Sức cạnh tranh và các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của công ty may xuất khẩu trong thị trường quốc tế
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Like this? Share it with your network

Share

Sức cạnh tranh và các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của công ty may xuất khẩu trong thị trường quốc tế

on

  • 5,669 views

 

Statistics

Views

Total Views
5,669
Views on SlideShare
5,669
Embed Views
0

Actions

Likes
2
Downloads
119
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Sức cạnh tranh và các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của công ty may xuất khẩu trong thị trường quốc tế Document Transcript

  • 1. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Mục lục Lời nói đầu .............................................................................................................................. 4 Chương I : Những vấn đề chung về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh .............................................................................................................................. 5 I /. Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh .............................................................................................................................. 5 1.Cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh .............................................................................................................................. 5 1.1 - Khái niệm cạnh tranh và khả năng cạnh tranh .............................................................................................................................. 5 1.2 - Vai trò của cạnh tranh .............................................................................................................................. 5 2. Các loại hình cạnh tranh. .............................................................................................................................. 7 2.1 - Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường. .............................................................................................................................. 7 2.2 – Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế. 2.3 - Căn cứ vào mức độ cạnh tranh. 2.4 – Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh. II /. Các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá: 1. Mô hình Micheal Porter về 5 lực lượng cạnh tranh2. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp. 2.1- Các nhân tố khách quan. 2.1.1- Môi trường Kinh tế quốc dân. 2.1.2 – Môi trường ngành. 2.2 - Các nhân tố chủ quan. 2.2.1 - Hàng hoá và cơ cấu hàng hoá trong kinh doanh. 2.2.2 – Yếu tố giá cả. 2.2.3 - Chất lượng hàng hoá. 2.3.4 - Tổ chức hoạt động xúc tiến. 1
  • 2. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ 2.3.5 – Dịch vụ sau bán hàng. 2.3.6 – Phương thức thanh toán. 2.3.7 – Yếu tố thời gian. 3. Một số chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. III /. Những yêu cầu cơ bản của cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong điều kiện hiện nay. Một là: Hàng hoá phải được thích nghi hoá theo các đặc trưng vật lý của nó. Hai là: Hàng hoá phải tích nghi hoá theo các đặc trưng dịch vụ của nó. Ba là: Thích nghi hoá theo các đặc trưng có tính biểu tượng của hàng hoá. IV /. Những biện pháp chủ yếu trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu.1Các biện pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh. Xác định các chiến lược cạnh tranh. Chương II : Thực trạng về khả năng cạnh tranh của Công ty May Xuất Khẩu trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Thời trang giai đoạn 1999 – 2003 I /. Khái quát về sản xuất kinh doanh của Công ty 1. Những thuận lợi , khó khăn. 1.1- Thuận lợi . 1.2 – Khó khăn. 2- Kết quả kinh doanh trong các năm qua. Đánh giá. II /. Thực trạng cạnh tranh của mặt hàng. 1. Đối thủ cạnh tranh. 2.Phân tích cạnh tranh theo một số yếu tố chủ yếu 2.1- Chất lượng 2.2- Giá cả 2.3- Tính đa dạng kiểu dáng 2.4 –Dịch vụ , phương pháp phục vụ khách hàng 2.5-Các vấn đề khác III/.Đánh giá chung thực trạng và khách quan cạnh tranh 1.Những mặt mạnh 2.Những mặt yếu 3.Vấn đề đặt ra với công ty Chương III : Phương hướng và biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty may xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc thời trang I/. Mục tiêu và phương hướng nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty trong thời gian tới 1.Định hướng phát triển của nghành may mặc tới năm 2010 2.Mục tiêu và phương hướng hoạt động của Công ty may xuất khẩu giai đoạn 2005 – 2010 2.1- Về hoạt động xuất khẩu 2.2- Về phát triển thị trường 2
  • 3. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ2.3- Về tổ chức , đào tạo3.Phương hướng nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty trong hoạt độngxuất khẩu nghành may mặc thời trangII/.Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty may xuất khẩu1.Về phía công ty1.1- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động Marketing mở rộng thịtrường xuất khẩu1.1.1- Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường nhằm xác định nhu cầu, thịhiếu khách hàng ..................................................................................................1.1.2- Nghiên cứu , phân tích đối thủ cạnh tranh1.1.3- Đẩy mạnh hoạt động khuyếch trương quảng cáo1.2- Sử dụng chính sách giá cả có hiệu quả1.3- Thực hiện đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu1.4- Nâng cao chất lượng hàng hoá và cải tiến công tác quản lý chất lượng1.5- Tổ chức công tác nghiên cứu mẫu mốt1.6- Nâng cao trình độ người lao động1.7- Mở rộng các mối liên kết kinh tế1.8- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn , chi phí lợi nhuận2.Về phía nhà nước............................2.1- Hoàn thiện chính sách đối với xuất khẩu hàng may mặc..............................................................................2.2- Cải tiến chính sách thuế................................................................................2.3- Hoàn chính sách tỷ giá....................................................................2.4- Hoàn thiện chính sách tín dụng 3
  • 4. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ lời nói đầu Chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sangcơ chế thị trường là một bước ngoặt lớn có tính chất cơ bản để nền kinh tếnước ta có thể đứng vững và phát triển kịp với nền kinh tế thế giới và khuvực. Sự chuyển đổi này đã kéo theo sự chuyển hướng trong việc lập kế hoạch,chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Cơ chế mới này đã mở ra mộtthời kỳ mới đầy cơ hội phát triển nhưng cũng nhiều thách thức lớn đối với cácthành phần kinh tế cũng như các doanh nghiệp ở Việt Nam. Hoạt động trong cơ chế thị trường mọi doanh nghiệp phải tự mình vậnđộng, tự quyết định mọi vấn đề về kinh doanh của mình, không có sự phâncông, chỉ đạo trực tiếp như trong cơ chế cũ, vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phảicó tính linh hoạt cao. Chính vì sự sống còn và phát triển của mỗi doanhnghiệp mà đã có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau. Cạnh tranh từđó đã ra đời góp phần giúp cho các doanh nghiệp khẳng định sức mạnh chính,tăng nhanh doanh thu, lợi nhuận. Ngược lại, đó cũng là yếu tố loại bỏ nhữngdoanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả, không có sức cạnh tranh. Khi nền kinh tế càng phát triển, các thành phần kinh tế ngày càng đadạng, số lượng các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều thì cạnh tranhngày càng gay gắt. Mỗi doanh nghiệp để đảm bảo cho sự tồn tại của mình đãđưa ra những chiến lược cạnh tranh táo bạo nhằm không ngừng tăng cườngkhả năng cạnh tranh cho mình. Mặt khác, các doanh nghiệp không bao giờ tựthoả mãn với thị trường chiếm lĩnh được (điều này rất nguy hiểm có thể sẽkéo theo sự diệt vong của doanh nghiệp) nên luôn tìm cách vươn lên, mở rộngthị trường. Và vì vậy, xây dựng một chiến lược cạnh tranh với những công cụ,biện pháp thích hợp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh gay gắt trên thịtrường. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là một hoạt động mang tính chất quốctế, vì nó vượt khỏi biên giới quốc gia nên yếu tố ảnh hưởng đến khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp lại càng nhiều. Để đứng vững trên thị trườngquốc tế, trong điều kiện cạnh tranh có nhiều khốc liệt hơn thì vấn đề đặt ra đốivới mỗi doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu càng lớn. Xuất phát từ tầm quan trọng của cạnh tranh đối với mỗi doanh nghiệp,nhất là trên thị trường thế giới, cùng với quá trình tìm hiểu thực tế trong thờigian thực tập tại Công ty may xuất khẩu , em đã chọn đề tài: " Sức cạnh tranh 4
  • 5. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷvà các giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của Công ty may xuất khẩu trong thịtrường quốc tế " làm đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. 5
  • 6. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Chương iNhững vấn đề chung về cạnh tranh và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanhI - Những lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh1- Cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh1.1 - Khái niệm cạnh tranh và khả năng cạnh tranh Sự trao đổi hàng hoá phát triển rất sớm trong lịch sử phát triển loài người,nhưng chỉ đến khi xuất hiện trao đổi thông qua vật ngang giá là tiền tệ cạnhtranh mới xuất hiện. Khi nghiên cứu sâu về nền sản xuất TBCN và cạnh tranhTBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản của sự cạnh tranh là quy luật điềuchỉnh tỷ suất lợi nhuận và qua đó đã hình thành nên hệ thống giá cả thịtrường. Quy luật này dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị và chi phí sản xuất vàkhả năng có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợinhuận. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vẫn là điều kiện vàyếu tố kích thích kinh doanh là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất pháttriển, tăng năng suất lao động và sự phát triển của xã hội nói chung. Tóm lại, có thể hiểu: " Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệtgiữa các chủ thể hiện đại trên thị trường với nhau nhằm giành giật nhữngđiều kiện sản xuất thuận lợi và nơi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ có lợi nhất,đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển ". Như vậy, khi nói đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thểhiểu: "Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng về năng lực màdoanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý thức, ý chítrên thị trường cạnh tranh đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận đảm bảocho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp". Hiện nay, người ta đã tính toán được rằng để đảm bảo cho yêu cầu nêutrên thì tỷ lệ lợi nhuận đạt được phải ít nhất bằng tỷ lệ cho việc tài trợ chonhững mục tiêu của doanh nghiệp. Vì thế, nếu một doanh nghiệp tham gia thịtrường mà không có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh yếu thì sẽkhông thể tồn tại được. Quá trình duy trì sức cạnh tranh của doanh nghiệpphải là một quá trình lâu dài, nếu không nói vĩnh viễn như là quá trình duy trìsự sống. 1.2 - Vai trò của cạnh tranh : Như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinhtế hàng hoá, đảm bảo tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hìnhthức sở hữu, trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trường quốc tếnói riêng, các doanh nghiệp luôn đưa ra các biện pháp tích cực và sáng tạonhằm đứng vững trên thị trường và sau đó tăng khả năng cạnh tranh củamình. Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng tạo ra nhiều 6
  • 7. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷưu thế cho sản phẩm của mình và từ đó có thể đạt được mục đích cuối cùng làlợi nhuận. Khi sản xuất kinh doanh một lợi nhuận hàng hoá nào đó, lợi nhuận màdoanh nghiệp thu được được xác định như sau: Pr = P.Q - C.Q Trong đó: + Pr: Lợi nhuận của doanh nghiệp + P: Giá bán hàng hoá. + Q: Lượng hàng hoá bán được + C: Chi phí một đơn vị hàng hoá. Như vậy để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có các cách như: tănggiá bán P, tăng lượng bán Q, giảm chi phí C và để làm được những việc nàydoanh nghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trường bằng cách ápdụng các thành tựu khoa học công nghệ, các phương thức sản xuất tiên tiến,hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp... và tốn ít chiphí nhất. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có những chiến lược Marketingthích hợp nhằm quảng bá sản phẩm, hàng hoá của mình tới khách hàng giúphọ có thể nắm bắt được sự có mặt của những hàng hoá đó và những đặc tính,tính chất, giá trị và những dịch vụ kèm theo của chúng. Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thực sự thì các doanh nghiệp mới cósự đầu tư nhằm nâng cao sự cạnh tranh và nhờ đó sản phẩm hàng hoá ngàycàng được đa dạng, phong phú và chất lượng được tốt hơn. Đó chính là tầmquan trọng của cạnh tranh đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngàycàng đẹp hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn và đáp ứng tốt hơn những yêu cầucủa người tiêu dùng trong xã hội. Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàngtrong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình.Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoảmãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ có các dịch vụ trước, trong vàsau khi bán hàng, được quan tâm nhiều hơn. Đây là những lợi ích làm ngườitiêu dùng có được từ cạnh tranh. Bên cạnh đó, cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nềnkinh tế đất nước. Để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệpđã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng những thành tựu khoa họcvào sản xuất kinh doanh nhờ đó mà tình hình sản xuất của đất nước được pháttriển, năng suất lao động được nâng cao. Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnhtranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hộiđể người tiêu dùng có thể lựa chọn được những sản phẩm có chất lượng tốt,giá rẻ. Cạnh tranh bao giờ cũng mang tính sống còn, gay gắt và nó còn gay gắthơn khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hiện nay thị trường quốc tế cónhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợithế riêng đã tạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép cácdoanh 7
  • 8. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷnghiệp hành động theo ý muốn của mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâmđến việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu hướng: Tăng chất lượng của sản phẩm và hạ chi phí sản xuất. Để đạt được điều nàycác doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nước mìnhđể tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú trọngđầu tư các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đưa các tiến bộ khoa học côngnghệ kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượngsản phẩm. Những điều này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia, các nguồnlực sẽ được tận dụng triệt để cho sản xuất, trình độ KHKT của đất nước sẽkhông ngừng được cải thiện. Như vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợpmột cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội. Cạnh tranh tạo ramôi trường tốt cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.Tuy nhiên, trongcuộc cạnh tranh khối liệt này không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lợi,có doanh nghiệp bị huỷ diệt do không có khả năng cạnh tranh, có doanhnghiệp sẽ thực sự phát triển nếu họ biết phát huy tốt những tiềm lực của mình.Nhưng cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế cácdoanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực xã hội bằng doanhnghiệp hoạt động hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nềnkinh tế đất nước phát triển. Tóm lại: Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗiquốc gia cũng như của từng doanh nghiệp.2 - Các loại hình cạnh tranh : Có nhiều cách phân loại cạnh tranh dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau,nhưng ngày nay trong phân tích đánh giá người ta dựa theo các tiêu thức sau: 2.1 - Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường : Dựa vào tiêu thức này người ta chia cạnh tranh thành 3 loại: - Cạnh tranh giữa người bán và người mua Là một cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt. Trên thị trườngngười bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, nhưng người mualại muốn mua hàng hoá với giá thấp nhất có thể. Giá cả cuối cùng được chấpnhận là giá cả thống nhất giữa người bán và người mua sau một quá trình mặccả với nhau. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau Là cuộc cạnh tranh dựa trên sự cạnh tranh mua. Khi số lượng hàng hoábán ra (cung) nhỏ hơn nhu cầu cần mua của người mua (cầu) tức là hàng hoákhan hiếm thì cuộc cạnh tranh trở nên quyết liệt, giá cả sẽ tăng lên vì ngườimua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá cần mua. - Cạnh tranh giữa người bán với người bán: Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau, thủ tiêu lẫn nhauđể giành khách hàng và thị trường, cuộc cạnh tranh dẫn đến là giá cả giảmxuống và có lợi cho thị trường. Trong khi đó đối với những doanh nghiệp khi 8
