. Tiến hoá của một Thái Dương Thượng Đế 344 6. Đồ hình thất phân của Thái Dương 373 7. Hệ thống địa cầu 385 8. Hoa sen Chân ngã và các trung tâm lực 817 9. Hoa sen Chân ngã 823 10. Khoa học về tham thiền 961
  • 27. Mục lục 27 11. Nguyên tử 1181 12. Parabrahm 1230 13. Huyền giai Thái dương và Hành tinh 1238 Bảng biểu nguyên trang 1. Lửa và các trạng thái trang 42 2. Tiến hoá trong Vũ trụ 293 3. Các Trạng Thái và Sự Tiến Hoá 444 4. Các Thực Thể Thông Linh Kiến Tạo 565 5. Hoả Tinh Quân 607 6. Các Sinh Linh và mục tiêu 844 7. Các Năng Lượng 1187
  • 28. CÁC ĐỊNH ĐỀ MỞ ĐẦU ((IINNTTRROODDUUCCTTOORRYY PPOOSSTTUULLAATTEESS)) Giảng huấn được đưa ra trong bộ “Luận Về Lửa Càn Khôn” này có thể được phát biểu trong các thuật ngữ sau. Các định đề này chỉ là các quãng diễn về ba điểm căn bản ở trong lời tựa của quyển I bộ Giáo Lý Bí Nhiệm (The Secret Doctrine) của bà H.P. Blavatsky. Đạo sinh được khuyến cáo nên nghiên cứu chúng một cách thận trọng; bằng cách đó, việc tìm hiểu của đạo sinh về bộ Luận này sẽ được trợ giúp rất nhiều. I. Có một Bản Nguyên Vô Hạn Bất Di Dịch (Boundless Immutable Principle); một Thực Tại Tuyệt Đối vốn có trước mọi Đấng biểu lộ hữu hạn. Bản Nguyên đó vượt ngoài tầm và phạm vi hiểu biết của bất luận ý tưởng hay cách diễn đạt nào của con người. Vũ trụ biểu lộ được chứa đựng trong Thực Tại Tuyệt Đối này và là một biểu tượng có hạn định của Thực Tại Tuyệt Đối đó. Trong toàn thể Vũ Trụ biểu lộ này, có ba trạng thái được nhận thức. 1. Vũ Trụ Thượng Đế Ngôi Một, vô ngã và vô hiện, có trước Vũ Trụ Biểu Lộ. 2. Vũ Trụ Thượng Đế Ngôi Hai, Tinh Thần -Vật Chất, Sự Sống, Tinh Thần của Vũ Trụ. 3. Vũ Trụ Thượng Đế Ngôi Ba, Thiên Ý Hồng Nguyên Vũ Trụ, Linh Hồn Vũ Trụ Đại Đồng.
  • 29. CÁC ĐỊNH ĐỀ MỞ ĐẦU 29 Từ các nguyên lý sáng tạo căn bản này, trong phát triển kế tiếp, có xuất phát theo trình tự được an bài. Vô số Vũ Trụ gồm hằng hà sa số các Tinh Tú Biểu Lộ và các Thái Dương Hệ. Mỗi Thái Dương hệ là sự biểu lộ của năng lượng và sự sống của một Đấng Vũ Trụ vĩ đại, Đấng mà vì thiếu một danh xưng hoàn hảo hơn, chúng ta gọi là Thái Dương Thượng Đế. Thái Dương Thượng đế lâm phàm hay biểu lộ qua trung gian của một Thái Dương Hệ. Thái Dương hệ này là xác thể hay sắc tướng của Đấng Vũ Trụ và chính Đấng này tam phân (itself triple). Thái Dương hệ tam phân này có thể được mô tả bằng tên gọi có ba trạng thái (three aspects), hay là (theo như Thần học Cơ Đốc giáo) là ba Ngôi (three Persons). LỬA ĐIỆN hay TINH THẦN Ngôi Một: Chúa Cha, Sự Sống. Ý chí. Thiên Ý. Năng lượng dương LỬA THÁI DƯƠNG hay LINH HỒN Ngôi Hai: Chúa Con. Tâm Thức. Bác Ái Minh Triết. Năng lượng thăng bằng. LỬA do Ma Sát hay Xác Thể hay Vật Chất. Ngôi Ba: Chúa Thánh Thần. Sắc tướng. Thông tuệ hoạt động. Năng lượng âm. Mỗi Ngôi lại biểu lộ tam phân, do đó tạo ra 9 tiềm lực (potencies) hay Phân thân. 9 Sephiroth. 9 nguyên nhân Điểm Đạo. Các Ngôi này, với toàn thể biểu lộ hay Tổng Thể, tạo ra 10 của biểu lộ hoàn hảo hay Con Người hoàn thiện. 4
