Đi Để Thấy Mình - Nhuận Đạt TMT
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Like this? Share it with your network

Share

Đi Để Thấy Mình - Nhuận Đạt TMT

on

  • 373 views

Đi Để Thấy Mình

Đi Để Thấy Mình
Tác giả: Nhuận Đạt TMT

Statistics

Views

Total Views
373
Views on SlideShare
367
Embed Views
6

Actions

Likes
0
Downloads
1
Comments
0

1 Embed 6

http://thienphuoctu.vn 6

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Đi Để Thấy Mình - Nhuận Đạt TMT Document Transcript

  • 1. Nhuận Đạt–TMT Kính tri ân chị Hoa và anh Nhã, ngƣời đã tạo cơ duyên cho tôi đến đƣợc Đất Phật. Kính đảnh lễ thầy Huyền Diệu, ngƣời đã cho con phƣơng tiện đi nhiều nơi để thấy mình. Kính cảm ơn chùa Lạc Nghiệp, nơi đã nuôi con những ngày đầu học Đạo. Kính lễ tạ ơn thầy – thƣợng Phú hạ Hoằng, ngƣời khai nguồn tuệ giác cho con. Nhuận Đạt – T.M.T 1
  • 2. MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ................................................................ 2 THÁP VÀNGSHWEDAGON.......................................... 4 PHƢỚC BÁU LÀ CÓ THẬT .......................................... 6 ĐƠN GIẢN CHỈ VÌ CHỊ CẦN ......................................... 9 NGHIỆP QUẢ CỦA MÌNH ........................................... 10 NIỀM VUI HÒA HỢP .................................................. 13 NGHE ĐỂ THẤY MÌNH ............................................... 16 CÓ MỘT NIỀM VUI ..................................................... 19 HẠNH PHÚC CỦA NGƢỜI CHO ................................ 21 ĐỒ THẬT ĐỔI ĐỒ GIẢ ............................................... 23 NÓI THẬT LÒNG ........................................................ 25 PHỦ NHẬN VÔ TÌNH .................................................. 27 PHÉP LẠ TỈNH THỨC ................................................ 28 MỘT LỜI NÓI CẢM ƠN .............................................. 31 KHÔNG CÓ NGÀY MAI .............................................. 33 KHẢ NĂNG CHUYỂN HÓA CỦA TÌNH THƢƠNG ...... 35 CHIẾC BÁNHCUỐI CÙNG.......................................... 37 BÁC TAM .................................................................... 39 BÀI HỌC LỚN ............................................................ 41 ANH HÙNG VÔ TRÍ .................................................... 42 THÀNH TÂM ............................................................... 44 HẠNH PHÚC KHÔNG KHÓ TÌM ................................. 45 CHỜĐỢI ..................................................................... 48 NGƢỜI BÁN NGƢỜI MUA ......................................... 51 TƢỞNG RẰNG ĐÃ BIẾT ............................................ 53 KIÊN NHẪN VÀ NHIỆT TÌNH ...................................... 55 LỜI KẾT..................................................................... 56 Nhuận Đạt – TMT VIET NAM PHAT QUOC TU - LUMBINI P.O. BOX 4. SIDDHATHA NAGAR, BHAIRAHAWA, LUMBINI, NEPAL 2
  • 3. Email:nhuandattmt@gmail.com LỜI NÓI ĐẦU Từ khi bƣớc chân trên con đƣờng tâm linh, đƣợc học hỏi và thiền tập dƣới sự hƣớng dẫn của những bậc Thầy, tôi thấu hiểu ra một điều giản dị: sự khổ đau bắt nguồn từ một tâm hồn u tối về con ngƣời và thế giới; sự u tối bắt nguồn từ tự ngã; tự ngã lại có gốc vô minh không biết chính mình. Từ đó, tôi ý thức nhiều đến thế giới biến động phức tạp của nội tâm; Những tâm lý tích cực và tiêu cực biểu hiện trên dòng tâm thức; Những sức mạnh vô hình bên trong những thúc đẩy bản năng. Càng nhìn vào bên trong tâm thức, tôi càng thấy quyền lực mềm đáng sợ của nó. Sự tinh vi ẩn núp dƣới danh nghĩa “tôi là” của tâm thức làm cho cá nhân đau khổ và thế giới hận thù. Tôi bắt đầu thấy mình ngớ ngẩn. Mình còn chƣa hiểu chính mình, thế mà mình cứ nhìn ngƣời bằng đôi kính màu cũ kỹ của một tâm hồn bệnh hoạn, đầy dục vọng và tự đại. Mình mới là kẻ đáng thƣơng cần đƣợc tự do khỏi ngục tù tham ái. Tự do khỏi sức mạnh của những thói quen tiêu cực ẩn tàng. Tôi tự hỏi tôi: đã hiểu đƣợc chính mình? Chƣa, tôi tự trả lời trong im lặng. Và, cũng bắt đầu từ đó, tôi ghi lại những sự kiện có cảm xúc cá nhân trong im lặng để thấy chính mình. Đi để thấy mình ra đời nhƣ thế, giản dị là những ấn tƣợng, những bài học, những suy tƣ phản chiếu nội tâm của một con ngƣời có mơ ƣớc giải thoát cá nhân khỏi sự hẹp hòi của thân phận kiếp ngƣời; của ý thức hệ; của giáo điều và những xiềng xích thuộc sản phẩm tƣ tƣởng do con ngƣời tích góp thành chƣớng ngại tự do. Xin đƣợc chia sẻ và ƣớc mong ngƣời đọc tìm thấy nhiều điều thú vị và hữu ích. Chân thành, Lumbini, 08.04.2011 3
  • 4. Nhuận Đạt - TMT THÁP VÀNG SHWEDAGON Từcon đƣờng Dhamma zedi, tôi đi bộ qua Uvinsara road đến tháp vàng Shwedagon. Đây là ngôi chùa vàng lớn nhất tại Rangon, Myanmar. Từng bƣớc chân chánhniệm của một ngƣời chiêm bái, để dép bên ngoài, cũng nhƣ để lại bao dao động thƣờng tình của cuộc sống, tôi nhẹ bƣớc trong hạnh phúc trên thực địa Shwedagon với bao nhiêu thán phục và ngạc nhiên. Càng bƣớc đi, Shwedagon càng rộng lớn. Hàng ngàn những con ngƣời mang những gƣơng mặt và y phục khác nhau, nhƣng tất cả chỉ một lòng đến Shwedagon hƣớng về Phật Pháp thành tâm chiêm bái. Một anh bạn Myanmar cho tôi biết Shwedagon là một quần thể tháp thờ xá lợi tóc Đức Phật Thích Ca. Tất cả tháp đều đƣợc dát vàng thật, tổng số là 8.600 kg. Tôi quỳ xuống giữa bao nhiêu con ngƣời thành tâm lễ Phật để đảnh lễ Thế Tôn. Ngƣời tôi tĩnh lặng đến kỳ diệu. Thế giới bấy giờ chỉ còn tôi, Thế Tôn và những lời kinh nguyện thì thầm. Chiêm bái xong, tôi đi nhiễu quanh tháp. Trời đã về chiều. Tháp vẫn còn đông ngƣời, vẫn chƣa có gì thể hiện thƣa dần, ngƣợc lại số lƣợng ngƣời càng lúc càng nhiều thêm. Có một cảnh đẹp mà tôi rất ấn tƣợng: trên con đƣờng nhiễu tháp rộng khoảng 40m, dài khoảng 2Km, có để sẵn 3 hàng cây lau nền theo chiều rộng. Từng 4
  • 5. đoàn ngƣời đi qua, không ai bảo ai, tự giác mỗi ngƣời nâng một cây lau nền đẩy về phía trƣớc 3m. Cứ thế, những cây lau nền đƣợc ngƣời chiêm bái đẩy xoay vòng quần thể Tháp liên tục trong ngày, làm con đƣờng nhiễu Tháp lát đá cẩm thạch trắng mát sạch suốt cả ngày. Do đó, dù rất nhiều ngƣời chiêm bái, dù khí hậu rất khô nóng và nhiều bụi của Rangon mùa hạ, nhƣng nền Tháp vẫn luôn sạch, không gian luôn đƣợc tôn nghiêm và thiêng liêng, ngập tràn ánh sáng vàng và tình thƣơng của Phật. Với tôi lúc này, ngôi Tháp Shwedagon là một kỳ quan, một biểu hiện của giá trị Phật Pháp và những trái tim con ngƣời hƣớng về Phật Pháp. Đặc biệt hơn, trong những bƣớc chân nhiễu tháp, hình ảnh của những ngƣời Myanmar chiêm bái bình thƣờng nhƣ bao con ngƣời khác, nhƣng sau khi chiêm bái chung tay lau sạch nền Tháp, đã cho tôi một ấn tƣợng đẹp khó quên. Tôi đã từng chiêm bái Phật tích tại Ấn Độ; đã từng chiêm bái tứ đại Phật Sơn tại Trung Hoa, nhƣng tôi chƣa bao giờ thấy cảnh đẹp nhƣ nơi này. Tôi giác ngộ ra một điều thật giản dị: một hành động dù rất nhỏ, nhƣng thực hiện bằng tất cả tấm lòng, vì lợi ích chung, có thể đánh thức đƣợc tình yêu thƣơng và sự cảm thông trong hàng vạn trái tim ngƣời. 5
  • 6. PHƯỚC BÁU LÀ CÓ THẬT Vâng lời Thầy tôi, tôi viếng thăm Myanmar và lo một số việc nhân ngài phó chủ tịch hiệp hội Phật Giáo quốc tế U. Nyaneinda tặng Phật ngọc cho Thủ tƣớng Việt Nam. Tôi đến sớm hơn một tuần để kết hợp cùng đoàn chúng Anan từ Việt Nam sang niệm kinh và trì chú cho tôn tƣợng Phật ngọc. Ngày đoàn trì chú đầu tiên, Thầy trụ trì chùa Buddha Gaya ở Rangon - U Thoundara - phát tâm cungthỉnh Xá Lợi Phật từ Tháp Vàng Shwedagon về tặng đoàn chúng tôi mỗi ngƣời một viên. Nhƣng Thầy cũng nói thêm : nếu Thầy cungthỉnh không đƣợc thì thôi. Và đúng nhƣ lời hứa, ngày hôm sau, khi đoàn chúng tôi phát tâm cúng dƣờng trai tăng cho 108 vị tăng Myanmar xong, Thầy U. Thoundara cungthỉnh các ngài Sayadaw tụng kinh và tặng Xá Lợi Phật cho chúng tôi. Thật không thể ngờ! Đoàn chúng tôi ai cũng vui mừng. Riêng tôi, niềm hạnh phúc cứ nhƣ những con sóng nhẹ vỗ mãi trong lòng đến tận hôm sau. Ngày hôm sau, theo chƣơng trình, tôi gặp anh Hùng tại Sedawa Hotel để anh sắp xếp cho tôi gặp thủ tƣớng. Anh nghe tôi và đoàn Anan nói về Xá Lợi Phật, tự nhiên anh rất vui mừng và xin đƣợc cungthỉnh Xá Lợi phụng thờ. Đêm hôm đó, tôi trở lại chùa Buddha Gaya và nói với Thầy U. Thoundara là tôi sẽ tặng phần Xá Lợi Phật của tôi cho anh Hùng, xin Thầy hoan hỉ ngày mai làm lễ cho anh. Thầy đồng ý. Thế là sau khi trao tặng tƣợng Phật ngọc cho 6
  • 7. Thủ Tƣớng, chúng tôi ba ngƣời trở về chùa làm lễ trao tặng Xá Lợi cho anh Hùng. Trong vòng hai phút, anh Hùng đã thành tâm chiêm bái và cungthỉnh Xá lợi Phật, sau đó đi thẳng sân bay quốc tế Rangon để kịp cùng Thủ Tƣớng bay đến Bangkok. Tôi rất vui mừng vì mình chia sẻ đƣợc phần Xá Lợi của mình cho ngƣời có lòng kính ngƣỡng phụng thờ minh chứng giác ngộ trên thế gian: Xá lợi Phật. Anh Hùng đi, năm tiếng đồng hồ sau, tôi cũng trở về Bangkok theo kế hoặch đã định. Thật bất ngờ, khi tôi vừa mang hành lý ra khỏi phòng và chuẩn bị chào Thầy U. Thoundara để về, Thầy nhanh chóng đƣa tôi đến điện Phật, trịnh trọng nâng Xá Lợi Phật trong hai tay để tặng tôi. Thầy nói: Đây là phúc đức của những ngƣời biết chia sẻ nhƣ Thầy. Tôi nâng Xá Lợi trong hai tay, vừa bất ngờ vừa vui sƣớng. Thầy đã tặng tôi đến hai tháp Xá Lợi: một tháp có hơn 10 viên lớn màu trắng và tháp còn lại là cả ngàn viên nhỏ li ti đủ các sắc màu. Thật bất ngờ và đầy xúc động! Lời Thế tôn dạy thật nhiệm mầu: Phƣớc báu là có thật. Trong giây phút đó, tôi thấy Xá Lợi Phật, tôi và ngƣời tặng nhƣ những nhiệm mầu hóa hiện từ những câu chuyện cổ thời Phật ngày xƣa. Tôi quỳ xuống đảnh lễ Phật, đảnh lễ Thầy U. Thoundara và cungthỉnh xá lợi Phật. Trong tôi tràng ngập niềm an vui của sự thể nghiệm Phật Pháp: Phƣớc báu là có thật. Khi chúng ta chia sẻ bằng tất cả tấm lòng thì mầu nhiệm sẽ có mặt ngay! 7
  • 8. 8