  • 9. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷtham gia thị trường không chịu được sức ép sẽ phải bỏ thị trường, nhường thịphần của mình cho các doanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh hơn.2.2 - Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế : - Cạnh tranh trong nội bộ ngành Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành,cùng sản xuất một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơnđể thu lợi nhuận siêu ngạch bằng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng caonăng suất lao động, giảm chi phí sản xuất làm cho giá trị hàng hoá cá biệt dodoanh nghiệp sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội. Kết quả cuộc cạnh tranh nàylàm cho kỹ thuật sản xuất phát triển hơn. - Cạnh tranh giữa các ngành Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh giữa cácdoanh nghiệp trong các ngành với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất.Trong quá trình này xuất hiện sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữacác ngành khác nhau, kết quả hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.2.3 - Căn cứ vào mức độ cạnh tranh : - Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán và khôngngười nào có ưu thế để cung cấp một số lượng sản phẩm quan trọng mà cóthể ảnh hưởng tới giá cả. Các sản phẩm làm ra được người mua xem là đồngnhất tức là ít có sự khác nhau về quy cách, phẩm chất, mẫu mã. Người bántham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với gia cả trên thị trường, họchủ yếu tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mức sản phẩm đến mức giớihạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên. - Cạnh tranh không hoàn hảo: Là cuộc cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm của họ là khôngđồng nhất với nhau, mỗi sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau. Mỗinhãn hiệu đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau mặc dù khác biệt giữa cácsản phẩm là không đáng kể. Người bán có uy tín độc đáo đói với người muado nhiều lý do khác nhau như khách hàng quen, gây được lòng tin. Người bánlôi kéo khách hàng về phía mình bằng nhiều cách: Quảng cáo, cung cấp dịchvụ, tín dụng ưu đãi trong giá cả... đây là loại cạnh tranh rất phổ biến trong giaiđoạn hiện nay. - Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trường ở đó chỉ có một số người bán sản phẩmthuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm không độc nhất. Họ cóthể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hoá bán ra trên thịtrường. Thị trường có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh được gọi làthị trường cạnh tranh độc quyền. Điều kiện ra nhập hoặc rút khỏi thị trườngcạnh tranh độc quyền có nhiều cản trở: Do vốn đàu tư lớn hay do độc quyềnbí quyết công nghệ. Trong thị trường này không có cạnh tranh về giá cả màmột số người bán toàn quyền quyết định giá. Họ có thể định giá cao hơn hoặc 9
  • 10. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ thấp hơn tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm, cốt sao cuối cùng họ thu được lợi nhuận tối đa. 2.4 - Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh, người ta chia thành : - Cạnh tranh lành mạnh: Cạnh tranh lành mạnh là cuộc cạnh tranh mà các chủ thể tham gia kinh doanh trên thi trường dùng chính tiềm năng, nội lực của mình để cạnh tranh với các đối thủ. Những nội lực đó là khả năng về tài chính, về nguồn nhân lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về uy tín, hình ảnh của Công ty... trên thị trường hay của tất cả những gì tựu chung trong hàng hoá bao gồm cả hàng hoá cứng (hàng hoá hiện vật) và hàng hoá mềm (dịch vụ) - Cạnh tranh không lành mạnh Là cạnh tranh không bằng chính nội lực thực sự của doanh nghiệp mà dùng những thủ đoạn, mánh lới, mưu mẹo nhằm cạnh tranh một cách không công khai thông qua việc trốn tránh các nghĩa vụ mà Nhà nước yêu cầu và luồn lách qua những kẽ hở của pháp luật.II - Các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá: 1 - Mô hình Micheal Porter về 5 lực lượng cạnh tranh Trong nền cạnh tranh kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường cũng đều phải chịu một áp lực cạnh tranh nhất định, mà hiện trạng cuộc cạnh tranh phụ thuộc vào 5 lực lượng cạnh tranh cơ bản, được biểu diễn bởi mô hình sau: Các đối thủ tiềm năng Nguy cơ đe doạ từ những người mới Quyền lực vào cuộc thương Các đối thủ Sức ép giá Người cạnh tranh cả Người lượng cung của trong nghành của mua ứng người Cuộc cạnh người cung ứng tranh giữa các mua đối thủ hiện sản Nguy những cơ đetại phẩm và doạ dịch vụ từ thay thế Sản phẩm thay thế 10
  • 11. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter là một mô hình đượcnhiều nhà phân tích vận dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanhnghiệp hoặc của một ngành công nghiệp.* Nguy cơ đe doạ từ những người mới vào cuộc Là sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường nhưngkhả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường (thị phần) của các doanhnghiệp khác. Để hạn chế mối đe doạ này, các nhà quản lý thường dựng nêncác hàng rào như: - Mở rộng khối lượng sản xuất của doanh nghiệp để giảm chi phí. - Khác biệt hoá sản phẩm. - Đổi mới công nghệ, đổi mới hệ thống phân phối. - Phát triển các dịch vụ bổ sung. Ngoài ra có thể lựa chọn địa điểm thích hợp nhằm khai thác sự hỗ trợ củaChính phủ và lựa chọn đúng dadứn thị trường nguyên liệu, thị trường sảnphẩm* Quyền lực thương lượng của người cung ứng Người cung ứng có thể chi phối đến doanh nghiệp là do sự thống trị hoặckhả năng độc quyền của một số ít nhà cung ứng. Nhà cung ứng có thể đe doạtới nhà sản xuất do tầm quan trọng của sản phẩm được cung ứng, do đặc tínhkhác biệt hoá cao độ của người cung ứng với người sản xuất, do sự thay đổichi phí của sản phầm mà nhà sản xuất phải chấp nhận và tiến hành, do liênkết của những người cung ứng gây ra... Trong buôn bán quốc tế, nhà cung ứng có vai trò là nhà xuất khẩu nguyênvật liệu. Khi doanh nghiệp không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa,nhà cung ứng quốc tế có vị trí càng quan trọng. Mặc dù có thể có cạnh tranhgiữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp có thể lựa chọn nhà cung ứng tốt nhấtthì quyền lực thương lượng của nhà cung ứng bị hạn chế vẫn không đáng kể.Trong mối quan hệ này, để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp trước khảnăng tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm, doanhnghiệp phải biết được quyền lực thương lượng của người cung ứng thànhquyền lực của mình.* Quyền lực thương lượng của người mua Người mua có quyền thương lượng với doanh nghiệp (người bán) thôngqua sức ép giảm giá, giảm khối lượng hàng mua từ doanh nghiệp, hoặc đưa rayêu cầu chất lượng phải tốt hơn với cùng một mức giá... Các nhân tố tạo nên quyền lực thương lượng của người mua gồm: Khốilượng mua lớn, sự đe doạ của quá trình liên kết những người mua khi tiếnhành thương lượng với doanh nghiệp, do sự tập trung lớn của người đối vớisản phẩm chưa được dị biệt hoá hoặc các dịch vụ bổ sung còn thiếu... Quyền lực thương lượng của người mua sẽ rất lớn nếu doanh nghiệpkhông nắm bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu của thị trường, hoặc khidoanh nghiệp thiếu khá nhiều thông tin về thị trường (đầu vào và đầu ra). Cácdoanh nghiệp khác sẽ lợi dụng điểm yếu này của doanh nghiệp để tung ra thị 11
  • 12. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷtrường những sản phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải chăn hơn và bằngnhững phương thức dịch vụ độc đáo hơn.* Nguy cơ đe doạ về những sản phẩm và dịch vụ thay thế Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khác hàng có xuhướng sử dụng sản phẩm và dịch vụ thay thế. Đây là nhân tố đe doạ sự mấtmát về thị trường của doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh đưa ra thị trườngnhững sản phẩm thay thế có khả năng biệt hoá cao độ so với sản phẩm củadoanh nghiệp, hoặc tạo ra các điều kiện ưu đãi về dịch vụ hay các điều kiệnvề tài chính. Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của doanh nghiệp, thì mốiđe doạ đối với doanh nghiệp càng lớn. Điều này sẽ làm hạn chế giá cả, sốlượng hàng bán và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Néu có ít sảnphẩm tương ứng sản phẩm của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tănggiá và tăng thêm lợi nhuận.* Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành Cạnh tranh giữa các Công ty trong một ngành công nghiệp được xem làvấn đề cốt lõi nhất của phân tích cạnh tranh. Các hàng trong ngành cạnh tranhkhốc liệt với nhau về giá cả, sự khác biệt về sản phẩm, hoặc sự đổi mới sảnphẩm giữa các hãng hiện đang cùng tồn tại trong thị trường. Sự cạnh tranhngày càng gay gắt khi đối thủ đông đảo và gần như cân bằng nhau, khi tăngtrưởng của ngành là thấp, khi các loại chi phí ngày càng tăng, khi các đối thủcạnh tranh có chiến lược đa dạng... Có một điều thuận lợi và cũng là bất lợi cho các đối thủ trong cùng ngànhlà khả năng nắm bắt kịp thời những thay đổi, cải tiến trong sản xuất - kinhdoanh, hoặc các thông tin về thị trường. Các doanh nghiệp sẽ có khả năngcạnh tranh cao nếu có sự nhạy bén, kịp thời và ngược lại có thể mất lợi thếcạnh tranh bất cứ lúc bào họ tỏ ra thiếu thận trọng và nhạy bén. Doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau (trừ các doanh nghiệp ở nước sởtại) khi cùng tiến hành hoạt động kinh doanh trên thị trường nước ngoài sẽ cómột phần bất lợi như nhau do các quy định hạn chế của Chính phủ nước sởtại. Chính vì thế, doanh nghiệp nào mạnh về tài chính hoặc khoa học kỹ thuậthoặc trên cả hai phương diện sẽ có được lợi thế rất lớn. Khác với hoạt độngsản xuất kinh doanh trong nước, doanh nghiệp khi tham gia thị trường nướcngoài cần có sự trợ giúp của các doanh nghiệp khác trong cùng quốc gia để cóthêm khả năng chống đỡ trước sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộcquốc gia khác. Lúc đó có thể coi sự cạnh tranh trong ngành là sự cạnh tranhgiữa các quốc gia. Sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp làm cho giá cả các yếu tố đầura và những yếu tố đầu vào biến động theo các xu hướng khác nhau. Tìnhhình này đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động củamình nhằm giảm thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh.Muốn vậy doanh nghiệp cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, đưa ra thịtrường những sản phẩm mới chất lượng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp. 12
  • 13. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Dựa trên mô hình Micheal Porter về 5 lực lượng cạnh tranh chúng ta cóthể đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp.2 – Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh củaDoanh nghiệp : 2.1- Các nhân tố khách quan : 2.1.1- Môi trường Kinh tế quốc dân : a) Nhóm nhân tố kinh tế : - Tốc độ tăng trưởng cao của nước sở tại luôn tạo điều kiện cho các doanhnghiệp hoạt động trên các lĩnh vực sự tăng lên về khả năng cạnh tranh trên thịtrường quốc tế, khi tăng trưởng cao khả năng tích tụ tập trung tư bản cao dođó khả năng sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp ngày càng cao. - Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Khi tỷ giá hối đoái giảm, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ tănglên trên thị trường quốc tế vì khi đó giá bán của doanh nghiệp thấp hơn hoábán của đối thủ cạnh tranh của nước khác, và ngược lại tỷ giá hối đoái tăng sẽlàm cho giá bán hàng hoá cao hơn đối thủ cạnh tranh đồng nghĩa với việc khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế giảm. - Lãi suất Ngân hàng ảnh hưởng mạnh đến khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽlàm cho giá thành sản phẩm tăng lên từ đó giá tăng lên, do đó khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp sẽ giảm so với các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là cácđối thủ có tiềm lực về vốn b ) Nhân tố chính trị, pháp luật: Chính trị và pháp luật là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực xuất khẩu bởi các doanh nghiệp này hoạt động trên thị trườngquốc tế với lợi thế mạnh trong cạnh tranh là lợi thế so sánh giữa các nước.Chính trị ổn định, pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp khi tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả. Chẳng hạn bất kỳ một sự ưu đãi về thuế xuất khẩu nào cũng ảnh hưởngđến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. c ) Nhóm nhân tố về khoa học kỹ thuật công nghệ: Nhóm nhân tố này tác động một cách quyết định đến 2 yếu tố cơ bản nhấttạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường là chất lượng và giácả. Khoa học công nghệ hiện đại sẽ làm cho chi phí cá biệt của các doanhnghiệp giảm, chất lượng sản phẩm chứa hàm lượng khoa học công nghệ cao,khoa học kỹ thuật, công nghệ ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp theo hướng sau: - Tạo ra những thế hệ công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và trang bị lạitoàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật. 13
  • 14. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Giúp các doanh nghiệp trong qúa trình thu nhập, xử lý, lưu trữ và truyềnthông tin một cách nhanh chóng và chính xác nhất. - Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bảo vệ môi trường sinh thái,nâng cao uy tín của doanh nghiệp d ) Các nhân tố về văn hoá xã hội : Phong tục tập quán thị hiếu lối sống, thói quen tiêu dùng, tôn giáo tínngưỡng ảnh hưởng đến cơ cấu nhu cầu của thị trường doanh nghiệp tham giavà từ đó ảnh hưởng đến chính sách kinh doanh của doanh nghiệp khi tham giavào các thị trường khác nhau. e ) Các nhân tố tự nhiên: Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý củaquốc gia, môi trường thời tiết khí hậu... các nhân tố ảnh hưởng tới khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp theo hướng tích cực hay tiêu cực. Chẳng hạn tàinguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi sẽ giúp doanh nghiệpgiảm được chi phí, có điều kiện khuyếch trương sản phẩm, mở rộng thịtrường... Bên cạnh đó, những khó khăn ban đầu do điều kiện tự nhiên gây ralàm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.2.1.2 - Môi trường ngành: a) Khách hàng: Khách hàng sẽ tạo áp lực làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệpbằng việc đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ bán hàngtốt hơn.... và do đó, để duy trì và tồn tại trên thị trường, buộc các doanhnghiệp phải thoả mãn tốt các nhu cầu của khách hàng trong điều kiện chophép điều này sẽ làm tăng cường độ và tính chất cạnh tranh của doanhnghiệp. b ) Số lượng các doanh nghiệp trong ngành hiện có và số lượng doanhnghiệp tiềm ẩn: Số lượng doanh nghiệp cạnh tranh và đối thủ ngang sức sẽ tác động rấtlớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi số lượng đối thủ cạnhtranhthì thị phần của các doanh nghiệp cạnh tranh sẽ giảm khi đó doanhnghiệp thống lĩnh thị trường hay là doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh caonhất, doanh nghiệp phải đẩy mạnh hơn nữa cường độ cạnh tranh, ngày càngnâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Hơn nữa cạnh tranh sẽ ngày cànggay gắt quyết liệt hơn nếu như có sự xuất hiện thêm một vài doanh nghiệpmới tham gia cạnh tranh. Khi đó, các doanh nghiệp cũ với lợi thế về sảnphẩm, vốn, chi phí cố định và mạng lưới kênh phân phối.. sẽ phản ứng quyếtliệt đối với doanh nghiệp mới. Tuy nhiên nếu các doanh nghiệp mới có ưu thếhơn về công nghệ, chất lượng sản phẩm, áp dụng các biện pháp để giành thịphần có hiệu quả hơn thì khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp mới sẽcao hơn nếu các doanh nghiệp không sử dụng hữu hiệu công cụ trong cạnhtranh. e ) Các đơn vị cung ứng đầu vào : 14
  • 15. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Các nhà cung ứng đầu vào có thể gây ra những khó khăn làm giảm khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp trong những trường hợp sau: - Nguồn cung cấp mà doanh nghiệp cần chỉ có một hoặc một vài doanhnghiệp độc quyền cung ứng. - Nếu doanh nghiệp không có nguồn cung ứng nào khác thì doanh nghiệpsẽ yếu thế hơn trong mối tương quan thế và lực đối với nhà cung ứng hiện có. - Nếu nhà cung cấp có đủ khả năng, đủ các nguồn lực để khép kín sảnxuất, có hệ thống mạng phân phối hoặc mạng lưới bán lẻ thì có thế lực đángkể đối với doanh nghiệp với tư cách là khách hàng. Tất cả những khó khăn đối với doanh nghiệp có thể gặp phải ở trên sẽgiảm đến sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào các đơn vị cung ứng đầu vào cóthể gây ảnh hưởng mạnh đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Để giảm bớt các tác động không tốt từ các nhà cung ứng, các doanhnghiệp phải xây dựng cho mình một hay nhiều người cung ứng, nghiên cứutìm hiểu nguồn đầu vào thay thế khi cần thiết và cần có chính sách dự trữhàng hoá hợp lý. d) Sức ép của sản phẩm thay thế : Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một yếu tố nhằm đáp ứng sự biếnđộng của nhu cầu thị trường theo xu hướng ngày càng đa dạng phong phú vàcao cấp hơn và chính nó làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bịthay thế. Đặc biệt nhiều sản phẩm thay thế được sản xuất trên những dây chuyền kỹthuật công nghệ tiên tiến hơn, do đó có sự cạnh tranh cao hơn. sản phẩm thaythế phát triển sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khôngcó sản phẩm thay thế.2.2 - Các nhân tố chủ quan 2.2.1 - Hàng hoá và cơ cấu hàng hoá trong kinh doanh : Điều quan trọng nhất đối với hoạt động của một doanh nghiệp hoạt độngsản xuất kinh doanh là phải trả lời được các câu hỏi cơ bản: sản xuất cái gì ?.sản xuất như thế nào ?, sản xuất cho ai?. Còn đối với doanh nghiệp thươngmại thì điều quan trọng trong kinh doanh là cung cấp cái gì? cho ai?và ởđâu?. Như vậy có nghĩa là cần xây dựng cho mình một chính sách sản phẩm,hàng hoá. Khi tham gia hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có hàng hoa đemra thị trường và phải làm sao để cho hàng hoá của mình thích ứng được vớithị trường, nhằm tăng khả năng tiên thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp. Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, doanh nghiệp phảithực hiện đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh. Thực chất của đa dạng hoáđó là quá trình mở rộng hợp lý danh mục hàng hoá, tạo nên một cơ cấu hànghoá có hiệu quả của doanh nghiệp. Hàng hoá của doanh nghiệp phải luônđược hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu thị trường bằng cáchcải tiến các thông số chất lượng, mẫu mã, bao bì đồng thời tiếp tục duy trì cáchàng hoá đang là thế mạnh của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp cũng 15