  • 30. 30 Luận về lửa càn khôn Ba trạng thái của Tổng Thể này hiện diện trong mỗi sắc tướng. a. Thái dương hệ tam phân, biểu lộ qua ba Ngôi nói trên. b. Một con người cũng tam phân, biểu lộ thành Tinh Thần, Linh Hồn và Xác thể, hay Chân Thần, Chân Ngã và Phàm Ngã. c. Nguyên tử của nhà khoa học cũng tam phân, được tạo thành bằng một nhân dương, các âm điện tử và toàn thể sự biểu lộ bên ngoài kết quả của sự liên lạc của hai thành phần kia. Ba trạng thái của mỗi hình hài đều có liên quan hỗ tương và có thể trao đổi nhau (intercourse), vì a. Năng lượng ở trạng thái chuyển động và tuần hoàn. b. Mọi hình hài trong Thái dương hệ đều là một phần tử của Tổng Thể và không phải là các đơn vị biệt lập. c. Đây là nền tảng của tình huynh đệ, của sự thông công của các Thánh và của chiêm tinh học. Ba trạng thái này của Thượng Đế, tức Thái Dương Thượng Đế, và Năng Lượng Trung Ương hay Thần Lực (vì các tên gọi đều đồng nghĩa về phương diện huyền linh) biểu lộ xuyên qua bảy trung tâm lực – 3 trung tâm lực chính yếu và 4 trung tâm lực thứ yếu. Bảy trung tâm này của Thiên Lực được tạo nên để hợp thành các Thực Thể Thông Linh kết hợp. Các Đấng này được biết dưới danh xưng: a. Bảy Hành Tinh Thượng Đế. b. Bảy Tinh Quân trước Thiên Toà. c. Bảy Cung (Rays). d. Bảy Thiên Đế (Heavenly Men). 5
  • 31. CÁC ĐỊNH ĐỀ MỞ ĐẦU 31 Bảy Hành Tinh Thượng Đế là hiện thân của 7 loại thần lực khác nhau và trong Bộ Luận này được nói đến dưới danh hiệu là các Huyền Cung Tinh Quân (Lords of the Rays). Tên gọi của các Cung là: Cung I : Cung Ý Chí hay Quyền Năng Ngôi Một Cung II : Cung Bác Ái Minh Triết Ngôi Hai Cung III : Cung Trí Tuệ Hoạt Động Ngôi Ba Đây là các Cung chính yếu. Cung IV : Cung Hài Hoà, Mỹ Lệ và Nghệ Thuật. Cung V : Cung Kiến Thức Cụ thể hay Khoa Học. Cung VI : Cung Sùng Tín hay Lý Tưởng Trừu Tượng. Cung VII : Cung Nghi Lễ Huyền Thuật hay Trật Tự. II. Có một định luật căn bản được gọi là Định Luật Chu Kỳ (Law of Periodicity). 1. Định luật này chi phối mọi biểu lộ, dù là biểu lộ của một Thái Dương Thượng Đế qua một Thái Dương hệ, hay là biểu lộ của con người qua hình hài. Định luật này cũng kiểm soát trong mọi giới của thiên nhiên. 