  • 9. ĐƠN GIẢN CHỈ VÌ CHỊ CẦN Ngày 04 tháng 03 năm 2010, tôi đang ở phi trƣờng quốc tế Rangon để bay về Lumbini Nepal, có một chị tiếp viên hàng không Việt Nam chạy ngƣợc xuôi tìm ngƣời Việt Nam đổi tiền Việt sang tiền USD. Chị hỏi các bạn ngƣời Việt lúc đó nhƣng không ai giúp chị cả. Tôi ngồi một góc quán uống nƣớc và nhìn chị. Gần 10 phút, cuối cùng tôi thấy mình cần phải giúp chị, tôi gọi lớn: chị ơi, mình đổi cho chị. Chị quay ngƣời lại, đến gần tôi, tôi đã đổi cho chị 200 USD. Chị cảm ơn tôi và hỏi tôi đi về bằng Việt Nam Airline phải không. Tôi trả lời chị là tôi không về Việt Nam, tôi về Lumbini bằng Thai Airway. Chị nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên. Tôi nghĩ chị ngạc nhiên vì hai lý do: 1. Lumbini là ở đâu 2. Tôi không về Việt Nam tại sao đổi tiền Việt Nam cho chị Và đúng nhƣ tôi đoán, chị hỏi tôi: Thầy không về Việt Nam tại sao Thầy đổi tiền Việt Nam cho tôi? Tôi nhìn chị và tặng chị một nụ cƣời tƣơi trên gƣơng mặt gầy mang hàm răng hô của tôi. Chị cũng lịch sự gửi lại tôi một nụ cƣời thật dễ thƣơng và chân thành. Tôi nói: chị biết tại sao tôi không về Việt Nam mà lại đổi tiền Việt cho chị không? Dạ không, chi đáp. Tôi tiếp: có thể nhiều năm tôi vẫn chƣa sử dụng đến số tiền của chị, vì không biết tôi có về Việt Nam không. Tôi đổi tiền cho chị chỉ vì một lý do vô cùng đơn giản: chỉ vì ngay bây giờ và tại đây chị cần đổi thế thôi. Chị vô cùng bất ngờ khi nghe tôi trả lời. Chị lúng túng chào tôi và bƣớc đi. Tôi nhìn theo chị. Chị đi đƣợc khoảng 10 bƣớc chân thì quay lại nhìn tôi và không quên tặng thêm cho tôi một nụ cƣời tri ân dễ thƣơng. 9
  • 10. NGHIỆP QUẢ CỦA MÌNH Ở đất Phật rất nhiều năm, nên tôi có rất nhiều duyên lành về chiêm bái những nơi liên quan đến cuộc đời đức Phật, một trong những nơi cho tôi nhiều cảm xúc và suy tƣ nhất là Khổ Hạnh Lâm ( Mahakala). Một lần nọ, tôi cùng phái đoàn do Thầy tôi hƣớng dẫn đi chiêm bái và tặng cháo cho những ngƣời bạn nghèo ở Khổ Hạnh Lâm. Khổ Hạnh Lâm là nơi đức Phật chọn để ép xác khổ hạnh suốt sáu năm trong một hang động nhỏ. Đây cũng chính là nơi đức Phật khám phá ra con đƣờng Trung Đạo, chuyển hóa Ngài từ một con ngƣời nhƣ bao nhiêu con ngƣời trở thành một bậc Thầy giác ngộ vĩ đại và bất tử của nhân loại. Dọc theo con đƣờng lên núi Khổ Hạnh Lâm không hơn 1Km, nhƣng ôi không biết bao nhiêu con ngƣời đủ mọi độ tuổi xin ăn. Tôi và đoàn rất xúc động. Hầu nhƣ ai cũng động tâm từ và muốn chia sẻ chút ít của mình có đƣợc cho các bạn đang khó khổ. Có vài ngƣời bạn trong đoàn chúng tôi thƣơng những ngƣời ăn xin đến chảy nƣớc mắt. Tôi thì cũng rất thƣơng họ, nhƣng là một nhà sƣ, tôi luôn quán sát sự vật và hiện tƣợng trên căn bản biện chứng pháp giải thoát Bốn Thánh Đế, và chia sẻ tình thƣơng theo phƣơng cách của một nhà sƣ. Từng bƣớc quán sát, tôi thấy ngƣời ăn xin nơi này không giống ngƣời ăn xin trên quê hƣơng tôi. Ở đây họ ăn xin nhƣng lại rất vui vẻ. Có nhiều ngƣời lớn tuổi giả bệnh nằm bên đƣờng để cảm động lòng khách hành hƣơng. Khi khách hành hƣơng đi qua, mục tiêu cũng đƣợc thực hiện, thì các bạn giả bệnh ấy đứng dậy và thái độ rất bình thƣờng, không cần ngại chúng tôi. Tìm hiểu thêm, tôi biết khu vực Khổ Hạnh Lâm có một ngôi chùa Hàn Quốc. Nơi đây chùa đã xây dựng trƣờng học, bệnh xá … và cố gắng thuyết phục 10
  • 11. các em trong làng đi học miễn phí, bởi các Thầy và sƣ cô Hàn Quốc nghĩ chỉ có giáo dục mới là phƣơng pháp tốt nhất để giúp dân làng và những bạn trẻ nghèo xung quanh vƣơn lên. Dù mình hay khách hành hƣơng có cho họ 10 rupee hay 20 rupee thì cũng không thay đổi đƣợc gì tốt đẹp cho cuộc đời họ. Họ nghèo vẫn nghèo vì không biết tự trọng, không biết tự định hƣớng bản thân. Và, có khi còn ngƣợc lại, mình cho tiền họ nhƣng thiếu suy nghĩ kỹ và không hợp lúc, rất có thể sẽ là nguyên nhân làm họ lƣời biếng làm ăn và học tập, vô tình mình góp phần biến họ thành gánh nặng cho xã hội và sống mãi kiếp sống ăn mày. Khi thấy hiện cảnh và hiểu đƣợc suy nghĩ và việc làm của chùa Hàn Quốc, tôi vô cùng thƣơng họ và quí mến chùa. Thầy cho tôi biết thêm chùa rất cố gắng đƣa các em vào học, nhƣng rất vất vả, vì khi thấy ngƣời hành hƣơng đến cho tiền, cha mẹ các em không chịu để con mình vào trƣờng học. Và, chính các em cũng không muốn học mà muốn chạy theo đoàn xin tiền. Nghe thầy nói, từ trong sâu thẳm tim tôi rất đau. Vừa thƣơng vừa buồn. Thƣơng vì ngƣời lớn giả bệnh để gạt lòng thƣơng của ngƣời tốt, để rồi chính cái nhân giả dối và gạt gẫm ấy cho họ cái quả bần cùng và bệnh hoạn mãi mãi. Còn các em, vì cộng nghiệp vô minh của gia đình và cộng đồng, các em không có đƣợc giáo dục cơ bản, không biết tự vƣơn lên trong cuộc sống, và hơn hết là các em sẽ là thế hệ tiếp theo giả dối và lƣờng gạt tình thƣơng của mọi ngƣời. Đời này qua đời khác, các em sẽ không bao giờ giàu có, sẽ không bao giờ biết sẻ chia. Càng hiểu tôi càng thƣơng nơi này, đặc biệt các em, có những ngƣời vừa sinh ra đời vài tháng đã cộng nghiệp với gia đình và làng xóm để chịu cái quả thất học và khổ nghèo trọn cuộc đời mình. Càng thƣơng tôi càng buồn. Bởi chính chúng tôi cũng góp phần cho nơi này trở thành làng ăn xin và gian dối. Tại sao chúng tôi không giúp các em về giáo dục? Tại sao chúng tôi không giúp dân làng về y tế? Tại sao chúng tôi không học theo ngài Ca Diếp khuyên họ bán cái nghèo? Tại sao chúng tôi không 11
  • 12. góp sức khuyến khích họ bố thí nhƣ câu chuyện tại thành Saravati thời đức Phật? Bƣớc chân đi mà lòng tôi cứ nặng. Tôi cứ nghĩ hoài về các em, về cái nhân đáng sợ mà các em và quê em đã tạo hôm nay, về gƣơng mặt thơ ngây của các em rất cần đƣợc yêu thƣơng, làng nghèo của các em rất cần đƣợc giúp đỡ. Tôi nguyện sẽ hết mình với các em, với quê em khi có thể. Và, tôi sẽ không lập lại hành động đóng góp vào cái nhân dối trá và lƣờng gạt của các em. Tôi sẽ học theo ngài Ca Diếp mua đi cái nghèo của họ. Tôi sẽ kể các em nghe những câu chuyện sẻ chia để các em biết bố thí. Đặc biệt, tôi sẽ chung một bàn tay với chùa Hàn Quốc để các em đƣợc chăm sóc sức khỏe, đƣợc đến lớp, đƣợc có tri thức căn bản đủ để đứng lên ngay trên quê hƣơng em bằng chính đôi chân và trí tuệ của các em. 12
  • 13. NIỀM VUI HÒA HỢP Chùa chúng tôi rất nhỏ, nằm khiêm tốn trong khuôn viên 2 heta giữa vƣờn thiêng Lumbini, nơi hơn 2600 năm trƣớc Phật Thích Ca giáng trần. Đây là ngôi chùa quốc tế đầu tiên tại Lumbini do thầy tôi xây dựng theo lời mời của nhà vua Bidrendra xứ Nepal. Chùa nhỏ, nhƣng rất cao, cao hơn cả núi Everest và Kailash. Thầy tôi thƣờng nói vui: mình không có tiền cất lớn thì mình cất cao để mình thấy ngƣời ta nhƣng ngƣời ta không thể thấy mình. Mùa xuân 2010, tôi vừa học đƣợc mấy chữ Hoa từ Beijing trở về, thì cùng lúc có ni sƣ Giác Liên từ Việt Nam và Minh Tạo từ Hồng kôngcũng trở lại chùa. Ở chùa lúc bấy giờ đã có Minh Hòa từ Việt Nam, Minh Liên từ Canada và cô Bạch Liên từ Paris sang tu tập và công quả. Thế là, sáu chúng tôi trở thành một chúng “khác thƣờng” cùng nhau tu tập tại Chùa. Bạn đừng hiểu lầm sự “khác thƣờng” nhé! “khác thƣờng” tôi nói ở đây là một tập thể gồm nhiều thành phần xã hội, nhiều giới tính, nhiều độ tuổi, nhiều tính cách, nhiều quốc gia, nhiều quan điểm khác nhau… nhƣng có thể sống chung hòa hợp với nhau. Ngƣời lớn tuổi nhất trong sáu chúng tôi là Ni sƣ Giác Liên, một sƣ nữ già hơn 70 tuổi, nhƣng đầy tâm huyết cho Đạo Pháp, quê hƣơng và con ngƣời. Ngƣời thứ hai là cô Bạch Liên, một cƣ sĩ nữ đã hơn 60 tuổi, rất thích tu tập và làm việc phúc thiện. Ngƣời lớn tuổi tiếp theo là Minh Tạo, gần 40. Minh Liên 34. Minh Hòa 25. Ngƣời cuối cùng là tôi, một nhà sƣ 33 tuổi, nhỏ con ốm yếu, vừa vừahô xấu. Chúng tôi mỗi ngày cùng nhau niệm kinh tu tập, cùng nhau ăn cơm, cùng nhau vui chơi, cùng kể cho nhau nghe những kinh nghiệm tâm linh trên 13
  • 14. đƣờng Đạo, cùng nhau mỗi sáng kinh hành chiêm bái Lumbini, cùng ăn Chapati, uống nƣớc mía, và uống trà kể chuyện cổ kim, có những lúc mấy cậu nhỏ còn kể cho Ni Sƣ và cô Bạch Liên nghe những chuyện phong thần võ hiệp. Ni Sƣ Giác Liên và cô Bạch Liên là hai ngƣời lớn tuổi nhƣng tâm hồn vô cùng trẻ. Minh tạo, Minh Liên và Minh Hòa thì rất chuyên cần tu tập và rất có óc khôi hài. Chỉ có mình tôi là ngƣời trẻ nhƣng có tâm hồn “hơi già”. Chúng tôi xem nhau nhƣ thầy trò; chúng tôi xem nhau nhƣ ngƣời thân; chúng tôi xem nhau nhƣ Pháp lữ. Biên giới giữa chúng tôi có lúc có, có lúc không. Hình tƣớng của chúng tôi có lúc có có lúc không. Chúng tôi luôn lắng nghe nhau để hiểu, nhìn lại nhau để thƣơng. Và nhƣ thế, chúng tôi xây dựng nên một không gian hòa hợp; chúng tôi tạo ra một niềm vui hòa hợp cho nhau. Sống trong không gian và niềm vui hòa hợp, tôi tự thấy tôi có trách nhiệm cần phải chung tay xây dựng, chung sức vun bồi, nếu tôi không muốn không gian và niềm vui hòa hợp tan biến. Niềm vui và hạnh phúc của sáu chúng tôi có mặt trong nhau. Nó nhƣ một vòng tròn hạnh phúc chia đều cho mỗi thành viên. Có Ni Sƣ thì có canh chua, có những câu chuyện kinh nghiệm tâm linh và nhân tình thế thái; có cô Bạch Liên thì có nƣớc mía, có cô giáo dạy tiếng Pháp; có Minh Liên thì có ngƣời khôi hài và tạo tiếng cƣời cho ngƣời khác; có Minh Tạo thì có ngƣời lo vật liệu xây dựng, theo dõi công trình xây cất; có Minh Hòa thì có những bữa ăn ngon; có tôi thì có ngƣời ăn và ngƣời nghe kẻ chuyện. Hạnh phúc ở đâu, Tôi tự hỏi. Phải chăng đang ở đây và bây giờ trong không gian tâm linh và niềm vui hòa hợp, tôi tự trả lời. Ngƣời là ai và tôi là ai, tại sao không chia sẻ với nhau khi còn có thể? Đã biết hận thù không diệt đƣợc hận thù sao không thử dùng đến tình thƣơng? Niềm vui hòa hợp đã hé mở cho tôi một con đƣờng nhỏ: Con đường nhỏ an vui, Không có nắng gắt trưa hè của kém bằng 14
  • 15. và tự ngã. Con đường nhỏ an vui, Chỉ có bóng mát tình thương hòa hợp giữa ta với muôn loài. Không có ta mà cũng không có em, Chỉ có những bông hoa mỉm cười bên hàng dậu. Hơn kém bằng là mặc cảm, Sẽ hóa thân khi bình minh gọi thái dương về. Con đường nhỏ an vui, Sẽ bắt đầu bằng niềm vui hòa hợp, ta đã thấy, Trong ấy có em, có ta, có đủ thiên nhiên với muôn loài trong huyền diệu sắc không. 15