  • 16. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷcần nghiên cứu tìm ra các hàng hoá mới nhằm phát triển và mở rộng thịtrường tiêu thụ hàng hoá. Đa dạng hoá hàng hoá kinh doanh không chỉ là đểđáp ứng nhu cầu thị trường, thu được nhiều lợi nhuận mà còn là một biệnpháp phân tán rủi ro trong kinh doanh khi mà tình hình cạnh tranh trở nên gaygắt, quyết liệt. Đi đôi với thực hiện đa dạng hoá mặt hàng, đề đảm bảo đứng vững trongđiều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp có thể thực hiện trọng tâm hoáhàng hoá vào một số loại hàng hoá nhằm cung cấp cho một nhóm người hoặcmột vùng thị trường nhất định của mình. Trong phạm vi này doanh nghiệp cóthể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn các đối thủ cạnhtranh, do đó doanh nghiệp đã tạo dựng được một bức rào chắn, đảm bảo giữvững được phần thị trường của mình. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần thực hiện chiến lược khác biệt hoá hànghoá, tạo ra các nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn chokhách hàng vào các hàng hoá của mình, nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Như vậy hàng hoá và cơ cấu hàng hoá một cách tối ưu là một trongnhững yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường.2.2.2- Yếu tố giá cả : Giá cả của một hàng hoá trên thị trường được hình thành thông qua quanhệ cung cầu. Người bán và người mua thoả thuận mặc cả với nhau để đi tớimức giá cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có lợi. Giá cả đóng vai trò quyếtđịnh mua hay không mua của khách hàng.Trong nền kinh tế thị trường có sưcạnh tranh của các doanh nghiệp, khách hàng có quyền mua và lựa chọnnhững gì cho là tốt nhất và cùng một loại hàng hoá với chất lượng tươngđương nhau chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, khi đó lượng bán củadoanh nghiệp sẽ tăng lên. Giá cả được thể hiện như là vũ khí cạnh tranh thông qua việc định giá củahàng hoá: Định giá thấp (giá xâm nhập, giới thiệu) định giá ngang giá thịtrường hay định giá cao. Việc định giá cần phải xem xét các yếu tố sau:Lượng cầu đối với hàng hoá và tính tới số tiền mà dân cư có thể để dành choloại hàng hoá đó, chi phí kinh doanh và giá thành đơn vị sản phẩm. Phải nhậndạng đúng thị trường cạnh tranh để từ đó có cách định giá thích hợp cho mỗiloại thị trường. Với một mức giá ngang giá thị trường giúp cho doanh nghiệpgiữ được khách hàng đặc biệt là khách hàng truyền thống. Nếu doanh nghiệptìm ra được các biện pháp hạ giá thành thì lợi nhuận thu được sẽ tăng lên,hiệu quả kinh doanh sẽ cao. Ngược lại, với một mức giá thấp hơn giá thịtrường sẽ thu hút được nhiều khách hàng và tăng lượng bán, doanh nghiệp sẽcó cơ hội thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường mới. Mức giá doanh nghiệp ápđặt cao hơn giá thị trường chỉ sử dụng được đối với các doanh nghiệp có tínhđộc quyền, điều này giúp cho doanh nghiệp thu được rất nhiều lợi nhuận (lợinhuận siêu ngạch). 16
  • 17. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sựlựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại hàng hoá, từng giai đoạntrong chu kỳ sống của sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùngthị trường.2.2.3 - Chất lượng hàng hoá Nếu như trước kia giá cả được coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnhtranh, thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho chỉ tiêu chất lượng hàng hoá.Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là " biện pháp nghèo nàn " vì nó làm giảmlợi nhuận thu được, mà ngược lại cùng một loại hàng hoá, chất lượng hànghoá nào đáp ứng được nhu cầu khách hàng thì họ cũng sẵn sàng mua với mộtmức giá cao hơn, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuậtđang trong giai đoạn phát triển mạnh, đời sống của nhân dân được nâng caohơn trước. Chất lượng hàng hoá là hệ thống nội tại của hàng hoá được xácđịnh bằng cá thông số có thể do được hoặc so sánh được, thoả mãn các điềukiện kỹ thuật và những yêu cầu nhất định của người tiêu dùng và xã hội. Chấtlượng háng hoá được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chứ sản xuất và ngaycả khitiêu thụ hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố: Công nghệ, dâychuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ quản lý... Chất lượng hàng hoá không chỉ là bền tốt, đẹp mà nó còn do khách hàngquyết định. Muốn đảm bảo về chất lượng thì một mặt phải thường xuyên chúý tới tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, mặt khác,chất lượng hàng hoákhông những được đảm bảo trước khi bán mà còn phải được đảm bảo ngay cảsau khi bán hàng bằng các dịch vụ bảo hành. Chất lượng hàng hoá thể hiệntính quyết định khả năng của doanh nghiệp ở chỗ. + Nâng cao chất lượng hàng hoá sẽ làm tăng khối lượng hàng hoá bán ra,kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm. + Hàng hoá chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp kích thíchkhách hàng mua hàng và nở rộng thị trường. + Chất lượng hàng hoá cao sẽ làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tìnhhình tài chính của doanh nghiệp.2.2.4 - Tổ chức hoạt động xúc tiến Trong kinh doanh thương mại hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không đạtđược hiệu quả cao nếu chỉ nghĩ rằng: "Có hàng hoá chất lượng cao, giá rẻ làđủ để bán hàng". Nhưng giá trị của hàng hoá, dịch vụ, thậm chí cả nhữnglợiích đạt được khi tiêu dùng sản phẩm cũng phải được thông tin tới kháchhàng hiện đại, khách hàng tiềm năng, cũng như những người có ảnh hưởngtới việc mua sắm. Để làm được điều đó các doanh nghiệp cần thực hiện tốtcác hoạt động của xúc tiến thương mại. Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến là tập hợp nhiều nội dung khác nhaunhằm tăng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị trường, tăng khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp...* Công tác tổ chức hoạt độngxúc tiến gồm một số nội dung sau- Quảng cáo. 17
  • 18. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Khuyến mại - Hội chợ triển lãm. - Bán hàng trực tiếp. - Quan hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trương khác. Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện truyền tin (Đài, báo, truyềnhình..) về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng nhằm làmcho khách hàng chú ý tới sự có mặt của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ sẽđược cung cấp. Quảng cáo phải tạo ra sự khá biệt giữa hàng hoá của doanhnghiệp với hàng hoá hác trên thị trường, làm tăng giá của hàng hoá bán ra.Quảng cáo phải gây được ấn tượng cho khách hàng, tác động vào tâm lýkhách hàng... để làm nảy sinh nhu cầu mua sắm của họ, từ đó làm tăng quymô kinh doanh của doanh nghiệp (nhờ tăng lượng bán). Và một tác dụng nữacủa quảng cáo là nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, là mộtphương tiện cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh hoạt động trên, hiện nay các doanh nghiệp còn thực hiện cáchoạt động như chiêu hàng, tham gia hội chợ, tổ chức hội nghị khách hàng...để giới thiệu về sản phẩm của doanh nghiệp mình. Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến tốt tác động mạnh đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp. - Tổ chức hoạt động xúc tiến tốt giúp cho doanh nghiệp tăng lượng bán.tăng doanh thu, lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh. - Tổ chức hoạt động xúc tiến tốt sẽ tạo ra uy tín của sản phẩm trên thịtrường, làm cho khách hàng biến đến và hiểu rõ kỹ năng công dụng của sảnphẩm. -Tổ chức tốt hoạt động xúc tiến giúp cho doanh nghiệp tìm được nhiềubạn hàng mới, khai thác được nhiều thị trường, kích thích sản xuất kinhdoanh phát triển. Công ty May Xuất Khẩu đã có một số hoạt động xúc tiến như cho ra đờicác catalogue giới thiệu sản phẩm của Công ty, cử cán bộ đi tham dự các hộichợ, triển lãm quốc tế nhằm tìm kiếm thêm khách hàng, giới thiệu mặt hàng...và đã thu được một số kết quả đáng mừng.2.2.5 - Dịch vụ sau bán hàng Để nâng cao uy tín và trách nhiệm của mình đối với người tiêu dùng vềhàng hoá của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt các dịchvụ sau bán hàng. Nội dung hoạt động dịch vụ sau bán hàng gồm: Hướng dẫn cách sử dụnghàng hoá, lắp đặt, sửa chữa, bảo hành, bảo đảm các dịch vụ thay thế... Tác động của dịch vụ sau bán hàng: - Tạo được uy tín cho hàng hoá và doanh nghiệp trên thị trường. - Duy trì và mở rộng thị trường. - Bán thêm các thiết bị thay thế làm tăng doanh thu lợi nhuận. Qua dịch vụ sau bán hàng doanh nghiệp nắm bắt được hàng hoá của mìnhcó đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng không, để từ đó ngày 18
  • 19. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷcàng hoàn thiện và đổi mới sản phẩm của mình. Do vậy, dịch vụ sau bán hànglà một biện pháp rất tốt tăng uy tín trong cạnh tranh.2.2.6 - Phương thức thanh toán Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng các phương thứcthanh toán khác nhau như: Thanh toán chậm, trả góp, thanh toán qua ngânhàng, mở L/C... giúp cho hoạt động mua bán được diễn ra thuận lợi hơn,nhanh chóng hơn, có lợi cho cả người bán và người mua. Việc lựa chọnphương thức thanh toán hợp lý sẽ có tác động kích thích đối với khách hàng,tăng khối lượng tiêu thụ và do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.2.2.7 - Yếu tố thời gian Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật trong giai đoạn hiện naylàm thay đổi nhanh chóng nếp nghĩ, sở thích hay nhu cầu của người tiêudùng, cũng như sự rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm. Đối với các doanhnghiệp yếu tố quan trọng quyết định thành công trong kinh doanh hiện đạichính là thời gian và tốc độ chứ không phải là yếu tố truyền thống nhưnguyên vật liệu hay lao động. Những thay đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm cho cáccuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, khối liệt hơn và trong công cuộcchạy đua này ai biết nắm bắt thời cơ và đi trước thì người đó sẽ thắng. Muốnvậy các doanh nghiệp phải tổ chức tốt hoạt động thu thập và xử lý thông tinthị trường, phải biết nắm băt thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu của thịtrường, nhanh chóng tổ cứhc kinh doanh, tiêu thụ, thu hồi vốn trước khi chukỳ sản phẩm kết thúc. Hiện nay, ở nhiều nước phát triển cạnh tranh bằng thời gian là một biệnpháp rất quan trọng mang tính sống còn của doanh nghiệp. Đi trước một bướctrong cạnh tranh là đã dành được một chiến thắng quan trọng trong việc thuhút khách hàng, mở rộng thị trường, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp.Do vậy khi xây dựng một chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp thường đềcập tới vấn đề "Tốc độ thị trường"; "cạnh tranh dựa trên thờigian" và chútrọng tới chu kỳ sống của sản phẩm, thoả mãn nhu cầu thị trường, thời gianđầu tư, thời gian thu hồi vốn, tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Ngoài các yếu tố trên vốn và quy mô doanh nghiệp...cũng sẽ tác động lớntới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như việc nâng cao khả năngcạnh tranh. Uy tín của doanh nghiệp cũng là một yếu tố rất quan trọng, đó làcơ sở để doanh nghiệp có thể dễ dàng giành thắng lợi trong cạnh tranh vì họđã có một lượng khách hàng quen thuộc tín nhiệm. Uy tín của doanh nghiệpđược hình thành sau một thời gian dài hoạt động trên thị trường và nó là mộttài sản vô hình mà doanh nghiệp cần phải biết giữ gìn và phát huy tài sản đó.3 - Một số chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp Việc đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là rất quan trọng đốivới bất kỳ một doanh nghiệp nào để xác định được khả hiện tại của bản thân 19
  • 20. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷdoanh nghiệp và xác định sức mạnh của các đối thủ cần quan tâm. Khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:* Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp tính theo doanh thu Công thức xác định: DTt - DTt-l GTt = DTt-l Trong đó: Gtt: Tốc độ tăng trưởng theo doanh thu thời kỳ nghiên cứu DTt: Doanh thu kỳ nghiên cứu DTt-l: Doanh thu kỳ trước. ý nghĩa: Chỉ tiêu này đánh giá mức độ tăng lên hoặc giảm đi của thị phầncủa doanh nghiệp trên thị trường, đồng nghĩa với sự lớn lên hay giảm sút sứccạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.* Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp theo lợi nhuận Công thức xác định: Prt - Prt-l GTt = Ret-l Trong đó: Grt: Tốc độ tăng trưởng theo lợi nhuận kỳ nghiên cứu Prt::Lợi nhuận kỳ nghiên cứu Prt-l: Lợi nhuận kỳ trước đó ý nghĩa: Có ý nghĩa giống với chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tính theo doanhthu nhưng phản ánh thực chất và chính xác hơn về một doanh nghiệp vì nó sosánh về tốc độ tăng lợi nhuận và lợi nhuận mới thực sự phản ánh kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp.* Chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp Thị phần của doanh nghiệp có hai cách xác định thông dụng với những tácdụng khác nhau: Cách 1: Doanh thu của doanh nghiệpThị phần của doanh nghiệp = Tổng doanh thu tiêu thụ trên thị trường ý nghĩa: Chỉ tiêu này nói lên mức độ rộng lớn của thị trường của mộtdoanh nghiệp và vai trò ví trị của doanh nghiệp đó trên thị trường. Thông quasự biến động của chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá mức độ hoạt động có hiệuquả hay không của doanh nghiệp trong việc thực hiện chiến dịch thị trường,chiến lược marketing, chiến lược cạnh tranh và hỗ trợ cho việc đề ra các mụctiêu của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ tiêu trên có một nhược điểm là khó thể đảm bảo tính chínhxác khi xác định nó, nhất là khi thị trường mà doanh nghiệp đang tham giaquá rộng lớn vì nó gây nhiều khó khăn trong việc tính được chính xác doanhthu thực tế của các doanh nghiệp. Mặt khác công việc này đòi hỏi nhiều thờigian và chi phí. Doanh thu của doanh nghiệpThị phần của doanh nghiệp = 20 Doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
  • 21. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Cách 2: Chỉ tiêu này đơn giản và dễ tính toán hơn nhiều so với chỉ tiêu trên nên nókhắc phục được những nhược điểm của những chỉ tiêu trên. Do các đối thủcạnh tranh thì sẽ có nhiều thông tin hơn nên lựa chọn phương pháp này ngườita có thể lựa chọn từ 2 - 5 doanh nghiệp mạnh nhất tuỳ theo đặc điểm mỗilĩnh vực cạnh tranh. ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh sát thực nhất khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp, từ đó hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chiến lược sảnxuất kinh doanh. Bên cạnh đó còn giúp cho doanh nghiệp có thêm thông tinvề các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất và các thị phần họ chiếm giữ thường lànhững khu vực có lợi nhuận cao mà rất có thể doanh nghiệp cần chiếm lĩnhtrong tương lai. Những chỉ tiêu trên là những chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh chungcủa toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, còn nếu xétriêng về hoạt động xuất khẩu thì khả năng cạnh tranh được đánh giá qua cácchỉ tiêu sau:* Tốc độ tăng của hoạt động xuất khẩu qua các năm EXt - EXt-l EGt = EXt-l Trong đó: EGt: Tốc độ tăng Kim ngạch xuất khẩu kỳ nghiên cứu EXt: Kim ngạch xuất khẩu kỳ nghiên cứu EXt-l:: Kim ngạch xuất khẩu kỳ trước. ý nghĩa: Qua chỉ tiêu này ta có thể tháy được tốc độ tăng kim ngạch xuấtkhẩu giữa hai năm liền nhau để biết xem khả năng xuất khẩu của doanhnghiệp qua thời gian là tăng hay giảm và tăng, giảm với tỷ lệ là bao nhiêu.Nếu tăng thì chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có phần tănglên, còn nếu giảm thì khả năng đó có thể giảm và doanh nghiệp cần tìn ranguyên nhân của sự giảm sút đó để năm sau có thể khắc phục.* Thị phần của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Cũng như chỉ tiêu thị phần ở trên, thị phần trong hoạt động xuất khẩu baogồm hai cách tính: Cách 1:Thị phần của doanh Kim ngạch xuất khẩu HMM của doanh nghiệpnghiệp so với tổng = Tổng Kim ngạch xuất khẩu HMM của các DNKim ngạch xuất khẩu trong nướcTrong đó: Kim ngạch xuất khẩu HMM: Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc ý nghĩa: Cho biết độ lớn về Kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp sovới kim ngạch chung của toàn ngành trong nước, từ đó thấy được vị thế củadoanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu chung của toàn ngành. Sự biến độngcủa chỉ tiêu qua các năm sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng cạnhtranh của mình trong hoạt động xuất khẩu, có sự tăng lên hay giảm đi vànguyên nhân từ đâu. 21
  • 22. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp trong nước tham gia hoạt động xuấtkhẩu hàng may mặc ở trong nước là một con số không nhỏ và rất khó kiểmsoát, nên để có được số liêu về tổng Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc củatất cả các doanh nghiệp trong nước một cách chính xác là rất khó nên ta cóthể tính theo cách thứ hai như sau: Cách 2: Thị phần của Kim ngạch xuất khẩu HMM của doanh doanh nghiệp so nghiệp = với đối thủ Kim ngạch xuất khẩu HMM của đối thủ mạnh nhất mạnh nhấtTrong đó: Kim ngạch xuất khẩu HMM: Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc . ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh độ lớn Kim ngạch xuất khẩu hàng maymặc của doanh nghiệp mình so với một số đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trênthị trường. Từ đây có thể so sánh được thị phần của doanh nghiệp mình trênthị trường với thị phần của một số doanh nghiệp mạnh khác để phân tích xemvới quy mô, tiềm lực hiện nay của doanh nghiệp như vậy thì hoạt động xuấtkhẩu của Công ty đã thực sự hiệu quả chưa. Ngoài ra còn biết thêm các thôngtin về đối thủ, thị phần xuất khẩu họ chiếm giữ và lấy đó làm căn cứ chodoanh nghiệp có thể nghiên cứu và tìm ra những chiến lược cạnh tranh chophù hợp. Đánh giá khả năng cạnh tranh là một việc làm cần thiết đối với mọi doanhnghiệp vì qua đó mỗi doanh nghiệp có thể đưa ra những mục tiêu, chiến lượccạnh tranh thích hợp với tình trạng hiện tại của doanh nghiệp mình. Hoạtđộng xuất khẩu hàng may mặc là một hoạt động được rất nhiều doanh nghiệptrong ngành may quan tâm và vì thế số lượng các doanh nghiệp trong ngànhmay quan tâm và vì thế số lượng các Doanh nghiệp tham gia xuất khẩu ngàycàng tăng, làm cho cục diện cạnh tranh ngày càng gay gắt.*Tỷ số về khả năng sinh lãi. Nếu như các chỉ tiêu trên đây phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêng biệtcủa doanh nghiệp thì tỷ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệuquả sản xuất- kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp. Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm = TNST/DOANH THU Chỉ tiêu này xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế (lợi nhuận sauthuế) cho doanh thu. Nó phản ánh số lợi nhuận sau thuế ttrong 100 đồngdoanh thu.-Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu: ROEROE =TNST/VCSH Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế cho vốn chủsở hữu. Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhàđầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp.Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một muc tiên quan trọng nhất tronghoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp. 22