2. Có một số định luật khác trong Thái Dương Hệ được liên kết với định luật này; một số định luật đó như sau : a. Định luật Tiết Kiệm (Law of Economy)… định luật chi phối vật chất, Ngôi Ba. b. Định luật hấp dẫn (Law of Attraction)… định luật chi phối Linh hồn, Ngôi Hai. c. Định luật Tổng hợp (Law of Synthesis)… định luật chi phối tinh thần, hay Ngôi Một. 3. Ba định luật này là định luật vũ trụ. Có 7 định luật thuộc Thái Dương Hệ đang chi phối sự biểu lộ của Thái Dương Thượng Đế chúng ta: a. Định luật Rung động (Law of Vibration) 6
  • 32. 32 Luận về lửa càn khôn b. Định luật Kết hợp (Law of Cohesion) c. Định luật Phân tán (Law of Disintegration) d. Định luật Kiểm soát Từ điển (Magnetic Control) e. Định luật Qui định (Law of Fixation) f. Định luật Bác Ái (Law of Love) g. Định luật Hy sinh và Tử Vong (Law of Sacrifice and Death) 4. Mỗi một trong các định luật này biểu lộ chủ yếu trên một cõi này, hoặc cõi khác trong 7 cõi của Thái dương hệ. 5. Mỗi định luật hoạt động theo chu kỳ và mỗi cõi có chu kỳ biểu lộ và chu kỳ qui nguyên của nó. 6. Mỗi sự sống biểu lộ đều có 3 chu kỳ lớn : Khai sinh (Birth) Linh hoạt (Life) Tử Vong (Death) Xuất hiện Tăng trưởng Biến mất Giáng hạ tiến hoá Thăng thượng tiến hoá Qui nguyên Bất động Hoạt động Chuyển động nhịp nhàng Sự sống tĩnh tại Sự sống sinh động Sự sống nhịp nhàng 7. Việc hiểu biết về các chu kỳ bao gồm việc hiểu biết về con số, âm thanh và màu sắc. 8. Chỉ có các Chân Sư hoàn thiện mới có được sự hiểu biết đầy đủ về bí nhiệm của các chu kỳ. III. Mọi linh hồn đều tương tự với Đại hồn (Oversoul). 1. Thượng Đế của Thái dương hệ là Đại thiên địa (Macrocosm). Con người là Tiểu thiên địa (Microcosm). 2. Linh hồn là một trạng thái của mỗi hình hài của sự sống từ một Thượng Đế đến một nguyên tử. 7
  • 33. CÁC ĐỊNH ĐỀ MỞ ĐẦU 33 3. Sự liên quan giữa mọi linh hồn với Đại Hồn tạo thành nền tảng cho sự tin tưởng khoa học vào tình huynh đệ. Tình huynh đệ là một sự thực trong thiên nhiên chớ không phải là một lý tưởng. 4. Định luật Tương Ứng sẽ giải thích các chi tiết của mối liên quan này. Định luật Tương Ứng hay Tương Đồng này là định luật giải thích của Thái dương hệ và giải thích Thượng Đế cho con người. 5. Giống như Thượng Đế là Đại thiên địa đối với mọi giới trong thiên nhiên, cũng thế con người là Đại thiên địa đối với mọi giới dưới nhân loại. 6. Mục tiêu tiến hoá của nguyên tử là ngã thức như được minh hoạ trong giới nhân loại. Mục tiêu tiến hoá của con người là tập thể thức như được tiêu biểu bởi một Hành Tinh Thượng Đế. Mục tiêu đối với Hành Tinh Thượng Đế là Thiên Thức / Thượng Đế thức (God consciousness), như được tiêu biểu bởi Thái Dương Thượng Đế. 7. Thái Dương Thượng Đế là toàn thể mọi trạng thái tâm thức trong Thái dương hệ.