  • 16. NGHE ĐỂ THẤY MÌNH Đi xuất gia đƣợc hơn 10 năm, ở nhiều chùa tại Việt nam, chƣa bao giờ tôi bị ai xem thƣờng hay lớn tiếng. Từ ngƣời lớn đến ngƣời nhỏ trong các chùa tôi đến hầu hết đề quí mến tôi. Tôi đƣợc xem nhƣ là biểu tƣợng của phạm hạnh và lý tƣởng học đạo giải thoát. Chuyện vui xảy ra bắt đầu từ khi tôi chiêm bái đất Phật tại Ấn Độ và dừng chân công quả tại Việt Nam Phật Quốc Tự Lumbini xứ Nepal năm 2005-2008. Trong những tháng ngày công quả tại Lumbini, tôi có duyên đƣợc gặp một sƣ tỷ rất dễ thƣơng mà cũng rất dễ ghét. Nghe kể sƣ tỷ đến Ấn độ học Phật học gần 10 năm tại đại học New Delhi. Sau khi hoàn tất PH.D, sƣ tỷđến Lumbini là công quả tại Việt Nam Phật Quốc Tự. Là một ngƣời chân thành nhƣng cƣơng trực, tôi đƣợc chùa giao một số công việc. Tôi rất nhiệt tình trong công việc, hoàn toàn không có một ẩn ý phía sau. Rất giản dị, tôi làm hết mình chỉ vì thấy cần phải làm thế thôi, nhƣng không hiểu sao, sƣ tỷ không vui với tôi. Sƣ tỷ tìm đủ mọi khía cạnh không dễ thƣơng của tôi để gây khó cho tôi ngoài sáng lẫn trong tối. Mỗi ngày tôi thƣờng có thói quen lạy sám hối 18 lạy và ngồi nhìn lại công việc trong ngày trƣớc khi ngủ. Tôi thƣờng nhìn thấy hình ảnh sƣ tỷ không mến tôi, và tôi cũng thƣờng đặt rất nhiều câu hỏi tại sao, đồng thời luôn cố gắng tìm cách sống cho hòa hợp và an lạc. Ngày lại ngày qua, tôi thấy sƣ tỷ không những không mến tôi mà còn không mến hầu hết những ngƣời đến làm công quả tại Chùa, đặc biệt những ngƣời đƣợc Chùa tin tƣởng và giao nhiều công việc. Có một hôm, có lẽ sƣ tỷ quá giận tôi từ một nguyên nhân tƣởng chừng nhƣ đơn giản: sƣ tỷ đƣợc giao công việc mua vật liệu xây dựng để làm Quan Âm Các tại phi trƣờng Bhairawa- Nepal, nhƣng thấy sƣ tỷ không vui với công việc 16
  • 17. và chậm triển khai chƣơng trình nên tôi đề nghị đƣợc thay thế. Sau đó tôi nhờ các anh em thợ Việt Nam mƣợn sắt do sƣ tỷ mua để làm sắt chuẩn bị cho ngày mai đến phi trƣờng đổ móng khởi công. Trong lúc các anh em thợ lấy sắt làm thì tôi nghe có tiếng rất lớn của sƣ tỷ. Sƣ tỷ la lớn là không ai đƣợc lấy sắt của sƣ tỷ mua, ai muốn làm thì phải tự mua mà làm. Nghe tiếng sƣ tỷ la, tôi vội đến nơi để làm dịu. Tôi nói với sƣ tỷ là sắt chƣa làm đến, xin sƣ tỷ cho mƣợn để chuẩn bị ngày mai đổ móng khởi công, trong vòng ba ngày tôi sẽ mua và trả lại cho sƣ tỷ thôi. Không ngờ sƣ tỷ thấy mặt tôi lại càng giận, cô thét lớn: “thầy giỏi mà, giỏi thì mua sắt về mà làm, sắt này tôi mua, không ai đƣợc lấy sử dụng”. Sƣ tỷ la tôi giữa bao nhiêu ngƣời nhƣ thế làm tôi bị mất chánhniệm và thấy khó chịu. Sáng ngày mai là đổ bê tông móng và trụ, hôm nay sƣ tỷ không cho mƣợn sắt để làm biết làm sao? Mọi việc đã đƣợc thông báo rồi với phi trƣờng, ngày mai họ sẽ cho xe vào chở thợ và vật liệu ra để khởi công, đột nhiên xảy ra chuyện không vui thế này là hỏng rồi. Kế hoặch ngày mai sẽ thất bại, sẽ mất uy tín với phi trƣờng, sau này rất khó hợp tác và điều hành các công việc khác. Vừa thấy khó chịu; vừa bị sƣ tỷ không lịch sự; cộng thêm tình hình thực tế cấp bách, tôi chỉ tay vào sƣ tỷ nói: “cô đừng gây khó ngƣời khác, tôi nhất định sẽ tiến hành công việc nhƣ kế hoặch, không cần phải dùng đến sắt của cô”. Đã nói là làm, tôi ngay tức khắc điện thoại cho anh chàng cung cấp vật liệu xây dựng yêu cầu anh đƣa sắt gấp đến ngay chiều hôm đó. Tôi lại tiếp tục thuyết phục các anh thợ Việt Nam hoan hỉ làm việc đêm để hoàn tất việc cắt và buộc sáu trụ và sáu vĩ sắt để ngày mai kịp đƣa ra phi trƣờng tiến hành đổ móng khởi công Quan Âm Các nhƣ đã lên kế hoặch với phi trƣờng. Tối hôm đó, tôi, một anh kỹ sƣ và sáu anh thợ Việt Nam cùng nhau làm việc đến tận 2:30 khuya mới đƣợc nghỉ ngơi. Sáng ngày mai, chúng tôi đang lúc chuẩn bị ra phi trƣờng để làm việc thì sƣ tỷ xuất hiện. Gƣơng mặt của sƣ tỷ mang rất nhiều lửa, miệng của sƣ tỷ cháy lên những lời nói làm tôi và mọi ngƣời vô cùng bất ngờ: “Thầy giỏi lắm, cái đồ vừa hô vừa xấu vừa hung dữ”. Nghe sƣ tỷ nói, anh kỹ sƣ và sáu anh thợ hết hồn. Thứ nhất là quá bất ngờ cho sƣ tỷ; thứ hai là quá ngại tôi sẽ nổi nóng lên vì mất chánhniệm. Nhƣng ngƣợc lại, tôi rất bình thản đón nhận lời nói của sƣ tỷ. Tôi 17
  • 18. nở một nụ cƣời để tự an tĩnh tâm hồn, sau đó nhìn sƣ tỷ. Sƣ tỷ nhƣ không thèm nhìn tôi, quay mặt bỏ đi. Đang lúc sƣ tỷ đi thì xe từ phi trƣờng Bhairawa vào đến, không còn đủ thời gian để thấy lời nói của sƣ tỷ làm tôi khó chịu, tôi cùng mọi ngƣời lên xe đi thẳng công trƣờng. Câu chuyện chỉ có thế. Công việc xong, tôi trở lại chùa, vẫn theo lệ của mỗi ngày, lạy Phật và tỉnh tâm nhìn lại trƣớc khi ngủ. Tối hôm ấy lời nói của sƣ tỷ bỗng nhiên hiện lên đậm nét trong tâm trí tôi: “đồ vừa hô vừa xấu vừa hung dữ”. Tôi vừa theo dõi hơi thở để có chánhniệm, vừa nhìn lại lời nói của sƣ tỷ để thấy mình. Tôi nhìn rất lâu, rất kỹ và thấy lời nói của sƣ tỷ có đúng mà cũng có sai. Đúng là ở một góc độ nào đó tôi vừa hô vừa xấu. Sai là có hô xấu nhƣng không hề hung dữ. Tự nhiên tôi nở đƣợc một nụ cƣời. Sự khó chịu của tôi về sƣ tỷ hoàn toàn tan biến. Trong tôi nảy sinh một tâm cảm thông chia sẻ với sƣ tỷ. Tôi nghĩ có lẽ sự hiện hữu của tôi đã vô tình lấy đi cái gì đó của sƣ tỷ. Sự nhiệt tình và thẳng thắn của tôi đã động đến sự vị kỷ tiềm ẩn trong sâu thẳm tâm hồn của nhiều ngƣời, trong đó có thể có sƣ tỷ. Lý tƣởng tu tập và công quả của tôi đã vô tình kết tủa và lãnh cảm với sông ái và biển thƣơng giữa những con ngƣời. Tôi bắt đầu thấy tôi, bắt đầu thấy tiềm ẩn trong tôi bao nhiêu xấu xa của tham sân mê dại. Câu nói của sƣ tỷ tôi vẫn còn nghe, nhƣng không còn thấy sƣ tỷ nữa. Lúc này, hơi thở tôi rất nhẹ, tôi đã thấy tôi. 18
  • 19. CÓ MỘT NIỀM VUI Khi học tại trƣờng Đại học ngôn ngữ và văn hóa Bắc Kinh (北京语言大学) tôi có thói quen dạo phố và làm phƣớc cuối tuần. Có một lần nọ, đi qua con phố mua sắm trên đƣờng Cheng-Fu-Lu, tôi thấy một cụ già co ngƣời trong cái lạnh, hành khất mƣu sinh và một bé gái ngồi cuối mặt, phía trƣớc có mảnh giấy ghi máy dòng chữ Trung Hoa đại ý là xin đƣợc giúp tiền ăn cơm và xe về lại quê nhà. Tôi đến gần cụ già và để lại trong lon của cụ một đồng tiền, sau đó nhìn sang em gái bên cạnh. Tôi ngồi xuống gần em, hỏi thăm em. Em ngẩng đầu nhìn tôi, vừa nói vừa khóc, kể cho tôi nghe về câu chuyện đau thƣơng của mình. Thật xúc động, tôi có ý định giúp em, nhƣng trong tôi bấy giờ lại có một tâm lý khác xuất hiện, tâm lý nghi vấn em có thật sự đang trong hoàn cảnh khó, hay đây chỉ là một kịch bản lƣờng gạt mọi ngƣời. Đang lúc phân vân giữa cái thiện và bất thiện nhƣ thế, một cô bạn Trung Quốc thấy cảnh đó liền cho tôi biết đây chỉ là cảnh giả do bọn lƣời biếng làm ăn đạo diễn để lƣờng gạt. Bạn ấy bảo tôi đừng giúp họ. Đang phân vân, thêm ngƣời bạn Trung Quốc khuyên, lúc ấy tôi ngã theo phía hoài nghi hoàn toàn. Tôi đứng dậy và đi cùng các bạn tiếp tục chiều vui trên phố của mình. Đi đƣợc khoảng gần 1Km, hình ảnh em gái bên đƣờng ấy lại xuất hiện trong tâm trí tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy bứt rứt, cảm thấy hối tiếc vì mình vừa bỏ qua một việc giúp ngƣời. Tâm tôi rất nặng, thấy khó chịu vô cùng. Trong sâu thẩm tâm hồn tôi tự dƣng phát lên lời khấn nguyện cho ai đó giúp em. Đi dạo phố đƣợc hơn 2 giờ, tôi đi ngƣợc lại con đƣờng cũ để về lại ký trúc xá. Cũng chỗ cũ bên cụ già, em vẫn ngồi đó, trong cái lạnh run ngƣời của Bắc kinh mùa đông, không nói lời nào, cuối mặt giữa muôn ngƣời qua lại nói cƣời trên phố.Thấy em tự nhiên lòng tôi thấy đau. Tôi bổng thấy ký ức tuổi thơ tôi 19
  • 20. trỗi dậy, ký ức của những ngày buồn khi biến thành cậu bé mồ côi.Tôi quyết định giúp em, mặc dù các bạn Trung Quốc lại một lần nữa ngăn cản. Tôi đến bên em, nhẹ trao cho em 125 nhân dân tệ theo yêu cầu của em trên tấm giấy. Tôi nói em nên đi ăn cơm và sớm về lại quê em. Bắc Kinh là một thành phố đông ngƣời, nó là nơi tốt cho những ngƣời có trình độ chuyên môn cao mà không phải cho em, trừ khi em quyết tâm nỗ lực học tập và làm việc để thay đổi cuộc sống. Thật sự muốn ở lại Bắc Kinh em hãy cố gắng học tập cho có chuyên môn, có nhƣ thế cơ hội mới mở ra cho em. Em rơi nƣớc mắt, cảm ơn tôi và nặng gót bƣớc đi. Nhìn theo bƣớc chân em, khối đá nặng trong lòng tôi nhẹ nhƣ hạt sỏi rơi xuống đại dƣơng và dần biến mất. Lòng tôi vô cùng hạnh phúc, hạnh phúc thật khó tả, cái hạnh phúc tƣởng chừng nhƣ nghịch lý nhƣng rất thật: hạnh phúc của ngƣời cho. Tôi nghĩ thế giới là một vòng tròn, trong ấy em là một nhân tố. Tôi là một con ngƣời tầm thƣờng, không biết làm sao để phân biệt em đúng hay không là một con ngƣời thật sự khó khăn và đang cần giúp đỡ. Tôi chỉ biết rằng trong giờ phút đó, tình thƣơng trong tôi gọi tôi phải giúp em. Cho dù em gạt tôi, giả sử, tôi vẫn thấy không buồn và hối tiếc. Trong cuộc đời tôi, một trong những điều tôi hối tiếc là bỏ lỡ việc làm giúp ngƣời đang cần và rất cần giúp đỡ để vƣợt qua những khó khăn. 20
  • 21. HẠNH PHÚC CỦA NGƯỜI CHO Nhân chuyến về lại Việt Nam để làm Visa học M.A tại trƣờng Đại học Margadh – India, tôi theo Thầy H. Diệu đi nói chuyện Phật Pháp ở một số nơi tại Sài Gòn và Hà Nội. Hôm chia tay Thầy tại nhà khách bộ ngoại giao trên đƣờng Phạm Ngọc Thạch ở Sài Gòn, có anh Hoàng, Thầy cho tôi hai cái áo tràng và nói: Nhuận Đạt mặc giùm Thầy. Đƣợc nhận quà Thầy cho, tôi rất vui mừng. Sau khi tiễn Thầy đi, tôi trở về lại Tịnh Xá Ngọc Đăng và lấy ngay hai chiếc áo Thầy cho ra thử. Hai chiếc áo may rất đẹp, có điều với tôi hơi rộng và dài. Mặc vào, đi qua đi lại, nhìn ngắm hồi lâu, tự thấy với mình không hợp lắm. Tâm tôi bắt đầu phát sanh hai hƣớng tâm lý trái ngƣợc: 1. Muốn cho các bạn đồng tu khác; 2. Muốn mặc, dù không hợp một chút, nhƣng nó là ân phƣớc của Thầy cho. Trong lúc phân vân, tôi sực tỉnh theo dõi hơi thở và nhìn hai trạng thái tâm lý của mình. Tôi thấy khổ thọ1 có mặt trong tâm tôi. Tiếp tục quán chiếu, tôi khám phá ra ngƣời cho thật hạnh phúc. Ngƣợc lại, ngƣời nhận, ví dụ nhƣ tôi, chỉ với một chút “thích” và “không thích” mà tâm xuất hiện khổ thọ. 5 ngày sau, khổ thọ trong tôi không còn. Thay vào đó là hạnh phúc của một ngƣời vừa thể nghiệm đƣợc Dukkha2 của ngƣời nhận. Tôi hân hoan chia sẻ với anh Hoàng: bây giờ tôi mới thể nghiệm sâu sắc hạnh phúc của ngƣời cho Cảm giác khó chịu, không vui lý thứ nhất trong Tứ Thánh Đế đƣợc Đức Phật khám vào thế kỷ thứ VI trƣớc Tây Lịch, có nghĩa là sự bất nhƣ ý, không an lạc. 1 2Chân 21