  • 23. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ-Doanh lợi tài sản:ROA ROA = TNTT &L / TS hoặc ROA= TNST/TS Đây là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinhlợi của một đồng vốn đầu tư tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệpđược phân tích và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuếvà lãi hoặc thu nhập sau thuế để so sánh tổng tài sản*Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá nguồn nhân lực Theo UNDP- cũng là của Liên hợp quốc- sự phát triển con người (nhânlực) của các quốc gia và lãnh thổ khác nhau, bất kể theo chế độ chinh ttrị nào,đều có thể so sánh với nhau bằng một thước đo chung- chỉ số phát triển conngười hay chỉ số phát triển nhân lực – HDI. HDI là một chỉ tiên tổng hợp gồmba tiêu chí cụ thể: -Trình độ phát triển kinh tế -Giáo dục -Y tế Chỉ tiêu kinh tế đo bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầungười tính theo phương pháp sức mua tương đương để tính ra mức sống bìnhquân của người dân Chỉ tiêu về phát triển giáo dục đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và số nămđi học bình quân của người dân Chỉ tiêu y tế tính bằng tuổi thọ bình quân của người dân Mặc dù HDI là một hệ thống chỉ tiêu còn khiếm khuyết nhất định nhưngnó vẫn là một thước đo được thế giới thừa nhận từ lâu và hiện đang được sửdụng rộng rãi trong lĩnh vực phát triển nhân lực. Từ hệ thống chỉ tiêu và cáctính các chỉ số về sự phát triển nhân lực- nhân sự HDI của Liên hợp quốc đốivới các quốc gia, vận dụng vào việc xem xét sự phát triển nguồn nhân lực củaCông ty Xuất Khẩu May Mặc để nâng cao khả năng cạnh tranh về nhân lực-Một lợi thế lớn nhất của Việt Nam nói chung và Công ty nói riêng.IiI- những yêu cầu cơ bản của cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong điều kiệnhiện nay Hiện nay, trong quá trình thâm nhập hay mở rộng trực tiếp cho một thịtrường nước ngoài thì một yêu cầu đối với bất cứ một doanh nghiệp nào làphải tìm cách thích nghi sản phẩm, hàng hoá của mình với thị trường cầnchiếm lĩnh. Việc thích nghi hoá, hàng hoá phải được xem xét trên các khíacạnh sau : Một là: Hàng hoá phải được thích nghi hoá theo các đặc trưng vật lý củanó. Nó bao gồm 2 loại thích nghi với những mức độ và yêu cầu khác nhau.: a - Thích nghi bắt buộc Những quy định pháp lý của thị trường nước ngoài là bắt buộc đối với nhàkinh doanh. Vì thế khi đưa một sản phẩm vào thị trường nước ngoài thì cầntính đến những tiêu chuẩn bắt buộc của thị trường đó. Chúng bao gồm: - Các định mức về an toàn sản phẩm, chẳng hạn một số nước quy định vềvật liệu an toàn dùng cho đồ chơi trẻ em... 23
  • 24. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Các định mức về an toàn vệ sinh: Nhiều nước, nhất là các nước pháttriển, có những quy định ngặt nghèo về vệ sinh thực phẩm và kiểm tra chặtchẽ điều đó như các điều kiện về bảo quản, bảo vệ, vô trùng... - Các định mức kỹ thuật: Không phải nước nào cũng dùng điện thế 220vvới tần số 50 Hz và các phích cắm tròn mà lại dùng điện 110v, tần số 609Hz.Nhiều nước Âu Mỹ không dùng các đơn vị đo lường như mét, ki lô gam màdùng pound mile. Những quy định về tiêu chuẩn trên tạo ra các cản trở phi thuế quan đối vớicác mặt hàng hoá nhập khẩu, buộc các doanh nghiệp phải thích ứng sản phẩmcủa mình đối với các quy định đó. b - Thích nghi cần thiết Mỗi thị trường nước ngoài đều có những đòi hỏi riêng biệt đối với hànghoá nhập khẩu. Vì thế để chiếm lĩnh được khách hàng mục tiêu thì phải tínhđến các nhu cầu và mong muốn của khách hàng tại đó. Điều đó có nghĩa là:Không phải chỉ đơn thuần xuất khẩu, nhà xuất khẩu phải nghiên cứu thịtrường thật kỹ bao gồm cả việc nghiên cứu các động cơ kích thích và kìmhãm mua hàng, những gì có thể đem lại cho nhà doanh nghiệp một sự hiểubiết đầy đủ về cái mà người tiêu dùng nước ngoài đang chờ đợi: khẩu vị củahọ và gì, thói quen tiêu dùng, tần số tiêu dùng và những đặc trưng khí hậu làgì. Đó là điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, tức là nếu nhàsản xuất và xuất khẩu hiểu rõ thị trường nước ngoài cũng như thị trường nướchọ thì đó là cơ hội để doanh nghiệp thành công tại thị trường đó. Hai là: Hàng hoá phải tích nghi hoá theo các đặc trưng dịch vụ của nó:Các hàng hoá công nghiệp, hàng hoá chuyên ngành và cả hàng hoá tiêu dùngnữa đều đòi hỏi phải được theo dõi trong quá trình lắp đặt, bảo dưỡng và sửachữa... cũng như các chỉ dẫn sử dụng rõ ràng và bằng tiếng của nước đượcbán, ngoài sự tham gia kỹ thuật thường xuyên hoặc tạm thời. Như vậy, nhu cầu về dịch vụ sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào loại hàng hoá,song cũng tuỳ theo trình độ kỹ thuật của nhân công địa phương, trình độ vănhoá, chi phí tại chỗ cho việc sửa chữa... Một giải pháp tốt đáng được quantâm đối với cả nhà xuất khẩu lẫn người tiêu dùng là cung cấp các hàng hoáđơn giản hơn và chắc chắn hơn so với loại thiết bị dành cho người tiêu dùngcủa các nước phát triển nếu điều đó có thể làm được, để nếu cần có thể bảodưỡng một cách đơn giản, ít tốn kém và giảm tần số của những lần hỏng hóc. Ba là:Thích nghi hoá theo các đặc trưng có tính biểu tượng của hànghoá: a - Nhận thức về biểu tượng Mọi đồ vật dù là thông thường nhất hay đơn điện nhất cũng phản ánh mộtđiều gì đó trong tư duy của mỗi người, nó gợi nên sự chắc chắn hay mỏngmanh, tin cậy hay không tin cậy, cao cấp hay tầm thường, lịch sự hay khẩu vịtồi... Tất cả những suy tưởng này tuỳ thuộc vào nền văn hoá của đất nước,vào văn hoá của từng tầng lớp xã hội của nước đó. Như vậy, điều quan trọnglà phải trừu tượng hoá nhận thức có tính biểu tượng của từng nước và từng 24
  • 25. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ đoạn thị trường, hoặc tốt hơn nữa nếu xác định được biểu tượng của từng loại khách hàng tiềm năng đối với hàng hoá của doanh nghiệp. Sự nghiên cứu này vần đạt đến một mức độ thích nghi nhất định với nhận thức ở thị trường đó khi phân biệt một cấp độ thứ nhất (bản thân các biểu tượng) và một cấp độ thứ hai (kết hợp nhiều biểu tượng vào cùng một sản phẩm): - Cấp độ thứ nhất tương đối dễ nhận biết, đó là nhận thức mà mỗi nền văn hoá hoặc tiểu văn hoá có được về màu sắc, về hình dáng, về một đồ vật hay nhân vật nào đó, Chẳng hạn, ở Trung Quốc màu trắng là màu tang tóc, còn màu đen là màu thông thường như các màu khác. Màu đỏ biểu tượng cho máu, tức là cái chết hoặc là màu chính của sản phẩm. - Cấp độ thứ hai khó nhận biết hơn vì nó thường có vẻ nghịch lý và mâu thuẫn. Chẳng hạn tại một số vùng theo thanh giáo thì người sử dụng một hàng hoá đẹp sẽ không tin vào sự chắc chắn của nó vì theo quan niệm của họ một số đồ vật vừa tốt lại vừa đẹp không thể đi liền với nhau thành một cặp. Tại một số nơi khác hình ảnh súc vật in trên một số sản phẩm có thể làm liên tưởng đến cái chết (như hình con cá ở Châu Phi) hay sự không sạch sẽ (như hình con cừu ở Đức). b - Nhận thức về hình ảnh của hàng hoá " Máy của Đức rất chắc chắn, giầy của ý là tốt nhất thế giới, thép Thuỵ Điển không gì sánh nổi.. " là những nhận thức thực hay hư trong ý nghĩ của mọi người, thậm chí là khẳng định về giá trị của sản phẩm của các nước khác nhau. Đó là hình ản của " Made in" thật khó thay đổi. Với những nhạn thức đó, doanh nghiệp có thể tạo ra trò chơi trên cái mà nó biết về tất cả những ý tưởng đó sao cho có lợi nhất, tức là giấu đi những gì không thuận lợi cho hàng hoá của nó. Tuy nhiên, trong khi hàng hoá được liên kết với một hình ảnh dân tộc hoặc một vùng nào đó thì nó sẽ có một tên gọi tương ứng và trong mọi trường hợp, khi đặc tính của hàng hoá nhập ngoại " Made in " ở nước khác có giá trị gây thiệt hại cho hàng hoá địa phương thì không nên trình bày nó như một hàng hoá xa lạ bằng cách chọn nước mà ta có thể liên kết liên doanh một cách thuận lợi nhất.iV- những biện pháp chủ yếu trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu 1 – Các biện pháp nâng cao lợi thế canh tranh Lợi thế cạnh tranh là ưu thế đạt được của doanh nghiệp (so với các doanh nghiệp khác cùng ngành) một cách tương đối dựa trên các nguồn lực và năng lực sản xuất của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh thường đạt mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Tỷ lệ lợi thế đạt được của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác cùng ngành) thường được xác định bằng một tỷ số nào đó, ví dụ như lợi nhuận trên doanh thu (ROS - retum on sales) hoặc lợi nhuận trên tài sản (ROA - retum on assets). Các tỷ suất này càng cao càng thể hiện được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu xem xét lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp theo tỷ suất ROS, ta có thể biểu diễn như sau: 25
  • 26. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Lợi nhuận Doanh thu - Tổng chi phí Tổng chi phíROS = = =1- doanh thu Doanh thu doanh thu Chi phí 1 đ/ vị SP x tổng khối lượng Chi phí1 đ/vịSP = 1 - SP =1- Giá 1 đ/vị SP x tổng khối lượng SP Giá 1 đ/vị SP Do đó, để có tỷ suất ROS cao hay để mức tổng lợi nhuận (= tổng doanhthu - tổng CP) cao hơn mức trung bình của ngành, doanh nghiệp phải có mứcchi phí/đơn vị sản phẩm thấp hơn của đối thủ cạnh tranh (Tạo lợi thế cạnhtrang bên trong), hoặc làm cho sản phẩm của mình khác với của đối thủ cạnhtranh (khác biệt hoá sản phẩm nhằm định giá sản phẩm cao hơn đối thủ cạnhtranh (Tạo lợi thế bên ngoài). Hoặc thực hiện đồng thời cả 2 cách. Trước đây,các nhà kinh tế thường nhấn mạnh một nhân tố nào đó liên quan đến chi phíhoặc khác biệt hoá sản phẩm, nhưng ngày nay người ta thường chấp nhận lợithế cạnh tranh là kết quả của đa nhân tố.* Yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh Bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh bao gồm: Hiệu quả, chất lượng, đổimới, nhạy cảm với khách hàng. Đây là yếu tố chung xây dựng nên lợi thếcạnh tranh, chúng biểu thị 4 cách cơ bản để giảm chi phí và đa dạng hoá màbất kỳ một doanh nghiệp nào sản xuất một sản phẩm hay một dịch vụ nàocũng có thể áp dụng. Năng lực của doanh nghiệp được hình thành từ những kỹ năng trong việckhai thác, phối hợp các nguồn lực và hướng các nguồn lực vào mục đích sảnxuất. Những kỹ năng này thường trực trong công việc hàng ngày của doanhnghiệp, được thể hiện qua các cách thức ra quyết định và quản lý các quátrình nội bộ của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra. Để có những nănglực riêng biệt, ít nhất doanh nghiệp phải có hoặc một nguồn lực độc đáo và kỹnăng cần thiết để khai thác nguồn lực đó, hoặc một khả năng quản lý hữu hiệuđể quản lý các nguồn lực chung. Tuy nhiên, khi đã có được lợi thế cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ duy trìđược lợi thế đó trong bao lâu, nói cách khác là khi nào các đối thủ cạnh tranhcũng đạt được lợi thế đó. Điều đó phục thuộc vào 3 yếu tố: độ cao của rào cảnbắt chước, khả năng đổi mới của đối thủ cạnh tranh và sự vận động tổng thểcủa môi trường ngành. Thường thì nguồn lực dễ bị sao chép hơn các kỹ năng, năng lực dựa trêncơ sở hữu hình thường dễ bị bắt chước hơn các năng lực dựa trên cơ sở vôhình. Do đó, để duy trì được lâu dài lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp phải tíchcực nâng cao trình độ quản lý, nâng cao uy tín của doanh nghiệp, giữ vữngcác bí quyết công nghệ và chiến lược marketing. Khi một doanh nghiệp thực hiẹn một chiến lược, tức là ký một cam kếtdài hạn dựa trên những cơ sở, những nguồn lực và năng lực nhất định. Nhưvậy, một khi các đối thủ cạnh tranh đã thiết lập những cam kết dài hạn về một 26
  • 27. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷphương thức kinh doanh nào đó, thì các đối thủ này cũng chậm trong việc saochép các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được đổi mới. Sự vận động tổng thể của môi trường thể hiện ở mức độ năng động củangành. Những ngành nào năng động nhất là những ngành có tốc độ đổi mớisản phẩm nhanh nhất. Khi các hàng rào ngăn cản việc sao chép là thấp thì cácđối thủ cạnh tranh là rất nhiều và môi trường năng động với các đối thủ luônthay đổi, do đó lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trở nên tạm thời.2 – Xác định các chiến lược cạnh tranh Sau khi tìm hiểu lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp phải phân tích, đánh giávà lựa chọn chiến lược cạnh tranh thích hợp tuỳ từng hoàn cảnh và từng điềukiện cụ thể. Sự phù hợp của một chiến lược cạnh tranh có thể được xác địnhthông qua việc kiểm tra tính nhất quán của các mục tiêu và các chính sách đãđề xuất, sự phù hợp với nguồn lực, với môi trường, cùng khả năng khai thácvà truyền đạt thông tin. Mục tiêu chiến lược cạnh tranh thể hiện ý định của doanh nghiệp trongviệc khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trên toàn bộ thị trường, hoặc trênmột số đoạn thị trường hạn chế. Mục tiêu chiến lược được hình thành dựa trênphân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, thểhiện qua mô hình sau: Điểm mạnh Cơ hội và những và điểm yếu mói đe doạ của của doanh ngành (về kinh nghiệp tế và kỹ tuật Nhân tố bên Mục tiêu Nhân tố bên trong doanh ngoài doanh nghiệp chiến nghiệp lược Động lực và cạnh Những mong muốn nhu cầu của tranh xã hộ rộng lớn những người hơn (chính sách, thực hiện chủ mói quan tâm yếu của xã hội, những thay đổi tập quán Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành mục tiêu chiến lượcBằng cách kết hợp lợi cạnh mục tiêu của doanh nghiệp thế và tranh chiến lược, có 3 dạng chiến lược cạnhtranh phổ biến là chiến lược nhấn mạnh chi phí, chiến lược khác biệt hoá vàchiến lược trọng tâm hoá. Các chiến lược này có thể sử dụng riêng rẽ hoặcđược kết hợp với nhau.* Chiến lược nhấn mạnh chi phí Chi phí được coi là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí càng thấp thì doanh nghiệpcàng có lợi thế cạnh tranh càng cao so với các đối thủ. Cụ thể: 27
  • 28. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Thứ nhất: Doanh nghiệp có thể đặt mức giá thấp hơn đối thủ mà vẫnđảm bảo lợi nhuận các đối thủ, hoặc đạt mức lợi nhuận cao hơn khi mứcgiá trong ngành là bằng nhau. - Thứ hai: Khi cạnh tranh trong ngành tăng và các đối thủ bắt đầu cạnhtranh bằng giá, thì doanh nghiệp sẽ đứng vững hơn trong cạnh tranh vì chi phísản xuất thấp hơn đối thủ của mình. Để theo đuổi chiến lược cạnh tranh nhấn mạnh chi phí, doanh nghiệp phảicó ưu thế cạnh tranh bên trong hay còn gọi là khả năng làm chủ chi phí. Điềuđó có nghĩa là doanh nghiệp phải có thị trường tương đối lớn (phân đoạn thịtrường thấp), có nhóm khách hàng ổn định, hoặc phải có những thuận lợitrong sản xuất và trong quản lý nguyên vật liệu. Phân đoạn thị trường thấp,hay có nhóm khách hàng ổn định sẽ giúp doanh nghiệp tránh những khoảntăng lớn về chi phí đầu tư, nghiên cứu thị trường về nhu cầu tiêu dùng, đổimới và thích nghi hoá sản phẩm... Tuy nhiên, vì nhấn mạnh chi phí nên sản phẩm của doanh nghiệp thườngkhông có độ khác biệt hoá cao, nó không quá chênh lệch so với mức củangười khác biệt hoá. Do đó, chiến lược của sản phẩm thường chỉ ở mức độtrung bình, chỉ nhằm thoả mãn những nhu cầu tiêu dùng bình dân nên chi phíthấp chỉ có ưu thế cạnh tranh khi sản phẩm của doanh nghiệp được kháchhàng chấp nhận. Trong môi trường quốc tế, cần đánh giá chiến lược theo hai phương diện:phương diện marketing, việc mở rộng các thị trường mới sẽ cho phép tăngcầu tiềm năng và đạt được mức sản xuất tối ưu nhất. Nhưng do doanh nghiệpnhấn mạnh chi phí nên những nghiên cứu về khách hàng, về đổi mới hay khácbiệt hoá sản phẩm để tiếp cận thị trường là khó thực hiện. Để đạt được nhữngyêu cầu đó, doanh nghiệp cần phải thiết kế những sản phẩm theo tiêu chuẩntoàn cầu hoặc ít ra là tiêu chuẩn Châu lục mới mong thoả mãn số lượng lớncác khách hàng trên thị trường. - Về phương diện sản xuất, nếu có thể, doanh nghiệp sẽ tổ chức sản xuất ởnước ngoài để tận dụng nguồn nhân công sẵn có, hạn chế các chi phí vềchuyên chở, giảm chi phí trung bình ở mức độ tối thiểu.* Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm Khác với chiến lược nhấn mạnh chi phí , chiến lược khác biệt hoádựa vào cạnh tranh bên ngoài, tức là tính độc đáo hay mức độ hoàn thiện củasản phẩm về kỹ thuật, dịch vụ hay hình ảnh. Mục địch của chiến lược này làcho ra những sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ được người tiêu dùng nhận thứclà độc đáo nhất theo nhận xét của họ. Khả năng khác biệt hoá sản phẩm chophép doanh nghiệp có thể đặt mức giá cao hơn đáng kể so với mức trung bìnhcủa ngành vì khách hàng tin tưởng chất lượng của sản phẩm đã được khác biệthoá tương ứng với sự chênh lệch giá đó. Sự khác biệt hoá sản phẩm có thể đạtđược theo 3 cách chủ yếu: Chất lượng, đổi mới tính thích nghi với khách hàng(nhu cầu, tâm lý). Người khác biệt hoá càng ít bắt chước đối thủ càng bảo vệđược khả năng cạnh tranh của mình, do vậy mà sự hấp dẫn thị trường của họ 28
  • 29. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷcàng mạnh mẽ và rộng khắp. Doanh nghiệp chọn chiến lược này có thể quyếtđịnh hoạt động trên phạm vi thị trường rộng nhưng cũng có thể chỉ lựa chọnphục vụ một số mảng thị trường mà ở đó có lợi thế khác biệt hoá đặc biệt. Khả năng khác biệt hoá mạnh mẽ cho phép doanh nghiệp thoát khỏi áplực cạnh tranh, nhất là khi trên thị trường có nhiều sản phẩm tương tự. Để sựkhác biệt hoá về sản phẩm được khách hàng nhận thức một cách rõ ràng vàbền vững doanh nghiệp phải thực hiện những cố gắng to lớn về giao tiếp,truyền tin...* Chiến lược tập trung hoá (Hay trọng tâm hoá) Chiến lược này chủ yếu định hướng phục vụ nhu cầu của một nhóm hữuhạn người tiêu dùng hay một mảng thị trường dựa trên lợi thế cạnh tranh làtập trung các nguồn lực, cho phép phát huy năng lực tối đa của doanh nghiệpnhỏ để cạnh tranh với các đối thủ có ưu thế. Chiến lược này tạo cơ hội chonhà kinh doanh tìm cách lấp đầy khoảng trống nhu cầu cần thiết của kháchhàng. Về bản chất chiến lược tập trung hoá là chiến lược cạnh tranh theo đuổimột khả năng riêng biệt nào đó (hiệu quả, chất lượng, đổi mới, thích nghi vớikhách hàng) dựa trên một loại lợi thế chi phí thấp hoặc khác biệt hoá sảnphẩm hoặc cả hai. Khi doanh nghiệp tấn công thị trường thế giới, điều quan trọng trướctiên là phải tiến hành phân đoạn thị trường để tìm kiến thị trường thích hợp -là thị trường mà doanh nghiệp có mức độ làm chủ hoàn toàn, để có thể tránhsự cạnh tranh bởi doanh nghiệp dẫn đầu về chi phí hoặc doanh nghiệp khácbiệt hoá về phương diện sản xuất, chiến lược trọng tâm hoá vẫn theo đuổilogic chi phí tối thiểu. Ràng buộc quan trọng nhất là phải đảm bảo giữ vữnghình ảnh chuyên môn hoá và hình ảnh nhãn hiệu của doanh nghiệp ở nướcngoài. Sau đây là những đúc kết của Micheal Porterr về các yêu cầu phổ biếnliên quan đến các chiến lược: 29