  • 34. CÁC ĐOẠN THIỀN KINH (DZYAN) ĐĐooạạnn kkiinnhh II ((SSttaannzzaa II)) Bí nhiệm của Linh Hoả ẩn tàng trong chữ thứ hai của Thánh Ngữ. Bí mật của sự sống được ẩn giấu trong tim. Khi điểm hạ đẳng rung động, khi tam giác thánh thiện toả chiếu, khi linh điểm, điểm giữa và chóp đỉnh, nối tiếp và vòng quanh Linh Hoả, khi ba chóp đỉnh cùng bùng cháy, lúc đó hai tam giác - cả lớn và nhỏ - hoà nhập thành một ngọn lửa duy nhất thiêu đốt tổng thể. ĐĐooạạnn kkiinnhh IIII ((SSttaannzzaa IIII)) Đấng Đại Hùng thốt ra và ngân lên Linh Từ “AUM”. Bảy làn sóng vật chất tự dung giải và các hình hài đa dạng xuất hiện. Mỗi hình hài chiếm vị trí của nó, mỗi hình hài ở trong cõi ấn định. Chúng chờ đợi triều nước thiêng để tiến nhập và lấp đầy. Các Đấng Kiến Tạo đáp ứng với linh âm. Trong sự hợp tác êm ái, các Ngài chờ lúc hành động. Các Ngài kiến tạo trong nhiều cõi, bắt đầu bằng cõi thứ ba. Trên cõi này, công việc của các Ngài đã bắt đầu. Các Ngài kiến tạo linh thể (sheath of atma) và kéo dài nó đến cái Nguyên Sơ của nó. Đấng Đại Hùng thốt ra “AUM, giờ đây hãy để công việc nối tiếp. Hãy để các Đấng Kiến Tạo của không trung tiếp tục kế hoạch”. Đại Thiên Thần và các Đấng Tạo Tác trên cõi không (plane of air) hoạt động với các hình hài bên trong cõi đó vốn được kể như là cõi chủ yếu của các Ngài. Các Ngài hành 11 12
  • 35. CÁC ĐOẠN THIỀN KINH 35 động cho sự hợp nhất, mỗi Ngài ở trong nhóm đã định. Các khuôn mẫu trở nên vững vàng dưới bàn tay các Ngài. Cõi nối tiếp thiêng liêng, cõi lớn thứ tư, trở thành cõi trong vòng tròn lớn đánh dấu mục tiêu cho con người. Đấng Đại Hùng thốt ra “AUM”, Ngài truyền sinh khí cho cõi thứ năm, cõi vốn là vùng đất nóng, chỗ gặp gỡ của Lửa. Lần này một nốt vũ trụ được nghe thấy bên dưới âm thanh của thái dương hệ. Lửa trong, lửa ngoài, gặp gỡ với lửa đang lên. Vị canh giữ Lửa vũ trụ, thiên thần của nhiệt từ Fohat bao giờ cũng trông chừng hình hài đang ở tình trạng vô dạng thức, đang chờ đúng thời cơ. Các vị tạo tác cấp thấp, tức các thiên thần đang hoạt động với vật chất, chế tác các hình hài. Các Ngài đứng ở đẳng cấp thứ tư. Trên các cõi thứ ba là các hình hài ở trong im lặng trống không. Các Ngài rung động, các Ngài đáp ứng với chủ âm, tuy đứng đó một cách vô dụng và bỏ không. Đấng Đại Hùng phán bảo : “AUM, nước hãy tuôn ra”. Các thần kiến tạo của cõi nước, các cư dân của ẩm ướt, tạo ra các hình hài để di chuyển trong thiên giới của Đại Thuỷ Thần (Varuna). Các vị này phát triển và tăng bội lên. Các Ngài tác động vào dòng chảy bất biến. Mỗi thuỷ triều của chuyển động vũ trụ làm tăng lên dòng chảy không ngừng. Cơn gợn sóng của các hình hài được nhận ra. Đấng Đại Hùng phán bảo: “AUM, hãy để cho các Thần Kiến Tạo xử trí với vật chất”. Chất chảy ra đông đặc lại. Hình hài rắn đặc được tạo thành. Lớp vỏ nguội lại. Nham thạch rắn đặc lại. Thần tạo tác hoạt động trong xáo trộn để tạo ra các dạng hão huyền. Khi các lớp đá được làm xong, công việc trở nên hoàn tất. Các thần kiến tạo cấp thấp nhất báo tin công việc kết thúc. 13