  • 22. và cái khổ của ngƣời nhận. Muốn hạnh phúc phải nên làm ngƣời cho. Anh Hoàng cƣời rất thõa mái, nói đùa với tôi: “ngƣời ta lo cho Sƣ Phụ, Sƣ Phụ lo lai cho Thầy, Thầy là ngƣời hạnh phúc nhất trên đời rồi còn gì? ”. Rồi anh kể thêm cho tôi nghe một câu chuyện: Một hôm nọ, anh cùng một số bạn gặp gỡ và ăn uống với nhau. Một ngƣời trong số đó đã nói với một ngƣời bạn khác tên Châu: ông cho ngƣời ta rất nhiều nhƣng ông chƣa bao giờ cho tôi cái gì hết. Anh Châu hỏi lại: Bây giờ ông muốn làm ngƣời cho hay ngƣời nhận? Ngƣời bạn kia không trả lời. Anh Hoàng suy nghĩ một chút và lên tiếng: Tôi sẽ làm ngƣời cho. Anh là đại gia anh cho 100 đồng, tôi không có nhiều thì tôi cho 1 đồng, nhƣng tôi chọn vế cho. Câu chuyện anh Hoàng kể thật giản dị, nhƣng đối với tôi thật hấp dẫn và ý nghĩa. Nó làm sáng tỏ trong tôi cái hạnh phúc của ngƣời cho. Tôi nói với anh Hoàng lúc đó: Đúng, mình vừa thể nghiệm đƣợc thế nào là “khổ” của ngƣời nhận, ngƣời cho mới là ngƣời hạnh phúc nhiều hơn. Anh Hoàng cƣời, tôi nói thêm: ngƣời cho là ngƣời giàu có; ngƣời nhận là ngƣời nghèo khổ. Đang nói đến ngƣời nghèo khổ, tôi thấy tâm tôi xuất hiện một năng lƣợng tâm lý xót thƣơng. Tôi thầm cầu nguyện: xin cho con ngƣời biết bán đi cái nghèo của mình bằng cách “cho”, dù ấy chỉ là một ý niệm cỏn con. 22
  • 23. ĐỒ THẬT ĐỔI ĐỒ GIẢ Cha mẹ sinh ra tôi trong thời điểm quê hƣơng Việt Nam khó khăn, lại thêm mang nhiều bệnh tật, nên tôi đƣợc “Phật Trời ban phƣớc” cho hai hàm răng hô rất dễ thƣơng – Tôi thấy thế. Nhƣng một số bạn bè và những ngƣời có tình cảm với tôi thì có ý kiến ngƣợc lại. Họ phát biểu: “Thầy ăn nói dễ mến nhƣng có hàm răng xấu quá. Đề nghị Thầy đi sửa, chúng tôi ủng hộ …” Từ lúc tôi còn ở Việt Nam cho đến khi sang India làm công quả tại Việt nam Phật Quốc Tự - Buddha Gaya, thỉnh thoảng vài tháng lại có ngƣời cho ý kiến về hàm răng dễ thƣơng của tôi. Có một lần, xuân năm 2008, một phái đoàn từ Việt Nam sang Buddha Gaya chiêm bái Phật tích, họ gây áp lực cho tôi sửa răng bằng cách gửi tiền cho Thầy tôi – Thầy H.Diệu – để Thầy chuyển lại cho tôi và yêu cầu tôi sửa răng. Tôi rất vui và cảm ơn mọi ngƣời, và tôi lại nữa đùa nữa thật rằng hàm răng là tặng phẩm của cha mẹ. Nó là phƣơng tiện giúp tôi phòng hộ nhiều chƣớng ngại trên con đƣờng tâm linh. Thế rồi một ngày nọ, một anh bác sĩ nha khoa rất dễ thƣơng, nhiệt tình và có tình cảm với ngƣời tu hành, hành hƣơng chiêm bái đất Phật. Tôi đƣợc Thầy cho theo phụ giúp đoàn chiêm bái. Chúng tôi có duyên nói chuyện với nhau, rất hợp nhau, rất quý nhau. Đặc biệt tôi và anh là hai ngƣời ở hai vùng quê khác nhau, không bà con và cùng chung huyết thống, nhƣng tên gọi của chúng tôi rất gần gũi và rất giống anh em. Tôi: Trần Minh Thành; anh: Trần Minh Khoa. Phải nói rằng nhiều năm theo Thầy công quả và học tập, tôi tiếp xúc khá nhiều ngƣời, từ cao cao cấp chính phủ cho đến cao cấp tôn giáo, từ bình dân của những làng quê nghèo Nepal và India cho đến tầng lớp trung lƣu của 23
  • 24. những quốc gia mà tôi đã đến: India, Nepal, Myanmar, Thailand … anh Minh Khoa là một anh bạn đầy nhiệt tình, thiện chí, điềm tĩnh và giản dị. Ngày chia tay về lại Việt Nam, anh nhã ý giúp tôi sửa lại hàm răng, rất chân tình và rất thuyết phục. Tôi thấy cũng đƣợc, có lẽ cũng đã đến lúc mình cần phải đổi đôi hàm răng đã cũ. Và, chúng tôi hẹn nhau khi có dịp tôi về Việt nam và ở lại trên một tháng tôi sẽ liên lạc anh. Ba tháng sau, tôi có việc phải về Việt Nam. Chúng tôi gặp nhau. Anh lặp lại ý định cũ. Nhƣng vì lúc này tôi có một số công việc phải làm, hơn nữa lúc ấy lịch ở Sài Gòn của tôi chỉ có hai tuần, không đủ thời gian cho việc “làm đẹp”. Nửa tháng sau, tình hình có thay đổi vì Visa nhập cảnh India của tôi có chút trục trặc, tôi phải ở thêm tại Sài Gòn hơn tháng để hoàn thành. Tôi bắt đầu có thời gian đƣa việc sửa răng của mình ra ánh sáng chánhniệm. Tôi thấy răng của mình không đẹp, nhƣng không bị đau, không trở ngại ăn uống. Nếu thay đổi răng giả, răng có thể đẹp, nhƣng phải gặp những vấn đề về vệ sinh răng, ăn uống cũng không tiện bằng răng thật, và có thể còn phải thƣờng viếng Nha sĩ để kiểm tra và thay đổi kịp thời… Thêm nữa, có tầm quan trọng rất đặc biệt, là phát âm ngoại ngữ không chuẩn, tiếng nói có phần biến dạng. Tôi thấy thêm: là một nhà sƣ, thân thể nhƣ một chiếc thuyền để sang bờ giải thoát, cái quan trọng là thân thể khỏe mạnh, không bệnh tật, nếu đẹp càng tốt. Hàm răng mình hiện tại mặc dù không đẹp, nhƣng là hàng thật, rất khỏe và vững chắc. Khi nào nó hƣ thì mình đổi, bây giờ còn ok, đâu cần phải đổi đâu? Quán chiếu nhƣ thế, tự nhiên tôi mĩm cƣời: Lạ thật, đời này vẫn còn có ngƣời nhƣ mình muốn đem đồ thật đổi đồ giả sao? 24
  • 25. NÓI THẬT LÒNG Có một ngƣời rất yêu mến Đạo Phật và các nhà sƣ tu hành tên T.C, chị rất quý kính Thầy T.L và rất nhiệt tình phổ biến các tác phẩm và bài giảng của Thầy. Ngày 19 tháng 06 năm 2010 chị hẹn gặp tôi tại Tịnh xá Ngọc Đăng, Sài Gòn. Trong cuộc nói chuyện vui, chị hỏi tôi có từng đọc sách Thầy T.L không? Là một con ngƣời vô tƣ và yêu thích chân thật, tôi trả lời có. Và nói thêm rằng tôi cảm thấy không hợp với lối sống và tu tập của Thầy T.L. Tôi phân tích thêm: Thầy T.L là một Thầy tu đáng kính, rất nhiệt huyết với con đừng tâm linh Phật Giáo, là một vị Thầy có thể nƣơng theo tu tập. Tuy nhiên, tôi tự thấy mình không phù hợp. Nghe tôi nói thế, chị có vẻ không vui. Lửa trong chị nhẹ cháy, chị hỏi tôi là đã đọc sách nào của Thầy T.L. Những lời gốc Phật dạy; Tạo duyên giáo hóa … do anh Minh Độ từng tu ở Tu Viện Chân Nhƣ mang sang India tặng, tôi trả lời. Tôi giải thích thêm cho chị một số câu nói của Phật trong Kinh và khuyên chị nên thận trọng, chỉ nên tin và học theo khi chính bản thân đã kinh nghiệm đƣợc sự thật và hạnh phúc do sự thật mang lại. Nhƣ thế chị sẽ không phải lãng phí thời gian, tâm lực và tài lực bởi sự lợi dụng của kẻ khác. Cuộc nói chuyện của chúng tôi kết thúc ở đó. Ngày hôm sau, chị điện thoại cho tôi, yêu cầu tôi cho chị xin tên ngƣời đã tặng tôi sách của Thầy T.L. và từng tu học tại Chân Nhƣ. Tôi nói với chị là anh Minh Độ. Chị cảm ơn tôi và cúp máy. Thở một hơi dài, hình dung lại cuộc nói chuyện hôm qua với chị, kết hợp thái độ của chị khi kết thúc cuộc gọi vừa qua, tôi suy nghĩ: mình nói thật lòng nhƣng đã vô tình đụng đến sự “thiêng liêng” của kẻ khác. Thật đúng cha ông 25
  • 26. Việt nam từng dạy “sự thật mất lòng”. Thế Tôn cũng đã dạy: tin ta mà không hiểu ta là phá ta. Ngài còn khuyến khích mọi ngƣời đến với Giáo Pháp của Ngài để thấychứ không phải để tin. Thế nhƣng, cuộc sống lại có quá nhiều ngƣời đến để tin mà không cần phải thấy. 26
  • 27. PHỦ NHẬN VÔ TÌNH Tôi có một ngƣời bạn đạo rất thân là anh H. Chúng tôi đi chung đoàn với nhau sang chiêm bái Đất Phật lần đầu tiên trong đời tôi vào ngày 25 tháng 12 năm 2005. Với tôi, một kẻ tu hành “có vẻ xấu xí”, nên mọi ngƣời không mấy ấn tƣợng, bao gồm anh. Thế nhƣng, “có lẽ có duyên”, trong nhiều chuyến đi theo Thầy3 về Việt Nam, tôi và anh có dịp gần nhau, nói chuyện và hiểu nhau hơn. Anh còn giúp tôi làm giấy ngân hàng bảo lãnh cho tôi du học tại India… Từ đó, trong tôi tự cho anh là một ngƣời bạn đạo hữu duyên. Tôi thấy anh và tôi rất có nhiều điểm chung về cách suy nghĩ và tu tập tâm linh. Anh cũng nghĩ tôi là một ngƣời bạn giúp anh hiểu rõ thêm nhiều vấn đề tâm linh và Phật pháp. Thế là mỗi khi có dịp, chúng tôi thƣờng nói chuyện với nhau, có khi chúng tôi nói cả những vấn đề “rất riêng tƣ” trong cuộc sống. Một ngày mùa hè tháng bảy 2010, vì phải trở lại India gấp, tôi nhờ anh giúp liên kết xuất bản 2 quyển sách nhỏ do tôi viết và soạn về cá nhân và chùa Việt Nam Phật Quốc Tự: Cảm ơn những nhiệm mầu và Góp lá nhiệm mầu. Anh vô cùng hoan hỉ, kể cả việc cho mƣợn tiền in và dò lại bản thảo. Khi trở lại India, tôi lại tiếp tục gửi anh một tác phẩm khác do tôi viết từ năm 2005: Thiền quán niệm hơi thở - Anapanasati - dƣới góc độ sức khỏe và phát triển trí nhớ, nhờ anh tiếp tục in. Khoảng một tháng sau, anh điện thoại cho tôi nói Thầy đề nghị không in vì chƣa đến lúc. Tôi cƣời rất vui vẻ đón nhận thông tin. Nhƣng rồi trong một lần khác anh gọi điện cho tôi nói về việc in Kinh Pháp Hoa, câu chuyện quyển sách Thiền quán niệm hơi thở trở lại. Tôi đề nghị anh in, anh nói đã thƣa Thầy nhƣng Thầy không ok. Tôi lại nói: Anh … để đó tôi, tôi sẽ… Anh tiếp tục phản biện: mình cũng thật tình nói với Thầy về quyển Thầy H. Diệu, ngƣời khai sáng hai ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự nơi Phật Thích Ca giáng trần – Lumbini- và Đắc Đạo – Buddha Gaya. 3 27
  • 28. sách, mình có biết đâu… Cuộc nói chuyện vẫn tiếp diễn, và câu chuyện đƣợc chuyển sang hƣớng khác … Khi kết thúc cuộc gọi, liên tƣởng lại những lời anh nói và tôi đã nói, tôi phát hiện ra mình đã “phủ nhận vô tình” thiện ý của anh. PHÉP LẠ TỈNH THỨC Sáng ngày 24 tháng 09 năm 2010, tôi đang hƣớng dẫn công nhân trồng hoa thì giật mình bởi tiếng còi xe inh ỏi ngoài cổng chùa. Nhanh chân bƣớc ra cổng, thì ra là còi Taxi đƣa sáu ngƣời Việt Nam đến viếng thăm chùa. Giản dị nhƣ mọi ngày trong chiếc áo thun cũ bạc màu và chiếc quần nâu quê mùa của một ngƣời ở chùa, tôi chánhniệm mở cửa đón đoàn vào thăm viếng. Sau vài lời chào hỏi xã giao, năm trong sáu anh chị, dƣờng nhƣ không nén đƣợc cảm xúc lần đầu tiên thăm viếng ngôi chùa mang tên Việt nam đầu tiên trên đất Phật, đã nhanh chân vào sân chùa chụp hình lƣu niệm và vãng cảnh. Một anh còn lại muốn nói với anh tài xế Taxi ngƣời India là 10 A.M đến đón đoàn, nhƣng không nói đƣợc tiếng Anh. Tôi giúp anh phiên dịch. Dịch xong, tôi đi trƣớc anh theo sau vào sân chùa. Vào đến nơi, gặp 5 anh chị em đã vào trƣớc, anh bạn mà tôi vừa giúp phiên dịch huyên thuyên khen ngợi cảnh chùa và chỉ vào tôi giới thiệu với mọi ngƣời: “thằng này nói tiếng Việt và tiếng Anh tốt lắm”. Nghe xong câu nói của anh, tôi thấy tâm lập tức phản ứng. Nó bắt đầu lý luận và phán xét. Và tôi tỉnh thức ngay lập tức, hơi thở tôi có mặt ngay để điều hòa phản ứng của thân và tâm tôi. 28