  • 30. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị ThuỷChiến Những yêu cầu chung về kỹ Những yêu cầu chung về tổlược năng và nguồn lực chức - Đầu tư vốn lâu dài và khả năng - Kiểm tra chặt chẽ chi phí để có vốn -Các báo cáo kiểm tra liên tục vàChiến - Kỹ năng chế tạo thiết kế chặt chẽlược - Tinh thần nhiệt tình của người - Tổ chức cơ cấu và phân rõ tráchnhấn lao động. nhiệm.mạnh - Các sản phẩm được thiết kế dễ - Các động lực dựa vào việc đạtchi dàng cho sản xuất được các mục tiêu định lượngphí - Hệ thống phân phối chi phí nghiêm ngặt (không làm việc thấp theo cảm tính) - Khả năng mạnh mẽ về marketing, có sức sáng tạo vao - Sự phối hợp tốt giữa các chức và mạnh bề nghiên cứu cơ bản năng về nghiên cứu và phátChiến - Nổi tiếng về chất lượng hoặc đi triển,,,4 sản phẩm và marketinglược đầu về công nghệ - Các thước đo trừu tượng thaykhác - Truyền thống lâu đời trong thế cho các thước đo định lượng.biệt ngành hoặc sự kết hợp độc đáo - Những thuận tiện đẻ thu hút laohoá các kỹ năng có được từ ngàh động kỹ thuật cao, các nhà khoasản kinh doanh khác. học, hoặc những người có khảphẩm - Phối hợp tốt giữa các luồng năng sáng tạo phân phốiChiếnlượctrọng Sự kết hợp giữa các yêu cầu trên hướng vào thị trường cụ thểtâmhoá 30
  • 31. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Chương II Thực trạng về khả năng cạnh tranh của Công ty may xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc Thời trang giai đoạn 1999 – 2003I – Khái quát về sản xuất kinh doanh của Công ty1- Những thuận lợi , khó khăn :1.1- Thuận lợi : a ) Cơ sở vật chất : - Trong quá trình hoạt động công ty được đầu tư cải tạo lại nhà kho thànhmột xưởng sản xuất 2 tầng. Tầng 1 dùng làm kho chứa nguyên liệu, thànhphẩm. Tầng 2 làm phân xưởng sản xuất . - Công ty đã không ngừng đầu tư mua sắm thêm máy móc thiết bị (100 % làmáy may công nghiệp, máy thùa khuy đính cúc, máy vắt sổ, máy đột dập, máycắt tay, máy phá, máy là hơi...). Do đó máy móc hiện giờ của công ty hầu nhưlà máy móc hiện đại. Gần đây nhất, năm 2001 Công ty đã tăng mới TSCĐ trịgiá 123.091.400 đ bao gồm: 1 máy vi tính, 1 máy in, 4 máy vắt sổ, bàn là + nồihơi, máy may = BROTHER, máy SAICO 2 kim, máy MITXI cơ động ... b) Quy trình công nghệ : Công ty có một quy trình công nghệ hoàn hảo và hợp lý. Quy trình côngnghệ sản xuất sản phẩm ở công ty may xuất khẩu là quy trình sản xuất kiểuliên tục, khép kín. Sản phẩm được sản xuất với chu kỳ ngắn, số lượng nhiều.c ) Nguồn lao động : - Với quy mô khoảng 152 người thì có 132 công nhân trong đó số công nhânnữ chiếm đa số. Lao động nữ có đặc điểm là cần cù, khéo léo . - Công ty đã giải quyết cho những công nhân có tuổi đời cao nghỉ hưu, thôiviệc. Đồng thời tuyển dụng, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho những côngnhân trẻ để đáp ứng với nhu cầu của công việc. - Ngoài ra công ty có một đội ngũ nhân viên quản lý là 20 người với sốlượng đại học chiếm 43 % còn lại là trình độ cao đẳng.1.2 - Khó khăn : - Số công nhân trẻ thường có tay nghề chưa cao, chưa có kinh nghiệm. Dođó, có ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Thực tế cấpbậc công việc yêu cầu chung là 4 nhưng cấp bậc thợ chủ yếu của công ty hầunhư toàn là bậc 3 và bậc 2. Yếu tố lao động có vai trò quyết định đối với hoạtđộng sản xuất kinh doanh, tay nghề, bậc thợ càng cao thì sản phẩm làm ra cóchất lượng càng cao, đáp ứng tiến độ sản xuất giao hàng đúng thời hạn. - Do số lao động nữ chiếm tỷ lệ cao trong tổng số người lao động của côngty nên không tránh khỏi những ngày công nghỉ thai sản, con ốm tương đối lớn.Mặt khác họ không có khả năng lao động lâu trong môi trường tiếng ồn và độrung cao, đặc biệt là những nơi độc hại, nóng bức. Điều này sẽ gây ảnh hưởngrất lớn đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Mà đó lại là nhữngđiều thực tế xảy ra trong quá trình sản xuất ở công ty may xuất khẩu. 31
  • 32. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Hầu như mọi nguyên liệu đầu vào, công ty đều phải nhập ngoại, chỉ có lợithế là giá nhân công rẻ nên đã đẩy giá thành lên rất cao, sản phẩm sản xuất rakhông thể nào cạnh tranh về giá được. - Một khó khăn nữa đối với công ty đó là đầu ra bị khống chế. Là một đơn vịcũng thường xuyên làm hàng gia công xuất khẩu nên công ty rất cần Quotanhưng hạn ngạch mà công ty nhận được là rất hạn chế nên đây là một vấn đềmà lãnh đạo công ty luôn phải trăn trở. - Ngoài ra sản xuất kinh doanh của công ty gặp phải một số khó khăn do tìnhhình cấp hạn ngạch tự động của Bộ Thương Mại phải đóng sớm hơn dựbáo.Thị trường may mặc những tháng đầu năm do vậy giảm sút mạnh. - Các nước phát triển áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu, ảnh hưởngtiêu cực đến sự phát triển ngành may của các nước đang phát triển. - Hàng hóa của công ty xuất khẩu ra thị trường nước ngoài là những hànghoá có chất lượng trung bình nên gặp nhiều khó khăn trước các đối thủ cạnhtranh lớn như Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước phát triển khác...2- Kết quả kinh doanh trong các năm qua. Đánh giá : Nhìn chung những năm qua công gặp rất nhiều khó khăn nhưng bằng nỗlực của bản thân công ty và sự hỗ trợ nhiệt tình của các đơn vị bạn, được sựquan tâm của lãnh đạo cấp trên. Cùng với hệ thống máy móc thiết bị hiện đại,dây chuyền sản xuất đồng bộ, khép kín. Công ty May Xuất Khẩu đã tập trunggiải quyết những vấn đề quan trọng nhất: Về thị trường, tiền vốn, tổ chức lạilao động và sản xuất... nhằm từng bước tháo gỡ khó khăn, ổn định và pháttriển sản xuất theo hướng xuất khẩu là chính, phấn đấu hoàn thành nghĩa vụđối với Nhà nước, bảo toàn vốn và phát triển vốn trong sản xuất kinh doanh,chăm lo tốt đời sống cho người lao động. Với những cố gắng trên công ty đãvượt qua được cơn sóng gió và đi vào phát triển ổn định trong những năm gầnđây, năng suất lao động và giá trị sản lượng Công ty ngày càng tăng. Chínhnhững yếu tố đó đã tạo cho Công ty vững bước khi nước ta chuyển từ cơ chếtập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.Có thể lấy dẫn chứng bằng kết quả hoạt động của 2 năm gần đây : 32
  • 33. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ STT Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003 So sánh 1 Doanh thu 18.101.758.46 20.300.742.900 1,121 + Xuất khẩu 0 16.773.919.520 1,120 + Nội địa 14.969.319.81 3.526.823.380 1,126 0 3.132.438.650 2 Tổng chi phí 17.400.237.56 19.460.020.500 1,118 0 3 Kết quả 701.520.900 840.721.400 1,198 4 Tổng số CBCNV 152 150 5 Thu nhập b/q 600.000 670.000 1,167 6 Vốn 6.482.695.474 6.728.037.574 1,038 + VLĐ 4.075.208.532 4.206989.532 1,032 + VCĐ 2.407.486942 2.521.048.042 1.047 Nhìn vào bảng biểu ta thấy năm 2003 doanh thu tăng 1,121 lần so với năm 2002. Trong đó, doanh thu xuất khẩu chiếm một tỷ lệ lớn so với doanh thu nội địa từ 4,779 vào năm 2002 đến 4,756 vào năm 2003. Kéo theo chi phí tăng 1,118 lần. Kết quả lợi nhuận tăng 1,167 lần. Tương ứng các số vốn cố định và vốn lưu động cũng tăng theo là 1,032 và 1,047 lần. II – Thực trạng cạnh tranh của mặt hàng :1- Đối thủ cạnh tranh : Hàng hoá của Công ty May Xuất Khẩu ra thị trường nước ngoài là những hàng hoá có chất lượng trung bình nên đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Công ty trên thị trường thế giới là các doanh nghiệp may mặc của Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước phát triển khác... Hiện nay, Trung Quốc là nước xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất thế giới với chất lượng và giá cả rất cao, cũng có những hàng hoá có chất lượng trung bình với mức giá vừa phải. Ngoài ra các doanh nghiệp của Trung Quốc cũng như các quốc gia đã tận dụng triệt để nhiều lợi thế để hạ giá thành và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm như : + Giá nhân công rẻ, tay nghề khéo léo và sự cần cù của người lao động. + Sự đa dạng về mẫu mã sản phẩm trong chủng loại, hình thức . + Khả năng tài chính mạnh, công nghệ tiên tiến . Các chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Chính phủ Trung Quốc . Trung Quốc là nước đông dân, có lịch sử phát triển nghành May từ lâu đời và đó là nghành giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân đảm bảo tốt nhu cầu trong nước và mở rộng xuất khẩu. Nước này giữ vị trí hàng đầu trong nghành May thế giới về sản phẩm may mặc (khoảng 9 tỷ sản phẩm/năm). Kể từ đầu những năm 90, Trung Quốc luôn là một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hàng may mặc. Kim ngạch xuất khẩu 33
  • 34. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷchiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch buôn bán hàng may mặc.Những thị trường xuất khẩu chính của Trung Quốc là Hồng Kông, Nhật Bản,Mỹ và EU. Bốn thị trường chính này chiếm 75% tổng giá trị xuất khẩu củaTrung Quốc. Một điều đáng lo ngại nữa là sau 15 năm đàm phán dai dẳng, Trung Quốcđã trở thành thành viên của tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO). Trung Quốclà một nước lớn và vẫn được coi là nước đang phát triển nhưng tiềm lực kinhtế thương mại rất lớn so với nhiều nước đang phát triển khác nhỏ hơn (trongđó có Việt Nam) và chúng ta cùng phải cạnh tranh với hàng hoá của TrungQuốc trên thị trường thế giới với những ưu đãi ngang nhau. Khi Trung Quốcchưa là thành viên WTO thì sản phẩm may của Việt Nam còn được hưởng cácưu đãi thuế (MFN , GSP ) của một số thị trường nhập khẩu chủ yếu như EU,Nhật Bản, Bắc Âu, Canada... nhưng khi Trung Quốc đã vào WTO thì họ cũngđược hưởng những ưu đãi như vậy. Lúc này hàng may mặc của Việt Nam nóichung và của Công ty May Xuất Khẩu nói riêng liệu có thể cạnh tranh nổi vớihàng của Trung Quốc hay không. Đây là nỗi lo mà riêng mình Công ty MayXuất Khẩu không thể giải quyết được mà đòi hỏi nhiều ban, nghành cùng tháogỡ.2- Phân tích cạnh tranh theo một số yếu tố chủ yếu : 2.1 - Chất lượng : Ngày nay, khi nhu cầu về tiêu dùng hàng may mặc càng cao thì một trongnhững yếu tố đầu tiên của hàng hoá được chú ý đến là chất lượng. Đây là nhântố quan trọng để duy trì và phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệpkinh doanh mặt hàng xuất khẩu. Nhận định được điều này, Công ty May XuấtKhẩu luôn phấn đấu nâng cao chất lượng cao hơn ở trong nước cũng như nhậpngoại. Chất lượng hàng hoá không chỉ là thể hiện ở chất lượng vải mà còn ởnhững đường may. Nhờ những việc làm này mà hàng hoá của Công ty MayXuất Khẩu ngày càng tăng. Tuy nhiên để đáp ứng những đòi hỏi khắt khe củathị trường thì công ty còn phải cố gắng nhiều, vì so với những nước xuất khẩuhàng may mặc thời trang khác trên thế giới thì chất lượng của hàng Việt Nammới chỉ đạt mức trung bình. 2.2 - Giá cả : Giá cả là một trong những công cụ quan trọng để cạnh tranh trên thị trường.Thực tế hiện nay cho thấy, nghành may mặc Việt Nam nói chung và Công tyMay Xuất Khẩu nói riêng còn gặp nhiều khó khăn trong khâu tìm kiếm nguyênliệu. Nguyên liệu chủ yếu của Công ty phải nhập từ bên ngoài, đặc biệt lànguyên phụ liệu, do trong nước không đáp ứng được yêu cầu về mẫu mã cũngnhư chất lượng. Do đó đã đẩy giá thành các sản phẩm may mặc của công ty lênrất cao, điều này khiến công ty khó có khả năng canh tranh về giá được (mặcdù giá nhân công rẻ). Vì vậy, để cho có một mức giá đảm bảo cho hoạt độngkinh doanh của Công ty May Xuất Khẩu có thể phát triển, công ty đã nghiêncứu kỹ lưỡng về giá mua ( hoặc giá gia công ) hàng hoá, chi phí vận chuyển,bốc xếp, lưu kho, chi phí bán hàng... và đã cố gắng giảm đến mức thấp nhất 34
  • 35. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷcác chi phí đó. Trên cơ sở hạ giá thành sản phẩm hàng hoá và đưa ra một mứcgiá bán thích hợp . 2.3 - Tính đa dạng kiểu dáng : Ngày nay, kiểu dáng, mẫu mã hàng hoá rất được coi trọng đặc biệt làtrong lĩnh vực may mặc thời trang và nó cũng là một trong những tiêu chuẩnđầu tiên của khách hàng khi quyết định mua hàng. Đối với Công ty May XuấtKhẩu, về cơ bản hàng may mặc thời trang của công ty mới chỉ có khả năngđáp ứng những nhu cầu tiêu dùng bình thường nên giá trị xuất khẩu chưa cao,mẫu mã sản phẩm may xuất khẩu còn đơn điệu, chủ yếu là những sản phẩm dễlàm và có yêu cầu kỹ thuật trung bình, thấp. Mặt khác, trong hoạt động xuấtkhẩu, chúng ta và những người nhập khẩu có những phong tục tập quán khácnhau, do đó có cảm nhận về cái đẹp trong ăn mặc khác nhau. Vì lẽ đó mà Côngty May Xuất Khẩu đã phải cố gắng rất nhiều trong việc tìm hiểu thông qua cácloại sách, báo, tạp chí về thời trang và lối sống... Từ đây Công ty sẽ đưa ra cácmẫu để chào hàng và thăm dò ý kiến của họ. Ngoài ra một số khách hàng sẽđưa sẵn cho Công ty và từ đó Công ty đặt hàng theo đúng mẫu mã khách hàngyêu cầu và đã có nhiều cố gắng để hàng hoá xuất đạt được yêu cầu cao nhấtcủa khác hàng cả về chất lượng và mẫu mã. 2.4 - Dịch vụ , phương pháp phục vụ khách hàng : Có một sản phẩm may mặc thời trang đẹp, chất lượng tốt, giá cả hợp lýchưa chắc đã thu hút được khách hàng nếu như các dịch vụ, phương phápphục vụ khách hàng không được quan tâm. Tạo lập được uy tín, niềm tin vớikhách hàng là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi có sự kết hợp nhiều yếu tố. Khiđã có được nó chúng ta cần biết giữ gìn và phát huy để khẳng định thêm lòngtin cho khách hàng. Trong việc kinh doanh may xuất khẩu, công ty luôn cốgắng tạo được sự thuận tiện trong thanh toán, trong quá trình vận chuyển,giao nhận hàng hoá, hoàn thành đúng thời hạn giao hàng, đúng số lượng, chấtlượng hàng hoá như trong hợp đồng. Khi công cuộc cạnh tranh ngày càng khókhăn thì vấn đề này càng được công ty coi trọng, vì số lượng nhà cung cấp rấtnhiều, nếu chúng ta làm mất niềm tin của khách hàng thì cơ hội làm lại là rấthiếm, vì khách hàng có nhiều lựa chọn khác nhau. Nghệ thuật bán hàng củaCông ty đã rất tiến bộ so với những năm trước đây. Công ty đang từng bướcxây dựng đội ngũ bán hàng và tiếp thị có kỹ năng cao và thiết lập kênh phânphối hàng trên cả nước. Mặc dù đã có cố gắng nhiều trong những năm quasong yếu tố “nghệ thuật bán hàng” vẫn còn yếu so với các nước trong khuvực. Đội ngũ xúc tiến thương mại, tiếp thị, hệ thống nhân viên bán hàng cònyếu về chất lượng và thiếu về số lượng. Công ty chưa thiết lập được mạnglưới trao đổi thông tin, đại diện thương mại trong khu vực và ở các nước. Hạnchế này đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đếnkhả năng phản ứng nhanh, khả năng xoay chuyển nhanh tình thế của doanhnghiệp. Chính vì thế Công ty cần giải quyết và củng cố vấn đề này sao chophù hợp và nhanh chóng . 2.5 - Các vấn đề khác : 35
  • 36. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Bên cạnh những vấn đề trên, Công ty cũng quan tâm đến việc hoàn thiệncơ cấu tổ chức và công tác vận chuyển hàng hoá. Công ty luôn chấn chỉnhtrong công tác quản lý nhằm tạo ra bộ máy tổ chức gọn nhẹ, hợp lý nên đãgiảm được những chi phí quản lý không cần thiết. Bên cạnh đó, Công ty luôn nhanh chóng, kịp thời trong công tác vậnchuyển, tránh rủi ro trong quá trình luân chuyển, bốc dỡ, đảm bảo giao hàngđúng thời gian..III - Đánh giá chung thực trạng và kết quả cạnh tranh : 1- Những mặt mạnh : - Đội ngũ cán bộ trong Công ty là những người làm việc trong lĩnh vựcxuất khẩu may mặc đã nhiều năm nên có kinh nghiệm trong hoạt động xuấtkhẩu. Mặt khác đội ngũ cán bộ quản lý trong Công ty là những người cótrình độ đại học chiếm 43% và còn lại là cao đẳng thuộc các chuyên ngànhkinh tế, ngoại thương, ngoại ngữ... Đây chính là những lợi thế tốt cho hoạtxuất khẩu vì nó đảm bảo cho nghiệp vụ xuất nhập khẩu và trình độ ngoại ngữphục vụ cho việc giao tiếp, trao đổi, đàm phán với các đối tác, khách hàng,bạn hàng. - Công ty có bộ máy quản lý gọn nhẹ, chứa đựng đầy đủ các phòng ban,thực hiện được mọi chức năng, nhiệm vụ cần thiết nên Công ty rất năng độngtrong việc kinh doanh cũng như việc ra các quyết định. Với việc quyết địnhnhanh chóng Công ty có thể tiến hành nhanh các đơn hàng, nhất là các đơnhàng nhỏ và đó là một lợi thế của Công ty. - Vì Công ty đã kinh doanh xuất khẩu nhiều năm trên thị trường thế giớinên Công ty có quan hệ lâu đời với bạn hàng, do đó mà những khách hàngtruyền thống của Công ty khá nhiều và những mối quan hệ đó ngày càngđược phát triển. - Công ty có ưu thế trong việc xuất khẩu các mặt hàng như: áo Jacket, áosơ mi vì đó là mặt hàng truyền thống của công ty qua nhiều năm và đã đượcchấp nhận trên thị trường thế giới.2 - Những mặt yếu : - Công tác nghiên cứu mốt của Công ty còn sơ sài nên chủ yếu mẫu mãhàng hoá của công ty do bạn hàng đặt hàng. - Thị trường xuất khẩu hàng may mặc thời trang của Công ty còn hạn hẹpchủ yếu vẫn tập trung vào một số thị trường truyền thống như Đông âu, EUvà các thị trường phi hạn ngạch như Nhật Bản, Đài Loan. Chưa thâm nhậphoặc đã thâm nhập nhưng kim ngạch xuất khẩu còn thấp tại các thị trường lớnnhư Bắc Mỹ, Caribe, Nam Mỹ... - Một số cán bộ của Công ty còn chưa tâm huyết, làm việc còn thụ động.Tuy đội ngũ cán bộ hầu hết là tốt nghiệp đại học nhưng trong đó có một sốcòn bị hạn chế về trình độ ngoại ngữ và tin học (do tuổi đời khá cao). -Kinh nghiệm về xuất khẩu theo phương thức bán thẳng hay bán FOB cònthiếu, mà trong xu thế thương mại thế giới hiện nay xuất khẩu theo giá FOBlà chủ yếu. 36
  • 37. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ3 - Vấn đề đặt ra với Công ty : - Công ty cần quan tâm hơn nữa đến công tác thiết kế mẫu, mốt. Đầu tưcho bộ phận thiết kế về trang thiết bị, thu hút lực lượng hoạ sỹ nghiên cứumốt. - Tổ chức đào tạo và nâng cao trình độ, năng lực của các nhân viênMarketing để có khả năng dự báo trước được nhu cầu thị hiếu của người tiêudùng về hàng may mặc thời trang. - Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động Marketing , mở rộng thịtrường xuất khẩu. Tăng cường các hoạt động khuyếch trương, quảng cáonhằm lôi kéo khách hàng về phía mình, giới thiệu về Công ty, nâng cao uy tíncủa Công ty. - Yếu tố lao động có vai trò quyết định đối với hoạt động sản xuất kinhdoanh, tay nghề, bậc thợ càng cao thì sản phẩm làm ra có chất lượng càngcao, đáp ứng tiến độ sản xuất giao hàng đúng thời hạn. Muốn phát triển mạnhmẽ trong tương lai, Công ty phải có một đội ngũ cán bộ kinh doanh có đầy đủnăng lực để tìm hiểu một cách rõ ràng, chính xác và kịp thời nhu cầu của thịtrường quốc tế, quy mô của nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu đó của nềnsản xuất trong nước . 37