  • 36. 36 Luận về lửa càn khôn Từ lớp nham thạch lộ ra lớp phủ kế tiếp. Các thần kiến tạo cấp hai đồng ý với công việc được làm xong. Thần kiến tạo thứ nhất và thứ hai trên con đường hướng thượng đứng về phía trước trong sắc tướng tứ phân. Năm vị bên trong được nhìn thấy một phần nào bởi kẻ có nhãn quang sắc bén. “AUM”, Đấng Đại Hùng thốt ra và gom lại trong Hơi Thở (Breath) của Ngài. Linh quang bên trong giống dân thứ ba được thôi thúc phát triển thêm. Các thần kiến tạo hình hài thấp nhất vận dụng cái hão huyền dày đặc nhất phối trộn sản phẩm của họ với các hình hài được tạo ra bằng các sản phẩm chứa nước. Vật chất và nước hoà lẫn tạo ra sản phẩm thứ ba vào đúng thời điểm. Việc thăng lên tiến triển như thế. Các thần kiến tạo làm việc trong sự thống nhất. Các Ngài kêu gọi các vị canh giữ vùng đất nóng cháy. Vật chất và nước trộn lại với lửa, tia lửa thiêng bên trong hình hài được trộn lẫn hoàn toàn. Đấng Đại Hùng nhìn xuống. Các hình hài đáp ứng sự chuẩn nhận của Ngài. Tiếng kêu gọi có thêm ánh sáng được đưa ra. Ngài lại gom góp âm thanh. Ngài kéo về phía các cõi cao các tia sáng yếu ớt. Một âm điệu (tone) khác được nghe thấy, âm của Lửa Vũ trụ, ẩn giấu trong Các Con của Trí Tuệ. Các Ngài kêu gọi đến Các Nguyên Sơ của các Ngài. Bốn thấp, ba cao, còn cái thứ năm, thuộc vũ trụ đáp ứng với hơi thở vào vĩ đại. Một lớp vỏ khác được tạo thành. ĐĐooạạnn kkiinnhh IIIIII ((SSttaannzzaa IIIIII)) Bánh Xe lớn xoay quanh chính nó. Bảy bánh xe nhỏ vội vàng xuất lộ. Chúng xoay vòng giống Mẹ chúng, chung quanh, vào trong và tới trước. Tất cả đều hiện hữu. 14 15
  • 37. CÁC ĐOẠN THIỀN KINH 37 Các bánh xe thuộc nhiều loại khác nhau và hợp nhất thành một. Khi Bánh Xe lớn tiến hoá, lửa bên trong bùng cháy. Nó chạm vào bánh xe sự sống thứ nhất. Nó chạy vòng quanh. Hàng triệu ngọn lửa bốc lên. Tính chất của vật chất trở nên đậm đặc hơn, nhưng hình hài thì không. Các Con của Thượng Đế chổi dậy, quét qua chiều sâu của Linh Hoả, lấy khỏi tâm của nó Viên Hoả Thạch Linh thiêng, và tiếp tục tiến tới. Trong lần quay kế tiếp Bánh Xe Lớn chuyển động lần thứ hai. Ngọn Lửa lại bùng lên, chọn Đá Thiêng làm tâm của nó, và tiếp tục quay. Các Con của Thượng Đế lại xuất hiện và được tìm thấy bên trong ngọn lửa. Chúng nói “Hình hài chưa đầy đủ, hãy dời chuyển ra ngoài ngọn lửa”. Bánh Xe lớn quay nhanh hơn, ngọn lửa trắng xanh hiện ra. Các Con của Thượng Đế lại tiến xuống và một bánh xe nhỏ bắt đầu quay. Bảy lần quay, bảy lần sức nóng nhiều hơn. Khối vô định hình trở nên rắn đặc hơn, Đá Thiêng chìm sâu hơn. Đến tâm của Lửa trong cùng, Đá Thiêng rơi xuống. Lần này công việc hoàn thành tốt đẹp, sản phẩm càng hoàn thiện hơn. Ở vòng quay thứ bảy, bánh xe thứ ba đáp lại Đá Thiêng. Hình hài tăng gấp ba, ánh sáng nhuộm hồng, nguyên khí vĩnh cửu tăng gấp bảy. Từ bên ngoài Bánh Xe Lớn, vòm trời hạ xuống, ánh sáng tiến vào bánh xe nhỏ được tính là cái thứ tư. Các Chơn Linh (Lhas) vĩnh hằng nhìn xuống và các con của Thượng Đế đã đến. Xuống đến điểm tận cùng của tử vong các Ngài ném ra Đá Thiêng (Linh Thạch). Sự tán thành của các Chohans nổi lên. Công việc chuyển sang bước ngoặt. Từ hốc tối bên ngoài, các Ngài gom lại Linh Thạch, giờ đây đã đục mờ và thuần khiết, có màu hồng và xanh lơ. 16