  • 29. Sau khi chụp xong mấy tấm hình kỷ niệm, một anh cỏ vẻ lớn tuổi và cao địa vị nhất trong đoàn đến gần tôi và trân trọng gọi tôi bằng Thầy: xin thầy cho phép chúng tôi đƣợc lễ Phật chùa mình. Nghe về chùa, về Thầy Huyền Diệu đã lâu, nhƣng hôm nay mới đến đƣợc. Và cũng xin thƣa Thầy là xin Thầy chú nguyện giúp cho những tràng hạt để chúng tôi mang về Việt Nam tặng bạn bè và ngƣời thân. A di đà Phật, thay lời Thầy chào mừng quý anh chị thăm chùa, tôi đáp lại. Sau đó tôi đƣa các anh chị đến chánh điện lễ Phật và đọc thần chú Đại Bi để chú nguyện cho những tràng hạt của quý anh chị. Lễ Phật xong, tôi mời quý anh chị tham quan vƣờn chùa và dùng trà dƣới giàn hoa có hƣơng thơm. Chúng tôi nói chuyện với nhau gần 60 phút về nhân tình thế thái, về ý nghĩa cuộc sống, về lòng yêu nƣớc, tình yêu thiên nhiên, bảo vệ môi sinh, hồn thiêng sông núi Việt Nam, tâm nguyện xây chùa của Thầy Huyền Diệu … Các anh chị rất cảm ơn tôi đã tiếp đoàn, đã chia sẻ với anh chị nhiều điều vô cùng mới mẻ với anh chị. Anh chị tỏ ra rất trân trọng và xin tôi viết cho các anh chị mỗi ngƣời một đôi dòng trên những danh thiếp cũng nhƣ quyển sách nhỏ của anh chị để kỷ niệm. Lúc này, tôi thoáng thấy trên gƣơng mặt anh bạn đã vô tình giới thiệu tôi: „Thằng này …‟ hơi có gì đó gƣơng gạo, khó xử. Tôi liền nhanh trí nắm tay anh và nói: anh là ngƣời rất có phúc. Rất nhiều ngƣời theo Phật, mơ ƣớc một lần trong đời chiêm bái Đất Phật để thực hiện di chúc của Ngài4, mà vẫn chƣa đến đƣợc đây. Thầy tôi thƣờng nói kiếp trƣớc có tu kiếp này mới có duyên lành nhƣ thế. Anh kiếp trƣớc có tu đấy. Anh cố gắng làm nhiều điều tốt cho quê hƣơng và dân tộc. Chúng tôi cầu nguyện cho anh thành tựu những ƣớc nguyện tốt đẹp. Tôi thấy gƣơng mặt anh từ gƣợng gạo khó xử chuyển sang xúc động và hạnh phúc. Anh nói: rất cảm ơn Thầy. Không ngờ thầy nhỏ mà có một tƣ duy sâu kinh Mahaparinibbana Đức Phật dạy ngƣời đệ tử Phật một lần trong đời nên về chiêm bái một trong bốn Thánh Địa: nơi Phật giáng trần, nơi Phật thành Đạo, nơi Phật thuyết pháp lần đầu tiên và nơi Phật nhập Niết Bàn. Ngƣời nào chiêm bái với lòng tin chân thành, lâm chung trên đƣờng chiêm bái sẽ sanh an lạc. 4Trong 29
  • 30. rộng và một tình yêu quê hƣơng, Đạo Phật và dân tộc nhƣ thế. Chúng tôi rất cảm ơn Thầy Huyền Diệu và Thầy. Chúng tôi thấy mình rất hạnh phúc khi đƣợc viếng thăm chùa. Anh vừa nói dứt lời thì một anh trong nhóm báo cáo là đã đến giờ hẹn với Taxi. Buổi nói chuyện của chúng tôi khép lại, các anh chị lần nữa cảm ơn tôi và chùa đã tiếp các anh chị. Tôi tiễn các anh chị ra cổng, chào và cầu nguyện các anh chị an lạc. Quay trở lại, tôi liếc nhìn đồng hồ thấy 10:30 sáng. Chùa lúc này thật yên tĩnh. Một mình đi trên những viên đá phẳng ngang qua những hàng tre, tôi hít một hơi dài và thở ra mỉm cƣời đầy mãn nguyện. Tôi thấy tỉnh thức là một phép lạ - tỉnh thức mang đến hòa bình cho chính mình và cho cả thế giới xung quanh. 30
  • 31. MỘT LỜI NÓI CẢM ƠN Ngày 07 tháng 04 năm 2010 có một phái đoàn chƣ Tăng lãnh đạo GHPGVN chiêm bái thánh địa Buddha Gaya – nơi Phật Thích Ca đắc Đạo. Đƣợc biết tin, hầu hết các Tăng Ni sinh viên Việt Nam đang học tại India đều đến phi trƣờng Gaya để cung đón. Ngoài ra, đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt nam tại India cũng tham gia chào đón phái đoàn tại phi trƣờng. Là một ngƣời bình dị, thích sống nhƣ là mình, không muốn copy hay a dua một cách gƣợng gạo theo một sự sắp xếp hay một quan điểm nào nó, tôi ăn mặc bình thƣờng nhƣ khi ở chùa và theo lời Thầy tôi – Thầy Huyền Diệu – đi đến phi trƣờng tham gia đón đoàn. Đến nơi, trƣớc mắt tôi là những hình ảnh đẹp của các Thầy và sƣ cô trong sắc phục Phật Giáo Việt Nam – Y vàng trang nghiêm- vô cùng dễ thƣơng đang đứng thành hàng chờ cung đón. Tôi hoan hỉ vô cùng, chạy tới chạy lui ghi lại hình ảnh đẹp để làm tƣ liệu. Bất ngờ, hai nhà sƣ trong hàng ngũ những nhà sƣ đang trang nghiêm đứng đón, mặc hồng lên và to tiếng hƣớng về phía tôi: Đón chƣ tôn hòa thƣợng mà ăn mặc nhƣ vậy? mặc y áo vào ! Quá bất ngờ, tôi ngẩn ngƣời nhìn hai sƣ huynh ấy. Tôi thấy mình hơi bị “quê” giữa bao ngƣời. Cố trấn tĩnh lại, tôi đến gần hai sƣ huynh và tỏ thái độ hòa hợp và bình tỉnh nói: thông cảm nghen sƣ huynh, mình có nhiệm vụ riêng. Rồi tôi đùa thêm: hai sƣ huynh biết tôi là ai không? Câu hỏi của tôi làm hai sƣ huynh càng giận, lớn tiếng: ông là cái “quái gì” mà không biết? Tôi cƣời, vì hai sƣ huynh đã trúng kế. Tôi tiếp lời: đã biết rồi thì còn yêu cầu mặc y áo gì nữa? Hai sƣ huynh lửa sân càng bừng cháy, tôi đắc ý và vội đi trƣớc khi nó kịp cháy đến mình. 31
  • 32. Đón đoàn xong, chiều hôm đó Hiệp Hội Phật giáo Quốc Tế Buddha Gaya có buổi gặp mặt và trao đổi cùng phái đoàn GHPGVN, tôi lại đƣợc theo Thầy đi dự. Lần này tôi mặc áo tràng của một nhà sƣ Tăng, ra dáng một nhà sƣ đã có thâm niên trên con đƣờng tu học và thực nghiệm tâm linh của Đạo Phật. Trong buổi gặp mặt và trao đổi ấy, tôi gặp một nhà sƣ đã có lần cùng tôi đi thi vào học viện PGVN tại Huế gần mƣời năm về trƣớc. Anh bạn thấy tôi, đến gần và rất chân tình nói: Thầy mặc áo nhƣ vậy phải đẹp hơn không? Mĩm cƣời, tôi đáp: cảm ơn Thầy! Một câu hỏi đơn giản; một câu trả lời đơn giản, nhƣng lại chấn động mạnh trong lòng tôi. Tôi thấy lại cảnh “sân” của hai sƣ huynh khi đón đoàn; tôi thấy lại cảm giác khó chịu trong tôi khi nghe hai sƣ huynh không lịch sự lớn tiếng với mình; tôi thấy tôi có nội sân. Tâm tôi bắt đầu xuất hiện một trạng thái tâm lý hối tiếc: phải chi lúc ấy mình nói đƣợc nhƣ lúc này một lời nói cảm ơn! 32
  • 33. KHÔNG CÓ NGÀY MAI Hôm nay là một ngày nắng đẹp ở Ấn Độ, mặc dù hơi nóng. Đứng từ tầng ba của ngôi nhà tri ân Việt Nam Phật Quốc Tự - India nhìn xuống, một thảm xanh thật tƣơi mát làm tâm hồn tôi thật an tỉnh. Thiền hành qua lại, tâm tôi xuất hiện một năng lƣợng tri ân Thầy, tri ân những con ngƣời chung tay góp sức cho công trình tâm linh và văn hóa Việt Nam này, để bao ngƣời đƣợc thuận duyên chiêm bái và tu tập trên Đất Phật, mà tôi là một. Từ tâm niệm tri ân, một ƣớc mơ đẹp của tôi trở về: Học tiếng Pháp để tri ân Thầy. Ƣớc mơ học tiếng Pháp của tôi bắt nguồn từ “biển sóng không lời5” khi tôi đến New Delhi lần đầu tiên. Cuộc nói chuyện bằng tiếng Pháp của Thầy và anh bạn đổi tiền trong một chợ du lịch nhỏ - Khan Market – làm tôi ngơ ngát không hiểu, cộng thêm một cú đánh quyết định làm tôi khởi tâm quyết học tiếng Pháp: đang khi nói chuyện bằng tiếng Pháp cùng anh đổi tiền, Thầy hƣớng sang tôi và nói: “Nhuận Đạt thấy không? anh này chỉ làm kiếm tiền nuôi vợ con thôi mà tiếng Anh tiếng Pháp ngon lành, chúng ta cả một lý tƣởng mà chỉ nói, không làm gì đƣợc cả.” Từ sau ngày hôm đó, tôi tự nguyện kiếp này phải sử dụng đƣợc tiếng Pháp, ít nhất là đọc hiểu đƣợc các sách vở viết bằng tiếng Pháp về đạo Phật và đất nƣớc Việt Nam. Nhƣng rồi đã bốn năm qua, có ngày tôi tự học đƣợc vài chữ, có ngày không, kết quả là chỉ đƣợc vài câu để thiên hạ cũng nghĩ mình có biết chút tiếng Pháp. Từ kết quả, tôi ngƣợc dòng ký ức để tìm về nguyên nhân chính. Bao nhiêu lý do hiện về; bao nhiêu lý luận bảo vệ tự tôn xuất hiện … cuối cùng tôi cũng tìm ra đƣợc nguyên nhân chính: “hẹn ngày mai”. 5 Xin đọc sách Cảm Ơn Những Nhiệm Mầu 33
  • 34. Thật tức cƣời, cái bệnh hẹn ngày mai có vẻ đơn giản và dễ trị, thế mà cho tôi một kết quả rất dễ buồn nhƣ hôm nay. Ngày mai là ngày chƣa đến, là ngày mình không chắc và không biết, nhƣng vẫn cứ hẹn ngày mai. Bốn năm đã qua, 1460 ngày đã qua, nhƣng ngày mai vẫn chƣa tới. Mĩm cƣời, vẫn bƣớc chân điều đặn, tôi tự khoan dung cho mình và lại tiếp tục quyết tâm. Nhƣng lần quyết tâm này, tôi thêm vào một nguyên tắc mới: “không có ngày mai”. Tôi nghĩ, mỗi khi mình biếng nhác hay do dự, phải tự nhắc nhở rằng không có ngày mai, nếu hôm nay không có. Những gì có thể làm hôm nay đừng để ngày mai, ngày mai sẽ không bao giờ đến. Ngày mai thực sự chỉ đƣợc làm bằng những gì có thể của ngày hôm nay. Mĩm cƣời thở nhẹ, lấy lại ý chí, nhẹ bƣớc đi về phòng, tôi bắt đầu công việc của một ngày mới, học tiếng Pháp là một phần. 34
  • 35. KHẢ NĂNG CHUYỂN HÓACỦA TÌNH THƢƠNG Tôi có duyên tiếp xúc với một cậu em ngƣời India từ ngày đầu tiên tôi đến đất Phật. Cậu em tên Susanta, một hậu duệ lâu đời thuộc dòng họ Sakya ở thành Kapilavastu, nơi có lịch sử gắn liền với cuộc đời bậc Đạo Sƣ của nhân loại: Phật Thích Ca. Susanta là một câu học sinh thuộc giai cấp thấp trong xã hội Ấn độ, đƣợc Thầy đƣa về chùa giúp cho ăn học. Cậu có rất nhiều mặc cảm, đặc biệt về giai cấp. Cậu học không giỏi lắm, nhƣng cũng đủ điểm để vƣợt đƣợc các kỳ thi. Mùa xuân 2010, sau khi học đƣợc một ít chữ Hán từ Đại Học Ngôn Ngữ và Văn Hóa Bắc Kinh trở về, tôi đƣợc Thầy cho phép công quả tại Việt Nam Phật Quốc Tự - Buddha Gaya, tôi bắt đầu có những ngày tháng gần và chia sẻ nhiều với Susenta. Mùa hè 2010, chùa chỉ có hai chúng tôi. Nếu theo hệ thống phân cấp, thì tôi là ngƣời trên, cậu là ngƣời giúp việc và nhận ân huệ của Chùa. Thế nhƣng tôi không nghĩ thế, rất thân thiện với cậu, chia sẻ quan điểm sống, thảo luận và khuyến khích cậu tự tin thêm trên con đƣờng cậu đang ƣớc mơ phía trƣớc. Thỉnh thoảng sau những bữa cơm, tôi thƣờng nhấn mạnh đến yếu tố tri thức và sự chân thành để thành công và hạnh phúc trong cuộc sống. Thầy thƣờng nói ở Ấn Độ khó có thể đƣa một cậu từ giai cấp thấp lên lãnh đạo, hoặc thành công gì đó lớn lao trong cuộc sống. Rất đúng! Tiếp xúc với Susenta, quan sát em rất tỉ mỉ, tôi thấy trong em rất thiếu tinh thần tự tin mình có thể thành công nhƣ bao nhiêu ngƣời khác. Em rất an phận, một sự an phận tỏ ra chai lỳ với những lời khuyên. Tôi kiên nhẫn, bằng tình thƣơng thật, mỗi ngày một chút khuyến khích em, kể em nghe những gƣơng thành công trên thế giới, có cả những nhân vật Ấn Độ đƣợc cho là giai cấp thấp nhƣ em. Tôi đề nghị em nên ngủ sớm dậy sớm; nên 35
  • 36. quản lý tốt thời gian của mình, nhất là luyện tập thói quen không hẹn ngày mai và văn hóa đọc sách. Hai tháng trôi qua, em có chút chuyển biến, thấy em thƣờng cầm sách đọc trong vƣờn chùa, tôi rất mừng. Một hôm nọ, tôi nhờ em đƣa một ngƣời Việt Nam ra nhà ga Gaya để về Delhi, em đƣa và không về cho đến ba ngày sau. Thật ra đây không phải là lần đầu tiên mà là lần thứ ba. Những lần trƣớc tôi rất thân ái và nhẹ nhàng lƣu tâm, nhƣng không thể hiện gì làm em khó xử cả. Đến lần này, tôi nghĩ mình đã hiểu em khá rồi, không hành động sẽ không còn kịp. Sau khi em về, tôi vẫn nhƣ mọi khi, không gì khác lạ. Sáng sớm hôm sau, tôi cố tình đi ngang qua cửa phòng em. Vừa thấy em, tôi nói liền chào buổi sáng. Em có vẻ lúng túng, chào lại. Tôi vẫn không nói gì thêm cho đến khi ăn sáng cùng nhau. Susanta, why don‟t you inform me when you go out for such a long time? (Susenta, sao em không báo tôi biết khi em đi lâu nhƣ thế?). Em im lặng, tôi tiếp: you know when you work with one company or organization, if you left the work without informing or permission, so you know, what happen with you when you come back? ( em biết không, khi em làm việc cho một công ty hay tổ chức nào đó, nếu em bỏ công việc mà không có phép hoặc thông báo hợp lý, thì chuyện gì sẽ xảy ra khi em trở về?). Em vẫn im lặng, tôi nói tiếp: you have lost your trust, and no one believes in you more. Your bad name will be going from person to person, company to company, organization to organization, and it means you lost the chance for success and you will never keep up your dream. (Em đã đánh mất niềm tin trong mắt mọi ngƣời. Tên tuổi xấu của em sẽ truyền tụng từ ngƣời này sang ngƣời khác, công ty này sang công ty khác, tổ chức này sang tổ chức khác, điều đó cũng có nghĩa là em mất cơ hội để thành công và thực hiện ƣớc mơ.). Em vẫn im lặng, tôi cũng im lặng nhìn em. Em ngƣớc lên và dƣờng nhƣ muốn khóc. Em nói trong nghẹn lời: Sorry Thầy! (Xin lỗi Thầy). 36