  • 38. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Chương iii Phương hướng và biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty may xuất khẩu trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc thời trangi – mục tiêu và phương hướng nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty trong thờigian tới1 - Định hướng phát triển của nghành may mặc tới năm2010 Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta đang đứng trướcnhững thời cơ và thách thức mới. Đi lên từ một nước nghèo, sau một thời gianthực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu thì may mặc Việt Nam vẫn đang làmột ngành đem lại nhiều lợi thế. Chính vì vậy. Mặt hàng may mặc được xemlà một mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đạihoá ở nước ta và trong tương lai đây sẽ là mặt chiếm tỷ trọng lớn nhất trongtổng Kim ngạch xuất khẩu của cả nước (năm 2000 Kim ngạch xuất khẩu củangành Dệt - May đạt 1,815 tỷ USD, đứng thứ hai trong tổng Kim ngạch xuấtkhẩu của cả nước sau dầu thô). Mặt khác trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứIX, khi đề cập đến vấn đề định hướng phát triển kinh tế đối ngoại có nói "Tổng Kim ngạch xuất khẩu cả nước trong 5 năm 2001 - 2005 đạt khoảng 114tỷ USD, tăng 16%. năm. Nhóm hàng công nghiệp, TTCN chiếm 70% tổngKim ngạch xuất khẩu, tăng bình quân hàng năm là 15,9%, trong đó nhómhàng công nghiệp tiêu dùng và tiểu thủ công nghiệp chiếm 43% Kim ngạchxuất khẩu công nghiệp tăng bình quân hàng năm 22% ". Đồng thời trong địnhhướng quan tâm nhiều và Văn kiện có nói: Chú trọng tìm kiếm và mở rộngthị trường trong nước, nước ngoài nhờ đầu tư vào sản xuất xơ, sợi, nguyênliệu, phụ liệu để nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm xuất khẩu. Với tầmquan trọng như trên của ngành May mặc cùng với những chỉ tiêu, định hướngphát triển công nghiệp, định hướng đẩy mạnh xuất khẩu của văn kiện Đại hộiĐảng lần thứ IX nêu trong chiến lược phát triển nghành công nghiệp Maymặc nước ta đến năm 2010. Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ là lấy mụctiêu xuất khẩu làm trọng tâm. Với mục tiêu đó từ việc phân rích thực trạng,tiềm năng và xu hướng phát triển công nghiệp may mặc Việt Nam trongnhững năm tới ngành May mặcViệt Nam đưa ra các chỉ tiêu có tính chất địnhhướng phát triển ngành công nghiệp may mặc cho toàn ngành như sau: - Toàn ngành có mức tăng trưởng 13%/năm (vào năm 2005) và14%/năm (vào năm 2010) - Tạo công ăn việc làm cho khoảng 2,5 đến 3 triệu lao động xã hội vàonăm 2005, 4 - 4.5 triệu lao động xã hội vào năm 2010 với mức thu nhập bìnhquân khoảng 100USD/người/tháng - Nâng cao trình độ công nghệ đạt mức tiên tiến của khu vực hiện nayvà năm 2010 thì tương đương với Hồng Kông và Thái Lan hiện nay. 38
  • 39. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Kim ngạch xuất khẩu đạt 5000 triệu USD năm 2005 và 8000 triệuUSD năm 2010.Mục tiêu phát triển ngành May mặc Việt Nam đến năm 2010 Đơn vịSố TT Chỉ tiêu Năm 2005 năm 2010 tính1 Vải thành phần Triệu m2 1.330 20002 Sản phẩm may Triệu SP 780 1200 mặc - Xuất khẩu Triệu SP 510 820 - Nội địa Triệu SP 270 3803 Kim ngạch xuất Triệu USD 5000 8000 khẩu - Hàng may mặc Triệu USD 3200 60004 Tỷ lệ nội địa hoá Trên sản phẩm % 50 75 may Ngoài ra, thị trường xuất khẩu sản phẩm may mặc đến năm 2005 củatoàn ngành may mặc Việt Nam được dự báo như sau: Dự báo thị trường xuất khẩu sản phẩm may mặc đến 2005.Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2005Tổng sản lượng xuất khẩu Triệu SP 630Trong đó Triệu SP- Xuất khẩu sang EU Triệu SP 125- Xuất khẩu sang SNG Triệu SP 70- Xuất khẩu sang Nhật Bản Triệu SP 95- Xuất khẩu sang Mỹ và Bắc Mỹ Triệu SP 265- Xuất khẩu sang các nước khác Triệu SP 75Kim ngạch xuất khẩu Triệu SP 3000(Nguồn: Quy hoạch phát triển Dệt - May Việt Nam đến 2005)2 – Mục tiêu và phương hướng hoạt động của Công ty May Xuất Khẩugiai đoạn 2005 – 20102.1 - Về hoạt động xuất khẩu Chiến lược "tăng tốc" của Công ty May Xuất Khẩu đặt ra từ nay chođến năm 2010 là: Đưa sản lượng sản phẩm của công ty không ngừng tăng,kimngạch xuất khẩu hàng may mặc lên 40tỷ vào năm 2005 và 70tỷ năm 2010,trong đó hàng may mặc thời trang là một trong những mặt hàng chính đem lạikim ngạch cao cho Công ty. Với chiến lược mạnh mẽ này của Công ty, Côngty cũng phải có những kế hoạch phát triển riêng của mình để thực sự trở 39
  • 40. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷthành một thành phần đắc lực về xuất khẩu hàng may mặc thời trang trongthời kỳ 2000 - 2010. Quán triệt đường lối của Đảng, góp phần ổn định nền kinh tế, Công tyMay Xuất Khẩu sẽ cố gắng khai thác triệt để tiềm năng, chuẩn bị hành trangđể từng bước hội nhập khu vực và thế giới, nâng cao hiệu quả kinh tế và sứccạnh tranh, tăng kim ngạch xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước,tạo công ăn việc làm, tăng thêm tu nhập cho người lao động... Trên tinh thầnđó, Công ty May Xuất Khẩu phấn đấu thực hiện chỉ tiêu kế hoạch như sau: - Sản phẩm may quy chuẩn: + Năm 2005: 680.000sp + Năm 2010: 920.000sp - Giá trị xuất khẩu hàng may : + Năm 2005: 40tỷ + Năm 2010: 60tỷ Những con số trên chứng tỏ kế hoạch của Công ty là rất táo bạo, báohiệu cho một thời kỳ tăng tốc phát triển cho toàn nghành may mặc cũng nhưgóp thêm sức mạnh cho nghành may mặc thực hiện tốt những mục tiêu trongchiến lược "tăng tốc" của mình. Trước những mục tiêu đó Công ty yêu cầucác phòng phải lập kế hoạch kinh doanh cụ thể cho từng quý và cả năm. Đồngthời cụ thể hoá từng mặt hàng kinh doanh, chú ý tập trung vào những mặthàng trọng điểm nhằm thực hiện tốt mục tiêu của Công ty. Ngoài ra ban lãnhđạo Công ty sẽ bàn các giải pháp xuất khẩu cho từng phòng, từng mặt hàngvà hướng tới tất cả các phòng kinh doanh đều làm xuất khẩu. Từng phòng sẽlên phương án kinh doanh, nguồn vốn cần thiết cho hoạt động đó và các nhucầu cần hỗ trợ từ phía Công ty. Để tăng khả năng cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu của Công ty,Công ty đã đưa ra phương hướng khai thác nguồn nguyên liêu, nguồn hàng từnhiều phía để chuyển dịch sang hình thức FOB, đưa ra giá cạnh tranh trên thịtrường.2.2 - Về phát triển thị trường Trong thời đại ngày nay khi ngành may mặc rất phát triển và mức độcạnh tranh ngày càng gay gắt thì nhiệm vụ hàng đầu của mỗi doanh nghiệp làluôn luôn phải giữ vững những khách hàng truyền thống, đồng thời phải tíchcực trong công tác thu hút thêm khách hàng mới. Mở rộng, phát triển thịtrường là hình thức làm tăng thêm khách hàng cho Công ty, tạo thêm tên tuổi,nhãn mác về hàng hoá cũng như chính Công ty trên những thị trường mới,khách hàng mới. Thông qua đó danh tiếng của Công ty sẽ có được biết đếnmột cách rộng rãi hơn. Mức độ quen thuộc sẽ tăng lên và từ đó có thể làmthay đổi nhãm mác hàng hoá tiên dùng của họ. Đối với Công ty, thị trường chính về hàng may mặc thời trang hiện naylà EU, Canađa, Đài Loan, Đông Nam á, Mỹ... trong những thị trường này, thịtrường EU, Ca na đa và Đài Loan là những thị trường ổn định và có xu hướngtăng nhanh. Kim ngạch của những thị trường này luôn chiếm tỷ trọng chính 40
  • 41. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷtrong kim ngạch xuất khẩu của Công ty. Số lượng các nước thuộc khu vựcnày nhập khẩu hàng hoá của Công ty cùng với kim ngạch nhập khẩu của họtăng đều qua các năm, điều này chứng tỏ đây là một thị trường lớn và ngàycàng lớn mạnh hơn nữa nếu ta biết cách thu hút sự quan tâm của họ tronghoạt động nhập khẩu. Vì những lẽ đó, cần duy trì và phát triển hơn nữa thịtrường này. Đông Nam á và Mỹ là những thị trường mới của Công ty tuy có Kimngạch xuất khẩu chưa cao nhưng đây là những thị trường đầy triển vọng.Nhất là Mỹ, từ sau hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết, mở ra mộttương lai mới cho hàng may mặc nói chung và hàng may mặc thời trang nóiriêng. Riêng Công ty luôn chú trọng nhiều vào thị trường Mỹ vì đây là thịtrường có nhu cầu về hàng may mặc cao, chất lượng không phải là khâu quantrọng nhất trong yêu cầu của họ và giá cả hàng may mặc nhập khẩu cũng khácao, tuy nhiên việc phát triển thị trường này sẽ gặp không ít khó khăn vì đếnnăm 2004 chế độ hạn ngạch sẽ được xoá bỏ và đối thủ Trung Quốc sẽ có cơhội xuất khẩu nhiều hơn, khiến việc cạnh tranh của Công ty lại thêm phần gaygắt. Ngoài những thị trường trên Công ty luôn cố gắng tìm thêm những thịtrường mới khác nữa thông qua việc giới thiệu của những khách hàng cũ, quamạng, qua báo chí và qua các nguồn thông tin khác. Theo dõi sát sao hạnngạch phân bổ cho những nước nhập khẩu hàng hoá của Công ty, đồng thờikhéo léo tìm thêm những nguồn hạn ngạch mới để đáp ứng số lượng hàng đãký, khéo léo trong khâu thuyết phục khách hàng2.3 - Về tổ chức, đào tạo Trong lĩnh vực xuất khẩu Công ty luôn tập trung nâng cao trình độnghiệp vụ trong hoạt động xuất khẩu và những yếu tố khác có liên quan.Công tác này bao gồm: - Mở rộng các hình thức và nội dung đào tạo, mở rộng đối tượng đàotạo sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ tinhọc, ngoại ngữ, Marketing phục vụ cho hoạt động xuất khẩu. Củng cố, tăngcường đầy đủ nguồn nhân lực có trình độ, đủ khả năng đáp ứng nhanh nhấtnhững yêu cầu của hoạt động kinh doanh, đồng thời đủ khả năng thiết kế mẫuvà may mẫu chào hàng, khắc phục dần tình trạng bị động trong vấn đề mẫumã. - Tiếp tục đầu tư về nhân lực và sự chỉ đạo đối với phòng kế hoạch thịtrường, đẩy mạnh các hoạt động MARKETING, thâm nhập thị trường trongvà ngoài nước bằng các hình thức thông tin, quảng cáo, tham gia hội chợ hoặctham quan trực tiếp... Mở rộng hình thức kinh doanh xuất nhập khẩu và dịchvụ, đa dạng hoá sản phẩm xuất nhập khẩu. - Có kế hoạch đào tạo nhân lực và cán bộ cho những năm tiếp theo cảvề chuyên môn và lý luận chính trị. Không ngừng tăng cường phát huy sựđoàn kết nhất trí trong Đảng, Chính quyền, Công đoàn, Đoàn thanh niên đểtạo ra sức mạnh tổng hợp cho tổng công ty. 41
  • 42. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Ngoài việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cần trang bịthêm những kiến thức về hệ thống chất lượng hàng hoá cho một số cán bộ củaCông ty nhằm thực hiện tốt việc kiểm tra chất lượng hàng hoá tại nơi sảnxuất, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt mọi nhu cầu củakhách hàng, xây dựng thương hiệu của Công ty trên thị trường EU, Mỹ... - Có kế hoạch tổ chức các cuộc hội thảo, nói chuyện về hoạt động kinhdoanh của Công ty để mỗi cán bộ có thể thấy rõ vai trò, nhiệm vụ của mình,từ đó làm cho họ làm việc một cách có tâm huyết hơn với Công ty, có sự linhhoạt trong công việc. - Đề khuyến khích cán bộ, công nhân viên làm việc có hiệu quả, tráchnhiệm, Công ty cần có chế độ tiền lương thoả đáng, chế độ thưởng, phạt rõràng và những chế độ đãi ngộ khác như trợ cấp ốm đau, nghỉ phép, đi nghỉmát... 3 - Phương hướng nâng cao khả năng cạnh tranh của Công tytrong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc thời trang Công cuộc cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc thờitrang của Công ty trong tương lai ngày càng có nhiều khó khăn, thách thức.Để đứng vững trong guồng quay liên tục, nền kinh tế thị trường hiện nay vànhất là trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc thời trang thì Công ty cần cónhững phương hướng cụ thể nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.Nhìn lại những gì mình đã đạt được qua những hướng đi, việc làm cụ thểtrong những năm qua, tình hình cạnh tranh hàng may mặc thời trang tronghoạt động xuất khẩu trên thị trường hiện tại và tiềm năng, nội lực của mìnhCông ty sẽ lấy đó làm cơ sở để đưa ra những phương hướng nâng cao khảnăng cạnh tranh mới cho những năm tiếp theo. Khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp như chúng ta đã biết là phụthuộc vào rất nhiều yếu tố nên Công ty cần quan tâm đến tất cả những yếu tốđó. Tuy nhiên mức độ quan trọng của chúng có thể là không giống nhau. Thứ nhất: Về chất lượng hàng may mặc thời trang xuất khẩu trong thờigian tới Công ty sẽ tiếp tục nâng cao để ngày càng phù hợp hơn với nhu cầucủa khách hàng, tạo ra lợi thế mạnh về chất lượng so với các đối thủ trongnước và cố gắng theo kịp một số đối thủ mạnh trên thế giới xuất khẩu. Hiệnnay chất lượng sản phẩm hàng may mặc thời trang xuất khẩu của Công tychưa cao, chỉ thâm nhập vào đoạn thị trường cấp trung bình và thấp trong cácnăm tới sẽ cố gắng nâng cao chất lượng để thâm nhập vào một số thị trườngcao hơn. Sở dĩ Công ty có đưa ra mục tiêu như vậy vì ngày nay khi đang tiếndần vào thị trường tự ho hoá, chất lượng sản phẩm được xem là lợi thế cạnhtranh cơ bản, là chìa khoá để đảm bảo sự hội nhập vững chắc vào thị trườngthế giới và khu vực. Thứ hai: Cùng với việc nâng cao chất lượng thì yếu tố mẫu, mốt cũnglà một nhân tố tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ cho hàng hoá của Công ty trênthị trường thế giới. Vì vậy, để việc nghiên cứu mẫu mốt phát triển thực sự trởthành vũ khí sắc bén Công ty đã có những kế hoạch tập trung cho công tác 42
  • 43. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷnày như tuyển thêm cán bộ làm công tác thiết kế mẫu. Công ty đang hướngtới việc tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu riêng của Công ty, có chấtlượng tốt mẫu, mã đẹp, được nhiều khách hàng ưu thích. Phát triển tốt côngtác này là một điều kiện giúp phát triển Công ty theo hướng tự chủ, khôngphụ thuộc vào nhà máy sản xuất cũng như khách đặt hàng nước ngoài. Nhờđó có thể nâng cao khả năng kinh doanh của Công ty, nhanh chóng chuyểnsang xuất khẩu trực tiếp. Thứ ba: Nếu như việc nâng cao chất lượng hàng hoá, không ngừngthay đổi mẫu mã hàng hoá kéo theo việc nâng cao chất lượng, cải tiến mẫumốt không hẳn đồng nghĩa với việc nâng cao giá. Yếu tố giá cả là một yếu tốrất nhạy bén với rất nhiều khách hàng nên Công ty phải đưa ra mức giá cótính cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố này có tính chất tổng hợp vì nó liênquan đến nhiều khâu, nhiều công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hoá.Trong thời gian tới Tổng công ty sẽ tập trung khai thác, tìm kiếm thêm nhữngnguồn vải tốt, giá cả phải chăng để sản xuất nhằm nâng cao chất lượng và hạgiá thành sản phẩm. Đồng thời thông qua các công tác nhập khẩu để có đượcmột số loại nguyên liệu, phụ liệu, thuốc nhuộm và hoá chất mà trong nướckhông có hoặc có giá bán cao để phục vụ cho việc gia công hàng xuất khẩu.Tựu chung của những việc làm này là để có được những hàng hoá khi đưa rathị trường có giá cả phù hợp với chất lượng, phù hợp với nhu cầu khách hàngvà có khả năng trở thành một vũ khí cạnh tranh tốt cho Công ty. Thứ tư: Đẩy mạnh công tác xúc tiến, tiếp thị để giữ khách hàng truyềnthống và thu hút thêm khách hàng mới. Hàng năm Công ty sẽ trích ra mộtphần kinh phí hỗ trợ cho các đoàn đi thăm qua hội chợ triển lãm ở trong nướcvà nước ngoài, để giới thiệu, chào bán hàng hoá. Dự kiến trong năm nayCông ty sẽ ra đời cửa hàng bán quần áo, đồng thời trưng bày những mặt hàngxuất khẩu của Công ty để giới thiệu cho khách hàng. Ngoài ra, Công ty sẽ đẩymạnh công tác thị trường, phát triển mạng lưới thông tin để có được nhữngthông tin cần thiết về nhu cầu, thị hiếu khách hàng, về tình hình biến độngcủa thị trường xuất khẩu, về chủ trương, chính sách của Chính phủ liên quanđến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc một cách nhanh chóng, cập nhật nhất. Thứ năm:Đảm bảo cung cấp hàng hoá cho khách hàng theo đúng hợpđồng về số lượng, chất lượng, mẫu mã, thời gian, địa điểm giao hàng. Tạođiều kiện thật thuận lợi cho khách hàng trong việc vận chuyển, thanh toán.Những việc làm này sẽ tạo ra tâm lý thoải mái, tin tưởng cho khách hàng khilàm việc với Công ty, từ đó có thể nâng cao niềm tin, uy tín, hình ảnh củaCông ty với khách hàng - đây là một trong nhưng yếu tố nhằm giữ khách hàgtruyền thống và lôi kéo khách hàng mới cho Công ty. Thứ sáu: Để nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động xuất khẩuhàng may mặc thời trang của Công ty, cùng với những việc làm trên đây côngtác tài chính của Công ty sẽ góp thêm một phần vào mục tiêu đó. Công tác tàichính sẽ cần được chú trọng hơn nhằm cân đối hợp lý các quỹ, nguồn vốn và 43
  • 44. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷchi phí để ưu tiến phục vụ mục tiêu mũi nhọn của Công ty trong hoạt độngkinh doanh xuất nhập khẩu.II - một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty may xuất khẩu1 - Về phía Công ty1.1 - Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động Marketing, mở rộngthị trường xuất khẩu Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì hoạt động Marketing cànggiữ vai trò quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường. Nếu hoạt độngMarketing được đẩy mạnh và phát triển thì cũng có nghĩa là khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp cũng được tăng cường. Mặt khác, hiện nay đang làthời điểm mà ngành may mặc cũng đang có sự phát triển mạnh, các doanhnghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu ngày càng gia tăng thì cục diện cạnhtranh ngày càng khốc liệt. Bởi vậy, đẩy mạnh hoạt động marketing là vấn đềcấp thiết, nhất là đối Công ty. Trong thời gian qua hoạt động này đã đượcthực hiện nhưng còn quá đơn giản do phòng kế hoạch thị trường quản lýnhưng để theo kịp với tình hình cạnh tranh hiện nay thì hoạt động này cầnđược quan tâm nhiều hơn nữa.1.1.1 – Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường nhằm xác định nhucầu, thị hiếu khách hàng. Tổ chức hoạt động nghiên cứu thị trường nhằm xác định nhu cầu, thịhiếu khách hàng là một nhiệm vụ tất yếu Công ty cần thực hiện, nhất là tronggiai đoạn cạnh tranh ngày càng gay gắt này. Trong nền kinh tế hàng hoá thì thị trường là nơi đánh giá cuối cùng củasản phẩm của nhà sản xuất, hàng hoá của nhà kinh doanh và hiệu quả kinhdoanh của họ. Do đó để tồn tại và phát triển thì việc đầu tiên doanh nghiệpphải làm là làm tốt công tác nghiên cứu thị trường để có thể tung ra nhữngsản phẩm, hàng hoá mà thị trường cần. Hoạt động này giúp doanh nghiệpnắm bắt nhu cầu và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu, giá cả, dung lượngcủa thị trường. Công ty hiện nay đang đứng trước sự cạnh tranh gay gắt tronghoạt động xuất khẩu đối với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Vìvậy, trong thời gian tới Công ty phải tổ chức tốt nghiên cứu và khai thác tốtcả thị trường hiện tại lẫn thị trường tiềm năng. Cụ thể, để chiếm lĩnh thịtrường, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng với giá cả hợp lý, chấtlượng phù hợp cho từng vùng lãnh thổ, từng quốc gia, Công ty cần tập trungvào việc phân tích nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu. Vì vậy để nắm bắt đượctình hình của thị trường nước ngoài, Công ty cần tiến hành mở các văn phòngđại diện ở nước ngoài và cử đại diện ở các nước có mối quan hệ làm ăn vớiCông ty điều tra nhu cầu về thị trường đó, tạo ra các mẫu, mốt ăn khách, hợpthị hiếu người tiêu dùng. Tuy nhiên, để thực được những việc trên không phải là dễ dàng vì nórất tốn kém và khá phức tạp. Vì thế Công ty có thể nghiên cứu thị trường mộtcách gián tiếp hay còn gọi là nghiên cứu tại bàn những nhu cầu,thị hiếu đó. 44