  • 38. 38 Luận về lửa càn khôn Bánh Xe thứ năm quay và tác động của nó lên Đá Thiêng làm cho nó vừa vặn hơn. Màu vàng pha trộn, ngọn lửa trong màu cam, còn màu vàng, hồng và xanh lơ trộn lẫn các sắc thái tinh anh của chúng. Bốn bánh xe cùng với bánh xe lớn tác động trên Linh Thạch như thế, cho đến khi các Con của Thượng Đế tán thưởng và nói: “Công việc được thành toàn”. ĐĐooạạnn kkiinnhh IIVV Trong vòng quay thứ năm của Bánh Xe Lớn, giai đoạn sắp xếp đã đạt được. Bánh xe nhỏ, vốn đáp ứng với vòng quay lớn thứ năm, vượt qua chu kỳ đi vào an bình. Các bánh xe nhỏ xuất hiện và cũng làm công việc của chúng. Bánh Xe Lớn gom lại đàng sau các tia sáng đang toả ra. Năm bánh xe giải quyết công việc, chỉ hai cái nhỏ hoạt động với chi tiết. Linh Thạch gom lửa lại, nó toả ra ánh lửa bập bùng. Lớp Vỏ ngoài không đáp ứng với nhu cầu cho tới khi bánh xe thứ sáu và thứ bảy vượt qua được nó xuyên qua lửa các bánh xe. Các Con của Thượng Đế lộ ra khỏi nguồn của chúng, chú mục vào bảy công việc và cho rằng điều đó là đúng. Linh Thạch được đặt riêng. Trong vòng quay thứ hai, Bánh Xe Lớn chuyển động. Tinh Quân thứ tư trong số Mười Hai vị vĩ đại hơn vận dụng công việc của lửa thất phân. Ngài phán: “Điều đó không thích hợp, ngươi hãy nhập Linh Thạch này bên trong bánh xe, nó bắt đầu quay”. Các Tinh Quân của bảy Bánh Xe Lớn lao Linh Thạch vào trong bánh xe đang chuyển động. Các Tinh Quân của Bánh Xe thứ năm và thứ sáu cũng phóng ra Linh Thạch của các Ngài. 17
  • 39. CÁC ĐOẠN THIỀN KINH 39 Bên trong lửa, sâu tận lớp trong cùng, Bánh Xe Lớn quay tít qua không gian, mang theo bảy bánh xe nhỏ, cả hai phối hợp lại. Bánh xe thứ tư, thứ năm, thứ sáu hoà lại, phối hợp và trộn vào nhau. Các thời kỳ dài kết thúc, công việc được thành toàn. Các Tinh cầu vẫn trụ lại. Từ bầu trời sâu thẳm các Đấng vĩnh cửu thốt ra: “Công việc lộ ra. Các Linh Thạch rút ra”. Và rồi Các Linh Thạch hợp nhất. ĐĐooạạnn kkiinnhh VV Kỳ Khai Nguyên mà mọi Tam Vị Nhất Thể đã đợi, giờ đánh dấu điểm tiếp nối huy hoàng đã đến trong phạm vi thời gian, và kìa công việc được hoàn tất. Thời điểm cho bảy nhóm nguyên khí, mỗi nhóm rung động theo tiếng ngân của Linh Từ, tìm cách gia thêm quyền năng, chờ đợi hàng thiên niên kỷ, trôi qua trong ánh chớp thời gian, thế rồi công việc được thành toàn. Cấp đẳng đầu tiên được cổ vũ mạnh mẽ, cho rằng thời giờ thuận tiện được ngân lên ba lần trong ba tiếng vang. Tiếng vọng thấu đến mục tiêu. Ba lần các Ngài đưa nó ra. Khối cầu màu xanh không ngừng cảm thấy rung động và đáp ứng, tự thức động và được thúc đẩy theo tiếng gọi. Cấp đẳng thứ hai, với sự kiên trì khôn khéo, nghe được tiếng ngân vang của Cấp thứ nhất, biết được giờ cũng đã đến, vọng lại âm thanh trên nốt quảng bốn. Tiếng vang tứ phân này chạy vòng theo thang âm của các bầu hành tinh. Nó được đưa ra trở lại. Ba lần âm điệu được phát ra, ngân vang qua b