  • 37. Sau buổi nói chuyện hôm đó, em bắt đầu thay đổi. Để ý, tôi thấy em dạy sớm hơn. Thƣờng đọc sách và tỏ ra quý mến tôi hơn. Tôi bắt đầu thấy tình thƣơng chân thành có tác dụng, có khả năng chuyển hóa. Bữa cơm trƣa hôm đó, chỉ có tôi và em, tôi nói: Try your best! Buddha said one becomes noble by action notby birth. You should be self-confidence. I think that if you sleep early and wake up early, also organizing good your time, you will be what you want to be. Lord Buddha blesses you! (cố gắng, Phật dạy con ngƣời cao quý là do việc làm chứ không phải do đƣợc sinh ra. Em nên tự tin. Nếu em tổ chức tốt thời gian, cũng nhƣ ngủ sớm và dạy sớm, em sẽ làm đƣợc tất cả những gì em muốn làm. Phật sẽ gia hộ em!) CHIẾC BÁNH CUỐI CÙNG Từ ngày trở thành một nhà sƣ, tôi đã đƣợc dạy sống, học tập và làm việc nhƣ “những giây phút cuối cùng”, nhƣng ngày ấy tôi không thật sự thấu hiểu, đơn giản chỉ hiểu rằng mình sẽ cố gắng hết mình để không ân hận ngày mai. Thế rồi một ngày mùa hè năm 2010, trời India vô cùng nóng (49-500C), trên tay tôi đang cầm một “chiếc bánh cuối cùng” – loại bánh tôi rất yêu thích do một phái đoàn chiêm bái từ USA tặng. Những lần ăn trƣớc, tay tôi cũng cầm chiếc bánh cùng loại, nhƣng lần cầm chiếc bánh cuối cùng này, tôi nhận thấy tâm lý tôi có khác: trân trọng, ăn chậm, cảm thấy ngon hơn và còn khởiniệmtri ân … Tôi ăn chiếc bánh với ý thức rất rõ ràng đây là chiếc bánh cuối cùng, sẽ không còn những chiếc bánh thế này ngày mai. Tâm tôi rất vui và đầy sự trân 37
  • 38. trọng chiếc bánh. Chiếc bánh trở thành quan trọng và tôi ăn nhƣ chƣa bao giờ đƣợc ăn, nhƣ sẽ không có chiếc bánh nhƣ thế này cho ngày mai nữa. Thật giản dị, bí mật của lời dạy “những giây phút cuối cùng” tan vỡ trong tôi. Tôi phát hiện ra mình có một sức mạnh tập trung lớn và một khả năng hạnh phúc lớn nhờ ăn “chiếc bánh cuối cùng” trong giây phút hiện tại. Lúc ấy tôi ăn chiếc bánh bằng cả thể xác và tâm hồn của mình. Xa hơn nữa, tôi còn khám phá đƣợc cội nguồn chiếc bánh trong liên hệ với thiên nhiên, con ngƣời và nhiều hiện hữu xung quanh. Kinh nghiệm “chiếc bánh cuối cùng” này đã khai mở cho tôi suối nguồn hạnh phúc, tình yêu thƣơng và sự trân trọng. Ăn chiếc bánh, học tập, hay làm bất cứ việc gì, nếu tôi làm bằng cả tâm hồn và thể xác trong giây phút hiện tại, ý thức trọn vẹn nó trong liên hệ với những hiện hữu thuộc quá khứ, hiện tại và tƣơng lai, sức tập trung trong tôi sẽ nâng cao, tôi sẽ làm trong một tâm lý hoàn toàn tự nguyện và hoan hỉ, thời gian sẽ không còn khống chế, không gian sẽ không còn chƣớng ngại, bởi vì tất cả là “những hiện hữu cuối cùng”. Tôi không trân trọng, tôi không thƣơng yêu … tôi sẽ mất nó. Tôi không tự nguyện và không hoan hỷ hết mình, tôi sẽ không có cơ hội khác, vì nó sẽ qua đi và không trở lại thăm tôi. Kinh nghiệm “chiếc bánh cuối cùng” thật giản dị, nhƣng với tôi là một bài học, một chìa khóa vàng cho thành công, hạnh phúc, tình yêu thƣơng và cống hiến của kiếp ngƣời. 38
  • 39. BÁC TAM Bác Tam tên thật là Lê Văn Tam, ngƣời Thanh Hóa. Tôi gặp Bác lần đầu tiên năm 2010 tại Thanh Hóa trong chuyến theo Thầy tôi6 về thăm Việt nam. Đầu năm 2011, tôi lại có dịp gặp và đi cùng Bác trong chuyến hành hƣơng chiêm bái đất Phật do Thầy tôi hƣớng dẫn. Chuyến đi cùng chúng tôi còn có đoàn xuất gia gieo duyên tu tập tại Đất Phật từ mọi miền đất nƣớc Việt Nam do anh Nhã cùng chị Loan hƣớng dẫn. Chúng tôi trải qua hai tuần chiêm bái và tu tập. Có những lúc chúng tôi chia nhau những chiếc bánh, từng quả quýt và di chuyển bằng xe Bus cả nghìn cây số mỗi lần. Chính từ sự cực khổ, đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và tâm thành của hành hƣơng, tôi mới hiểu và học đƣợc thêm nhiều điều giản dị từ Bác Tam. Bác Tam đã ngoài bảy mƣơi, có thể nói sức khỏe không còn ở giai đoạn khỏe để leo núi, chịu nóng, nhịn khát nƣớc của một đời ngƣời. Bác là một doanh nhân thành đạt - chủ tịch hội đồng quản trị tổng công ty mía đƣờng Lam Sơn – là ngƣời lên xe xuống ngựa, đã từng đi 59 quốc gia học hỏi và công tác. Đến đâu, Bác đều có xe đƣa ngƣời đón. Thế nhƣng khi hành hƣơng chiêm bái Đất Phật, Bác là một ngƣời giản dị, khiêmcung với tất cả mọi ngƣời, kể cả những bạn đáng tuổi cháu nhỏ của Bác. Một hôm trên đƣờng đi từ Buddha Gaya đến Lumbini, đi suốt ngày đêm, không ngủ đƣợc đủ giấc, sức khỏe Bác suy giảm và phát sốt. Trên xe mọi ngƣời rất lo lắng, nhất là những đứa con và cháu cùng đi với Bác. Vì tình thƣơng ông, họ cuống cuồng lên, họ đề nghị Bác về sớm hơn chƣơng trình dự định. 6 Thầy Huyền Diệu 39
  • 40. Nói thêm. Các con cháu Bác đi hành hƣơng với Bác là vì lòng yêu thƣơng kính trọng Bác. Các bạn ấy không nhƣ Bác, chƣa thật sự thành tâm và thấu hiểu giá trị tâm linh của một ngƣời hành hƣơng. Bác vẫn cố gắng vui và bình tĩnh nhƣ những ngày đầu, uống thuốc sốt, nhận sự chăm sóc thƣơng yêu của cháu con và nằm nghỉ trên xe cho đến sáng. Ngày hôm sau, xe về đến Lumbini, đoàn lƣu trú tu tập tại Việt nam Phật Quốc tự, không ai biết Bác sốt trên xe, ngoại trừ con cháu Bác và một số ngƣời có trách nhiệm quan tâm. Sau khi chiêm bái trụ đá Asoka, nơi Phật Thích Ca giáng trần tại vƣờn thiêng Lumbini, về lại chùa, con cháu Bác lại một lần nữa đề nghị Bác về sớm, vì lo cho sức khỏe của Bác. Bác từ tốn và nhỏ nhẹ nói với các con cháu: “Mấy con tu là ông khỏe, ông phải chiêm bái Phật tích cho trọn vẹn, không sao đâu”. Tuyệt vời và xúc động. “Mấy con tu là ông khỏe” là một lời giáo huấn thật giản dị làm sao! Đối với tôi, câu nói “mấy con tu là ông khỏe” là một câu nói chấn động tâm hồn. Tôi khâm phục tƣ cách một ngƣời cha và một ngƣời ông tuyệt vời của Bác; một ngƣời hành hƣơng thành tâm và thấu hiểu giá trị tâm linh thiêng liêng của ngƣời hành hƣơng. Bác còn nói thêm với tôi trƣớc cổng thành Kapilavastu đổ nát năm xƣa, nơi đức Phật Thích Ca rời hoàng cung tìm đƣờng giải thoát: “Bao nhiêu huy hoàng của hoàng thành nghìn sau cũng chỉ là những tƣờng thành đổ nát. Nếu đi chiếm bái Đất Phật lúc con còn ở tuổi 45 hay 50 về trƣớc, có lẽ con sẽ làm đƣợc nhiều việc hơn cho đất nƣớc và mọi ngƣời”. 40
  • 41. BÀI HỌC LỚN Ngày 29 tháng 03 năm 2011, tại Việt nam Phật Quốc Tự Lumbini, chúng tôi mời ba nhà sƣ Nhật Bản thuộc phái Nhật Liên Tông và một Member Secrectary của ủy ban phát triển Lumbini cùng ăn cơm trƣa. Trong buổi cơm thân tình ấy, tôi đƣợc theo ăn cơm cùng Thầy tôi. Ăn cơm xong, anh bạn Member Secrectary chuyển sang ăn bánh. Tôi cũng vừa ăn xong nên là ngƣời thứ hai tiếp tục ăn bánh. Vừa ăn, tôi nhìn sang một thầy ngƣời Nhật bên cạnh. Thấy thầy cũng ăn cơm xong, tôi mời thầy dùng bánh. Thầy cảm ơn nhƣng vẫn không dùng. Tôi nghĩ thầy không dùng loại bánh ấy. Thế nhƣng, điều bất ngờ, vô cùng giản dị và cao quý xảy ra trƣớc mắt tôi: ngƣời thầy tôi mời dùng bánh lúc trƣớc, sở dĩ không ăn bánh là vì ông đợi sƣ huynh và thầy của mình. Khi nhìn thấy Thầy và sƣ huynh ăn cơm xong, ông nâng chiếc đĩa có bánh lên cho thầy và sƣ huynh gắp mỗi ngƣời hai miếng sau đó mới tự gắp cho mình một miếng. Nhìn thấy hình ảnh ấy tôi thật sự xúc động và hổ thẹn. Thầy tôi ngồi đó. Thầy vẫn còn dùng cơm. Tôi là ngƣời đƣợc thầy thƣơng, cho phép ngồi ăn cơm cùng khách quý của Thầy, thế mà tôi quên Thầy! Tôi không đợi đƣợc đến khi Thầy cơm xong gắp cho Thầy miếng bánh, hay ít ra đợi thầy ăn bánh trƣớc sau đó đến phiên mình. Đây là một bài học lớn, cao quý cho tôi. 41
  • 42. VÔ TRÍ ANH HÙNG Việt Nam Phật Quốc Tự tại Lumbini, Nepal có nuôi 6 con chim Hồng Hạc. Đầu năm 2011, nhân cùng phái đoàn Ƣớc Nguyện Nhiệm Mầu về chiêm bái Lumbini, chúng tôi đƣợc Thầy Huyền Diệu cho xem Hồng Hạc biểu diễn múa. Chim Hồng Hạc là loại chim rất đẹp, có sắc thái thanh cao. Để ý tôi còn thấy tính anh hùng rất đáng nể của chúng: Khi ngƣời đến gần, chúng hoàn toàn không e sợ. Mạnh bƣớc và hùng dũng đi về phía có ngƣời. Ngƣời tiến tới, nó cũng tiến tới. Ngƣời lui, nó vẫn tiến tới. Nó tiến tới không phải để thân thiện, mà để tất công. Rất anh hùng. Một lần nọ, tôi đi ngang qua khu vực có đôi chim Hồng Hạc. Thấy tôi đang đi tới, đôi bạn chim Hồng Hạc cũng đi tới ngƣợc chiều tôi. Đến gần tôi, anh ta liền cắn tôi. Tôi càng lui anh ta càng tiến tới tấn công. Vừa lui tôi vừa nghĩ: anh bạn chim này vui thật, ảnh tƣởng mình sợ ảnh, nhƣng thật ra vì mình thƣơng và không muốn làm tổn thƣơng ảnh thôi. Thế là tôi quyết định thử chụp cái cổ ảnh xem sao. Thực hiện ý định, tôi đƣa tay chụp ngay cổ anh ta khi anh ta vung mỏ để cắn tôi. Bị chụp cổ, anh bạn Hồng hạc không cách nào tấn công đƣợc. Tôi bƣớc tới anh ta phải theo tới. Tôi bƣớc lui anh ta cũng phải theo lui. Thấy rất thƣơng. Tôi nắm cổ anh bạn Hồng hạc khoảng một phút sau đó thả bạn ra bƣớc đi. Bạn Hạc đƣợc thả ra vẫn không sợ, vẫn hiên ngang và hùng dũng tiếp tục tiến tới để cắn tôi, mà không hề biết mình vừa thua trận và nhờ lòng thƣơng 42
  • 43. của kẻ khác. Nhìn thấy bạn Hạc đầy quyết tâm đi về phía tôi, tôi nhanh chân hơn ra khỏi khu vực kiểm soát của các bạn. Bƣớc đi mà lòng tôi cứ vui: Loài Hồng Hạc Lumbini thật dễ thƣơng, thật anh hùng. Thua trận nhƣng không nản chí, vẫn đứng lên và tiếp tục tiến công. Có điều, các bạn Hạc có dũng nhƣng không có mƣu, hay nói cách khác là có sức mạnh nhƣng không có trí tuệ. Cổ nhân nói: “biết ngƣời biết ta trăm trận trăm thắng”. Các bạn Hồng Hạc chỉ có biết ta mà không biết ngƣời, tiến tới để tiếp tục bại là điều chắc chắn. Ngoại trừ ngƣời khác thấy thƣơng vì ngu mà tha thứ, khoan dung. 43