  • 45. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị ThuỷThông qua một số tài liệu nói về phong tục tập quán trong cách ăn mặc, vềnền văn hoá của đất nước sẽ giúp ta có thể hình dung được quan niệm về thờitrang trong con mắt của họ. Cộng thêm vào đó là các tạp chí thời trang của họđể nhận thấy xu hướng về cách ăn mặc trong thời gian tới. Hiện nay hệ thốngthông tin Internet rất phát triển nên việc nghiên cứu khách hàng qua mạng làrất đơn giản và ít tốn kém. Qua các thông tin về khách hàng đã thu thập đượctừ những nguồn trên Công ty có thể nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu kháchhàng cũ, đồng thời tìm thêm được một số khách hàng mới mà nhu cầu của họCông ty có thể đáp ứng được. Những mặt hàng truyền thống luôn là nhữngmặt hàng trọng điểm nhưng qua nghiên cứu Công ty cần nhạy bén hơn để đưara những sản phẩm mới mà thị trường có nhu cầu và khả năng của Công ty cóthể đáp ứng được. Ngoài ra cần nghiên cứu để dự báo nhu cầu đối với từngloại mặt hàng như áo Jacket, áo sơ mi, quần âu.. để việc nghiên cứu thị trườngđược thực hiện tốt, Công ty nên thường xuyên cử các đoàn đi tham gia hộichợ triển lãm để tìm kiếm thêm các đối tác mới, tạo quan hệ mật thiết với cácbạn hàng quen thuộc. Đồng thời, Công ty nên vận dụng lợi thế về vị trí địa lýcủa mình là nằm trên địa bàn thủ đô, gần với các văn phòng đại diện, sứ quánnên có thể cử các cán bộ của mình đến tận nơi chào hàng và gặp gỡ thươngvụ của các nước nhằm tìm hiểu nhu cầu của họ. Ngoài ra, Công ty nên thôngqua các trung tâm tư vấn, ngành, trung tâm thương mại công nghiệp để cónhững lời khuyên và môi giới về sản phẩm mới, kiểu cách mới, đối tác mới,thị trường mới. Hoạt động nghiên cứu thị trường còn phải thu thập được những thôngtin phản hồi từ phía khách hàng về hàng hoá của Công ty mình về tất cả cácyếu tố như chất lượng, giá cả, mẫu mã, các phương thức thanh toán, giaohàng, dịch vụ trước, trong và sau khi bán... nhưng những thông tin này là mộttài liệu rất quý cho Công ty vì từ đây Công ty có thể biết được những mặt tốtlẫn khuyến điểm của mình và lấy đó làm căn cứ để lần sau có thể sửa chữa,giúp cho nhau những sản phẩm lần sau được hoàn thiện hơn.1.1.2 - Nghiên cứu, phân tích đối thủ cạnh tranh Nghiên cứu, phân tích, đánh gia đối thủ cạnh tranh là công việc hết sứcquan trọng mang tính chiến lược của bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham giasản xuất kinh doanh trên thị trường vì qua đó có thể thấy được khả năng cạnhtranh hiện tại của chính Công ty so với các đối thủ. Nghiên cứu, phân tích đốithủ cạnh tranh phải trả lời được các vấn đề sau: + Số lượng đối thủ cạnh tranh của Công ty là bao nhiêu ?. + Đối thủ cạnh tranh chính của Công ty là ai?. + "Thủ lĩnh" trên thị trường là ai? và lý do thành công của họ. + Thị phần của họ trên thị trường là bao nhiêu? + Các yếu tố: Chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, phương thứcquảng cáo, dịch vụ của họ có gì khác với Công ty mình. + Mục tiêu của đối thủ cạnh tranh là gì?. + Điểm mạnh, điểm yếu của họ?. 45
  • 46. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ + Các biện pháp mà họ áp dụng để thâm nhập thị trường và mở rộng?. Từ những phân tích, đánh giá đối thủ cạnh tranh Công ty sẽ được cáinhìn tổng quát hơn về đối thủ cũng như chính bản thân mình và qua đó Côngty sẽ đưa ra được những chiến lược sáng suốt, hợp lý phục vụ tốt cho hoạtđộng kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. 1.1.3 - Đẩy mạnh hoạt động khuyếch trương, quảng cáo Các hoạt động xúc tiến, khuyếch trương bao gồm các nội dung như:Quảng cáo, các hoạt động yểm trợ, xúc tiến bán hàng, hội chợ triểnlãm...được sử dụng dể thông tin về hàng hoá nhằm lôi kéo khách hàng về phíamình, giới thiệu về công ty, nâng uy tín của Công ty. Các hoạt động hỗ trợbán là một trong những hoạt động quan trọng trong chính sách cạnh tranh củamột doanh nghiệp vì đây không chỉ là biện pháp hỗ trợ mà nó còn tăng cườngcho các chính sách giá cả, phân phối.. nhằm tằng sức cạnh tranh của mộtdoanh nghiệp trên thị trường. Chi phí cho hoạt động quảng cáo xúc tiếnthường rất lớn song hiệu quả của quá trình kinh doanh tăng lên rõ rệt. Do vậybất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia thị trường cạnh tranh đều phải xâydựng những chương trình quảng cáo hấp dẫn nhằm thu hút sự chú ý, gây ấntượng cho khách hàng. Đâu chính là những cuộc cạnh tranh phi giá giữa cácdoanh nghiệp tham gia cạnh tranh trên thị trường. Công ty có thể tiến hànhcác hoạt động khuyếch trương theo các hướng sau: * Mở rộng hoạt động quảng cáo cho những sản phẩm của Công ty, đặcbiệt là những sản phẩm mang nhãn hiệu đặc biệt. Hoạt động quảng cáo đượcthực hiện nhằm tạo ra sự chú ý của khách hàng và thông tin cho khách hàngbiết về sản phẩm của mình. Công ty cần xây dựng những chương trình quảngcáo hấp dẫn, kích thích sự chú ý của khách hàng thông qua các phương tiệnthông tin như: Báo chí, mạng Internet... nhằm giới thiệu cho các đối tượngkhách hàng hiểu rõ về sản phẩm và danh tiếng của Công ty. Hoạt động xuấtkhẩu là hoạt động mang tính chất quốc tế, khách hàng là những người ởnhững quốc gia khác nhau nên việc quảng cáo là rất khó, Công ty phải lậptrang web phục vụ cho công tác quảng cáo. Đối với những khách hàng đãtừng biết đến Công ty thì việc quảng cáo qua mạng mới có hiệu quả, còn đốivới những khách hàng mới chưa hề biết đến tên tuổi, hàng hoá của công tythì trang web của Công ty chưa chắc đã được họ quan tâm. Vì lý do đó, Côngty nên quảng cáo các sản phẩm của mình qua cách trình bày trên bao bì, nhãnhiệu sản phẩm vì bao bì là một trong những phương tiện quảng cáo hữuhiệu... trên các nhãn mác cần ghi rõ: - Tên, ký hiệu hàng hoá, phân loại theo các chỉ tiêu quốc tế nào. - Tên, địa chỉ Công ty. Mặc khác, bao bì là hình thức bên ngoài của sản phẩm, nó góp phầnlàm tăng thêm độ sang trọng, lịch sự của sản phẩm nên có luôn được tiêudùng chú ý khi lựa chọn sản phẩm ,vì thế Công ty nên quan tâm nhiều hơnnữa đến độ tiện lợi, bền đẹp, lịch sự của bao bì. 46
  • 47. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ * Công ty nên duy trì tổ chức các hoạt động như hội nghị khách hàng,tham gia hội chợ giới thiệu sản phẩm, đặc biệt là những hội chợ ở nước ngoài,in ấn, phát hành các tài liệu về Công ty, về sản phẩm của mình như ra đờicatologue, tờ rơi quảng cáo. Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, quảng cáo, khuyếch trương sẽ gópphần đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu, tăng sức mạnh về cạnh tranh, tăng thị phầncủa Công ty trên thị trường. Tuy nhiên khi thực hiện các hoạt động này, Côngty cần tính toán sao cho chi phí bỏ ra phải phù hợp với tình hình tài chínhcũng như tương xứng với doanh thu thu được của mình. Vì hiệu quả kinhdoanh có được là nhờ rất nhiều yếu tố cần phân bổ đều chi phí cho nhiều hoạtđộng nên chưa hẳn đầu tư thật nhiều tài chính cho hoạt động này là tốt.1.2 - Sử dụng chính sách giá cả một cách có hiệu quả Để có một chính sách giá hợp lý cần phải căn cứ vào chi phí sản xuấtkinh doanh, nhu cầu thị trường, cạnh tranh, luật pháp. Chi phí sản xuất kinhdoanh xác định giá sàn còn nhu cầu thị trường xác định mức giá giới hạn trêncủa sản phẩm (giá trần). Luật pháp và chính trị hạn chế khả năng tự do địnhgiá của doanh nghiệp trên thị trường. Do đó việc xây dựng một chính sách giácả cần có các biện pháp sau: - Tìm những nguồn nguyên liệu rẻ trong và ngoài nước, tiến hành muanhiều, để có giá rẻ, hạ thấp giá gia công nhờ việc tìm những nhà máy sản xuấtcó năng suất lao động cao, huy động vốn ở những nguồn vốn có chi phíthấp... - Phân tích mức giá trên thị trường, đặc điểm, quan hệ, cung cầu, độ cogiãn của cung cầu, mức độ cạnh tranh trên thị trường. - Tính toán cơ cấu giá, - Cần có các biện pháp khuyến khích về giá cho khách hàng với nhữngkhách hàng quên biết, khách hàng mua với số lượng lớn. Khách hàng muathanh toán tiền ngay. - Khi các định giá cần chú ý: không nên xác định giá quá cao hay quáthấp. Nếu mức giá cao ngay từ đầu sẽ khó bán được hàng. Nếu giá quá thấpsau này sẽ gặp khó có cơ hội tăng giá.1.3 - Thực hiện đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu Thực chất của đa dạng hoá xuất khẩu là quá trình mở rộng hợp lý danhmục sản phẩm, tạo nên một cơ cấu sản phẩm có hiệu quả. Đa dạng hoá mặthàng là cần thiết khách quan đối với mỗi doanh nghiệp, bởi vì: - Ngày nay nhờ những thành tựu của khoa học công nghệ mà chu kỳsống của sản phẩm được rút ngắn, doanh nghiệp cần có nhiều sản phẩm đểthay thế hỗ trợ cho nhau. - Nhu cầu thị trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, doanh nghiệpđa dạng hoá mặt hàng là nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường và như vậydoanh nghiệp sẽ thu được nhiều lợi nhuận. - Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng quyết liệt thì đa dạng hóa mặthàng là một trong những biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh. 47
  • 48. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Đa dạng hoá mặt hàng là khai thác và sử dụng tốt hơn năng lực, trìnhđộ và sức lao động của cán bộ công nhân viên. Trên cơ sở những lợi ích của việc đa dạng hoá mặt hàng, việc đa dạnghoá mặt hàng của công ty có thể thực hiện theo các hướng sau: + Với những hàng hoá có kim ngạch thấp Công ty vẫn duy trì xuấtkhẩu để phục vụ nhu cầu, giữ thị trường cũ. Tuy nhiên Công ty cũng cần xemxét để thu hẹp quy mô xuống mức hợp lý. + Tung ra thêm một số mặt hàng phục vụ nhu cầu ở các lứa tuổi khácnhau, nghề nghiệp khác nhau. + Ngoài những mặt hàng chủ lực cần tìm hiểu nhu cầu để đưa ra nhữngmặt hàng may mặc khác.1.4 - Nâng cao chất lượng hàng hoá và cải tiến công tác quản lý chấtlượng Chất lượng hàng hoá là vũ khí cạnh tranh quan trọng mà bất kỳ mộtdoanh nghiệp nào cũng phải quan tâm và sử dụng nó để giành được thắng lợitrong cạnh tranh. Nâng cao khả năng cạnh tranh cũng có nghĩa là phải nângcao chất lượng hàng hoá và tăng cường công tác quản lý chất lượng hàng hoá. Để nâng cao khả năng cạnh tranh bằng vũ khí chất lượng, công tykhông thể thực hiện các biện pháp như: đầu tư đổi mới công nghệ, nâng caotrình độ tay nghề cho công nhân viên, nâng cao chất lượng sản phẩm tronggiai đoạn thiết kế, sản xuất... Do đó Công ty luôn có sự nghiên cứu, tìm hiểuvề tình hình sản xuất, trình độ tay nghề công nhân, mức độ hiện đại của máymóc, thiết bị, công nghệ...của các nhà máy sản xuất. Vì lẽ đó, những cán bộtrực tiếp thực hiện công việc này cần có những hiểu biết nhất định về vải vóc,hàng may mặc. Các tổ chức, hoặc gửi một số cán bộ đảm nhiệm công việcnày tới các lớp đào tạo để nâng cao trình độ cho họ, đồng thời tiến hành thựchiện các biện pháp kinh tế như lương, thưởng, phạt... để tạo động cơ hànhđộng và trách nhiệm cho những người này.1.5 -Tổ chức tốt công tác nghiên cứu mẫu mốt Có thể nói một trong những nguyên nhân dẫn đến khả năng cạnh tranhhàng may mặc thời trang của công ty chưa cao là do trình độ thiết kế mẫu mốtcòn thấp, thiếu kinh nghiệm, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.Hàng hoá xuất khẩu của công ty hầu hết là làm theo mẫu của khách hàng vàchỉ cố gắng hoàn thiện sản phẩm sao cho thật giống mẫu. Hiện nay công ty đã có phòng thiết kế, tạo mẫu và việc tạo mẫu chohàng hoá cũng góp phần nâng cao chất lượng hàng hoá, do đó cần tập trungchú trọng vào khâu này để có được những sản phẩm không những có đặctrưng riêng về mẫu mã mà còn độc đáo cả về chất liệu vải, màu sắc... Vì thếđể góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh công ty cần: - Quan tâm hơn nữa đến công tác thiết kế mẫu, mốt - Đầu tư cho bộ phận thiết kế về trang thiết bị, thu hút lực lượng hoạ sỹnghiên cứu mốt. 48
  • 49. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Tổ chức đào tạo và nâng cao trình độ, năng lực của các nhân viênMarketing cho ngang tầm với nhiệm vụ, có khả năng dự báo trước được nhucầu thị hiếu của người tiêu dùng về hàng may mặc bằng cách cử họ đi học cálớp về marketing do các chuyên gia trong nước hoặc nước ngoài giảng dạy. - Cử các cán bộ thiết kế mẫu thời trang đi tham quan và học tập ở nướcngoài để nâng cao trình độ. - Trước mắt, trong quá trình gia công cho khách hàng nước ngoài.Công ty có thể tìm hiểu làm quen với nhu cầu thị trường thế giới về mẫu thờitrang.Trên cơ sở đó sản phẩm các mẫu mốt chào hàng phù hợp với thị hiếucủa các thị trường đó. Để thực hiện có hiệu quả việc nghiên cứu và thiết kế mẫu mốt đòi hỏiphải nắm bắt được các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu hàng may mặc để có thểthiết kế được những mẫu sản phẩm phù hợp với từng thị trường. Vì thế việcthiết kế phải được căn cứ vào: + Trào lưu mẫu mốt trên thế giới. + Bản sắc văn hoá từng dân tộc, nhất là những quốc gia nhập khẩuhàng của công ty. + Điều kiện kinh tế, khí hậu của mỗi nước. + Chất liệu vải, phụ liệu may + Gam mầu. + Kiểu dáng phù hợp với điều kiện sinh hoạt mỗi nước.1.6 - Nâng cao trình độ người lao động Thế kỷ 21 là thế kỷ của nền "văn minh trí tuệ", trong đó con người trithức khoa học và công nghệ sẽ đóng vai trò quyết định tới sự phát triển củađất nước và nói cụ thể hơn là quyết định sự thành công trong hoạt động củacác công ty, xí nghiệp. Muốn phát triển mạnh mẽ trong tương lai, công typhải có một đội ngũ cán bộ kinh doanh có đầy đủ năng lực để tìm hiểu mộtcách rõ ràng, chính xác và kịp thời nhu cầu của thị trường quốc tế, quy môcủa nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu đó của nền sản xuất trong nước.Đồng thời phải nắm bắt được chính xác thông tin và sự thay đổi nhu cầu giácả thị trường, những nguyên nhân chính gây nên sự biến đổi đó. Đó là conđường duy nhất giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp ngoại thương kịp thời xử lýmột vấn đề trước khi nó vượt ra khỏi tầm kiểm soát của Công ty. Đối với mộtcán bộ làm công tác kinh doanh xuất nhập khẩu thì những đòi hỏi về chuyênmôn, nghiệp vụ, về trình độ marketing, về ngoại ngữ... là những tiêu chuẩnkhông thể thiếu. Những yếu tố này thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: - Xác định được thị trường mục tiêu cho Công ty, sau đó phải định vịCông ty theo hướng xây dựng một mối liên kết chặt chẽ với thị trường này.Tiến hành quảng cáo và xúc tiến bán hàng có chủ đích, đồng thời phải giữchữ tín, nâng cao hình ảnh, uy tín của công ty. - Có khả năng chiếm lĩnh thị trường và giữ vững thị trường bằng cáchgây ấn tượng ban đầu tốt đẹp cho khách hàng. 49
  • 50. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ - Có khả năng lực chọn phương tiện và quy mô quảng cáo thích hợpvới thị trường mục tiêu của công ty. - Có khả năng tìm những khe hở, tìm thêm nguồn hạn ngạch để lọt vàonhững thị trường rộng lớn hơn. - Tạo ra sự năng động trong kinh doanh, thích nghi với sự biến độngcủa thị trường, tránh rủi ro trong kinh doanh và nắm bắt được cơ hội kinhdoanh có lợi. - Biết phân tích, đánh giá tổng hợp tình hình, đưa ra các thông tin tincậy giúp cho việc vạch ra các chủ trương, chương trình hành động thích hợp.Thị trường may mặc thế giới phức tạp, nhu cầu về hàng may mặc biến độngtheo mùa. Hơn nữa, tập quán thương mại, ngôn ngữ giao dịch với các nước ởcác thị trường khác nhau có sự khác nhau. Vì những nhiệm vụ đó nhân viênphòng xuất nhập khẩu phải hết sức linh hoạt, tinh thông nghiệp vụ ngoạithương, giỏi ngoại ngữ, hiểu biết chuyên môn về ngành may. Để có được những cán bộ có đầy đủ những yêu cầu trên công ty cầnchủ động đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên môn giỏi gắn với thị trường. Hàngnăm công ty cần có kế hoạch chi phí cho việc bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụkinh doanh xuất nhập khẩu, quản lý hiện đại cho các cán bộ quản lý. Đây làmột cách đầu tư lâu dài, tạo ra động lực mạnh thúc đẩy hoạt động sản xuấtkinh doanh của công ty. Một số hình thức nhằm đào tạo, bồi dưỡng các cánbộ cho công ty hiện nay gồm: - Gửi cán bộ đi học ở các trung tâm đào tạo dài hạn, nhất là đối với mộtsố cán bộ trẻ có năng lực. - Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn từ hai đến ba tháng theotừng chuyên đề mang tính chất tập huấn những vấn đề mới có tính cấp thiếtđể kịp vận dụng vào công tác chỉ đạo, điều hành. - Tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi kinh nghiệm trong các lĩnh vựcnhư quản lý, nghiệp vụ kinh doanh, khả năng marketing... để từ đó các cán bộtrong công ty có thể học hỏi lẫn nhau. - Tạo điều kiện cho các cán bộ đi tham quan, khảo sát ở nước ngoài đểhọc hỏi thêm kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh xuất khẩu. Việc đào tạo và đào tạo lại không chỉ tập trung vào trình độ nghiệp vụ,trình độ ngoại ngữ... của cán bộ trong công ty mà còn phải giáo dục ý thức, tưtưởng văn hoá cho cán bộ công nhân viên tạo dựng được bầu không khí đoànkết nhất trí nội bộ trong công ty, xây dựng công ty thành một khối thống nhất,xây dựng nếp sống văn minh, tạo nên một nền văn hoá riêng biệt cho công ty.Đây là một trong những tiền đề giúp cho công ty phát triển một cách bềnvững và lâu dài. Bên cạnh việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ công nhân viên, nếu cóđiều kiện công ty nên có chính sách thu hút những người có năng lực bằngcách lập quỹ học bổng trợ cấp cho sinh viên, phối hợp với các trường, cácViện nghiên cứu.. để đào tạo cán bộ ngay từ khi còn học Đại học.1.7 - Mở rộng các mối liên kết kinh tế 50