  • 44. THÀNH TÂM Năm 2005, đến đất Phật lần đầu tiên dự lễ khánh thành Việt Nam Phật Quốc Tự - Lumbini, ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Phật Thích Ca giáng trần, do Thầy H.Diệu sáng lập, tôi vô cùng khâm phục và xúc động. Một con ngƣời đơn độc, trên một đất nƣớc nghèo và xa lạ (sau này khi ở tại India và Nepal năm năm tôi biết thêm sự khắc nghiệt của thời tiết và sự vô ân của những ngƣời địa phƣơng cũng nhƣ sự trở ngại tôn giáo tại nơi này), nhƣng Thầy nỗ lực xây đƣợc hai ngôi chùa mang tên Việt Nam và tạo đƣợc những quan hệ cao cấp với lãnh đạo trung ƣơng và địa phƣơng, thật cảm phục. Tôi tự hỏi làm sao và nghị lực nào để Thầy có thể làm đƣợc những điều nhiệm mầu nhƣ thế! Ngày tháng trôi qua, tôi đƣợc ở cả hai ngôi Việt Nam Phật Quốc Tự trên Đất Phật để công quả, đƣợc gần Thầy học hỏi. Thầy dạy tôi rất nhiều. Từ ngoại giao đến tác phong công việc; từ tâm nguyện cho đến lý tƣởng vì Đạo Phật, đất nƣớc, nhân loại và cuộc đời. Gần Thầy, tôi nhƣ một chú cá cạn lâu ngày gặp nƣớc, tâm tôi rực sáng lý tƣởng và niềm tin. Những gì Thầy dạy tôi, tôi đã hấp thụ, nó đã từ lúc nào biến thành lối sống, phong cách làm việc cá nhân tôi. Thầy dạy tôi bí mật của thành công hạnh phúc là “thành tâm”. Mọi lý thuyết hay; mọi kế hoặc tốt đều phải đƣợc thực hiện bằng một tâm thành thì mới có kết quả tốt đẹp. Nếu không, tất cả chỉ là những cuộc luận bàn hay những trang giấy đẹp tƣởng tƣợng. Từ học bí mật “thành tâm” của Thầy, tôi dần tự tin cất bƣớc trên đƣờng tri thức và đóng góp đƣợc chút ít công việc cho cộng đồng Phật giáo và con ngƣời. 44
  • 45. Khi tôi viết những dòng này, Thầy đã 67 tuổi. Thầy vẫn còn nồng nàng với tình yêu Đạo Pháp, quê hƣơng Việt Nam và hòa bình của con ngƣời. Không mệt mỏi, Thầy tự mình nấu cơm ăn, tận tụy làm việc và say sƣa với những ý tƣởng lớn lao về phục hƣng Kapilavastu, xây dựng thánh tƣợng Phật Di Lặc tại Khổ Hạnh Lâm, đóng góp ý tƣởng cho quê hƣơng Việt Nam hòa bình hạnh phúc. Tôi cảm nhận những ý tƣởng cao đẹp đó nhƣ một ngƣời yêu trong tâm hồn Thầy. Thầy không bao giờ quên nhắc đến tên mỗi ngày trong cuộc sống. Ở gần Thầy, tôi học đƣợc dƣờng nhƣ tất cả những gì Thầy dạy. Duy nhất có một điều, tôi học đến hôm nay vẫn chƣa làm đƣợc bài kiểm tra điểm chín, đó là sự “thành tâm”. Lễ Phật và tỉnh tâm nhiều giờ, tôi bừng hiểu ra rằng những gì Thầy làm đƣợc nhƣng chúng tôi không làm đƣợc là do Thầy thực sự “thành tâm”. HẠNH PHÚC KHÔNG KHÓ TÌM Một lần, tôi đƣợc Thầy cho hƣớng dẫn một đoàn hành hƣơng từ Việt Nam sang chiêm bái Đất Phật tại Ấn Độ. Tôi đƣợc giao nhiệm vụ đƣa đoàn từ Bồ Đề Đạo Tràng của Ấn Độ sang Lumbini, Nepal. Chúng tôi bắt đầu đi từ 08 giờ sáng, lộ trình đi qua Saranath, vì thế chúng tôi phải mất 21 giờ mới đến đƣợc biên giới Nepal. 45
  • 46. Ấn Độ là một quốc gia khá đặc biệt, đời sống của họ nặng tâm linh hơn nặng thức ăn. Việt Nam thƣờng nói có tiền mua tiên cũng đƣợc, nhƣng thực tế Ấn Độ và Nepal trong một vài trƣờng hợp, có tiền không mua cơm đƣợc nói gì đến mua tiên. Đoàn chiêm bái chúng tôi là một ví dụ sống động. Trong đoàn chúng tôi có rất nhiều anh chị em giàu có. Hầu nhƣ ai cũng có tiền dƣ, không những có thể mua đƣợc một tháng cơm mà một năm cơm ở những nhà hàng sang trọng họ vẫn có thể. Thế mà trong chuyến chiêm bái này, chỉ biết cầm tiền mà chiêm nghiệm cái đói viếng thăm. Thấy mọi ngƣời đói và muốn dừng lại ăn cơm, tôi đề nghị xe dừng lại một quán cơm bên đƣờng. Mọi ngƣời vui vẻ đi vệ sinh sau đó vào quán cơm. Bổng một ngƣời la lên: Ối giời, Thầy ôi, dơ thế, sao ăn đƣợc? Ối giời, còn có chuột bò ngang nữa. Thế là cả nhóm xôn xao đề nghị không ăn, tiếp tục lên xe đi. Thống nhất. Tôi lại tiếp tục cho xe đƣa đoàn đi. Cứ thế tôi cho xe dừng đến lần thứ tƣ. Lần này nhiều anh chị em quá đói, tôi đề nghị anh chị em vệ sinh, rữa mặt sau đó vào quán ăn. Tất cả để tôi lo. Anh chị em cứ việc ngồi đó và thƣởng thức. Lần này là một lần may mắn cho tôi. Thứ nhất anh chị em đói và mệt nên không nhiều ý kiến; thứ hai nhờ trời tối nên không ai nhìn thấy đƣợc cảnh dơ bẩn kinh khủng của quán ăn. Để anh chị em nghỉ một chút, tôi gọi cho mỗi ngƣời một ly trà sữa Ấn độ - Đây là loại Chai của ngƣời Ấn nấu bằng sữa trâu bò với thảo dƣợc. Vừa mệt lại vừa đói, nên khi uống đƣợc ly trà sữa các anh chị em cảm giác nhƣ đƣợc uống tiên đơn. Tất cả khỏe ra và vui hẳn lên. Có chị còn nói: Ối giời, ngon thế nhỉ! Tiếp tục, tôi gọi cho các anh chị em mỗi ngƣời 2 miếng bánh Chapati – một loại thức ăn truyền thống của ngƣời Ấn đƣợc làm từ bột lúa mì nguyên chất. Anh chị sau khi uống Chai phấn khởi, nay tiếp tục đƣợc ăn chapati càng vui sƣớng hơn. Một số anh chị em ban đầu ngại ngùng, bây giờ cũng nhập cuộc. Tiếng cƣời bắt đầu rộn rã bay; những bản tình ca quê hƣơng và Đạo Pháp nhẹ nhẹ thành tiếng. 46
  • 47. Thật giản dị một niềm hạnh phúc. Tôi vừa ăn vừa nghĩ ngợi về cái giá của hạnh phúc. Hạnh phúc thực sự không khó tìm. Nó đơn giản nhƣ đói đƣợc ăn một miếng Chapati và khát đƣợc uống một ly Chai. Trong lúc mọi ngƣời đang ăn vui vẻ, tôi cất tiếng hỏi: ok, các anh chị em no chƣa? Chapati và Chai có ngon không? Nhiều anh chị trả lời: ngon thƣa Thầy. Tôi nói tiếp: Anh chị em đang ăn một loại bánh đặt biệt của Ấn độ đấy, nó làm từ bột lúa mì nguyên chất cộng chút phân chuột. Mọi ngƣời xôn xao lên: thế hả Thầy? ghê quá! Tôi cƣời lớn tiếp tục vui nói: còn Chai anh chị em uống đƣợc làm từ sữa trâu bò với thảo mộc có thêm hƣơng vị mồ hôi muối của các anh Ấn độ bồi bàn. Á! Cả nhóm cƣời vang làm các bạn Ấn độ giật cả mình. Tôi kết luận: khi đói tất cả thức ăn có thể ăn đều ngon. Hạnh phúc thật giản dị, không khó tìm, đơn giản nhƣ ăn miếng Chapati với chút dƣ vị của chú chuột đi qua. Tôi chƣa nói dứt lời, một tiếng ối giời lớn vang lên, cộng thêm những trận cƣời nhƣ bảo đến. Ai ai cũng vui vẻ và nhƣ đã quên mệt của một hành trình dài. Chúng tôi tiếp tục lên xe đi, khép lại một kỷ niệm đơn sơ của hạnh phúc, hƣớng về Lumbini, nơi Phật Thích Ca giáng trần, với một tấm lòng chân thành chiêm bái và hiện thực hóa lời dạy của Đức Thế Tôn: Này Anan, có bốn nơi sau khi Nhƣ Lai Niết Bàn ngƣời Phật tử nên một lần trong đời về chiêm bái. Một, Buddha gaya, nơi Nhƣ Lai chứng quả vô thƣợng chánh đẳng chánh giác. Hai, Saranath, nơi Nhƣ Lai đầu tiên chuyển pháp luân. Ba, Kusinagar, nơi Nhƣ Lai Niết Bàn tịch diệt. Bốn, Lumbini, nơi của ƣớc nguyện, nơi Nhƣ lai chọn lựa để giáng sanh. 47
  • 48. CHỜ ĐỢI Ngày 04 tháng 04 năm 2011, tôi đƣợc mời tham dự lễ khánh thành Center for The World Peace ở Lumbini. Đúng chín giờ, theo thƣ mời, tôi đến nơi và cùng các Thầy của cộng đồng Phật Giáo quốc tế tham dự lễ chúc mừng khánh thành. Đến nơi, không ngƣời đón vào, chúng tôi tự động bƣớc vào cửa thì bị ngăn lại và đƣợc giải thích là không có đăng ký không đƣợc vào. Chúng tôi quay trở lại và đƣợc một chị bạn ngƣời Hồng Kông hƣớng dẫn đăng ký, sau đó nhận đƣợc một tấm Stick để dán vào áo trở thành ngƣời tham dự chính thức. Vào đƣợc bên trong, đọc thông báo chƣơng trình, tôi phát hiện ra chƣơng trình chính thức bắt đầu lúc 11:30 A.M và kết thúc 1:30 P.M, sau đó dùng cơm. Theo thƣ mời là 9:00 A.M, vì thế khi đến nơi chúng tôi phải đợi thêm hai giờ rữa nữa mới đƣợc tham dự lễ. Không có chọn lựa, chúng tôi đành cùng nhau kiên nhẫn đợi. Không ngƣời quan tâm, ở một góc trong tâm hồn tôi khởi ý nghĩ chúng tôi đƣợc xem nhƣ những kẻ đang chờ đợi một ân huệ nào đó từ buổi lễ, nhƣ một kẻ ăn xin đang đợi ngƣời cho. Nhƣng tôi vẫn kiên nhẫn đƣợc, vẫn viết bài trong lúc chờ mà không rơi vào bị động. Thế rồi có một nhà sƣ Nhật Bản gọi tên tôi. Thầy ấy đến đƣa tôi vào trong giảng đƣờng nơi diễn ra chính lễ. Bƣớc đến cửa thì chúng tôi bị đề nghị không đƣợc vào với một lời Sorry không giải thích, rất thất vọng. 48
  • 49. Vị thầy ngƣời Nhật rất bình tỉnh, ông vui vẻ quay trở lại cùng tôi. Chúng tôi lại tiếp tục đợi. Rồi từng thầy một ra về, trƣớc hết là các thầy Theravada của Thailand, Miến Điện, Srilanka, Cambodian, vì các thầy phải ngọ trai vào lúc 11:00 A.M, không thể đợi đƣợc, chỉ còn chúng tôi, Mahayana ở lại. Chúng tôi tiếp tục kiên nhẫn đợi. Rồi một lời mời vang lên, mời chúng tôi ra giữa sân nắng 390C không mái che hƣớng về phía cửa chánh điện để bắt đầu lễ khánh thành. Bên trên đài cao là một giọng ca nam ngọt ngào làm ngay ngất nhiều ngƣời, riêng tôi không hiểu gì hết, bởi anh bạn hát bằng tiếng Tây tạng. Anh ca sĩ hát xong, hai anh chị xƣớng ngôn viên dễ thƣơng bắt đầu chào mừng mọi ngƣời tham dự, giới thiệu những nhân vật VIP từ chính quyền sở tại và các nƣớc có quan hệ ngoại giao. Chúng tôi vẫn đứng từ xa, vẫn đợi buổi lễ khánh thành, nhƣng không ai quan tâm đến cộng đồng Phật giáo quốc tế nơi này, mà những đại diện đƣợc mời là các thầy từ những truyền thống Phật giáo thế giới khác nhau. Các Thầy lại tiếp tục ra về, chỉ còn lại tôi và hai nhà sƣ Nhật Bản, trong ấy có vị sƣ đã hơn 70 tuổi, từng sống và dấn thân cho phong trào hòa hình thế giới của Nhật Liên Tông tại Phi Châu hơn 30 năm qua. Cửa mở, băng cắt, xƣớng ngôn gửi lời mời tất cả vào chánh điện. Tôi theo chân hai nhà sƣ Nhật đi vào. Lại một lần nữa lạc lõng, không ngƣời hƣớng dẫn vào vị trí quy định. Tôi nhẹ lách ngƣời qua hai nhà sƣ Nhật, cố ý đến gặp anh bạn đeo băng bảo vệ lễ để hỏi chút ít thông tin. Nhà sƣ già Nhật Bản hỏi tôi đi đâu. Tôi nói đi hỏi xem các chùa quốc tế Lumbini đƣợc quy định ngồi nơi nào. Bất ngờ, ông đƣa tay ngăn tôi lại. Ông nói: chúng ta chờ gần 3 giờ đồng hồ để vào đây là mong đƣợc chúc mừng và hoan hỉ với một trung tâm tâm linh mới đƣợc xây dựng, góp phần cho tâm linh của nhân loại và phát triển thánh địa Lumbini. Chúng ta đã vào đƣợc đây, hãy cùng nhau đứng đây niệm kinh thầm nguyện, không cần phải tìm chỗ ngồi đâu. Niệm kinh xong chúng ta sẽ về. Thế là ba chúng tôi, giữa bao nhiêu con ngƣời tới lui tìm chỗ, chấp tay 49
  • 50. nhẹ niệm hồng danh chƣ Phật và đề kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, khấn nguyện cho trung tâm tâm linh mới này. Chúng tôi thành tâm cao độ, không còn nhớ mình đang đứng giữa bao con ngƣời, cúi đầu lễ xuống trƣớc Phật tƣợng. Một anh bạn chạy đến hỏi thƣ mời của chúng tôi để đƣa chúng tôi lên hàng VIP đã định. Tôi hoan hỉ cảm ơn anh và nói: cộng đồng Phật giáo nơi đây rất mừng nhìn thấy trung tâm Phật giáo này đƣợc khánh thành, chúng tôi xin nhiệt tâm chào mừng thành viên mới. Thời gian không cho phép, xin cảm ơn các anh đã mời cá nhân chùa Việt Nam tôi và các thầy thuộc cộng đồng Phật giáo các nƣớc. Chúng tôi sẽ đến thăm Center for World Peace và các anh vào một ngày khác đẹp và ít bận rộn hơn. Anh cũng cảm ơn đáp lại. Nói xong, chúng tôi chào anh bƣớc ra, không quên xá chào một lần nữa khi đến cổng trở về. Giữa cái nắng 390C của mùa hè Nepal, đầu trần, tôi bƣớc đi trở lại Việt nam Phật Quốc Tự - Lumbini khoảng 1Km gần đó. Từng bƣớc giữa cái nắng tôi càng thắm thía sự chờ đợi. Tôi thấy tôi học đƣợc một bài học kiên nhẫn và một bài học tổ chức. Tâm tôi hoàn toàn hoan hỉ và thông cảm với sự chủ quan của ngƣời tổ chức lễ khánh thành. Tôi nói với chính tôi: nếu Việt Nam Phật Quốc Tự tổ chức một chƣơng trình tƣơng tự, tôi sẽ cố gắng tổ chức tốt hơn. 50
  • 51. NGƢỜI BÁN NGƢỜI MUA Trên chuyến xe trở về Thành phố HCM từ An Giang, đang say sƣa với những ƣớc mơ cho Paramita World tại trung tâm Sài Gòn, thì bỗng nhiên Thầy nhớ ra những quyển bản thảo sách Con Đƣờng Sáng của Thầy đang bị để quên tại Chùa Phật Xá Lợi – Vĩnh Long. Anh Nhã phone ngay cho một sƣ cô trong chùa để nhờ mang bản thảo quyển sách để quên ra xe bên kia cầu Mỹ Thuận. Thế là, xe đang đi phải dừng lại đợi ở một hàng quán giải khát bên đƣờng. Thầy trò cùng nhau xuống xe. Chi Loan, chị Lan và chị Lệ vui tƣơi cùng nhau mua ít bánh ăn đi đƣờng; Anh Nhã thì thân thiệnđùa vui với những ngƣời bán hàng dễ mến. Nhìn anh Nhã, nghe chị Loan, Lan và Lệ vui cƣời, tôi thấy lòng mình cộng hƣởng cùng anh chị, sự mệt mỏi sau nhiều ngày đƣờng đã để hết lại trên xe. Thầy cũng vậy, cũng hòa chung vui vẻ, còn nói vui thêm rằng có Sài Gòn Phố Chay thì không sợ đói. Sau giây phút vui đó, Thầy ngồi trên ghế hỏi chuyện anh chị bán hàng, tôi đứng bên cạnh Thầy. Có một cụ già xuất hiện, trên đôi tay gầy của cụ là một rỗ mận xanh. Cụ mang rỗ mận đến trƣớc mặt Thầy mời Thầy mua. Thầy nhẹ tay nâng rỗ mận và hỏi: bà bán bao nhiêu tiền? Bà thƣa hai mƣơi nghìn. Thầy nhìn bà im lặng, tay móc chiếc ví bạc màu, tìm kiếm những đồng tiền cuối cùng còn lại trong ấy. 51
  • 52. May mắn, Thầy đã kiếm đủ hai mƣơi nghìn đồng. Thầy nói: tiền đây thƣa bà. Khi thấy ngƣời mua trả tiền mà không trả giá, bà vui vô cùng. Nhận tiền xong, bà nhanh tay trút hết rổ mận vào bao nhựa, nhẹ đặt trên bàn cho Thầy rồi bƣớc đi. Đứng một mình bên cạnh Thầy, quán sát câu chuyện mua bán giản dị ấy, nhƣng làm tôi vô cùng xúc động. Thầy vừa mua xong mận thì chị Lệ cũng vừa đến. Chị cho Thầy biết là số mận Thầy mua là mận dạt, loại không tốt ngƣời ta lựa bỏ ra, bà cụ xin hoặc mua rẻ đi bán lại. Thầy mĩm cƣời. khi chị Lệ bƣớc đi, Thầy chia sẻ với mình:Thầy đâu có mua mận đâu! Thay vì bà cụ đi ăn xin, bà dùng sức lao động của mình để sống. Mình làm phƣớc giúp bà. Nếu xã hội, ai ai cũng có tinh thần nhƣ bà, cũng phấn đấu làm việc chân chánh để sống, không lợi dụng và ăn bám ngƣời khác thì xã hội này vui và đẹp hơn biết bao! Biết việc bán mận của bà, nghe và hiểu tâm hồn ngƣời mua của Thầy, mắt tôi khép lại, hơi thở tôi sâu thêm, cổ tôi khô lên vì xúc động. Một ngƣời bán – cụ già gần 80 tuổi, dùng chính sức lực còn lại của mình để làm việc sống, mà không phải đi ăn xin, không phải làm gánh nặng cho cháu con và xã hội; một ngƣời mua – một nhà sƣ hơn 40 năm xa quê hƣơng Việt Nam, hiểu và xúc động trƣớc sự kiếm sống chân chính của cụ già đã biểu hiện thành hành động mua sản phẩm bằng tình thƣơng và lòng kính trọng, đã làm tôi phải nhìn lại chính mình. Tôi ƣớc mơ tôi và mọi ngƣời trên quê hƣơng Việt Nam có tinh thần lao động nhƣ bà, đƣợc sống bằng đôi chân và đôi tay của chính mình, đƣợc làm việc và cống hiến bằng tƣ duy và trí tuệ có tình thƣơng nhƣ Thầy, để không ai sẽ là gánh nặng cho xã hội, để tình yêu thƣơng và sự cảm thông chia sẻ giữa con ngƣời và con ngƣời đƣợc thắp sáng, thế giới hòa bình nhiều hơn, chiến tranh và thù hận ít hơn. 52
  • 53. TƢỞNG RẰNG ĐÃ BIẾT Một lần nọ, tôi cùng chị Hà, Nga, Ngọc Anh; anh Minh Trung, chị Ngọc và Minh Thành về Hà Tây thăm chùa Hƣng Khánh, cùng đón mừng Phật Đản. Hƣng Khánh là một ngôi chùa huyện rất cổ kính, thấp và ẩn mình dƣới những tàng cây nhƣ bao ngôi chùa cổ trên quê hƣơng Bắc Việt. Thầy Minh Đồng là ngƣời trụ trì. Thầy là một vị sƣ trẻ, rất giỏi, một mình lo tổ chức cho cả ba ngôi chùa, chăm sóc tinh thần cho hàng ngàn tín đồ, nhƣng thầy vẫn chu toàn công việc giáo hội và tham gia tích cực hoạt động xã hội. Chúng tôi rất kính ngƣỡng thầy. Tôi sinh ra và lớn lên ở phía Nam, nhƣng sống nhiều năm trong thiền môn, tiếp xúc nhiều các nhà sƣ cũng nhƣ các anh chị phí Bắc, nên cũng biết khá nhiều phong tục, văn hóa Bắc Kỳ, nhất là văn hóa Phật giáo Bắc. Tuy nhiên đến Hà Tây lần này, chúng tôi vô cùng xúc động, rất thƣơng ngƣời Phật Tử chân quê. Từng hàng ngƣời đến chùa vui ăn buffer ( tiệc buffer miễn phí đầu tiên tại chùa, do chị Hà từ Sài Gòn về đạo diễn), sau đó dâng hoa đăng mừng Phật đản và cầu nguyện bình an cho gia đình và thế giới. Tuyệt vời! nhìn những dòng ngƣời vui ăn buffer và đón mừng Phật đản mà tôi cùng anh Minh Trung không thể không hoan hỷ nhập cuộc hòa vui. Hai chúng tôi đƣợc bố trí dùng cơm riêng rất trân trọng, nhƣng chúng tôi tình nguyện sắp hàng nhƣ bao nhiêu ngƣời khác để cùng nhau nhận thức ăn và ngồi ăn chung với mọi ngƣời để cùng chia vui ngày Phật giáng thế. Chiều và đêm ấy trôi qua, sáng hôm sau mọi ngƣời lần lƣợt ra về, nhất là các anh chị từ Hà Nội. chúng tôi cũng vậy, chuẩn bị hành lý đi thăm chùa Hƣơng. Sáng hôm đó, đang ăn cơm cùng nhau, thì có một bạn sinh viên con chị Hà xin mẹ về lại Hà Nội. Anh nói: “mẹ cho một cuốc xe bus”.Chi Ngọc nhìn tôi; Minh Thành cũng nhìn tôi. Các anh chị hiểu là bạn sinh viên xin mẹ tiền đi xe 53
  • 54. bus, và có ýhỏi tôi có đúng không. Tôi hiểu ý các anh chị nên đáp: Đúng rồi, bạn ấy xin tiền đi xe bus đấy! Xa xa bên kia có tiếng cƣời khúc khích, nhìn về phía ấy thấy một bạn sinh viên nữ Hà Nội. Chị Hà cũng cƣời và lên tiếng: cho một cuốc xe bus nghĩa là cho bạn ấy đi nhờ đến trạm xe bus đấy, không phải xin tiền đi xe bus. Ối giời ơi, ngạc nhiên quá. Ba ngƣời chúng tôi – tôi, chị Ngọc và Minh Thành – sáu mắt nhìn nhau ngơ ngác. Chúng tôi thật chủ quan! Cuộc đời có biết bao điều chƣa biết, nhƣng tƣởng rằng đã biết, thực ra không biết gì cả. Đã từng đƣợc học tam nhơn đồng hành tất hữu ngã sƣ – ba ngƣời cùng đi, có một ngƣời là thầy ta – thế mà vẫn cứ tự đại và ngủ quên trên cái hiểu biết tí hon của mình. Tôi không biết hai ngƣời cùng ngạc nhiên nhƣ tôi có suy nghĩ gì không, riêng tôi, đây là một lời nhắc nhở cho sự tỉnh thức và đức khiêmcung cần có của một con ngƣời. 54
  • 55. KIÊN NHẪN VÀ NHIỆT TÌNH Tôi đi theo một đoàn Miền Nam viếng thăm chùa Hƣơng. Trong đòn có một chị tên Ngọc Anh rất thích uống cà phê. Khổ nỗi, chị không thích uống một mình. Chị hỏi tôi: Thầy uống cà phê không? cảm ơn chị, không, tôi trả lời. Chị tiếp tục hỏi nhiều ngƣời bạn khác trong đoàn, nhƣng cũng không ai uống cùng chị. Từ buổi sáng bắt đầu đi, cho đến sau khi hoàn tất hành trình viếng thăm chùa Hƣơng hơn sáu giờ đồng hồ, chị vẫn kiên nhẫn, thỉnh thoảng rủ mọi ngƣời. Sau khi chiêm bái chùa Hƣơng, chúng tôi trở về dừng chân đợi xe ở một quán nƣớc bên đƣờng, chị Ngọc Anh vẫn không nản chí, lại một lần nữa rủ chúng tôi uống cá phê. Lúc ấy có lẽ là giờ linh, tôi là ngƣời hầu nhƣ không bao giờ uống cà phê, thế nhƣng tự nhiên lại là ngƣời đầu tiên đồng ý. Khi nghe tôi đồng ý uống, nhiều ngƣời cũng vui theo uống, tôi thấy trên gƣơng mặt dễ thƣơng của chị Ngọc Anh có một nụ cƣời. Chị đi pha cà phê, mang cho từng ngƣời, rất hoan hỉ. Tôi là ngƣời vinh dự đƣợc chị pha cho ly đầu tiên. Nâng ly cà phê trong tay, cảm ơn chị, mà lòng tôi cứ nghĩ về đức kiên nhẫn và lòng nhiệt tình. Ngƣời xƣa nói: nhẫn, nhẫn, nhẫn, oan gia tùng thử tận – nhẫn, nhẫn nhẫn, oan gia từ đây hết. Tôi thấy thật có lý. Rõ ràng, chính sự kiên nhẫn và nhiệt tình của chị Ngọc Anh đã gọi về cảm xúc trong chúng tôi, đã không ép mà nhƣ ép chúng tôi vui vẻ hoàn thành mục tiêu của chị. Uống ly cà phê của chị pha, từng ngụm, từng ngụm cho đến hết, tôi thích thú vô cùng. Chị không chỉ cho tôi uống cà phê mà còn cho tôi học đƣợc bài học kiên nhẫn và nhiệt tình. 55
  • 56. LỜI KẾT Cuộc sống của một đời ngƣời có thể dài mà cũng có thể rất ngắn. Những biến động tâm lý và nhu cầu sinh lý của con ngƣời càng phức tạp và khó hiểu. Đặc biệt sức mạnh thúc đẩy của những bản năng tiêu cực khó có thể trung hòa. Một con ngƣời muốn sống hạnh phúc, không chỉ quan tâm đến thức ăn và chỗ ở, mà còn phải quan tâm đến những biến động tâm lý, rung động tình cảm thuộc thế giới tinh thần, để từ đó học đƣợc những bài học riêng tƣ cho những kinh nghiệm riêng tƣ của chính mình. Cuộc sống con ngƣời, riêng việc mƣu sinh đã bào mòn biết bao sinh lực và lý tƣởng cao thƣợng tốt đẹp. Nếu con ngƣời không biết tự học, tự kinh nghiệm tích cực cho mình thông qua những diễn biến cuộc sống, hay nói cách khác không có nghệ thuật tiếp xúc để thấy mình, để hoàn thiện nhân cách, để có niềm vui đạo đức …để vững bƣớc trên con đƣờng mình chọn, con ngƣời ấy sẽ rất mệt mỏi, thất vọng, bi quan và tự làm khô héo cuộc đời mình. “Thấy mình” là một nghệ thuật sống hạnh phúc; “Thấy mình” là một điều kiện cần của thành công. Không có thành công hạnh phúc nào tối thƣợng hơn thành công hạnh phúc của kẻ tự chiến thắng. Tất nhiên bƣớc đầu của công trình tự thắng vĩ đại này là phải thấy đƣợc mình. Đối với tôi, “thấy mình” là một niềm hạnh phúc, một bƣớc đi phải có trên con đƣờng xây đắp tình yêu thƣơng giữa những con ngƣời. Ƣớc mong các bạn cũng sẽ nhìn thấy sự cần thiết “thấy mình” trong cuộc sống. Và, chúng ta cùng đi nhiều hơn, “thấy mình” nhiều hơn, để vui nhiều hơn và thƣơng yêu nhiều hơn trong sự khác biệt đa dạng của cuộc đời. Namo Avalokitesvaraya, Gate! Lumbini, 24 tháng 04 năm 2010 NHUẬN ĐẠT – T.M.T 56
  • 57. CẢM ƠN CUỘC ĐỜI MẦU NHIỆM THEO THẦY CHIÊM BÁI BUDDHA GAYA 57
  • 58. THEO THẦY CHIÊM BÁI KHỔ HẠNH LÂM THĂM BUDDHANATH, KATHMANDU, NEPAL HẠNH PHÚC ĐƢỢC SỐNG BÊN THẦY 58
  • 59. THĂM VIẾNG CỮU HOA SƠN, TRUNG QUỐC CHIÊM BÁI LẠC SƠN PHẬT, TỨ XUYÊN, TRUNG QUỐC 59