  • 51. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Liên kết kinh tế là hiện tượng xã hội khách quan của nền kinh tế hànghoá có sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, nó phản ánh mốiquan hệ phối hợp hoạt động kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau để thựchiện những nhiệm vụ kinh doanh nhất định, nhằm đem lại hiệu quả cao nhấtđối với các bên tham gia. Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp liên kết vớinhau để tăng sức cạnh tranh thực hiện cạnh tranh thắng lợi các đối thủ khác.Liên kết kinh tế nhằm khai thác được các điểm mạnh, khắc phục điểm yếu,giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Để giành được thắng lợi và nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thịtrường quốc tế, Công ty cần tiến hành các hoạt động liên kết sau: - Cần tiến hành liên kết chặt chẽ hơn nữa đối với các đơn vị cung ứngnguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động gia công hàng hoá xuất khẩu của côngty. - Tiến hành liên kết với các đơn vị nước ngoài nhằm thu hút các nguồnlực, tổ chức tốt công tác tiêu thụ sản phẩm. - Liên kết với các tổ chức ngân hàng để thuận tiện trong việc thanhtoán tiền hàng với khách hàng cũng như đối với các đơn vị cung cấp. - Giữ mối quan hệ với các đơn vị vận chuyển, các đơn vị làm thủ tụcxuất khẩu để hàng hoá của công ty lúc xuất khẩu được nhanh chóng, làmgiảm chi phí lưu kho bãi, giao hàng đúng quy định của hợp đồng... Ngoài ra cần có sự liên kết kinh tế, giữ quan hệ tốt giữa công ty vớicác đơn vị nước ngoài dựa trên hợp đồng kinh tế, giúp Công ty đảm bảo sự ổnđịnh trong kinh doanh xuất khẩu, tránh bị ép giá và các bất lợi khác.1.8 - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, chi phí, lợi nhuận Qua việc phân tích hiệu quả kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc thờitrang, chúng ta có thể đưa ra một số biện pháp về quản lý chi phí, vốn, lợinhuận và các chỉ tiêu tài chính khác để góp phần nâng cao sức cạnh tranh củacông ty: Thứ nhất: Tiếp tục phát huy những thành công mà công ty đã đạt đượctrong những năm qua làm tiền đề động lực cho các chỉ tiêu khác cùng vậnđộng theo xu hướng tích cực, đảm bảo cho toàn bộ hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty có hiệu quả. Để thực hiện tốt vấn đề này công ty cần cómột số biện pháp sau:- Tính toán hiệu quả kinh doanh, đầu vào các hoạt động kinh doanh có lãi.- Đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh để có sự hỗ trợ nhau về vốn.- Chủ động tạo nguồn như: Vay từ các tổ chức tín dụng, liên doanh liên kết...- Hạn chế việc không thu hồi được hay việc bị chiếm dụng vốn để việc quayvòng vốn được nhanh: Tích cực giảm các khoản chi thu, vốn tồn đọng trongtay khách hàng. Muốn vậy trước khi ký hợp đồng công ty phải tìm hiểu rõtình hình tài chính của khách hàng, tránh rủi ro có thể xảy ra.- Tiếp tục giảm kỳ thu tiền trung bình để nâng cao tốc độ quay vòng vốn. Thứ hai: Giải quyết những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề sử dụngvốn, giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng sức sản xuất, sức sinh lời của 51
  • 52. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷvốn cố định... Mặc dù một số các chỉ tiêu trên vận động theo chiều hướng tíchcực nhưng thời gian qua tình hình kinh tế chính trị trong nước và khu vựcluôn có nhiều biến động ảnh hưởng tới tỷ lệ doanh lợi/vốn chủ sở hữu, doanhlợi/ doanh thu... làm cho các chỉ tiêu này giảm xuống.2 - Về phía nhà nước Ngành may mặc hiện nay đang được Nhà nước khuyến khích phát triểnvà hoạt động xuất khẩu lại càng được coi trọng hơn nữa vì hàng năm nó đemlại kim ngạch xuất khẩu rất lớn cho đất nước. Tuy nhiên, sự cố gắng của côngty trong hoạt động xuất khẩu chỉ là một trong những yếu tố giúp công ty cóđược sức cạnh tranh trên thị trường, một yếu tố khác rất quan trọng có ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu chính là các chính sách về xuất khẩucủa nhà nước Việt Nam. Vì thế về phía vĩ mô cần có những biện pháp tíchcực giúp công ty nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình.2.1 – Hoàn thiện chính sách đối với xuất khẩu hàng may mặc: Hiện nay, khi nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển và có xu thế mởcửa để giao lưu buôn bán với thị trường quốc tế thì hoạt động xuất khẩu càngđược coi trọng. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, nghị định nhằmkhuyến khích, hỗ trợ xuất khẩu tạo sự thuận cho các doanh nghiệp khi thamgia hoạt động này. (Các nghị định như 57/1998/NĐ-CP, 114/HĐBT, 33/CPđã quy định các chính sách về xuất nhập khẩu, về thực hiện luật thương mạitrong hoạt động xuất nhập khẩu...) Những nghị định này sẽ giúp các doanhnghiệp hiểu rõ những quy định, những sự ưu đẫi mà nhà nước đưa ra cho hoạtđộng xuất khẩu, đồng thời nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi thamgia hoạt động này. Cụ thể như nghị định 33/CP ngày 19/4/1994 ở điều 9 cóquy định: " Nhà nước khuyến khích và có chính sách hỗ trợ đối với các doanhnghiệp phát triểnvà mở rộng thị trường mới, và xuất khẩu những mặt hàng màNhà nước khuyến khích xuất khẩu"... Một công báo mới số 17 ngày 8/5/2001đã được đưa ra trong đó có những quy định riêng về một số loại hàng hoá màNhà nước khuyến khích xuất khẩu những chính sách ưu tiên khi xuất khẩunhững mặt hàng đó. Hàng may mặc một trong số nhữg mặt hàng được khuyếnkhích xuất khẩu và theo công báo số 17 thì Bộ Thương mại chủ trì cùng cácBộ, nghành hữu quan và các nhà sản xuất lớn của Việt Nam tiến hành đàmphán với các tổ chức kinh tế quốc tế và các nước, nhằm đẩy nhanh tiến trìnhbỏ hạn ngạch đối với loại hàng hoá này " đồng thời các cơ quan trên cần xâydựng và ban hành các quy định chung thực hiện hạn ngạch hàng may mặc ,công bố tỷ lệ hạn ngạch may mặc đấu thầu và tỷ lệ này phải tăng hàng năm đểthay thế dần cho cơ chế phân giao hạn ngạch. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách, nghị định trên trong một sốchính sách khác còn có các quy định quá cứng nhắc, không gắn liền với thựctế của từng mặt hàng làm ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu, gây ra nhiềukhó khăn cho các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động này. Vì thế ở đây emmuốn đưa ra một số kiến nghị giúp cho các chính sách có phần linh hoạt hơn, 52
  • 53. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷnhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp được thuận lợi hơn trong hoạt độngkinh doanh của mình. Đối với thị trường không hạn ngạch chúng ta nên bỏ giấy phép xuấtkhẩu chuyến vì: Bộ Thương mại hiện nay quy định phải có hợp đồng cụ thểmới được làm giấy phép xuất khẩu. Thực tế đối với các quy định này cácdoanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc thường gặp nhiều khó khăn do đặcđiểm của hoạt động gia công. Khách hàng đến gia công có khi họ ký hợpđồng nhưng sau đó mới tìm hàng cụ thể. Mặt khác các doanh nghiệp MayViệt Nam nhận may gia công thường phải qua khâu trung gian nên có nhiềukhoản trong hợp đồng chưa xác định ngay được, chẳng hạn như thời hạn giaohàng, nhãn hiệu, mẫu mã... có trường hợp sau khi nhập nguyên liệu về mớibiết hàng sản xuất, hoặc phải thoả thuận thêm các điều khoản khác gây thiệthại cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, do các quy định hiện hành nên buộc hai bên phải ký mộthợp đồng chung mang tính đối phó. Vì vậy, cấp giấy phép xuất khẩu căn cứtheo hợp đồng nhiều khi chưa phản ánh đúng được con số thực. Đây là mộtvấn đề mà các cơ quan quản lý cần nghiên cứu để sửa đổi cơ chế xuất khẩucho phù hợp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc. Về thời gian cấp giấy phép hiện nay là 4 ngày, song so với nhu cầukinh doanh hiện nay là còn quá lâu. Vì vậy trong trường hợp này, nhà nướcnên xem xét bỏ quy định giấy phép xuất khẩu để khuyến khích các doanhnghiệp đồng thời đảm bảo được thời gian giao nhận hàng.2.2 – Cải tiến chính sách thuế Chính sách thuế cần hợp lý để nâng cao khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp May mặc nói chung và Công ty May Xuất Khẩu nói riêng. Chính sách thuế đối với hàng may mặc trong thời gia qua còn bất hợplý với thời gian quy định cho hàng tạm nhập tái xuất và hàng bán đứt (HàngFOB) phải nộp thuế trong vòng 90 ngày là quá ngắn, bởi lẽ từ khâu ký kếthợp đồng mua nguyên vật liệu sản xuất và xuất khẩu khó thực hiện trong thờigian đó. Đối với hàng gia công còn phụ thuộc vào khách hàng, còn hàng FOBthì phải tự túc từ khâu đầu đến lúc xuất hàng đi, thì thời hạn đó quá ngắn vìnó còn liên quan đến vốn của doanh nghiệp. Khi quá 90 ngày chưa xuất khẩuhàng hoá thì doanh nghiệp phải vay ngân hàng chịu lãi suất để tạm nộp thuếvà như vậy lại đẩy giá thành lên, làm giảm khả năng cạnh tranh về giá đối vớihàng xuất khẩu. Bên cạnh đó, hàng may mặc sử dụng nguyên liệu trong nước bán ranước ngoài phải chịu mức thuế không hợp lý, thuế chồng thuế. Để khuyếnkhích sản xuất và làm tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp hàngmay mặc xuất khẩu, Nhà nước nên miễn thuế các nguyên liệu, phụ liệu sảnxuất, các chủng loại thay thế nhập khẩu để làm hàng phục vụ xuất khẩu, đồngthời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể bán ngang hoặc thấphơn giá sản phẩm cùng chủng loại và tạo cho ngành may xuất khẩu theophương thức FOB. 53
  • 54. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Theo Quyết định tại Điều 8 Luật thuế GTGT và Điều 7 Nghị định số28/1998/NĐ-CP của Chính phủ, thuế suất thuế GTGT là 0% được áp dụngđối với các mặt hàng hoá xuất khẩu. Đây là một quy định nhằm khuyến khíchhoạt động xuất khẩu nói chung và hàng may mặc xuất khẩu nói riêng. Tuynhiên hàng may mặc xuất khẩu cũng giống như nhiều hàng hoá xuất khẩukhác vẫn phải chịu thuế xuất khẩu, thuế suất thuế xuất khẩu tuỳ theo từng mặthàng và mức độ ưu tiên của nó. Hàng may mặc xuất khẩu hiện nay chịu mứcthuế suất ưu đãi là 50% và thuế suất thường là 75%. Mức thuế này như vậy làtương đối phù hợp nhưng để khuyến khích hơn nữa hoạt động xuất khẩu Nhànước cần nghiên cứu để có thể đưa ra một mức thuế thấp hơn, Ngành Maymặc Việt Nam đang trên đà phát triển và nhất là với chiến lược " tăng tốc "trong những năm tới thì sản phẩm của ngành ngày càng nhiều với chất lượng,mẫu mốt cao hơn, giá cả thấp hơn. Nếu hoạt động xuất khẩu không được chútrọng hơn nữa thì sản phẩm sản xuất ra sẽ không tiêu thụ hết ở thị trườngtrong nước, gây ứ đọng hàng hoá, dẫn đến ứ đọng vốn... nên việc đẩy mạnhxuất khẩu là rất càn thiết. Ngoài ra hoạt động này hàng năm đem lại cho đấtnước một mức Kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong toàn ngành công nghiệpvà trên hết là nó giải quyết việc làm cho một lực lượng lao động lớn trongnước. Nhà nước đứng trên phương diện vĩ mô nên bất cứ một vấn đề nàocũng phải xem xét trên mọi khía cạnh,cả về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội vàvấn đề giảm thuế xuất khẩu là một trong những cách thức giải quyết theohướng đó.2.3 – Hoàn thiện chính sách tỷ giá Việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái là hết sức quan trọng, trong đó mục tiêucủa chính sách tỷ giá trong thời gian tới là thường xuyên xác lập và duy trì tỷgiá ổn định và phù hợp, dựa trên sức mua thực tế của đồng Việt Nam so vớicác ngoại tệ, phù hợp với cung cầu của thị trường, đảm bảo sự ổn định kinh tếđối nội và tăng trưởng kinh tế đối ngoại là hết sức cần thiết. Chính sách tỷ giá hối đoái từ khi được Chính phủ thực hiện cải cáchtrong cơ chế điều hành tỷ giá giữa đồng USD và đồng Việt Nam thì đã có sựlinh hoạt hơn phần nào, đã khép lại khoảng cách giữa tỷ giá quy định củaNgân hàng Trung ương với thị trường tự do, song cần linh hoạt hơn nữa(không nên định giá cao đồng nội tệ). Tuy nhiên, không nên áp dụng các biệnpháp điều chỉnh đột ngột sẽ gây ra những cú sốc mà cần đi sát với thị trường,nhằm khuyến khích xuất khẩu và đảm bảo sự ổn định, tăng trưởng kinh tế. Trước đây, khi nền kinh tế nước ta trong cơ chế tập trung quan liêu baocấp thì tỷ giá có sự ưu tiên đối với hàng xuất khẩu. Nhưng từ khi chuyển sangcơ chế thị trường thì tỷ giá được xác định chung cho toàn bộ các hoạt độngkinh doanh trong toàn nền kinh tế. Việc chuyển đổi chính sách tỷ giá như vậycũng có cả hai mặt ưu, nhược của nó. Ta có thể thấy, khi áp dụng chính sáchtỷ giá chung như vậy thì các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu sẽ phải linhđộng hơn, có tinh thần trách nhiệm cao hơn đối với việc kinh doanh của chínhmình vì không còn được sự ưu đãi trong tỷ giá, qua đó có thể tạo thêm tính tự 54
  • 55. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷlập cho doanh nghiệp. Nhưng bên cạnh đó đôi lúccũng có nững bất cập.Chẳng hạn như khi tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và đồng ngoai tệ thấp,tức là định giá cao đồng nội tệ và hoạt động xuất khẩu không có sự hỗ trợ nàokhác thì chắc hẳn hoạt động xuất khẩu sẽ có xu hướng giảm. Sở dĩ như vậy vìkhi xuất khẩu chúng ta sẽ thu ngoại tệ về và với tỷ giá thấp thì khi đổi ra đồngnội tệ thì giá trị thu lại của ta sẽ thấp. Do đó, Nhà nước cần có những chínhsách về tỷ giá để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu khi tỷ giá hối đoái của cácNgân hàng ngoại thương tăng cao.2.4 – Hoàn thiện chính sách tín dụng Trong giai đoạn hiện nay tình hình cạnh tranh ngày càng khó khăn,phức tạp thì việc nắm bắt cơ hội trong kinh doanh là rất quan trọng. Đó là mộttrong những điều tạo nên thành công trong kinh doanh của Công ty. Các thờicơ kinh doanh, cơ hội hấp dẫn đối với Công ty là rất hiếm và mỗi cơ hội chỉđến một lần, vì thế khi có Công ty cần nắm bắt ngay thì mới có thể thắngđược các đối thủ. Nếu Công ty không có đủ vốn phục vụ cho thương vụ kinhdoanh đó thì cơ hội sẽ bị bỏ lỡ, các doanh nghiệp khác sẽ chiếm lấy cơ hội đóvà đồng thời có thể dẫn tới mất khách, mất khả năng cạnh tranh sau này củaCông ty. Do vậy để giúp Công ty có được những thuận lợi trong kinh doanhcần có sự trợ giúp của các tổ chức tín dụng thông qua các chính sách tín dụngcủa Nhà nước như: - Nhà nước cần có các ưu đãi tín dụng đối với các doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh hàng xuất khẩu, đảm bảo đủ lượng vốn cho đầu tư và sảnxuất kinh doanh hàng xuất khẩu dài hạn thấp. - Nhà nước nên khuyến khích việc thông qua các tổ chức ngân hàngThương mại quốc doanh thực hiện cơ chế bảo lãnh tiền vay, chứng từ thươngmại, phương pháp thanh toán tiền mua, bán hàng trả chậm, bảo lãnh nộp thuếvà bảo lãnh hợp đồng cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động,nang cao sức cạnh tranh hàng may mặc của Việt Nam trên thị trường thế giới. - Theo dõi sát sao tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam với ngoại tệ đểkịp thời chỉ đạo các phương án điều chỉnh tỷ giá, lãi suất, vừa đảm bảo anninh tiền tệ quốc gia, vừa có lợi trong việc thúc đẩy xuất khẩu nói chung vàxuất khẩu hàng may mặc nói riêng Song song với vấn đề trên, một vấn đề khác mà các doanh nghiệp quantâm là thủ tục về vay vốn: Thủ tục vay phải đơn giản, nhanh chóng và thuậnlợi cho doanh nghiệp thời mới giúp được những doanh nghiệp thiếu vốnnhanh chóng vay được số vốn mình cần. Nhưng hiện nay thủ tục vay vốn củanước ta quá rườm rà, đòi hỏi quá nhiều thủ tục, giấy tờ. Có lúc rất cần vốnnhưng lúc hoàn thành xong thủ tục thì thương vụ kinh doanh đã lỡ. Mặt khácnguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư rất nhiều và kể cả trong các ngân hàngthương mại cũng vậy nhưng người cần thì vẫn không có còn vốn trong cácngân hàng thương mại thì lại bị " đóng băng " không cho vay được. Đây làmột thiệt hại lớn đối với nền kinh tế đất nước mà nhà nước cần nhanh chóngkhắc phục. Cần bỏ bớt nhữngthủ tục, giấy tờ không cần thiết giúp các doanh 55
  • 56. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷnghiệp đáp ứng được kịp thời nhu cầu về vốn. Cần có sự linh hoạt hơn nữatrong khâu thẩm định dự án cho vay vốn để tranh đánh mất những cơ hội đemlại lợi nhuận cao hoặc mang tính chiến lược của các doanh nghiệp Bên cạnh đó. Nhà nước cần hỗ trợ cho sự phát triển của các doanhnghiệp May mặc cũng như thông qua công cụ lãi suất. Hiện nay, hầu hết cácdoanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói chung cũng như công ty đềuphải đi vay vốn ngân hàng để tiến hành hoạt động kinh doanh đầu tư vào quátrình sản xuất.... ở Công ty, khi các hợp đồng gia công có chu kỳ sản xuất lâu,phải tạm nộp thuế nhập khẩu thì Công ty sẽ tiến hành làm các thủ tục vay vốnngân hàng để nộp thuế. Lãi xuất hàng tháng mà Công ty phải trả cho ngânhàng thường biến động qua những giai đoạn khác nhau. Hiện nay lãi suất vayngân hàng của Công ty là từ 0,65 - 0,7%/tháng. Lãi suất này tuy có thấp hơnnhưng với một khoản tiền vay lớn thì số tiền trả lãi lại khá lớn 56
  • 57. Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Thị Thuỷ Kết luận Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của cơ chế thị trường, cạnh tranhsẽ thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển, phát huy được hết tiềm năng củaxã hội và của từng doanh nghiệp, các doanh nghiệp tham gia thị trường đềuphải chấp nhận cạnh tranh và tìm cách thắng lợi trong cuộc cạnh tranh này.Tăng khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp xét cho cùng là mở rộng thịtrường, tăng doanh thu là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Do vậy, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một tất yếu màbất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện. Công ty may xuất khẩu hoạtđộng trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tham gia thịtrường có nhiều doanh nghiệp nổi tiếng trên thế giới cũng như ở Việt Nam.Nhưng nhờ có sự năng động và nhạy bén trong hoạt động sản xuất kinh doanhcùng với những lợi thế mà Công ty có được, Công ty đã đứng vững và pháttriển, giành thắng lợi trong cạnh tranh. Công ty may xuất khẩu cần sử dụngcác vũ khí cạnh tranh của mình có hiệu quả nhất. Chuyên đề là kết quả nghiên cứu và vận dụng lý luận vào tìm hiểu thựctế, thực trạng cạnh tranh của Công ty may xuất khẩu trên thị trường. Em hyvọng các giải pháp sẽ có ích trong việc đề ra chiến lược cạnh tranh của Côngty trong thời gian tới. 57